Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

A picture worth thousand words !!!

Trần Việt Trình

Image
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Giám đốc Ngân hàng Thế giới đặc trách Việt Nam bà Victoria Kwakwa.
Source: AFP, Hoàng Đình Nam
Đó là bức ảnh “ngài” thủ tướng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trong buổi hội nghị về việc tài trợ cho VN với sự tham dự của đông đảo các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế và đại diện các bộ, ngành của VN diễn ra ở Hà Nội vào ngày thứ Ba 6 tháng 12 vừa qua. Đây là một bức hình đáng ngàn lời nói! Cái ống nghe người ta chế ra để mang trên đầu thì “ngài” thủ tướng lại chế kiểu mang ngược lại. Đúng là các “đỉnh cao trí tuệ của loài người” luôn đi ngược lại thiên hạ và làm cái gì cũng ngược đời!

VỊT NGHE SẤM!!! Nguyễn Tấn Dũng,chỉ vừa biết đọc biết viết,ngày xưa trong "bụi" làm trợ tá,nhờ tuổi đảng lên làm chùm Công An,Giám Đốc Ngân Hàng và....cuối cùng THỦ TƯỚNG VNXHCN !!!

Không biết mang ống nghe ngược như vậy thì “ngài” thủ tướng có hiểu được hết người ta muốn nói gì trong hội nghị không? Các nước và các tổ chức tài trợ khẩn thiết kêu gọi VN gia tăng những nỗ lực cải cách kinh tế và cảnh cáo nước cộng sản của “ngài” hãy cải thiện nhân quyền còn không thì sẽ có nguy cơ làm phương hại đến sự thành công kinh tế của VN đó “ngài”.

Hội nghị kinh tế tài trợ cho VN với chủ đề “Thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế và giảm nghèo” mà các nhà tài trợ không ngần ngại đề cập đến chính trị, dân chủ và nhân quyền thì không biết có làm cho “ngài” ngượng ngùng chút nào không?

Bản tin do AFP của Pháp loan tải ngay ngày hôm đó tường thuật rằng các nước viện trợ bày tỏ “sự hối tiếc” trước tình trạng dân chủ của nhà nước độc tài này. Các nước cấp viện trợ cũng đồng thời khuyến cáo nhà nước CSVN nên cải tiến nhân quyền, nếu không sẽ phương hại đến tiến trình kinh tế và các thành quả kinh tế của VN.

Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại VN, nhẹ nhàng lịch sự nói rằng “Sẽ dễ dàng hơn nếu Việt Nam theo đuổi chương trình tái cấu trúc kinh tế ngay từ bây giờ hơn là bị bắt buộc phải làm điều đó sau khi đã xảy ra khủng hoảng” (“It would be much easier for Vietnam to pursue its restructuring agenda now than have to restructure after it's hit by a crisis”).

Đại sứ Na Uy Stale Torstein Risa thì thẳng thắn hơn, lên tiếng “Cuộc trấn áp các nhà bất đồng chính kiến mới đây làm nguy hại uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế trong lãnh vực nhân quyền cũng như sự phát triển kinh tế và xã hội về lâu về dài” (“A recent crackdown on dissidents undermines both Vietnam's international credibility on rights issues and its long-term economic and social development”).

Ông Risa tiếp tục khuyến cáo “Bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa không nên bị trừng phạt mà ngược lại phải nên khuyến khích” (“Peaceful expression of opinion should not be punished but rather encouraged”). Ông nói thêm đây là quan điểm của những nước viện trợ cho Việt Nam như Na Uy, Canada, Tân Tây Lan và Thụy Sĩ.

Theo Tổ chức Ân xá Quốc tế, hàng chục người gióng lên tiếng nói chỉ trích chính trị một cách ôn hòa đã bị kết án tù dài hạn kể từ khi Việt Nam tiến hành cuộc trấn áp sự tự do ngôn luận vào cuối năm 2009.

Cũng theo bản tin của AFP thì biểu tình hiếm thấy xảy ra ở VN nhưng trong năm nay đã có một số cuộc biểu tình về vấn đề tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc, tranh chấp đất đai của các giáo xứ Công Giáo và của người dân oan với nhà cầm quyền địa phương đã bị công an dùng vũ lực giải tán.

Ngồi nghe bao nhiêu lời “chướng tai” như vậy “ngài” thủ tướng chỉ biết bí xị cái mặt (như đã thấy trong hình) mà rằng “Nhà nước Việt Nam tôn trọng quyền của người dân đối với tự do và nhân quyền nhưng ông cảnh cáo là những quyền như thế phải được thể hiện trong khung hiến pháp và luật định”.

Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992, điều 69 có ghi “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

“Ngài” thủ tướng đã lắc léo tôn trọng nhân quyền “trong khung hiến pháp và luật định” cũng như nhà cầm quyền CSVN đã ma mãnh sử dụng cụm từ “theo qui định của pháp luật” để xảo trá phủ nhận tất cả các quyền về Tự do, Thông tin và Ngôn luận được Hiến pháp qui định. Do đó, trên thực tế, nhà cầm quyền có toàn quyền bắt bớ giam cầm những người bất đồng chính kiến. Tất cả đều nhằm mục đích bảo vệ đảng và chế độ.

Nói gì cũng bằng thừa! Ngàn lời nói không bằng sự diễn tả của một tấm hình!

Trần Việt Trình

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

BÃO ĐÃ VỀ


Cuộc họp của lãnh đạo huyện Con Cò chìm xuống trong một không khí quá thê thảm.
Chủ tịch huyện Con Cò nhướn mắt nhìn khắp hội nghị, mặt ông đỏ lừ.
Một cánh tay đưa lên.
-Mời.
-Dạ báo cáo. Gần hết năm rồi, mà tình hình kinh tế huyện nhà rõ ràng là đang gặp muôn vàn khó khăn.
-Biết rõ rồi. Nói cái khác.
-Dạ. Thu ngân sách không đạt.
-Thôi đi. Nói cái khác.
-Nợ nần của văn phòng ở nhiều nhà hàng không thanh toán được.
-Thôi đi.
-Dạ.
-Tết nhất đến, vấn dề thăm hỏi, đối ngoại sẽ vô cùng khó khăn…
Im lặng.
Tiếng đập bàn của ông chủ tịch huyện:
-Nhưng vấn đề là nguyên nhân? Nguyên nhân? Cuộc họp này là để tìm ra nguyên nhân vì sao huyện ta năm nay lại khó khăn thê thảm như vậy. Trong khi thằng Con Vạc bên cạnh ta, nó giỏi hơn gì ta, thế mà năm nay nó lên ti vi nó gào lên: huyện Con Vạc bội thu, vượt thu, tiền vào như nước. Nguyên nhân???
Mọi người nhìn nhau.
Bất chợt, ông chánh văn phòng huyện xô cửa lao vào, suýt bổ sấp ở bàn chủ tịch huyện.
-Bá,…cáo các đồng chí…
-Sao? Tai nạn à?
-Dạ không.
Rồi tay chánh văn phòng cười he he. Hội nghị ngơ ngác.
Ông chủ tịch huyện túm cổ áo tay chánh văn phòng:
-Đéo mẹ…Thằng này điên…
-Dạ không…He he…Bá cáo hội nghị…Em vừa nhận điện khẩn, khờ ân khân là khân hỏi khẩn…Bão số 5 đang vào huyện ta.
Ồ lên một tiếng. Rồi ồn ào náo động. Chủ tịch huyện gào lên:
-Đó là nguyên nhân.
Tất cả:
-Vâng. Đó là nguyên nhân
-Đó là lý do.
-Vâng.
-Đó là lý do.
-Bão không vào thì làm sao nhận được tiền hỗ trợ, giúp đỡ của cấp trên, làm sao tăng ngân sách địa phương, lấy cái quái gì thanh toán nợ nần, quà cáp lễ tết. Tóm lại, từ đầu năm đến nay, huỵện Con Vạc bão vào 3 cơn, thắng lớn. Huyện ta chưa hề…Nhục thế. Mà chúng ta có thua gì huyện Con Vạc. Chúng ta cũng đối nhân xử thế đàng hoàng. Cư xử đàng hoàng. Thậm chí còn hơn huyện Con Vạc. Nhưng tại sao bão vẫn không vào?
Cháng văn phòng giật tay áo ông chủ tịch huyện:
-Nhưng thưa anh. Bão đang vào.
Ông chủ tịch hả hê, vung tay:
-Đúng. Bây giờ thì bão đang vào. ( Quay lại chánh văn phòng ) Chắc không? Lúc nào?
-Dạ. Chính xác. Một ngày nữa. Bão vô cùng lớn.
-Viết báo cáo thiệt hại ngay, lên đường ngay.
Mọi người ngơ ngác:
-Sao các đồng chí kém năng động thế nhỉ? Bão lớn vào thì chắc chắn thiệt hại. Viết báo cáo trước. Thằng huyện Con Vạc nó nhanh hơn ta cái khoản này, nên ta phải học nó. Bão chưa vào, nó đã viết báo cáo thiệt hại xong, Bão vào, báo cáo của nó đã được cấp trên duyệt chi tiền hỗ trợ. Bão chưa tan, tiền đã về. Hiểu cả chưa?
Máy chữ ở văn phòng vang lên rào rào. Bên ngoài nắng như đổ lửa. Xa xa, phía chân trời, vẫn vụ những đám mây đen. Xe ô tô chờ đưa chánh văn phòng lên cấp trên để nộp báo cáo thiệt hại bão lụt đã nổ máy. Chánh văn phòng đọc, cô nhân viên chân dài đánh máy rào rào:
-Huyện Con cò chúng tôi mặc dù đã vô cùng cố gắng phẩy gồng mình chống bão số 5 phẩy một tấc không đi một ly không rời phẩy nhưng trước sức công phá của cơn bão quá lớn nên toàn huyện đã thiệt hại vô cùng đau xót hai chấm. 6000 ngôi nhà bị sập hoàn toàn chấm phẩy 50 000 ngàn ngôi nhà tốc mái chấm phẩy hàng ngàn trâu bò chết chấm phẩy đường sá bị sạt lở gần 1,2 triệu mét khối đất đá chấm phẩy 500 hécta lúa bị ngập chìm trong nướcchấm phẩy 80% người dân trong huyện bị thiếu đói nghiêm trọng ba chấm. Ước tính thiệt hại lên tới 100 tỷ đồng chấm. Huyện chúng tôi tha thiết đề nghị cấp trên hỗ trợ 50 tỷ đồng chấm. Số còn lại chúng tôi sẽ động viên nhân dân đùm bọc nhau vượt qua khó khăn. Chấm.
Ký. Đóng dấu. Lên đường.
Từ xa, chánh văn phòng điện về cho ông chủ tịch:
-Báo cáo anh! Em đã sẵn sàng mang tài liệu báo cáo thiệt hại vào báo cáo cấp trên. Em đang đứng ở cửa phòng của Sếp. Anh cho phép.
-Khoan.
-Sao ạ.
-Bão chưa vào.
-Sao ạ.
-Nó không vào huyện ta nữa.
-Sao ạ?
-Nó… đã vào huyện Con Vạc…
Ông chủ tịch nói xong, ngồi rũ xuống. Tiếng chuông điện thoại.
-A ha…Chủ tịch huyện Con Cò đấy à. Chào thân ái. Tôi, chủ tịch huyện Con Vạc đây. Bão đã vào huyện chúng tôi. Anh biết chưa. Bão đã vào chúng tôi rồi…Hoan hô lần thứ 4 trong năm bão đã vào huyện chúng tôi. Anh nghe rõ không?
Chủ tịch huyện Con Cò cố gắng nói từng lời nhưng cổ họng nghẹn đắng:
-Vâng. Chúng tôi biết rồi. Bão đã vào huyện Con Vạc của các ông. Chúc…chúc…mừng nhé…Vâng…Xin cám ơn…
Chủ tịch huyện Con Cò đặt máy, thở dài:
- Huyện Con Vạc sao mà may thế, tiên sư đời!
He he.
Theo blog NQV




A

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Image

Thà Thắp Lên Một Ngọn Nến...

Chu Thập
Tháng 12 mỗi năm, tôi có nhiều Lễ Giáng Sinh để mừng.

Trước hết, dĩ nhiên, phải nói đến Lễ Giáng Sinh trong các siêu thị. Chỗ nào cũng thấy có Ông già Noel và Cây thông Giáng Sinh. Chỗ nào cũng thấy bán hạ giá. Dù chỉ vào các siêu thị để nghe nhạc Giáng Sinh, hòa mình với đám đông đi mua sắm hay chuẩn bị quà cáp cho nhau, tôi cũng thấy đủ vui rồi. Đây là Lễ Giáng Sinh mà bất luận thuộc văn hóa, ngôn ngữ, phái tính và nhứt là tôn giáo nào, ai cũng đều tham gia mừng cả. Rõ ràng là ông Già Noel hay Santa Claus không có kỳ thị. Tôi tin rằng dù cho Chúa Kitô không còn “giáng sinh” nữa, và ngay cả dù ngày nay người ta thường hay “làm lơ” ý nghĩa đích thực của Giáng sinh thì Lễ Giáng Sinh vẫn cứ còn đó!

Lễ Giáng Sinh thứ hai mà năm nào tôi cũng mừng là buổi tiệc trong khu xóm của tôi. Tôi không biết có bao nhiêu người theo Kitô giáo, nhưng năm nào mọi cư dân trong cái xóm nhỏ của tôi cũng đều gặp nhau trong một bữa tiệc đơn sơ mà thực đơn gồm các món do mỗi người tự đóng góp. Mục đích chính không phải là ăn uống, mà là để ít nhứt mỗi năm một lần, mọi người trong xóm “nhận diện” nhau và cố gắng nhớ tên nhau để khỏi lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia. Chính nhờ mấy cái lễ Giáng Sinh này mà tôi đã thuộc được tên của hầu hết mọi cư dân trong khu xóm. Ra ngõ, được ai đó gọi đúng tên và nhứt là chính mình gọi được tên của ai đó cũng đã là một món quà Giáng Sinh lớn đối với tôi.

Kế đó, không thể thiếu sót được là Lễ Giáng Sinh trong gia đình tôi. Trong năm, thỉnh thoảng cũng có những cuộc gặp gỡ trong hàng quán hay trao đổi với nhau trên điện thoại. Nhưng “hơi ấm” của tình gia đình chỉ thực sự có trong Ngày Giáng Sinh mà thôi. Lễ Giáng Sinh thiết yếu vẫn là lễ của Gia đình.

Nhưng với riêng tôi là một tín hữu Kitô, thì lễ Giáng Sinh quan trọng nhứt vẫn là Lễ “Christmas”, tức “Lễ của Chúa Kitô” được cử hành như một nghi thức tôn giáo. Không có lễ tôn giáo thì mọi thứ “lễ lạc” khác đều vô nghĩa. Chính vì tầm quan trọng của Ngày Lễ này mà hằng năm Giáo hội của tôi dành gần cả tháng trời để chuẩn bị. Thời gian chuẩn bị ấy thường được gọi là “Mùa Vọng”. Vọng là hy vọng, là chờ đợi. “Mùa Vọng” là nói theo tiếng Việt. Còn trong các ngôn ngữ Tây phương bắt nguồn từ tiếng Latin thì mùa chuẩn bị Lễ Giáng Sinh được gọi là “Mùa Đến” (Adventus, Advent hay Avent). Kết hợp ngôn ngữ Tây phương với tiếng Việt, tôi hiểu được rằng thời gian chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh là Mùa chuẩn bị tinh thần để đón rước Chúa Kitô là “Đấng Đang Đến”. Đây là điểm giáo lý nòng cốt mà năm nào trong các thánh lễ Mùa Vọng, các linh mục cũng nhắc nhở để qua đó mời gọi các tín hữu chúng tôi luôn trong tư thế sẵn sàng để nhận biết và đón tiếp Ngài là Đấng đang đến trong mọi biến cố, hoàn cảnh, con người và từng phút giây của cuộc sống. Luôn tỉnh thức như thế quả là một thách đố quá lớn đối với tôi. Cứ ngẫm nghĩ và “xét mình”, quả thực tôi thấy không biết bao nhiêu lần Ngài đã “đi qua” mà tôi không nhận ra hay cố tình không muốn nhận biết hoặc ngay cả khước từ Ngài.

Tôi nhận ra thái độ của mình trong nhân vật Đại phán quan trong quyển tiểu thuyết có tựa đề “Anh em nhà Karamazov” của văn hào Nga Fyodor Dostoyeski vào thế kỷ 19. Bối cảnh của câu chuyện là những vụ xử án của Tòa Điều Tra vào thời Trung cổ tại Âu Châu. Tác giả cho Chúa Kitô “đến” tại thành phố Sevilla, Tây ban nha, chỉ một ngày sau khi có 100 người bị kết án là “lạc giáo” và bị đưa lên giàn hỏa thiêu. Tác giả viết: “Mặt trời yêu thương bùng cháy trong trái tim Ngài” khi Ngài đi qua giữa dân chúng với một nụ cười cảm thông vô biên. Tất cả mọi người đều nhận ra Ngài; họ khóc lóc và hôn từng bước chân Ngài đi qua. “Trẻ em rải hoa trên lối đi của Ngài; chúng ca hát và hô lớn “Hosanna”.

Chúa Giêsu đi ngang qua một nhà thờ chính tòa khi người ta khiêng vào đó quan tài của một thiếu nữ 17 tuổi. Người mẹ của cô gái đến sụp lạy dưới chân Ngài và van nài: “Nếu Ngài là Chúa Giêsu, xin hãy làm cho con tôi được sống lại”. Ngài đưa mắt nhìn vào thi hài bất động với tất cả sự cảm thương và thốt lên: “Hãy trỗi dậy”. Lập tức cô gái ngồi dậy, bước ra khỏi quan tài, trên tay cầm một bó hoa hồng trắng.

Chính ngay lúc đó, vị đại phán quan là một vị hồng y già 90 tuổi cũng đi ngang qua nhà thờ chính tòa. Do tận mắt chứng kiến cảnh người chết sống lại cho nên ông ra lệnh bắt giữ Chúa Giêsu. Đêm hôm đó, ông vào nhà tù để gặp gỡ Tù Nhân. Vị đại phán quan nhìn rất lâu vào mặt Chúa Giêsu, rồi lên tiếng hỏi: “Có phải Ngài không?” Nhưng Người Tù chưa kịp trả lời thì ông lại nói: “Thôi, đừng nói gì cả. Dù thế nào thì ta cũng biết Ngài muốn nói gì rồi. Và Ngài không có quyền thêm bất cứ điều gì vào những gì Ngài đã nói lúc sinh thời. Tại sao Ngài trở lại để xen vào chuyện của chúng tôi?”

Vị hồng y đại phán quan đã độc thoại rất lâu trước mặt Chúa Giêsu và đe dọa sẽ đưa Ngài lên giàn hỏa thiêu bởi vì Ngài là “kẻ lạc giáo độc hại nhứt trong những kẻ lạc giáo”. Nhưng vị hồng y già không cảm thấy thoải mái lắm bởi vì “Người Tù” lúc nào cũng nhìn thẳng vào mắt ông, chăm chỉ lắng nghe mà cũng chẳng muốn nói một lời nào. Ông muốn cho Tù nhân nói một lời nào đó, dù là một lời cay đắng hay khủng khiếp. Nhưng Tù Nhân bỗng tiến gần đến Cụ Già và không nói không rằng, đặt một cái hôn lên đôi môi vô cảm của ông. Ông rùng mình. Một cái gì đó làm cho khóe miệng ông co giựt. Ông lùi lại phía trước, mở cửa ngục và nói với Chúa Giêsu: “Xin Ngài hãy đi và đừng trở lại nữa... Đừng bao giờ, đừng bao giờ trở lại nữa. ” (Geoffrey Plant, Tell Me a Story, Harper Collins religious, Australia 2000, trg 45-46)

“Đừng bao giờ, đừng bao giờ trở lại nữa”: có lẽ đây cũng là câu nói tàn nhẫn mà biết bao nhiêu lần, vì không tỉnh thức hay vì ác ý, tôi cũng đã vô tình thốt lên với “Đấng Đang Đến” dưới hình dáng của vô số những người mà tôi gặp gỡ mỗi ngày, nhứt là những người cần được tôi giúp đỡ và cảm thông.

Tôi vẫn thường gẫm suy về câu chuyện được chuyên gia tâm lý Scott Peck ghi lại trong cuốn sách nổi tiếng có tựa đề “Con Đường Ít Được Đi” (The road less travelled, do nhà xuất bản Random House phát hành năm 1978). Theo câu chuyện, tại một vùng hẻo lánh nọ, có một tu viện rất nổi tiếng. Cuộc sống thánh thiện của các tu sĩ đã thu hút được rất nhiều người. Không bao lâu, tu viện biến thành một trung tâm hành hương. Nhưng không rõ vì một nguyên nhân nào đó, số người tìm đến tu viện ngày càng thưa thớt. Vị tu viện trưởng mới tìm đến một giáo trưởng Do thái thông thái để vấn kiến. Sau khi lắng nghe câu chuyện, giáo trưởng Do thái mới nói với bề trên tu viện rằng “một tu sĩ trong cộng đồng của ngài là Đấng Cứu Thế”. Vị tu viện trưởng liền tức tốc trở về tu viện và tập trung các tu sĩ lại để loan báo cái tin khủng khiếp đó. Kể từ hôm đó, mọi tu sĩ đều bắt đầu nhìn và đối xử với người bên cạnh mình như Đấng Cứu Thế. Cuộc sống trong tu viện thay đổi hẳn và dĩ nhiên cũng được lan truyền ra bên ngoài. Khách hành hương bắt đầu trở lại tu viện.

Nhìn thấy, tôn trọng và yêu thương mỗi một tha nhân như “Đấng Cứu Thế”: đây chính là “chìa khóa” của Mẹ Têrêxa Calcutta đã và đang dùng để xoa dịu được phần nào nỗi khổ đau của vô số người dân nghèo khổ tại Ấn độ và trên khắp thế giới. Người nữ tu này không phải là một nhân viên xã hội lại càng không phải là một chính trị gia, một nhà kinh tế học hay một chuyên gia thảo kế hoạch. Một số người trách cứ Mẹ Têrêxa chỉ giải quyết vấn đề trong đoản kỳ, mà không tìm cách chữa trị căn bệnh tự trong gốc rễ. Chúng ta thường nghĩ rằng những thách đố “toàn cầu” chỉ có thể giải quyết được bởi những nhà lãnh đạo có viễn kiến, những tài nguyên vô giới hạn và những cuộc họp thượng đỉnh. Thật ra, mỗi người trong chúng ta, ai cũng có thể đóng góp để làm cho thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp và đáng sống hơn. Chúng ta không cần phải đóng góp bằng những chương trình vĩ đại hay tham gia một phong trào vĩ đại, mà bằng những hành động nhỏ mỗi ngày và những quyết định qua đó, cùng với hành động của triệu triệu người khác trên thế giới, có thể thay đổi bộ mặt thế giới. Đây chính là niềm xác tín của Mẹ Terexa Calcutta, một niềm xác tín được xây dựng trên niềm tin là: bất cứ nghĩa cử nào, dù nhỏ bé đến đâu, được làm cho tha nhân cũng chính là làm cho Đấng Cứu Thế.

Tôi đặc biệt nghĩ đến người nữ tu được trao tặng Giải Nobel Hòa bình năm 1979 này mỗi lần nhìn thấy những gói quà Giáng Sinh được mang đến nhà thờ trong các ngày chúa nhựt Mùa Vọng. Năm nay, giáo xứ nơi tôi thường đi lễ sẽ gởi những món quà Giáng Sinh này đến những gia đình nghèo tại Mount Druit, miền Tây Sydney. Nhìn những gói quà với đủ mọi nhu yếu phẩm kèm theo được gói ghém cẩn thận, tôi đoán được rằng những người trao tặng muốn đặt vào đó tất cả tình thương của mình dành cho những người kém may mắn. Tôi chợt nhớ đến câu nói rất quen thuộc của Mẹ Têrêxa Calcutta: “Hãy làm một cái gì đẹp cho Thiên Chúa”. Đây là câu nói đã được ký giả người Anh Malcolm Muggeridge mượn làm tựa đề cho một cuốn sách để giới thiệu cho thế giới về Mẹ Têrêxa và công cuộc từ thiện của các nữ tu Dòng Thừa Sai Bác Ái do Mẹ thành lập. Hiện nay các nữ tu của Mẹ đang có mặt tại 123 nước trên thế giới. Họ ưu tiên phục vụ cho những người cùng khổ và những thành phần bị đẩy ra bên lề xã hội như các bệnh nhân phong cùi, những người mắc bệnh Aids.

“Triết lý” và chủ trương của Mẹ Têrêxa vẫn tiếp tục bị chỉ trích. Luận điệu quen thuộc vẫn là: Mẹ chỉ giúp cho người nghèo được sống cầm hơi chứ không nhỗ tận gốc rễ căn nguyên của sự nghèo đói. Chủ trương của Karl Marx và chủ nghĩa cộng sản thì hoàn toàn ngược lại: Họ chủ trương giải quyết tận căn nguyên. “Rằng hay thì thật là hay”. Nhưng rõ ràng cái thiên đường cộng sản chỉ là một thứ không tưởng mỵ dân bằng những chiếc bánh vẽ. Biết bao lần trong lịch sử đã chứng minh rằng con đường dẫn xuống hỏa ngục thường được lát toàn bằng những “thiện ý”! Ngày nay, chủ nghĩa cộng sản đã bị quăng vào hố rác của lịch sử, nhưng những ý tưởng, chương trình và kế hoạch “vĩ đại” vẫn còn đó và những mục tiêu lớn được đề ra vẫn mãi mãi là những “chữ chết” trong các tuyên ngôn quốc tế. Một hành động nhỏ luôn vĩ đại hơn một lý thuyết hay ho.

Trong các thánh lễ Mùa Vọng bằng Anh ngữ, tôi thấy ở mỗi đầu thánh lễ, vị linh mục chủ tế có thắp lên một ngọn nến được đặt trên một vòng hoa. Tôi không rõ nguồn gốc của vòng hoa và việc đốt nến này. Đây có lẽ chỉ là truyền thống riêng của các dân tộc “Anglo Saxon”. Mùa Vọng ở các nước Tây phương thường cũng đã là Mùa Đông. Giữa mùa Đông lạnh lẽo, một ánh nến được đốt lên như để hâm nóng niềm hy vọng của con người. Giữa mùa giá rét, hoa của hy vọng vẫn có thể nở rộ.

Riêng với tôi, ý tưởng thường xuất hiện trong đầu tôi mỗi khi tham dự vào nghi thức đốt nến ở đầu thánh lễ vẫn là câu nói mà ông Peter Benenson, một luật sư người Anh sáng lập Tổ chức Ân Xá Quốc Tế đã nói tại một buổi lễ cử hành Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 năm 1961: “Thà đốt lên một ngọn nến hơn là ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối. ” (better to light one candle than to curse the darkness)

Mỗi khi gặp gỡ một ánh mắt nhìn thân thiện, tôi luôn cảm thấy như được sưởi ấm. Và tôi tin rằng ai cũng có cùng một cảm nhận tương tự từ những cử chỉ thân ái nhỏ nhặt từ người khác. Thực tình mà nói, ngọn nến không khó để thắp lên, vấn đề là tôi có đủ can đảm bỏ bớt thì giờ dành riêng cho mình để bước ra hòa mình và chia sẻ với người khác hay không.

Một Lễ Giáng Sinh trọn vẹn không thể không có thật nhiều những ngọn nến yêu thương như thế.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Phải chi ngày ấy
Tạp Ghi Huy Phương
Chưa lúc nào ở trong nước lại rộ lên phong trào truy tầm, cải táng những nấm mộ tập thể của Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa đã vị vùi dập trong những ngày đầu khi miền Nam bị thất thủ như hiện nay, tất cả đều do thân nhân nóng lòng đi tìm hoặc dân chúng vì lòng trắc ẩn hướng dẫn. Tháng 5, 1994 tại Bình Dương, một ngôi mộ tập thể chôn 37 người đã được bà quả phụ Nguyễn Viết Thông vì theo dấu vết chồng mà tìm ra, cuối cùng chỉ tìm được 17 người nhờ số thẻ bài, căn cước nhựa còn lại. Tháng 12, 2010 dân làng An Dương, huyện Phú Vang, Thừa Thiên đã cải táng và xây lăng mộ cho 128 tử sĩ VNCH gồm TQLC và quân nhân các binh chủng khác cũng như dân chúng chết trên bãi biển Thuận An vào những ngày cuối tháng 3, 1975. Tại bãi biển Tư Hiền, dân chúng cũng đã chôn cất nhiều anh em binh sĩ TQLC, nhưng hiện nay rất khó tìm ra dấu vết đã trên 35 năm.

Nhân nghe nguồn tin này anh Dương Công-An, nguyên là một hạ sĩ quan thuộc tiểu đoàn 223 Pháo Binh, hiện sống tại Ðức Quốc, đã cho biết tại Quân Y Viện Qui Nhơn, có một hầm chôn tập thể của 47 thi hài tử sĩ vào cuối tháng 3, 1975, trong số này có Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42, SÐ 22BB. Dù nóng lòng biết có thân nhân trong hầm chôn, nhưng không ai có khả năng gõ cửa chính quyền để xin khai quật nấm mộ này.

Tại Chu Lai, Quảng Nam trong khi người ta dùng xe ủi đất để xây cảng Kỳ Hà, người lái máy cày đã gom được một số xương và vật dụng của các binh sĩ thuộc Trung Ðoàn 4, SÐ2BB. Tại chùa Dương Lâm, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, người ta cũng tìm ra trên 100 hài cốt của các chiến sĩ trong đó chỉ tìm được 6 người còn có thẻ bài vì dân chúng cho biết khi vùi lấp các chiến sĩ này, Việt Cộng đã giựt hết thẻ bài, một số thẻ bài còn lại nhờ các binh sĩ đã giấu trong giầy trận của họ.

Nghĩa trang của các quân nhân Sư Ðoàn 18BB tại An Lộc bị san bằng, trồng cây cao su lên xác lính, bia lấy về lót chuồng nuôi heo, dân chúng dò tìm theo mương suối đào tìm được 25 tấm bia đem về chùa hương khói. Cũng tại An Lộc, nghĩa trang của các quân nhân Liên Ðoàn 81 Biệt Kích Dù đã bị san bằng, hiện nay không biết xương cốt của các binh sĩ này ở đâu.

Tại xã Sơn Quang, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, con gái của một nạn nhân trước đây là đảng viên Quốc Dân Ðảng, tiết lộ với chương trình Huynh Ðệ Chi Binh của chúng tôi, là cha cô bị cộng sản chôn sống vào tháng 4, 1975. Dò theo đường đi của cha, cô được đồng bào địa phương cho biết nấm mộ tập thể này chôn 30 người nhưng không dám lên tiếng vì sợ hãi, đồng thời cũng lo ngại khu mộ này sẽ bị sóng cuốn mất vì ở sát biển.

Nguồn tin từ gia đình 81 Biệt Kích Dù, hai toán hoạt động ở Long Thành, tháng 5, 1975, sau khi ra hàng đã bị bắn và vứt xác xuống giếng cạn, người dân có đánh dấu nhưng không dám tiết lộ cho ai.

Trong nhiều trại “cải tạo” từ Nam ra Bắc, nhiều người miền Nam chết vì bệnh tật hay bị xử bắn đã bị chôn cất sơ sài, xiêu lạc mồ mả hiện nay không còn dấu vết. Nhiều gia đình đã nhờ các “nhà ngoại cảm” trong nước giúp đi tìm mộ, nhưng người chết cũng còn bị phân biệt đối xử nên nhiều nhà ngoại cảm từ chối không giúp thân nhân tìm hài cốt lính “ngụy.” Không khuyến khích việc truy tầm những nấm mộ “oán thù” trong những ngày cuối của cuộc chiến, chính quyền cộng sản còn làm khó khăn cho thân nhân người chết và dân chúng địa phương khi muốn tiến hành các nghi thức cầu siêu hay tế lễ, hình như chúng sợ đám đông, sợ sự liên tưởng, sợ sự hoài niệm đến một hình ảnh người lính miền Nam đã khuất. An Dương là một bài học như thế! Khi người quả phụ cùng con, đem hương hoa, lễ vật cúng cho người chồng chết từ ba mươi lăm năm về trước, trong trận chiến rút lui cuối cùng, đã bị công an mời vào đồn làm việc, sau đó bị đuổi về không cho vào thăm phần mộ!

36 năm sau, tiến súng đã ngưng, nhưng “hòa hợp, hòa giải” chỉ là lời nói đầu môi chót lưỡi, ngay cả với ngân khoản của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ dành cho việc kiếm người mất tích, Hà Nội không chấp nhận tìm kiếm quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, với lý do “đã nhân đạo thì không có điều kiện.” Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, chủ tịch Tiểu Ban Ðông Á-Thái Bình Dương tuyên bố Mỹ sẽ ngưng tiền viện trợ tìm kiếm quân nhân mất tích tại Việt Nam “cho đến khi chúng ta được bảo đảm chắc chắn rằng chương trình viện trợ áp dụng đồng đều cho tất cả những ai chiến đấu ở tất cả các bên.”

Chính ông Võ Văn Kiệt, cựu thủ tướng CSVN, trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC hồi 30 tháng 4, 2007, cho hay Việt Nam nay đã bắt tay với tất cả các kẻ thù trong quá khứ, Pháp trước đây, Mỹ sau này, và mới đây Trung Cộng đã tàn phá ba tỉnh biên giới, nhưng đối với người lính miền Nam, hận thù không thể quên.

Hôm nay, những dòng nước mắt chưa ngừng chảy vì những oan khuất chưa được giãi bày, những linh hồn chưa được siêu thoát. 36 năm là một thời gian quá dài, trên mặt đất, địa hình không còn để lại dấu vết, bia mộ xiêu lạc, dưới mộ sâu xương đã tàn cốt đã mục. Nếu có, thân nhân may mắn chỉ tìm ra nắm xương tàn hay chút di vật nhỏ nhoi.

Ðã có những bà mẹ, những người vợ sau chiến tranh, tuyệt vọng vì không tìm được tin tức thân nhân của mình, chết sống ra sao, hài cốt xiêu lạc nơi nào. Cộng Sản Hà Nội vẫn căm thù dai dẳng, đối xử tàn tệ cả với người đã chết, từ nghĩa trang quân đội hoang tàn, đổ nát đến hàng nghìn địa điểm chôn người chưa được khai quật. Cuối cùng tất cả đều tan nát với cỏ cây, xóa nhòa theo thời gian, như nỗi buồn của những bà mẹ già đã đem theo nỗi trông ngóng xuống mộ sâu, chờ nắm xương xiêu lạc của đứa con chưa trở về.

Phải chi ngày ấy, sau khi chiến thắng, miền Bắc đã có chính sách kêu gọi dân chúng, cán bộ trong nước, ai biết tin tức gì về những nấm mộ tập thể của những người lính miền Nam, dù là kẻ thù trước đây, hãy khai báo, để giúp đào xới, kiểm kê, nhận dạng cho thân nhân cải táng, đem về quê quán cho đúng với truyền thống đạo lý của Ðông phương “nghĩa tử là nghĩa tận,” “không có ai thắng ai thua.”

Nhưng không!

Ðược như thế thì họ đã là con người, còn nói làm gì nữa!

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Image
1. Chiếc Gương và Cửa Sổ
Có một phú ông tên Hạo Tường luôn cảm thấy trong cuộc sống của mình thiếu thốn một cái gì đó, nên ông quyết định lên đường tìm Thiền sư để tham hỏi.


Khi gặp Thiền sư: “Thưa ngài! Tôi có rất nhiều tiền, muốn thứ gì thì có thứ đó nhưng lại không cảm thấy vui và hạnh phúc được”. Vị thiền sư mời ông ta đứng trước một cửa sổ được làm bằng kính và hỏi ông thấy được những gì qua ô cửa kính đó. “Dạ, con thấy những đoàn người tất bật, hối hả qua lại trên những con đường, có khi bằng phẳng, có khi gập gềnh, khúc khủyu nữa”


Thiền sư chẳng nói gì và mời ông ta đứng trước một chiếc gương soi, hỏi ông thấy gì qua chiếc gương đó. “Con thấy chính mình…”


Thiền sư ôn tồn nói: “Chiếc gương được làm bằng kính, cửa sổ cũng được làm bằng kính, nhưng cửa sổ thì trong suốt nên có thể thấy được bên ngoài, có thể nhìn được người, cảnh vật xung quanh ta nhưng chiếc gương thì phủ một lớp sơn phía sau hoặc một tấm gỗ nên chỉ có thể nhìn được mình mà thôi, khi trong con người mình có thể gỡ bỏ đi lớp sơn hay tấm gỗ kia thì lúc đó con sẽ nhìn thấy người khác, lúc con nhìn thấy người khác con sẽ cảm thấy hạnh phúc với những gì đang có”.


Lời bạt: Bạn có là người hạnh phúc không? hay là người luôn bận rộn với cuộc sống hiện đại này? Hoặc ta cảm nhận cuộc sống mình mỗi ngày một vui hơn? Mỗi ngày chúng ta chạy danh cầu lợi. Ở đâu đó, chúng ta đã có một góc của sự bình yên và hạnh phúc nhưng chưa bao giờ thay đổi góc độ nhìn để dung nạp, tha thứ cho người khác. Chỉ khi nào ta hiểu được hai chữ "dừng bước". Ta đứng lại để tiếp nhận người khác đang tồn tại, họ hiện hữu trong sự tương quan của ta, ta dừng lại để nhìn, để hiểu và để thương. Khi thương được mọi người ta sẽ thương chính mình.


Huệ Thiện"

(sưu tầm & chuyển ngữ)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Lễ Giáng Sinh là Một Sự Xúc Phạm?
Cọng Rơm
Trước lễ Giáng sinh mấy năm trước, một người bạn khoe với tôi rằng con của chị đang học lớp Vườn Trẻ trường công được một Giáo Xứ Công Giáo tại Beaverton, Oregon cho quà. Nhưng rồi chị thắc mắc về cách họ gói quà với mẫu giấy nho nhỏ kèm theo: “Please buy only non-Christian items, and wrap the gift in the non-Christmas paper, for non-Christian receivers may get offended. We need to respect their religions.” (Tạm dịch là, “Xin đừng mua những món đồ mang tính cách Kitô Giáo, và đừng gói quà bằng giấy của mùa Giáng Sinh, vì người nhận không phải Kitô hữu có thể cảm thấy xúc phạm. Chúng ta cần phải tôn trọng tôn giáo của họ.”)


Tôi nhìn mảnh giấy mà ngỡ ngàng! Offended! Xúc phạm! Tại sao lại bị xúc phạm? Ngày lễ của Thiên Chúa mình, mình hân hoan chào đón những người mình quý mến, mình mang niềm vui đó trao đến họ qua sự tặng quà. Mình mang niềm vui về Thiên Chúa của mình đến chia xẻ với người khác tại sao lại xúc phạm đến họ được. Tỏ ra ta một Kitô hữu là một sự xúc phạm đến người khác ư? Tỏ ra ta là một Kitô hữu là không tôn trọng tôn giáo bạn ư? Tôi cảm thấy có cái gì không ổn trong sư suy nghĩ này.

Một hôm, trong khi chờ đón con tôi tại hồ bơi, tôi nghe một thầy giáo dạy bơi nói với học trò mình, “Merry Christmas!” Ngay lập tức, một cô giáo đang đứng dưới hồ la vọng lên, chỉnh lại, “Happy holiday!” Câu phản đối của cô giáo ấy theo tôi suốt quãng đường đi trên chuyến bay về ngoại. Từ phi trường Portland, Oregon bay về Atlanta, Georgia, tôi chỉ nghe những âm thanh thật lạt lẽo, vô vị. Không có cảnh trang hoàng cho ngày đại lễ. Không có nhạc mừng Chúa ra đời. Không có không khí tưng bừng, nao nức đón mừng ngày vui nhất trong năm. Cho đến khi về đến phi trường Huntsville, Alabama, tôi bắt đầu thấy lòng mình ấm lên niềm vui với cảnh trang hoàng Noel và các bài hát của mùa Giáng Sinh. “… It’s the most wonderful time of the year! It’s the hap, happiest time of the year!…” Và “Have a holly, jolly Christmas. It’s the best time of the year… ” Đi ngang qua hai em nhỏ mặc áo mang hiệu trường Công Giáo, tôi buộc miệng, “Merry Christmas!” Bà mẹ của hai em chạy đến tôi mừng rỡ, “Thanks goodness! Merry Christmas to you too!” Ngày nay, người ta chống Thiên Chúa đến mức độ trầm trọng. Người ta gạt bỏ đi những gì có liên quan đến Thiên Chúa. Nhưng chẳng lẽ chúng ta lại dễ dàng bị cuốn theo trào lưu đó sao? Niềm tin và sự tự hào làm con cái Thiên Chúa phải vượt thắng tất cả chứ.

Nhân ngày lễ Tạ Ơn, cô giáo lớp Mẫu Giáo khuyến khích các em nói lên những lời cám ơn. Phần nhiều các em nói, “Em cám ơn ba mẹ em cho em gameboy,” hoặc “Em cám ơn con chó nhà em,” hay là “Em cám ơn con mèo nhà em,” vv … Riêng cu Quang nhà tôi nói “Em cám ơn Thiên Chúa của em.” Và cháu đã bị chúng bạn cười ồ! Cu Quang đi học về buồn lắm. Hỏi mãi cháu mới kể hết sự việc. Tôi tâm tình, “Ô sao con lại buồn vì con đã nói đúng? Con nên biết cám ơn Chúa là con đã biết Chúa, còn những người khác thì chưa được ơn đó. Ơn được biết Chúa là vô giá. Không có Chúa thì chẳng có gameboy, con chó, hay con mèo gì cả con à! Ba mẹ rất mừng khi thấy con hãnh diện tuyên xưng Chúa cho bạn con.” Đức tin của người Công Giáo không được đến từ một sớm một chiều. Đức tin phải được truyền đi trước nhất cho tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên trong trắng. Bao nhiêu anh hùng đã đổ mồ hôi và xương máu để chứng minh niềm tin ấy. Và Ơn Chúa đổ tràn cho những ai tin tưởng vào Người.

Trẻ con rất vui khi nhận được quà. Có thể có nhiều em chỉ biết mở nhìn bên trong gói quà. Nhưng chắc chắn sẽ có vài em thắc mắc vì sao mùa Giáng Sinh mà không được nhận quà mang ý nghĩa Giáng Sinh? Vì sao ngày lễ Halloween thì được nhận kẹo bánh và đồ chơi với hình ma quái dị hợm? Vì sao ngày lễ Valentine thì được trao và nhận kẹo bánh với lời yêu thương bạn bè hay những người mình thấy chung quanh mà thôi? Những thắc mắc đó ai là người có trách nhiệm giải đáp một cách khôn ngoan ngoài cha mẹ các em ra? Nếu mang danh là một Giáo Xứ Công Giáo mà không dám mang tin mừng đến cho những trẻ em ngoại giáo, vì sợ họ cảm thấy xúc phạm, thì thật là một điều đáng buồn! Khi các tôn giáo khác mừng ngày lễ Phật Đản hoặc lễ Hanukah (lễ Đèn của người Do Thái), tôi cảm thấy vui với họ. Niềm vui của họ dĩ nhiên không làm cho tôi tự ái tổn thương. Tôi vui với niềm tự hào hãnh diện của họ. Cũng vậy, tôi tự hào chứng tỏ tôi là con của Thiên Chúa tôi như những người đạo giáo khác làm.

Ông Ben Stein, một tài tử khôi hài, và là một luật sư thông minh danh tiếng, người đã từng làm việc với tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford, đã lên tiếng với đài CBS Sunday ngày 18 tháng 12 năm 2005:

“Tôi là người Do Thái, và mỗi một người trong tổ tiên tôi là Do Thái. Không có gì đụng chạm đến tôi cả khi người ta gọi những cây trang hoàng ánh đèn đẹp mắt là cây Giáng Sinh (Christmas tree). Tôi không cảm thấy bị đe dọa. Tôi không cảm thấy bị biệt đãi. Không có gì đụng chạm đến tôi cả khi người ta chúc tôi “Mừng Giáng Sinh”. Tôi không nghĩ người ta đang khinh thường tôi, hoặc sắp sửa đưa tôi vào ố chuột dành cho người Do Thái. Thật ra, tôi thích như vậy. Điều đó chứng tỏ rằng chúng ta là anh chị em đang mừng đón thời gian vui vẻ nhất trong năm. Không có gì đụng chạm đến tôi cả khi thấy một máng cỏ trưng bày ngay trên đường giao thông chính gần khu nhà tôi tại Malibu. Nếu người ta muốn một hang đá, thì đối với tôi chuyện đó giống như cây đèn chín ngọn của Do Thái giáo cách đó vài trăm dặm.

Tôi không thích bị lấn áp vì làm người Do Thái, và tôi cũng không nghĩ Kitô hữu thích bị lấn áp vì làm Kitô hữu. Tôi nghĩ những người tin vào Thiên Chúa chán ghét bị xô đẩy, chấm hết. Tôi không hiểu từ đâu ra cái khái niệm cho rằng nước Mỹ là một quốc gia dứt khoát vô thần. Tôi không tìm được điều đó trong Hiến Chương và tôi không thích bị dồn nhét khái niệm đó vào cuống họng tôi.”

Khi con gái ông Billy Grahm, một mục sư trứ danh người Tin Lành, được hỏi “Tại sao Thiên Chúa lại để những thiên tai xảy ra? “ (nói về trận bão Katrina ngày 29 tháng 8 năm 2005), bà Anne Graham Lotz trả lời:

“Tôi tin rằng Thiên Chúa rất buồn vì sự việc này, giống như chúng ta vậy. Nhưng bao nhiêu năm nay, chúng ta xua đuổi Chúa ra khỏi trường học, xua đuổi Chúa ra khỏi chính phủ, và xua đuổi Chúa ra khỏi cuộc đời của chúng ta. Là một Đấng quân tử, Ngài từ tốn rút lui. Làm sao chúng ta đòi hỏi Thiên Chúa ban phép lành và bảo vệ của Ngài trong khi chúng ta đòi hỏi Ngài để mặc kệ chúng ta?

Trong những sự việc xảy ra gần đây … khủng bố hành hung, bắn giết ở trường học, v.v… Tôi nghĩ rằng mọi việc bắt đẩu khi Madeleine Murray O’Hare (cô ta bị ám sát, thi thể mới được tìm ra) than phiền rằng cô ta không muốn cầu nguyện trong trường học, chúng ta đồng ý. Rồi có người nói chúng ta không được đọc Kinh Thánh trong trường học, Kinh Thánh khuyên không được giết người, không được trộm cắp, và thương yêu đồng loại, và chúng ta đồng ý.

Rồi khi Tiến Sĩ Benjamin Spock nói chúng ta không được đánh phạt con cái khi chúng làm sai, vì như vậy sẽ ung nhọt cá tính con trẻ và tổn thương lòng tự trọng của chúng (con trai của Tiến Sĩ Spock đã chết vì tự tử). Chúng ta bảo rằng người có kinh nghiệm biết mình nói gì. Và chúng ta đã đồng ý.

Bây giờ chúng ta tự hỏi tại sao con cái chúng ta không có lương tri, không phân biệt phải trái, và không cảm thấy đau buồn để giết khách lạ, bạn học, và cả chính chúng nữa.

Có thể, nếu chúng ta suy nghĩ kỹ, chúng ta sẽ nhận ra. Tôi nghĩ mọi chuyện bắt nguồn từ chỗ “CHÚNG TA GẶT NHỮNG GÌ CHÚNG TA GIEO.”

Buồn cười thay khi thật đơn giản cho nhiều người chối bỏ Chúa và tự hỏi tại sao thế giới đang đi vào địa ngục.

Buồn cười thay khi chúng ta tin vào truyền thanh và truyền tin nhưng lại đánh dấu hỏi về Kinh Thánh.

Buồn cười thay khi chúng ta gởi chuyện cười qua điện thư và những chuyệc cười đó loan nhanh như lửa rừng, nhưng lại suy đi nghĩ lại về việc loan báo những mẫu tin về Thiên Chúa.

Buồn cười thay khi những trang báo dâm dật, tàn bạo, thô bỉ, và khiêu dâm lan tràn tự do trên mạng lưới thế giới, nhưng chuyện bàn tán công khai về Thiên Chúa lại bị đè nén nơi trường học và công sở.”

Dù sao tôi cũng biết ơn Giáo Xứ đó đã cho tôi một cái nhìn lại về đức tin của tôi. Xin cảm tạ Thiên Chúa mang đến cho nước Mỹ nói riêng những ngày nghỉ lễ lớn nhất và rộn ràng nhất trong năm. Xin cảm tạ người người cùng tôi nô nức đón mừng ngày đại lễ. Trong tâm tình đó, tôi không còn khó chịu khi nghe nói “Happy Holidays” nữa, vì “Holidays” nghĩa là “Holy Days.” Xin gởi đến quý bạn xa gần lời chúc được hân hoan gói ghém trong mảnh giấy của mùa Giáng Sinh:

Happy Holy Days! Mừng Ngày Thánh Thiêng!
Merry Christmas! Chúc Mừng Giáng Sinh!


Cọng Rơm
Is Christmas an Offense?

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Image
Sứ quán hay “Xú quán”?


Với đa số người Việt hiện đang kinh doanh, học tập, mưu sinh tại Đông Âu (các nước trong phe XHCN cũ) thì Sứ quán Việt Nam, Lãnh sự quán Việt Nam là nỗi ám ảnh, là cái máy chém vào túi tiền của họ khi gia hạn gấy tờ và các thủ tục hành chính liên quan.

Cái máy chém “đậm đà bản chất đông người vì ít người” thể hiện rõ ở cách làm việc, ứng xử của nhân viên Lãnh sự được gọi là “lãnh đủ” hành công dân nước CHXHCNVN chẳng khác gì chị Dậu, anh Pha thời thực dân phong kiến khi có việc phải tới cửa quan!

Bản tính của một cá nhân rất khó thay đổi chứ khoan nói tới bản chất một chế độ độc tài toàn trị thay đổi theo kiểu một chính trị gia Đông Âu trước biến cố vào cuối thập niên tám mươi thế kỷ hai mươi từng hy vọng:..”Chủ nghĩa Xã hội mang bộ mặt con người…” Sứ quán, Lãnh sự, hay bất kỳ một cơ quan ngoại giao của chế độ này cũng chẳng bao giờ (vĩnh viễn thế) mang bộ mặt con người trong cách ứng xử với công dân của mình. Cách đây chưa lâu, người Việt mang hộ chiếu Việt mỗi khi về thăm “nước quen”, người thân vẫn phải xin visa như người “nước lạ”. Sự thật chua xót và đậm chất hài hước đó có khác gì khi những đứa con về thăm bố mẹ đẻ ra mình phải qua cơ quan ngoại giao Việt Nam xét nghiệm ADN để chứng minh khổ chủ chính là con ruột mà bố mẹ mình mang nặng đẻ đau (!?).

Trong một môi trường mà đa phần các công bộc đầy tớ sống bằng tiền đóng thế của nhân dân quay sang “hành dân là chính” đẻ ra những quy định quái dị làm nhanh, làm chậm nâng tiền thu tuỳ tiện bất chấp quy định của Bộ tài Chính, Ngoại giao như Lãnh sự quán Việt Nam tại Cộng Hoà Tiệp đã trở thành một tiền lệ mà cộng đồng chúng ta mặc nhiên công nhận nó, tặc lưỡi cho được việc để rồi sau đó nói thầm thôi thì đừng giây với…hủi! Chính sự cam chịu đó là mảnh đất mẩu mỡ cho tệ nạn tiêu cực thò cái vòi bạch tuộc hút đồng tiền mồ hôi xương máu, một nắng hai sương mà chúng ta cóp nhặt trong cuộc mưu sinh ngày một khó khăn.

Hình ảnh lem nhem của không ít nhân viên ngoại giao phải xách va li về nước khi chưa hết thời hạn, bị nước sở tại lệnh trục xuất trong vòng hai mươi tư tiếng như ông Phạm Minh Chiến mới đây là một trong rất nhiều vết nhơ về tư cách nhân viên Lãnh sự quán Việt Nam tại Tiệp. Tội của ông Chiến là lợi dụng biển số xe ngoại giao cho những người “trồng cỏ” (may là ở Tiệp) chứ với tôi này ở Việt Nam chắc ông Chiến phải bóc lịch trong tù từ mười tới mười năm năm là ít. Nhắc tới ông Chiến là không ít người trong cộng đồng chúng ta vẫn nhớ tới một người còn trẻ, nhưng hách dịch, hỗn láo, xưng hô xấc xược với cả người đáng tuổi cha chú ông ta khi lên Lãnh sự làm giấy tờ. Ông này còn có hỗn danh ăn tạp, ăn bẩn, ăn công khai, tạo cớ để ăn. Ông Phạm Minh Chiến chỉ là một ví dụ, một “đồng chí bị lộ” trong rất nhiều “đồng chí chưa bị lộ” tại Lãnh sự quán. Trước ông Chiến cũng có một vài “đồng chí” đang “vui vẻ sống đột nhiên từ trần”. Khỏi phải kể, ai ở Tiệp lâu cũng biết.

Một người bạn của tôi, quốc tịch Tiệp lên Lãnh sự xin visa về Việt Nam nộp tiền đúng theo quy định, anh nhất định không lấy nhanh theo gợi ý sỗ sàng mà cứ đủng đỉnh với suy nghĩ việc gì phải vội. Khi lấy visa, anh bị đòi nộp thêm tiền vì lấy chậm 3 ngày. Nhanh cũng mất, chậm cũng mất hoàn toàn không có văn bản quy định. Phải nói cách vặt tiền của nhân viên Lãnh sự quán đã đạt tới “đỉnh cao trí tuệ”, hay là điều này có trong giáo trình đào tạo nhân viên ngoại giao của nước CHXHCN Việt Nam?

Nhiều người làm dịch vụ đã thốt lên, Sứ quán cải trang đi với tôi vào chợ gặp người mình hỏi họ nghĩ gì khi gia hạn giấy tờ hoặc các thủ tục hành chính tại Lãnh sự? Tin chắc nhân viên Sứ quán sẽ nghe những lời ca thán, thậm chí, xin lỗi không ít người sẽ văng tục giải toả ẩn ức mà họ phải cam chịu.

Cái bi kịch khi cộng đồng chúng ta bị vắt tiền trắng trợn mà phải câm lặng sao mà buồn đến thế? Bị xéo mãi chẳng thấy quằn. Hy vọng có cuốn sổ góp ý, hy vọng nhân viên đeo bảng tên cũng mãi là giấc mơ hồng, hy vọng vào sự tử tế lương thiện sao mà khó thế Bác Hồ ơi!

Trong số người im lặng đó, có không ít những người lính vào sinh ra tử coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, không ít những trí thức khoa bảng, những người dân chân chất lương thiện mà nay phải sống trong sự sợ hãi với chính các đầy tớ được trả lương bằng tiền thuế của nhân dân, của họ. Phải chăng sự câm nín đã nuôi dưỡng cái xấu, cái ác, nếu đúng là như thế, phần nào, sự im lặng chính là đồng loã.

Sứ quán, giờ đã thành Xú quán! Tới bao giờ chúng ta không phải ngửi cái mùi xú uế ấy?

Đã bao giờ các bạn tự đặt ra câu hỏi ấy chưa? Nếu đã đặt ra bạn sẽ biết cách trả lời.

Dân Đen
(Gửi tới từ Praha, Cộng hòa Séc)
© Đàn Chim Việt

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

KHÔNG CHO MỘT CẮC

Hoàng Nguyên

Kính thưa qúy vị,

Trong những năm gần đây, nhiều tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện, ngay cả tổ chức chính trị, đă có nhiều hoạt động giúp đỡ nhân đạo cho đồng bào trong nước. Người thì giúp cô nhi, kẻ mổ mắt mổ miệng, có vị thì góp tiền xây nhà thương, xây trường học, cứu trợ thiên tai. Chúng tôi có một anh bạn, thật hào phóng, sẵn sàng vung tay gấp đôi người tặng số tiền quyên góp cao nhất trong đêm gây quỹ. Thưa qúy vị, nhưng riêng cá nhân chúng tôi thì một cắc tôi cũng chưa từng cho, và cũng không định sẽ cho một cắc bạc nào cả.


Thưa qúy vị, không quyên góp từ thiện, giúp đỡ đồng bào, nghe qua thật là keo kiệt, nếu không muốn nói là vô nhân đạo, vô nhân tính, nhưng chuyện vô nhân như vậy thì sao không giấu kín trong bụng mà lại mang ra công bố cùng thiên hạ? Chẳng lẽ tôi muốn bị người đời nguyền rủa ư? Dĩ nhiên là không, và tôi cũng chẳng đến nỗi vô nhân tính như vậy, vì tôi sẵn sàng giúp đỡ cho một số đồng hương, nhưng không phải là đối tượng nhân đạo bên trên.


Thưa qúy vị, nếu ông Nguyễn Minh Triết, nếu những đảng viên lănh đạo có hàng trăm triệu đô la chịu bỏ nửa gia tài của họ ra quyên góp cho đồng bào lầm than, thì cá nhân chúng tôi sẵn sàng bỏ hết cả gia tài ra góp chung với họ. Những nhà lănh đạo VN hiện nay là những người có trách nhiệm cao nhất trong việc cứu dân, nhưng trong khi dân chúng cùng khổ, thì các cậu ấm cô chiêu con cái của họ ăn chơi một đêm bằng số tiền người thường kiếm trong một năm. Từ đâu mà các nhà lănh đạo VN có hàng trăm triệu đô la đầu tư ở ngoại quốc và cho con cháu ăn chơi xả dàn như vậy? Không có một người nào, dù nhịn ăn nhịn mặc, có thể dành dụm số tiền kếch sù đó, nếu không tham nhũng.


Kính thưa qúy vị, số tiền triệu tỉ của những nhà lănh đạo tham nhũng đó đáng lẽ phải được dùng để nuôi trẻ mồ côi, để mổ mắt người mù, để xây nhà thương, để mở trường học, nhưng nó lại nằm rủng rỉnh trong trương mục ngân hàng Thụy Sĩ, hay chôn vào những bất động sản, chứng khoán ngoại quốc. Còn chúng ta, những người từ tâm, thì nai lưng ra làm thay điều mà các nhà lănh đạo CSVN phải làm. Mỗi một đồng bạc chúng ta giúp đồng bào, là một đồng bạc rớt thêm vào túi của tập đoàn lănh đạo tham nhũng.


Các nhà lănh đạo CSVN lập luận rằng nước ta còn nghèo, và kêu gọi người Việt hải ngoại góp tay giúp đồng bào trong tinh thần nhân đạo. Tôi xin hỏi lại, nước ta còn nghèo sao các ông bà Việt Cộng lại giàu như vậy?


Nhưng kính thưa qúy vị, nhiều người quan niệm rằng tinh thần nhân đạo không có biên giới, nó vượt trên chính trị, trên tất cả. Nếu CSVN không giúp đồng bào, mà ta cũng không giúp, thì ai giúp họ?


Thưa qúy vị, câu trả lời của chúng tôi là "họ phải tự giúp họ". Họ đây không phải là cô nhi, người tàn tật, mà tất cả đồng bào trong nước. Chỉ cần đồng bào có được số tiền mà các quan chức VN đă tham nhũng, thì có lẽ đủ xây cả ngàn nhà thương và trường học. Lúc ấy, không cần các bác sĩ hải ngoại về VN mổ mắt mổ miệng cho năm bảy xóm, không cần chúng ta chắt mót gởi tiền về xây một vài trường làng, mà toàn dân VN đều có nhà thương, trường học. Nhưng có ông cán bộ nào dốc túi đâu, họ đă và vẫn đang tận tình vơ vét.


Kính thưa qúy vị, chính người CS đă dạy rằng ở đâu có áp bức, thì ở đó có đấu tranh. Người ta càng cùng khổ, uất hận thì sức đấu tranh càng mănh liệt. Giúp đỡ đồng bào tức là giảm sự đau khổ của họ, đồng thời cũng làm giảm sức đấu tranh. Và rồi các bố già Bắc Bộ Phủ ngày càng giàu "nức rún", ngồi trên đầu trên cổ đồng bào mà phè phỡn, còn chúng ta thì đi cày để làm thiện nguyện thay cho họ. Chừng nào đồng bào mới hết khổ? Một vài phái đoàn bác sĩ có đủ để cho tất cả người mù VN sang mắt chăng? Chắc chắn là không.


Thưa qúy vị, anh bạn hào phóng trong việc quyên góp từ thiện cho biết là anh không hứng thú với việc góp tiền liên quan đến chính trị, song cá nhân chúng tôi thì ngược lại. Bên trên chúng tôi có nói sẵn sàng giúp đỡ một số đồng bào, và kính thưa qúy vị, chỉ có hai giới người mà chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ, một là các nhà đấu tranh cho dân chủ VN, hai là các thương phế binh VNCH.


Các nhà đấu tranh dân chủ là những người đang cố gắng giải quyết tận gốc sự lầm than của cả dân tộc. Muốn nước Việt giàu thì tiền của phải phân chia công bằng. Không thể nào một người làm trong chính quyền thì có thể làm ra hàng trăm triệu, còn một người dân đen cày quần quật cả đời cũng không mua nổi một miếng đất cắm dùi. Ở đây tôi chưa đ̣i hỏi tự do hay dân chủ, mà tôi đ̣i hỏi một sự công bằng. Sự công bằng này người CS đă hứa hẹn, và đă thực hiện ngược lại lời hứa. Người Việt trong nước không tự đứng lên cứu mình trước, thì không ai giúp nổi họ. Tôi tôn trọng và muốn góp tay với những người có hoài băo cho dân tộc.


Các phế binh VNCH là những cựu thù của Việt Cộng, cũng là những người đă đổ xương máu cho chính nghĩa tự do. Tôi không kỳ vọng Việt Cộng đối xử nhân đạo với họ, và cảm thấy có bổn phận đối với những người đă hy sinh một phần thân thể cho tự do của chúng ta.


Ðó là về phần cá nhân chúng tôi. Còn nếu tôi tự đặt mình vào vị trí của những anh Việt Cộng, thì tôi sẽ mở và khuyến khích thật nhiều tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện, và hí hửng xem họ bỏ công bỏ của xoa dịu đồng bào, để làm giảm sức bật đấu tranh. Biết đâu chừng trong số tiền từ thiện giúp nước của khúc ruột dư ngoài ngàn dặm, tôi lại chẳng chấm mút thêm được chút đỉnh nữa.


Kính thưa qúy vị, chúng tôi kính trọng các vị bác sĩ đă về giúp đồng bào tàn tật một cách thiện nguyện, chúng tôi qúy trọng các tấm lòng nhân của bà con của chúng ta ở hải ngoại, cũng như anh bạn hào phóng được nhắc bên trên. Song một cắc tôi cũng không bỏ ra, cho tới khi nào ông Phan văn Khải, ông Võ văn Kiệt, ông Nguyễn Minh Triết, đám con cháu, dòng họ và lâu la của mấy ổng bỏ ra nửa gia tài, tôi sẽ bỏ hết gia tài ra cứu khổ. Tôi tính vậy cũng hơi khôn, vì nửa gia tài của một vị lănh đạo Việt Cộng chắc cũng vài ngàn lần lớn hơn gia tài khiêm nhường của tôi.

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Những Người Thầy Của Nhà Hiền Triết Khi nhà hiền triết Hồi giáo Hasan sắp qua đời, có người hỏi : "Thưa Hasan, ai là thầy của ngài?"

Hasan đáp: "Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người:Người đầu tiên là một tên trộm. Có một lần ta đi lạc trong sa mạc,khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời:"Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với một tên trộm." Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng!Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo: "Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé!" Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi: "Có trộm được gì không?" và ông ta đều đáp: "Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ". Ta chưa bao giờ thấy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc. Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hằng đêm vẫn quả quyết: "Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ!"

Người thầy thứ hai là một con chó. Khi ta ra bờ sông uống nước,có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng đó là một con chó khác. Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gửi đến cho ta : con người phải biết chiến thắng nỗi sợ trong lòng bằng hành động.

Người thầy cuối cùng là một đứa bé. Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến vừa thắp sáng đặt trong đền thờ. Ta hỏi đứa bé: "Con tự thắp cây nến này phải không?" Đứa bé đáp : "Thưa phải." Đoạn ta hỏi: "Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thoáng sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?" Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói:"Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu?"

Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình.

Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò.

Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò. Điều này có nghĩa là gì ? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Hội chứng khóc lóc ở Bắc Hàn

Đào Hiếu
Viết cho BBCVietnamese.com từ Sài Gòn

Mấy năm trước tôi có nuôi một con chó. Nó rất dễ thương nhưng hay phóng uế bừa bãi.

Nó thường ị ngay trước cửa nhà, tôi tức lắm, dắt nó đến chỗ bãi phân, chỉ cho nó thấy rồi đánh nó. Nó la khóc thảm thiết nhưng rồi vẫn cứ tiếp tục thói quen cũ. Có lần tôi nổi giận đánh nó què chân nhưng vẫn không thay đổi được gì.

Sự trung thành của loài vật

Có điều rất lạ là tuy bị tôi đánh què chân nhưng nó vẫn rất thương tôi. Tôi đi đâu xa về nó đón tôi đầu hẻm, chạy ra mừng, ngoắc đuôi, kêu ăng ẳng, nhào vô người tôi liếm mặt, mừng đến té đái.

Tôi vẫn tự hỏi: tại sao mình đã từng trừng phạt nó tàn nhẫn như vậy, từng đánh nó què chân mà chẳng những nó không oán mình lại còn giữ vẹn tấm lòng trung thành, thương yêu không hề suy suyển?

Nghĩ hoài cũng tìm ra được đáp án: chó là con vật đã được thuần hóa lâu đời, từ nhiều thế hệ, nhiều ngàn năm. Trong đầu nó không còn ý thức về sự phản kháng, sự thù hận, căm ghét chủ nhà. Trong đầu nó chỉ có một ý thức là: VÂNG PHỤC, TRUNG THÀNH, trong đầu nó không hề có ý niệm TỰ DO vì suốt từ đời ông đời cha nó đều làm tôi tớ cho con người, cam chịu đánh đập, xỉ vả, bỏ đói, cam chịu ăn chút cơm thừa canh cặn vì nó nghĩ: trời sinh kiếp chó là phải chịu như thế, không thể khác được. Dù bị hành hạ, bị ngược đãi thậm chí bị giết chóc vẫn cứ trung thành, thương yêu, tôn thờ người chủ của mình như thần thánh…

"Con vật có thể bị thuần hóa. Nhưng con người mà bị thuần hóa đến mức phải khóc thương kẻ đã nô dịch, đã bỏ đói cả dân tộc mình như thế thì tội nghiệp quá. Còn gì là phẩm giá con người nữa hỡi trời!"

Khi con người còn ăn lông ở lỗ thì loài chó sống trong rừng, chúng là những con sói hung dữ. Con người thử đánh nó xem, nó sẽ chồm tới, phủ đầu, cắn cổ chết tươi liền. Nhưng từ khi con người văn minh dần dần, đem con sói về nhà nuôi nấng, dạy dỗ, thuần hóa… thì sói đã biến thành chó nhà và dần dà mất đi ý thức phản kháng, ý thức tự do, cùng lúc sự vâng phục, sự trung thành, sự cam chịu hình thành trong “nhân cách” của chúng như một tập tính, một thuộc tính, một bản tính.

Chủ bỏ đói tôi, đánh tôi, giết tôi… đó là quyền của chủ. Còn tôi thương yêu, trung thành với chủ đó là bổn phận của tôi.

Sự ngu trung của con người

Thời phong kiến xa xưa bọn vua chúa vẫn dạy dân kiểu đó: “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” (vua bảo dân chết, dân mà không chết là không trung thành). Cái ý thức ấy đã trở thành tập tính, thành chân lý, thành đạo đức.

Cho nên xem các phim lịch sử Trung Quốc ta vẫn thấy nhiều cảnh vua “ban” cho một cận thần hay thê thiếp gì đó một chén độc dược hay một dải lụa để tự tử thì nạn nhân phải quỳ xuống khấu đầu lạy: “thần tạ ơn bệ hạ” là cũng nằm trong cái đạo lý ấy. Đó là thứ đạo lý của những loài vật được thuần hóa.

Truyện Đông Chu Liệt Quốc kể rằng Tề Hoàn Công nói với đầu bếp Dịch Nha: “Món gì trẫm cũng từng ăn qua, chỉ có thịt người là chưa ăn”. Hôm sau Dịch Nha dâng lên vua một món thịt, vua ăn, thấy rất ngon, vừa mềm vừa có hương vị lạ, bèn hỏi đó là thịt gì, Dịch Nha thưa: “Hôm qua bệ hạ nói rằng chỉ có thịt người là chưa được ăn vì thế thần đã làm thịt đứa con trai của mình để dâng lên bệ hạ.”

Sự quy phục mà đạt đến mức đó thì người đã biến thành súc sinh rồi. Xã hội phong kiến xưa không những đã tạo ra một lớp người được thuần hóa mà còn biến họ thành súc sinh.

Tình yêu lãnh tụ

Truyền thông Bắc Triều Tiên nói hàng triệu người dân nước này "chìm trong nỗi đau khôn tả" trước tin ông Kim Jong-il qua đời.

Ngày 17/12/2011 Chủ tịch Kim Jong-il chết trên một chuyến xe lửa. Ông là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Bắc Hàn mặc dù trên thế giới ai cũng biết đây là một trong những nước nghèo nàn lạc hậu nhất thế giới.

Hàn Quốc đã từng viện trợ cho Bắc Hàn thuốc men, mì gói, đồ ăn cho trẻ em và các vật phẩm khác với tổng trị giá hơn bốn triệu đôla, đồng thời bác bỏ lời đề nghị của Bắc Hàn muốn được viện trợ xi măng, vật tư xây dựng vì sợ chính quyền Bình Nhưỡng có thể chuyển chúng cho quân đội sử dụng.

Hàn Quốc cũng đã đóng góp tổng cộng 13,12 triệu đôla cho WHO để viện trợ nhân đạo cho Bắc Hàn trong năm 2009.

Theo Tổ chức Ân xá quốc tế thì người dân ở Bắc Hàn có nơi phải ăn cả cỏ dại, vỏ cây và rễ cây để sống qua ngày.

Khi Chủ tịch Kim Jong-il qua đời, nhiều người bạn gặp tôi, thắc mắc tại sao một nhà lãnh đạo chỉ biết củng cố quyền lực của phe nhóm mình, bỏ dân đói khổ, rét mướt, lầm than như thế mà khi chết đi người dân lại khóc lóc thảm thiết, kẻ thì đập đầu vào cầu thang, kẻ thì lăn ra đất, người thì ôm mặt kêu trời, nước mắt ràn rụa?

Khi nghe câu hỏi ấy, tôi nghĩ đến con chó của tôi. Tôi đã trừng phạt, bỏ đói nó, đã đánh nó què chân vậy mà khi tôi đi xa về nó vẫn mừng đến té đái. Tôi cũng nghĩ đến những ông quan dưới thời phong kiến bên Tàu khi được vua “ban” cho chén thuốc độc mà còn phải khấu đầu lạy tạ ơn.

Con vật có thể bị thuần hóa. Nhưng con người mà bị thuần hóa đến mức phải khóc thương kẻ đã nô dịch, đã bỏ đói cả dân tộc mình như thế thì tội nghiệp quá. Còn gì là phẩm giá con người nữa hỡi trời!

*

Triều Tiên là một dân tộc anh hùng. Trong Thế chiến thứ 2 họ đã đánh đuổi đế quốc Nhật, trong hòa bình họ đã xây dựng một Hàn Quốc giàu mạnh, văn minh và hiện đại, không hề thua kém các nước châu Âu, được xếp thứ 15 trên thế giới. Dân tộc ấy đã sản sinh ra những tên tuổi lớn trong điện ảnh và ca nhạc như: Han Ga In, Jang Dong Gun, Bi Rain, Song Hye Kyo, và trong bóng đá như Jong Tae-Se (Bắc Hàn), Park Ji Sung (Hàn Quốc)…

Vì đâu mà một dân tộc ưu việt như thế lại phải lâm vào thảm cảnh như hiện nay? Vì đâu mà họ phải khóc lóc thảm thương như vậy? Viết đến đây tôi chợt nhớ hình ảnh một bé gái trạc mưởi một mười hai tuổi, đẹp như thiên thần đã tham dự vào trận khóc lóc bi thương ấy.

Mặt em đầm đìa nước mắt. Những giọt nước mắt ấy không làm tôi xúc động nhưng lại rất đau xót. Trời ơi! một em bé trong trắng, xinh đẹp như thế lẽ ra phải được ngồi bên chiếc đàn piano, bàn tay lướt đi theo những giai điệu đẹp đẽ. Sao em không được làm người tự do? Sao em không được sống hồn nhiên mà lại phải nằm lăn lộn khóc lóc cho một gia tộc đã, đang và sẽ kéo cả một nửa dân tộc Triều Tiên vào thời kỳ bộ lạc?

Rất may là em đã không bị bọn nịnh thần làm thịt để nấu món ăn dâng lên lãnh tụ như anh chàng Dịch Nha thời Xuân Thu nọ.

Post Reply