Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Chuyện Chẳng Có Gì Hết
Thật vậy, chuyện chẳng có gì hết. Nhưng sao nó cứ đeo theo ám ảnh tôi từ mấy hôm nay. Tôi cứ nghĩ đến nó, nhớ rõ từng chi tiết, hình ảnh, từng xúc động trong lòng mình lúc đó. Để rồi trăn trở băn khoăn, không biết những người khác – những người Việt Nam cũng lưu vong như tôi – có cùng một tâm trạng như tôi hay không, nếu họ chứng kiến câu chuyện chẳng có gì hết này. Đó là lý do tôi muốn kể lại những gì tôi đã nghe thấy cách đây mấy hôm. Và tôi nghĩ : kể lại, chắc sẽ làm nhẹ bớt những gì từ bao lâu nay tôi chất chứa trong lòng…
...Hôm đó, tôi đi mua đồ ở siêu thị. Sau khi kiểm điểm lại những gì mà vợ tôi dặn mua – một danh sách mười mấy món – tôi đẩy xe caddie lại xếp hàng để ra két. Vì đông người nên hàng thật dài, kéo sâu vào hành lang giữa hai dải kệ đầy bánh kẹo. Tôi đứng ở cuối cái đuôi, kiên nhẫn đợi, bởi vì người xếp hàng đã đông mà caddie của người nào cũng đầy ăm ắp.
Phía trước tôi, cách hai người, có ba con đầm tuổi choai choai chắc đi chung nên thấy xô đẩy nhau cười nói. Chúng nó nói chuyện với nhau, nói lớn tiếng như chúng đang ở ngoài đồng và như đứa này cách đứa kia hàng trăm thước ! Một đứa bỗng lấy ra một điện thoại di-động bấm nút rồi nói chuyện. Vì hai đứa kia đang nói lớn tiếng nên nó phải la lớn hơn để người đối thoại mới nghe. Đại khái, nó hỏi : " Hôm qua mày đi với thằng nào ? ... Super... Ừ ! Ừ !... Thằng Alex hả ?... Génial ! ... Ừm ! Ừm ! … Génial ! ... Rồi mày làm sao ?...Ừm ! Ừm !...". Bỗng nó rú lên vừa nhảy cẫng vừa hét vào máy : " Ố ! Ố !...Super ! Super ! Génial !... Ờ… Thôi ! Mày gọi lại tao há ! Bye ! " Nó đóng máy lại mà mắt môi vẫn còn đầy kích động ! Có vài người nhìn nó, nhưng cái nhìn dửng dưng. Chẳng thấy có ai cau mày hay lắc đầu nhè nhẹ để thấy họ có phản ứng, dù là gián tiếp ! Coi như chuyện bình thường…
Tôi thì tôi không chịu được ! Thật là mất dạy. Mà ở xứ Pháp này, cái thứ mất dạy như vậy, đầy ! Chẳng còn nề nếp gì hết, chẳng còn lễ độ gì hết, chẳng còn kiêng nể gì hết. Loạn !
Chính trong lúc đó tôi nghe phía sau tôi giọng đàn bà nói tiếng Việt Nam : " Sophie ! Đừng làm như vậy ! Mẹ nói đừng làm như vậy !". Ngạc nhiên, tôi nhìn lại : đứng ngay sau tôi là một thiếu phụ Việt Nam tuổi độ ba mươi và một đứa bé gái tóc vàng mắt xanh cỡ chừng bảy tám tuổi. Thấy tôi nhìn, cô ta mỉm cười gật đầu chào, rồi tiếp tục nói với đứa con : " Mẹ dạy con làm sao ? Muốn cái gì cũng phải hỏi ý mẹ trước. Thứ này ở nhà con còn tới hai hộp lận, ăn chưa hết mà con lấy nữa làm gì ?" Đứa bé đứng cúi đầu. Cô ta nói tiếp, giọng hơi gằn : " Sophie ! Nhìn vào mắt mẹ nè !" Đứa bé ngước lên nhìn mẹ, đôi mắt xanh chớp chớp. Người mẹ vừa nói vừa chỉ hộp bánh nằm trong caddie : " Con đem hộp bánh trả lại trên kệ hàng cho mẹ ! Đừng làm cho mẹ giận, Sophie !" Đứa bé làm theo lời mẹ, rồi trở về nắm ống tay áo mẹ giựt giựt nhẹ, giọng như sắp ướt nước mắt : " Mẹ đừng giận con, nghe mẹ. Mẹ đừng giận con…"
Ngạc nhiên, tôi nói : " Cháu nói tiếng Việt giỏi quá, há cô !". Mẹ nó cười tươi : " Dạ, lúc nào nó nói chuyện với cháu nó cũng nói bằng tiếng Việt. Còn nói với ba nó thì nó nói tiếng Pháp". Rồi cô ta quay qua nói với con : "Chào ông đi con". Con bé khoanh tay cúi đầu : "Dạ chào ông". Tôi đưa tay xoa đầu nó, nói được có một tiếng "Giỏi" rồi nghẹn ngang. Tôi vội nhắm mắt quay mặt đi để che giấu niềm xúc động. Nhắm mắt mà tôi vẫn thấy đứa bé khoanh tay cúi đầu chào, một cử chỉ rất tầm thường nhưng sao nó bật lên cho tôi hình ảnh quê hương, cái quê hương ngàn trùng xa cách ? Từ lâu, rất lâu – có lẽ cũng gần ba mươi năm – tôi không còn thấy cái cung cách lễ độ đó. Ở Việt Nam, phần lớn các bà mẹ đều dạy con như vậy. Bây giờ, trên xứ Pháp xa xôi này, một người mẹ Việt Nam trẻ tuổi chẳng những dạy đứa con lai nói rành rọt tiếng Việt mà còn dạy cả cung cách Việt Nam nữa. Người mẹ đó bỏ xứ ra đi, đã biết mang theo những gì quí nhứt của quê hương. Hình ảnh Việt Nam bỗng ngời lên trước mắt…
Trả tiền xong, tôi quay lại nói : "Thôi ! Chào cô nghen ! Thấy cô dạy cháu bé như vậy, tôi thật cảm phục. Ở đây, hiếm lắm, cô biết không ?". Cô ta cười : "Dạ ! Có gì đâu? Mình là người Việt Nam mà bác. Dạ ! Chào bác". Bé gái đang phụ mẹ chất đồ lên quầy cũng ngừng tay nhìn tôi cúi đầu chào… Thấy thương quá !
Trên đường về tôi miên man nghĩ tới người thiếu phụ trẻ tuổi đó và thấy quí những người như vậy vô cùng. Không phải tại vì hiếm mà quí. Mà tại vì nhờ có những người như vậy cái gốc Việt Nam vẫn còn, vẫn có trên khắp các nẻo đường lưu vong.
Rồi liên tưởng nhắc tôi một thằng bạn. Tụi tôi quen thân nhau từ nhỏ. Lớn lên, nó làm trong nhà nước, tôi làm hãng tư, nhưng vẫn thường gặp nhau. Nó di tản trước tháng tư 75 rồi định cư ở Pháp. Tôi bị kẹt lại, sống mấy năm trời lận đận. Sau đó tôi vượt biên. Rồi cũng định cư ở Pháp. Chúng tôi lại gặp nhau ở Paris. Nó làm việc cho nhà nước Pháp, cuộc đời ổn định từ lâu. Tôi lêu bêu một dạo rồi trôi qua Phi Châu mới có công ăn việc làm. Từ đó, chúng tôi bặt tin nhau…
Phải hai mươi năm sau, về Paris tôi mới lại gặp nó. Nó có nhà ở dưới tỉnh, cách Paris cả ngàn cây số. Nhân dịp lên Paris ở hai ngày để dự đám cưới thằng cháu, nó tìm gặp lại tôi ở nhà một người bạn chung. Nói chuyện suốt cả buổi chiều vẫn chưa thấy đã. Sau đó, nó biên cho tôi địa chỉ của nó trên một tờ giấy nhỏ, tôi nhìn mà nhớ lại thuở thiếu thời. Hồi đó, nó là một trong vài thằng viết chữ đẹp nhứt lớp, cho nên ông thầy chỉ định nó mỗi buổi sáng vào lớp trước giờ học để viết trên đầu tấm bảng đen cái thứ trong tuần và ngày tháng năm. Hồi thời đó, được chỉ định như vậy, "hách" ghê lắm ! Bây giờ, tuồng chữ của nó vẫn còn đẹp như xưa nhưng cứng rắn hơn.
Mấy hôm sau, tôi viết cho nó một bức thư dài, nhắc lại những kỷ niệm cũ mà hôm gặp lại nhau còn quên chưa kịp nhắc. Thằng con tôi bảo tôi viết xong đưa nó đánh vào máy vi tính rồi in ra cho tôi. Máy của nó có hệ VNI nên đánh chữ Việt Nam được. Tôi nói : "Không ! Ba muốn gởi thư viết tay, nó trang trọng hơn. Ngoài ra, khi bạn của ba cầm lá thư trên tay, chưa đọc, chỉ nhìn tuồng chữ thôi, ông ta cũng sẽ thấy được ba trong từng nét bút. Còn thư đánh máy, nó không mang một bản sắc nào hết, nó cứng ngắt, vô hồn…"
Mươi ngày sau, tôi nhận được lá thư hồi âm của nó. Thư đánh máy và bằng tiếng Pháp. Tôi cảm thấy thật hụt hẫng. Tôi đâu có dè nó "mất gốc" đến độ như vậy ! Tôi chỉ còn nhìn ra được thằng bạn tôi ở cái chữ ký, còn lại là một thằng tây nào đó chớ không phải một thằng Việt Nam ! Tôi chua xót, nhưng cũng ráng đọc cho hết bức thư trước khi thả nó rơi vào sọt rác. Tình bạn mà tôi đã dành cho nó từ thời tuổi nhỏ chắc cũng đã rơi theo vào sọt rác, nghe nhẹ như hơi thở dài…
Đó ! Câu chuyện không có gì hết mà tôi muốn kể lại. Suy cho cùng, chắc nó có mang một "cái gì đó" chớ không phải "không có gì hết". Tại vì tôi không thấy. Chớ nếu nó không "nói" lên cái gì hết thì tại sao tôi cứ phải nghĩ ngợi băn khoăn ?
Có lẽ tại vì lâu nay tôi thường nghe người Việt lưu vong than đã mất quê hương, mà tôi thì cứ cho là chuyện bình thường, chẳng có gì phải suy nghĩ. Chính cái cung cách khoanh tay cuối đầu chào của cô bé tóc vàng mắt xanh đã bắt tôi phải suy nghĩ. Nếu người Việt lưu vong giống thằng bạn của tôi thì đúng là họ đã để mất quê hương thật. Còn như họ giống mẹ con người thiếu phụ trẻ tuổi mà tôi gặp trong siêu thị thì làm sao nói mất quê hương ?
Quê hương còn nguyên đó chớ, thể hiện bằng tư duy, bằng ngôn ngữ, bằng phong cách đặc thù Việt Nam. Đó là cái gốc mà mình đã mang theo, chỉ cần một quyết tâm gìn giữ, vun bồi là nó sẽ đâm chồi nẩy lộc… Còn hay hơn nữa : mình nên bắt chước người mẹ trẻ tuổi đó, coi chuyện gìn giữ cái gốc là chuyện tự nhiên, ai ai cũng phải làm.
Tôi nhớ hoài câu nói của cô ta : "Dạ ! Có gì đâu ? Mình là người Việt Nam mà bác !". Và tôi tin chắc : một người như cô ta chẳng bao giờ than rằng đã mất quê hương !
Bây giờ thì tôi thấy "câu chuyện không có gì hết" thật sự không phải không có gì hết !
Tiểu Tử
ANH NẰM XUỐNG
Lm. VĨNH SANG, DCCT, 26.12.2014
"Em nào mà gặp Soeur này, chắc chắn sẽ xin đi tu thôi". Người bạn cùng đi với chúng tôi thốt lên như vậy. Hẳn tôi không nghĩ như thế nhưng một ngày làm việc với nhau, người Nữ Tu này đã để lại nơi tôi nhiều cung bậc cảm xúc.
Người bạn cùng đi với chúng tôi nói tiếp: "Con đã rất quen với các cơ sở từ thiện, đến nhiều nơi, gặp nhiều người, con muốn nói đến sự quen thuộc, nhưng Soeur này để lại trong con nhiều ấn tượng mạnh mẽ, quả thật diệu kỳ".
Đúng vậy, với các "thành tích": nuôi các chị em mang thai ngoài ý muốn, nuôi các cháu cô nhi, quy tụ nâng đỡ người già neo đơn, kẻ nghèo khó, mỗi ngày phục vụ 300 tô cháo ở bệnh viện, chôn cất các thai nhi bị phá bỏ... là những hình thức bác ái quen thuộc. Khó khăn có, gian lao có, thách thức có, nhất là công viêc Bảo Vệ Sự Sống những năm khởi đầu khi hiếm có nơi nào làm. Nhưng những khó khăn ấy nhờ ơn Chúa, với thời gian và lòng quảng đại của nhiều người, sẽ không đến nỗi là những ngăn trở hiểm nguy cho lắm đối với chị. Trong sứ mạng của chị, chị cũng đã vượt qua.
Nhưng rồi, cách đây vài năm, qua thông tin của dân chúng, chị biết có vài ngôi mộ vùi dập thân xác những người vượt biển chết trôi dạt vào bờ. Người ta bắt đầu cần đất bờ biển để làm du lịch. Không ai là thân nhân của những người xấu số, chị đứng ra nhận rồi cải táng về nghĩa trang Giáo Xứ, ngày ngày thăm viếng, đốt một nén nhang cho ấm áp hương hồn. Tin này truyền đi trong dân chúng quanh vùng. Và thế là một ngày "duyên nợ" lại đến.
Người ta dẫn chị đến một ngọn đồi với cái tên thật thơ mộng, "Đồi hoa sim". Hàng trăm ngôi mộ đất hoàng tàn của những người lính Việt Nam Cộng Hòa năm xưa. Những trận đánh khốc liệt của những ngày tháng tư năm 75, cuộc tan hàng vội vã bỏ lại phía sau những anh em đồng đội đã gục ngã... Rồi thất trận ly tán bốn phương, những ngôi mộ đất rơi vào quên lãng, âm thầm lặng lẽ u buồn theo năm tháng...
Rồi lại một nghĩa trang khác của một trại lính, cũng vậy, lác đác vài chục ngôi mộ, trại lính năm xưa chỉ còn là cỏ dại, cô quạnh với những cành sim khô khốc...
Rồi lại một trại tù cải tạo, người ta phát hiện ra vài ngôi mộ năm chơ vơ giữa đồng cát. Trại tù đã giải thể, bỏ lại cánh đồng vắng những kẻ chết rũ tù chẳng biết tự bao giờ !
Chị đã bật khóc nhiều lần khi kể lại cho chúng tôi nghe. Chị dẫn chúng tôi đến từng ngôi mộ, kể lể chi tiết, rằng khi đào lên bên trong còn những gì. Thật khó, hơn 400 ngôi mộ vô danh, chị ghi lại lý lịch từng ngôi mộ, cái này xác còn cuốn trong Poncho, cái này đôi giầy còn nguyên vẹn, cái này có răng vàng, cái này còn cái đinh niken ở ống chân... May mắn có tất cả 74 ngôi mộ bên dưới còn giữ được chiếc thẻ bài của người lính.
Với các chi tiết có được, chị ghi chép cẩn thận và bày tỏ với chúng tôi nỗi trăn trở làm cách nào đây để thân nhân từng người lính này biết được nơi an nghỉ của họ, làm cách nào để những con người đã nằm xuống có ngày nhận được những nén nhang từ tay người thân của mình cắm trên phần mộ... Chị không mong ước gì hơn và hoàn toàn không có một mục đích nào khác ngoài việc quy tập anh em, cầu kinh khấn nguyện và cùng anh em ngóng đợi người thân...

Tôi đi dọc theo những hàng mộ xây dựng thẳng tắp ngay ngắn, xin lỗi chị, dưới con mắt của người biết chút ít về nghệ thuật kiến trúc, tôi thấy việc xây dựng mộ khá thô vụng xét về kiểu dáng, về chất liệu cũng như mầu sắc, nhưng tôi khâm phục chị và các cộng tác viên vô cùng. Làm sao một phụ nữ mỏng manh bình dị như thế, một Nữ Tu lẽ ra bằng lòng với câu kinh tiếng kệ trong bốn bức tường Tu Viện, chị lại xông pha sương gió làm gì, nhận lấy những gian lao khốn khó làm gì, đối đầu với bao rủi ro hiểm nguy đến từ một chế độ quá nhiều ác cảm và phân biệt đối xử làm gì, và bởi đâu chị lại kiên trì âm thầm thực hiện được một công việc quá to lớn như vậy ? Cánh đàn ông chúng tôi có thể biết làm đấy, nhưng có dám làm, có dám chịu trách nhiệm ? Người ta chỉ bằng lòng dừng lại với việc "cầu cho các linh hồn mồ côi", thế thôi, chớ có dại làm gì ảnh hưởng đến các hoạt động mục vụ khác, thậm chí có khi người ta còn nại đến... vì lợi ích Dân Chúa ! Thật buồn...
Thấy tôi ngạc nhiên về những cành hoa tươi cắm đều trên các phần mộ, chị giải thích: "Có một vị ân nhân ở Đà Lạt, đôi ba ngày lại gởi xuống một giỏ hoa tươi, chúng con chỉ việc nhặt nhạnh rồi cắm vào các ngôi mộ, nhang thì chúng con thắp mỗi ngày". Vùng giáp biển nên gió thổi rất mạnh, một cái giếng được đào bên rìa nghĩa trang, cứ vài ngày thì các ngôi mộ được bơm nước rửa sạch bụi bặm. Một bức tường cao được xây dựng để ngăn trâu bò len vào giẫm đạp. Lại có hai người thường xuyên ngoài nghĩa trang đến để dọn dẹp quang quẻ sạch sẽ cũng như tiếp tục chôn cất các thai nhi.
Một ngày làm việc trôi qua với nhiều cảm xúc, chúng tôi quây quần quanh nhau để lắng đọng tâm hồn cùng với lời cầu kinh cho những người đã nằm xuống, ráng chiều đã rực lên, gió hoàng hôn đã bắt đầu những cơn quần quật. Mọi người lặng thinh với không gian và với chính mình. Trên đường về không ai bảo ai, lòng như trùng xuống ngậm ngùi, chạnh nhớ một bài hát của Trịnh:
"Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây,
Đã vui chơi trong cuộc đời này,
Đã bay cao trong vòm trời đầy,
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai,
Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời
Ru anh ngủ vùi, mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi!...
May quá, ở nghĩa trang này, không chỉ có chim trời và hoa dại, mà vẫn luôn có đó một chị Nữ Tu ân cần tận tụy và những con người tốt bụng chăm sóc gần gũi các anh...
http://www.chuacuuthe.com/2015/01/anh-nam-xuong-2/
Lm. VĨNH SANG, DCCT, 26.12.2014
"Em nào mà gặp Soeur này, chắc chắn sẽ xin đi tu thôi". Người bạn cùng đi với chúng tôi thốt lên như vậy. Hẳn tôi không nghĩ như thế nhưng một ngày làm việc với nhau, người Nữ Tu này đã để lại nơi tôi nhiều cung bậc cảm xúc.
Người bạn cùng đi với chúng tôi nói tiếp: "Con đã rất quen với các cơ sở từ thiện, đến nhiều nơi, gặp nhiều người, con muốn nói đến sự quen thuộc, nhưng Soeur này để lại trong con nhiều ấn tượng mạnh mẽ, quả thật diệu kỳ".
Đúng vậy, với các "thành tích": nuôi các chị em mang thai ngoài ý muốn, nuôi các cháu cô nhi, quy tụ nâng đỡ người già neo đơn, kẻ nghèo khó, mỗi ngày phục vụ 300 tô cháo ở bệnh viện, chôn cất các thai nhi bị phá bỏ... là những hình thức bác ái quen thuộc. Khó khăn có, gian lao có, thách thức có, nhất là công viêc Bảo Vệ Sự Sống những năm khởi đầu khi hiếm có nơi nào làm. Nhưng những khó khăn ấy nhờ ơn Chúa, với thời gian và lòng quảng đại của nhiều người, sẽ không đến nỗi là những ngăn trở hiểm nguy cho lắm đối với chị. Trong sứ mạng của chị, chị cũng đã vượt qua.
Nhưng rồi, cách đây vài năm, qua thông tin của dân chúng, chị biết có vài ngôi mộ vùi dập thân xác những người vượt biển chết trôi dạt vào bờ. Người ta bắt đầu cần đất bờ biển để làm du lịch. Không ai là thân nhân của những người xấu số, chị đứng ra nhận rồi cải táng về nghĩa trang Giáo Xứ, ngày ngày thăm viếng, đốt một nén nhang cho ấm áp hương hồn. Tin này truyền đi trong dân chúng quanh vùng. Và thế là một ngày "duyên nợ" lại đến.
Người ta dẫn chị đến một ngọn đồi với cái tên thật thơ mộng, "Đồi hoa sim". Hàng trăm ngôi mộ đất hoàng tàn của những người lính Việt Nam Cộng Hòa năm xưa. Những trận đánh khốc liệt của những ngày tháng tư năm 75, cuộc tan hàng vội vã bỏ lại phía sau những anh em đồng đội đã gục ngã... Rồi thất trận ly tán bốn phương, những ngôi mộ đất rơi vào quên lãng, âm thầm lặng lẽ u buồn theo năm tháng...
Rồi lại một nghĩa trang khác của một trại lính, cũng vậy, lác đác vài chục ngôi mộ, trại lính năm xưa chỉ còn là cỏ dại, cô quạnh với những cành sim khô khốc...
Rồi lại một trại tù cải tạo, người ta phát hiện ra vài ngôi mộ năm chơ vơ giữa đồng cát. Trại tù đã giải thể, bỏ lại cánh đồng vắng những kẻ chết rũ tù chẳng biết tự bao giờ !
Chị đã bật khóc nhiều lần khi kể lại cho chúng tôi nghe. Chị dẫn chúng tôi đến từng ngôi mộ, kể lể chi tiết, rằng khi đào lên bên trong còn những gì. Thật khó, hơn 400 ngôi mộ vô danh, chị ghi lại lý lịch từng ngôi mộ, cái này xác còn cuốn trong Poncho, cái này đôi giầy còn nguyên vẹn, cái này có răng vàng, cái này còn cái đinh niken ở ống chân... May mắn có tất cả 74 ngôi mộ bên dưới còn giữ được chiếc thẻ bài của người lính.
Với các chi tiết có được, chị ghi chép cẩn thận và bày tỏ với chúng tôi nỗi trăn trở làm cách nào đây để thân nhân từng người lính này biết được nơi an nghỉ của họ, làm cách nào để những con người đã nằm xuống có ngày nhận được những nén nhang từ tay người thân của mình cắm trên phần mộ... Chị không mong ước gì hơn và hoàn toàn không có một mục đích nào khác ngoài việc quy tập anh em, cầu kinh khấn nguyện và cùng anh em ngóng đợi người thân...

Tôi đi dọc theo những hàng mộ xây dựng thẳng tắp ngay ngắn, xin lỗi chị, dưới con mắt của người biết chút ít về nghệ thuật kiến trúc, tôi thấy việc xây dựng mộ khá thô vụng xét về kiểu dáng, về chất liệu cũng như mầu sắc, nhưng tôi khâm phục chị và các cộng tác viên vô cùng. Làm sao một phụ nữ mỏng manh bình dị như thế, một Nữ Tu lẽ ra bằng lòng với câu kinh tiếng kệ trong bốn bức tường Tu Viện, chị lại xông pha sương gió làm gì, nhận lấy những gian lao khốn khó làm gì, đối đầu với bao rủi ro hiểm nguy đến từ một chế độ quá nhiều ác cảm và phân biệt đối xử làm gì, và bởi đâu chị lại kiên trì âm thầm thực hiện được một công việc quá to lớn như vậy ? Cánh đàn ông chúng tôi có thể biết làm đấy, nhưng có dám làm, có dám chịu trách nhiệm ? Người ta chỉ bằng lòng dừng lại với việc "cầu cho các linh hồn mồ côi", thế thôi, chớ có dại làm gì ảnh hưởng đến các hoạt động mục vụ khác, thậm chí có khi người ta còn nại đến... vì lợi ích Dân Chúa ! Thật buồn...
Thấy tôi ngạc nhiên về những cành hoa tươi cắm đều trên các phần mộ, chị giải thích: "Có một vị ân nhân ở Đà Lạt, đôi ba ngày lại gởi xuống một giỏ hoa tươi, chúng con chỉ việc nhặt nhạnh rồi cắm vào các ngôi mộ, nhang thì chúng con thắp mỗi ngày". Vùng giáp biển nên gió thổi rất mạnh, một cái giếng được đào bên rìa nghĩa trang, cứ vài ngày thì các ngôi mộ được bơm nước rửa sạch bụi bặm. Một bức tường cao được xây dựng để ngăn trâu bò len vào giẫm đạp. Lại có hai người thường xuyên ngoài nghĩa trang đến để dọn dẹp quang quẻ sạch sẽ cũng như tiếp tục chôn cất các thai nhi.
Một ngày làm việc trôi qua với nhiều cảm xúc, chúng tôi quây quần quanh nhau để lắng đọng tâm hồn cùng với lời cầu kinh cho những người đã nằm xuống, ráng chiều đã rực lên, gió hoàng hôn đã bắt đầu những cơn quần quật. Mọi người lặng thinh với không gian và với chính mình. Trên đường về không ai bảo ai, lòng như trùng xuống ngậm ngùi, chạnh nhớ một bài hát của Trịnh:
"Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây,
Đã vui chơi trong cuộc đời này,
Đã bay cao trong vòm trời đầy,
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai,
Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời
Ru anh ngủ vùi, mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi!...
May quá, ở nghĩa trang này, không chỉ có chim trời và hoa dại, mà vẫn luôn có đó một chị Nữ Tu ân cần tận tụy và những con người tốt bụng chăm sóc gần gũi các anh...
http://www.chuacuuthe.com/2015/01/anh-nam-xuong-2/
Ai bất hạnh hơn ai?
Nguyễn Hưng Quốc
Cuộc hội thảo về 20 năm văn học Miền Nam được tổ chức tại toà soạn hai tờ nhật báo lớn ở California, Người Việt và Việt Báo, trong hai ngày 6 và 7 tháng 12, 2014 vừa rồi, gây được tiếng vang khá tốt. Một trong những biểu hiện của tiếng vang ấy được dội lên trong một bài viết ngắn của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn trên blog của ông. Một trong những nội dung của bài viết là nhằm phản đối một quan điểm của tôi, trong bài thuyết trình “Văn học miền Nam trong tiến trình hiện đại hoá của văn học dân tộc”, được trình bày trong cuộc hội thảo, trong đó, tôi nêu lên một nhận định: văn học Miền Nam là một nền văn học bất hạnh nhất trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
Vương Trí Nhàn phản bác nhận định ấy bằng hai lý do: Một, nếu muốn dùng chữ “bất hạnh”, theo ông, cả văn học miền Bắc cũng như hầu hết các nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa tại Trung Quốc và Liên Xô trước đây đều bất hạnh. Hai, nếu hiểu bất hạnh theo nghĩa bị cấm đoán, theo Vương Trí Nhàn, “Cái đó có, nhưng tình cảnh đâu đến nỗi bi đát lắm, hiện nay nó đang được khôi phục dần dần”.
Về ý thứ nhất, Vương Trí Nhàn nói đúng được một nửa. Nếu giới hạn trong quãng thời gian từ 1954 đến 1975, quả thực văn học miền Bắc, cũng như mọi nền văn học hiện thực xã hội khác dưới các chế độ cộng sản nói chung, bất hạnh hơn hẳn văn học miền Nam. Ở miền Nam, không có ai, chỉ vì một truyện ngắn vu vơ viết cho trẻ con như của Hoàng Cát, một bài thơ ngắn nêu những nghĩ ngợi bâng quơ về khói bom như của Phạm Tiến Duật, một cuốn tiểu thuyết vô thưởng vô phạm như “Vào đời” của Hà Minh Tuân… mà tác giả bị lên án kịch liệt; có người bị cấm xuất bản đến cả mấy chục năm. Ở miền Nam cũng không hề có vụ án văn học nào như vụ Nhân Văn Giai Phẩm, ở đó, nhiều văn nghệ sĩ được xem là có tài nhất trong thế hệ của họ bị đẩy đi lao động cải tạo trong nhiều năm và cuối cùng, bị cấm xuất bản trong suốt 30 năm. Ở miền Nam, giới văn nghệ chưa bao giờ bị chính quyền khinh rẻ, coi như là “con nít” cần cầm tay chỉ đường như lời than thở của Nguyễn Đăng Mạnh ở miền Bắc. Ở miền Nam cũng không có nhà văn hay nhà thơ nào ở tình cảnh vừa viết được một câu trung lại phải vội vã viết một câu nịnh để tự thâm tâm lúc nào cũng thấy nhục nhã là mình “hèn” như lời kể của Nguyễn Minh Châu ở miền Bắc.
Ai cũng biết miền Nam, trong thời kỳ 1954-75, không phải tự do hoàn toàn. Giới cầm bút vẫn đối diện với kiểm duyệt. Trong nhiều tác phẩm, người ta thấy loang lổ những chỗ trống với dòng chữ “kiểm duyệt đục bỏ”. Tuy nhiên, hệ thống kiểm duyệt ấy vẫn khác hẳn hệ thống kiểm duyệt ở miền Bắc trong cùng thời kỳ. Thứ nhất, ở sự chừng mực: phần lớn chỉ đục bỏ vài chữ, vài câu hay vài đoạn chứ hiếm khi cấm cả tác phẩm. Thứ hai, việc kiểm duyệt chỉ nhắm vào từng tác phẩm cụ thể chứ không phải là tác giả: Ngay cả khi tác phẩm bị cấm thì tác giả vẫn được tự do để viết tiếp. Thứ ba, mức độ kiểm duyệt cũng rất nhẹ nhàng. Trong số các tác giả nổi tiếng ở miền Nam thời ấy, không có ai có tác phẩm bị cấm xuất bản hoặc bị thu hồi cả. Thứ tư, chính quyền chỉ dừng lại ở biện pháp cấm ca tụng cộng sản nhưng không kiểm duyệt những tác phẩm nhắm phê phán chính phủ và, quan trọng nhất, không bắt giới cầm bút phải viết như thế này hay như thế khác.
Nhờ khá tự do như vậy nên ở miền Nam, nhiều cây bút ai cũng biết là cộng sản nằm vùng như Vũ Hạnh hoặc ai cũng thấy là thân cộng như Nguyễn Ngọc Lan và Trương Bá Cần trong nhóm Đối Diện, vẫn xuất bản hết tác phẩm này đến tác phẩm khác. Nhiều tờ báo và tạp chí không ngừng lên tiếng chống đối chính quyền vẫn tiếp tục được lưu hành.
Bởi vậy, Vương Trí Nhàn nói đúng khi cho không chỉ văn học miền Nam mà cả văn học miền Bắc cũng bất hạnh. Thật ra, chính xác hơn, có thể khẳng định: văn học miền Bắc bất hạnh hơn hẳn văn học miền Nam.
Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào thời kỳ sau năm 1975 thì sao? Thì, hầu hết các cuốn sách hay tạp chí xuất bản trước đó đều bị tịch thu và thiêu huỷ. Thì rất nhiều nhà văn và nhà thơ bị bắt đi tù hoặc cải tạo, có người (như Trần Dạ Từ, Tô Thuỳ Yên, Phan Nhật Nam và Thảo Trường) bị giam giữ trên 10 năm; có người bị chết trong nhà tù hoặc chỉ được trả tự do khi gần chết (như Hồ Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường). Dù bị ở tù hay không ở tù, sự nghiệp viết lách của tất cả các cây bút ở miền Nam cũng đều bị phủ định, hơn nữa, bị vu khống và miệt thị là văn học tay sai, văn học nô dịch, văn học thực dân mới hay văn học Mỹ nguỵ, và gần đây nhất, văn học đô thị, chỉ thuộc về đô thị mà thôi.
Khi nói văn học miền Nam là một nền văn học bất hạnh, tôi chỉ nhắm vào cái “hậu vận” sau năm 1975 ấy. Tôi thực tình không hiểu nổi tại sao Vương Trí Nhàn, kẻ chứng kiến tất cả những đòn trả thù tàn bạo đối với văn học miền Nam sau năm 1975 mà lại cho “Cái đó có, nhưng tình cảnh đâu đến nỗi bi đát lắm”. Vậy thế nào mới thực bi đát? Sách báo bị tịch thu và thiêu huỷ; tác giả bị bắt bớ tù đày; cả một nền văn học kéo dài hai mươi năm bị xuyên tạc và nhục mạ…vẫn chưa phải là “bi đát” sao?
Vương Trí Nhàn cho hiện nay nền văn học miền Nam “đang được khôi phục dần dần”. Tôi cũng biết như vậy. Hiện nay một số tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu, thậm chí, một vài tập tạp văn của Võ Phiến cũng đã được tái bản. Nhưng số lượng tác phẩm được in lại so với cả hàng ngàn tác phẩm đã xuất bản trước đây chỉ là một vài giọt nước so với đại dương. Chả lẽ chỉ vì vậy mà chúng ta có thể lạc quan cho tính chất bất hạnh của một nền văn học bị vùi dập đã thuộc về dĩ vãng ư?
Nguyễn Hưng Quốc
Cuộc hội thảo về 20 năm văn học Miền Nam được tổ chức tại toà soạn hai tờ nhật báo lớn ở California, Người Việt và Việt Báo, trong hai ngày 6 và 7 tháng 12, 2014 vừa rồi, gây được tiếng vang khá tốt. Một trong những biểu hiện của tiếng vang ấy được dội lên trong một bài viết ngắn của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn trên blog của ông. Một trong những nội dung của bài viết là nhằm phản đối một quan điểm của tôi, trong bài thuyết trình “Văn học miền Nam trong tiến trình hiện đại hoá của văn học dân tộc”, được trình bày trong cuộc hội thảo, trong đó, tôi nêu lên một nhận định: văn học Miền Nam là một nền văn học bất hạnh nhất trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
Vương Trí Nhàn phản bác nhận định ấy bằng hai lý do: Một, nếu muốn dùng chữ “bất hạnh”, theo ông, cả văn học miền Bắc cũng như hầu hết các nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa tại Trung Quốc và Liên Xô trước đây đều bất hạnh. Hai, nếu hiểu bất hạnh theo nghĩa bị cấm đoán, theo Vương Trí Nhàn, “Cái đó có, nhưng tình cảnh đâu đến nỗi bi đát lắm, hiện nay nó đang được khôi phục dần dần”.
Về ý thứ nhất, Vương Trí Nhàn nói đúng được một nửa. Nếu giới hạn trong quãng thời gian từ 1954 đến 1975, quả thực văn học miền Bắc, cũng như mọi nền văn học hiện thực xã hội khác dưới các chế độ cộng sản nói chung, bất hạnh hơn hẳn văn học miền Nam. Ở miền Nam, không có ai, chỉ vì một truyện ngắn vu vơ viết cho trẻ con như của Hoàng Cát, một bài thơ ngắn nêu những nghĩ ngợi bâng quơ về khói bom như của Phạm Tiến Duật, một cuốn tiểu thuyết vô thưởng vô phạm như “Vào đời” của Hà Minh Tuân… mà tác giả bị lên án kịch liệt; có người bị cấm xuất bản đến cả mấy chục năm. Ở miền Nam cũng không hề có vụ án văn học nào như vụ Nhân Văn Giai Phẩm, ở đó, nhiều văn nghệ sĩ được xem là có tài nhất trong thế hệ của họ bị đẩy đi lao động cải tạo trong nhiều năm và cuối cùng, bị cấm xuất bản trong suốt 30 năm. Ở miền Nam, giới văn nghệ chưa bao giờ bị chính quyền khinh rẻ, coi như là “con nít” cần cầm tay chỉ đường như lời than thở của Nguyễn Đăng Mạnh ở miền Bắc. Ở miền Nam cũng không có nhà văn hay nhà thơ nào ở tình cảnh vừa viết được một câu trung lại phải vội vã viết một câu nịnh để tự thâm tâm lúc nào cũng thấy nhục nhã là mình “hèn” như lời kể của Nguyễn Minh Châu ở miền Bắc.
Ai cũng biết miền Nam, trong thời kỳ 1954-75, không phải tự do hoàn toàn. Giới cầm bút vẫn đối diện với kiểm duyệt. Trong nhiều tác phẩm, người ta thấy loang lổ những chỗ trống với dòng chữ “kiểm duyệt đục bỏ”. Tuy nhiên, hệ thống kiểm duyệt ấy vẫn khác hẳn hệ thống kiểm duyệt ở miền Bắc trong cùng thời kỳ. Thứ nhất, ở sự chừng mực: phần lớn chỉ đục bỏ vài chữ, vài câu hay vài đoạn chứ hiếm khi cấm cả tác phẩm. Thứ hai, việc kiểm duyệt chỉ nhắm vào từng tác phẩm cụ thể chứ không phải là tác giả: Ngay cả khi tác phẩm bị cấm thì tác giả vẫn được tự do để viết tiếp. Thứ ba, mức độ kiểm duyệt cũng rất nhẹ nhàng. Trong số các tác giả nổi tiếng ở miền Nam thời ấy, không có ai có tác phẩm bị cấm xuất bản hoặc bị thu hồi cả. Thứ tư, chính quyền chỉ dừng lại ở biện pháp cấm ca tụng cộng sản nhưng không kiểm duyệt những tác phẩm nhắm phê phán chính phủ và, quan trọng nhất, không bắt giới cầm bút phải viết như thế này hay như thế khác.
Nhờ khá tự do như vậy nên ở miền Nam, nhiều cây bút ai cũng biết là cộng sản nằm vùng như Vũ Hạnh hoặc ai cũng thấy là thân cộng như Nguyễn Ngọc Lan và Trương Bá Cần trong nhóm Đối Diện, vẫn xuất bản hết tác phẩm này đến tác phẩm khác. Nhiều tờ báo và tạp chí không ngừng lên tiếng chống đối chính quyền vẫn tiếp tục được lưu hành.
Bởi vậy, Vương Trí Nhàn nói đúng khi cho không chỉ văn học miền Nam mà cả văn học miền Bắc cũng bất hạnh. Thật ra, chính xác hơn, có thể khẳng định: văn học miền Bắc bất hạnh hơn hẳn văn học miền Nam.
Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào thời kỳ sau năm 1975 thì sao? Thì, hầu hết các cuốn sách hay tạp chí xuất bản trước đó đều bị tịch thu và thiêu huỷ. Thì rất nhiều nhà văn và nhà thơ bị bắt đi tù hoặc cải tạo, có người (như Trần Dạ Từ, Tô Thuỳ Yên, Phan Nhật Nam và Thảo Trường) bị giam giữ trên 10 năm; có người bị chết trong nhà tù hoặc chỉ được trả tự do khi gần chết (như Hồ Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường). Dù bị ở tù hay không ở tù, sự nghiệp viết lách của tất cả các cây bút ở miền Nam cũng đều bị phủ định, hơn nữa, bị vu khống và miệt thị là văn học tay sai, văn học nô dịch, văn học thực dân mới hay văn học Mỹ nguỵ, và gần đây nhất, văn học đô thị, chỉ thuộc về đô thị mà thôi.
Khi nói văn học miền Nam là một nền văn học bất hạnh, tôi chỉ nhắm vào cái “hậu vận” sau năm 1975 ấy. Tôi thực tình không hiểu nổi tại sao Vương Trí Nhàn, kẻ chứng kiến tất cả những đòn trả thù tàn bạo đối với văn học miền Nam sau năm 1975 mà lại cho “Cái đó có, nhưng tình cảnh đâu đến nỗi bi đát lắm”. Vậy thế nào mới thực bi đát? Sách báo bị tịch thu và thiêu huỷ; tác giả bị bắt bớ tù đày; cả một nền văn học kéo dài hai mươi năm bị xuyên tạc và nhục mạ…vẫn chưa phải là “bi đát” sao?
Vương Trí Nhàn cho hiện nay nền văn học miền Nam “đang được khôi phục dần dần”. Tôi cũng biết như vậy. Hiện nay một số tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu, thậm chí, một vài tập tạp văn của Võ Phiến cũng đã được tái bản. Nhưng số lượng tác phẩm được in lại so với cả hàng ngàn tác phẩm đã xuất bản trước đây chỉ là một vài giọt nước so với đại dương. Chả lẽ chỉ vì vậy mà chúng ta có thể lạc quan cho tính chất bất hạnh của một nền văn học bị vùi dập đã thuộc về dĩ vãng ư?

BỆNH CÀ CHỚN Cà trong cái nghĩa đầu tiên của nó là một danh từ dùng để gọi một loài thực vật cho quả ăn được. Nhưng trong cái loài quả gọi là cà này cũng còn được phân biệt ra làm nhiều giống: Nào là cà pháo, cà dái dê hay cà tím, cà dĩa hay còn gọi là cà dòn v.v...
Ngoài các loại cà vốn được người dân xứ ta trồng để làm thực phẩm từ lâu đời nói trên, còn có một số cà thuộc loại ngoại lai du nhập như cà chua hay có người còn gọi là cà "tô mát" cho có vẻ ta đây cũng rành tiếng Tây, và vài thứ có tên do gọi theo phiên âm mà có tiếng cà nhưng không hẳn là cà như cà rốt, cà phê v.v...
Cà chua cũng là một loại rau quả nhưng chỉ mới xuất hiện ở xứ ta từ lúc có các ông Tây bà đầm qua "khai hóa" cho dân ta và tập cho dân ta làm quen với những món ăn Tây phương, nhờ thế mà dân ta mới biết ăn cà chua và trồng cà chua để bổ sung cho danh sách rau quả bán ở ngoài chợ.
Cà chua ngoài việc được dùng làm thực phẩm như ăn sống, nấu chín, làm thành sốt cà, nước giải khát bổ dưỡng có nhiều sinh tố v.v... còn được xử dụng như là một loại vũ khí tuy không có khả năng sát hại hay gây thương tích cho người bị tấn công nhưng cũng đủ làm sứt mẻ uy tín của người đó. Một nghệ sĩ bất tài, trình diễn bị bể dĩa thì thay vì được khán giả tặng hoa, lại được khán giả tặng cho mấy quả cà chua thối. Mấy chính khách, lãnh tụ tầm cỡ quốc gia có những chính sách, chủ trương, đường lối không phù hợp với quyền lợi hay nguyện vọng của nhân dân một nước khác, hay một tập thể nào đó thì khi công du đến các vùng ấy thế nào cũng có những cuộc dàn chào bằng cà chua thối của những nhóm người chống đối.
Còn như cà rốt cũng là một loại thực phẩm nhưng thật ra cà rốt không phải là loại quả mà chính là một loại rể củ ăn được nhưng vì gọi theo phiên âm tiếng Tây nên vẫn có tiếng cà. Tuy nhiên khi nói đến cà phê thì lại đúng là một loại trái cây nhưng không phải dùng để ăn mà chỉ dùng để lấy hột đem rang cho cháy đen ngòm lên rồi xay nhỏ để chế nước sôi vào tạo thành một loại nước uống có màu đen sẫm và vị thì đắng đắng nhưng lại có mùi hương thơm rất quyến rũ, và khi uống vào thì thấy tinh thần như sảng khoái ra. Món này cũng được các ông Tây bà đầm du nhập vào xứ ta vào thời nước ta bị Phú Lãng Sa đô hộ, tuy nhiên sau đó dân ta cũng rất đông người đâm ra ghiền cái món cà phê này đến nỗi có nhiều người sáng dậy mở mắt ra mà không có ly cà phê để nhâm nhi là không chịu được. Không những thế, hai tiếng cà phê còn được biến hóa thành cụm từ "cà phê cà pháo", một thứ thành ngữ được dùng để chỉ một phương thức xã giao trong đời sống xã hội. Bạn bè gặp nhau vẫn hay có thói quen rủ nhau đi uống cà phê để tâm sự. Dân mánh mung hay người muốn cầu cạnh người khác một điều gì đó thì phải biết lo hối lộ, nhưng lại được nói khéo ra là lo cà phê cà pháo cho kẻ mình muốn nhờ vả thì mới mong đạt được mục đích.
Ngoài những món cà được xem là thực phẩm cho người kể trên, còn có một loại cà gọi là cà dược hay có khi còn gọi là cà độc dược là loại cà dại mọc hoang, cũng có quả nhưng nếu ăn vào thì coi như là đi đoong luôn, tuy nhiên đôi khi lại được người ta dùng để chế biến thành một vài vị thuốc đặc biệt "dĩ độc trị độc" theo kiểu Đông y, không kể cái mục đích dùng làm thuốc độc thật sự.
Mặc dù khi nói đến cà được dùng làm thực phẩm thì các loại cà như cà tím, cà dĩa thường được đánh giá cao hơn vì có thể chế biến thành nhiều món ăn khoái khẩu như đem xào với thịt ba rọi, nướng chín thoa mỡ hành, nấu với da heo thành món cà bung chẳng hạn, nhưng ăn theo kiểu này thường đòi hỏi khi nấu nướng phải kèm theo vài món phụ hay gia vị hành mỡ hơi tốn kém cho nên phải là những gia đình khá giả một tí thì mới hay ăn theo kiểu đó. Chỉ riêng có món cà pháo là bình dân nhất do cách ăn cũng rất đơn giản và cách chế biến cũng dễ dàng không tốn kém vì người ta có thể dùng nó để ăn sống chấm với tí mắm tôm hoặc thông dụng nhất là đem phơi cho héo rồi bỏ vào nước muối ngâm như kiểu muối dưa cải một thời gian cho cà trở thành chua chua mặn mặn để dành làm món mặn đưa cơm được rồi.
Chính vì vậy mà khi nhắc đến cà thì hầu như người dân Việt nào từng sinh ra và lớn lên ở mảnh đất quê hương tự hào có bốn ngàn năm văn hiến nhưng vẫn quanh quẩn với cái nghèo tất nhiên sẽ nghĩ ngay đến món cà pháo trước tiên, vì nhà nghèo thì thường bữa cơm không mấy khi có thịt cá mà chỉ có món cà pháo muối dưa làm chuẩn. Riêng trong Nam thì nhờ ruộng đồng sông rạch lắm cá nhiều tôm nên người bình dân vẫn có thể sang hơn một tí, vì người ta còn có thể đem cà muối chung với mắm cá thành món mắm gọi là mắm cà để dùng.
Cũng vì cà là món ăn rẻ tiền thông dụng cho nên xưa kia nhiều người tá điền được chủ nuôi cơm mà gặp phải chủ mang trong người dòng máu hà tiện cỡ trùm Sò lại tham công tiếc việc, chỉ muốn cho người làm thật được việc cho mình mà cho ăn cơm thì chẳng có gì khiến cho người làm công nhiều lúc quá bất mãn phải thốt lên:
Làm cho lắm cũng ăn mắm với cà.
Làm thấy bà cũng ăn cà với mắm
Vì cà là một loại cây cho thực phẩm được người ta trồng cho nên công việc trồng cà cũng có thời vụ. Ca dao có câu nói về thời điểm để trồng cà như sau:
Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà...
Không những cà được trồng có thời vụ mà cái mảnh vườn cà đôi khi còn là bối cảnh cho những cuộc tình nên thơ của những đôi trai gái miền quê như ca dao từng có một bài miêu tả một mối tình lỡ làng, với lời lẽ tuy có đượm màu trách móc nhưng cũng lại rất nhẹ nhàng cảm động thấm thía, khởi đầu bằng mấy câu:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân...
Trong một bài ca dao khác, cà cũng được nhắc đến một cách khá ngộ nghĩnh hơn:
Thân anh làm rể Chương đài
Một đêm ăn hết mười hai vại cà
Giếng đâu thì dắc anh ra
Kẻo mà anh chết với cà đêm nay!
Thật ra thì khi đọc bài ca dao này tôi không hiểu cái anh chàng này làm rể kiểu nào mà một đêm lại ăn hết mười hai vại cà. Thường thì một vại cà có cả hàng ngàn quả và cà muối thì chỉ ăn độ chục quả là đủ cảm thấy mặn cả cổ và khát nước khô cả họng rồi mà anh chàng này xơi luôn một hơi mười hai vại thì tôi không tài nào hiểu nổi.
Không những ca dao nhắc đến cà mà ngay cả trong văn chương văn học cũng có nhiều câu chuyện hay giai thoại có liên quan đến cà. Trước đây thi sĩ Tản Đà vốn thích ăn và sành ăn nhưng chẳng may lại trót sinh ra làm một nhà thơ ở cái xứ mà "văn chương hạ giới rẻ như bèo" cho nên đồng tiền nhuận bút không cho phép thi sĩ mua những món ăn như thịt cá, do đó mà bữa cơm hàng ngày của nhà thơ cũng chỉ đạm bạc với mấy món đắp đổi như dưa chua, cà muối mà thôi. Ngày xuân, thấy thiên hạ trẩy hội chùa Hương, một nơi thắng cảnh lại còn nổi tiếng về món rau sắng ngon mà thi sĩ thì rỗng túi chỉ biết nằm khoèo ở nhà làm thơ, bèn phóng bút hạ luôn mấy câu:
Muốn ăn rau sắng chùa Hương
Đồng tiền ngại tốn, con đường ngại xa
Không đi đành ở lại nhà
Cái dưa thì khú cái cà thì thâm
Sau khi Tản Đà cho đăng bài thơ này lên báo thì có một bậc nữ lưu độc giả bỗng nhiên đâm ra thương cảm cho hoàn cảnh của thi sĩ bèn tự mình đi viếng chùa Hương rồi mua rau sắng về và đem gửi biếu cho thi sĩ kèm theo bài thơ họa như sau:
Này đây rau sắng chùa Hương
Đồng tiền khỏi tốn, con đường khỏi xa
Không đi, xin gửi lại nhà
Thay cho dưa khú, với là cà thâm.
Không biết nhà thơ cảm kích tấm lòng từ hậu của người nữ độc giả này như thế nào nhưng bài thơ họa đó đã được nhà thơ đưa lên báo, nhờ thế mà văn học có thêm được một giai thoại về ăn của nhà thơ sành ăn này.
Truyện Lưu Bình Dương Lễ cũng nhắc đến cà. Lưu Bình và Dương Lễ vốn là đôi bạn đồng môn rất thân nhau từ thủa nhỏ. Dương Lễ nhà nghèo nên vẫn thường được Lưu Bình giúp đỡ, nhờ thế mà Dương Lễ mới có thể tiếp tục dùi mài kinh sử cho đến khi thi đỗ và được ra làm quan giàu sang danh vọng.
Lưu Bình vốn nhà giàu nên không mấy chuyên tâm vào việc học hành nên thi rớt rồi lại xoay ra ăn chơi cờ bạc phung phí chẳng mấy chốc gia sản của cha mẹ để lại khánh kiệt. Nhớ lại người bạn nghèo thân thiết ngày xưa mà nay đã trở thành giàu sang phú qúy, Lưu Bình bèn tìm đến để mong có chỗ nương thân.
Dương Lễ biết bạn mình vì ham ăn chơi không chịu học hành nên nghĩ rằng nếu mình cưu mang bạn theo kiểu thường tình thì không bao giờ giúp bạn tiến thân được bèn nghĩ ra cái kế làm bộ không thèm tiếp, lại còn sai lính dọn bố thí cho Lưu Bình chén cơm hẩm với quả cà thâm. Lưu Bình hận lắm bèn bỏ đi.
Sau đó Dương Lễ mới cho gọi người vợ thứ ba của mình là Châu Long lên giải bày mối ưu tư của mình với người bạn cũ và muốn nhờ Châu Long thay mình trực tiếp đứng ra săn sóc cho Lưu Bình để giúp cho anh ta có cơ hội làm lại cuộc đời. Châu Long nhận lời nên Dương Lễ bèn giao tiền nong cho Châu Long đi tìm Lưu Bình đem về nuôi, khuyên giải và khuyến khích cho Lưu Bình học hành.
Lưu Bình từ khi giận Dương Lễ vô ân bạc nghĩa đối với mình thì cũng mong có cơ hội rửa cái mối hận này cho nên khi gặp được Châu Long tự nguyện đứng ra chăm sóc bảo bọc mình thì cũng thay đổi lối sống, chuyên tâm học hành cho nên đến kỳ vua lại mở khoa thi thì Lưu bình cũng ứng thí và đã thi đỗ. Lưu Bình vinh qui trở về, lòng tràn ngập hân hoan mong gặp Châu Long để cùng nàng xe duyên vợ chồng. Thế nhưng khi về đến nhà thì chẳng thấy bóng dáng Châu Long đâu nữa cả.
Sau đó Lưu Bình được bổ ra làm quan. Nhớ mối hận năm xưa, Lưu Bình tìm đến thăm Dương Lễ mong rửa hận nhưng khi vừa đến nơi thì Dương Lễ đã vội cho gọi Châu Long ra chào hỏi rồi kể rõ ngọn ngành cho Lưu Bình biết, nhờ thế mà Lưu Bình mới hiểu tấm lòng tốt của Dương Lễ. Thì ra nhờ Dương Lễ khôn khéo biết dùng quả cà thâm như một hình thức sỉ nhục để đánh thức lòng tự ái của Lưu Bình mà cuộc đời Lưu Bình đã chuyển hóa sáng sủa trở lại.
Tuy cà pháo không phải là món ngon vật lạ và xét về mặt giá trị dinh dưỡng thì cà pháo còn có nhiều độc tính nữa vì ăn cà thường gây nhức mình, da dẻ đâm ra sần sùi ngứa ngáy v.v... Tục ngữ cũng có câu: "Một quả cà là ba thang thuốc" không phải một quả cà bổ bằng ba thang thuốc mà người đang bệnh hay yêu yếu trong người mà ăn cà vào thì thế nào bệnh cũng nặng thêm. Thế nhưng cà pháo cũng có đặc tính làm cho người ăn quen có thể trở thành ghiền. Ca dao có câu:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.
Vào cái thời mà dân ta dù có đi đâu đi nữa thì cũng chỉ giới hạn trong cái mảnh đất từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu thì câu ca dao trên có lẽ cũng chỉ để nói lên cái lòng quyến luyến hương vị quê hương nghèo khổ của những người dân quê bỏ xóm làng quen thuộc để đến một địa phương khác tìm kế sinh nhai. Tuy nhiên từ khi có cuộc "cách mạng giải phóng dân tộc" giúp cho người dân Việt một cơ hội từ bỏ cái đầu óc bám víu lấy mảnh đất quê nghèo đầy ải để tung mình đi xa khắp bốn bể năm châu thì người ta mới càng hiểu thấm thía cái tình quê hương thắm thiết trong câu ca dao ấy.
Có rất nhiều người qua xứ người sinh sống, được ăn các món ngon vật lạ đầy bổ dưỡng kiểu Tây Tàu mãi cũng đâm chán nên lâu lâu lại thèm món cà pháo. Chính vì thế mà người ở quê nhà mới chế ra cái món cà pháo đóng lọ xuất khẩu. Dĩ nhiên Tây Tàu Mỹ Mễ chả ai đụng đến cái món cà muối này bao giờ, nhưng đám dân Việt lưu lạc xứ người khi bất chợt thấy giữa hàng đống thực phẩm đóng hộp mang đủ thứ nhãn hiệu quốc tế chen chúc nhau trên kệ hàng siêu thị có cả bóng dáng lọ cà muối xen vào là mắt mũi sáng lên, cứ như thể là đã tìm thấy cả bầu trời quê hương nằm gọn trong cái lọ cỏn con ấy.
Không biết có phải từ nguyên thủy tiếng cà được dùng để gọi loài cây quả không mấy giá trị cho nên khi tiếng cà được ghép vào với những tiếng khác để tạo thành những cụm từ nhằm diễn tả cách thế, hình thái, đặc tính của sự vật và con người, thì hình như tiếng gì kết hợp với tiếng cà cũng chỉ nhằm diễn tả cái mặt xấu, dở, yếu kém, hay có nhiều khiếm khuyết của một sự vật chứ không có tiếng cà nào nhằm diễn tả sự hay ho, sung mãn hoặc tốt đẹp cả.
Khi đánh giá sự vật hay con người thì loại dở dở ương ương được người ta gọi là loại "cà mèng" hay còn gọi là "cà là mèng". Người có vẻ như mất thần, không tập trung tư tưởng thì được gọi là "cà lơ". Chân bị đau khiến cho đi đứng cứ khập khiểng thì gọi là "cà nhắc". Chân mà bị cà nhắc có khi còn được gọi là "cà thọt" hay là "xi cà que".
Người nghèo ăn uống thiếu dinh dưỡng thì thân thể thường ốm "cà tong cà teo", hình dáng trông cứ như là que củi "cà khẳng cà kheo". Do cái bệnh ốm đói kinh niên cho nên đi đứng làm việc lúc nào cũng có vẻ uể oải theo kiểu "cà rịch cà tang", và thường thích "kề rề cà rà" chứ không xông xáo. Đường sá quê nghèo thì lồi lõm ổ gà, lỗ chân trâu, khiến cho xe chạy không lăn bánh êm ả như trên xa lộ mà hay bị dồi xóc nên gọi là "cà tưng". Những người đi đứng không chững chạc mà lúc đi lúc nhảy như con dê non thì gọi là "cà tửng".
Còn nhỏ mà không được đi học thì chỉ thích chạy "cà nhỏng" ngoài đường. Người lớn mà vô công rồi nghề không biết làm gì thì thường hay "la cà" chỗ này chỗ nọ. Gặp nhau chuyện gẫu hoài nhiều khi không còn biết chuyện gì để nói đành phải nói theo kiểu "cà kê dê ngỗng". Do cái tật cà kê dê ngỗng mà sinh ra tật nói "cà rởn" tức là nói chơi nói dỡn cho vui. Tuy nhiên đôi lúc vui quá cũng dễ sinh ra mất lòng gây bất hòa nên đâm ra "cà khịa", có nghĩa là nói thọc ngang, nói xóc hông người khác. Nếu tự ái của người nào đó bị xúc phạm quá nặng thì người đó có thể lên cơn giận đột xuất làm cho hệ thống thần kinh không còn làm chủ được cái lưỡi phát âm khiến cho nói không nên lời, mà cứ lắp ba lắp bắp vấp váp thành ra "cà lăm". Đúng ra thì cà lăm chính là tên gọi của một khuyết tật về nói bẩm sinh nơi một vài người mà khi sinh ra đã được trời ban cho họ một bộ máy phát âm không hoàn chỉnh, còn người bình thường thì chỉ cà lăm tạm thời rồi hết một khi cơn tức khí xung thiên đã qua đi.
Mặc dầu đã có nhiều tiếng được ghép với tiếng cà để diễn tả cái dở cái yếu kém nơi sự vật hay con người như đã nói trên, nhưng còn một tiếng nữa đáng nói đến nhất là tiếng "cà chớn". Thật ra thì tôi cũng không biết định nghĩa tiếng cà chớn này như thế nào vì tôi không có khả năng làm tự điển, nhưng thường thì tiếng này được dùng để nói về người và cứ xem trong mối tương quan xã hội của mọi người đối với nhau thì người bị cho là cà chớn là người hay có những thái độ bốc đồng, những cách hành xử như ưa thọc gậy bánh xe hay phá thối những công việc chung, ăn nói thì lời lẽ tiền hậu bất nhất v.v...
Anh nào mà xây mộng ước với một cô nàng cà chớn là có ngày bị leo cây. Một ông chồng hiền lành mà rước được một bà vợ cà chớn là coi như cuộc đời và sự nghiệp cũng tiêu tùng. Bà vợ nào mà lấy phải một ông chồng cà chớn là chỉ ôm hận. Làm ăn với người cà chớn có ngày vỡ nợ. Kết bạn với người cà chớn có ngày mang họa vào thân hoặc bị bán đứng. Đất nước mà được lãnh đạo bởi các chính khách cà chớn thì dân chúng chỉ có nước bị gậy ăn mày.
Tôi cũng không biết cái tiếng cà chớn này bắt nguồn từ thời nào nhưng trước đây tiếng cà chớn có lẽ chỉ mới thông dụng ở miền Nam chứ người miền Bắc hình như không biết. Chính vì thế mà khi quân Bắc Việt mới vào chiếm Sài Gòn sau khi chế độ miền Nam sụp đổ, người ta mới bắt đầu truyền tụng cho nhau câu chuyện vui như sau:
Một hôm có một anh công nhân Sài Gòn ngồi nhâm nhi ly cà phê buổi sáng ở quán cóc thấy anh bộ đội Bắc Việt lảng vảng gần đó bèn mời uống cà phê và nói chuyện. Anh bộ đội miền Bắc vì đã học tập thấm nhuần chủ trương chính sách của Đảng nên không bỏ lỡ cơ hội nào để làm công tác tuyên truyền đề cao xã hội miền Bắc. Còn anh công nhân miền Nam thì bao lâu nay bị "Mỹ Ngụy đầu độc" về đời sống khốn khổ của nhân dân miền Bắc nên nay có cơ hội gặp người anh em của xã hội chủ nghĩa miền Bắc bằng xương bằng thịt thì cũng muốn tìm hiểu thêm cho rõ trắng đen. Câu chuyện bắt đầu bằng câu hỏi của anh công nhân miền Nam về cà phê miền Bắc hương vị ra sao rồi bắt qua hỏi thăm về các loại cà này cà nọ. Bất cứ nói đến thứ cà gì cũng được anh bộ đội trả lời là miền Bắc có nhiều hơn, to hơn, ngon hơn hoặc tốt hơn trongNam. Khi hỏi đến "cà rem" thì anh bộ đội vì muốn chứng minh sự giàu mạnh của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa miền Bắc nên không ngần ngại khoe ngay là cà rem thì không những ăn không hết còn được phơi khô để xuất khẩu nữa.
Nghe đến đây anh công nhân Sài Gòn hiểu ngay là anh bộ đội này đúng là thứ cà chớn bèn bồi luôn một câu hỏi nữa là ở miền Bắc có cà chớn không? Anh chàng bộ đội ngố từ lúc sinh ra có lẽ cũng chỉ được nếm có mỗi một món cà pháo, vừa lớn lên thì lại được Đảng dạy cho ăn uống phải theo chế độ tiêu chuẩn tính theo "cà ram" cho từng đầu người của chế độ cộng sản ưu việt, sau đó thì bị lùa đi cầm súng làm "nghĩa vụ giải phóng miền Nam", bao nhiêu năm chỉ biết lặn lội trong rừng sâu hoặc là nằm dưới hầm để tránh đạn "cà nông" cho nên giỏi lắm cũng chỉ mới học thêm được tiếng "cà mèn" là món vật dụng bằng kim khí dùng đựng cơm của lính nên nay về thành phố, được nếm mùi cà phê sao mà thơm ngon quá cho nên tuy chẳng biết cà chớn là cái gì nhưng đinh ninh cà chớn chắc phải là một món gì đó cao quý lắm nên không ngần ngại đáp luôn là cái gì chứ cái thứ cà chớn thì ê hề, ở miền Bắc đâu đâu cũng có.
Tuy câu nói của anh chàng bộ đội miền Bắc chỉ là phản ảnh sự ngây ngô kém hiểu biết của một kẻ phải sống dưới một chế độ quen bưng bít, nhưng vô tình đó cũng là một câu nói phơi bày ra cái hiện thực bi đát của bất cứ xã hội nào mà con người chỉ sống quanh quẩn với ngu dốt đói nghèo nhưng lại hay khoe mẽ.
Không biết có phải những hiện tượng cà chớn đó đều có chung một căn nguyên do độc tố của cà gây ra vì ăn cà rồi dần dà biến thành một căn bệnh có khả năng di truyền hay không, vì nhìn kỹ thì hầu như cái bệnh cà chớn này không phải chỉ thấy xuất hiện nơi người dân Việt sinh sống ở trong nước mà ngay cả trong số người dân Việt đã bỏ xứ ra sinh sống ở đất nước người, ăn những loại thực phẩm bổ dưỡng tinh khiết hơn, vẫn có nhiều người còn mang căn bệnh cà chớn mạn tính trong người. Không tin thì cứ nhìn vào các cộng đồng của người Việt ở hải ngoại sẽ thấy không thiếu gì những hiện tượng cà chớn vẫn xảy ra trong các hội đoàn từ hội ái hữu nhỏ địa phương cho tới tổ chức chính trị, kinh tế to lớn, khiến cho người dân Việt chưa bao giờ thật sự xây dựng cho mình thành một khối hùng mạnh. Không nhưng thế, trong những khuôn mặt từng đại diện cho những kẻ từng sợ ăn cà pháo, từng cho rằng mình không có mang độc tính cà pháo trong giòng máu, từng hùng hổ tuyên bố chống tới cùng những kẻ chủ trương nuôi dân bằng cà pháo, nay bỗng nhiên lại đâm ra có kẻ nhớ cà, thèm cà theo kiểu rất cà chớn là "Ăn cơm nhà nọ kháo cà nhà kia" để rồi ca bài "cà pháo muôn năm" làm cho nhiều người nghe xong đều chưng hửng.
Ôi! Không biết đến bao giờ dân ta mới trừ khử được cái nọc độc cà chớn này trong giòng máu để cho dân ta trở thành những con người lành mạnh hầu có sức tranh đua với thế giới năm châu và làm rạng rỡ con Rồng cháu Tiên?
ĐOÀN VĂN KHANH
Vụ báo Người Việt kiện báo Saigonnho.
Từ năm 2012, báo Người Việt ở Nam California, USA khởi kiện báo Saigonnho với tội danh phỉ báng và vu khống.
Sau hơn hai năm thụ lý và thay đến chánh án thứ ba, tháng 12 năm 2014, tòa án Orange County phán quyết báo Saigonnho bồi thường cho báo Người Việt 4 triệu 500 ngàn USD và 1 triệu 500 ngàn USD tiền phạt.
Lý do nào để tòa án Mỹ đưa ra một phán quyết nặng nề như vậy cho phía bị kiện, chúng ta thử tìm lại sự tranh luận của đôi bên.
Báo Người Việt Kiện báo Saigonnho với hai tội danh chính
1) Tố cáo bà Hoàng Dược Thảo, chủ nhân báo Saigonnho vu cáo ông Phan Huy Đạt, hiện là quản trị viên của báo Người Việt nhận tiền của cộng sản Việt Nam để làm tờ báo Người Việt
2) Tố cáo bà Hoàng Dược Thảo, chủ nhân báo Saigonnho, phỉ báng bà Hoàng Vĩnh, một trong những người quản lý báo Người Việt về đời tư của bà HV.
Cả hai điều tố cáo này có bằng chứng rõ ràng bởi những bài viết của bà HDT được đăng công khai trên báo Saigonnho.
Đọc tới đây, dù người không am hiểu pháp lý, chúng ta cũng dễ dàng kết luận là bà Hoàng Dược Thảo có tội, đúng như cáo trạng của luật sư báo Người Việt. Đơn giản là vì không ai có thể chứng minh được chuyện một người Việt Nam nào ở Hải Ngoại nhận tiền của cộng sản dù thân công sản đến đâu đi nữa, dù công khai thân cộng sản, công khai viết bài khen công sản, nhưng chứng minh được họ là cộng sản thì không thể. Vì vậy viết như bà HDT là sai.
Việc xâm phạm tin tức riêng tư của bà Hoàng Vĩnh lại là lổi năng thứ hai của bà Hoàng Dược Thảo, đối với Mỹ, tội phỉ báng là tội nặng. Dù thực sự bà Hoàng Vĩnh có sai phạm gì trong đời sống riêng tư, không ai cần lý tới. Nhưng người nào đem chuyện riêng tư đó để bêu xấu công khai là vi phạm năng. Cô đào Liz Taylor dù có tới 8 đời chồng, bị thiên hạ đàm tiếu nhiều, nhưng vẫn được hoàng gia Anh kính trọng và phong tước
Người đời đàm tiếu bằng miêng lưỡi thì được, nhưng báo chí chính thức đưa lên trang viết để phỉ báng thì rất dễ bị kết tội và tội đó cũng rất dễ để bồi thẫm đoàn quyết định mau chóng.
Đó là hai tử huyệt của bà Hoàng Dược Thảo, dù chống chế cách nào cũng khó, rất khó.
Tuy nhiên điều tôi muốn đề cập trong bài này không phải là chuyện thắng hay thua ở tòa án Mỹ, tôi xin được trình bày mục đích chính của bài này.
Sau phán quyết có tội và phải bồi thường, báo Saigonnho quyết định kháng án và kêu gọi người Việt Nam Hải Ngoại đóng góp tài chính giúp để đủ tiền kháng án với lý do:
Báo Saigonnho hiện là tờ báo duy nhất chống cộng sản một cách quyết liệt nhất, báo Người Việt là báo thân công sản, từng nhiều lần phỉ báng người Việt Nam tỵ nạn cộng sản ở Mỹ và ở các nước khác, đặc biệt nhiều lần cố tình làm nhục cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là cờ biểu tượng cho người Việt Nam tỵ nạn cộng sản khắp thế giới, kể cả đăng bài chưởi quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, vì vậy giúp báo Saigonnho là binh vực cho chính nghĩa, chống lại một tiền lệ lợi dụng pháp luật Hoa Kỳ để triệt tiêu tiếng nói của những nguời chống cộng tại hải ngoại.
Lý luận đó rất đúng với hiện tại, nhưng lại không đủ chứng cứ để trình trước tòa án Mỹ với những lời được xem là vu khống rõ ràng trên báo Saigonnho.
Tuy nhiên, chúng ta, là người Việt Nam tỵ nạn cộng sản, chúng ta thử tìm cái Tinh Thần của vụ kiện này ở đâu?
Chúng ta cũng hiểu, sách lược của Mỹ là không có đồng minh vĩnh viễn, cũng chẳng có kẻ thù vĩnh viễn, nhưng tới bây giờ, kẻ thù sâu kín của họ vẫn là cộng sản.
Khỏi phải chứng minh dông dài, báo Người Việt là tờ báo thân cộng sản, chúng ta không đủ bằng chứng chỉ rõ họ là cộng sản, vi rất khó chứng minh, nhưng chỉ rõ họ là tờ báo thân cộng sản, chứng minh không khó.
Một tờ báo thân cộng sản thì dù họ được pháp luật Mỹ bảo vệ, chúng ta là nguời tỵ nạn cộng sản, quyết không làm lợi cho họ, nếu không đủ sức tố cáo họ, ít ra chúng ta phải nói cho bạn hữu chúng ta, cho bà con chúng ta, cho tất cả người tỵ nạn cộng sản biết, báo Người Việt là tờ báo thân cộng.
Xin tóm tắt để người chưa biết báo Người Việt đã làm gì như sau:
1) Từ rất sớm, năm 1998, chủ nhiệm báo Người Việt họp với Phó thủ tướng công sản Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Xuân Phong, tổng lãnh sự cộng sản tại San Francisco (có hình chụp lưu lại)
2) Năm 2003, Chủ nhiệm Nhật Báo Người Việt đã gặp Nguyễn Đình Bin, lãnh đạo của Ủy Ban về Người Việt Nam ở Nước Ngoài (2000-2003). Tin này cũng do Nguyễn Đình Bin phổ biến sau Hội Nghị Người Việt Nam ở Nước Ngoài lần thứ nhất vào ngày 21/11/2009 tại Hà Nội.
3) Trong Giai Phẩm Xuân 2006, Nhật Báo Người Việt cho đăng bài thơ của nhà Tử Vi Nhân Quang, ca ngợi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam như sau:
“Can Bính tuất niên, đã rõ MƯỜI.
ANH hùng hào KIỆT, thế phân đôi.
KHẢI hoàn LƯƠNG đạo, AN bang MẠNH.
MINH TRIẾT trời nam, tỏa rạng ngờị”
Không cần phân tích, chúng ta cũng biết báo Người Việt có ý gì trong 4 câu thơ này
4) Hai năm sau trên báo Tết Người Việt cho đăng một bài viết có tên "Người Mẹ Chồng" của Trần Thủy Châu có kèm theo hình ảnh Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ được vẽ trong chậu rửa chân.
5) Đúng ngày sinh nhật của tội đồ Hồ Chí Minh, Nhật Báo Người Việt cho đăng hình mầu tên tội đồ đứng tưới cây vú sữa kèm theo bài viết “Con ở miền Nam ra thăm Lăng Bác”. Một tuần sau đó, Nhật Báo Người Việt cho đăng tiếp một bài về Hồ Chí Minh với tựa đề “Con vẫn noi gương Bác”.
6) Đặc biệt, Nhật Báo Người Việt đã chọn đăng “Thư độc giả Sơn Hào” trong trang Diễn đàn Độc giả số ra ngày 8-7-2013 mang nội dung nhục mạ người lính VNCH, chính thể VNCH và những tù nhân chính trị Việt Nam Cộng Hòa.
Báo Saigonnho cũng từng có những sai lầm lớn, tôi không hề binh vực Báo Saigonnho trước đây, tôi từng viết hai bài về những sai phạm của họ, nhưng hiện tại, ít ra là hai năm trở lại đây, báo Saigonnho ít nhiều là đồng minh của người Việt NamTỵ Nạn.
Với sự xấc xược và trắng trợn bội nhọ Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa của báo Người Việt, báo Saigonnho là tờ báo duy nhất đứng về phía người lính Việt Nam Cộng Hòa. Nếu không có báo Saigonnho, tờ báo nào dám đăng tuyên cáo, thông báo, những bài viết phản đối báo Người Việt? Ngoài hai tờ báo lớn này còn có những tờ báo lớn nào khác ở Nam California, ở khắp nơi, có tờ báo nào dám đứng hẳn về phía người Việt Nam tỵ nạn công sản để chống báo Người Việt không?
Rất đáng tiếc là từ cái Tinh Thần này mà người Việt Nam hải ngoại chia rẽ nhau nhiều hơn, chưởi bới nhau nhiều hơn, sau khi báo Người Việt thắng kiện.
Không khó để chúng ta hiểu báo Người Việt lợi dụng vụ kiện này để đe dọa những ai từng tố cáo họ là thân cộng, hay là công sản, với chiến thắng này, từ nay chắc chắn là những người chống cộng sản một cách lấy lệ sẽ từ bỏ chống báo Người Việt.
Trước mắt, nhưng người lừng khừng này đã quay qua chưởi báo Saigonnho thậm tệ, đem chuyện cũ ra để bưới móc đủ điều mà họ không cần biết tác hại chung nếu báo Saigonnho thua kiện.
Bởi vì cái Tinh Thần của vụ kiện này vẫn nằm ở lằn ranh Quốc Cộng. Rõ ràng là nếu báo Saigonnho thua, một phần lớn người Việt Nam hải ngoại sẽ thua, sẽ thua về tâm lý, thua về nghị lực, sẽ cùn nhụt dũng cảm.
Tôi có thể nói như vậy vì những người hiện đang chống báo Saigonnho, trước đây chưa hề tố cáo báo Saigonnho những chuyện báo Saigonnho đã viết, nay lại bươi móc ta để to tiếng chống báo Saigonnho, đem những lổi trước đây báo Saigonnho mắc phải ra chưởi rủa rất nặng nề. Có khác gì lợi dụng người đang ngã để đạp thêm.
Những nngười to tiếng bôi lọ báo Saigonnho hiện tại, trước đây từng tố cáo báo Saigonnho ở những điểm nay họ đang tố cáo không? Hay nay vì thấy báo Người Việt thắng lớn nên muốn chứng tỏ với báo Ngưòi Việt biết, ta đây cùng phe?
Có người khen tòa án Mỹ hiểu được tâm tình người Việt Nam mới phạt năng báo Saigonnho và ao ước báo Sajgonnho phải đền gấp ba mới tương xứng. Như vậy chẳng phải là công khai ủng hộ báo Người Việt sao?
Với số tiền mà người này ao ước cho báo Người Việt, từ đây báo Người Việt dư sức trấn áp những người chống báo Người Việt. Báo Người Việt chì cần trích một số tiền nhỏ chừng vài chục ngàn là có thể bỏ tù những người viết lẻ tẻ như tôi.
Nhưng điều đáng ngạc nhiên nhất là tại sao có những người quay ra chỉ trích rất năng nề những người ủng hộ quỷ pháp lý cho báo Saigonnho. Ngay cả những người đáng kinh như bà Dương Nguyệt Ánh, như cô Lữ Anh Thư…. chỉ vỉ họ ủng hộ báo Saigonnho.
Có “nhà văn lớn” (ít nhất cũng tự cho mình là lớn,) viết thư ngỏ gởi bà DNA với lời lẽ trích thượng dạy đời, nhưng chỉ nhằm nhục mạ bà DNA, chỉ vì bà DNA tò ý ủng hộ báo Saigonnho.
Và những vị đó nói trên, xin hỏi quý vị đã từng tố cáo báo Người Việt năng nề như đang tố cáo báo Saigonnho hiện tại không? Các vị nói trên có vì công tâm mà chưởi báo Saigonnho và những người ủng hộ báo SaiGonnho hay không? Hay vì thấy báo Người Việt thắng mà mà sơ quá, thấy báo Người Việt có thêm 4 triệu rưỡi mà tối mắt? Những vị này khi năng lời tố cáo báo Sagonnho, họ có công tâm phân tích thử, trong vụ này báo Người Việt thắng như vậy có xứng hay không?
Xin qúy vị cứ bình tâm, tự vấn lương tâm vậy.
Vì vậy, rất rõ ràng là:
Khi cân phân lợi hại, nếu chúng ta tiếp tục quyết hại báo Sagonnho…tới nơi tới chốn, thì vô tình chúng ta đã giúp báo Người Việt mạnh hơn gấp bội, dù chúng ta biết rõ ràng báo Người Việt chính là tờ báo thân cộng.
Tôi có thể chỉ ra rằng
- Những ai trước đây chưa từng chỉ trích báo Saigonnho, nay bắt đầu chỉ trích thì có vẻ… lợi dụng cơ hội người ngã xuống để đạp luôn
- Những ai chưa từng chỉ trích cả hai báo, nay chỉ trích báo Saigonnho, thì có vẻ… hơi nịnh báo Người Việt
- Những ai trước nay chưa từng chỉ trích báo Người Việt, trước nay vẫn chỉ chống báo Saigonnhỏ thì là có vẻ thân báo Người Viêt từ trước rồi
- Những ai quay ra chỉ trích những người ủng hộ báo Saigonnho thì là…chính họ đang ủng hộ báo Người Việt.
Tôi xin nhắc lại, tòa án Mỹ, họ chỉ chấp nhận bằng chứng cụ thể, vì vậy trong công cuộc chống cộng sàn Việt Nam hiện tại, chúng ta biết, dù biết rõ, cũng không thể nào có chứng minh cụ thể…Như những việc làm trên của báo Người Việt, người Việt Nam Tỵ nạn chúng ta biết rõ ban điều hành báo Người Việt là những ai, nhưng chúng ta cũng chỉ đủ để xác nhận đó là thái độ thân công sản. Thân công sản thì là quyền tự do ngôn luận, nhưng kết luận họ là công sản thì không đủ yếu tố.
Tuy nhiên đối với người Việt Nam tỵ nạn, một tờ báo như báo Người Việt mà thân cộng sản thì tác hại gấp 10 lần những tên cộng sản ở sát bên chúng ta. Từ đó chúng ta thấy được, trong giaì đoạn này, chúng ta nên giúp ai.
Tôi rất tiếc, hơn 150 hội đoàn từng tố cáo báo Người Việt là thân công sản, nhưng hoàn toàn im hơi lặng tiếng sau khi báo Người Việt thắng trong vụ kiện này.
Bản thân tôi trước đây từng chỉ trích cả hai báo, nay tôi vẫn lớn tiếng tố cáo báo Người Việt ở Nam California và vài tờ ăn theo ở vài tiểu bang khác là tờ báo thân cộng sản, đang ủng hộ cộng sản, đang rình rập chém những nhát dao chí tử vào những người đang kiên tri chống bọn cộng sản ăn cướp ở Việt Nam, như báo Người Việt từng làm.
Việc tòa án Mỹ xử có lợi cho báo Người Việt, theo pháp luật của Mỹ có thể đúng, nhưng với thực tế, như chúng ta đã biết, báo Người Việt hoàn toàn không xứng đáng với tòa án lương tâm trong vụ thắng kiện này.
Vì vậy xin quý vị nên cân nhắc.
Bài này xin được phổ biến trên các diễn đàn chính trị, tôi không biết nhật báo hay tuần báo hay báo in nào có ý đăng tải một bài viết như bài này, trong giai đoạn này.
Kính nhờ quý bạn đọc chuyển tải xa hơn hay gởi báo chí để phổ biến, nếu quý độc giả có ý giúp.
Cảm ơn tất cả quý vị đã đọc bài này.
Bài này cũng được gởi đến báo Saigonnho, chỉ để tham khảo, vì tôi biết theo luật, thời gian này báo Saigonnho không thể đăng tải thêm những gì liên quan tới vụ án
Bảo Trâm Minnesota
Sau hơn hai năm thụ lý và thay đến chánh án thứ ba, tháng 12 năm 2014, tòa án Orange County phán quyết báo Saigonnho bồi thường cho báo Người Việt 4 triệu 500 ngàn USD và 1 triệu 500 ngàn USD tiền phạt.
Lý do nào để tòa án Mỹ đưa ra một phán quyết nặng nề như vậy cho phía bị kiện, chúng ta thử tìm lại sự tranh luận của đôi bên.
Báo Người Việt Kiện báo Saigonnho với hai tội danh chính
1) Tố cáo bà Hoàng Dược Thảo, chủ nhân báo Saigonnho vu cáo ông Phan Huy Đạt, hiện là quản trị viên của báo Người Việt nhận tiền của cộng sản Việt Nam để làm tờ báo Người Việt
2) Tố cáo bà Hoàng Dược Thảo, chủ nhân báo Saigonnho, phỉ báng bà Hoàng Vĩnh, một trong những người quản lý báo Người Việt về đời tư của bà HV.
Cả hai điều tố cáo này có bằng chứng rõ ràng bởi những bài viết của bà HDT được đăng công khai trên báo Saigonnho.
Đọc tới đây, dù người không am hiểu pháp lý, chúng ta cũng dễ dàng kết luận là bà Hoàng Dược Thảo có tội, đúng như cáo trạng của luật sư báo Người Việt. Đơn giản là vì không ai có thể chứng minh được chuyện một người Việt Nam nào ở Hải Ngoại nhận tiền của cộng sản dù thân công sản đến đâu đi nữa, dù công khai thân cộng sản, công khai viết bài khen công sản, nhưng chứng minh được họ là cộng sản thì không thể. Vì vậy viết như bà HDT là sai.
Việc xâm phạm tin tức riêng tư của bà Hoàng Vĩnh lại là lổi năng thứ hai của bà Hoàng Dược Thảo, đối với Mỹ, tội phỉ báng là tội nặng. Dù thực sự bà Hoàng Vĩnh có sai phạm gì trong đời sống riêng tư, không ai cần lý tới. Nhưng người nào đem chuyện riêng tư đó để bêu xấu công khai là vi phạm năng. Cô đào Liz Taylor dù có tới 8 đời chồng, bị thiên hạ đàm tiếu nhiều, nhưng vẫn được hoàng gia Anh kính trọng và phong tước
Người đời đàm tiếu bằng miêng lưỡi thì được, nhưng báo chí chính thức đưa lên trang viết để phỉ báng thì rất dễ bị kết tội và tội đó cũng rất dễ để bồi thẫm đoàn quyết định mau chóng.
Đó là hai tử huyệt của bà Hoàng Dược Thảo, dù chống chế cách nào cũng khó, rất khó.
Tuy nhiên điều tôi muốn đề cập trong bài này không phải là chuyện thắng hay thua ở tòa án Mỹ, tôi xin được trình bày mục đích chính của bài này.
Sau phán quyết có tội và phải bồi thường, báo Saigonnho quyết định kháng án và kêu gọi người Việt Nam Hải Ngoại đóng góp tài chính giúp để đủ tiền kháng án với lý do:
Báo Saigonnho hiện là tờ báo duy nhất chống cộng sản một cách quyết liệt nhất, báo Người Việt là báo thân công sản, từng nhiều lần phỉ báng người Việt Nam tỵ nạn cộng sản ở Mỹ và ở các nước khác, đặc biệt nhiều lần cố tình làm nhục cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là cờ biểu tượng cho người Việt Nam tỵ nạn cộng sản khắp thế giới, kể cả đăng bài chưởi quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, vì vậy giúp báo Saigonnho là binh vực cho chính nghĩa, chống lại một tiền lệ lợi dụng pháp luật Hoa Kỳ để triệt tiêu tiếng nói của những nguời chống cộng tại hải ngoại.
Lý luận đó rất đúng với hiện tại, nhưng lại không đủ chứng cứ để trình trước tòa án Mỹ với những lời được xem là vu khống rõ ràng trên báo Saigonnho.
Tuy nhiên, chúng ta, là người Việt Nam tỵ nạn cộng sản, chúng ta thử tìm cái Tinh Thần của vụ kiện này ở đâu?
Chúng ta cũng hiểu, sách lược của Mỹ là không có đồng minh vĩnh viễn, cũng chẳng có kẻ thù vĩnh viễn, nhưng tới bây giờ, kẻ thù sâu kín của họ vẫn là cộng sản.
Khỏi phải chứng minh dông dài, báo Người Việt là tờ báo thân cộng sản, chúng ta không đủ bằng chứng chỉ rõ họ là cộng sản, vi rất khó chứng minh, nhưng chỉ rõ họ là tờ báo thân cộng sản, chứng minh không khó.
Một tờ báo thân cộng sản thì dù họ được pháp luật Mỹ bảo vệ, chúng ta là nguời tỵ nạn cộng sản, quyết không làm lợi cho họ, nếu không đủ sức tố cáo họ, ít ra chúng ta phải nói cho bạn hữu chúng ta, cho bà con chúng ta, cho tất cả người tỵ nạn cộng sản biết, báo Người Việt là tờ báo thân cộng.
Xin tóm tắt để người chưa biết báo Người Việt đã làm gì như sau:
1) Từ rất sớm, năm 1998, chủ nhiệm báo Người Việt họp với Phó thủ tướng công sản Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Xuân Phong, tổng lãnh sự cộng sản tại San Francisco (có hình chụp lưu lại)
2) Năm 2003, Chủ nhiệm Nhật Báo Người Việt đã gặp Nguyễn Đình Bin, lãnh đạo của Ủy Ban về Người Việt Nam ở Nước Ngoài (2000-2003). Tin này cũng do Nguyễn Đình Bin phổ biến sau Hội Nghị Người Việt Nam ở Nước Ngoài lần thứ nhất vào ngày 21/11/2009 tại Hà Nội.
3) Trong Giai Phẩm Xuân 2006, Nhật Báo Người Việt cho đăng bài thơ của nhà Tử Vi Nhân Quang, ca ngợi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam như sau:
“Can Bính tuất niên, đã rõ MƯỜI.
ANH hùng hào KIỆT, thế phân đôi.
KHẢI hoàn LƯƠNG đạo, AN bang MẠNH.
MINH TRIẾT trời nam, tỏa rạng ngờị”
Không cần phân tích, chúng ta cũng biết báo Người Việt có ý gì trong 4 câu thơ này
4) Hai năm sau trên báo Tết Người Việt cho đăng một bài viết có tên "Người Mẹ Chồng" của Trần Thủy Châu có kèm theo hình ảnh Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ được vẽ trong chậu rửa chân.
5) Đúng ngày sinh nhật của tội đồ Hồ Chí Minh, Nhật Báo Người Việt cho đăng hình mầu tên tội đồ đứng tưới cây vú sữa kèm theo bài viết “Con ở miền Nam ra thăm Lăng Bác”. Một tuần sau đó, Nhật Báo Người Việt cho đăng tiếp một bài về Hồ Chí Minh với tựa đề “Con vẫn noi gương Bác”.
6) Đặc biệt, Nhật Báo Người Việt đã chọn đăng “Thư độc giả Sơn Hào” trong trang Diễn đàn Độc giả số ra ngày 8-7-2013 mang nội dung nhục mạ người lính VNCH, chính thể VNCH và những tù nhân chính trị Việt Nam Cộng Hòa.
Báo Saigonnho cũng từng có những sai lầm lớn, tôi không hề binh vực Báo Saigonnho trước đây, tôi từng viết hai bài về những sai phạm của họ, nhưng hiện tại, ít ra là hai năm trở lại đây, báo Saigonnho ít nhiều là đồng minh của người Việt NamTỵ Nạn.
Với sự xấc xược và trắng trợn bội nhọ Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa của báo Người Việt, báo Saigonnho là tờ báo duy nhất đứng về phía người lính Việt Nam Cộng Hòa. Nếu không có báo Saigonnho, tờ báo nào dám đăng tuyên cáo, thông báo, những bài viết phản đối báo Người Việt? Ngoài hai tờ báo lớn này còn có những tờ báo lớn nào khác ở Nam California, ở khắp nơi, có tờ báo nào dám đứng hẳn về phía người Việt Nam tỵ nạn công sản để chống báo Người Việt không?
Rất đáng tiếc là từ cái Tinh Thần này mà người Việt Nam hải ngoại chia rẽ nhau nhiều hơn, chưởi bới nhau nhiều hơn, sau khi báo Người Việt thắng kiện.
Không khó để chúng ta hiểu báo Người Việt lợi dụng vụ kiện này để đe dọa những ai từng tố cáo họ là thân cộng, hay là công sản, với chiến thắng này, từ nay chắc chắn là những người chống cộng sản một cách lấy lệ sẽ từ bỏ chống báo Người Việt.
Trước mắt, nhưng người lừng khừng này đã quay qua chưởi báo Saigonnho thậm tệ, đem chuyện cũ ra để bưới móc đủ điều mà họ không cần biết tác hại chung nếu báo Saigonnho thua kiện.
Bởi vì cái Tinh Thần của vụ kiện này vẫn nằm ở lằn ranh Quốc Cộng. Rõ ràng là nếu báo Saigonnho thua, một phần lớn người Việt Nam hải ngoại sẽ thua, sẽ thua về tâm lý, thua về nghị lực, sẽ cùn nhụt dũng cảm.
Tôi có thể nói như vậy vì những người hiện đang chống báo Saigonnho, trước đây chưa hề tố cáo báo Saigonnho những chuyện báo Saigonnho đã viết, nay lại bươi móc ta để to tiếng chống báo Saigonnho, đem những lổi trước đây báo Saigonnho mắc phải ra chưởi rủa rất nặng nề. Có khác gì lợi dụng người đang ngã để đạp thêm.
Những nngười to tiếng bôi lọ báo Saigonnho hiện tại, trước đây từng tố cáo báo Saigonnho ở những điểm nay họ đang tố cáo không? Hay nay vì thấy báo Người Việt thắng lớn nên muốn chứng tỏ với báo Ngưòi Việt biết, ta đây cùng phe?
Có người khen tòa án Mỹ hiểu được tâm tình người Việt Nam mới phạt năng báo Saigonnho và ao ước báo Sajgonnho phải đền gấp ba mới tương xứng. Như vậy chẳng phải là công khai ủng hộ báo Người Việt sao?
Với số tiền mà người này ao ước cho báo Người Việt, từ đây báo Người Việt dư sức trấn áp những người chống báo Người Việt. Báo Người Việt chì cần trích một số tiền nhỏ chừng vài chục ngàn là có thể bỏ tù những người viết lẻ tẻ như tôi.
Nhưng điều đáng ngạc nhiên nhất là tại sao có những người quay ra chỉ trích rất năng nề những người ủng hộ quỷ pháp lý cho báo Saigonnho. Ngay cả những người đáng kinh như bà Dương Nguyệt Ánh, như cô Lữ Anh Thư…. chỉ vỉ họ ủng hộ báo Saigonnho.
Có “nhà văn lớn” (ít nhất cũng tự cho mình là lớn,) viết thư ngỏ gởi bà DNA với lời lẽ trích thượng dạy đời, nhưng chỉ nhằm nhục mạ bà DNA, chỉ vì bà DNA tò ý ủng hộ báo Saigonnho.
Và những vị đó nói trên, xin hỏi quý vị đã từng tố cáo báo Người Việt năng nề như đang tố cáo báo Saigonnho hiện tại không? Các vị nói trên có vì công tâm mà chưởi báo Saigonnho và những người ủng hộ báo SaiGonnho hay không? Hay vì thấy báo Người Việt thắng mà mà sơ quá, thấy báo Người Việt có thêm 4 triệu rưỡi mà tối mắt? Những vị này khi năng lời tố cáo báo Sagonnho, họ có công tâm phân tích thử, trong vụ này báo Người Việt thắng như vậy có xứng hay không?
Xin qúy vị cứ bình tâm, tự vấn lương tâm vậy.
Vì vậy, rất rõ ràng là:
Khi cân phân lợi hại, nếu chúng ta tiếp tục quyết hại báo Sagonnho…tới nơi tới chốn, thì vô tình chúng ta đã giúp báo Người Việt mạnh hơn gấp bội, dù chúng ta biết rõ ràng báo Người Việt chính là tờ báo thân cộng.
Tôi có thể chỉ ra rằng
- Những ai trước đây chưa từng chỉ trích báo Saigonnho, nay bắt đầu chỉ trích thì có vẻ… lợi dụng cơ hội người ngã xuống để đạp luôn
- Những ai chưa từng chỉ trích cả hai báo, nay chỉ trích báo Saigonnho, thì có vẻ… hơi nịnh báo Người Việt
- Những ai trước nay chưa từng chỉ trích báo Người Việt, trước nay vẫn chỉ chống báo Saigonnhỏ thì là có vẻ thân báo Người Viêt từ trước rồi
- Những ai quay ra chỉ trích những người ủng hộ báo Saigonnho thì là…chính họ đang ủng hộ báo Người Việt.
Tôi xin nhắc lại, tòa án Mỹ, họ chỉ chấp nhận bằng chứng cụ thể, vì vậy trong công cuộc chống cộng sàn Việt Nam hiện tại, chúng ta biết, dù biết rõ, cũng không thể nào có chứng minh cụ thể…Như những việc làm trên của báo Người Việt, người Việt Nam Tỵ nạn chúng ta biết rõ ban điều hành báo Người Việt là những ai, nhưng chúng ta cũng chỉ đủ để xác nhận đó là thái độ thân công sản. Thân công sản thì là quyền tự do ngôn luận, nhưng kết luận họ là công sản thì không đủ yếu tố.
Tuy nhiên đối với người Việt Nam tỵ nạn, một tờ báo như báo Người Việt mà thân cộng sản thì tác hại gấp 10 lần những tên cộng sản ở sát bên chúng ta. Từ đó chúng ta thấy được, trong giaì đoạn này, chúng ta nên giúp ai.
Tôi rất tiếc, hơn 150 hội đoàn từng tố cáo báo Người Việt là thân công sản, nhưng hoàn toàn im hơi lặng tiếng sau khi báo Người Việt thắng trong vụ kiện này.
Bản thân tôi trước đây từng chỉ trích cả hai báo, nay tôi vẫn lớn tiếng tố cáo báo Người Việt ở Nam California và vài tờ ăn theo ở vài tiểu bang khác là tờ báo thân cộng sản, đang ủng hộ cộng sản, đang rình rập chém những nhát dao chí tử vào những người đang kiên tri chống bọn cộng sản ăn cướp ở Việt Nam, như báo Người Việt từng làm.
Việc tòa án Mỹ xử có lợi cho báo Người Việt, theo pháp luật của Mỹ có thể đúng, nhưng với thực tế, như chúng ta đã biết, báo Người Việt hoàn toàn không xứng đáng với tòa án lương tâm trong vụ thắng kiện này.
Vì vậy xin quý vị nên cân nhắc.
Bài này xin được phổ biến trên các diễn đàn chính trị, tôi không biết nhật báo hay tuần báo hay báo in nào có ý đăng tải một bài viết như bài này, trong giai đoạn này.
Kính nhờ quý bạn đọc chuyển tải xa hơn hay gởi báo chí để phổ biến, nếu quý độc giả có ý giúp.
Cảm ơn tất cả quý vị đã đọc bài này.
Bài này cũng được gởi đến báo Saigonnho, chỉ để tham khảo, vì tôi biết theo luật, thời gian này báo Saigonnho không thể đăng tải thêm những gì liên quan tới vụ án
Bảo Trâm Minnesota

Nam Và Nữ, Ai Dê Hơn Ai
Trịnh Thanh Thủy
Các nhà sinh vật học thường hay nghiên cứu, đối chiếu và so sánh sinh hoạt đời sống của thú vật với con người. Các cụ Việt Nam ta, không biết tự một ngày đẹp trời nào, cũng làm công việc quan sát này và đặc biệt chiếu cố tới đời sống tình dục của loài dê. Rồi trong một lúc đắc ý, từ ngữ “dê” tình cờ ra đời, góp chữ làm giàu cho kho tàng văn học dân gian lưu truyền từ đời này qua đời khác. Ấy cũng bởi cái khả năng sinh sản và giao phối mạnh mẽ, dê đã bị người đời gán cho những hình tượng xấu xa, dâm ô, đầy những thành kiến.
Từ “dê” được dùng, lúc như động từ, lúc như danh từ. Ngữ nghĩa, khi nhẹ, khi nặng. Khi nhẹ nó được nghĩ như “tán tỉnh, ve vãn”, ám chỉ những người có tính ham muốn và ưa chinh phục người khác (giới). Khi nặng, như dâm dục, thú tính, súc vật, ám chỉ những người mà lý trí không còn kiểm soát được sự ham muốn quá độ, nên hành động sai trái, đi tới xâm phạm, chiếm đoạt, hay có những cử chỉ, hành động quấy rối, sàm sỡ, quá đáng với người khác.
“Dê” còn được thêm thắt với nhiều nghĩa phụ để thành những từ kép và được sử dụng một cách rộng rãi như: máu dê, râu dê, dê xồm, dê già, dê cụ, dê gái.
Giữa nam và nữ, ai bị người đời gán cho danh hiệu có “máu dê” hay “35” nhiều hơn? Và tại sao?
Nếu bạn đọc để ý sẽ nhận ra một điều, từ lâu phái nam đã vang danh trong lãnh vực “dê” đặc biệt này. Những câu truyền cảng trên cửa miệng các bà mẹ khi dặn dò con gái thường là “Cẩn thận nghe con, đàn ông nào cũng có máu dê trong người”. Hoặc câu nói “Không dê sao gọi là đàn ông?” được các đấng mày râu phân bua, đính chính hay tự giải thích về hành động “tứ chi qườ quạng, vô tổ chức” của mình. Thậm chí, có người còn làm vè:
“Không dê sao gọi là đàn ông
Không dê liệu có làm chồng được không
Đàn ông là phải biết dê
Đàn ông phải biết chết mê đàn bà.”
Có người am tường hơn thì bảo “Đàn ông ai cũng có máu “35” trong người, không nhiều thì ít”. Quan sát kỹ hơn, người ta thường thấy phái nam chiêm ngưỡng phái nữ theo nhiều cách, kín đáo, tế nhị, hay lộ liễu, lố bịch, sàm sỡ. Họ thường nhìn ngắm. Có người nhìn lén, người lại nhìn chăm chăm như muốn ăn tươi nuốt sống đối phương. Người lại ưa hành động cụ thể hơn bằng lời nói, cử chỉ. Do đó những từ như “dê đại trà”, “dê đạo lộ”, hay “bạ đâu, dê đấy” ra đời.
Phụ nữ thì sao? Họ có dê không?
Nếu hiểu theo nghĩa ve vãn, tán tỉnh thì phụ nữ cũng biết và rất thích tán tỉnh phái nam. Họ thể hiện nó bằng nét mặt, ánh mắt, nụ cười và những cử chỉ kín đáo thường là gián tiếp hơn trực tiếp. Có những phụ nữ tự tạo cho mình các nét quyến rũ riêng như một cái bẫy để nhử con mồi và quý ông cứ lao vào mà lầm tưởng rằng chính mình chủ động. Cách họ lắc đầu, vẫy mái tóc để lộ khuôn mặt, kiểu liếc khoé mắt có đuôi, kéo vai áo lộ một chút vai trần hay bờ ngực vun, uốn lượn cặp mông cong, khơi mở một câu chuyện... Tất cả những mời gọi có tính cách nửa hở, nửa kín ấy đều là những dấu hiệu ngầm của sự ve vãn. Có người chọn lối ăn mặc lộ liễu, hở hang. Người lợi dụng tài ăn nói lanh lẹ, uyên bác. Có cô hay liếm môi, thoa son ướt, hay đặt ngón tay lên môi xoa đi xoa lại như một gợi tình. Đôi môi phụ nữ là một công cụ ve vãn rất hiệu quả. Họ thích phái nam chú ý đển họ, phần lớn để thoả mãn và xoa dịu cái tự ái ít nhất họ còn có được sự quyến rũ.
Nếu bảo rằng phụ nữ không thích phái mạnh “dê”, theo nghĩa để ý, tán tỉnh mình, là sai. Họ rất thích sự ve vãn của đàn ông nhưng mỗi người thích một lối riêng. Có người yêu kiểu nhẹ nhàng, kín đáo, người ưa lối tấn công mạnh bạo, trực tiếp.
Có “chàng” đã tâm sự khi bị than phiền về lối dê sỗ sàng hay “dê đạo lộ” của họ.
“Hỡi ơi, phụ nữ làm sao hiểu được, những hành động có vẻ mang chút hơi hướm “quấy rối” đó đã làm cho đàn ông vui và hào hứng một cách đặc biệt, nhất là khi đã có chút rượu bia. “Dê” vốn là một đặc điểm nhận dạng không thể thiếu của phái mạnh từ xưa tới nay, kia mà.”
Có người tự thú, tuy được gọi là phái mạnh nhưng thật ra đàn ông là một sinh vật rất yếu đuối(lòng) và dễ động lòng. Chỉ cần một nụ cười duyên hay xởi lởi, một mái tóc đang cột tự dưng được gỡ bung ra, chẳng hạn. Ai cấm họ tự hiểu, đó là một thông điệp ngầm đầy khuyến khích của phái đẹp. Họ xem những lối ăn mặc hở hang, thừa da thịt, thiếu vải che, là những hành động “khiêu khích” gián tiếp hay trực tiếp mở đường cho con “dê” lòng họ xổng chuồng chạy bậy. Từ ý nghĩ đi tới giai đoạn hành động, giơ tay, động chân, tùy theo cá nhân. Không phải bất kỳ người nào cũng ủng hộ tác phong lợi dụng, quờ quạng đó. Phái nam thường xem đó là nỗi xấu hổ, làm mất mặt các đấng nam nhi. Nhưng đa phần quý ông khi rượu bia, chén chú chén anh vào, đều đồng ý rằng, đó là hành động vì mất tự chủ nên thông cảm được. Do đó, có người đã khuyên phụ nữ nếu không muốn bị “dê” hay xúc phạm nên tránh xa họ khi thấy họ có chút rượu bia hay bắt đầu say.
Vấn đề đôi khi được đặt ra tuỳ thuộc vào sự khêu gợi ở người phụ nữ, vì không có lửa sao có khói? Một người phụ nữ được trùm kín từ đầu đến chân chỉ chừa đôi mắt, làm sao khiến người đàn ông phạm tội? Tuy nhiên không phải vì sợ bị dê mà tất cả phụ nữ trên thế giới phải phục sức như phụ nữ Hồi. Chọn lưạ cách phục sức khêu gợi hay tự nhân dáng có sự khêu gợi, còn tuỳ thuộc vào quan niệm sống, phong tục và thời trang của phái nữ qua từng thời đại. Trong một cuộc phỏng vấn của một đài truyền hình, các thiếu nữ được hỏi “Các cô nghĩ gì về phái nam và các cô có ước muốn chinh phục họ không?”. Phần lớn đều trả lời “Bây giờ phái nam rất thích phụ nữ có ngực to nên chúng tôi ước có một thân hình đẹp với bộ ngực to và nếu có thể, có tiền để đi sửa ngực cho to”.
Nếu hiểu theo nghĩa “dê” là sự ham muốn hay khát khao dục tình thì phái nam có ham muốn “sex” nhiều hơn phái nữ không? Theo những khảo cứu khoa học gần đây nhất, quả thật phái nam có nghĩ và khao khát điều này nhiều hơn phái nữ. Qua một báo cáo của Edward O. Laumann, giáo sư bác sĩ, khoa xã hội học của University of Chicago, phần lớn quý ông dưới tuổi 60 nghĩ đến “sex” ít nhất là 1 lần trong ngày. Chỉ có một phần tư phụ nữ tiết lộ đã nghĩ đến nó thường xuyên. Nếu so sánh giữa nam và nữ khi có tuổi, khát vọng dục tình của nam cao hơn gấp đôi. Roy Baumeister, một tâm lý gia xã hội học của Florida State University, trong một nghiên cứu thăm dò, đã tìm ra quý ông thường xuyên bị dục vọng khuấy động một cách tự phát và hay tưởng tượng đến chúng.
Con ong, cái kiến, khát khao chuyện ái ân, loài vật có mùa động tình, con người cũng vậy. Phụ nữ chẳng khác, nhưng thường thì họ chỉ hưng phấn khi nến thơm được thắp lên và toả hương đúng lúc và dĩ nhiên người bạn tình là người đầu tiên phải gieo rắc mùi hương. Nhờ nhiều nghiên cứu khoa học mà người ta khám phá ra phái nam không những có ước vọng tình dục cao mà còn có tính khẩn thiết nữa. Phụ nữ như các con sóng ngầm trong khi đàn ông là những cơn bão dữ. Tuy nhiên phụ nữ thường đặt nặng giá trị cảm xúc và mối liên hệ lên trên hơn là khát vọng dục tình. Hơn nữa họ bị ảnh hưởng nặng nề bởi thành kiến đạo đức xã hội nên họ tự kếm chế mọi dục vọng. Vì thế cho dù họ rất ham muốn hay hứng khởi họ vẫn muốn phái nam khởi động và dẫn dắt, họ rất sợ phải mang tiếng là người chủ động.
Vả lại từ xưa, ngay trong truyền thuyết họ được quan niệm là một cái dẻ xương phụ thuộc nên họ tự động phải sống, hành động, sinh hoạt và tuân thủ theo nguyên một cơ thể con người của người đàn ông. Giáo điều, quan niệm và thành kiến xã hội đã đặt để, bắt buộc họ đứng về vị trí của một dẻ xương, một kẻ phụ thuộc, kể cả chuyện dục vọng sinh lý.
Đến đây chắc bạn đọc đã có chút khái niệm trong sự so sánh, nam và nữ, ai “dê” hơn ai rồi. Tuy nhiên trong tương lai, thời thế và quan niệm thay đổi, biết đâu chúng ta sẽ có một câu trả lời khác đi, phải không các bạn?.
Trịnh Thanh Thủy

Nạn Bia Rượu Ở Việt Nam
Vi Anh
Nạn bia rượu ở Việt Nam thời CS đã thành quốc nạn, đến đổi Pháp phải “chạy nhựt chình”, đưa tin cho toàn thế giới biết.
Thực vậy, Thông tấn xã AFP của Pháp (Agence France-Presse), trụ sở chánh ở Paris, có tầm vóc quốc tế. AFP là một thông tấn xã lâu đời nhứt, là một trong những thông tấn xã lớn nhứt thế giới, có thông tin viên và văn phòng thường trực tại 150 nước trên thế giới. AFP nhơn dịp Tết Việt Nam đi tin nạn nhậu nhẹt của người Việt trong thời CS, với một dẫn dụ đọc cười ra nước mắt, lo cho tương lai VN không biết đi về đâu, với lời “phát biểu, tuyên bố” theo kiểu đoàn thanh niên CS Hồ chí Minh, của Anh Vo van Bao [bản tin tiếng Pháp không có dấu] khoảng 21 tuổi nói với AFP, rằng thì là, "Uống rượu là phải say, nếu không say khác gì vứt tiền đi.”
Tin của AFP được truyền hình IBC-TV ở Việt Nam Hải ngoại khai thác cho biết Việt Nam là một trong những quốc gia có giá bia rẻ nhất thế giới. Thức uống có độ cồn cao ở Việt Nam tăng nhanh vào bậc nhất hoàn cầu. Người Việt Nam trước kia chánh yếu thưởng thức những ly bia, chén rượu của họ tại các quán nhỏ ven đường. Bây giờ thời CSVN mở cửa cho đầu tư ngoại quốc vào, cán bộ đảng viên CS lên đồ lớn, thắc cờ ra oách, Việt Nam là nước tiêu thụ bia đứng đầu Đông Nam Á, nhập cảng đủ loại bia ngoại quốc.
Trong 10 năm qua, tỷ lệ người uống bia ở Việt Nam tăng 200%. Ô. Phuong Nam Nguyen viên chức Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ở VN cho biết một phần tư nam giới đang tiêu thụ bia ở mức "gây nguy hiểm", tức là trên 6 ly một lần, theo nghiên cứu của WHO. Theo một nghiên cứu của chính phủ VNCS, 60% các vụ bạo hành gia đình ở Việt Nam có liên quan đến bia rượu. Bên cạnh đó, việc tiêu thụ bia rượu quá mức còn dẫn tới sự gia tăng của các loại bệnh nguy hiểm như ung thư, xơ gan, tiểu đường, cao áp huyết và các bịnh về tim mạch nữa.
Thống kê cho thấy chỉ tính riêng ở Hà Nội, lượng bia rượu tiêu thụ trong dịp Tết đã đạt gần 200 triệu lít. Người dân Việt Nam tiêu thụ khoảng ba tỷ lít bia mỗi năm. Vì thế buôn bán, sản xuất bia rượu là một ngành kinh doanh lớn mạnh, lời nhiều. Hầu hết các tỉnh thành lớn đều có hãng bia riêng.
Một thoáng nhìn qua lịch sử ẫm thực Việt cho thấy, rượu du nhập từ Trung Hoa. Sách Thánh Hiền của Trung Hoa dạy “Vô tữu bất thành lễ” và coi rượu là một thuộc tính của phái nam, mà phong tục Tàu là trọng nam và trọng trưởng. Tư tưởng Tàu này đã ăn sâu vào văn hóa ẫm thực VN sau 1000 năm quốc gia dân tộc VN bị Tàu cai trị.
Trước khi thực dân Pháp đánh chiếm và cai trị VN, chỉ có rượu, đủ thứ ít ai nhớ hết tên. Khi Pháp vào đem vào nhiều thứ rượu Tây, rượu chác, rượu manh Cognac, Martell, nhưng nhiều nhứt là rượu bia làm tại chỗ với houblon mua tại Pháp, dân Miền Nam gọi là la ve. Thực dân Pháp độc quyền về rượu, các “công xi rượu” lớn, các hãng bia như BGI Saigon đều của thực dân Pháp. Thực dân Pháp có ngành bắt rượu lậu gọi là “tàu cáo”, tư nhân làm rượu lậu bị bắt là tù mọt gông và tán gia bại sản.
Nạn rượu trong thời cận đại Việt Nam Cộng Hoà và VNCS đều có. Nên trong văn chương bình dân của dân nhậu có những “ranh”[danh] ngôn của phe nhậu. Thời VNCH, “uống xả lán, sáng về sớm; uống múc mùa lệ thuỷ; cạn ly đầy đầy ly cạn; luật nhậu là vào ba ra bảy”. Thời CS “sáng xỉn chiều sai, tối la đà; rượu này ông uống bà khen, uống rượu là phải say, nếu không say khác gì vứt tiền đi.”
Rượu bia đã biến thành quốc nạn với những con số kinh hồn khiếp vía thời VNCS. Dân số VN theo Cục Thống Kê Việt Nam công bố thì kể từ ngày 1 tháng Tư năm 2014, là 90 triệu 493 ngàn người, gồm 45.87 triệu phụ nữ, 33.1% ở thành thị và 66.9% ở nông thôn.
Nhưng số rượu bia để nhậu, và “lượng tiêu thụ đồ uống có cồn của Việt Nam tăng nhanh vào bậc nhất thế giới. Việt Nam mỗi năm tiêu thụ khoảng 3 tỷ lít bia, đứng thứ ba châu Á và thứ nhất Đông Nam Á chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc dân số đông hơn VN. Giá bia VN rẻ nhứt thế giới. Trong 10 năm qua, tỷ lệ người uống bia ở Việt Nam tăng 200%. Theo ông Phuong Nam Nguyen, viên chức của WHO tại Việt Nam, thì một phần tư nam giới đang tiêu thụ bia ở mức "gây nguy hiểm", tức là trên 6 ly một lần, theo nghiên cứu của WHO. Tết này thủ dô của CHXHCN VN nhậu bia rượu ước độ 200 triệu lít, chưa nói rượu. Saigon khoảng 40 triệu lít bia và 45 triệu lít nước giải khát/tháng Tết, tăng 30 – 50% so với tháng thường.
Buôn bán, sản xuất bia rượu là một ngành kinh doanh lớn mạnh, lời nhiều. Hầu hết các tỉnh thành lớn đều có hãng bia riêng. Hàng quán, tiệm nhậu, mọc lên như nấm. Nhậu đủ kiểu, bia ôm, bia đèn mờ, bia xào khô, xào nước. Mồi đủ kiểu, từ trái ổi, trái cóc chấm ruốc đến sơn hào hải vị, đặc sản con dế, con kiến, con ốc sên. Nhà Nước miệng thì nói mở khu du lịch, nhưng tay nhà cầm quyền cho mở quán nhậu “tá lả bồn binh”.
Thanh niên biết uống rượu rất sớm, phụ nữ cũng xem uống rượu là một nghi thức trong xã giao. Dần dần hình thành tâm lý người không chịu uống rượu là tự cô lập. Đàn ông không uống rượu xem là “bản lĩnh” kém, mất nam tính, già trước tuổi hay già quá “đát”. Phó thường dân cho đến cán bộ, đảng viên, đại cán, đại gia đều uống rượu, bia. Vui uống, buồn uống, thành uống, bại cũng uống. Chính tâm lý ấy làm một số người phải cố gắng theo số đông, làm vừa lòng tập thể.
Hậu quả vô cùng tai hại cho cá nhân, gia đình và xã hội. Sức khỏe toàn dân xuống. Bịnh xã hội tăng. Ung thư, xơ gan, tiểu đường, cao máu phổ biến. Thống kê VN cho biết 60% các vụ bạo hành gia đình ở Việt Nam có liên quan đến bia rượu. Cướp giựt đường phố tăng. Nhậu nhẹt đánh chém nhau tăng. Cán bộ đảng viên hư hỏng, tham nhũng, trễ giớ làm việc vì nhậu tăng.
Vì bia rượu tai nạn giao thông tăng. Thống kê từ nhiều năm qua cho thấy, ở VN trung bình mỗi ngày Tết (tính từ 30 tháng Chạp đến mùng 5 Tết), có tới gần 50 người bỏ mạng vì tai nạn giao thông, trong đó đa số do uống bia, rượu vẫn chạy xe. Chỉ riêng thống kê của Bệnh viện Chợ Rẫy TP.HCM, chỉ trong vòng 4 ngày nghỉ Tết dương lịch 2015 vừa qua, số người chết do tai nạn giao thông liên quan bia rượu tăng gấp 3 lần so với cùng kì năm ngoái. Số ca tai nạn giao thông do bia rượu dịp Tết dương lịch 2015, cấp cứu tại BV Chợ Rẫy tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái.
Cái bịnh rượu bia của người Việt sang Mỹ cách nước nhà nửa vòng Trái Đất có người chưa dứt được dù luật Mỹ uống rượu bia nồng độ cồn trong máu cao, mà bị cảnh sát bắt thì coi như tiêu đời. Bị rút lại bằng lái xe nhiều năm, coi như bị chặt chưn. Bị phạt và chục ngàn Đô. Chánh quyền Mỹ cố gắng ngăn chận. Đặc biệt tại TP Garden Grove, Little Saigon ở Quận Cam nơi người gốc Việt định cư đông nhứt nước Mỹ, có lễ Tết Việt, Mỹ gì vui thì chành quyền công bố mở chiến dịch ngăn chận nạn uống rượu lái xe, danh từ chuyên môn là DUI, mà người học, thi lấy băng lái xe ai cũng biết khi va vào thì hình phạt rất nặng, gia đình vợ con phải khổ./.(Vi Anh)
Đầu năm lộ ảnh ngai vàng trong cung điện hoành tráng của cựu TBT Nông Đức Mạnh
CTV Danlambao - Ngay trong ngày đầu năm mới, tư dinh của cựu tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam,
ông Nông Đức Mạnh đã bị lộ một số hình ảnh xa hoa với bộ ngai vàng đầu rồng hoành tráng.
Những hình ảnh này được đăng trên báo Tiền Phong Online - cơ quan trung ương của đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
Nội dung bài tường thuật về chuyến thăm sáng mùng 1 tết Ất Mùi (19/2/2015) của phái đoàn quan chức
thuộc đoàn thanh niên cộng sản HCM đối với các cựu lãnh đạo cộng sản, trong đó có ông Nông Đức Mạnh.
Chuyến đi do bí thư thứ nhất trung ương đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Đắc Vinh dẫn đầu.

Tiếp đón đoàn khách viếng thăm, cựu tổng bí thư CSVN Nông Đức Mạnh đã cho thấy sự xa hoa,
giàu có của mình khi ngồi trên chiếc ngai vàng đầu rồng hoành tránh. Toàn bộ nội thất trong phòng tiếp khách của ông Mạnh đều là những thứ đắt tiền, trông giống như một cung điện được dát vàng của các vua chúa.
Sau bộ ngai vàng là bức tượng bán thân lớn của Hồ Chí Minh cũng được dát vàng, đây cũng có thể là nơi TBT Nông Đức Mạnh thờ cúng bố mình.

Ông Nông Đức Mạnh là tổng bí thư đảng CSVN trong suốt 10 năm, tức 2 nhiệm kỳ, từ năm 2001 cho đến năm 2011.
Theo một số thông tin đã được rò rỉ ra bên ngoài, trong thời gian còn giữ quyền lực, TBT Nông Đức Mạnh và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận hàng trăm triệu đô-la để đồng ý cho Trung Cộng vào khai thác bauxite tại Tây Nguyên.
Sau khi về hưu, ông Nông Đức Mạnh cưới thêm vợ mới là đại biểu quốc hội Đỗ Thị Huyền Tâm. Trong một lá đơn tố cáo đã được công bố trên Danlambao, bà Nông Thị Bích Liên (con gái ông Nông Đức Mạnh) đã phản đối cuộc hôn nhân này, đồng thời cáo buộc bà Đỗ Thị Huyền Tâm muốn dùng 'vỏ bọc của vợ nguyên tổng bí thư' để tránh bị khởi tố, xét xử do các hành vi trốn nợ và vi phạm pháp luật.
Ông Nông Đức Mạnh cũng được cấp một căn biệt thự rộng 850 mét vuông, nằm trên con đường ven Hồ Tây.
CTV Danlambao - Ngay trong ngày đầu năm mới, tư dinh của cựu tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam,
ông Nông Đức Mạnh đã bị lộ một số hình ảnh xa hoa với bộ ngai vàng đầu rồng hoành tráng.
Những hình ảnh này được đăng trên báo Tiền Phong Online - cơ quan trung ương của đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
Nội dung bài tường thuật về chuyến thăm sáng mùng 1 tết Ất Mùi (19/2/2015) của phái đoàn quan chức
thuộc đoàn thanh niên cộng sản HCM đối với các cựu lãnh đạo cộng sản, trong đó có ông Nông Đức Mạnh.
Chuyến đi do bí thư thứ nhất trung ương đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Đắc Vinh dẫn đầu.
Tiếp đón đoàn khách viếng thăm, cựu tổng bí thư CSVN Nông Đức Mạnh đã cho thấy sự xa hoa,
giàu có của mình khi ngồi trên chiếc ngai vàng đầu rồng hoành tránh. Toàn bộ nội thất trong phòng tiếp khách của ông Mạnh đều là những thứ đắt tiền, trông giống như một cung điện được dát vàng của các vua chúa.
Sau bộ ngai vàng là bức tượng bán thân lớn của Hồ Chí Minh cũng được dát vàng, đây cũng có thể là nơi TBT Nông Đức Mạnh thờ cúng bố mình.
Ông Nông Đức Mạnh là tổng bí thư đảng CSVN trong suốt 10 năm, tức 2 nhiệm kỳ, từ năm 2001 cho đến năm 2011.
Theo một số thông tin đã được rò rỉ ra bên ngoài, trong thời gian còn giữ quyền lực, TBT Nông Đức Mạnh và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận hàng trăm triệu đô-la để đồng ý cho Trung Cộng vào khai thác bauxite tại Tây Nguyên.
Sau khi về hưu, ông Nông Đức Mạnh cưới thêm vợ mới là đại biểu quốc hội Đỗ Thị Huyền Tâm. Trong một lá đơn tố cáo đã được công bố trên Danlambao, bà Nông Thị Bích Liên (con gái ông Nông Đức Mạnh) đã phản đối cuộc hôn nhân này, đồng thời cáo buộc bà Đỗ Thị Huyền Tâm muốn dùng 'vỏ bọc của vợ nguyên tổng bí thư' để tránh bị khởi tố, xét xử do các hành vi trốn nợ và vi phạm pháp luật.
Ông Nông Đức Mạnh cũng được cấp một căn biệt thự rộng 850 mét vuông, nằm trên con đường ven Hồ Tây.
Trọng Thua Dũng 1 Keo Nữa
Vi Anh
Báo Người Cao Tuổi và Tổng Biên Tập tức Chủ Bút Kim Quốc Hoa bị Bộ Thông Tin và Truyền Thông của Nhà Nước trừng phạt quá nặng, coi như đóng cửa tờ báo và cấm chủ bút hành nghề. Phạt tiền 699 triệu 700 ngàn đồng vì nhiều vi phạm, trong đó có việc mở trang báo điện tử nhưng không có giấy phép bị phạt 140 triệu. Rút tên miền coi như đóng cửa báo này trên mạng. Truy tố hình sự chiếu điều 258 của Bộ Luật Hình của VNCS. Rút thẻ báo chí của Tổng Biên Tập Kim Quốc Hoa vì vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Chưa đủ, Thông tấn xã Việt Nam còn nói Hội Người Cao Tuổi chủ nhơn, chủ quản, chủ nhiệm tờ báo, Bà Chủ tịch Cù Thị Hậu dã ký quyết định ngưng nhiệm vụ điều hành tờ báo đối với ông Kim Quốc Hoa từ ngày 12/2. Thật là một kiểu chơi “cạn tàu ráo mán” đối với một tờ báo của Đảng Nhà Nước VNCS. Ngần ấy thái độ và hành động giết một tờ báo cho thấy phe nắm Nhà Nước mà người cầm đầu là Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đã “chơi cạn lán, chơi sát ván” phe nắm Đảng CS cầm đầu là Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng lại thua Ba Dũng nữa. Thua trong thời gian tang gia của phe nắm Đảng bối rối, Trưởng Ban Nội Chính Nguyễn bá Thanh, con gà ruột của Tổng Trọng do Tổng Trọng từ Đà Nẵng kéo ra Hà nội để xếp lá cà chống Ba Dũng, bị thuốc bằng phóng xạ nguyên tử chết.
Phe Tổng Trọng thua phe Ba Dũng keo này là thua thêm một keo nữa, chỉ trong vòng chưa đầy một tháng. Hồi cuối tuần lễ thứ nhứt sang tuần lễ thứ hai của tháng 1/2015, trong hội nghị Ban Chấp Hành trung ương đảng, phe nắm Nhà Nước thắng, TT Dũng hạng nhứt, cao phiếu tín nhiệm nhứt. Lần đó phe Nhà Nước nhờ sáng kiến dùng con gà blog Chân Dung Quyền Lực đánh xả lán phe Tổng Trọng, trước hội nghị BCH trung ương cho điểm Bộ Chánh trị và Ban Bí Thư Trung Ương Đảng. Phe bên Đảng thua thê thảm. Tổng BT Nguyễn Phú Trọng hạng 8/20 và Phạm Quang Nghị Bí Thư Thành Uỷ Hà nội con gà của phe CS Bắc Việt được Tổ Trong vô nước ứng củ chức TBT Đảng CSVN Khóa XII đứng áp chót, thứ 19/20.
Cũng như kỳ trước năm ngoái Tổng Trọng “hồi mã thương”, tính dùng cú “đà đao” sau khi không hạ được TT Dũng trong đại hội Đảng, phải tuyên bố Đại hội Đảng không kỹ luật Bộ chánh Trị, trong đó có “đồng chí X” ám chỉ TT Dũng. Sau dó Tổng Trong nhờ Quốc Hội Đảng cử dân bầu giành quyền bài trừ tham nhũng từ tay Nhà Nước về cho Đảng. Bây giờ sau khi thua trong hội nghị BCH trung ương, Tổng Trọng tin rằng phe Nhà Nước đã bị Đảng tước quyền bài trừ tham nhũng đem về cho Đảng, nên không còn vũ khí tấn công. Tổng Trọng bèn tung con gà ruột của mình chuyên chống tham nhũng một chiều, tấn công các viên chức Nhà Nước thôi. Y bèn dùng tờ báo Người Cao Tuổi ra tố tham nhũng phe Nhà Nước tơi bời.
Nhưng TT Dũng, con cọp rừng U minh ngập mặn, căn cứ địa của CS Tây Nam bộ hậu thân của Nam kỳ Cộng sản đảng, không phải tay vừa. Ba Dũng sử dụng chiến thuật du kích cũ như khi phản công Nguyễn bá Thanh dùng Uỷ Ban Bài Trừ Tham Nhũng được Tổng Trọng giao cho để tấn công TT Dũng và phe Nhà Nước. Thủ Tướng Dũng dùng Uỷ Ban Thanh Tra của Chánh phủ lúc bấy giờ phản công lại Nguyễn bá Thanh, chứng minh tham ô như con hạm, và từ đó Nguyễn bá Thanh tit ngòi luôn. Bây giờ Ba Dũng cũng dùng Uỷ Ban Thanh Tra Chánh phủ phản công, đánh úp báo Người Cao Tuổi và Tổng Biên Tập Kim quốc Hoa với sự phối hợp ba mặt giáp công của Bộ Thông Tin, Công An và Viện Kiểm soát.
Đánh thần tốc, đánh toàn diện, trong một ngày, ngày thứ Hai: khởi tố hình sự theo điều 258 Luật Hình, đối với ông Kim Quốc Hoa - TBT Báo Người Cao tuổi, công bố kết luận thanh tra, thu hồi tên miền, rút giấy phép, rút thẻ báo chí, phạt hành chánh sạt nghiệp luôn.
Từ lâu báo Người Cao tuổi và Tổng Biên Tập tức Chủ Bút Kim Quốc Hoa là con gà ruột của phe nắm Đảng quyền, do phe CS Bắc Việt “đào bồi” tại Hà nội, từ thời Tổng Bí Thư Lê đức Anh. Vào năm 1990, thời Phạm Thế Duyệt làm Bí thư Thành ủy, ông Kim Quốc Hoa đã từng làm TBT tờ báo Tuổi trẻ Thủ Đô của Thành Đoàn Thanh Niên CS HCM Hà Nội. Theo báo Tiền phong cho biết: "Năm 2008, khi nhận chức Tổng biên tập báo Người Cao tuổi, ông Kim Quốc Hoa được nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu mời đến nhà riêng tâm sự. Từ đó, ông Kim Quốc Hoa chỉ đạo phóng viên đi sâu di sát, khai thác tối đa đề tài về sai phạm đất đai, mà mục tiêu chánh là đấu đá, đánh phá là cán bộ đảng viên phía bên nhà nước.
Về phe đảng, Ông Kim Quốc Hoa thân thiết như anh em một nhà, phe ta với các Ban bên Đảng và đặc biệt là Thành ủy Hà nội vốn là đất kinh châu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nên báo Người Cao tuổi và Ô. Tổng bí Thư Kim Quốc Hoa theo phe nắm Đảng là do luật tương cận, là điều dễ hiểu. Và phe nắm Đảng này lại là phe giáo điều, bảo thủ như Lê Khả Phiêu, Nguyễn Phú Trọng, Phạm Quang Nghị hiện thời vốn là đồng hương Thanh hóa, cốt lõi của CS Bắc Việt thân TC lâu đời.
Và phe này cũng là phe chống phe CS “Nam kỳ cục”, từ trong Nam bắc tiến ra Hà nội đổi mới kinh tế, làm tiền giỏi, dám chi như Thủ Tướng Võ văn Kiệt và đàn em như Trương tấn Sang, Nguyễn tấn Dũng và lập trường gần gũi với Mỹ.
Lâu nay báo Người Cao Tuổi và TBT Kim Quốc Hoa chống tham nhũng dữ lắm, nhưng chỉ chống tham nhũng của phe Nhà Nước mà thôi. Cũng giống như Tập cận Bình của TC, chống từ con ruồi đến con hổ tham nhưng, nhưng chỉ chống nhưng người tham nhũng của phe phái mà Ông cho là nguy hại cho quyền lực của Ông.
Báo Người Cao Tuổi và TBT Kim Quốc Hoá là tờ báo và người của phe thân TC nên cũng làm theo kiểu của TC. Đã không ít các vị tai to mặt lớn của phe Nhà Nước của TT Dũng chết vì dao to búa lên chống tham nhũng của báo này.
Tiêu biểu và nổi bật như phanh phui, tố cáo vụ biệt thự và nhà đất của cựu Ủy viên trung ương Trần Văn Truyền, khối tài sản của phó Tổng thanh tra Chính phủ Ngô Văn Khánh hay về ông Hoàng Thái Dương, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ Thanh tra Chính phủ, trường hợp đại biểu Quốc Hội Đặng Thị Hoàng Yến bị bãi miễn, v.v...
Từ đó người ta nghĩ nhiệm vụ do “trên” giao cho báo Người Cao Tuổi và TBT Kim Quốc Hoa này là phanh phui, tố giác những tham ô nhũng lạm của phe Nhà Nước để Uỷ Ban Bài trư Tham Nhũng, Ban Nội Chính có bổi tấn công, đốt cháy phe nắm Nhà Nước mà TT Dũng là người được phiếu tín nhiêm cao nhứt, có nhiều triễn vọng được đại hội Đảng đưa lên làm Tổng Bí Thư.
Phe nắm Đảng thiếu sáng tạo, bắt chước, đi sau phe Nhà Nước, nên bị phản công dỡ không kịp. Nếu blog Chân Dung Quyền Lục nhờ tố giác phe dối đich với TT Dũng mà Ba Dũng được tín nhiệm cao nhứt, thì phe năm Đảng dùng vũ khí cổ điển hơn là báo Ngừơi Cao tuổi lâu nay nổi danh chống tham nhũng tố phe nắm Nhà Nước tham nhũng, thì miếng võ này phe Tổng Trọng nghĩ báo này vừa là báo giấy vừa online nên cao hơn, mạnh hơn nhiều.. Nhưng Ba Dũng nắm quyền hành chánh, nắm ngân sách, nắm chánh phủ, có quyền điều hành chuyện nước việc dân trực tiếp hơn, dùng Uỷ Ban Thanh Tra Chánh phủ, công an truy tố tờ báo và tổng biên tập – “chết không kịp ngáp”.
Đảng CS không thể làm những việc hành chánh, hành pháp này được. Đảng chỉ có thể chỉ đạo chánh trị Nhà Nước. Nhưng nếu Nhà Nước không nghe, không làm, như trong cuộc đấu đá với Đảng, Nhà Nước bộ ngu sao mà làm, thì Đảng bó tay
Việc truy tố tờ báo Người Cao Tuổi và Tổng Biên Tập này cho thấy, báo chí của Đảng Nhà nước đã bị nứt bể nặng. Đằng sau mỗi tờ báo lớn có một đại cán hay đại gia giựt dây. Họ dùng báo như mã tấu để tấn công nhau. Nhà báo viết theo đơn đặt hàng, mạnh yếu, nhiều ít là do phong bì lớn nhỏ. Xì can đan báo chí phanh phui là do phe phái đánh nhau, chớ không phải thông tin, nghi luận báo chí đưa ra cho độc giả nhân đinh như tiêu chuẩn làm báo ở các nước tự do dân chủ./.(Vi Anh)
Vi Anh
Báo Người Cao Tuổi và Tổng Biên Tập tức Chủ Bút Kim Quốc Hoa bị Bộ Thông Tin và Truyền Thông của Nhà Nước trừng phạt quá nặng, coi như đóng cửa tờ báo và cấm chủ bút hành nghề. Phạt tiền 699 triệu 700 ngàn đồng vì nhiều vi phạm, trong đó có việc mở trang báo điện tử nhưng không có giấy phép bị phạt 140 triệu. Rút tên miền coi như đóng cửa báo này trên mạng. Truy tố hình sự chiếu điều 258 của Bộ Luật Hình của VNCS. Rút thẻ báo chí của Tổng Biên Tập Kim Quốc Hoa vì vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Chưa đủ, Thông tấn xã Việt Nam còn nói Hội Người Cao Tuổi chủ nhơn, chủ quản, chủ nhiệm tờ báo, Bà Chủ tịch Cù Thị Hậu dã ký quyết định ngưng nhiệm vụ điều hành tờ báo đối với ông Kim Quốc Hoa từ ngày 12/2. Thật là một kiểu chơi “cạn tàu ráo mán” đối với một tờ báo của Đảng Nhà Nước VNCS. Ngần ấy thái độ và hành động giết một tờ báo cho thấy phe nắm Nhà Nước mà người cầm đầu là Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đã “chơi cạn lán, chơi sát ván” phe nắm Đảng CS cầm đầu là Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng lại thua Ba Dũng nữa. Thua trong thời gian tang gia của phe nắm Đảng bối rối, Trưởng Ban Nội Chính Nguyễn bá Thanh, con gà ruột của Tổng Trọng do Tổng Trọng từ Đà Nẵng kéo ra Hà nội để xếp lá cà chống Ba Dũng, bị thuốc bằng phóng xạ nguyên tử chết.
Phe Tổng Trọng thua phe Ba Dũng keo này là thua thêm một keo nữa, chỉ trong vòng chưa đầy một tháng. Hồi cuối tuần lễ thứ nhứt sang tuần lễ thứ hai của tháng 1/2015, trong hội nghị Ban Chấp Hành trung ương đảng, phe nắm Nhà Nước thắng, TT Dũng hạng nhứt, cao phiếu tín nhiệm nhứt. Lần đó phe Nhà Nước nhờ sáng kiến dùng con gà blog Chân Dung Quyền Lực đánh xả lán phe Tổng Trọng, trước hội nghị BCH trung ương cho điểm Bộ Chánh trị và Ban Bí Thư Trung Ương Đảng. Phe bên Đảng thua thê thảm. Tổng BT Nguyễn Phú Trọng hạng 8/20 và Phạm Quang Nghị Bí Thư Thành Uỷ Hà nội con gà của phe CS Bắc Việt được Tổ Trong vô nước ứng củ chức TBT Đảng CSVN Khóa XII đứng áp chót, thứ 19/20.
Cũng như kỳ trước năm ngoái Tổng Trọng “hồi mã thương”, tính dùng cú “đà đao” sau khi không hạ được TT Dũng trong đại hội Đảng, phải tuyên bố Đại hội Đảng không kỹ luật Bộ chánh Trị, trong đó có “đồng chí X” ám chỉ TT Dũng. Sau dó Tổng Trong nhờ Quốc Hội Đảng cử dân bầu giành quyền bài trừ tham nhũng từ tay Nhà Nước về cho Đảng. Bây giờ sau khi thua trong hội nghị BCH trung ương, Tổng Trọng tin rằng phe Nhà Nước đã bị Đảng tước quyền bài trừ tham nhũng đem về cho Đảng, nên không còn vũ khí tấn công. Tổng Trọng bèn tung con gà ruột của mình chuyên chống tham nhũng một chiều, tấn công các viên chức Nhà Nước thôi. Y bèn dùng tờ báo Người Cao Tuổi ra tố tham nhũng phe Nhà Nước tơi bời.
Nhưng TT Dũng, con cọp rừng U minh ngập mặn, căn cứ địa của CS Tây Nam bộ hậu thân của Nam kỳ Cộng sản đảng, không phải tay vừa. Ba Dũng sử dụng chiến thuật du kích cũ như khi phản công Nguyễn bá Thanh dùng Uỷ Ban Bài Trừ Tham Nhũng được Tổng Trọng giao cho để tấn công TT Dũng và phe Nhà Nước. Thủ Tướng Dũng dùng Uỷ Ban Thanh Tra của Chánh phủ lúc bấy giờ phản công lại Nguyễn bá Thanh, chứng minh tham ô như con hạm, và từ đó Nguyễn bá Thanh tit ngòi luôn. Bây giờ Ba Dũng cũng dùng Uỷ Ban Thanh Tra Chánh phủ phản công, đánh úp báo Người Cao Tuổi và Tổng Biên Tập Kim quốc Hoa với sự phối hợp ba mặt giáp công của Bộ Thông Tin, Công An và Viện Kiểm soát.
Đánh thần tốc, đánh toàn diện, trong một ngày, ngày thứ Hai: khởi tố hình sự theo điều 258 Luật Hình, đối với ông Kim Quốc Hoa - TBT Báo Người Cao tuổi, công bố kết luận thanh tra, thu hồi tên miền, rút giấy phép, rút thẻ báo chí, phạt hành chánh sạt nghiệp luôn.
Từ lâu báo Người Cao tuổi và Tổng Biên Tập tức Chủ Bút Kim Quốc Hoa là con gà ruột của phe nắm Đảng quyền, do phe CS Bắc Việt “đào bồi” tại Hà nội, từ thời Tổng Bí Thư Lê đức Anh. Vào năm 1990, thời Phạm Thế Duyệt làm Bí thư Thành ủy, ông Kim Quốc Hoa đã từng làm TBT tờ báo Tuổi trẻ Thủ Đô của Thành Đoàn Thanh Niên CS HCM Hà Nội. Theo báo Tiền phong cho biết: "Năm 2008, khi nhận chức Tổng biên tập báo Người Cao tuổi, ông Kim Quốc Hoa được nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu mời đến nhà riêng tâm sự. Từ đó, ông Kim Quốc Hoa chỉ đạo phóng viên đi sâu di sát, khai thác tối đa đề tài về sai phạm đất đai, mà mục tiêu chánh là đấu đá, đánh phá là cán bộ đảng viên phía bên nhà nước.
Về phe đảng, Ông Kim Quốc Hoa thân thiết như anh em một nhà, phe ta với các Ban bên Đảng và đặc biệt là Thành ủy Hà nội vốn là đất kinh châu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nên báo Người Cao tuổi và Ô. Tổng bí Thư Kim Quốc Hoa theo phe nắm Đảng là do luật tương cận, là điều dễ hiểu. Và phe nắm Đảng này lại là phe giáo điều, bảo thủ như Lê Khả Phiêu, Nguyễn Phú Trọng, Phạm Quang Nghị hiện thời vốn là đồng hương Thanh hóa, cốt lõi của CS Bắc Việt thân TC lâu đời.
Và phe này cũng là phe chống phe CS “Nam kỳ cục”, từ trong Nam bắc tiến ra Hà nội đổi mới kinh tế, làm tiền giỏi, dám chi như Thủ Tướng Võ văn Kiệt và đàn em như Trương tấn Sang, Nguyễn tấn Dũng và lập trường gần gũi với Mỹ.
Lâu nay báo Người Cao Tuổi và TBT Kim Quốc Hoa chống tham nhũng dữ lắm, nhưng chỉ chống tham nhũng của phe Nhà Nước mà thôi. Cũng giống như Tập cận Bình của TC, chống từ con ruồi đến con hổ tham nhưng, nhưng chỉ chống nhưng người tham nhũng của phe phái mà Ông cho là nguy hại cho quyền lực của Ông.
Báo Người Cao Tuổi và TBT Kim Quốc Hoá là tờ báo và người của phe thân TC nên cũng làm theo kiểu của TC. Đã không ít các vị tai to mặt lớn của phe Nhà Nước của TT Dũng chết vì dao to búa lên chống tham nhũng của báo này.
Tiêu biểu và nổi bật như phanh phui, tố cáo vụ biệt thự và nhà đất của cựu Ủy viên trung ương Trần Văn Truyền, khối tài sản của phó Tổng thanh tra Chính phủ Ngô Văn Khánh hay về ông Hoàng Thái Dương, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ Thanh tra Chính phủ, trường hợp đại biểu Quốc Hội Đặng Thị Hoàng Yến bị bãi miễn, v.v...
Từ đó người ta nghĩ nhiệm vụ do “trên” giao cho báo Người Cao Tuổi và TBT Kim Quốc Hoa này là phanh phui, tố giác những tham ô nhũng lạm của phe Nhà Nước để Uỷ Ban Bài trư Tham Nhũng, Ban Nội Chính có bổi tấn công, đốt cháy phe nắm Nhà Nước mà TT Dũng là người được phiếu tín nhiêm cao nhứt, có nhiều triễn vọng được đại hội Đảng đưa lên làm Tổng Bí Thư.
Phe nắm Đảng thiếu sáng tạo, bắt chước, đi sau phe Nhà Nước, nên bị phản công dỡ không kịp. Nếu blog Chân Dung Quyền Lục nhờ tố giác phe dối đich với TT Dũng mà Ba Dũng được tín nhiệm cao nhứt, thì phe năm Đảng dùng vũ khí cổ điển hơn là báo Ngừơi Cao tuổi lâu nay nổi danh chống tham nhũng tố phe nắm Nhà Nước tham nhũng, thì miếng võ này phe Tổng Trọng nghĩ báo này vừa là báo giấy vừa online nên cao hơn, mạnh hơn nhiều.. Nhưng Ba Dũng nắm quyền hành chánh, nắm ngân sách, nắm chánh phủ, có quyền điều hành chuyện nước việc dân trực tiếp hơn, dùng Uỷ Ban Thanh Tra Chánh phủ, công an truy tố tờ báo và tổng biên tập – “chết không kịp ngáp”.
Đảng CS không thể làm những việc hành chánh, hành pháp này được. Đảng chỉ có thể chỉ đạo chánh trị Nhà Nước. Nhưng nếu Nhà Nước không nghe, không làm, như trong cuộc đấu đá với Đảng, Nhà Nước bộ ngu sao mà làm, thì Đảng bó tay
Việc truy tố tờ báo Người Cao Tuổi và Tổng Biên Tập này cho thấy, báo chí của Đảng Nhà nước đã bị nứt bể nặng. Đằng sau mỗi tờ báo lớn có một đại cán hay đại gia giựt dây. Họ dùng báo như mã tấu để tấn công nhau. Nhà báo viết theo đơn đặt hàng, mạnh yếu, nhiều ít là do phong bì lớn nhỏ. Xì can đan báo chí phanh phui là do phe phái đánh nhau, chớ không phải thông tin, nghi luận báo chí đưa ra cho độc giả nhân đinh như tiêu chuẩn làm báo ở các nước tự do dân chủ./.(Vi Anh)


