Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tại sao người đàn bà hay khóc

Sau cùng chịu hết nổi cậu đi hỏi Thượng đế và Thượng đế trả lời: “Khi ta dựng nên người đàn bà, ta muốn bà là một người thật đặc biệt. Ta dựng hai vai bà thật khỏe để có thể vác được tất cả sức nặng trên thế giới này và đôi cánh tay của bà mềm mại để an ủi.”

Image
Ảnh minh họa

Một cậu bé hỏi mẹ: “Tại sao mẹ khóc?”
Mẹ cậu trả lời: “Tại mẹ là đàn bà.”
Cậu hỏi lại: Con không hiểu?
Nhưng bà mẹ ôm cậu vào lòng và nói:
“Con chẳng bao giờ hiểu, nhưng không sao đâu.”
Một lúc sau, cậu bé lại hỏi bố: “Tại sao mẹ khóc không nguyên nhân hở bố?”
Bố trả lời cho xong: “Ừ đàn bà hay khóc vô lý lắm.”
Và rồi khi cậu bé bắt đầu trưởng thành, cậu vẫn còn thắc mắc tại sao đàn bà hay khóc.
Sau cùng chịu hết nổi cậu đi hỏi Thượng đế và Thượng đế trả lời: “Khi ta dựng nên người đàn bà, ta muốn bà là một người thật đặc biệt. Ta dựng hai vai bà thật khỏe để có thể vác được tất cả sức nặng trên thế giới này và đôi cánh tay của bà mềm mại để an ủi.”
Ta dựng bà có sức chịu đựng lúc sanh nở cũng như những lúc con cái bạc đãi bà.
Ta dựng bà vững lòng để giúp gia đình, bạn bè, hoặc những ai nản lòng vì đau yếu, mệt mỏi nhưng riêng bà, bà không bao giờ than trách..
Ta dựng bà thật nhiều nhậy cảm để yêu các con trong bất cứ hoàn cảnh nào. Dù con bà làm bà đau đớn tận cùng…..
Ta dựng bà có khả năng đặc biệt để giúp con trẻ cảm thấy an lòng, an ủi những em vị thành niên trong lúc lo lắng, sợ hãi.
Ta dựng bà có sức mạnh để chăm sóc người chồng, mặc dù khiếm khuyết đã lấy cạnh sườn của ông để dựng nên bà rồi bà lại là người chăm sóc quả tim của ông.
Ta dựng bà khôn ngoan để biết chồng bà sẽ không bao giờ làm buồn lòng bà, nhưng ta vẫn để bà phải có sức chịu đựng để luôn luôn đứng cạnh ông, để ông khỏi vấp ngã.
Tất cả những sự khó mà bà đã gặp ta phải cho bà giọt nước mắt để chảy ra. Và bà sẽ khóc khi bà cảm thấy cần, đó là yếu điểm duy nhất của bà..
Vậy khi con thấy mẹ con khóc, hãy nói với bà “ con yêu bà thật nhiều” dù là bà sẽ còn khóc , nhưng con đã làm trái tim bà cảm thấy hạnh phúc.

Mẹ con là người đàn bà tuyệt diệu.

Ca Te

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Văn Hoá “cà chớn” Văn Quang ( Viết từ Sài Gòn )



Tôi ngần ngại mãi khi viết đến hai chữ “cà chớn” này. Bởi cà chớn khó định nghĩa như thế nào cho chính xác. Cà chớn không hề có nghĩa là láo lếu, cũng không có ý nghĩa là xấu xa, nhảm nhí. Thí dụ bạn hẹn một người bạn đi uống cà phê, nhưng anh ta đến muộn, bạn phán là “thằng cà chớn”. Vậy không có nghĩa là anh bạn kia là một người bạn xấu. Hoặc bạn nghe một người bạn nào đó đùa dai một câu như “trông cô gái kia phốp pháp, có vẻ hạp với ông đấy”. Bạn chỉ có thể kết tội anh ta là cà chớn chứ không thể cho là anh ta nói láo. Đôi khi nó có nghĩa là xấu, đôi khi nó có nghĩa là vui đùa, đôi khi nó có nghĩa là không tốt, không xấu nữa. Thí dụ bạn nói về một người bạn rằng: “Thằng ấy nó cà chớn thế thôi chứ không xấu bụng đâu”. Vậy cà chớn là không tốt cũng không xấu.

Minh định về hai tiếng “cà chớn”

Xem ra hai tiếng “ cà chớn” này rất khó dịch sang tiếng nước ngoài. Xin nhờ các dịch giả, các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học làm ơn dịch giùm. Tôi cứ nghĩ, nếu không là người VN thì khó mà hiểu nổi “cà chớn” có nghĩa là gì. Tuy nhiên người VN nào cũng có thể cảm nhận được, hiểu ngầm được hai tiếng này. Nhóm chữ “văn hoá cà chớn” tôi dùng ở đây mang tất cả các ý trên.

Lại cũng xin xác minh rằng hai tiếng “cà chớn” đã có từ thời xa xưa chứ không phải chữ nghĩa hay lời nói mới phát sinh vào thời đại ngày nay ở VN (không phải chữ nghĩa VC). Tôi nhớ rằng khi còn nhỏ, khoảng trên dưới 10 tuổi, mỗi buổi chiều khi tôi mê đá bóng hay đánh bóng chuyền, bóng bàn, về nhà trễ, tôi thường bị anh tôi mắng là “thằng cà chớn”. Tôi nghĩ ông ấy đã dùng chữ này thật chính xác. Nếu tôi mê đánh đinh đánh đáo, anh tôi có thề mắng là “thằng bố láo, thằng lười, ham chơi hơn thích học”, nhưng tôi mê thể thao cũng như ông ấy thì ông không dùng chữ “láo” được mà chỉ có thể có thể cho tôi là “thằng cà chớn” là đúng nhất. Đôi khi người ta còn dùng là “cà chớn, cà cháo”, nhưng chữ “cháo” này không có nghĩa gì khác cả, chỉ là câu nói quen miệng cho trơn, cho xôm tụ thôi. Nhưng khi người ta nói “người ngợm đâu mà bẩn thế”, chữ “ngợm” ở đây có thêm nghĩa nghĩa xấu, chứ nói nói về một người tốt, không ai thêm chữ “ngợm” vào cả. Thế mới biết chữ nghĩa Việt Nam thâm thuý lắm. Cũng cùng một nhóm chữ, nhưng mỗi trường hợp phải được hiểu theo một ý khác nhau và hiểu được đúng lại càng khó. Đôi khi chỉ còn là sự cảm nhận của những người cùng chung một dân tộc, một huyết thống.

Tác phẩm cà chớn trên thị trường chữ nghĩa

Trong những ngày gần đây, tại VN rộ lên những cái gọi là “tác phẩm văn học” được một vài nhà xuất bản tung ra thị trường chữ nghĩa rồi lại bị thu hồi khiến nó bỗng nổi tiếng và được nhiều người tò mò tìm đọc. Cái trò sách bị tịch thu bao giờ cũng bán chạy, tưởng như một “nghịch lý” mà không phải “nghịch lý” này trở thành một chiêu quảng cáo rất hấp dẫn, mang lại kết quả rất béo bở cho mấy nhà phát hành. Hai cuốn sách đã cho xuất bản, bày bán cả mấy tháng trời mới bị tịch thu. Đó lá cuốn “Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông” và cuốn “Sát thủ đầu mưng mủ”.

Cuốn sách “Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông (tập truyện ngắn của Nguyễn Vĩnh Nguyên, Sách Phương Nam & NXB Hội Nhà Văn 2011) sẽ phải thu hồi trong vòng 10 ngày, theo quyết định của chánh thanh tra Sở Thông tin – truyền thông TP.HCM ký ngày 1-11. Quyết định này còn buộc Công ty Sách Phương Nam phải nộp phạt 7,5 triệu đồng do cuốn sách trên “truyền bá lối sống dâm ô đồi truỵ, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam”. Cuốn sách này gồm 13 truyện ngắn, được phát hành trên toàn quốc từ tháng 4-2011, tuy nhiên đến nay chỉ có TP.HCM quyết định tịch thu sách. Hiện đang gây nhiều tranh cãi, và khi tôi ra nhà sách chuyên “bán lậu” loại này cũng hết nhẵn.Vậy chúng ta sẽ bàn đến khi tôi mua được sách “lậu” kia.

Trong bài này, tôi điểm qua cuốn sách được coi là rất kỳ cục cũng vừa bị tịch thu. Đó là cuốn “Sát thủ đầu mưng mủ”. Mời bạn đọc nhìn vào nội dung cuốn sách xem nó mang lại những gì cho độc giả.


“Sát thủ đầu mưng mủ” là cái quái gì vậy?


Trước hết, ngay cái tên truyện “SÁT THỦ ĐẦU MƯNG MỦ” chẳng mang một ý nghĩa nào chứ đừng nói đến ý văn học hay giáo dục. Nó cũng chẳng là thứ truyện bằng tranh giải trí cho trẻ em. Nó có phần nào phản ảnh được tâm trạng… bừa phứa, ăn nói lung tung, kém văn hoá của một số lớp trẻ hiện nay ở các thành phố lớn mà người ta thích gọi là “tuổi teen”.

Cuốn sách “Sát thủ đầu mưng mủ” do Công ty Văn Hoá Truyền thông Nhã Nam đặt hàng cho hoạ sĩ Thành Phong thực hiện và ông hoạ sĩ này đã mất 5 tuần để thực hiện các bức tranh. Mỗi bức tranh mang một “thành ngữ” mà ông tự nhận đây là cuốn sách thu thập “các thành ngữ sành điệu” của giới trẻ. Vậy sự “sành điệu” đó như thế nào?

Từ trang bìa đến nội dung cuốc sách, người đọc được giới thiệu những bức vẽ có phần dễ dãi như loại biếm hoạ trên các trang báo hàng ngày, mục đích có lẽ chỉ để chọc cười. Cuốn sách tập hợp 120 câu nói thông dụng, cửa miệng hiện nay của giới trẻ như "Ngất ngây con gà tây", "Phi công trẻ lái máy bay bà già", "Thuận vợ thuận chồng, con đông mệt quá", "Tào lao bí đao", "Tự nhiên như cô tiên", “Xấu nhưng biết phấn đấu", "Đói như con chó sói", “Một con ngựa đau, cả tàu được thêm cỏ”, “Một điều nhịn là chín điều nhục”, “Cái khó ló cái ngu”...

Sự phản bội văn hoá và đạo đức dân tộc


Cuốn sách “Sát thủ đầu mưng mủ” được phát hành trong tháng 10-2011. Vừa “ra lò”, nó đã nhanh chóng trở thành “cẩm nang” của hầu hết giới học sinh thành phố. Đọc những câu cú trên đây, hẳn bạn đọc đã thấy rõ có những câu vô nghĩa bị kết tội là rẻ tiền, là làm nghèo tiếng Việt cũng không sai. Cứ cái đà ấy cuốn sách kéo dài một cách trơ trẽn, đầu độc những cái đầu non trẻ. Chúng sẽ dựa vào sách để bắt chước, “sáng tạo” ra những câu cú tục tĩu, kỳ quái hơn nữa. Đã có rất nhiều ý kiến phản đối kịch liệt, cho rằng đây là một cuốn sách nhảm nhí, xuyên tạc thành ngữ, tục ngữ Việt Nam và làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Chị Thanh Hà, một nhân viên ngân hàng lên tiếng: “Tôi không hiểu vì sao một cuốn sách nhảm nhí như vậy lại được kiểm duyệt để xuất bản. Những câu thành ngữ, tục ngữ của cha ông như “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ” bị cải biên, xuyên tạc một cách trắng trợn. Thử hỏi, với các cháu nhỏ lứa tuổi tiểu học khi cầm những cuốn sách này, các cháu sẽ học được điều gì?”.

Hoặc những câu “Có chí thì ghê”, xuyên tạc mất ý nghĩa giáo dục tinh thần của câu “Có chí thì nên” của ông cha ta bao đời để lại cho con cháu noi theo. “Một điều nhịn là chín điều nhục”, “Cái khó ló cái ngu”… toàn là những câu phản lại truyền thống đạo đức VN.

Việc phổ biến rộng rãi những câu nói này sẽ hình thành trong giới trẻ thói quen ăn nói hời hợt, nghèo nàn về văn hoá, thậm chí phản bội văn hoá. Vì thế, không thể in thành sách những câu nói như vậy. Đúng là một cuốn sách cà chớn chưa từng thấy trong lịch sử xuất bản văn học VN.

Vậy mà nó còn được bán ra thế giới!!!


Cuốn “Sát thủ đầu mưng mủ” xuất hiện trên trang bán hàng trực tuyến Amazon (ấn bản Kindle, sách điện tử) với giá 7,99 USD. Sách được bán theo nhượng quyền xuất bản ở Mỹ giữa công ty Nhã Nam - Nhà xuất bản Mỹ Thuật với Indochine Media Inc, một công ty truyền thông có trụ sở tại Milpitas, California.

Theo ông Dương Thanh Hoài, Phó giám đốc công ty Nhã Nam, thủ tục chuyển nhượng quyền xuất bản “Sát thủ đầu mưng mủ” ra thị trường Mỹ và quốc tế đã được thực hiện ngay từ khi cuốn sách ra mắt bạn đọc trong nước, chứ không phải sau khi bị ngưng phát hành. Ông Thanh Hoài cho biết: “Chúng tôi rất vui vì đây là lần đầu tiên sách Việt Nam có thể xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, phục vụ cho những người Việt Nam muốn biết thêm về cái mới trong lời ăn tiếng nói, ngôn ngữ trong nước".

Bạn Nguyễn Huy Trường phản ứng ngay trên báo: “Khác gì một sự sỉ nhục tiếng Việt. Cuốn sách đầu tiên được xuất bản ra Thế Giới..là thế này đây? Nhiều lúc không hiểu các bác ấy nghĩ gì nữa, vì vài đồng tiền mà đem một sự bôi nhọ Văn hoá VN ra bán cho thế giới? Buồn cười với câu nói của ông Phó GĐ Nhã Nam “ ....cái mới trong lời ăn tiếng nói, ngôn ngữ trong nước". Ông cho cái này là cái mới, cái tiến bộ sao?”

Và cũng ở trên mạng, một độc giả đã cảnh báo: “Vậy thì hãy chuẩn bị tư tưởng để chấp nhận việc một ngày nào đó, con cháu các anh chị sẽ nghêu ngao rằng : “Công cha như miếng rau câu./ Nghĩa mẹ như nước trong cầu chảy ra”.

Nếu thế thì chẳng còn gì để nói. Sự xuống cấp của văn hoá đến thế là cùng. Chắc bạn không ngờ được!


Một vài nhận định về “văn hoá nghị trường”

Vào những ngày giữa tháng 12 này, câu chuyện thời sự nóng bỏng nhất tại VN là việc bất ngờ tăng giá điện kể từ 20-12-2011, đúng vào thời điểm cuối năm và chính phủ đang ra sức kiềm chế lạm phát, bình ổn giá cả thị trường. Người dân coi đó là “cú đánh úp” vào đầu dân của ông Điện Lực VN. Tiếng ca thán nổi dậy đầy rẫy trên mặt báo và trong từng con hẻm nhỏ. Tuy nhiên, chúng ta hãy đợi xem hậu quả của “cú đánh úp” này đi đến đâu, dịp khác chúng ta sẽ bàn tới. Trong mấy tuần vừa qua, có 3 bài cần thiết về cách chữa bệnh ung thư và tiểu đường được nhiều bạn đọc quan tâm, nên có một số tin thời sự, tôi phải gác lại. Nay xin tiếp tục về vài diễn biến trong lãnh vực thời sự vừa qua.

Trong tuần cuối tháng 11 -2011, sự kiện được người dân trong và ngoài nước VN chú ý đến nhiều nhất chính là lời tuyên bố của người đứng đầu chính phủ VN Nguyễn Tấn Dũng trước quốc hội khẳng định về chủ quyền của VN ở Hoàng Sa và Trường Sa. Tin này đã được rất nhiều cơ quan thông tin bình luận nên tôi không nhắc lại.

Cũng trong kỳ họp này, còn có một số bộ trưởng những bộ được coi là “nóng” nhất đã đăng đàn trả lời các đại biểu (ở VN gọi các dân biểu hay là đại biểu). Không thể đi vào chi tiết quá dài dòng, ở đây tôi điểm qua một nét chính tượng trưng, trong những câu hỏi của các đại biểu và câu trả lời của các bộ trưởng.

Ai cũng làm bộ trưởng đuợc!

Khuôn mặt nổi bật nhất và là người đầu tiên trả lời chất vấn là ông Đinh La Thăng, người đã hai lần “trảm hai tướng” dưới quyền khi đi thị sát các công trình do các viên chức này chịu trách nhiệm. Sau khi trả lời một số câu hỏi trước nghị trường, ông đại biểu Nguyễn Bá Thuyền chưa “thoả mãn” nên đã đưa ra câu hỏi “ rất nặng ký”:

-“Nếu cứ trả lời lòng vòng như thế thì ai cũng làm Bộ trưởng được. Xin đề nghị Bộ trưởng trả lời xem mấy năm thì có thể giảm được tai nạn giao thông, mấy năm thì giảm bớt được ùn tắc giao thông?"

Trước các đại biểu tại nghị trường, Bộ trưởng Đinh La Thăng nhã nhặn trả lời:“Chúng ta phải quyết tâm, cùng phải làm, chứ còn bây giờ bảo tôi khẳng định bao giờ hết tai nạn giao thông, bao giờ hết ùn tắc giao thông thì xin phép đại biểu là chưa khẳng định được. Chúng tôi chỉ mong rằng nó sẽ kiềm chế và giảm dần như mục tiêu chúng ta đưa ra là mỗi năm giảm từ 5% đến 10%”

Cú “trà đòn” như một cú đá thủng lưới của Messi


Nhưng bên lề hành lang quốc hội, ông bộ trưởng Thăng đã trả lời câu hỏi của phóng viên:

* Phóng viên: Ông suy nghĩ gì khi có đại biểu Quốc hội cho rằng trả lời như ông thì ai cũng có thể làm được bộ trưởng?

- Ông Thăng nói: Tôi nghĩ bộ trưởng là do Quốc hội phê chuẩn chứ không phải ai cũng làm được. Theo tôi, chúng ta đang nói đến văn hoá giao thông thì cũng cần có văn hoá về chất vấn.

Quả thật câu trả lời nhẹ nhàng mà rất thấm. Ông Thăng nói đến “văn hoá chất vấn” đúng nơi đúng lúc. Cú “trả đòn” của ông Thăng mềm mại như Messi đi bóng, đá một cú lượn vào góc chết, làm khung thành vỡ toang. Nhẹ mà đau lắm, các cụ ạ.

Đúng là cần phải có “văn hoá chất vấn”, không thể để những thứ “ngôn ngữ cà chớn” chui vào nghị trường được. Điều đó thì chính các ông đại biểu phải tự ý thức lấy, chứ không có trường lớp nào dạy hay quy định nào rằng buộc. Người dân lại cảm thấy cần phải thận trọng hơn nữa với những lá phiếu bầu đại biểu của mình.

Ông Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp của Quốc hội đánh giá về các phiên chất vấn này như sau: “ Một số câu hỏi không đúng nghĩa chất vấn, như chỉ hỏi thông tin, mang tính chất trao đổi. Nếu chỉ hỏi lấy thông tin, bộ trưởng trả lời xong, đại biểu tưởng thế là được. Qua loạt hỏi thấy rất ít đại biểu nắm chắc thông tin về nội dung chất vấn, thậm chí có thể đại biểu hỏi để cho cử tri nhìn thấy mình. Do các câu hỏi không đúng nên khó mà đạt được yêu cầu như mong muốn”.

Đúng như vậy, theo dõi qua truyền hình, người dân nhận thấy có ông bà đại biểu cầm tờ giấy đọc cũng còn ngắc ngứ và câu hỏi chỉ để mà hỏi, chỉ để cho “nhân dân” nhìn thấy mặt mình trên diễn đàn quốc hội!

Khi được hỏi: - Ông nghĩ sao về ý kiến chính các đại biểu phải có văn hoá chất vấn, văn hoá nghị trường?

- Ông Đinh Xuân Thảo nói: Đúng là văn hoá nghị trường từ người điều hành cho đến người hỏi và người trả lời rất là cần thiết. Như lần trước, Chủ tịch Quốc hội khoá 12 cũng nói không nên đao to búa lớn mà nên lạt mềm buộc chặt. Nếu nói nhẹ nhàng, có lý lẽ, sức thuyết phục thì giá trị hơn là nói như băm bổ hoặc trả lời như là ở bên ngoài. Đối với hoạt động nghị trường, phát biểu trao đổi cũng có quan điểm khác nhau nhưng cách tranh luận dùng lời lẽ thì cũng cần thể hiện văn hoá ứng xử.

Có lẽ không cần phải bình luận gì thêm về sự cần thiết phải có những đại biểu của dân có trình độ kiến thức cao hơn và phải biết ứng xử ít nhất là “văn hoá nghị trường”.

Văn Quang –
23-12-2011

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Khóc Như Mưa

Tác giả : Bùi Tín

Ông Kim Jong Il chết trên chuyến xe lửa đặc biệt vì cơn đau tim. Cậu con thứ ba Kim Jong Un mới 27 tuổi lên nối ngôi. Theo tiếng Việt, ông «Ủn” nối ngôi ông «Ỉn». Quả thật, hai cha con đều nặng cân, ủn ỉn …

Đây là kiểu cha truyền con nối 3 đời liền trong một triều đình phong kiến cộng sản. Ông, cha và con đều là chủ tịch nước, chủ tịch đảng CS, tổng tư lệnh quân đội.

Đài truyền hình Bình Nhưỡng liên tiếp truyền cảnh người Triều Tiên, già trẻ lớn bé khóc còn hơn cha chết. Người ta khóc thảm thiết, gào thét, gục xuống đất, nức nở, mồm méo xệch, cứ như đua nhau xem ai khóc to nhất, đau đớn nhất, chân thật nhất.

Trên thế giới nhiều báo chí nhận xét, bình luận, hỏi vì sao người Bắc Triều Tiên khóc tập thể thảm thiết đến thế, có thật tự đáy lòng không? Sao lại như một cơn lên đồng lớn, một căn bệnh tâm thần nặng lây lan cực nhanh, khó hiểu cho người ngoài cuộc, người nước ngoài.

Nhớ lại khi ông Hồ Chí Minh chết, dân miền Bắc cũng khóc tập thể thê thảm như thế.
Tố Hữu mô tả: «Người tuôn nước mắt, trời tuôn mưa...»;
Và khi ông Staline chết, Tố Hữu cũng khóc:
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương Ông thương mười.
Lại còn:
Hôm qua loa gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao!

Vì sao như vậy? Khóc thật hay khóc giả? Bình thường hay lâm bệnh thần kinh? Khác gì những người làm nghề khóc thuê khóc mướn? Cố gào thét lên, cố rặn ra mà khóc ư?

Để góp phần giải đáp những câu hỏi ấy, tôi kể lại dưới đây một vài kinh nghiệm, tai nghe mắt thấy, trên đất Bắc Triều Tiên, từ hồi năm 1987, khi dự Hội nghị các nước không liên kết trong 1 tuần lễ ở Bình Nhưỡng, rồi đi thăm một số địa phương như khu phi quân sự Bàn Môn Điếm, đập nước lớn phía đông và vùng sông Áp Lục.

Phụ nữ Bắc Triều Tiên ở bất cứ đâu khi có mang đến tháng thứ 8 là đại diện chính quyền địa phương, cấp khu phố hay quận, huyện đến thăm tại nhà, làm lễ trao tặng thư và quà của «Lãnh tụ Vĩ đại» gồm có một thùng tã lót, khăn bông, nôi bằng mây hay nhựa, với lời chúc mẹ tròn con vuông.
Đến tuổi nhập học, trước buổi học vỡ lòng đầu tiên khi nhập trường,cũng như mỗi lần khai giảng, đều làm lễ đón nhận quà khai giảng của «Lãnh tụ Vĩ đại», gồm có bút, sách vở, cặp sách và 2 bộ đồng phục bằng vải tốt, lụa màu cho mỗi học sinh và sinh viên.

Khi vào đội Thiếu niên và vào Đoàn Thanh niên Kim Il Sung, các em đều tham dự lễ đón nhận khăn quàng xanh và đỏ do «Lãnh tụ Vĩ đại» ban tặng.
Hệ thống Bảo tàng Kim Il Sung và Phòng Lưu niệm Kim Il Sung là hệ thống to lớn, rộng khắp nhất, gây ấn tướng nhất trên đất Bắc Triều Tiên. Mỗi nhà máy, mỗi xí nghiệp lớn nhỏ, mỗi trường học từ tiểu học đến đại học, mỗi bộ, viện nghiên cứu, mỗi bệnh viện đều có bảo tàng, cho đến mỗi nhà trẻ cũng có phòng lưu niệm ghi rất rõ, rất cụ thể công ơn của «Lãnh tụ Vĩ đại». Tại đó có ảnh phóng cực lớn, tranh, một loạt sách trước tác của ông Kim, mang chữ ký đích thân ông Kim đề tặng và ký tên. Ông Kim đến đâu, đi qua cổng nào, qua con đường nào, ngồi vào chiếc ghế nào, cầm chiếc micrô nào, uống nước ở chén nước, cốc nước nào, cầm chiếc bút nào, nói những gì, gợi ý những gì, nhận xét gì, chỉ thị những gì… thực hiện ra sao, đều ghi rất kỹ, tỷ mỷ trong bảo tàng và phòng lưu niệm. Có nơi như Đại học Kim Il Sung, ông Kim đến 8 lần, đều ghi tỷ mỷ những nội dung và tác động của mỗi lần đến thăm.
Ở mỗi tỉnh, huyện và quận cũng thế. Những thành tựu làm đường mới, xây cầu mới, mở rộng bệnh viện, xây nhà trẻ, trường học, sân vận động, đắp đập, mở rộng diện tích canh tác, thay giống lúa mới… đều ghi công lãnh tụ Kim trong các bảo tàng và nhà lưu niệm Kim Il Sung, cũng như trên sách, báo, trên bia, bảng tuyên truyền ở khắp nơi.

Bức tượng cao nhất thủ đô là tượng đuốc lửa Juche - Tự Chủ - do «Lãnh tụ Vĩ đại» giương cao cho toàn thế giới, ở dưới chân có ghi tên hơn một trăm nước có Câu lạc bộ Juche ở khắp 5 châu, suy tôn ông Kim là lãnh tụ quốc tế chỉ đường cho nhân loại. Bức tượng toàn thân ông Kim cũng là bức tượng bề thế nhất bên sân rộng để hàng ngàn diễn viên có thể nhảy múa dưới chân «Lãnh tụ Vĩ đại».

Trong tâm tưởng, suy nghĩ của người dân Bắc Triều Tiên, từ khi sinh ra đến khi khôn lớn, từ sáng sớm ngủ dậy đến đêm vào giấc ngủ, từ khi ở nhà, đi học, đi làm đâu đâu cũng nghe ra rả về công ơn như trời biển của «Lãnh tụ Vĩ đại». Việc tôn sùng bị điều kiện hóa tuyệt đối đến thế thì khi ông chết, làm sao người ta không khóc thê thảm còn hơn cha mình chết.
Ông Kim Jong Il cũng kế thừa bộ máy tuyên truyền nhồi nhét như thế, cũng là dễ hiểu. Xin chớ hiểu sai rằng họ khóc lóc thảm thê chỉ là giả vờ, là đóng kịch, vì sợ bị đưa đi cải tạo.

Với một số người bị nghi vấn, bị theo dõi, bị ghi vào sổ đen, có thể là thế.
Xin nhớ Bắc Triều Tiên vẫn còn là quốc gia riêng biệt, cô lập với thế giới. Dân thường không ai có hộ chiếu. Nghe đài «địch», xem vô tuyến truyền hình «địch» là tội nặng.

Có những nghịch lý rất kỳ lạ. Dân nghèo nhất, đói nhất, rét nhất, nông thôn có hồi chết la liệt vào rừng đào củ, ăn dun, chuột, dán, châu chấu, lạnh cóng xuống đồng không có ủng, nhưng bộ mặt thủ đô thì tráng lệ, khách sạn cao 104 tầng, vỉa hè sạch bóng hơn cả Singapore, học sinh đi học bằng xe bus, áo quần tơ lụa đủ màu, 6 ngàn nghệ sỹ đồng diễn múa với dàn nhạc 400 cây đàn, đèn chiếu sáng rực, lộng lẫy như cảnh tiên sa.

Trong khách sạn cao cấp, các máy vô tuyến truyền hình Nhật Bản hay Hà Lan đều thay bằng nhãn hiệu Triều Tiên, các xe bus Nhật, Đức, Tiệp Khắc cũng đều mang nhãn Triều Tiên :
Thiên Lý Mã, Juche, Núi Bạch Vân, Thượng Cam Lĩnh …Tôi hỏi thế có vi phạm bản quyền nhà chế tạo không, anh phiên dịch cười nói nhỏ: không đâu, chúng tôi bỏ ngoại tệ ra mua bản quyền rồi. Một kiểu ăn gian ở trong nước, được thuận mua vừa bán, không giống ai.

Thật ra công ơn của lãnh tụ đều là từ ngân sách quốc gia, từ tiền thuế của dân. Tiền mua tã lót, nôi cho trẻ sơ sinh, đến hòm an táng cho người chết đều là của xã hội trả lại cho xã hội, xét cho cùng là «của người phúc ta», nhưng bộ máy tuyên truyền tinh vi ma quái, cực kỳ nham hiểm đã xáo trộn trắng đen, đảo lộn phải trái, biến một chế độ phong kiến cộng sản thối nát cực kỳ lạc hậu thành những vị đại minh quân, những ông hoàng đế thời hiện đại.

Bùi Tín -
VOA’s Blog.

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Image

Hãy để người già thảnh thơi

Bà Bảo, năm nay 72 tuổi, nhà gần siêu thị Maximark, đường 3 tháng 2, quận 10 khác với nhiều người cùng độ tuổi ở chỗ bà luôn có thời gian rảnh rỗi để đi thăm bạn bè, người thân, luôn có mặt trong các bữa tiệc được mời, thậm chí các buổi quảng cáo giới thiệu sản phẩm mới của các hãng tổ chức ở nơi công cộng bà cũng chủ động đăng ký tham dự.

Nhìn vẻ năng động, sự hoạt bát, nhiều người gặp luôn khen bà trẻ hơn tuổi. Nhưng điều mà bạn bè, người thân thường tìm đến bà chính là sự khách quan, bình tĩnh khi giải quyết các vấn đề xảy ra trong quan hệ gia đình và xã hội.

Cần thiết phải biết “makeno”

Bà Bảo chia sẻ: “Tôi rảnh rỗi vì tôi không tham gia vào đời sống gia đình các con, các cháu như nhiều người bạn tôi đang làm. Buổi sáng thức dậy, khi con cháu đi làm, tôi cũng tự có kế hoạch riêng của bà già là buổi sáng đi đâu đó, buổi chiều ở nhà đọc sách báo, tối xem phim hoặc kịch trên truyền hình. Tôi ở nhà của chính mình, tôi không sang nhà con để trông nom nhà cửa, không giữ cháu, không đi chợ nấu ăn giùm đứa nào…”

Bà Bảo đã quyết định sự thay đổi lớn cách đây mười năm, khi bà ở với cô con gái út để giúp chăm sóc cháu mới sanh. Sự xung đột giữa cách nuôi con thời hiện đại với kiểu cũ, giữa cách chi dụng tiền bạc của người trẻ còn đang đi làm với người già về hưu, giữa mẹ ruột và mẹ chồng, giữa lứa tuổi già và tuổi thanh niên… đã khiến bà suy nghĩ rất nhiều. Và bà chọn cách gọi là makeno – là mặc kệ nó.

Cụ thể, khi bà không giúp con gái trông cháu, con bà đã khóc, rồi giận bà rất nhiều khi cho là mẹ không thương con, không lo cháu. Thấy con gái út vừa đi làm, vừa tất bật lo cho con nhỏ, lúc đầu bà cũng xót xa, nhưng bà nhận thấy để con tự lo, tự đương đầu với các sự cố sẽ tốt hơn là bà xắn tay vào làm hộ. Bà kể: “Khi tôi lo việc này, việc kia, dự phòng điều có thể xảy ra, thì con cháu lại cho rằng bà già lẩm cẩm, lo xa. Tôi nấu cơm nhiều cá, nhiều rau củ, ít thịt thì con cháu cho rằng bà già ngại ăn thịt dai, đi chợ tiết kiệm tiền… Họ không thấy rằng khi người già lo cho con cháu là đã tự đánh mất khoản thời gian thảnh thơi, yên tĩnh của cá nhân. Tôi đã tự hỏi mình thời trẻ đầu tắt mặt tối làm việc, khao khát được nghỉ ngơi, tại sao đến khi già mình lại không chủ động làm theo ý mình”.

Bà Bảo mất hai năm để làm quen với việc đứng ở ngoài các sự vụ xảy ra hàng ngày trong gia đình các con. Mất một năm để quen với việc lên lịch cho hoạt động cá nhân. Và bây giờ, nhờ đứng ở ngoài nhìn vào sự việc, không bị chi phối bởi tình cảm, nên khi con cái xung đột bà có thể tư vấn, góp ý cho con, cháu giải quyết vấn đề tốt hơn.

Một vài người bạn của bà Bảo cũng học theo, tập làm quen với việc không coi mình là người lớn nhất trong nhà, không ra lệnh, không tham gia vào các việc mà con cháu không hỏi tới. Lắm lúc thấy chuyện “chướng tai gai mắt” mà cứ phải xem như không có gì.

Thấu hiểu khoảng cách

Trò chuyện cùng một số người trong độ tuổi 55 – 70, có thể thấy rõ khoảng cách thế hệ và tuổi tác đã tạo nên sự khác biệt rất lớn trong suy nghĩ và hành động giữa họ với con cháu trong gia đình hay họ tộc. Đơn cử như ở nhà ông Hoàng, ngụ ở quận Tân Phú, chuyện đứa cháu gái sống cùng bạn trai, có em bé đến lúc sắp sanh mới tổ chức đám cưới là “bôi tro trát trấu” vào sĩ diện gia đình. Ông Hoàng khuyên chỉ nên làm lễ cúng ông bà trong nội bộ gia đình. Nhưng cháu ông lại cho rằng lấy chồng phải làm đám cưới cho lớn, đặt tiệc ở nhà hàng sang, thuê xe xịn, chụp hình cưới thật đẹp…

Làm cách nào để thay đổi quả là điều không dễ. Chính vì vậy, “makeno” là một trong những giải pháp mà một số người già nên chọn để tránh xung đột giữa khoảng cách tuổi già với con cháu, để tìm niềm vui và sự thảnh thơi để tận hưởng những năm tháng cuối đời. Già “makeno” là một cách riêng của tuổi già. Vẫn có người cho rằng đó là kiểu sống “ích kỷ” khi không hy sinh nốt năm tháng cuối đời cho con cháu, có người cho rằng đó là cách tốt nhất trong bối cảnh hiện nay.

Bà Ánh, bạn của bà Bảo, vốn là một bác sĩ về hưu kể: “Tôi học bà bạn, nên thay vì ở nhà xoay mòng mòng với thực đơn sáng món gì, chiều món gì, cháu nào thích gà, cháu nào thích ăn bò, tôi để cho gia đình các cháu tự lo. Tôi tham gia lớp thiền trên chùa Trúc Lâm ở Đà Lạt, hàng tháng lên nghe giảng kinh, hít thở không khí trong lành, tham gia các chuyến đi khám bệnh từ thiện… cuộc sống vẫn tuôn chảy ngoài kia và tôi vẫn đang cùng với nó”.

Nhưng để làm được “makeno” phải mất nhiều thời gian, phải tập, phải quen dần… Và đặc biệt là phải có sự chia sẻ, thông cảm và cả động viên của con cháu. Như ông Hoàng, để giúp ông thoát khỏi những công việc ôm đồm không đáng có trong gia đình, các con ông đã nhờ những người rành về tâm lý, trải qua kinh nghiệm, trò chuyện, phân tích để ông hiểu rằng con cái ông cũng đã lớn, đã tự quyết định được nhiều việc mà không làm ảnh hưởng tới uy tín gia đình… Nhờ vậy, hiện nay trong các chuyện quan trọng trong gia đình ông chỉ hướng dẫn lễ nghi, những tập tục cần thiết còn lại chuyện khác ông không xen vào. Ngay cả trong những dịp đám cưới con cháu, ông cũng chỉ đến dự trên cương vị là khách mời VIP – khách quan trọng nhất và ngồi trên ghế danh dự.

ChuaBenh.net

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Việt Nam đứng thứ 112/183 nước trên bảng xếp hạng Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng 2011


Theo kết quả khảo sát Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng CPI năm 2011 do Tổ chức Minh bạch Quốc tế thực hiện, Việt Nam được 2,9 trên 10 điểm,
xếp hạng 112 trên 183 quốc gia, chứng tỏ tình trạng tham nhũng tại Việt Nam vẫn còn nghiêm trọng,
không có thay đổi đáng kể so với bảng xếp hạng năm ngoái xét về mức độ tham nhũng trong lĩnh vực công.

Image
Tình trạng tham nhũng tại Việt Nam vẫn còn nghiêm trọng, không có thay đổi đáng kể so với bảng xếp hạng năm ngoái. Hình AP

Năm ngoái, Việt Nam xếp thứ 116 trên tổng số 178 nước được khảo sát, với 2,7 điểm.

Trên thang điểm đánh giá từ 0, tức tham nhũng ở mức độ cao, tới 10 điểm, tức mức cực kỳ trong sạch, hai phần ba các nước trong bảng xếp hạng có điểm số dưới 5.

Dẫn đầu bảng xếp hạng Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng CPI năm nay là New Zealand, đạt 9,5 điểm. Theo sau là Phần Lan và Đan Mạch. Somalia và Bắc Triều Tiên nằm chót bảng.

Theo Tổ chức Minh Bạch Quốc tế, làn sóng biểu tình khắp nơi trong năm nay chứng tỏ sự căm phẫn của quần chúng trước tình trạng tham nhũng trong chính trị và trong lĩnh vực công.

27-12-2011
Theo VOA

User avatar
CarteNoire
Posts: 374
Joined: Mon Sep 21, 2009 11:58 pm

Post by CarteNoire »

Chuyện những quán cà phê
Lê Phan
Năm hết Tết đến dầu là Tết Tây cũng là lúc làm chúng ta cảm thấy man mác hoài niệm.

Hôm nọ, tình cờ đọc trong tờ The Economist số “Xuân” (số báo hai tuần mỗi cuối năm của tạp chí) một bài viết về quán cà phê Riche không xa Quảng trường Tahrir, tôi bỗng nhớ đến những quán cà phê của Sài Gòn năm xưa.

Cà phê và chính trị vốn có một liên hệ lâu dài ở Việt Nam thời Cộng Hòa. Không biết bao nhiêu âm mưu, bao nhiêu bí mật đã bị tiết lộ ở những quán cà phê thời trước năm 1975.

Cũng như quán cà phê Riche ở thủ đô Cairo, Givral, La Pagode hay Continental đã có thời đóng một vai trò trong đời sống của thủ đô Sài Gòn. Hồi đến thăm Cairo, tôi đã được một đồng nghiệp dẫn đến thăm Café Riche vào cái giai đoạn suy tàn nhất. Nhưng nghe đâu Café Riche đã hồi sinh.

Mới đầu năm 2011, vào ngày 25 tháng 12, ngày đã đi vào lịch sử của nhân dân Ai Cập, đường phố ở trung tâm thủ đô Cairo tràn đầy những nhóm người biểu tình, bị xé lẻ, co ro trốn khói cay xè của các quả lựu đạn chống biểu tình. Những cây gậy đã được vung lên, rồi những viên đạn xé thịt, mở đầu cho 18 ngày phản đối mà kết quả là việc lật đổ Hosni Mubarak, nhà độc tài đã cai trị hơn ba thập niên.

Chứng kiến nhưng không hững hờ là khách của Café Riche. Những người bồi mặc bộ đồ màu xanh lục với viền vàng tiếp tục đưa tới những ấm cà phê Thổ Nhĩ Kỳ đặc sệt và những đĩa cà tím nướng cho những khách, miệng vẫn còn điếu thuốc, đang trố mắt nhìn qua những khung cửa kính vẫn còn mang hàng chữ bằng tiếng Anh “Sáng lập năm 1908”. Thế là từ hơn một thế kỷ, Café Riche đã là nơi trú ẩn cho những người quan sát cuộc sống chính trị xã hội của Ai Cập. Chỉ cách Quảng trường Tahrir có hai block, tiệm nằm trong những tòa nhà đồ sộ, tiêu biểu của giai đoạn hoàng kim của Cairo, vốn được các kiến trúc sư Tây phương xây dựng như là một “Paris trên sông Nile”.

Những cột cao và những balcon ít khi dùng đến bao trùm khu quanh con đường Talaat Harb. Ðó cũng là nơi có các trụ sở của các cơ quan truyền thông, các nhà xuất bản và các văn phòng luật sư. Nói tóm lại nó là nơi đầy những người thích nói và cũng thích uống cà phê. Bên trong tuy vậy quán rất thân mật. Trong một thành phố mà đá, đá tảng, được coi như là vật liệu thích hợp nhất cho mọi kiến trúc, Café Riche chọn gỗ ấm áp, cái quầy rượu lâu ngày gần thành đen, và những cái bàn sứt mẻ, nhưng lúc nào cũng có một cái bàn chất đầy sách.

Trên tường là những tấm hình đen trắng đóng khung, tưởng nhớ đến quá khứ vốn đã xoay quanh các khách hàng của quán này. Ngày 15 tháng 12 năm 1919, một sinh viên y khoa, Iryan Yusuf Iryan đã ngồi ngay cửa để chờ thủ tướng, vốn là khách thường xuyên của quán, đến uống cà phê. Khi ông ta đến, Iryan, sau này kể lại, đã rời quán và ném quả bom vào xe của ông thủ tướng.

Ông thủ tướng không chết, nhưng Ai Cập sau đó đã lâm vào một cuộc nổi dậy chống lại chính quyền mà trên thực tế cai trị thay cho Anh Quốc. Các cuộc đụng trận bùng lên bên ngoài cửa quán và những nhà cách mạng chạy vào lẩn trốn vào số những nghệ sĩ, nhà văn, nhà báo đang ngồi uống cà phê. Tầng hầm của quán trở thành nơi ẩn náu của họ. Nó có một số những cửa ra bí mật, được xây dựng từ một thế kỷ trước khi xung quanh vẫn còn là một tòa lâu đài. Có người còn bảo một vài con đường đó dẫn đến quảng trường Tahrir.

Ngày nay chúng ta cũng vẫn còn chui xuống được tầng hầm nổi tiếng này để xem cánh cửa bí mật giúp thoát hiểm. Thời 1920, cảnh sát thường xuyên bố ráp quán, nhưng ít khi thành công. Những nhà cách mạng chạy máy in dưới hầm, ấn hành những truyền đơn chống lại chính quyền thuộc địa Anh và tay sai của họ. Ngay cái máy in cũng vẫn còn đó.

Trong những năm sau Ðệ Nhị Thế Chiến, quán lại chứng kiến những âm mưu khác, lần này là để lật đổ Vua Farouk, vốn cũng vẫn được sự hỗ trợ của Anh Quốc. Các nhà trí thức, gián điệp và chính trị gia gặp gỡ nhau ở Riche. Kế hoạch được soạn thảo, liên minh thành lập, hiến chương được viết ra. Một nhà báo thời thập niên 1960 đã kể là họ tiếp tục thảo luận ở quán những gì mà họ khởi đầu trên các trang báo. Riche không phải là quán cà phê duy nhất. Có những quán khác, lập trường khác nhau, và mỗi quán đã có lúc trở thành một đảng chính trị ngấm ngầm, vì các đảng chính trị lúc đó bị cấm. Riche thuộc cánh tả ôn hòa, và đặc biệt, để chứng tỏ sự cởi mở, Riche có bán rượu, bởi nó được thành lập bởi một người Ðức và sau đó bán cho một người Pháp.

Sau khi ông Nasser lên cầm quyền, quán trở thành nơi lui tới của nghệ sĩ, nhà văn. Nhà văn Naguib Mahfouz, khôi nguyên Nobel Văn Chương, đã từng viết nguyên một cuốn sách về quán và những câu chuyện ông nghe được ở đó. Ông đặt tên cho nó là Café Karnak. Ông từ chối không chịu xuất bản sách của mình vì thái độ mà ông gọi là giả trá của chính quyền Nasser. Bị cấm xuất bản, một số các khách hàng viết cho nhau.

Nhưng dần dà, dưới thời của hai ông Nasser và Sadat, đời sống tinh thần của Riche cũng thui chột dần. Và khi đến thời ông Mubarak thì quán hầu như đã chết. Năm 1992, động đất làm quán phải đóng cửa nhiều năm. Khi mở lại, quán đã mất cá tính cũ. Chủ nhân mới, người Ai Cập, đã cố tìm cách nâng trình độ của quán, và cố giữ tinh thần của Mahfouz. Ðược cái giới thanh niên, nhất là sinh viên của Viện đại học American University gần đó, lui tới, phần chính là vì quán bán rượu.

Nhưng phải đến Mùa Xuân năm nay Café Rich mới thực sự hồi sinh. Quán đã trở thành một bộ phận của cuộc kháng chiến ở Quảng trường Tahrir.

Tiếc thay các quán cà phê của Sài Gòn không may mắn được bằng Riche. Givral, nơi tụ họp của các nhà báo người Việt, kể cả những người làm việc cho báo ngoại quốc như ông Phạm Xuân Ẩn, hay bên kia đường, Continental, nơi tụ tập của các nhà báo ngoại quốc, không còn nữa. Continental đã bị sửa lại, mất hẳn cái không khí vàng son của thời thuộc địa cũ, nay lai căng chẳng cũ mà cũng chẳng mới. La Pagode đã biến mất. Brodard đổi tên, đổi dạng. Còn Givral đã bị đập phá tan tành cùng với khu thương xá Eden.

Muốn tìm thấy hình ảnh của Continental hay Givral thì phải trở lại với hình ảnh trong cuốn phim The Quiet American. Trong cái vội vàng chạy theo “kinh tế thị trường”, những dấu vết lịch sử đã bị phá hủy. Người Thái, vội vã chạy theo kinh tế thị trường không kém nhưng cũng vẫn chưa đập phá khách sạn Oriental nơi Graham Greene, Joseph Conrad, John Le Carré đã từng nhâm nhi ly rượu cùng với những tên tuổi nổi tiếng khác kể cả các Tổng Thống Richard Nixon và George H.W. Bush và cố Tổng Thống Vaclav Havel.

Hẳn có người bảo là một quán cà phê thì cũng chỉ là một quán cà phê, có gì là quan trọng đâu. Tôi xin phép không đồng ý. Sống ở một quốc gia mà vài tảng đá, một tòa lâu đài, một thánh đường đổ nát cũng được trân trọng gìn giữ, một nơi đã có lịch sử không nên bị đập đi như vậy.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Việt cộng, Việt cộng

Lê Dinh
(01/01/2012)

http://www.ledinh.ca/2012%20Bai%20Le%20 ... 0Cong.html

Hai tiếng này, tôi không hiểu sao, cho đến ngày nay, nó trở thành hai tiếng xấu xa, kinh tởm nhất trong số những danh từ để ám chỉ những hạng người mà ai ai cũng oán ghét, hận thù và muốn xa lánh. Nhưng hai tiếng Việt Cộng nguyên thủy đâu có gì là xấu xa, nó chỉ là một danh từ ghép thường thôi, như rừng núi, biển khơi, đồng áng… nhưng theo thời gian biến đổi, nó trở thành một danh từ ghê tởm và rùng rợn lúc nào chúng ta không hay.

Nếu ai chỉ một tên nào đó mà nói “ Mầy là thằng Việt Cộng” thì có nghĩa người đó là một người xấu xa nhất trong xã hội hiện nay. Chẳng thà chửi cha người ta, người ta không giận bằng chủi “Mầy là thằng Việt Cộng”. Như vậy đủ biết hai chữ Việt Cộng bị người đời thù ghét như thế nào rồi. Mà nghĩ cũng đúng thôi.

Nhớ lúc tôi còn nhỏ, năm tôi 11 tuổi, còn học ở trường Tiểu học Vĩnh Lợi, cách làng Vĩnh Hựu của tôi chừng ba cây số. Mỗi sáng thứ hai đầu tuần, mẹ tôi phải đưa tôi đến trường và tôi lưu trú tại nhà dì tôi cho đến cuối tuần mới trở về Vĩnh Hựu. Một buổi sáng thứ hai đầu tuần, cũng như mọi khi, mẹ tôi xếp đâu 2 chục trứng gà vào một cái giỏ để khi đưa tôi đến trường xong là mẹ tôi ra chơ bán 2 chục trứng gà đó, lấy tiền mua các thức ăn khô khác. Hai mẹ con đang đi, độ còn nửa đường là tới làng Vĩnh Lợi, thình lình trong một bụi cây rậm rạp, có một người mặc đồ đen, tay cầm khẩu súng ngắn sáng loáng, nhảy ra chận mẹ con tôi lại, quát to: Đứng lại! Anh ta đưa họng súng ngay truớc trán mẹ tôi, rồi đưa sang qua tôi, quơ qua quơ lại trên đầu tôi, hỏi mẹ con tôi có phải đem trứng ra chợ để bán cho Tây không? (Lúc đó, ở tại chợ Vĩnh Lợi, ngay phía bên kia đầu cầu sắt, có một cái đồn của người Pháp đóng tại đó). Mẹ tôi run run nói:

- Dạ thưa ông, đâu phải, tôi đem trứng này ra chợ bán để lấy tiền mua thức ăn.

- Chứ không phải mẹ con bà đem lương thực cung cấp cho Tây sao?

- Dạ thưa ông, đâu có phải như vậy.

- Thôi lần này tôi tha cho mẹ con bà đó, nhưng giỏ trứng thì bị Ủy ban tịch thu. Nhớ lần sau, còn gặp mẹ con bà đem trứng ra chợ như vậy nữa là tôi sẽ bắn bỏ.

- Dạ mẹ con tôi đội ơn ông.

Thật hú hồn hú vía. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới nhìn thấy khẩu súng lục. Sao nó uy dũng, hiên ngang, trông rất dễ sợ. Và cũng lần đầu tiên trong đời tôi mới biết đó là những kẻ gọi là Việt Minh, những người mặc đồ đen, đầu quấn khăn rằn, rồi sau này trở thành Việt Cộng và hai chữ Việt Cộng đã ám ảnh tôi từ suốt thời bé thơ cho đến khi khôn lớn.

Nếu không có lần bị đón đường, bị đe dọa bắn bỏ hôm đó, tôi đã trở thành một tên Việt Minh từ thời trẻ dại này rồi. Tôi còn nhớ rất rõ, ở tuổi 11, 12, tôi say mê những bài hát êm đềm, như:

“ Còn đâu trên chiên khu trong rừng chiều
Bên đèo lắng suối reo, ngàn thông reo
Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo đoàn quân réo, đạn bay vèo…”

Hay hùng dũng, như:

“ Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến…”

Hoặc:

“Đoàn giải phóng quân một lòng ra đi
Nào có sá chi đâu ngày trở về…”

Và còn nữa:

“Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng
Kiếm nguồn tươi sáng…”

Hay là những bài thơ mà giờ đây hơn 60 năm qua, tôi vẫn còn nguyên trong trí nhớ:

“Tôi muốn tôi là một cứu thương
Cạnh theo chiến sĩ đến sa trường
Nằm lăn trên lá hay rơm ủ
Băng trắng đầu mình những vết thương”

Thật là lãng mạn, thât là dễ thương. Làm sao mà tôi không bị quyến rũ bởi nét nhạc, lời thơ như vậy được. Cho nên tôi có ý nghĩ là mình sẽ phải theo mấy anh lớn để được vào bưng, được nghe tiếng suối reo, ngàn thông reo, được nằm lăn trên lá hay rơm ủ, được nữ y tá săn sóc vết thương… Rồi một ngày nọ, tôi được theo đoàn biểu tình đi bộ từ làng Vĩnh Hựu của tôi lên tới tỉnh Gò Công, cách xa làng tôi 14 cây số, để gọi là… ủng hộ Việt Minh. Thức dậy từ 3 giờ khuya, chuẩn bị cơm vắt muối mè, tập hợp lại rồi tháp tùng đoàn người, đi theo nhịp trống quân hành “rập rập thùng, rập rập thùng”… lội bộ suốt 14 cây số, nhờ vừa đi vừa hát “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng”, cho nên thằng con nít 11 tuổi như tôi, khi đến nơi, nào có thấy chút mệt mỏi gì đâu? Nhưng sau lần gặp gã Việt Minh với khẩu súng giết người đó, tôi đã bừng tỉnh giấc mơ bỏ học, trốn cha mẹ để ra bưng biền.

Việt Cộng! Chỉ hai tiếng thôi, nhưng sao thiên hạ hoảng hốt, kinh hoàng khi nghe đến nó. Năm 1954, gần một triệu đồng bào miền Bắc, cũng vì hai tiếng này mà phải bỏ hết của cải, quê hương, làng xóm, mồ mả ông bà để chạy vô miền Nam xa lắc xa lơ, trốn khỏi bè lũ Việt Cộng. Năm 1975 cũng vậy, vì hai tiếng này mà hơn hai triệu người dân miền Nam phải liều chết, bằng đủ mọi cách để lánh xa loài quỷ dữ. Ở thôn quê miền Nam, khi nghe mấy tiếng “Việt Cộng về” hay “Mấy ổng về” là bà con gồng gánh, già trẻ, bé lớn chạy trối chết về phía thành phố để trốn khỏi bọn Việt Cộng. Rồi nào Việt Cộng pháo kích vào thành phố, vào quận lỵ giết hại dân lành, giết hại trẻ thơ nơi trường học. Việt Cộng đào lộ, đấp mô, đặt mìn, phá cầu… Còn Việt Cộng ngày nay thì ngoài tham nhũng còn tôi bán nước, buôn dân, bàn tay chúng phạm trăm ngàn thứ tội ác. Việt Cộng ngày nay bán rừng, bán biển, bán giang sơn cha ông cho Tàu, Việt Cộng ngày nay độc ác, tàn nhẫn với dân chúng, nhưng co ro, cúm rúm trước thằng Tàu như sợ ông nội, ông cố của chúng, bắt dân bỏ tù nếu dân đứng lên yêu nước chống lại lũ Hán xâm lăng.

Rồi tôi miên man suy gẫm, không biết những tên như Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng nghĩ sao - nhưng không biết những tên này có biết suy nghĩ không – chúng có thấy rằng sao mình đi đến đâu, thiên hạ bỏ chạy hết vậy? Mình giành được phân nửa xứ sở miền Bắc, đáng lẽ dân chúng phải ở lại với mình để kiến thiết xứ sở chứ, sao gần cả triệu người lại bỏ chạy vào Nam. Rồi mình cướp được luôn phân nửa miền Nam còn lại, thiên hạ lại ùn ùn bò chạy nữa, cả hơn hai triệu người xa lánh mình. Tại sao và tại sao? Chúng không tự đặt câu hỏi đó với chính chúng sao? Mình đi đến đâu thì người ta chạy trối chết khỏi nơi đó. Mình là thứ gì vậy? Nhìn hình ảnh cuộc di cư năm 1954, trên những chiếc tàu há mồm, nhìn những gương mặt hớt hơ hớt hãi, mất hồn, chạy đôn chạy đáo để rời khỏi Saigon tháng tư năm 1975, rồi nhìn những cảnh liều chết vượt biên lên đến cao điểm, từ năm 1975- 1980, nếu chúng là người, chúng phải suy nghĩ chứ? Mình cũng là người như họ, đầu, mắt tay chân cũng đầy đủ như họ, tại sao họ sợ mình mà chạy hết như thế? Mình có phải là quỷ dữ hay ác thú gì đâu?

Nhưng tôi nghĩ, Việt Cộng còn đáng sợ hơn là quỷ dữ nữa. Nhìn lại, từ cái thời bé thơ, thuở mà mẹ con tôi đem hai chục trứng gà ra chợ bán để có tiền mua thức ăn cho gia đình, đến ngày nay, đã hơn 60 năm trôi qua, tôi cảm thấy rùng mình, ghê sợ. Từ những việc bắt người cho mò tôm, thả xác trôi sông thuở đó, cho đến những vụ lường gạt, gian dối cướp giật của Việt Cộng ngày nay, nhìn sự dã man tàn ác của Việt Cộng đối với người dân cùng chung máu mủ … thật không thể nào tưởng tượng nổi. Quỷ chỉ nhát, chỉ hù người ta thôi, chứ không hại người ta, mà nếu quỷ có hại thì chỉ hại một người thôi. Còn Việt Cộng hại cả một dân tộc, tiệu diệt tất cả, đất đai, sông biển, núi rừng không còn, nhưng đó là nói về mặt những gì còn nhìn thấy được. Còn về mặt không nhìn thấy được thì là Việt Cộng tàn phá cả đạo đức, dung dưỡng tội ác, giết chết sự trong trắng trong lòng trẻ thơ, đưa nhiều thế hệ con em chúng ta vào vòng tối ám, dạy chúng dối trá, dạy chúng tội ác…

Nhưng như vậy cũng chưa đủ. Những nguời đã quá sợ chúng mà bỏ xứ ra đi, để xứ cho chúng ở cũng chưa được yên thân. Chúng còn cho tay chân bộ hạ, núp bóng dưới danh nghĩa này, danh nghĩa nọ, chạy theo ra ngọai quốc để quyết hành hạ những người tỵ nạn Cộng sản này cho đủ… 36 kiểu của chúng. Thật trời không dung, đất không tha. Ngày xưa, chúng đã chiếm được phân nửa nước Việt Nam, tưởng đâu rằng chúng cùng miền Nam thi đua làm cho dân giàu nước mạnh, nhưng như chúng ta đã biết, Việt Cộng cho đến 1975, còn chưa thấy cái thang máy “biết tàng hình” là gì, chưa được nhìn chiếc đồng hồ “12 trụ, 2 cửa sổ, không người lái” là gì, không hiểu cái bồn cầu “để rửa rau” hay để làm gì, trong khi miến Nam lúc đó đã là một trong những quốc gia tân tiến ở Đông Nam Á châu. Rồi lòng tham vô đáy, thực hành chủ nghĩa Cộng sản toàn cầu của chúng, chúng cướp luôn miền Nam. Thiên hạ lại bỏ chạy, chúng rượt theo ra đến ngọai quốc để áp dụng… 36 kiểu lên đầu lên cổ người đã sợ chúng mà bỏ chạy 36 năm trước.

Nếu tôi có làm anh muôn vàn bực tức, xin anh cứ chửi tôi là thằng mất dạy, thằng láu cá, thằng bỉ ổi, thằng đê tiện, thằng vô học, thằng… thằng gì cũng được, hay bảo tôi là thằng không cha không mẹ, hay là thằng do… con gì sanh ra cũng được nốt, nhưng xin đừng bảo tôi là Việt Cộng. Mầy là thằng “Việt Cộng”, hai tiếng này nặng lắm, anh biết không? Nói như thế là anh chửi tôi đấy, mà chửi tôi thât nặng, đó là tiếng chửi ghê gớm nhất, đáng sợ nhất trong những tiêng chửi đương thời. Vì hai tiếng này đồng nghĩa với ác nhân, hung đảng, ác quỷ, ác tinh, man di, mọi rợ, lưu manh, gian xảo, côn đồ, thảo khấu… , lọai quỷ quái tinh ma, nghĩa là bọn trời đánh thánh đâm, trời tru đất diệt.

Ngày đầu năm 2012

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Trông già hay cậy trẻ?

Tạp ghi Huy Phương
Thật khó định nghĩa thế nào là già, thế nào là trẻ. Thôi thì cứ lấy con số 50 để phân định ranh giới, vì chết dưới 50 thì chỉ gọi là “hưởng dương,” chết trên 50 mới được gọi là “hưởng thọ,” vậy ai dưới tuổi 50 được coi là trẻ, ai bước qua tuổi này được coi là già.

Tuy chúng ta đã đồng ý với nhau như vậy, nhưng cũng có những người tuổi ít những đã “già háp,” cằn cỗi, “ông cụ non,” trái lại có những ông già da, già tóc nhưng tâm hồn vẫn còn trẻ trung, năng động. Già có nghĩa là họ đã trải một thời xuân xanh, trẻ trung, hiểu biết thông cảm những gì của tuổi trẻ. Trẻ rồi cũng sẽ tới một gia đoạn tóc bạc da mồi tất yếu phải đến. Lẽ ra như vậy, trẻ hay già, cũng là những giai đoạn của một đời người, phải hết sức thông cảm, thấu hiểu nhau, đúng ra phải tương đồng lại thành ra tương phản.

Nhiều người trẻ thiếu sự kính trọng tuổi già, đó là tuổi của các bậc sinh thành, tuổi của tiền bối theo luân lý “kính lão đắc thọ”. Ở Việt Nam ra đường, đụng chạm trên đường, mở miệng là lũ trẻ lên giọng khinh miệt: “Thằng già dịch này chạy xe như hạch!” Ở chỗ đèn đỏ, già cẩn trọng không dám vượt thì sau lưng, thằng trẻ đã la: “Dọt đi, cha già!” Còn già đối với trẻ, không có sự tôn trọng, đối thoại ngang hàng, mà xem như loại con cháu trong nhà, nhiều nơi nếu có phân công thì tuổi trẻ nhận những công việc tạp dịch như đóng đinh, treo biểu ngữ hay xếp bàn ghế.

Con người đã chia rẽ vì tôn giáo, vì khuynh hướng chính trị, vì nguồn gốc, địa phương... còn có thể hiểu được, nhưng chia rẽ nhau vì tuổi tác thật khó hiểu. Già thì coi thường bọn trẻ miệng còn hôi sữa, ăn chưa no lo chưa tới, con nít ranh, thiếu kinh nghiệm, chưa từng trải; trẻ thì chê già vô dụng, lẩm cẩm, lạc hậu, bảo thủ. Chúng tôi cũng đã nghe tuổi trẻ chê mấy ông già dốt tiếng Anh, nói sai giọng, quá khích, còn ám ảnh bởi quá khứ, trong đó có bố mẹ của họ. Người già thì có thái độ gia trưởng, chê bọn trẻ non nớt, mất gốc, không hiểu biết gì về Cộng Sản. Sự khác biệt này không được tôn trọng, già và trẻ không bao giờ có cơ hội ngồi lại với nhau, trình bày, phân tích để thông cảm, hiểu nhau hơn, dù là nơi hội trường hay trong phòng khách gia đình. Thậm chí nhiều người cao niên sống xa lánh với con vì thấy con không gần gũi, không hiểu mình hay mình không hiểu chúng, có những ý tưởng đối nghịch. Tôi có một người bạn chưa già, di tản từ năm 1975 than thở: “Tôi muốn về Việt Nam để có những đứa con Việt Nam, ở đây chúng là con Mỹ, không phải con của tôi!” Nhưng già hay trẻ chưa hẳn là vấn đề.

Một số người chê tuổi già ở hải ngoại là tuổi thất bại, bám víu vào quá khứ, sống thiếu thực tế, “hành nghề chống Cộng,” không có gì để làm gương cho con trẻ. Nhưng chúng tôi cũng biết đến nhiều vị thất trận, tù đày nhiều năm, thù Cộng Sản đến tận xương tủy, hối hả bỏ nước ra đi, nay trong tay không còn nắm củ khoai mà có mớ đô la, lấy cớ dự đám cưới, mãn tang, “cưa sừng” về nước, nhởn nhơ như vỗ vào mặt anh em thương binh ở quê nhà. Như vậy thì trông cậy gì vào tuổi già!

Nhưng nếu tuổi trẻ hôm nay có cơ hội sống ở nước ngoài, có tự do, nhân phẩm được tôn trọng mà không quan tâm đến đất nước, đến cộng đồng, chỉ chạy theo bằng cấp, lợi nhuận, kiểu “vinh thân phì gia,” ích kỷ, thì đất nước còn hy vọng gì? Trong bài phỏng vấn trên một nhật báo hải ngoại nhằm mục đích cho độc giả biết giới trẻ người Mỹ gốc Việt hiện nay sinh sống ra sao, có suy nghĩ gì, một bạn trẻ 25 tuổi đang làm quản trị viên lương bổng và nhân viên cho một công ty Hoa Kỳ, đã làm cho những ai đang quan tâm đến tuổi trẻ thật thất vọng. Ðáp câu hỏi: - “Bạn hình dung chính mình ra sao trong năm năm nữa?” Câu trả lời là: -“Tôi sẽ làm chủ một căn nhà.” -“Còn mười năm?”- “Tôi hình dung ra mình đã lấy vợ và có một gia đình!” - “ Bạn định nghĩa thành công là gì?”- “Có đủ tiền để trả hóa đơn, tậu được một chiếc xe hơi và một ngôi nhà thật là đẹp!” - “Bạn có tham gia vào cộng đồng Việt Nam hay không và tham gia như thế nào?” Câu trả lời là: - “Tôi nghĩ rằng trả lời cuộc phỏng vấn này là mức tham gia nhiều nhất của tôi từ hồi nào đến giờ!” Thực lòng mà nói, tuổi trẻ như thế, thì đường phố Bolsa treo cờ vàng hay cờ đỏ, đâu có quan trọng gì, và Việt Nam trở thành “ngôi sao thứ năm” không ảnh hưởng gì đến “dự án” cái xe hơi và ngôi nhà thật đẹp của cậu nhỏ này và chuyến về quê ăn Tết của ông già kia.

Mấy ông già lãnh đạo trong nước đang ở giai đoạn “ăn trả bữa” như một người ốm mới dậy, tham lam vơ vét, ôm khư khư cái thành tích đã rỗng ruột, không dám hy sinh cái gọi là “đảng” cho quốc gia, dân tộc. Những người trẻ quan tâm đến đất nước đếm được trên đầu ngón tay, nhưng có phải chăng, cái ăn cái mặc trói buộc con người lối “cai trị bao tử” nghìn đời của chính sách trói dân của Cộng Sản? Không, những thanh niên đủ ăn dư mặc hay con nhà giàu, thừa hưởng bổng lộc của cha ông, chỉ quan tâm đến việc Ðàm Vĩnh Hưng hát bài gì, bỏ phiếu bình chọn xem ai là “Sao 2011”: Thanh Hằng hay Tăng Thanh Hà? Tình trạng này làm sao Việt Nam có nổi một Thiên An Môn!

Một người trẻ khác, có cha là chuyên gia “tên lửa”, từng được đào tạo tại Liên Xô, đang du học tại Ðức, qua câu chuyện với một nữ lưu tên Trúc Giang, đã thản nhiên bày tỏ quan điểm: “Cả văn hóa của mình là xuất xứ từ Trung Quốc, nước mình không thể tách riêng ra khỏi Trung Quốc được!” hay: “Cô ạ! Chúng cháu chỉ có hy vọng lo cho bản thân, nói cô đừng buồn, cháu chỉ học xong, ra trường về kiếm việc làm và lo cho gia đình. Thế là hết bổn phận công dân!” Như vậy thì hy vọng gì tuổi trẻ!

Tuổi già trong nước dạy cho tuổi trẻ mang ơn Tàu đã giúp miền Bắc vũ khí, đạn dược, lương thực để đánh miền Nam, muốn yên thân, muốn có địa vị thì cứ theo đường một chiều mà đi. Ði ngược đường đã có công an, dùi cui, còng sắt, nhà tù và xà lim.

Tuổi già ngoài nước muốn trao cho tuổi trẻ kinh nghiệm, muốn kéo tuổi trẻ lại gần nhưng lại xâu xé, chia rẽ, kèn cựa nhau, không biết hy sinh và tham lam, như chuyện mười năm trước, tuổi già làm hội chợ toàn khai lỗ, trong khi mới “nhường” lại cho tuổi trẻ mấy năm gần đây đã thấy lời mỗi năm cả trăm nghìn. Tuổi già nên biết lắng nghe, tuổi trẻ khôn ngoan hơn là chúng ta nghĩ rất nhiều, nhưng nhiều nơi trong cộng đồng người Việt trên đất Mỹ vẫn còn muốn ôm chức gia trưởng, cứ thấy tuổi trẻ làm chính trị là đã dè bỉu, đánh phủ đầu, kiểu “có tao là không có mầy!” Mặt khác tuổi già ở hải ngoại đánh nhau tận tình hơn là đánh với kẻ thù, thực lực chia năm xẻ bảy, làm sao dẫn đường và làm gương cho tuổi trẻ. Ở đây, không có Bộ Chính Trị nhưng có nhiều sứ quân.

Trong tình trạng này, liệu tương lai trông già hay cậy trẻ?

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

NgườiViệt và nạn cờ bạc.

Long Nguyễn


Da đỏ muôn năm. Da trắng cũng muôn năm.Hehehe Da vàng không muôn năm. Vâng chỉ người Việt chúng ta không muôn năm.

Thực thế, xin chia buồn với tất cả người Việt chúng ta rằngchúng ta ngày càng hư đốn. Nếu thập niêntrước, cờ bạc là một trò giải trí xa lạ ít ai người đi chơi (phải lái xe vàitiếng đồng hồ trênmột con đườnglạ hoắc) thì bây giờ mỗi cuối tuần, đường đi cáccasino đôngnhư người Ả Rập trẩy hội Ramadan.

Theo truyền thống thì ở Việt Nam ta, người lớn tuổi mới cờbạc. Các bạn trẻ có biết bao nhiêu thứ hấp dẫn để bận rộn. Nào là thời trang,son phấn, nào là hẹn hò trai gái, nào bài vở học hành. Người da đỏbiết tỏng và chúng không buông tha các bạn trẻ. Trẻtuổi ai lại chẳng thích ca nhạc, bỏ vài tiếng lái xe lên sòng bài mỗi tuần mộtlần, xem thả giàn không tốn tiền. Hấp dẫn lắm chứ nếu phải bỏ vài chục đômột vé xem đại nhạc hội thỉnh thoảng được tổ chức để gây quỹ từ thiện gì đấy. Mỗi năm họa may cómột, hai lần. Trồng cây 10 năm, trồng người 100 năm. Các bác da đỏ biết thế.Các em không khứng đánh bàithì vào đây xem ca nhạc cái đã, ở nhà làm gì. Cờ bạc không khó học, lâu dần sẽ biết.

Người người ríu rít hẹn nhau lên xem Như Quỳnh, Trường Vũ, NhưLoan và các ca sĩ thượng thặng hải ngoại khác trổ tài ca hát. Các Casino kháckhông chịu thua. Họ cử người qua Việt Nam mời cho bằng được Đàm Vĩnh Hưng, MỹTâm, Phương Thanh bất kể chi phí. Một ca sĩ Việt Nam qua Mỹ trình diễn, tiềnbảo lãnh, tiền cát sê, tiền đút lót cho các cơ quan trong nước,có thể lên đến10000 đô la. Một cuộc chiến tranh lạnh giữa các Casino ngấm ngầm diễn ra. Anhcó Lam Trường thì tôi cũngcó Quang Linh, thử coi ai hơn ai?

Tại sao người da đỏ quan tâm đến chúng ta thế nhỉ? Họ thuộc vanh vách ngày nào là tết NguyênĐán, Trung Thu, Giỗ tổ Hùng Vương, là Hoa Hậu Áo Dài. Chỉ có điều họ chưaăn mừng ngày sinh nhật của già Hồ thôi. Chúng ta nên dành một chút thì giờ tìmhiểu tại sao chúng ta dễ lậm cờ bạc và tại sao, người da đỏ thương chúng ta đếnthế.

Một nghiên cứu gọi là the South Oaks Gambling Screen, xúc tiếnbằng cuộc thăm dò 96 người Việt, Kampuchia và Lào. Kết quả cho thấy loại cờ bạcsuốt đời lên đến 59%. Hơn 50% chơi cờ bạc trong vòng 2 tuần và 42% thua 500 đôla trong vòng 2 tháng . Kếtquả này chưa nói lên điều gì rõ rệt ngoài việc chúng ta cần tìm hiểu về xã hội,môi trường, văn hóa liên hệ đến cờ bạc của những người tị nạn Đông Dương. Nhữngngăn ngừa nhạy cảm về chủng tộc và những sách lược can thiệp cần thiết để đốiphó với nạn cờ bạc lên đến mức phi thường so với người Mỹ và giống dân khác.

Theo cuốn Chỉ nam chẩn đoán và thống kê về bịnh tâm thần (TheDiagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders) thì nghiện ngập cờ bạclà bịnh tâm thần, trong đó đầu óc người bịnh chỉ nghĩ về cờ bạc, mất mọi kiểm soát vềđời sống cá nhân, gia đình,tiền bạc, nghề nghiệp và con cái. 1.9% người Mỹ mắc bịnh này và 3.9% thì có vấnđề cờ bạc giống tâm thần nhưng nhẹ hơn, mình thường gọi là bê tha, nguyên do vìthói quen xấu hơn là tâm thần.

Người ta chọn Connecticut làm thí điểm, nơi có 4000 người Lào,3500 Kampuchia và 10000 người Việt. Họ chọn 96 người tham dự cuộc nghiên cứu,trong đó có 30 người Lào, 30 Kampuchia và 36 người Việt. Kết quả 11 người Làokhông có vấn đề, 3 có vấn đề (có vấn đề nghĩa là bê tha, tắc trách chứ khôngmắc tâm bịnh) và 16 người (28%) mắc bịnh ghiền cờ bạc. Người Kampuchia 5 khôngvấn đề, 7 có vấn đề và 18 bịnh (31%). Riêng Việt Nam chúng ta, 11 người khôngcó vấn đề, 1 có vấn đề và kinh khủng thay, 24 người (41%) mắc bịnh ghiền cờbạc. Nói dễ hiểu hơn, cứ 100 trự Việt Miên Lào mắc tật cờ bạc, Lào chiếm 28trự, Miên 31 trự và Việt Nam ta 41 trự. Nhắclại 1.9 % người Mỹ mắc bịnh ghiền cờ bạc và Việt Nam ta 41% mắc bịnh. Đẹp mặtcon Rồng cháu Tiên và vinh quang cho dòng giống Lạc Hồng chưa.

Ôi cả một mạng lưới người da trắng lẫn da đỏ xâu xé cộng đồngngười Việt chúng ta, chỉ vì chúng ta máu mê cờ bạc và điềunày phơi bày một nguy cơsâu xa hơn nữa: chúng ta quá cô đơn trong những vấn đề tinh thần như truyềnthông, giáo dục con cái v.v...

Vâng chúng ta bị người Mỹ bỏ rơi. Chẳng những thế, truyền thôngngười Việt hải ngoại cũng bỏ rơi chúng ta. Trong cuốn Paris by Night 81 (hay 82) ông Nguyễn Ngọc Ngạn có nhắc đến cờ bạc sau màn hài kịch gì đónói về xổ số. Ông chỉ nói vàicâu pha trò, vô thưởng vô phạt thôi. Có lẽ ông ngượng ngùng lắm vì không dám đảphá tệ nạn cờ bạc như trước đây trong tác phẩm Sau lần cửa khép của ông. Mỗinăm trung tâm Thúy Nga, trung tâm Vân Sơn hay Asia sản xuất được vài đĩa ca nhạc. Cho rằngmỗi ca sĩ được thù lao vàingàn đô một lần. Lại còn tình trạng ca sĩ thuộc trung tâm này không đượcquyền hát cho trung tâm khác. Vậy thì một năm vài lầnlấy gì sống mà có nhiều người bỏ cả nghề Luật sư, Bác sĩ lao đầu vào? Kiếp cầmca có gì là vinh quang đâu?

Thưa có. Tuần nào họ cũng đi show cho các sòngbài khắp nước Mỹ, phục vụ các con bạc người Việt. Đó mới là nguồn lợi tức chínhyếu. Mỗi show mỗi tuần5000 đô nhân cho 52 tuần trong năm. Cứ thế mà tính. Luật sư, Bác sĩ ăn thua mẹgì.

Các MC cũng thế. Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên từngbiết bao lần được mời làmMC cho các chương trình ca nhạc tại các sòng bài. Thử hỏi ai dám chống nồi cơmcủa mình?

Báo chí Việt Ngữ cũng không kém.

- "Chúng mình mở một mặt trận chống cờ bạc nhé." ngườiviết có lần đề nghị thế với một chủ báo.

-"Thôi viết cáikhác đi. Truyện ngắn, thơ hay tham luận gì cũng được. Nói về cờ bạc đụng chạm nhiều lắm. Tốt nhất là tâng bốc mấy cơ sở thương mại. Chẳngmất lòng ai." Các chủ báo nói thế.

Thảo nào mà báo chí trongvùng một mặtthì hô hào phục vụ cộng đồngmặckhác thì tranh nhau đăngquảng cáo ca nhạc cho các casino. Ôi thật là trái khoáy.

Thỉnh thoảng ở chùa, nhà thờ cũng nói sơ về tệ nạn cờ bạc nhưngý chừng dè dặt lắm vì ngay trong ban trị sự cũng có lắm cụ siêng năngviệc bài bạc hơn việc thờ lạy, cúng bái. Các Cha các Sư càm ràm về cờ bạc nhiềuquá các cụ nổi cáu. Mà hễ nổi cáu các cụ nghễnh ngãng việc đónggóp gây quỹ trong những dịp cần thiết. Các em gia đình Phật Tử, ca đoàn Công Giáo, nhóm Linh Thao, Hướng Đạov.v... ngồi trong nhà thờ, trong chùa mà cứ kháo nhau tuần này có ca sĩ nàotrình diễn. Cứ y như Muckle Shoot, Snoqualmie, EQC mới chính là nước Giời hayNiết Bàn vậy.

Ô hay. Chúng ta sống trong thời buổi gì mà trái thành phải, xấunên tốt, đen thànhtrắng như thế? Một chính quyền Việt Cộng thối nát, tham tàn, bạo ngược được cảnước ca ngợi; những chuyên gia hiếp dâm trẻ con nghênh ngang trong những chiếc xecon có tài xế lái; những tay giám đốc thất học nắm trong tay biết bao nhân tàiđất nước; những tên lãnh đạo quốc gia ngang nhiên đào xới tàinguyên đem bán rẻ được gọi là phát triển kinh tế, là tăng trưởng vượt bực;những em bé 7, 8 tuổi đầu bán qua Kampuchia học Yum Yum (bú), học Bum Bum (đikhách), học nói những câu rợn tóc gáy với Việt kiều:" Đi giùm con một cái đichú, tội nghiệp con màchú." Các em được bọn yêunước yêu đảng mệnh danh là cháu ngoan bác Hồ.

Và lạy Chúa tôi, ở hải ngoại chúng con, chống cờ bạc thì mấtlòng lắm. Lạy Chúa! Nếu ngài không thể cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, thì tạisao bắt chúng con sinh ra trong một thời đại oái oăm như thế này.

User avatar
Dau Do
Posts: 445
Joined: Sat Dec 11, 2004 3:00 am

Post by Dau Do »

Việt cộng, việt cộng - Lê Dinh (01/01/2012) http://www.ledinh.ca/2012%20Bai%20Le%20 ... 0Cong.html

Hai tiếng này, tôi không hiểu sao, cho đến ngày nay, nó trở thành hai tiếng xấu xa, kinh tởm nhất trong số những danh từ để ám chỉ những hạng người mà ai ai cũng oán ghét, hận thù và muốn xa lánh. Nhưng hai tiếng Việt Cộng nguyên thủy đâu có gì là xấu xa, nó chỉ là một danh từ ghép thường thôi, như rừng núi, biển khơi, đồng áng… nhưng theo thời gian biến đổi, nó trở thành một danh từ ghê tởm và rùng rợn lúc nào chúng ta không hay.

Nếu ai chỉ một tên nào đó mà nói “ Mầy là thằng Việt Cộng” thì có nghĩa người đó là một người xấu xa nhất trong xã hội hiện nay. Chẳng thà chửi cha người ta, người ta không giận bằng chủi “Mầy là thằng Việt Cộng”. Như vậy đủ biết hai chữ Việt Cộng bị người đời thù ghét như thế nào rồi. Mà nghĩ cũng đúng thôi.

Nhớ lúc tôi còn nhỏ, năm tôi 11 tuổi, còn học ở trường Tiểu học Vĩnh Lợi, cách làng Vĩnh Hựu của tôi chừng ba cây số. Mỗi sáng thứ hai đầu tuần, mẹ tôi phải đưa tôi đến trường và tôi lưu trú tại nhà dì tôi cho đến cuối tuần mới trở về Vĩnh Hựu. Một buổi sáng thứ hai đầu tuần, cũng như mọi khi, mẹ tôi xếp đâu 2 chục trứng gà vào một cái giỏ để khi đưa tôi đến trường xong là mẹ tôi ra chơ bán 2 chục trứng gà đó, lấy tiền mua các thức ăn khô khác. Hai mẹ con đang đi, độ còn nửa đường là tới làng Vĩnh Lợi, thình lình trong một bụi cây rậm rạp, có một người mặc đồ đen, tay cầm khẩu súng ngắn sáng loáng, nhảy ra chận mẹ con tôi lại, quát to: Đứng lại! Anh ta đưa họng súng ngay truớc trán mẹ tôi, rồi đưa sang qua tôi, quơ qua quơ lại trên đầu tôi, hỏi mẹ con tôi có phải đem trứng ra chợ để bán cho Tây không? (Lúc đó, ở tại chợ Vĩnh Lợi, ngay phía bên kia đầu cầu sắt, có một cái đồn của người Pháp đóng tại đó). Mẹ tôi run run nói:

- Dạ thưa ông, đâu phải, tôi đem trứng này ra chợ bán để lấy tiền mua thức ăn.

- Chứ không phải mẹ con bà đem lương thực cung cấp cho Tây sao?

- Dạ thưa ông, đâu có phải như vậy.

- Thôi lần này tôi tha cho mẹ con bà đó, nhưng giỏ trứng thì bị Ủy ban tịch thu. Nhớ lần sau, còn gặp mẹ con bà đem trứng ra chợ như vậy nữa là tôi sẽ bắn bỏ.

- Dạ mẹ con tôi đội ơn ông.

Thật hú hồn hú vía. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới nhìn thấy khẩu súng lục. Sao nó uy dũng, hiên ngang, trông rất dễ sợ. Và cũng lần đầu tiên trong đời tôi mới biết đó là những kẻ gọi là Việt Minh, những người mặc đồ đen, đầu quấn khăn rằn, rồi sau này trở thành Việt Cộng và hai chữ Việt Cộng đã ám ảnh tôi từ suốt thời bé thơ cho đến khi khôn lớn.

Nếu không có lần bị đón đường, bị đe dọa bắn bỏ hôm đó, tôi đã trở thành một tên Việt Minh từ thời trẻ dại này rồi. Tôi còn nhớ rất rõ, ở tuổi 11, 12, tôi say mê những bài hát êm đềm, như:

“ Còn đâu trên chiên khu trong rừng chiều
Bên đèo lắng suối reo, ngàn thông reo
Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo đoàn quân réo, đạn bay vèo…”

Hay hùng dũng, như:

“ Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến…”

Hoặc:

“Đoàn giải phóng quân một lòng ra đi
Nào có sá chi đâu ngày trở về…”

Và còn nữa:

“Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng
Kiếm nguồn tươi sáng…”

Hay là những bài thơ mà giờ đây hơn 60 năm qua, tôi vẫn còn nguyên trong trí nhớ:

“Tôi muốn tôi là một cứu thương
Cạnh theo chiến sĩ đến sa trường
Nằm lăn trên lá hay rơm ủ
Băng trắng đầu mình những vết thương”

Thật là lãng mạn, thât là dễ thương. Làm sao mà tôi không bị quyến rũ bởi nét nhạc, lời thơ như vậy được. Cho nên tôi có ý nghĩ là mình sẽ phải theo mấy anh lớn để được vào bưng, được nghe tiếng suối reo, ngàn thông reo, được nằm lăn trên lá hay rơm ủ, được nữ y tá săn sóc vết thương… Rồi một ngày nọ, tôi được theo đoàn biểu tình đi bộ từ làng Vĩnh Hựu của tôi lên tới tỉnh Gò Công, cách xa làng tôi 14 cây số, để gọi là… ủng hộ Việt Minh. Thức dậy từ 3 giờ khuya, chuẩn bị cơm vắt muối mè, tập hợp lại rồi tháp tùng đoàn người, đi theo nhịp trống quân hành “rập rập thùng, rập rập thùng”… lội bộ suốt 14 cây số, nhờ vừa đi vừa hát “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng”, cho nên thằng con nít 11 tuổi như tôi, khi đến nơi, nào có thấy chút mệt mỏi gì đâu? Nhưng sau lần gặp gã Việt Minh với khẩu súng giết người đó, tôi đã bừng tỉnh giấc mơ bỏ học, trốn cha mẹ để ra bưng biền.


Việt Cộng! Chỉ hai tiếng thôi, nhưng sao thiên hạ hoảng hốt, kinh hoàng khi nghe đến nó. Năm 1954, gần một triệu đồng bào miền Bắc, cũng vì hai tiếng này mà phải bỏ hết của cải, quê hương, làng xóm, mồ mả ông bà để chạy vô miền Nam xa lắc xa lơ, trốn khỏi bè lũ Việt Cộng. Năm 1975 cũng vậy, vì hai tiếng này mà hơn hai triệu người dân miền Nam phải liều chết, bằng đủ mọi cách để lánh xa loài quỷ dữ. Ở thôn quê miền Nam, khi nghe mấy tiếng “Việt Cộng về” hay “Mấy ổng về” là bà con gồng gánh, già trẻ, bé lớn chạy trối chết về phía thành phố để trốn khỏi bọn Việt Cộng. Rồi nào Việt Cộng pháo kích vào thành phố, vào quận lỵ giết hại dân lành, giết hại trẻ thơ nơi trường học. Việt Cộng đào lộ, đấp mô, đặt mìn, phá cầu… Còn Việt Cộng ngày nay thì ngoài tham nhũng còn tôi bán nước, buôn dân, bàn tay chúng phạm trăm ngàn thứ tội ác. Việt Cộng ngày nay bán rừng, bán biển, bán giang sơn cha ông cho Tàu, Việt Cộng ngày nay độc ác, tàn nhẫn với dân chúng, nhưng co ro, cúm rúm trước thằng Tàu như sợ ông nội, ông cố của chúng, bắt dân bỏ tù nếu dân đứng lên yêu nước chống lại lũ Hán xâm lăng.

Rồi tôi miên man suy gẫm, không biết những tên như Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng nghĩ sao - nhưng không biết những tên này có biết suy nghĩ không – chúng có thấy rằng sao mình đi đến đâu, thiên hạ bỏ chạy hết vậy? Mình giành được phân nửa xứ sở miền Bắc, đáng lẽ dân chúng phải ở lại với mình để kiến thiết xứ sở chứ, sao gần cả triệu người lại bỏ chạy vào Nam. Rồi mình cướp được luôn phân nửa miền Nam còn lại, thiên hạ lại ùn ùn bò chạy nữa, cả hơn hai triệu người xa lánh mình. Tại sao và tại sao? Chúng không tự đặt câu hỏi đó với chính chúng sao? Mình đi đến đâu thì người ta chạy trối chết khỏi nơi đó. Mình là thứ gì vậy? Nhìn hình ảnh cuộc di cư năm 1954, trên những chiếc tàu há mồm, nhìn những gương mặt hớt hơ hớt hãi, mất hồn, chạy đôn chạy đáo để rời khỏi Saigon tháng tư năm 1975, rồi nhìn những cảnh liều chết vượt biên lên đến cao điểm, từ năm 1975- 1980, nếu chúng là người, chúng phải suy nghĩ chứ? Mình cũng là người như họ, đầu, mắt tay chân cũng đầy đủ như họ, tại sao họ sợ mình mà chạy hết như thế? Mình có phải là quỷ dữ hay ác thú gì đâu?

Nhưng tôi nghĩ, Việt Cộng còn đáng sợ hơn là quỷ dữ nữa. Nhìn lại, từ cái thời bé thơ, thuở mà mẹ con tôi đem hai chục trứng gà ra chợ bán để có tiền mua thức ăn cho gia đình, đến ngày nay, đã hơn 60 năm trôi qua, tôi cảm thấy rùng mình, ghê sợ. Từ những việc bắt người cho mò tôm, thả xác trôi sông thuở đó, cho đến những vụ lường gạt, gian dối cướp giật của Việt Cộng ngày nay, nhìn sự dã man tàn ác của Việt Cộng đối với người dân cùng chung máu mủ … thật không thể nào tưởng tượng nổi. Quỷ chỉ nhát, chỉ hù người ta thôi, chứ không hại người ta, mà nếu quỷ có hại thì chỉ hại một người thôi. Còn Việt Cộng hại cả một dân tộc, tiệu diệt tất cả, đất đai, sông biển, núi rừng không còn, nhưng đó là nói về mặt những gì còn nhìn thấy được. Còn về mặt không nhìn thấy được thì là Việt Cộng tàn phá cả đạo đức, dung dưỡng tội ác, giết chết sự trong trắng trong lòng trẻ thơ, đưa nhiều thế hệ con em chúng ta vào vòng tối ám, dạy chúng dối trá, dạy chúng tội ác…

Nhưng như vậy cũng chưa đủ. Những nguời đã quá sợ chúng mà bỏ xứ ra đi, để xứ cho chúng ở cũng chưa được yên thân. Chúng còn cho tay chân bộ hạ, núp bóng dưới danh nghĩa này, danh nghĩa nọ, chạy theo ra ngọai quốc để quyết hành hạ những người tỵ nạn Cộng sản này cho đủ… 36 kiểu của chúng. Thật trời không dung, đất không tha. Ngày xưa, chúng đã chiếm được phân nửa nước Việt Nam, tưởng đâu rằng chúng cùng miền Nam thi đua làm cho dân giàu nước mạnh, nhưng như chúng ta đã biết, Việt Cộng cho đến 1975, còn chưa thấy cái thang máy “biết tàng hình” là gì, chưa được nhìn chiếc đồng hồ “12 trụ, 2 cửa sổ, không người lái” là gì, không hiểu cái bồn cầu “để rửa rau” hay để làm gì, trong khi miến Nam lúc đó đã là một trong những quốc gia tân tiến ở Đông Nam Á châu. Rồi lòng tham vô đáy, thực hành chủ nghĩa Cộng sản toàn cầu của chúng, chúng cướp luôn miền Nam. Thiên hạ lại bỏ chạy, chúng rượt theo ra đến ngọai quốc để áp dụng… 36 kiểu lên đầu lên cổ người đã sợ chúng mà bỏ chạy 36 năm trước.

Nếu tôi có làm anh muôn vàn bực tức, xin anh cứ chửi tôi là thằng mất dạy, thằng láu cá, thằng bỉ ổi, thằng đê tiện, thằng vô học, thằng… thằng gì cũng được, hay bảo tôi là thằng không cha không mẹ, hay là thằng do… con gì sanh ra cũng được nốt, nhưng xin đừng bảo tôi là Việt Cộng. Mầy là thằng “Việt Cộng”, hai tiếng này nặng lắm, anh biết không? Nói như thế là anh chửi tôi đấy, mà chửi tôi thât nặng, đó là tiếng chửi ghê gớm nhất, đáng sợ nhất trong những tiêng chửi đương thời. Vì hai tiếng này đồng nghĩa với ác nhân, hung đảng, ác quỷ, ác tinh, man di, mọi rợ, lưu manh, gian xảo, côn đồ, thảo khấu… , lọai quỷ quái tinh ma, nghĩa là bọn trời đánh thánh đâm, trời tru đất diệt.
Triệu người quen có mấy người thương

Post Reply