Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Tam Bành Lục Tặc
Tam Bành là ba vị hung thần Bành Kiêu, Bành Chất và Bành Sự chia nhau ở trong óc, trán và bụng để giục người nóng tánh làm bậy. Nổi tam bành theo Tự Điển Việt Việt của Lê

Văn Đức và Lê Ngọc Trụ là cơn hung dữ phần nhiều thường dùng cho người đàn bà. Theo nghiên cứu và dẫn giải chúng ta có được suy luận rằng Tam Bành đúng thật là ”con cưng” của Tam Độc. Tam Độc là ”ba độc chất” tiên khởi có tác dụng ngấm ngầm và Tam Bành có tác động nổ tung.

Lục Tặc là sáu tên cướp. Gọi là cướp vì có những hành động phá phách gây nguy hại. Lục Tặc có thể cướp đi tính chất ôn nhu của một người đàn bà khiến họ trở thành hung dữ cực độ. Người phụ nữ dịu dàng một thuở biến mất. Khi Lục Tặc hiện nguyên hình, cái nhẹ nhàng trong bước chân đi, cái thơ mộng trong ánh mắt và cái nồng ấm trong nụ cười của người phụ nữ sẽ ”biến dạng” bằng đôi mắt trợn trừng long lên, lời nói chua cay ác nghiệt và hành động dữ tợn không tự chủ. Lục Tặc phá và cướp đi của con người trạng thái vui vẻ trầm tỉnh khả ái, để biến thành một người thành hung dữ. Khi Tam Bành nổi lên thì Lục Tặc đương nhiên đã xuất hiện. Hoặc có thể nói rằng, do LỤC TẶC châm ngòi mà TAM BÀNH có cơ hội nổ lớn.

Theo giảng giải của Nhà Phật thì những họat động thường nhật của chúng ta bị chi phối bởi Tam Độc và Lục Tặc. Tam Độc là ba thứ độc hại là ba món phiền não lớn: Tham, Sân, Si. Tham là tham lam, Sân là sân hận và Si là ngu si. Ba thứ độc hại nầy là ”cha đẻ” của Tam Bành và Lục Tặc.

Vì muốn tốt cho mình, đẹp cho mình, và lợi cho mình mà nổi lòng THAM. Với lòng tham có người bất chấp lợi hại để đạt được mục tiêu của họ. Không đạt được những mục tiêu đó họ trở nên thù hận và giận dữ là SÂN, cũng gọi là sân hận. Thường thì vì cố chấp (Sân) ta không thấy được cái sai của mình, hoặc nếu có thấy vẫn cố gắng ngụy biện để cho rằng lỗi ở người chứ không phải lỗi ở ta. Không được thỏa mãn những đòi hỏi mình đặt ra, không đạt được điều mình mong muốn, ta nỗi giận và dữ. Nếu mục tiêu phải đạt đặt căn bản trên lòng tham, trên sân hận sẽ gây hại hoặc tổn thương cho bản thân mình, cho người thân của mình cũng như cho người khác nên gọi là SI. Si là ngu si, có nghĩa là không thấy được những điều đáng thấy để làm những điều đáng làm. Chính vì thế, thay vì đem lại lợi ích cho mình và cho người, gần nhất là người thân của mình, người sân si dễ tạo những tác động ngược lại. Gọi ngu si là ở điểm nầy.

”Tham, Sân, Si” phá hủy các thiện căn, phá hại đời sống của chúng sanh nên Nhà Phật gọi là Tam Độc. Lục tặc là sáu sự khuấy phá tạo tác động sai trái qua sáu cơ năng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Từ những cảm quan đưa đến những tư tưởng hành động sai lầm do chi phối của Tam Độc mà gây nguy hại cho chính bản thân của chúng ta, Lục Tặc được ”sinh ra và trưởng thành” từ các phối kết, nghĩa là theo tuần tự của các diễn tiến như sau: Lục Căn – Lục Trần – Lục Thức.

LỤC CĂN là sáu cơ quan: Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ý. Đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tư tưởng. Sáu cơ quan nầy tiếp nhận những xúc tác từ bên ngòai vào để tạo tác động. Sáu sự kiện gây xúc tác vào sáu cơ quan gọi là sáu cảnh hay sáu trần (Lục Trần).

LỤC TRẦN gồm có: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Lục Trần tác động vào 6 cơ quan, là Lục Căn, tạo nên sáu sự hay biết gọi là Lục Thức.

LỤC THỨC là sáu tri thức, tức là sáu sự nhận thức gồm có: Nhãn thức – tri thức của mắt, Nhĩ thức – tri thức của tai, Tỹ thức – tri thức của mũi, Thiệt thức – tri thức của lưỡi, Thân thức – tri thức của thân và Ý thức – tri thức của tư tưởng. Khi Lục Thức được ”đắp bồi vun xới” bởi ”Cái Tôi” vị kỷ ngã mạn (tham lam, mê đắm cố chấp và ngu si) sẽ sinh ra ra LỤC TẶC.

Tượng Ngài Di Lạc và Lục Tặc

Chúng ta phải hiểu rằng, ”nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ mó, nhận diện” sự kiện và sự vật bằng ”Cái Tôi” vĩ đại, nghĩa là bằng quan niệm Cá nhân Chũ nghĩa: ”Hợp với ta thì sống chống ta thì chết” là chúng ta đã cho sinh ra và nuôi lớn LỤC TẶC, đến khi gặp một trong những chất xúc tác mạnh của Tam Độc, Tam Bành sẽ bật ra và nổ bùng!

Ví dụ khi mắt (nhãn căn) của người nam nhìn thấy hình dáng yêu kiều (sắc trần) của người nữ tác động vào cái thấy của anh (nhãn thức) và tạo lòng yêu mến (thức + sở thích: có sự phân biệt, thích hay không thích). Nếu chỉ nhìn thấy và cảm mến như một sự thưởng thức là chuyện bình thường. Nhưng nếu thấy mà nỗi lòng tham muốn chiếm hữu bất kể luân lý đạo đức là đã có sự hiện diện của Tam Độc: tham, sân, si, sẽ có sự xuất hiện của Lục Tặc. Ở trường hợp nầy tên tặc tử là nhãn tặc. Nhưng bình thường Lục Tặc không thể tách rời nhau. Sáu tên cướp nầy phải dính chùm với nhau. Như thí dụ đề cập đến ở đây, khi anh nầy thấy cô nọ đẹp anh sẽ thích thú làm quen, thì nhìn hình dáng (sắc) mà ham muốn, nghe tiếng nói (thanh) mà ham muốn, ngửi mùi thơm (hương) từ người cô ta mà ham muốn, và tưởng tượng ra (vị) vị ngọt của ”mùi tình” mà ham muốn, thì tư tưởng như thế sẽ đưa đến cái ham muốn ôm ấp (xúc) và lòng chiếm đọat (ý): Lục Tặc xuất hiện! Trong trường hợp nầy anh ta dùng tiền bạc cung phụng người đẹp, bỏ bê vợ con thì bà vợ sẽ nỗi giận nỗi dữ: Tam Bành ”xuất quân” vì đã được Lục Tặc… khiêu chiến!

Nói tóm lại, qua sáu cơ quan của cơ thể ta tiếp xúc với sáu sự kiện tác động từ bên ngòai vào sẽ sinh tác dụng phân biệt vào tất cả cái thấy, hiểu, ngửi, nếm, nghe và biết (kiến, văn, khứu, vị, giác, tri). Sáu sự hay biết ấy gọi là Lục Thức và khi Tam Độc chi phối Lục Thức sẽ sinh ra Lục Tặc và Tam Bành. Ta có được mệnh đề sau đây: Tam Độc + Lục Thức = Lục Tặc & Tam Bành.

Từ một cơ quan đơn giản như lỗ tai của chúng ta (nhĩ căn), ta có khả năng nghe tiếng nói âm thanh từ bên ngòai đi vào (nhĩ trần/âm thanh), và thâu nhận (nhĩ thức), rồi đặt cái Tôi vào đó để có phản ứng: khi nghe lời ca tụng làm ta thích thú, ta sẽ vui mừng. Trái lại nghe lời chê bai khiêu khích ta sẽ đùng đùng nỗi giận và lời khiêu khích đôi khi có chất xúc tác quá ”đậm đà”, vì Lục Tặc quấy nhiễu châm ngòi thì Bành Kiêu, Bành Chất và Bành Sự được ”cấp tóc trương triệu tập”: cơn giận nổ bùng !

Một ví dụ nhỏ: Một nhóm bạn tham dự trong một bữa tiệc, bỗng một người bạn/quen đi ngang qua ”thả” một câu nói: ”Khiếp thế! Chung Vô Diệm mà tưởng mình là Tây Thi. Vừa mới đi căng da mặt về tưởng đẹp lắm trẻ lắm nên ỏng ẹo thấy ghê!”. – ”Silicon đó bà con ơi, không phải hàng thiệt đâu mà ham!” v.v… Trong nhóm người đang nói chuyện với nhau kể trên, đều cùng nghe câu nói đó, nhưng chỉ có một người phản ứng: Chị A! Vì biết rằng câu nói ”ác độc chua ngoa khiêu khích” đó ám chỉ mình, nên Chị A phản ứng lập tức. Nếu là người hung hăng sẽ có ”chiến tranh ngôn ngữ” là lời qua tiếng lại. Gặp người bản tính hung dữ, nếu đang ở ngoài chợ có thể họ sẽ vày đầu nhau mà đấm mà thoi. Là người bản tính trầm tỉnh, ”nạn nhân” sẽ nhẫn nhục bỏ qua câu nói hôm đó (nhưng vẫn ghi ”sổ đen” trong lòng!). Đó là kết qủa sự xuất hiện của Bành và Tặc sau khi Trần tác động vào Căn cho ra Thức bị động, nghĩa là đã bị chi phối bởi Tam Độc. Tại sao năm người kia nghe cùng câu nói mà không có phản ứng, chỉ Chị A mới có phản ứng? Đó là vì cái Thức có Cái Tôi vị kỹ. Nghe câu nói và hiểu rằng câu nói nhắm thẳng vào mình, tức là đã chạm vào ”Cái Tôi”, thì ”Tôi” sẽ phản ứng, và với tự ái bình thường của con người muốn được khen không ai muốn bị chê, vì bảo vệ Mình, nên Chị A giận dữ.
Nhìn vào tình hình thế giới, chúng ta khiếp hãi những tên khủng bố làm hại lòai người, nhưng đôi khi chúng ta không thấy được những tên khủng bố đang có trong ta, vẫn để cho nó tung hòanh và tự do tác yêu tác quái: Nó là Tam Bành và nó chính là Lục Tặc, là ”Osama bin Laden” của thế giới hôm nay! Nó không ở đâu xa xôi tận Trung Đông, mà chính tụi nó đang ở trong tim trong não trong tư tưởng lời nói và hành động của chúng ta (Thân, Khẩu, Ý).

Người bị chúng ta cho Tam Bành nổ lớn khi Lục Tặc chiếm hữu, là nạn nhân, họ cũng có cái cảm giác hãi sợ khi nhìn vào chúng ta cũng như khi ta nhìn vào tụi khủng bố. Đặt vào vị thế của những ”nạn nhân” nầy mà nhìn trở lại vào chính ta, ta sẽ thấy ta lúc đó không phải là hình ảnh đẹp. Ta không nên nuôi lớn Tam Bành và Lục Tặc, ta không nên nuôi dưỡng Tam Độc và Lục Tặc quá kỹ lưỡng chu đáo bằng cái tâm hẹp hòi và lòng thù hận sâu đậm, không biết buông thả chỉ bằng cố chấp, ta sẽ cho Lục Tặc lớn nhanh và Tam Bành có cơ hội xuất hiện đều đều, kết quả sẽ là: chỉ có sự cô đơn cô độc ”sống chung” với ta thôi, không còn ai muốn sống chung với ta nữa cả. Bạn bè người thân không kham nỗi một người với tính khí dữ dội, họ sẽ tìm cách xa lánh. Nhiều người vì sự uất giận hoặc quá cô độc mà mang bệnh vào người. Theo ngày tháng dần dần với sự buồn bả cô đơn ta dễ dàng mang vào người chứng bệnh oan nghiệt nhất: Bệnh Trầm Cảm! Theo nghiên cứu hiện thời sự căng thẳng tinh thần là cũng một trong những nguyên nhân tạo chứng bệnh ung thư.

Bệnh trầm cảm biến cuộc sống thành thế giới của những ảo giác lọan động. Sống trong một thế giới mơ hồ không thực, cuộc đời của ta sẽ tẻ nhạt và thê thảm, đời sẽ tuột dốc dữ dội. Đến một giai đọan nào đó có muốn trở lại đọan đường mình đã đi qua (sau khi ”qua sông đốt cầu” bằng Lửa Tham Lửa Sân và Lửa Si), có muốn trở về lại ”lối cũ năm xưa nơi có sự ấm áp và hình ảnh đẹp” cũng khó có đủ khả năng và sức lực để gầy dựng lại. Tình cảm giữa con người với con người, điển hình là tình cảm vợ chồng, một thời thương yêu nhau thắm thiết, một khi ta vụng về đánh mất, sẽ như một cây kiểng không săn sóc nuôi dưỡng, cây sẽ héo dần và chết đi. Bạn không thể bón phân, tưới nước cho nhiều vào và ngồi đợi cây sống lại! Tình cảm giữa hai con người không thể chỉ nuôi dưỡng một chiều, mà phải có sự hòa ái dịu dàng biết tôn trọng và lòng qúy mến trao cho nhau.

Những suy diễn giải bày về Tam Độc hay Tam Bành Lục Tặc chỉ với mục đích cho ta thấy ngọn nguồn gốc rễ của những khúc mắc, những dây mơ rễ mái của phức tạp trong đời sống giữa mình và người về lâu về dài, để phòng để tránh. Ngay từ khi chớm thấy có sự phức tạp của một vấn đề giữa ta và người, hãy tỉnh tâm suy xét để thấy lỗi mình trước khi thấy lỗi người. Đừng bao giờ nhìn một chiều, và đặt cá nhân mình lên trên hết, ta sẽ chỉ thấy lỗi người khác mà không thấy lỗi mình. Một vấn đề tự nó không thể xuất hiện nếu giữa hai người không có những bất đồng ý kiến hay những xích mích nào đó. Có nghĩa là tối thiểu phải có hai người mới tạo được một vấn đề. Hay nói rõ hơn, nhiều hay ít, vô tình hay cố ý bạn đã dự phần trong sự kiện tạo ra vấn đề giữa bạn và người khác. Vấn đề không tự chính nó sinh ra được nếu không có sự liên hệ giữa hai hay nhiều người.

Cách giải quyết vấn đề hay nhất là mình thấy được lỗi mình, và đừng cố gắng dùng thời giờ để tìm lỗi của người khác. Bởi vì khi thấy được lỗi của mình,chúng ta sẽ tu sửa thay đổi bản thân mình. Nếu chỉ thấy lỗi người, bạn sẽ đặt điều kiện là người kia phải thấy được lỗi của họ, và phải tự họ sửa đổi lỗi lầm. Đây là một ”tham vọng” quá lớn, bởi vì chính bạn không thể đòi hỏi người khác nghe theo lời mình được, nhất là nghe lời bạn để sửa đổi chính họ, là điều khó ai thực hiện được.

Không thể thay đổi người khác ngọai trừ thay đổi chính mình. Khi ta tự thay đổi chính mình, là khi ta ”cho” người thời gian suy nghĩ và cơ hội lắng lòng để dần dần thấy được sai lầm của họ. Thấy được lỗi của mình, họ sẽ tự động sửa đổi. Nếu ta chỉ trích phê phán, ta sẽ gây sự giận dữ ở họ, vì ta không cho ”đối tượng” thời gian suy nghĩ, và chính ta đặt họ vào thế liên thủ, chống đỡ sự công kích tới tấp của ta. Họ phải liên tục bảo vệ chính mình, đầu óc họ chỉ nghe và thấy sự hung dữ của ta mà không có thời giờ thấy được hành động sai lầm nếu có của họ.

Sau nhiều năm sống với nhau, bình thường người chồng không còn những cử chỉ tình tứ với người vợ, đối lại nhiều người vợ hết dịu dàng và trở thành… ”máy nói”, chỉ trích trách móc chồng. Thử hỏi, người chồng nếu phải luôn nghe những lời trách móc của vợ, có còn thấy người vợ hiền dịu khả ái như ”ngày nào ta yêu nhau” không? Chồng hay vợ đều là người bằng xương bằng thịt, họ cần được thương yêu âu yếm được nghe nói lời ngọt ngào êm ái. Ngược lại nếu người chồng mãi nghe lời trách móc cằn nhằn, anh sẽ không còn tìm thấy ở người vợ mình những cái đẹp mà anh đã một thời thương mến. Khỏang cách giữa hai người sẽ dần dần theo ngày tháng lớn rộng ra, cho đến một ngày đẹp trời.. người chồng tìm an ủi ở một người đàn bà khác ! Và người vợ ghen tương nỗi Tam Bành Lục Tặc lên để.. giữ ông chồng của mình lại! Có giữ được không, nếu người vợ không nuôi dưỡng sự dịu dàng của mình mà chồng mình cần đến. Có giữ được không, nếu người vợ không có thái độ thương mến nể phục chồng mình, thay vào đó chỉ biết ”dội” vào người của chồng mình những lời hỗn láo chua chát hoặc cằn nhằn than vãn! Hãy đứng vào vị trí của người chồng để thấy ta có thực sự ”đáng yêu” hay không.

Ngược lại một người chồng không biết thương yêu vợ đúng nghĩa, coi vợ là ”của mình” rồi còn ”lọt đi đâu” được nữa mà lo, nên bỏ bê không săn sóc không đối xử với vợ như những ngày mới sống bên nhau. Người vợ sẽ chỉ thấy đời mình gói trọn trong 2 chữ: ”việc nhà và bổn phận”. Việc nhà là công việc ”không tên” mà lại bận bịu ”ngập đầu”. Người vợ có còn thấy đời đáng yêu đáng vui như thời gian hai người vừa lấy nhau hay không. Nếu việc làm vất vã quá, lại không được sự chia sẻ săn sóc đúng mực của người chồng, người vợ chắc chắn sẽ đổi tánh, sẽ càu nhàu than phiền suốt ngày đêm, vì thấy đời ”bất công” quá đỗi! Cho đến một ngày… đẹp trời, một ”người hào hoa” xuất hiện vì biết nói lời ngọt ngào và cho người vợ thấy được giá trị người đàn bà của họ, họ sẽ dễ dàng thay lòng !

Chúng ta phải biết ”giữ mình”, nghĩa là điều phục Thân, Khẩu, Ý để Tam Độc không thể chi phối ta, để Tam Bành Lục Tặc không xuất hiện được. Khi sự việc đã phát triển lâu dài và đến giai đọan căng thẳng quá sẽ không thể một sớm một chiều thay đổi cục diện của một tình trạng tệ hại cùng cực. Ta phải biết và ghi nhớ sự điều phục trong hành xử hằng ngày khi tình trạng đang còn tốt đẹp. Khi lập gia đình hay từ khi bước vào xã hội ta nên có được trong tư tưởng và ngay trong tay chiếc roi điều phục thân tâm (dẫn dắt và khắc phục) để ba anh chàng Tam Độc không có cơ hội lộng hành! Khi Tham Sân Si không tác động được vào Lục Thức để sinh ra Lục Tặc thì cũng không sinh ra được Tam Bành.

TAM BÀNH là sự giận dữ cực độ quy vào ba trọng điểm: tư tưởng (đầu óc/ý), lời nói (miệng/khẩu) và hành động (thân). Khi cơn nóng giận không còn kiểm sóat được nữa, con người sẽ có hành động nóng nảy dữ tợn, lời nói đanh đá hung dữ, và tư tưởng giận dữ kích động. Khi THÂN, KHẨU, Ý ở trạng thái bị động nghĩa là trong trạng thái CỰC GIẬN, lửa giận bốc lên ngùn ngụt, là trạng thái có thể nổ bùng.

Vậy muốn chận đứng TAM BÀNH phải biết điều phục tánh khí và tư tưởng (điều phục sáu cơ quan) của chúng ta để LỤC TẶC không được nuôi dưỡng và lớn mạnh trong ta. Cách điều phục hữu hiệu nhất là gạn lọc tư tưởng, dùng lời nói ôn hòa và có hành động chính chắn. Tất cả những sự thâu tiếp ngọai cảnh nghĩa là từ bên ngòai vào qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nếu bị chi phối bởi Tam Độc, thì Tham Sân Si sẽ chiếm lĩnh tư tưởng, để từ đó phát ra và diễn đạt bằng hành động dữ tợn cùng lời nói sai lầm. Đó là mối liên hệ giữa Tam Bành và Lục Tặc.

UYÊN HẠNH

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Nơi duy nhất thế giới không có đàn bà.

Nếu như nhiều người vẫn cho rằng, "Tây Lương nữ quốc" trong Tây Du Ký, một đất nước chỉ có phụ nữ, là sản phẩm tưởng tượng
của Ngô Thừa Ân, thì chắc chắn người ta sẽ khó mà tin rằng, trong thế giới hiện đại này vẫn đang tồn tại một xứ sở chỉ có "phái mạnh".

Kể từ năm 1060, khi hòn đảo Athos, Hy Lạp thực hiện luật “cấm phụ nữ” thì nơi đây thực sự đã trở thành một xứ sở của đàn ông.
Thậm chí, ngay với động vật nơi đây cũng không cho phép sự tồn tại của “phái yếu”.

Image
Trong thế giới hiện đại này vẫn đang tồn tại một xứ sở chỉ có "phái mạnh"

Bán đảo Athos độc đáo này là một dải đất dài 56 km, thuộc địa phận Chalkidiki trên bờ biển Địa trung Hải.
Dẫu không có đại diện trên thế giới như Vatican, song với tư cách một nước cộng hòa tự trị, bán đảo Athos không chịu sự ràng buộc
của pháp luật Hy Lạp. Nơi đây, những luật lệ được công bố trực tiếp từ các tu viện.

Image
Những luật lệ được công bố trực tiếp từ các tu viện mà không chịu ảnh hưởng từ luật pháp Hy Lạp


Những tu sĩ ở đây ngay khi vừa mới sinh ra đã bị mang lên đảo. Cả đời không biết đến phụ nữ, đồ điện,
thậm chí còn không bao giờ đọc báo. Nơi đây, người ta có lệnh cấm khắc nghiệt đối với mọi hành vi giải trí bao gồm ca hát thậm chí là hút thuốc.

Tuy nhiên, có một điều luật khắt khe và bất di bất dịch hơn cả mà có lẽ nhiều người sẽ cảm thấy sửng sốt khi nghe,
ấy là không có bất cứ phụ nữ nào được đặt chân lên hòn đảo này.

Image
Mỗi ngày, cảnh sát trên đảo chỉ cho phép 20 du khách là nam giới và trên 18 tuổi lên đảo

Hiện nay, xứ sở thần bí này trở nên rất hấp dẫn đối với nhiều du khách.
Tuy nhiên, “chế độ” dành cho các khách du lịch đến đây cũng rất khắc nghiệt.
Mỗi ngày, cảnh sát trên đảo chỉ cho phép 20 du khách là nam giới và trên 18 tuổi lên đảo.

Những du khách lên đảo không được đem theo động vật giống cái, đồng thời phải được thông qua
sự kiểm tra ngặt nghèo của cảnh sát nơi đây để xác định chắc chắn giới tính của du khách là nam giới.



Những cuộc dạo chơi trên đảo Athos chỉ được thực hiện bằng một phương tiện duy nhất: Đôi chân.
Các tu viện đều được xây dựng trên những vách đá cheo leo, được bao bởi những bước tường dày.
Cổng vào chỉ có thể đi hàng một và nó sẽ đóng cửa ngay khi mặt trời lặn. Đối với du khách đến nơi đây,
những chuyến lữ hành như vậy cũng chẳng khác cuộc sống tu hành là bao nhiêu.

Image
Cổng vào chỉ có thể đi hàng một và nó sẽ đóng cửa ngay khi mặt trời lặn



Vì những điều luật kỳ lạ nơi đây, nên từ trước tới nay đã từng có rất nhiều phụ nữ muốn “đột nhập” vào.
Tuy nhiên, những người thành công trong công việc mạo hiểm này không nhiều.
Theo những ghi chép trong sử liệu nơi đây thì cho đến nay chỉ có một người phụ nữ Hy Lạp tên là Aliki Diplarakou
đã đột nhập thành công lên xứ sở đàn ông này.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Người với người là lang sói

Lữ Giang


Vụ án một nữ sinh viên y khoa 23 tuổi bị hiếp dâm tập thể ngày 16.12.2012 ở thủ đô New Delhi, Ấn Độ, đã gây phẩn nộ không phải chỉ ở Ấn Độ mà cả thế giới vì nó quá dã man. Nhưng vấn đề không dừng ở đây. Trong khi các cuộc biểu tình rầm rộ đang xẩy ra ở nhiều nơi đòi chính quyền bảo vệ phụ nữ, hôm 28.12.2012, một nữ sinh 17 tuổi đã tự vẫn sau khi bị cảnh sát ép từ bỏ đơn kiện bị hiếp dâm tập thể, chấp nhận tiền bồi thường hoặc kết hôn với một trong số những kẻ tấn công.

Trong khi đó, ngày 8.1.2013, Giáo sĩ Asharam, 71 tuồi, một giáo sĩ nổi tiếng của Ấn Độ giáo, tuyên bố trong một cuốn băng truyền đi trên Internet:

"Bi kịch này đáng lẽ đã không xảy ra nếu cô ấy gọi tên Thượng Đế và quỳ xuống chân những kẻ tấn công. Cái sai không chỉ thuộc về một phía.”

Ravi Shankar Prasad, phát ngôn viên của đảng Hindu Bharatiya Janata, nhận xét rằng lời phát biểu này là "vô cùng đáng lo ngại và đau đớn". Tờ The Hindu của Ấn Độ viết: "Các quan niệm trong xã hội xuất phát từ những định kiến lâu năm của nền văn hóa hà khắc với phụ nữ và sự việc ở Delhi gần đây là biểu hiện mới nhất và kinh hoàng nhất của định kiến đó.”

Ngạn ngữ Latin “Homo homini lupus est”, tức người là lang sói đối với người (man is a wolf to man), có từ cuối thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên, nay vẫn còn thể hiện tại nhiều nơi và nhiều lãnh vực ở Ấn Độ!

PHÁT XUẤT TỪ TÔN GIÁO

Ấn Độ là nước đông dân thứ nhì trên thế giới với 1,2 tỷ người. Tôn giáo là yếu tố chính ảnh hưởng đến phong tục, tập quán, cuộc sống của đất nước này. Có đến 80,5% dân Ấn theo Ấn Độ giáo (Hindu) và 13,4% theo Hồi Giáo. Các nhóm tôn giáo khác gồm Kitô giáo (2,3%), đạo Sikh (1,84%), Phật giáo (0,76%), đạo Jaina (0,40%), Do Thái giáo, Hỏa giáo và đạo Bahá'í.

Sự khắc nghiệt của hai tôn giáo lớn là Ấn Giáo và Hồi Giáo đang kềm hãm xã hội Ấn ở lại thời tiền sử. Ngoài các cuộc xung đột đẩm máu giữa hai tôn giáo, nhiều hủ tục còn tồn tại trong hai tôn giáo này đã làm cho Ấn Độ khó ngóc đầu dậy được.

Ấn giáo hay Ấn Độ giáo (Hinduism) là đạo căn bản của người Ấn (Hindus), hình thành vào khoảng năm 1.500 trước Công Nguyên hoặc sớm hơn. Đạo này thờ thần linh, không có giáo chủ.

Xã hội Ấn Độ ngày xưa được chia thành bốn đảng cấp, đại khái như sau: Thứ nhất là Brabman (Bà La Môn) gồm những giáo sĩ phụ trách về tế lễ, đọc kinh Vệ Đà, thuyết giáo cho quần chúng. Thứ hai là Kshatriya gồm những người thống trị như vua, quan, nhà quý phái. Thứ ba là Vaisya gồm nông, công và thương. Thứ tư là Shudra tức các tiện dân, làm những nghề hèn hạ và nô lệ.

Đạo Hồi đến tiểu lục địa Ấn Độ lần đầu tiên vào năm 711. Đến thế kỷ 11, toàn miền Bắc Ấn theo đạo Hồi, trong đó có tỉnh Ghaznawid, nay là nước Afghanistan. Vào năm 1206, Thổ Nhĩ Kỳ cai trị Ấn Độ đã biến nước này thành "Quốc Gia Hồi Giáo Ấn Độ" (Muslim State of India) đặt thủ đô tại La Hore.

Năm 1555, Hoàng Đế Humayun của đế quốc Mông Cổ Hồi Giáo (Mughuls) chiếm toàn lãnh thổ Ấn Độ. Trong 3 thế kỷ dưới sự thống trị của đế quốc Mughuls, nhiều người Ấn Độ đã bỏ đạo Hindu theo Hồi giáo. Năm 1858 đế quốc Anh đến thay thế đế quốc Mông Cổ. Năm 1946 đã xảy ra nhiều vụ xung đột đẫm máu giữa Hồi Giáo và Ấn Giáo.

Ngày 14.8.1947, người Anh trao trả độc lập cho Ấn Độ nhưng tách tỉnh Sind có đại đa số dân theo Hồi Giáo thành một nước riêng gọi là Pakistan. Theo tiếng địa phương, Pakistan có nghĩa là "Đất của người Hồi" (Land of Muslims). Vì thế người Trung Hoa đã gọi Pakistan là Hồi quốc. Hồi quốc có hai phần là Đông Hồi và Tây Hồi. Đông Hồi đã trở thành nước Bangladesh.

NHỮNG HỦ TỤC CÒN TỒN TẠI

Mặc dầu nhân loại đã đi vào thế kỷ 21 với những tiến bộ về mọi mặt, dân Ấn Độ vì nghèo khó và thiếu học, nên nhiều hủ tục đáng kinh ngạc vẫn còn được duy trì. Chúng tôi xin tóm lược lại dưới đây một số hủ tục đang bị lên án nặng nề.

1.- Tục lệ nạp của hồi môn khi lấy chồng.

Khi đi cưới chồng, chú rể có quyền yêu cầu bên nhà gái phải nộp của hồi môn bao gồm một số tiền lớn, các vật nuôi, đồ nội thất… Ngày nay họ còn đòi cả các thiết bị điện tử!

Khi của hồi môn không đúng theo yêu cầu của nhà chồng, cô dâu thường bị hành hạ đủ thứ như quấy rối, lạm dụng, phải sống rất khổ sở... Có rất nhiều trường hợp cô dâu bị chính người chồng hoặc gia đình nhà chồng thiêu sống. Thường họ rưới dầu hoả lên khắp người cô gái rồi thiêu cháy. Sau đó họ loan báo nạn nhân đã gặp tai nạn hay tự sát.

Một vài con số thống kê hoạ hiếm cho biết năm 1988 có trên 2200 phụ nữ bị giết liên quan đến của hồi môn, năm 1990 là 4835 người và năm 1993 là 5377. Chính quyền Ấn Độ tránh mở những cuộc điều tra và công bố kết quả. Ở thủ đô Delhi, cứ 12 giờ có một phụ nữ bị thiêu chết, nhưng có tới 90% phụ nữ bị thiêu chết đã được báo cáo là gặp tai nạn, 5% được báo cáo là tự tử. Chỉ 5% còn lại bị coi là giết người. Mới đây, hôm 6/10, báo chí ở Delhi đã loan tin một bố chồng đã thiêu sống cô Pravartika Gupta 25 tuổi và đứa con của cô ta 13 tháng tuổi.

Để tránh khỏi phải nộp của hồi môn khi đi lấy chồng, nhiều gia đình đã bán con gái. Giá bán hiện nay chỉ khoảng 15.000 rupee (tương đương 300 USD). Cô Sabita Singh, 25 tuổi, kể lại rằng cô bị gia đình gả bán cho một người đàn ông lớn hơn cô 19 tuổi từ khi cô còn là một đứa trẻ.

2.- Giết bé gái sơ sinh

Vì vẫn theo tập quán trọng nam khinh nữ, nạn giết bé gái sơ sinh ở Ấn Độ khó ngăn chận được. Một ký giả của AFP đến làng Devda, một làng có 2.500 người dân ở quận Jaisalmer, bang Rajasthan, thấy một lớp học có 23 học sinh nhưng chỉ có một nữ sinh là Padma Kanwar Bhatti. Padma cho biết không có bạn gái nào trong lớp học của cô và cũng có rất ít con gái trong làng. Cô nói: "Các cô gái chết cả rồi”. Khi được hỏi tại sao trong làng rất ít bé gái, một nông dân là Rajan Singhi trả lời: "Chúng tôi vui mừng với những cậu bé trai và thấy thương tiếc khi những bé gái ra đời.” Hầu hết những vụ giết trẻ sơ sinh xảy ra đều có được sự đồng thuận của chính người mẹ và bà đỡ. Ông ta cho biết khi sinh một bé gái, người ta thường dùng một cái túi đựng đầy cát hay thuốc phiện và mù tạt đặt vào mặt đứa bé. Bà mẹ không cho con bú, cứ bỏ thế cho đến khi nó chết.

Báo cáo của một cơ quan nghiên cứu Anh cho biết có khoảng nữa tỷ bào thai đã bị phá ở Ấn khi biết được đó là một bé gái. Quận Jaisalmer chỉ có 837 bé gái và hơn 1000 bé trai. Trên toàn Ấn Độ, tỉ lệ là 858 bé gái/1000 bé trai.

3.- Hủ tục bán con gái làm gái điếm

Vì hủ tục trọng nam khinh nữ và nộp của hồi môn, nhiều bố mẹ nghèo ở Ấn Độ đã coi việc bán con gái cho nhà chứa là cách giải thoát.

Một số địa phương đã gọi hủ tục này là Nthni Utarna, có thể dịch là cởi khuyên mũi. Đây là nghi thức báo hiệu một cô gái đến tuổi dậy thì, đủ trưởng thành để ngủ với vị khách đầu tiên và được đem bán cho các nhà chứa.

Một cô gái bán dâm ở Delhi cho biết mỗi ngày cô kiếm được khoảng 20 USD, tức khoảng 400 rupee. Trong khi đó một người nghèo chỉ sống với dưới 20 rupee mỗi ngày.

4.- Tục lấy chồng chung

Huyện Baghpat thuộc tỉnh Uttar Pradesh, ở cách thủ đô New Delhi chỉ khoảng 2 giờ lái xe, nhưng phụ nữ ở đây có một cuộc sống hoàn toàn cách biệt, họ bị cấm đi học hay đi làm. Khi ra khỏi nhà phải trùm khăn che mặt và chỉ được đi tới đền thờ. Ngoài sự cách biệt đó, còn có nạn lấy chồng chung. Bà Munni, một phụ nữ khoảng 40 tuổi đã kể lại: “Chồng và cha mẹ chồng nói rằng tôi phải làm vợ chung của ba anh em nhà chồng”. Cảnh chồng chung này khiến bà bồng đứa trẻ trên tay mình mà không biết nó là con ai. Bà còn cho biết: “Thỉnh thoảng họ đạp tôi ra khỏi nhà và bắt tôi ngủ ngoài trời. Chưa hết, họ còn đổ dầu hỏa lên mình tôi và châm lửa đốt…”

5.- Loại bỏ các goá phụ

Tục lệ ngày xưa ở Ấn Độ bắt buộc góa phụ phải hỏa thiêu cùng chồng khi chồng chết. Tục lệ này được gọi là siti. Ngày nay tục lệ này đã bị cấm, nhưng nhiều nơi các goá phụ bị đối xử rất tàn tệ, vì họ bị coi là sát phu, là gánh nặng tài chánh của gia đình và là điềm gở cho những người xung quanh. Vì thế, khi người chồng chết, họ bị đập vỡ vòng đeo tay và xóa vết son đỏ trên trán.

Như chúng ta đã biết, một người phụ nữ Ấn khi lấy chống được kẻ một vết son đỏ trên trán, đó là dấu hiệu của phụ nữ đã có gia đình. Nay chồng không còn nữa, họ phải xoá cái vết son đó đi.

Tờ Los Angeles Times cho biết có khoảng 15.000 góa phụ bị ruồng bỏ phải đến sống tại thành phố Vrindavan ở vùng Trung Ấn, được coi là “thành phố góa phụ”. Đây là một thành phố cổ có khoảng 4000 ngôi đền, có nhà dành cho những góa phụ. Họ sống chen chúc trong những ngôi nhà chật chội, không điện nước, không thông tin, điều kiện vệ sinh vô cùng tồi tệ. Họ sống bằng cách cầu kinh mỗi ngày 5 giờ để được trả một số tiền nhỏ và một bát gạo. Có rất nhiều góa phụ phải đi ăn xin khi bị đuổi ra khỏi nhà chồng. Các góa phụ trẻ còn phải đối mặt với mối đe dọa lạm dụng tình dục và nạn buôn người.

6.- Thân phận của đảng cấp tiện dân

Mặc dầu Hiến Pháp hiện nay của Ấn đã hủy bỏ đảng cấp tiện dân (Shudra) được quy định trong truyền thống của Ấn giáo, số phận của những người bị coi là tiện dân vẫn không thay đổi nhiều. Họ gồm những người không thuộc tộc Aryan, những người thuộc các bộ lạc thổ dân không được cải tôn, những người nô lệ. Nhóm này được gọi Paria (những kẻ khốn cùng), bị coi là hạng ti tiện (intouchable), gồm các cùng đinh (dalit) trong xã hội, có nhiệm vụ phục vụ cho ba đẳng cấp trên. Nhóm này lúc đầu không nhiều lắm, nay đã trở thành tổ tiên của trên 160 triệu dân Ấn. Bà Karo Devi thuộc gia cấp cùng đinh đang đi tìm một con bò bị mất, thấy một người đàn ông đi qua, bà liền hỏi ông ta có thấy con bò của bà ta không. Bà ta liền bị đánh trọng thương vì người bà ta hỏi là ông Saroj Singh thuộc gia cấp thượng lưu. Bà Karo Devi đã chết trong bệnh viện!

NẠN LAO ĐỘNG TRẺ EM VÀ BUÔN BÁN TRẺ EM LÀM NÔ LỆ LAO ĐỘNG

Thống kê trên toàn Ấn Độ cho biết hiện nay số trẻ em không được đến trường và phải lao động kiếm sống là khoảng từ 60 triệu đến 115 triệu em, tùy theo lúc và theo mùa.

Rất nhiều trẻ em phải nghỉ học để cùng mẹ, chị lao vào cuộc chạy đua sản xuất thuốc lá thủ công để giúp đỡ gia đình. Mỗi người phải mất từ 10 đến 14 tiếng mới cuộn đủ 1.000 điếu thuốc mỗi ngày chỉ để nhận được 2 USD.

Tổ chức Save the Children ước tính có khoảng từ 150.000 đến 200.000 trẻ em bị buôn bán làm nô lệ hàng năm. Một vài thí dụ cụ thể: Hồi tháng 10, các cơ quan truyền thông loan tin một cô gái 16 tuổi đến từ Assam đã được cảnh sát giải cứu từ một ngôi nhà ở khu vực giàu có Bagh Punjabi, New Delhi. Cô bị chủ nhà là một bác sĩ giam giữ trong nhà đã 4 năm. Không những vậy, cô còn bị ông ta cưỡng hiếp liên tục. Trước đó, vào tháng 4, một cô gái 13 tuổi khóc lóc kêu cứu từ ban công một căn nhà 2 tầng ở khu dân cư Dwarka, New Delhi. Cô đến từ bang Jharkhand, bị chủ nhà nhốt 6 ngày và bỏ đói trong khi chủ đi nghỉ ở Thái Lan. Tổ chức từ thiện Shakti Vahini đã giúp giải cứu cô.

Chính phủ Ấn Độ cho biết có 126.321 trẻ em bị buôn bán bất hợp pháp đã được giải cứu trong 2 năm 2011 và 2012, tăng gần 27% so với năm 2010. Một đạo luật của Ấn Độ ban hành năm 1986 cấm sử dụng lao động trẻ em dưới 14 tuổi, nếu vi phạm sẽ bị phạt tù đến 2 năm và phạt tiền 20.000 rupee. Nhưng tỷ lệ tội phạm bị kết án do phạm tội này chỉ ở mức 20%.

CÒN CHỜ MỘT CUỘC CÁCH MẠNG

Theo Ngân Hàng Thế Giới, nền kinh tế Ấn Độ năm 2011 có GDP trên danh nghĩa là 1.848 tỷ USD, có mức phát triển là 5,8% trong hai thập niên liền và năm 2011 đã đạt tới 6,1%, được coi là một nước phát triển nhanh nhất trên thế giới.

Tuy nhiên, dân số khổng lồ đã làm cho GDP bình quân đầu người của Ấn Độ chỉ đạt mức 4.031 USD tính theo sức mua tương đương, hay 885 USD tính theo GDP danh nghĩa. Vì thế, Ấn Độ bị xếp vào nhóm các nền kinh tế có thu nhập thấp.

Theo bản tin ngày 2.8.2012 của đài RFA, chính phủ Ấn Độ cho biết những hộ gia đình trung bình ở nông thôn Ấn Độ mỗi ngày chi tiêu cho một đầu người là 43 rupee, tương đương 77 xu Mỹ. Ở thành thị cũng chỉ chi tiêu gấp đôi số đó mà thôi. Trong số này, có 10% người nghèo khổ chỉ thu được chừng 500 rupee mỗi tháng (khoảng $10 USD).

Những tranh luận chung quanh vụ hiếp dâm tập thể hôm 16.12.2012 cho thấy xã hội Ấn đang sống trong thời đại “homo homini lupus est” (người là lang sói đối với người), không phải chỉ giữa nhà cầm quyền với dân mà cả giữa các đảng cấp trong xã hội. Với một xã hội như thế, cần có một cuộc cách mạng mới có thể xoá sạch các hủ tục được. Nếu chỉ cải cách thì phải mất vài thế kỷ nữa.

Ngày 10.1.2013
Lữ Giang

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

HỐi HẬN MUỘN MÀNG ...

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Trước khi Khmer Đỏ vào Phnom Penh, ngày 12-4-1975, ông Đại Sứ Mỹ tại Cambodia, John Gunther Dean, đưa ra đề nghị mời các giới chức quan trọng trong Chính Phủ Cộng Hòa Khmer đi tỵ nạn tại Mỹ, nhưng các ông Sirik Matak, Long Boret, và Lon Non , cùng với các thành viên trong Nội Các Lon Non từ chối, mặc dù các ông Long Boret và Sirik Matak đã có tên trong danh sách tử hình “7 Kẻ Phản Bội’ của Khmer Đỏ. Ông Sirik Matak viết thư trả lời ông Đại Sứ Mỹ như sau :

“I thank you very sincerely for your letter and for your offer to transport me towards freedom. I cannot, alas, leave in such a cowardly fashion. As for you and in particular for your great country, I never believed for a moment that you would have this sentiment of abandoning a people which has chosen liberty. You have refused us your protection and we can do nothing about it. You leave us and it is my wish that you and your country will find happiness under the sky. But mark it well that, if I shall die here on the spot and in my country that I love, it is too bad because we are all born and must die one day. I have only committed the mistake of believing in you, the Americans. Please accept, Excellency, my dear friend, my faithful and friendly sentiments.

Prince Sirik Matak.”


Tạm dịch:

“Tôi thành thực cám ơn lá thư của ngài cùng với lời đề nghị đưa tôi đi tị nạn. Rất tiếc, tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như thế được. Về phần ngài và đặc biệt về phần quốc gia vĩ đại của ngài, tôi không bao giờ mảy may tin rằng quí vị lại có ý bỏ rơi một dân tộc đã chọn lựa tự do. Quí vị đã từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng làm gì được. Quí vị rời bỏ chúng tôi và tôi xin cầu mong cho ngài và đất nước của ngài tìm được hạnh phúc dưới bầu trời. Xin ngài ghi nhớ điều này là, nếu tôi có chết ngay lập tức tại đây trên quê hương của tôi mà tôi yêu dấu, thì đó là điều quá tồi tệ, bởi vì tất cả chúng ta đều sinh ra và một ngày nào đó phải chết. Tôi chỉ phạm phải một sai lầm là đã tin vào quí ngài, những người Mỹ. Thưa ngài Đại Sứ, người bạn quí mến của tôi, xin ngài nhận nơi đây tình cảm chân thành và tha thiết của tôi.

Hoàng Thân Sirik Matak.“



Người Hùng Cam Bốt, Cố Thủ Tướng Sirik Matak.

Thủ tướng Cam Bốt Sirik Matak và cả chính phủ của ông Lon Non vì tin vào Mỹ nên mất nước và bị Khmer Đỏ phanh thây. Nhiều người Việt Nam cho đến bây giờ vẫn còn trông chờ Mỹ giúp họ đánh đuổi Cộng Sản.

Nhân mùa Quốc Hận tưởng niệm ngày 30-4-1975, nhắc lại sự kiện Sirik Matak để học hỏi và tìm hiểu xem người Mỹ thực sự chống cộng sản ra sao thiết nghĩ cũng chẳng phải là chuyện vô bổ.

Người viết xin mở một dấu ngoặc để lưu ý bạn đọc: Chữ “người Mỹ” chúng tôi dùng trong bài là để chỉ chính quyền và các tập đoàn tư bản Mỹ chứ không nói nhân dân Hoa Kỳ.

Mỹ và Việt Nam

Còn câu hỏi Hoa Kỳ có thực tâm giúp người Vĩệt Nam chống Cộng Sản không thì người viết khỏi cần phải dài dòng. Mỗi người Việt Nam dù lớn hay nhỏ đều đã có đủ hiểu biết và tài liệu để tự trả lời cho chính mình.

Thời Đệ I Cộng Hòa, khi người Mỹ ngỏ ý muốn trực tiếp can thiệp bằng vũ lực trước vấn đề Cộng Sản miền Bắc xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, họ muốn đổ quân đội Mỹ vào Việt Nam để đánh Cộng Sản. Tổng Thống Ngôi Đình Diệm yêu cầu giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cần phải ký kết một bản Hiệp Ước An Ninh Hỗ Tương thì vấn đề đó mới danh chánh ngôn thuận, và Cộng Sản Việt Nam không xuyên tạc được, nhưng Mỹ từ chối. Sự thể cho thấy ngay, từ đầu, cái dã tâm đen tối của người Mỹ, nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới từ chối. Từ đó người Mỹ quyết tâm diệt trừ Tổng Thống Diệm để thực hiện âm mưu của mình. Khi loại trừ được Tổng Thống Ngô Đình Diệm rồi, Mỹ ngang nhiên đổ quân vào Việt Nam mà không cần có một chính quyền Việt Nam Cộng Hòa nào cho phép. Người Mỹ tự ý vào, rồi tự ý nắm quyền chủ động cuộc chiến, cũng như sau này việc thương thuyết hòa bình.

Trong cuộc chiến, nước Mỹ đã mất 58 ngàn quân sĩ tử trận, nhưng điều bỉ ổi nhất mà nhiều người không biết là 80% đồ tiếp tế của Liên Sô cho Cộng Sản trong thời gian chiến tranh là do các hãng Hoa Kỳ đầu tư và sản xuất tại Nga. Như thế có phải là chính người Mỹ đã gián tiếp giết người Mỹ không?

Khi người Mỹ đã hoàn tất mục tiêu thầm kín của mình rồi thì họ tìm cách rút chân ra khỏi Việt Nam. Bằng nhiều cách và nhiều thủ đoạn, người Mỹ đã thực hiện ý định nhiều khi khá lộ liễu:

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đánh sang Nam Lào, người Mỹ đã bí mật thông báo kế hoạch và phóng đồ hành quân cho Hànội. Mục đích của hành động tồi bại này là để làm suy yếu khả năng chiến đấu của các đại đơn vị tinh nhuệ và thiện chiến nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Ý đồ phản bội miền Nam rõ rệt nhất của Mỹ là năm 1972, khi Kissinger sang thăm Bắc Kinh, y đã nói với Mao Trạch Đông rằng, nước Mỹ sẵn sàng chấp nhận một nước Việt Nam thống nhất dưới quyền cai trị của Cộng Sản miền Bắc. Mao ngu gì mà không chịu?

Để thực hiện ý đồ nàỵ, chính quyền Mỹ đã giàn dựng cả một chiến dịch ta thưòng gọi là “Phong trào phản chiến” bôi nhọ và vu cáo miền Nam, làm cho dư luân Mỹ chán ghét chiến tranh để lấy cớ rút lui. Biện pháp cuối cùng là cắt viện trợ và “Embargo” quân dụng và vũ khí đạn dược cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Biện pháp xẩy ra giống y chang như Mỹ đã làm đối với quân đội của Tưởng Giới Thạch. Để che mắt thế giới, và để đánh lừa cái lương tâm bất chính của mình, người Mỹ đã muối mặt chở đến Saigon 6 chuyến máy bay vận tải toàn đồ quân trang như bi đông đựng nước, giầy trận, áo mưa v.v. Vào những giờ phút sinh tử của cuộc chiến, người Mỹ chở súng không có cơ bẩm cho người Trung Hoa. Nay người Mỹ chở poncho, bidong v.v. cho VN thay vì vũ khí đạn dược. Trên thế giới này có lẽ chỉ có người Mỹ mới có cái tính khôi hài qua việc làm bôi bác như thế mà thôi.

Nước láng giềng Cambodia của chúng ta cũng giống như chúng ta: Bị người Mỹ bịp, và vì thế ông Sirik Matak mới có lá thư gởi cho ông đại sứ Mỹ như chúng tôi ghi lại trên trang đầu của bài viết. Phần đông chúng ta vẫn tưởng nước Mỹ thay đổi chính sách mỗi khi có một tổng thống mới lên cầm quyền. Vì thế mới bị lầm, và bị lầm rồi mà vẫn cứ hy vọng. Nghị sĩ Barry Goldwater cho biết:

"Khi một tổng thống lên nắm quyền, đó chỉ là vấn đề thay đổi nhân sự, nhưng chính sách không thay đổi."

Ông đưa ra thí dụ, thời TT Nixon Cộng Hòa, Henry Kissinger là thành viên CFR, người được Nelson Rockefeller đỡ đầu, nắm chính sách ngoại giao. Khi Jimmy Carter Dân Chủ đắc cử, Kissinger được thay thế bởi Brzezinski. Brzezinski cũng là thành viên CFR và được David Rockefeller che chở.

Với những dẫn chứng lịch sử trên, và với kinh nghiệm bản thân của mỗi người Việt Nam, chúng ta có thể khẳng định rằng chính sách của nước Mỹ đối với cộng sản không thay đổi. Chính sách đó như Ts Stanley Montieth cho biết là:

"Cộng sản và tư bản luôn luôn cộng tác với nhau, bởi vì cả hai cùng được thúc đẩy bởi một đông lực tinh thần, và cả hai cùng tìm kiếm một mục tiêu (communists and capitalists have always worked together because they are motivated by the same spiritual force, and they seek the same goal.)"

Người viết xin thêm vào một ý kiến riêng để câu nói được trọn nghĩa:

"Mục tiêu đó là khống chế toàn bộ đời sống con người và xã hội."

Kết luận

Không biết dân tộc Khmer có được mấy trăm, mấy ngàn năm văn hiến mà tạo ra được cả một nội các chính phủ đáng kính và đáng khâm phục như thế. Họ thà chết chứ không chạy theo những kẻ đã lừa bịp họ. Thế mà trước đó báo chí Mỹ la rùm beng chính quyền Lon Non tham những số một trên thế gian này. Nếu quả như báo chí dòng chính Mỹ tố cáo, các ông Lon Non, Sirik Matak v.v. đem tiền bạc tham nhũng sang Mỹ hưởng vinh hoa phú quí không sướng hơn ở lại để mất đầu hay sao! Biết chắc chắn mình sẽ không thọ khi rơi vào tay Khmer Đỏ, trước khi chết thủ tướng Sirik Matak đã bầy tỏ sự hối tiếc vì tin vào người Mỹ.

Thực ra, không phải chỉ có ông Matak tin vào người Mỹ, mà cả nước Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa) chúng tôi tin vào người Mỹ. Nhưng khi ông mở mắt bừng tỉnh thì đã quá muộn rồi.

Ông Sirik Matak phạm sai sầm, nhưng cuối cùng khi nhận ra mình sai lầm, ông đã thành khẩn nhận sai lầm và tỏ ra hối hận. Chỉ có người Việt Nam, chưa thấy ai nhận ra sự sai lầm của mình và tỏ ra hối hận như ông Sirik Matak.

Tệ hại hơn nữa là cho đến bây giờ vẫn còn có rất nhiều người u mê tin rằng người Mỹ chống Cộng, và trông đợi hão huyền rằng người Mỹ sẽ giúp người Việt Nam chống Trung Cộng, đòi đất, đòi biển.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

HỐi HẬN MUỘN MÀNG ...

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Trước khi Khmer Đỏ vào Phnom Penh, ngày 12-4-1975, ông Đại Sứ Mỹ tại Cambodia, John Gunther Dean, đưa ra đề nghị mời các giới chức quan trọng trong Chính Phủ Cộng Hòa Khmer đi tỵ nạn tại Mỹ, nhưng các ông Sirik Matak, Long Boret, và Lon Non , cùng với các thành viên trong Nội Các Lon Non từ chối, mặc dù các ông Long Boret và Sirik Matak đã có tên trong danh sách tử hình “7 Kẻ Phản Bội’ của Khmer Đỏ. Ông Sirik Matak viết thư trả lời ông Đại Sứ Mỹ như sau :

“I thank you very sincerely for your letter and for your offer to transport me towards freedom. I cannot, alas, leave in such a cowardly fashion. As for you and in particular for your great country, I never believed for a moment that you would have this sentiment of abandoning a people which has chosen liberty. You have refused us your protection and we can do nothing about it. You leave us and it is my wish that you and your country will find happiness under the sky. But mark it well that, if I shall die here on the spot and in my country that I love, it is too bad because we are all born and must die one day. I have only committed the mistake of believing in you, the Americans. Please accept, Excellency, my dear friend, my faithful and friendly sentiments.

Prince Sirik Matak.”


Tạm dịch:

“Tôi thành thực cám ơn lá thư của ngài cùng với lời đề nghị đưa tôi đi tị nạn. Rất tiếc, tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như thế được. Về phần ngài và đặc biệt về phần quốc gia vĩ đại của ngài, tôi không bao giờ mảy may tin rằng quí vị lại có ý bỏ rơi một dân tộc đã chọn lựa tự do. Quí vị đã từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng làm gì được. Quí vị rời bỏ chúng tôi và tôi xin cầu mong cho ngài và đất nước của ngài tìm được hạnh phúc dưới bầu trời. Xin ngài ghi nhớ điều này là, nếu tôi có chết ngay lập tức tại đây trên quê hương của tôi mà tôi yêu dấu, thì đó là điều quá tồi tệ, bởi vì tất cả chúng ta đều sinh ra và một ngày nào đó phải chết. Tôi chỉ phạm phải một sai lầm là đã tin vào quí ngài, những người Mỹ. Thưa ngài Đại Sứ, người bạn quí mến của tôi, xin ngài nhận nơi đây tình cảm chân thành và tha thiết của tôi.

Hoàng Thân Sirik Matak.“



Người Hùng Cam Bốt, Cố Thủ Tướng Sirik Matak.

Thủ tướng Cam Bốt Sirik Matak và cả chính phủ của ông Lon Non vì tin vào Mỹ nên mất nước và bị Khmer Đỏ phanh thây. Nhiều người Việt Nam cho đến bây giờ vẫn còn trông chờ Mỹ giúp họ đánh đuổi Cộng Sản.

Nhân mùa Quốc Hận tưởng niệm ngày 30-4-1975, nhắc lại sự kiện Sirik Matak để học hỏi và tìm hiểu xem người Mỹ thực sự chống cộng sản ra sao thiết nghĩ cũng chẳng phải là chuyện vô bổ.

Người viết xin mở một dấu ngoặc để lưu ý bạn đọc: Chữ “người Mỹ” chúng tôi dùng trong bài là để chỉ chính quyền và các tập đoàn tư bản Mỹ chứ không nói nhân dân Hoa Kỳ.

Mỹ và Việt Nam

Còn câu hỏi Hoa Kỳ có thực tâm giúp người Vĩệt Nam chống Cộng Sản không thì người viết khỏi cần phải dài dòng. Mỗi người Việt Nam dù lớn hay nhỏ đều đã có đủ hiểu biết và tài liệu để tự trả lời cho chính mình.

Thời Đệ I Cộng Hòa, khi người Mỹ ngỏ ý muốn trực tiếp can thiệp bằng vũ lực trước vấn đề Cộng Sản miền Bắc xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, họ muốn đổ quân đội Mỹ vào Việt Nam để đánh Cộng Sản. Tổng Thống Ngôi Đình Diệm yêu cầu giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cần phải ký kết một bản Hiệp Ước An Ninh Hỗ Tương thì vấn đề đó mới danh chánh ngôn thuận, và Cộng Sản Việt Nam không xuyên tạc được, nhưng Mỹ từ chối. Sự thể cho thấy ngay, từ đầu, cái dã tâm đen tối của người Mỹ, nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới từ chối. Từ đó người Mỹ quyết tâm diệt trừ Tổng Thống Diệm để thực hiện âm mưu của mình. Khi loại trừ được Tổng Thống Ngô Đình Diệm rồi, Mỹ ngang nhiên đổ quân vào Việt Nam mà không cần có một chính quyền Việt Nam Cộng Hòa nào cho phép. Người Mỹ tự ý vào, rồi tự ý nắm quyền chủ động cuộc chiến, cũng như sau này việc thương thuyết hòa bình.

Trong cuộc chiến, nước Mỹ đã mất 58 ngàn quân sĩ tử trận, nhưng điều bỉ ổi nhất mà nhiều người không biết là 80% đồ tiếp tế của Liên Sô cho Cộng Sản trong thời gian chiến tranh là do các hãng Hoa Kỳ đầu tư và sản xuất tại Nga. Như thế có phải là chính người Mỹ đã gián tiếp giết người Mỹ không?

Khi người Mỹ đã hoàn tất mục tiêu thầm kín của mình rồi thì họ tìm cách rút chân ra khỏi Việt Nam. Bằng nhiều cách và nhiều thủ đoạn, người Mỹ đã thực hiện ý định nhiều khi khá lộ liễu:

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đánh sang Nam Lào, người Mỹ đã bí mật thông báo kế hoạch và phóng đồ hành quân cho Hànội. Mục đích của hành động tồi bại này là để làm suy yếu khả năng chiến đấu của các đại đơn vị tinh nhuệ và thiện chiến nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Ý đồ phản bội miền Nam rõ rệt nhất của Mỹ là năm 1972, khi Kissinger sang thăm Bắc Kinh, y đã nói với Mao Trạch Đông rằng, nước Mỹ sẵn sàng chấp nhận một nước Việt Nam thống nhất dưới quyền cai trị của Cộng Sản miền Bắc. Mao ngu gì mà không chịu?

Để thực hiện ý đồ nàỵ, chính quyền Mỹ đã giàn dựng cả một chiến dịch ta thưòng gọi là “Phong trào phản chiến” bôi nhọ và vu cáo miền Nam, làm cho dư luân Mỹ chán ghét chiến tranh để lấy cớ rút lui. Biện pháp cuối cùng là cắt viện trợ và “Embargo” quân dụng và vũ khí đạn dược cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Biện pháp xẩy ra giống y chang như Mỹ đã làm đối với quân đội của Tưởng Giới Thạch. Để che mắt thế giới, và để đánh lừa cái lương tâm bất chính của mình, người Mỹ đã muối mặt chở đến Saigon 6 chuyến máy bay vận tải toàn đồ quân trang như bi đông đựng nước, giầy trận, áo mưa v.v. Vào những giờ phút sinh tử của cuộc chiến, người Mỹ chở súng không có cơ bẩm cho người Trung Hoa. Nay người Mỹ chở poncho, bidong v.v. cho VN thay vì vũ khí đạn dược. Trên thế giới này có lẽ chỉ có người Mỹ mới có cái tính khôi hài qua việc làm bôi bác như thế mà thôi.

Nước láng giềng Cambodia của chúng ta cũng giống như chúng ta: Bị người Mỹ bịp, và vì thế ông Sirik Matak mới có lá thư gởi cho ông đại sứ Mỹ như chúng tôi ghi lại trên trang đầu của bài viết. Phần đông chúng ta vẫn tưởng nước Mỹ thay đổi chính sách mỗi khi có một tổng thống mới lên cầm quyền. Vì thế mới bị lầm, và bị lầm rồi mà vẫn cứ hy vọng. Nghị sĩ Barry Goldwater cho biết:

"Khi một tổng thống lên nắm quyền, đó chỉ là vấn đề thay đổi nhân sự, nhưng chính sách không thay đổi."

Ông đưa ra thí dụ, thời TT Nixon Cộng Hòa, Henry Kissinger là thành viên CFR, người được Nelson Rockefeller đỡ đầu, nắm chính sách ngoại giao. Khi Jimmy Carter Dân Chủ đắc cử, Kissinger được thay thế bởi Brzezinski. Brzezinski cũng là thành viên CFR và được David Rockefeller che chở.

Với những dẫn chứng lịch sử trên, và với kinh nghiệm bản thân của mỗi người Việt Nam, chúng ta có thể khẳng định rằng chính sách của nước Mỹ đối với cộng sản không thay đổi. Chính sách đó như Ts Stanley Montieth cho biết là:

"Cộng sản và tư bản luôn luôn cộng tác với nhau, bởi vì cả hai cùng được thúc đẩy bởi một đông lực tinh thần, và cả hai cùng tìm kiếm một mục tiêu (communists and capitalists have always worked together because they are motivated by the same spiritual force, and they seek the same goal.)"

Người viết xin thêm vào một ý kiến riêng để câu nói được trọn nghĩa:

"Mục tiêu đó là khống chế toàn bộ đời sống con người và xã hội."

Kết luận

Không biết dân tộc Khmer có được mấy trăm, mấy ngàn năm văn hiến mà tạo ra được cả một nội các chính phủ đáng kính và đáng khâm phục như thế. Họ thà chết chứ không chạy theo những kẻ đã lừa bịp họ. Thế mà trước đó báo chí Mỹ la rùm beng chính quyền Lon Non tham những số một trên thế gian này. Nếu quả như báo chí dòng chính Mỹ tố cáo, các ông Lon Non, Sirik Matak v.v. đem tiền bạc tham nhũng sang Mỹ hưởng vinh hoa phú quí không sướng hơn ở lại để mất đầu hay sao! Biết chắc chắn mình sẽ không thọ khi rơi vào tay Khmer Đỏ, trước khi chết thủ tướng Sirik Matak đã bầy tỏ sự hối tiếc vì tin vào người Mỹ.

Thực ra, không phải chỉ có ông Matak tin vào người Mỹ, mà cả nước Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa) chúng tôi tin vào người Mỹ. Nhưng khi ông mở mắt bừng tỉnh thì đã quá muộn rồi.

Ông Sirik Matak phạm sai sầm, nhưng cuối cùng khi nhận ra mình sai lầm, ông đã thành khẩn nhận sai lầm và tỏ ra hối hận. Chỉ có người Việt Nam, chưa thấy ai nhận ra sự sai lầm của mình và tỏ ra hối hận như ông Sirik Matak.

Tệ hại hơn nữa là cho đến bây giờ vẫn còn có rất nhiều người u mê tin rằng người Mỹ chống Cộng, và trông đợi hão huyền rằng người Mỹ sẽ giúp người Việt Nam chống Trung Cộng, đòi đất, đòi biển.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Chuyện Phiếm Cuối năm

Người Buôn Gió

Cuối năm thiên hạ nháo nhác đổ xô đi kiếm tiền, đầu phố cứ cả dãy xe ôm nối đuôi nhau chờ khách. Mấy hàng bán hoa, đồ trang trí Tết vỉa hè rét và mưa thế cũng ngồi. Công an phường thì đi khoanh vỉa hè phân chỗ cho bà con bán hàng được trật tự ( chắc phân chỗ vô tư ???).

Mình chưa có việc gì làm, mọi năm làm ở công ty in quảng cáo, tầm này tất bật. Nhưng giờ thì ngồi hàng nước uống chè chén, hút thuốc lào ngóng giờ đón con. Nhàn cư thì lắm chuyện, có ông hàng xóm hỏi.

- Này, dạo này lắm bọn tham gia đảng phái bị bắt tù nhỉ, thế là mất bao nhiêu cái Tết, mày giỏi thế mà không có cách gì cho chúng nó khỏi đi tù sao.?

Mình giật nảy người, ừ nhỉ. Phải có cách nào chứ, chả lẽ cứ để hết lớp thanh niên này đến lớp thanh niên khác vào tù vì tham gia đảng nọ, đảng kia thành tội lật đổ. Chưa làm cái đéo gì mới vào đảng, tuyên thệ, chào cờ đã thành âm mưu lật đổ thì oan quá. Mình bảo ông kia.

- Đúng, anh nói đúng, cái này đúng ra phải nhìn nhận từ lâu. Nay đang có phong trào sửa đổi hiến pháp. Phải đề nghị sửa hiến pháp thì may ra nhiều thanh niên mới không bị đi tù.

Ông hàng xóm.

- Chắc mày lại đòi bỏ điều 4 chứ gì, tù đấy em ạ.

- Không, em không đòi bỏ, mà em bảo sửa trên tinh thần xây dựng có lợi chung cho dân tộc chứ không phải đòi phế truất ĐCS, như thế bọn nó bắt tù ngay. Cái này bọn nó không bảo là quyền tự do ngôn luận nữa, mà nó bảo là âm mưu lật đổ, em chả dại.

Ông hàng xóm hỏi.

- Thế mày đòi sửa thế nào.?

- Em thấy thế này, thực ra nhu cầu tham gia đảng phái chính trị của dân ta rất cao, nhất là thanh niên. Nhưng mà nước mình chỉ có một đảng được hoạt động và vì đảng ấy cầm quyền nên đặt ra cái luật ấy. Mà không phải thanh niên nào cũng được vào đảng ấy, vì nhiều lý do khác nhau. Mâu thuân là thế này. Đảng CS thì lo người ta lập Đảng tranh mất quyền lãnh đạo của họ. Còn nhiều thanh niên thì không muốn vào Đảng cộng sản vì họ cũng chả muốn lãnh đạo, nhiều khi họ muốn có đảng, tổ chức nào đó để họ hoạt động xã hội như giáo dục dân trí, đạo đức, tri thức.Nhưng bên ĐCS thì họ chắc lép không nghĩ vậy. Hai bên cứ thế giằng co nhau, bên thì cứ tham gia đảng khác, bên thì cứ bắt. Tóm lại thế này là công bằng. Giờ kiến nghị sửa điều 4 hiến pháp vẫn là ĐCSVN duy nhất là đảng lãnh đạo đất nước. Còn các đảng khác được hoạt động nhưng cấm âm mưu lãnh đạo đất nước, mà chỉ được chấn hưng dân trí, nâng cao đạo đức nhân dân, làm từ thiện....Như thế giải quyết được vấn đề lớn bây lâu nay thế giới vẫn nói ta là độc đảng. Và vấn đề nhân bản hơn nữa là nhiều thanh niên mong muốn hoạt động xã hội nhưng không theo ĐCS có tổ chức khác để họ tham gia, khỏi phải bị bắt bớ tù tội.

Ông hàng xóm gật gù.

- Ừ giá như thế cũng tốt, nhưng mình nói chuyện phiếm ở đây thôi. Chứ kiến nghị thì thế nào bọn bồi bút, bọn dư luận viên nó cũng xuyên tạc ý tốt của mình. Nó nâng quan điểm là mình diễn biến, mình thâm độc núp bóng đóng góp để mục đích là tiến tới này nọ...ai chứ người như mày lạ gì cái trò đó. Chúng nó đánh bằng tung ra luận điệu, rồi cho mấy lão đảng viên, nhân dân tiến bộ bức xúc đứng đóng vai đại đa số nhân dân, ra hứng lời lên báo chí đả phá mình. Tiếp đó công an có căn cứ vào cuộc là dư luận lên tiếng đòi hỏi xử lý. Trò này có từ thời Nhân Văn Giai Phẩm rồi mày ạ, mày trẻ không biết đó thôi.

Mình nghĩ một lúc rồi thì thào.

- Em cũng nói ở đây, cho nhẹ lòng thôi. Chứ đưa đơn kiến nghị thế, nó tiếp nhận đơn xong rồi mấy hôm sau mình bị bắt vì tội tâm thần, tội gây rối trât tự, tội chia rẽ dân tộc....sau đó chúng nó bảo. Ở nước tôi không ai bị bắt vì tội đóng góp ý kiến , mà chỉ có những người bị bắt vì tâm thần, gây rối, chỉ trích nhà nước, chia rẽ dân tộc. Anh không lạ thì em cũng chả lạ gì đâu.

Ông hàng xóm đứng dậy khi thấy một người dân tiến bộ vào quán.

- Thôi Tết nhất loàng xoàng cũng được rồi, giờ đâu cũng khó khăn mà.

Ông ấy đi, còn đá mắt nháy cái về phía người dân tiến bộ của đảng và chính quyền.

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

NHỮNG KẺ BÁN LINH HỒN CHO QUỶ


I. Thời gian gần đây, khi đọc tin một số ca nhạc sĩ hải ngoại kéo nhau về Sài Gòn, Hà Nội trình diễn, tự dưng tôi nghĩ đến Việt Khang, ca nhạc sĩ anh hùng của lòng tôi và của biết bao người Việt Nam trên thế giới và trong nước. Việt Khang sáng tác rất ít, tôi nhớ hình như chỉ đôi ba bài, Việt Nam tôi đâu? và Anh là ai?, và đích thân hát bài của chính anh. Nhưng chỉ qua những bài ấy thôi anh đã biểu hiện lòng yêu nước nồng nàn, cao độ, tha thiết hơn bất cứ ca nhạc sĩ nào từ trước đến nay, kể cả thời VNCH. Lời ca thật đơn sơ, bình dị, không có những câu văn vẻ, khuôn sáo, hoặc sắt máu, dữ dằn, đằng đằng sát khí, theo đơn đặt hàng... Không. Tất cả nơi anh nghe như lời than vãn hoặc tình tự thường ngày, âm điệu thật nhẹ nhàng. Dễ dàng đến nỗi các cháu bé hải ngoại năm tuổi cũng có thể trình bày một cách suôn sẻ. Như tiếng thổn thức của mẹ già, em thơ, dâng lên tự đáy lòng. Như tiếng nghẹn ngào, nức nở từ nỗi uất hận bao nhiêu năm đè nén nay òa vỡ, miên man chảy theo sông, theo biển...

Bản thân Việt Khang, sinh năm 1974, chưa hề biết chiến tranh, chưa hề biết Việt Cộng hay Quốc Gia, chưa hề hưởng một ơn mưa móc dù nhỏ của chế độ VNCH, chưa hề biết những tủi nhục và oan nghiệt đã rơi ập xuống đất nước và gia đình ngày 30/4/1975, chưa hề chạy trốn Việt Cộng trối chết, trước hay sau ngày mất nước, hốt hoảng như chuột, chưa hề khai mình là tỵ nạn Cộng sản, chưa hề tự phong là trí thức tốt nghiệp tại ngoại quốc, là ca sĩ, nhạc sĩ với sự nghiệp âm nhạc 10, 20, 50 năm. Chưa hề… Nhưng, cũng như bao thanh niên cùng thế hệ, anh đã lớn lên và đang sống ngay trong lòng chế độ Việt Cộng, trên một đất nước nay biến thành một trại tù khổng lồ. Cho nên, cũng như tất cả người Việt quốc gia tỵ nạn Cộng sản chân chính trên thế giới, anh đã hiểu thế nào là độc tài, là áp bức, là bất công, biết thế nào là thiếu tự do, nhân quyền, dân chủ, mơ ước như thế nào bóng dáng của hạnh phúc, ấm no, chờ đợi như thế nào ánh sáng bình minh đến xua tan đêm tối vây hãm triền miên cả một dân tộc đọa đày.

Việt Khang chỉ làm đôi ba bài hát thôi, nhưng đã bị truy tố ra tòa, lãnh ba năm tù ở, bởi lũ lãnh đạo Việt Cộng khôn nhà dại chợ, chuyên hà hiếp dân lành, tay không một tấc sắt, nhưng lại sợ hãi, khúm núm trước quân thù Tàu Cộng. Điều đó cho thấy lũ chúng nó rất sợ anh và ảnh hưởng của hai ca khúc có vẻ nhẹ nhàng, nhưng đâm thẳng vào tim chúng nó, nhức nhối như những nhát kiếm bén nhọn. Chỉ cần hai bài thôi, nhưng trong ấy người nghe bao nhiêu tiếng gọi yêu nước ngút ngàn, bao nhiêu lời tình tự dân tộc thiết tha, bao nhiêu thương yêu và thù hận. Anh không hô hào lật đổ ai, nhưng bọn chúng nó phải nể và sợ.

Việt Khang, tôi gọi tên em với tất cả lòng cảm thương, và thán phục, và tôn vinh, dù chưa một lần được gặp em, quen em, nhìn em, nghe em hát. Nhưng tôi cần em, ít ra trong bài viết này, cần hình ảnh rạng ngời và gương hy sinh cao quý của em cho chính nghĩa, đại cuộc, để dạy một bài học làm người cho lũ hát xướng hải ngoại đang rủ nhau về nước trình diễn.

Nói đến Việt Khang, tôi lại nhớ một ca sĩ hải ngoại khác ít nhiều chiếm ngự hồn tôi: Nguyệt Ánh. Nguyệt Ánh với lòng yêu nước vô bờ, thôi thúc như tiếng sóng Thái Bình Dương réo gọi, với những bài hưng ca đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt, làm vỡ tim người.

Và xa hơn, ca nhạc sĩ tỵ nạn Cuba qua Mỹ từ lúc nhỏ, có cha từng phục vụ trong quân đội Mỹ tại Việt Nam: Gloria Estafan, hiện sống tại Miami. Danh cô vang lừng thế giới, không chỉ vì sự nghiệp ca hát, mà còn và nhất là bởi lập trường của một người tỵ nạn chân chính cương quyết chống chế độ Cộng sản phi nhân Fidel Castro và bè lũ. Một lần được mời trở về Cuba hát nhân dịp Đức Giáo Hoàng viêng thăm, cô đã từ chối. Lần khác, được mời qua Vatican hát trong một đại lễ, cô chấp nhận với một điều kiện duy nhất: Xin Đức Thánh Cha cầu nguyện, và làm mọi cách, cho đất nước Cuba của cô được tìm lại tự do, nhân quyền. Cô đã sáng tác và trình bày một ca khúc mang tên “Go away” bình dị, tương tự “Việt Nam tôi đâu?” của Việt Khang, trong đó cô nhẹ nhàng lên tiếng mắng mỏ và yêu cầu Fidel Castro cuốn gói rời khỏi Cuba:

Go away
Won't you just go away
Don't you come back one day
Take your stuff
Take all of your precious things
Leave right now […]



II. Trong khi ca nhạc sĩ anh hùngViệt Khang bị giam cầm trong nước, và đồng nghiệp gốc tỵ nạn Cuba Gloria Estafan cương quyết không trở về quê hương khi chế độ độc tài còn ngự trị thì các ca sĩ, nhạc sĩ thuộc diện xướng ca vô loài Việt Nam hải ngoại vô nhân vô sỉ vô luân, đực có, cái có, đẹp có, xấu có, trẻ có, già có, sang có, sến có, khôn có, ngu có, nổi tiếng có, cắc ké có, đủ cả… rủ nhau làm đơn xin trở về hát cho Việt Cộng nghe, mặc nhiên, tự nguyện bán linh hồn cho quỷ.Nếu thực sự bọn họ có một linh hồn.Chuyện kể như sau:

a) Tương truyền, vào thế kỷ XVI, bên Đức, có một người tên Johann Faust, sinh tại Knittlingen. Ông ta là một tiến sĩ, thầy bói, thuật sĩ, có nhiều phù phép, đi nhiều, biết nhiều, biểu diễn tài nghệ của mình, dạy đại học, được vinh danh bởi cả Martin Luther, nhà cải cách Công giáo nổi tiếng. Theo quyển Historia von Dr. Johann Fausten (Frankfurt, 1587), Faust muốn bán linh hồn cho quỷ Mephistopheles với khế ước như sau: trong 24 năm, ông sẽ được thông suốt về ma thuật (magie), được trẻ mãi không già, giàu sang, phú quý, và hưởng tất cả mọi vui thú xác thịt và quyền lực. Sau đó, mãn hạn, linh hồn ông sẽ bị tóm, giao cho quỷ sứ. Faust ký giấy, và trong suốt 24 năm, được chơi bời thỏa thích, và hành nghề ma thuật với trình độ tuyệt luân, muốn gì có nấy. Rồi một ngày đẹp trời Mephistopheles hiện lên bắt linh hồn ông đem xuống địa ngục. Tại đây, Faust hối hận, ăn năn, nhưng lúc ấy quá trễ rồi.

Từ thế kỷ XVI đến XIX, nhân vật Johann Faust là nguồn hứng vô tận cho rất nhiều tác phẩm thuộc thơ, văn, nhạc, kịch, họa. Đặc biệt, thi hào Đức Goethe viết ra tuyệt tác Faust, trong đó, cuối cùng, ông cho Faust được cứu rỗi nhờ tình yêu của nàng Gretchen.

b) Còn những Faust thời đại, gồm những tên trí thức khoa bảng, ca nhạc sĩ, và bọn nằm vùng hải ngoại? Dĩ nhiên, sự khác biệt thấy rõ:

• Bán linh hồn cho quỷ, Faust thế kỷ XVI của truyền thuyết Đức không phải xóa bỏ căn cước và tước vị của mình. Bán linh hồn cho quỷ, bọn Faust Việt Gian thế kỷ XXI bị buộc phải chối bỏ lý lịch, quay lưng với tổ quốc, tổ tiên anh hùng, quên dĩ vãng, nguồn gốc.

• Bán linh hồn cho quỷ, Faust thế kỷ XVI được hưởng 24 năm ăn chơi vung vít, thoải mái. Bán linh hồn cho quỷ, bọn Faust Việt Gian thế kỷ XXI bị lôi cổ tống xuống địa ngục ngay, bị còng tay, khóa mõm, chỉ được phép nói, hát, múa những gì mà quỷ cho phép.

• Bán linh hồncho quỷ, Faust của Goethe được cứu rỗi nhờ tình yêu chân thật. Bán linh hồn cho quỷ, bọn Faust Việt Gian chỉ có bia ôm, thân xác đĩ điếm và thiếu nữ nghèo khổ. Không có tình yêu cứu rỗi, chúng phải từ chết đến chết, bị khinh chê, nguyền rủa đời đời.

c) Riêng lũ xướng ca vô loài Việt Gian còn phải qua những màn phỏng vấn, điều tra về lập trường, số lượng và nội dung những bài sẽ hát, rồi phải hát thử cho Công an nghe. Một người quen sống tại VN có kể về những ca sĩ hải ngoại hát ở phòng trà đường Cao Thắng, Sài Gòn, từng đứa một, từ Lệ Thu, Ý Lan, Thanh Tuyền, Giao Linh đến Tuấn Vũ, Chế Linh, Từ Công Phụng v.v... Muốn được phép trình diễn, bọn ca sĩ này phải qua một kỳ thử nghiệm hát cho công an VC nhìn, nghe trước những bài đã được chúng cho phép. Chúng gật đầu, chấm đậu mới được lên sân khấu, dù là phòng trà tư. Điều này làm người ta nhớ hoạt cảnh thê thảm trong đó những cô gái quê muốn lấy “chồng ngoại”, phải sắp hàng cởi áo cởi quần cho những thằng Đài Loan, Đại Hàn, Mã Lai đui què sứt mẻ, nửa khùng nửa điên... tha hồ sờ mó, khám, lựa, tuyển, chi tiền, dắt đi. Than ôi. Còn cái nhục nào hơn!

Nhưng bọn vô loài vô sỉ ấy đâu biết nhục là gì. Cha ông ta cũng đã dặn dò: “đĩ chín phương còn để một phương lấy chồng”. Đằng này, còn phương nào, mười hay hai mươi, chúng cũng giành nhau làm ráo hết. Không biết nhục, trái lại, chúng lại vênh váo, trơ tráo lên tiếng tự bênh vực cho hành động của mình: đại khái,chúng về, vì:

• muốn đền đáp lại lòng mến mộ của đồng bào trong nước

1) Đồng bào nào? Ba mươi năm nay, có người dân nào thuộc Miền Nam cũ đang phải sống thoi thóp, ngột ngạtdưới gông cùm Cộng sản, còn nhớ đến bọn ca sĩ, nhạc sĩ hải ngoại trước kia đã bỏ rơi đồng bào chạy có cờ, nay ế khứa, hết tiền, về già trông bèo nhèo như những cái mền rách, còn nhớ đến những bài tình ca một thời rên rỉ, sướt mướt, lảm nhảm, lảng nhách của chúng, để viết thư yêu cầu chúng trở về hát cho họ nghe? Rồi đồng bào lấy tiền đâu mua vé cả trăm đô? Nói chi những người dân của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa biết chúng là ai, mà mến với mộ, tiếc với nhớ? Ngược lại, thấy chúng lần lượt trở về biểu diễn, ca múa, làm hề, đại đa số nếu không khinh bỉ như những con chó ghẻ thì cũng tỏ ra dửng dưng, thờ ơ, lạnh nhạt.

2) Đồng bào, hay chỉ là bọn cai thầu văn nghệ cơ hội chủ nghĩa, tham tiền, lợi dụng thị hiếu mới của đám cán bộ, đại gia Việt Cộng no cơm rửng mỡ, trưởng giả học làm sang, hoặc nguy hiểm hơn, bọn tay sai của lũ công an trong biệt đội văn nghệ có nhiệm vụ thực thi điều khoản “giao lưu văn hóa”, “hòa hợp hòa giải” của Nghị quyết 36, bày ra những buổi trình diễn để câu những con mồi nghệ sĩ, ca sĩ Việt kiều vì ham tiền, hám danh, mà gục mặt trở về nhận lãnh những lời tâng bốc dỏm và đồng tiền tanh hôi của Việt Cộng bố thí cho?

3) Tại hải ngoại, suốt bao năm trời, bọn xướng ca vô loài này được đồng hương tỵ nạn nâng đỡ, đùm bọc, viết bài lăng xê, ca tụng chúng, nuôi sống chúng bằng cách mua vé tham dự những shows văn nghệ, ra mắt CD... mặc dù theo thời gian tài sắc của chúng đi xuống. Nay chúng trở mặt, trở cờ, trở thành những đứa Việt Gian quay về cung cúc phục vụ kẻ thù, và điều đó càng làm ta hiểu hơn nỗi lòng của cụ Nguyễn Đình Chiểu, một anh hùng kháng Pháp, qua hai câu thơ mộc mạc, thẳng thừng:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

• nghệ thuật, mà nghệ thuật thì phi chính trị

1) Nghệ thuật vị nghệ thuật ư? Còn lâu. Trên lãnh vực văn chương, hội họa, từ thời Lãng Mạn vs Théophile Gautier và trường phái Parnassiens bên Pháp, người ta đã tốn nhiều giấy mực và nước bọt để thảo luận, tranh cãi về quan niệm này, nhưng cuối cùng không đi đến đâu. Bởi vì không bao giờ có một nghệ thuật vị nghệ thuật. Nghĩa là bất cứ nghệ thuật nào cũng phải phục vụ nhân sinh, tức con người. Đối với Việt Cộng, quan niệm này còn khắt khe hơn, gần như tuyệt đối. Đối với chúng, nghệ thuật phải phục vụ, không phải con người, mà duy nhất Bác và Đảng. Nghệ thuật đồng nghĩa với chính trị, tuyên truyền, nói dối. Tố Hữu khi làm thơ khóc Staline sức mấy mà vì nghệ thuật vị nghệ thuật? Trịnh Công Sơn kêu gào nối vòng tay lớn vì nghệ thuật thuần túy hay vì chủ trương phản chiến, thân Cộng của y? Mới đây, tin tức cho biết những ca sĩ của Trung tâm chống Cộng Asia bị cấm hát ở Việt Nam, tại sao?

2) Cụ thể hơn, bọn xướng ca vô loài hải ngoại về trình diễn bên ấy làm gì có tự do để hát bất cứ bài nào tùy ý? Kìa, Phạm Duy mà một số bơm sĩ phong là cây “đại thụ của làng nhạc” Việt Nam, mà văn nô Trần Mạnh Hảo một lần bị ma nhập đã gọi là “thượng đế của âm giai”, là “thần linh của tiết tấu” v.v... có một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ, vậy mà khi trở về cũng chỉ được Việt Cộng cho phép hát, phổ biến, trên dưới mươi bài.

3) Chưa nói việc bọn ca sĩ phản bội này cố tình mập mờ, nhập nhằng giữa danh từ “chính trị” và “làm chính trị”. Làm chính trị thường được hiểu là hoạt động cho các đảng phái, tổ chức này nọ. Nhưng chống Cộng, quyết tâm tiêu diệt Việt Cộng, không phải là “chính trị “ hay “làm chính trị”, mà là một bổn phận của toàn dân Việt, đặc biệt là những người quốc gia tỵ nạn Cộng sản chân chính, đối với tổ quốc.

• không theo phe nào

1) Ngày tắp đảo, trước mặt các viên chức di trú ngoại quốc, có ca nhạc sĩ nào không mếu máo khai mình là người quốc gia tỵ nạn, không thể sống nổi dưới ách thống trị, độc tài của Việt Cộng. Nay được phép Việt Cộng cho về, chúng tuyên bố “chúng tôi không theo phe nào”, Quốc gia hay Cộng sản, mà trở về với dân tộc, với quê hương có chùm khế ngọt. Ô hô, nhổ rồi xin liếm lại. Có đứa như tên Chế Linh, để lấy điểm, còn lên án chế độ VNCH chủ trương tiêu diệt dân tộc Chàm, trong khi chính y hoặc đồng chủng được hưởng nhiều quyền lợi: không đi lính (nhưng được phép mặc đồ lính để trình diễn), không thạo tiếng Kinh, nhưng vẫn được đồng bào ưu ái, không có tú tài nhưng vẫn được đặc cách theo các trường đào tạo công chức, cán bộ... Có đứa như Khánh Ly than thở với báo chí Việt Cộng là hát tại hải ngoại vất vả, khó ăn lắm, hát tại quốc nội được nhiều tiền hơn...

2) Chiến tranh bằng súng đạn đã chấm dứt, nhưng trận chiến giữa người Quốc gia với Cộng sản vẫn còn, gay go, khó khăn gấp bội, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi Việt Cộng, vì cần tiền bạc, tài năng, chất xám, vẫn bám sát gót người Việt hải ngoại, để thi hành nghị quyết 36, dụ dỗ bọn nhẹ dạ và cố xóa cho bằng được lằn ranh Quốc-Cộng rõ rệt. Kẻ nào nói mình không theo phe nào là vô tình hay cố ý tuyên truyền không công cho Việt Cộng.

3) Không theo phe nào, tức là đứng giữa, bình dân hơn, là cẳng giữa, sau khi đã có cẳng phải, cẳng trái. NLGO tôi nhớ câu chuyện có thật đã xảy ra: Trong một bữa họp mặt, bạn bè vui chơi, và đến giai đoạn bàn về chuyện những kẻ tự nhận là mình trung lập trong chiến trận Quốc-Cộng hiện nay, hạng người nửa nạc nửa mỡ, ba phải, ba rọi, cẳng giữa, không theo phe nào. Một người tuyên bố: “Tôi đứng ở ngả ba đường”. Người thứ hai lên tiếng: “Tôi là con người đứng giữa”. Một anh bạn, vốn là bác sĩ nổi tiếng chống Cộng, ăn nói bộc trực, bình dân, thấy bực bội, bèn trả lời:“Đứng ở ngả ba đường thì xe nào chạy tới cũng đụng mà ngủm củ tỏi.” Và nhìn chòng chọc vào “con người đứng giữa”, anh dằn từng tiếng một: “Còn trong thân thể người ta, tôi biết chỉ có một con đứng giữa, không phải con người, đó là con c…”

III. Trong cái đám ca nhạc sĩ bèo nhèo như cái mền rách về chầu chực, quỳ lụy Việt Cộng nói trên, có một anh chàng thuộc Cộng đồng Oregon, cùng thành phố tôi đang cư ngụ. Trong bài "Đền Ơn Đáp Nghĩa" (báo Phương Đông Times, số ngày 7/12/2012, trang 22), Mục sư Huỳnh Quốc Bình, cựu chủ tịch Cộng Đồng Oregon, đã giới thiệu anh ca nhạc sĩ này, như sau:


“[...] Tôi biết ít nhất một ca nhạc sĩ rất nổi tiếng. Tại địa phương ông cư ngụ, chưa ai thấy ông đóng góp một xu cho những công tác ích lợi chung trong cộng đồng. Ông cũng không hề một lần đóng góp lời ca tiếng hát của ông cho đồng hương địa phương thưởng thức, nếu có thì phải trả thù lao. Ông chỉ chu du ca hát xứ người. Vậy mà khi cần tiền, ông bèn tổ chức "tạ ơn em" tại địa phương nơi ông không buồn quan tâm trong mấy Thập Niên. Điều buồn cười hay khôi hài, là đã có năm bảy trăm người, mỗi người bỏ ra năm bảy chục Mỹ kim, để mua vé danh dự, hoặc thượng hạng, hầu có thể nghe ông hát "tạ ơn em" và mua CD nhạc của ông mang về nghe ông "tạ ơn em"... Điều phũ phàng hơn hết là khi cộng đồng có những buổi tổ chức có tính cách xã hội, giúp đỡ những ai cần giúp đỡ, hoặc biểu tình lên tiếng tranh đấu cho những người bị VC đàn áp tại Việt Nam, thì ông ca nhạc sĩ này lại biệt tăm và số người tham dự buổi ông tổ chức "tạ ơn em" cũng mất dạng [...]”

Ngoài ra, nghe tin anh ta về nước lần thứ hai, nhiều đồng hương đã lên tiếng, và tôi xin chuyển tiếp hai bức thư bình phẩm tiêu biểu:

From: Truyen Doan
To:
Sent: Wednesday, January 16, 2013 3:58 PM



Đây là đứa ngu như tên Chế Linh
Nó bị con vợ ham tiền thúc đẩy nó đi qua đó kiếm tiền thiên hạ
Ở đây nó mở ca nhạc cũng có tụi ngu đi nghe
Tụi nó chỉ có tiền thôi
Tẩy chay nó đi
Mấy thằng nghệ sĩ đó có ra gì!!!!


Date: Sat, 19 Jan 2013 19:17:39 -0800
From: kinhkha


Ủa! tôi tưởng nó đã chết rồi mà.

Tên này chắc cuối đời vợ cần tiền, cũng như cần Casino như LệThu… cho nên nó về hát phục vụ cán ngố và dân tham nhũng tư bản đỏ for money chứ có con thằng ca sĩ nào hát nào cho dân nghe,dân nghèo nào có tiền 50,70 đô một vé.. mà láo khoét, nếu nó thực sự hát free xin các tháí thú cho tổ chức ngoài trời hát cho dân nghe như VNCH thì sẽ có nhiều người tình nguyện kêu goị trả tiền cashier cho nó… thật đáng buồn!!! một cái thằng chẳng bao giờ nghĩ đến quân dân VNCH đã đi trước tầm đạn bảo vệ cho nó sống còn…, nó khá hơn PD là chưa viết Tục Ca.

Anh ca nhạc sĩ này, ngoài sự nghiệp âm nhạc, còn được cả nước, trong và ngoài, biết đến, một cách ồn ào, vì căn bệnh ung thư gan giai đoạn cuối, sau khi bị ung thư màng óc, cách đây hơn một thập niên, và túi mật –tin do bạn bè trong Cộng Đồng và trên Mạng chuyển, chính xác hay vịt cồ, tôi không biết chắc– nhưng cả ba lần đều thoát chết. Sau đó, nghe nói anh ta đi lưu diễn “tạ ơn em” và “kỷ niệm 50 năm” tình ca tại Texas, Portland, California, Úc Châu, tôi thật lòng mừng cho anh ta được tai qua nạn khỏi và mừng cho nhân loại từ nay đã có thuốc chữa trị căn bệnh nan y quái ác kia. Tuy nhiên, khi đọc tin anh ta trở về Việt Nam trình diễn lần thứ hai và xem hình vợ chồng anh ta tươi rói, tại phi trường, với “vòng hoa chiến thắng” trên cổ, tôi phải dằn lòng lắm mới không buột miệng chửi thề, merde, nhưng đồng thời cũng không thể nào không nghĩ đến câu nói trứ danh của Julius Caesar trong vở kịch cùng tên viết bởi Shakespeare:

Cowards die many times before their deaths;
The valiant never taste of death but once.

đã được Mục sư Huỳnh Quốc Bình, một lần trong một bài viết, dịch ra như sau:

Những kẻ hèn nhát chết nhiều lần trước khi chết thật;
Người dũng cảm chỉ chết một lần thôi.


Anh ta cũng không xa lạ với đa số đồng hương Oregon và cá nhân NLGO tôi. Nhưng có hai lý do, ngoài những điều Mục sư Huỳnh Quốc Bình nêu lên trong bài viết, đã khiến tôi không thể im lặng mãi:

a) Anh ta coi thường Cộng đồng Oregon và những người hâm mộ tại địa phương mới đây đã đến mua vé tham dự buổi văn nghệ tạ ơn vợ và mừng sự nghiệp 50 năm do anh ta tổ chức, để kiếm tiền. Ai cũng biết, Cộng đồng Oregon không chống Cộng ồn ào, dữ dằn như những Cộng đồng California, Texas, nhưng vẫn chống, luôn luôn chống, và kịch liệt chống. Đa số cư dân là những thuyền nhân từ các đảo tỵ nạn đến, hoặc cựu sĩ quan tù nhân cải tạo sang Mỹ theo diện HO, nên chống Cộng, tiêu diệt Việt Cộng có nghĩa thi hành một bổn phận, trách nhiệm đương nhiên đối với tổ quốc. Cũng như dân bản xứ, người Việt tỵ nạn tại Oregon hiền hòa, lịch sự, dĩ hòa vi quý, nhưng điều đó không có nghĩa họ thờ ơ, thụ động, khờ khạo. Ai chống Cộng, ai Quốc gia, ai Việt gian, ai tay sai, ai phải ai trái, ai ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản, họ đều biết, và biết đúng, biết rõ, nhưng không nói ra đấy thôi. Bằng chứng: cho đến bây giờ, sau nhiều năm Nghị quyết 36 được phát động với mưu đồ phá hoại, lủng đoạn các Cộng đồng Quốc gia Tỵ nạn, chưa một thằng tay sai Việt Cộng nào dám xuất đầu lộ diện tại Oregon. Ló ra là bị chặt đuôi, không sống nổi.

Lần đầu, anh ca nhạc sĩ Portland này về Việt Nam trình diễn, người ta biết được do chính báo chí trong nước (Tuổi Trẻ và Công An Thành Phố HCM) phổ biến, nhưng đã bỏ qua, vì ai cũng thông cảm cho căn bệnh ung thư gan giai đoạn cuối của anh ta được vợ và báo chí hải ngoại loan truyền ầm ĩ, nghĩ rằng biết đâu có thể đó là chuyến đi sau cùng trong đời. Tuy nhiên, lần này, khỏi bệnh, anh ta chơi cái mửng cũ, lại về nữa, âm thầm, sau khi đã moi gần cạn hầu bao của đồng hương hải ngoại với những màn “tạ ơn em” và “kỷ niệm 50 năm”. Về, để tái biểu diễn cho những thằng, những con đảng viên, công chức, đại gia, cán bộ, công an và gia đình, đồng bọn, có bạc tiền rủng rỉnh, chứ người dân nghèo, lao động vất vả, đầu tắt mặt tối, buôn thúng bán mẹt, làm gì có cơ hội và điều kiện bước chân vào rạp lớn của thành phố để nghe anh ta cám ơn vợ mình hoặc rên rỉ “bây giờ tháng mấy rồi hỡi em”?

b) Anh ta trở về Việt Nam trình diễn, mặc nhiên thách đố công luận chống Cộng, mặc nhiên chấp nhận trở thành một tên phản bội trắng trợn, vô liêm sỉ trước mắt những đồng hương nạn nhân của bọn Cộng Phỉ trên toàn thế giới và riêng tại Oregon. Trong khi chúng tôi đang giao chiến với Việt Cộng trên mặt trận “võ mồm”, bằng những bài pháo kích ác liệt, và thỉnh thoảng bị phản pháo, trong khi đa số đồng hương tỵ nạn ngày đêm thao thức, lo âu cho vận mệnh đất nước đang có nguy cơ rơi vào tay giặc ngoài Tàu Cộng với sự đồng lõa của lũ lãnh đạo thù trong bất tài, khiếp nhược, tham tàn, trong khi bao nhiêu nhân sĩ, thanh niên tại quốc nội, có cả Việt Khang và một số thiếu nữ liễu yếu đào thơ, Huỳnh Thục Vy, Tạ Phong Tần… biết yêu nước thương nòi, quyết tâm tranh đấu cho tự do, nhân quyền, đang bị bạo quyền bắt bớ, giam cầm, đày đọa ở những nhà tù khắp nước, trong khi các phụ nữ, bé gái bị ép bán ra ngoại quốc làm điếm, và những bài học đạo đức, luân lý cổ truyền tốt đẹp từ hàng ngàn năm qua bị phá sản một cách thê thảm, tại học đường cũng như ngoài xã hội, bởi nền văn hóa bần cố nông hủy diệt trí thức, lương tri và mọi giá trị tinh thần, trong khi những thằng lãnh tụ tự phong tham nhũng, no say, béo tốt đang làm mưa làm gió trên mảnh đất khốn khổ, tội nghiệp, trong khi đó thì anh chàng ca nhạc sĩ mặt trơ mày bóng của chúng ta lại lén lút trở về múa hát, mua vui cho những tên đồ tể bán nước hại dân.

Làm sao tôi có thể im lặng mãi.

Portland, 30/1/2013
Người Lính Già Oregon

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Nam Hàn Được Mùa
Nguyễn-Xuân Nghĩa

...vị nữ lưu Phác Cận Huệ, pháp danh Thiện Đức Hoa, tuổi Nhâm Thìn, đắc cử Tổng thống cũng năm Nhâm Thìn.

Nữ Tổng Thống Phác Cận Huệ

Trên bán đảo Triều Tiên, người ta có miền Nam là nơi thịnh vượng và dân chủ và miền Bắc lầm than và gây bất ổn cho toàn khu vực Đông Bắc Á. Đó là Nam Hàn, hay Đại Hàn Dân Quốc ở miền Nam và Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên, tức là Bắc Hàn Cộng Sản tại miền Bắc. Ngay sau Tết, Nam Hàn sẽ có Tổng thống thứ 11, một nữ Tổng thống đầu tiên của họ. Chúng ta nên tìm hiểu về Park Geun-Hye, một nhân vật đặc biệt đang mơ ước thống nhất được hai miền Nam Bắc cho sự thịnh vượng chung.

Bán đảo Triều Tiên rất xứng đáng với nhiều cái nhất.

Miền Bắc Cộng sản có một lãnh tụ trẻ nhất, lên làm Đại tướng ở tuổi 27 khi chỉ biết xài khẩu súng nước vì chưa từng ở trong quân đội. Sau đó thì cậu bé Kim Jong Un, hay Kim Chính Ân, lên lãnh đạo đảng, quân đội và cả nước trong một hài kịch đen và còn dọa bắn hỏa tiễn vào nước Mỹ.

Nhưng bán đảo Triều Tiên còn có miền Nam, và từ mấy năm qua, đất này có vẻ được mùa.

Xin hãy tạm quên tổ hợp Samsung của Nam Hàn đã "chôn cất" tập đoàn Sony của Nhật và đang làm hãng Apple của Mỹ bị liểng xiểng mà nhìn vào con người, nhân vật. Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc hiện nay là một nhà ngoại giao Nam Hàn.

Là cựu Ngoại trưởng Nam Hàn dưới thời Tổng thống Roh Moo-Hyun (Lỗ Vũ Huyễn) thuộc cánh tả, ông Ban Ki-Moon (Phan Cơ Văn) đã hai lần đắc cử làm Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc kể từ đầu năm 2007. Ngoài tài năng của ông, đây cũng là một vinh dự cho dân tộc Đại Hàn.

Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới hiện nay cũng sinh tại Nam Hàn năm 1959. Lên năm tuổi thì ông ta cùng gia đình di cư qua Mỹ, trở thành bác sĩ, nhà nhân chủng học và Viện trưởng gốc Á đầu tiên của một Đại học uy tín và cổ kính của Hoa Kỳ. Đó là Jim Yong Kim (Kim Dong), người được đề cử làm chủ tịch định chế phát triển các nước nghèo kể từ Tháng Bảy 2012.

Cái nhất của Nam Hàn là cùng lúc có người lãnh đạo hai tổ chức ngoại giao và tài chính quan trọng nhất của quốc tế.

Người thứ ba vừa chiếm một cái nhất khác là nữ Tổng thống đầu tiên của Đại Hàn Dân Quốc. Đó là Park Geun-Hye, vị nữ lưu có tên khả ái là Phác Cận Huệ, pháp danh Thiện Đức Hoa, tuổi Nhâm Thìn và đắc cử Tổng thống cũng vào năm Nhâm Thìn.

Sinh năm 1952, Park Geun-Hye là trưởng nữ của nhà độc tài mà cũng là công trình sư của sự quật khởi và phép lạ kinh tế Nam Hàn là Tổng thống Park Chung-Hee (Phác Chính Hy), người sáng lập nền Đệ tam Cộng hoà của Đại Hàn Dân Quốc. Tốt nghiệp kỹ sư ở trong nước, Cận Huệ đang du học tại Pháp thì phải trở về. Ở nhà, ngay trong lễ độc lập vào năm 1974 thì bà mẹ bị điệp viên Bắc Hàn ám sát khi đứng bên Tổng thống. Cô sinh viên bỏ học trở về để xuất hiện bên thân phụ như Đệ nhất Phu nhân trong mọi nghi lễ, cho tới khi Tổng thống Phác Chính Hy cũng bị hạ sát vào năm 1979....

Từ đó, cuộc đời Phác Cận Huệ đi qua ngả khác.

Không lập gia đình, bà sinh hoạt chính trị trong đảng Quốc Đại theo khuynh hướng bảo thủ của thân phụ và liên tục thắng cử. Khi đảng này mất đa số và phải thoát xác trong 10 năm ở thế đối lập, bà vẫn đắc cử và trở thành chiến lược gia của sự phục hưng. Lên làm Chủ tịch đảng, bà vận động cho ngần ấy cuộc bầu cử để chiếm lại vị trí đa số. Với hỗn danh là "Nữ hoàng Bầu cử" Phác Cận Huệ có công đầu nhờ bản lãnh và sự kiên trì đến lạnh mình.

Tháng Năm năm 2006, trong một cuộc vận động bầu cử, Phác Cận Huệ bị một hung thủ chém dao cạo vào mặt, gây ra vết thương 11 phân, phải mấy giờ giải phẫu và 60 vết khâu. Vừa tỉnh thuốc mê, vị nữ lưu can trường này không hỏi về vết thương hay thủ phạm mà muốn biết ngay kết quả vận động tại thành phố Đại Điền (Daejon), một trung tâm kỹ nghệ và khoa học của Nam Hàn! Giai thoại về sự quả cảm đó của bà khiến ứng cử viên của đảng đang bị thua 20 điểm đã vọt lên và thắng chức thị trưởng Đại Điền.

Dân chúng Đại Hàn thấy bà giống cha như đúc. Năm 1974, khi ông Phác Chính Hy đang đọc diễn văn thì bị mưu sát, nhưng viên đạn đã giết chết bà vợ đứng bên cạnh. Lo xong cho Đệ nhất Phu nhân, ông đứng lại đọc cho hết bài diễn văn chứ không lánh nạn theo lời yêu cầu của cận vệ!

Bà Phác Cận Huệ khi vừa bị chém bằng dao cạo năm 2006

Chính là sự kiên trì và khôn khéo đó của Phác Cận Huệ đã giúp đảng của bà liên tục thắng trong 40 cuộc bầu cử lớn nhỏ.

Nhưng năm 2007, bà thua sát nút một đối thủ trong đảng là Lý Minh Bác (Lee Myung-Bak) để ra tranh cử Tổng thống. Đấy là lần đầu tiên mà đảng bảo thủ chiếm lại chính quyền từ cả chục năm, mà rồi Tổng thống Lý Minh Bác làm uy tín đảng sa sút vì chính quyền bất tài và mang tiếng tham nhũng. Cũng Phác Cận Huệ lại ra tay lần nữa.

Bà cải tổ lại đảng, đổi tên thành Tân Cương Đảng (Saenury-dang) và năm 2012 chiếm lại đa số trong Quốc hội khóa 19 - cho đến 2016. Mùa Thu năm ngoái, bản thân bà lại ra tranh cử Tổng thống và lần này thì thắng lớn, với gần 52% số phiếu, nhờ đà chiến thắng của cuộc bầu cử Quốc hội. Ngày 25 Tháng Hai tới, vào tiết Nguyên Tiêu năm Quý Tỵ, Phác Cận Huệ sẽ làm Tổng thống Đài Hàn Dân Quốc

Là con gái của một lãnh tụ khét tiếng độc tài nhưng đem lại sự cường thịnh cho quốc gia, Phác Cận Huệ thừa hưởng một di sản màu xám. Đó là lòng nể trọng đi cùng sự e ngại.

Về sự nể trọng, bà tiếp tục là một chính trị gia bảo thủ, tin tưởng vào kinh tế tự do nhưng không ưa thỏa hiệp như nhiều chính khách khác. Về sự e ngại của dư luận, nhất là từ đối lập thuộc cánh tả, Phác Cận Huệ có ưu thế là phụ nữ, lại rất quan tâm đến các vấn đề xã hội. Bà cũng xác nhận rằng chế độ độc tài của thân phụ là một điểm đen của lịch sử. Không lập gia đình, bà tuyên bố dân tộc Đại Hàn là gia đình của mình và chẳng mơ ước gì hơn là được phục vụ người dân....

Nhưng vấn đề đáng chú ý nhất cho Đại Hàn và thế giới chính là lập trường của tân Tổng thống với Bắc Hàn.

Phác Cận Huệ trên bìa báo Time, ấn bản Đại Hàn, số ra cuối năm 2012

Trong một bài tiểu luận đăng trên số Tháng 10-11 của tạp chí Foreign Affairs tại Hoa Kỳ bà trình bày quan điểm của mình và nhấn mạnh đến hai yếu tố tương phản của bán đảo Triều Tiên là sự thịnh vượng của Nam Hàn đi cùng rủi ro an ninh do thái độ của Bắc Hàn.

Vì cả hai chiều hướng hòa giải của phe tả lẫn cứng rắn của cánh hữu đều không đạt kết quả và Bắc Hàn còn trực tiếp gây hấn khi bắn chìm chiến hạm Thiên An và pháo kích vào đảo Diên Bình của Nam Hàn, Tổng thống tân cử của Nam Hàn đề nghị một khảo hướng khác. Đó là vừa cương vừa nhu mà xây dựng lại niềm tin giữa đôi bên, với sự yểm trợ của cộng đồng quốc tế, nhất là Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Chiều hướng gọi là "trustpolitik" này có phần cương là phải vận động quốc tế tháo gỡ chương trình võ khí hạt nhân của Bắc Hàn nhưng phần nhu là cũng mở ra cho miền Bắc cộng sản cơ hội mới để phát triển hạ tầng, gia tăng sản xuất và trợ giúp nhân đạo. Mỗi bước hoà dịu của Bắc Hàn sẽ là một bước hợp tác và viện trợ của Nam Hàn, nhưng qua sự kiểm chứng thực tế hơn là những hứa hẹn viển vông.

Chúng ta chưa thể biết được tương lai nhưng từ 60 năm nay, cũng từ một năm Quý Tỵ 1953, Nam Hàn đã nhiều lần làm thế giới kinh ngạc.

Là một xứ nông nghiệp nghèo đói trước miền Bắc có nhiều khoáng sản và cơ sở kỹ nghệ, Nam Hàn đã vươn lên thành cường quốc kinh tế. Từ một chế độ quân phiệt xuất hiện trong thời chiến, Nam Hàn cũng tự thoát xác để trở thành một nước dân chủ tiên tiến. Ngày nay, Tổng thống Phác Cận Huệ muốn cùng thế giới giúp Bắc Hàn tiến theo ngả đường này....

Chúng ta rất nên theo dõi chuyện đó và không quên rằng năm 2002, bà đã qua Bắc Hàn và trực tiếp nói chuyện cả tiếng đồng hồ với Kim Chính Nhật, thân phụ của cậu bé lãnh tụ hiện nay, về việc xây dựng lại niềm tin giữa đôi bên. Và ngày nay, khi Phác Cận Huệ chưa nhậm chức, cậu bé Bắc Hàn đã đòi chơi bạo, để "ăn thua đủ với Hoa Kỳ!"

Hãy xem chuyện "mẹ dạy con", kiểu Đại Hàn, là như thế nào khi Phác Cận Huệ nói chuyện phải quấy với đứa con nuông của một chế độ mưu mô quỷ quái.

anhbon
Posts: 3
Joined: Sun Aug 05, 2012 3:14 am

Post by anhbon »



Image

Người Việt ăn chuột và hung hăng,
bài viết của giáo sư Đại học Stanford gây phẫn nộ trên mạng .

Một bài viết của một giáo sư trường Đại học Stanford cho rằng “thói hung hăng” của người Việt liên quan đến thói quen ăn thịt -- đặc biệt là chim, chuột và chó -- đã bị người Việt và những người khác trên khắp thế giới phản ứng trên mạng xã hội .

Bài nhận định -- “Mặc dù ngày càng thịnh vượng, khẩu vị của người Việt vẫn kỳ dị” -- được viết bởi Joel Brinkley, một người từng thắng giải Pulitzer, cựu phóng viên về vấn đề ngoại quốc của tờ New York Times, được đăng trên trang mạng của tờ Chicago Tribune hôm thứ Ba tuần trước. Kể chuyện chuyến đi Việt Nam của mình, Brinkley nói rằng ông chứng kiến cái chết của những con sóc, chim và chuột. Ông cũng nói rằng “Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới nói quốc gia này là tàn ác nhất đối với động vật hoang dã.”

Brinkley bắt đầu bài viết của ông rằng: “Bạn không cần phải bỏ nhiều thời gian ở Việt Nam để nhận thấy những điều bất thường. Bạn không nghe tiếng chim hót, không thấy sóc leo cây hoặc chuột lục lọi trong những đống rác. Chẳng có con chó nào chạy rông.

Trên thực tế, hầu như bạn không thấy được một con thú hoang hoặc thú nuôi nào cả. Chúng đi đâu cả rồi? Bạn có thể ngạc nhiên khi biết được rằng: chúng đều bị ăn thịt cả.”

Bài viết đã gây ra một phản ứng đầy giận dữ từ người Việt cũng như những người khác, một số trong họ nói rằng bài viết mang tính đổ đồng gần đến mức kỳ thị chủng tộc. Cuối hôm thứ Sáu, mục Tribune Media Services của tờ Chicago Tribune tuyên bố rằng bài viết đã không theo đúng tiêu chuẩn báo chí và tất cả những công đoạn biên tập đã “không được thực hiện.

“Chúng tôi lấy làm tiếc rằng việc này đã xảy ra, và chúng tôi sẽ cảnh giác hơn để bảo đảm rằng quá trình biên tập được hiệu quả hơn trong tương lai,” tờ báo tuyên bố.

Gwen Uyên Nguyễn, đồng sáng lập viên của OneVietnam Network, một cộng đồng trực tuyến ở vùng Bay Area chuyên hỗ trợ các hoạt động bất vụ lợi tại Việt Nam, đã nhận định về bài báo “Mang tính xúc phạm.

“Đây là một tấn công trực tiếp vào nền văn hoá của chúng tôi. Điều làm tôi khó chịu là đây là một bài viết của người từng đoạt giải Pulitzer và một giáo sư Đại học Stanford.”

Trong khi Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới đã chỉ trích những chính sách bảo tồn của Việt Nam đối với hổ, tê giác và voi, những nỗ lực thực thi yếu kém của chính quyền chẳng liên quan gì đến việc tiêu thụ động vật như chó và chuột, Pamela McElwee, trợ lý giáo sư về sinh thái con người tại Đại học Rutgers và là một chuyên gia về bảo vệ thú hoang tại Việt Nam nói. Bà nói việc mua bán động vật là một vấn đề xảy ra trên nhiều quốc gia.

“Tôi không hiểu được tại sao ông ấy có thể dẫn giải từ chuyện ông không thích người ta ăn thịt chó và chuột sang việc bảo tồn thú hoang ở Việt Nam,” McElwee nói.

McElwee, người từng sống ở Việt Nam trong 5 năm, cũng phê phán Brinkley trong chuyện liên hệ thói quen ăn thịt của người Việt với thái độ hung hăng. “Trong lịch sử Đông nam Á -- tất cả các quốc gia này từng trải qua chiến tranh. Trong khi đó Hoa Kỳ là nước có mật độ dân số ăn thịt cao thứ nhì trên thế giới.”

Trong một phỏng vấn, Brinkley nói ông rút ra nhận xét của mình từ chuyến đi 10 ngày xuyên Việt. “Tôi đi chung với một nhóm và đây là những gì tất cả chúng tôi đều nhận thấy,” ông nói về tình trạng thiếu vắng thú hoang tại Việt Nam.

Trong sáu năm viết xã luận, Brinkley nói rằng ông chưa bao giờ bị phản ứng nhiều như thế trong các bài viết của mình.

Người Việt dường như đặc biệt nhạy cảm với chuyện bị chỉ trích, giống như nhiều người khác trên thế giới,” ông nói. “Một số đã gửi email cho tôi nói rằng bài viết làm họ trông giống như những kẻ man rợ, tôi không có ý định viết như thế.”

Trong một đoan văn đăng trên trang mạng báo chí JimRomenesko.com, Brinkley đã bào chữa cho khẳng định của mình về thói quen ăn thịt của người Việt khiến họ hung hăng hơn những người láng giềng Đông nam Á.

“Về vấn đề thịt và tính hung hăng, có lẽ tôi đã không khéo léo lắm trong cách trình bày ý của mình,” ông viết. “Nhưng một chế độ ăn nhiều chất đạm khiến bạn mạnh mẽ hơn người khác, ở Lào, Cambodia và những nước Đông nam Á khác ít ăn thứ gì khác ngoài cơm. Nói cho cùng, phân nửa trẻ em Lào bị bệnh còi, ngay cả hiện nay. Tỉ lệ này là 40% tại Cambodia. Điều này có nghĩa là chúng sẽ trưởng thành thiếu chiều cao và không thông minh lắm. Liệu nó cũng có nghĩa là họ ít hung hăng hơn người Việt? Tôi tin là thế.”

John Boudreau, Mecury News
Diên Vỹ chuyển ngữ

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Ông nào thắng nhân dân cũng bại

Nguyễn Hưng Quốc

Dựa trên biện chứng pháp của Mác, Mao Trạch Đông rất hay nói đến vấn đề mâu thuẫn. Chịu ảnh hưởng của Mao, giới lãnh đạo Việt Nam cũng hay nói đến chuyện mâu thuẫn. Có những mâu thuẫn có tính bản chất và có những mâu thuẫn chỉ có tính hiện tượng. Có những mâu thuẫn có tính đối kháng và có những mâu thuẫn có thể hòa giải được. Theo cái khung ấy, ngày trước, các bài học chính trị ở Việt Nam thường nhấn mạnh: mâu thuẫn đối kháng quan trọng nhất, trên phạm vi thế giới, là giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội; trong phạm vi quốc gia, là giữa “ta” và “địch”. “Địch”, chủ yếu là “ngụy” và “tư sản”, đặc biệt, “tư sản mại bản”.

Bây giờ, theo mô hình ấy, chúng ta thử tìm hiểu các mâu thuẫn chính yếu tại Việt Nam hiện nay là gì.

Trước hết, tạm gác qua một bên những mâu thuẫn ở tầm thế giới. Cái gọi là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không còn là một vấn đề nữa. Thứ nhất, Việt Nam cũng không còn là nước xã hội chủ nghĩa. Bằng chủ trương “kinh tế thị trường”, chính quyền Việt Nam đã thập thò bắt tay với chủ nghĩa tư bản từ lâu rồi. Thứ hai, sức sống và sức mạnh của chính quyền Việt Nam hiện nay chủ yếu được xây dựng nhờ chủ nghĩa tư bản: tư bản mang vốn vào Việt Nam, đầu tư ở Việt Nam, hơn nữa, chính các quốc gia theo chủ nghĩa tư bản đang và sẽ đóng vai trò tích cực trong việc cứu nguy Việt Nam trong cuộc đương đầu với người anh em xã hội chủ nghĩa láng giềng “bốn tốt” của mình.

Những chuyện ấy, ai cũng biết, nên khỏi cần bàn.

Chúng ta chỉ nhìn vào tình hình trong nước.

Mâu thuẫn chính hiện nay là gì? Ngày trước, giới lãnh đạo luôn luôn nhấn mạnh: Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Lâu nay, họ không lặp lại điều đó nữa. Lý do rất dễ hiểu: giới tư sản giàu và mạnh nhất ở Việt Nam hiện nay không ai khác hơn là những người đang cầm quyền. Nhưng khi cán bộ và đảng viên tự biến mình thành giai cấp tư sản mới, tách mình ra khỏi đại đa số quần chúng lao động nhem nhuốc nghèo khổ thì cái gọi là mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản ấy lại biến thành mâu thuẫn giữa đảng và dân chúng. Dĩ nhiên, ở đây vẫn có những khác biệt sâu sắc. Bình thường, tư sản chỉ có tiền. Bây giờ, giai cấp tư sản đỏ không những có tiền mà còn có quyền và quan trọng nhất, có súng và có cả một hệ thống quân đội cũng như công an hùng hậu để đàn áp thẳng tay bất cứ người nào chống đối lại họ, dù chống đối một cách chính đáng khi bị cướp nhà và cướp đất. Giới vô sản ngày trước chỉ bị bóc lột. Giới vô sản bây giờ thì vừa bị bóc lột vừa bị áp bức.

Nhưng mâu thuẫn giữa đảng và dân chúng không dừng lại ở phạm vi kinh tế. Nó còn bao gồm hầu như trong mọi lãnh vực, từ xã hội đến văn hóa và chính trị. Chỉ riêng trong lãnh vực chính trị, mâu thuẫn lớn nhất là ở thái độ đối với nguy cơ bị Trung Quốc xâm lược. Trong lúc dân chúng bừng bừng phẫn nộ, đảng vẫn dửng dưng. Không những dửng dưng, họ còn ra tay vu khống, nhục mạ và trấn áp bất cứ người nào xuống đường hay lên tiếng chống Trung Quốc. Suốt mấy năm vừa qua, đã có bao nhiêu phiên tòa xét xử và kết tội những người yêu nước. Những phiên tòa ấy được dựng lên để một mặt, trả thù những người dám, vì lòng yêu nước, lên tiếng chống Trung Quốc; mặt khác, để răn đe dân chúng. Nhưng việc làm ấy lại có những tác động ngược: nhà cầm quyền hiện hình, thứ nhất, trước mắt thế giới, như những tên độc tài tàn bạo; và thứ hai, trước nhân dân Việt Nam, như những kẻ đã bán mình cho Trung Quốc.

Nhà cầm quyền càng mạnh tay bao nhiêu, tác động ngược thứ hai nêu trên càng lớn bấy nhiêu. Nó càng lớn bao nhiêu, mâu thuẫn giữa đảng và dân chúng càng sâu sắc và khó hóa giải bấy nhiêu. Nhà cầm quyền muốn xoa dịu các mâu thuẫn đó bằng cách gia tăng các nỗ lực tuyên truyền; ngoài các hình thức tuyên truyền truyền thống, bây giờ còn thành lập lực lượng “dư luận viên” chuyên môn nhảy vào các website độc lập để đánh phá, xuyên tạc và bênh vực cho chế độ! Tuy nhiên, đó không phải là những biện pháp có tính chiến lược và hiệu quả.

Mâu thuẫn thứ hai ở Việt Nam bây giờ là mâu thuẫn giữa đảng và chính phủ. Trước, đảng Cộng sản và chính phủ là một. Đúng hơn, chính phủ lúc nào cũng nằm trong tay đảng, chịu sự sai khiến của đảng. Từ thời Lê Duẩn đến Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, thậm chí, thời Lê Khả Phiêu, đảng luôn luôn là kẻ quyết định mọi chuyện. Thủ tướng, ngay cả những thủ tướng có tâm và có tài, như Phạm Văn Đồng và Võ Văn Kiệt, cũng có quyền lực rất hạn chế. Nhưng từ thời Nông Đức Mạnh làm tổng bí thư, do kém năng lực, quyền hành cứ san sẻ dần sang tay thủ tướng. Đến thời Nguyễn Phú Trọng, từ đầu năm 2011, cán cân quyền lực rõ ràng nghiêng hẳn về phía Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trong trận đấu kịch liệt giữa Nguyễn Phú Trọng – Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng vào cuối năm ngoái, ai cũng thấy Nguyễn Tấn Dũng chiếm thế thượng phong. Nhóm Nguyễn Phú Trọng – Trương Tấn Sang, để củng cố thêm thế lực, đã cho tái lập Ban Nội chính Trung ương và giao cho Nguyễn Bá Thanh, một người từ lâu, ở Đà Nẵng, nổi tiếng dám nói dám làm. Bây giờ bên đảng sẽ có ba người, thay vì chỉ có hai như trước. Sau màn đánh phủ đầu Nguyễn Bá Thanh về vấn đề nhà đất ở Đà Nẵng trước khi ông ra Hà Nội tiếp nhận chức vụ mới của Nguyễn Tấn Dũng, mọi người đều tin những trận đấu sắp tới giữa hai phe sẽ càng ngày càng kịch liệt hơn nữa.

Điều cần chú ý là: việc người đứng đầu chính phủ mạnh hơn tổng bí thư đảng nên được xem là một dấu hiệu tích cực. Nhiều người lên tiếng chống lại Điều 4 trong Hiến pháp xem đảng là người duy nhất lãnh đạo đất nước, thường quên một điều: việc thắng thế của thủ tướng đối với tổng bí thư là một điều đáng mừng. Nó chứng tỏ, một, đảng đang yếu thế; và hai, chính phủ đang dần dần tạo được thế độc lập với cái đảng đang yếu thế ấy. Đó là một xu hướng tốt.

Điều nghịch lý là, vị thủ tướng đang ở thế mạnh hơn cả tổng bí thư, và không chừng cả Bộ Chính trị ấy, lại là người nổi tiếng, thứ nhất, về tham nhũng và lợi dụng quyền hành để cho con cái và thân nhân tham nhũng; thứ hai, bất lực trong việc điều hành kinh tế bằng những chính sách sai lầm và cả bằng việc dung dưỡng cho đàn em của mình tham nhũng. Hậu quả là hết tổng công ty này đến đại tập đoàn kia phá sản, để lại những gánh nặng khổng lồ cho dân chúng, không phải chỉ trong thế hệ này mà còn nhiều thế hệ kế tiếp. Thành ra, thế của ông càng mạnh bao nhiêu, tài sản quốc gia càng kiệt quệ bấy nhiêu.

Đối diện với nghịch lý ấy, người dân không khỏi băn khoăn: Bênh vực cho Nguyễn Phú Trọng – Trương Tấn Sang – Nguyễn Bá Thanh vì họ chống tham nhũng cũng có nghĩa là bênh vực cho những thế lực đang phục hồi lại quyền độc tôn của đảng, điều đã gây tai họa cho dân chúng từ gần 60 năm nay (tạm kể từ 1954, ở miền Bắc). Nhưng bênh vực cho Nguyễn Tấn Dũng, tuy, trên lý thuyết, sẽ giúp làm cho chính phủ mạnh hơn, có khả năng dần dần tạo nên những tiền đề tốt cho dân chủ thì lại cũng đồng nghĩa với việc ủng hộ tham nhũng.

Trong bài thơ “Đá ơi” sáng tác năm 1989 ở Campuchia, Nguyễn Duy có mấy câu thơ sau này thường được nhiều người nhắc nhở:

nghĩ cho cùng
mọi cuộc chiến tranh
phe nào thắng thì nhân dân đều bại


Mấy câu thơ ấy không phải lúc nào cũng đúng. Có rất nhiều cuộc chiến tranh, như các cuộc chiến tranh chống độc tài, nhân dân không hề bại. Tuy nhiên, trong tình hình chính trị Việt Nam hiện nay, câu thơ ấy có lẽ là đúng: Ông Lú thắng hay ông Ếch thắng thì nhân dân cũng đều bại cả.

Post Reply