Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Một sự phản bội
Mời đọc bài viết của LÊ PHAN, con gái của Cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát.
Bà đang là biên tập viên cho đài phát thanh BBC London.
Bài viết cô đọng thấm thía, không chỉ cho người dân Miền Nam mà là cho người dân Bắc VĂN GIANG đang mất đất, viết cho
những bộ đội Việt Cọng đã chết dưới tay giặc Tàu năm 1979, bài viết cho các nhà trí thức Miền Bắc như Trần đức Thảo, Trần Độ, Nguyễn Hộ
những kẻ bị lừa cả một đời hy sinh ...
Viết cho kẻ dự phần chiến thắng nhưng đã không được dự phần chia của cướp được.
Nếu Võ văn Kiệt còn sống chắc sẽ nói lại là :" 30 tháng 4, có 3 triệu người vui, có 84 triệu người buồn"'
Ðã mấy năm nay rồi tôi không muốn viết và không viết về ngày 30 tháng 4. Không viết bởi sau bao nhiêu năm, những điều mình muốn nói đã nói rồi. Không viết bởi càng viết chỉ càng thấm thía với lời của ông Võ Văn Kiệt, vì mình nằm trong số cả triệu người buồn.
Vả lại, ba mươi mấy năm sau, bây giờ, ở một khía cạnh nào đó, tôi không còn có cảm tưởng mình là người Việt nữa. Việt Nam của tôi là Việt Nam của quá khứ. Việt Nam đó không còn nữa.
Nhưng khổ một nỗi, ở một góc cạnh nào đó Việt Nam vẫn nằm trong tim tôi. Làm sao có thể quên được khi ngày ngày vẫn còn cầm bút viết tiếng Việt, đọc tin tức về Việt Nam và dầu muốn dầu không, vẫn bâng khuâng về đất cũ.
Hôm nọ, ngồi xem những đoạn video được đưa lên Internet về cuộc biểu tình phản đối của người dân ba xã của huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, rồi sau đó, cũng trong lúc làm tin, chợt được xem một đoạn về phản ứng của miền Nam Việt Nam, cả dân chúng lẫn chính quyền trước việc Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa, tôi bỗng cảm thấy mừng mình là dân miền Nam chứ không phải là dân miền Bắc. Tôi có thể mất nước, phải bỏ xứ mà đi sống tha phương cầu thực và ngày nay nhận đất lạ làm quê hương, nhưng ít nhất tôi không phải sống trong một quốc gia, dưới một chế độ, đã đòi sự hy sinh tột đỉnh của dân mình rồi phản bội.
Ðoạn video mà tôi thấy về Văn Giang là lúc đoàn dân chúng của các xã bị cưỡng chiếm tụ tập về để bảo vệ mảnh vườn của mình. Họ từng đoàn từng lớp kéo nhau đi, tay cầm gậy, cuốc, xẻng. Ðoạn clip khá dài, người quay đứng yên một chỗ, quay đoàn người đi qua. Họ đủ cả, già có, trẻ có, đàn ông có, đàn bà cũng có. Có khá nhiều người đội nón an toàn, một số khá đông phụ nữ khoác thêm một cái khăn ở dưới nón an toàn, trông ra có lẽ cũng có lý vì ít nhất nón an toàn bảo vệ không bị công an đánh bể đầu. Giữa đám nón an toàn hay nón baseball có lác đác một số đội nón cối. Trong số người đội nón cối, có vài người đứng tuổi. Họ đội nón cối, mặc quần áo bộ đội. Có lẽ có thiếu là họ mang quân hàm và huy chương đeo lên ngực. Một vài cái nón cối còn cả lá cờ, rõ ràng là nón của một cựu quân nhân.
Một số trông họ có lẽ là những chiến sĩ đã bị chính quyền gọi nhập ngũ để chống lại xâm lăng của đoàn quân phương Bắc, một số già hơn, có thể đã bị chính quyền gọi nhập ngũ, không phải để bảo vệ tổ quốc, mà để tham gia vào một cuộc chiến tương tàn, một cuộc nội chiến mà trong đó anh em gặp nhau trên bãi chiến trường.
Cuộc chiến tranh Bắc Nam mà ngày 30 tháng 4 là ngày kết thúc, mặc cho chính quyền có khoác cho nó cái áo tuyên truyền gì chăng nữa cũng vẫn là một cuộc nội chiến, người Việt giết người Việt. Như lời ca phản chiến hồi nào có thể “kẻ thù tôi mang áo màu chủ nghĩa” nhưng họ vẫn là người Việt. Và cũng xin đừng bảo tôi sai. Tôi có hai ông chú, một ông là sĩ quan quân đội miền Bắc, một ông là sĩ quan quân đội miền Nam. Cũng may là hai chú tôi chưa từng tham chiến trên cùng một chiến trường nào cả, chuyện đó hẳn đã xảy ra cho nhiều gia đình trên đất Việt trong những năm chiến tranh.
Ðã ba mươi mấy năm rồi, tôi không còn muốn tranh cãi cho chính nghĩa của miền Nam nữa bởi chuyện đó đã qua rồi, nhưng ngồi nhìn những cựu quân nhân miền Bắc lầm lũi vác gậy đi tranh đấu để bảo vệ mảnh đất, mảnh vườn, kế sinh nhai của mình, tôi bỗng cảm thấy tuy mất nước, xa nhà nhưng vẫn còn không xấu số bằng họ. Họ là những người đã đem hết cả tuổi thơ dâng cho chế độ. Chế độ và đảng cầm quyền đã khởi xướng cuộc chiến tranh Bắc Nam dẫn đến việc cả triệu người ở hai bên chiến tuyến cũng như dân lành gục ngã. Nếu miền Bắc không nhất quyết đòi chiếm miền Nam thì làm gì có chiến tranh.
Nhưng sau khi đòi hỏi sự hy sinh tối thượng đó của người dân dưới quyền cai trị của mình, đảng Cộng sản Việt Nam và những người lãnh đạo chính quyền ở miền Bắc đã thất hứa với nhân dân. Tôi còn nhớ một lần về Việt Nam, một bà thím sau ngày đổi mới, lương công chức không đủ sống, mở một quán bán tạp hóa bên cửa ngách của nhà mình, đã mỉa mai, “Hồi đó các ông ấy bảo ‘Ðánh thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng bằng mười ngày nay’! Bây giờ đã ‘Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào’, vậy mà vẫn không đủ ăn!”
Khác với những năm đó, Việt Nam trong những năm cho đến gần đây quả đã phát triển bằng năm bằng mười lúc trước. Cứ đi về thành phố Hà Nội ngày nay so với Hà Nội của những năm đầu thập niên 1990, khi lần đầu tiên tôi trở về Hà Nội thì cũng thấy rõ sự thay đổi. Có điều những phát triển to lớn đẹp đẽ đó người dân không được chia hưởng. Trong khi ruộng vườn của họ bị chiếm đoạt để xây khu “đô thị mới” EcoPark, một khu hẳn là rất sang trọng vì partner của họ là công ty địa ốc Savills ở Luân Ðôn, một trong những công ty mà nhìn quảng cáo của họ ở Luân Ðôn toàn là nhà cỡ trên một triệu bảng Anh.
Ecopark quảng cáo là “thành phố xanh tươi, cuộc đời trọn vẹn.” Họ quảng cáo “không gian phố trong vườn” và những khu như “Rừng cọ: luxury apartment; Phố Trúc là shopping mall, Vườn Tùng và Vườn Mai: biệt thự detached or semi-detached villas.” Trang quảng cáo của Ecopark mở đầu với một đoạn nhạc thật êm tai. Tiếc thay tiếng nhạc đó không làm át nổi tiếng than khóc của người dân Văn Giang.
Bây giờ tôi mới hiểu cái uất ức và thấm thía cái nỗi đau của những người như ông Trần Ðộ hay Nguyễn Hộ. Họ là những nhà trí thức, mang tuổi trẻ và lý tưởng đi để cứu nước khỏi họa ngoại xâm, rồi để thống nhất đất nước vì đảng cộng sản bảo với họ là không thể để đất nước chia đôi, là miền Nam đang quằn quại trong áp bức của Mỹ Ngụy.
Tôi cũng chưa quên những bà con vào Nam sau 30-4-1975, gom góp một ký đường, vài lon sữa làm quà, tưởng là quý hóa lắm, ai dè miền Nam đâu có thiếu thốn và khổ cực như họ bị đánh lừa. Ðã có những người, thẹn quá, giấu luôn quà, không dám đem ra cho bà con trong Nam nữa.
Tôi cũng vẫn còn chưa quên người anh họ của ông xã tôi, một cán bộ trung kiên, làm việc cho ban tuyên giáo trung ương, ban tuyên truyền của đảng cộng sản, hỏi nhỏ chú em, “Vậy chú có bao nhiêu nợ máu với nhân dân. Nhà cửa này là do Mỹ nó cho đấy à?”
Nhưng cái vỡ mộng khi vào Nam sau năm 1975 có lẽ cũng một phần nào được xoa dịu vì dầu sao cũng là kẻ thắng. Cái vỡ mộng sau đó, khi vào năm 1979, người anh em “môi hở răng lạnh” dạy cho một bài học kinh hồn. Cho đến bây giờ chính quyền Hà Nội vẫn chưa công nhận số tử vong của trận chiến biên giới, cả về quân nhân lẫn thường dân.
Và sau cùng, giọt nước làm đầy ly là khi chính quyền bỏ rơi chủ thuyết, chạy theo “định hướng thị trường” và chỉ còn muốn làm giàu. Thật là đau đớn vì sau cùng họ mới thấy là những gì họ hy sinh cả cuộc đời đã chỉ là những cái bánh vẽ.
Lê Phan
Bà đang là biên tập viên cho đài phát thanh BBC London.
Bài viết cô đọng thấm thía, không chỉ cho người dân Miền Nam mà là cho người dân Bắc VĂN GIANG đang mất đất, viết cho
những bộ đội Việt Cọng đã chết dưới tay giặc Tàu năm 1979, bài viết cho các nhà trí thức Miền Bắc như Trần đức Thảo, Trần Độ, Nguyễn Hộ
những kẻ bị lừa cả một đời hy sinh ...
Viết cho kẻ dự phần chiến thắng nhưng đã không được dự phần chia của cướp được.
Nếu Võ văn Kiệt còn sống chắc sẽ nói lại là :" 30 tháng 4, có 3 triệu người vui, có 84 triệu người buồn"'
Ðã mấy năm nay rồi tôi không muốn viết và không viết về ngày 30 tháng 4. Không viết bởi sau bao nhiêu năm, những điều mình muốn nói đã nói rồi. Không viết bởi càng viết chỉ càng thấm thía với lời của ông Võ Văn Kiệt, vì mình nằm trong số cả triệu người buồn.
Vả lại, ba mươi mấy năm sau, bây giờ, ở một khía cạnh nào đó, tôi không còn có cảm tưởng mình là người Việt nữa. Việt Nam của tôi là Việt Nam của quá khứ. Việt Nam đó không còn nữa.
Nhưng khổ một nỗi, ở một góc cạnh nào đó Việt Nam vẫn nằm trong tim tôi. Làm sao có thể quên được khi ngày ngày vẫn còn cầm bút viết tiếng Việt, đọc tin tức về Việt Nam và dầu muốn dầu không, vẫn bâng khuâng về đất cũ.
Hôm nọ, ngồi xem những đoạn video được đưa lên Internet về cuộc biểu tình phản đối của người dân ba xã của huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, rồi sau đó, cũng trong lúc làm tin, chợt được xem một đoạn về phản ứng của miền Nam Việt Nam, cả dân chúng lẫn chính quyền trước việc Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa, tôi bỗng cảm thấy mừng mình là dân miền Nam chứ không phải là dân miền Bắc. Tôi có thể mất nước, phải bỏ xứ mà đi sống tha phương cầu thực và ngày nay nhận đất lạ làm quê hương, nhưng ít nhất tôi không phải sống trong một quốc gia, dưới một chế độ, đã đòi sự hy sinh tột đỉnh của dân mình rồi phản bội.
Ðoạn video mà tôi thấy về Văn Giang là lúc đoàn dân chúng của các xã bị cưỡng chiếm tụ tập về để bảo vệ mảnh vườn của mình. Họ từng đoàn từng lớp kéo nhau đi, tay cầm gậy, cuốc, xẻng. Ðoạn clip khá dài, người quay đứng yên một chỗ, quay đoàn người đi qua. Họ đủ cả, già có, trẻ có, đàn ông có, đàn bà cũng có. Có khá nhiều người đội nón an toàn, một số khá đông phụ nữ khoác thêm một cái khăn ở dưới nón an toàn, trông ra có lẽ cũng có lý vì ít nhất nón an toàn bảo vệ không bị công an đánh bể đầu. Giữa đám nón an toàn hay nón baseball có lác đác một số đội nón cối. Trong số người đội nón cối, có vài người đứng tuổi. Họ đội nón cối, mặc quần áo bộ đội. Có lẽ có thiếu là họ mang quân hàm và huy chương đeo lên ngực. Một vài cái nón cối còn cả lá cờ, rõ ràng là nón của một cựu quân nhân.
Một số trông họ có lẽ là những chiến sĩ đã bị chính quyền gọi nhập ngũ để chống lại xâm lăng của đoàn quân phương Bắc, một số già hơn, có thể đã bị chính quyền gọi nhập ngũ, không phải để bảo vệ tổ quốc, mà để tham gia vào một cuộc chiến tương tàn, một cuộc nội chiến mà trong đó anh em gặp nhau trên bãi chiến trường.
Cuộc chiến tranh Bắc Nam mà ngày 30 tháng 4 là ngày kết thúc, mặc cho chính quyền có khoác cho nó cái áo tuyên truyền gì chăng nữa cũng vẫn là một cuộc nội chiến, người Việt giết người Việt. Như lời ca phản chiến hồi nào có thể “kẻ thù tôi mang áo màu chủ nghĩa” nhưng họ vẫn là người Việt. Và cũng xin đừng bảo tôi sai. Tôi có hai ông chú, một ông là sĩ quan quân đội miền Bắc, một ông là sĩ quan quân đội miền Nam. Cũng may là hai chú tôi chưa từng tham chiến trên cùng một chiến trường nào cả, chuyện đó hẳn đã xảy ra cho nhiều gia đình trên đất Việt trong những năm chiến tranh.
Ðã ba mươi mấy năm rồi, tôi không còn muốn tranh cãi cho chính nghĩa của miền Nam nữa bởi chuyện đó đã qua rồi, nhưng ngồi nhìn những cựu quân nhân miền Bắc lầm lũi vác gậy đi tranh đấu để bảo vệ mảnh đất, mảnh vườn, kế sinh nhai của mình, tôi bỗng cảm thấy tuy mất nước, xa nhà nhưng vẫn còn không xấu số bằng họ. Họ là những người đã đem hết cả tuổi thơ dâng cho chế độ. Chế độ và đảng cầm quyền đã khởi xướng cuộc chiến tranh Bắc Nam dẫn đến việc cả triệu người ở hai bên chiến tuyến cũng như dân lành gục ngã. Nếu miền Bắc không nhất quyết đòi chiếm miền Nam thì làm gì có chiến tranh.
Nhưng sau khi đòi hỏi sự hy sinh tối thượng đó của người dân dưới quyền cai trị của mình, đảng Cộng sản Việt Nam và những người lãnh đạo chính quyền ở miền Bắc đã thất hứa với nhân dân. Tôi còn nhớ một lần về Việt Nam, một bà thím sau ngày đổi mới, lương công chức không đủ sống, mở một quán bán tạp hóa bên cửa ngách của nhà mình, đã mỉa mai, “Hồi đó các ông ấy bảo ‘Ðánh thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng bằng mười ngày nay’! Bây giờ đã ‘Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào’, vậy mà vẫn không đủ ăn!”
Khác với những năm đó, Việt Nam trong những năm cho đến gần đây quả đã phát triển bằng năm bằng mười lúc trước. Cứ đi về thành phố Hà Nội ngày nay so với Hà Nội của những năm đầu thập niên 1990, khi lần đầu tiên tôi trở về Hà Nội thì cũng thấy rõ sự thay đổi. Có điều những phát triển to lớn đẹp đẽ đó người dân không được chia hưởng. Trong khi ruộng vườn của họ bị chiếm đoạt để xây khu “đô thị mới” EcoPark, một khu hẳn là rất sang trọng vì partner của họ là công ty địa ốc Savills ở Luân Ðôn, một trong những công ty mà nhìn quảng cáo của họ ở Luân Ðôn toàn là nhà cỡ trên một triệu bảng Anh.
Ecopark quảng cáo là “thành phố xanh tươi, cuộc đời trọn vẹn.” Họ quảng cáo “không gian phố trong vườn” và những khu như “Rừng cọ: luxury apartment; Phố Trúc là shopping mall, Vườn Tùng và Vườn Mai: biệt thự detached or semi-detached villas.” Trang quảng cáo của Ecopark mở đầu với một đoạn nhạc thật êm tai. Tiếc thay tiếng nhạc đó không làm át nổi tiếng than khóc của người dân Văn Giang.
Bây giờ tôi mới hiểu cái uất ức và thấm thía cái nỗi đau của những người như ông Trần Ðộ hay Nguyễn Hộ. Họ là những nhà trí thức, mang tuổi trẻ và lý tưởng đi để cứu nước khỏi họa ngoại xâm, rồi để thống nhất đất nước vì đảng cộng sản bảo với họ là không thể để đất nước chia đôi, là miền Nam đang quằn quại trong áp bức của Mỹ Ngụy.
Tôi cũng chưa quên những bà con vào Nam sau 30-4-1975, gom góp một ký đường, vài lon sữa làm quà, tưởng là quý hóa lắm, ai dè miền Nam đâu có thiếu thốn và khổ cực như họ bị đánh lừa. Ðã có những người, thẹn quá, giấu luôn quà, không dám đem ra cho bà con trong Nam nữa.
Tôi cũng vẫn còn chưa quên người anh họ của ông xã tôi, một cán bộ trung kiên, làm việc cho ban tuyên giáo trung ương, ban tuyên truyền của đảng cộng sản, hỏi nhỏ chú em, “Vậy chú có bao nhiêu nợ máu với nhân dân. Nhà cửa này là do Mỹ nó cho đấy à?”
Nhưng cái vỡ mộng khi vào Nam sau năm 1975 có lẽ cũng một phần nào được xoa dịu vì dầu sao cũng là kẻ thắng. Cái vỡ mộng sau đó, khi vào năm 1979, người anh em “môi hở răng lạnh” dạy cho một bài học kinh hồn. Cho đến bây giờ chính quyền Hà Nội vẫn chưa công nhận số tử vong của trận chiến biên giới, cả về quân nhân lẫn thường dân.
Và sau cùng, giọt nước làm đầy ly là khi chính quyền bỏ rơi chủ thuyết, chạy theo “định hướng thị trường” và chỉ còn muốn làm giàu. Thật là đau đớn vì sau cùng họ mới thấy là những gì họ hy sinh cả cuộc đời đã chỉ là những cái bánh vẽ.
Lê Phan
Chửi cho sướng mồm?
Nghe ké ông Châu Đình An - tác giả bài hát “Đêm chôn dầu vượt biển” từng làm cả biển người khóc mỗi khi nghe Khánh Ly hát - “nói chuyện với bạn ở Việt Nam”, nhớ lõm bõm được vài câu “đầy ấn tượng”, như “Tôi không làm công việc chửi bới chế độ độc đảng. Tôi cũng không làm công việc nói theo trào lưu chống cộng cho sướng mồm.”, Chổi giật mình, ủa lâu nay mình “chửi bới CS” mà không biết mồm mình được sướng như ông An nói.
Mới bắt đầu đọc kinh “xét mình” xem có được “sướng mồm” khi chống cộng không, thì hình ảnh bà mất gà chửi đứa ăn trộm gà của bà nhảy vào. Trông bà chửi đứa ăn trộm, thấy bà chẳng có gì vẻ gì la sướng mồm cả, mà ngược lại thấy bà đau khổ nữa là khác. Mà chắc chắn là bà đau thật. Con gà của bà, công bà nuôi từ bé chíp chíp, lớn lên nhiều lúc bà thèm làm thịt ăn hay đem bán kiếm tiền để mua sắm chút lặt vặt, nhưng ráng nuôi thêm để nó đẻ trứng; nhà bà lại nghèo, con gà bà mất, có thể bà xem như là cái gia tài nhỏ của bà. Hành động chửi đứa ăn cắp của bà mất của vừa là phản xạ tự nhiên, vừa cố dụng ý tự vệ cảnh cáo bọn kê tặc và báo động cho mọi người biết để canh chừng, chứ không phải bà chửi cho sướng mồm. Nếu chửi mà sướng mồm thì mặt bà tươi rói lên, trông “hồ hởi phấn khởi” chứ không giận dữ, tức tối đến ứa gan lộn mật như ta thấy.
Bà mất gà đã mất của rồi còn mất công chửi. Bà chỉ chuốc thêm mệt cái thân, mỏi cái miệng chứ chẳng “sướng mồm” gì đâu. Những người bị mất đi nhiều thứ quý báu, lớn lao hơn con gà còn cay đắng gấp bội, là mất quyền làm người, mất gia sản, mất cả quê hương đất nước, thì Chổi thiển nghĩ cũng thông cảm cho họ khi họ chửi những đứa ăn cắp. Như bà mất gà, mồm họ cũng chả sung sướng gì đâu, nếu không nói là chỉ có mất thêm công súc miệng khi nhắc đến chúng. Chẳng qua cũng là cảnh chẳng đặng đừng, phải lên tiếng như một đòi hỏi của bổn phận và lương tri.
Nguyễn Bá Chổi
Mới bắt đầu đọc kinh “xét mình” xem có được “sướng mồm” khi chống cộng không, thì hình ảnh bà mất gà chửi đứa ăn trộm gà của bà nhảy vào. Trông bà chửi đứa ăn trộm, thấy bà chẳng có gì vẻ gì la sướng mồm cả, mà ngược lại thấy bà đau khổ nữa là khác. Mà chắc chắn là bà đau thật. Con gà của bà, công bà nuôi từ bé chíp chíp, lớn lên nhiều lúc bà thèm làm thịt ăn hay đem bán kiếm tiền để mua sắm chút lặt vặt, nhưng ráng nuôi thêm để nó đẻ trứng; nhà bà lại nghèo, con gà bà mất, có thể bà xem như là cái gia tài nhỏ của bà. Hành động chửi đứa ăn cắp của bà mất của vừa là phản xạ tự nhiên, vừa cố dụng ý tự vệ cảnh cáo bọn kê tặc và báo động cho mọi người biết để canh chừng, chứ không phải bà chửi cho sướng mồm. Nếu chửi mà sướng mồm thì mặt bà tươi rói lên, trông “hồ hởi phấn khởi” chứ không giận dữ, tức tối đến ứa gan lộn mật như ta thấy.
Bà mất gà đã mất của rồi còn mất công chửi. Bà chỉ chuốc thêm mệt cái thân, mỏi cái miệng chứ chẳng “sướng mồm” gì đâu. Những người bị mất đi nhiều thứ quý báu, lớn lao hơn con gà còn cay đắng gấp bội, là mất quyền làm người, mất gia sản, mất cả quê hương đất nước, thì Chổi thiển nghĩ cũng thông cảm cho họ khi họ chửi những đứa ăn cắp. Như bà mất gà, mồm họ cũng chả sung sướng gì đâu, nếu không nói là chỉ có mất thêm công súc miệng khi nhắc đến chúng. Chẳng qua cũng là cảnh chẳng đặng đừng, phải lên tiếng như một đòi hỏi của bổn phận và lương tri.
Nguyễn Bá Chổi
Luận về Nhân Phẩm
Bùi Tín

Chị Bùi Thị Minh Hằng trong một cuộc tuần hành chống Trung Quốc ngày 17/7/2011 tại Hà Nội
Thế là cô Bùi Thị Minh Hằng đã được trả lại tự do, sau khi ở Trại phục hồi nhân phẩm Thanh Hà ở Vĩnh Phú hơn 6 tháng. Trại này chuyên làm nhiệm vụ gọi là “giáo dục cải tạo” những thành phần có hạnh kiểm xấu có hại cho cuộc sống xã hội, như móc túi, cướp giật, lừa đảo, nghiện hút xì ke ma túy, gái điếm, cờ bạc.
Cô Hằng không hề thuộc vào bất cứ một hạng người nào như thế. Cô sống ngay thật, lương thiện, được bạn bè tin cậy quý mến. Trước con mắt của một chính quyền “hèn với giặc, ác với dân”, cô Minh Hằng phạm tội “làm mất trật tự xã hội” khi cô luôn đi đầu trong các cuộc biểu tình và tuần hành chống bành trướng, luôn hô khẩu hiệu to nhất: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, luôn có mặt trong 11 ngày Chủ nhật chống bành trướng, kiên trì đội nón có hàng chữ: Hoàng Sa - Trường Sa - Việt Nam.
Điều mỉa mai và trớ trêu nhất là chính con người bén nhậy về nhân phẩm, về phẩm chất làm con người chân chính, về phẩm giá làm người công dân Việt Nam mẫu mực lại bị đưa vào trại phục hồi nhân phẩm.
Trong khi tổ quốc lâm nguy, biên giới đất nước bị gậm nhấm, đảo và vùng biển quê hương bị lấn chiếm, phẩm giá cần thiết nhất của nam nữ công dân Việt Nam là yêu nước, bảo vệ tổ quốc bằng hành động, bằng tỏ thái độ dấn thân. Đó chính là tư thế, là tình cảm, là hành động quả đoán của cô Minh Hằng, của nữ chiến sỹ yêu nước Minh Hằng.
Trong trại phục hồi nhân phẩm, cô Minh Hằng càng sáng chói thêm về phẩm giá làm người, khi cô kiên quyết từ chối viết đơn xin khoan hồng theo lời dụ dỗ của cán bộ trại, cô còn đòi có giấy bút để viết đơn kiện chủ tịch Ủy ban Nhân dân Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đã ký quyết định sai lầm đưa cô vào trại cải tạo. Mặc dầu bị mất tự do, bị cô lập, xa bạn bè người thân, bị đày dọa cả về tinh thần và vật chất, nhân phẩm của cô Minh Hằng càng thêm rực sáng, khi cô một mực khẳng định “tôi không có tội, tôi không phạm pháp, yêu nước chống bành trướng là nghĩa vụ công dân, không thể là tội”. Cô đã sụt mất 14 kilô trong trại cải tạo, người ốm yếu hẳn, bị thêm bệnh, nhưng phẩm giá con người càng thêm cao quý, ý chí thêm cứng cỏi, lý tưởng thêm rực sáng ngay khi bị mất tự do.
Chính do phẩm giá con người của Minh Hằng cao quý như thế nên cả dư luận xã hội trong và ngoài nước mến yêu, bênh vực, đòi công lý cho cô, nên dư luận báo chí, các tổ chức nhân quyền quốc tế, các chính phủ dân chủ từ Á sang Âu, từ Úc sang Mỹ đều lên tiếng mạnh mẽ đòi nhà cầm quyền phải trả tự do cho cô, và nay họ đã buộc phải để cô ra khỏi trại phục hồi nhân phẩm.
Mọi người vô cùng xúc động thương cảm nhìn thấy cô trở về nhà gầy yếu, tiều tụy, với những vết thương ở tay, những sợi tóc bạc trên trán, nhưng mọi người càng quý mến cô gấp bội khi thấy nghị lực cô vẫn tràn đầy, nhân phẩm cô thêm sáng chói.
Cô Minh Hằng được tự do, trở về với gia đình, tinh thần vững vàng, không lay chuyển là một tin vui lớn cho người thân, bè bạn xa gần, trong và ngoài nước. Xin gửi đến cô lời chúc mừng chân thành, thân ái nhất, chúc cô mau phục hồi sức khỏe để tiếp tục cuộc đấu tranh vì dân vì nước, vì hiện tại và các thế hệ mai sau.
Thân yêu chào mừng người phụ nữ kiên trung, có nhân phẩm cao quý tuyệt vời, đã đứng trên đầu những kẻ không có mảy may nhân phẩm lại ép buộc cô vào trại phục hồi nhân phẩm.
Chính họ đã vô tình góp phần đưa cô lên đỉnh cao mới về nhân phẩm, làm cho tấm gương sáng của cô lẫm liệt hơn, cao quý hơn, thu hút hơn trước gấp bội phần. Xin mạn phép người thân và bạn bè của cô, xin phép được tặng cô danh hiệu Minh Hằng – Nhân phẩm, vừa để biểu dương cô, vừa để ghi lại thử thách tuyệt vời khi cô trải qua 6 tháng ở trại phục hồi nhân phẩm
Qua sự kiện đáng nhớ này, rất cần luận về nhân phẩm cho những người cầm quyền trong nước, đặc biệt là ngành công an, cho viên chủ tịch ủy ban gọi là “nhân dân” của Hà Nội.
Tại sao các người lại phải xích tay một người phụ nữ ốm yếu, vừa sụt 14 cân do sống trong trại của các người, lại còn cử cả một đơn vị đi xe to, xe nhỏ, tiền hô hậu ủng, súng to súng nhỏ, đi 2 ngày trời trên gần 2 ngàn kilomet, các người sợ ai, ra oai với ai vậy? Nhân phẩm các người ở đâu? Các người có còn chút tự trọng, tự tin nào nữa không?
Cả Bộ Chính trị và chính phủ, Quốc hội đang cai trị đất nước có biết Liên Hiệp Quốc đã yêu cầu họ đóng hết các trại cải tạo, phục hồi nhân phẩm ở trong nước, vì họ biết rất rõ các người đã dùng viện trợ chi tiêu vung vít cho các trại này mà không có kết quả. Những kẻ thật sự cần phục hồi nhân phẩm thì khi ra trại lại xấu hơn, tệ hơn, nguy hiểm cho xã hội, vì các người không hề phục hồi nhân phẩm cho họ, mà còn bóc lột, khinh miệt, đày ải họ, làm họ thêm cay đắng oán hận thêm cái xã hội này. Chưa nói đến chuyện những người lương thiện bị cố tình đưa “nhầm” vào các trại này; họ sẽ trở ra uất hận, căm giận chế độ độc ác này đến đâu.
Lẽ ra, chính phủ, Bộ Lao động Xã hội, Ban Tuyên giáo của đảng, Hội Liên hiệp Phụ nữ phải họp lại rút kinh nghiệm về các trại cải tạo và phục hồi nhân phẩm, nhưng tình hình ngày càng tệ hơn. Không một ai cảm thấy nhục, khi bị Liên Hiệp Quốc yêu cầu như trên. Thì ra chính cái chính quyền này, chính ngành công an, ngành công tác xã hội phải được phục hồi nhân phẩm trước hết và trên hết, vì ngành công an gần đây đã liên tiếp đánh đập, tra tấn, giết hại người dân trong trụ sở và trại giam của mình.
Hãy học cho kỹ thế nào là phẩm giá con người. Ông chủ tịch thành phố Hà Nội cũng phải học cho kỹ để biết tôn trọng người dân, để quý trọng những công dân kiên cường, yêu nước thương dân như cô Minh Hằng. Ở một nước văn minh, cô Minh Hằng có quyền kiện lại viên chủ tịch Thảo do đã ký một quyết định sai lầm, đòi bồi thường danh dự và thiệt hại về thân thể và cuộc sống tự do của công dân. Khi cô Minh Hằng xuống đường, bị giữ lại, cô là công dân Vũng Tàu, đang ở Sài Gòn, ông Thảo có cái quyền gì mà ra quyết định đưa cô vào trại phục hồi nhân phẩm của Hà Nội? Chẳng qua là ông được lệnh trả thù một công dân kiên cường chống bành trướng, theo nghiêm lệnh của quan thầy ở tận Bắc Kinh, là phải chấm dứt các cuộc tụ họp đông người chống bành trướng, và nhiều ủy viên Bộ Chính trị đã cúi đầu cam kết thực hiện.
Chính các vị trên đây cũng rất cần được cải tạo để phục hồi nhân phẩm.
Và tấm gương Minh Hằng - Nhân phẩm chính là bài học sống động cho những người như thế đứng thẳng dậy, để học làm người Việt Nam lương thiện, tử tế, biết làm việc tốt, việc thiện, tóm lại là học để biết làm người chân chính.
Cô Minh Hằng hãy tự hào là cô giáo quý hiếm cho những người như thế.
Bùi Tín

Chị Bùi Thị Minh Hằng trong một cuộc tuần hành chống Trung Quốc ngày 17/7/2011 tại Hà Nội
Thế là cô Bùi Thị Minh Hằng đã được trả lại tự do, sau khi ở Trại phục hồi nhân phẩm Thanh Hà ở Vĩnh Phú hơn 6 tháng. Trại này chuyên làm nhiệm vụ gọi là “giáo dục cải tạo” những thành phần có hạnh kiểm xấu có hại cho cuộc sống xã hội, như móc túi, cướp giật, lừa đảo, nghiện hút xì ke ma túy, gái điếm, cờ bạc.
Cô Hằng không hề thuộc vào bất cứ một hạng người nào như thế. Cô sống ngay thật, lương thiện, được bạn bè tin cậy quý mến. Trước con mắt của một chính quyền “hèn với giặc, ác với dân”, cô Minh Hằng phạm tội “làm mất trật tự xã hội” khi cô luôn đi đầu trong các cuộc biểu tình và tuần hành chống bành trướng, luôn hô khẩu hiệu to nhất: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, luôn có mặt trong 11 ngày Chủ nhật chống bành trướng, kiên trì đội nón có hàng chữ: Hoàng Sa - Trường Sa - Việt Nam.
Điều mỉa mai và trớ trêu nhất là chính con người bén nhậy về nhân phẩm, về phẩm chất làm con người chân chính, về phẩm giá làm người công dân Việt Nam mẫu mực lại bị đưa vào trại phục hồi nhân phẩm.
Trong khi tổ quốc lâm nguy, biên giới đất nước bị gậm nhấm, đảo và vùng biển quê hương bị lấn chiếm, phẩm giá cần thiết nhất của nam nữ công dân Việt Nam là yêu nước, bảo vệ tổ quốc bằng hành động, bằng tỏ thái độ dấn thân. Đó chính là tư thế, là tình cảm, là hành động quả đoán của cô Minh Hằng, của nữ chiến sỹ yêu nước Minh Hằng.
Trong trại phục hồi nhân phẩm, cô Minh Hằng càng sáng chói thêm về phẩm giá làm người, khi cô kiên quyết từ chối viết đơn xin khoan hồng theo lời dụ dỗ của cán bộ trại, cô còn đòi có giấy bút để viết đơn kiện chủ tịch Ủy ban Nhân dân Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đã ký quyết định sai lầm đưa cô vào trại cải tạo. Mặc dầu bị mất tự do, bị cô lập, xa bạn bè người thân, bị đày dọa cả về tinh thần và vật chất, nhân phẩm của cô Minh Hằng càng thêm rực sáng, khi cô một mực khẳng định “tôi không có tội, tôi không phạm pháp, yêu nước chống bành trướng là nghĩa vụ công dân, không thể là tội”. Cô đã sụt mất 14 kilô trong trại cải tạo, người ốm yếu hẳn, bị thêm bệnh, nhưng phẩm giá con người càng thêm cao quý, ý chí thêm cứng cỏi, lý tưởng thêm rực sáng ngay khi bị mất tự do.
Chính do phẩm giá con người của Minh Hằng cao quý như thế nên cả dư luận xã hội trong và ngoài nước mến yêu, bênh vực, đòi công lý cho cô, nên dư luận báo chí, các tổ chức nhân quyền quốc tế, các chính phủ dân chủ từ Á sang Âu, từ Úc sang Mỹ đều lên tiếng mạnh mẽ đòi nhà cầm quyền phải trả tự do cho cô, và nay họ đã buộc phải để cô ra khỏi trại phục hồi nhân phẩm.
Mọi người vô cùng xúc động thương cảm nhìn thấy cô trở về nhà gầy yếu, tiều tụy, với những vết thương ở tay, những sợi tóc bạc trên trán, nhưng mọi người càng quý mến cô gấp bội khi thấy nghị lực cô vẫn tràn đầy, nhân phẩm cô thêm sáng chói.
Cô Minh Hằng được tự do, trở về với gia đình, tinh thần vững vàng, không lay chuyển là một tin vui lớn cho người thân, bè bạn xa gần, trong và ngoài nước. Xin gửi đến cô lời chúc mừng chân thành, thân ái nhất, chúc cô mau phục hồi sức khỏe để tiếp tục cuộc đấu tranh vì dân vì nước, vì hiện tại và các thế hệ mai sau.
Thân yêu chào mừng người phụ nữ kiên trung, có nhân phẩm cao quý tuyệt vời, đã đứng trên đầu những kẻ không có mảy may nhân phẩm lại ép buộc cô vào trại phục hồi nhân phẩm.
Chính họ đã vô tình góp phần đưa cô lên đỉnh cao mới về nhân phẩm, làm cho tấm gương sáng của cô lẫm liệt hơn, cao quý hơn, thu hút hơn trước gấp bội phần. Xin mạn phép người thân và bạn bè của cô, xin phép được tặng cô danh hiệu Minh Hằng – Nhân phẩm, vừa để biểu dương cô, vừa để ghi lại thử thách tuyệt vời khi cô trải qua 6 tháng ở trại phục hồi nhân phẩm
Qua sự kiện đáng nhớ này, rất cần luận về nhân phẩm cho những người cầm quyền trong nước, đặc biệt là ngành công an, cho viên chủ tịch ủy ban gọi là “nhân dân” của Hà Nội.
Tại sao các người lại phải xích tay một người phụ nữ ốm yếu, vừa sụt 14 cân do sống trong trại của các người, lại còn cử cả một đơn vị đi xe to, xe nhỏ, tiền hô hậu ủng, súng to súng nhỏ, đi 2 ngày trời trên gần 2 ngàn kilomet, các người sợ ai, ra oai với ai vậy? Nhân phẩm các người ở đâu? Các người có còn chút tự trọng, tự tin nào nữa không?
Cả Bộ Chính trị và chính phủ, Quốc hội đang cai trị đất nước có biết Liên Hiệp Quốc đã yêu cầu họ đóng hết các trại cải tạo, phục hồi nhân phẩm ở trong nước, vì họ biết rất rõ các người đã dùng viện trợ chi tiêu vung vít cho các trại này mà không có kết quả. Những kẻ thật sự cần phục hồi nhân phẩm thì khi ra trại lại xấu hơn, tệ hơn, nguy hiểm cho xã hội, vì các người không hề phục hồi nhân phẩm cho họ, mà còn bóc lột, khinh miệt, đày ải họ, làm họ thêm cay đắng oán hận thêm cái xã hội này. Chưa nói đến chuyện những người lương thiện bị cố tình đưa “nhầm” vào các trại này; họ sẽ trở ra uất hận, căm giận chế độ độc ác này đến đâu.
Lẽ ra, chính phủ, Bộ Lao động Xã hội, Ban Tuyên giáo của đảng, Hội Liên hiệp Phụ nữ phải họp lại rút kinh nghiệm về các trại cải tạo và phục hồi nhân phẩm, nhưng tình hình ngày càng tệ hơn. Không một ai cảm thấy nhục, khi bị Liên Hiệp Quốc yêu cầu như trên. Thì ra chính cái chính quyền này, chính ngành công an, ngành công tác xã hội phải được phục hồi nhân phẩm trước hết và trên hết, vì ngành công an gần đây đã liên tiếp đánh đập, tra tấn, giết hại người dân trong trụ sở và trại giam của mình.
Hãy học cho kỹ thế nào là phẩm giá con người. Ông chủ tịch thành phố Hà Nội cũng phải học cho kỹ để biết tôn trọng người dân, để quý trọng những công dân kiên cường, yêu nước thương dân như cô Minh Hằng. Ở một nước văn minh, cô Minh Hằng có quyền kiện lại viên chủ tịch Thảo do đã ký một quyết định sai lầm, đòi bồi thường danh dự và thiệt hại về thân thể và cuộc sống tự do của công dân. Khi cô Minh Hằng xuống đường, bị giữ lại, cô là công dân Vũng Tàu, đang ở Sài Gòn, ông Thảo có cái quyền gì mà ra quyết định đưa cô vào trại phục hồi nhân phẩm của Hà Nội? Chẳng qua là ông được lệnh trả thù một công dân kiên cường chống bành trướng, theo nghiêm lệnh của quan thầy ở tận Bắc Kinh, là phải chấm dứt các cuộc tụ họp đông người chống bành trướng, và nhiều ủy viên Bộ Chính trị đã cúi đầu cam kết thực hiện.
Chính các vị trên đây cũng rất cần được cải tạo để phục hồi nhân phẩm.
Và tấm gương Minh Hằng - Nhân phẩm chính là bài học sống động cho những người như thế đứng thẳng dậy, để học làm người Việt Nam lương thiện, tử tế, biết làm việc tốt, việc thiện, tóm lại là học để biết làm người chân chính.
Cô Minh Hằng hãy tự hào là cô giáo quý hiếm cho những người như thế.
Ba Sài Gòn & Hồn Pháp Luật
(05/12/2012) Pháp luật là kết tinh trí tuệ và lương tri của cả nhân loại. Một vài cá nhân, lúc này hay lúc khác, có thể sử dụng nó cho các mục đích phi nhân đạo, nhưng chừng nào trí tuệ và lương tri còn tồn tại, thì pháp luật vẫn còn có đầy đủ giá trị của nó, nó vẫn sẽ được bảo vệ.(Nguyễn Thị Từ Huy)
Có bữa, tôi nghe Anh Ba Sài Gòn bỏ nhỏ: “Đã là dân tất nhiên người ta có thể kể ra hàng ngàn chuyện buộc phải bỏ qua nhưng giá như có một lời xin lỗi, chỉ một lời thôi...”
“Ví dụ như ngư dân đánh cá đã không được bảo vệ trên biển của mình và tuyệt vọng khốn cùng vì bị quân giặc bắt giữ đòi tiền chuộc. Ví dụ như 70 người dân Phú Yên bất ngờ thiệt mạng trong một đêm vì mưa lớn kèm thủy điện đồng loạt xả lũ. Ví dụ như hàng triệu người dân đang sống trong những khu quy hoạch treo vài chục năm. Ví dụ như hàng vạn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết thỏa đáng. Ví dụ như những con đường ngốn vài trăm tỷ tiền dân vừa chạy thử đã hỏng. Ví dụ như hàng trăm lô cốt khiến dân tình hàng ngày kẹt xe dài cổ hít khói bụi... Hay gần đây nhất là chuyện của một người thầy giáo đương thời trở thành hết thời chỉ vì mong muốn làm một ông thầy thực sự lương thiện. Có thấy ai xin lỗi ai gì đâu?”
Nghe rồi, tất nhiên, tôi chỉ cười trừ (và cười buồn) thôi. Cái nước mình nó thế mà. Anh Ba, chả qua, bức xúc quá mà xả bầu tâm sự (chút xíu) vơi bớt nỗi sầu nhân thế, thế thôi.
Tưởng thế nhưng không phải thế.
Không bao lâu sau, vào hôm 18 tháng 10 năm 2010, BaSG bị tó. Tôi lại chép miệng thở dài: “Cái nước mình nó thế!” Ở một đất nước mà mọi công dân đều có thể là những tù nhân dự khuyết thì triệu tập hay bắt bớ (lai rai) là chuyện thường ngày vẫn xẩy ra thàng ngày, ở huyện. Chắc cũng chỉ phải “làm việc” độ vài ba hôm, hay nhiều lắm là vài ba tháng – “để làm rõ một số vấn đề” – vậy thôi.
Tưởng vậy nhưng cũng không phải vậy. Anh Ba bị nhốt luôn gần hai năm trời. Mãi tới ngày tháng 14 tháng 4 năm 2012, mới thấy báo Người Lao Động loan tin rằng cùng với hai bị can khác – ông Nguyễn Văn Hải và bà Tạ Phong Tần – BaSG “bị truy tố tội Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” vì đã “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt Đảng Cộng sản Việt Nam.”

Anh Ba Sài Gòn.
Trời! Nói gì nghe thấy ghê vậy, mấy cha?
Coi: anh Ba chỉ đưa ra nhận xét là hai chữ “xin lỗi” không có trong tự điển của giới người cầm quyền ở Việt Nam, văn hoá ứng xử của họ “không có cái vụ xin lỗi,” vậy thôi. Đây là một nhận xét này hoàn toàn khách quan và chính xác, chớ có ai dám “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt” ai đâu? Dù vậy, vẫn theo bài báo thượng dẫn, BaSG “đã nhận tội và có đơn xin khoan hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt.”
Anh Ba thiệt là biết điều hết sức. Mà không phải đợi tới lúc này thằng chả mới biết chuyện như vậy đâu nha. Trước đó, khi luận bàn về “Tội Bất Kính Với Vua Và Điều 88 BLHS” – vào ngày 24 tháng 3 năm 2009 – BaSG cũng đã tỏ ra nhũn nhặn vô cùng:
“Ở hầu hết các nước có thể chế Cộng hòa thì những hành vi biểu lộ sự không đồng ý, chỉ trích, phê phán nhà nước đều là bình thường. Ngay cả hành vi phản kháng có tính quy mô và nguy hiểm nhất đối với chính phủ hiện hữu là sự thành lập một Đảng phái chính trị đối lập [với Đảng cầm quyền] thì cũng không hề bị cấm đoán.
Vâng đấy là chuyện ở nước người... ta chớ có nên hào hứng quá mà tưởng bở!”
BaSG – rõ ràng – rất hiểu thân phận (con sâu cái kiến) cũng như thời đại (nhiễu nhương) của mình. Chính anh đã long trọng cảnh báo rằng: “Phần hồn của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng.”
Thế nào là “phần hồn của pháp luật”?
Với tư cách là một luật gia, anh Ba luận giải một cách hùng hồn, rành mạch và khúc triết – như sau:
“Hồn pháp luật không chỉ đơn thuần là ý thức pháp luật trong mỗi công dân, nó là sự mặc nhiên thừa nhận, tin tưởng và thượng tôn vào lẽ phải và công lý, vào sự đúng đắn, công bằng, bình đẳng mà pháp luật đang đại diện. Được sống trong một xã hội có pháp luật là được hưởng thụ một sự an toàn và bình yên. Trong xã hội mà pháp luật được thượng tôn thì các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền đương nhiên được pháp luật bảo đảm.
Thành quả của cách mạng, giá trị cơ bản của đạo đức, tư tưởng tiến bộ nhất của một dân tộc, nguyên khí của những bậc hiền tài và sự chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại đều được kết tinh nơi pháp luật. Chính nhờ có nền pháp luật ổn định mà dân chúng được yên vui, văn chương nghệ thuật được bày tỏ, kinh tế được phát triển, môi trường sống, lãnh thổ được bảo vệ và quốc gia trở nên hùng cường.
Khi dân chúng tôn thờ pháp luật và tự nguyện tuân theo thì công việc của công quyền không còn nặng tính cai trị cưỡng ép, các thủ tục hành chính không còn ai kêu ca. Khi họ thừa nhận pháp luật công bằng thì đất đai giải tỏa cũng không mấy ai khiếu kiện chống đối. Chỉ còn lại những người hiểu việc, hiểu trách nhiệm của mình mà làm, quan là kẻ làm thuê cho dân nên quyền uy và khoảng cách giữa quan và dân không phải là điều đáng e sợ…
Tuy nhiên, nếu thiếu phần hồn cao đẹp, thì pháp luật chỉ còn trơ ra thân xác phì nộn của một tên bạo chúa đầy sức mạnh nhưng chỉ phụng sự cho sự tham lam, độc ác và cảm tính của chính hắn mà thôi.
Có thể nói phần hồn hay khía cạnh tinh thần chính là sức mạnh cốt yếu nhất của pháp luật chứ không phải phần vật chất với hàng vạn điều cấm đoán mà dân chúng không tự nguyện thi hành.
“Phần hồn” của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng
Bởi được gán cho các đặc tính thượng tôn và cao quý nên hồn pháp luật rất nhạy cảm với sự vấy bẩn, chê bai, phỉ báng và nhất là khi nó bị một thứ quyền lực khác đè lên trên đầu. Các xác kềnh càng của pháp luật với đủ thứ trang bị vũ lực, phạt vạ, nhà tù càng trở nên nguy hiểm khi phần hồn của nó bị ma quỷ nhập vào.
- Hệ thống tư pháp bị phát hiện là thiếu tính độc lập, bị quyền lực chỉ đạo trước khi điều tra, xét xử… khiến cho hồn pháp luật hoảng sợ phải đi trú ẩn.
- Pháp luật bị quan chức lạm dụng thành đại lượng đổi chác và tham nhũng. Súng ống để phụng sự cho pháp luật lại trở thành công cụ dọa nạt và đem bắn vào dân chúng chưa rõ tội tình gì. Mới đây ở Hà Nội chỉ trong một tuần mà có đến hai cái chết ở trong đồn công an đều do bị đánh. Tìm kiếm trên Google cụm từ “công an đánh dân” sẽ ra hàng trăm ngàn kết quả với những tin tức, hình ảnh ghê hồn.
Sự lạm quyền khiến cho hồn pháp luật bị tha hóa.
- Ở Việt Nam không những có dân oan, mà còn có những nhà báo oan, nhà thơ oan, nhà văn oan, luật sư oan, doanh nghiệp oan và blogger oan… ở khắp nơi. Dân oan mất đất mất nhà, nhà báo bị vào tù oan vì đưa tin chống tham nhũng, văn nghệ sĩ bị tước đoạt giải thưởng, bị vào sổ đen không cho đăng bài viết, bị buộc phải dẹp bỏ trang web cá nhân, luật sư bị tước thẻ hành nghề, doanh nghiệp bị phá sản, blogger bị bắt bớ, tù tội… Sự oan ức hằn sâu vào tư duy con người chính vì pháp luật không được thực thi đúng đắn.
Sự oan ức khiến cho hồn pháp luật bị teo tóp lại.
- Bao nhiêu đơn thư khiếu nại, tố cáo chỉ là thứ nước đổ đầu vịt, bặt vô âm tín không được trả lời, thậm chí chỉ có đi nộp đơn và xin cái chữ ký đã nhận đơn mà đã bị gây khó khăn. Có người may mắn được trả lời thì lại vướng vào tình trạng trên bảo dưới không nghe, bị kẻ thi hành phớt lờ như không. Nhiều ngàn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết, có người làm hàng trăm tờ đơn khiếu nại lên nhiều cấp, kiên trì từ đời cha ông đến đời con cháu mà chưa biết công lý rốt cục có hình dáng như thế nào…
Sự im lặng và vô cảm của những người có thẩm quyền khiến cho hồn pháp luật trở nên thờ thẫn.
- Những dự án bô-xít gây nguy hại cho môi trường, cho an ninh quốc gia được thông qua bất chấp sự phản đối của hàng ngàn trí thức. Rừng đầu nguồn và phòng hộ biên giới được dễ dãi giao cho người Trung Quốc với giá rẻ mạt. Lãnh hải bị đe doạ, cuộc mưu sinh và sinh mạng của ngư dân trên biển không đảm bảo, những danh từ méo mó như “tàu lạ”… khiến cho hồn pháp luật bị nghi ngờ.
- Quần chúng tự phát dùng bạo lực, lưu manh côn đồ đánh đập sư sãi, dân thường ngay trước mặt công an… khiến cho hồn pháp luật dường như bị ma ám...
Tất cả những hành động và lối suy nghĩ ấy đã đầu độc và hủy hoại hồn pháp luật nhanh chóng khiến nó lâm vào tình trạng hấp hối...”
Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh Ba về câu kết luận bi quan vừa dẫn. Phần hồn của pháp luật có thể bị đe dọa, tổn thương hay teo tóp nhưng luôn luôn hiện hữu và sống mãi với chúng ta.
Không cần tìm đâu xa, người ta có thể tìm thấy được phần hồn pháp luật ngay trong gia đình BaSG, qua lời trưởng nữ của anh – cháu Phan Ngọc Minh :”Bố con chỉ có một cái tội duy nhất là yêu nước.”
Dù anh Ba có “nhận tội” và “xin khoan hồng” chăng nữa, “phần hồn pháp luật” trong con tim nồng nhiệt và chân chính của anh vẫn sẽ được ghi nhận và đậm nét mãi với thời gian.
Tưởng Năng Tiến
(RFAs Blog)
(05/12/2012) Pháp luật là kết tinh trí tuệ và lương tri của cả nhân loại. Một vài cá nhân, lúc này hay lúc khác, có thể sử dụng nó cho các mục đích phi nhân đạo, nhưng chừng nào trí tuệ và lương tri còn tồn tại, thì pháp luật vẫn còn có đầy đủ giá trị của nó, nó vẫn sẽ được bảo vệ.(Nguyễn Thị Từ Huy)
Có bữa, tôi nghe Anh Ba Sài Gòn bỏ nhỏ: “Đã là dân tất nhiên người ta có thể kể ra hàng ngàn chuyện buộc phải bỏ qua nhưng giá như có một lời xin lỗi, chỉ một lời thôi...”
“Ví dụ như ngư dân đánh cá đã không được bảo vệ trên biển của mình và tuyệt vọng khốn cùng vì bị quân giặc bắt giữ đòi tiền chuộc. Ví dụ như 70 người dân Phú Yên bất ngờ thiệt mạng trong một đêm vì mưa lớn kèm thủy điện đồng loạt xả lũ. Ví dụ như hàng triệu người dân đang sống trong những khu quy hoạch treo vài chục năm. Ví dụ như hàng vạn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết thỏa đáng. Ví dụ như những con đường ngốn vài trăm tỷ tiền dân vừa chạy thử đã hỏng. Ví dụ như hàng trăm lô cốt khiến dân tình hàng ngày kẹt xe dài cổ hít khói bụi... Hay gần đây nhất là chuyện của một người thầy giáo đương thời trở thành hết thời chỉ vì mong muốn làm một ông thầy thực sự lương thiện. Có thấy ai xin lỗi ai gì đâu?”
Nghe rồi, tất nhiên, tôi chỉ cười trừ (và cười buồn) thôi. Cái nước mình nó thế mà. Anh Ba, chả qua, bức xúc quá mà xả bầu tâm sự (chút xíu) vơi bớt nỗi sầu nhân thế, thế thôi.
Tưởng thế nhưng không phải thế.
Không bao lâu sau, vào hôm 18 tháng 10 năm 2010, BaSG bị tó. Tôi lại chép miệng thở dài: “Cái nước mình nó thế!” Ở một đất nước mà mọi công dân đều có thể là những tù nhân dự khuyết thì triệu tập hay bắt bớ (lai rai) là chuyện thường ngày vẫn xẩy ra thàng ngày, ở huyện. Chắc cũng chỉ phải “làm việc” độ vài ba hôm, hay nhiều lắm là vài ba tháng – “để làm rõ một số vấn đề” – vậy thôi.
Tưởng vậy nhưng cũng không phải vậy. Anh Ba bị nhốt luôn gần hai năm trời. Mãi tới ngày tháng 14 tháng 4 năm 2012, mới thấy báo Người Lao Động loan tin rằng cùng với hai bị can khác – ông Nguyễn Văn Hải và bà Tạ Phong Tần – BaSG “bị truy tố tội Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” vì đã “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt Đảng Cộng sản Việt Nam.”

Anh Ba Sài Gòn.
Trời! Nói gì nghe thấy ghê vậy, mấy cha?
Coi: anh Ba chỉ đưa ra nhận xét là hai chữ “xin lỗi” không có trong tự điển của giới người cầm quyền ở Việt Nam, văn hoá ứng xử của họ “không có cái vụ xin lỗi,” vậy thôi. Đây là một nhận xét này hoàn toàn khách quan và chính xác, chớ có ai dám “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt” ai đâu? Dù vậy, vẫn theo bài báo thượng dẫn, BaSG “đã nhận tội và có đơn xin khoan hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt.”
Anh Ba thiệt là biết điều hết sức. Mà không phải đợi tới lúc này thằng chả mới biết chuyện như vậy đâu nha. Trước đó, khi luận bàn về “Tội Bất Kính Với Vua Và Điều 88 BLHS” – vào ngày 24 tháng 3 năm 2009 – BaSG cũng đã tỏ ra nhũn nhặn vô cùng:
“Ở hầu hết các nước có thể chế Cộng hòa thì những hành vi biểu lộ sự không đồng ý, chỉ trích, phê phán nhà nước đều là bình thường. Ngay cả hành vi phản kháng có tính quy mô và nguy hiểm nhất đối với chính phủ hiện hữu là sự thành lập một Đảng phái chính trị đối lập [với Đảng cầm quyền] thì cũng không hề bị cấm đoán.
Vâng đấy là chuyện ở nước người... ta chớ có nên hào hứng quá mà tưởng bở!”
BaSG – rõ ràng – rất hiểu thân phận (con sâu cái kiến) cũng như thời đại (nhiễu nhương) của mình. Chính anh đã long trọng cảnh báo rằng: “Phần hồn của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng.”
Thế nào là “phần hồn của pháp luật”?
Với tư cách là một luật gia, anh Ba luận giải một cách hùng hồn, rành mạch và khúc triết – như sau:
“Hồn pháp luật không chỉ đơn thuần là ý thức pháp luật trong mỗi công dân, nó là sự mặc nhiên thừa nhận, tin tưởng và thượng tôn vào lẽ phải và công lý, vào sự đúng đắn, công bằng, bình đẳng mà pháp luật đang đại diện. Được sống trong một xã hội có pháp luật là được hưởng thụ một sự an toàn và bình yên. Trong xã hội mà pháp luật được thượng tôn thì các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền đương nhiên được pháp luật bảo đảm.
Thành quả của cách mạng, giá trị cơ bản của đạo đức, tư tưởng tiến bộ nhất của một dân tộc, nguyên khí của những bậc hiền tài và sự chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại đều được kết tinh nơi pháp luật. Chính nhờ có nền pháp luật ổn định mà dân chúng được yên vui, văn chương nghệ thuật được bày tỏ, kinh tế được phát triển, môi trường sống, lãnh thổ được bảo vệ và quốc gia trở nên hùng cường.
Khi dân chúng tôn thờ pháp luật và tự nguyện tuân theo thì công việc của công quyền không còn nặng tính cai trị cưỡng ép, các thủ tục hành chính không còn ai kêu ca. Khi họ thừa nhận pháp luật công bằng thì đất đai giải tỏa cũng không mấy ai khiếu kiện chống đối. Chỉ còn lại những người hiểu việc, hiểu trách nhiệm của mình mà làm, quan là kẻ làm thuê cho dân nên quyền uy và khoảng cách giữa quan và dân không phải là điều đáng e sợ…
Tuy nhiên, nếu thiếu phần hồn cao đẹp, thì pháp luật chỉ còn trơ ra thân xác phì nộn của một tên bạo chúa đầy sức mạnh nhưng chỉ phụng sự cho sự tham lam, độc ác và cảm tính của chính hắn mà thôi.
Có thể nói phần hồn hay khía cạnh tinh thần chính là sức mạnh cốt yếu nhất của pháp luật chứ không phải phần vật chất với hàng vạn điều cấm đoán mà dân chúng không tự nguyện thi hành.
“Phần hồn” của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng
Bởi được gán cho các đặc tính thượng tôn và cao quý nên hồn pháp luật rất nhạy cảm với sự vấy bẩn, chê bai, phỉ báng và nhất là khi nó bị một thứ quyền lực khác đè lên trên đầu. Các xác kềnh càng của pháp luật với đủ thứ trang bị vũ lực, phạt vạ, nhà tù càng trở nên nguy hiểm khi phần hồn của nó bị ma quỷ nhập vào.
- Hệ thống tư pháp bị phát hiện là thiếu tính độc lập, bị quyền lực chỉ đạo trước khi điều tra, xét xử… khiến cho hồn pháp luật hoảng sợ phải đi trú ẩn.
- Pháp luật bị quan chức lạm dụng thành đại lượng đổi chác và tham nhũng. Súng ống để phụng sự cho pháp luật lại trở thành công cụ dọa nạt và đem bắn vào dân chúng chưa rõ tội tình gì. Mới đây ở Hà Nội chỉ trong một tuần mà có đến hai cái chết ở trong đồn công an đều do bị đánh. Tìm kiếm trên Google cụm từ “công an đánh dân” sẽ ra hàng trăm ngàn kết quả với những tin tức, hình ảnh ghê hồn.
Sự lạm quyền khiến cho hồn pháp luật bị tha hóa.
- Ở Việt Nam không những có dân oan, mà còn có những nhà báo oan, nhà thơ oan, nhà văn oan, luật sư oan, doanh nghiệp oan và blogger oan… ở khắp nơi. Dân oan mất đất mất nhà, nhà báo bị vào tù oan vì đưa tin chống tham nhũng, văn nghệ sĩ bị tước đoạt giải thưởng, bị vào sổ đen không cho đăng bài viết, bị buộc phải dẹp bỏ trang web cá nhân, luật sư bị tước thẻ hành nghề, doanh nghiệp bị phá sản, blogger bị bắt bớ, tù tội… Sự oan ức hằn sâu vào tư duy con người chính vì pháp luật không được thực thi đúng đắn.
Sự oan ức khiến cho hồn pháp luật bị teo tóp lại.
- Bao nhiêu đơn thư khiếu nại, tố cáo chỉ là thứ nước đổ đầu vịt, bặt vô âm tín không được trả lời, thậm chí chỉ có đi nộp đơn và xin cái chữ ký đã nhận đơn mà đã bị gây khó khăn. Có người may mắn được trả lời thì lại vướng vào tình trạng trên bảo dưới không nghe, bị kẻ thi hành phớt lờ như không. Nhiều ngàn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết, có người làm hàng trăm tờ đơn khiếu nại lên nhiều cấp, kiên trì từ đời cha ông đến đời con cháu mà chưa biết công lý rốt cục có hình dáng như thế nào…
Sự im lặng và vô cảm của những người có thẩm quyền khiến cho hồn pháp luật trở nên thờ thẫn.
- Những dự án bô-xít gây nguy hại cho môi trường, cho an ninh quốc gia được thông qua bất chấp sự phản đối của hàng ngàn trí thức. Rừng đầu nguồn và phòng hộ biên giới được dễ dãi giao cho người Trung Quốc với giá rẻ mạt. Lãnh hải bị đe doạ, cuộc mưu sinh và sinh mạng của ngư dân trên biển không đảm bảo, những danh từ méo mó như “tàu lạ”… khiến cho hồn pháp luật bị nghi ngờ.
- Quần chúng tự phát dùng bạo lực, lưu manh côn đồ đánh đập sư sãi, dân thường ngay trước mặt công an… khiến cho hồn pháp luật dường như bị ma ám...
Tất cả những hành động và lối suy nghĩ ấy đã đầu độc và hủy hoại hồn pháp luật nhanh chóng khiến nó lâm vào tình trạng hấp hối...”
Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh Ba về câu kết luận bi quan vừa dẫn. Phần hồn của pháp luật có thể bị đe dọa, tổn thương hay teo tóp nhưng luôn luôn hiện hữu và sống mãi với chúng ta.
Không cần tìm đâu xa, người ta có thể tìm thấy được phần hồn pháp luật ngay trong gia đình BaSG, qua lời trưởng nữ của anh – cháu Phan Ngọc Minh :”Bố con chỉ có một cái tội duy nhất là yêu nước.”
Dù anh Ba có “nhận tội” và “xin khoan hồng” chăng nữa, “phần hồn pháp luật” trong con tim nồng nhiệt và chân chính của anh vẫn sẽ được ghi nhận và đậm nét mãi với thời gian.
Tưởng Năng Tiến
(RFAs Blog)

Có những mẹ con thời nay...
Tại trước khu chợ Phúc Lộc Thọ, CA, Phuc Jean cũng đã gặp một bà già Việt Nam lụ khụ ngả nón ăn mày. Không biết bà sang Mỹ đã lâu hay bây giờ mới qua? Tại sao bà lại phải ăn mày ở cái xứ người già có tiền welfare đàng hoàng? Ôi, vì sao? tại sao? làm sao?
Trong giờ lễ Chủ Nhật, tại nhà thờ Saint Columban, linh mục T. đã làm nhiều người nghe phải nhỏ lệ khi ông kể một câu chuyện về một người Mẹ đã nuôi cả mười đứa con thành công về tài chánh, đứa Bác Sĩ, đứa Kỹ Sư, Dược Sĩ, nhưng rồi cả mười đứa con ấy, không nuôi nổi một bà Mẹ già.
Đứa nào cũng có lý do để từ chối không muốn ở với Mẹ. Linh mục T. cũng kể lại lúc ông còn ở Chicago, có một lần trong thời tiết lạnh giá, đến thăm một bà Mẹ, thấy căn nhà rộng mông mênh, không có ai, vì hai vợ chồng đứa con đi làm cả. Điều ông quan tâm là thấy trong nhà rất lạnh, bà Mẹ phải mặc hai áo nhưng vẫn lạnh cóng. Ông có hỏi bà mẹ tại sao không mở máy sưởi, thì bà Mẹ cho biết là không dám mở vì sợ khi con đi làm về, sẽ càm ràm là “tốn tiền điện quá!” Những đứa con sang trọng kia, có thể chờ đến ngày Lễ Mẹ, thì đưa mẹ ra ăn tô phở, hoặc gọi điện thoại về nhà, nói: “I love you, mom!” Thế là đủ bổn phận của một đứa con thành công ở Mỹ đối với người mẹ yêu dấu của mình.
Những Bà Mẹ ở đây là hiện thân của Mẹ Việt Nam đau khổ, đã hy sinh cả cuộc đời cho con cái, nhưng khi con cái phụ rẫy, bỏ bê, cũng im lặng chấp nhận cho đến hết cuộc đời.
Có biết bao nhiêu trường hợp như thế trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại? Biết bao nhiêu bà mẹ âm thầm, lặng lẽ chịu đựng tất cả những đau khổ từ khi lấy chồng, sinh con, rồi ráng nuôi dạy con nên người, sau đó lại chấp nhận những đứa con bất hiếu như một định mệnh mà không hề thốt lời than vãn?
Một bà mẹ đã dành dụm bao năm buôn gánh bán bưng để cho con vượt biên một mình, sau đó, khi qua đến Mỹ, thằng con sợ vợ quá, không dám để mẹ ngủ trong phòng, mà bảo mẹ phải ngủ dưới đất trong phòng khách. Một lần, con chó xù của hai vợ chồng đứng đái ngay vào đầu mẹ. Bà mẹ kêu lên, thì đứa con dâu cười, trong khi chồng đứng yên, chẳng dám nói gì.
Bà mẹ khác, không được ở chung với con trai, phải thuê một phòng của người bạn, vì sức khoẻ yếu, lúc nào cũng lo là chết không có ai chôn. Khi nghe nói về bảo hiểm nhân thọ, bà có năn nỉ thằng con trai đứng tên mua giùm, để bà bớt chút tiền già và đóng hàng tháng để mai sau, con có tiền lo hậu sự cho bà, nhưng đứa con dâu nhất định không chịu, cho rằng “tốn tiền vô ích, chết thì thiêu, liệng tro xuống biển là xong, chôn làm gì cho mất thời giờ đi chăm sóc.” Bà cụ uất quá, phát bệnh và qua đời. Không biết rồi bà có được chôn cất đàng hoàng theo ý muốn, hay lại bị cô con dâu vứt tro ra biển.
Không thiếu những bà mẹ khi đến thăm con trai, phải ngồi nhìn vợ chồng ăn uống ríu rít với nhau, vì con dâu không chịu dọn thêm một chén cơm mời mẹ. Một bà mẹ nhớ con nhớ cháu quá, đến thăm con, nhưng sợ con dâu sẽ nhiếc móc thằng chồng, nên vừa vào tới cửa đã vội thanh minh: “Mẹ không ăn cơm đâu! Mẹ vừa ăn phở xong, còn no đầy bụng. Mẹ chỉ đến cho thằng cháu nội món quà thôi!”
Không thiếu những bà mẹ vì lỡ đánh đổ một chút nước trên thảm mà bị con nhiếc móc tơi bời. “Trời đất ơi! Cái thảm của người ta cả vài ngàn bạc mà đánh đổ đánh tháo ra thế thì có chết không?” Có bà mẹ bị bệnh ung thư, biết là sắp chết, mong được con gái đưa về Việt Nam, nhưng con đổ thừa cho chồng không cho phép về, rồi biến mất tăm, sợ trách nhiệm. Mẹ phải nhờ người đưa ra phi trường, nhờ người dưng đi cùng chuyến bay chăm sóc cho đến khi về tới nhà. Từ lúc đó đến lúc mẹ mất, cả con gái lẫn con rể, cháu chắt cũng chẳng hề gọi điện thoại hỏi thăm một lần.
Một bà mẹ già trên 70 tuổi rồi, có thằng con trai thành công lẫy lừng, bốn năm căn nhà cho thuê, nhưng bà mẹ phải lụm cụm đi giữ trẻ, nói đúng ra là đi ở đợ vì phải lau nhà, rửa chén, nấu cơm, để có tiền tiêu vặt và để gộp với tiền già, đưa cả cho… con trai, một thanh niên ham vui, nhẩy nhót tung trời, hai, ba bà vợ. Mỗi khi gặp bà con, chưa cần hỏi, bà đã thanh minh: “Ấy, tôi ngồi không cũng chả biết làm gì, thôi thì đi làm cho nó qua ngày, kẻo ở nhà rộng quá, một mình buồn lắm!”
Trong một cuộc hội thoại, một bà mẹ đã khóc nức nở vì chỉ đứa con gái phụ rẫy, bỏ bà một mình cô đơn. Bà chỉ có một đứa con gái duy nhất, chồng chết trong trại cải tạo. Trong bao nhiêu năm, bà đã gồng gánh nuôi con, rồi cùng vượt biên với con, tưởng mang hạnh phúc cho hai mẹ con, ai ngờ cô con chờ đúng 18 tuổi là lẳng lặng xách vali ra đi. Nước mắt bà đã chảy cho chồng, nay lại chảy hết cho con.
Tại những nhà dưỡng lão gần trung tâm Thủ Đô Tị Nạn, có biết bao nhiêu bà mẹ ngày đêm ngóng con đến thăm nhưng vẫn biệt vô âm tín. Một bà cụ suốt ba năm dài, không bao giờ chịu bước xuống giường, vì biết rằng chẳng bao giờ có đứa con nào đến thăm. Bà đã lẳng lặng nằm suốt ngày trên giường như một sự trừng phạt chính mình vì đã thương yêu con cái quá sức để đến tình trạng bị bỏ bê như hiện tại. Sau ba năm, bà mất vì các vết lở, vì nỗi u uất, mà những người chăm sóc bà vẫn không biết gia cảnh bà như thế nào, vì bà không hề nhắc đến. Có điều chắc chắn là khi bà còn là một thiếu nữ, bà phải là một mẫu người làm cho nhiều người theo đuổi, quyến luyến, tôn sùng. Chắc chắn bà đã trải qua bao năm tháng thật tươi đẹp, vì cho đến khi mất, khuôn mặt bà, những ngón tay bà, và dáng dấp bà vẫn khoan thai, dịu dàng, pha một chút quý phái. Nhưng tất cả những bí ẩn đó đã được bà mang xuống mồ một cách trầm lặng.
Một buổi chiều tháng 5, tại một tiệm phở Việt Nam, một mẹ già đứng tần ngần bên cánh cửa. Khi được mời vào, mẹ cho biết mẹ không đói, nhưng chỉ muốn đứng nhìn những khuôn mặt vui vẻ, để nhớ đến con mình, đứa con đã bỏ bà đi tiểu bang khác, để mẹ ở với đứa cháu là một tên nghiện rượu, đã hăm doạ đánh mẹ hoài. Hắn đã lấy hết tiền trợ cấp của mẹ, lại còn xua đuổi mẹ như cùi hủi. Hôm nay, hắn lái xe chở mẹ đến đầu chợ, đẩy mẹ xuống và bảo mẹ cút đi! Mẹ biết đi đâu bây giờ?
Trong một căn phòng điều trị tại bệnh viện Ung Thư, một bà cụ đã gào lên nức nở khi người bệnh nằm bên được chuyển đi nơi khác. “Bà ơi! Bà bỏ tôi sao? Bà ơi! Đừng đi! Đừng bỏ tôi nằm một mình! Tôi sợ lắm, bà ơi!” Những tiếng kêu, tiếng khóc nấc nghẹn đó lặp đi lặp lại làm người bệnh sắp chuyển đi cũng khóc theo. Người y tá cũng khóc lặng lẽ. Anh con trai của người sắp đi xa, không cầm được giọt lệ, cũng đứng nức nở. Cả căn phòng như ngập nước mắt. Mầu trắng của những tấm trải giường, mầu trắng của tấm áo cánh của bà cụ như những tấm khăn liệm, tự nhiên sáng lên, buồn bã. Bà cụ nằm lại đó đã không có đứa con nào ở gần đây. Chúng đã mỗi đứa mỗi nơi, như những cánh chim không bao giờ trở lại.
Trên đại lộ Bolsa, thỉnh thoảng người ta thấy một bà mẹ già, đẩy chiếc xe chợ trên chứa đầy đồ linh tinh. Mẹ chỉ có một cái nón lá để che nắng che mưa. Khuôn mặt khắc khổ của mẹ như những đường rãnh bùn lầy nước đọng, đâu đó ở chợ Cầu Ông Lãnh, Thủ Thiêm, gần bến Ninh Kiều, Bắc Mỹ Thuận hay ở gần cầu Tràng Tiền, Chợ Đông Ba? Mẹ đi về đâu, hỡi Mẹ? Những đứa con của mẹ giờ chắc đang vui vầy…
Không thể gọi đó là người
Đỗ Thành Nhân Theo dõi quá trình cưỡng chế đất đai ở Văn Giang và xem clip hai nhà báo của Đài Tiếng nói Việt Nam bị đánh hội đồng một cách dã man khi tác nghiệp, thì có thể nói những kẻ tham gia đánh người một cách nhẫn tâm không thể gọi đó “là người” được. Đó là những… con vật, cùng nhảy vào cắn xé đồng loại khi thất thế.
Lịch sử hiện đại, các cuộc chiến tranh quy ước; dù cho trước đó hai bên căm thù nhau ngút trời, nhưng khi một bên thua bỏ súng đầu hàng; thì bên thắng vẫn đối xử với “kẻ địch” theo quy chế tù binh và cũng phải có sự tôn trọng nhất định.
Trên võ đài kể cả đấu tự do, dù hai võ sĩ trước đó thách đấu với lời lẽ đầy ngạo mạn, sẵn sàng ăn tươi nuốt sống, đè bẹp đối thủ. Nhưng khi một võ sĩ bị ngã, không có khả năng phòng vệ; võ sĩ đang ở thế thượng phong sẽ ngưng tấn công; có khi còn trực tiếp chăm sóc, dìu đối thủ đứng dậy.
Các “anh chị” giang hồ cũng không đánh người ngã ngựa, không đánh người không có khả năng tự vệ.
Một xã hội pháp quyền, một cơ quan thực thi pháp luật; những người thực thi pháp luật cùng đánh hội đồng những người thực thi nhiệm vụ được luật pháp cho phép, không có khả năng tự vệ; đánh một cách dã man, đánh theo bản năng (vì rõ ràng những người đánh và bị đánh không có thù hận gì trước đó). Thì đây không phải là những con người thực thi pháp luật, mà là những “con vật” có cơ hội bộc lộ bản năng.
Đó là những phóng viên, tại một điểm nóng đã được biết trước, may mắn được công luận biến đến; trên lãnh thổ này còn bao nhiêu người là nạn nhân của những vụ “cắn xé hội đồng” đành phải chấp nhận như là số phận. Khi lượng nhiều sẽ chuyến hóa thành chất, thì không ai có thể khẳng định đó chỉ là hiện tượng được !
Theo: danlambaovn.
Đỗ Thành Nhân Theo dõi quá trình cưỡng chế đất đai ở Văn Giang và xem clip hai nhà báo của Đài Tiếng nói Việt Nam bị đánh hội đồng một cách dã man khi tác nghiệp, thì có thể nói những kẻ tham gia đánh người một cách nhẫn tâm không thể gọi đó “là người” được. Đó là những… con vật, cùng nhảy vào cắn xé đồng loại khi thất thế.
Lịch sử hiện đại, các cuộc chiến tranh quy ước; dù cho trước đó hai bên căm thù nhau ngút trời, nhưng khi một bên thua bỏ súng đầu hàng; thì bên thắng vẫn đối xử với “kẻ địch” theo quy chế tù binh và cũng phải có sự tôn trọng nhất định.
Trên võ đài kể cả đấu tự do, dù hai võ sĩ trước đó thách đấu với lời lẽ đầy ngạo mạn, sẵn sàng ăn tươi nuốt sống, đè bẹp đối thủ. Nhưng khi một võ sĩ bị ngã, không có khả năng phòng vệ; võ sĩ đang ở thế thượng phong sẽ ngưng tấn công; có khi còn trực tiếp chăm sóc, dìu đối thủ đứng dậy.
Các “anh chị” giang hồ cũng không đánh người ngã ngựa, không đánh người không có khả năng tự vệ.
Một xã hội pháp quyền, một cơ quan thực thi pháp luật; những người thực thi pháp luật cùng đánh hội đồng những người thực thi nhiệm vụ được luật pháp cho phép, không có khả năng tự vệ; đánh một cách dã man, đánh theo bản năng (vì rõ ràng những người đánh và bị đánh không có thù hận gì trước đó). Thì đây không phải là những con người thực thi pháp luật, mà là những “con vật” có cơ hội bộc lộ bản năng.
Đó là những phóng viên, tại một điểm nóng đã được biết trước, may mắn được công luận biến đến; trên lãnh thổ này còn bao nhiêu người là nạn nhân của những vụ “cắn xé hội đồng” đành phải chấp nhận như là số phận. Khi lượng nhiều sẽ chuyến hóa thành chất, thì không ai có thể khẳng định đó chỉ là hiện tượng được !
Theo: danlambaovn.
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am
Ngày tàn của Bạo Chúa
Một trăm triệu người bị thiệt mạng: Đó là số nạn nhân trực tiếp của các chế độ Độc Tài Cộng Sản trên toàn thế giới. Con số những nạn nhân gián tiếp bị tổn hại về tinh thần và vật chất là không thể tính nổi. Ấy là chưa kể tại tất cả các quốc gia Độc tài Cộng Sản thì người dân phải gánh chịu muôn vàn bất công đau khổ, đất nước chìm đắm trong sự kìm kẹp và lừa mị dối gian. Từ Liên Xô đến Trung Hoa lục địa, từ Cu Ba đến Bắc Hàn và Việt Nam, số người là nạn nhân của những chế độ độc tài đã không ngừng gia tăng. Vì sự tàn bạo và phi nhân mà hệ thống các chế độ bạo tàn tại Liên Xô đã sụp đổ, mang lại sự hồi sinh cho nhân loại. Ngày nay chỉ còn sót lại mấy quốc gia Độc tài Cộng Sản, trong đó có đất nước Việt Nam chúng ta. Thế giới đã Văn minh tiến bộ, không còn chỗ cho sự tàn bạo dã man, vì vậy mà ngày tàn của Bạo Chúa đã điểm, cho dù chúng sụp đổ dưới bất kỳ hình thức nào.
Dù những kẻ cai trị độc tài có cố gắng tìm mọi phương thức để kéo dài sự tồn tại thì cũng không thể ngăn được bánh xe lịch sử. Đó là sự diệt vong tất yếu của thể chế độc tài chà đạp nhân phẩm con người, bóc lột và đàn áp nhân dân. Khi mà sự bất công ngang trái của xã hội đã lên tới đỉnh điểm, khi mà tội ác của chế độ Độc tài đã tràn đầy thì thời điểm tiêu vong của chúng đã cận kề. Vẫn còn chỗ cho họ sửa chữa và sám hối những sai lầm, bằng cách tuyên bố giải thể chế độ độc tài, trả lại chế độ tự do dân chủ cho người dân. Nếu nhà cầm quyền vẫn khăng khăng bảo thủ, cố bám giữ lấy quyền lực sai trái thì sẽ bị nhân dân nổi lên lật đổ, và đó là kết cục thích đáng cho những tên bạo chúa.
Trên đất nước Việt Nam chúng ta, con số những người dân oan là nạn nhân của hệ thống Tư Pháp tay sai nhà nước nhiều không tính xuể. Họ là nạn nhân của một chế độ cướp bóc vô pháp luật. Hàng triệu người bị mất đất, mất nhà do nạn cướp bóc và cưỡng chiếm trắng trợn của nhà nước. Máu và nước mắt đã đổ cho nổi thống khổ bất tận của người dân. Bất kỳ sự phản đối dưới mọi hình thức của người dân đều bị đàn áp thô bạo, nhẹ thì bị quy cho tội danh “Gây rối trật tự công cộng”, nặng thì bị quy cho là phản động với những tội danh “Âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân”, “Tuyên truyền chống phá nhà nước XHCN”, và kết cục là họ bị bỏ tù. Trước bão giông sẽ nổi cơn sấm dậy, những sự kiện Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, Thái Hà, Cồn Dầu, Mỹ Đức ...gần đây đã nói lên điều đó. Như những tiếng sấm báo hiệu cơn giông, báo hiệu của sự nổi dậy ở phạm vi toàn cục của nhân dân để lật đổ chế độ cướp bóc phi nhân.
Khắp thôn cùng ngõ xóm hay phố phường chật hẹp, đâu đâu cũng thấm đẫm những giọt máu và nước mắt của người dân. Với một chế độ Độc tài toàn trị, công an ỷ thế đánh chết người một cách ngang nhiên. Họ đánh chết người trong khi đang thi hành công vụ, triệu tập người dân đến đồn Công an rồi đánh chết họ, rồi gọi người nhà đến nhận xác – nói là người đó đã tự tử. Họ đánh chết người trong tù và đánh chết người trong khi say rượu. Tất cả những hành động đó đều được nhà nước bao che và không bị pháp luật Xã hội chủ nghĩa trừng trị, chỉ thấy nước mắt uất nghẹn của người dân chảy thành suối thành sông. Máu người nông dân đã đổ trong những vụ cưỡng chiếm đất đai, mồ hôi công sức đã bị đánh cướp một cách ngang nhiên. Máu đã đổ trong những vụ đình công, bãi công của công nhân. Tất cả những nổi oan khuất của người dân không được các cơ quan công quyền hay hệ thống Tư Pháp để ý, hệ thống này chỉ lo bảo vệ cho sự trường tồn của chế độ để có chỗ mà cướp bóc nhân dân.
Người dân Việt Nam bị cả một hệ thống mạng nhện của bộ máy nhà nước Độc Tài kìm kẹp, bóc lột và giám sát. Họ được giáo dục và ép buộc phải phục tùng Đảng và Bác Hồ, phải hy sinh những lợi ích bản thân để xây dựng chủ nghĩa xã hội? Họ phải chịu bao tủi nhục và bất công để cho Đảng được quang vinh và Bác Hồ vĩ đại. Mọi hành động đòi quyền lợi hợp pháp và công lý của người dân Việt Nam đồng nghĩa với việc chống Đảng và Bác Hồ. Nếu người dân cam chịu làm nô lệ, để yên cho bộ máy nhà nước Độc Tài cướp bóc và tham nhũng thì trở thành người công dân kiểu mẫu.
Biết bao những trí thức yêu nước chỉ vì muốn có tự do dân chủ cho đất nước mà phải ngồi tù. Những Linh mục và nhà sư đáng kính bị giam cầm và đánh đập chỉ vì đòi tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền. Những người dân biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược biển đảo để bảo vệ chủ quyền đất nước thì bị đàn áp và bỏ tù? Tự do, dân chủ của chế độ Cộng Sản là như vậy sao?
Danh dự và nhân phẩm bị chà đạp, đức tin bị bách hại, tài sản và đất đai bị cướp bóc mà không được lên tiếng phản đối ư? Thử hỏi dưới gầm trời này có chỗ nào như vậy hay không? Ngoại trừ thiên đường Cộng Sản của Đảng và Bác Hồ? Các quyền cơ bản của con người bị cướp mất, tự do bị cầm tù, mà người dân Việt Nam cũng phải biết ơn Đảng và Bác Hồ sao?
Máu đã đổ trên những cánh đồng, bên trong các nhà máy và nhà tù. Máu vương trên Thập Tự Giá Thiên Chúa và Tòa Sen Đức Phật. Chế độ Độc tài khát máu này đã đàn áp không còn thương xót một ai trên con đường tiến tới mục tiêu toàn trị. Mọi sự chịu đựng của con người đều có giới hạn, toàn thể người dân Việt Nam khắp mọi miền đất nước hãy đồng loạt nổi dậy để lật đổ chế độ Độc Tài, giành lại tự do và sự sống cho mình. Ngày tàn của Bạo Chúa đã đến, giờ khắc tận cùng của thế lực đen tối thống trị đất nước ta mấy mươi năm qua nay đã điểm!
Dù những kẻ cai trị độc tài có cố gắng tìm mọi phương thức để kéo dài sự tồn tại thì cũng không thể ngăn được bánh xe lịch sử. Đó là sự diệt vong tất yếu của thể chế độc tài chà đạp nhân phẩm con người, bóc lột và đàn áp nhân dân. Khi mà sự bất công ngang trái của xã hội đã lên tới đỉnh điểm, khi mà tội ác của chế độ Độc tài đã tràn đầy thì thời điểm tiêu vong của chúng đã cận kề. Vẫn còn chỗ cho họ sửa chữa và sám hối những sai lầm, bằng cách tuyên bố giải thể chế độ độc tài, trả lại chế độ tự do dân chủ cho người dân. Nếu nhà cầm quyền vẫn khăng khăng bảo thủ, cố bám giữ lấy quyền lực sai trái thì sẽ bị nhân dân nổi lên lật đổ, và đó là kết cục thích đáng cho những tên bạo chúa.
Trên đất nước Việt Nam chúng ta, con số những người dân oan là nạn nhân của hệ thống Tư Pháp tay sai nhà nước nhiều không tính xuể. Họ là nạn nhân của một chế độ cướp bóc vô pháp luật. Hàng triệu người bị mất đất, mất nhà do nạn cướp bóc và cưỡng chiếm trắng trợn của nhà nước. Máu và nước mắt đã đổ cho nổi thống khổ bất tận của người dân. Bất kỳ sự phản đối dưới mọi hình thức của người dân đều bị đàn áp thô bạo, nhẹ thì bị quy cho tội danh “Gây rối trật tự công cộng”, nặng thì bị quy cho là phản động với những tội danh “Âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân”, “Tuyên truyền chống phá nhà nước XHCN”, và kết cục là họ bị bỏ tù. Trước bão giông sẽ nổi cơn sấm dậy, những sự kiện Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, Thái Hà, Cồn Dầu, Mỹ Đức ...gần đây đã nói lên điều đó. Như những tiếng sấm báo hiệu cơn giông, báo hiệu của sự nổi dậy ở phạm vi toàn cục của nhân dân để lật đổ chế độ cướp bóc phi nhân.
Khắp thôn cùng ngõ xóm hay phố phường chật hẹp, đâu đâu cũng thấm đẫm những giọt máu và nước mắt của người dân. Với một chế độ Độc tài toàn trị, công an ỷ thế đánh chết người một cách ngang nhiên. Họ đánh chết người trong khi đang thi hành công vụ, triệu tập người dân đến đồn Công an rồi đánh chết họ, rồi gọi người nhà đến nhận xác – nói là người đó đã tự tử. Họ đánh chết người trong tù và đánh chết người trong khi say rượu. Tất cả những hành động đó đều được nhà nước bao che và không bị pháp luật Xã hội chủ nghĩa trừng trị, chỉ thấy nước mắt uất nghẹn của người dân chảy thành suối thành sông. Máu người nông dân đã đổ trong những vụ cưỡng chiếm đất đai, mồ hôi công sức đã bị đánh cướp một cách ngang nhiên. Máu đã đổ trong những vụ đình công, bãi công của công nhân. Tất cả những nổi oan khuất của người dân không được các cơ quan công quyền hay hệ thống Tư Pháp để ý, hệ thống này chỉ lo bảo vệ cho sự trường tồn của chế độ để có chỗ mà cướp bóc nhân dân.
Người dân Việt Nam bị cả một hệ thống mạng nhện của bộ máy nhà nước Độc Tài kìm kẹp, bóc lột và giám sát. Họ được giáo dục và ép buộc phải phục tùng Đảng và Bác Hồ, phải hy sinh những lợi ích bản thân để xây dựng chủ nghĩa xã hội? Họ phải chịu bao tủi nhục và bất công để cho Đảng được quang vinh và Bác Hồ vĩ đại. Mọi hành động đòi quyền lợi hợp pháp và công lý của người dân Việt Nam đồng nghĩa với việc chống Đảng và Bác Hồ. Nếu người dân cam chịu làm nô lệ, để yên cho bộ máy nhà nước Độc Tài cướp bóc và tham nhũng thì trở thành người công dân kiểu mẫu.
Biết bao những trí thức yêu nước chỉ vì muốn có tự do dân chủ cho đất nước mà phải ngồi tù. Những Linh mục và nhà sư đáng kính bị giam cầm và đánh đập chỉ vì đòi tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền. Những người dân biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược biển đảo để bảo vệ chủ quyền đất nước thì bị đàn áp và bỏ tù? Tự do, dân chủ của chế độ Cộng Sản là như vậy sao?
Danh dự và nhân phẩm bị chà đạp, đức tin bị bách hại, tài sản và đất đai bị cướp bóc mà không được lên tiếng phản đối ư? Thử hỏi dưới gầm trời này có chỗ nào như vậy hay không? Ngoại trừ thiên đường Cộng Sản của Đảng và Bác Hồ? Các quyền cơ bản của con người bị cướp mất, tự do bị cầm tù, mà người dân Việt Nam cũng phải biết ơn Đảng và Bác Hồ sao?
Máu đã đổ trên những cánh đồng, bên trong các nhà máy và nhà tù. Máu vương trên Thập Tự Giá Thiên Chúa và Tòa Sen Đức Phật. Chế độ Độc tài khát máu này đã đàn áp không còn thương xót một ai trên con đường tiến tới mục tiêu toàn trị. Mọi sự chịu đựng của con người đều có giới hạn, toàn thể người dân Việt Nam khắp mọi miền đất nước hãy đồng loạt nổi dậy để lật đổ chế độ Độc Tài, giành lại tự do và sự sống cho mình. Ngày tàn của Bạo Chúa đã đến, giờ khắc tận cùng của thế lực đen tối thống trị đất nước ta mấy mươi năm qua nay đã điểm!
Trăng là gì ???
(Câu chuyện SaiGon.....)
Gia đình tôi với gia đình “hắn” là chỗ thân tình. Cách đây khoảng chục năm, nhân dịp tôi đến khám mắt tại bệnh viện hắn làm việc, hắn say sưa khoe với tôi về nguồn thu nhập hậu hĩnh kiếm thêm từ việc khám và giải phẫu mắt ngoài giờ của mình. Bất ngờ, tôi đặt ra một câu hỏi, chẳng ăn nhập gì đến câu chuyện hắn say sưa: “Có bao giờ ông dành thời gian ngắm trăng với vợ, con không? Đến lượt tôi bất ngờ vì câu trả lời của hắn: “Trăng là gì?”.
Về nghề nghiệp hắn là bậc cao thủ trong làng chuyên khoa mắt của Sài Gòn. Bệnh nhân của hắn thuộc loại “thứ dữ”. Hắn có nhiều mối quan hệ xã hội “có số, có má”. Do vậy đồng nghiệp và Ban giám đốc bệnh viện, nơi hắn làm việc, nể hắn một phép. Tên tuổi của hắn đã giúp bệnh viện ăn nên làm ra, chuyên khoa mắt lúc nào cũng chật cứng người chờ đợi. Ai muốn được hắn trực tiếp khám và mổ, phải đăng ký trước, rất lâu. Số tiền chi ra cho những lần khám hoặc mổ đó, so với mặt bằng giá ở các bệnh viện khác, cao hơn rất nhiều. Thế nhưng lịch khám của hắn lúc nào cũng dày đặc. Người ta nói với nhau, “được bác sĩ (hắn) đụng tay vào thì dù mắt đang không thấy đường cũng sáng lại”.
Hồi còn đi học phổ thông, tôi với hắn ở chung một quận, quận Nhì. Hồi Việt Cộng vô, khu vực này sát nhập vào quận Nhất. Tôi với hắn bằng tuổi nhau, nhưng hắn sanh sau tôi tám tháng, vì vậy sau này khi hắn lập gia đình và có con, hắn dạy tụi nhỏ gọi tôi bằng bác, bác gái. Nhưng trong giao tiếp hắn gọi tôi bằng “bà”, tôi gọi hắn bằng “ông” và chúng tôi xưng “tui” với nhau.
Tôi quen hắn và vợ hắn lúc chúng tôi cùng sinh hoạt trong Ban liên lạc học sinh cùng lớp, hắn làm trưởng ban, tôi làm phó ban, vợ hắn (lúc bấy giờ nó chưa quen) là một trong những thành viên. Sáng thứ bảy nào Ban liên lạc của chúng tôi cũng gặp nhau tại một nhà hàng cà phê trên đường Điện Biên Phủ, quận Ba. Chủ nhà hàng này cũng là thành viên trong Ban liên lạc, nhờ vậy chúng tôi ăn uống ít khi phải trả tiền, nếu trả cũng chỉ là tượng trưng.
Cô gái (mà sau này là vợ hắn) đẹp một cách mong manh, vì vậy chúng tôi đặt tên là “cô gái mong manh”. Cô là con gái duy nhất của một gia đình công chức thường thường bậc trung, nhà ở quận Nhất. Cô gái hay đi họp Ban liên lạc bằng cách ngồi trên chiếc xích lô đạp cho người ta chở, thân mình lúc nào cũng diện bộ áo dài lụa màu nhạt, lung linh như mây khói (cho tăng thêm phần mong manh?). Gái Sài Gòn chúng tôi có thói quen đi lại trên chiếc xích lô (5 năm sau ngày giải phóng vẫn giữ thói quen này). Khi ngồi trên xe chúng tôi chú ý giữ cho người thẳng bằng cách lưng không tựa vào thành ghế, tóc buông xõa và tay không giữ tà áo, cố ý để gió luồn vào thổi tung bay. Hình ảnh ấy góp phần làm phố xá mỹ miều. Tại sao gái Sài Gòn không đi bộ hoặc đạp xe đi học như quý cô nương khác trên cả nước? Có lẽ do diện tích Sài Gòn rộng, đi bộ không tới, đi xe đạp ngại mỏi chân. Nhưng còn một lý do tế nhị khác mà chỉ có gái Sài Gòn mới hiểu, ngồi xe xích lô cho người ta chở mới là tiểu thư chính hiệu!
Hắn là con của ông bà chủ hãng xuất nhập khẩu. Nhà hắn có ba anh em trai, cả ba học cùng trường với chúng tôi, chỉ có lớp là khác. Khi đi học, ba anh em hắn có tài xế đưa đón, học xong là về nhà, không la cà phố xá. Những lần hắn tổ chức sinh nhật mời Ban liên lạc tới nhà, tôi thấy gia đình hắn, nhất là bà má, nề nếp qui củ lắm. Trong lớp, chúng tôi bầu hắn làm lớp trưởng vì hắn uy tín, học giỏi và tác phong nghiêm túc. Trong sinh hoạt tập thể hắn luôn là ngọn cờ dẫn dắt chúng tôi. Về ngoại hình thì khỏi chê, chúng tôi hay gọi hắn là “Alain Delon” (tài tử lừng danh của Pháp thời1950-1980) nhưng nếu muốn hắn nổi sung thì thêm chữ “beng” (A len đờ lông beng) đằng sau nữa. Nhiều tiểu thư nhà giàu đạt danh hiệu hoa khôi trường này trường khác mết hắn lắm, nhưng hắn chẳng thèm để ý đến cô nào.
Tới giờ tôi cũng không sao nhớ ra, bằng cách nào cô gái mong manh “lọt” được vào Ban liên lạc của lớp, nơi quy tụ những người “xuất chúng”. Về sắc diện, hình thức, học lực, tài vặt, thành phần xã hội, so với những tiểu thư trong trường, cô thuộc loại trung bình. Về công việc tập thể, Ban liên lạc giao cô phụ trách, cô thực hiện lúc được, lúc không. Nói chung, ngoài cái khoản mong manh làm người ta động lòng, còn thì cô chẳng tạo được một dấu ấn gì cho Ban liên lạc ghi nhớ sự hiện diện của cô. Thế mà đùng một cái chúng tôi thấy cô gái không đi họp bằng xe xích lô nữa mà ngồi trên chiếc xe Vespa Sprint màu xanh da trời, loại 150 phân khối do hắn chở. Thời đó, chỉ có công tử nhà giàu mới sắm nổi chiếc xe hách xì xằng như vậy. Chẳng bao lâu sau Ban liên lạc nhận được thiệp hồng. Ngày hai người cưới nhau tôi thấy hạnh phúc đầy tràn trong mắt tân lang và giai nhân. Khách tới dự tiệc cưới chúc vợ chồng hắn trăm năm hạnh phúc; tôi nghĩ, phải chúc ngàn năm hạnh phúc mới xứng. Thế mà, chỉ hơn hai mươi năm sau đó, vợ chồng hắn rẽ thúy chia uyên.
Lần gặp khoảng chục năm trước, mặc cho bệnh nhân chờ, hắn luôn miệng kể lể với tôi, đã có với cô gái mong manh hai mặt con, một trai một gái, cả hai theo nghề của cha, học chuyên khoa mắt bên Mỹ. Hắn nói, “Tụi nhỏ đứa nào cũng đẹp, học giỏi, thông minh, tụi Tây mết lắm, giống tui ngày xưa vậy”; nói xong hắn cười sang sảng. Tôi hỏi: “Cuộc sống của ông bây giờ thế nào?”. Chỉ chờ có vậy hắn huyên thuyên: “Sáng trước khi tới bệnh viện (Nhà nước), tui mổ hai ca, nếu mổ một con mắt thì hai mươi triệu, nếu mổ hai con mắt thì bốn mươi triệu, sau đó mới đi làm; trưa, tui tranh thủ làm một hoặc hai ca nữa; chiều, khám bệnh ngoài giờ ở dưỡng đường do tui làm chủ, đến tối mịt mới về nhà”.
Còn bà xã thì sao? Tôi hỏi tiếp, hắn trả lời: “Tui xây cho bà ba cái dưỡng đường, mổ xong, tui chuyển cho bả chăm sóc. Chưa kể tiền thuốc, khám sau mổ, chỉ tiền phòng không thôi bà cũng thu được năm triệu một người/ngày. Bả bây giờ trẻ, đẹp hơn xưa. Đó là nhờ tui cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa. Mỗi ngày bà chỉ có việc ngồi trên chiếc xe đời mới nhất (xe cũ tui thay liền) cho tài xế lái đi từ dưỡng đường này qua dưỡng đường khác, xem sổ sách, thu tiền, là hết việc. Chung quanh bả lúc nào cũng có hàng chục người hầu hạ, sung sướng như bà hoàng”.
Đúng đoạn hào hứng này tôi hỏi hắn “chuyện ngắm trăng”. Và tôi nhận được câu hỏi lại của hắn “Trăng là gì?”, kèm theo một nụ cười ngạo nghễ.
……
Hôm rồi cửa sổ tâm hồn của tôi lại trở chứng, nhìn xa bị mờ, nhìn gần mờ hơn nhìn xa. Thấy vậy, bạn bè người khuyên đi mổ, người can ngăn. Tôi chợt nhớ đến hắn, liền đến gặp, tôi cần ở hắn một lời khuyên.
Lần gặp lại này, nếu hắn không chủ động chào tôi trước, tôi sẽ không nhận ra. Trước mắt tôi là ông bác sĩ già khọm, tóc bạc trắng, mặt buồn rười rượi, nước da tối sạm. Đâu mất rồi một ông bạn có gương mặt phơi phới, hình thức lịch lãm và nụ cười ngạo nghễ? Thấy vậy tôi quên mất mục đích đến là để khám mắt, vội hỏi, “Làm ăn thất bát hả?”. Hắn im lặng rất lâu rồi nói một câu chẳng ăn nhập gì đến câu tôi hỏi: “Cô gái mong manh đã bỏ tôi đi lấy chồng khác rồi! Bỏ vội vã đến nỗi không thèm chia gia tài bà ạ”. Tôi giật mình: “Bỏ luôn ba cái dưỡng đường to đùng sao?”. Hắn nghẹn ngào: “Ừ, bỏ luôn, thế mới điên”.
Tôi nhẹ nhàng ngồi bên cạnh, cầm tay hắn, im lặng. Hắn bắt đầu chia sẻ: “Bà có nhớ cái thằng cù lần trong lớp mình không? Cái thằng hâm hâm đi học bằng chiếc Mô bi lết (Mobylette) cà tàng, con của ông già sửa xe đầu đường gần trường tụi mình học đó”. Hắn nói tiếp, mắt hắn như có nước: “Thằng đó coi vậy mà học giỏi, tụi mình không nhằm gì với nó đâu, bây giờ nó làm giáo sư của một số trường Đại học. Nghe nói, tình duyên nó trục trặc sao đó (không chừng hồi nhỏ nó thương thầm vợ tui à nghen) nó ở vậy luôn cho đến giờ. Hôm rồi làm thủ tục ly dị với tui xong, bả kết hôn với nó liền. Thằng đó nghèo rớt mồng tơi, lương thầy giáo nuôi bả gì nổi. Hiện nay bả phải nhận may quần áo thêm cho khách, hai người mới đủ sống. Vậy mà gặp lại tui mặt bả tươi rói, chưa bao giờ ở với tui mà mặt bả tươi rói như vậy”. Rồi hắn nói, như nói với chính mình: “Đàn bà nhiều người kỳ cục lắm, chồng cung phụng cho đủ thứ, nuông chìu hết mực mà vẫn đành lòng bỏ đi lấy người không bằng một góc của chồng mình. Thật không thể hiểu nổi…”.
Chờ hắn vơi bớt nỗi ấm ức tôi hỏi thăm hai đứa nhỏ. Tôi nghe từ hắn một giọng thiểu não hơn: “Tưởng hai đứa nối nghiệp cha, ngờ đâu, từ lâu tụi nó đã chuyển qua học nghề khác, đứa học thiết kế thời trang, đứa học phóng viên báo chí. Đã thế tui gọi về để giao tài sản mà chẳng đứa nào chịu về. Tụi nó nói “Ba mê tài sản hơn má và chúng con thì ba cứ giữ lấy”. Tôi động lòng thương cảm, hỏi: “Bây giờ ông sống như thế nào?”. Hắn nói, “Tui ở luôn trong bệnh viện, về nhà ở một mình, buồn lắm”. Không thể không hỏi thêm: “Thế căn nhà lớn ở quận Nhất và ba cái dưỡng đường ai ở, ai trông coi?”. Hắn nói, giọng nhẹ như gió thoảng: “Lâu lắm rồi tui chẳng ghé về nhà, còn ba cái dưỡng đường đang treo bảng bán hoặc cho thuê”. Thói quen nghề nghiệp, tôi đánh giá: “Ba cái dưỡng đường đó, bán cũng bộn tiền ông ạ”. Hắn ngẩng lên nhìn tôi, mắt hắn sâu thăm thẳm: “Của đó vô thường lắm, không có thật đâu bà”.
Giá mà, mười năm trước hắn nhận ra sự vô thường đó thì đoạn kết của đời hắn đâu đến nỗi buồn như bây giờ?
Tự nhiên tôi nhớ gương mặt phơi phới với nụ cười ngạo nghễ khi hắn hỏi ngược lại tôi “Trăng là gì?”.
Trăng là gì ư? Trăng là ly nước mát của vợ trao tận tay mà hắn quên uống. Trăng là cái bình hoa vợ chăm chút cắm mong chồng để mắt tới, thế mà hắn đành lòng không màng. Trăng là tiếng cười reo của hai đứa con đón hắn sau những giờ làm việc nhưng vì mệt, hắn đã cằn nhằn, quạu quọ. Trăng là những bữa cơm nóng mà khi hắn về thì đã nguội lạnh, rồi cả nhà nhịn ăn theo hắn.
Trăng còn là cái nắm tay âu yếm mà từ rất lâu hắn quên trao cho vợ. Trăng còn là những đêm vì sợ con lạnh, hắn rón rén bước qua phòng kéo mền đắp cho con mà sau này vì mệt mỏi, ngủ vùi, hắn quên. Trăng còn là tất cả những mây và gió, những hương và hoa trong cuộc sống mà do tâm không an, thân không lạc cho nên hắn không thể cảm nhận được.
Trăng là gì nữa? Là người vợ đã bỏ chồng giàu đi lấy chồng nghèo; là những đứa con thà kiếm tiền từ sức lao động và trí tuệ của mình chớ không nhận tài sản của người cha để lại. Trăng còn là kết cục của đời hắn, bỏ mặc căn nhà lớn ở quận Nhất và đóng cửa ba cái dưỡng đường to đùng vào ở trong bệnh viện vì, ở một mình buồn lắm.
Những người chồng bận rộn ơi, nhớ dành thời gian ngắm trăng với vợ và con, đừng để trăng lặn mất, rồi tiếc như hắn, bạn của tôi./.
(Câu chuyện SaiGon.....)
Gia đình tôi với gia đình “hắn” là chỗ thân tình. Cách đây khoảng chục năm, nhân dịp tôi đến khám mắt tại bệnh viện hắn làm việc, hắn say sưa khoe với tôi về nguồn thu nhập hậu hĩnh kiếm thêm từ việc khám và giải phẫu mắt ngoài giờ của mình. Bất ngờ, tôi đặt ra một câu hỏi, chẳng ăn nhập gì đến câu chuyện hắn say sưa: “Có bao giờ ông dành thời gian ngắm trăng với vợ, con không? Đến lượt tôi bất ngờ vì câu trả lời của hắn: “Trăng là gì?”.
Về nghề nghiệp hắn là bậc cao thủ trong làng chuyên khoa mắt của Sài Gòn. Bệnh nhân của hắn thuộc loại “thứ dữ”. Hắn có nhiều mối quan hệ xã hội “có số, có má”. Do vậy đồng nghiệp và Ban giám đốc bệnh viện, nơi hắn làm việc, nể hắn một phép. Tên tuổi của hắn đã giúp bệnh viện ăn nên làm ra, chuyên khoa mắt lúc nào cũng chật cứng người chờ đợi. Ai muốn được hắn trực tiếp khám và mổ, phải đăng ký trước, rất lâu. Số tiền chi ra cho những lần khám hoặc mổ đó, so với mặt bằng giá ở các bệnh viện khác, cao hơn rất nhiều. Thế nhưng lịch khám của hắn lúc nào cũng dày đặc. Người ta nói với nhau, “được bác sĩ (hắn) đụng tay vào thì dù mắt đang không thấy đường cũng sáng lại”.
Hồi còn đi học phổ thông, tôi với hắn ở chung một quận, quận Nhì. Hồi Việt Cộng vô, khu vực này sát nhập vào quận Nhất. Tôi với hắn bằng tuổi nhau, nhưng hắn sanh sau tôi tám tháng, vì vậy sau này khi hắn lập gia đình và có con, hắn dạy tụi nhỏ gọi tôi bằng bác, bác gái. Nhưng trong giao tiếp hắn gọi tôi bằng “bà”, tôi gọi hắn bằng “ông” và chúng tôi xưng “tui” với nhau.
Tôi quen hắn và vợ hắn lúc chúng tôi cùng sinh hoạt trong Ban liên lạc học sinh cùng lớp, hắn làm trưởng ban, tôi làm phó ban, vợ hắn (lúc bấy giờ nó chưa quen) là một trong những thành viên. Sáng thứ bảy nào Ban liên lạc của chúng tôi cũng gặp nhau tại một nhà hàng cà phê trên đường Điện Biên Phủ, quận Ba. Chủ nhà hàng này cũng là thành viên trong Ban liên lạc, nhờ vậy chúng tôi ăn uống ít khi phải trả tiền, nếu trả cũng chỉ là tượng trưng.
Cô gái (mà sau này là vợ hắn) đẹp một cách mong manh, vì vậy chúng tôi đặt tên là “cô gái mong manh”. Cô là con gái duy nhất của một gia đình công chức thường thường bậc trung, nhà ở quận Nhất. Cô gái hay đi họp Ban liên lạc bằng cách ngồi trên chiếc xích lô đạp cho người ta chở, thân mình lúc nào cũng diện bộ áo dài lụa màu nhạt, lung linh như mây khói (cho tăng thêm phần mong manh?). Gái Sài Gòn chúng tôi có thói quen đi lại trên chiếc xích lô (5 năm sau ngày giải phóng vẫn giữ thói quen này). Khi ngồi trên xe chúng tôi chú ý giữ cho người thẳng bằng cách lưng không tựa vào thành ghế, tóc buông xõa và tay không giữ tà áo, cố ý để gió luồn vào thổi tung bay. Hình ảnh ấy góp phần làm phố xá mỹ miều. Tại sao gái Sài Gòn không đi bộ hoặc đạp xe đi học như quý cô nương khác trên cả nước? Có lẽ do diện tích Sài Gòn rộng, đi bộ không tới, đi xe đạp ngại mỏi chân. Nhưng còn một lý do tế nhị khác mà chỉ có gái Sài Gòn mới hiểu, ngồi xe xích lô cho người ta chở mới là tiểu thư chính hiệu!
Hắn là con của ông bà chủ hãng xuất nhập khẩu. Nhà hắn có ba anh em trai, cả ba học cùng trường với chúng tôi, chỉ có lớp là khác. Khi đi học, ba anh em hắn có tài xế đưa đón, học xong là về nhà, không la cà phố xá. Những lần hắn tổ chức sinh nhật mời Ban liên lạc tới nhà, tôi thấy gia đình hắn, nhất là bà má, nề nếp qui củ lắm. Trong lớp, chúng tôi bầu hắn làm lớp trưởng vì hắn uy tín, học giỏi và tác phong nghiêm túc. Trong sinh hoạt tập thể hắn luôn là ngọn cờ dẫn dắt chúng tôi. Về ngoại hình thì khỏi chê, chúng tôi hay gọi hắn là “Alain Delon” (tài tử lừng danh của Pháp thời1950-1980) nhưng nếu muốn hắn nổi sung thì thêm chữ “beng” (A len đờ lông beng) đằng sau nữa. Nhiều tiểu thư nhà giàu đạt danh hiệu hoa khôi trường này trường khác mết hắn lắm, nhưng hắn chẳng thèm để ý đến cô nào.
Tới giờ tôi cũng không sao nhớ ra, bằng cách nào cô gái mong manh “lọt” được vào Ban liên lạc của lớp, nơi quy tụ những người “xuất chúng”. Về sắc diện, hình thức, học lực, tài vặt, thành phần xã hội, so với những tiểu thư trong trường, cô thuộc loại trung bình. Về công việc tập thể, Ban liên lạc giao cô phụ trách, cô thực hiện lúc được, lúc không. Nói chung, ngoài cái khoản mong manh làm người ta động lòng, còn thì cô chẳng tạo được một dấu ấn gì cho Ban liên lạc ghi nhớ sự hiện diện của cô. Thế mà đùng một cái chúng tôi thấy cô gái không đi họp bằng xe xích lô nữa mà ngồi trên chiếc xe Vespa Sprint màu xanh da trời, loại 150 phân khối do hắn chở. Thời đó, chỉ có công tử nhà giàu mới sắm nổi chiếc xe hách xì xằng như vậy. Chẳng bao lâu sau Ban liên lạc nhận được thiệp hồng. Ngày hai người cưới nhau tôi thấy hạnh phúc đầy tràn trong mắt tân lang và giai nhân. Khách tới dự tiệc cưới chúc vợ chồng hắn trăm năm hạnh phúc; tôi nghĩ, phải chúc ngàn năm hạnh phúc mới xứng. Thế mà, chỉ hơn hai mươi năm sau đó, vợ chồng hắn rẽ thúy chia uyên.
Lần gặp khoảng chục năm trước, mặc cho bệnh nhân chờ, hắn luôn miệng kể lể với tôi, đã có với cô gái mong manh hai mặt con, một trai một gái, cả hai theo nghề của cha, học chuyên khoa mắt bên Mỹ. Hắn nói, “Tụi nhỏ đứa nào cũng đẹp, học giỏi, thông minh, tụi Tây mết lắm, giống tui ngày xưa vậy”; nói xong hắn cười sang sảng. Tôi hỏi: “Cuộc sống của ông bây giờ thế nào?”. Chỉ chờ có vậy hắn huyên thuyên: “Sáng trước khi tới bệnh viện (Nhà nước), tui mổ hai ca, nếu mổ một con mắt thì hai mươi triệu, nếu mổ hai con mắt thì bốn mươi triệu, sau đó mới đi làm; trưa, tui tranh thủ làm một hoặc hai ca nữa; chiều, khám bệnh ngoài giờ ở dưỡng đường do tui làm chủ, đến tối mịt mới về nhà”.
Còn bà xã thì sao? Tôi hỏi tiếp, hắn trả lời: “Tui xây cho bà ba cái dưỡng đường, mổ xong, tui chuyển cho bả chăm sóc. Chưa kể tiền thuốc, khám sau mổ, chỉ tiền phòng không thôi bà cũng thu được năm triệu một người/ngày. Bả bây giờ trẻ, đẹp hơn xưa. Đó là nhờ tui cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa. Mỗi ngày bà chỉ có việc ngồi trên chiếc xe đời mới nhất (xe cũ tui thay liền) cho tài xế lái đi từ dưỡng đường này qua dưỡng đường khác, xem sổ sách, thu tiền, là hết việc. Chung quanh bả lúc nào cũng có hàng chục người hầu hạ, sung sướng như bà hoàng”.
Đúng đoạn hào hứng này tôi hỏi hắn “chuyện ngắm trăng”. Và tôi nhận được câu hỏi lại của hắn “Trăng là gì?”, kèm theo một nụ cười ngạo nghễ.
……
Hôm rồi cửa sổ tâm hồn của tôi lại trở chứng, nhìn xa bị mờ, nhìn gần mờ hơn nhìn xa. Thấy vậy, bạn bè người khuyên đi mổ, người can ngăn. Tôi chợt nhớ đến hắn, liền đến gặp, tôi cần ở hắn một lời khuyên.
Lần gặp lại này, nếu hắn không chủ động chào tôi trước, tôi sẽ không nhận ra. Trước mắt tôi là ông bác sĩ già khọm, tóc bạc trắng, mặt buồn rười rượi, nước da tối sạm. Đâu mất rồi một ông bạn có gương mặt phơi phới, hình thức lịch lãm và nụ cười ngạo nghễ? Thấy vậy tôi quên mất mục đích đến là để khám mắt, vội hỏi, “Làm ăn thất bát hả?”. Hắn im lặng rất lâu rồi nói một câu chẳng ăn nhập gì đến câu tôi hỏi: “Cô gái mong manh đã bỏ tôi đi lấy chồng khác rồi! Bỏ vội vã đến nỗi không thèm chia gia tài bà ạ”. Tôi giật mình: “Bỏ luôn ba cái dưỡng đường to đùng sao?”. Hắn nghẹn ngào: “Ừ, bỏ luôn, thế mới điên”.
Tôi nhẹ nhàng ngồi bên cạnh, cầm tay hắn, im lặng. Hắn bắt đầu chia sẻ: “Bà có nhớ cái thằng cù lần trong lớp mình không? Cái thằng hâm hâm đi học bằng chiếc Mô bi lết (Mobylette) cà tàng, con của ông già sửa xe đầu đường gần trường tụi mình học đó”. Hắn nói tiếp, mắt hắn như có nước: “Thằng đó coi vậy mà học giỏi, tụi mình không nhằm gì với nó đâu, bây giờ nó làm giáo sư của một số trường Đại học. Nghe nói, tình duyên nó trục trặc sao đó (không chừng hồi nhỏ nó thương thầm vợ tui à nghen) nó ở vậy luôn cho đến giờ. Hôm rồi làm thủ tục ly dị với tui xong, bả kết hôn với nó liền. Thằng đó nghèo rớt mồng tơi, lương thầy giáo nuôi bả gì nổi. Hiện nay bả phải nhận may quần áo thêm cho khách, hai người mới đủ sống. Vậy mà gặp lại tui mặt bả tươi rói, chưa bao giờ ở với tui mà mặt bả tươi rói như vậy”. Rồi hắn nói, như nói với chính mình: “Đàn bà nhiều người kỳ cục lắm, chồng cung phụng cho đủ thứ, nuông chìu hết mực mà vẫn đành lòng bỏ đi lấy người không bằng một góc của chồng mình. Thật không thể hiểu nổi…”.
Chờ hắn vơi bớt nỗi ấm ức tôi hỏi thăm hai đứa nhỏ. Tôi nghe từ hắn một giọng thiểu não hơn: “Tưởng hai đứa nối nghiệp cha, ngờ đâu, từ lâu tụi nó đã chuyển qua học nghề khác, đứa học thiết kế thời trang, đứa học phóng viên báo chí. Đã thế tui gọi về để giao tài sản mà chẳng đứa nào chịu về. Tụi nó nói “Ba mê tài sản hơn má và chúng con thì ba cứ giữ lấy”. Tôi động lòng thương cảm, hỏi: “Bây giờ ông sống như thế nào?”. Hắn nói, “Tui ở luôn trong bệnh viện, về nhà ở một mình, buồn lắm”. Không thể không hỏi thêm: “Thế căn nhà lớn ở quận Nhất và ba cái dưỡng đường ai ở, ai trông coi?”. Hắn nói, giọng nhẹ như gió thoảng: “Lâu lắm rồi tui chẳng ghé về nhà, còn ba cái dưỡng đường đang treo bảng bán hoặc cho thuê”. Thói quen nghề nghiệp, tôi đánh giá: “Ba cái dưỡng đường đó, bán cũng bộn tiền ông ạ”. Hắn ngẩng lên nhìn tôi, mắt hắn sâu thăm thẳm: “Của đó vô thường lắm, không có thật đâu bà”.
Giá mà, mười năm trước hắn nhận ra sự vô thường đó thì đoạn kết của đời hắn đâu đến nỗi buồn như bây giờ?
Tự nhiên tôi nhớ gương mặt phơi phới với nụ cười ngạo nghễ khi hắn hỏi ngược lại tôi “Trăng là gì?”.
Trăng là gì ư? Trăng là ly nước mát của vợ trao tận tay mà hắn quên uống. Trăng là cái bình hoa vợ chăm chút cắm mong chồng để mắt tới, thế mà hắn đành lòng không màng. Trăng là tiếng cười reo của hai đứa con đón hắn sau những giờ làm việc nhưng vì mệt, hắn đã cằn nhằn, quạu quọ. Trăng là những bữa cơm nóng mà khi hắn về thì đã nguội lạnh, rồi cả nhà nhịn ăn theo hắn.
Trăng còn là cái nắm tay âu yếm mà từ rất lâu hắn quên trao cho vợ. Trăng còn là những đêm vì sợ con lạnh, hắn rón rén bước qua phòng kéo mền đắp cho con mà sau này vì mệt mỏi, ngủ vùi, hắn quên. Trăng còn là tất cả những mây và gió, những hương và hoa trong cuộc sống mà do tâm không an, thân không lạc cho nên hắn không thể cảm nhận được.
Trăng là gì nữa? Là người vợ đã bỏ chồng giàu đi lấy chồng nghèo; là những đứa con thà kiếm tiền từ sức lao động và trí tuệ của mình chớ không nhận tài sản của người cha để lại. Trăng còn là kết cục của đời hắn, bỏ mặc căn nhà lớn ở quận Nhất và đóng cửa ba cái dưỡng đường to đùng vào ở trong bệnh viện vì, ở một mình buồn lắm.
Những người chồng bận rộn ơi, nhớ dành thời gian ngắm trăng với vợ và con, đừng để trăng lặn mất, rồi tiếc như hắn, bạn của tôi./.
Truyền Thông Hốt Bạc Bầu Cử
Tác giả : Vi Anh Mùa bầu cử nói chuyện ứng cử viên, nói cử tri, nói đảng phái mà không nói đến truyền thông, không nói đến quảng cáo tranh cử trên truyền thông – là thiếu, quá thiếu. Số tiền ứng cử viên bỏ ra để chi tiêu cho truyền thông là số tiền lớn nhứt.
Một thóang thời sự về tiền bầu cử các ứng cử viên đã thâu và chi cho truyền thông. Chắc chắn TT Obama không thể kiếm được 1 tỷ Mỹ Kim cho quỹ vận động tái tranh cử. Theo tài liệu công bố ngày 16/5, tính đến hết tháng 4/2012, tổng thu tiền bầu cử của TT Obama là 239.6 triệu Mỹ Kim. Con số này ít hơn so với số tiền mà ông đã quyên góp được trong kỳ ứng cử 2008 và còn cách rất xa so với mục tiêu 1 tỉ Mỹ Kim mà chính ông Obama đưa ra
Đối thủ của ông Obama, ông Romney quyên được ít tiền hơn, trong tháng Tư 40 triệu gần bằng số thu của TT Obama trong tháng này, vì Ông Romney mới gây quỹ cho bầu cừ sơ bộ chớ chưa gây quỹ cho tranh cử tổng thống với TT Obama. Nhưng ông Romney được nhiều tổ chức vận động tranh cử tư nhân (còn gọi là các Super PAC) ủng hộ nhiệt liệt. Các tổ chức này có thể bỏ ra hàng trăm triệu Mỹ Kim để mua quảng cáo trên truyền hình và đài phát thanh, chống lại ông Obama và đảng Dân Chủ.
Chắc chắn TT Obama cũng phải dành một số tiền rất lớn để mướn các cơ quan truyền thông chạy quảng cáo bầu cử chống lại Ô Romney và Đảng Cộng Hòa để ăn miếng trả miếng.
Ngay trong nội bộ Đảng Cộng Hòa, các ứng cử viên cùng Đảng khi tranh nhau để được Đảng đề cử làm ứng cử viên tổng thống cho đảng Cộng Hòa, quí vị này cũng tốn tiền triệu triệu đô la cho truyền thông.
Điểm qua báo Mỹ New York Times và báo Pháp Le Monde, các Super PAC để ủng hộ gà nhà và đánh phá gà địch, tốn cho truyền thông đại chúng rất nhiều. Tiêu biểu như Super PAC vận động cho Ô. Gingrich tốn cho truyền thông 11 triệu Đô. Còn Super-PAC mất cho truyền thông 1 triệu 6 để vận động cho Ô. Santorum.
Còn ứng cử viên Mitt Romney, là người đựơc các Super PAC giúp đánh bóng cho Ông và bôi tro trét trấu đối thủ của Ông trên truyền thông, tốn rất nhiều.
TT Obama đặc biệt được giới triệu, tỷ phú điện ảnh ở Hollywood yểm trợ tốn cho truyền thông cũng rất nhiều để quảng cáo cho mình và đả đối phương, nhứt là Ô. Romney.
Cuộc bầu cử năm 2012 cuộc vận động chạy quảng cáo trên truyền thông còn đang diễn tiến, chưa có con số tốn kém chung cuộc cho truyền thông. Nhưng chắc chắn nó sẽ lớn hơn năm 2010.
Thử nhìn lại số tiền các ứng cử viên tốn cho truyền thông Mỹ trong cuộc bầu cử ngày 2 tháng 11năm 2010 sẽ thấy rõ số tiền các ứng cử viên Mỹ dành để trả cho các cơ quan truyền thông là “phần ăn của sư tử”. Chi phí tranh cử dành cho truyền thông phát thanh, phát hình, báo giấy lên vượt kỷ lục so các kỳ bầu cử trước.
Và kỳ bầu cử năm 2012 ắt cao hơn nữa vì ứng cử viên nào cũng dư chi và dư thu cao hơn. Và đặc biệt trong kỳ bầu cử năm nay 2012 theo phán quyết của Tối Cao Pháp Viện các Super PAC tòan quyền thu chi để ủng hộ gà nhà và đánh phá gà địch như đã thấy ở trên giữa các ứng cử viên Cộng Hòa.
Theo một sưu khảo và thăm dò, cuộc bầu cử ngày 2 tháng 11 năm 2010 chi phí các ứng cứ viên, các tổ chức chánh trị ủng hộ ứng cử viên tự nhiên trong đó có các chánh đảng dành chi cho truyền thông đã cao lâu nay kỳ bầu 2010 tăng đáng sợ.
Theo tổ chức Campaign Media Analysis Group, số chi phí đó trong cuộc bầu cử 2 tháng 11 này phải lên đến $4.2 tỷ Đô la. Tỷ lệ gia tăng rất cao. Phần lớn của số tiền kếch sù đó là dùng để trả cho tiền quảng cáo tranh cử trên truyền thông, theo sưu khảo của Borrell Associates.
Theo tổ chức này chi phí dành trả cho truyền thông trong bầu cử cứ tăng theo mỗi mùa bầu cử, không liên quan đến tình hình kinh tế lên hay xuống gì cả. Càng ngày, càng gần ngày bầu cử, đề tài, đề luận, lời qua tiếng lại càng tăng, càng tốn. Cứ mỗi mùa bầu cử thì giá cả càng tăng.
Số tiền chi phí dành cho truyền hình vượt kỷ lục các năm khác còn do những ứng cử viên tái ứng cử nữa. Họ có bổi rồi nên cho rất xộp. TNS John McCain (Cộng Hoà-Ariz.) và Kirsten Gillibrand (Dân chủ - N.Y.), và một số dân biểu, nghị sĩ lắm bạc nhiều tiền như các ứng cử viên Cộng Hoà Linda McMahon ở Connecticut và Carly Fiorina ở California. Những ứng cử viên này đã đổ nhiều triệu Đô la cho việc quảng cáo truyền hình tranh cử, cho việc làm phim quảng cáo cũng như mướn các cố vấn có tên tuổi chánh yếu là dùng vào việc quảng cáo tranh cử trên truyển thanh, truyền hình, báo chí nhưng nhiều nhứt là truyền hình. Truyền thông là món tiền lớn nhứt cần phải chi trong chiến dịch tranh cử - là kết luận của Evan Tracey, giám đốc của tổ chức sưu khảo Campaign Media Analysis Group.
Số tiền tranh cử chi phí cho truyền thông so với số chi phí gởi truyển đơn qua bưu điện, chi phí lương cho bộ tham mưu, và các chi phí linh tinh - tất cả đều tăng nhưng chi phí cho truyền thông cao nhứt, nhiều nhứt trong kỳ bầu cử này theo con số của so sánh của Government Accountability Office. Giá tiền quảng cáo truyền hình ở các địa phương sát nhau giữa các đài nhưng tất cả đều tăng, theo nhận định của Television Bureau of Advertising, một đại lý lấy quảng cáo cho các đài truyền hình. Theo ước đoán gần chính xác, cuộc bầu cử nào có số quỹ tranh cử từ 1 triệu trở lên, thường sử dụng từ 41 cho đến 49% cho truyền thông.
Câu hỏi sau cùng để người Mỹ gốc Việt trong đó có truyền thông tiếng Việt ở Mỹ Việt cùng nhau suy gẩm. Truyền thông tiếng Việt phát thanh, phát hình,báo chí truyền thống có đầy đủ. Ở cấp địa phương, cấp vùng và cấp quốc gia Mỹ đều có phủ sóng. Người Mỹ gốc Việt có gần 3 triệu người, đa số có quốc tịch Mỹ và một số không nhỏ là công dân cử tri Mỹ - cử tri mẫn cán nữa là đằng khác.Nhưng cho đến bây giờ tại sao các ứng cử viên Mỹ chưa ngó ngàng đến truyền thông tiếng Việt?./.
Vi Anh
Tác giả : Vi Anh Mùa bầu cử nói chuyện ứng cử viên, nói cử tri, nói đảng phái mà không nói đến truyền thông, không nói đến quảng cáo tranh cử trên truyền thông – là thiếu, quá thiếu. Số tiền ứng cử viên bỏ ra để chi tiêu cho truyền thông là số tiền lớn nhứt.
Một thóang thời sự về tiền bầu cử các ứng cử viên đã thâu và chi cho truyền thông. Chắc chắn TT Obama không thể kiếm được 1 tỷ Mỹ Kim cho quỹ vận động tái tranh cử. Theo tài liệu công bố ngày 16/5, tính đến hết tháng 4/2012, tổng thu tiền bầu cử của TT Obama là 239.6 triệu Mỹ Kim. Con số này ít hơn so với số tiền mà ông đã quyên góp được trong kỳ ứng cử 2008 và còn cách rất xa so với mục tiêu 1 tỉ Mỹ Kim mà chính ông Obama đưa ra
Đối thủ của ông Obama, ông Romney quyên được ít tiền hơn, trong tháng Tư 40 triệu gần bằng số thu của TT Obama trong tháng này, vì Ông Romney mới gây quỹ cho bầu cừ sơ bộ chớ chưa gây quỹ cho tranh cử tổng thống với TT Obama. Nhưng ông Romney được nhiều tổ chức vận động tranh cử tư nhân (còn gọi là các Super PAC) ủng hộ nhiệt liệt. Các tổ chức này có thể bỏ ra hàng trăm triệu Mỹ Kim để mua quảng cáo trên truyền hình và đài phát thanh, chống lại ông Obama và đảng Dân Chủ.
Chắc chắn TT Obama cũng phải dành một số tiền rất lớn để mướn các cơ quan truyền thông chạy quảng cáo bầu cử chống lại Ô Romney và Đảng Cộng Hòa để ăn miếng trả miếng.
Ngay trong nội bộ Đảng Cộng Hòa, các ứng cử viên cùng Đảng khi tranh nhau để được Đảng đề cử làm ứng cử viên tổng thống cho đảng Cộng Hòa, quí vị này cũng tốn tiền triệu triệu đô la cho truyền thông.
Điểm qua báo Mỹ New York Times và báo Pháp Le Monde, các Super PAC để ủng hộ gà nhà và đánh phá gà địch, tốn cho truyền thông đại chúng rất nhiều. Tiêu biểu như Super PAC vận động cho Ô. Gingrich tốn cho truyền thông 11 triệu Đô. Còn Super-PAC mất cho truyền thông 1 triệu 6 để vận động cho Ô. Santorum.
Còn ứng cử viên Mitt Romney, là người đựơc các Super PAC giúp đánh bóng cho Ông và bôi tro trét trấu đối thủ của Ông trên truyền thông, tốn rất nhiều.
TT Obama đặc biệt được giới triệu, tỷ phú điện ảnh ở Hollywood yểm trợ tốn cho truyền thông cũng rất nhiều để quảng cáo cho mình và đả đối phương, nhứt là Ô. Romney.
Cuộc bầu cử năm 2012 cuộc vận động chạy quảng cáo trên truyền thông còn đang diễn tiến, chưa có con số tốn kém chung cuộc cho truyền thông. Nhưng chắc chắn nó sẽ lớn hơn năm 2010.
Thử nhìn lại số tiền các ứng cử viên tốn cho truyền thông Mỹ trong cuộc bầu cử ngày 2 tháng 11năm 2010 sẽ thấy rõ số tiền các ứng cử viên Mỹ dành để trả cho các cơ quan truyền thông là “phần ăn của sư tử”. Chi phí tranh cử dành cho truyền thông phát thanh, phát hình, báo giấy lên vượt kỷ lục so các kỳ bầu cử trước.
Và kỳ bầu cử năm 2012 ắt cao hơn nữa vì ứng cử viên nào cũng dư chi và dư thu cao hơn. Và đặc biệt trong kỳ bầu cử năm nay 2012 theo phán quyết của Tối Cao Pháp Viện các Super PAC tòan quyền thu chi để ủng hộ gà nhà và đánh phá gà địch như đã thấy ở trên giữa các ứng cử viên Cộng Hòa.
Theo một sưu khảo và thăm dò, cuộc bầu cử ngày 2 tháng 11 năm 2010 chi phí các ứng cứ viên, các tổ chức chánh trị ủng hộ ứng cử viên tự nhiên trong đó có các chánh đảng dành chi cho truyền thông đã cao lâu nay kỳ bầu 2010 tăng đáng sợ.
Theo tổ chức Campaign Media Analysis Group, số chi phí đó trong cuộc bầu cử 2 tháng 11 này phải lên đến $4.2 tỷ Đô la. Tỷ lệ gia tăng rất cao. Phần lớn của số tiền kếch sù đó là dùng để trả cho tiền quảng cáo tranh cử trên truyền thông, theo sưu khảo của Borrell Associates.
Theo tổ chức này chi phí dành trả cho truyền thông trong bầu cử cứ tăng theo mỗi mùa bầu cử, không liên quan đến tình hình kinh tế lên hay xuống gì cả. Càng ngày, càng gần ngày bầu cử, đề tài, đề luận, lời qua tiếng lại càng tăng, càng tốn. Cứ mỗi mùa bầu cử thì giá cả càng tăng.
Số tiền chi phí dành cho truyền hình vượt kỷ lục các năm khác còn do những ứng cử viên tái ứng cử nữa. Họ có bổi rồi nên cho rất xộp. TNS John McCain (Cộng Hoà-Ariz.) và Kirsten Gillibrand (Dân chủ - N.Y.), và một số dân biểu, nghị sĩ lắm bạc nhiều tiền như các ứng cử viên Cộng Hoà Linda McMahon ở Connecticut và Carly Fiorina ở California. Những ứng cử viên này đã đổ nhiều triệu Đô la cho việc quảng cáo truyền hình tranh cử, cho việc làm phim quảng cáo cũng như mướn các cố vấn có tên tuổi chánh yếu là dùng vào việc quảng cáo tranh cử trên truyển thanh, truyền hình, báo chí nhưng nhiều nhứt là truyền hình. Truyền thông là món tiền lớn nhứt cần phải chi trong chiến dịch tranh cử - là kết luận của Evan Tracey, giám đốc của tổ chức sưu khảo Campaign Media Analysis Group.
Số tiền tranh cử chi phí cho truyền thông so với số chi phí gởi truyển đơn qua bưu điện, chi phí lương cho bộ tham mưu, và các chi phí linh tinh - tất cả đều tăng nhưng chi phí cho truyền thông cao nhứt, nhiều nhứt trong kỳ bầu cử này theo con số của so sánh của Government Accountability Office. Giá tiền quảng cáo truyền hình ở các địa phương sát nhau giữa các đài nhưng tất cả đều tăng, theo nhận định của Television Bureau of Advertising, một đại lý lấy quảng cáo cho các đài truyền hình. Theo ước đoán gần chính xác, cuộc bầu cử nào có số quỹ tranh cử từ 1 triệu trở lên, thường sử dụng từ 41 cho đến 49% cho truyền thông.
Câu hỏi sau cùng để người Mỹ gốc Việt trong đó có truyền thông tiếng Việt ở Mỹ Việt cùng nhau suy gẩm. Truyền thông tiếng Việt phát thanh, phát hình,báo chí truyền thống có đầy đủ. Ở cấp địa phương, cấp vùng và cấp quốc gia Mỹ đều có phủ sóng. Người Mỹ gốc Việt có gần 3 triệu người, đa số có quốc tịch Mỹ và một số không nhỏ là công dân cử tri Mỹ - cử tri mẫn cán nữa là đằng khác.Nhưng cho đến bây giờ tại sao các ứng cử viên Mỹ chưa ngó ngàng đến truyền thông tiếng Việt?./.
Vi Anh

TÌNH BẠN TRONG ĐỜI
Dù đã sẵn sàng hay còn chưa chuẩn bị, nhưng rồi một ngày kia, chúng ta cũng phải chia tay thế giới này.
Sẽ chẳng còn ánh mặt trời chói chang chào đón, sẽ chẳng còn một ngày mới bắt đầu bằng giọt nắng trong vắt của buổi bình minh.
Sẽ không còn nữa những ngày xuân hiền hòa, ấm áp.
Tiền bạc, danh vọng, quyền lực,… tất cả với ta cuối cùng cũng sẽ trở thành vô nghĩa. Còn ý nghĩa chăng là những gì ta tạo ra đối với thế giới này.
Vậy điều gì là thật sự quan trọng lưu lại dấu ấn của ta trong cuộc sống ?
Quan trọng không phải là những thứ bạn mang theo bên mình, mà là những gì bạn đã chân thành đóng góp cho tha nhân.
Quan trọng không phải là những thứ bạn nhận được mà là những gì bạn đã cho đi.
Quan trọng không phải là những thành công bạn đã có được trong cuộc đời, mà là ý nghĩa thanh cao của chúng.
Quan trọng không phải là những thứ bạn học được, mà là những gì bạn đã truyền lại cho người khác.
Quan trọng không còn là năng lực của bạn, mà chính là tính cách - là những gì mà bạn đã cư xử với mọi người xung quanh.
Quan trọng là những khoảnh khắc cử chỉ, thái độ mà bạn đã vô tình hay cố ý khắc ghi trong lòng người khác, khi cùng chia sẻ với họ những lo âu, phiền muộn, khi bạn an ủi và làm yên lòng họ bằng cách riêng nào đó của mình, hay chỉ đơn giản là một nụ cười hoan hỹ hay một cái nắm tay, đỡ cho một người khỏi ngã.
Quan trọng không chỉ là những ký ức, mà phải là ký ức về những người đã yêu thương bạn.
Quan trọng đâu chỉ là bạn sẽ được mọi người nhớ đến trong bao lâu, mà là họ nhớ GÌ về bạn (tốt hay xấu).
Quan trọng không phải là bạn quen biết thật nhiều người, mà là bao nhiêu người sẽ đau xót khi mất bạn trong đời.
Vậy thì, bạn ơi, hãy nhìn cuộc sống bằng ánh mắt yêu thương và hiểu biết. Bởi vì, chỉ có tình yêu thương, sự hiểu biết mới đem lại những điều kỳ diệu cho cuộc sống, bạn ạ.
Sưu tầm
Bạn bè cũng như tiền vậy ..
Có tờ thật ..
Có tờ giả ..
Có tờ lành ..
Có tờ rách ..
Chỉ tiếc là : Mình không phải máy soi tiền nên không thể biết được...
Nhưng "rách" và "giả" cũng không che được dưới ánh mặt trời, thì gọi đó là "Bèè..è"...
Trong cuộc vui đâu biết ai là
BẠN . . .
Lúc hoạn nạn mới biết bạn là AI.
Bạn thân là gì?
B: Bao dung ♥
A: An toàn ♥
N: Nhường nhịn ♥
T: Thương yêu ♥
H: Hiền hòa ♥
Â: Ấm áp ♥
N: Ngọt ngào ♥

