Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Anh Hùng
Người Buôn Gió
(Nguồn: nguoibuongio1972.multiply.com)
Xưa tráng sĩ Kinh Kha thân sang Tần làm thích khách, trí hùng ngút ngàn lấp cả bến sông Dịch Thủy.
Người tiễn đưa hai hàng, trọng kính cực kỳ.
Kha vào được cung Tần, qua bao nhiêu hàng lớp quân canh, phải chuẩn bị chu đáo vô cùng đến hàng năm trời. Phải nhờ đến đầu của tướng Phàn Ư Kỳ để làm tin, rồi địa đồ, ngọc báu... công phu, tổn thất lắm mới vào được cung điện, mà vẫn cách Tần Vương 50 mươi bước chân. Việc nhớn chưa thành, nhưng ngàn đời sau ai nghe kể cũng làm thán phục.
Chuyện ấy sau này đến tai người nước Vệ, bấy giờ là triều nhà Sản năm thứ 66.
Người này giữ chức quan nhỏ trong đội tuần canh, tên chữ là Phòng.
Phòng hàng ngày theo lệnh quan trên đốc thúc, thường tuần tra trên địa bàn, bắt bớ những người dân đen buôn bán lẻ, đi rong. Siêng năng, chăm chỉ nhưng mãi chưa lập chiến công nào lớn, thấm thoắt thoi đưa tuổi đã lục tuần.
Bỗng ngày nọ, triều đình chiếm đất của xứ Thái Hà, khiến cho dân xứ ấy bức bối quá tụ lại bày tỏ sự không bằng lòng. Triều đình nghị các quan lại, bàn rằng”
-Không thể tha thứ bọn này, triều đình đã quyết thế nào mà có ý kháng lệnh đều đáng tội trọng. Nay truyền cho các bộ phải làm đến nơi, đến chốn. Cho bọn chúng không ngóc đầu lên nổi.
Lệnh trên truyền xuống, các bộ, phủ thi hành răm rắp. Quân lính gươm giáo sáng lòa tỏa các nơi khủng bố, uy hiếp tinh thần dân xứ Thái Hà. Loa khắp nơi phỉ báng, vu vạ đám dân ấy. Hai mặt giáp công nhịp nhàng, rồi nhân đêm tối mà nẫng gọn được đất.
Ðám dân mất đất kéo nhau lên tận kinh thành kêu than. Triều đình chưa biết xử thế nào, đang nghĩ ngợi cách trị, vì dân chỉ kêu oan mà dùng binh lính trị cũng khó coi.
Phòng bấy giờ nghe các quan trên bàn bạc đi lại, có chiều đang lúng túng khó xử. Bèn nghĩ đây có thể là cơ hội lập công, mới bảo đồng nghiệp đi tuần cùng rằng.
-Sao cứ phải nương tay bọn chuột nhắt ấy, chỉ cần mình ta cũng đủ làm cho tinh thần đám ấy khiếp hãi đến muôn đời. Há Phòng ta không bằng tên thích khách mọn họ Kinh chăng?
Nói xong, Phòng một mình một gươm, trang phục đâu đó, tay nắm chặt chuôi gươm, tay cầm điếu thuốc. Nhằm đúng lúc xứ ấy đang làm lễ, người đông nghìn nghịt nhưng toàn trẻ con nghiêm trang kính cẩn làm lễ. Phòng hiên ngang, khí phách ngời ngời đi qua đám đông mà như đi giữa chốn không người, thẳng tiến lên cung thánh lễ mà không ai dám ngăn, Phòng đi đến đâu, đám trẻ dự lễ đều khiếp đảm, cúi gằm mặt không dám nhìn. Ðến nơi Phòng bước lên cung, chỉ tay vào mặt chủ tế hỏi xấc.
Chủ tế nín thinh không trả lời, bấy giờ có mấy người đến van xin. Phòng thấy cũng đã đủ oai và khiến bọn dân mất mặt, sợ hãi rồi. Bèn quay đít đi ra, lúc Phòng đi ra, trẻ con sợ đến nỗi bịt miệng không dám để tiếng khóc bật ra. Ai nấy đều sợ hãi nhìn Phòng hùng dũng, oai phong. Kẻ can đảm nhất cũng phải cúi mặt nghĩ thầm:
-Ðến quân tuần canh còn thế này, thì quân nhà Sản còn đáng sợ đến đâu?
Phòng về đến trạm tuần canh, đồng nghiệp xúm vào khen nức nở. Có kẻ nói xưa Quan Võ xông pha vào trận chém Nhan Lương, Văn Sú cũng chả hơn được Phòng bây giờ. Người khác nói so với Phòng, Kinh Kha chỉ là đứa con nít.
Quan trên nghe Phòng đảm lược lớn hơn người, phá được đám dân kia, làm chúng khiếp nhược, vui lắm. Mới gọi lên phong thưởng khen trước ba quân, đề cao tấm gương anh hùng của Phòng cho quân lính noi theo.
Sau có người hỏi Phòng vì sao can đảm thế, Phòng cười nhạt ghé tai rằng:
-Lúc đó là lễ trẻ con, có đứa nào mà chả sợ, huống chi nếu chúng động vào lông chân ta. Triều đình sẽ cho quân vào điều tra, xét hỏi, triệu tập nhân chứng liên miên, nghiên cứu hiện trường mất vài năm. Liệu chúng nó có yên mà làm lễ được không?
Người kia nghe xong, than thầm rằng:
-Nhà Sản thật khéo đào tạo Anh Hùng.
Người Buôn Gió
(Nguồn: nguoibuongio1972.multiply.com)
Xưa tráng sĩ Kinh Kha thân sang Tần làm thích khách, trí hùng ngút ngàn lấp cả bến sông Dịch Thủy.
Người tiễn đưa hai hàng, trọng kính cực kỳ.
Kha vào được cung Tần, qua bao nhiêu hàng lớp quân canh, phải chuẩn bị chu đáo vô cùng đến hàng năm trời. Phải nhờ đến đầu của tướng Phàn Ư Kỳ để làm tin, rồi địa đồ, ngọc báu... công phu, tổn thất lắm mới vào được cung điện, mà vẫn cách Tần Vương 50 mươi bước chân. Việc nhớn chưa thành, nhưng ngàn đời sau ai nghe kể cũng làm thán phục.
Chuyện ấy sau này đến tai người nước Vệ, bấy giờ là triều nhà Sản năm thứ 66.
Người này giữ chức quan nhỏ trong đội tuần canh, tên chữ là Phòng.
Phòng hàng ngày theo lệnh quan trên đốc thúc, thường tuần tra trên địa bàn, bắt bớ những người dân đen buôn bán lẻ, đi rong. Siêng năng, chăm chỉ nhưng mãi chưa lập chiến công nào lớn, thấm thoắt thoi đưa tuổi đã lục tuần.
Bỗng ngày nọ, triều đình chiếm đất của xứ Thái Hà, khiến cho dân xứ ấy bức bối quá tụ lại bày tỏ sự không bằng lòng. Triều đình nghị các quan lại, bàn rằng”
-Không thể tha thứ bọn này, triều đình đã quyết thế nào mà có ý kháng lệnh đều đáng tội trọng. Nay truyền cho các bộ phải làm đến nơi, đến chốn. Cho bọn chúng không ngóc đầu lên nổi.
Lệnh trên truyền xuống, các bộ, phủ thi hành răm rắp. Quân lính gươm giáo sáng lòa tỏa các nơi khủng bố, uy hiếp tinh thần dân xứ Thái Hà. Loa khắp nơi phỉ báng, vu vạ đám dân ấy. Hai mặt giáp công nhịp nhàng, rồi nhân đêm tối mà nẫng gọn được đất.
Ðám dân mất đất kéo nhau lên tận kinh thành kêu than. Triều đình chưa biết xử thế nào, đang nghĩ ngợi cách trị, vì dân chỉ kêu oan mà dùng binh lính trị cũng khó coi.
Phòng bấy giờ nghe các quan trên bàn bạc đi lại, có chiều đang lúng túng khó xử. Bèn nghĩ đây có thể là cơ hội lập công, mới bảo đồng nghiệp đi tuần cùng rằng.
-Sao cứ phải nương tay bọn chuột nhắt ấy, chỉ cần mình ta cũng đủ làm cho tinh thần đám ấy khiếp hãi đến muôn đời. Há Phòng ta không bằng tên thích khách mọn họ Kinh chăng?
Nói xong, Phòng một mình một gươm, trang phục đâu đó, tay nắm chặt chuôi gươm, tay cầm điếu thuốc. Nhằm đúng lúc xứ ấy đang làm lễ, người đông nghìn nghịt nhưng toàn trẻ con nghiêm trang kính cẩn làm lễ. Phòng hiên ngang, khí phách ngời ngời đi qua đám đông mà như đi giữa chốn không người, thẳng tiến lên cung thánh lễ mà không ai dám ngăn, Phòng đi đến đâu, đám trẻ dự lễ đều khiếp đảm, cúi gằm mặt không dám nhìn. Ðến nơi Phòng bước lên cung, chỉ tay vào mặt chủ tế hỏi xấc.
Chủ tế nín thinh không trả lời, bấy giờ có mấy người đến van xin. Phòng thấy cũng đã đủ oai và khiến bọn dân mất mặt, sợ hãi rồi. Bèn quay đít đi ra, lúc Phòng đi ra, trẻ con sợ đến nỗi bịt miệng không dám để tiếng khóc bật ra. Ai nấy đều sợ hãi nhìn Phòng hùng dũng, oai phong. Kẻ can đảm nhất cũng phải cúi mặt nghĩ thầm:
-Ðến quân tuần canh còn thế này, thì quân nhà Sản còn đáng sợ đến đâu?
Phòng về đến trạm tuần canh, đồng nghiệp xúm vào khen nức nở. Có kẻ nói xưa Quan Võ xông pha vào trận chém Nhan Lương, Văn Sú cũng chả hơn được Phòng bây giờ. Người khác nói so với Phòng, Kinh Kha chỉ là đứa con nít.
Quan trên nghe Phòng đảm lược lớn hơn người, phá được đám dân kia, làm chúng khiếp nhược, vui lắm. Mới gọi lên phong thưởng khen trước ba quân, đề cao tấm gương anh hùng của Phòng cho quân lính noi theo.
Sau có người hỏi Phòng vì sao can đảm thế, Phòng cười nhạt ghé tai rằng:
-Lúc đó là lễ trẻ con, có đứa nào mà chả sợ, huống chi nếu chúng động vào lông chân ta. Triều đình sẽ cho quân vào điều tra, xét hỏi, triệu tập nhân chứng liên miên, nghiên cứu hiện trường mất vài năm. Liệu chúng nó có yên mà làm lễ được không?
Người kia nghe xong, than thầm rằng:
-Nhà Sản thật khéo đào tạo Anh Hùng.
“Vô ơn bạc nghĩa”
Tạp ghi Huy Phương Mùa Tạ Ơn, nhà nhà, người người nói chuyện báo ân đáp nghĩa, chúc tụng nhau những lời chúc tốt đẹp, mà mình đi nói chuyện ngược đời, không biết bạn đọc có mở lòng tha thứ không?
Năm 1621, bữa tiệc tạ ơn đầu tiên được những người sống sót trên tàu May Flower tổ chức để cám ơn những người thổ dân da đỏ đã cưu mang và nuôi sống họ qua những ngày giá buốt, khó khăn đã trở thành một ngày lễ truyền thống của nước Mỹ về ý nghĩa của sự tạ ơn. Nhưng những điều ấy có nghĩa gì khi ngày nay chúng ta nhìn lại cộng đồng người da đỏ trên đất Bắc Mỹ đã bị diệt chủng như thế nào trong lịch sử!
Dưới ngọn đuốc “mọi người đều bình đẳng” chính phủ Mỹ đã không tôn trọng nguyên tắc này, sự xóa môi trường và chính sách tàn độc nhằm tiêu diệt, đồng hóa và tước đoạt quyền sở hữu đất đai của các bộ lạc người Da Ðỏ có thể bị xem là tội ác lớn nhất của những con người “chịu ơn” trả cho những người mà họ “mang ơn”.
Vào đầu thế kỷ XIX người Da Ðỏ bị tập trung vào những khu dành riêng cho họ gọi là “reservation”, chẳng qua là những trại tập trung. Trong đó người Da Ðỏ buộc phải bỏ y phục dân tộc, cắt tóc ngắn, tập ăn muỗng nĩa, đặt tên lại theo cách của người da trắng, phải học tiếng Anh và Kinh Thánh. Những thói quen như dùng tên ná, đan lát đều được cấm tiệt. Chính phủ Mỹ cưỡng ép một nền giáo dục, gọi là “văn minh hóa” bằng cách dùng võ lực cưỡng ép trẻ da đỏ vào các trường nội trú.
Năm 1832 sau khi thành lập các trại tập trung để cầm giữ người da đỏ, chính phủ Mỹ thành lập “Văn Phòng Ðặc Trách về người da đỏ” thi hành các luật lệ và phân phối thực phẩm cùng các nhu yếu phẩm khác cho các bộ lạc (có khác chi thời bao cấp, tem phiếu của VC). Chính quyền thi hành chính sách truyền đạo cưỡng bức để bắt người da đỏ sang đạo Cơ Ðốc. Không thành công thì chính phủ lại quay sang cấm tất cả việc cử hành các nghi thức tôn giáo cổ truyền và đưa ra tòa “tòa án xử tội phạm da đỏ” thành lập năm 1883, để xét xử bất cứ người da đỏ nào không tuân lệnh, cắt bỏ khẩu phần (kiểu 13 cân của VC trong các trại tập trung) và bị bỏ vào nhà giam (thời đó chắc chưa có “conex”!).
Vào ngày 29 tháng 12 năm 1890, khi các chiến sĩ của bộ lạc Sioux và gia đình khoảng ba trăm năm chục người đóng trại ở Wounded Knee Creek, ở South Dakota ngày nay, bị Trung đoàn Kỵ Binh số 7 bao vây ra lệnh phải giao nạp vũ khí. Trong không khí căng thẳng ấy, người ta nghe tiếng súng nổ và bắt đầu một cuộc thảm sát đẫm máu xẩy ra, kỵ binh Mỹ bắn xối xả vào các chiến binh Sioux và gia đình gồm vợ con, cha mẹ của họ, làm cho 300 người da đỏ bị thương vong.
Ðến cuối những năm 1800 thì phần lớn đất đai của người da đỏ đã bị chiếm đoạt, vì chính phủ muốn chiếm đất của người da đỏ chia cho dân da trắng đến định cư. Một đạo luật mang tên: “General Allotment Act” năm 1887 cắt các khu đất đai mênh mông thành lô chia cho những người da đỏ, nhưng chính phủ Mỹ làm chủ nắm bằng khoán đất trong thời gian hai mươi lăm năm, sau đó cho phép chính phủ “mua lại” để phân phối cho dân da trắng đến định cư. Con cháu của những người trên con tàu May Flower ngày xưa đã chiếm đoạt đất đai và bóc lột đẩy người da đỏ bảo bọc cha ông họ ngày trước vào chỗ nghèo đói, văn hóa bị suy tàn và dần dà bị diệt chủng.
Sau người Mỹ hơn 100 năm, con cháu những người Anh đi trên 11 chiếc thuyền buồm mang theo 950 tù nhân nam nữ Anh quốc, đặt chân tại vùng đất phía Nam của nước Úc ngày nay đã đối xử với thổ dân Úc là những người chủ nhà, không khác người Mỹ đã đối với dân da đỏ. Một chính sách đồng hóa và tiêu diệt thổ dân khốc liệt đã được thi hành. Từ năm 1930 đến 1970, 500 nghìn trẻ em thổ dân đã bị tách khỏi gia đình khi còn rất nhỏ từ tay cha mẹ, có người chỉ mới mười tháng tuổi, và đem nuôi tại khoảng 500 cô nhi viện, nhà thờ hay các gia đình trên khắp nước Úc để xóa bỏ tên tuổi, văn hóa, cội nguồn của chúng. Hầu hết các em phải chịu đau đớn về tinh thần, bị đánh đập, đôi khi bị xâm phạm tình dục, lao động vất vả hay bị bỏ đói...
Ngày 16 tháng 11 năm 2008, Thủ Tướng Australia Kevin Rudd đã thay mặt chính phủ liên bang đọc lời xin lỗi gửi tới “Thế hệ những người Úc bị đánh cắp” (Australia's Stolen Generation) về những “đau khổ, mất mát và dằn vặt” mà họ phải gánh chịu trong lịch sử, thừa nhận sự ngược đãi đối với khoảng người từng sống trong các trại trẻ mồ côi trên khắp nước này trong suốt nửa thế kỷ qua.
Không phải ai cũng dốc lòng nghĩ đến ân huệ cho những người đã ra ơn, giúp đỡ, mà trong nhiều hoàn cảnh người mang ơn đã có thái độ phản trắc nhắm ngay những ân nhân của mình. Trong phong trào cải cách ruộng đất năm 1949 tại Bắc Việt, biết bao nhiêu những đứa con nuôi, kẻ ăn người ở, khi đói rét, thiếu ăn được những người phú nông cưu mang trở lại đấu tố, lên án đem lại cái chết cho hơn 15,000 người. Ðiển hình cho sự “vô ơn bạc nghĩa” của những người Cộng Sản là bản án tử hình dành cho bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Thanh Long ở Hà Nội, mẹ nuôi của Lê Ðức Thọ, Phạm Văn Ðồng và Trường Chinh, có con trai một là trung đoàn trưởng một trung đoàn của quân đội CS Bắc Việt. Trong Tuần Lễ Vàng, gia đình bà cũng đã hiến 100 lượng vàng cho chính quyền mới thành lập.
Chịu sự vô ơn, ai cho bằng những bà mẹ đào hầm nuôi quân, che chở, nuôi ăn, liên lạc cho những cán bộ nằm vùng xưa kia, ngày nay đã trở thành những bà mẹ “dân oan” nghèo đói, bị cướp đất, cơm đùm gạo bới đi hằng trăm cây số gặp những đứa “mẹ mẹ, con con” ngày xưa, để khiếu kiện, kêu oan. Mới đây trong một vụ án “vu khống, mạ lỵ” xẩy ra trong cộng đồng người Việt tại Austin Texas, thiên hạ rất đỗi ngạc nhiên khi biết nạn nhân bị vu khống mạ lỵ lại là người đã kiếm việc làm, cho mượn tiền “down” và đứng “co-sign” mua nhà cho kẻ chịu ơn, và con người phản phúc, vô ơn này đã trở lại vu khống, mạ lỵ ngay ân nhân của mình.
Thế giới này biết bao nhiêu kẻ đã chịu ơn người, bao nhiêu người đã ra ơn cho kẻ khác. Người ban ơn đôi khi đã quên, người chịu ơn ít người còn nhớ đến ai đã giúp đỡ mình. Nhưng ít ra đã làm người, không trả ơn thì cũng đừng như quân vô ơn phản trắc, bội bạc!
Tạp ghi Huy Phương Mùa Tạ Ơn, nhà nhà, người người nói chuyện báo ân đáp nghĩa, chúc tụng nhau những lời chúc tốt đẹp, mà mình đi nói chuyện ngược đời, không biết bạn đọc có mở lòng tha thứ không?
Năm 1621, bữa tiệc tạ ơn đầu tiên được những người sống sót trên tàu May Flower tổ chức để cám ơn những người thổ dân da đỏ đã cưu mang và nuôi sống họ qua những ngày giá buốt, khó khăn đã trở thành một ngày lễ truyền thống của nước Mỹ về ý nghĩa của sự tạ ơn. Nhưng những điều ấy có nghĩa gì khi ngày nay chúng ta nhìn lại cộng đồng người da đỏ trên đất Bắc Mỹ đã bị diệt chủng như thế nào trong lịch sử!
Dưới ngọn đuốc “mọi người đều bình đẳng” chính phủ Mỹ đã không tôn trọng nguyên tắc này, sự xóa môi trường và chính sách tàn độc nhằm tiêu diệt, đồng hóa và tước đoạt quyền sở hữu đất đai của các bộ lạc người Da Ðỏ có thể bị xem là tội ác lớn nhất của những con người “chịu ơn” trả cho những người mà họ “mang ơn”.
Vào đầu thế kỷ XIX người Da Ðỏ bị tập trung vào những khu dành riêng cho họ gọi là “reservation”, chẳng qua là những trại tập trung. Trong đó người Da Ðỏ buộc phải bỏ y phục dân tộc, cắt tóc ngắn, tập ăn muỗng nĩa, đặt tên lại theo cách của người da trắng, phải học tiếng Anh và Kinh Thánh. Những thói quen như dùng tên ná, đan lát đều được cấm tiệt. Chính phủ Mỹ cưỡng ép một nền giáo dục, gọi là “văn minh hóa” bằng cách dùng võ lực cưỡng ép trẻ da đỏ vào các trường nội trú.
Năm 1832 sau khi thành lập các trại tập trung để cầm giữ người da đỏ, chính phủ Mỹ thành lập “Văn Phòng Ðặc Trách về người da đỏ” thi hành các luật lệ và phân phối thực phẩm cùng các nhu yếu phẩm khác cho các bộ lạc (có khác chi thời bao cấp, tem phiếu của VC). Chính quyền thi hành chính sách truyền đạo cưỡng bức để bắt người da đỏ sang đạo Cơ Ðốc. Không thành công thì chính phủ lại quay sang cấm tất cả việc cử hành các nghi thức tôn giáo cổ truyền và đưa ra tòa “tòa án xử tội phạm da đỏ” thành lập năm 1883, để xét xử bất cứ người da đỏ nào không tuân lệnh, cắt bỏ khẩu phần (kiểu 13 cân của VC trong các trại tập trung) và bị bỏ vào nhà giam (thời đó chắc chưa có “conex”!).
Vào ngày 29 tháng 12 năm 1890, khi các chiến sĩ của bộ lạc Sioux và gia đình khoảng ba trăm năm chục người đóng trại ở Wounded Knee Creek, ở South Dakota ngày nay, bị Trung đoàn Kỵ Binh số 7 bao vây ra lệnh phải giao nạp vũ khí. Trong không khí căng thẳng ấy, người ta nghe tiếng súng nổ và bắt đầu một cuộc thảm sát đẫm máu xẩy ra, kỵ binh Mỹ bắn xối xả vào các chiến binh Sioux và gia đình gồm vợ con, cha mẹ của họ, làm cho 300 người da đỏ bị thương vong.
Ðến cuối những năm 1800 thì phần lớn đất đai của người da đỏ đã bị chiếm đoạt, vì chính phủ muốn chiếm đất của người da đỏ chia cho dân da trắng đến định cư. Một đạo luật mang tên: “General Allotment Act” năm 1887 cắt các khu đất đai mênh mông thành lô chia cho những người da đỏ, nhưng chính phủ Mỹ làm chủ nắm bằng khoán đất trong thời gian hai mươi lăm năm, sau đó cho phép chính phủ “mua lại” để phân phối cho dân da trắng đến định cư. Con cháu của những người trên con tàu May Flower ngày xưa đã chiếm đoạt đất đai và bóc lột đẩy người da đỏ bảo bọc cha ông họ ngày trước vào chỗ nghèo đói, văn hóa bị suy tàn và dần dà bị diệt chủng.
Sau người Mỹ hơn 100 năm, con cháu những người Anh đi trên 11 chiếc thuyền buồm mang theo 950 tù nhân nam nữ Anh quốc, đặt chân tại vùng đất phía Nam của nước Úc ngày nay đã đối xử với thổ dân Úc là những người chủ nhà, không khác người Mỹ đã đối với dân da đỏ. Một chính sách đồng hóa và tiêu diệt thổ dân khốc liệt đã được thi hành. Từ năm 1930 đến 1970, 500 nghìn trẻ em thổ dân đã bị tách khỏi gia đình khi còn rất nhỏ từ tay cha mẹ, có người chỉ mới mười tháng tuổi, và đem nuôi tại khoảng 500 cô nhi viện, nhà thờ hay các gia đình trên khắp nước Úc để xóa bỏ tên tuổi, văn hóa, cội nguồn của chúng. Hầu hết các em phải chịu đau đớn về tinh thần, bị đánh đập, đôi khi bị xâm phạm tình dục, lao động vất vả hay bị bỏ đói...
Ngày 16 tháng 11 năm 2008, Thủ Tướng Australia Kevin Rudd đã thay mặt chính phủ liên bang đọc lời xin lỗi gửi tới “Thế hệ những người Úc bị đánh cắp” (Australia's Stolen Generation) về những “đau khổ, mất mát và dằn vặt” mà họ phải gánh chịu trong lịch sử, thừa nhận sự ngược đãi đối với khoảng người từng sống trong các trại trẻ mồ côi trên khắp nước này trong suốt nửa thế kỷ qua.
Không phải ai cũng dốc lòng nghĩ đến ân huệ cho những người đã ra ơn, giúp đỡ, mà trong nhiều hoàn cảnh người mang ơn đã có thái độ phản trắc nhắm ngay những ân nhân của mình. Trong phong trào cải cách ruộng đất năm 1949 tại Bắc Việt, biết bao nhiêu những đứa con nuôi, kẻ ăn người ở, khi đói rét, thiếu ăn được những người phú nông cưu mang trở lại đấu tố, lên án đem lại cái chết cho hơn 15,000 người. Ðiển hình cho sự “vô ơn bạc nghĩa” của những người Cộng Sản là bản án tử hình dành cho bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Thanh Long ở Hà Nội, mẹ nuôi của Lê Ðức Thọ, Phạm Văn Ðồng và Trường Chinh, có con trai một là trung đoàn trưởng một trung đoàn của quân đội CS Bắc Việt. Trong Tuần Lễ Vàng, gia đình bà cũng đã hiến 100 lượng vàng cho chính quyền mới thành lập.
Chịu sự vô ơn, ai cho bằng những bà mẹ đào hầm nuôi quân, che chở, nuôi ăn, liên lạc cho những cán bộ nằm vùng xưa kia, ngày nay đã trở thành những bà mẹ “dân oan” nghèo đói, bị cướp đất, cơm đùm gạo bới đi hằng trăm cây số gặp những đứa “mẹ mẹ, con con” ngày xưa, để khiếu kiện, kêu oan. Mới đây trong một vụ án “vu khống, mạ lỵ” xẩy ra trong cộng đồng người Việt tại Austin Texas, thiên hạ rất đỗi ngạc nhiên khi biết nạn nhân bị vu khống mạ lỵ lại là người đã kiếm việc làm, cho mượn tiền “down” và đứng “co-sign” mua nhà cho kẻ chịu ơn, và con người phản phúc, vô ơn này đã trở lại vu khống, mạ lỵ ngay ân nhân của mình.
Thế giới này biết bao nhiêu kẻ đã chịu ơn người, bao nhiêu người đã ra ơn cho kẻ khác. Người ban ơn đôi khi đã quên, người chịu ơn ít người còn nhớ đến ai đã giúp đỡ mình. Nhưng ít ra đã làm người, không trả ơn thì cũng đừng như quân vô ơn phản trắc, bội bạc!
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am
"Thủ phủ" hiếp dâm tập thể của thế giới
"Thủ phủ" hiếp dâm tập thể của thế giới
Nếu là lần đầu tiên bạn đặt chân tới miền đông Congo, bạn sẽ thấy tràn ngập những điều kỳ lạ và khác thường,
đó có thể là các loài động thực vật nơi đây, hoặc là những điều kì dị nhưng có thật -
như là cánh của một chiến đấu cơ của Nga bị cắt rời để bên vệ đường, hoặc là một cậu bé tay lăm lăm súng.
Những người phụ nữ bị cưỡng bức đều được cứu giúp tại trang trại của Masika Katsuva.
Mảnh đất này hít thở theo độ nóng và năng lượng của những con người đang đấu tranh để sống thêm dù chỉ một ngày nữa. Nhưng bạo lực tại đây lại vô cùng dữ dội bởi sự pha trộn giữa cả những điều đẹp đẽ và tồi tệ nhất của một châu Phi say mê và cả tàn bạo.
Đại diện đặc biệt của Liên Hợp Quốc là Margot Wallstrom đã gọi miền đông Congo là "thủ phủ hiếp dâm tập thể của thế giới". Bản báo cáo đã đưa ra thông tin khủng khiếp - cứ mỗi giờ lại có 48 phụ nữ bị cưỡng bức.
Nhà báo Fiona Lloyd-Davies đã tới một thị trấn nằm sâu trong rừng có tên Shabunda. "Đó là vào năm 2001 và tình cảnh đã khiến cho tôi tới Congo mà không phải là Afghanistan. Một máy bay với động cơ kép nhỏ xíu là con đường duy nhất để ra - vào nơi đây" - Fiona viết.
Lúc đó, chiến tranh đang ở đỉnh điểm, Fiona đi cùng với đội Bác sĩ Không biên giới trở lại Congo. Họ đã rút khỏi nơi này bởi các cuộc tấn công liên tục và thị trấn, nhưng sau đó lại quyết định quay trở lại vì thấy việc cứu trợ là rất cần kíp.
Chiếc máy bay hạ cánh liều lĩnh trên mặt cỏ, khi đó, Fiona hiểu rằng họ đã "tạm biệt" lối thoát duy nhất khỏi vùng lửa đạn. Cô cùng mọi người ở đây trong một tuần.
Đó là một tuần phải nghe những câu chuyện kinh hoàng về tra tấn và cưỡng bức. Các vụ cưỡng bức tập thể. Bạo lực, cưỡng bức tàn bạo. Cưỡng bức cùng với những gậy, súng - và cả lưỡi lê.
Những người phụ nữ kể cho Fiona về lựa chọn thường nhật của họ - một là ngồi ở nhà và chết đói. Hai là ra ngoài ruộng để kiếm ăn và bị cưỡng bức. Hầu hết phụ nữ phải chọn cách thứ hai. Đó đã là một thông lệ.
Chiến tranh tiếp tục kéo dài cho tới năm 2003 khi một hiệp ước hòa bình được ký kết. Cuộc chiến đã ngưng một cách chính thức, nhưng vẫn chưa chấm dứt. Nạn cưỡng bức cũng vậy.
Năm 2005, Fiona lại trở lại Shabunda để tìm người phụ nữ mà cô đã phỏng vấn và chụp ảnh 4 năm trước. Đó là một cuộc kiếm tìm lành ít dữ nhiều, vì hầu hết phụ nữ đã chết hoặc biến mất trong rừng sau các cuộc tấn công, không ai nhìn thấy họ nữa.
Những phụ nữ mà Fiona gặp lần này có hoàn cảnh dã man tương tự. Nhưng lại có một uẩn khúc. Những người nhà báo gặp lần này lại liên quan tới các trại hiếp dâm tập thể có tổ chức, với những cuộc "gọi" hàng ngày. Tần suất cưỡng bức cũng khác, và nó trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của những nhóm phiến quân. Một người phụ nữ nói rằng: điều đó đang diễn ra một cách có hệ thống.
Năm 2009, Fiona lại quay trở lại mảnh đất dữ này, cùng với một bộ phim về nạn cưỡng bức và cô lại phát hiện ra một xu hướng khác tệ hơn.
Những người phụ nữ nói với Fiona về cách mà họ bị cưỡng bức. Không chỉ một, mà là rất nhiều lần. Họ nói về những vụ cưỡng bức tập thể - 3 hoặc 4 lần gì đó. Đôi khi thì "chỉ" có hai tên, nhưng thường thì có rất nhiều, 10 - 20 người, cứ như vậy từng tên một.
Nhiều người kể về việc trẻ con và các bé gái, thậm chí cả những em bé chỉ vài tháng tuổi, cũng bị cưỡng bức.
Nạn cưỡng bức trở nên phổ biến.
Tại bệnh viện Panzi, Bukavu, bác sĩ Mukwege vẫn làm việc không ngừng nghỉ để chữa trị các vết thương này cho các phụ nữ. Fiona đã gặp một trong số các bệnh nhân tại đây. Đó là một em bé trẻ trung vui tươi, không ai có thể làm tắt nụ cười trên khuôn mặt em.
Người y tá nhìn thấy Fiona chơi với em bé lập tức cảnh tỉnh: "Cô cần biết là cháu bị nhiễm HIV dương tính". Em bé mới chỉ 3 tuổi. Chị gái sinh đôi của em đã bị giết trong khi em và mẹ của mình đang bị cưỡng bức. Bản thân em cũng được sinh ra từ một vụ cưỡng bức.
Masika Katsuva Sự thật rất khó để chấp nhận, nhưng không đến mức khó khăn như với những nạn nhân của các vụ cưỡng bức - những người phải sống với hậu quả và những "vết nhơ" còn lại.
Nhưng ít nhất là không phải với một người phụ nữ đặc biệt như Masika Katsuva. Cô có vóc người nhỏ bé, nhưng ẩn trong đó là nghị lực phi thường. Câu chuyện của cô lay động mọi người, nó đau thương nhưng cũng chất chứa hy vọng bởi cô đem lại câu trả lời cho những người phụ nữ xấu số.
Cũng giống như rất nhiều nạn nhân cưỡng bức còn sống sót, cô đã không thể chịu nổi khi cô và hai đứa con gái nhỏ đều bị các tay súng cưỡng bức. Chồng của cô bị giết ngay trước mắt, cô bị ép phải nuốt một số bộ phận trên người của chồng.
Hai con gái của cô là Rachel và Yvette đang ở độ tuổi 15 và 13. Cả hai đều mang thai. Gia đình chồng của Masika đã xua đuổi cô. Ba mẹ con và những đứa trẻ phải tới một thị trấn khác ở khu vực hồ Kivu để xây dựng lại cuộc sống.
Lần này, Fiona làm phim về Masika và công việc mới. Lúc này, Masika đang quản lý 170 phụ nữ, họ gọi cô là "Mẹ Masika". Trong suốt 10 năm qua, cô đã giúp đỡ hơn 6.000 nạn nhân bị cưỡng bức, giúp và chăm sóc họ tận tình - về cả sức khỏe, tâm lý và thực hành.
Cô đã tạo nên một cộng đồng trong một khu vực ít khi bị tấn công, giúp đỡ bất kỳ ai đang cần giúp, và cô dùng một nông trại để họ có thể sống ở đó.
Mảnh đất đó là niềm hy vọng, nơi họ chữa trị và cũng là nguồn sống của họ. Những người tới nơi đây đều là nạn nhân của nạn cưỡng bức, bị gia đình và cộng đồng địa phương nguyền rủa và chối bỏ. Họ trồng trọt, chăm bẵm và thu hoạch những sản phẩm của riêng họ.
Masika trở thành người mẹ của những nạn nhân xấu số và những đứa trẻ sinh ra từ những vụ cưỡng bức. Cô cố gắng mơ ước tới một tương lai tốt đẹp hơn, nhưng cũng rất thực tế. Cô mong muốn những phụ nữ này bớt dần lao động đồng áng và học thêm các kỹ năng khác như may vá. Nhưng để làm được điều đó, Masika tin rằng xung đột và nạn cưỡng bức phải chấm dứt.
Masika nhìn vào mắt của Fiona, rồi ra dấu hiệu và nói: "Nhưng hôm nay tôi không hề thấy nạn cưỡng bức cũng như xung đột đang kết thúc".
Lê Thu (theo CNN)
"Thủ phủ" hiếp dâm tập thể của thế giới
Nếu là lần đầu tiên bạn đặt chân tới miền đông Congo, bạn sẽ thấy tràn ngập những điều kỳ lạ và khác thường,
đó có thể là các loài động thực vật nơi đây, hoặc là những điều kì dị nhưng có thật -
như là cánh của một chiến đấu cơ của Nga bị cắt rời để bên vệ đường, hoặc là một cậu bé tay lăm lăm súng.
Những người phụ nữ bị cưỡng bức đều được cứu giúp tại trang trại của Masika Katsuva.
Mảnh đất này hít thở theo độ nóng và năng lượng của những con người đang đấu tranh để sống thêm dù chỉ một ngày nữa. Nhưng bạo lực tại đây lại vô cùng dữ dội bởi sự pha trộn giữa cả những điều đẹp đẽ và tồi tệ nhất của một châu Phi say mê và cả tàn bạo.
Đại diện đặc biệt của Liên Hợp Quốc là Margot Wallstrom đã gọi miền đông Congo là "thủ phủ hiếp dâm tập thể của thế giới". Bản báo cáo đã đưa ra thông tin khủng khiếp - cứ mỗi giờ lại có 48 phụ nữ bị cưỡng bức.
Nhà báo Fiona Lloyd-Davies đã tới một thị trấn nằm sâu trong rừng có tên Shabunda. "Đó là vào năm 2001 và tình cảnh đã khiến cho tôi tới Congo mà không phải là Afghanistan. Một máy bay với động cơ kép nhỏ xíu là con đường duy nhất để ra - vào nơi đây" - Fiona viết.
Lúc đó, chiến tranh đang ở đỉnh điểm, Fiona đi cùng với đội Bác sĩ Không biên giới trở lại Congo. Họ đã rút khỏi nơi này bởi các cuộc tấn công liên tục và thị trấn, nhưng sau đó lại quyết định quay trở lại vì thấy việc cứu trợ là rất cần kíp.
Chiếc máy bay hạ cánh liều lĩnh trên mặt cỏ, khi đó, Fiona hiểu rằng họ đã "tạm biệt" lối thoát duy nhất khỏi vùng lửa đạn. Cô cùng mọi người ở đây trong một tuần.
Đó là một tuần phải nghe những câu chuyện kinh hoàng về tra tấn và cưỡng bức. Các vụ cưỡng bức tập thể. Bạo lực, cưỡng bức tàn bạo. Cưỡng bức cùng với những gậy, súng - và cả lưỡi lê.
Những người phụ nữ kể cho Fiona về lựa chọn thường nhật của họ - một là ngồi ở nhà và chết đói. Hai là ra ngoài ruộng để kiếm ăn và bị cưỡng bức. Hầu hết phụ nữ phải chọn cách thứ hai. Đó đã là một thông lệ.
Chiến tranh tiếp tục kéo dài cho tới năm 2003 khi một hiệp ước hòa bình được ký kết. Cuộc chiến đã ngưng một cách chính thức, nhưng vẫn chưa chấm dứt. Nạn cưỡng bức cũng vậy.
Năm 2005, Fiona lại trở lại Shabunda để tìm người phụ nữ mà cô đã phỏng vấn và chụp ảnh 4 năm trước. Đó là một cuộc kiếm tìm lành ít dữ nhiều, vì hầu hết phụ nữ đã chết hoặc biến mất trong rừng sau các cuộc tấn công, không ai nhìn thấy họ nữa.
Những phụ nữ mà Fiona gặp lần này có hoàn cảnh dã man tương tự. Nhưng lại có một uẩn khúc. Những người nhà báo gặp lần này lại liên quan tới các trại hiếp dâm tập thể có tổ chức, với những cuộc "gọi" hàng ngày. Tần suất cưỡng bức cũng khác, và nó trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của những nhóm phiến quân. Một người phụ nữ nói rằng: điều đó đang diễn ra một cách có hệ thống.
Năm 2009, Fiona lại quay trở lại mảnh đất dữ này, cùng với một bộ phim về nạn cưỡng bức và cô lại phát hiện ra một xu hướng khác tệ hơn.
Những người phụ nữ nói với Fiona về cách mà họ bị cưỡng bức. Không chỉ một, mà là rất nhiều lần. Họ nói về những vụ cưỡng bức tập thể - 3 hoặc 4 lần gì đó. Đôi khi thì "chỉ" có hai tên, nhưng thường thì có rất nhiều, 10 - 20 người, cứ như vậy từng tên một.
Nhiều người kể về việc trẻ con và các bé gái, thậm chí cả những em bé chỉ vài tháng tuổi, cũng bị cưỡng bức.
Nạn cưỡng bức trở nên phổ biến.
Tại bệnh viện Panzi, Bukavu, bác sĩ Mukwege vẫn làm việc không ngừng nghỉ để chữa trị các vết thương này cho các phụ nữ. Fiona đã gặp một trong số các bệnh nhân tại đây. Đó là một em bé trẻ trung vui tươi, không ai có thể làm tắt nụ cười trên khuôn mặt em.
Người y tá nhìn thấy Fiona chơi với em bé lập tức cảnh tỉnh: "Cô cần biết là cháu bị nhiễm HIV dương tính". Em bé mới chỉ 3 tuổi. Chị gái sinh đôi của em đã bị giết trong khi em và mẹ của mình đang bị cưỡng bức. Bản thân em cũng được sinh ra từ một vụ cưỡng bức.
Masika Katsuva Sự thật rất khó để chấp nhận, nhưng không đến mức khó khăn như với những nạn nhân của các vụ cưỡng bức - những người phải sống với hậu quả và những "vết nhơ" còn lại.
Nhưng ít nhất là không phải với một người phụ nữ đặc biệt như Masika Katsuva. Cô có vóc người nhỏ bé, nhưng ẩn trong đó là nghị lực phi thường. Câu chuyện của cô lay động mọi người, nó đau thương nhưng cũng chất chứa hy vọng bởi cô đem lại câu trả lời cho những người phụ nữ xấu số.
Cũng giống như rất nhiều nạn nhân cưỡng bức còn sống sót, cô đã không thể chịu nổi khi cô và hai đứa con gái nhỏ đều bị các tay súng cưỡng bức. Chồng của cô bị giết ngay trước mắt, cô bị ép phải nuốt một số bộ phận trên người của chồng.
Hai con gái của cô là Rachel và Yvette đang ở độ tuổi 15 và 13. Cả hai đều mang thai. Gia đình chồng của Masika đã xua đuổi cô. Ba mẹ con và những đứa trẻ phải tới một thị trấn khác ở khu vực hồ Kivu để xây dựng lại cuộc sống.
Lần này, Fiona làm phim về Masika và công việc mới. Lúc này, Masika đang quản lý 170 phụ nữ, họ gọi cô là "Mẹ Masika". Trong suốt 10 năm qua, cô đã giúp đỡ hơn 6.000 nạn nhân bị cưỡng bức, giúp và chăm sóc họ tận tình - về cả sức khỏe, tâm lý và thực hành.
Cô đã tạo nên một cộng đồng trong một khu vực ít khi bị tấn công, giúp đỡ bất kỳ ai đang cần giúp, và cô dùng một nông trại để họ có thể sống ở đó.
Mảnh đất đó là niềm hy vọng, nơi họ chữa trị và cũng là nguồn sống của họ. Những người tới nơi đây đều là nạn nhân của nạn cưỡng bức, bị gia đình và cộng đồng địa phương nguyền rủa và chối bỏ. Họ trồng trọt, chăm bẵm và thu hoạch những sản phẩm của riêng họ.
Masika trở thành người mẹ của những nạn nhân xấu số và những đứa trẻ sinh ra từ những vụ cưỡng bức. Cô cố gắng mơ ước tới một tương lai tốt đẹp hơn, nhưng cũng rất thực tế. Cô mong muốn những phụ nữ này bớt dần lao động đồng áng và học thêm các kỹ năng khác như may vá. Nhưng để làm được điều đó, Masika tin rằng xung đột và nạn cưỡng bức phải chấm dứt.
Masika nhìn vào mắt của Fiona, rồi ra dấu hiệu và nói: "Nhưng hôm nay tôi không hề thấy nạn cưỡng bức cũng như xung đột đang kết thúc".
Lê Thu (theo CNN)
Chuyện Chuột & Người
Cách đây chưa lâu, có bữa, ký giả Hoàng Nam của tờ Tiền Phong hớn hở đi tin:
Ngày 6 tháng 9 năm 2011 Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) cho biết, một nhóm các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện 2 cá thể sống (một đực, một cái) của loài thú được cho là đã tuyệt chủng cách đây 11 triệu năm tại vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình).
Tin cho hay, các nhà khoa học đã phát hiện trong những loài chuột rừng được đồng bào Rục, xã Thượng Hóa (Minh Hóa) bẫy bắt để ăn thịt có loài chuột đá, tên khoa học Laonastes aenigmamus. Trước năm 2005, khi xem xét các mẫu hóa thạch, các nhà khoa học khẳng định loài chuột đá đã tuyệt chủng cách đây 11 triệu năm. Loài chuột đá này có mình như chuột, đuôi như đuôi sóc, lông mịn như cầy và người Rục gọi là con Ninh Cùng.
Tôi vốn tuổi Mẹo nên không quan tâm gì (mấy) đến sự sống còn của chuột, bất kể là loại chuột gì. Hơn nữa, điều mà ký giả Hoàng Nam vừa mô tả là một phát hiện quan trọng (nói nào ngay) cũng không quan trọng gì cho lắm.
Trướcđó, vào ngày 15 tháng 12 năm 2008, BBC đã có chưng hình loại chuột này, với lời chú thích rất bất ngờ: The Laotian rock rat (Laonastes aenigmamus) was first recorded by scientists at a food market in Laos. Remarkably, researchers say this species is the sole survivor of an ancient group of rodents understood to have died out 11 million years ago.
Nguồnảnh: BBC
Coi: loài chuột đá mà thiên hạ cứ tưởng đã tuyệt chủng từ lâu (thiệt ra) đang được dân Lào bầy bán cả sâu ngoài chợ, mua về nhậu lai rai mệt nghỉ, có qúi hiếm gì đâu mà phải làm rầm rĩ vậy - mấy cha? Tuy thế, cái địa danh xã Thượng Hoá - trong bài viết thượng dẫn - lại cứ khiến tôi băn khoăn mãi. Nó nhắc nhớ đến một bài viết khác (Vào Rục Ứa Nước Mắt) của nhà báo Dương Minh Phong - trên blog Cu làng cát:
Cuối tuần, gọi mấy nhà báo lão luyện lên Rục (Thượng Hoá, Minh Hoá, Quảng Bình) anh nào cũng ởm ờ, mình lên núi, bà con gọi điện về nói hết gạo, ăn sắn cầm hơi, ăn cả củ nhút, củ mài trong lũ...
Vào chạn bếp đồng bào, lạnh tênh. Bữa trưa nhiều gia đình chỉ có sắn và sắn, Nhà khá hơn có chút ngô. Nhà tốt hơn chút còn hai bữa gạo nấu cháo cho trẻ con ăn.
Bữa trưa. Ảnh Dương Minh Phong chụp vào tháng 10 năm 2011.
Nhiều người ăn sắn đến gầy rạc người. Hỏi Cao Thị Thanh thèm cơm không? Thanh nói: Cơm mà không thèm thì thèm chi. Thèm thịt cá không:
Thanh: Thèm chơ, nhưng chừ thèm cơm nhất, thịt cá mơ cũng không có mô, chừ thèm cơm thôi, mình đang có thai, thèm cơm quá. Thật sự giấc mơ nhỏ của người Rục chẳng lớn lao gì, họ không dám mơ bữa ăn có thịt cá như người dưới xuôi, mà mơ có cơm, cơm họ thèm đến quặn lòng, họ nói thèm cơm mà nghe thắt ruột.
Với họ có bữa cơm là ấm bụng, có bữa cơm gân cốt như mạnh thêm lên, có bữa cơm họphấn chấn tinh thần hơn. Một ngày vào Rục, ứa nước mắt khi nhà mình bưng bát cơm trắng, thức ăn đôi lúc chê vợ nấu dỡ, còn đồng bào, thèm cơm đến lạ lùng. Họ từngđược bộ đội biên phòng cấp gần 6kg gạo chống đói trung lũ, nhưng mỗi khẩu nhưthế bị lũ quần 40 ngày, ăn chỉ trong chưa đầy năm ngày hết veo. Bởi bữa ăn của họ không có thức ăn ngoài muối trắng đâm ớt. Cơm chấm ớt ăn qua ngày, hết năm ngày ngồi bóc sắn nhai đắng họng.
Bữa trưa của trẻ con ngày mình vào Rục. Ảnh Dương Minh Phong chụp tháng 10/2011
Trên blog Quê choa, với tựa đề là Người Rục Đang Đói, nhà văn Nguyễn Quang Lập còn cho biết thêm vài tình tiết (ly kỳ) khác nữa:
Nhà báo Dương Minh Phong đã gắn bó với người Rục hơn chục năm nay. Năm 2006, anh đã cùng các nhà báo Phan Phương, Nguyễn Quang Vinh đấu tranh vô cùng gian khổ chứng minh người Rục đang đói trong khi cả tỉnh ủy lẫn UBND tỉnh Quảng Bình ra sức che đậy việc bỏ đói người Rục. Việc này Nguyễn Quang Vinh đã viết phóng sự 9 kì có tên Sự thật, ai muốn xem bấm vào đây: Sự thật kì 1, Sự thật kì 2, Sự thật kì 3, Sự thật kì 4, Sự thật kì 5, Sựthật kì 6, Sự thật kì 7, Sự thật kì 8, Sự thật kì 9...
Loạt bài phóng sự này có nhiều đoạn, và nhiều hình ảnh, xem khó mà cầm nước mắt:
Chúng tôi vào thôn.
Khủng khiếp.
Tôi không hình dung được, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa lại có một thôn sống trong cảnh lay lắt như vậy. Tan hoang. Nhà nào cũng đói. Nhà chị Cao Thị Liên đang ngồi ômđứa con nhỏ, đói lả, bên chị là cái nồi chứa những con nòng nọc. Đó là món ăn duy nhất còn lại trong ngày của nhà chị.
Chị Cao Thị Liên và rổ đựng nòng nọc. Ảnh Nguyễn Quang Vinh chụp tháng 10 năm 2006.
Nhà ông Cao Xuân Hiếu, 7 người đang ngồi, nằm trên nền đất, đói lả. Nhà nào cũng nhưvậy. Cái đói bao trùm.
Ông Cao Xuân Hiếu nói: Đói lắm cán bộ ạ. Ảnh Nguyễn Quang Vinh chụp tháng 10 năm 2006.
Theo Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia:
Tộc người Rục được một tiểu đội Công an Quảng Bình phát hiện vào ngày 12 tháng 8 năm 1959 trong hang sâu tại vùng hang động Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc xã Thượng Hóa huyện Minh Hóa (Quảng Bình) gồm 11 hộ với 34 người. Người Rục có tập quán rất lạc hậu, quen ở hang sâu, săn bắt, hái lượm, nhưng họ cũng có một cuộc sống tinh thần phong phú với những nhạc cụ núi rừng như đàn trơ bon, đàn môi, sáo dọc và làn điệu cà lưm cà lềnh. Do tập quán lạc hậu, sống trong hang đá, săn bắt, hái lượm tận rừng sâu, người Rục có nguy cơ suy giảm dân số hết sức nghiêm trọng.
Trong hơn 40 năm, người Rục đã làm một cuộc hành trình về với cộng đồng. Đến cuối năm 2006, nhân khẩu đã lên đến 414 người và được phân bố trong bốn bản Phú Minh, Ón, Yên Hợp và Mò O - Ồ Ồ thuộc xã Thượng Hóa, ở xen với các tộc như Sách, Mày, Kinh.
Cuộc hành trình về với cộng đồng của người Rục được GS.TS Trần Trí Dõi, chuyên gia nghiên cứu về dân tộc Chứt, đánh giá khá cao:
Với một tộc người đang sống hồng hoang, mặc vỏcây, lấy lửa bằng đá thì nửa thế kỷ hoà nhập cộng đồng của người Rục là quãng thời gian ngắn ngủi. Cộng đồng đã làm được nhiều việc cho người Rục và người Rục cũng đã tiến được chặng đường rất dài.
Những chặng đường tiến rất dài này được nhà báo Dương Minh Phong, tác giả bài viết dẫn thượng (Vào Rục Ứa Nước Mắt) ghi nhận với đôi mắt dè dặt hơn - chút xíu:
Người Rục rời hang đá 50 năm đã có chi bộ đảng, hội phụ nữ, hội thanh niên, đoàn viên, hội phụ nữ, hội nông dân tức là đủ thứ hội. Mình thấy thế thì quả là thiên tài cho ai sắp xếp được ở đây các hội này. Nhưng hội đầy đủ thế mà bà con vẫn 6 tháng không có gạo ăn là nổi đau vô cùng. Nhà nước trợ cấp 6 tháng gạo, mỗi khẩu 15kg một tháng cho người Rục, 6 tháng còn lại chỉ biết sắn và củ quả rừng.
Khách quan mà nói thì những chặng đường tiến của người Rục - rõ ràng - dài hơn, và nhanh hơn, những bước (chân dép lốp đi vào vũ trụ) của đồng bào dưới miền xuôi nhiều lắm. Họ phóng (cái rẹt) từ Thời Kỳ Săn Bắt, nhẩy băng qua qua giai đoạn bán định canh và định canh, để bước (cái rột) lên Thời Kỳ Xã Hội Chủ Nghĩa chỉtrong một thời gian rất ngắn: năm mươi năm chẵn. Kỷ lục này thiệt là đáng kể, đáng nể và cũng (vô cùng) đáng ngại!
Không hiểu trước đó thì người Rục sinh sống ra sao trong hang động giữa rừng sâu nhưng từ khi được phát hiện (vào năm 1959) thì chỉ qua năm sau là họ bị đói khùng luôn - từ năm 1960 đến nay theo như ghi nhận của nhà văn Nguyễn Quang Lập.
Hơn nửa thế kỷ qua người Rục vẫn tồn tại như một phép lạ, ở tỉnh Quảng Bình - nơi mà cả tỉnh ủy lẫn UBND tỉnh ra sức che đậy việc bỏ đói họ. Phép lạ này chắc không kéo dài mãi được. Ngoài loài chuột đá ( Laonastes aenigmamus) ở Việt Nam, tôi trộm nghĩ, Tổ Chức Bảo Tồn Động Thực Vật Hoang Dã Quốc Tế cũng ghi thêm tên người dân tộc Rục vào danh sách những chủng loại có nguy cơ bị biến mất khỏi mặt đất này.
Trẻ thơ người Rục. Ảnh Lam Phong/SGTT
Cá nhân tôi không đủ từ tâm, cũng như lòng bao dung, để quan tâm gì (nhiều) đến sựtồn vong của chuột. Sự hiểu biết vô cùng giới hạn của một thường dân cũng không giúp tôi hiểu thấu được sự hiện diện của loài chuột đá quan trọng ra sao với hệthống sinh thái của quả địa cầu. Tôi chỉ biết thêm được (đôi điều) về những đồng bào người Rục qua Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, như sau:
Người Chứt, còn gọi là người Rục, người Sách, người A rem, người Mày, người Mã liềng, người Tu vang, người Pa leng, người Xe lang, người Tơ hung, người Cha cú, người Tắc cực, người U mo, người Xá lá vàng, là một dân tộc ít người sinh sống tại Lào và Việt Nam..
Người Chứt là tộc người sử dụng ngôn ngữ cùng ngữ hệ với tiếng Việt. Tiếng Chứt được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm vì gần gũi với tiếng Kinh nguyên thủy. Giáo sưTrần Trí Dõi đã nhận xét tiếng Chứt như 'bảo tàng lưu giữ các giai đoạn phát triển của tiếng Việt. Văn hóa của người Chứt cũng cho phép tìm lại lịch sử phát triển của người Việt cổ.
Nhấtđịnh mang chi bộ đảng, hội phụ nữ, hội thanh niên, đoàn viên, hội phụ nữ, hội nông dân ... để xen vào đời sống của những bộ tộc này (cho bằng được) là một việc làm ngu xuẩn. Còn bỏ họ sống dở (và chết dở) trong đói lạnh lại là một tội ác. Trong cái tội ác tầy đình này chưa biết ai là chính phạm nhưng tất cả chúng ta sẽ đều là tòng phạm.
Theo hướng dẫn của nhà văn Nguyễn Quang Lập Ai có điều kiện hãy cùng nhau góp gạo cứuđói cho người Rục, hãy Bấm vào đây! Chúng tôi cũng sẽ có bài viết kế tiếp vềThời Đại Bấm Nút (đáng buồn), vào tuần lễ tới, cũng trên diễn đàn này.
Tưởng Năng Tiến - RFA
Ngày 6 tháng 9 năm 2011 Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) cho biết, một nhóm các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện 2 cá thể sống (một đực, một cái) của loài thú được cho là đã tuyệt chủng cách đây 11 triệu năm tại vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình).
Tin cho hay, các nhà khoa học đã phát hiện trong những loài chuột rừng được đồng bào Rục, xã Thượng Hóa (Minh Hóa) bẫy bắt để ăn thịt có loài chuột đá, tên khoa học Laonastes aenigmamus. Trước năm 2005, khi xem xét các mẫu hóa thạch, các nhà khoa học khẳng định loài chuột đá đã tuyệt chủng cách đây 11 triệu năm. Loài chuột đá này có mình như chuột, đuôi như đuôi sóc, lông mịn như cầy và người Rục gọi là con Ninh Cùng.
Tôi vốn tuổi Mẹo nên không quan tâm gì (mấy) đến sự sống còn của chuột, bất kể là loại chuột gì. Hơn nữa, điều mà ký giả Hoàng Nam vừa mô tả là một phát hiện quan trọng (nói nào ngay) cũng không quan trọng gì cho lắm.
Trướcđó, vào ngày 15 tháng 12 năm 2008, BBC đã có chưng hình loại chuột này, với lời chú thích rất bất ngờ: The Laotian rock rat (Laonastes aenigmamus) was first recorded by scientists at a food market in Laos. Remarkably, researchers say this species is the sole survivor of an ancient group of rodents understood to have died out 11 million years ago.
Nguồnảnh: BBC
Coi: loài chuột đá mà thiên hạ cứ tưởng đã tuyệt chủng từ lâu (thiệt ra) đang được dân Lào bầy bán cả sâu ngoài chợ, mua về nhậu lai rai mệt nghỉ, có qúi hiếm gì đâu mà phải làm rầm rĩ vậy - mấy cha? Tuy thế, cái địa danh xã Thượng Hoá - trong bài viết thượng dẫn - lại cứ khiến tôi băn khoăn mãi. Nó nhắc nhớ đến một bài viết khác (Vào Rục Ứa Nước Mắt) của nhà báo Dương Minh Phong - trên blog Cu làng cát:
Cuối tuần, gọi mấy nhà báo lão luyện lên Rục (Thượng Hoá, Minh Hoá, Quảng Bình) anh nào cũng ởm ờ, mình lên núi, bà con gọi điện về nói hết gạo, ăn sắn cầm hơi, ăn cả củ nhút, củ mài trong lũ...
Vào chạn bếp đồng bào, lạnh tênh. Bữa trưa nhiều gia đình chỉ có sắn và sắn, Nhà khá hơn có chút ngô. Nhà tốt hơn chút còn hai bữa gạo nấu cháo cho trẻ con ăn.
Bữa trưa. Ảnh Dương Minh Phong chụp vào tháng 10 năm 2011.
Nhiều người ăn sắn đến gầy rạc người. Hỏi Cao Thị Thanh thèm cơm không? Thanh nói: Cơm mà không thèm thì thèm chi. Thèm thịt cá không:
Thanh: Thèm chơ, nhưng chừ thèm cơm nhất, thịt cá mơ cũng không có mô, chừ thèm cơm thôi, mình đang có thai, thèm cơm quá. Thật sự giấc mơ nhỏ của người Rục chẳng lớn lao gì, họ không dám mơ bữa ăn có thịt cá như người dưới xuôi, mà mơ có cơm, cơm họ thèm đến quặn lòng, họ nói thèm cơm mà nghe thắt ruột.
Với họ có bữa cơm là ấm bụng, có bữa cơm gân cốt như mạnh thêm lên, có bữa cơm họphấn chấn tinh thần hơn. Một ngày vào Rục, ứa nước mắt khi nhà mình bưng bát cơm trắng, thức ăn đôi lúc chê vợ nấu dỡ, còn đồng bào, thèm cơm đến lạ lùng. Họ từngđược bộ đội biên phòng cấp gần 6kg gạo chống đói trung lũ, nhưng mỗi khẩu nhưthế bị lũ quần 40 ngày, ăn chỉ trong chưa đầy năm ngày hết veo. Bởi bữa ăn của họ không có thức ăn ngoài muối trắng đâm ớt. Cơm chấm ớt ăn qua ngày, hết năm ngày ngồi bóc sắn nhai đắng họng.
Bữa trưa của trẻ con ngày mình vào Rục. Ảnh Dương Minh Phong chụp tháng 10/2011
Trên blog Quê choa, với tựa đề là Người Rục Đang Đói, nhà văn Nguyễn Quang Lập còn cho biết thêm vài tình tiết (ly kỳ) khác nữa:
Nhà báo Dương Minh Phong đã gắn bó với người Rục hơn chục năm nay. Năm 2006, anh đã cùng các nhà báo Phan Phương, Nguyễn Quang Vinh đấu tranh vô cùng gian khổ chứng minh người Rục đang đói trong khi cả tỉnh ủy lẫn UBND tỉnh Quảng Bình ra sức che đậy việc bỏ đói người Rục. Việc này Nguyễn Quang Vinh đã viết phóng sự 9 kì có tên Sự thật, ai muốn xem bấm vào đây: Sự thật kì 1, Sự thật kì 2, Sự thật kì 3, Sự thật kì 4, Sự thật kì 5, Sựthật kì 6, Sự thật kì 7, Sự thật kì 8, Sự thật kì 9...
Loạt bài phóng sự này có nhiều đoạn, và nhiều hình ảnh, xem khó mà cầm nước mắt:
Chúng tôi vào thôn.
Khủng khiếp.
Tôi không hình dung được, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa lại có một thôn sống trong cảnh lay lắt như vậy. Tan hoang. Nhà nào cũng đói. Nhà chị Cao Thị Liên đang ngồi ômđứa con nhỏ, đói lả, bên chị là cái nồi chứa những con nòng nọc. Đó là món ăn duy nhất còn lại trong ngày của nhà chị.
Chị Cao Thị Liên và rổ đựng nòng nọc. Ảnh Nguyễn Quang Vinh chụp tháng 10 năm 2006.
Nhà ông Cao Xuân Hiếu, 7 người đang ngồi, nằm trên nền đất, đói lả. Nhà nào cũng nhưvậy. Cái đói bao trùm.
Ông Cao Xuân Hiếu nói: Đói lắm cán bộ ạ. Ảnh Nguyễn Quang Vinh chụp tháng 10 năm 2006.
Theo Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia:
Tộc người Rục được một tiểu đội Công an Quảng Bình phát hiện vào ngày 12 tháng 8 năm 1959 trong hang sâu tại vùng hang động Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc xã Thượng Hóa huyện Minh Hóa (Quảng Bình) gồm 11 hộ với 34 người. Người Rục có tập quán rất lạc hậu, quen ở hang sâu, săn bắt, hái lượm, nhưng họ cũng có một cuộc sống tinh thần phong phú với những nhạc cụ núi rừng như đàn trơ bon, đàn môi, sáo dọc và làn điệu cà lưm cà lềnh. Do tập quán lạc hậu, sống trong hang đá, săn bắt, hái lượm tận rừng sâu, người Rục có nguy cơ suy giảm dân số hết sức nghiêm trọng.
Trong hơn 40 năm, người Rục đã làm một cuộc hành trình về với cộng đồng. Đến cuối năm 2006, nhân khẩu đã lên đến 414 người và được phân bố trong bốn bản Phú Minh, Ón, Yên Hợp và Mò O - Ồ Ồ thuộc xã Thượng Hóa, ở xen với các tộc như Sách, Mày, Kinh.
Cuộc hành trình về với cộng đồng của người Rục được GS.TS Trần Trí Dõi, chuyên gia nghiên cứu về dân tộc Chứt, đánh giá khá cao:
Với một tộc người đang sống hồng hoang, mặc vỏcây, lấy lửa bằng đá thì nửa thế kỷ hoà nhập cộng đồng của người Rục là quãng thời gian ngắn ngủi. Cộng đồng đã làm được nhiều việc cho người Rục và người Rục cũng đã tiến được chặng đường rất dài.
Những chặng đường tiến rất dài này được nhà báo Dương Minh Phong, tác giả bài viết dẫn thượng (Vào Rục Ứa Nước Mắt) ghi nhận với đôi mắt dè dặt hơn - chút xíu:
Người Rục rời hang đá 50 năm đã có chi bộ đảng, hội phụ nữ, hội thanh niên, đoàn viên, hội phụ nữ, hội nông dân tức là đủ thứ hội. Mình thấy thế thì quả là thiên tài cho ai sắp xếp được ở đây các hội này. Nhưng hội đầy đủ thế mà bà con vẫn 6 tháng không có gạo ăn là nổi đau vô cùng. Nhà nước trợ cấp 6 tháng gạo, mỗi khẩu 15kg một tháng cho người Rục, 6 tháng còn lại chỉ biết sắn và củ quả rừng.
Khách quan mà nói thì những chặng đường tiến của người Rục - rõ ràng - dài hơn, và nhanh hơn, những bước (chân dép lốp đi vào vũ trụ) của đồng bào dưới miền xuôi nhiều lắm. Họ phóng (cái rẹt) từ Thời Kỳ Săn Bắt, nhẩy băng qua qua giai đoạn bán định canh và định canh, để bước (cái rột) lên Thời Kỳ Xã Hội Chủ Nghĩa chỉtrong một thời gian rất ngắn: năm mươi năm chẵn. Kỷ lục này thiệt là đáng kể, đáng nể và cũng (vô cùng) đáng ngại!
Không hiểu trước đó thì người Rục sinh sống ra sao trong hang động giữa rừng sâu nhưng từ khi được phát hiện (vào năm 1959) thì chỉ qua năm sau là họ bị đói khùng luôn - từ năm 1960 đến nay theo như ghi nhận của nhà văn Nguyễn Quang Lập.
Hơn nửa thế kỷ qua người Rục vẫn tồn tại như một phép lạ, ở tỉnh Quảng Bình - nơi mà cả tỉnh ủy lẫn UBND tỉnh ra sức che đậy việc bỏ đói họ. Phép lạ này chắc không kéo dài mãi được. Ngoài loài chuột đá ( Laonastes aenigmamus) ở Việt Nam, tôi trộm nghĩ, Tổ Chức Bảo Tồn Động Thực Vật Hoang Dã Quốc Tế cũng ghi thêm tên người dân tộc Rục vào danh sách những chủng loại có nguy cơ bị biến mất khỏi mặt đất này.
Trẻ thơ người Rục. Ảnh Lam Phong/SGTT
Cá nhân tôi không đủ từ tâm, cũng như lòng bao dung, để quan tâm gì (nhiều) đến sựtồn vong của chuột. Sự hiểu biết vô cùng giới hạn của một thường dân cũng không giúp tôi hiểu thấu được sự hiện diện của loài chuột đá quan trọng ra sao với hệthống sinh thái của quả địa cầu. Tôi chỉ biết thêm được (đôi điều) về những đồng bào người Rục qua Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, như sau:
Người Chứt, còn gọi là người Rục, người Sách, người A rem, người Mày, người Mã liềng, người Tu vang, người Pa leng, người Xe lang, người Tơ hung, người Cha cú, người Tắc cực, người U mo, người Xá lá vàng, là một dân tộc ít người sinh sống tại Lào và Việt Nam..
Người Chứt là tộc người sử dụng ngôn ngữ cùng ngữ hệ với tiếng Việt. Tiếng Chứt được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm vì gần gũi với tiếng Kinh nguyên thủy. Giáo sưTrần Trí Dõi đã nhận xét tiếng Chứt như 'bảo tàng lưu giữ các giai đoạn phát triển của tiếng Việt. Văn hóa của người Chứt cũng cho phép tìm lại lịch sử phát triển của người Việt cổ.
Nhấtđịnh mang chi bộ đảng, hội phụ nữ, hội thanh niên, đoàn viên, hội phụ nữ, hội nông dân ... để xen vào đời sống của những bộ tộc này (cho bằng được) là một việc làm ngu xuẩn. Còn bỏ họ sống dở (và chết dở) trong đói lạnh lại là một tội ác. Trong cái tội ác tầy đình này chưa biết ai là chính phạm nhưng tất cả chúng ta sẽ đều là tòng phạm.
Theo hướng dẫn của nhà văn Nguyễn Quang Lập Ai có điều kiện hãy cùng nhau góp gạo cứuđói cho người Rục, hãy Bấm vào đây! Chúng tôi cũng sẽ có bài viết kế tiếp vềThời Đại Bấm Nút (đáng buồn), vào tuần lễ tới, cũng trên diễn đàn này.
Tưởng Năng Tiến - RFA
Mỹ Bao Vây Trung Cộng
Vi Anh Mỹ lơ là với Đông Nam Á trong thời Chiến tranh Lạnh sắp chấm dứt cũng vì Kissingerđi đêm và TT Nixon bắt tay được với TC. Sau đó chẳng những sống chung hòa bình với TC mà Mỹ còn thân thiện và nâng đỡ TC cho giàu mạnh lên. Vì TC mà Mỹ hy sinh hai đồng minh là Trung Hoa Dân Quốc và Việt Nam Cộng Hòa đã cùng Mỹ chiến đấu chống CS với Mỹ. Mỹ thừa nhận TC và giúp cho TC giành lấy cái ghế hội viên thường trực có quyền phủ quyết trong Hội Đồng Bảo An của Liên Hiệp Quốc. Còn VNCH thì mất chế độ, mất pháp nhân công pháp làm cảtriệu người vượt biên tỵ nạn CS, phân nửa số đó làm mồi cho cá và hải tặc và hàng trăm ngàn người bị CS bỏ tù không xét xử mà CS Hà nội gọi là cải tạo.. Đồng minh lịch sử của Mỹ là Phi luật tân lo liên lụy với Mỹ, bị TC như con hùm xám Á châu bên cạnh vồ mình, nên yêu cầu Mỹ rút khỏi hai căn cứ không quân và hải quân của Mỹ đã trú đóng ở Phi từ sau Thế Chiến 2. Còn nước Úc đồng minh lịch sử của Mỹ, lợi dụng sự giàu có tài nguyên của nước mình mà TC rất cần để tăng gia kinh tế, mở rộng giao thương và mong được yên thân với TC.
Mấy chục năm sau, Mỹ mới học được bài học của người Á châu là nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà là cái gì qua trường hợp TC. TC bành trướng, hành động nhưThiên Triều đối với các nước trong vùng Đông Nam Á. TC giành thế hải thượng của Mỹ trên Á châu Thái bình dương. TC chiếm đảo, chiếm biển ở Đông Nam Á, đưa ra bảnđồ hình lưỡi bò liềm gần hết Biển Đông của VN, TC làm tiền đồn kiểm sóat con đường hàng hải huyết mạch từ Eo Biển Mã Lai đi lên Bắc Á, nơi Mỹ có gần ba mươi ngàn quân Mỹ đồn trú ở Nam Hàn và bốn mưới ngàn ở Nhựt. Trên trường quốc tế và trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, TQ cộng sản chính danh kết hợp với Nga hậu CS chống Mỹ trong hầu hết các hồ sơ và điểm nóng trên thế giới. Chiến tranh Lạnh tái diễn dầu Mỹ tuyên bố đã chấm dứt rồi.
Bước chân khổng lồ của TC dẫm lên Phi châu, một phần Nam Mỹ Châu, sân sau nhà của Mỹ.TC làm chủ nợ của Mỹ. TC coi thường và bác bỏ hầu hết và không biết bao nhiêu lần những đòi hỏi của Mỹ yêu cầu TC đánh giá lại đồng nhân nhân tệ gây qua nhiều thiệt thòi trong tương quan kinh tế tài chánh và mất việc làm của người Mỹ, và yêu cầu TC tôn trọng quyền sáng chế và phát minh là thế mạnh của Mỹ. TC hề hà nhưng không làm gì cả.
TC ngày càng trổi dậy mạnh mẽ về kinh tế, quân sự và ngọai giao, trong khi Mỹ quá bận bịu với chiến tranh và nhiều khó khăn kinh tế khiến chẳng những TQ cộng sản, Nga hậu CS, mà đến tên Chí Phèo CS Bắc Hàn cũng coi thuờng Mỹ trong vấn đề nguyên tử và lờn mặt với Mỹ.
Từtổng thống đến bộ trưởng ngọai giao, thuơng mại, tài chánh Mỹ ai mới lên cũng công du TC. Thái độ o bế, lấy lòng, làm lành với TC. Nhứt là TT Obama và Ngọai Trưởng Clinton trong chuyến đi TC đầu tiên và nhiều hành động qua mềm mỏng gần như nhu nhược với TC trong thời gian TT Obama cầm quyền đã làm cho các nước có cảm tưởng nước Mỹ giờ này yếu như bún thiu trước con Rồng Đỏ Á Đông là TC trổi dậy vươn lên.
Nhưng cái gì cũng có chứng mực của nó. Cùng tắc biến. Lên cao điểm rồi phải xuống. Trước những hành động hung hăng, bạo ngược lên gần tột đĩnh của một nước lớn nhưng thiếu văn minh như TC, Mỹ - nhân dân và chánh quyền, đảng Cộng Hòa cũng như Dân Chủ, Hành Pháp cũng như Lập Pháp - không thể và không bao giờ, không có lý do gì để cho TC tung hoành, tam bành lục tặc, biến Thái Bình Dương thành cái ao nhà của TC.
Muốn hay không muốn, nước Mỹ là nước nằm bên bờ Thái Bình Dương, tiểu bang Hawai của Mỹ nằm giữa đại dương này. Quân đội Mỹ còn trú đóng gần cảtrăm ngàn người ở hai nước Nhựt và Nam Hàn ỏ Bắc Á Thái Bình Dương.
Truyền thống của Mỹ là một trong mặt trận ngọai giao và quân sự. Việc trở lại củng cốthế lực Mỹ, ngăn chận TC bành trướng ở Á châu là đường lối Cộng Hòa đối lập thường xuyên thúc đẩy và ủng hộ TT Obama.
Dù không nói ra nhưng ai cũng thấy Mỹ trở lại Á châu dồn dập, ào ạt, liên tục trên nhiều phương diện. Mỹ lập một vòng vây TC từ Ấn độ dương sang Bắc Thái bình Dương trên phương diện quân sự. Mỹ dàn xếpđưa quân qua Úc, tượng trưng ban đầu mộtđại đội 250 Thủy Quân Lục Chiến ở Cảng Darwin rồi từ từ đến một lữ đòan 2500 người.
Tuy số quân không lớn nhưng ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn. Thủy Quân Lục Chiến là quân tinh nhuệ đánh trên biển cũng như trên bộ. Đơn vị Thủy Quân Lục Chiến là đơn vị tổng hợp có đủ phương tiện và chuyên môn hải lục không quân và binh chủng pháo binh, thiết giáp. Thủy Quân Lục Chiến là đội quân danh dự luôn phòng vệ các tòa đại sứ Mỹ trên nguyên tắc ngọai giao là lãnh thổ nước Mỹ. Bao lâu còn Thủy Quân Lục Chiến là quốc kỳ Mỹ còn, lãnh thổ Mỹ ở hải ngọai còn. Như TòaĐại sứ Mỹ ở Saigon, khi đại sứ Mỹ cuốn cờ lên máy bay trực thăng rút, toán hầu kỳ và hầu cận đại sứ Mỹ rút chót nhứt là Thủy Quân Lục Chiến.
Binhđòan Thủy Quân Lục Chiến ở Darwin Úc là đầu cầu đổ đại quân khi có chiến tranh ở Á châu; lý do để Mỹ tấn công tự vệ chánh đáng khi bất cứ lực lượng nào xâm hại quân đội Mỹ. Tiền lệ đầu tiên trong lịch sừ đồng minh Mỹ Úc, Mỹ đổquân ở Úc.
Vềchánh trị, nếu TC nóng nảy chống Úc thì thiệt hại cho TC rất nhiều về kinh tế.Nước Úc là nước TC mua nguyên liệu rất nhiều để tăng gia kinh tế. Tăng gia kinh tế là thế chánh thống công quyền của TC; kinh tế đình đốn, suy sụp là chế độ CSở TQ suy tàn và sụp đổ do người dân đứng lên chống TC.
Thếlực quân sự của Mỹ bao vây TC ở Thái bình Dương nếu củng cố lại một chút thôi thì 20 năm sau TC chưa bằng. Mỹ có gần 60 ngàn quân thường trú diện địa. Số tàu lặn Mỹ ở các vùng khác đã tăng cường vềThái bình Dương, tập trung về các căn cứ quân sự ở đảo Guam và TB Hawaii từ khi thời TT Bush, TC gây hấn tàu Impeccable thăm dò của Mỹ gần đảo Hải Nam. Đệ Thất Hạm Đội chiu trách nhiệm Thái Bình Dương qua nhiều kinh nghiệm hải hành và hải chiến trên biễn này và là hạm đội lớn nhứt, mạnh nhứt của Mỹ. Bộ Tư Lịnh Chiến LượcThái bình Dương là bộ tư lịnh tổng hợp chỉ huy các lực lương quân binh chủng công tác ở Thái bình Dương bảo vệ luôn vùng duyên hải Thái bình dương của Mỹ.
Trên phương diện kinh tế chánh tri , Mỹ đã thành công lọai TC không được vào Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ dẫn đầu. Mỹ, Úc, New Zealand, Brunei, Malaysia, Singapore, Việt Nam, Peru, Chili đồng thuận thành lập khu vực tự do mậu dịch này lớn nhất thế giới. 10 nước tham gia Hiệp ước TPP chiếm tới 35% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn thế giới, lớn hơn rất nhiều so với Liên Hiệp Châu Âu. Nhưng không có TC.
Bắc Kinh ngày càng làm hùm làm hổ, bạo ngược, giận dữ, giận lây. Các nước Á châu Thái Bình Dương càng lo ngại TC và càng gần gũi Mỹ. Nếu TC coi Mỹ là mối đe dọa cho sự ổn định của TC, thì các nước A châu Thái Bình Dương, nhứt là các nước ở Đông Nam Á coi Mỹ là một nước không tham vọngđất đai, sự hiện diện của Mỹ là một lá chắn, một bảo đảm an ninh, hòa bình và trật tự trong vùng. Và Mỹ vì thế tạo lạiđược niềm tin, thiện cảm ở Á châu.
Truyền thống của Mỹ là rất dè dặt trong việc nhập cuộc trong buổi ban đầu. Việc tham gia vào Thế Chiến 1 và 2 rất chậm là một minh họa. Nhưng khi tham dựrồi, quân dân Mỹ là một, hành pháp lập pháp Mỹ là một, đảng Cộng Hòa, Dân chủ là một trong mặt trận quân sự và ngọai giao.
Trên thế giới này Mỹ chỉ có thắng thế chiến, chưa có thua. Chưa chi mà Mỹ đã lập dược liên minh bao vây TC rồi. Trong vấn đề Á châu Thái bình Dương Mỹ đã đi trước TC 60 năm, chậm nhưng chắc, phát triễn theo vết dầu loan. TC chỉ bạo phát bạo tàn khó mà vượt qua Mỹ khi Mỹ chuyễn trọng tâm đối lực sang Á châu Thái Bình Dương.
Vòng vây của Mỹ giống như con trăng lớn ở Châu Mỹ siết từ từ con mồi rụt xương, nát thịt người Mỹ gọi là chiến thuật anaconda là tên của lòai trăng ấy. Coi chừng TC bên ngòai bị Mỹ và các nước A châu Thái Bình Dương bao vây, các nước Á châu nhỏ chống đối, mãnh hổ nan địch quần hồ.Còn bên trong bị các dân tộc mà TC đã cưỡng bức đồng hóa, Hán hóa nội ứng. TC có thể trở lại thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bên trong với người Tây Tạng nổi lên, người Duy ngô Nhĩ vùng dậy và người Mãn Châu, Nhà Thanh từng cai trị nước Tàu hàng trăm năm, từ Đông Bắc đến Bắc kinh không xa lắm. Và người dân Trung Hoa dòi tự do, dân chủ,nhân quyền mà TC đã tước đọat. TC vì thếcó thể thành Tam Quốc hay Lục quốc không chừng.
Vi Anh Mỹ lơ là với Đông Nam Á trong thời Chiến tranh Lạnh sắp chấm dứt cũng vì Kissingerđi đêm và TT Nixon bắt tay được với TC. Sau đó chẳng những sống chung hòa bình với TC mà Mỹ còn thân thiện và nâng đỡ TC cho giàu mạnh lên. Vì TC mà Mỹ hy sinh hai đồng minh là Trung Hoa Dân Quốc và Việt Nam Cộng Hòa đã cùng Mỹ chiến đấu chống CS với Mỹ. Mỹ thừa nhận TC và giúp cho TC giành lấy cái ghế hội viên thường trực có quyền phủ quyết trong Hội Đồng Bảo An của Liên Hiệp Quốc. Còn VNCH thì mất chế độ, mất pháp nhân công pháp làm cảtriệu người vượt biên tỵ nạn CS, phân nửa số đó làm mồi cho cá và hải tặc và hàng trăm ngàn người bị CS bỏ tù không xét xử mà CS Hà nội gọi là cải tạo.. Đồng minh lịch sử của Mỹ là Phi luật tân lo liên lụy với Mỹ, bị TC như con hùm xám Á châu bên cạnh vồ mình, nên yêu cầu Mỹ rút khỏi hai căn cứ không quân và hải quân của Mỹ đã trú đóng ở Phi từ sau Thế Chiến 2. Còn nước Úc đồng minh lịch sử của Mỹ, lợi dụng sự giàu có tài nguyên của nước mình mà TC rất cần để tăng gia kinh tế, mở rộng giao thương và mong được yên thân với TC.
Mấy chục năm sau, Mỹ mới học được bài học của người Á châu là nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà là cái gì qua trường hợp TC. TC bành trướng, hành động nhưThiên Triều đối với các nước trong vùng Đông Nam Á. TC giành thế hải thượng của Mỹ trên Á châu Thái bình dương. TC chiếm đảo, chiếm biển ở Đông Nam Á, đưa ra bảnđồ hình lưỡi bò liềm gần hết Biển Đông của VN, TC làm tiền đồn kiểm sóat con đường hàng hải huyết mạch từ Eo Biển Mã Lai đi lên Bắc Á, nơi Mỹ có gần ba mươi ngàn quân Mỹ đồn trú ở Nam Hàn và bốn mưới ngàn ở Nhựt. Trên trường quốc tế và trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, TQ cộng sản chính danh kết hợp với Nga hậu CS chống Mỹ trong hầu hết các hồ sơ và điểm nóng trên thế giới. Chiến tranh Lạnh tái diễn dầu Mỹ tuyên bố đã chấm dứt rồi.
Bước chân khổng lồ của TC dẫm lên Phi châu, một phần Nam Mỹ Châu, sân sau nhà của Mỹ.TC làm chủ nợ của Mỹ. TC coi thường và bác bỏ hầu hết và không biết bao nhiêu lần những đòi hỏi của Mỹ yêu cầu TC đánh giá lại đồng nhân nhân tệ gây qua nhiều thiệt thòi trong tương quan kinh tế tài chánh và mất việc làm của người Mỹ, và yêu cầu TC tôn trọng quyền sáng chế và phát minh là thế mạnh của Mỹ. TC hề hà nhưng không làm gì cả.
TC ngày càng trổi dậy mạnh mẽ về kinh tế, quân sự và ngọai giao, trong khi Mỹ quá bận bịu với chiến tranh và nhiều khó khăn kinh tế khiến chẳng những TQ cộng sản, Nga hậu CS, mà đến tên Chí Phèo CS Bắc Hàn cũng coi thuờng Mỹ trong vấn đề nguyên tử và lờn mặt với Mỹ.
Từtổng thống đến bộ trưởng ngọai giao, thuơng mại, tài chánh Mỹ ai mới lên cũng công du TC. Thái độ o bế, lấy lòng, làm lành với TC. Nhứt là TT Obama và Ngọai Trưởng Clinton trong chuyến đi TC đầu tiên và nhiều hành động qua mềm mỏng gần như nhu nhược với TC trong thời gian TT Obama cầm quyền đã làm cho các nước có cảm tưởng nước Mỹ giờ này yếu như bún thiu trước con Rồng Đỏ Á Đông là TC trổi dậy vươn lên.
Nhưng cái gì cũng có chứng mực của nó. Cùng tắc biến. Lên cao điểm rồi phải xuống. Trước những hành động hung hăng, bạo ngược lên gần tột đĩnh của một nước lớn nhưng thiếu văn minh như TC, Mỹ - nhân dân và chánh quyền, đảng Cộng Hòa cũng như Dân Chủ, Hành Pháp cũng như Lập Pháp - không thể và không bao giờ, không có lý do gì để cho TC tung hoành, tam bành lục tặc, biến Thái Bình Dương thành cái ao nhà của TC.
Muốn hay không muốn, nước Mỹ là nước nằm bên bờ Thái Bình Dương, tiểu bang Hawai của Mỹ nằm giữa đại dương này. Quân đội Mỹ còn trú đóng gần cảtrăm ngàn người ở hai nước Nhựt và Nam Hàn ỏ Bắc Á Thái Bình Dương.
Truyền thống của Mỹ là một trong mặt trận ngọai giao và quân sự. Việc trở lại củng cốthế lực Mỹ, ngăn chận TC bành trướng ở Á châu là đường lối Cộng Hòa đối lập thường xuyên thúc đẩy và ủng hộ TT Obama.
Dù không nói ra nhưng ai cũng thấy Mỹ trở lại Á châu dồn dập, ào ạt, liên tục trên nhiều phương diện. Mỹ lập một vòng vây TC từ Ấn độ dương sang Bắc Thái bình Dương trên phương diện quân sự. Mỹ dàn xếpđưa quân qua Úc, tượng trưng ban đầu mộtđại đội 250 Thủy Quân Lục Chiến ở Cảng Darwin rồi từ từ đến một lữ đòan 2500 người.
Tuy số quân không lớn nhưng ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn. Thủy Quân Lục Chiến là quân tinh nhuệ đánh trên biển cũng như trên bộ. Đơn vị Thủy Quân Lục Chiến là đơn vị tổng hợp có đủ phương tiện và chuyên môn hải lục không quân và binh chủng pháo binh, thiết giáp. Thủy Quân Lục Chiến là đội quân danh dự luôn phòng vệ các tòa đại sứ Mỹ trên nguyên tắc ngọai giao là lãnh thổ nước Mỹ. Bao lâu còn Thủy Quân Lục Chiến là quốc kỳ Mỹ còn, lãnh thổ Mỹ ở hải ngọai còn. Như TòaĐại sứ Mỹ ở Saigon, khi đại sứ Mỹ cuốn cờ lên máy bay trực thăng rút, toán hầu kỳ và hầu cận đại sứ Mỹ rút chót nhứt là Thủy Quân Lục Chiến.
Binhđòan Thủy Quân Lục Chiến ở Darwin Úc là đầu cầu đổ đại quân khi có chiến tranh ở Á châu; lý do để Mỹ tấn công tự vệ chánh đáng khi bất cứ lực lượng nào xâm hại quân đội Mỹ. Tiền lệ đầu tiên trong lịch sừ đồng minh Mỹ Úc, Mỹ đổquân ở Úc.
Vềchánh trị, nếu TC nóng nảy chống Úc thì thiệt hại cho TC rất nhiều về kinh tế.Nước Úc là nước TC mua nguyên liệu rất nhiều để tăng gia kinh tế. Tăng gia kinh tế là thế chánh thống công quyền của TC; kinh tế đình đốn, suy sụp là chế độ CSở TQ suy tàn và sụp đổ do người dân đứng lên chống TC.
Thếlực quân sự của Mỹ bao vây TC ở Thái bình Dương nếu củng cố lại một chút thôi thì 20 năm sau TC chưa bằng. Mỹ có gần 60 ngàn quân thường trú diện địa. Số tàu lặn Mỹ ở các vùng khác đã tăng cường vềThái bình Dương, tập trung về các căn cứ quân sự ở đảo Guam và TB Hawaii từ khi thời TT Bush, TC gây hấn tàu Impeccable thăm dò của Mỹ gần đảo Hải Nam. Đệ Thất Hạm Đội chiu trách nhiệm Thái Bình Dương qua nhiều kinh nghiệm hải hành và hải chiến trên biễn này và là hạm đội lớn nhứt, mạnh nhứt của Mỹ. Bộ Tư Lịnh Chiến LượcThái bình Dương là bộ tư lịnh tổng hợp chỉ huy các lực lương quân binh chủng công tác ở Thái bình Dương bảo vệ luôn vùng duyên hải Thái bình dương của Mỹ.
Trên phương diện kinh tế chánh tri , Mỹ đã thành công lọai TC không được vào Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ dẫn đầu. Mỹ, Úc, New Zealand, Brunei, Malaysia, Singapore, Việt Nam, Peru, Chili đồng thuận thành lập khu vực tự do mậu dịch này lớn nhất thế giới. 10 nước tham gia Hiệp ước TPP chiếm tới 35% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn thế giới, lớn hơn rất nhiều so với Liên Hiệp Châu Âu. Nhưng không có TC.
Bắc Kinh ngày càng làm hùm làm hổ, bạo ngược, giận dữ, giận lây. Các nước Á châu Thái Bình Dương càng lo ngại TC và càng gần gũi Mỹ. Nếu TC coi Mỹ là mối đe dọa cho sự ổn định của TC, thì các nước A châu Thái Bình Dương, nhứt là các nước ở Đông Nam Á coi Mỹ là một nước không tham vọngđất đai, sự hiện diện của Mỹ là một lá chắn, một bảo đảm an ninh, hòa bình và trật tự trong vùng. Và Mỹ vì thế tạo lạiđược niềm tin, thiện cảm ở Á châu.
Truyền thống của Mỹ là rất dè dặt trong việc nhập cuộc trong buổi ban đầu. Việc tham gia vào Thế Chiến 1 và 2 rất chậm là một minh họa. Nhưng khi tham dựrồi, quân dân Mỹ là một, hành pháp lập pháp Mỹ là một, đảng Cộng Hòa, Dân chủ là một trong mặt trận quân sự và ngọai giao.
Trên thế giới này Mỹ chỉ có thắng thế chiến, chưa có thua. Chưa chi mà Mỹ đã lập dược liên minh bao vây TC rồi. Trong vấn đề Á châu Thái bình Dương Mỹ đã đi trước TC 60 năm, chậm nhưng chắc, phát triễn theo vết dầu loan. TC chỉ bạo phát bạo tàn khó mà vượt qua Mỹ khi Mỹ chuyễn trọng tâm đối lực sang Á châu Thái Bình Dương.
Vòng vây của Mỹ giống như con trăng lớn ở Châu Mỹ siết từ từ con mồi rụt xương, nát thịt người Mỹ gọi là chiến thuật anaconda là tên của lòai trăng ấy. Coi chừng TC bên ngòai bị Mỹ và các nước A châu Thái Bình Dương bao vây, các nước Á châu nhỏ chống đối, mãnh hổ nan địch quần hồ.Còn bên trong bị các dân tộc mà TC đã cưỡng bức đồng hóa, Hán hóa nội ứng. TC có thể trở lại thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bên trong với người Tây Tạng nổi lên, người Duy ngô Nhĩ vùng dậy và người Mãn Châu, Nhà Thanh từng cai trị nước Tàu hàng trăm năm, từ Đông Bắc đến Bắc kinh không xa lắm. Và người dân Trung Hoa dòi tự do, dân chủ,nhân quyền mà TC đã tước đọat. TC vì thếcó thể thành Tam Quốc hay Lục quốc không chừng.
Sợ thâm không sợ ác
Tạp Ghi Huy Phương Xem phim bạo lực Mỹ thấy cái ác dữ dội, nhưng nhớ chuyện Tàu thấy cái thâm độc mới ghê gớm. Thời Ðông Châu Liệt Quốc, nước Việt thua trận nước Ngô, vua Việt là Câu Tiễn bị vua Ngô bắt làm con tin.
Câu Tiễn nuôi chí phục thù, ngày đêm phục dịch hết lòng để lấy lòng tin của Ngô Phù Sai, dắt ngựa đi giật lùi, nếm phân vua Ngô, nằm gai nếm mật để tìm cơ hội phục thù. Ðược Ngô Phù Sai tha về, Việt Câu Tiễn quyết tâm phục hận, một mặt chọn Tây Thi và Trịnh Ðán là gái đẹp nước Việt triều cống để Phù Sai ngày đêm vui chơi, rượu chè, đàn hát mà bỏ bê việc nước, một mặt bí mật chiêu binh, mãi mã, chờ cơ hội phục hận.
Nước Việt lấy cớ mất mùa, sang nước Ngô xin vay lúa, hẹn năm sau đến mùa gặt xin hoàn trả. Ðược lúa, Câu Tiễn đem cấp phát cho dân nghèo trong nước được trăm họ ca tụng công đức. Năm sau nước Việt được mùa to, Câu Tiễn lựa lúa tốt trả lại cho nhà Ngô, nhưng trước đó đã đem luộc chín. Vua Ngô trúng độc kế đem phân phát lúa luộc cho dân. Năm ấy khắp nước Ngô đều gieo lúa nước Việt, nhưng lúa không mọc, dân Ngô bị đói to, nhân cơ hội này, Câu Tiễn đem quân đi đánh Ngô toàn thắng, vua Ngô phải tự vẫn.
Nước Tề muốn thôn tính Sở, loan truyền Tề Hoàn Công rất quý hươu bao nhiêu tiền cũng bỏ ra mua, một con hươu trị giá cả nghìn cân lúa. Nước Sở nông cạn, nghĩ vua Tề tham chơi hươu quý, thế nào cũng lơ là việc quân binh. Thương nhân nước Sở tập trung tất cả vào việc buôn hươu, nông dân bỏ việc ruộng đồng đi săn hươu, lính tráng xao lãng, lấy vũ khí đổi dụng cụ đi bắt hươu. Năm ấy nước Sở mất mùa nhưng tiền chất đống không mua được lương thực. Tề ra lệnh cấm vận, không cho chư hầu bán lúa cho Sở, người ngựa trơ xương. Nắm thời cơ, Quản Trọng cất quân đánh Sở.
Việt Cộng trong bao nhiêu năm làm chư hầu đã học được những điều quỷ quyệt gian hùng từ đàn anh, còn chúng ta lấy sự ngay thẳng của Bụt mà đối đấu với Ma là thất bại. Tháng 5, 1975, Việt Cộng ra thông báo chơi chữ, “quân cán chính chế độ cũ trình diện đem theo 15 ngày tiền ăn,” mà không hề nói là đi tù 15 ngày, vậy mà cả nước miền Nam mắc mưu, cứ nghĩ là đi “học tập” hai tuần là có thể về nhà. 15 ngày có khi thành 15 năm, và nhiều người đã mất xác trong các trại tù khắc nghiệt.
Ngày nay, Việt Cộng thâm độc, nhưng ở bên cạnh nước Tàu Cộng cũng không địch nổi những tay chính trị gian hùng luôn luôn muốn cho đàn em năm xưa không cất đầu nổi. Những chiêu thức của Bắc Kinh ngày nay tuy không bằng cha ông chúng ngày trước nhưng cũng làm cho đàn em thất điên bát đảo. Một mặt vì dân chúng không có ý thức, không được giáo dục, lại tham tiền vì nghèo đói, chính phủ lại không bảo vệ chủ quyền, để con buôn Trung Cộng vào ra đất nước như chỗ không người.
Trong năm nay, báo chí Việt Nam đưa tin có người ở Hải Phòng, Lào Cai đứng ra thu mua đỉa để xuất cảng sang Trung Cộng, mà không biết họ mua đỉa để làm gì, có nguồn tin cho rằng con buôn mua đỉa để dùng làm thuốc. Thế là dân đua nhau đi bắt đỉa trên đồng, ao hồ, đầm lầy, thấy lợi nông dân nuôi đỉa để bán, giá bán một ký lô đỉa được hơn một triệu đồng. Với nông dân, đây là số tiền khá lớn, không bắt được thì ráng nuôi. Phong trào nuôi đỉa tràn lan tới miền Nam như ở Sài Gòn, Tây Ninh. Ðỉa là một loại sinh vật sống ở trong mọi thời tiết, sinh sản nhanh, sống bằng cách hút máu của các động vật có xương sống, rất dễ sinh sôi nảy nở nhưng rất khó tiêu diệt. Nếu việc nuôi đỉa phổ biến, một khi chuyện thu mua chỉ là chuyện đồn đãi vô căn cứ thì rồi đây ao hồ, cánh đồng đầy những đỉa, sẽ là nỗi kinh hoàng cho nông dân có việc phải xuống đồng.
Ốc bưu vàng lại là một chuyện đau đầu khác. Thời gian gần đây, nhiều lái buôn đổ về vùng nông thôn các tỉnh ở Hậu Giang, để mua ốc bươu vàng xuất sang Tàu, mục đích để làm thuốc, làm thức ăn cho gia súc hay để nhậu.Thịt ốc được mua với giá từ 12,000-13,000 đồng/kg. Có cơ sở thu mua ốc bươu vàng, mỗi ngày mua khoảng 8 tấn ốc bươu vàng, để xuất cảng sang Trung Cộng. Tham tiền, muốn lời nhiều, nông dân có kế hoạch nuôi ốc bươu vàng để xuất cảng. Chỉ cần một mùa mưa lụt là ốc bươu vàng tràn ra ruộng lúa. Khi việc nuôi ốc bươu vàng rộ lên và việc thu mua chỉ là giả trá như phong trào chim cút của miền Nam trước đây thì nông dân phải nhận hậu quả khốc liệt khi ốc bươu vàng tràn lan phá hại mùa màng.
Chuột ăn lúa phá hoại mùa màng, dân nuôi mèo để bắt chuột, Trung Cộng mở chiến dịch mua mèo Việt Nam với giá cao đem về nước, gọi là “tiểu hổ” thịt ăn ngon mà bổ. Người dân VN lùng sục khắp các thôn bản, ngõ ngách, nhà nào có mèo là mua về, thậm chí còn trộm mèo hàng xóm để bán sang Tàu với giá cao, sinh ra đại dịch chuột hoành hành năm 1997-1978.
Vào khoảng 2003-2004 Trung Cộng tung bọn lái buôn qua các chợ ở vùng nông thôn Việt Nam thu mua móng trâu với giá rất cao. Bốn cái móng của một con trâu có giá cao hơn một con trâu, còn lại trâu đem xẻ thịt bán thêm được một món tiền nữa, dại gì không giết trâu bán móng. Ở nông thôn lại sinh ra tệ nạn trộm móng, giữa đêm kẻ trộm lẻn vào chuồng trâu, chặt chân trâu mang đi, sinh ra tình trạng thiếu trâu cày.
Có một thời gian dân miền Bắc thi nhau cắt dây cáp viễn thông quốc tế Việt Nam-Thái Lan-Hồng Kông để bán “ve chai” cho Trung Cộng. Tính ra có đến 11 km dây cáp bị cắt, thiệt hại hàng chục triệu đô la.
Trung Cộng muốn thu mua cà phê, thu mua gạo, thu mua trà… chỉ cần đem xe sang, đến tận vựa, tận vườn, tận công ty sản xuất… như trong vườn nhà, mua xong chở về nhà, qua biên giới, không cần phải Bộ Ngoại Thương hay theo kế hoạch xuất cảng như các quốc gia khác. Năm 2007, con buôn Trung Cộng sang các tỉnh trồng trà ở biên giới và trung du, thu gom toàn bộ các loại trà, đẩy giá trà lên cao khiến các nhà máy trong nước thì điêu đứng vì không có nguyên liệu chế biến, thiếu nguyên liệu, nhiều hợp đồng bị hủy, hàng nghìn công nhân không có việc làm.
Ðây chỉ là những đòn “dạy cho Việt Nam một bài học” tương đối còn nhẹ nhàng và chỉ có tính chất thăm dò, cảnh cáo. Cắt móng trâu, diệt mèo, chuyện sờ sờ trước mắt mà thiên hạ giả đui vì món lợi nhỏ. Bọn Hán gian mỗi khi “ra quân” tôi nghĩ dân Việt Nam không đỡ nổi. Chính phủ thì ươn hèn, nhu nhược, không nhìn xa, dân thì đói khổ, thấy gì lợi trước mắt thì làm bừa, không nghĩ đến hậu quả, cho nên nuôi đỉa, cắt móng trâu, bán mèo, nuôi ốc bươu, vớt rong mơ, chặt cây tai ngựa, tìm đinh lăng, mua vải thiều… cái gì có lợi thì làm, kể cả phá rừng, phá biển. Cái ác còn đỡ nổi, cái thâm mới thật khó lường.
Nhưng nghĩ cho cùng, những chuyện này đâu phải nỗi lo âu cho những ai đang cầm vận nước, mà nước đang mang số phận chư hầu của Trung Cộng.
Tạp Ghi Huy Phương Xem phim bạo lực Mỹ thấy cái ác dữ dội, nhưng nhớ chuyện Tàu thấy cái thâm độc mới ghê gớm. Thời Ðông Châu Liệt Quốc, nước Việt thua trận nước Ngô, vua Việt là Câu Tiễn bị vua Ngô bắt làm con tin.
Câu Tiễn nuôi chí phục thù, ngày đêm phục dịch hết lòng để lấy lòng tin của Ngô Phù Sai, dắt ngựa đi giật lùi, nếm phân vua Ngô, nằm gai nếm mật để tìm cơ hội phục thù. Ðược Ngô Phù Sai tha về, Việt Câu Tiễn quyết tâm phục hận, một mặt chọn Tây Thi và Trịnh Ðán là gái đẹp nước Việt triều cống để Phù Sai ngày đêm vui chơi, rượu chè, đàn hát mà bỏ bê việc nước, một mặt bí mật chiêu binh, mãi mã, chờ cơ hội phục hận.
Nước Việt lấy cớ mất mùa, sang nước Ngô xin vay lúa, hẹn năm sau đến mùa gặt xin hoàn trả. Ðược lúa, Câu Tiễn đem cấp phát cho dân nghèo trong nước được trăm họ ca tụng công đức. Năm sau nước Việt được mùa to, Câu Tiễn lựa lúa tốt trả lại cho nhà Ngô, nhưng trước đó đã đem luộc chín. Vua Ngô trúng độc kế đem phân phát lúa luộc cho dân. Năm ấy khắp nước Ngô đều gieo lúa nước Việt, nhưng lúa không mọc, dân Ngô bị đói to, nhân cơ hội này, Câu Tiễn đem quân đi đánh Ngô toàn thắng, vua Ngô phải tự vẫn.
Nước Tề muốn thôn tính Sở, loan truyền Tề Hoàn Công rất quý hươu bao nhiêu tiền cũng bỏ ra mua, một con hươu trị giá cả nghìn cân lúa. Nước Sở nông cạn, nghĩ vua Tề tham chơi hươu quý, thế nào cũng lơ là việc quân binh. Thương nhân nước Sở tập trung tất cả vào việc buôn hươu, nông dân bỏ việc ruộng đồng đi săn hươu, lính tráng xao lãng, lấy vũ khí đổi dụng cụ đi bắt hươu. Năm ấy nước Sở mất mùa nhưng tiền chất đống không mua được lương thực. Tề ra lệnh cấm vận, không cho chư hầu bán lúa cho Sở, người ngựa trơ xương. Nắm thời cơ, Quản Trọng cất quân đánh Sở.
Việt Cộng trong bao nhiêu năm làm chư hầu đã học được những điều quỷ quyệt gian hùng từ đàn anh, còn chúng ta lấy sự ngay thẳng của Bụt mà đối đấu với Ma là thất bại. Tháng 5, 1975, Việt Cộng ra thông báo chơi chữ, “quân cán chính chế độ cũ trình diện đem theo 15 ngày tiền ăn,” mà không hề nói là đi tù 15 ngày, vậy mà cả nước miền Nam mắc mưu, cứ nghĩ là đi “học tập” hai tuần là có thể về nhà. 15 ngày có khi thành 15 năm, và nhiều người đã mất xác trong các trại tù khắc nghiệt.
Ngày nay, Việt Cộng thâm độc, nhưng ở bên cạnh nước Tàu Cộng cũng không địch nổi những tay chính trị gian hùng luôn luôn muốn cho đàn em năm xưa không cất đầu nổi. Những chiêu thức của Bắc Kinh ngày nay tuy không bằng cha ông chúng ngày trước nhưng cũng làm cho đàn em thất điên bát đảo. Một mặt vì dân chúng không có ý thức, không được giáo dục, lại tham tiền vì nghèo đói, chính phủ lại không bảo vệ chủ quyền, để con buôn Trung Cộng vào ra đất nước như chỗ không người.
Trong năm nay, báo chí Việt Nam đưa tin có người ở Hải Phòng, Lào Cai đứng ra thu mua đỉa để xuất cảng sang Trung Cộng, mà không biết họ mua đỉa để làm gì, có nguồn tin cho rằng con buôn mua đỉa để dùng làm thuốc. Thế là dân đua nhau đi bắt đỉa trên đồng, ao hồ, đầm lầy, thấy lợi nông dân nuôi đỉa để bán, giá bán một ký lô đỉa được hơn một triệu đồng. Với nông dân, đây là số tiền khá lớn, không bắt được thì ráng nuôi. Phong trào nuôi đỉa tràn lan tới miền Nam như ở Sài Gòn, Tây Ninh. Ðỉa là một loại sinh vật sống ở trong mọi thời tiết, sinh sản nhanh, sống bằng cách hút máu của các động vật có xương sống, rất dễ sinh sôi nảy nở nhưng rất khó tiêu diệt. Nếu việc nuôi đỉa phổ biến, một khi chuyện thu mua chỉ là chuyện đồn đãi vô căn cứ thì rồi đây ao hồ, cánh đồng đầy những đỉa, sẽ là nỗi kinh hoàng cho nông dân có việc phải xuống đồng.
Ốc bưu vàng lại là một chuyện đau đầu khác. Thời gian gần đây, nhiều lái buôn đổ về vùng nông thôn các tỉnh ở Hậu Giang, để mua ốc bươu vàng xuất sang Tàu, mục đích để làm thuốc, làm thức ăn cho gia súc hay để nhậu.Thịt ốc được mua với giá từ 12,000-13,000 đồng/kg. Có cơ sở thu mua ốc bươu vàng, mỗi ngày mua khoảng 8 tấn ốc bươu vàng, để xuất cảng sang Trung Cộng. Tham tiền, muốn lời nhiều, nông dân có kế hoạch nuôi ốc bươu vàng để xuất cảng. Chỉ cần một mùa mưa lụt là ốc bươu vàng tràn ra ruộng lúa. Khi việc nuôi ốc bươu vàng rộ lên và việc thu mua chỉ là giả trá như phong trào chim cút của miền Nam trước đây thì nông dân phải nhận hậu quả khốc liệt khi ốc bươu vàng tràn lan phá hại mùa màng.
Chuột ăn lúa phá hoại mùa màng, dân nuôi mèo để bắt chuột, Trung Cộng mở chiến dịch mua mèo Việt Nam với giá cao đem về nước, gọi là “tiểu hổ” thịt ăn ngon mà bổ. Người dân VN lùng sục khắp các thôn bản, ngõ ngách, nhà nào có mèo là mua về, thậm chí còn trộm mèo hàng xóm để bán sang Tàu với giá cao, sinh ra đại dịch chuột hoành hành năm 1997-1978.
Vào khoảng 2003-2004 Trung Cộng tung bọn lái buôn qua các chợ ở vùng nông thôn Việt Nam thu mua móng trâu với giá rất cao. Bốn cái móng của một con trâu có giá cao hơn một con trâu, còn lại trâu đem xẻ thịt bán thêm được một món tiền nữa, dại gì không giết trâu bán móng. Ở nông thôn lại sinh ra tệ nạn trộm móng, giữa đêm kẻ trộm lẻn vào chuồng trâu, chặt chân trâu mang đi, sinh ra tình trạng thiếu trâu cày.
Có một thời gian dân miền Bắc thi nhau cắt dây cáp viễn thông quốc tế Việt Nam-Thái Lan-Hồng Kông để bán “ve chai” cho Trung Cộng. Tính ra có đến 11 km dây cáp bị cắt, thiệt hại hàng chục triệu đô la.
Trung Cộng muốn thu mua cà phê, thu mua gạo, thu mua trà… chỉ cần đem xe sang, đến tận vựa, tận vườn, tận công ty sản xuất… như trong vườn nhà, mua xong chở về nhà, qua biên giới, không cần phải Bộ Ngoại Thương hay theo kế hoạch xuất cảng như các quốc gia khác. Năm 2007, con buôn Trung Cộng sang các tỉnh trồng trà ở biên giới và trung du, thu gom toàn bộ các loại trà, đẩy giá trà lên cao khiến các nhà máy trong nước thì điêu đứng vì không có nguyên liệu chế biến, thiếu nguyên liệu, nhiều hợp đồng bị hủy, hàng nghìn công nhân không có việc làm.
Ðây chỉ là những đòn “dạy cho Việt Nam một bài học” tương đối còn nhẹ nhàng và chỉ có tính chất thăm dò, cảnh cáo. Cắt móng trâu, diệt mèo, chuyện sờ sờ trước mắt mà thiên hạ giả đui vì món lợi nhỏ. Bọn Hán gian mỗi khi “ra quân” tôi nghĩ dân Việt Nam không đỡ nổi. Chính phủ thì ươn hèn, nhu nhược, không nhìn xa, dân thì đói khổ, thấy gì lợi trước mắt thì làm bừa, không nghĩ đến hậu quả, cho nên nuôi đỉa, cắt móng trâu, bán mèo, nuôi ốc bươu, vớt rong mơ, chặt cây tai ngựa, tìm đinh lăng, mua vải thiều… cái gì có lợi thì làm, kể cả phá rừng, phá biển. Cái ác còn đỡ nổi, cái thâm mới thật khó lường.
Nhưng nghĩ cho cùng, những chuyện này đâu phải nỗi lo âu cho những ai đang cầm vận nước, mà nước đang mang số phận chư hầu của Trung Cộng.
Trên đời có 4 cái ngu
Ông bà ta thường nói:
“Trên đời có 4 cái ngu:
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”
Ở Mỹ, tôi xin phép được sửa lại 4 cái ngu theo ý của riêng tôi:
“Trên đời có 4 cái ngu:
Làm mai, bảo lãnh, sign cu, cho tiền”.
Làm mai, co-sign thì chắc nhiều người biết tại sao ngu rồi, tôi không bàn thêm nữa. Hôm nay tôi xin được phép góp vài ý kiến cá nhân về cái chuyện dài bảo lãnh và cho tiền làm từ thiện ở Việt Nam .
** *
Người Việt Nam ta thường có tình cảm gia đình rất sâu nặng, người đi trước giúp người đi sau. Sau khi được sang định cư ở nước thứ ba là bắt đầu lo giấy tờ bảo lãnh người thân. Các văn phòng lo dịch vụ di trú, đoàn tụ mọc ra như nấm và không bao giờ thiếu khách hàng. Hết lo bảo lãnh người thân ruột thịt như cha mẹ, vợ chồng, con cái xong, thì đến bảo lãnh anh chị em, con cháu, họ hàng, bạn bè xa gần.
Nhiều người bảo lãnh thân nhân sang Mỹ xong, chỉ một thời gian ngắn sau đó là gây gỗ, cha mẹ anh em không thèm nhìn mặt nhau, có khi chính gia đình vợ chồng người bảo lãnh cũng gẫy đổ vì những người thân từ Việt Nam sang đâm thọc. Người ở Việt Nam bây giờ nếu biết làm ăn buôn bán, tham nhũng, hối lộ, chạy chọt thì cũng có tiền bạc rủng rỉnh, nên khi có giấy tờ bảo lãnh của thân nhân về, họ đi Mỹ định cư mà cứ như là đi du lịch dài hạn, ở được thì ở, không được thì về. Khi qua Mỹ, họ tưởng đâu ở Mỹ là thiên đàng, việc làm dễ kiếm, đủ loại trợ cấp nhà nước nên khi đụng vào thực tế phủ phàng sau mấy tháng qua Mỹ ăn ở không chẳng có đồng nào trợ cấp, người bảo lãnh cũng không khá giả gì hơn, họ bất mãn và tháo lui về lại Việt Nam, nhưng vẫn không quên để lại con cái ở Mỹ nhờ anh em, bà con chăm sóc giùm cho mấy đứa nhỏ có tương lai!
Có người Việt Nam mới qua Mỹ có mấy ngày, đi ăn nhà hàng Việt Nam ở khu Little Saigon, khẩu vị khác với ở Việt Nam, đã không ngần ngại chê bai “đồ ăn Việt Nam ở Mỹ dở ẹt, thịt cá đều là đông lạnh, ăn không vô!”. Ban ngày ở nhà khu yên tịnh, chủ nhà đi làm hết, không có xe cộ ở nhà để xuống phố Bolsa, thì rên rỉ “nhà gì đâu mà ở khu vắng vẻ như chùa Bà Đanh, ở nhà suốt ngày giống như ở tù bị giam lỏng!”. Có nhiều anh Việt kiều về Việt Nam lấy vợ, rước nàng về Mỹ, được một, hai tháng, thấy nàng suốt ngày gọi điện thoại về Việt nam vì nhớ cha nhớ mẹ, bill điện thoại mỗi tháng không dưới 200 đô. Ban đêm hay cuối tuần thì bắt anh chồng chở đi shopping, tiêu xài thoải mái, cà thẻ tín dụng không cần biết bao nhiêu. Anh chồng kêu đi học Anh văn, học nghề thì viện đủ lý do để khỏi đi, ở nhà để chồng nuôi cho sướng. Không biết một hai năm sau, anh chồng có còn chịu nổi nữa không?
Có một cặp vợ chồng đang êm ấm, rước bà mẹ chồng và cô em chồng qua thì trong nhà bắt đầu lục đục. Bà mẹ chồng thấy con trai mình đi làm về vào bếp phụ vợ nấu cơm thì khó chịu, chì chiết con dâu là không làm bổn phận làm vợ, làm dâu đúng tiêu chuẩn Việt Nam của bà. Cô em chồng thì luôn nói xấu chị dâu với anh mình những khi chị dâu đi làm. Như vậy thì ai mà chịu đời cho thấu.
Có một gia đình người bạn mà tôi được biết, bảo lãnh cả gia đình người chị chồng từ Việt Nam qua. Qua Mỹ được vài tháng, bà chị chồng xúi dại người chồng mượn tiền ngân hàng cho bà ta để mua nhà vườn ở Riverside để làm rẫy, trồng rau bán cho các chợ Việt Nam. Gia đình người em tan nát khi chủ nợ ngân hàng, credit card gửi thư đòi nợ ráo riết vì công việc làm rẫy không được thuận lợi như ý muốn.
Ông bà ta thường nói:
“Cứu vật, vật trả ơn
Cứu nhân, nhân trả oán”
Câu này tôi thấy rất là đúng. Người Việt Nam được thân nhân bảo lãnh sang Mỹ bao nhiêu năm nay, có mấy ai còn biết nói tiếng "cảm ơn" người đã đùm bọc cưu mang gia đình mình từ những ngày đầu mới đến Mỹ. Có mấy ai còn liên lạc, còn gọi điện thoại hỏi thăm sức khỏe, chúc Tết “khổ chủ” ngày xưa. Hay đã giận hờn nhau, không thèm nhìn mặt nhau từ lâu lắm rồi?
** *
Bây giờ, xin được nói qua chuyện cho tiền làm từ thiện ở Việt Nam.
Thấy có nhiều hội đoàn sốt sắng làm các công tác từ thiện giúp đỡ người nghèo khó ở Việt Nam , tôi rất là cảm phục. Tôi chỉ xin lưu ý các cá nhân đã và đang đóng góp cho các công tác từ thiện ở Việt Nam, có nhiều người còn dấn thân về Việt Nam, đem tiền tận tay giao cho các tổ chức cứu trợ ở Việt Nam.
Với kinh nghiệm cá nhân, tôi không còn tin tưởng nhiều các tổ chức cứu trợ từ thiện ở Việt Nam dưới sự quản lý của nhà nước. Nếu có cho tiền xin đừng để lại tên tuổi, chỉ gây phiền phức cho mình sau này. Người đại diện ở Việt Nam, có khi tay mặt nhận tiền, nhưng tay trái bắt đầu ghi tên Việt kiều vào sổ phong thần, để điều tra lý lịch, công ăn việc làm của mình ở hải ngoại, để sau này dễ dàng chụp mũ khi cần. Họ làm
báo cáo chi tiết nhưng không bao giờ báo cáo huê hồng ít nhất 10 % cho người kêu gọi đưọc tiền đóng góp từ hải ngoại, gọi là tiền “bồi dưỡng”. Nhiều khi các hội đoàn ở hải ngoại biết rất rõ việc này, nhưng vẫn phải nhắm mắt làm ngơ để quà cứu trợ được đến tận tay đồng bào nghèo khó.
Muốn qua sông phải lụy đò
Muốn thương dân Việt phải “dò” mới tin
Xin hãy “dò” kỹ nguồn tin trước khi trao tiền, và đừng tin tưởng quá đáng vào tổ chức từ thiện của nhà nước như Hội Phụ Nữ Từ Thiện chủ trương giúp phụ nữ nghèo tạo dựng lại cuộc sống. Xin hãy tìm hiểu kỹ càng hoạt động của họ trước khi bỏ tiền ra giúp họ.
Vài hàng góp nhặt, hy vọng mọi người đọc xong sẽ suy nghĩ và thông cảm với tác giả.
- Vô danh -
“Trên đời có 4 cái ngu:
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”
Ở Mỹ, tôi xin phép được sửa lại 4 cái ngu theo ý của riêng tôi:
“Trên đời có 4 cái ngu:
Làm mai, bảo lãnh, sign cu, cho tiền”.
Làm mai, co-sign thì chắc nhiều người biết tại sao ngu rồi, tôi không bàn thêm nữa. Hôm nay tôi xin được phép góp vài ý kiến cá nhân về cái chuyện dài bảo lãnh và cho tiền làm từ thiện ở Việt Nam .
** *
Người Việt Nam ta thường có tình cảm gia đình rất sâu nặng, người đi trước giúp người đi sau. Sau khi được sang định cư ở nước thứ ba là bắt đầu lo giấy tờ bảo lãnh người thân. Các văn phòng lo dịch vụ di trú, đoàn tụ mọc ra như nấm và không bao giờ thiếu khách hàng. Hết lo bảo lãnh người thân ruột thịt như cha mẹ, vợ chồng, con cái xong, thì đến bảo lãnh anh chị em, con cháu, họ hàng, bạn bè xa gần.
Nhiều người bảo lãnh thân nhân sang Mỹ xong, chỉ một thời gian ngắn sau đó là gây gỗ, cha mẹ anh em không thèm nhìn mặt nhau, có khi chính gia đình vợ chồng người bảo lãnh cũng gẫy đổ vì những người thân từ Việt Nam sang đâm thọc. Người ở Việt Nam bây giờ nếu biết làm ăn buôn bán, tham nhũng, hối lộ, chạy chọt thì cũng có tiền bạc rủng rỉnh, nên khi có giấy tờ bảo lãnh của thân nhân về, họ đi Mỹ định cư mà cứ như là đi du lịch dài hạn, ở được thì ở, không được thì về. Khi qua Mỹ, họ tưởng đâu ở Mỹ là thiên đàng, việc làm dễ kiếm, đủ loại trợ cấp nhà nước nên khi đụng vào thực tế phủ phàng sau mấy tháng qua Mỹ ăn ở không chẳng có đồng nào trợ cấp, người bảo lãnh cũng không khá giả gì hơn, họ bất mãn và tháo lui về lại Việt Nam, nhưng vẫn không quên để lại con cái ở Mỹ nhờ anh em, bà con chăm sóc giùm cho mấy đứa nhỏ có tương lai!
Có người Việt Nam mới qua Mỹ có mấy ngày, đi ăn nhà hàng Việt Nam ở khu Little Saigon, khẩu vị khác với ở Việt Nam, đã không ngần ngại chê bai “đồ ăn Việt Nam ở Mỹ dở ẹt, thịt cá đều là đông lạnh, ăn không vô!”. Ban ngày ở nhà khu yên tịnh, chủ nhà đi làm hết, không có xe cộ ở nhà để xuống phố Bolsa, thì rên rỉ “nhà gì đâu mà ở khu vắng vẻ như chùa Bà Đanh, ở nhà suốt ngày giống như ở tù bị giam lỏng!”. Có nhiều anh Việt kiều về Việt Nam lấy vợ, rước nàng về Mỹ, được một, hai tháng, thấy nàng suốt ngày gọi điện thoại về Việt nam vì nhớ cha nhớ mẹ, bill điện thoại mỗi tháng không dưới 200 đô. Ban đêm hay cuối tuần thì bắt anh chồng chở đi shopping, tiêu xài thoải mái, cà thẻ tín dụng không cần biết bao nhiêu. Anh chồng kêu đi học Anh văn, học nghề thì viện đủ lý do để khỏi đi, ở nhà để chồng nuôi cho sướng. Không biết một hai năm sau, anh chồng có còn chịu nổi nữa không?
Có một cặp vợ chồng đang êm ấm, rước bà mẹ chồng và cô em chồng qua thì trong nhà bắt đầu lục đục. Bà mẹ chồng thấy con trai mình đi làm về vào bếp phụ vợ nấu cơm thì khó chịu, chì chiết con dâu là không làm bổn phận làm vợ, làm dâu đúng tiêu chuẩn Việt Nam của bà. Cô em chồng thì luôn nói xấu chị dâu với anh mình những khi chị dâu đi làm. Như vậy thì ai mà chịu đời cho thấu.
Có một gia đình người bạn mà tôi được biết, bảo lãnh cả gia đình người chị chồng từ Việt Nam qua. Qua Mỹ được vài tháng, bà chị chồng xúi dại người chồng mượn tiền ngân hàng cho bà ta để mua nhà vườn ở Riverside để làm rẫy, trồng rau bán cho các chợ Việt Nam. Gia đình người em tan nát khi chủ nợ ngân hàng, credit card gửi thư đòi nợ ráo riết vì công việc làm rẫy không được thuận lợi như ý muốn.
Ông bà ta thường nói:
“Cứu vật, vật trả ơn
Cứu nhân, nhân trả oán”
Câu này tôi thấy rất là đúng. Người Việt Nam được thân nhân bảo lãnh sang Mỹ bao nhiêu năm nay, có mấy ai còn biết nói tiếng "cảm ơn" người đã đùm bọc cưu mang gia đình mình từ những ngày đầu mới đến Mỹ. Có mấy ai còn liên lạc, còn gọi điện thoại hỏi thăm sức khỏe, chúc Tết “khổ chủ” ngày xưa. Hay đã giận hờn nhau, không thèm nhìn mặt nhau từ lâu lắm rồi?
** *
Bây giờ, xin được nói qua chuyện cho tiền làm từ thiện ở Việt Nam.
Thấy có nhiều hội đoàn sốt sắng làm các công tác từ thiện giúp đỡ người nghèo khó ở Việt Nam , tôi rất là cảm phục. Tôi chỉ xin lưu ý các cá nhân đã và đang đóng góp cho các công tác từ thiện ở Việt Nam, có nhiều người còn dấn thân về Việt Nam, đem tiền tận tay giao cho các tổ chức cứu trợ ở Việt Nam.
Với kinh nghiệm cá nhân, tôi không còn tin tưởng nhiều các tổ chức cứu trợ từ thiện ở Việt Nam dưới sự quản lý của nhà nước. Nếu có cho tiền xin đừng để lại tên tuổi, chỉ gây phiền phức cho mình sau này. Người đại diện ở Việt Nam, có khi tay mặt nhận tiền, nhưng tay trái bắt đầu ghi tên Việt kiều vào sổ phong thần, để điều tra lý lịch, công ăn việc làm của mình ở hải ngoại, để sau này dễ dàng chụp mũ khi cần. Họ làm
báo cáo chi tiết nhưng không bao giờ báo cáo huê hồng ít nhất 10 % cho người kêu gọi đưọc tiền đóng góp từ hải ngoại, gọi là tiền “bồi dưỡng”. Nhiều khi các hội đoàn ở hải ngoại biết rất rõ việc này, nhưng vẫn phải nhắm mắt làm ngơ để quà cứu trợ được đến tận tay đồng bào nghèo khó.
Muốn qua sông phải lụy đò
Muốn thương dân Việt phải “dò” mới tin
Xin hãy “dò” kỹ nguồn tin trước khi trao tiền, và đừng tin tưởng quá đáng vào tổ chức từ thiện của nhà nước như Hội Phụ Nữ Từ Thiện chủ trương giúp phụ nữ nghèo tạo dựng lại cuộc sống. Xin hãy tìm hiểu kỹ càng hoạt động của họ trước khi bỏ tiền ra giúp họ.
Vài hàng góp nhặt, hy vọng mọi người đọc xong sẽ suy nghĩ và thông cảm với tác giả.
- Vô danh -
Lời nhắn ...
Một người không tốt với bạn, bạn không nên quá bận tâm. Trong cuộc sống của bạn, không ai có nghĩa vụ phải cư xử tốt với bạn trừ cha mẹ. Còn với những người tốt với bạn... bạn nên trân trọng và biết ơn điều đó. Hãy luôn nhớ... Họ tốt với bạn không đồng nghĩa với việc họ phải quý mến bạn.Không có ai là không thể thay thế, không có vật gì thuộc hoàn toàn sở hữu của bạn. Vì thế, nếu sau này người bạn yêu thương không còn ở bên, hay họ không còn là nơi bạn có thể đặt niềm tin, bạn cũng đừng bi lụy.Sinh mệnh con người thực sự ngắn ngủi, bạn đừng để mỗi ngày trôi đi vô ích.
Người ta tham vọng sống lâu...nhưng bạn chỉ cần sống hạnh phúc mỗi ngày. Hãy trân trọng và yêu lấy cuộc sống hiện tại của bạn.Trên đời này không có gì là nhất cả, tình yêu chỉ là cảm giác bất chợt đi qua cuộc đời bạn, nhưng nó sẽ theo thời gian và lòng người mà thay đổi. Nếu như người đó rời xa bạn, bạn hãy học cách chờ đợi. Hãy để thời gian rửa sạch vết thương, để tâm hồn bạn lắng lại rồi nỗi đau của bạn cũng sẽ dần biến mất. Bạn đừng mơ ước một tình yêu hoàn hảo, cũng đừng thổi phồng nỗi đau khi nó không còn.Bạn có thể bắt mình phải giữ chữ tín, nhưng không thể yêu cầu người khác làm thế với mình.
Bạn có thể yêu cầu bản thân phải đối đãi tốt với người, nhưng bạn không thể kì vọng người ta sẽ làm đúng như vậy với bạn. Khi bạn tốt với họ, họ không có nghĩa vụ phải tốt lại với bạn. Hãy nhớ điều này nếu không bạn sẽ luôn gặp ưu phiền trong cuộc sống.Chỉ những ai có duyên phận mới trở thành người thân của nhau, cho dù trong cuộc sống bận rộn bạn ít khi gặp mọi người, nhưng bạn hãy trân trọng từng khoảnh khắc khi còn bên họ, hãy dành cho họ thời gian để yêu thương bạn hơn.
Tức giận là lấy sai lầm của người khác trừng phạt chính mình, cứ mãi nhớ và không quên khuyết điểm của người khác thì người bị tổn thương nhiều nhất chính là bản thân mình, bởi lẽ để có được niềm vui và cuộc sống thanh thản ta không nên truy cứu lỗi lầm cũ của người khác.Yêu thương như bạn vẫn thường yêu thương, sống như bạn vẫn thường sống nhưng với một niềm tin là bạn không thể có cuộc sống này lần nữa.Hạnh phúc mà bạn đang có hay nỗi đớn đau mà bạn đang mang là duy nhất, bạn hãy chấp nhận và thưởng thức. Như bạn chỉ có thể sống được ngày hôm nay, còn ngày mai, ngày mai đó chưa tới và chắc chắn, ngày mai đó vẫn sẽ tới, nhưng có thể sẽ không còn có bạn.
Love always,
Người ta tham vọng sống lâu...nhưng bạn chỉ cần sống hạnh phúc mỗi ngày. Hãy trân trọng và yêu lấy cuộc sống hiện tại của bạn.Trên đời này không có gì là nhất cả, tình yêu chỉ là cảm giác bất chợt đi qua cuộc đời bạn, nhưng nó sẽ theo thời gian và lòng người mà thay đổi. Nếu như người đó rời xa bạn, bạn hãy học cách chờ đợi. Hãy để thời gian rửa sạch vết thương, để tâm hồn bạn lắng lại rồi nỗi đau của bạn cũng sẽ dần biến mất. Bạn đừng mơ ước một tình yêu hoàn hảo, cũng đừng thổi phồng nỗi đau khi nó không còn.Bạn có thể bắt mình phải giữ chữ tín, nhưng không thể yêu cầu người khác làm thế với mình.
Bạn có thể yêu cầu bản thân phải đối đãi tốt với người, nhưng bạn không thể kì vọng người ta sẽ làm đúng như vậy với bạn. Khi bạn tốt với họ, họ không có nghĩa vụ phải tốt lại với bạn. Hãy nhớ điều này nếu không bạn sẽ luôn gặp ưu phiền trong cuộc sống.Chỉ những ai có duyên phận mới trở thành người thân của nhau, cho dù trong cuộc sống bận rộn bạn ít khi gặp mọi người, nhưng bạn hãy trân trọng từng khoảnh khắc khi còn bên họ, hãy dành cho họ thời gian để yêu thương bạn hơn.
Tức giận là lấy sai lầm của người khác trừng phạt chính mình, cứ mãi nhớ và không quên khuyết điểm của người khác thì người bị tổn thương nhiều nhất chính là bản thân mình, bởi lẽ để có được niềm vui và cuộc sống thanh thản ta không nên truy cứu lỗi lầm cũ của người khác.Yêu thương như bạn vẫn thường yêu thương, sống như bạn vẫn thường sống nhưng với một niềm tin là bạn không thể có cuộc sống này lần nữa.Hạnh phúc mà bạn đang có hay nỗi đớn đau mà bạn đang mang là duy nhất, bạn hãy chấp nhận và thưởng thức. Như bạn chỉ có thể sống được ngày hôm nay, còn ngày mai, ngày mai đó chưa tới và chắc chắn, ngày mai đó vẫn sẽ tới, nhưng có thể sẽ không còn có bạn.
Love always,
NGƯỜI TÀI XẾ VÀ GÃ TÂM THẦN
Một anh tài xế xe tải làm công việc thường ngày giao hàng cho một bệnh viện tâm thần, đang đậu xe bên cạnh một ống cống nước.
Lúc chuẩn bị rời bệnh viện, anh nhận thấy có một bánh xe bị xì hơi.
Anh kích chiếc xe tải lên và tháo bánh xe xì hơi để thay vào đó một bánh xe dự phòng.
Lúc sắp sửa gắn bánh xe mới vào, đột nhiên anh làm rơi cả bốn chiếc bù lon xuống ống cống nước.
Anh không thể nào vớt những chiếc bù lon ra khỏi ống cống được, và bắt đầu hoảng lên vì không biết phải làm gì.
Ngay lúc đó, một bệnh nhân đi ngang qua và hỏi anh tài xế tại sao trông anh có vẻ hốt hoảng như vậy.
Người tài xế tự nghĩ, bởi vì mình mà còn không làm được huống gì cái gã điên này, nên để gã ta đi cho khuất mắt, người tài xế xe tải nói sơ qua tình hình và đưa một cái nhìn thất vọng.
Người bệnh nhân cười anh tài xế và nói:
"Chỉ mỗi cái việc đơn giản như vậy mà anh còn không cách nào làm được. Không lạ gì anh sinh ra chỉ làm cái nghề tài xế xe tải để sống".
Người tài xế lấy làm ngạc nhiên khi nghe lời nhận xét như vậy từ một gã tâm thần.
"Đây là cái anh có thể làm", gã tâm thần nói......
"trước khi đọc tiếp, các bạn thử nghĩ dùm một giải pháp giúp anh tài xế xem giải pháp của bạn có hay hơn của người bệnh tâm thần không?"
"tháo một cái bù lon từ mỗi trong ba bánh xe kia và gắn vô cái bánh xe này. Rồi lái xe xuống cửa tiệm gần nhất và thay những cái bù lon còn thiếu vô. Đơn giản quá phải không anh bạn?"
Người tài xế quá cảm kích với lối giải quyết nhanh chóng này liền hỏi người bệnh:
"Anh quá giỏi và thông minh như vậy sao lại có mặt ở cái bệnh viện tâm thần này nhỉ?"
Người bệnh trả lời:
"Anh bạn ạ! Tôi ở đây bởi vì tôi khùng chứ không phải tôi ngu".
Chẳng có gì ngạc nhiên, có nhiều người, thái độ chẳng khác anh tài xế xe tải, cứ nghĩ rằng người khác toàn là ngu.
Bởi vậy, các bạn ạ, mặc dầu tất cả các bạn được học hành và thông minh, nhưng cứ nhìn xem, có thể có nhiều gã điên quanh đời sống cá nhân và chỗ làm của chúng ta, họ có thể cho chúng ta nhiều cách giải quyết nhanh chóng và vượt qua cả sự khôn ngoan của chúng ta nữa.
Một anh tài xế xe tải làm công việc thường ngày giao hàng cho một bệnh viện tâm thần, đang đậu xe bên cạnh một ống cống nước.
Lúc chuẩn bị rời bệnh viện, anh nhận thấy có một bánh xe bị xì hơi.
Anh kích chiếc xe tải lên và tháo bánh xe xì hơi để thay vào đó một bánh xe dự phòng.
Lúc sắp sửa gắn bánh xe mới vào, đột nhiên anh làm rơi cả bốn chiếc bù lon xuống ống cống nước.
Anh không thể nào vớt những chiếc bù lon ra khỏi ống cống được, và bắt đầu hoảng lên vì không biết phải làm gì.
Ngay lúc đó, một bệnh nhân đi ngang qua và hỏi anh tài xế tại sao trông anh có vẻ hốt hoảng như vậy.
Người tài xế tự nghĩ, bởi vì mình mà còn không làm được huống gì cái gã điên này, nên để gã ta đi cho khuất mắt, người tài xế xe tải nói sơ qua tình hình và đưa một cái nhìn thất vọng.
Người bệnh nhân cười anh tài xế và nói:
"Chỉ mỗi cái việc đơn giản như vậy mà anh còn không cách nào làm được. Không lạ gì anh sinh ra chỉ làm cái nghề tài xế xe tải để sống".
Người tài xế lấy làm ngạc nhiên khi nghe lời nhận xét như vậy từ một gã tâm thần.
"Đây là cái anh có thể làm", gã tâm thần nói......
"trước khi đọc tiếp, các bạn thử nghĩ dùm một giải pháp giúp anh tài xế xem giải pháp của bạn có hay hơn của người bệnh tâm thần không?"
"tháo một cái bù lon từ mỗi trong ba bánh xe kia và gắn vô cái bánh xe này. Rồi lái xe xuống cửa tiệm gần nhất và thay những cái bù lon còn thiếu vô. Đơn giản quá phải không anh bạn?"
Người tài xế quá cảm kích với lối giải quyết nhanh chóng này liền hỏi người bệnh:
"Anh quá giỏi và thông minh như vậy sao lại có mặt ở cái bệnh viện tâm thần này nhỉ?"
Người bệnh trả lời:
"Anh bạn ạ! Tôi ở đây bởi vì tôi khùng chứ không phải tôi ngu".
Chẳng có gì ngạc nhiên, có nhiều người, thái độ chẳng khác anh tài xế xe tải, cứ nghĩ rằng người khác toàn là ngu.
Bởi vậy, các bạn ạ, mặc dầu tất cả các bạn được học hành và thông minh, nhưng cứ nhìn xem, có thể có nhiều gã điên quanh đời sống cá nhân và chỗ làm của chúng ta, họ có thể cho chúng ta nhiều cách giải quyết nhanh chóng và vượt qua cả sự khôn ngoan của chúng ta nữa.

CÁI BẪY CHUỘT
Viết bởi Thạch Nguyên
Một chú chuột nhìn qua khe tường, để ý thấy vợ chồng chủ nhà đang loay hoay mở cái hộp to. Chú nhủ thầm không biết trong đó đựng gì: bơ sữa, thịt bánh? Chú bàng hoàng suýt té ngửa khi thấy chủ nhà lấy ra một cái bẫy chuột thật to. Chú run rẩy, lần mò chạy ra phía sau trang trại và nói to cho các gia súc nghe:
- Các bạn ơi, chủ nhà vừa mua một cái bẫy chuột. Cái bẫy to lắm!
Cặp vợ chồng gà vẫn nhẩn nha nhặt thóc, cục tác vài tiếng rồi đáp:
- Xin lỗi chú, chúng tôi thông cảm vì đó là mối quan tâm sinh tử của chú. Nhưng việc gì đến chúng tôi. Xin chú đừng quấy rầy nữa, và hãy để chúng tôi yên.
Chú chuột rầu rĩ quay sang than khóc với bác lợn:
- Bác lợn ơi, có một cái bẫy chuột trong nhà. Cháu lo lắm.
Bác lợn tỏ ý cảm thông nhưng cũng chỉ trả lời:
- Tôi biết làm sao bây giờ. Tôi sẽ nhớ đến chú trong kinh nguyện hằng ngày của tôi.
Chú chuột bèn chạy đến cô bò đang chậm rãi nhai cỏ. Cô bò phán:
- Cái anh này lạ chưa, việc ấy có liên can gì đến tôi mà tôi phải bận tâm.
Chú chuột buồn bã bỏ đi. Bây giờ chú biết phải tìm cách đối phó với cái bẫy một mình. Đèn nhà ai nấy sáng! Việc của chú, chú phải tự lo. Ngay đêm đó, trong nhà có tiếng bẫy sập. Bà chủ nhà vội vã chạy ra để xem xét sự tình. Trong đêm tối bà không biết là chiếc bẫy đã sập vào đuôi một con rắn độc. Con rắn đã cắn người vợ. Sau đó người chồng vội vã đưa bà tới bệnh viện, bà trở về nhà với cơn sốt miên man.
Trong thời gian bà lên cơn sốt vì nọc độc, người chủ nhà giết cặp gà để nấu cháo cho vợ ăn. Bịnh tình bà trở nên trầm trọng, hàng xóm đến chăm sóc, phụ giúp gia đình. Chủ nhà giết chú lợn để đãi khách.
Nhưng người vợ vẫn ốm, bệnh tình dường như nặng thêm, vậy là bạn bè và láng giếng kéo đến thăm bà suốt ngày. Để tỏ lòng cám ơn và thết đãi họ, người chồng đã giết bác lợn.
Nhưng người vợ vẫn không khoẻ hơn, và cuối cùng bà đã chết. Mọi người kéo tới dự đám tang bà và người chồng chỉ còn duy nhất cô bò để thết đãi bạn bè, láng giềng trong ngày tang lễ. Người nông dân quyết định mổ nốt cô bò.
Chú chuột nhìn qua khe hở của bức vách với với nỗi buồn vô hạn.
***********************
Tất cả chúng ta đang đồng hành trên chuyến hành trình mang tên Cuộc Đời. Hãy để mắt tới mọi người, nhất là những người kém may mắn và bị thiệt thòi nhất. Hãy sẵn sàng chia sẻ với họ.
Bạn và gia đình đang sống bình an. Nhà hàng xóm bị cướp. Không can chi... vì nhà bạn xây cất kiên cố, có rào cao, cổng chắc, có chó dữ canh gác, có hệ thống báo động tối tân. Hãy coi chừng, nhà bạn sắp trở thành nạn nhân kế tiếp, không sớm thì muộn. Số phận của gia đình bạn sẽ giống như cặp vợ chồng gà nếu bạn chỉ biết lo cho bản thân mình, gia đình mình và để mặc chuyện thế sự cho người khác giải quyết!
Xóm làng bị nạn cường hào, ác bá, tham nhũng cửa quyền. Nhưng gia đình bạn an bình vì bạn khéo luồn cúi, móc ngoặc, biết điều với quan chức địa phương. Hãy coi chừng, bạn và gia đình sẽ trở thành nạn nhân kế tiếp nếu vì lý do nào đó bạn không còn biết điều, không thể làm con bò cho quan chức vắt sữa nữa (vì hết sữa!). Số phận của gia đình bạn trước sau cũng sẽ giống như chú heo, nếu bạn nghĩ mình khôn ngoan biết sống hơn người khác, bỏ ngoài tai chuyện thiên hạ, gió thổi chiều nào ngả theo chiều đó để được yên thân!
Hàng xóm bị ngăn cấm sống đức tin, sinh hoạt tôn giáo bị hạn chế, tín hữu bị bắt bỏ đạo. Không hề gì, bạn vẫn còn tự do đi đây đi đó, thăm viếng bạn hữu, phụng tự tổ chức linh đình. Để tỏ lòng thương cảm cho pháp nạn của người khác, bạn nhớ đến họ trong kinh nguyện hằng ngày. Bạn nghĩ vậy là đủ. Hãy coi chừng vì bạn sẽ là nạn nhân kế tiếp và sau cùng (!). Đặc ân bạn đang hưởng có thể bị rút lại bất cứ lúc nào. Số phận bạn rồi cũng sẽ giống như con bò... bị giết trong đám tang của người khác, dù bạn là người tu hành chỉ biết lo chuyện đạo và nhắm mắt không dám nghĩ đến chuyện đời!
Bạn thấy không, sự khác biệt chỉ là thời gian ngắn dài chờ đợi tới phiên mình. Dù “khôn ngoan biết sống” hơn người, cuối cùng số phận của bạn cũng không khác ai: Chủ nhà lần lượt làm thịt cặp gà, rồi đến phiên chú heo và cuối cùng cô bò. Cô bò may mắn nhất, sống lâu, nhưng cũng chết!
Chuyện công an cộng sản đàn áp Tòa Khâm Sứ, Giáo xứ Thái Hà, Đồng Chiêm, Cồn Dầu không chỉ là chuyện của Tổng giáo phận Hà Nội, nhưng cũng là chuyện của Tổng giáo phận Huế, Tổng giáo phận Sàigòn.
Khi cái bẫy được đặt ở trong nhà thì vấn đề không phải là của riêng ai, mà là của tất cả mọi người cùng chung sống dưới mái nhà đó. Cho nên, chỉ có một cách, và là cách duy nhất...
Đồng Lòng và Đồng Loạt Phản Ứng
Hợp quần gây sức mạnh. Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết.
Khôn ngoan biết sống để thủ lợi cho riêng mình là... tự diệt, chỉ kéo dài thời gian chờ bị thọc tiết thôi!

