Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Những Giọt Nước Mắt Này Cho Nhau

Trịnh Du

Sống ở đời này có nhiều lúc chúng ta nhận được nhiều niềm vui và cũng lắm khi chúng ta gặp được những nỗi sầu vời vợi cuốn trôi theo ngày tháng lưu vong… rồi như một thoáng mây bay thì tất cả đã đi vào dĩ vãng chỉ để lại trong ta những kỷ niệm mà thôi.

Đêm hôm nay chúng ta kỹ niệm một tuần lễ sau biến cố 8808, biến cố này đã làm xáo trộn cuộc sống của mỗi người trong những gia đình có người thân trên chuyến xe Bus bất hạnh đó. Tôi chỉ là một con chiên bình thường như những con chiên lạc bầy khác trên đất khách quê người, đã hơn 23 năm nay biết bao nhiêu chuyện buồn vui xảy ra trong đời nhưng chưa có lần nào làm cho tôi thức tỉnh lương tâm như lần này, bởi vì, những người ra đi đã để lại quá nhiều vết thương lòng trong mỗi người thân còn sống, thân nhân của họ phải chịu những nỗi đau thật là xót xa và cay đắng.

Tại sao phải ra nông nỗi này?

Bác Bùi văn Phú trước khi bước chân lên chuyến xe Bus định mệnh 8808 đã là một người chồng gương mẫu, một người cha luôn yêu mến các con, và là một người ông thường vui đùa với đàn cháu khi chúng về thăm.

Ngược thời gian trở về quá khứ của những cuộc chiến thẩm khốc ngày xưa, bác Phú đã là một quân nhân đắc lực trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa nhưng sau biến cố 1975 thì mọi chuyện đã thay đổi, bác Phú phải làm đủ mọi nghề để nuôi dạy bầy con cho đến năm 1991 bác Phú được sang Hoa Kỳ cùng với gia đình để đoàn tụ với người con trai lớn đã qua đây từ nhiều năm trước. Cách nay hơn 5 năm, khi mà tôi còn chập chửng bước chân vào ngưỡng cửa của Liên Đoàn Liên Minh Thánh Tâm là tôi đã hân hạnh gặp bác Phú trong buổi họp tại Giáo Xứ Đức Mẹ Lộ Đức, lúc ấy tuy bác Phú đã ngoài 70 nhưng tinh thần của bác rất trẻ trung với nụ cười luôn ở trên môi, bác Phú thấy tôi ngây thơ như con nai tơ trong đàn nên bác nhích ghế đến ngồi gần tôi để tâm sự, sau này tôi có dịp gặp hai cô con gái của bác thì mới hiểu rằng vì sao bác vui tính như vậy. Tháng này qua tháng nọ chúng tôi thường xuyên gặp nhau qua những lần họp hội của Liên Đoàn, rồi qua nhiều lần giáo xứ tổ chức hội chợ vào mỗi cuối năm là tôi đều thấy bác Phú hăng say trong công tác gây quỹ để xây dựng nhà thờ, nhưng nào ngờ mới ngày nào đây mà giờ này bác Phú đã ra đi vĩnh viễn để lại cho Liên Đoàn chúng tôi một nỗi sầu vời vợi. Hôm nay tôi đến nhà quàn TT để gởi vài lời phân ưu với gia đình của bác Phú, buổi lễ phát tang được Linh Mục Chánh Xứ làm phép tang thật trang nghiêm, quan khách nối tiếp nhau tiến lên từ giã bác Phú lần cuối, tôi thấy có nhiều người đội mũ tang, bên cạnh những người con đội mũ tang là những người quấn khăn tang cũng rất nhiều, chúng tỏ là khi còn ở trần gian, bác Phú đã có một gia đình hạnh phúc với con cháu đầy nhà.

“…Chiều thứ Năm tuần trước bác Phú cùng với 54 người khác leo lên chiếc xe Bus để tiến về vùng đất Thánh ở Misouri mà người Việt thường gọi là đi hành hương hay là đi dự Đại Hội Thánh Mẫu, nơi ấy nghe nói rất linh thiêng, ai cầu gì được nấy nên mỗi năm vào dịp đầu tháng Tám là có hàng vạn vạn người tìm đường đến đó từ khắp nơi.

Nói linh thiêng là nói theo giọng bình dân của những người dân chân đất tay bùn như chúng tôi vì thực tế trong gia đình của chúng tôi đã có người được đức mẹ Maria cứu giúp sau khi hai đôi vợ chồng của người em vợ sau 5 năm chung sống trong nhà cao cửa rộng mà vẫn không có bé tí nào ẳm bồng nhưng sau 3 ngày “sống” ngoài trời, họ chỉ cần chiếc chiếu trải trên cỏ và tấm màng vải che nắng thôi mà cũng được đức mẹ để ý để rồi chín tháng sau họ có đứa con trai duy nhất, nay cu John đã 11 tuổi thông minh lạ thường….

Trở lại với chuyện của bác Phú, sau khi xe Bus lăn bánh rồi thì hai cô gái của bác Phú về nhà lo việc cơm nước cho gia đình.

Trời Houston mấy đêm nay nóng bất thường, tám giờ tối mà con số chỉ nhiệt độ vẫn còn trên 80, đêm hôm ấy có vài người con của bác Phú không sao nhắm mắt đi vào giấc ngủ được. Tại Houston cô Út và cô Cả trằn trọc thâu đêm, trên Dallas thì anh thứ Tư xem truyền hình liên tục suốt đêm cho đến khi có bản tin nóng nói rằng có một chiếc xe Bus bị lật tại thị xã Shermann cách thành phố Dallas khoảng 60 dặm, những người ngồi trên xe là người công giáo Việt Nam từ Houston đi Misouri…

Anh thứ Tư vừa nghe đến đó thì tinh thần của anh ta trở nên khủng hoảng, song song với việc đầu tiên phải làm là anh Tư gọi phone báo cho cô hai cô em gái ở Houston và hỏi xem bố đi xe nào, anh Tư lái xe chạy gấp tới hiện trường hầu giúp đở quý đồng hương, anh Tư chưa tới nơi mà tâm hồn đã đầy ấp lệ vì hai cô em gái đã báo tin có tên bố Phú trong danh sách những người trên chuyến xe Bus đó…

Cảnh tượng trước mắt của anh Tư là hàng trăm xe cảnh sát và xe cứu thương vang còi inh ỏi cả một góc trời tỵ nạn, trên bầu trời tối mịt như đêm 30 tháng Tư năm nào đã có hàng chục máy bay trực thăng tấp nập lên xuống bốc vớt các nạn nhân, đàn ông có, đàn bà có, con nít có, cụ già có và…có cả người bố già thân yêu đang nằm bất động trên bãi cỏ lưu vong, nơi bố nằm cỏ không còn màu vàng úa của mùa hè viễn xứ mà đã nhuộm đỏ từ máu trong cơ thể của bố đổ ra…

Bố ơi,… sao lại thế này?...
Bố có bị sao không? ...

Chúa ơi!..

Tại sao máu chảy ra nơi đầu bố nhiều quá vầy???...

Anh Tư chỉ biết ôm bố thật chặt trong lòng mà khóc nức nở, như ngày nào anh ôm đồng đội trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa bên quê nhà…”

Sau khi nói lời từ biệt cùng với các anh chị em trong gia đình bác Phú thì tôi ra về, tự nhiên trong miệng tôi có vị gì vừa cay vừa đắng, có lẻ nước mắt chảy ra chưa hết khi tôi nói lời phân ưu nên giờ này những giọt nước mắt còn xót lại chảy ngược chiều làm thành giọt đắng giọt cay trong lòng tôi, đáng lý ra tôi phải vui mừng với bác Phú vì bác được chúa gọi về sau khi bác đã đọc kinh cầu nguyện qua tràng chuổi mân côi trên đường đi nhưng tôi cảm thấy có một cái gì đó làm tôi suy tư, từ suy tư biến thành tức giận một kẻ nào đó đã vô tình đưa bác Phú đi vào chổ chết, họ giết chết bác Phú không cần gươm dao hay súng đạn (vì vũ khí của cộng quân đã không làm rách da thịt của bác) nhưng họ chỉ cần một chiếc vé xe Bus trị giá 120 mỹ kim mà thôi! Nếu họ mướn chiếc xe tốt hơn với giá cao hơn và người tài xế đầy đủ kinh nghiệm hơn thì chưa chắc bác Phú đã qua đời một cách thảm thương như vậy! Nhớ lại lúc nãy tôi nhìn người nằm trong quan tài mà chẳng biết người đó là bác Phú vì khuôn mặt của Bác đã bị biến dạng sau khi chiếc xe Bus bị lật vào lúc 45 phút ngày 8/8/2008. (TD)

*Bài viết này đã được kiểm chứng bởi cô Út Trang, người đang lo mọi chuyện cho đại gia đình bác Phú. (TD)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tàu và ta

Huy Phương
Ông Bá Dương, một người Ðài Loan đã viết cuốn sách khiến người Hoa khắp nơi trên thế giới nổi giận vì cuốn sách ấy nói về thói hư tật xấu của dân tộc ông. Ðây là một tác giả khá can đảm vì đã dám “vạch áo cho người xem lưng” vì theo dân mình thì nếu lưng có sẹo hay mụn cóc thì che đậy lại chớ có trưng ra như cái câu tục ngữ “xấu che, tốt khoe” mà chúng ta đã biết. Cuốn sách tổng hợp nhiều bài tiểu luận, bài nói chuyện hay tranh luận của ông, kiểu như “tạp ghi” đã xuất bản ngay ở Trung Hoa Lục Ðịa, và theo người dịch là ông Nguyễn Hồi Thủ thì cuốn sách này rất được hoan nghênh ở ngay cái xứ Cộng Sản. Theo dịch giả, đương nhiên là một người Việt, ông chưa thấy cái chỗ hay, chỗ đẹp nào của người Việt như “người Việt cao quý” hay “người Việt đáng yêu”, mà “gần đây chỉ thấy ca tụng đất nước rừng vàng biển bạc, con người cần cù, thông minh, cao cả, đẹp đẽ, kiên cường, anh hùng, trong sáng... thậm chí lại có cả người lãnh đạo lấy tên giả viết sách để ca ngợi cá nhân mình, có cả nhà văn bịa tên một người nước ngoài để ca ngợi dân tộc mình.” Dịch giả hy vọng đọc cuốn sách này sẽ hiểu rõ hơn về Trung Quốc “và qua đó nhìn lại mà đánh giá bản thân, dân tộc và văn hóa của mình trong giai đoạn hiện nay.”


Nhan đề cuốn sách này là “Xú Lậu Ðích Trung Quốc Nhân.” Tiếng “xú lậu” chỉ cái xấu nhưng không phải là cái xấu về nhan sắc, hình dáng bên ngoài. Ông Nguyễn Hồi Thủ đã nói rằng tùy mạch văn, lúc ông dùng chữ “xấu xí,” lúc dùng “xấu xa,” theo tôi, hai chữ ấy khác nhau hoàn toàn trong tiếng Việt. “Xấu xí” nói về bề ngoài và “xấu xa” nói về tâm tính, nó cũng tương tự như “lạnh lẽo” nói về thời tiết nhưng “lạnh lùng” lại nói về tâm cảm hay thái độ của con người. Nếu ông nói người Trung Quốc “xấu xí” thì có gì đáng trách, vả lại đất nước đã sản xuất ra những mỹ nhân như Tây Thi, Dương Quý Phi, những người có dung mạo như Phan An, Tống Ngọc... thì đâu phải là một dân tộc “xấu xí” mà tác giả phải dịch “xú lậu” ra “xấu xa” mới đúng với nội dung cuốn sách.

Người Việt chúng ta có tới “1,000 năm lệ giặc Tàu,” đã du nhập một nền văn hóa trọng nhân nghĩa, với những khái niệm về quân tử, anh hùng nhưng tất nhiên không khỏi du nhập cả những cái xấu của con người Trung Hoa. Tôi chỉ nêu lên đây vài điều mà công dân nước Trung Hoa, ông Bá Dương đã nói về người Hoa để chúng ta xem lại có khác gì con người Việt Nam không?

Trong một đoạn ông Bá Dương đã viết: “Có thể nói người Trung Quốc trường kỳ thậm chí vĩnh viễn, sinh ra và lớn lên trong tham ô, hỗn loạn, chiến tranh, giết tróc bần cùng, cho nên chẳng bao giờ có cảm giác được an toàn, lúc nào cũng hoảng hốt lo âu. Một nước rộng ngần đó, một dân tộc lớn ngần đó, lại là một vùng cát chảy của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu và không tự thoát ra được.” Ông nói ai mà chúng ta nghe nhột nhạt tới tâm can?

Trong cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí,” tác giả đã nói rằng “từng cá nhân, một con người bần cùng quá lâu ngày, quá ư khổ sở, rồi đối với bất cứ việc gì cũng đều sinh ra cái tâm lý nghi ngờ.” Người Việt Nam chúng ta cũng đã bị gạt nhiều lần, còn ai tin tưởng được vào ai. Như ông Bá Dương khi nghe được ra tù, ông không tin và đã bị cho ăn “thịt thỏ” nhiều lần. Ngày cả trại tù tập họp ngoài sân để nghe đọc danh sách tha, tôi đang còn khai bệnh nằm nhà, tòn teng trên võng. Học tập 10 ngày, rồi ba năm, sáu năm tôi nghe đã chán. Dân đi làm thủy lợi thì được hô hào ai làm xong sẽ được về sớm, nhưng làm xong chỗ này thì lại được giao cho chỗ khác. Gần đây, nghe nói cho về sửa sang nghĩa trang quân đội, rồi lại tuyên bố không cho ai mó tay vào, vì đây là của nhà nước. Cả nước nói láo, toàn dân bị lừa, bị lừa đi lao động rồi “đem con bỏ chợ,” bị lừa đi kiếm việc làm rồi lùa vào ổ bán dâm. Cả nước sống trong nghi ngờ, mất lòng tin có khác chi bản chất của người Hoa như ông Bá Dương than thở.

Ông còn cho rằng người Trung Quốc không biết cười, từ cô y tá cho đến người soát vé trên xe buýt không biết cười, nhưng ở cửa tiệm thấy người ngoại quốc vào thì tươi cười đon đả. Ông có ám chỉ gì đến đồng hương của tôi ở Bolsa không hở ông? Ông chê dân ông không biết cảm ơn khi được người khác giúp đỡ, biết xin lỗi khi đi vấp chân người ta, ông sẽ quen nếu ông về Việt Nam ít lâu và ông sẽ không còn thấy lạ lùng hay mặc cảm gì nữa.

Ngày miền Nam mới được “phỏng... giải phóng,” cả nước xếp hàng mới mua được miếng thịt hay cục xà bông, nên người ta nói đùa Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là “Xếp Hàng Cả Ngày,” nhưng biết xếp hàng là biết xử sự văn mình rồi đấy! Tác giả “Người Trung Hoa Xấu Xí” chê người Hoa không biết xếp hàng, sau 1,000 năm Tàu thuộc, người Cộng Sản miền Bắc lại lệ thuộc đàn anh vĩ đại thêm 30 năm “chống Mỹ” nữa, làm sao không khỏi giống nhau như hai giọt nước, anh em cùng một giuộc. Cứ nhìn ở chỗ bán vé xe lửa, bán vé vào xem đá banh, hay cảnh giẫm nhau mà leo xe lửa, xe buýt thì thấy Tàu có khác chi Ta!

Ông Bá Dương có viết rằng: “Chỗ nào có người Trung Hoa là đấu đá”. Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra mỗi chúng ta một hành vi đặc thù khác: “Chết cũng không nhận mình lỗi. Có ai nghe người Trung Quốc nhận lỗi mình chưa?” Thưa ông Bá Dương, chúng ta nghe Ðức Giáo Hoàng nhận lỗi rồi, thủ tướng Nhật cũng nhận lỗi rồi, người Trung Quốc của ông không nhận lỗi mình thì người Việt Nam chúng tôi cũng đâu ai có lỗi mà nhận? Bắt chước nước Tàu Cộng, nước tôi cũng cải cách ruộng đất bằng đấu tố, chết hàng chục nghìn người vô tội, ông Trường Chinh lại lên chức. Sau năm 1975, việc đánh đấm tư sản làm tiêu hao bao nhiêu năng lực, đấu tố, tù đày làm đất nước tiêu hao bao nhiêu nhân mạng và chất xám, có nghe ai nói lỗi phải gì đâu? Ngay ở hải ngoại này, có bao nhiêu cuốn hồi ký của các nhân vật quan trọng, chỉ có đánh bóng mình mà có ai nói một lời nhận lỗi “vì tôi mà nước mất” đâu?

Ông Bá Dương sau khi có dịp sang Mỹ đã nhận xét cộng đồng người Hoa của ông “có cánh tả, cánh hữu, trung lập, độc lập, thiên tả... vân vân và vân vân chẳng biết đường nào mà mò. Người này đối với kẻ nọ đều mang mối thù như nó giết bố mình. Thật không hiểu là thứ dân tộc gì?”

Ông Bá Dương quá bi quan đó chăng? Chính sự phân hóa trong cộng đồng của ông là sức mạnh vô địch mà ông không biết. Nếu như cộng đồng này đoàn kết thành một khối keo sơn, có lãnh tụ duy nhất, và nếu ông có kẻ thù, chúng nhắm đánh vào lãnh tụ và tổ chức vĩ đại này, như địch quân pháo kích tập trung vào trung tâm hành quân thì lấy gì mà chống đỡ, bằng chi chúng ta phân tán mỏng, địch không biết đâu mà mò là thượng sách. Vả lại, ông là người Ðài Loan, chúng tôi là người Việt Nam, chúng ta đâu có như người Cộng Sản mà phải “nhất trí,” “độc đảng,” chính có cánh này, cánh kia, bên tả bên hữu, chúng ta mới có dân chủ. Do vậy khi ông thấy một quận có hai đại diện cộng đồng, hay một tổ chức chỉ kiểu ái hữu cựu học sinh thôi cũng bể làm đôi, thì ông cứ nghĩ đó là ưu điểm của một xã hội dân chủ. Ở trong chế độ Cộng Sản, làm ăn kiểu này thì có mà sớm bị tống vào bệnh viện tâm thần hay bị kết tội làm “gián điệp cho nước ngoài.” Còn như ông nói người ta ghét nhau như kẻ kia giết bố mình, vì họ tranh nhau không danh, thì lợi. Những ai đứng được ngoài vòng cương tỏa này thì lòng rỗng không, đâu còn thù ghét ai!

Ông Dương đã viết rằng: “Số người Nhật di cư sang Mỹ so với Hoa kiều chỉ bằng một nửa, thế mà họ bầu lên được hai đại biểu Quốc Hội. Tôi có thể nói rằng: “Cả trăm năm nữa những di dân Trung Quốc vẫn không thể bầu nổi một đại diện của mình.” Gì chứ điều này thì tôi có thể hãnh diện mười mươi hơn ông. Việt kiều so với Hoa kiều tại Mỹ chỉ bằng 1/3, lại mới chân ướt chân ráo đến đây sau đợt di dân đầu tiên của người Hoa tới 127 năm (Tàu năm 1848 - Ta năm 1975), nhưng chúng tôi đã có hai dân biểu tiểu bang, nhiều thị trưởng và nghị viên thành phố. Theo đà này, nếu thêm hơn một thế kỷ nữa, nghĩa là có thời gian dài như người Hoa ở Mỹ bây giờ, chúng tôi dư sức có thống đốc tiểu bang, nghị sĩ liên bang, bộ trưởng và cả chức vụ tổng thống Hoa Kỳ.

Ông Bá Dương đi chu du thế giới, tất nhiên ông thấy nhiều Phố Tàu (China Town) mà ông chê là động quỷ, ông chê văn hóa Trung Quốc là hũ tương. Ông liệt kê đủ tính xấu của người Hoa như lẩm cẩm, mưu lợi, cao ngạo, ganh ghét, hèn hạ, thiếu văn minh. Tôi sợ rằng ông quá lời chăng, và vì nước Việt đã quá lệ thuộc người Hoa trong quá khứ, nay lại sợ không tránh khỏi nanh vuốt của Trung Cộng, tôi cảm thấy buồn khi thấy đặc tính của dân tộc tôi cũng na ná dân tộc ông. Tôi cũng không hiểu sao cuốn sách ông lại được hoan nghênh ở khắp nơi, giá mà có một cuốn sách như thế, giả dụ nói đến người Việt xấu xa bần tiện, chia rẽ, liệu tác giả có bị đánh phá hay chụp cho năm bảy cái nón không?

Phần tôi, phần nào tôi cũng hãnh diện là người Việt có 4,000 năm văn hiến (bây giờ có thể nói là 4,060 rồi vì tôi nghe con số 4,000 từ hồi còn bé), nhưng có một người xấu hổ phải nhìn lại con người Việt Nam của mình. Ðó là một người Việt Nam đang sống tại Tokyo và đi làm trong một công ty Nhật, ông Minh, đã nghe đồng nghiệp của mình bàn tán về một đất nước Việt Nam thối nát, các viên chức nhà nước Cộng Sản đã trắng trợn nhận hối lộ trên tiền đấu thầu của công ty Pacific Consultants International (PCI) để làm xa lộ Ðông-Tây Saigon. Công trình này lên đến 1.1 tỷ Yen, và số tiền này, khổ thay là tiền chính phủ Nhật viện trợ cho Việt Nam để xây dựng đường sá. Người ta đem tiền lại giúp đất nước mình, nhưng muốn đem giúp thì phải cắt 15% cho vào túi riêng của bọn tham ô, số tiền “trà nước” này đương nhiên là không vào túi riêng của tên phó giám đốc Sở Giao Thông Vận Tải Saigon mà phải được chia chác cho cấp trên, những ai đã có công bổ nhiệm tên này vào chức vụ béo bở trên. Một nước nghèo đã ngửa tay xin viện trợ lại vòi ăn vào số tiền người ta đã đem bố thí cho dân tộc mình, chúng ta dùng danh từ gì để mô tả những hành động này: vô liêm sỉ, không ra cái giống người.

Chúng ta hãy nghe người Việt Nam cư ngụ tại Nhật nói sao khi nghe các đồng sự Nhật nói về đất nước của mình? “Tôi cảm thấy tổn thương vô cùng và chỉ muốn đất dưới chân mình nứt ra để có chỗ cho tôi chui xuống!” Và ông đã kêu gọi: “Hãy làm gì đó để rửa cái mặt Việt Nam!” Thưa quý vị, chúng ta có thể hỏi Việt Nam là Việt Nam nào?

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image


Vạt nắng sau hè

Phan
Lâu lắm rồi, anh mới có dịp ngồi nhìn vạt nắng sau hè để nhớ lại nhiều chuyện đã trôi xa. Từ những ngày thơ dại như con anh bây giờ len lén ra vòi nước sau nhà, hứng nước vô cây súng nhựa, hì hục bơm, rồi bắn một bông hoa, bất ngờ chuyển mục tiêu sang chiếc lá sớm úa trên cây xanh rì. Chẳng bao lâu đã chán những mục tiêu cố định nên láo liên tìm sự di chuyển để thoả mãn tính hiếu động. Và con chim trời đang mỏi đường bay vì nắng hè cũng chợt nhìn thấy nước nên vội đáp xuống để giải nhiệt. Thế là chú bé con không còn nhớ tới hoàn cảnh bản thân đang lén lút vì mẹ không cho ra nắng. Chú rình rập con chim khôn hơn mình để cuối cùng là cây súng hết nước khi có cơ hội duy nhất về khoảng cách mà sau đó người thợ săn và con chim nhỏ phải tạm biệt nhau. Chim bay vô định, chú bé đứng bơ vơ, thất vọng, buồn. Tâm trạng du nhập vô cõi lòng trống huơ những nỗi niềm. Niềm vui qua đi-nỗi buồn ở lại. Chú bé chợt thấy mình đang đứng bên sân nhà hàng xóm! Chú lo sợ trở về. Mừng vì mẹ không hay biết gì về một chuyến phiêu lưu nhưng hai gò má đỏ hồng lên vì nắng của chú đã tố cáo hết hành vi vượt biên trái phép. Chú ước câu mắng yêu nhưng thường thì bị rầy thay vì bị đòn như anh hồi nhỏ. Hình phạt có khác theo thời gian, địa lý, nhưng lòng mẹ thì vẫn vậy! Cho uống thuốc cảm nắng, nấu cháo cho ăn và rờ trán thường hơn khi tiện bước ngang qua phòng con. Nhưng lòng người thợ săn thì sao? Sau một thất bại sẽ có kinh nghiệm hơn nhưng chẳng bao giờ nghĩ cho người phải chịu đựng hậu quả của việc mình làm. Nói một cách khác là người trả giá cho kinh nghiệm của mình. Tuổi thơ rồi qua đi như thế sao em?

Lâu lắm rồi, anh mới có dịp ngồi nhìn vạt nắng sau hè để nhớ lại nhiều chuyện đã trôi xa. Từ những ngày anh còn trẻ người non dạ như con anh bây giờ len lén mua hoa trao cho bạn gái. Cô nhỏ không nhận thì thật là ê chề với bó chổi của lòng anh. Anh còn nhớ! Lần đầu bị từ chối, không nhận mấy câu thơ đã vắt hết sức lực và trí tuệ của anh sau nhiều đêm trăn trở. Thiệt là thê thảm với mấy câu văn vần trợt lớt da me còn phải phập phồng lo sợ sự rò rỉ đến tai bạn bè thì độn thổ. Rồi “một hôm ngọn gió tình yêu lạ/ đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ…” Nữ thần tình yêu ngó xuống, đã khởi động con tim yêu đón nhận những bài thơ hay nhất một thời mà sau đó mươi năm chính tác giả cũng ái ngại mỗi khi nhớ đến. Đọc lại những lá thơ văn xuôi đầy triết lý lượm lặt trên sách cũ, giấy gói xôi; những lời rủ rê trốn học thật ngây ngô ngốc nghếch. Thế mà đã cùng nhau đến quán bờ sông. Chỉ ngồi nhìn nhau thôi đã thoả lòng. Đâu biết lục bình trôi có một lần ngang qua rồi chìm vào quên lãng. Vạt nắng dạ cầu hôm ấy khác hôm trước và ngày sau. Tình yêu mới lớn nhiều hoang tưởng nên ta đã mất nhau trong đời. Vạt nắng quê xa còn tìm về chốn cũ, chỉ có những đứa trẻ đã không một lần về tìm lại dấu yêu-xưa. Vạt nắng quê người không có mắt sáng với môi tươi và một trái tim thổn thức trong lồng ngực. Trái tim đã già chỉ còn lại những nhịp đập ăn năn, hối tiếc. Em có buồn anh không? Chuyện gì cũng có thể làm thử trước khi làm thật. Riêng tình yêu thì những lá thơ tình bị xé nháp thường hay hơn lá được gởi đi nên “tình vui trong phút giây thôi, ý sầu mang suốt đời”. Tình yêu bồng bột thế sao em?

Lâu lắm rồi anh mới có dịp ngồi nhìn vạt nắng sau hè để nhớ lại nhiều chuyện đã trôi xa. Từ những ngày anh xa rời tuổi nhỏ. Biết đói no nơi một thành phố mới đặt chân tới lần đầu, những thành phố cao nguyên buồn muôn thuở dù đi dăm phút đã về chốn cũ nhưng lưu luyến bước chân người. Biết bơ vơ khi chiều buông bên bờ sông lạ, những con sông miền Trung ngoằn nghèo chan chứa gian lao, nhìn những cánh chim trời quay về tổ ấm mà viết lên tay mình sương gió phủ đời trai. Qua đêm mưa lai rai lạnh chết mẹ, Lại làm phiền cây viết mực bơm triết lý trên da người. Mưa miền Trung buồn thảm với cảnh trí tả tơi đã ở lại sau lưng. Gót phiêu bồng đưa anh đến những địa danh tên vẫn chưa quen người dân thị thành như nhạc Trần Thiện Thanh. Những hoàng hôn ghi dấu tuổi mơ buồn trên đá núi miền thượng du Bắc Việt với cái lạnh căm căm không biết thương người. Anh lại đi như chim trời vô định, những đêm khuya không điện không đèn nơi hải đảo xa xôi; những đêm trăng trên biển vắng nhớ về em da diết nơi phố đổi tên đường.“Bạn bè rồi xa người tình rồi quên. Ôi tháng năm, những dấu chân rồi cũng bụi mờ…” Những lời nhạc mà trước đó chỉ nghe để chứng tỏ ta đây… bỗng thấm thía nơi chân trời góc bể. Những câu thơ của người đi trước bỗng thấm… “Tôi là người lữ khách, đường chiều có là bao, nhớ nhà châm điếu thuốc, khói huyền bay lên cao.” Tuổi trẻ hoà bình lưu lạc thế sao em? Rất nhiều khi anh muốn hiểu vì đâu? Nhưng để làmm gì?

Lâu lắm rồi, anh mới có dịp ngồi nhìn vạt nắng sau hè để nhớ lại nhiều chuyện đã trôi xa. Khi anh làm ra được những đồng tiền đầu tiên trong đời như con anh bây giờ xoè xoè tờ check-partime, “Con cho mẹ đó!” Lớn lối như quan lớn trước công đường nên không màng tới tiểu tiết là để có tờ check đó thì mẹ đã bao đêm sữa tã, bao lần nhứ nhứ cây roi giơ cao đánh khẽ chứ không cười tươi một nụ rồi thọc mình lút cán như “Người vừa tặng ta vết thương không lành…”; như“thế gian mắt trắng như ngân nhũ” là lòng mẹ bao như biển Thái Bình. Bao giờ con anh hiểu! Hy vọng không quá muộn màng như anh đang ngồi nhìn vạt nắng sau hè. Ngày anh quay lại nhà để đền bù cho mẹ anh gói quà, miếng bánh, trái cau lá trầu… nhưng thấm tháp gì với viên thuốc cảm, tô cháo cảm đã thấm đẫm linh hồn đứa con ngổ nghịch. Đã đặt để vào lòng anh ý nghĩa sinh thành và đền ơn báo oán một cách ngông nghênh với tuổi đời lúc ấy, thâm trầm về sau. Không biết con anh có không chứ anh thì những ngày ngông nghênh ấy có được trong đời cũng có công em chia sẻ ngọt bùi cho đỡ lòng những trưa cháy túi trong môi trường đại học muộn màng của anh. Nhưng em đã được gì từ tấm văn bằng mà anh đã hãnh diện lãnh nhận để bước vào đời trong tư thế người có học. Anh chưa bao giờ rời bỏ ý nghĩ mình là người có học, luôn đòi hỏi xã hội và con người phải nhìn anh bằng con mắt kính nể thành phần trí thức. Vạt nắng sau hè khi đã nửa chừng xuân nhắc anh trí mình chưa thức bao giờ! Anh chợt hiểu em trong mặc cảm của người trí ngủ đến thế sao em?

Lâu lắm rồi, anh mới có dịp ngồi nhìn vạt nắng sau hè để nhớ lại nhiều chuyện đã trôi xa. Từ ngày anh mặc áo chú rể hiên ngang trước bạn bè, bao ánh mắt bạn bè thầm mong mình cũng được như thế! Bao ánh mắt cố nhân trách hờn dõi theo bước anh đi-là những người giống anh như đúc-chỉ thích nhận chứ không muốn cho đi nên mất anh trong đời. Lẽ ra anh phải hiểu điều đó một cách nghiêm túc thì sẽ hiểu hết sự may mắn của mình. Nhưng anh đã không màng thành quả đạt được bởi lòng tự tin theo ngày tháng thành tự phụ để cho là mọi điều tự có. Em chưa trách sự ích kỷ của anh bao giờ. Vạt nắng sau hè bảo anh hãy nói lời xin lỗi chân thành nhất từ trong cõi lòng mình như anh đã từng xin lỗi những người ích kỷ một cách rất thật lòng, “Em có về thăm thời thơ ấu/ thả hộ anh con dế sau hè/ em có cần người thợ chuốt tre/ làm diều thả. hắn chết rồi em ạ!/ Em có về thăm đời đôi ngã/ nhốt hộ anh khuya khoắt trăng tà/ em có cần ngắt vội chùm hoa/ tên kẻ cắp đã già. Xin lỗi./ Em có về thăm đời gian dối/ xin nhặt trái tim xám hối bên đường/ mai em về trong hầm mộ tối/ có người chờ rửa tội không tim…” Sao khó nói với em về lòng hối hận. Ngôn từ chỉ có trên bàn viết đêm khuya cho đời. Vô ngôn như vạt nắng sau hè là tình ấy trao em.

Lâu lắm rồi, anh mới có dịp ngồi nhìn vạt nắng sau hè để nhớ lại nhiều chuyện đã trôi xa. Những ngày khủng hoảng ở Sài Gòn bịp bợm. Hôm trước mình còn ra đường trong ánh mắt kiêng nể của người đời nhưng hôm sau chỉ có vài người bạn nghèo ghé thăm, chia sẻ cho anh ly cà phê, gói thuốc lá. Những người bạn mà em không gìn giữ cho thì anh cũng không còn khi lâm hoạn nạn. Anh lại vươn lên trong xã hội hai lòng bằng ương ngạnh độc cô cầu bại. Lại bù khú thâu đêm, dẫn xác say mèm về cho em thức trắng. Những đồng tiền của thiên trả địa đã cùng anh vô tình đến đắng cay để khi hiểu em “Có tiền đã khó, có tiền rồi mà con người không thay đổi càng khó.” Anh chỉ thấy khó… từ chối bạn bè mà vạt nắng sau hè nhắc muộn là bè nhiều hơn bạn trong đời anh.“Bè là tập hợp những người chia chung quyền lợi, khi quyền lợi ấy hết, bè tự động rã. Bạn là những người chia chung hoạn nạn, khi hoạn nạn ấy qua, không thường gặp.” Nhưng ý nghĩ tới thực tế là một khoảng dài mà không phải ai cũng vượt qua được. Anh cũng không ngoại lệ - nghĩ nhiều mà làm chẳngbao nhiêu, để em nặng nợ. Ngày dài đến thế sao em!

Lâu lắm rồi, anh mới có dịp ngồi nhìn vạt nắng sau hè để nhớ lại nhiều chuyện đã trôi xa. Nhớ những khó khăn, tự ti mặc cảm của người vừa đặt chân đến miền đất hứa, đến xã hội lạ hoắc lạ huơ mà tình đời chỉ thấy ma cũ ăn hiếp ma mới; những người thân thiết ruột rà nhưng đến đây mới biết khó gần vì tình thân không bằng đồng bạc trên xứ phù du. Anh còn lại gì hơn những hôm say tự do không bằng say trông về cố thổ mù khơi để em lại tần tảo lo toan cho gia đình định vị sau những điêu linh nơi quê nhà. Sau những thăng trầm trên miền đất tạm dung mà anh vẫn vô tư dạo chơi cùng chữ nghĩa. Lâu lắm rồi, anh mới có dịp ngồi nhìn vạt nắng sau hè để nhớ ơn em trước khi mình lạc mất nhau trong đời. Tình buồn đến thế sao em?

Lâu lắm rồi, anh mới có dịp ngồi nhìn vạt nắng sau hè để nhớ lại nhiều chuyện đã trôi xa. Với anh, cuộc sống ở phía trước, ở ngày mai. Chính vạt nắng sau hè tắt dần làm anh hoảng! Không trân trọng hôm nay thì làm sao có ngày mai! Nắng vàng vương trải những nỗi niềm du du lòng trắc ẩn. Nắng tắt bên thềm để qua đêm phiền muộn. Ngày mới chói chang ân tình sau giấc cô miên. Tạ ơn em - vạt nắng sau hè.

Phan

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

CHÚA ƠI! TÌNH YÊU CHÚA CAO VỜI BIẾT BAO..

Chu Tất Tiến


Lạy Chúa! Đôi khi con chỉ muốn giơ hai tay ra, giữa một khoảng không gian rộng lớn, trên núi, trên đồi cao, và dùng hết sức để kêu lên, hét to lên một câu: "Chúa ơi! Con yêu Chúa vô cùng!" Con yêu Chúa thật đấy! Không bởi vì những ơn vật chất Chúa cho con, mà chính vì tình yêu Chúa vĩ đại quá, không có sách vở nào, câu hát nào, lời nói nào, chữ nghĩa nào, dù thiên kinh vạn quyển, cũng không tả hết lòng Chúa yêu chúng con, từ hơi thở chào đời đến khi nhắm mắt về với Chúa. Chúa biết, con không phải là tu sĩ, không phải là nhà truyền giáo, nên không thể ca ngợi Chúa hàng ngày được. Con chỉ có thể họa hiếm lắm, gửi đến Chúa vài lời chân thành, còn ngoài ra, con lại trở về đời sống trần tục, đầy đấu đá, chém giết không nương tay, nơi mà người ta đùa rằng "chốn gió tanh, mưa máu". Con biết bản thân con không bao giờ tu trì được. Ngày xưa, hơn bốn chục năm trước, khi con còn học nội trú Đắc Lộ, con quậy quá chừng, mà Cha Cố Tường lại cứ nghĩ là con hiền lành. Ngài thấy con sưng tội, chịu lễ, hát thánh lễ sáng sớm, nên gọi con lên phòng Ngài, vỗ vai con bảo: "Tao thấy mày ngoan lắm, mày đi theo tao không?" Con cười cười, thưa với Ngài: "Con không dám đâu!" Ngài bảo con cứ về suy nghĩ đi, lúc nào thích thì nói với Ngài. Con đi ra mà lòng vui vui, con nghĩ thầm: "Cha ơi! Con không không thích làm Cha, con chỉ thích làm Bố thôi!" Ngài đâu biết là con quậy số một ở trong lớp. Con chính là thằng duy nhất, dám thách thằng Trịnh-Đa-Kao, tên du đãng sừng sỏ, chửi thề như máy, đánh lộn. Hai thằng đợi các Cha, các Thầy đang ăn cơm chiều, rủ nhau ra sân đá dăm, vật nhau ằng ặc. Cả lớp đứng dưới hiên coi, vỗ tay vang rân. Con cũng đánh nhau với thằng Lâm- Sì- cà- cồ nữa. Con đang đứng trước cửa lớp, thì thằng Lâm-Sì-cà-cồ nói giỡn: "Mẹ, chúng mày biết thằng Tiến Tây Lai nó đẻ hồi nào không? Mẹ nó có bầu vào đúng ngày Tây càn vào làng nó!" Thế là con nổi cơn, nhẩy tới, quật cho nó một đòn nháng lửa. Từ đó, nó sợ con luôn. Còn thằng Thanh-Răng-Vàng, có hai cái răng vàng ngay cửa, cứ bị con chọc. Hôm đó, con đứng bên cạnh giường ngủ, vừa vỗ tay vừa hát: "Cười lên đi cho răng vàng sáng chói! Hát lên đi cho răng vàng le lói.." Thế là nó nhào tới, đấm con một cái cũng nháng lửa. Con bất ngờ bị đòn, đuổi theo nó, đánh tơi bời. Nó bỏ chạy, vì biết con có "nghề", vừa hiền vừa mất dậy, vì tuổi thanh niên, con thiếu tình yêu. Con bị đòn đánh ở nhà, từ năm 12 tuổi, bị đánh đau quá xá rồi, ngất đi sống lại, nên da con lì như da trâu. Mẹ con tống con vào nội trú vì chịu không nổi cái tính lì đòn của con. Do đó, mà con không tha ai hết. Con còn quậy thầy Tổng Trác tưng bừng luôn! Thầy đâu biết con với thằng Trịnh-Đa-Kao, du đãng số một đó, rủ nhau ăn trộm cơm cháy nhà bếp, đem về dấu trong mùng, đợi thầy Tổng Trác ngủ, là hai thằng lấy hai miếng cháy ra, nhai rôm rốp. Giường Thầy ngủ ngay cửa, trấn không cho thằng nào đi chơi đêm, nghe thấy tiếng nhai, bật dậy, gầm lên:

-Thằng nào đó!

Cả hai thằng con im re! Đợi thầy ngủ tiếp, lại nhai tiếp. Thầy vác cái roi đi tuần, tụi con cười muốn sặc. Biết thầy không đánh mấy thằng học trò đệ nhị, chỉ đánh mấy thằng đệ tam trở xuống mà thôi. Tụi con còn phá thầy kinh khiếp luôn. Một hôm, con thách thằng Trịnh đá một cái mà gẫy cái cọc giường tròn, to cả hai xăngtimét. Thầy nổi giận lôi đình, chửi quá trời. Hai đứa con tức, lén vất một gói phân lên nóc giường Thầy, đang ngủ, Thầy phải dậy đi giặt mùng, vừa giặt vừa chửi mấy tên học trò khốn nạn. Nghĩ lại thấy tội nghiệp Thầy quá! Nhưng hồi đó, tụi con đâu có nghĩ chi, chỉ thích chọc phá cho cuộc đời đỡ tủi. Cả năm trời, con không được một người nhà thăm nuôi. Mỗi tháng con về nhà một lần, nhận tiền học xong, nói mấy câu với Mẹ, là trở lên trường ngay, không có chuyện trò tình cảm chi. Để tìm hương vị gia đình, bên ngoài trường học, con hay trốn ra ngoài, đi lang thang với thằng Trịnh. Nó rủ con đi ăn phở, rồi ăn cắp chanh, đường, đổ đầy vào túi, đem về cho anh em. Có hôm không có tiền, cũng đi ăn, nó bỏ chạy, để con lại. Thấy vẻ mặt con hiền lành, chủ tiệm cũng không nỡ nặng tay, tha Tào! Cái vẻ mặt trắng trẻo thư sinh của con, đã lừa gạt nhiều người, cả cha Cố Tường cũng tưởng con thánh thiện. Cha đâu biết, con đã từng ôm anh tu sinh H., (bây giờ là cha Giám Đốc), học cùng lớp, có bộ mặt trắng hồng như con gái, mà chọc ghẹo: "Em H. ơi! Anh thương em quá!" Con quậy phá không chỉ nam sinh, mà nữ sinh, con ghẹo tuốt luốt. Em Thanh, một trong năm em nữ sinh của lớp con, lúc nào cũng điệu đà, đi xe Vê lô Sô Lếch đen, mặc đồ trắng bóc, vào lớp khinh khỉnh nhìn tụi con trai, tu sinh, nội trú như một lũ khỉ. Cô nàng chả thèm liếc đến một lần. Con tức mình, lấy một cục phấn trắng nhuộm mực tím đen, ném một cái trúng cái mũ trắng của cô nàng treo trên cái đinh ngay trên đầu nàng. Cái mũ bỗng biến thành đen bẩn, khiếp đảm. Cô nàng thấy cái mũ mình loang lổ, ngồi gục đầu khóc nức nở. Lòng con trùng xuống một giây phút thôi, rồi lại đâu vào đấy. Gần ba mươi năm sau, gặp lại nhau, con hỏi nàng:

-Ê! Hồi ấy, tôi ném cục phấn làm dơ cái mũ của bà, bà có giận tôi không?

Nàng cười hì hì:

-Tôi mà biết là ông thủ phạm, tôi băm vằm ông nát nhừ ra! Tôi muốn xẻo thịt, lóc da cái thằng cha nào hại cái mũ tôi, cái mũ mà tôi cưng còn hơn cưng trứng ấy!

Vậy mà cha Cố Tường lại bảo con đi tu!

Ở nội trú, không ai thăm nuôi, không có tiền đãi bạn bè. Con lên năn nỉ thầy Phán là "nhà nghèo, chưa có tiền học", Thầy thấy tội nghiệp, cho khất. Con lấy tiền học tháng đó, tiêu đi, rồi lấy tiền tháng sau đóng vào tháng trước. Hồi đó, hơn 1,200 đồng cả ăn cả học là một số tiền lớn. Đến tháng chót, thì không còn tiền, phải xách va li về nhà, nói dối nữa là Cha cho về sớm. Rồi bắt đầu là đi kiếm tiền, khi chưa có bằng Tú Tài một. Dĩ nhiên là giao báo, làm cu li, chứ có việc nào cho thằng chưa có cái mảnh bằng nho nhỏ đút túi. Và, cứ thế mà đời con lao vào những ngõ hẹp không đèn. Toàn rác rưởi ô uế. Khinh bỉ, bần hàn. Xua đuổi từ chỗ này đến chỗ khác. Nhiều ngày không có ăn. Nhiều bữa lạnh, cảm. Lang thang đầu đường, xó chợ, ngủ trên vỉa hè, ngủ dưới gầm xe đò, ngủ trên xích lô, ngủ ngồi, ngủ đứng. Con không còn gia đình, chỉ có hai ông anh họ, thương con, thỉnh thoảng con lê gót đến, mấy ông anh ấy dúi cho ít tiền. Nếu không có tiền thì cho cái đồng hồ, cái áo vét, bảo: "Mày cầm ra tiệm, lấy ít tiền mà ăn." Con còn hai thằng bạn thân, lâu lâu ném cho một ổ bánh mì. Thằng Trịnh dẫn con đi giật đồ, cướp cạn ở góc Đa Kao, kiếm được cái gì thì đem đi cầm bán, đổi bánh mì ăn đỡ. Không được học, thì làm sao thi đỗ! Khi con rớt Tú Tài, đã leo lên nóc nhà, muốn nhẩy xuống tự tử, nhưng .. nghĩ đến Chúa, nên lại thôi. Chúa ơi! Hồi đó, con khóc với Chúa quá chừng! Chúa bỏ con rồi! Con bỏ Chúa luôn! Con không cần Chúa nữa! Còn Mẹ Maria ư? Chả thấy đâu! Chỉ là kỷ niệm! Những kỷ niệm nhạt nhòa, sương khói! Mẹ Hằng Cứu Giúp chỉ có trong tranh lộng lẫy ở nhà thờ Hà Nội, Bùi Chu, Hải Phòng, Hải Dương, rồi Sàigòn.. Chỗ nào treo hình Mẹ, là chỗ đó có đèn sáng rực rỡ. Nhưng Mẹ đi vắng rồi! Mẹ bỏ con đói rách, dơ bẩn, khốn khổ, nguy nan. Con đi theo tội lỗi và miếng cơm manh áo, có lý hơn! Con chỉ mỗi một gia tài là bức tranh con vẽ Mẹ Lên Trời, vẽ bằng Pastel, con say mê lắm. (Hồi đó, con vẽ chân dung nổi tiếng trong trường, tiếc là không dùng nghề đó kiếm ăn được). Hình Mẹ mặc áo xanh trắng, đang nhìn lên trời, hai tay chắp lại, chung quanh là những sợi giây bay bay theo gió, cũng khá đẹp, cao hơn một thước, treo ở nhà con, bị thằng bạn lại chơi, lấy mất. Hỏi nó, nó bảo đem tặng cho một ngôi nhà thờ ở miền Trung rồi! Thế là hình ảnh Mẹ trong con không còn nữa! Cả Chúa và Mẹ, đối với con hồi đó, là những huyền hoặc, không thực tế bằng chén cơm con mua được, khi không có cơm, thì ăn cháo trắng với muối, mỗi tô một đồng. Có hôm con ăn bánh mì chấm với nước mắt, vừa ăn vừa khóc. Nước mắt con rơi xuống ổ bánh mì không, mằn mặn.

Chúa ơi! Con chiến đấu với cuộc đời bằng cả trái tim "quậy" nhưng chân thành của con. Không đọc kinh tối nữa, nhưng thỉnh thoảng vẫn đi lễ Chúa Nhật và lễ Giáng Sinh, vì thói quen mà thôi. Tội lỗi, dĩ nhiên, cao như núi. Cho đến một lần nào đó, con không còn chịu nổi sức nặng cuộc đời nữa, con đã lê vào nhà thờ Đền Chúa Cứu Thế, quỳ dưới chân Mẹ mà khóc nức nở. Con nhìn lên, vẫn thấy cặp mắt Mẹ hiền dịu như năm xưa. Con tưởng như nghe Mẹ nói chuyện với con, an ủi con bằng những lời dịu dàng nhất mà chưa bao giờ con nghe được. Đột nhiên, con nghiệm ra, Mẹ vẫn đâu đó, bên con, trong những giờ phút sinh tử, con lại thấy có một bàn tay nào đó, cứu con ra khỏi cơn ngặt nghèo. Hóa ra Mẹ vẫn ở đó, Chúa vẫn có đó, không phút nào con lại không có Chúa. Con chỉ không nhìn thấy mà thôi. Mắt con đã mù không thấy. Tai con đã điếc không nghe. Trí con đã ngu, nên không nhận thức. Và con bừng tỉnh, con cố gắng thay đổi, học hành. Dần dần, con đường trước mặt, thông hơn, từng bước, con đi tới, dù trở ngại, dù tội lỗi luôn luôn theo như bị một hồn ma, bóng quế nào ám ảnh, nhưng với lời cầu nguyện, với sự phù trợ của Chúa, lời cầu nguyện của Mẹ, con đã luôn thắng lướt mọi vất vả. Số con, hình như đã được đặt để là không bao giờ an nhàn, thoải mái, dù cho chỉ một năm. Biết bao lần, cái chết tưởng như đã đến, cái thua tưởng chừng đã mang, súng chỉ vào đầu, đạn đã lên nòng, dao chém vào tim, rồi tù đầy, nhục nhã, ê chề, rồi làm ăn thất bại, rồi đời ập đến tặng cho tai họa, tiếng oan chập chùng, dầy vò đủ thức chỉ mong cho mình chết dấp dưới chân, thì thiên hạ mới thỏa lòng độc ác, nhưng mọi việc chỉ như là những tiếng nhắn gửi: "Con đừng ngã lòng, vẫn có Cha đây!" Một lần, khi còn ở tù, vì ương ngạnh không chấp nhận quỳ trước cán bộ trại, còn thách thức cán bộ xử lý, viên quản giáo đã nổi giận, rút súng, lên đạn, chĩa vào đầu, và chỉ trong tích tắc, sẽ dùi một viên đạn đồng vào đầu, nhưng cũng trong tích tắc ấy, con đã nghĩ đến Chúa, nếu Chúa muốn con chết, thì chốc nữa đây, con sẽ ngã xuống, nhưng nếu Chúa không muốn, chẳng có kẻ nào giết con được. Đúng thế, sau khi đằng đằng sát khí để nòng súng vào đầu con, đột nhiên, viên quản giáo đã lẳng lặng cất súng đi, nói giọng hìền hòa hơn, và cho cả toán con về trại. Một lần nữa, cũng bởi tính thách thức du đãng của con, viên chính ủy mặt nám đã rờ tay vào súng, và nghiến răng: "A! tên này muốn chết!" nhưng một anh bạn, giáo sư TĐT, hiện ở Canada, đột nhiên lanh trí can thiệp: "Báo cáo cán bộ, anh T. đang bị ấm đầu, từ sáng vẫn nói tầm bậy tầm bạ, cán bộ đừng để ý." Rồi anh gọi to: "Anh em ơi! ra khiêng anh T. vào, cạo gió tiếp đi!" Thế là anh em nhào ra, đè con xuôáng, cạo gió liên tục, khiến tên chính ủy ngơ ngác, buông tay khỏi súng. Chúa đã cứu con trong một thoáng giây, một chớp mắt. Chưa hết đâu, trước đó, khi còn ở Càtum, con cũng được Chúa cứu lạ lùng lắm. Hôm ấy, con vừa được thăm nuôi xong, cầm nguyên một bịch thư của gia đình các bạn gửi ké vào trại. Thấy không có lính đi theo, con lẻn bò vào một bụi tre, mở thư ra xem trước. Vừa mở lá thư đầu ra, con hoảng hốt, rùng mình vì đó là một lá thư của một người vợ bất mãn cùng cực với chế độ, gửi cho chồng. Trong thư , toàn là những lời chửi rủa Hồ chí Minh, và đảng Cộng một cách tàn tệ, không còn nhân nhượng chút nào. "Tên giặc già Hồ Chí Minh khốn nạn đã ăn cướp hết tài sản nhân dân rồi! Bọn chó đẻ Việt Cộng kia toàn là lũ ăn cướp! Chúng nó tịch thâu mất nhà mình rồi!.." Những lời chửi rủa đó, con nghĩ thầm, mà lọt vào tay bọn gác, thì chỉ một tiếng "đoàng" là đời con đứt ngay. Vừa nghĩ xong câu đó, con giật mình vì một mũi súng lạnh toát chọc vào lưng! Một tên lính gác theo dõi con, cùng bò vào bụi tre, thấy con đang cầm một tập thư , gần hai chục cái, quát lên: "Thằng này! đưa đây cho tao!" Con lặng lẽ đưa cho hắn, và nghĩ thầm: "Thôi! thế là vĩnh biệt em! Vĩnh biệt các con!' Tên gác thấy tập thư dầy quá, dựng súng vào ngang hông, hai tay cầm tập thư, đọc và đọc. Con không còn cách nào khác, chỉ biết nhắm mắt lại, nhìn lên trời, gọi Chúa: "Chúa ơi! Cứu con được không?" Lập tức, ngay sau khi đọc hết lá thư "phản động" ấy, tên gác lại đưa nguyên cả tập thư cho con, và nói giọng rất hiền:

"Thôi! Cầm lấy! Về trại đi!" Rồi hắn tửng tửng bỏ đi ra! Con chẳng hiểu sao, chỉ biết đứng lặng một lúc vì chân còn rung, và lại ngước lên trời, thầm thĩ:"Tạ ơn Cha!" Trong khi đó, cũng một người tù khác, nhận được một miếng giấy nhỏ, có vài lời chống đối, đã bị nhốt vào con-nếch, rồi đánh chết trong đêm.

Cũng chưa hết ơn của Cha, còn một lần suýt bị cưa chân vì bị hoại huyết, một lần BS ĐL và BS Ph. đã cố khiêng con ra trạm xá lần chót trước khi đem đi chôn.. rồi cũng được cứu một cách đặc biệt.

Từ đó, con đã nhận rõ là "Tình Yêu Chúa cao vời biết bao, mà con biết đắp đền thế nào, để cho cân xứng, Chúa ơi!" Từ đó, tình yêu duy nhất con mang trong lòng là Tình Yêu Chúa. Về sau, con rất thích câu chuyện tưởng tượng về một người vất vả, chán nản, đi dọc bãi biển, và đổ lỗi cho Chúa:

-Chúa ơi! Sao trên mặt cát biển này chỉ có mỗi dấu chân con? Con cô đơn quá!

Chúa nhỏ nhẹ nói:

-Không phải đâu, con ạ! Chỉ có một dấu chân, mà là dấu chân của Cha đấy! Cha đã bồng con trên tay đi suốt bãi biển này mà!

Con cũng thích những bài hát "Tình Chúa bao la như biển cả, tình con nhỏ bé như hạt sương". Nhiều bài hát tuyệt vời lắm, nhưng như con đã viết từ đầu, không một lời nào có thể ca tụng đủ tình yêu Chúa. Một người Cha trần thế hy sinh tính mạng cho đứa con của mình cũng là chuyện cao thượng, nhưng dù sao, người Cha ấy cũng chỉ là một xác thịt bình thường cùng được tạo ra bởi Thượng Đế. Tình yêu người Cha xác thịt ấy cũng chỉ giới hạn, vì chính vật chất đã làm cho giới hạn. Hai cánh tay chỉ che nổi một góc nhỏ xíu. Chỉ khi chính Thượng Đế, Đấng đã tác tạo ra con người, tự trên trời cao, hạ mình xuống trần gian, để tự mình hy sinh cái "Thượng Đế" của mình, để chuộc tội cho những cái tạo vật tầm thường, dơ bẩn, tội lỗi này, tình yêu đó, sự hy sinh đó, mới là vĩ đại, mới duy nhất, mới không thể ví von hay so sánh được. Chỉ khi chính Thượng Đế, Đấng có thể trách phạt con người, lại tha thứ cho tội lỗi của con người, không quở mắng tàn tệ, mà con nâng niu: "Này, cả nhà hãy làm tiệc, đãi đằng cho đứa con tưởng đã mất, nay trở về nhà Cha!"

Bởi vậy, con viết những chữ này, dâng lên Chúa, thay cho lời cảm tạ, dù hết sức mình, nhưng cũng vẫn trong hạn chế của ngôn từ, vật chất; con chỉ biết nhắc lại một câu hát "Con chẳng biết nói gì, khi nhìn lên Thánh Giá! Con chỉ biết cầu xin "Chúa ơi, đừng bỏ con!"



Chu tất Tiến.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Thịt Dê Có Trợ Dương Không (?)

Nguyễn thượng Chánh, DVM
Thịt dê còn rất xa lạ đối với đa số người VN chúng ta. Thông thường, chỉ có dân nhậu mới thật sự chiếu cố đến món nầy mà thôi. Có lẽ vì thịt dê khó tìm, giá lại đắt, mùi vị lại không mấy hấp dẫn đối với một số người.

Tại Montréal, một vài nhà hàng Tàu hoặc Việt Nam thỉnh thoảng có bán món lẩu dê. Thịt dê được thấy bán đầy rẫy trong các tiệm thịt của người Á Rạp.

Cá nhân người viết cũng thường đến kiểm soát và khám thú y việc hạ thịt dê cừu tại nhà máy Viandes Forget ở Terrebonne, ngoại ô phía Bắc Montréal. Tại đây, mỗi ngày giết trung bình 400-500 vừa cừu vừa dê, và phần lớn giết theo nghi thức halal của Hồi giáo.

Tại quê nhà, thịt dê rất được giới mày râu chiếu cố hết mình có lẽ là nhờ vào lời quảng cáo và đồn đại là nó có tính trợ dương (aphrodisiac).

Bạn thử mở xem các trang quảng cáo các nhà hàng bên nhà thì rõ. Thịt dê được bơm lên tận mây xanh như là cứu tinh của phe cánh đàn ông còn ham vui hoặc để lấy thêm...điểm.

Phải chăng sự kiện ẩm thực bổ dương là một nét đặc biệt của nền văn hóa Việt Nam?

Món ăn đồng thời cũng là một vị thuốc. Ăn gì bổ nấy!

Đúng hay không thì chỉ có Trời và người nào có ăn rồi mới biết được mà thôi. Nhưng cũng chưa chắc là có ai có đủ can đảm nói thật lòng mình.

Các quán chuyên trị thịt dê ở Việt Nam thì nhiều vô số kể. Bên đó, thịt dê thường được dùng để chế biến thành những món rất đặc biệt với những danh xưng lạ kỳ, hấp dẫn và đôi khi còn có vẻ huyền bí nữa.

Phổ thông là cari dê, lẩu dê, chả dê ba lớp, dê nướng ngũ vị hương, dê xào lăn, dê xào sa tế, vú dê nướng, dê hấp cách thủy, gan dê hầm, tiết canh dê, dê con quay, rượu huyết dê, dê nướng riềng, dê nấu rựa mận, xáo măng, sườn dê nướng, dê xốt tiêu xanh, dê nấu kiểu Bali, lòng dê cháy tỏi, dê đút lò, dê hầm rượu vang, v.v... Chắc làm sao mà khỏi thiếu món...dê ôm được.

Cầu kỳ hơn thì có ngọc dương hay dái dê hầm thuốc Bắc; chân móng dê hầm thuốc; dê tiềm thuốc Bắc gồm có những vị thuốc như kỳ tử, hoàn sơn, sanh địa, thục địa, nhãn nhục, đảng sâm, v.v…Không cần phải nói, chỉ nhìn vào toa thuốc cũng biết là quá bổ rồi chắc hổng thua gì Viagra.

Nghe thiên hạ nói bạn trẻ không nên ăn vì quá bổ dám nổ bình điện bất tử lắm, chỉ nên dành cho mấy ông tuổi xồn xồn 50-60 trở lên mà thôi.

Ôi, thời oanh liệt nay còn đâu!

Ở miền Bắc VN, nghe nói có món tái dê rất độc dáo. Món nầy mà chấm với tương bần thì chắc là hết xảy phải biết, bởi vậy dân gian mới có câu:

Tái dê chấm với tương bần,
Ăn vào một miếng bần bần như dê.
Đêm về vợ lạy tỉ tê,
Tối mai ta lại Tái dê tương bần.

Còn món dê Hà nàm nghe đâu cũng thuộc loại ngoại hạng và huyền bí lắm vì được chế biến từ phôi dê con còn trong bụng mẹ. Theo lời đồn của mấy tay nhậu, thì đây là món thần sầu quỷ khóc chỉ cần ăn thử một lần là trong người sẽ nóng lên rạo rực bừng bừng y như hồi mình hồi còn trai tráng, dám làm sập giường sập chiếu hết. Sao cái món nầy giống cái món dã man ăn thai nhi của một số người Trung Quốc quá vậy!... Quý bạn nào yếu bóng vía xin đừng xem những hình nầy trong Internet. Tác giả cũng hơi nghi ngờ về sự xác thực và tự hỏi có phải đây là những hình của phe đối lập Pháp Luân Công tung ra chăng?
Nghề ăn cũng lắm công phu Qua thăm dò, các quán nhậu bên nhà cho biết đại khái là sau khi cắt cổ, dê phải được thui bằng lửa than, sau đó thì dùng nước sôi cạo sạch trước khi nấu thành món ăn…

Riêng người Hoa, họ thích bỏ chung với các phụ liệu khác để thịt thêm phần thanh ngọt và để khử bớt mùi dê. Theo thông lệ bên nhà, cái gì được thiên hạ chiếu cố nhiều, cung không đủ cầu, thì sẽ có người tung ra hàng dỏm. Thịt dê dỏm chen chân với thịt dê thiệt không biết đâu mà rờ.

Tại Bắc Mỹ, thịt dê thường được dùng để nướng barbecue, làm saucisse, hoặc để chiên, v.v…

Dân Bắc Phi và Á Rạp rất thích món méchoui tức là dê hoặc cừu nguyên con được lụi qua thanh sắt và đem quay nướng trên lửa.
Thịt dê và đệ tam khoái: một huyền thoại của Việt Nam Có một điểm đặc biệt ở đa số đàn ông Việt Nam, hễ nói đến món thịt dê là họ liên tưởng ngay đến ba cái vụ kia. Có lẽ đây là tâm lý chung của bọn mày râu qua sự thán phục thành tích super của «sư phụ» hay «ông thầy» chăng?

Mỗi sáng, «ông thầy» đứng điểm danh ngay phía ngoài cửa chuồng. Hễ nường nào có dấu hiệu hot thì «ông thầy» phóng lên liền, khỏi cần phải mời mọc lâu lắc lôi thôi.

Nghe bạn bè ai nấy đều ca tụng món thịt dê quá cỡ thợ mộc nên người viết vì tánh tò mò cũng đã dùng thử đôi ba lần, nhưng sau mỗi lần ăn thì thấy nó cũng vậy mà thôi! Chắc có thể tại mình ăn không đủ liều chăng?

Thịt dê được sử dụng ở khắp mọi nơi trên thế giới. Mạnh nhất là khối Hồi giáo, Trung đông, dân Á rạp, Phi châu, Nam Mỹ, dân vùng biển Caribbean, Ấn độ, kế đến là Hy lạp, Ý, Thổ nhỉ kỳ và Trung quốc.

Riêng tại VN, mấy năm trước đây phong trào nuôi dê nuôi cừu đã nở rộ lên rất mạnh mẽ trên khắp cả xứ. Nhưng phải biết, cái gì cũng vậy, cần phải tuân theo luật cung cầu, bởi vậy cho nên đến năm 2007, thì nói chung tình hình nuôi dê bên nhà đang trên đà xuống dốc thảm thương và đã có nhiều nhà chăn nuôi đã bị phá sản rồi (Ảm đạm thủ phủ dê cừu.ViệtBáo.net 13/5/2007)
Thịt dê tại Canada Tại Canada, thịt dê chủ yếu nhắm vào khách hàng Hồi giáo và dân Á rạp.

Thị trường dê sống, được phân làm bốn hạng: 30lbs, 60lbs, 90lbs và 150lbs cân sống.

Đa số dê hạ thịt đều phải theo nghi thức Hồi giáo và thịt này được gọi là thịt halal.

Con vật bị chính tay người Hồi giáo cắt cổ thay vì bị bắn vào đầu như cách hạ thịt thường lệ ở tại các lò sát sinh Canada.

Thống kê năm 2001 cho biết, Canada có một đàn dê vào khoảng 182.151 con. Nhu cầu thịt dê tăng rất mạnh nhân những ngày lễ hội tôn giáo như lễ Ramadan của Hồi giáo hay lễ Navadurgara của Ấn độ giáo.

Số lượng thịt dê không đủ cung ứng cho thị trường nên Canada phải cho nhập thêm thịt dê đông lạnh từ Úc châu và từ Tân Tây Lan.
Thịt dê tại Hoa Kỳ Bộ Canh nông Hoa kỳ USDA cho biết, năm 2007 Hoa kỳ có một đàn dê trên 3 triệu con, trong số nầy 2,2 triệu con là dê dùng để sinh sản (breeding) và số còn lại là dê nuôi để lấy thịt. Texas đứng đầu về số dê nuôi (51%), kế đến là Tennessee.

Năm 1993, giống dê South African Boer goat được nhập thẳng từ Nam Phi để gầy giống. Boer goat được cho phối giống với dê địa phương Spanish goat của Hoa Kỳ để tạo ra những dòng dê có năng suất thịt rất cao.

Tuy với một đàn dê trên 3 triệu con, nhưng Hoa kỳ hằng năm cũng cần phải nhập thêm thịt dê. Năm 2006, 11.070 tấn thịt dê được nhập cảng từ Úc châu và Tân Tây Lan.

Cùng với số di dân vào Hoa kỳ không ngừng gia tăng nhu cầu về thịt dê cũng theo đó mà tăng theo. Các lễ hội tôn giáo của các sắc dân là dịp thị trường thịt dê rất bận rộn.
Nói chung các dịp lễ như Phục sinh (Eastern), Giáng sinh và Tết Tây, các loại dê từ 10kg đến 60kg bị hạ thịt rất nhiều.
Lễ Phục Sinh: chủ yếu là dê tơ lối 15kg. Lễ Ramadan của Hồi Giáo kéo dài một tháng, họ chỉ được ăn trước khi mặt trời mọc và sau khi mặt trời lặng mà thôi. Dê sử dụng dưới 30kg.

Lễ Id al Adha: dùng dê từ 30 đến 50kg.

Lễ các sắc dân Caribbean: dê 30 - 40kg

Tết Tàu: chuộng dê nặng từ 30 - 40kg

Các sắc dân Latino Nam Mỹ thích dê tơ (cabrito). Nếu dê to hơn thì được quay nướng kiểu mechoui. Seco de Chivo là món thịt dê rất thường thấy trong những dịp lễ hội của người Latino sống tại Hoa Kỳ.

Một số Mexican American chuộng thịt dê để kỷ niệm lễ Cinco de Mayo (May 5)

Ấn độ kỷ niệm lễ Dassai: sử dụng dê dực còn tơ.

Người Do Thái cũng ăn thịt dê nhưng con vật phải được chính tay ông cố đạo của họ (gọi là Rabin) cắt cổ và giết thịt theo nghi thức Do Thái Giáo. Thịt nầy được gọi là thịt Kosher tương tợ như thịt Halal của bên phía Hồi Giáo.
Tính chất của thịt dê Thịt dê, tiếng Anh gọi là chevon, đây là thịt dê tơ rất ngon ngọt. Thịt nhiều nạc, ít mỡ, ít cholesterol. Dê dưới một tuổi cho thịt ngon nhất. Nói chung, thịt dê sau khi nướng, chứa ít chất béo bão hòa hơn thịt gà (đã được lột da) và cũng còn ít hơn cả thịt bò và thịt heo nữa.

Trở ngại duy nhất là thịt dê có mùi khen khét, mùi dê nên nhiều người không thích cho lắm. Đây là một điểm hơi lạ vì dê mà không ưa mùi dê.

Các người bán thịt tại Canada có mách cách khử bớt mùi dê như sau: lấy một tí giấm, hoặc vắt hai trái chanh vào tô thịt dê, chế vô một ít dầu ăn, trộn đều và đem cất trong tủ lạnh trong vài giờ đồng hồ, mùi dê sẽ bớt đi.

Cách khác là chúng ta có thể dùng quế để khử bớt mùi dê, hoặc lúc nấu thịt cho sôi thì vớt bỏ bớt mỡ.

Ở Việt Nam, người ta thường khử mùi dê bằng cách bóp thịt với một tí rượu trắng có trộn gừng bằm nhuyễn. Sau đó xả lại bằng nước lạnh.
Có người dùng beer để khử mùi.

Một cách khác là có thể trụn sơ thịt trong nồi nước sôi có thêm vài tép sả hoặc một hai khúc mía.

Tác giả cũng có nghe nói, bên nhà có người rất tàn nhẫn. Họ đổ ba xị đế vào họng cho dê uống cho say, sau đó họ đánh con vật hay dần nó, bắt nó chạy toé khói cho thật mệt lả, để nó xuất mồ hôi mồ hám ướt hết cả lông cốt để đem bớt chất hôi ra ngoài rồi sau đó mới cắt cổ. Họ nói làm như vậy thịt sẽ hết hôi và trở nên mềm và ngon hơn (?). Thấy sao mà dã man quá xá cỡ, tội mạt kiếp nghe hôn mấy cha! Nếu làm theo kiểu nầy mà ở Tây ở Mỹ thì đi ủ tờ gỡ lịch là cái chắc về cái tội dám hành hạ «ông thầy».
Thịt dê bổ lắm Thịt dê chứa nhiều protein, nhiều chất sắt nhưng ít mỡ và ít cholesterol.

Image



Thịt dê qua cái nhìn của Đông y
Theo Gs Đỗ tất Lợi, thịt dê có tính nhiệt và có tác dụng trợ dương, bổ huyết, rất tốt cho phụ nữ mới sinh nở.

Hầu như tất cả bộ phận của dê đều có thể sử dụng để làm thuốc. Dái dê và thận dê có tính bổ dương. Xương thịt có thể sử dụng để nấu cao. Thịt dê có tác dụng giải độc, bổ huyết, chữa choáng váng, đau lưng, chóng mặt, nhức đầu, v.v…

ThS Hoàng khánh Hiển, Khoa học & Đời sống thì thịt dê là một loại thịt có thể trị được nhiều thứ bệnh lắm, trong đó phải kể đến bệnh thằng nhỏ khó dạy làm thằng lớn buồn rầu quá cỡ.
http://www.nguyenkynam.com/capnhat/tap1 ... hcuade.htm

Người viết đã sưu tra rất nhiều tài liệu của các nhà chuyên môn về Đông y bên Việt Nam, thì tất cả đều nói thịt dê rất bổ và có tính trợ dương ngoại hạng.

Tuy vậy, tác giả cũng chưa từng tìm thấy được một tài liệu khoa học nào đáng tin cậy trong Medlines và MedPubs nói đến tính chất trợ dương của thịt dê. Phải chăng ý niệm trợ dương trong Đông Y nên được chúng ta hiểu theo một nghĩa rộng rãi hơn?.

Thịt dê nhiều chất dinh dưỡng như Protein, nhiều bần tố, chất khoáng, nhiều vitamins, nhiều chất sắt thì đương nhiên là bổ cho cơ thể rồi. Và việc bổ chung nầy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho những chuyện khác không mấy hồi...
Tình hình thịt dê tại Montréal Tại Montréal, thịt dê chỉ được thấy bán trong một số tiệm thịt của người Hồi giáo mà thôi. Thịt dê, ngọc hành hay trái dứng ‘sư phụ’, dế bò và ngầu pín cũng có thể mua không mấy khó khăn. Muốn mua dái dê phải nói là mình muốn mua amourettes! Đó các bạn thấy không? Đâu phải chỉ có đám đực rựa Việt Nam mình mới chuộng mấy món ác liệt nầy đâu? Thịt dê là nỗi ám ảnh chung của bọn đực rựa Á châu và Phi châu.

Thịt ngon nhất là phần đùi sau, gọi là gigot giá 12$/kg, các phần khác rẻ hơn chút đỉnh. Trái dứng 9$/kg. Bảo đảm thịt đã được thú y sĩ nhà nước kiểm soát vệ sinh và áp pru tại lò sát sinh rồi.

Không có thịt dê dỏm tại Canada đâu.

Ngược lại, bên nhà thì coi chừng, dê thiệt dê giả dê dỏm đều có cả!.

Tại Việt Nam, nghe đâu giá 1kg thịt dê vào khoảng 50.000-60.000 đồng gì đó, tính ra cũng còn quá rẻ so với giá thịt dê mua tại Canada.
Lai rai ba sợi với bạn bè Mùa hè đẹp trời, tác giả đề nghị các bạn nào chịu chơi, mua đại nguyên một con dê (lối 12kg) đã được làm sẵn rồi. Đem về ướp theo kiểu VN, sau đó đem ra sân nổi lửa lên quay theo lối méchoui. Làm sao có dụng cụ? Khỏi phải lo, bạn hãy đến các tiệm cho mướn dụng cụ, chẳng hạn như tiệm Lou Tec ở Montréal. Tại đây, bạn có thể mướn dụng cụ gồm có một cái moteur và phụ tùng lỉnh kỉnh để quay méchoui. Tiền mướn dụng cụ lối 72$ cho một weekend. Nhớ rủ bạn bè và cũng đừng quên phone người viết đến tham dự cho vui và nhắn mỗi người phải nhớ xách theo rượu chẳng hạn như Porto loại trên 10 tuổi thì càng tốt. Bảo đảm sẽ vui lắm, một dịp để gặp gỡ bạn hiền và tha hồ vừa đớp hít vừa đấu láo chuyện trên trời dưới đất, chuyện mấy em chân ngắn chân dài. Sau buổi nhậu mình dám quên luôn cả đường đi lối về lắm!

Nói giỡn cho vui vậy thôi chớ cũng đừng quên rằng “Please don’t drink and drive”, «L’alcool au volant, c’est criminel» đó nghe hông các bạn già. Láng cháng dám bị phú lích giam mất bằng lái đau lắm chớ chẳng phải chơi đâu!
Kết luận Thật ra, tác giả cũng không biết được thịt dê thật sự có effet hay có bổ cho ba cái vụ kia hay không? Đây chẳng qua là kinh nghiệm riêng rẽ của mỗi cá nhân mà thôi. Một số bạn bè của người viết là dân ăn nhậu chuyên nghiệp, họ có tật hay nổ dữ lắm và cả quyết, thề thốt rằng thịt dê rất trợ dương. Effet ít hay nhiều tùy cũng tùy thuộc vào tuổi tác của con dê hai cẳng, dê đực hay dê cái, dê non còn sung sức hay dê cụ đã cúp bình thiếc rồi, và cũng tùy vào cách biến chế thành món ăn nữa. Đây là chua kể đến vấn đề « sung với bồ, bất lực với vợ »

http://www.take2tango.com/?display=4631

Có một điều chắc chắn là phần đông các đấng mày râu trên thế giới như Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Lào, Phi Luật Tân, Á Rạp, Phi Châu, v.v…đều tin tưởng là vụ đó là chuyện có thiệt.

Đối với đa số đàn ông phe ta, thịt dê đã gắn liền với đệ tam khoái trong nhóm ANDI. Sự kiện hễ mỗi khi nói đến chữ dê là tạo trong đầu một hình ảnh liên hệ xa gần đến trò múa lân dù rằng chưa phải là mùa Tết nhứt. Các nhà khoa học gọi đây là tự kỷ ám thị. Phải chăng hiện tượng nầy đã giúp phần nào cho tác dụng trợ dương.

Theo ý kiến của cơ quan Quản trị Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ FDA, thì không có thức ăn nào có tính trợ dương (aphrodisiac) cả. Món trợ dương thật sự chỉ có giữa hai cái lỗ tai của chúng ta và đây chỉ là yếu tố tâm lý mà thôi.

Khoa học gọi đây là effet placebo!
Còn một cách trị liệu khác đôi khi cũng có kết quả lắm mà chả cần phải ăn thịt dê hoặc uống thuốc men gì cả, đó là áp dụng cách cấm trại chay tịnh trong đôi ba tuần, cho tinh thần thật sảng khoái và thân xác khỏe khoắn hẳn rồi mới xả trại. Thời gian tịnh dưỡng càng lâu thì càng tốt, nhưng không được quá lâu sẽ quên bài hết. Đúng với câu use it or loose it! Đây là một trong nhiều cách trị liệu theo lối thiên nhiên nếu chẳng may bị mất điện.
http://www.yduocngaynay.com/8-8TK_NgTChanh_MatDien.htm

Còn các bà, các chị tuy ngoài mặt, ngoài miệng thì nói ăn làm chi ba cái thứ đồ quỷ đó, nhưng mà trong bụng lại mở cờ, hăng hái móc hầu bao đưa anh hai cho các ông đi mua thịt dê về nhậu cho đã đời, rồi sau đó tối thành quỷ sống để được các bà…khen!

Sướng chưa! Chuyện khó hiểu thiệt.

Tham khảo: - Commercial

Meat Goat Industry Canada.
http://www1.agric.gov.ab.ca/$department ... endocument
- T. Nordenberg. Looking for a libido lift. The fact about aphrodisiacs. FDA Consummer magazine Jan-Feb 1996
http://www.fda.gov/fdac/features/196_love.html
- Gs Trần Thúy. Dê - Bài thuốc dân gian bổ dưỡng, trị bệnh. Vietnam.net 6/02/2003
http://vietnamnet.vn/suckhoe/2003/2/2982/
- Lê Trường. Ảm đạm “thủ phủ”dê, cừu. ViệtBáo.vn 13/5/2007
http://vietbao.vn/Kinh-te/Am-dam-thu-ph ... 200856/87/

Montreal, August 19, 2008

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

HÒA… GIẢI
Thân tặng nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa
và kỹ sư Đỗ Nam Hải

Dân Oan khiếu kiện, đảng HÒA?
GIẢI ngay ra tòa cái tội dám kêu

Cụ Huyền Cụ Độ, đảng HÒA?
GIẢI thể Giáo Hội, Hồ già thành tăng

Chị Nhân Cha Lý, đảng HÒA?
GIẢI họ vào khám đảng ta bịt mồm

Cướp nhà cướp ruộng, đảng HÒA?
GIẢI rút cũng mất hóa ra đảng LỪA

Mất đất mất đảo, đảng HÒA?
GIẢI quyết chẳng dám hóa ra đảng HÈN

HÒA là ngoáy cho Nước tan
GIẢI là nghe đến toàn dân ướt quần

Bốn Triệu XƯƠNG CỐT hai miền
GIẢI oan cho Họ có điên mới HÒA

Quốc biến BIỂU NGỮ ta đi!
HÒA theo vận nước GIẢI nguy Sơn Hà

Đại Khối Chín Chục Triệu Người
dẹp xong Hán Ngụy CHÚNG TÔI MỘT NHÀ


Bút Trẻ

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image


Kim Chính Nhật: thuở Học trò của một kẻ Bạo chúa
Tác giả: David McNeill



Một người thầy đang phải sống lưu vong của Kim Chính Nhật đã tiết lộ về cách mà lần đầu tiên ông gặp một học sinh 'bình thường', người đã trở thành quái vật giải thoát cho Bình Nhưỡng khỏi những con người tàn tật - và đã ra lệnh giết cả nhà ông.

Có vẻ như đó là một khoảnh khắc bình thường, lặp đi lặp lại tới hàng ngàn lần tại các trường học khắp nơi trên thế giới. Ngồi một bên là một đứa trẻ nhút nhát "với đôi gò má tấy đỏ", trả lời ấp úng qua một bài kiểm tra dịch tại văn phòng hiệu trường nhà trường. Ngồi bên cạnh là một gia sư được cha cậu thuê để coi sóc cậu học hành.

Thế nhưng ngôi trường này lại ở Bắc Triều Tiên, người cha là nhân vật huyền thoại sáng lập nên đất nước này, ông Kim Nhật Thành, và cậu bé là con ông và là nhà lãnh đạo tương lai, Kim Chính Nhật. Và mối quan hệ giữa người học trò và vị gia sư đã đạt đến đỉnh cao trong một kết cục khủng khiếp: cậu bé đã lớn lên rồi ra lệnh thi hành án tử hình tất cả gia đình của người thầy giáo đó.

Câu chuyện này được kể bằng những lý lẽ ôn hòa hơn của người thầy, ông Kim Hyun-sik, giờ đã 76 tuổi và là một giáo sư nghiên cứu tại trường đại học George Mason University, bang Virginia.

"Rất nhiều lần tôi đã hình dung là mình sẽ giết ông ta rồi tự sát," ông viết về người học trò cũ của mình trong một tự truyện mới đăng gây tác động mạnh trên tạp chí Foreign Policy góp phần vén lên bức màn về lai lịch của vị Lãnh tụ Tối cao này.

Đoạn hồi ức nằm trong những công bố có sức thuyết phục nhất ở Hoa Kỳ, có khả năng đổ thêm dầu vào lửa quanh vụ trang bị hạt nhân của Bắc Triều Tiên và khích lệ thêm những người trong giới bảo thủ Hoa Kỳ vẫn đòi có sự can thiệp quân sự vào nước này.

Song giáo sư Kim cho biết ông chỉ có một ước nguyện: rằng ông Kim Chính Nhật sẽ mở cửa đất nước cho tự do và thịnh vượng như phần còn lại của thế giới vẫn đang được hưởng. Cho tới lúc đó, chắc chắn ông sẽ nói tới mọi người những gì ông đã được thấy: "Một cậu bé ngây thơ trong trắng, người đã biến thành một ác quỉ, và một đất nước đầy khả năng bị biến thành một trại tập trung."

Câu chuyện bắt đầu vào năm 1959. Vị giáo sư, người mà ông Kim Nhật Thành đã lựa chọn cẩn thận để dạy tiếng Nga cho gia đình mình, đã gọi Kim Chính Nhật khi đó mới 17 tuổi đến để thực hiện một cuộc kiểm tra vấn đáp.

Bối rối và "với những giọt mồ hôi trên trán", cậu bé đã chịu đựng cuộc sát hạch mà "không hề tỏ ra khoe khoang rằng mình là con trai của vị Lãnh tụ Vĩ đại".

Mấy năm sau khi Kim Chính Nhật thừa kế quyền lực độc nhất của cha mình, Giáo sư Kim cho biết rằng học sinh có thể yêu cầu nhà trường của ông quở trách để loại ra những địch thủ tiềm tàng đối với con cái Kim Chính Nhật.

Ông mô tả Kim Chính Nhật như một "học sinh khá là tầm thường" không có điểm gì trội và có rất ít bạn bè. Sau cuộc kiểm tra chỉ vài tháng, tính dễ hoảng sợ, thiếu tự tin của Kim Chính Nhật biến mất khi cậu ta phô trương những kỹ năng tiếng Nga của mình trước các giáo viên. "Với tư cách là một nhà giáo dục, tôi khá là hài lòng," vị giáo sư kể lại. Thế nhưng niềm hãnh diện đó đã biến thành cơn thịnh nộ.

Năm 1991, một nhân viên mật vụ Nam Triều Tiên đã tới gặp Giáo sư Kim khi ông đang ở Moscow, nói rằng anh ta có thể thu xếp cho ông một cuộc gặp với người chị gái.

Giống như hàng ngàn gia đình khác, gia đình ông Kim từng bị ly tán trong cuộc chiến tranh 1950-1953 đã chia cắt bán đảo Triều Tiên. Người chị, từ lâu bị cho là đã chết, lúc này đang sống ở Chicago và muốn em mình qua gặp. "Tôi đã cố kim nén cảm giác xúc động," ông viết.

Thế nhưng một ngày sau, vị giáo sư đã được lệnh trở về Bình Nhưỡng sau khi một điệp viên nhị trùng của Bắc Triều Tiên phản bội ông. Trong khi có một người trong cuộc được tin vậy với những hiểu biết gần gũi về gia đình đang nắm quyền cai trị đất nước này đã bị bắt vì chuyện trò với phe miền Nam thù nghịch, ông biết rằng việc trở về của mình có nghĩa là gì. "Tôi sẽ bị coi như là một kẻ phản bội." Ông đã trốn sang Seoul và không bao giờ nhìn thấy căn nhà của mình, trường đại học hay gia đình mình nữa.

Kim Chính Nhật đã bắt ông phải trả một cái giá khủng khiếp cho sự phản bội đó. Vợ, con gái vào con trai của giáo sư Kim, các con dâu rể và "thậm chí cả những đứa cháu nội ngoại thân yêu của chúng tôi" dường như đều bị tống vào các trại cải tạo kiểu gulag và bị giết. "Cho tới ngày này, tôi không biết chi tiết gì về cái chết của họ, rằng liệu họ có oán trách tôi khi họ bị giết hay không." Theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, ngày nay, có tới 200.000 người vẫn còn đang bị đày ải trong các trại cải tạo ở miền Bắc.

Cuốn hồi ký cũng kể đến những trò viện cớ "tẩy rửa" như kiểu Nazi của Đức quốc xã đối với những người tàn tật và "không đủ tiêu chuẩn".

Trong một chương, Giáo sư Kim đã miêu tả cách thức Bình Nhưỡng được "thanh lọc" khỏi tất cả những cư dân bị tàn tật ra sao trước khi diễn ra Festival Thanh niên Sinh viên Thế giới năm 1989, một màn phô trương được dàn dựng hơn hẳn Olympic được tổ chức tại Seoul năm trước. Hầu hết các nạn nhân là "những thợ đồng hồ, thợ chạm khắc, thợ khoá và thợ sửa giày" bị biến mất trong đêm.

Thậm chí cả những người thấp bé còi cọc cũng không được an toàn, Giáo sư Kim kể lại. Nhà nước phân phát những cuốn sách mỏng cho hàng ngàn người Bình Nhưỡng diễn tả một loại thuốc kỳ diệu sẽ nâng được chiều cao của họ. Để thay thế, "họ được gửi tới những hòn đảo bỏ hoang khác nhau trong một cố gắng kết liễu loại gene "không đạt tiêu chuẩn" của họ không để lặp lại trong một thế hệ mới khác. Để họ ở đó cho tới chết, và không ai trong số những người đó trở về nhà được."

Bradley K Martin, tác giả của cuốn Dưới Sự Chăm Sóc Đầy Tình Thương Yêu của Lãnh tụ Nhân từ như Người Cha và là một cựu ký giả chuyên viết về các vấn đề Bắc Triều Tiên, đã cho biết đúng là ta không thể tìm đâu ra những người tàn tật tại Bình Nhưỡng. "Nếu bạn muốn nhìn thấy những người phát triển không bình thường do đang phải chịu đựng tình trạng thiếu dinh dưỡng thì bạn phải ra khỏi thủ đô. Tôi không có lý do gì để nghi ngờ mục đích của chủ trương này."

Bản tố cáo gây bùng nổ dư luận của Giáo sư Kim, trích từ một cuốn sách được xuất bản năm ngoái tại Nam Triều Tiên có tựa đề là Một kẻ Du cư Ý thức hệ trong Thế kỷ 21, đã được công bố vào một thời điểm nhạy cảm. Sau bảy năm đe doạ, nội các của Tổng thống Bush vào tháng trước đã đưa Bắc Triều Tiên ra khỏi danh sách "những kẻ bảo trợ cho khủng bố", tỏ dấu hiệu rằng đàm phán, chứ không phải đối đầu, sẽ có một cơ hội tốt hơn để dỗ dành Bắc Triều Tiên đang trong tình trạng cô lập.

Đáp lại, Bình Nhưỡng đã gợi ý về một bản kê khai chương trình hạt nhân của mình và đã cam kết tháo dỡ các vũ khí hạt nhân. Mặc dù có những bước lùi, song các mối quan hệ của quốc gia này với Seoul cũng vẫn đang được cải thiện. Khoảng 70 công ty Nam Triều Tiên đã thiết lập các cơ sở tại phía bắc biên giới trong Khu Công nghiệp Kaesong, một dự án thí nghiệm mô hình tư bản có thể đem tới thịnh vượng cho đất nước bị bần cùng hóa này.

Thế nhưng Giáo sư Kim đưa ra khả năng về sự thay đổi ý kiến của Hoa Kỳ sẽ là một thắng lợi cho Lãnh tụ Kính yêu, người đã quyết định vào những năm 1990 rằng đất nước của ông ta, sẽ bị cô lập hơn nữa trước sự sụp đổ của người bảo trợ cho mình là Liên Xô, có thể sẽ khép kín trước ảnh hưởng quốc tế nếu như ưu tiên phát triển năng lực quân sự. "Ngày nay, rõ ràng như ông ta đã hy vọng, ảo mộng của Kim Chính Nhật đã được thực hiện," Giáo sư Kim viết. "[Ông ta] đã xoay xở để kiếm chác những niềm an ủi từ các quốc gia giàu có và mạnh hơn nhờ những cơn khủng hoảng sản xuất kinh doanh và phát sinh tình trạng mất ổn định quốc tế. Vết nhơ từ trò tống tiền bằng chương trình hạt nhân của ông ta là một sự bảo đảm trên thực tế cho viện trợ quốc tế vào cái thùng không đáy đối với một xã hội được quân sự hóa mạnh nhất trên thế giới."

Bài báo trên tạp chí Foreign Policy còn nêu chi tiết về một bộ máy bí mật thuộc các tổ chức nhà nước của Bắc Triều Tiên có tên gọi là Cục 3, hoạt động chống lại Nam Triều Tiên, bao gồm, theo như Giáo sư Kim khẳng định, việc ám sát đã được lên kế hoạch đối với tổng thống và đoàn tùy tùng trong một chuyến viếng thăm của ông tới Miến Điện năm 1983. Vụ nổ bom đã giết chết 17 thành viên nội các Nam Triều Tiên, song mục tiêu chính đã thất bại.

Tài liệu đã tiết lộ về cách thức mà những đứa trẻ thuộc thành phần ưu tú của đảng được gửi tới những ngôi trường dành riêng cho gia đình quyền thế và được nuôi bằng gạo, thịt, cá, trứng trong khi những đứa trẻ bình thường chỉ được ăn súp bột ngô và đậu tương. Lớp trẻ đặc quyền đặc lợi chỉ phải bắt buộc làm việc tại các nông trường ít ngày trong một năm lao động, không như những đứa trẻ nghèo hơn khác phải làm trung bình từ 60 đến 90 ngày.

Vị lãnh tụ này sẽ không cho phép các sinh viên tốt nghiệp cùng trường cũ với ông ta tham gia vào nhóm lãnh đạo hàng đầu. "Những ai đã từng biết Kim Chính Nhật từ thời trẻ sẽ nhìn nhận ông ta như một con người - chứ không phải là tâm điểm của một tư tưởng sùng bái như đức chúa trời trong một con người nổi tiếng," Giáo sư Kim giải thích. Ông cho biết mình vẫn lạc quan rằng Bắc Triều Tiên sẽ thay đổi và ông muốn được gặp lại người học trò cũ của mình để có một bài học cuối cùng. "Tôi, người đã trở thành một giáo sư đại học phải cám ơn cha ông ta; tôi, người đã tới nước Nga, Seoul, và giờ đây là Washington - tôi không còn ghê tởm ông ta nữa. Tôi thương hại cho ông ta. Mặc dù ông ta đã giết cả gia đình tôi, nhưng tôi sẵn sàng tha thứ cho ông ta."

Những kẻ độc tài thời đi học


Robert Mugabe

Sinh năm 1924 tại nơi giờ đây là Rhodesia, Mugabe đã có một thời thơ ấu cô độc. Người cha đã từ bỏ gia đình khi Mugabe mới lên 10 và ông ta đã chịu ảnh hưởng của một thầy tu người Ái Nhĩ Lan, người đã nuôi dưỡng tinh thần cho ông ta bằng những câu chuyện tranh đấu của dân Ái Nhĩ Lan để giành độc lập trước người Anh. Khi còn là một đứa trẻ, ông ta đã phải lao động động cực nhọc ở trường song lại sống xa lánh những đứa trẻ khác, chỉ thích kiếm ăn một mình. Mugabe vào học tại trường đại học ở Nam Phi, nơi ông được giới thiệu về những tư tưởng chính trị dân tộc chủ nghĩa.

Adolf Hitler

Sinh tại Áo năm 1889, Hitler đã có một tuổi trẻ gian khó, khi hầu như hàng ngày bị cha đánh đập. Mặc dù chứng tỏ khả năng học tập giỏi ở trường, song ông ta đã làm bà mẹ thất vọng do quyết định không theo học để trở thành một linh mục. Hitler tới Viena khi 18 tuổi để theo đuổi giấc mơ trở thành một nghệ sĩ. Sau hai lần nỗ lực giành được vị trí trong viện hàn lâm nghệ thuật không thành, Hitler đã cố gắng theo học kiến trúc, song lại không có đủ tiền ăn học. Gần như không có bạn bè, ông ta đã phải chắt bóp tiền bạc để sống bằng việc vẽ tranh bán cho du khách. Bị quân đội Áo từ chối không cho gia nhập, Hitler đã tham gia quân đội Đức năm 1914.

Mao Trạch Đông

Sinh năm 1893 và là con trai cả trong một gia đình nông dân khá giả tại tỉnh Hồ Nam, miền trung Trung Quốc. Cha ông có thể chu cấp học phí cho đi học, nhưng ông muốn giúp đỡ gia đình làm ruộng khi đang còn trẻ. Ông bỏ học năm 13 tuổi để đi làm cả ngày phụ giúp cha, song tính ham hiểu biết tri thức cuối cùng đã lôi cuốn ông đi tìm những người thầy mới trong một thị trấn lân cận. Nhờ vào việc hoàn thành chương trình học phổ thông, ông đã tới được Peking (nay là Bắc Kinh) để theo học tại trường Đại học Bắc Peking.

David McNeill

nguồn: www.independent.co.uk
www.doi-thoai.com
Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Cười Cho Hết Hàm Răng

Nam Đan

Tôi đi miền Tây cũng nhiều lần, nhưng chưa bao giờ đến Sóc Trăng, lần này có dịp đi theo một người bạn về Vĩnh Châu. Vĩnh Châu là một huyện nhỏ, cách Sóc Trăng 30 cây số. Chúng tôi 5 người khởi hành ở Sài Gòn vào buổi trưa, khoảng chiều thì đến Cần Thơ, đi thêm hơn hai giờ thì đến Sóc Trăng, vừa kịp để đi chơi tối.

Sóc Trăng, cái tên thiệt là ngộ. Sóc là làng, bản, thôn... theo tiếng Khờ-me (ở đây người ta thường gọi là tiếng Miên) là điều dễ hiểu. Nhưng còn Trăng thì sao? Có phải là con trăng trong tiếng Việt hay là mang một nghĩa nào khác của tiếng Khờ-me? Ðiều này tôi chưa kịp hỏi, nhưng được biết ở đây có trên 30% là người Việt gốc Khờ-me, và cũng có rất nhiều người Hoa lập nghiệp đã từ bao nhiêu đời, nên nhiều người Sóc Trăng nói được cả ba ngôn ngữ Việt, Miên và Tiều.

Anh tài xế chở cả bọn dạo một vòng quanh thành phố cho biết và tìm nơi ngủ qua đêm. Ðêm Sóc Trăng không náo nhiệt như các thành phố miền Tây khác, và ấn tượng ban đầu có vẻ lành mạnh. Lành mạnh là vì qua khá nhiều con phố mà không thấy các bar rượu, phòng karaoke, hay tiệm mát-xa nào, nhưng dường như tôi lầm. Sinh hoạt về đêm chỉ tập trung ở vài con đường trung tâm có những nhà hàng, quán ăn bình dân. Chúng tôi thuê phòng trọ cách cầu Kinh Xáng một đỗi, chừng vài trăm thước. Hỏi ông chủ phòng trọ người Hoa ở đây có gì vui, ông khoát tay chỉ về hướng cầu, bảo mấy “hia” cứ đi rồi biết. Trời không mưa nên khá nóng, chỉ đi bộ một lát người đã đẫm mồ hôi. Quả là vui thật, thứ niềm vui bị giấu kín trong bóng tối. Ðoạn đường ngắn nhưng có rất nhiều quán cà phê đèn mờ, hay đúng hơn là ánh sáng được tiết chế đến mức tối om, chỉ lập lòe đủ để thấy bảng hiệu tên quán thường được kẻ sơn sơ sài, và vài cô gái ngồi chào mời khách trước cửa. “Cà phê đi anh, đi đâu cũng dzậy mà, dzô đây dzới mấy em cho dzui.” / “Có gì dzui mà mời?” Nụ cười của cô gái sáng lóe lên hàm răng trắng bóng trên gương mặt trùng màu với bóng đêm,“Nhóc”. Nhóc, tôi hình dung ra một chiếc khạp chứa đầy các niềm dzui lô nhô bên nhau, chen chúc bên nhau, khúc khích bên nhau đến độ đầy... nhóc. Không thể từ chối các niềm dzui như thế, chúng tôi ngồi vào chiếc bàn bên hàng hiên. Các cô bưng nước ra, kéo ghế ngồi bên, mỗi cô kêu thêm cho mình một lon nước yến, thêm đĩa kẹo gum, phong bánh pía. Quần jeans và áo pull hai dây thời trang, bàn tay da khô, các móng được sơn xanh đỏ. Câu chuyện không đầu không đuôi. Em người Miên lai Dziệt, cha Dziệt má Miên, làm guộng dưới wê, hết mùa theo chị em lên đây phụ bán wáng. Anh chắng chẻo đẹp chai wá, dzô chong kia mình tâm xự nhen. Chong kia là một lối hẹp có chắn tấm màn. Thôi, bữa khác. Ngồi ngoài này chơi với mấy em cũng dzui nhóc rồi. / Dzậy thì chút nữa bo nhe / Ừ, bo. / Cái mặt thiệt dễ thương, thiệt đó, thương nhóc luôn./ Chưa khuya mà dzìa xớm dzậy? Bái bai anh, bữa nào quởn mấy anh ghé chơi nữa nghen.

Chiếc máy lạnh trong phòng trọ quá cũ, kêu lọc xọc như xe tăng, như chuyến xe chạy chậm rì trên con đường dằn xóc. Suốt đêm anh tài xế than thở mãi về một đề tài duy nhất, sự bất hợp lý của tình trạng “ông nhà nước” chỉ định tốc độ được chạy trên đường quá sức chậm và mấy “ổng” bắn tốc độ khiếp quá.
*
Chúng tôi trả phòng sớm, ra uống cà phê. Quán “dzui nhóc” tối qua giờ còn đóng cửa, chắc chủ nhân chỉ mở từ chiều đến khuya. Sợi hủ tiếu Sóc Trăng trong và dai, còn bún nước lèo thì thật tuyệt. Giá cả so với thành phố khá rẻ, mỗi tô ăn no giá chỉ 5 ngàn. Còn sớm, chúng tôi đến thăm Chùa Dơi. Theo một vị sư trong chùa, ngôi chùa này do người Khờ-me lập vào năm 1569, còn có tên là chùa Mã Tộc, do được đọc trại ra từ chữ Mahatup, vì trong chùa có nhiều dơi nên gọi là Chùa Dơi. Vị sư trụ trì hiện nay là thuộc đời thứ 19. Chùa không lớn lắm nhưng nằm trong một khu đất rộng, chánh điện nằm một bên, bên kia là khu ăn ở bếp núc của các sư. Phía sau là một rừng nhiều loại cây cao, ở đó là lãnh địa của loài dơi. Vừa bước vào sân, chúng tôi đã nghe tiếng lao xao của bầy dơi hàng chục ngàn con treo mình trên các ngọn cây. Chúng quá nhiều đến nỗi khi nhìn lên, người ta ngỡ như đang thấy một loại trái cây kỳ dị treo lủng lẳng đầy các cành. Thỉnh thoảng lại vụt bay lên rợp trời như các đám mây đen trôi nhanh vùn vụt. Tương truyền có người thấy con dơi chúa sãi cánh dài hơn 1 mét 5, to như một con gà trống. Trong thời đại dịch H5N1, nhưng trên sân chùa thả đầy gà, đặc biệt là giống gà chọi. Gà chọi Sóc Trăng vốn nổi tiếng là đá hay. Ngoài lối vào chùa, một người phụ nữ ngồi bên hai chiếc lồng đựng đầy chim sẻ bán cho khách thập phương mua để phóng sinh. Khái niệm về sự nguy hiểm của cúm chim, cúm gà, đại dịch H5N1 có vẻ hoàn toàn là điều mơ hồ, xa lạ với họ. Ngoài sân đặt một chiếc ghe ngo, dài đến 26 mét, được sơn phết và trang trí sặc sỡ. Mỗi năm đội ghe ngo do chùa lập đều tham dự mấy cuộc đua. Trên các bậc tam cấp dẫn lên chánh điện, có những miếng đá mài ghi danh tính và nơi cư trú của các tín đồ đã đóng góp cho chùa, nhiều miếng do tín đồ từ nước ngoài về lập, có người ở tận Cali. Nhiều phần các nhà sư tôi gặp là người Khờ-me, họ đều rất trẻ và thân thiện, đang lăng xăng làm những việc tạp dịch như quét sân, chẻ củi, dọn dẹp vườn. Theo tập tục người Khờ-me, các thanh niên đều phải vào chùa tu vài ba năm, như một hình thức giáo dục, trước khi vào đời. Những gương mặt rất hồn nhiên, ai cũng sẵn sàng cười, cười rất tươi. Thầy có muốn hoàn tục lấy vợ không? Cười. Sao ăn chay mà các thầy lại nuôi gà nhiều vậy? Cười. Các vị chuẩn bị đi khất thực, mặc áo vàng tươi trong nắng mai, tay ôm bình bát trước bụng, cười thật lành.
*
Xe đậu lại một quán nước bên đường, quán cà phê võng. Võng được giăng thành hàng, cách nhau chừng hai mét, nằm dười tán lá của một khu vườn. Gió trưa mát rười rượi, văng vẳng tiếng vọng cổ từ mái hiên nhà, khiến tôi chỉ muốn ngủ. Cà phê võng thường được hình dung và gán đặt với ý xấu. Nhưng ở đây thì không phải vậy, chỉ đơn thuần là một chỗ cho khách đường xa dừng chân nghỉ ngơi, uống trái dừa, hay ly nước, có thể chợp mắt một lúc, rồi lên đường. Chúng tôi không có đủ thời gian cho trọn một chầu ca cổ ven đường. Một người đàn ông đứng tuổi dạo cây đàn ghi-ta phím lõm, ba người phụ nữ thay nhau hát. Tiếng đàn ca nhừa nhựa về một mối tình dang dở quyện nhau thật mùi, và buồn. Một cái buồn dai dẳng trì kéo nặng nề khó tả, chỉ đặc biệt mênh mang ở vùng sông nước miền Tây. Chúng tôi mua bánh pía và bánh mè láo là hai loại đặc sản của Sóc Trăng về làm quà. Sao lại gọi là mè láo? Chủ tiệm giải thích rằng vì bánh được làm bằng bột trộn với mạch nha và mè, chiên phồng lên thành từng bánh hình tròn như quả trứng gà, nhìn thì rất to nhưng bên trong rỗng ruột, thực chất không được bao nhiêu, nên... rất láo. Nhưng nghĩ lại thì rất thú vị, vì khi biết mình láo mà sẵn sàng công bố bản chất ấy ở cái tên gọi thì lại không láo chút nào, lại cực kỳ trung thực, phải không nào? Ông vỗ bụng cười phóng khoáng.
*
Những trại nuôi tôm nằm dọc con lộ nhỏ trên đường đến Vĩnh Châu. Chủ nhà là một người nuôi tôm sú có tiếng ở đây, chỉ trong vài năm anh đã tạo một gia sản vài tỷ đồng. Một vụ tôm trong khoảng 4 tháng rưỡi, nếu trúng, vốn 1 trăm triệu là có thể thu về 5, 6 trăm triệu. Tuy nhiên không phải ai cũng giỏi và may mắn như anh, có nhiều người đã thua lỗ rất nhiều. Anh đưa chúng tôi đi xem những vuông tôm chờ thu hoạch. Trưa đến, chị làm cơm đãi chúng tôi, thổ sản chính là tôm làm nhiều món: rang muối, chiên bơ, nướng, hấp bia, ăn sống với mù-tạt...

Tôm được họ gọi tắt là sú. Sú thật to, mỗi con lớn bằng hai ngón tay người lớn chặp lại, và ngọt thịt. Anh cho biết đây không phải là sú nhà nuôi, anh không ăn sú của nhà, mà phải gọi mua từ dịch vụ. Lý do là không nỡ. Không nỡ ăn con sú do chính mình chăm nuôi, vì chính chúng là thứ đã nuôi sống gia đình mình. Lẩm cẩm nhưng cũng ngộ, ai lại ân tình với cả con tôm. Cả hai ông bà cười ha hả.
*
Ðể diễn tả trạng thái vui sướng trong nụ cười người ta có rất nhiều cách nói khác nhau, có khi bằng cách nói văn hoa như “cười rạng rỡ”, “cười tươi tắn”... hoặc có khi bằng cách mộc mạc như “cười bò càng”, “cười thả ga”, “cười ngặt nghẽo”... Nhưng tôi vừa có được một cách diễn đạt khác đầy hình tượng, một cách mà tôi nghĩ ngay cả những người giàu chữ nghĩa như các nhà thơ cũng khó mà sáng tạo được. Một bé gái tôi gặp trên bãi biển Vĩnh Châu đã nói với tôi “cười lên cho vui, cười cho hết hàm răng”. Cười cho hết hàm răng, nụ cười của em thật vui, thật hồn nhiên. Nụ cười không chỉ ở trên môi, nó còn cả ở trên ánh mắt, trên các phần khác của gương mặt, cả màu da ngăm đen cũng cười theo. Em và mấy đứa bạn cùng trạc 10 tuổi ngồi với nhau trên bãi biển, mỗi đứa cầm theo đồ nghề là những rổ, vợt, sô nhựa. Ðứa nào cũng có màu da bắt nắng đen ơi là đen. Chúng đi bắt cua. Màu đất trên bãi biển đen xỉn, là phù sa đất bồi. Xa xa từng đoàn người lom khom mò bắt giữa bùn dưới ánh nắng trưa gay gắt. Các em cho biết mỗi ngày đi bắt cua như vậy có thể kiếm được khoảng trên 10 ngàn mang về cho má mua gạo. Ði học hả? Không, tụi tui nghỉ học hết chơn rồi. Lại cười.

Sóc Trăng có gì dzui? Có, có những nụ cười, cười cho hết hàm răng.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image


NO CƠM ẤM CẬT

Nguyễn thượng Chánh, DVM
Dù ở vào thời đại nào, dù ở bất kỳ nơi nào đi nữa thì việc ăn uống đầy đủ bổ dưỡng cũng là điều kiện tối cần thiết để có một sức khỏe tốt và nhờ đó mới hy vọng có được một hoạt động sinh lý bình thường.

Sử sách Đông Tây kim cổ không thiếu gì những bằng chứng về những loại thực phẩm, hoặc thuốc men khả dĩ có thể giúp con người bồi dưỡng sinh lực, giúp tăng cường và duy trì sự ham muốn. Các thứ nầy được gọi là cường dương (aphrodisiac)… Bọn đàn ông chúng ta đều đã từng nghe nói đến toa thuốc “Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” của Minh Mạng rồi. Tôi không biết có bạn nào đã thử chưa và cũng không biết nó có 100% effet như lời truyền tụng hay không? Đại khái toa thuốc trên gồm có các vị thuốc như sau: Thục địa, Đào nhân, Sa sâm, Dương quy Bạch truật, Phòng phong, Bạch thược, Trần bì, Xuyên Khung, Cam thảo, Phục linh, Tần giao, Tục đoạn, Mộc hoa, Kỷ tử, Thương truật, Độc hoạt, Khương hoạt, Đỗ trọng, Đại hồi và Nhục quế (theo Bs Nguyễn văn Dương).

Ngoài ra, cũng phải nói đến các món sơn hào hải vị, nhân sâm và lộc nhung đều là những món đại bổ thường dành cho những người nhiều tiền lắm bạc. Đặc biệt là ở Việt Nam mình, cũng không hiếm gì những loại thuốc “tiên”, thuốc “gia truyền”, những loại thực phẩm và những loại rượu “ông uống bà khen”, đó là những thứ rượu thuốc bổ dương, cường tinh, như rượu Càn Long đệ nhất tửu, rượu Hà thủ ô, rượu sâm nhung, rượu Tắc kè, Ngũ gia bì, rượu ong chúa, Dâm dương hoắc, cao hổ cốt, hải mã, rượu rắn Hổ mang, Tam xà đại hội, rượu Bồ cạp, rượu ong đất, rượu con bửa củi, rượu chuối hột, rượu hòa với huyết rắn hay huyết chim Se Sẻ, rượu dái Dê ...

Theo tâm lý của người tiêu thụ, sản phẩm càng hiếm, càng bí hiểm và càng đắt giá chừng nào thì món hàng càng quý càng có giá trị cao chừng nấy. Hình như bên Việt Nam mình rất mạnh về khía cạnh này lắm… Bởi vậy hàng dỏm cũng nhiều, và lang băm tha hồ mà hốt bạc. Ai tin thì ráng mà chịu!.

Không phải chỉ có VN mình mới có ba cái vụ rượu thuốc phục vụ sex đâu. Các dân tộc khác cũng vậy thôi…Trước năm 75, thuốc Durabolin rất phổ biến tại Saigon. Mấy ông nào cảm thấy bình điện hơi yếu vì phải vừa phục vụ bà lớn vừa làm vui lòng bà nhỏ, có thể ghé tiệm thuốc Tây mua 1-2 hộp Durabolin về nhờ y tá trong xóm lụi cho vài mũi để lấy lại sức mà làm ăn tiếp…

Tại Montréal, hốt một toa thuốc Bắc đại bổ để ngâm rượu cũng phải từ 80$ trở lên mới bảo đảm chất lượng khá được…

Cẩu nhục (thịt chó), thịt sư phụ (thịt dê), cũng nằm trong thành phần của vài toa thuốc để hỗ trợ cho cái vụ ấy.

Mấy năm gần đây, với sự bộc phát mạnh mẽ của phong trào thuốc thiên nhiên (Produits naturels, herbal products), người ta cũng thấy xuất hiện rất nhiều quảng cáo nói về đủ loại thuốc cứu tinh cho đàn ông… Lang băm cũng nhiều! Nếu đúng như lời quảng cáo thật hấp dẫn của họ, thì có lẽ trong tương lai vài chục năm nữa cả thế giới nầy sẽ không còn bệnh tật gì ráo trọi??

Ngoài thuốc ra, châm cứu, khí công, yoga và thôi miên (hypnothérapy) cũng được người ta đồn đại là có khả năng giúp chữa trị các tình trạng rắc rối về sinh lý…

Nói chung, hình như phía Đông Y rất mạnh về lĩnh vực nầy. Các món độc địa, hiếm hoi, đắt hơn vàng và toàn là đồ quốc cấm như sừng tê giác, bột dương vật hổ, mật gấu cũng như các loại thú rừng lạ và quý hiếm, v.v…thường được Đông Y quảng cáo là những vị thuốc mầu nhiệm còn hơn cả Viagra hay Cialis nữa! Khoa học phương Tây đã từng cho xét nghiệm và phân tích thành phần hóa học của các sản phẩm trên và cho biết là nó chả có chứa những gì đặc biệt hết, ngoài những khoáng chất thông thường mà thôi…Chỉ tội nghiệp cho vô số loài vật hiếm quý càng ngày càng bị diệt chủng bởi tham vọng của một số người!

Ăn gì bổ nấy!
Nguyên lý nầy cũng không phải mới mẻ gì cho lắm… Đông y và Tây y đều có đề cập đến hết.

Trong dân gian VN, nhiều người tin tưởng rằng những món ăn như thịt dê, thịt chó, ngầu pín, dế bò, ngọc hành, ngọc dương hay trái dứng sư phụ (dê) đều có tính bổ dương cho đàn ông. Đây là những món ông đớp bà khen! Là đàn ông con trai với nhau, chúng ta thường hay bàn bạc và trao đổi kinh nghiệm một cách vui vẻ và thích thú mục nầy. Nếu có mặt các bà thì mình dám bị rủa là…“ăn làm chi ba cái thứ đồ quỉ đó”… lắm.

Mà thật đúng vậy, trong công việc hằng ngày tại các lò sát sanh ở Canada, người viết thỉnh thoảng thấy nhà máy cho thu lượm lại dế của dê, cừu, bò hay ngầu pín bò tơ để bán. Mấy món lạ và độc địa nầy chỉ thấy bán tại một vài nơi đặc biệt như những tiệm thịt của người Á rạp ở Montréal mà thôi. Tác giả vì tánh tò mò nên đôi khi cũng có dùng thử ba cái đồ quỉ đó cho biết với người ta, nhưng sao thấy nó “cũng vậy mà thôi”. Không biết có phải tại mình ăn ít quá không đủ liều lượng chăng?

Phải chăng ăn trên bổ dưới?
Hình như văn hóa ẩm thực của người mình có liên hệ rất mật thiết với ba cái chuyện đó!

http://www.yduocngaynay.com/8-8TK_NgTChanh_MatDien.htm

Montreal, August 29,2008

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Một ngày với... "của lạ"
Chỉ cần 350.000đ bạn đã có thể sở hữu một "cuộc tình" theo ý muốn trong một ngày. Nhiều người đã biết đến trò ma quái này như "cửa sau" của những anh chàng độc thân, hay đang chán vợ hoặc vợ đang có thai... cần tìm cảm giác lạ.

Vào ngày chủ nhật đẹp trời, đúng 2 giời ăn sáng, sau khi ăn vận chỉnh tề và không quên cầm theo chiếc mũ bảo hiểm nữa, tôi lên xe máy trực chỉ về hướng thị trấn Đông Anh Hà Nội.

Đến ngã ba đèn xanh, đèn đỏ, tôi rút điện thoại gọi cho số máy của người mình cần gặp. Rất sẵn sàng, chỉ đúng 15 phút sau, LanLai - một cô gái rất trẻ, không phấn son lòe loẹt, mặc áo phông quần bò, vai đeo chiếc ba lô tiến về phía tôi tươi cười: "Em chào anh, xin lỗi đã để anh phải chờ lâu".

Chúng tôi tay bắt mặt mừng như hai kẻ đã từng thân thiết, tôi chẳng những không trách cô mà cố tình tạo không khí thật vui vẻ thoải mái để Lan có thể hào hứng làm đúng phận sự của mình.

Tôi rút ví ra đưa cho Lan 350 ngàn đồng, nàng cầm tiền đút vội vào túi và cũng liền thò tay vào ngực lấy ra 6 chiếc bao cao su đưa cho tôi và không quên buông lời vui vẻ: "Khuyến mại anh một chiếc đấy". Tôi đưa cho Lan chiếc mũ bảo hiểm, Lan nhảy tót lên xe máy, chúng tôi thẳng tiến hướng Hà Nội bắt đầu một cuộc hành trình để nhớ...
Image
Ảnh của Ragi Chu
Sở dĩ tôi biết Lan là nhờ anh bạn làm ở ngành Ngân hàng, anh này vừa lên chức phó phòng. Người bạn của tôi khoe: "Hôm nay ông phải dành một ngày để mừng cho tôi". Tôi và cậu ấy cùng mấy chiến hữu nữa nhậu từ 2h chiều đến tận 7h tối, sau chúng tôi phải gọi xe taxi về nhà.

Trên xe dù đã ngà ngà hơi men nhưng bạn tôi vẫn không quên bộc bạch: "Sướng thật đấy... ông phải hết mình với tôi. Bây giờ toi mời ông một "cái".

Taxi đưa chúng tôi vào một nhà nghỉ C.X ở Đông Anh. Thấy chúng tôi xồng xộc bước vào bà chủ nhà nghỉ hốt hoảng "các anh ơi! Ở đây không có đâu". Cậu bạn tôi quay đầu lại nói "Không nhớ à, T đây, cho hai phòng và hai em ngon đấy như hôm nọ là hơi mất khách đấy". "Dạ, mời hai anh lên phòng" bà chủ nhún nhẩy nói.

Tôi lên phòng 202 nằm chờ, chừng 10 phút sau một cô em xinh đẹp đẩy cửa bước vào. "Anh vào tắm đi...". Tôi như theo mệnh lệnh thực hành ngay. Chỉ có điều, không giống như những ông khách khác, tắm xong tôi yêu cầu em mát xa cho một cách nghiêm chỉnh.

Sau cuộc nhậu tưng bừng và mệt mỏi, một cảm giác thư giãn và mệt mỏi đang dần qua dưới bàn tay của cô gái mà ban đầu tôi tưởng cô chẳng biết đấm bóp là gì. Trong khoảng thời gian ấy, chúng tôi nói với nhau nhiều chuyện. Cô gái tỏ ra là người ham hiểu biết và (có thể) cô bị cuốn hút bởi cách gợi chuyện của tôi. Đến hồi có vẻ tin tưởng, cô cho biết cô tên là Lan (không biết tên thật hay giả), quê Yên Bái, xuống đây làm được 7 tháng.

Khi tôi hỏi về hoàn cảnh thì Lan cho biết: "Cuộc sống nhà em éo le lắm, nếu còn gặp nhau vài lần thì anh sẽ hiểu. Anh làm em thật ấn tượng đấy, ai đến đây mua vui họ đều nghĩ bỏ tiền ra là phải tận dụng hết, họ thích làm gì thì làm. Còn anh thì hơi lạ đấy. Hay anh "có vấn đề?". "Em nghĩ thế nào cũng được", tôi nói và không giải thích gì thêm.

Tôi hỏi: "Thế hôm nào đi chơi với anh không? Cho em được biết phố phường Hà Nội"? Được lời như cởi tấm lòng, Lan đồng ý một cách hào hứng. Tôi hỏi Lan rằng nếu đi với tôi thì có sợ bà chủ không, nhưng cô đáp ngay: "Sợ gì, một tháng em được nghỉ 2 ngày mà, bịa đầy lý do". "Hết bao nhiêu tiền để anh còn biết". "Thôi lấy anh 350 nghìn đồng cả ngày. Vì "tàu nhanh 15 phut" là 120 nghìn, cả đêm 300 nghìn, như thế là rẻ đấy mà anh lại được sử dụng cả ngày". Tôi hẹn Lan sẽ đi chơi vào sáng chủ nhật, cô "OK" và cho tôi số điện thoại để liên lạc...

Chúng tôi đi trên xe máy như những đôi yêu nhau, Lan ôm chặt tôi thủ thỉ: "Ngày hôm nay em thuộc về anh nên anh muốn làm gì thì làm tùy anh, miễn sao hết số bao em đưa đấy".

Nếu người yêu thì không nói làm gì nhưng đây là Lan (một cô gái làm tiền) nên tôi phải tạo không khí để cả hai đều thấy hào hứng và vui vẻ. Tôi đưa Lan ra công viên Thủ Lệ chơi. Thật buồn tẻ nếu bạn vào công viên chơi có một mình hoặc chỉ hai thằng đàn ông với nhau. Ở công viên được chứng kiến các đôi trai gái tình tứ với nhau rất tự nhiên nên tôi và Lan cũng tìm một gốc cây để tâm sự cũng như nghĩ ngơi.

Lại một lần nữa Lan tỏ ra ngạc nhiên bởi tôi "quá hiền", không như những gã đàn ông đi tìm "của lạ" khác. Chúng tôi hoàn toàn tự nhiên, trò chuyện, đi ăm kem, xem thú và chơi các trò của trẻ em nơi công viên như những đứa trẻ mà quên đi nhiệm vụ chính như ngã giá từ đầu.

Chơi ở công viên một lúc thì chán tôi rủ Lan đi xem phim rạp Dân chủ. Đến 11h15 phút hết phim cũng là lúc tôi cảm thấy khá mệt sau một quãng đường dài với những hoạt động thật sôi nổi, và cũng có cái thú của nó. Điều quan trọng là tôi đã chiếm lĩnh được phần nào tình cảm cũng như sự tin tưởng của cô gái lầm lỡ dành cho mình.

Đôi khi tôi đã chất vấn Lan, về những sự lựa chọn sai lầm, về những bước đi buông thả để rồi sa chân lầm lạc. Lan vẫn là cô gái non dại, bông bột và hơn thế nữa là tính hiếu thắng. Thỉnh thoảng cô quay lại hỏi vặn tôi những điều thật khó nghe, đại loại như: "Sao anh hỏi thế, anh là gì của em mà lên giọng vậy?"... Tôi không muốn tranh luận với Lan, bởi tôi hiểu, ngoài sự hiếu thắng, Lan còn có những mặc cảm với bản thân, mặc cảm với hoàn cảnh của chính mình.

Cũng có lúc như sợ tôi phải thua thiệt khi phải bỏ ra một khoản tiền cho cuộc đi chơi. Lan giục tôi vào nhà nghỉ... Tôi không từ chối nhưng cố tình lờ đi, chuyển sang một câu chuyện khác. Chúng tôi cứ tiếp như thế cho đến hết gần hết cả buổi.

Trên đường đưa Lan trở về, chúng tôi tạt vào một quán nước bên đường. Vẫn những câu chuyện còn dang dở, tôi hỏi Lan: "Chắc em đi ra ngoài như thế này lần đầu đúng không?" Lan bĩu môi: "Em cũng đi vài lần rồi, lúc thì ông già, lúc thì thanh niên nói chung là đủ loại chứ không như anh. Anh thật lãng mạn! Em có cảm giác được thoải mái còn bọn họ khi rủ em đi là đến ngay nhà nghỉ rồi cứ "hùng hục", xong việc nghỉ đến chiều là về".

Tôi lại hỏi: "Thế những người rủ em đi trông họ thế nào?". "Toàn một lũ chán vợ nhu Canard mà... Có người khi em hỏi đi chơi cả ngày chủ nhật không sợ vợ nghi ngờ à thì họ bảo vợ đang có bầu, nói phét là đi công tác là xong mà. Nói chung đàn ông khi đi tìm "của lạ" thì kiếm đầy lý do mà" - Lan hồn nhiên.

Sau một ngày cùng cô gái làng chơi đi "du ngoạn", tôi lại đưa Lan đến ngã ba đèn xanh đèn đỏ của thị trấn Đông Anh rồi chào tạm biệt. Lan ghé vào tai tôi thì thầm nói: "Em nhớ anh lắm, khi nào buồn, chán hãy gọi cho em nhé, em sẽ chiều anh hết mình".

Chia tay Lan ra về mà trong lòng tôi vui buồn khó tả, đúng là "có tiền mua tiên cũng được". Tổng thiệt hại của một cuộc mua vui "tới Z" với đầy đủ ý nghĩa của nó, một khách làng chơi phải chỉ mất một khoản dưới nửa triệu đồng, và họ đã có thể "làm gì cũng được" với một cô gái, dưới danh nghĩa... bạn tình. Rõ ràng, đây là hình thức mại dâm trá hình khá tinh vi, một cách mua vui tuy không mới nhưng lịa được xem như "cửa sau" của một số cánh đàn ông hư hỏng.

Canard

Post Reply