Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Bài viết của chàng bộ đội tập kết 1954

Tác giả : Châu Hiển Lý –
Bộ đội tập kết 1954

Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức!
150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 35 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận và hôm nay VN vẫn còn là một nước chậm tiến.

Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát về mọi mặt. "Tính hơn hẳn" của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.

Nhìn lại sau hơn nữa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra :

_ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?

_ Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra

Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp ?

_ Tại sao sau khi được "giải phóng" khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề ngoài biển cả mênh mông ?

_ Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?

_ Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?

_ Tại sao đàn ông của các nước tư bản Châu Á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?

_ Tại sao Liên Xô và các nước Ðông Âu bị sụp đổ?

_ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?

_ Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường, phải đi làm công cho các nước tư bản?

_ Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?

Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xả hội phi nhân tính . Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghỉa.

Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường.

Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa, họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.

Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng vòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại .

Hiện tượng "Mửa ra rồi nuốt lại" này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương.

Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất. Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt, mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của Cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.

Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lặng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và "nhai lại" suy nghĩ của kẻ khác.

Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối, những kẻ mù chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…


Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.

Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy, công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành "phương hướng hành động" chung cho tất cả mọi người.

Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…

Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.

Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia, bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang, vay nước ngoài do nhà nước CS làm trung gian .

Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp "vô sản" âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.

Do vậy, lý thuyết CS dần dần mất đi tính quyến rủ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng.

Tất cả điều đó đã làm cho các ÐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc Tế nhưng đạo đức xã hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vũ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muỗi mòng giữa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.

Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo. Chẳng hạn đảng nói "xây dựng xã hội không có bóc lột" thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng bóc lột người ; đảng nói " một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản" thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói "đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất" nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.

Sở dĩ ÐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là... còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !

Nhân dân đang hy vọng rằng Ðảng sớm tự ý thức về tội lỗi tầy trời của mình . Ðảng sẽ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chấp vá một cách trơ trẻn.

Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi" mà kết luận: "Tất cả đều là lừa bịp!”

Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ ... đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.

Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ

Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi

Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao ? Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy ?

Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chỗ cho cái xấu? Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai ! Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.

Châu Hiển Lý –
Bộ đội tập kết 1954

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Đàn Bà Đàn Ông
Nếu đời không có đàn bà thì đàn ông chỉ biết nhậu , coi đá banh rồi … chết .
Nếu trên thế giới số lượng đàn bà chỉ bằng một phần mười đàn ông thì mười ông Adam sẽ giành nhau một bà Eva , sẽ đánh nhau rồi cũng … chết . Còn nếu như đàn bà nhiều hơn đàn ông như hiện nay thì đàn ông vẫn tiếp tục lai rai bỏ mạng vì bị đàn bà nó ghen , nó hành cho chết .

Nhưng tại sao quý ông cứ lẽo đẽo chạy theo đàn bà ?
Đó là vì đàn bà có sức quyến rũ .

Trước hết sự quyến rũ nằm ở làn da .

Dân gian thường ví da cô gái đẹp trắng như tuyết , nhưng dưới ánh mắt của bác sĩ da liễu thì da trắng như tuyết là da bị bệnh bạch tạng (albinisme) , tế bào da không có hắc tố (mélanine) . Bệnh này rất khó trị . Vậy làn da đẹp phải trắng hồng , tươi thuận , săn chắc , lỗ chân lông nhỏ và nếu có một chút lông tơ lại càng hay . Phụ nữ châu Âu da trắng quá nên họ muốn làm cho rám nắng bằng cách phơi nắng trên những bãi biển mùa hè .
Tuy nhiên cũng có những thiếu nữ da màu đồng . Làn da ấy đi đôi với cái dáng cao , thon thon , với mái tóc đen hoang dã sẽ gợi lên hình ảnh một thiếu nữ digan huyền thoại .

Tiêu chuẩn sắc đẹp ngày nay trước hết là phải cao . Chiều cao cộng với số đo lý tưởng của ba vòng là niềm hãnh diện của nữ giới .
Hiện nay có một câu nói được truyền miệng trong giới người mẫu thời trang : “Người đàn ông thành đạt là người ra đường với một phụ nữ cao hơn mình” .

Còn tôi , tôi lại nghĩ rằng “người phụ nữ không thành đạt là người ra đường với một người đàn ông không cao hơn mình” .
Hai vai của người phụ nữ cũng rất quan trọng . Vai xuôi làm cho dáng người có vẻ tần tảo , khốn khó và mặc cảm . Vai xuôi mặc áo dài không đẹp . Mặc đầm hở ngực lại không nên . Cách khắc phục nhược điểm này thường là dùng mút độn vai .
Đó là nói về da và dáng người .

Bây giờ sang tới răng và tóc .

Nói tới răng , thấy ớn lạnh . Nhưng bạn đã từng “được” một hàm răng đẹp huyền thoại cắn bật máu chưa ?
Hãy bỏ ra mười năm đi khắp thiên hạ , tìm một cô nương có hàm răng ngà ngọc ấy rồi quỳ xuống cho người ta … cắn .
Yên chí , bạn sẽ không bị lây bệnh dại đâu nhưng hãy coi chừng cú cắn đó sẽ làm bạn đau khổ suốt đời .

Thế còn tóc ?

Tóc mai sợi vắn sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm .



Tóc mai là tóc gì mà quan trọng vậy ? Người xưa hay để tóc mai dài ở mang tai , vuốt cong lên hai bên má , có khi xoắn lại như cái lò xo .
Người có tóc mai đẹp chắc chắn sẽ có mái tóc đẹp . Tóc dày như rừng . Tươi mới . Thanh xuân . Mạnh mẽ . Cuồng nhiệt .
Thử hỏi làm sao không thương hoài ngàn năm cho được .

Cuối cùng là đôi mắt .
Sách tướng số ghi :

Những ngưới ti hí mắt lươn
Trai thời trộm cắp , gái buôn chồng người .


Thật ra mắt lươn hay mắt phượng là vấn đề nhân chủng học , chẳng dính dáng gì tới tướng số . Người Hàn Quốc , người Nhật đa số là mắt lươn mà họ rất văn minh , rất đáng yêu . Cái quan trọng không phải là mắt lươn hay mắt phượng mà chính là cái “thần” của con mắt .
Tây Thi , Vương Chiêu Quân , Điêu Thuyền , Dương Quý Phi là tứ đại mỹ nhân trong lịch sử Trung Quốc có “cái thần của con mắt” ấy .
Họ liếc một cái nghiêng cả thành quách , liếc cái thứ hai sụp cả chế độ (nhất cố khuynh thành , tái cố khuynh quốc) .
Con gái Việt Nam cũng không hiếm mắt một mí , nhưng có chàng thi sĩ kia cũng muốn phát rồ vì đôi mắt ấy :

Mắt một mí vì không cần hai mí
Một mí thôi cũng đủ ngả nghiêng đời
Mắt hai mí tức là thừa một mí
Một mí thừa xin giữ lại cho tôi


Vậy thì sự quyến rũ trong đôi mắt đàn bà chính là cái ma lực bí ẩn . Có những ánh mắt như thu hồn người ta , có những đôi mắt quyến rũ đàn ông bằng sự tự tin , đằm thắm … Mỗi người đàn ông thích một ánh mắt khác nhau nhưng những người đàn ông có tật đá lông nheo thì chỉ thích những ánh mắt lẳng lơ , còn các chàng hay dụ dỗ gái vị thành niên thì lại ưa sưu tầm những cặp mắt nai tơ ngơ ngác …

Tóm lại , mỗi kiểu mắt có sự quyến rũ riêng , chỉ trừ những ánh mắt vô hồn , thờ ơ , tẻ nhạt thì chắc chắn không có người đàn ông nào thích .
Nhưng một người đàn bà quyến rũ thực ra không nhất thiết phải hội đủ những “tiêu chuẩn” về cái da , cái dáng , về răng hàm mặt hay tai mũi họng … mà có khi chỉ cần một cái miệng cười .
Đôi khi gặp một người đàn bà không có gì đặc sắc . Mà ta vẫn yêu .

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Chuyện xãy ra ở Việt Nam. Tôi xách túi đồ nhãn hiệu Levi’s ra khỏi Plaza rồi đứng lại ở cửa chờ bạn. Một tay ăn mày chuyên nghiệp phát hiện ra tôi, sán tới đứng trước mặt.

Hắn đã dạy tôi một bài học kinh tế còn sâu sắc hơn một khoá học tại chức kinh tế ở trường. Tôi kể câu chuyện này chính bởi ý nguyện của tay ăn mày đó.

- Xin anh… cho tôi ít tiền đi! - Tôi đứng đó chả có việc gì nên tiện tay vứt cho hắn đồng tiền xu, rồi bắt chuyện cùng nhau.

Ăn mày rất thích kể lể.

- Tôi chỉ ăn mày quanh khu mua sắm này thôi, anh biết không? Tôi chỉ liếc một phát là thấy anh ngay. Đi mua Levi’s ở Plaza chắc chắn nhiều tiền…

- Hả? Ông cũng hiểu đời phết nhỉ! - Tôi ngạc nhiên.

- Làm ăn mày, cũng phải ăn mày cho nó có khoa học. - Ông ta bắt đầu mở máy.

Tôi ngẫm nghĩ một lát, thấy thú vị bèn hỏi:

- Thế nào là ăn mày một cách khoa học?

Tôi nhìn kỹ ông ta, đầu tóc rối bù, quần áo rách nát, tay gầy giơ xương, nhưng lại sạch sẽ.

Ông ta giảng giải:

- Ai chẳng sợ và ghét ăn mày, nhưng tôi tin anh không ghét tôi, tôi đoán chắc điều đó. Đấy là điểm tôi khác biệt với những thằng ăn mày khác.

Tôi gật đầu đồng ý, đúng là tôi không ghét ông ta, nên tôi đang nói chuyện với ông ta đấy thôi.

- Tôi biết phân tích SWOT, những ưu thế, bất lợi, những cơ hội và nguy cơ. Đối mặt với những thằng ăn mày là đối thủ cạnh tranh của tôi, ưu thế (Strengths) của tôi là tôi không làm người ta phản cảm, lánh sợ. Cơ hội (Opportunities) và nguy cơ (Threats) thì chỉ là những yếu tố điều kiện bên ngoài thuộc về hoàn cảnh, có thể là dân số ở đây đông hay vắng, thành phố có quyết định chỉnh trang đô thị, dẹp hè phố chăng…

- …....?

- Tôi đã từng tính toán rất cụ tỉ (cụ thể và tỉ mỉ) rằng, khu vực thương mại này người qua lại đông, mỗi ngày khoảng mười nghìn người, nghèo thì nhiều lắm, nhưng người giàu còn nhiều hơn. Trên phương diện lý luận thì giả như mỗi ngày tôi xin được mỗi người một đồng xu một nghìn đồng, thì mỗi tháng thu nhập của tôi đã được ba trăm triệu đồng . Nhưng thực tế thì đâu phải ai cũng cho ăn mày tiền, mà một ngày làm sao tôi đi xin được mười nghìn lượt người. Vì thế, tôi phải phân tích, ai là khách hàng mục tiêu của tôi, đâu là khách hàng tiềm năng của tôi.

Ông ta lấy giọng nói tiếp:

- Ở khu Plaza này thì khách hàng mục tiêu của tôi chiếm khoảng 30% số lượng người mua sắm, tỉ lệ thành công khoảng 70%. Lượng khách hàng tiềm năng chiếm khoảng 20%, tỉ lệ thành công trên đối tượng này khoảng 50%. Còn lại 50% số người, tôi chọn cách là bỏ qua họ, bởi tôi không có đủ thời gian để tìm vận may của mình với họ, tức là xin tiền họ.

- Thế ông định nghĩa thế nào về khách hàng của ông? - Tôi căn vặn.

- Trước tiên, khách hàng mục tiêu nhé. Thì những nam thanh niên trẻ như anh đấy, có thu nhập, nên tiêu tiền không lưỡng lự. Ngoài ra các đôi tình nhân cũng nằm trong đối tượng khách hàng mục tiêu của tôi, họ không thể mất mặt trước bạn khác phái, vì thế đành phải ra tay hào phóng. Rồi tôi chọn các cô gái xinh đẹp đi một mình là khách hàng tiềm năng, bởi họ rất sợ bị lẽo đẽo theo, chắc chắn họ chọn cách bỏ tiền ra cho rảnh nợ. Hai đối tượng này đều thuộc tầm tuổi 20-30. Nếu tuổi khách hàng nhỏ quá, họ không có thu nhập, mà tuổi già hơn, thì họ có thể đã có gia đình, tiền bạc bị vợ cầm hết rồi. Những ông chồng đó biết đâu có khi đang âm thầm tiếc hận rằng không thể ngửa tay ra xin tiền của tôi ấy chứ!

- Thế thì mỗi ngày ông xin được bao nhiêu tiền?

- Thứ hai đến thứ sáu, sẽ kém một chút, khoảng hai trăm nghìn. Cuối tuần thậm chí có thể 4-500 nghìn.

- Hả? Nhiều vậy sao?

Thấy tôi nghi ngờ, ông ta tính cho tôi thấy:

- Tôi cũng khác gì anh, tôi cũng làm việc tám giờ vàng ngọc. Buổi sáng từ 11h đến tối 7h, cuối tuần vẫn đi làm như thường. Mỗi lần ăn mày một người tôi mất khoảng 5 giây, trừ đi thời gian tôi đi lại, di chuyển giữa các mục tiêu, thường một phút tôi xin được một lần được một đồng xu 1 nghìn, 8 tiếng tôi xin được 480 đồng một nghìn, rồi tính với tỉ lệ thành công 60% [(70%+50%)÷2] thì tôi được khoảng 300 nghìn.

Chiến lược ăn mày của tôi là dứt khoát không đeo bám khách chạy dọc phố. Nếu xin mà họ không cho, tôi dứt khoát không bám theo họ. Bởi nếu họ cho tiền thì đã cho ngay rồi, nếu họ cho vì bị đeo bám lâu, thì tỉ lệ thành công cũng nhỏ. Tôi không thể mang thời gian ăn mày có giới hạn của tôi để đi lãng phí trên những người khách này, trong khi tôi có thể xoay ngay sang mục tiêu bên cạnh.

Trời, tay ăn mày này có đầu óc quá đi, phân tích như thể giám đốc kinh doanh hoặc giám đốc tiếp thị vậy.

- Ông nói tiếp đi! - Tôi hào hứng.

- Có người bảo ăn mày có số may hay xui, tôi không nghĩ thế. Lấy ví dụ cho anh nhé, nếu có một thanh niên đẹp trai và một phụ nữ xinh đẹp đứng trước cửa shop đồ lót, thì anh sẽ chọn ai để ăn mày?

Tôi ngẫm nghĩ rồi bảo, tôi không biết.

- Anh nên đi đến xin tiền anh thanh niên kia. Vì đứng bên anh ta là một phụ nữ đẹp, anh ta chẳng lẽ lại không cho ăn mày tiền. Nhưng nếu anh đi xin cô gái đẹp, cô ta sẽ giả vờ là ghê sợ anh rồi lánh xa anh.

Thôi cho anh một ví dụ nữa: Hôm nọ đứng ở cửa siêu thị BigC có một cô gái trẻ tay cầm túi đồ vừa mua từ siêu thị, một đôi nam nữ yêu nhau đang đứng ăn kem, và một anh chàng đóng bộ công chức chỉnh tề, tay xách túi đựng máy tính xách tay. Tôi chỉ nhìn họ ba giây, sẽ không ngần ngừ bước thẳng tới mặt cô gái trẻ xin tiền, cô gái cho tôi hẳn hai đồng xu, nhưng ngạc nhiên hỏi tôi tại sao chỉ xin tiền có mỗi cô ta. Tôi trả lời rằng, cái đôi tình nhân kia đang ăn, họ không tiện rút ví ra cho tiền, anh kia trông có vẻ lắm tiền, trông như sếp nhưng vì thế trên người họ thường không có sẵn tiền lẻ. Còn cô vừa mua sắm ở siêu thị ra, cô tất còn ít tiền thừa, tiền lẻ.

Chí lý, tôi càng nghe tay ăn mày nói càng tỉnh cả người ra.

- Cho nên tôi bảo rồi, tri thức quyết định tất cả!

Tôi nghe sếp tôi nói bao lần câu này, nhưng đây là lần đầu tôi nghe một thằng ăn mày nói câu này.

- Ăn mày cũng phải mang tri thức ra mà ăn mày. Chứ ngày ngày nằm ệch ra ở xó chợ, cầu thang lên đường vượt giao lộ, xin ai cho được tiền? Những người đi qua giao lộ, chạy qua cổng chợ đều vội vàng hoặc cồng kềnh, ai ra đấy mà chơi bao giờ, ra đấy xin chỉ mệt người. Phải trang bị tri thức cho chính mình, học kiến thức mới làm người ta thông minh lên, những người thông minh sẽ không bao giờ ngừng học hỏi kiến thức mới. Thế kỷ 21 rồi, bây giờ người ta cần gì, có phải là cần nhân tài không?

Có lần, có một người cho tôi hẳn 50 nghìn, nhờ tôi đứng dưới cửa sổ gào: "Hồng ơi, anh yêu em", gào 100 lần. Tôi tính ra gọi một tiếng mất 5 giây, thời gian cũng tương tự như tôi đi ăn mày một lần, nhưng lợi nhuận đạt được chỉ 500 đồng, còn kém đi ăn mày, thế là tôi từ chối.

Ở đây, nói chung một tay ăn mày một tháng có thể đi xin được một nghìn hoặc tám trăm lần. Người nào may mắn thì cùng lắm đi xin được khoảng hai nghìn lần. Dân số ở đây khoảng ba triệu, ăn mày độ chục anh, tức là tôi cứ khoảng mười nghìn người dân mới ăn mày một người. Như thế thu nhập của tôi ổn định, về cơ bản là cho dù kinh tế thế giới đi lên hay đi xuống, tình hình xin tiền của tôi vẫn ổn định, không biến động nhiều.

Trời, tôi phục tay ăn mày này quá!

- Tôi thường nói tôi là một thằng ăn mày vui vẻ. Những thằng ăn mày khác thường vui vì xin được nhiều tiền. Tôi thường bảo chúng nó là, chúng mày nhầm rồi. Vì vui vẻ thì mới xin được nhiều tiền chứ.

Quá chuẩn!

- Ăn mày là nghề nghiệp của tôi, phải hiểu được niềm vui do công việc của mình mang lại. Lúc trời mưa ít người ra phố, những thằng ăn mày khác đều ủ rũ oán trách hoặc ngủ. Đừng nên như thế, hãy tranh thủ mà cảm nhận vẻ đẹp của thành phố. Tối về tôi dắt vợ và con đi chơi ngắm trời đêm, nhà ba người nói cười vui vẻ, có lúc đi đường gặp đồng nghiệp, tôi có khi cũng vứt cho họ một đồng xu, để thấy họ vui vẻ đi, nhìn họ như nhìn thấy chính mình.

- Ối ông cũng có vợ con?

- Vợ tôi ở nhà làm bà nội trợ, con tôi đi học. Tôi vay tiền ngân hàng mua một căn nhà nhỏ ở ngoại thành, trả nợ dần trong mười năm, vẫn còn sáu năm nữa mới trả hết. Tôi phải nỗ lực kiếm tiền, con tôi còn phải học lên đại học, tôi sẽ cho nó học Quản trị kinh doanh, Marketing, để con tôi có thể trở thành một thằng ăn mày xuất sắc hơn bố nó.

Tôi buột miệng:

- Ông ơi, ông có thu nhận tôi làm đệ tử không?

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Ông nông dân từng ném bom Tân Sơn Nhất
Giác ngộ cách mạng vỏn vẹn hai tuần, anh Trần Văn On là một trong năm phi công đảm nhận trận oanh tạc vào sân bay Tân Sơn Nhất cách đây 36 năm. Sau ngày giải phóng đất nước anh trở thành một nông dân thực thụ.

Một ngày cuối tháng 4-2011, chúng tôi về xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang, tìm gặp anh Trần Văn On, người cầm lái một trong năm chiếc máy bay A-37 ném bom sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28-4-1975.

Được chọn vào Phi đội Quyết Thắng

Cuối tháng 3-1975, ta giải phóng Đà Nẵng, ngày 16-4-1975 thì giải phóng Phan Rang. Trong những máy bay thu được ở Đà Nẵng và Phan Rang có sáu chiếc phản lực ném bom A-37 với đầy đủ đạn dược.

Với quyết tâm sớm chấm dứt chiến tranh, ngày 19-4-1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ đạo Quân chủng Phòng không-Không quân tham gia chiến dịch, mở thêm mặt trận trên không. Bộ Tư lệnh Phòng không-Không quân quyết định sử dụng phương án dùng số máy bay thu được của Mỹ đánh bom vào Sài Gòn để gây bất ngờ.

Tuy nhiên, nhóm phi công lúc bấy giờ chỉ có Nguyễn Thành Trung từng lái máy bay Mỹ. Các phi công từ miền Bắc chỉ quen lái máy bay MiG của Liên Xô.
Image
Trần Văn On (bìa phải) trong một lần họp mặt cùng Phi đội Quyết Thắng. Ảnh: H.LỘC (chụp lại)

Trong nhóm hàng binh tại Đà Nẵng, Trung úy Trần Văn On tỏ thái độ giác ngộ cách mạng. Đó là một phi công A-37 được đào tạo bài bản ở Mỹ. Ngay trong đêm 19-4, Trần Văn On và một số thợ lái vừa ra trình diện bắt tay ngay vào việc sửa chữa chiếc máy bay A-37 mà ta thu được ở Đà Nẵng. Đến chiều ngày 20-4, chiếc A-37 đã nổ máy và có thể cất cánh. Ngày 21-4, Quân chủng Phòng không-Không quân quyết định chọn Trần Văn On cùng Nguyễn Thành Trung huấn luyện một số phi công vừa từ Hà Nội vào lái A-37.

Bước đầu các phi công lúng túng với kiểu máy bay hoàn toàn khác lạ. Trước đây, họ chủ yếu sử dụng máy bay tiêm kích chiến đấu trên không để đánh chặn. Lần này nhiệm vụ của họ là phải sử dụng thành thạo những “con chim sắt” A-37 mà trước đó còn là đối thủ của MiG trên bầu trời để làm nhiệm vụ oanh tạc mục tiêu. Những nút điều khiển bằng tiếng Anh trên chiếc A-37 được thay bằng tiếng Việt cắt dán lên. Chỉ sau hai ngày huấn luyện, các phi công lần lượt bay thử thành công.

Trận ném bom chiến lược

Trưa 27-4-1975, các phi công chuyển vào sân bay Phù Cát - Bình Định với nhiệm vụ hoàn toàn bí mật. Tại đây, phi đội chiến đấu được thành lập lấy tên “Phi đội Quyết Thắng”, gồm các phi công Nguyễn Thành Trung, Từ Để, Mai Xuân Vượng, Hán Văn Quảng và Trần Văn On. Phi đội nhận năm máy bay A-37, mỗi chiếc được lắp bốn quả bom 500 kg, hai quả bom phá 250 kg và bốn thùng dầu phụ chuẩn bị cho chuyến bay xa. Đúng 9 giờ 30 ngày 28-4-1975, cả phi đội rời sân bay Phù Cát hạ cánh xuống sân bay Thành Sơn (Phan Rang) sau 1 giờ bay để rút ngắn khoảng cách với Sài Gòn.

“Đến sân bay Thành Sơn chúng tôi mới nhận nhiệm vụ, mục tiêu tấn công là khu vực để máy bay chiến đấu, đường băng, kho bom đạn của không quân ngụy tại sân bay Tân Sơn Nhất. Phải ném bom chính xác vào mục tiêu, đảm bảo tuyệt đối an toàn cho nhân dân và hai đoàn đại biểu của ta trong ủy ban quân sự bốn bên đang ở trại David tại sân bay Tân Sơn Nhất. Nguyễn Thành Trung thay mặt phi đội hứa với Quân chủng sẽ thực hiện nghiêm mệnh lệnh, bảo đảm bí mật, bất ngờ, công kích mãnh liệt, chính xác, trở về an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng và nhân dân giao phó” - anh On hồi tưởng.

Cả phi đội thảo luận tác chiến, phân công vị trí bay trong đội hình, tổ chức hiệp đồng, dự kiến tình huống, cách xử trí. Đường bay được chọn là từ Thành Sơn hướng ra Vũng Tàu rồi vòng về Sài Gòn. “Trong quá trình bay, tất cả chúng tôi không được dùng bộ đàm buồng lái được trang bị sẵn trên máy bay mà phải dùng vô tuyến đối không vừa trang bị thêm để đảm bảo tuyệt đối bí mật” - anh On kể lại.
Image
Trần Văn On và kỷ vật là chiếc A-37 mô hình. Ảnh: H.LỘC
Đúng 16 giờ 30 ngày 28-4-1975, Phi đội Quyết Thắng xuất kích. Để tránh tiêu hao nhiên liệu, tốc độ bay khoảng 230 knot/giờ (tương đương 370 km/giờ, 1 knot = 1,6 km - PV). Đối với loại máy bay cường kích đây là tầm bay thấp để tránh rađa địch.

Chập choạng tối, cả phi đội đã đến Tân Sơn Nhất mà địch không hề hay biết. Từng dãy máy bay quân sự, dân sự, ôtô, nhà kho hiện rõ phía dưới. Nguyễn Thành Trung phát lệnh tấn công, cả phi đội lần lượt bổ nhào xuống nhằm vào khu đỗ máy bay quân sự, đường băng, kho xăng cắt bom. Hoàn thành nhiệm vụ, cả năm chiếc máy bay trở về sân bay Thành Sơn an toàn.

Phi công làm ruộng

Sau giải phóng, Trần Văn On tiếp tục tham gia chiến đấu trong chiến tranh biên giới Tây Nam. “Tôi có ba lần oanh tạc đảo Vai, mở đường cho bộ binh của ta chiếm lại đảo” - anh On kể. Sau chiến tranh biên giới, anh xin ra quân, lặng lẽ về xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang, trở thành một nông dân thực thụ, tỉ mẩn cần cù chăm sóc vợ con.

Cuộc sống khó khăn, vợ anh nghỉ nghề giáo viên, ở nhà cùng anh cày cấy bốn công ruộng để nuôi sáu mặt con. Những ngày nông nhàn, anh On làm thuê đủ nghề để kiếm tiền. Hôm chúng tôi đến, vợ chồng anh On đang tất bật với đàn heo nái. Anh On cho biết mảnh ruộng nhỏ xíu anh đã chia một phần cho người con trai ra riêng. Lâu nay, anh phải chăn nuôi thêm mới đủ sức lo cho các con ăn học. Ngay trận dịch cúm gia cầm đầu tiên, cả nhà anh lao đao vì toàn bộ đàn gà bị tiêu hủy. Sau bận đó, vợ chồng anh chuyển sang nuôi heo. Giá cả thị trường lên xuống thất thường nhưng người chiến binh năm nào vẫn kiên trì bám trụ.

Dẫn chúng tôi đi thăm căn nhà cấp bốn nhỏ xíu, anh On khoe, đây là thành quả lao động suốt mấy chục năm qua của vợ chồng anh, còn “tài sản” lớn nhất bây giờ là các con. Sáu người con đều rất ngoan hiền, hiếu thảo và thương yêu nhau.

Mân mê chiếc A-37 mô hình bằng nhôm nhỏ xíu mà đồng đội tặng làm kỷ niệm, anh On kể về quãng đường “đăng lính” của anh ngày xưa. Học xong tú tài, lệnh tổng động viên năm 1968 buộc anh dẹp bỏ giấc mơ kỹ sư cơ khí chế tạo để cầm súng ra trận. “Những tháng ngày quân ngũ, rồi 18 tháng đào tạo lái máy bay ở Mỹ, quay về Việt Nam trong màu áo quân lực Việt Nam Cộng hòa, tôi quá sức chán chường khi phải tham gia cuộc chiến và chỉ mong nó kết thúc!” - anh On tâm sự. Chúng tôi hỏi khi cầm lái chiếc A-37 tham gia ném bom sân bay Tân Sơn Nhất trong lúc Sài Gòn chưa được giải phóng, ở vị trí bay cuối, anh có thể rời bỏ đội hình, anh có ý nghĩ quay về với chế độ cũ không. Anh trả lời rất nhanh “Không! Khi quyết định ra trình diện quân cách mạng và đề đạt nguyện vọng xin được tham gia chiến đấu là mong sớm chấm dứt cuộc chiến phi nghĩa!”.


Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất mà anh nhận vào đúng ngày 30-4-1975 được treo trang trọng giữa nhà, ghi: “Đồng chí Trần Văn On đã có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu chống Mỹ cứu nước”. Đây là chứng vật chứng minh anh là người lính quân giải phóng. Nhưng sau hơn 36 năm với chiến tích oai hùng, từng tham gia trận ném bom lịch sử vào sân bay Tân Sơn Nhất và nhiều trận ném bom khác trên chiến trường biên giới Tây Nam, Trần Văn On vẫn chưa được công nhận là cựu chiến binh.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Trái Tim Của Vua Hussein


Theo tin của hãng thông tấn Reuters, quốc vương Hussein của Jordanie đã tuên bố tặng một cung điện của ông cho các trẻ em không nhà, sau khi ông đã viếng thăm một cô nhi viện. Và ông đã bày tỏ như sau:

Tôi không cảm thấy an tâm khi chứng kiến tận mắt những điều kiện sống của các em vô tội trong cô nhi viện, điều này đè nặng trên lương tâm tôi và trong tâm hồn tôi.

Các viên chức chính phủ Jordanie cho biết, hoàng cung mà quốc vương Hussein tặng cho các em mồ côi là một dinh thự lớn nhất của ông. Ông hiện còn một số dinh thự khác tại Anh quốc và Hoa Kỳ. Ông sẽ đến cư ngụ tại một dinh thự ở ngoại ô gọi là Biệt Thự An Lành, và ông cũng đã biến dinh thự Hassimida thành một nhà làm việc nghĩa cho các trẻ em vô tội. Ông cũng đã nói:

Bao lâu tôi còn sống, tôi không muốn những hình ảnh ấy còn đọng mãi trong lương tâm tôi. Các trẻ em vô tội này đang lớn lên về mặt tình cảm và tinh thần, các em cần được chúng ta săn sóc nhiều.

* * *

Quý vị và các bạn thân mến,

Biến cung điện thành nhà cho thần dân nghèo nàn quả là một nghĩa cử của một bậc minh quân. Khi trái tim của một ông vua còn biết rung động, khi lương tâm của ông còn bị cắn rứt vì nỗi khổ của thần dân, khi tâm hồn ông không có được an bình chỉ vì nỗi khổ, nỗi bất hạnh của người khác. Ông vua ấy quả thực đã thể hiện được cung cách vương giả của mình.

Chúa Giêsu được xưng tụng với tước hiệu là vua. Ngài quả là thực hiện cung cách vương giả ấy một cách khác thường: Ngài là vua của các tâm hồn. Chỉ có Ngài là Ðấng duy nhất có thể làm chủ tâm hồn con người. Nhưng Chúa Giêsu đã thể hiện vương quyền bằng sự phục vụ.

Với Ngài, trị vì là phục vụ. Ngài đã đến trong thế gian không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và phục vụ cho đến chết.

Với Ngài, tính vương giả và sự cao trọng của con người thể hiện không phải qua quyền bính hay những thứ hào nhoáng bên ngoài mà thiết yếu bằng sự phục vụ.

Qua phép rửa, được tham dự vào tính vương giả của Chúa Giêsu, các tín hữu Kitô cũng được mời gọi thể hiện tính vương giả ấy của Chúa Giêsu. Tư cách Kitô hữu và tính vương giả của người mang danh hiệu Kitô chỉ có thể được thể hiện qua sự phục vụ mà thôi.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhiều lần nhắc nhở cho chúng ta về tính vương giả ấy. Ngài gợi lên cho chúng ta thảm trạng không biết bao nhiêu người đang sống cảnh đói khổ lầm than. Ngài kêu mời chúng ta hãy sống tích cực và cách thiết yếu bằng những đóng góp của chúng ta, hầu để xóa dịu nỗi đau của không biết bao nhiêu người anh em đang lâm cảnh không nhà không cửa ấy.

Chúng ta chỉ có thể tham dự vào cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu, chúng ta chỉ có thể nên đồng dạng đồng hành với Ngài nếu chúng ta cũng đi qua con đường phục vụ của Ngài.

Lạy Chúa, để chúng con có thể sống thật và sống cách cụ thể, xin Chúa giúp chúng con biết hy sinh những chi tiêu không cần thiết để góp phần vào việc xoa dịu nỗi đau của những người xung quanh chúng con. Amen.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

CÁI LƯỠI

- Gã Siêu
Ngày xưa có một ông vua nước Ai Cập gửi cho nhà hiền triết Bias một con vật vừa quí lại vừa hiếm để tế lễ các thần của minh. Thế nhưng ông vua này muốn chơi khăm nhà hiền triết một vố, bèn phán :

- Sau khi cúng kiếng xong, ngươi phải trả lại cho ta cái gì vừa tốt nhất lại vừa xấu nhất nơi con vật quí hiếm ấy.

Nhà hiền triết cũng không phải là tay vừa, bèn xẻo ngay cái lưỡi mà trao cho ông vua. Cử chỉ đó gián tiếp nói lên rằng :

- Cái lưỡi là phần tốt nhất nếu biết sử dụng, nhưng đồng thời cũng là phần xấu nhất nếu không biết sử dụng.

Đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Hồi tôi còn bé, mẹ gã thường răn đe :

- Con mà chửi tục, thì cái lưỡi sẽ thụt vào trong cổ, để rồi từ rày mà đi cho đến lúc rình xinh thì sẽ chẳng còn nói năng được nữa !

Hay :

- Con mà chửi tục, ông ba bị nghe thấy, thì ông ấy sẽ cắt ngay cái lưỡi để xơi…tái.

Và như chúng ta đã thấy :

- Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín ấp ủ tận đáy tâm can tỳ phế, nhờ đó bắc lấy một nhịp cầu cảm thông.

Chính vì thế, mấy ông triết gia đã phát biểu :

- Người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói. Sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy ngàn đời vẫn không thay đổi.

Một kẻ câm ú a ú ớ, diễn tả bằng cử điệu thật là vất vả và người không quen cũng khó mà hiểu được những cử điệu ‘’búa xua’’ ấy.

Tuy nhiên, cái lưỡi cùng với lời nói lại là điều chúng ta thường hay vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào và bất kỳ với ai.

Do đó Kinh thánh đã bảo :

- Số người chết vì cái lưỡi thì nhiều hơn số người ngã gục vì gươm giáo ngoài chiến trường.

Và tục ngữ dân Ăng lê cũng xác quyết :

- Không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi.

Trước hết là trong lãnh vực gia đình. Nhiều khi sóng gió nổi lên chỉ vì một lời nói nóng nảy và thiếu tế nhị.

Có một chị vợ cặm cụi nhổ cỏ ở thửa ruộng sau nhà. Theo sự phân công thì hôm đó anh chồng đóng vai tề gia nội trợ. Và thế là anh chồng bèn trổ mấy món ruột của mình để lấy điểm ‘’mí’’ bà xã. Mồ hôi mồ kê chảy xuống ròng ròng. Khi đã nấu nướng xong, yên chí nhớn và hớn hở bắn một điếu thuốc lào, anh chồng mới sai đứa con nhỏ ra mời mẹ.

Đứa bé chạy tới và nói :

- Bu ơi bu, bố bảo về ăn cơm.

Chẳng nói chẳng rằng, chị vợ vẫn cứ lặng lẽ nhổ cỏ. Đứa bé trở về, mặt xụ xuống như bánh bao chiều. Một lúc sau, anh chồng lại sai đứa khác ra mời, nhưng chị vợ vẫn cứ nín thinh cặm cụi nhổ cỏ. Đứa bé trở về, mặt xìu xìu như trái bóng xì hơi.

Dường như không chờ đợi được nữa, vả lại sợ thức ăn để lâu sẽ nguội và mất ngon, nên lát sau anh chồng liền sai đứa út ra mời, ông cười ruồi và thầm nghĩ trong bụng :

- Quá tam ba bận. Ba keo mèo phải mở mắt đứt đuôi con nòng nọc chứ còn gì.

Thế nhưng lần thì chị vợ lại tỏ ra tức tối. Chị ta đứng lên. Hai tay chống nạnh. Mắt long còng cọc như một tia chớp. Miệng hét toáng chẳng khác gì sư tử rống :

- Bố con mày có hốc thì cứ việc hốc đi.

Trước sự nổi tam bành của chị ta, đứa út run cầm cập, ba chân bốn cẳng vội chạy về méc bố. Đến đây thì chuyện phải đến ắt sẽ đến. Sau khi nhổ hết đám cỏ bợ, chị vợ đủng đỉnh về nhà. Thế nhưng vừa mới tới sân thì hàng xóm đã phải nghe thấy những tiếng kêu la thất thanh :

- Ối giời ơi ! Ối đất ơi ! nó đánh tôi, nó giết tôi, làng nước ơi, cứu tôi với…

Rồi thì nồi niêu soong chảo, chổi cùn rế rách, mâm bàn chén đĩa cùng với những thứ cao lương mỹ vị thi nhau bay ra ngoài sân, bởi sức người chịu đựng có hạn. Và lúc này đến lượt anh chồng đang nổi máu yêng hùng, đùng đùng nổi trận lôi đình như Trương Phi !

Giá như chị vợ biết nhún nhường và tế nhị một chút trong lời nói của mình thì đâu đến nỗi xảy ra sự việc đáng tiếc kể trên. Còn thân thể ‘’liễu yếu đào tơ’’ của chị ta đâu đến nỗi tím bầm và lãnh đủ những thứ cú thượng cẳng chân hạ cẳng tay của đức ông chồng, ‘’vai năm thước rộng, thân mười thước cao’’, như vóc dáng của anh chàng Từ Hải trong truyện Kiều !

Bởi đó, tục ngữ đã dạy :

- Chồng giận thì vợ làm lành

Miệng cười tươi hỏi rằng anh giận gì.

- Chồng giận thì vợ bớt lời

Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê.

Còn nếu ông cũng ghê bà cũng gớm, thì chắc chắn phải kết thúc bằng xô xát, bằng tan hoang và đổ vỡ.

- Bên thẳng thì bên phải chùng

Hai bên đều thẳng thì cùng đứt dây.

- Bên giận thì bên phải lùi

Hai bên cùng giận thì… dùi nó quăng.

Cho nên, muốn gia đình được êm ấm thì phải biết nhường nhịn và tha thứ :

- Một sự nhịn là chín sự lành.

Đồng thời phải biết phát ngôn cho êm dịu và tế nhị, bởi vì :

- Lời nói chẳng mất tiền mua

Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Tiếp đến là trong tương quan xã hội, trong mối liên hệ với người khác. Hẳn rằng, đã có lần chúng ta bực bội tức tối trước những luồng dư luận xuyên tạc, trước những miệng lưỡi thâm độc và xảo trá của người đời. Bởi vì dư luận vẫn thường là luận dư, lời đôn thổi bao giờ cũng phóng đại tô màu, chẳng biết đâu mà lường :

- Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.

Hay như ca dao đã diễn tả :

- Ở sao cho vừa lòng người

Ở rộng người cười ở hẹp người chê

Cao chê ngỏng, thấp chê lùn

Béo chê béo trục béo tròn

Gầy chê xương sống, xương sườn hở ra.

Tuy nhiên, chúng ta không thể nào sống cu ky, đơn độc, lẻ loi như một hòn đảo giữa biển khơi hay như một pháp đài biệt lập. Trái lại, sống là sống là sống với người khác. Và trong cuộc sống chung này, chúng ta không thể tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền.

Nếu biết dùng những lời nói ôn tồn, chúng ta sẽ hóa giải được những thù oán, triệu tiêu được những giận hờn, bởi vì mật ngọt chết ruồi. Người ta có thể giết được nhiều ruồi chỉ bằng một giọt mật, còn hơn là bằng cả một thùng dấm chua.

Một lời thiếu ý thức được sánh ví như một lon dầu đổ vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu hủy hết tình ruột thịt cũng như nghĩa bà con lối xóm.
Một lời nói vu oan có thể làm người khác mất hết tiền bạc, mất hết danh dự, tiêu tan sự nghiệp để rồi thân bại danh liệt và đi vào thế giới lao tù.

Sau cùng là trên bình diện cá nhân.

Như chúng ta đã biết :

- Lòng đầy thì mới tràn ra ngoài.

Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn chúng ta. Dựa vào lời nói, thiên hạ sẽ đánh giá con người và nhận rõ bộ mặt thực của chúng ta.

Nếu chúng ta nói những điều hữu lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là người tài giỏi và khôn ngoan. Nếu chúng ta nói những điều vô lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ ngu ngốc và dại khờ. Nếu chúng ta nói những điều xằng bậy, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ tầm phào và láo khoét.

Được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ một phần lớn là do bởi cái lưỡi và lời nói của chúng ta.

Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mọi người, như một câu danh ngôn đã bảo :

- Lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự, còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang.

Bởi đó, phải biết đắn đo cân nhắc, để tránh đi những lời lộng ngôn xúc phạm đến Đấng Tối Cao, những lời chua cay độc địa nhằm hạ nhục uy tín người khác, cũng như những lời côc cằn tục tĩu làm hoen ố những tâm hồn đơn sơ trong trắng, đồng thời bôi nhọ chính bản thân mình, vì ngậm máu phun người dơ miệng mình.

Như thế, nếu không biết sử dụng cái lưỡi cho đúng đắn, thì lời nói sẽ là nguồn ngốc phát sinh rất nhiều giống tội thay vì là một phương tiện giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau.

Êsôpe là một tên lô lệ, nhưng lại được ông chủ tên là Santô rất yêu mến và kính trọng. Ngày kia có khách đến chơi, ông chủ sai Êsôpe ra chợ mua thức ăn, nhưng không bảo là mua những thứ gì. Êsôpe bèn rinh về đủ các thứ lưỡi : lưỡi lợn, lưỡi bò và lưỡi ngựa… để nấu nướng.

Lạ miệng nên xơi ngon. Ông chủ và khách khứa đều hài lòng về tài bếp núc của Êsôpe. Rồi khen lấy khen để.

Lần sau cũng có khách, ông chủ lại sai Êsôpe đi chợ và cũng không dặn phải mua những gì, Êsôpe cũng lại rinh về toàn những lưỡi là lưỡi, chỉ khác ở cách chế biến và thêm bớt gia vị. Thấy vậy, ông chủ rất đỗi ngạc nhiên, còn Êsôpe thì kính cẩn làm một màn lý luận, bàn về cái lưỡi như sau :

- Phàm ở trên đời này, mọi sự tốt hay xấu, lợi hay hại… tất tật đều do bởi việc sử dụng cái lưỡi một cách khôn khéo hay vụng về.

Chính nhờ vậy, mà Êsôpe được chủ yếu mến và sau này được giải thoát khỏi kiếp nô lệ lầm than.

Ý thức được tầm mức quan trọng của cái lưỡi là như vậy, chúng ta hãy lắp đặt một cái phanh vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “sì tốp” lại đúng nơi và đúng lúc.

Viết tới đây, gã bèn nhớ tới lời khuyên của người xưa, đó là :

- Hãy ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói

Gã Siêu

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Ngày Của Mẹ, Của Cha

Vi Anh
Lịch sử chỉ đánh giá đúng anh hùng khi người anh hùng nằm yên dưới mộ. Ngày của Mẹ, của Cha năm thứ 36 của tập thể người Mỹ gốc Việt này,, số những người cha, người mẹ Việt Nam đầu tiên đưa gia đình tỵ nạn CS ở hải ngoại chắc cũng không còn nhiều lắm. Đây là cơ hội tốt để thấy công ơn trời biển của những người cha, người mẹ đã liều mình đưa con cái đến bến bờ tự do và quên mình nơi quê hương mới, lao động chân tay cắt chỉ, ũi đồ, cắt cỏ, nấu cơm tháng mướn để lo có tiền cho con cái - là lớp trẻ Việt hải ngoại -- ăn học, trưởng thành được như ngày hôm nay.

36 năm là thời gian gần nửa đời người, hơn một thế hệ xã hội học. Thế hệ thứ nhứt đại đa số là những quân dân cán chánh VN Cộng Hoà dẫn gia đình con cái đi tỵ nạn CS ở hải ngoại, lúc bấy giờ trẻ nhứt cũng 30, năm nay đã hơn sáu bó rưởi, bảy bó cả rồi. Những người cha, người mẹ đó thường là những người đã có ăn học, nghề nghiệp, chức vụ trong chế độ VNCH, người trẻ nhứt lúc bấy giờ cũng phải khoảng 40. Dù nhờ y tế tân tiến, chế độ tư do, tự tại, môi trường trong lành, đời sống hải ngoại đầy đủ làm tuổi thọ gia tăng, những người cha người mẹ thuộc thế hệ thứ nhứt của cuộc di tản vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt đó, nay tuổi hạc cũng đã quá thất thập cổ lai hi rồi. Không ít người đã ra đi; số còn lại cũng mấp mé bờ sanh tử theo luật vô thường của Tạo Hoá và vòng sanh lão bịnh tử của kiếp con người.

Tre tàn măng mọc là qui luật sinh tồn. Con hơn cha nhà có phước, sau hơn trước đất nước có phần là đà tiến hoá của một dân tộc. Hậu duệ của người cha người mẹ đến bến bờ tự do, đứa con sanh sớm nhứt tại nước hải ngoại bây giờ cũng tròn 36 tuổi. Có người gọi là thế hệ thứ hai bây giờ cũng đã tứ thập tri thiên mạng rồi. Còn thế hệ thứ ba thì nhiều lắm đang đại học hay ngoài đời, hoà nhập sâu sát vào xã hội Mỹ. Dù có bi quan và khiêm tốn sắc tộc thế mấy đi nữa cũng thấy lớp người hậu duệ của những bậc cha mẹ thuộc thế hệ thứ nhứt của những người Việt tỵ nạn CS, không thua sút bất cứ sắc tộc nào đã nhập cừ các siêu cường Tây Phương hàng thế kỷ trước. Đặc biệt ở Mỹ là hiệp chủng quốc, nơi người Việt định cư đông nhứt trên thế giới, những cố gắng vươn lên, thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội của người gốc Việt thấy rõ nhứt. Bác sĩ, luật sư, kỹ sư, giáo sư, chuyên viên gốc Việt đã bảo hòa so với tỷ lệ dân số gốc Việt. Ngành nào lớp trẻ VN cũng có mặt, quân dân cán chính của Mỹ đều có người gốc Việt chen vai sát cánh với những sắc tộc khác .

Sự thành công này của thế hệ hậu duệ theo phân tích và nhận định của những nhà xã hội học là do yếu tố gia đình VN. Nói đến gia đình VN là nói đến cha mẹ. Gia đình tự nó là một nhóm xã hội (social group). Bất cứ nhóm xã hội nào cũng có sự lãnh đạo mới mưu cầu hạnh phúc và thăng tiến được. Nhóm xã hội gia đình VN, người cha thường đóng vai trò lãnh đạo thực hiện (instrumental leadership), nặng về lý trí, thực tiễn, đòi hỏi con cái phải thực hiện hoàn thành nhiệm vụ của gia đình. Do đó người cha tỏ ra cứng rắn với con cái và ít được con cái thân tình như đối với mẹ. Còn người mẹ đóng vai trò lãnh đạo hoà họp, tạo sự thông cảm chung, hạnh phúc, êm ấm chung cho gia đình nên được lòng con cái hơn người cha. Hai thể thức lãnh đạo này không xung khắc nhau mà bỗ túc cho nhau, làm gia đình VN phát triển tốt trong xã hội Tây Phương và làm cho lý do lớp trẻ VN thăng tiến nhanh trong xã hội các quốc gia định cư cách nước nhà có nơi nửa vòng Trái Đất.

Trên đường định cư cũng như trên bất cứ đường đời mới, vạn sự khởi đầu nan. Cha mẹ lấy thân phận lót đường cho con cái để lớp trẻ có ngày nay. Hầu hết thế hệ thứ nhứt hy sinh quên mình, để dĩ vãng qua một bên, hướng về tương lai phía trước, lo cho gia đình thăng tiến. Tướng lãnh Quân Lực VNCH không ngần ngại đi làm người lau cửa sổ cho các building, người quản lý nhà hàng (như Tướng Đồng văn Khuyên). Nghị sĩ, dân biểu VNCH đi bán xăng, bán tiệm rượu, làm thợ nhà in, thợ lắp ráp điện tử, bán thịt cá cho chợ. Công chức cao cấp đi cắt chỉ, ủi đồ, cắt cỏ, làm móng tay, làm mặt trong thời kỳ chân ướt chân ráo. Làm với tất cả lòng tận tụy, với sự hiểu biết và tin tưởng nơi lớp trẻ tiến lên, tiến thân.

Con cái vần công, cùng nhau xây đấp đại gia đình. Một chiếc xe đôi ba anh chị em chia giờ nhau đi và đưa rước nhau. Anh học ra trường tiếp cha mẹ đóng tiền trường cho em đi đại học cao hơn. Cả nhà chung đậu tiền cho người anh mua căn nhà đầu tiên và anh tiếp tay em mua căn nhà hay sang căn tiệm mới. Việc đó thực hiện được nhờ sự lãnh đạo thực hiện và hoà họp của cha mẹ.

Sự kết họp này có và làm được là do tình thương gia đình, và chữ tín nghĩa này có và mạnh hơn mọi credit mà ngân hàng nào có thể so sánh được. Bất thành văn tự nhưng long trọng và chắc chắn như nền tảng gia đình VN.

Do vậy Ngày Của Mẹ, Của Cha thứ 36 của người Mỹ gốc Việt này là ngày tưởng nhớ tới những người cha người mẹ đã dẩn dắt con ra khỏi chế độ CS, đến miền Đất Hứa. Ngày tưởng nhớ những hy sinh của những người cha người mẹ lót đường cho cái tiến thân nơi quê hương mới. Ngày ngưỡng mộ lòng dũng cảm của những người cha người mẹ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, một ngày 24 giờ, 1 tuần 7 ngày để con cháu được như ngày nay. Lòng dũng cảm của những người mẹ người cha đó can đảm hơn người chiến sĩ can trường xung phong ngoài mặt trận vì giờ phút can đảm xung phong ngắn hơn, ít khi xảy ra hơn so với lòng dũng cảm gần như suốt đời của cha mẹ.

Chẳng những thế có nhiều cha mẹ gốc Việt còn muốn hy sinh cho con khi mình không còn ở cõi trần này nữa. Nhiều người cha người mẹ dặn dò hay di chúc cho con cái, sau khi theo ông theo bà, thì con cái đem hoả thiêu, lấy tro đem rải ngoài biển hay gởi trong chùa. Vì không muốn đem tro xương của mình trở lại nước nhà còn nằm trong tay CS. Vì biết con cháu ở xứ văn minh kỹ nghệ, quá bận bịu này phải chạy theo việc làm, thường khi phải ở xa, ngày giỗ tết, thanh minh mà vì kẹt công việc làm ăn không về viếng mộ được, thì bùi ngùi, tủi buồn tội nghiệp. Trong những lý do vệ sinh, giản dị, niềm tin tôn giáo, nhiều gia đình VN bớt theo phong tục Việt sống cái nhà chết cái mồ, mà chấp nhận hoả táng thân nhân, lấy tro rải biển hay gởi ở chùa, có lý do gia đình ấy./.(Vi Anh)

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

EM LÀ THẦN TƯỢNG VỪA SỤP ĐỔ
Lão Móc

Theo bản tin đăng trên trang mạng Việt ngữ BBC thì:
“Ca sĩ Ý Lan, một nữ nghệ sĩ nổi tiếng với các ca khúc Phạm Duy sẽ có hai đêm diễn ở Hà Nội trong tháng 5. Một thông báo chính thức về chuyến lưu diễn này nói: “Lần xuất hiện đầu tiên của danh ca Ý Lan tại Hà Nội sẽ là tại Nhà Hát Lớn, nơi 57 năm trước, mẹ của Ý Lan là danh ca Thái Thanh đứng hát.
Cũng theo BBC, trong lúc trình diễn ở phòng trà Văn Nghệ, 1 fan trong hội trường la lớn: “Cô Ý Lan ơi, khi nào cô tới Hà Nội để cho bố con xem cô hát vì bố lẫn mẹ con mê cô lắm.”
Ý Lan tươi cười: "Xin cảm ơn, một ngày gần đây cô sẽ ra Hà Nội hát để mời cả bố lẫn mẹ con ủng hộ nhé”.
Ban tổ chức cũng nói Ý Lan “nôn nóng” được tới trình diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội vì nơi đây là nơi mà cha Ý Lan, trước khi trở thành tài tử Lê Quỳnh, theo dõi cuộc trình diễn của mẹ cô, bà Thái Thanh, trong Ban văn nghệ Gió Nam.
Ý Lan tiết lộ rằng cha của mình, lúc đó là một anh bạch diện thư sinh, không có tiền mua vé, trèo máng xối để nhìn ca sĩ Thái Thanh - qua khung cửa. Năm năm sau Ý Lan chào đời” - thông báo của Ban tổ chức.
“Bố Ý Lan từ trần mấy năm qua, mẹ thì già yếu, không đi xa được. Ý Lan được xuất hiện tại Nhà Hát Lớn Hà Nội lần này là trở về trên con đường kỷ niệm thay thế cho bố mẹ”.
Thành danh ở Hoa Kỳ khi ngoài 30 tuổi, năm nay 53 tuổi, chị cả trong 1 gia đình 5 chị em. Bác ruột của Ý Lan, bà Thái Hằng, vợ của nhạc sĩ Phạm Duy”.
Trong cuộc đời, ai cũng có quyền thương yêu, thù hận. Có người đi bên này sông, có kẻ đi bên kia sông, có kẻ lội xuống giữa dòng mà đi!
Về chuyện ca sĩ Ý Lan về hát tại Nhà Hát Lớn Hà Nội vào tháng 5 để cho “những người vui” nghe, đã có tác giả Nguyễn Bá Chổi là “một người buồn” viết bài “Tháng 5 Em Về Hát Ngọn Dao Đâm” rất… tới!
Cũng là “một người buồn”, Lão Móc xin có lời bàn mao tôn cương về chuyện nữ ca sĩ Ý Lan về hát tại Nhà Hát Lớn Hà Nội “là trở về trên con đường kỷ niệm thay thế cho bố mẹ”.
Câu tuyên bố này nghe có nhiều dư vị đắng cay, vì theo thông báo của Ban tổ chức thì nữ ca sĩ Ý Lan “thành danh ở Hoa Kỳ khi ngoài 30 tuổi”, tức là trong bao năm qua nữ ca sĩ đã sống nhờ vào sự thương mến của khán giả hải ngoại. Nay, ca sĩ Ý Lan lại về hát cho “những người vui nghe” để “những người vui” … ăn mừng Đại Thắng Mùa Xuân thì đúng là “Tháng 5 Em Về Hát Ngọn Dao Đâm” chớ đâu có phải là “trở về trên con đường kỷ niệm của bố mẹ” - như ca sĩ Ý Lan đã tuyên bố.
Nên nhớ, bố cô, tài tử Lê Quỳnh, vai chính trong phim “Chúng Tôi Muốn Sống” là một tài liệu sống chứng tỏ tội ác tày trời của VC trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất!
*
Năm 1986, nằm trên đảo Paulo Bidong “buồn đau, bi đát” để:
“Ta thương ta, kiếp thuyền nhân
Một lần vượt biển muôn phần đớn đau!
Nghe qua máy phóng thanh của Văn phòng trại giọng hát Thái Thanh qua bài “Ngày xưa Hoàng thị”, Lão Móc có làm bài thơ về giọng hát Thái Thanh như sau:
“Chợt nghe tiếng hát Thái Thanh
Ngày xưa Hoàng thị yêu anh học trò
Thôi yêu màu tím ngây thơ
Cho người say đắm ngẩn ngơ suốt đời
Yêu sao tiếng hát tuyệt vời
Cao như tiếng hạc lưng trời vút qua
Yêu sao tiếng hát kiêu sa
Dáng em đài các đi qua cuộc đời
Mười năm - mộng dữ tàn rồi
Hôm nay nghe lại những lời thương ca
Lòng ta chợt thấy xót xa
Gió mưa tàn bạo - cánh hoa úa tàn!”
Theo báo chí thì, trong những năm tháng ở lại Việt Nam , danh ca Thái Thanh đã không trình diễn. Và bà chỉ trình diễn trở lại khi định cư ở Hoa Kỳ.
Ca sĩ Ý Lan, con của ca sĩ Thái Thanh, theo thông báo của Ban tổ chức thì ca sĩ Ý Lan “thành danh ở Hoa Kỳ khi ngoài 30 tuổi” thì, lại khác hẳn là “thành công ở Hoa Kỳ nhưng lại trở về Hà Nội để hát cho “những người vui” nghe!
Chuyện này thì cũng trái khoáy như chuyện họa sĩ Đoàn Hân, cựu Thiếu Tá An ninh QLVNCH, cựu tù nhân của nhiều trại tù VC lại có con là họa sĩ Bryant Đoàn triển lãm tranh ca tụng cờ đỏ sao vàng của VC làm xôn xao dự luận Nam California dạo nào!
Trên diễn đàn điện tử có bài thơ của nick Salsa, xin chép gửi nữ ca sĩ Ý Lan:
“Em về hát ngọn dao đâm
Tiếng rơi nát vụn những âm thanh buồn
Tháng Tư lầy lội linh hồn
Em xưa dường đã quên trầm hương xưa
Máu buồng tim cạn hết chưa?
Em về dao ngọt ngậm ngùi thơ ta!”
*
Cũng như Phạm Duy, với chuyến trình diễn tháng 5 năm nay tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, nữ ca sĩ Ý Lan đã là thần tượng vừa sụp đổ đối với đa số người Việt tỵ nạn tại hải ngoại.
Có ông nóng tánh còn ngâm nga:
“Gái tơ không biết thù nhà
Bên sông còn hát khúc Hoa hâụ đình…”
Dù sao thì cô ca sĩ này, cũng như các ca sĩ khác, cũng đâu có gì đáng trách và không đáng nguyền rủa bằng các ông tai to, mặt lớn đã từng lãnh đạo chế độ VNCH; bởi vì họ chỉ là ca sĩ đem tiếng hát cho người mua vui!
Các ông, thì khác!

LÃO MÓC

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Tính xấu của người Việt qua ca dao
Người xưa có câu “Nhân vô thập toàn” - nghĩa là con người ta, dù ít hay nhiều (tùy theo mức độ cá nhân) đều có những phần chưa “trọn vẹn”. Vâng! Chỉ một chữ “vô” ấy thôi, là khoảng cách mênh mông của thế giới thói hư tật xấu. Nhận chân giá trị của mình để hoàn thiện và phát triển là rất cần thiết. Đáng buồn thay, một thời gian dài trước đây - khi chúng ta xây dựng con người mới hay phát huy phẩm chất “anh hùng cách mạng”, đã không nhận ra - thậm chí cho rằng cái xấu không có “đất để tồn tại”. Nói cách khác, nhắc đến thói hư tật xấu của con người cũng đồng nghĩa với những điều “phạm húy”, “cấm kỵ”. Khi còn sống, GS Trần Quốc Vượng từng ấp ủ một cuốn sách theo kiểu “Người Việt Nam xấu xí”; ấy vậy mà lúc ông có ý định vận động để in, một vị GS - cựu quan chức đã thẳng thừng “lắc đầu”. Thế mới biết, ở đầu thế kỷ XXI này, số người thích đeo mặt nạ, sống trong “lễ hội hóa trang” cũng không phải là ít.

Xin đừng đồng nhất việc nhận diện, chỉ ra thói hư tật xấu với “vạch áo cho người xem lưng”. Một dân tộc hay cộng đồng người chỉ có thể tiến bộ khi biết phê phán và tự phê phán. Trung Quốc, Mỹ, Nhật… vĩ đại là vậy mà vẫn có một tập đại thành về thói hư tật xấu của họ với tiêu đề “Người Trung Quốc xấu xí”, “Người Mỹ xấu xí”, “Người Nhật xấu xí” đó sao?. Thiết nghĩ, ở một phương diện nào đó, việc nêu ra những mặt hạn chế trong tính cách của một dân tộc sẽ là hành trang cần thiết trao truyền cho các thế hệ trên con đường phát triển nhân cách.

Tìm về ca dao truyền thống, chúng ta có tới hàng trăm đơn vị câu (bài) dành riêng cho thói hư tật xấu. Đây thật sự là những số liệu biết nói, giúp chúng ta nhận chân giá trị con người. Những thói hư tật xấu bao gồm nhiều khía cạnh: quan hệ gia tộc (cha mẹ - con cái, chồng - vợ, lại cả mẹ chồng - nàng dâu…), quan hệ xã hội và nhất là tu thân; trong đó nổi bật hơn cả là thói lẳng lơ, bội bạc, tham ăn - nhác làm. Không phải ngẫu nhiên, anh chàng tham ăn và cô gái lẳng lơ đã là nhân vật của folklore, của hội hè đình đám…
Trước hết, không thể không nhắc đến thói lẳng lơ - thường gắn liền với người phụ nữ. Thật khó tưởng tượng lẳng lơ lại là nét lớn của tính cách người Việt truyền thống, vì xưa nay, chúng ta quen với cái gọi là “tam tòng, tứ đức”… Song đó lại là sự thật. Tiếp cận ca dao, thói lẳng lơ cũng muôn hình nghìn vẻ, lắm cung bậc - đủ mọi lứa tuổi, ngôi thứ, thành phần xã hội. Đó có thể là người già

(Bà già bưng thúng gạo xay/
Gãi bụng sồn sột hỏi chầy cối đâu),

những kẻ khoác áo “nhà nước quân chủ”
(Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình/
Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi),

sư sãi
(Nam mô ba chữ từ bi/
Phật còn ve gái huống chi thầy chùa);

thậm chí là con gái mới lớn
(Con gái mười bảy mười ba/
Đêm nằm với mẹ khóc la đòi chồng),

những người trưởng thành hơn
(Gái đâu có gái lạ đời/
Chỉ còn thiếu mỗi ông trời không chim)

hay bộc lộ qua một điểm nhìn, quan điểm cụ thể
(Lẳng lơ chết cũng ra ma/
Chính chuyên chết cũng đưa ra ngoài đồng)

…Có thể hiểu, con người của thời đại quân chủ chuyên chế đã phải khoác trên mình quá nhiều bộ quần áo của nghi lễ, buộc trói; đấy là chưa nói đến thói đạo đức giả của những bậc “Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt”. Cho nên, ở phương diện nào đó, lẳng lơ cần được nhìn nhận như một sự “phản kháng”, “bất hòa” với thực tại xã hội, hay “bí hạ phá thượng” - nói cho sướng miệng. Tuy nhiên, xét đến cùng, lẳng lơ chưa bao giờ được xem là tính tốt.

Sánh đôi cùng với lẳng lơ là bội bạc. Mặc dù người Việt Nam luôn sống vì nghĩa, hy sinh xả thân cho nghĩa lớn, hoặc răn dạy cháu con tích phúc, để đức cho đời sau, trọng nghĩa khinh tài…Nhưng sao mà vô ơn, phụ nghĩa, bạc tình nhiều đến thế:
Tò vò mà nuôi con nhện/
Đến khi nó lớn nó quện nhau đi…

Còn đâu nhân nghĩa, thuỷ chung khi người vợ phải kêu gào thảm thiết:
Chẳng ai phụ bạc như chàng/
Bẻ cành gai bạc lấp đàng chốn đi.

Và lời của chàng trai nọ cũng thật là ai oán, lay động tâm can:
Bậu nghe ai dỗ ai dành/
Bậu tham chốn khác bậu đành bỏ qua…

Đến đây, chắc chắn độc giả đã có thể bổ sung thêm dẫn chứng cho mục từ bội bạc của cuốn từ điển về thói hư tật xấu.

Sẽ là thiếu sót lớn nếu chúng tôi không nhắc đến ở đây cái sự tham ăn - nhác làm, khi đề cập đến vấn đề thói hư tật xấu truyền thống của người Việt. Vẫn biết xưa nay,
“miếng ăn là miếng nhục”,
“lời chào cao hơn mâm cỗ”…

song không thể phủ nhận: miếng ăn - cái đói (dẫn đến tham) có một sức ám ảnh ghê gớm đối với người bình dân xưa (nó còn là một chủ đề lớn trong văn xuôi Nam Cao trước 1945). Đây là nỗi niềm đã được ca dao ghi nhận:

Bực mình chẳng muốn nói ra/
Muốn đi ăn cỗ chẳng ma nào mời.

Và câu chuyện dân gian nọ kể về thầy đồ giận học trò chỉ vì lỡ ăn nắm xôi do không hiểu ý thầy cũng thật là sâu sắc. Điều hiển nhiên, tham ăn luôn hợp thành cặp bài trùng với nhác làm:

Ăn no rồi lại nằm khoèo/
Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem,

hay hình ảnh một “chân dung” khác cũng đáng chê trách không kém:
Làm thì chẳng dám bằng ai/
Ăn thì thứ nhất thứ hai trong vùng…

Xét đến tận cùng căn nguyên, chúng ta có thể hiểu: các bậc “tiền nhân” đã trải qua quá nhiều cơ hàn, đói khổ - thậm chí những năm mất mùa, những ngày giáp hạt… từng để lại “dấu ấn” không quên trong lịch sử. Đói nghèo đến độ không thể “sạch”, không thể “thơm” (như ý câu: Đói cho sạch, rách cho thơm) trở thành bia miệng ngàn năm, lưu cùng hậu thế…
Ngoài lẳng lơ, bội bạc, tham ăn - nhác làm…với những thói xấu khác của người Việt, chúng ta không thiếu những “dẫn chứng” đắt giá - cho dù đó là tính cơ hội

(Nghèo giữa thị thành không người hỏi/
Giàu tại rừng sâu lắm kẻ tìm),

sự tráo trở
(Yêu nhau nấu cháo củ tre/
Nấu canh vỏ nhãn, nấu chè nhân ngôn),

ganh ghét đố kỵ
(Trâu buộc thì ghét trâu ăn/
Quan võ thì ghét quan văn dài quần),

bê tha
(Cờ bạc là bác thằng bần/
áo quần bán hết ngồi trần tô hô),

ích kỷ
(Khi giàu có chẳng đỡ ai/
Đến khi hoạn nạn chẳng ai đỡ mình),

rởm đời
(Con cóc nằm lép bờ ao/Lăm le lại muốn đớp sao trên trời)…Rồi quan hệ hai chiều giữa cha mẹ - con cái cũng không hoàn toàn hiếu, nghĩa

(Trời mưa bong bóng phập phồng/
Mẹ đi lấy chồng con ở với ai;
Cha mẹ nuôi con Biển Hồ lai láng/
Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày);

quan hệ vợ chồng không hợp đạo lý
(Con gái Linh Xá dạy chồng bằng dao -

hay
Cái cò là cái cò quăm/
Mày hay đánh vợ mày nằm với ai);

quan hệ mẹ chồng - nàng dâu thì thật là bi kịch:
Thật thà cũng thể lái trâu/
Dẫu yêu thương cũng nàng dâu mẹ chồng…

Nói chung, mọi thói hư tật xấu của con người đều có thể tìm thấy trong ca dao truyền thống - một bộ bách khoa toàn thư giá trị, nhiều ý nghĩa. Hy vọng, tiếp cận với những gì “xấu xí” ngày hôm qua (bây giờ nhiều tính nết truyền thống vẫn còn tồn tại hoặc chưa mất hẳn, dù cuộc sống đã đi sang một giai đoạn khác), chúng ta sẽ tìm được những điều bổ ích, không cũ với thời gian.

Hà Đan

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Cảm nghĩ của Đàn Ông về Phụ Nữ. Phụ nữ giống như người dự báo thời tiết: chỉ nhận là mình đoán thiếu chính xác chứ không sai.
Phụ nữ giống như chiếc tháp: có rất nhiều lối vào nhưng không tìm được lối ra.

Phụ nữ là một bản nhạc dài không có các nốt trầm.
Phụ nữ giống như cuốn tiểu thuyết: có mở đầu chứ không có kết thúc.

Phụ nữ do Chúa sáng tạo ra nhưng chính người cũng không hiểu được chủ đề của tác phẩm của mình.
Phụ nữ giống như bức tranh trừu tượng mà mãi 300 năm về sau cũng chẳng có ai hiểu được.

Người đàn ông thành công là người có thể kiếm được nhiều hơn số tiền vợ anh ta chi tiêu.
Người phụ nữ thành công là người tìm được một người đàn ông như vậy.
Một người phụ nữ toàn diện: sáng diện, trưa diện, chiều diện, tối diện.

Để có được hạnh phúc với một người đàn ông, bạn cần phải hiểu anh ta nhiều và yêu ít thôi.
Để có được hạnh phúc với môt người phụ nữ, bạn cần phải yêu nhiều và đừng cố hiểu cô ta.

Phụ nữ cưới chồng với hi vọng anh ta sẽ thay đổi, nhưng xong rồi anh ta lại không thay đổi.
Đàn ông cưới vợ với hi vọng cô ta sẽ không thay đổi, nhưng xong rồi cô ta lại thay đổi.

Trong một cuộc tranh cãi, phụ nữ phải là người nói câu cuối cùng.
Bất cứ điều gì người đàn ông nói sau đó sẽ là sự mở đầu của một cuộc tranh cãi mới.
Đàn Ông: Người Phụ Nữ lý tưởng đời này tìm đâu cho ra?

Post Reply