Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Sài Gòn và những trang sách cũ

●T.Vấn

● Đừng tưởng rằng sau một cuộc phần thư, cái còn lại chỉ là đống tro tàn của quá khứ . . .

Ngày xưa, ở nước Trung Hoa phong kiến, có bạo chúa Tần Thủy Hoàng đốt sách, chôn học trò. Ngày nay, ở Việt Nam giữa thế kỷ 20, cũng có những bạo chúa đi theo con đường dại dột của Tần Thủy Hoàng, cũng đốt sách, cũng tìm cách chôn học trò (trí thức) bằng những hình thức trấn áp, lưu đày, cưỡng bức.



Dù cuộc đốt sách chôn học trò của Tần Thủy Hoàng có tàn bạo đến đâu, thì nước Trung Hoa vẫn còn giữ được những di sản văn hóa, lưu truyền những tư tưởng sáng chói khiến ngày nay cả thế giới ngưỡng mộ, tìm hiểu và học hỏi.



Thế còn cuộc đốt sách, tiêu diệt hết những văn hóa phẩm, "những tàn dư, nọc độc của nền văn hóa Mỹ Ngụy đồi trụy" của những Tần Thủy Hoàng tân thời thì sao ?



Đừng tưởng rằng sau một cuộc phần thư, cái còn lại chỉ là đống tro tàn của quá khứ !



Đó là ý nghĩ cứ chập chờn trong đầu tôi trong những ngày tháng 7 nắng cháy da (năm rồi), có mặt ở Sài Gòn, mỗi ngày đều say mê bước vào những cửa hàng sách cũ trên đường Hồng Thập Tự cũ (nay là Nguyễn thị Minh Khai), tay mân mê những quyển sách giấy đã ố vàng, mắt nhắm lại mà như thấy hết những ngày ấy Sài Gòn, mũi hít sâu cái mùi giấy cũ ẩm mốc, và tâm tư là của anh học trò nghèo gần 40 năm về trước, mê sách hơn bất cứ thứ gì trên đời.



Con đường Hồng Thập Tự cũ, chỗ có tòa nhà rất lớn của Hội Hồng Thập Tự Việt Nam (nay là trụ sở một công ty trang trí nội thất), ngó qua bên kia là bệnh viện phụ sản Từ Dũ, lúc nào cũng đông đảo người qua lại. Đây là quãng đường quen thuộc của tôi trong suốt 7 năm mài đũng quần (vá) trên ghế Trung Học ở trường Petrus Ký . Nhiều năm sau đi lại cũng trên con đường ấy, tôi như người mộng du. Phố xá đã thay đổi quá nhiều (bao nhiêu năm rồi chứ đâu phải mới hôm qua), hàng cây hai bên đường có chỗ đã bị đốn đi , thay vào bằng những cây trẻ hơn. Quán cà phê ghế đẩu trong sân che của một biệt thự cũng không còn nữa (tất nhiên!). Nhưng dường như bây giờ khúc đường này có nhiều nhà sách hơn. Từ những nhà sách lớn có các cô gái trẻ bán hàng tha thướt trong những chiếc áo dài xanh (nhưng khuôn mặt thì luôn thiếu vắng nụ cười) cho đến những quán sách nhỏ hơn, có tính cách gia đình. Và bên cạnh đó, là những cửa hàng sách cũ, chật hẹp, ẩm mốc . Ở đây, người ta có thể tìm lại được những quyển sách hiếm hoi xuất bản từ những năm 60s hay 70s ở Sài Gòn mang tên những nhà xuất bản An Tiêm, Lá Bối, Khai Trí, Giao Điểm, Văn .v..v.. Chúng lẫn ở trong hàng hàng lớp lớp sách cũ chồng lên nhau, nhưng khi hỏi chủ nhân tiệm sách tên một quyển sách nào đó, tôi ngạc nhiên khi nhận được câu trả lời rất quả quyết là họ có hay không có quyển đó. Chứng tỏ , tuy không sắp xếp sách vở theo một thứ tự khoa học, nhưng người bán biết và nhớ những gì họ có.



Và cả khả năng thẩm định giá trị những quyển sách cũ hằng 30 năm, 40 năm nữa.



Cầm quyển Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ và Triết Học của Phạm Công Thiện (quyển sách đã là sách gối đầu giường của rất nhiều người trẻ những năm ấy) do nhà An Tiêm (hay Lá Bối ?) xuất bản khoảng năm 1964 hay 1965 ở Sài Gòn, gáy đã long được dán lại bằng nhiều lớp băng keo (tape), trang trong có nhiều chỗ bị mối mọt lỗ chỗ, chủ nhân của nó cho tôi biết đây là quyển thứ hai ông "có" được. Quyển thứ nhất ông đã "nhượng" lại cho một người quen với giá ba trăm ngàn Việt Nam tương đương 20 đô la Mỹ), mà quyển ấy so với quyển tôi đang cầm trên tay còn tệ hơn nhiều : mất trang, bìa chỉ là một tờ giấy trắng với tên tác phẩm viết bằng tay. Tôi còn hỏi ông một số tác phẩm nổi tiếng khác thời ây, ông trả lời vanh vách và cho biết, phần lớn ông đều đã có cơ hội "cầm xem lại", và, một cách hãnh diện, ông cho biết, "hiện nay chúng đã nằm rất trang trọng trong những tủ sách ở rải rác khắp nơi trên toàn thế giới."

Image

Ở một tiệm sách cũ khác, cũng ở gần đó, tôi nhìn thấy có vài số tạp chí Thiếu Nhi của ông Nguyễn Hùng Trương (tức ông Khai Trí, chủ nhân nhà sách Khai Trí lớn nhất Sài Gòn thời ấy. Ong Khai Trí vừa qua đời ở Sài Gòn hồi đầu năm ngóai) và nhà văn Nhật Tiến xuất bản từ năm 1971. Chủ nhân cho tôi biết, họ vừa bán xong nguyên bộ tạp chí Thiếu Nhi nhiều tập, vì thế tôi chỉ còn thấy vài quyển lẻ nằm đó. Họ cũng vui vẻ chỉ cho tôi qua gian hàng sách cũ bên kia đường, nơi đó, tôi có thể tìm thấy nhiều hơn những quyển sách cũ. Và nơi đây, cha con tôi đã say mê lê la ngồi phệt xuống đất cầm từng số báo Tuổi Ngọc của nhà văn quá cố Duyên Anh. Với con tôi, đó là những hình vẽ con gái mà nó cho là "cool", và nhất là hàng chữ ngoài bìa mỗi số báo : Tuổi Ngọc, tuần báo của tuổi vừa lớn. Nó nghĩ rằng sẽ tìm thấy nhiều điều thú vị trong đó. Còn tôi, là cảm giác nôn nao khó tả, khi lật từng trang giấy ố vàng, thỉnh thoảng bắt gặp đôi hàng chữ viết tay (chỉ là ngày tháng, hay một hai câu thơ mơ mộng, hay đơn giản chỉ một cái tên . . . con gái ), mà mường tượng ra chủ nhân trước đây của những số báo Tuổi Ngọc này là những cô cậu mới lớn ngày ấy, nay , nếu còn sống, hẳn đã là những ông lão, bà lão già nua tóc bạc (như tôi). Lật vội qua những trang thư độc giả, tôi bắt gặp vài cái tên nay đã trở nên quen thuộc với độc giả trẻ trong nước. Tôi cũng nhìn thấy tên một người bạn học từ năm đệ thất (lớp 6) ở Petrus Ký. Một cây bút học trò rất có hạng trên các trang bích báo (báo tường) của lớp, báo Xuân của trường. Ước ao của anh khi lớn lên sẽ trở thành nhà văn chuyên viết truyện cho tuổi thơ, mặc dù, tuổi thơ của anh rất ảm đạm. Mẹ chết sớm, bố là phu đạp xích lô, và không buổi chiều nào ông trở về nhà mà không say khướt. Nhưng đến năm đệ ngũ ( lớp 8) , sau một buổi đánh nhau dữ dội có đổ máu với băng du đãng khu vực Nguyễn Hoàng của một nhóm học sinh Petrus Ký, mà anh bạn tôi là người cầm đầu, lớp Ngũ 6 của Petrus Ký chúng tôi mất luôn người bạn nhà văn học trò. Anh bỏ học mà cả lớp không ai hiểu nguyên do. Rồi những giờ học căng thẳng của của một trường trung học luôn luôn có tỉ số học sinh thi đậu tú tài cao nhất thành phố đã cuốn chúng tôi chìm nghỉm trong những trang vở học trò. Anh bạn nhà văn thời hoa niên cũng ra khỏi tâm trí tôi hằng mấy chục năm. Chỉ đến hôm nay, sau bao nhiêu chặng đường đời có đầy đủ nước mắt nụ cười, về lại thành phố tuổi thơ , đi trên con đường đi học ngày nào, cầm quyển báo ố vàng thấy tên bạn mình tôi mới nhớ rằng mình đã có một người bạn như thế. Thành thực mà nói, nếu bây giờ chúng tôi có gặp lại nhau đâu đó, chưa chắc chúng tôi đã nhận ra nhau.



Khệ nệ ôm nguyên một chồng báo Tuổi Ngọc trên tay, tôi nói bâng quơ với chủ nhân cửa hàng sách cũ về những đợt thu gom sách báo chế độ cũ hồi 1975 của chính quyền cộng sản sau khi tiếp thu Sài Gòn, những buổi các cán bộ văn hóa thành phố, phường khóm phát động thanh niên sinh viên học sinh gom sách báo lại và đốt như đốt những uế vật ghê tởm. 30 năm, một cuộc phần thư với mưu toan chôn vùi lịch sử trong những đống tro tàn, chôn vùi những thành tựu văn hóa của một nửa nước Việt Nam vì sợ rằng với tính đa dạng, phóng khoáng, nhân bản và tự do của nó, kẻ thắng trận trên mặt trận quân sự sẽ trở thành kẻ bại trận ngay trên mảnh đất mình vừa chiếm đoạt trên một mặt trận khác . Nhưng vô ích. Những thứ tôi đang có trên tay là một chứng minh. Chúng đã sống sót như chúng tôi đã sống sót. Với sự bảo bọc nuôi dưỡng của lòng dân. Bất giác tôi nhớ đến những chuyến xe lửa chuyển tù từ Bắc trở lại miền Nam những năm 82, 83. Chuyến ra Bắc, chúng tôi bị nhốt trong những toa chở súc vật hay hàng hóa. Đi ngang qua những địa danh nổi tiếng trong cuộc chiến tranh vừa qua trên lãnh thổ phía Bắc, chúng tôi được dàn chào bằng những viên gạch ném lên từ hai bên đường. Hơn 5 năm sau, trên đường trở lại quê nhà, chúng tôi cũng được dàn chào một cách cuồng nhiệt hơn bằng những gói bánh, trái cây, thuốc lá ném tới tấp vào cửa sổ xe lửa từ những con người mà 5 năm trước có lẽ cũng là họ đã ném đá vào chúng tôi. Một nhà văn miền Bắc, sau này đã thú nhận rằng không phải đợi lâu, ngay sau khi theo chân đoàn xe tăng tiến vào thành phố Sài Gòn, bà đã biết rằng mình và mấy chục triệu dân miền Bắc đã bị lừa gạt từ bao nhiêu năm nay . Và cuộc đốt sách chưa từng có trong lịch sử Việt Nam chỉ là một hành động ngu xuẩn hòng cố sức che dấu sự lừa dối của giới cầm quyền.




Sau này, những người vượt thoát được từ 1975 đã tìm cách tái bản lại một số sách báo cũ của miền Nam trước 1975 dưới hình thức photocopy những ấn bản mà họ mang theo được hay in ấn lại hoàn toàn mới và phát hành khắp nơi ở hải ngoại. Công việc ấy cũng góp phần phổ biến và gìn giữ những di sản văn hóa dân tộc cho cả người Việt sinh sống ở ngoài nước lẫn trong nước. Và bây giờ, với mạng lưới điện toán toàn cầu, rất nhiều những bộ sách cũ xuất bản ở miền Nam trước chính biến 1975 đã được đánh máy lại, đưa lên các trang thư viện điện tử, hình thành nên một sự giao lưu văn hóa khắp nơi, từ trong nước cho đến hải ngoại (tất nhiên, vẫn có những hạn chế từ trong nước vì các bức tường lửa - firewall - tạo ra bởi nhà cầm quyền nhằm ngăn chận người trong nước tiếp xúc với các luồng sóng cổ vũ cho dân chủ tự do ở bên ngoài).



Trước một tình hình như thế, liệu những cuộc phần thư của các bạo chúa Tần Thủy Hoàng đương thời có đạt được mục đích là tiêu diệt hết thảy những giá trị văn hóa đối nghịch với đường lối của họ và nhằm ngu dân để dễ bề cai trị hay không ?



Thực ra, câu trả lời KHÔNG đã có sẵn trong đầu của chính những người đề xướng ra các nỗ lực tuyệt vọng nói trên, nhưng họ vẫn cứ nhắm mắt thực hiện vì , xét cho cùng, họ không còn sự lựa chọn nào khác để cứu vãn một chế độ mà, nếu không có nó, họ không thể tồn tại.



Với tôi, khi cầm những quyển sách cũ trên tay, tôi không chỉ nghĩ đến giá trị văn hóa tư tưởng mà chúng hàm chứa đã khẳng định sự tồn tại cần thiết của chúng, mà còn trân trọng cả những trang giấy ố vàng, những cái gáy sách sờn bạc, vì những dấu vết quá khứ ấy là chứng tích của bao nhiêu con người, trải qua bao thời đại, đã từng đặt bàn tay mình trên những trang sách, đã từng trăn trở suy tư, đã từng băn khoăn thao thức. Ở một nghĩa nào đó, với tôi, những quyển sách cũ ẩn dấu sự sống của một lịch sử dân tộc, sự tồn tại tâm linh của một nền văn hóa và trên hết, mang ý nghĩa rất cụ thể về một bóng dáng tiền nhân hàng chục năm, hàng trăm năm về trước đã từng hiện hữu.

Chẳng phải chúng ta hằng năm, cứ vào độ đầu xuân, lại giở bài thơ " Ong Đồ " của Vũ Đình Liên ra mà bâng khuâng cảm khái :

Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ

(Ông Đồ - Vũ Đình Liên)

Đó sao ? ?



T.Vấn

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Tình Dục trong Ca Dao

BS Hồ Đắc Duy




Tình Dục là một khía cạnh văn hóa, một sắc thái rất đặc trưng, một vấn đề rất đời thường và luôn luôn hiện diện trong cuộc sống của con người. Nghiên cứu sâu về Tình Dục thì không thể bỏ qua khía cạnh văn hóa này, vì ở đó nó thể hiện được quan niệm của mỗi dân tộc, mổi sắc dân thậm chí là từng vùng nhỏ địa lý, tình dục dược nói đến trong các tác phẫn văn học nổi tiếng như Truyện Kiều, Cung Oán Ngâm Khúc, Bích Câu Kỳ Ngộ, Phan Trần, Hoa Tiên... và cũng là một đề tài vô cùng phong phú trong ca dao. Ca dao VN là một loại văn chương bình dân có một sức mô tả rất sinh động tất cả nếp sống, sinh hoạt, phong tục tập quán xã hội của đại đa số dân chúng, nó được thể hiện qua lối nói rất giản dị, thẳng thắng, trung thực không màu mè, chải chuốt,là một kho tàng bất tận để khai thác trong nhiều lãnh vực khác. Khảo sát về mặt tình dục trong ca dao VN mới thấy được những nhận xét thật uyên bác rất tinh tế của người nông dân, mới thấy được sự mô tả tâm tư, tình cảm, sự rung động về tình yêu, sự khao khát và nỗi đam mê về thân xác là rất thật, rất đời thường. Bộ mặt tình dục trong loại văn chương bình dân thể hiện theo đúng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của mỗi chữ, mỗi câu nói điều đó có thể làm cho một số nhà " đạo đức " lên án là dâm ô, tục tỉu, những chuyện không nên nói nơi chỗ đông ngườị

Sự thật là: dù có chỉ trích thế nào đi nữa thì nó vẫn đã tồn tại và sẽ tồn tại vì nó là ý thức châm biếm, óc hài hước của dân tộc, của một lớp người bình dân trong suốt lịch sử tồn tạị

Hôm qua lên núi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em kêu nó cũng không tha
Nó đè nó nhét cái mả cha nó vào

Lại có câu:

Văn chương chữ nghỉa bề bề
Thần L.. ám ảnh mà mê mẫn đời

Hóa ra Thần L.. chi phối cả cuộc sống, bởi vậy không lạ khi người Champa đem hai "cái ấy" Yoni và Linga đễ thờ phươ.ng. Ngày xưa người Việt cũng như người Tàu đều có khuynh hướng sùng bái tính dục bao gồm sự sùng bái cơ quan sinh dục, sùng bái chuyện sinh nở, sùng bái vấn đề tính giaọ Cho nên trong ca dao người ta nói nhiều đến chuyện nàỵ Ông Đổng, bà Banh có thể xem là biểu tượng về tình dục trong ca dao

Có chồng từ thuở mười lăm.
Chồng chê tôi nhỏ không nằm cùng tôị
Đến chừng mười chín đôi mươị
Tôi ngủ dưới đất chàng lôi lên giường

Một rằng thương, hai rằng thương
Có bốn cẳng giường gãy một còn ba!
Hết đồng anh lại pha chì
Anh hàn chín tháng cô mình thụ thai

Sinh ra được thằng bé con trai
Về sau, giống bố gặp ai nó cũng hàn.
Tròng trành như nón không quai
Như thuyền không lái như ai không chồng

Thôi thôi, tôi van câu rằng đừng
Tôi lạy cậu rằng đừng
Tuổi tôi còn bé chưa từng nguyệt hoa
Tôi về gọi chị tôi ra
Chi tôi đã lớn nguyệt hoa đã từng

Em đừng khinh quân tử nhỏ nhoi
Con lươn bao lớn nó xoi lủng bờ
Em ơi đừng thấy nhỏ mà rầu
Con ong bây lớn đốt cái bầu cù queo!

Em ơi đừng thấy nhỏ mà khinh
Con thằn lằn bây lớn ôm cây cột đình tổ cha!

Chú ý: Tổ cha: tiếng địa phương có nghĩa là rất lớn

Em đừng chê anh nhỏ mà lầm
Hòn đá đập nằm dưới,
hòn đá cầm nằm trên
Chẳng thà nó nhỏ mà dài
Còn hơn chụp bụp nữa ngoài nữa trong
(Chụp bụp nghĩa là to mà ngắn)

Chẳng thà nó nhỏ mà cong
Còn hơn tổ bố nữa trong nữa ngoài

Cồng cộc bắt cá bầu eo
Chi chê tôi bé, tôi trèo chị coi

Câu đố:
C.. ba chia đút vô l.. ngoáy
Chãy máu ra lè lưởi liếm liền

Câu đố:
Ngất nga ngất ngưỡng tựa cần câu
Tay chân không có miệng trên đầu

Câu đố:
Đi nhai, đứng ngậm ngồi cười
L.. này L.. chẳng sợ ai
Sợ thằng say rượu đ... dai đau L...

C .. to lo chi đói
Cơm nhà L..vợ
Sờ L..béo, đéo l... gầy
Vú nẫy L.. sưng
Ví phấn với vôi
Ví L.. con đĩ với môi thợ kèn

Bà ba đi chợ đường quai
Vừa đi vừa tỉa lá khoai bưng L..

Bà ba đi chợ đường cồn
Vừa đi vừa tỉa lông L.. bán trăm

Trên trời có ông sao
Rua L.. em tua tủa có thua chi nào
Lông tơ lún phún mép L..
Lăn tăng con cá diếc lòn vào lòn ra

Cây trời có cái chỉa ba
Thương em thì hãy đem tra nó vào

Trèo lên cây khế giữa ngày
Váy thì trụt mất, lưỡi cày thò ra
Lưỡi cày ba góc chẻ ba
Muốn đem đòn gánh mà va lưỡi cày

Trời mưa trời gió đùng đùng
Cả bầy C.. lọ mang tơi đi tìm

Cơm ăn mỗi bửa mỗi niêu
Tội gì bắt ốc cho rêu bám L..

Ví ví von von
Anh cho một cái, cỏng con về nhà

Thấy L.. lạ như quạ quạ thấy gà con
Trong nhà đã có đồ chơi
Song le còn muốn của người thêm xinh

Kim mà đâm thịt thì đau
Thịt mà đâm thịt nhớ nhau suốt đời

C.. vạy thì ngoáy L.. già
Ngoáy lui ngoáy tới chết cha L.. già

C.. vạy thì ngoáy l.. già
Ngoáy lui ngoáy tới nó ra nước nhờn

Gió nam non thổi lòn hang chuột
Đ.. em rồi, đ.. nữa được không em

Nhiều phân tốt lúa
Nhiều lụa tốt L..

L... tốt vì lụa Lúa tốt vì phân
Vú em như quả mướp hương
Tay anh phật thủ đôi đường gặp nhau

Hơn nhau tấm áo manh quần
Cởi ra bóc trần ai cũng như ai

Lở khi ăn miếng trầu xanh
Đêm lo ngày sợ mặt xanh như chàm

L.. vàng, bẹn ngọc, đóc san hô
Chóc ngóc như đóc mồ côi

Con gái mười bảy mười ba
Đêm nằm với mẹ, khóc la đòi chồng
mẹ giận mẹ phát ngang hông:
"Đồ con chết chủ đòi chồng thâu đêm"!


Chú ý: Đồ chết chủ, địa phương ngữ, có nghĩa là mất
dạy Phát: đánh vào người bằng bàn tay xòe (phách)

Đêm bảy ngày ba vô ra không kể
Bán dạ tam bôi tửu
Bình minh sổ trản trà
Nhất nguyệt dâm nhất độ
Lương y bất đáo gia

Đêm tối uống vài ba chén rượu
Sáng ra lót dạ mấy chung trà
Một lần một tháng e vừa đủ
Chắc chắn lương y khỏi tới nhà

Bảy lượt mổi ngày đòi má nó
Đương nhiên y sĩ phải xông nhà ???

Cha chết không lo, lo trâu méo L...
Áo xông hơi của chàng vắt mắc
Đêm em nằm em đắp lấy hơi
Trời mưa gió rét kìn kìn
Đắp đôi dãi yếm hơn nghìn chăn bông

Chuột kêu chút chít trong rương
Anh đi cho khéo đụng giường mẹ la

Chú ý: Ngày xưa cái giường của người đàn bà nhà quê là loại giường chỏng đóng bằng tre già, lâu ngày thành xiu lỏng, đụng vào đó kêu cót két, giống như tiếng chuột kêu chút chít. Có lẽ bà mẹ của cô gái kia đã một lần chợt thức giấc vì nghe tiếng chuột kêu, hoặc nghe
tiếng giường kêu

Mẹ ơi con muốn lấy chồng
Con ơi mẹ cũng một lòng như con

Cô Ba, cô Bốn lấy chồng
Cô Năm ở lại giật mồng tăng tăng

Xót lòng mẹ góa con côi
Kiến ăn lần hồị L.. lớn bằng mo

Áo dài chẳng nệ quần thưa
Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm

Em ham giàu em lấy thằng bé tí ti
Làng trên xã dưới thiếu gì trai tơ

Ngó lên gò mả, Ngó xuống gò găng
Gặp chị bẻ măng, Trật quần bắt kiến
Thấy tôi hay liếng, Chị bảo bắt giùm
Tôi bắt một đổi, Thấy cái đùm đen thui!

Gió nam non thổi lòn hang cóc
Phận em nghèo nên mồng đóc khô rang

Gió nam tốc dải yếm đào
Sao anh trông thấy oán anh không vào thắp hương

Anh về sương gió lạnh lùng
Ở đây chung gối chung mùng với em

Anh về để áo lại đây
Đêm khuya em đắp, kẻo gió tây lạnh lùng

Đêm đông trời lạnh như đồng
Mượn chi thì cho mượn, mượn chồng thì không
Làm thân con gái phải lo
Mùa đông rét mướt ai cho mượn chồng

Thương em đút C. qua rào
Không thương rút lại gai quào rách dạ
Thương em đút C. qua rào
Tai nghe chó sủa, rút lại nên bị gai cào xướt dạ

Trăng lên đỉnh núi mu rùa
Cho anh đ. chịu đến mùa anh trả khoai

Vú em như cái chủm cau
Cho anh bóp cái có đau anh đền

Vú em đang giá một tiền
Cho anh bóp cái anh đền năm quan

Nứng L ... mà cạ cây vông
Cạ lên cạ xuống gai châm đầy l...

Vân Tiên ngồi dựa gốc môn
Chờ cho trăng lặn sờ L. Nguyệt Nga
Nguyện Nga biết ý không la
Vân Tiên thấy vậy sờ ba bốn lần

Mười ba mười bốn lum săng
Mười lăm mưới sáu lông quăm mép L.
Mười bảy mười tám thẹn thùng
Hai mươi mười chín như khùng như điên

Ra đường con mắt ngó nghiêng
Về nhà chui chốn buồng riêng vê mồng

Dậm chân xuống đất cái đùng
Vỗ L ...cái phạch chào anh hùng đến đây!

Dậm chân xuống đất kêu bon
Vọc C. cho cứng chào con nứng L.
Bà Đội cho chí bà Cai
Bà nào hay đố chữ cũng váy ngoài L.. trong

Nứng l... đỏ mặt Nứng C... đỏ lổ tai

Sướng lỗ khu su con mắt (lỗ khu tiếng Huế là hậu môn)

Cực chi da diếc diếc da
Áo em hai vạc trải ra anh nằm

Nứng C. máu Cái L. què

Trăng lên khuất bóng cây dừa
Làm thân con gái phải chừa đi đêm!

Thương em không dám vô nhà
Đi qua đi lại hỏi: "gà bán không?"

Em là con gái đêm hôm
Anh đừng lui tới mà nam nồm tội em!

Chú ý: Nam, nồm: gió nam, gió nồm, đây ý nói tiếng đồn xấu, tiếng chì tiếng bấc.

Thương nhau nào ngại sang giàu
Tối lửa tắt đèn nhà ngói như nhà tranh

Chị kia lớn mổng cao mu
Lại đây cho tôi gởi con cu trọc đầu
Cu tôi vừa mới đâm lông
Cho mượn cái lồng nhốt đỡ vài đêm

Cu tui ăn đậu ăn mè
Ăn chi của chị mà chị đè cu tui
Tui chưa trách chị mà chị lại trách tui
Con chị đi lên đi xuống nên con tui mang bầu

Con chị mang chín tháng không rầu
Con tui mang hai hòn dái nặng đầu quanh năm

Ôi O bán cồm hai lu
Đi mô tui gởi con cu về cùng
Cu tui tui ấp tui bồng
Chớ bỏ vào lồng mà ốm cu tui
(Tiếng Huế goi O là cô )

Thấy đua, thì cũng đua đòi
Thấy tỉa lông nách cũng xoi lông L..

Tham giàu lấy phải thằng Ngô
Đêm nằm như thể cành khô đâm vào

Tiếc thay con gái mười ba
Liều thân mà lấy ông già tám mươi
Tiếc thay con ngựa bạch mà thắt cái dây cương thừng
Tiếc thay con người ấy thế ma đi ôm lưng cái lão già

Tiếc thay cây mía ngọt lại sâu
Tiếc con gái tốt mà cái bím bầu không lông

Hởi cô mặc yếm hoa tầm
Chồng cô đi lính cô nằm với ai
Cô nằm cô đẻ thằng bé con trai
Chồng cô về hỏi: Con ai thế này ?

Con tôi đi kiếm về đây
Có cho nó gọi bằng thầy thì cho

Hởi cô cô yếm thắm bùa đeo
Chồng cô cô bỏ cô theo chồng người

Hỡi nàng má đỏ hồng hồng
Cổ cao, miệng rộng, lông L. vắt vai

Hát cho chó cắn, bò lồng
Hát cho con gái bỏ chồng mà theo

Rung rinh nước chãy trên đèo
Bà già lật đật mua heo cưới chồng

Ở đây có đứa lấy trai
Cho nên trời hạn nắng hoài không mưa

Ông già ông đội nón cời
Ông ve con nít ông trời đánh ông
Ông ơi tôi chẳng lấy đâu
Ông đừng cạo mặt nhỗ râu tốn tiền

Tiện đây mận hỏi thăm đào
Vườn hồng đã có kẻ vào hay chưả
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Khứ nhật ngã đề xuân nhất tự
Hà nhân lai đáo phá thành thung
Lang quân bất thức lang quân hận
Tọa tất xuân đề ngọa tất thung

Ngày ấy ta đề "xuân" một chữ
Cớ sao ai lại phá thành "thung"
Bởi chàng không rõ nên chàng giận
Ngồi ắt là "xuân", nằm ắt "thung"

Ngó vô đám bắp khô bao
Muốn vô mà bẻ người ta rào tứ tung
Một mai trống thủng còn vành
Lấy da trâu bịt lại cũng lành như xưa

Đau bụng, lấy bụng mà chườm
Nhược bằng không khỏi, hắc hương với gừng

Em ơi! Trống lũng khó hàn
Dây dùng khó đứt,
người khôn khó tìm

Nước chãy hòn đá lăn cù
Con chị đã vậy thì bèn con em!

Rộng đồng thì gió thổi luôn
Khi vui cô chị khi buồn cô em

Mít ngon anh đánh cả xơ
Chị đẹp em đẹp anh sờ cả đôi

Gió đưa bụi chuối sau hè
Đã ve con chị lại tò vè con em!

Trông chồng mà chẳng thấy chồng
Để em vắng lạnh phòng không một mình

Buồn tình cha chả buồn tình
Biết ai lẻ bạn cho mình kết đôi

Quét nhà long mốt long hai
Cha mẹ đi vắng dẫn trai vô nhà

Chú ý: long mốt long hai: làm dối, quét một chổi sót một chổị Đây ý nói làm thì vụng về, chỉ giỏi đường trai gáị

Chàng vông mà đậm lúa lép
Rựa lụt mà cắt dép da
Trai tơ mà lấy vợ già
Nhai cơm mà sú thưa:"bà nuốt đi"!

Chú ý: chàng vông: chàng bằng gỗ vông, nhe..

Mèo hoang thì chó cũng hoang
Một chàng ăn trộm gặp nàng nhổ môn

Chú ý: nên hiểu theo nghĩa bóng (gian phu dâm phụ)

Cầm chài mà vải bụi tre
Con gái mười bảy đi ve ông già!

Một vợ mà xử không xong
Còn đòi hai vợ cho cong ... cái xương suờn
Từ nay sống cũng bằng không
Thôi rồi cái kiếp làm chồng làm cha

Cho dù có sống đến già
Cho dù béo tốt cũng là phí toi
Bây giờ pháo đả tịt ngòi
Gia tài còn lại ... một vòi nước trong

Củ lang nấu lộn củ mì
Cháu lấy chồng dì kêu dượng bằng anh

Xứ tôi có núi "Xách Quần"
Lấy ai thì lấy xin đừng lanh chanh
Yêu anh thì giữ lấy anh
Xin đừng ăn tỏi chê hành là hôi

Xách quần chạy ngược chạy xuôi
Chạy mỏi cẳng rồi đứng lại bơ vơ ...

Con gái chơi với con trai
Coi chừng cặp vú như hai sọ dừa

Có chồng thì mặc có chồng
Tôi đi ngủ dạo kiếm ít đồng mua rau!

Một hai họ nói rằng không
Dấu chân ai đứng bờ sông hai người

mẹ ơi mẹ bạc như gà
Con chưa lẻ mẹ, mẹ đà lẻ con

Ai về nhắn với ông câu
Cá ăn không giật để lâu mất mồi

Cam đường bóc vỏ còn the
Thấy em còn nhỏ anh ve để giành

Chú ý: cam đường: loại cam dại trái nhỏ, thường mọc dưới chân núi, mùi thơm như mùi cam, lá giống lá chanh, cây có gai như gai quít, trái chín ăn rất ngọt, trái xanh thì đắng và hơi chua

Thằn lằn tặc lưỡi mái tranh
Đôi ta còn nhỏ để giành mai sau
Bông thơm nở cạnh bìa rừng
Ong ve chưa dám đậu, lũ bướm đừng lau chau!

Cô tú kẽo kẹt cậu cai
Vợ chồng thuyền chài kẽo kẹt dưới sông

Con chim điểu nó biểu con chim huỳnh
Biểu tổ chức, biểu nhỏ, biểu mình ưng ta
Chim chuyền bụi ớt líu lo
Líu lo bụi ớt đừng cho con chim chuyền

Liệu bề dát được thì đau
Đừng gầy rồi bỏ thế gian họ đào

Trời sinh cái cửa ra vào Sao em lại khoe sắc tài
Độc bình để trống nhành mai anh cắm vào!

Chú ý: đào (đào bới): chưởi rủa

Em ơi anh bịnh nhức dầu
Hay đi đái rát lại đau ngọc hành
Thuốc gì đỏ đỏ xanh xanh
Thì em đi lấy cho anh một liều

Sáng trăng tôi được chồng ai
Tôi cột gốc xoài ai chuộc cho tôi
Ba quan tiền điếu bó mo
Con heo đóng cũi tôi cho chuộc chồng

Chú ý: Đại ý: một gã chuyên "hai hoa" bị gái ngoan bắt được trói lại rồi đánh tiếng. Quan tiền điếu bó mo: tiền đúc bằng đồng điếu, tức loại đồng tiền thau. 1 quan = 10 tiền; 1 tiền = 60 đồng. Đem những đồng tiền bó vào mo cau cho dễ mang.

Những mạng thích chí ngao du
Dạo chơi cho biết xuân thu thế nào
Nhất lê, nhì lựu, ba đào
Nhìn xem thấy cảnh muốn vào bẻ bông.

Thương cha nhớ mẹ có hồi
Thương anh lúc đứng lúc ngồi không an
Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dãi yếm cho chàng sang chơi

Ước gì dãi yếm em dài
Để em buột lấy những hai anh chàng

Ai ơi chơi lấy kẻo già
Măng mọc có lứa người ta có thì
Chơi xuân kẻo hết xuân đi
Cái già xồng xộc nó thì theo sau

Chẳng ăn chẳng mặc chẳng chơi
Bo bo giử lấy của trời làm chi

Bà già đã tám mươi tư
Ngồi bên cửa sổ viết thư tìm chồng

Trai tơ lấy gái nạ dòng
Cầm bằng uống máu làng trong làng ngoài

Cô kia má đỏ hồng hồng
Cô chửa có chồng, còn đợi chờ ai

Buồng không lần lữa hôm mai
Đầu xanh mấy lúc da mồi tóc sương

Cô kia cắt cỏ bên sông
Cái váy thì cột, cái lông thì dài
Thuyền chài nó trả quan hai
Thưa rằng chẳng bán để dài quét sân

Cổ tay em trắng lại vừa tròn
Để cho ai gối đến mòn một bên

Nghiêng tai hỏi nhỏ ông Phật rằng:
Trai thanh lấy gái có chồng được không?

Chơi cho thủng trống long bồng
Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập nghiêm
Chơi cho thủng trống long chiêng
Rồi ra ta sẽ lập nghiêm lấy chồng

Tính quen chừa chẳng được đâu
Vạ làng, làng bắt mấy trâu mặc làng

Không chồng mà chửa mới ngoan
Có chồng mà chửa thế gian thường tình

Em mất chồng em chẳng có lo
Anh đây mất vợ nằm co một mình

Em đây là gái năm con
Chồng em rộng lượng em còn chơi xuân

Có chồng càng dể chơi ngang
Đẻ ra con thiếp con chàng con ai

Hai tay cầm lấy quả hồng
Quả chát phần chồng, quả chín phần trai

Vú sửa mà bửa làm đôi
Nữa cho con bú, nữa cho trai đem về

Đêm nằm vuốt bụng thở dài
Thương chồng thì ít thương trai thì nhiều

Mày ăn cơm hay ăn khoai
Một bài thơ ấy ngâm hai ba lần

Chử tình đáng giá ngàn vàng
Từ anh chồng củ đến chàng là năm
Còn như yêu trộm nhớ thầm
Họp chợ trên bụng đến trăm con người

Đánh tôi thì tôi chịu đau
Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu

Lẳng lơ chết cũng ra ma
Chính chuyên chết cũng chôn ra ngoài đồng
Lẳng lơ cũng chẳng hao mòn
Chính chuyên cũng chẳng sơn son để dành

Cau khô mà bỏ hộp đồng
Mặt mi không xứng làm chồng tau mô

Chưa quen đi lại cho quen
Tuy rằng cửa đóng mà then không gài

Em đang bắc nước sôi sôi
Nghe anh có vợ, quăng nồi đá vung

Gặp nhau từ bến Đại Đồng
Quên nhau hay đã có chồng mà quên

Đêm đêm ngồi dưới bóng trăng
Thương cha nhớ mẹ không bằng thương anh
Đêm nằm lưng chẳng bén giường
Mong cho mau sáng ra đường gặp anh

Thương anh chẳng dám nói ra
Chiều chiều đi dạo vườn hoa khóc ràn
Đêm nằm khô héo lá gan
Mong cho mau sáng ra đàng gặp anh

Ngó lên trăng chúc sao nghiêng
Vui chung với bạn sầu riêng một mình

Ngồi buồn nghĩ càng thấm
Hột cơm tấm cắn làm hai
Rau lang đỡ bữa liễu với mai đừng lìa
Em với anh như khóa với chìa
Đừng để cho ống liệt, khóa với chìa lìa nhau

Chú ý: bụng ống khóa bị hư

Bóng trăng ngã lộn bóng tre
Xin chàng đứng lại mà nghe thiếp thề

Vườn đào, vườn lựu vườn lê
Bởi người lấy nhụy buớm xê ra ngoài

Nghĩ mình lại giận lấy mình
Ao chưa đậu sống rập rình tra khuy

Chú ý: Đậu sống: Ao chưa may đường sống lưng

Đèn hết dầu đèn tắt
Nhang hết vị hết thơm
Anh đừng lên xuống đêm hôm
Để thế gian đàm tiếu tiếng bấc tiếng nồm tội em

Tay cầm cọng lạc bẻ cò
Lòng thương da diết, giả đò làm lơ
Thương sao thương dại thương khờ
Trong nhà không dám khóc, ra bụi bờ khóc than

Hai tay vin lầy đòn rồng
Tội trời con chịu theo chồng con cứ theo
Ra đi cha mắng mẹ rầy
Không đi thì sợ ngoài này anh trông

Con cu bay bổng qua sông
Hỏi thăm cô đó có chồng hay chưả
Có chồng năm ngoái ngày xưa
Năm nay chồng để như chưa có chồng

Đói lòng ăn trái khổ qua
Nuốt vô thì đắng, nhả ra bạn cười
Bạn cười thì mặc bạn cười
Tháng năm đi cưới tháng muời có con

Có con nên phải thua người
Mắc cho con bú, mắc cười với con.

Đang khi lửa tắt cơm sôi
Lợn kêu con khóc chồng đòi tòm tem
Bây giờ lửa đã cháy lên
Lợn no con nín, tòm tem thì tòm

Bài ghi chép này chỉ làm mỗi một việc là thu thập các câu ca dao, tuc ngữ liên quan đến chuyện này và cũng rất mong rằng quí vị có biết thêm thì xin gởi về cho chúng tôi để cho tập hợp này được phong phú hơn. Nếu không, e có ngày nó sẽ mai một bỏi vì đây là loại văn
chương truyền khẩu mà bây giờ thì người ta xữ dụng giấy và internet nhiều hơn là nói.

* Tục ngữ phong dao (trích "Tục Ngữ Phong Dao" của Nguyễn văn Ngọc) Ca dao

Ba bà đi chợ đường quai,
Vừa đi, vừa tỉa lá khoai bưng L.
Ba bà đi chợ đường cồn
Vừa đi vừa tỉa lông L. bán trăm.

Nước nóng đổ lọ bình vôi
Tôi ngồi tôi nghĩ bố tôi, tôi buồn
Bố tôi dở dại dở khôn,
Say mê cái L. bỏ mẹ con tôị

Câu đố:
Ba bà mà giang chân ra
Một ông đứng giữa mà tra C. vàọ
(ba ông đầu rau và nồi cơm)

Ba ông ngồi ghế
Một ông cậy thế,
Một ông cậy thần
Một ông tần ngần đút C. vào bếp.
(Bể thổi lửa)

Bì bà, bí bạch chân cò
Bí ba bí bách, nằm co giữa giường
Đoạn rồi sờ vú sờ sườn
Sờ sao cho nó đỡ buồn mà thôị
(Bánh dầy)

Bốn chân chong chóng, hai bụng kề nhau
Cắn giữa phau câu, nghiến đi nghiến lại.
(cối xay)

Bốn chân mà lại có đuôi
Đầu như đầu c., lưng lại gù lưng.
(con chuột)

Cái gì vừa quả vừa hoa,
Con nít cũng thích ông già cũng mê
Ra đường dù thấy tràn trề
Ngắm nhìn thì được, mân mê thì đừng
(hai "quả đào tiên").

Cái hoa tim tím, cái nhị điều đều,
Đàn ông đâm nhiều, đàn bà đâm ít.
(cái máy khâu)

Canh một thì trải chiếu ra,
Canh hai bóp vú, canh ba sờ l.
Canh tư thì lắc om sòm
Canh năm cuộn chiếu ẳm con ra về.
(Người kéo vó)

Chấm chấm mút mút đút vào lỗ trôn,
Hai cái lông l. cái dài cái ngắn.
(xỏ kim)

Chưa chết đã đem đi chôn
Chưa ra đầu ngõ, vạch lồn xem ghe.
(Người cầm bó rơm xin lửa)

Chưa hỏi đã cưới liền tay
Bức chí ta nên phải lấy mày
Đêm nằm tơ tưởng sờ cùng mó
Mó đến mày, lại sướng đến ta.
(cái quạt)

Gầy gò có bốn cái xương
Cái giải thòng thơng vướng anh c. dàị
(Quả nhãn)

Già thì đặc bí bì bì
Con gái đương thì rỗng toách toành toanh.
(cau lúc già và lúc là cau hoa)

Lồm xồm hai mép những lông
Ở giữa có lỗ đàn ông chui vào
Chui vào rồi lại chui ra
Năm thì mười họa đàn bà mới chui.
(Cái áo tơi)

Già ăn với cà kheo
Lại thêm c. lõ, lại đèo nắm lông.
(Miếng giầu thuốc)

L. già da dính tận xương
Váy xanh mỏng mảnh lại thương c. dài.
(Cối giã gạo)

Lù lù như mu l. chị
Lị xị như đầu c. tôi
Ngày ngay đi khắp mọi nơi
Đến đêm lại chui vao mu l. chi..
(Con rùa)

Lưng tròn đít lại bảnh bao
Mân mân mó mó đút ngay vào
Thủy hỏa âm dương sôi sình sịch
Âm dương nhị khí sướng làm saọ
(điếu thuốc lào)

Mình bằng quả chuối tiêu
L. bằng vỏ trấu, lổ bằng niêụ
(Con chuột)

Mình tròn, da lại trắng tinh
Hể nóng đến mình thì ưỡn vú ra
Ăn phải thịt gà lại tịt vú đị
(bánh đa sát-kê)

Mình tròn trùng trục, đầu toét toè loe
Đút vào con gái, cô con gái nghe,
Đút vào bà lão, bà lão lắc.
(đôi hoa tai)

Người thì cao lớn trượng phu
Đóng mười lần khố, trật cu ra ngoàị
(cây chuối có hoa)

Rành rành ba góc, giữa con cóc ngồi
Hai bên thiên lôi, hai bên địa võng.
(hai cái vú)

Rau âm phủ nấu với mủ l. tiên
Ngựa cửa quyền nấu với ả l. tranh.
(Măng nấu với rươi, cua nấu với khế)

Thoạt vào thì vén váy lên
Cái dưới mấp máy, cái trên gật gù
(dệt cửi)

Trên lông dưới lông,
tối lồng làm một
(con mắt)

Vừa bằng cổ tay đâm ngay vô l.
Gặp ông quan ôn, bỏ l. mà chạỵ
(Con chuột và con mèo)

Tục ngữ phong dao

Anh em bất nghĩa chi tồn
Anh đánh miếng l. em đánh miếng gh.
Anh em bất nghĩa chi khoèo
Anh thì đ. mèo, em lại cầm đuôị

Bủng người tươi đ.
Ba chiếc sóng cồn, mấy cái lông l. rụng sa.ch.

Bà cốt đánh trống long tong
Nhảy lên nhãy xuống con ong đốt l.

Bà đội cho chí bà cai
Bà nào hay đố chữ cũng l. ngoài, váy trong.

C. ai vừa mũi người ấy.

Của l., l. đòi, của c., c. quên.

Có l. thì giữ,
C. ông hay chữ đi đêm.

Con mày con nuôi chẳng bằng con c. làm ra

Chơi no bỏ gio vào đ.
Chồng chết còn chửa hết tang
L. đà ngấm ngáp như mang cá mè.

Đánh đĩ gặp năm toi c.
Đĩ có tông, ai giồng nên đĩ
Đủn đỡn như đĩ được cái đanh.
Đẻ con khôn mát l. rời rợi
Đẻ con dại thảm hại cái l.

Đi sau ăn rau bà đẻ,
Ăn giẻ chùi trôn, ăn l. chấm muốị

Đĩ xơ, đĩ xác, đĩ xạc, đĩ xờ
Đĩ ở trên bờ, đĩ lặn xuống aọ

Gà Tò, lợn Tó, vó Vạn Đồn,
l. Cổ Am, c. Hành Thiện.

Gái đâu có gái lạ đời,
Chỉ còn thiếu một ông trời không chim.

Giữ được đằng trôn, đằng l. quạ mổ.
Trai thấy l. lạ như quạ thấy gà con.

Già thì già tóc, già tai,
Già răng già lợi, đồ chơi không già.

L. rằng l. chẳng sợ ai,
Sợ thằng say rượu, đ. dai đau l.

Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo
l. không cạp, l. méo làm bạ

Mưu con đĩ, trí học trò.
May hơn khôn, lớn l. hơn đẹp.
Nuôi con chẳng biết tính con
Hể vú gai gạo thì l. chớp đông.

Nứng c. thì vặc đến nhà
L. còn đau mắt không ra đến ngoàị

No cơm ấm cật dậm dật mọi nơi
Quần áo tả tơi mọi nơi chẳng dật.

Nằm đất hàng hương còn hơn nằm hàng cá
L. cô hàng cá còn nhẵn hơn má anh chàng hương.

Nhăn nhở như l. lở sơn.
Quang không lành, mắng giành không trơn
L. không lành, mắng quanh hàng xóm.
Rền rĩ như đĩ phải tim lạ

Ra đường ai nói thế nào
Về nhà lấy thớt lấy dao băm l.
Thấy đua thì cũng đua đòi
Thấy tỉa lông nách, cũng xoi lông l.

Trân trân như l. trần không đáỵ
Uống rượu ngồi dai, dái mài xuống đất.

Văn chương chữ nghĩa bề bề,
Thần l. ám ảnh cũng mê mẫn nguờị
Xót lòng mẹ góa con côi
Kiếm ăn lần hồi, l. lớn bằng mo.

Trân trọng



BS Hồ Đắc Duy

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Phiếm Luận Về Thân Phận Đàn Ông

Lý Lạc Long
Cho đến đầu thế kỷ thứ 21, thì trên địa cầu thì con người vẫn còn đúng như "con người" đã tự xếp hạng như là một sinh vật cao cấp nhất của mọi loài. Ở trên trái đất, sinh ra làm con người có lẽ vẫn là một đặc ân của tạo hóa ban cho. Nhưng sinh ra làm đàn ông có còn là một điều may mắn không? Vì theo thời gian "giá trị" của nam và nữ dường như đã thay đổi. Nhân dịp Lễ Từ Phụ (Father's Day), xin gởi đến các bậc mày râu (đang làm cha, sắp làm cha) chút suy tư vặt vảnh về "thân phận đàn ông" của chúng ta.
Khoảng 500 năm trước Tây lịch, Khổng Tử đã nhận xét: "Nhơn tối linh ư vạn vật" vẫn còn đúng. Nhưng những quan điểm của Nho giáo về nam và nữ, chẳng hạn như: "Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô"; "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tùng tử"... chắc phải được xét lại. Vì dựa trên thực tế thì "giá trị" của nam giới có lẽ đang trên đà xuống giá mau chóng.

Từ như ông vua nho nhỏ:
Đêm năm canh, năm vợ ngồi hầu
Vợ cả pha nước, têm trầu chàng xơi
Vợ hai trải chiếu, chia bài
Vợ ba coi sóc nhà ngoài, nhà trong
Vợ tư ấp lạnh quạt nồng
Vợ năm thức dậy trong lòng xót xa
Chè thang, cháo đậu bưng ra
Chàng xơi một bát kẻo mà công linh.

Xuống giá còn:

"Ba đồng một mớ đàn ông
Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một mụ đàn bà
Đem về mà trải chiếu hoa mời ngồi "

Nếu Khổng Tử còn sống không biết ông sẽ giải thích sao về hiện trạng này và ông có chấp nhận được không?

Theo Cơ đốc giáo, thì Eve được tạo ra từ xương sườn của Adam. Trong sách Ê-phê-sô chương 5, câu 22,23,24 như sau: "Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa, vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội Thánh. Hội Thánh là thân thể Ngài và Ngài là Cứu Chúa của Hội Thánh. Ấy vậy như Hội Thánh phục dưới Đấng Christ thì đàn bà phải phục dưới quyền chồng mình trong mọi sự". Đa số dân chúng ở các quốc gia Âu Mỹ theo Cơ đốc giáo, nhưng căn cứ theo thực tế thì phải nói là đàn ông Âu Mỹ đa số theo "đạo thờ bà". Như vậy thì Kinh Thánh không đúng hay vì con người sống sai? Theo tôi thì tại đàn ông Âu Mỹ (hậu duệ của Adam) sống không đúng theo Kinh Thánh răn dạy. Cũng giống như Adam ngày xưa không nghe lời Thiên Chúa (Đấng Jehovah) dặn bảo mà nghe lời của Eva ăn trái cấm (trái hiểu biết) để bị đuổi khỏi vườn địa đàng Eden. Vì sống trái với Kinh Thánh nên đàn ông ở Âu Mỹ hiện giờ mới bị sắp hạng thấp hơn chó nữa. Thứ nhất là phụ nữ, thứ nhì là trẻ em, thứ ba là chó và cuối cùng là đàn ông (first is lady, second is chid, third is dog... and last is man). Câu nói "giỡn" nhưng phản ánh đúng một phần với thực tế thân phận đàn ông ở xứ Mỹ. Chó không phải hớt hải đi tìm việc làm, cũng không có cảnh mặt mày tái mét, ngơ ngác nghe chủ báo tin bị cho nghỉ việc. Chó không phải đóng thuế, không phải lao động mà đôi lúc còn được ung dung nằm ngủ trên giường bà chủ. Nhưng nếu căn cứ theo mực độ vi phạm lời dặn bảo của Kinh Thánh (và hình phạt tương xứng) để giải thích sự giảm giá trị của đàn ông thì nghe không có hợp lý lẽ lắm vì phụ nữ đã vi phạm "lời dặn bảo" trầm trọng hơn so với đàn ông. Xa hơn, nếu căn cứ theo giá trị để mà tính thì Eva (nữ) chỉ bằng 1 trong 36 xương sườn của Adam (nam) cũng không giải thích được hiện tượng biến đổi giá trị theo chiều hướng "nữ trọng nam khinh" hay "âm thịnh dương suy" hiện giờ. Suy luận dựa trên hiểu biết của cá nhân đã đi vào ngõ cụt. Thôi cách dễ nhất là đổ mọi tội lỗi cho ông Adam. Thế giới ngày xưa mới chỉ có hai người, thế mà Adam đã sợ Eve rồi. Trái cây "biết điều thiện và điều ác" Chúa đã cảnh cáo là không nên ăn mà Eve cũng bẻ ăn. Ăn rồi bắt Adam cùng ăn. Adam cũng nghe lời ăn theo. Việc ấy đã gây ra bao nhiêu điều rắc rối cho hậu duệ của ông. Phải chi lúc bà Eve vừa thò tay định bẻ trái cấm, Adam ngăn lại thì đàn ông chúng ta đâu có khổ. Đúng như vậy, vì nếu họ không ăn "trái cấm hiểu biết", thì có hiểu biết chi đâu để tòm tèm, và đâu có nhân loại. Nhưng chuyện đã qua, ngày nay trên trái đất đã có đến 6.5 tỷ con người và đang trên đà tăng trưởng thêm. Thời gian gần đây, căn cứ theo thống kê của số lượng trẻ sơ sinh chào đời thì tỷ lệ bé trai sinh ra lại cao hơn bé gái. Theo qui luật "của hiếm là quý" thì điều này chắc chắn sẽ làm giảm giá trị của nam giới thêm nữa. Không lẽ thân phận đàn ông cứ tuột dốc mãi như vậy sao? Không hẳn là như vậy. Nói đúng hơn có thể là "tuyệt vọng" cho thế hệ chúng ta nhưng hậu duệ của chúng ta vẫn còn hy vọng vì hết suy sẽ tới thịnh lại theo quan niệm của Lão giáo.

Theo Lão giáo mọi sự vật đều có hai mặt âm dương để tồn tại và phát triển. Loài người chắc cũng không ở ngoài quy luật này. Nói khác thì loài người cũng là sự kếp hợp và biểu hiện của dương (nam) và âm (nữ). Dựa theo thuyết âm dương và thực tại của thế kỷ 21 thì âm đang trên đà thịnh và dương đang trên đà suy thoái. Xem chừng thuyết âm dương có thể giải thích được một cách hợp lý sự biến đổi giá trị về giá trị giữa nam và nữ của nhân loại. Chúng ta thử "ngâm cứu" sâu thêm chút xem.

Âm và dương là khái niệm cốt lõi của nền triết học cổ Đông phương, âm và dương không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng phần tử, từng chi tiết. Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong dương có mầm mống của âm và ngược lại. Để biểu thị sự biến hoá không ngừng và qui luật của sự biến hoá đó, người xưa đặt ra "thuyết âm dương" (thái cực sinh lưỡng nghi, lương nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm và thiếu dương. Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài). Nói chung, phàm cái gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướng lên, vô hình, nóng rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực đều thuộc dương. Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu hình, lạnh lẽo, đen tối, nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm.

Người xưa còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là ức chế lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau và theo tất cả mọi vật chất cụ thể được tạo nên trong thế giới này đều do năm yếu tố ban đầu là nước, lửa, đất, cây cỏ và kim loại (tức năm hành thủy, hỏa, thổ, mộc, kim). Từ những nhận xét này "thuyết ngũ hành" ra đời. Trên cơ bản, thuyết ngũ hành bao gồm hai phương diện tương sinh (giúp đỡ nhau) và tương khắc (chống lại nhau). Trên cơ sở sinh và khắc lại thêm hiện tượng chế hóa, tương thừa (thừa thế lấn áp), tương vũ (hàm ý khinh lờn). Chế hoá là một khâu trọng yếu trong thuyết ngũ hành, đây sự cân bằng tất nhiên phải thấy trong vạn vật. Nếu có hiện tượng sinh khắc thái quá hoặc không đủ thì sẽ xảy ra sự biến hoá khác thường. Chế hoá là chế ức và sinh hoá phối hợp với nhau. Trong chế hoá bao gồm cả hiện tượng tương sinh và tương khắc. Hai hiện tượng này gắn liền với nhau vì không thể không có sinh mà cũng không thể không có khắc. Không có sinh thì không có đâu mà nảy nở; không có khắc thì phát triển quá độ sẽ có hại. Cần phải có sinh trong khắc, có khắc trong sinh mới vận hành liên tục, tương phản, tương thành với nhau. Tóm lại theo thuyết ngũ hành thì tương sinh, tương khắc, chế hóa, tương thừa, tương vũ biểu thị mọi sự biến hóa phức tạp của sự vật. Thuyết ngũ hành là một bổ sung và làm cho thuyết âm dương hoàn bị hơn.

Cũng may mắn, dự theo thuyết âm dương thì nam giới vẫn có thể hy vọng để mà sống, vì sống không có hy vọng là đang đứng bên thềm của sự chết. Dù hy vọng này rất là mong manh cho các thế hệ đàn ông sinh ra vào những thập niên của cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Sinh ra làm đàn ông (nhất là đàn ông VN) chắc chắn không phải là một sự may mắn trong giai đoạn này. Thế kỷ 21 có lẽ sẽ vẫn là thế kỷ của các bà. Đàn ông Âu Mỹ chịu đựng trước và dường như họ đã quen. Thiết nghĩ, chắc đàn ông Âu Mỹ cũng đặt hy vọng vào "ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay" (tomorrow will be better than today) để mà sống. Đông hay Tây, có am tường thuyết âm dương hay không, dường như con người đều hy vọng vào ngày mai tươi sáng hơn cho số phận của mình.

Ở Việt Nam thì thời kỳ "phu xướng phụ tùy" cũng đã qua từ lâu. Cái hình ảnh người vợ lúc nào cũng vui vẻ, dịu dàng để chồng được hài lòng, lúc nào cũng cố gắng mang hạnh phúc đến cho chồng dù có chịu nhiều thua thiệt. Chỉ còn là một hình ảnh lịch sử qua thơ ca.

Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười tủm tỉm rằng anh giận gì
Sao anh vội giận em chi
Muốn cưới vợ bé em thì cưới cho.

Sau tháng 4, 1975 một số đàn ông Việt theo vận nước đổi dời phải lìa bỏ quê hương sinh sống ở các nước Âu Mỹ thì càng thắm thía hơn với cái thân phận đang xuống giá của mình, cố tập theo "triết lý thờ bà" như đàn ông Âu Mỹ, bám víu vào cái hy vọng mong manh "ngày mai sẽ tốt hơn" để mà sống. Các bà biết "tỏng tòng tong" như vậy, nhưng nhiều phụ nữ Việt Nam dường như còn vượt qua xa lắc phụ nữ Âu Mỹ về việc thực thi quyền bình đẳng đến bất bình đẳng của nữ giới. Có lẽ mới có được "công cụ" mới nên phụ nữ Việt Nam sử dụng rất là hăng hái, thừa thắng xông lên và cho rằng: "Một trăm thằng đàn ông không bằng cái mông đàn bà", hoặc "một trăm thằng con trai không bằng cánh tay người con gái".... Thân phận đàn ông Á đông ở xứ Âu Mỹ đã xuống đến tận cùng đáy vực rồi thế mà thỉnh thoảng vẫn còn bị các bà đem ra đem dán ở sau xe so sánh với chó để chọc quê ở công chúng : "Càng biết nhiều về đàn ông, tôi càng thương con chó của tôi nhiều hơn" (The more I know the men, the more I love my dog). Đàn ông mà làm như vậy bị "kêu ca" là cái chắc hoặc dám bị rắc rối với pháp luật vì tội kỳ thị giới tính.

Cũng may là ở Bắc Mỹ, cũng còn có được một ngày vinh danh những người cha. Nhìn tấm thiệp và gói quà của con gởi, tôi tự an ủi. Ít ra thì giá trị đàn ông của mình với thế hệ tương lai vẫn còn rạng rỡ. Như một người đàn ông giác ngộ thân phận của mình tôi tự nhủ : "Sinh bất phùng thời... thân trai mười hai bến nước, trong nhờ đục chạy... không đủ can đảm chạy thì phải có can đảm chịu."

Xót xa cho phận đàn ông
Còng lưng trả nợ "tổ tông" trẻ, già
Lỡ tay ký giấy làm cha
Bịt tai, nhắm mắt qua phà cho xong.

Lý Lạc Long (15/6/06)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Những bức thư cũ
Người ta giữ lại những bức thư cũ vì rất nhiều lý do khác nhau. Đầu tiên là vì lý do cá nhân, thường là những bức thư tình. Tiếp theo đó là đến mức độ quan trọng của những bức thư (nội dung mà những bức thư đề cập đến). Lý do thứ ba mà người ta giữ lại những bức thư cũ là vì sự kính trọng với người đã viết ra bức thư đó. Tiếp theo đó là những bức thư mà người nhận có ý định sẽ trả lời trong một vài ngày tới. Một lí do đơn giản khác là người ta thường thấy tiếc khi phải vứt vào sọt rác những bức thư được viết bởi một người dù thân hay không thân nhưng đã dành thời gian để chia sẻ, để mắng mỏ, để an ủi, để khuyên nhủ… Tóm lại, mỗi người đều có nhiều lí do khác nhau để giữ lại những bức thư cũ. Chính vì vậy nên có nhiều bức thư thay vì bị bay vèo vào sọt rác lại được xếp gọn gàng vào một góc; nhiều bức thư khác được cất cẩn thận vào một chiếc hộp gỗ xinh xắn với rất nhiều đồ lưu niệm quí giá khác của chủ nhân.

Và rồi chẳng ai để ý đến chúng nữa. Chúng im lặng nằm dưới lớp bụi phủ mờ cùng vô số những thứ linh tinh khác. Để rồi cho đến một ngày, có thể là đúng vào ngày người ta đọc di chúc của ông chủ của chúng hoặc cùng lắm là sau đó mấy ngày, chúng sẽ được dọn dẹp và đốt sạch cùng câu thở dài: “Ông ấy là người rất tiết kiệm, chắt chiu”. Đó là kết cục bi thảm nhất của những bức thư. Cũng có những trường hợp khả quan hơn đó là khi những chủ nhân chuyển nhà hoặc sửa nhà và thấy có nhu cầu phải dọn dẹp những thứ linh tinh lâu ngày không đụng đến. “Nào, đã đến lúc soạn những bức thư và đống giấy tờ cũ này thôi” - nói rồi con người lần giở từng trang giấy cũ kỹ ám bụi, phai màu và hồi tưởng lại những sự kiện quan trọng và thú vị trong quá khứ của mình.

“Yan Kamarek nhận 45 crôn tiền sửa tủ”. Tủ nào nhỉ? - bạn sẽ tự hỏi mình, - Và Yan Kamarek là ai vậy? Rồi bạn sẽ cố gắng lục tìm trong trí nhớ xem trong đời bạn đã từng có những cái tủ như thế nào… Mà nếu có nhớ ra thì cũng chẳng để làm gì cả… Tiếp tục nào. Thư của ai đây? à, của một người bạn học cũ. “Bức thư cuối cùng của bạn đã làm cho tôi thấy bối rối và khó hiểu…”. Chúa ơi, bức thư nào mà lại làm cho người ta khó xử vậy? Trong bức thư gửi anh ta mình đã viết những gì vậy?… Làm sao mà nhớ nổi bây giờ? “Thưa ngài, để trả lời thư của ngài tôi xin thông báo để ngài biết rằng giá của một mét gờ đá theo qui cách mà ngài yêu cầu sẽ là…” Gờ đá nào vậy? Chịu! Bây giờ có dí súng vào đầu thì cũng không thể nhớ ra là mình đã hỏi giá một mét gờ đá để làm gì…

Nào, thử xem tiếp xem sao. Cứ mỗi bức thư lại như một câu đố không có lời giải đáp. Tại sao người ta lại viết cho mình như vậy nhỉ? Người ta cám ơn mình vì cái gì? Đây là ai? Chẳng lẽ mình lại trao đổi thư từ với anh ta hay sao? Thế còn Greta là ai? Tại sao mình lại giữ bức thư này? Thế còn bức thư này? Nó nói về chuyện gì vậy? Lại còn lời chỉ trích nào nữa đây? Mình đã làm gì mà phải chịu nhiều ấm ức này? Sao lá thư này mình lại không gửi đi nhỉ? Mình đã nghĩ lại ư? Hay do dự điều gì đó? Ôi, mình chẳng nhớ gì cả. Và tất cả những thứ này chẳng nhẽ chính là quá khứ của mình hay sao? Kể cũng lạ thật! Có cảm giác thật ngượng ngùng cứ như là mình đang đọc trộm thư của người khác vậy.

Chẳng lẽ đây lại chính là quá khứ của mình ư? Nếu bây giờ phải dựa vào những bức thư này để viết một cuốn hồi kí về cuộc đời mình thì sao nhỉ? Thì sẽ ngạc nhiên lắm đây và chính mình cũng không thể hiểu được tại sao mình lại có một quá khứ khó hiểu như vậy.

Nhiều thư quá! Chắc là phải đốt hết đi thôi. Chỉ giữ lại những bức thư của những người thân yêu nhất…

Từ lá thư nối nhau rơi xuống bồ đựng rác. Và bạn sẽ giống như một cái cây vào mùa thu đang trút xuống những chiếc lá vàng. Thật là tiếc khi phải đốt đi nhiều thư thế này. Chỉ còn lại một vài lá thư mới nhất, quan trọng nhất, thân thương nhất. Rồi bạn sẽ cất chúng vào một chiếc phong bì to và cẩn thận xếp xuống đáy của một chiếc hòm nào đó. Để rồi một ngày nào đó sau đó rất lâu bạn lại ngồi lần giở từng trang thư cũ và hồi tưởng về quá khứ của mình, vừa lắc đầu vừa ngạc nhiên đầy thắc mắc: Đấy là ai? Tại sao lại viết như thế? Mình xin lỗi cô ấy về chuyện gì vậy…

Hắt xì! Hắt xì!

Chúc sức khoẻ! Nhiều bụi thế này thì làm gì mà không hắt xì hơi!!!

C.Capek Việt Anh dịch.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Đọc lại tạp chí Nam Phong và Phạm Quỳnh Nam Phong (1917-1934) là một trong những tạp chí có công rất lớn trong việc cổ động cho văn học quốc ngữ, cho nền quốc học Việt Nam. Đặc biệt cho việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam trên cơ sở kết hợp, dung hòa hai nền văn chương, học thuật, tư tưởng Đông - Tây. Các biên tập viên giữ các chuyên mục của tạp chí đều là những cây bút vững vàng, sắc sảo, nhạy bén với những vấn đề văn hóa, trong đó phải kể đến ông chủ bút là Phạm Quỳnh.

Khi đất nước mất về tay thực dân Pháp, việc giành lại chủ quyền lãnh thổ tạm thời bị thất bại, thì việc đặt ra hồn nước được giới sĩ phu đặc biệt quan tâm. Các nhà nho thập niên đầu thế kỷ XX đều có những bài thơ thức tỉnh hồn nước, tiêu biểu là Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc. Tuy nhiên, chữ hồn của các nhà nho này chỉ cái gì đó vô hình, thiêng liêng, có khả năng tồn tại lâu dài đối lập với thể xác. Bởi vậy, khái niệm hồn nước vẫn chưa được giải thích rõ như là bản sắc văn hóa dân tộc.
Phạm Quỳnh, với tư cách là một người làm học thuật, trên Nam Phong (số 164, 7 - 1931), đã viết bài Bàn về tinh thần lập quốc đề cập đến vấn đề này. Ông dẫn ý của văn hào Pháp Ernest Renan trả lời câu hỏi "Thế nào là một nước?" mà cho rằng: "Cái nguyên tố dựng nên một nước không chỉ ở thổ địa, cư dân mà thôi, cốt là ở cái ý nguyện chung của người ta muốn cùng nhau sum vầy sinh hoạt, cùng nhau cộng thích đồng hưu, nhìn về trước thì cùng nhau chung một cuộc lịch sử để tạo gian nan, ngó về sau thì cùng nhau chung một lòng hy vọng vẻ vang rực rỡ, nói tóm lại là ở cái mối vô hình nó ràng buộc người ta lại, làm thành cái đoàn thể thiên nhiên mà bền chặt, trăm nghìn vạn mớ người ta cùng nhau như một người, lâm thời có thể răm rắp đứng lên mà đối với mọi sự ngoại hoạn. Cái vô hình, tức là cái tinh thần lập quốc, tức gọi là quốc hồn".

Như vậy, theo tác giả, quốc hồn chính là văn hóa: văn hóa cổ truyền là phần hương hỏa cha ông mà chúng ta phải gìn giữ; còn văn hóa hiện đại là cái chúng ta phải xây dựng, bồi đắp. Nhưng, cụ thể văn hóa Việt Nam là gì? Theo nghĩa căn cốt nhất, đó là quốc học. Nhưng trước khi đặt ra vấn đề quốc học Việt Nam như thế nào thì phải xem (cho đến thời điểm bấy giờ) chúng ta đã có quốc học chưa? Nếu chưa hoặc đã có thì làm thế nào để xây dựng hoặc tài bồi?
Vấn đề này đã làm nổ một cuộc tranh luận. Có người cho là có, như Sở Cuồng Lê Dư chẳng hạn. Thậm chí ông này còn lập ra tủ sách "Quốc học tùng thư". Nhưng cũng có người cho là không, như Phan Khôi. Thực ra, chuyện có không không có cũng khó phân định, vì mỗi người hiểu quốc học một cách khác nhau. Bởi thế, khi vào cuộc, Phạm Quỳnh đã phải đưa ra định nghĩa về quốc học. Theo ông, nó "gồm những phong trào học thuật trong một nước, có đặc sắc với nước khác, và có kết tinh thành những sự nghiệp trước tác, lưu truyền trong nước ấy và ảnh hưởng đến các học giả trong nước ấy". Sau đó, tuy không trả lời trực tiếp, nhưng ông lại đưa ra một nhận xét khá xác đáng và không kém phần hóm hỉnh: "Sở dĩ phải khơi ra câu hỏi đó, đủ biết rằng nếu nước ta đã từng có một nền quốc học, thì cái quốc học ấy cũng nhỏ nhen, eo hẹp, không có gì đủ đem khoe với thiên hạ".

Đi tìm nguyên nhân của tình trạng trên, Phạm Quỳnh cho rằng ấy là do "cái học của ta", cụ thể hơn cách học. Một nước nhỏ lại đứng cạnh một nền văn minh lớn thì dù muốn dù không việc học là tất yếu. Nhưng hơn hai mươi thế kỷ học Tàu mà nền quốc học của ta chưa có "môn hộ" (tức trường phái học thuật) riêng, học vấn thì chưa thoát "vòng giáo khoa" (tức tri thức học đường, kiến thức phổ thông) để lên "cõi học thuật", con người thì chưa thoát nổi "tư cách học trò", "tâm lý học trò". Kìa như Nhật Bản, ông so sánh, người ta cũng học Tàu nhưng lại có tư tưởng học thuật riêng, bởi thế có quốc học. Có nhiều nguyên nhân, ông giải thích, nhưng có lẽ chủ yếu là do người Nhật không học theo chế độ khoa cử Tàu, còn ta "học Tàu lại chỉ thuần một phương diện cử nghiệp, là cái học rất thô thiển, không có giá trị gì về nghĩa lý tinh thần cả, mài miệt về một đường đó trong mấy mươi đời, thành ra cái óc bị tê liệt đi mà không sản xuất ra được tư tưởng gì mới lạ nữa".

Dĩ nhiên, nỗi đau này không phải lỗi của riêng ai. Phạm Quỳnh đã phân tích các tình thế địa lý, lịch sử và chính trị giữa ta (khác với Nhật) và Tàu đã dẫn đến cách học ấy. Điều này, một mặt mở ra một khả năng có thể thay đổi cách học một khi tình thế đổi thay, mặt khác cho thấy một di căn của nó đến cả thời đại Tây học. Nội dung học thì mới, nhưng cách học vẫn cũ như cũ. Bởi vậy, nói như Phan Chu Trinh xưa, hủ Nho thì nay hủ Tây. Mà với tư cách học trò, nhất là trò hủ, thì vẫn thường xảy ra "cái tệ con chiên theo đạo người thường hay ngoan đạo hơn chính người nước phát hành ra đạo ấy". Hơn nữa, mọi học thật (thuật) một khi đã mang tính cách tôn giáo (dù dưới hình thức nào) thì cũng dễ thành học giả.
Thức nhận được thảm họa của cách học cũ (dù có thể mang lốt mới), Phạm Quỳnh đã đặt một cơ sở khoa học cho cách học mới để từ đó dựng xây một nền quốc học chân chính, một nền văn hóa mới. Đó là sự tổng hợp văn hóa Đông Tây. Thực ra, định đề này không mới, nhưng cách đặt và phân tích vấn đề thì khá thuyết phục, nhất là với tư duy bấy giờ. Thoạt tiên, Phạm Quỳnh phân biệt văn hóa Đông Tây ở hai đặc trưng lớn của nó là đạo học và khoa học. "Khoa học ở đây là nói về cái phương pháp, cái tinh thần của sự học của người Thái Tây, khởi xướng ra khoa học là lối học phân ra khoa loại, đặt thành phương pháp, để cầu lấy kết quả đích xác, tìm lấy chân lý sự vật. Khoa học là phép học chỉ châu tuần trong cõi thực tế, không mơ tưởng những sự huyền vi. Khoa học là sự học lấy lý luận làm tiên phong, lấy thực nghiệm làm hậu kính, lấy sự thật hiển nhiên làm căn cứ, lấy lẽ phải tất nhiên làm mục đích". Lối học khoa học này thật mới mẻ và cũng thật khác xa với đạo học. Một đằng thì học cho đời (ứng dụng), khách quan, một đằng thì học cho mình (thụ dụng), chủ quan; một đằng thì chuộng mới, một đằng thì nệ cũ; một đằng thì càng học càng giàu có, một đằng càng học thì càng quy giản, rút lại chỉ còn mấy điều cốt yếu đủ để tự mình giác ngộ mình...

Nhưng để xây dựng một nền quốc học, để thoát khỏi cảnh suốt đời làm học trò người, dù là trò giỏi, thì phải xây dựng cho được một nền quốc văn. "Nước ta sở dĩ không có một nền quốc học chân chính, phần nhiều là bởi không có một nền quốc văn xứng đáng". Nhưng quốc văn là gì? Theo Phạm Quỳnh, đó là ngôn ngữ dân tộc (langue nationale), mà sự phát triển của nó được biểu hiện ở văn chương và học thuật. Văn chương thì chúng ta có, nhưng học thuật thì chưa. Để làm rõ kết luận này, trong bài Quốc học với quốc văn (1919), Phạm Quỳnh chia văn chương thành văn chơi và văn có ích. Trước đây, cha ông ta mới chỉ có văn chơi bằng tiếng Việt, còn văn có ích thì đều làm bằng chữ Hán cả. Bởi thế mà tiếng ta chỉ mới phát triển phần "hình nhi hạ", tức những từ cụ thể, giàu hình ảnh để biểu đạt tình cảm, mà không phát triển phần "hình nhi thượng" để có thể có tư duy trừu tượng, lôgíc. Ở ta, do đó, thơ ca dồi dào đến mức lạm phát, còn văn xuôi, nhất là văn luận lý, thì không có. Tiếng Việt như con chim mới chỉ bay bằng một cánh.
Đó là lỗi của việc học và dùng Hán văn (sau này là Pháp văn) làm ngôn ngữ chính thức. Học một tử ngữ là học một tử văn (culture morte). Mà, "xưa nay ở Đông phương cũng vậy, ở Tây phương cũng vậy, nước nào còn tôn sùng một cái văn hóa cổ thì không thể nào có quốc văn, có quốc học được". Hơn nữa, quốc học là bản thể (mục đích), quốc văn là hình chất (phương tiện), nên chỉ có sự thống nhất, sự đồng bộ giữa thể và chất, cứu cánh và phương tiện thì văn hóa dân tộc mới phát triển. Dùng Hán văn hoặc Pháp văn để dựng xây quốc học thì hình chất sẽ làm hại bản thể. Bởi, ngôn ngữ không chỉ là vỏ của tư duy, mà xét cho cùng chính là tư duy. Vì thế, suy nghĩ bằng ngôn ngữ ngoại quốc thì hoặc là anh chỉ lặp lại những tư tưởng có sẵn trong ngôn ngữ đó, hoặc là anh sẽ tư duy y như người ngoại quốc. Trường hợp đầu anh sẽ trở thành một ông đồ chính hiệu (chữ đồ theo nguyên nghĩa là tô lại, lặp lại). Có thể anh cũng trở thành một người học rộng biết nhiều (bác học quảng văn), nhưng đó chỉ là cái học ký ức, chứ không phải là học tri thức; nó không làm đầu óc ta phát triển, lòng ta say mê kiến thức, ngoài việc nhớ dai, nhất là nhớ máy móc. Trường hợp sau là của những tài năng. Học ngoại ngữ mà tư duy như người bản ngữ là tài năng. Nhất là những người sáng tác được bằng ngoại ngữ. Nhưng với họ cũng sẽ xảy ra một tình trạng: một là dù giỏi đến đâu cũng không bằng người bản ngữ giỏi (thơ chữ Hán Cao Bá Quát không thể hay hơn thơ Đỗ Phủ, tiểu thuyết tiếng Pháp của Phạm Văn Ký không thể hay hơn tiểu thuyết Camus), hai là một khi đã giỏi bằng họ thì sẽ không còn là mình nữa, dẫu rằng các dấu hiệu nhân chủng vẫn vậy (trường hợp các nhà văn gốc Việt thế hệ F2, F3 ở nước ngoài). Đây là những trường hợp chảy máu tài năng đáng tiếc nhất. Bởi lẽ, họ dần dần trở nên xa lạ với đồng bào, với nền văn hóa gốc của họ. Vì thế, phải phát triển ngôn ngữ dân tộc, cụ thể là xây dựng một nền văn xuôi, để chắp thêm một cánh bay nữa cho nền quốc học.
Với một sự phân tích rạch ròi, sâu sắc, với một cái nhìn nhiều dự phóng tương lai, Phạm Quỳnh đã là một trong những người đầu tiên cổ vũ và xây dựng nền quốc ngữ. Nam Phong dần dần chỉ còn là tạp chí quốc ngữ. Chữ quốc ngữ với sự giản tiện của nó đã làm báo chí phát triển, phổ cập hóa rất nhanh tư tưởng và tri thức. Rõ ràng đó là một công cụ hữu hiệu. Tuy nhiên, Phạm Quỳnh vẫn chủ trương phải học chữ Hán, phải tận dụng những chữ Hán trong tiếng Việt, nhất là các thuật ngữ, để làm phong phú tiếng Việt.
Như vậy, tư tưởng chính của Phạm Quỳnh là muốn xây dựng một nền văn hóa Việt Nam không giống Tàu cũng không giống Tây, tuy có tiếp thu tinh hoa cả hai. Và, nếu nhìn đường dây tư tưởng của ông: quốc học -> quốc văn -> quốc ngữ, thì sẽ thấy ông không lấy quá khứ, mà tương lai làm chuẩn. Bởi vậy, nó mới chỉ là định hướng, một định hướng chiến lược, mà phải biết bao công sức nữa thì mới định hình. Phạm Quỳnh và các đồng chí của ông trong Nam Phong đã đi đầu trong việc xây đắp hình hài này.
Là người dung hòa văn hóa Đông Tây, nhưng căn cốt Phạm Quỳnh, có lẽ, vẫn là một nhà Nho, một ông đồ Tây. Nên, cũng như một nhà Nho, ông muốn hành đạo đến cùng. Điều đó hẳn đã gây cho ông một ảo tưởng là nếu làm quan (Thượng thư bộ Học, rồi bộ Lại) thì sẽ dễ dàng đưa vào cuộc sống những tư tưởng tâm huyết của ông về việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam. Người ta cũng tiếc là ông vì việc làm quan này đã bỏ tạp chí Nam Phong để nó phải chết vào năm 1934. Nhưng thực ra, vai trò của Phạm Quỳnh và tạp chí do ông làm chủ bút với tư tưởng dung hòa văn hóa Đông Tây đã đến vãn hồi. Xã hội Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới, với một tầng lớp tri thức Tây học, muốn đoạn tuyệt với quá khứ, đưa xã hội Việt Nam nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng, theo con đường hiện đại hóa kiểu phương Tây. Họ không làm khảo cứu nữa, mà bằng những sáng tác của mình, khẳng định điều đó.

Đỗ Lai Thúy

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Gia Phong Là Gì ? Gia phong được hiểu là thói nhà, tập quán và giáo dục trong gia tộc, nền nếp riêng của một gia đình phong kiến, nếp nhà (Từ điển Hán Việt, Từ điển tiếng Việt) hay Gia thế tương truyền chi phong thượng (Gia thế được truyền lại thành phong tục thông thường trong xã hội). Như vậy văn hóa gia đình bao gồm nhiều yếu tố, trong đó gia phong là một từ dùng chỉ chung cho văn hóa, cách nghĩ, cách ứng xử của gia đình, gia tộc.

Muốn giữ vững gia phong cần có gia giáo, tức là sự giáo dục theo truyền thống tốt đẹp của gia đình.

Phải có gia lễ tức là những nghi lễ, tập tục, cung cách ăn nói, đi đứng, ứng xử đã trở thành truyền thống, được cha ông chọn lựa qua nhiều thế hệ, nay con cháu cần noi theo.

Phải có gia huấn để truyền dạy những điều hay lẽ phải phù hợp với gia đình và đạo lý chung của cộng đồng. Gia phạm, gia tắc để nói về quy phạm, chuẩn mực, quy tắc trong gia đình, gia tộc. Chặt chẽ hơn thì có gia pháp để bắt lỗi, buộc tội hay khen thưởng đúng mực.

Phải có gia phả để cháu con biết ngọn ngành tổ tông, công đức tổ tông cũng như những mối quan hệ thân tộc hiện tại.

Điều quan trọng hơn cả là ông bà, cha mẹ luôn luôn hằng ngày thực hiện làm gương cho con cháu noi theo nhằm giữ gìn gia thanh là tiếng thơm của gia đình, dòng tộc. Điều này rất quan trọng vì nó ảnh hưởng lớn đến gia thế (ảnh hưởng của các đời, thế lực của gia đình, gia tộc đối với xã hội), khi ấy là đã giữ gìn tốt gia đạo (Thà đui mà giữ đạo nhà - Nguyễn Đình Chiểu)

Gia phong thuộc phạm trù văn hóa đạo đức. Ở cấp gia đình hạt nhân thì nó là gia phong, ở cấp dân tộc thì nó là đạo đức, văn hóa dân tộc, thể hiện bản lĩnh dân tộc. Gia phong tạo bản lĩnh cho mọi thành viên trong gia đình có thể vững vàng ở mọi nơi, mọi hoàn cảnh. Gia phong được gìn giữ thì văn hóa gia đình phát triển bền vững.

Gia phong là bộ phận trọng yếu của giáo dục dân gian, gia phong đã hòa trộn với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, từ đó tạo sự bền vững cho gia đình người Việt và nó càng phát triển mạnh khi các gia tộc truyền thống Việt tiếp thu một số tư tưởng giáo dục từ Nho giáo là chủ yếu (thực chất gia phong còn chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo nhưng không đậm nét như Nho giáo).

Gia phong của những gia đình cự tộc, khoa bảng, quan chức thường ảnh hưởng mô hình gia đình Hán. Gia phong của những gia đình nông dân, bình dân thường mang chở nhiều yếu tố bản địa. Tuy nhiên hàng ngàn năm qua, việc dân gian hóa cái cung đình của văn hóa Hán mà người Việt vay mượn, và cung đình hóa cái dân gian nhằm nâng văn hóa dân gian gần với văn hóa bác học đã được làm rất tốt.

Dù định chuẩn gia phong mỗi thời kỳ có những quy định cụ thể khác nhau nhưng cốt lõi của gia phong luôn nhắm tới tinh thần chuộng gốc nguồn, khuyến khích lòng hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, thờ kính tổ tiên, coi trọng gia đình, thủy chung tình nghĩa, anh em hiếu thuận trong ứng xử, việc học tập lấy tâm, tri, năng làm gốc…

Một số bộ sách tiêu biểu như Huấn tử ca, Huấn nữ ca, Cổ huấn tử ca (Khuyết danh, lưu tại Viện Hán Nôm), Gia huấn ca (Nguyễn Trãi), Bùi gia huấn hài (Bùi Dương Lịch), Thơ dạy làm dâu (Trương Vĩnh Ký)... được soạn ra với nhiều lời răn dạy từ các tác giả dân gian, các nhà nho học uyên thâm đã có giá trị to lớn trong di dưỡng tinh thần, bồi bổ gia phong của gia đình và xã hội.

Gia phong là sản phẩm của xã hội phương Đông, của Nho giáo, coi trọng gia đình, gia tộc, đề cao vai trò của người cha và chế độ gia trưởng, cổ súy tinh thần trung quân ái quốc... đồng thời cũng còn nhiều hạn chế khác như coi thường phụ nữ, mất dân chủ trong gia đình.

Có thời gian gia phong bị xem nhẹ, người ta chỉ chấp nhận quan điểm giai cấp, nhiều giá trị xưa bị xếp vào giá trị phong kiến. Trên thực tế, công việc cần đẩy mạnh hơn nữa là đề cao những giá trị tích cực của gia phong, khơi gợi và phát huy tinh túy của gia phong để văn hóa gia đình, dòng họ, xứ sở vùng miền (Gia phong họ Đào, Lê, Nguyễn, gia phong xứ Bắc, gia phong xứ Nghệ.v.v...) ngày càng phát huy thế mạnh, trở thành hạt nhân cơ bản trong xây dựng nền văn hóa quốc gia ổn định, phát triển.

NGỌC TRUNG

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nước mía Sài Gòn

Ghi chép của Văn Lang/Người Việt

Trời vào Hạ, khi nắng đổ lửa và không khí oi nồng thì dường như người nghèo trong khu phố bình dân lại có dịp gặp nhau nơi quán... nước mía. Và không chỉ có người nghèo, lúc trước gần khu ngã 6 Phù Ðổng, tôi thấy có một quán nước mía và bò bía. Rất nhiều quý bà, quý cô xinh đẹp đi xe đời mới đắt tiền tới đây ăn bò bía và uống... nước mía.

Trước kia, nước mía chỉ có một ngàn đồng một ly, sau vật giá leo thang, lên một ngàn rưỡi, bây giờ là hai ngàn đồng một ly.

Nước mía là thứ nước nguyên chất được ép ra từ thân cây mía. Thời trước, khoảng từ 1976 tới 1986 do thiếu điện, nhiều xe nước mía phải quay tay hay dùng máy nổ. Hiện giờ thì tất cả các xe nước mía đều gắn mô-tơ điện.

Trong khi ép nước mía các chủ quán thường thêm vào đó một vài trái tắc cho thơm, có khi cho thêm vô vài lát trái khóm (trái thơm). Nước mía ép đậm đà sóng sánh được rót vào một ly đá đập sẵn, phần dưới ly là một màu vàng ươm, màu vàng đặc trưng của nước mía, phía trên là một lớp bọt trắng (giống như bọt bia). Cắm sâu ống hút vào ly nước mía sau khi đã nêm vô ly một muỗng nhỏ chanh muối, “hút” sâu một hơi, cạn già nửa ly, thật... đã, tưởng chừng như cả cái khát khô cổ và mùa Hè oi bức đã lùi lại thật xa phía sau...

Nước mía là một thứ thức uống khá phổ biến ở miền Nam một thời, do đó tuổi học trò, dù con nhà giàu, nhà nghèo đều biết tới mùi vị của nước mía. Xoay quanh xe nước mía chắc hẳn không thiếu những câu chuyện tình của thời áo trắng mộng mơ.

Tôi có quen một chị, bây giờ đã khá lớn tuổi, khi chị kể chuyện tình của mình, chị hay nói mãi về mối tình với một người bạn thời niên thiếu rất “kẹo.” “Kẹo” ở đây theo chị, anh không rủ chị đi đâu, toàn rủ chị đi uống nước mía!

Tôi đùa: “Người ta kẹo vậy, sao chị nhớ mà nhắc hoài vậy?”

Chị cười buồn, ánh mắt nhìn xa xăm.

Tôi không biết chị nhớ tới “người xưa” đẹp trai, hay hương vị đậm đà, ngọt ngào của ly nước mía thời áo trắng với bao kỷ niệm khó quên?

Mà hương vị nước mía đối với mấy bà, mấy cô quả có khó quên thật. Tôi có gặp một cô Việt Kiều Mỹ, theo gia đình xuất cảnh theo diện HO, xa quê 15 năm, về lại Sài Gòn cô đi uống nước mía.

Cô kể với tôi: Em uống một hơi bốn ly liền, đã kêu tới ly thứ năm rồi, ngó lại thấy mọi người dòm em quá, em đành kêu tính tiền rồi về. (Dĩ nhiên ly thứ năm vô bịch xách về uống... tiếp).

Uống một lúc năm ly nước mía thì kể cũng hơi... lạ. Nhưng cô Việt kiều kia còn hồn nhiên nói: Sao Việt Nam mình không vô hộp nước mía rồi xuất sang... Mỹ? Tôi nói, không được, vì chất “phụ gia” để giữ cho nước mía không hư sẽ làm hỏng vị “nguyên sơ” của nước mía. Và có lẽ do chất “nguyên thủy” và hương vị “trời cho” mà nước mía vẫn tồn tại, bất chấp sự tấn công ồ ạt của hai “đế quốc” nước ngọt hùng mạnh nhất hành tinh là Coca Cola và Pepsi. Nước mía cùng với sữa đậu nành và nước dừa, ba thứ nước uống “tự nhiên” và dân dã vẫn được dân miền Nam ưa chuộng và “bảo tồn.” Trong khi các hãng nước ngọt khác ở Việt Nam đã phải lần lượt “quy hàng” hoặc “sáp nhập” vào lãnh thổ của hai “đế chế” trên.

Nước mía cũng có khi “lai-căng” và tùy theo khẩu vị, người thích, người không. Ở khu ngã tư Phú Nhuận, có một quán nước mía, bán với giá khá cao, từ 6 tới 8 ngàn một ly. Thấy họ ghi trong bảng “quảng cáo” treo trước quán, nào là: Nước mía-táo Mỹ; nước mía-nho Tây; nước mía-dâu Tây,... Tôi tới uống thử một ly, thấy... chua loét!

Khi sử dụng các “hương vị” kia, thì vị đặc trưng của nước mía kết hợp với mùi tắc, mùi chanh muối “đặc trưng” cho nước mía sẽ... mất tiêu.

Nhưng cũng có những “kiểu cách” kết hợp khá... hy hữu, đó là nước mía “pha” hương vị... sầu riêng. Vị ngọt của ly nước mía sẽ trở lên rất đậm đà, cộng theo chút beo béo ngây ngất của hương vị sầu riêng, tạo thành một hương vị đặc biệt quyến rũ rất khó mà quên. Uống năm nay mà hương vị còn tê mê nơi đầu lưỡi kéo dài tới tận mùa sầu riêng... năm sau. Có lẽ chỉ có một thứ sánh ngang với ly nước mía sầu riêng đó là ly... rượu đế - đậm đà hương vị “nước mắt quê hương.” Không hiểu sao, khi uống ly nước mía sầu riêng ở khu vực chợ Tân Ðịnh, tôi lại nhớ tới những buổi chiều mưa ngồi trong quán lá miền quê, bên những người bạn hiền, cùng nhau nâng ly rượu đế trong vắt bên dĩa khô cá sặc bổi nướng thơm lừng và bên cái lẩu mắm đang bốc khói nghi ngút...

Quán nước mía ở Việt Nam còn là một “địa chỉ cộng đồng,” nơi những trưa Hè nóng nực, người bình dân trong xóm có thể kéo tới tụ tập... tán dóc, một cách “êm xuôi” vì không có men cay nên cũng ít ai “xửng cồ” nhau trong khi tranh luận. Sự tụ họp nhau, trong quán nước mía dưới những tàn cây râm mát tạo thành một nét văn hóa khá đẹp trong sinh hoạt của cộng đồng người Việt - nơi hình thành cái gọi là “tình làng nghĩa xóm.” Mấy cha chủ quán, khi rảnh thì ngồi đọc báo, thấy ai quen tới thì “vồ” lấy để... tán dóc, chứ không phải để nài ép bán cho được ly nước mía. Dù tán dóc, rồi khát cũng phải... uống.

Tuy nhiên nước mía cũng có nhiều cái chưa được. Như xe nước mía còn là nơi... xả rác. Xác mía với hương vị mật ngọt đặc trưng rất quyến rũ... ruồi. Xung quanh xe nước mía nhiều khi ruồi bay vù vù rất mất vệ sinh. Chưa kể, nhiều nơi nước mía bán chạy, khách qua đường ghé mua bỏ bịch đem về nhiều - nhất là trong những ngày Hè nóng nực. Nhiều chủ quán “ma-lanh” tối mặt vì lợi nhuận đã ngâm ủ cây mía trong những thùng nước - ở ngoài nhìn vô thì tưởng để cho cây mía được tươi. Thực chất, thùng nước đã được pha đường hóa học (vài viên đường, với độ ngọt gấp 500 lần đường mía) vì tăng độ ngọt nhiều lần, họ pha thêm nước vào bán một vốn... bốn chục lần lời.

Vị ngọt của đường hóa học làm mất vẻ ngon ngọt tự nhiên của nước mía, hơn nữa rất có hại cho sức khỏe của cộng đồng.

Ngoài nước mía, rất nhiều thức ăn, đồ uống của Việt Nam không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhà nước Việt Nam cần thành lập cơ quan kiểm tra an toàn thực phẩm (và phải thường xuyên làm thật gắt gao) để đảm bảo sức khỏe cho người dân. Chứ cứ để cho những hàng quán vì lợi nhuận bỏ thêm chất “phụ gia” vào những món ăn, thức uống dân dã thì chẳng khác nào để cho người ta ngang nhiên... “đánh thuốc độc” cả một dân tộc!


(V.L.)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Tuyệt cú Mèo ...Tuyệt Cú.... Chuột

Chắc các bạn đả nghe tên Nguyễn xuân Hiển , Tổng Giám đốc E VN /Cộng Sản ,người đã từng trả lời cuộc phỏng vấn của đài BBC Luân đôn với câu độc đáo " Tôi không thích bởi vì tôi chưa thích " và câu trả lời "Sao anh hỏi vớ vẩn thế "
Gần đây , EVN sắp phải bồi thường 52 Triệu Euro cho một luật sư ở Italy. và chuyện EVN chi tiêu hàng tỉ đồng cho Con ông cháu cha "Đingoại quốc du học.
Vì những chuyện xẩy ra ở trên Xếp buồn ,một hôm anh thư ký của xếp vào xin chữ kí của xếp , thấy xếp đầu nghẹo trên thành ghế ,mắt nhắm mà vẫn đọc thơ ,tôi xin ghi lại để các bạn đọc chơi cuối tuần .


" xe không kính,không phải vì xe không có kính
bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
ung dung buồng lái ta ngồi
nhìn đất ,nhìn trời ,nhìn...."

(nói về tiểu đội xe không trong một bài thơ của Phạm tiến Duật )

"Tôi không thích bởi vì tôi chưa thích "
Dù đường bay Mỹ , Việt -đã chắp nối rồi
Ung dung "Sà Lỏn xổm ngồi.
Nhìn đất ,nhìn trời ,nhìn nghiêng , nhìn chéo ..
..

Tôi không thích bởi vì tôi chưa thích "
Làm gì mà cứ hoắng cả lên
vì lòng tham của mấy cha phóng viên
muốn nổi danh ,hay muốn chia chác....
nhưng không được -nên tỏ ra ghen tức
viết "ẩu ",khui ' bừa " "nhằm hạ bệ nhau !

Tôi không thii1ch bởi vì tôi chưa thích "
Năm triệu hai , phạt vạ - có thấm tháp gì
đâu phải lần đầu, tôi ký Séc...Chi
Trả những khảon trời ơi đất hỡi !
tòa Ý , Pháp dùng luật "Rừng " , luật "Rú "
coi thường nhau ra đòn đánh phủ đầu
thời thế này là thời thế "tiền đâu " ?
tiền có thể đổi trắng thay đen tất tật !
thiều gì cách - làm vừa lòng khách
miễn có tiền ,cộng luật giang hồ
tôi sẽ vẫn lại xài luật OMETA "

tôi không thích bởi vì tôi chưa thích "
không làm theo phê chuẩn của trên
cái kế hoạch dù có đúng trăm phần
gò bó ,nhiễu nhương...làm tôi bức xức
tôi có quyền , tiền - có cả Sư phụ cỡ Sếp của Sếp
nên bất chấp ,cứ làm theo ý mình " Phớt tuốt " !
vài chuyến công du ,vài ca đội giá
mấy chục , trăm nghìn...lính tránh chia nhau
ở vụ tuyển người - thì đã có sao ?
so với người lấy Đô - chơi gái - đánh bạc
đó chỉ là chuyện vặt
cứ mói soi chỉ mất thời gian
chẳng ích gì ,lại tốn công sức

CNN
Posts: 1017
Joined: Wed Dec 01, 2004 8:18 am

Post by CNN »

Cách đổi ngày dương lịch ra ngày can chi

Ngày can chi:

Ngày can chi theo chu kỳ 60, độc lập không lệ thuộc vào năm tháng âm lịch hay năm tháng can chi - (Kể cả tháng nhuận). Tính ngày can chi chuyển đổi sang âm lịch rất phức tạp vì tháng âm lịch thiếu đủ từng năm khác nhau, ngược lại tính ngày can chi theo dương lịch đơn giản hơn.

Cách tính ngày dương lịch ra ngày can chi:

Mỗi năm dương lịch có 365 ngày, nghĩa là 6 chu kỳ Lục thập hoa giáp cộng thêm 5 ngày lẻ. Năm nhuận có thêm 1 ngày 29-2 tức 366 ngày, thì công thêmn 6 ngày lẻ. Nếu lấy ngày 1-3 là ngày khởi đầu thì các ngày sau đây trong mọi năm cùng can chi giống 1-3 : 1/3, 30/4, 39/6, 28/8, 27/10, 26/12, 24/2 năm sau đó. Nếu biết ngày 1/3 (hay một trong bảy ngày nói trên) là ngày gì, ta dễ dàng tính nhẩm những ngày bất kỳ trong năm (gần với một trong bảy ngày nói trên).

Nếu muốn tính những ngày 1/3 năm sau hay năm sau nữa chỉ cần cộng thêm số dư là 5 đối với năm thường (tức là từ 24-28/2) hoặc là 6 đối với năm nhuận (có thêm ngày 29/2).

Thí dụ ngày 1/3 năm 1995 là ngày Tân Mão, từ đó tính nhẩm 25/2/1996 cũng là ngày Quí Tị, 27/2/1996 là ngày giáp Ngọ. (1996 có hàng chục đơn vị chia hết cho 4 tức là nǎm nhuận có ngày 29/2).

Ta biết 1/3/1996 là ngày Đinh Dậu vậy 24/21997 cũng là Đinh Dậu. Chỉ cần cộng thêm 5 ngày. Ta dễ dàng tính ra 1/3/1997 là ngày Nhâm Dần, theo tính nhẩm = Đinh đến Nham hay Dậu đến Dần = 5 ngày.(Xem bài so sánh âm dương lịch ở phần Phụ lục sẽ trình bày năm nào nhuận dương lịch và nhuận âm lịch).

Thí dụ: Theo cách tính trên ngày 1/3/1997 là ngày Nhâm Dần, ngày 26/12/1997 cũng là ngày Nhâm Dần, vậy ngày1/1/1998 sẽ là ngày Mậu Thân (sau đó 6 ngày)...

Source: Net

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Cười và Khóc

Thư Sinh

Nụ cười giữ một vai trò quan trọng trong đời sống con người. Ðời sống có hạnh phúc thì con người mới hay cười. Nụ cười của người đang hạnh phúc cũng làm cho người khác vui lây.

Cười là vũ khí chống lại bệnh yếm thế. Ðể chống lại với sự buồn rầu, tiếng cười có ưu thế hơn nước mắt. Trong lúc xuống tinh thần càng khóc càng bị lụy, càng lo rầu khó chịu và mệt mỏi.

Một cuộc nghiên cứu của bác sĩ tâm lý học thuộc trường Ðại Học Illinois thí nghiệm với 714 người, cho thấy những người biết cười cợt thành công hơn người hay khóc trong khi phải chống chọi với mọi áp lức của đòi sống.

Nụ Cười

Nụ cười làm đẹp cuộc đời, làm vui kẻ khác. Thức ăn nuôi sống cơ thể nhưng phải mua, trái lại nụ cười "free" làm ta sảng khoái, yêu đời mà ta chẳng mất đồng xu teeng nào cả. Nhưng điều mà đáng buồn là cho tới gần ¼ thế kỷ nay, mà đồng ta ở bên nhà vẫn chưa nở được một nụ cười thứ thiệt dù không phải mất tiền mua.
Nụ cười quan trọng như thế nên từ Ðông sang Tây vẫn cho nụ cười là liều thuốc bổ. Trong các dân tộc trên thế giới có lẽ dân Mẽo cười nhiều nhất, có lẽ vì họ giầu có, sung sướng luôn luôn không biết chừng. Cái cười của họ hồn nhiên, thoải mái dòn tan, yêu đời.

Không tin quý cụ cứ mở TV ra mà coi, show nào cũng cười vui nhộn, có khán giả thiệt cũng cười mà không có khán giả thì họ vặn "máy cười." Sô nào chọc cười nhiều nhất là ăn khách nhất. Hồi thập niên 80 hai sô ăn khách nhất là Bill Crosby của NBC và Three's Company của ABC, rồi buổi tối có Johny Carson. Bây giờ thì có Jay Leno và David Letterman là những vua chọc cười hái ra bạc. Ngòai TV, các phim cười cũng ăn khách với số thu ngoài sức tưởng tượng.

Cười vậy mà cũng có rất nhiều kiểu:

Kẻ vũ phu tho lỗ thì "cười tồ tồ"
Kẻ tiểu nhân đắc chi thì "cười hi hí"
Kẻ chuyên môn nâng bi thì "cười cầu tài"
Kẻ độc ác nhiều hận thù thì "cười khẩy, cười gằn"
Kẻ vô duyên hay tán tỉnh thì "cười nham nhở, cười đểu"
Kẻ anh hùng hảo hán thì "cười khanh khách"
Kẻ đang đau khổ thì "cười chua chát"
Kẻ hay xỏ lá thì "cười khinh khỉnh, khinh khi"
Kẻ muốn làm duyên thì "cười mỉm chi"
Các người bình thường thì "cười dòn tan, cười hả hê, cười khằng khặc, cười nắc nẻ, cười khúc khích, cười vang, cười rộ, cười khì..."
Nhưng đâu có phải lúc nào chúng ta cũng cười. Ðôi khi vui quá lại khóc ròng, như trường hợp một anh chàng nọ nghèo rớt mùng tơi, chẳng may trúng số độc đắc, thế là sung sướng quá cứ ôm vé số mà khóc ròng suốt một ngày.

Trái lại có đôi khi người ta buồn quá vì chán nản cuộc sống tha phương cầu thực, bạn bè lắm thằng xỏ lá ba que, người tình lừa đảo lưu manh bợ hết cả tiền lương, ngồi buồn gãi háng kiểu cụ Trần Văn Hương, nói chuyện với đầu gối mà nó cóc trả lời, rồi đâm ra tức quá buộc miệng "cười khan"



Khóc


Trai lại với nụ cười là tiếng khóc. Tiếng khóc diễn tả nỗi đau khổ. Khóc cũng có cỡ 36 kiểu khóc. Khóc thảm thiết, nức nở, nỉ non, rưng rức, nghẹn ngào, khóc ròng, khóc như ri...
Ðôi lúc ta thấy 2 người cùng khóc, nước mắt nhỏ đồm độp như "hạt mưa trên lá", nhưng chúng ta chớ có vội mà kết luận là họ đều đau khổ như nhau mà "bé cái lầm". Có một anh rể quý nghe tin bà mẹ vợ giầu sụ, có chôn rất nhiều vàng sau vườn vừa ngỏm củ ty,û cùng bà vợ lăn đùng ra khóc. Anh chồng khóc ầm ĩ, thảm thiết hơn chị vợ nhiều, nhưng nếu có máy laser chiếu vào tim đen thì thấy anh chàng này đang mở cờ trong bụng, vì đời sắp lên hương vàng son chói lói, chẳng những không còn bị mè nheo mà lại còn kè được ít tiền hồi môn bở béo. Chị vợ mất mẹ nên khóc thật.

Quý vị nào đã xem phim "Số Ðỏ" thì còn thấy người ta thuê người khóc mướn trong những đám tang nữa kìa. Ðám tang nào khóc to nhất, nhiều người khóc nhất, nhiều đội kèn nhất là nhà ấy sẽ nổi tiếng sang và oai nhất. Ðám tang chưa xong, tiếng kèn hãy còn ò, ý, e ngoài ngõ mà trong nhà anh em đã cãi nhau rầm rầm đòi chia gia tài.

Còn một trường hợp éo le nữa là có nhiều cô dâu sắp lên xe bông về nhà chồng mà khóc ơi là khóc. Cái khóc này mới gọi là quái dị. Cô dâu đang sướng tê, sướng ran người, nhưng chả nhẽ lại nhăn răng ra cười tồ tồ, sợ mang tiếng bất hiếu, nên hầu hết cô dâu nào cũng bôi ít dầu xanh con ó hay dầu nhị thiên đường vào khăn mùi xoa rồi lấy khăn lau mắt... tha hồ má khóc, kiểu đào Kim Cương đóng kịch ngày xưa.

Vậy không nhất thiết là vui mới cười và buồn mới khóc có khi còn ngược lại nữa kìa.




3G siêu tầm

Post Reply