Nhổ tóc bạc - thú thư giãn mới cho người Sài Gòn
Khách nằm trên ghế, nhân viên dùng đèn rọi vào mái tóc rồi lấy nhíp nhổ từng sợi bạc, tóc sâu. 60.000 đồng một giờ cho dịch vụ "nằm khểnh, nhịp chân, cho người mân mê đầu".
Sau hơn một năm có mặt tại Hà Nội, mới đây dịch vụ nhổ tóc bạc đã chính thức có mặt tại Sgn
Đặng Tuấn Dương, người Hà Nội, chủ cửa hiệu 150 Nhật Tảo "nhổ tóc bạc" cho biết, ý tưởng mở dịch vụ xuất phát từ lần anh ghé thăm một cửa hiệu nhổ tóc bạc ở Hà Nội. Sau đó anh quyết định Nam tiến để thử kinh doanh nghề này.
"Lúc đầu khi nghe tôi nói ý tưởng, vợ tôi đã phá lên cười vì tính chất quái lạ của dịch vụ, thế nhưng sau khi bàn bạc thật kỹ và thấy được tính tiềm năng của nghề này tại Sài Gòn, vợ chồng đã mạnh dạn thuê mặt bằng mở cửa hiệu, mướn nhân viên", anh Dương nói.
Cửa hiệu 150 Nhật Tảo, phường 8, quận 10. Ảnh: Thiên Chương.
Chị Hạnh, vợ của anh Dương kiêm nhân viên cho biết, thời gian đầu quán còn vắng khách do ít người biết đến. Song chị vẫn tin tưởng dịch vụ chăm sóc sắc đẹp - thư giãn lành mạnh này sẽ tồn tại được tại Sài Gòn.
Nhiều khách hàng Sài Gòn thấy lạ với dịch vụ này, mấy ngày qua đồn "ở đây nhổ tóc bằng... răng". Như để thanh minh, chị vợ phân bua: "Dụng cụ nhổ bằng nhíp, trong không gian rất lành mạnh chứ không phải nhổ tóc bằng răng như lời đồn đại đâu nhé".
Cũng theo chị Hạnh, cửa hiệu chỉ phục vụ khách tại chỗ chứ không đến nhà nhổ tóc theo yêu cầu. Giá nhổ tóc sẽ giảm 20% từ giờ thứ hai.
Sau ba ngày khai trương, cửa hiệu chuyên nhổ tóc bạc ở quận 10 đã có hơn 50 khách tìm đến để được nhổ tóc. Đây cũng là điểm đầu tiên tại TP kinh doanh dịch vụ này.
Chị Minh Hạnh, 49 tuổi, nhà ở quận 5, khách hàng đầu tiên của cửa hiệu cho biết, tình cờ đi ngang qua nhìn thấy bảng hiệu chị đã lập tức ghé vào. "Tóc tôi có nhiều sợi bạc, ở nhà lại không ai có thời gian nhổ giúp, một mình loay hoay bên chiếc gương cả giờ đồng hồ mà chỉ nhổ được vài sợi nên khi nhìn thấy dịch vụ là chịu ngay", chị Hạnh nói.
Còn anh Ngọc Thanh, 29 tuổi, nhà ở quận 1 thì đến với cửa hiệu vì không muốn mái tóc lấm tấm bạc của mình phải được nhuộm đen tóc bằng thuốc. "Tôi đã vài lần nhuộm thử bằng hóa chất, lần nào tóc cũng bị rụng do dị ứng", anh Thanh nói. Anh bảo có dịch vụ nhổ tóc bạc, tóc sâu càng tiện.
Một số khách lại thích cảm giác thư giãn, vừa sạch tóc bạc vừa được mân mê da đầu. Anh Khánh, nhân viên bảo hiểm tại quận 10 thì cho biết, một lần công tác tại Hà Nội, anh được bạn bè mời đến cửa hiệu Chấy nhổ tóc bạc. Ban đầu anh hơi ngại vì tưởng dịch vụ không lành mạnh, tuy nhiên khi trở về Nam anh lại thấy nhớ nhớ dịch vụ này. Chính vì thế, khi nghe đồng nghiệp giới thiệu tại Sài Gòn có dịch vụ này, anh đã đến ngay.
"Được nằm khểnh, nhịp chân cho người mân mê đầu nhổ tóc đã ngứa, thích lắm", anh Khánh khoan khoái ngả người trên ghế cho chủ tiệm "soi tóc", nói.
Tuấn Linh
Vào đầu thế kỷ thứ 31, các nhà khoa học và khảo cổ phát hiện vùng bán đảo Ðông Dương, vùng đất hình chữ S chạy dài từ Lạng Sơn tới Cà Mâu có rất nhiều thi thể qua ngàn năm vẫn còn nguyên vẹn.
Dùng phương pháp phân tích Carbon các nhà khoa học đó xác định: “đa số những thi thể đó được chôn cất vào khoảng thế kỷ thứ 21. Người ta rất ngỡ ngàng và thán phục nghệ thuật ướp xác của nền văn minh bán đảo Ðông Dương thời đó.
Người ta cũng không tìm ra một nơi nào có kỹ thuật ướp xác có trình độ cao như vậy trên lục địa vào thời kỳ bấy giờ. Nhìn vào những vật chôn theo với thi thể như quần áo, trang sức, Người ta kết luận thuật ướp xác của dân sống tại vùng bán đảo này đã đạt tới “đỉnh cao trí tuệ” và “phổ thông quần chúng”.
Ðó là chuyện năm 3010, còn bây giờ chúng ta đang ở vào thế kỷ 21, thế kỷ của “đỉnh cao trí tuệ”. Các nhà khoa học và khảo cổ thế kỷ 31 đã lầm to, vì hiện tại cái vùng đất hình chữ S đó chẳng cần có một kỹ thuật cao nào về ướp xác cả, tất cả xảy ra một cách rất tự nhiên “như người Hà Nội” cho mọi người sống ở vùng bán đảo đó.
Cách đây không lâu báo chí VN có đưa tin. Tại Tân Phú quận Tân Bình có một thanh niên tuổi khoảng 33 chết đột ngột, gia đình làm lễ an táng cho anh ta. Nhưng công an huyện nghi ngờ có chuyện mờ ám nên ra lệnh khai quật kể giảo nghiệm xác chết. Lạ thay khi mở áo quan xác chết vẫn nguyên vẹn, không có dấu hiệu thối rữa mặc dù đã chôn dưới đất cả 2 tuần lễ. Sau giảo nghiệm gia đinh xin phép giữ xác chết trong nhà. Chính quyền đia phương thấy xác không có hiện tượng thối rữa làm mất vệ sinh nên chấp thuận. Hiện xác anh thanh niên được gia đình lưu trữ trên gác. Rất nhiều người tin dị đoan tới cúng kiếng.
Nhiều người lý giải tại sao xác anh thanh niên này không thối rữa.
Trước nhất anh thanh niên này chết đột ngột. Nghĩa là không chết vì bệnh lý. Công an không kết luận anh ta bị giết hại, có nghĩa anh ta không phải bị giết. Công an không nói anh ta bị chết vì độc tố, có nghĩa anh ta có thể chết vì trúng độc. Anh ta không bị người khác đầu độc, nhưng anh ta có thể tự đầu độc chính mình. Anh ta không tự tử bằng cách uống thuốc độc. Nhưng anh ta chết bằng độc tố qua thực phẩm hàng ngày mà anh tiêu thụ. Ðộc tố đó chính là những hóa chất giữ cho thực phẩm không bị hư thối, không bị lên men, không đổi màu. Và những hóa chất sát trùng có khả năng tiêu diệt những hoại tử. Nên khi anh ta chết, xác anh không có hoại tử nên xác không bị thư hoại, cộng với những hóa chất như Formol, Sodium Benzoate, 2,4-D, Borax ,vv… trong thực phẩm tồn đọng trong cơ thể anh, nên xác anh không hư thối được.
Vâng những thi thể mà các nhà khoa học và khảo cổ thế kỷ thứ 31 khám phá ra chính là các loại thi thể như anh chàng vừa kể trên.
Tôi có người bạn mua cá Khoai về nấu canh củ. Cá Khoai thường khi nấu thịt sẽ mềm và tan cùng với khoai. Sau khi nấu người ta chỉ cần gắp nguyên bộ xương ra, nồi canh có thể ăn được. Nhưng hôm đó vợ anh bạn nấu rất lâu mà cá Khoai vẫn nguyên vẹn, vợ anh dùng đũa đâm vào cá thấy cá cứng chắc như khúc Lươn luộc. Cô vợ gọi chồng ra hỏi, anh chồng dùng đũa thử thấy cá vẫn cứng chắc, cười rồi nói với vợ “em có bỏ lộn viên Viagra vào không ?”… Sau đó vợ anh đổ nồi canh cá Khoai đi, sợ anh ăn phải ảnh hưởng như cá khoai.
Một người khác kể rằng anh thèm cá trê quê hương, khi thấy tiệm thực phẩm Á Châu có bán cá Trê Vàng, anh mua ngay một ký mục đích để chiên và kho ăn. Nhưng công việc làm ăn cần gấp anh phải có mặt tại tiểu bang khác trong ngày tới. Anh ra đi và quên khuấy ký cá trê trong cốp xe. Cả tuần lễ sau có dịp mở cốp xe anh rất ngạc nhiên khi thấy mấy con cá trê trong túi vẫn còn tươi nguyên. Trong khi chiếc xe nóng hổi và nhiệt độ bên ngoài theo đài thông báo lên đến 40oC.
Vợ tôi đi shopping về nói: “Hôm nay em thấy tại tiệm thực phẩm Á Châu bày bán tôm còn rất tươi, con nào con ấy xanh trong như mới bắt lên, em hỏi họ nói tôm VN. Thấy ngon nhưng em không giám mua.” Nghe vợ nói không mua tôi mừng quá. Tôi nói: “Tôm đó được tẩm hóa chất nên giữ lâu không hư thối, đặc biệt màu sắc không thay đổi nhìn tươi như mới đánh bắt. Nếu ăn vào rất nguy hiểm cho sức khỏe.”
Vấn đề xử dụng hóa chất trong công nghiệp thực phẩm là chuyện bình thường, nhưng việc xử dụng hóa chất phải được kiểm soát và cho phép, thông thường mỗi hóa chất đều có quy định về mức độ xử dụng an toàn.
Nếu chúng ta ăn những thực phẩm chứa nồng độ hóa chất quá cao có thể gây ngộ độc, có nhiều trường hợp đi đến tử vong, hay gây nên ung thư.
Từ ngày VN mở cửa, chính quyền VN kêu gọi Việt Kiều về du lịch, mục đích móc túi “khúc ruột ngàn dậm”. Việt kiều về VN để “ăn chơi”. Về VN, Việt kiều phải ăn để đi chơi hay đi chơi cũng phải ăn. Như vậy ăn uống tại VN là chuyện vô cùng quan trọng. Nhưng vấn đề đặt ra là về VN ăn gì, uống gì để bảo đảm an toàn?.
Nếu nói về VN để “ăn Ngon và Rẻ” thì câu này cần xét lại. Ở đây tôi chỉ nói đến về VN ăn gì để an toàn thực phẩm và bảo đảm cho sức khỏe.
Ða số Việt Kiều về thích hải sản: “ăn cho đã”. Lý do vì ở nước ngoài hải sản giá rất mắc. Hải sản được bán ở VN thường là tôm, cá. Những loại này được nuôi để xuất khẩu chứ không phải do đánh bắt trong sông biển. Chúng ta hãy đọc những tài liệu nói về hóa chất dùng trong thục phẫm ở VN của Ts Mai Thanh Truyết:
“.. cá Basa xuất khẩu bị trả về vì trong cá chứa lượng Fluoro- Quinolones quá cao. Tháng 7 năm rồi, tiểu bang Georgia khám phá thêm chất kháng sinh Enrofloxacine trong cá. Tôm xuất khẩu cũng bị trả vể vì chứa chất Chloramphenicol, Nitrofuran-3-amino-2-oxazole và Semicarbazide. Người ta còn tìm thấy độc chất Rhotenane trong tôm, đây là độc chất trong cây Thuốc Cá”. Những hóa chất trên đây đều được xếp vào danh sách các hóa chất bị cấm xử dụng trong kỹ nghệ biến chế thực phẩm. Ðể giải quyết số cá và tôm bị trả về, người ta quyết định bằng cách tung chúng ra bán tại thị trường trong nước.
Còn cua, sò, ốc, hến thì sao? Ngành trồng lúa VN chuyển đổi từ một vụ sang 2 vụ hay 3 vu, mức sản xuất lúa gạo tăng từ thiếu ăn sang có dư để xuất khẩu. Sự tăng trưởng đi kèm theo các điều kiện như xử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu rầy, thuốc trị ốc Bươu Vàng… Những hóa chất này được rải hay xịt vào ruộng lúa sẽ tan vào trong nước hay đi vào chính cây lúa. Nếu dùng các loại hóa chất không theo đúng phương pháp và số lượng, hóa chất có thể tích tụ vào hạt gạo. Hiện thời chưa có một nghiên cứu chính thức nào cho biết nồng độ những hóa chất trong gạo sản xuất tại VN. Những hóa chất độc hại ấy theo nước chảy vào sông hồ. Các sinh vật sống trong môi trường nước ấy chắc chắn mang theo những độc tố. Khi người ta dùng hóa chất Methadehyde để trị ốc Bươu Vàng, thì các loại ốc Bươu thường, ốc Gạo, ốc Hương, các loại cua, sò hến vv.. cũng đều bị ảnh hưởng. Những năm gần đây số lượng tôm, cá sông giảm tới mức báo động. Sự giảm sút này nguyên nhân chúng bi tiêu diệt bởi các hóa chất dùng trong nông nghiệp. Ở dây ta không bàn đến tình hình sức khỏe cùa người dân sống trong vùng, trực tiếp ăn uống, tắm rửa trong các ao hồ, sông rạch chứa đầy các độc tố.
Vấn đề thịt bò, heo gà, vịt … Các loại lông vũ nói chung và gà vịt nói riêng đang bị nguy hiểm chụyển dạng lây từ người qua người. Hiện thời nhiều nơi báo cáo heo, cá cũng bị lây nhiễm. Như vậy vấn đề ăn thịt gà, vịt, heo rất nguy hiểm. Người ta nói nên ăn heo, gà, vịt vì đã được kiểm dịch. Nhưng làm cách nào đễ biết chắc chắn gà vịt đã được kiểm dịch. Căn cứ vào giấy tờ chứng minh, về dấu đã kiểm dịch trên gà vịt. Bạn có thể tin được tờ giấy và con dấu ở VN không?
Cách tốt nhất là không nên ăn heo, gà hay vịt ở VN. Riêng về chăn nuôi Heo, người ta xử dụng một hóa chất cho Heo ăn gọi là thuốc “Siêu tăng trọng”. Heo ăn vào chỉ cần một hai ngày sau có thể tăng tới 3-4 kg. gà mái ăn vào đẻ hoài không nghỉ. Nếu chúng ta ăn nhằm thịt heo này thì chuyện gì sẽ sảy ra sau đó. Chỉ có nhà thương biết.
Không ăn được hải sản, heo, gà, vịt. Vậy chúng ta ăn rau. Chuyện trồng trọt rau cải. Hoa trái ở VN cũng không tin được. Người ta dùng 2,4-D để thúc cho cây mau phát triển. 2,4-D là loại thuốc diệt cỏ mà Mỹ đã dùng trong chiến tranh VN. Chất độc da cam chính là chất 2,4-D này.
Trong lúc chính quyền VN kiện Mỹ xử dụng chất diệt cỏ này, thì trong nước việc xử dụng 2,4-D trong ngành trồng trọt rất ư là vô tư. Những cây rau muốn xanh tốt để bán có giá, người ta cũng dùng đến hóa chất này để thúc cây phát triển vài ngày trước khi thu hoạch. Trong quá trình trồng trọt người ta còn phải dùng đến hóa chất trị côn trùng, sâu bọ. Rau trái mang về nếu rửa không sạch, chuyện trúng độc là chuyện chắc chắn xẩy ra.
Những trái cây nhập từ Trung Quốc vào VN như táo. nho, cam, nhãn,đều được dùng hóa chất để bảo quản như 2,4-D, 2,45-T, nhất là Sodium Benzoate (NaO-C6H) chúng có tác dụng giữ cho trái cây tươi, không bị hư thối, không đổi màu và giữ được mùi vị nguyên thủy. Nồng độ cho phép là 0.1mg/kg. nồng độ gây chết là 2mg/kg.
Về VN thèm ăn canh cua rau đay, cà pháo nén. Món ăn đậm tình quê hương ấy chứa đựng những hóa chất với nồng độ chết người. Muốn cho cà pháo, củ kiệu, bánh tráng có màu trắng, người ta xử dụng hóa chất làm trắng có tên Chloride sodium hydrosufite. Chất này làm cho chế phẩm có màu trắng tươi trông bắt mắt, đây cũng là chất dùng trong công nghiệp sản xuất xà bông, bột giặt. Khi chất này qua thực quản gây tình trạng trúng độc, làm ngạt thở. Giảm huyết áp, nếu nặng có thể gây tử vong.
Những thành phẩm như Chả Lụa, chả Quế, người ta dùng Hàn The (Borax) đây là chất khử trùng và sâu rầy trong nông nghiệp. Nó còn được xử dụng trong kỹ nghệ sản xuất kem đánh răng và xà bông. Ðối với thực phẩm trên nó có tác dụng diệt trùng, chống sự lên men, nấm mốc. Giữ cho thực phẩm không bị hư thối. Trong việc sản xuất giò chả tại VN người ta thường dùng thịt hạng xấu để có lợi nhuận cao. Chính vì vậy người ta dùng lượng Borax cao để khử mùi hôi, làm cho thịt dai. Những thịt để lâu ngày khi xử lý bằng Hàn The sẽ mất mùi hôi, làm thịt tươi lại trông như thịt tươi.
Ðặc biệt bánh tráng, bánh phở, bún, hủ tiếu có để Hàn The sẽ không bị mốc meo. Làm dai và dòn sợi bún, hủ tiếu. Bánh phở và bánh tráng dễ cuốn không bị gẫy. Chất này vào cơ thể gây nên đau quặn bụng, không đi cầu được, tim đập mạnh, người ra mồ hôi. Có khả năng làm loét bao tử. Nội soi thấy bao tử có đốm trắng nhiều hay từng mảng. Trường hợp nặng phải cắt bỏ phần bao tử loét.
Chuyện nước tương hay xi dầu. Ts Truyết cho chúng ta biết tháng “7/05 Bỉ trả về VN toàn bộ xì dầu hiệu Chin Su, vì họ tìm ra trong xì dầu nhập cảng từ VN có nồng độ 3-MCPD (3-monochloropane-1,2diol) lên tới 86mg/kg trong khi mức cho phép là 0.02mg/kg tại Anh và 0.5mg/kg tại Bỉ”. Như vậy hàm lượng 3-MCPD cao gấp 172 lần mức cho phép.
Bạn có biết hiện ở VN người ta sản xuất xì dầu bằng gì không? Tôi thưa ngay bằng xương trâu, bò, heo... nói chung các loại xương phế thải lượm được ở bất kỳ nơi nào. Tất cả đem về nấu trong acid sau dó dùng Sut Caustic để trung hòa. Sản phẩm này được vô bao bì bán ra thị trường dưới dạng “nước cốt làm xì dầu”. Từ đó người sản xuất cứ việc mua về pha với nước lạnh, muối, đường, thêm một số hóa chất giữ lâu như Borax chẳng hạn. Muốn tăng độ đạm người ta thêm vào Urê thế là sản phẩm được vô chai, tung ra thị trường. Acid dùng để nấu xương là acid Chlohydric (HCL) trong quá trình phân giải tạo ra chất 3-MPCD nguy hiểm.
Muốn bảo quản các loại như tôm cá, bánh phở bánh tráng hủ tíu lâu dài, không bị hư thối , ngưới ta dùng đến Formol (Formaldehyde =HCHO). Thường Formol có mùi khó chịu nên người ta pha formol trong rượu Methanol 37-50o/o cho mất mùi. Formol là hóa chất dùng trong việc giữ xác chết không bị hư thối.
Trong sản xuất rượu trắng có kẻ còn dùng Mitox (thuốc trị rầy) thuôc này có tác dụng làm rượu trong và gây say nhanh cho người uống. Nếu pha với lượng cao, người uống bị trúng độc và chết nhanh chóng.
Ðể có một tấm bánh tráng. Ngưới ta phải thực hiện qua nhiều giai đoạn. Những giai đoạn ấy rất là công phu. Hầu như trong các giai đoạn ấy người ta đều xử dụng hóa chất. Có những hóa chất có thể được đào thải, ngược lại cũng có những hóa chất không tan biến và tích tụ qua nhiều thế hệ như DDT chẳng hạn, đây là chất diệt trùng. Khi xử dụng cho cây, chất này đi vào cây, vào trái. Súc vật ăn rau, trái ấy, DDT thấm vào máu súc vật và nằm ở đó. Nếu chúng ta ăn thịt súc vật. DDT lại đi vào cơ thể chúng ta lưu trữ ở đó, với số lượng nhỏ thì không sao, nhưng DDT không bị đào thải, như vây DDT có cơ hội tăng mỗi lần chúng ta ăn thịt. Tới lúc nồng độ DDT đủ cao sẽ gây tác động nguy hiểm.
Trở lại bánh tráng. Bánh tráng làm bằng gạo, gạo từ lúa. Quá trình trồng lúa chúng ta dùng hóa chất, phân bón, những hóa chất một số lựu lại trong gạo.. Ðến quá trình biến chế. Người ta dùng Hàn the để làm cho bột dai và không mốc. Ngưới ta thêm thuốc tẩy trắng để bột gạo trắng đẹp. Ngườí ta thêm formol để giử bánh không bị lên mốc vv… nói chung cái bánh chúng ta ăn có biết bao hóa chất nguy hiểm trong đó. Sở dĩ chúng ta không thấy chuyện gì. Thứ nhất nồng độ hóa chất trong bánh tráng chưa tới mức nguy hiểm. Thứ hai ảnh hưởng của hóa chất lên cơ thể con người có tính cách chậm, và lâu dài. Có khi ảnh hưởng qua thế hệ con cháu. Ví dụ chất Borax có tác dụng trụy thai, 2,4-D từ mẹ có thể làm cho thai nhi trở thành khuyết tật vv…
Nếu nhìn những phân tích trên đây, chúng ta thấy về VN ăn gì cũng nguy hiểm. Theo báo cáo của bộ y tế cứ 14 người thì có một người bị trúng độc. Ðây là con số được báo cáo, còn con số không được báo cáo thì không biết là bao nhiêu. Cho đến bây giờ chính quyền VN vẫn không có một phương pháp nào khả thi để kiểm soát an toàn thực phẩm. Những báo cáo có tính cách giấy tờ và bỏ lơ. “Nước đến chân mới nhảy” và “đổ thừa qua lại” là phương hướng mà chính quyền nhà nước theo đuổi. Con chung không ai khóc, làm sao vơ cho đầy túi là được.
Ðến đây tôi mạn phép để nghị bạn cách giải quyết rất ư là hữu hiệu. Trước khi về VN bạn phải học cách nhịn ăn “Nhập Thất” để về VN không cẩn ăn gì hết, vừa không bị ngộ độc, lại làm giảm cân mau chóng. Theo phái Tiên Thiên Khí Công, khi bạn nhịn ăn, cơ thể bạn sẽ có cơ hội thanh tẩy những tồn đọng xấu trong bạn. Và sau đó có thể bạn sẽ đổi mới từng tế bào. Thế quân bình năng lượng sẽ được sắp xếp lại. Nhịn ăn kết hợp với hít thở đúng cách, các huyệt đạo sẽ khai thông, huyết áp bình thường lại, cân bằng lượng đường trong máu. Tiêu thụ những mỡ dư thừa, tống xuất những độc tố. Theo đó một số bệnh tật sẽ tan biến theo, bạn sẽ cảm thấy khỏe mạnh hơn và yêu đời hơn.
Ngoài ra một phương pháp cụ thể nhất, không nguy hiểm, không tốn kém, không sợ nhiễm độc, không bị bịnh cúm gà, nhất là không bị bịnh “Cúm bà”, đó là : “Không về VN “.
(st)
"Ai đưa con sáo sang sông, để sáo xổ lồng, con sáo bay đi..."
Cô giáo miệt vườn Mỹ Tho trở thành nghị viên miền dưới của Úc Châu. Người thuyền nhân Việt Nam 1978 hai lần trở về biển Ðông tảo mộ đồng hương trên hoang đảo. Phụ nữ tỵ nạn, 22 năm định cư chưa biết lái xe, đã trở thành nghị viên thành phố duyên hải miền Tây Úc.
Quí vị vui lòng mở máy điện toán đi tìm City of Wanneroo Australia sẽ thấy ngay một thị xã duyên hải miền tây nam của Châu Úc.
Ðây là thành phố phát triển rất nhanh với 134 ngàn dân, đa số là người Úc gốc Âu châu chung sống hiền hòa với trên 40 sắc dân thiểu số, mỗi nhóm có từ vài trăm đến vài ngàn người. Cũng trong số vài ngàn đó có nhiều người Việt đã vượt biển đến Úc trong 20 năm, suốt từ 1975 đến 1995. Tin tức cộng đồng thường nói đến người Việt tại Sydney, Melbourne hay Canberra tập trung miền duyên hải phía Ðông Úc. Từ Sydney mà đi sang miền Tây Úc phải vượt qua 3 ngàn 500 cây số đường chim bay. Nếu đi đường bộ sẽ là cuộc hành trình hết sức gian nan hàng tuần lễ theo quốc lộ số 1 chạy ven biển miền cực Nam của Úc Châu. Vì thị xã Wanneroo xa xôi hẻo lánh như vậy nên khi có người bạn từ Úc qua, ít có khi nào gặp người từ miền Tây Úc.
Ðầu năm nay, Viện bảo tàng Việt Nam San Jose, có người khách lạ đến thăm. Anh bạn trẻ Trần Ðông, giám đốc Archive of Vietnamese Boat People gửi thư trước giới thiệu cô Trương Nguyệt Ánh là đại diện của Văn khố Thuyền Nhân Việt Nam tại miền Tây Úc. Chúng tôi mở máy điện toán tìm hiểu về thành phố hẻo lánh của lục địa nhỏ bé ở miền dưới địa cầu xem hình ảnh ra sao. Xứ sở thanh bình, trời xanh biển rộng, thành phố rất hiền lành. Vào xem tòa thị xã tìm danh sách chính quyền thấy tên một nữ lưu Việt Nam, rõ ràng là bà nghị viên của khu vực phía Nam thành phố có tên Nguyet-Anh Trương, mới được bầu vào chức vụ tháng 10 năm 2007. Bao năm qua, đã biết rằng cuộc đời của mỗi người Việt lưu vong đều là một câu chuyện. Nhưng chuyện của cô Nguyệt- Ánh miền Tây Úc này đúng là chuyện con sáo sang sông...
Trương Nguyệt Ánh là cô gái Mỹ Tho, ngồi trên lầu hai của viện Bảo tàng Thuyền Nhân ở San Jose vào một buổi sáng mùa đông, kể chuyện đời mình.
"... Anh chị biết không, nhà em gần nhà bà tổng thống Thiệu đấy. Em sinh năm 1949. Thời chinh chiến, trai 20 tuổi đi quân đội, gái đi dạy học hay theo nghề điều dưỡng. Em tốt nghiệp sư phạm Mỹ Tho. Rồi lấy chồng trung úy Biệt động quân. Ðầu tiên em dạy tiểu học nơi xa, sau về dậy tại trường Thân Cửu Nghĩa quận Bến Tranh. Chỗ này không có an ninh. Em còn nhớ khoảng tháng 4-1974, Việt Cộng vào trường giữa ban ngày, chẳng kêu ai, chỉ kêu mình em lên họp với hiệu trưởng. Trong lớp em có sơn hình cờ vàng trên tường và dán hình dinh Ðộc Lập cắt ra từ phụ bản lịch của tờ báo. Mấy tên Việt Cộng dữ lắm, chính trị có, quân sự có, súng ống đầy đủ cả. Lên án mình em vì các lớp khác không vi phạm. Bắt phải tháo gỡ và chùi đi hết. Lúc đó em là cô giáo mới hơn 20 tuổi lại vừa có bầu. Chúng tôi ngắt lời hỏi rằng thế cô giáo có thi hành ngay không. Không, Nguyệt Ánh nói. Em về lớp chẳng làm gì cả. Sao cô gan vậy. Gan gì đâu. Em sợ muốn chết. Bỏ ngay lớp về Mỹ Tho trình diện ty tiểu học. Dứt khoát không xuống dậy Bến Tranh. Mấy ông đưa ai xuống thì đưa. Tôi có bầu, vợ sĩ quan biệt động quân, trở lại chỉ có chết."
Từ đó Nguyệt Ánh tiếp tục làm cô giáo cho đến 1975 thì chồng đi cải tạo, vợ vừa đứng lớp vừa bị theo dõi. Năm 1978, vì chồng chỉ có trung úy nên được về sớm và gia đình tìm cách vượt biển. Nguyệt Ánh kể rằng gia đình cô rất may mắn, hai vợ chồng, hai đứa con và 2 người cháu chỉ bị thất bại có một lần tháng 3-78. Lần thứ hai, tháng 5-78 đến được Mã Lai. Lần thứ nhất giông bão, thùng dầu rớt xuống biển. Cánh đàn ông say sóng nằm la liệt, chỉ còn mình cô giáo không biết tại sao lại không bị biển hành. Cô giáo đứng lên làm thuyền trưởng lái tàu quay về và thoát chết. Chuyến sau rủ nhau đi ba tàu nhỏ thành đoàn, đến Mã Lai bị kéo ra biển rồi phải đánh đắm tàu mới được nhận vào trại tỵ nạn. Gặp thời gian hết sức may mắn cuối tháng 6 năm 1978 là phái đoàn Úc nhận hết đưa về Tây Úc định cư cho đến ngày nay.
Qua miền đất mới chồng đi cắt cỏ, vợ tình nguyện đi giúp việc không lương cho trường tiểu học.Vừa làm vừa học, cô giáo siêng năng của miền Tiền giang dần dần được tuyển làm phụ giáo rồi trở thành cô giáo trông nom vườn trẻ. Năm 1992, Nguyệt Ánh chính thức đứng ra mở trường Mẫu giáo và trông trẻ. Cơ sở tiến bộ dần dần lên đến 3 lớp và 50 em nhỏ với 8 nhân viên làm việc.
"... Anh chị phải biết rằng ở chỗ của em là thành phố nhỏ, làm ăn như vậy là khá lắm rồi..."
Cô Nguyệt Ánh hăng hái kể lại. Làm việc với các em và phụ huynh là niềm vui và lý tưởng của ngành sư phạm. Nhưng không bao giờ có thể nghĩ rằng cô giáo bị Việt Cộng lên án năm 74 tại quận Bến Tranh mà bây giờ lại trở thành bà hiệu trưởng trường mẫu giáo tại Tây Úc, thành phố ven biển Wanneroo. Hỏi đến chuyện gia đình, Nguyệt Ánh buồn rầu cho biết, từ khi định cư tại Úc thì vợ chồng thêm được một cháu.
Cho đến năm 2004 thì ông xã chia tay. Anh đi đường anh, em đường em. Em thì vẫn ở một mình nuôi con, nhưng anh thì bay bướm đi theo tiếng gọi của cô tài tử ánh đèn sân khấu xa xưa rất vang bóng một thời. Cô Nguyệt Ánh lại tâm sự. Xin anh chị nghe em bày tỏ. Hơn hai mươi năm cố gắng làm ăn, nuôi con, tuy có giao thiệp nhưng toàn trong công việc học đường và nghề trông trẻ. Gặp gỡ các phụ huynh, nhưng em không biết những chuyện xã hội bên ngoài. Cho đến khi vợ chồng chia tay các con mới giúp mẹ mở chương mục ngân hàng rồi tập lái xe để liên lạc ra ngoài. Không ai tin được là làm chủ trường mà đến năm 2004 chưa biết lái xe. Ðường xá bên Úc thì đi lại thong thả, đâu có khó khăn như bên Cali. Nhờ mấy năm sau này, ông chồng bỏ đi, em có cuộc đời tự do khác với ngày xưa như chim nhốt trong lồng, không được phép đi đâu. Ðược tự do nên em có cơ hội đi với phái đoàn Văn khố Thuyền nhân theo chương trình Về bến Tự do tại biển Ðông. Ði tảo mộ thăm viếng 2 lần tại nghĩa trang trên các hoang đảo tỵ nạn ngày xưa. Phải trở về mới cảm thấy thật sự mình đã may mắn biết bao nhiêu.
Rồi cũng nhờ tiếp tục phát triển cơ sở trông trẻ, Nguyệt Ánh đã học được biết bao nhiêu nghề phụ, từ khóa dinh dưỡng thiếu nhi đến phương pháp nấu ăn cho vườn trẻ. Học về vệ sinh mẫu giáo, việc cấp cứu trẻ nhỏ và quan trọng hơn hết là giao tiếp với biết bao nhiêu là gia đình phụ huynh học sinh đủ các sắc dân. Nhân dịp được thành phố trao giải thưởng với bằng khen về Dinh dưỡng an toàn, cô giáo mới được chính quyền biết đến.Thực sự với khả năng của cô giáo miền quê Việt Nam, sinh ngữ Anh đâu có bao nhiêu, nhưng với tinh thần hết sức hăng hái và chịu đóng góp ý kiến, từ những năm trở thành bà mẹ độc thân, Nguyệt Ánh đã mở rộng việc giao thiệp trong xã hội và gặp gỡ giới công quyền địa phương.
Năm 2007 cơ hội rất đặc biệt mở ra như chuyện không ai ngờ được. Ông thị trưởng Wanneroo đi tìm một người sắc tộc thiểu số tiêu biểu để chuẩn bị đưa vào hội đồng nghị viên thành phố thay thế cho các vị hết nhiệm kỳ. Ông tìm gặp lại người phụ nữ Việt Nam đứng tuổi, nhưng hết sức hăng hái và lại được nhiều người biết đến. Chắc chắn Anh ngữ của Nguyệt Ánh không thế nào so sánh được với những người Úc địa phương. Lại cũng không thể so sánh được với những sinh viên trẻ trưởng thành tại Úc vừa tốt nghiệp. Luật lệ tại đây là muốn ứng cử không những phải nộp đơn mà còn phải trải qua một bài thi sơ khảo. Cô giáo Nguyệt Ánh nếu phải thi nói tiếng Úc đúng giọng London thì có thể gặp khó khăn, nhưng cô đã qua được kỳ thi viết. Sau cùng số phiếu tình cảm đã dồn cho bà mẹ trường mẫu giáo hết sức quen thuộc của khu vực miền Nam thành phố. Trong đó có cả phiếu cử tri 18 tuổi ngày xưa đã tốt nghiệp trường vườn trẻ của cô giáo Mỹ Tho.
Tháng 10 năm 2007, cô giáo đóng cửa trường để vào tòa thị chính làm lễ tuyên thệ nhận chức nghị viên. Cô giáo Tiền Giang mặc áo dài hai tà ghép, tay thêu kim tuyến chỉ vàng. Trên vai có khăn quàng màu xanh với hình quốc kỳ của Châu Úc. Rồi cứ như thế, cô xông ra làm việc nước. Hỏi rằng trong năm qua đã làm được những gì. Nguyệt Ánh nói rằng trước hết là dân trong khu vực của mình thì luôn luôn đáp ứng mau lẹ. Còn dân Việt thì bất cứ khu nào cũng gọi ngày đêm. Hiện nay cô là người Á Châu duy nhất được bầu vào chức vụ dân cử miền duyên hải Tây Úc. Không những riêng người Việt mà các sắc dân thiểu số đều gọi đến khi có việc yêu cầu. Dường như di dân có cảm tưởng gặp bà nghị Việt Nam mọi chuyện có vẻ dễ dàng và thông cảm. Nguyệt Ánh rất tin tưởng rằng cô sẽ tiếp tục gặp may mắn trong nhiệm kỳ tới. Biết đâu cô lại có thể trở thành thị trưởng trước khi về hưu.
Tại Hoa Kỳ và trên khắp thế giới, con em Việt Nam chúng ta với tuổi trẻ và tinh thần hiếu học có thể sớm trở thành những mẫu người thành công trên nhiều lãnh vực. Tuy nhiên là phụ nữ đã trưởng thành đến định cư trên quê hương mới với gia đình con cái, ngoài 50 tuổi thì gia đình đổ vỡ. Chưa hề mở chương mục ngân hàng riêng. Chưa biết lái xe. Tất cả như làm lại từ đầu và chỉ có một mình. Năm 2004 mới học lái xe. Anh ngữ mãi mãi vẫn còn âm hưởng Tiền Giang. Ca dao tục ngữ miền Nam vẫn còn thuộc nằm lòng. Vậy mà chỉ có vài năm kể từ khi con sáo xổ lồng, con sáo đã bay cao. Tranh cử có một kỳ vào ngay chức nghị viên. Dù chẳng danh vọng bằng ai, nhưng đi đâu cũng được giới thiệu lên tuyên bố vài lời nhân danh là người dân cử. Trong chỗ riêng tư, cô nghị viên Wanneroo thành thực khai rằng, trước sau cũng chỉ là cô giáo trường làng ở nhà quê lục tỉnh, nay qua Úc về chỗ khỉ ho cò gáy nên may mắn làm bà hội đồng, cũng không hơn hội đồng xã bên Việt Nam. Ðối với cộng đồng Việt Nam tại địa phương tuy không đông đảo như những nơi khác, nhưng cũng vừa đủ để xây dựng tình đồng hương với tinh thần quốc gia vững chắc. Ai cũng tin tưởng vào tấm lòng son sắt của cô giáo Mỹ Tho. Vốn là cô em thứ Chín trong gia đình có đến 6 người chiến sĩ cộng hòa, trong đó có 3 người hy sinh vì tổ quốc. Anh Sáu chết trận Bình Giả, anh Tư chết tại Long Ðịnh và sau cùng anh Tám chết tại Bà Rịa. Dù bất cứ ở phương trời nào thì em Chín cũng không bao giờ quên được sự hy sinh của các anh.
Trong câu chuyện cuối cùng, bèn hỏi rằng Nguyệt Ánh có làm gì đáng kể cho cộng đồng Việt tại Tây Úc. Cô nói ngay là em chuyên trị dẹp cờ đỏ sao vàng và treo cờ vàng sọc đỏ. Các thư viện, trường học, chỗ nào treo cờ theo sách vở là em dẹp hết.
Câu chuyện Việt Cộng vào ngôi trường tiểu học quận Bến Tranh tháng 4 năm 74 đã làm cô giáo Mỹ Tho rụng rời chân tay. 45 năm sau cô vẫn còn nhớ như ngày hôm qua. Bây giờ, con sáo đã sang sông, con sáo đã bay cao, nhưng mãi mãi con chim sáo của miền Cửu Long vẫn không quên lá cờ vàng, không quên anh Tư, anh Sáu, anh Tám thân yêu của cô đã chết trên quê hương Việt Nam và những thuyền nhân còn nằm lại ở biển Ðông.
*TÀI KHOẢN VÔ GIÁ*
Có một ngân hàng, mỗi buổi sáng, cung cấp vào tài khoản của bạn *86400USD*. Số dư trong tài khoản không được phép chuyển từ ngày này qua ngày khác. Mỗi buổi chiều, ngân hàng sẽ hủy bỏ hết số dư còn lại mà bạn đã không dùng hết trong ngày.
*Bạn sẽ phải làm gì? *
Sử dụng hết số tiền đó, dĩ nhiên! Mỗi người trong chúng ta đều có một ngân hàng=2 0như vậy. Tên ngân hàng là *THỜI GIAN*.
Mỗi buổi sáng, ngân hàng này cung cấp cho bạn *86.400 giây*. Vào mỗi buổi tối, ngân hàng sẽ xóa bỏ, coi như bạn mất, thời gian mà bạn không đầu tư được vào các mục đích tốt. Ngân hàng không cho phép bạn được để lại số dư trong tài khoản. Cũng không cho phép bạn bội chi. Mỗi ngày, ngân hàng lại mở một tài khoản mới cho bạn. Mỗi tối nó lại hủy hết những gì còn lại trong ngày. Nếu bạn không dùng được hết thời gian mà bạn có trong ngày, người bị mất chính là bạn.
*Không có chuyện quay lại ngày hôm qua. Không có chuyện tiêu trước cho "ngày
mai". Bạn phải sống bằng những gì bạn có trong tài khoản ngày hôm nay. Hãy đầu tư vào đấy bằng=2 0cách nào đó, để bạn có thể nhận được nhiều sức khỏe, hạnh phúc, và thành công nhất ! Đồng hồ vẫn đang chạy. Hãy cố thực hiện thật nhiều trong ngày hôm nay.
Để biết giá trị *TRĂM NĂM*hảy hỏi Thiền Sư Hawaii
Để biết được giá trị của *MỘT NĂM*, hãy hỏi một học sinh bị ở lại một lớp.
Để biết được giá trị của *MỘT THÁNG, * hãy hỏi một người mẹ sinh con thiếu tháng.
Để biết được giá trị của *MỘT TUẦN*, hãy hỏi biên tập viên của một tuần báo.
Để biết được giá trị của *MỘT GIỜ*, hãy hỏi những người yêu nhau đang mong
chờ được gặp nhau.
Để biết được giá trị của *MỘT PHÚT*, hãy hỏi mộ t người bị lỡ chuyến tàu.
Để biết được giá trị của *MỘT GIÂY*, hãy hỏi một người vừa thoát khỏi một tai
nạn.
Để biết được giá trị của *MỘT PHẦN NGÀN GIÂY*, hãy hỏi người vừa nhận được huy chương bạc trong kỳ thi Olympic.
Hãy quý trọng từng giây phút mà bạn có! Và hãy nên quý thời gian hơn nữa bởi vì bạn đang chia sẻ thời gian đó với ai đấy thật đặc biệt đối với bạn, đủ đặc biệt để có thể chia sẻ thời gian của bạn. Và hãy nhớ rằng thời gian chẳng chờ đợi ai cả. Ngày hôm qua đã là lịch sử. Ngày mai là một bí ẩn. Hôm nay là quà tặng. Cũng vì vậy mà nó được gọi là *PRESENT*! (có nghĩa là *HIỆN TẠI*, mà cũng có nghĩa là
*QUÀ TẶNG* ).
*Bạn bè thật sự là một loại nữ trang quý hiếm*. Họ khiến bạn mĩm cười và
khuyến khích bạn thành công. Họ lắng nghe bạn, họ chia sẻ với bạn những lời khen tặng, và họ luôn muốn mở trái tim ra với chúng ta. Hãy gởi những lời này đến với ai mà bạn xem như *BẠN MÌNH*, và nếu những dòng này lại trở về với bạn, *Bạn ắt biết rằng bạn đang có một vòng tròn bạn hữu ./.*
Tuổi Già Là Thời Sung Sướng Nhất
Ông cụ Lê đã tám mươi lăm tuổi, vẫn còn khỏe mạnh. Cụ bà cũng tám mươi ba tuổi. Họ sống trong một căn nhà tiền chế có ba phòng ngủ và hai nhà tắm, rộng rãi.. Hai vợ chồng ngủ riêng, mỗi người một phòng, cái phòng còn trống dành cho con cháu, bạn bè ở xa về chơi. Cụ bà nhất định ngủ riêng. Cụ ông nói với bà con rằng, cụ hay thức khuya đọc sách, báo,và nghe nhạc, nên cụ bà không chịu được, phải ngủ riêng. Cụ bà thì nói thẳng "Ông già, nhưng phá lắm, làm tôi mất ngủ". Cụ bà lãng tai, nên thường nói lớn tiếng như thét gào.
Tôi từ San Francisco về, ghé thăm hai ông bà cụ Lê. Thấy ông đang xem tờ báo Mỹ, trong đó nhiều trang quảng cáo in hình những thiếu nữ da thịt hồng hào, lồ lộ, ăn mặc ít vải, bụng ngực hở hang, chân tay dong ra hớ hênh. Trong tình thân mật, tôi hỏi cụ:
- Bác cũng còn thích xem các thứ nầy nữa? Có còn "làm ăn" chi được nữa không? Bác "chay tịnh" đã bao nhiêu năm rồi?
Cụ Lê nhướng mắt, cười toét miệng, để lộ hai hàm răng giả trắng nuốt, đều đặn, nhưng hơi móm, trả lời:
- Có chứ! Làm ăn đều đều chứ! Gì chứ cái đó đâu có nhịn được!
- Thật không bác? Hay chỉ nói đùa cho vui thôi? Có cần thuốc Viagra trợ lực không?
- Thuốc với thang, đâu cần! Tôi cũng đã thử cái thuốc đó mấy lần mà thấy công hiệu của thuốc quá chậm. Mình đã xong rồi, chiến trường đã tan, thuốc mới công hiệu. Thêm bực mình, khi đó thì dù còn sức, bà ấy cũng gạt đi. Phải hơn nửa giờ sau khi uống, thuốc mới công hiệu. Thế là quá chậm. Chuyện đó, phải tức thì, cơm nóng canh sốt mới ngon. Đâu phải đi câu mà thả cần chờ cá đớp mồi. Còn khi không có hứng thì uống thuốc đó vô làm chi?
- Bác dám thử thuốc đó, không sợ đứng tim bất thần chăng? Tôi cười và hỏi.
- Sợ gì! Tuổi nầy có đứng tim mà chết mau lẹ, thì cũng mừng, khỏi phải sợ bệnh hoạn lâu ngày.
- Thuốc đó có sinh ra phản ứng phụ gì không?
- Có! Uống vào, cái mặt mình nó câng câng làm sao ấy.. Giống như khi mình nói láo, ngượng quá, mặt câng lên. Cứ thế cả giờ không hết. Tôi quẳng vào thùng rác cả ống thuốc từ lâu.
Cụ Lê vốn vui tính, ưa nói đùa. Tôi nghĩ là cụ nói chuyện cho vui thôi. Đêm đó, vợ chồng tôi ngủ lại nhà cụ. Buổi khuya tôi thức dậy, đi xả nước thừa trong cơ thể, phải đi qua phòng ngủ của bà cụ Lê mới vào được phòng tắm. Tôi thấy tấm chăn bà đắp lệch ra, gần rơi xuống đất. Bà vẫn ngáy đều. Mùa đông lạnh, nếu chăn rơi ra, bà có thể cảm lạnh. Tôi nhẹ nhàng đến kéo tấm chăn lên, đắp lại cho bà. Bỗng bà nói thật lớn, hai tay chắp lại mà xá tôi lia lịa:
- Thôi, thôi ông ơi, tôi lạy ông, tôi lạy ông, nhà có khách, không được đâu!
Tôi khiếp hãi, lạnh cả người. Chưa kịp đi tiểu, mà tôi vội vã chạy về giường mình nằm yên, tim đập thình thịch mãi chưa hết sợ. Tuy không ai dám hiểu lầm là nửa đêm tôi đi mò mẫm bà cụ già, nhưng cứ sợ. Tôi nhịn đi tiểu, mất ngủ cho đến gần sáng. Bây giờ thì tôi tin những gì ông cụ Lê nói không phải là chuyện đùa chơi. Sáng hôm sau, tôi kể lại chuyện sửa mền cho vợ tôi nghe, vợ tôi ôm bụng cười mà không tin.
Buổi sáng, cụ Lê tập thể dục theo lối cử động chậm và phất tay cùng hít thở. Thấy tôi ngồi đọc báo, cụ nói:
- Anh thường không tập thể dục? Thể dục làm tan biến hết mệt mỏi của một đêm dài nằm trên giường. Không cần tập nhiều, tập cho khí huyết lưu thông, thấy mình sảng khoái hơn. Anh có tin rằng tuổi già là giai đoạn sung sướng nhất trong một đời người không? Nhiều người không tin đấy. Lạ quá!
Vợ tôi đang đứng trong bếp, chỉ tấm hình có đứa bé nằm trong nôi và nói vọng ra :
- Cháu nghĩ trẻ con nằm trong nôi, vô tư, ngây thơ sung sướng nhất. Bác có nghĩ vậy không?
Cụ Lê xì một tiếng và nói:
- Con nít trong nôi biết khỉ gì mà sung sướng? Ai dám bảo là chúng nó vô tư? Có chắc không? Có chắc là chúng nó không lo nghĩ, không có mối khổ tâm riêng khi không biết nói, không biết tự làm cho mình những việc tối cần thiết. Được cho món gì thì ăn món đó, không có quyền lựa chọn. Dở ngon chi cũng phải nuốt, ưa hay không cũng phải ăn. Chỉ biết khóc, khóc và khóc. Đói cũng khóc, mà đau cũng khóc. Khi bị con kiến, con trùng tấn công, cũng không biết làm sao mà tự vệ, hất nó đi. Cha mẹ nghe khóc, cũng không biết là nó đói hay đau, hay ngứa.. Tiêu tiểu cũng nằm trên nôi, phóng uế ra cả chiếu giường, hôi hám, sung sướng cái nỗi gì. Nóng lạnh cũng không biết làm sao cho dễ chịu hơn. Người lớn không biết thì tưởng đâu nó vô tư sung sướng. Thử cho anh chị nằm liệt ra đó, có người mớm cơm ăn uống, chăm sóc, và moi phân từ quần ra, thay tã cho khi tiểu tiện, thì thấy khổ hay sướng mà dám bảo là trẻ con vô tư sung sướng? Sướng và khổ là phải cảm nhận được mới có giá trị. Có ai còn nhớ và nghĩ là thời nằm trong nôi sướng đâu. Nầy, nếu tôi có phép, cho chị lưạ chọn, cứ bé bỏng và được nằm trong nôi mãi, chị có chịu hay không? Hay là trông mau lớn, để khỏi nằm nôi?
Vợ tôi tiếp:
- Thế thì, trẻ con lớn hơn chút nữa, biết đi biết chạy, biết chơi, ở nhà chưa đi học, vui vẻ với gia đình, không lo nghĩ, không bận rộn, không ưu tư gì cả, và chưa biết cái khổ của cuộc đời, thì có phải là sướng không?
Cụ Lê cười khà khà, và nói lớn, vọng vào bếp cho vợ tôi nghe rõ hơn:
- Trẻ con, sướng chứ, nhưng làm sao sướng bằng người già được. Trẻ con cũng có những nỗi khổ tâm riêng của chúng mà mình không chịu nghĩ đến. Khoảng nầy là tuổi chơi, mà bị cấm đoán nhiều nhất, cha mẹ anh chị chăm nom canh chừng từng phút một. Cấm chơi cấm nghịch, cấm thức khuya, bắt phải ăn món nầy, ăn món kia, dù thích hay không. Bị canh chừng, kềm kẹp ngày đêm. Câu chuyện khôi hài kể rằng, một em bé đi chơi với bố, thấy một vũng nước mưa bên đường, hỏi bố rằng "Có phải Bố có quyền muốn làm gì thì làm chẳng ai cấm đoán, la mắng bố cả, phải không ?" Ông bố trả lời là phải. Em bé mở tròn mắt hỏi: "Thế thì tại sao Bố không nhào xuống vũng nước mà lăn lộn cho sướng?" Đó, còn trẻ con, là không được làm điều gì mình muốn cả. Không có một xu dính túi, mà có tiền, cũng không có quyền mua những thứ mình thích."
Vợ tôi cười, và hỏi tiếp:
- Thế thì trẻ con lớn hơn chút nữa thì sao? Có sướng hơn người già không?
- Làm sao mà sướng bằng tuổi già được. Anh chị cứ nghĩ và nhớ lại mà xem. Tuổi đó thì làm biếng và ưa chơi hơn là học. Trẻ nào cũng vậy. Thế mà cha mẹ, thầy giáo bắt học hành. Ban ngày thì học ở trường, ban đêm về nhà phải học bài, làm bài. Truyền hình và nhạc có chương trình hay đến mấy, cũng không được xem, nghe, phải học bài xong, làm bài xong đã. Mà học xong, thì đâu còn những chương trình đó cho chúng xem nữa. Khi đó thì khuya rồi, bố mẹ bắt đi ngủ để sáng hôm sau đi học. Chưa kể những đứa con nhà khá giả, cha mẹ thường bắt phải đi học đàn,học nhạc, học múa. Và có khi phải đi học thêm những lớp đêm, lớp ngày, cho giỏi hơn. Bị kềm chặt trong cái thời khóa biểu của cha mẹ. Em bé không thể tự quyết định riêng cho nó điều gì theo sở thích cả. Bởi vì nếu để cho em tự quyết định hành động từ tuổi thơ, thì mai sau lớn lên chỉ có nước đi ăn mày hay ngồi tù sớm mà thôi.
- Thế thì bác cho rằng tuổi trẻ khổ nhọc và tù túng lắm phải không? Vợ tôi cắt lời.
- Không hẳn như thế, nhưng cũng gần thế. Không phải lo cơm áo, tiền bạc, công việc làm ăn, là sướng, khỏe, nhưng trẻ con đâu ý thức được cái khỏe, cái sướng đó. Chỉ thấy cái khổ của việc học hành. Đôi khi đi học, còn mệt hơn đi làm nữa, đó là sự thực. Khi lớn hơn nữa, ý thức được là phải học hành, để mai sau có nghề nghiêp may ra đời sống khá hơn, tương lai vững chắc hơn, thì lại khổ hơn nữa. Phải lo âu, chăm chỉ, hy sinh các sở thích khác để mà trau dồi tương lai. Học hành đôi khi cũng có cái thú, nhưng chắc chắn ai cũng thích chơi, thích giải trí hơn là cắm cúi cần mẫn học hành. Bằng chứng là có nhiều người phải đóng bạc trăm bạc ngàn đi học các khóa đặc biệt, mà khi giáo sư cho nghỉ sớm vài phút cũng mừng húm, sung sướng thấy rõ ra mặt.. Đi học, mà học cho đàng hoàng thì không phải chuyện dễ, không phải nhẹ nhàng, mà học qua loa thì sợ thi rớt, sợ học xong mà không biết gì. Có kẻ hỏi một anh tuổi gần ba mươi rằng: "Anh có muốn trẻ lại như thời mười lăm mười sáu không?" Anh rùng mình mà trả lời: "Không bao giờ, phải đi học lại trung học, đại học, cực quá, thà chết còn hơn". Khi lớn hơn nữa, thì thêm nỗi lo, nỗi khổ vì tình yêu. Không có người yêu thì cô đơn, buồn khổ. Có người yêu thì lo sợ cuộc tình tan vỡ, lo ghen bóng gió, lo người yêu không trung thành, và buồn khổ vu vơ, lãng nhách.Trong thời trẻ trung, thì tình yêu là đẹp đẽ nhất, vui thú nhất, nhưng cũng làm con tim đau đớn nhất và còn có nhiều kẻ đã chết vì tình yêu. Chết mà không hối tiếc chi cả. Không lấy được nhau thì đau khổ đến như trời sập núi tan, mà lấy nhau được thì cũng chiến tranh cãi vã triền miên không ngớt, và chán nản bực bội nhau.
Vợ tôi từ bếp ra ngồi trong phòng khách, để nghe cụ Lê luận về nỗi sướng khổ cuộc đời. Vợ tôi hỏi thêm :
- Vậy khi học xong, có gia đình, có nghề nghiệp, có sức khỏe, là giai đoạn sướng nhất trong đời chứ, thưa bác?
- Ừ, thì giai đoạn đó cũng có sướng, có khổ, chứ không phải sướng nhất như khi vào tuổi già. Anh chị thấy đó, sau khi có gia đình, thì phải làm lụng vất vả nuôi con cái, sống vì đàn con, không còn lý gì đến cái thân mình nữa. Lo dạy dỗ con cái, lo đưa đón, lo bệnh hoạn, lo cho nó ăn học, lo cho nó đừng hư hỏng. Có hạnh phúc, nhưng cũng có nhiều lo lắng. Chưa kể có người vì tình, tiền, danh vọng, mà khổ. Khi còn trẻ, hăng hái, thì ai cũng nuôi tham vọng, muốn giàu sang, muốn nổi tiếng, muốn xa hoa, nên cứ tự dìm mình vào những sinh hoạt khó khăn, làm mất đi những an bình của cuộc sống. Xưa nay đã có nhiều người vì tham vọng mà bỏ vợ, bỏ con, bỏ gia đình, dấn thân vào những nơi xương rơi máu đổ, có khi chết bên chân trời góc bể chẳng ai biết, có khi tù tội rục xương. Không tham vọng nhiều thì ít, ít nhất cũng làm tiền, cất tiền, lo cho bất trắc trong tương lai, lo cho tuổi già. Lo, lo đủ thứ. Có khi vì lo mà phát điên, có khi vì quá lo mà vợ chồng bỏ nhau. Lo nuôi nấng con cái, lo chạy theo danh vọng hão, mà khổ, mà mất đi cái sinh thú ở đời.
- Thế thì theo bác giai đoạn nào trong đời cũng không sướng bằng tuổi già. Làm sao mà sướng được? Bác nói cho cháu nghe với. Tuổi già yếu đuối, bệnh hoạn cô đơn, sướng ở chỗ nào? Vợ tôi hỏi.
Cụ Lê thong thả tiếp:
- Khi đã lớn tuổi, thì con người được nhiều tự do hơn, được thong thả hơn để sống. Không còn phải như em bé bị cha mẹ ép buộc, bây giờ thì muốn làm chi thì làm, muốn thức khuya dậy sớm gì, cũng chẳng còn ai la mắng dọa nạt, rầy la. Nếu vợ vì thương, sợ mất sức khỏe, thì cũng cằn nhằn chút chút thôi, mình không nghe thì cũng chẳng bị roi đòn gì. Không còn phải khổ công học tập, lo lắng cho tương lai mai sau, chẳng phải học thêm chi cho mệt trí, biết quá nhiều, biết quá đủ rồi. Nếu đã nghỉ hưu, thì học thêm làm chi. Nếu còn đi làm, thì cũng đã rành nghề, quen tay quen việc, làm việc dễ dàng. Khi già tình yêu cũng không còn là mối bận tâm, không quan trọng quá, chưa nghe báo đăng các cụ già trên dưới sáu mươi tự vẫn chết vì thất tình. Tội chi mà chết vì tình trong tuổi già, vì cũng sắp thấy Diêm Vương rồi, việc chi mà đi sớm hơn.. Khôn quá rồi, chết vì tình yêu là nông nỗi. Đời sống tình cảm của tuổi già êm đềm hơn, ít đau đớn ít sôi động, và bình lặng. Tuổi già rồi, các ông không còn tính chuyện mèo mỡ lăng nhăng, khỏi phải lo lắng sợ vợ khám phá ra chuyện dấu diếm mà nhà tan cửa nát. Đỡ tốn tiền quà cáp, đỡ tốn thì giờ lui tới các nơi bí mật. Hồi hộp, đau tim. Các bà khỏi phải lo chuyện đi đánh ghen, không còn cần phải chăm chút nhan sắc làm chi nữa, vì như chiếc xe cũ rệu, có sơn phết lại cũng xộc xệch, cũng méo mó. An tâm và chấp nhận, thì khỏi băn khoăn mà vui. Cũng có một số ít những cặp vợ chồng già đem nhau ra tòa chia tay, vì khi già cả hai đều trở thành khó tính. Hậu quả của ly dị trong tuổi già không trầm trọng như khi còn trẻ, vì con cái đã lớn, đã tự lập, không còn ảnh hưởng nhiều đến tương lai chúng và tương lai của chính mình. Vì còn sống bao lâu nữa mà lo lắng chi cho nhiều. Xa được ông chồng khó tính, độc tài là mừng. Dứt được bà vợ đanh đá, bạc ác là phải sung sướng. Khỏe trí. Tuổi già, cố giữ cho còn có nhau, khi đã đến nước ly dị, thì hai bên đều đúng, đều có lý. Đây là hành động tự cứu mình, và cứu người ra khỏi cảnh khổ lúc cuối đời, khi mà mộ bia đã thấp thoáng trước mắt, không còn bao nhiêu ngày nữa. Có điều ít ai nghĩ đến, là càng già, thì càng dễ tìm một người bạn đời để nối lại, để an ủi nhau trong tuổi xế chiều. Vì chung quanh họ, có thiếu chi người đứt gánh nửa đường. Chồng chết, vợ chết, ly dị. Vấn đề là không sao tìm được một người có chung nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa, nhiều chia sẻ như người phối ngẫu cũ. Tình già cũng nhẹ nhàng, thong thả, ít khổ đau, ít sôi nổi hơn tình khi còn trẻ trung. Sức lực cũng có còn bao nhiêu mà ghen tương nhau chi, mà lo lắng chi cho thêm mệt, những người lớn tuổi kinh nghiệm và biết rõ như vậy. Nhiều người trẻ, sau khi gia đình tan vỡ thì xuống tinh thần, uống ruợu đánh bài tìm quên, đôi khi không phải vì họ quá thương yêu người cũ mà tự hủy hoại đời mình, mà chính vì họ tự thương thân, tự ái bị xúc phạm, và rồi sa lầy vào ruợu chè cờ bạc. Người lớn tuổi thì suy nghĩ khác. Họ nghĩ rằng ta cũng đã gần đất xa trời rồi, có sống thêm bao lâu nữa mà sầu khổ cho mệt. Mất củ khoai lang, thì kiếm củ khoai mì bù vào. Tuổi già biết giá trị tương đối của tình yêu nên không tìm tuyệt hão, không tìm lý tưởng, và nhờ vậy không bị thực tế phũ phàng làm vỡ mộng, đau khổ. Khi già rồi, có ai hỏi tuổi, thì cũng không cần dấu diếm, không cần sụt đi năm bảy tuổi làm chi. Sướng lắm. Vì có sụt tuổi, cũng không dấu được những nếp nhăn, mà chẳng có ích lợi gì. Nếu tự cộng thêm cho mình chừng chục tuổi, thì không chừng được thiên hạ nức nở khen là còn trẻ, trẻ quá, và họ mơ ước được như mình.Các ông có vợ đẹp, khi lớn tuổi cũng đỡ lo bọn dê xồm dòm ngó, lăm le dụ dỗ vợ mình. Con người, ai mà không nhẹ dạ, ai mà không ưa lời nói ngon ngọt êm tai, ai mà không có khi thiếu sáng suốt. Vợ chồng cũng có khi bất hòa, buồn giận nhau, và những khi nầy, lòng người dễ chao đảo lắm. Bởi vậy, các ông đỡ nghe các bà hăm he ly dị, hăm he bỏ nhau. Tuổi nầy các bà cũng thừa khôn ngoan để biết những tên ngon ngọt, hứa hẹn nhiều, thường chỉ là những tên phá đám, chứ không thể tin tưởng được. Đàn bà có chồng hào hoa, đẹp trai, khi lớn tuổi cũng bớt lo, vì các ông cũng bớt máu nóng, bớt chộn rộn và khôn ngoan hơn thời trẻ trung. Biết kềm chế hơn, và biết rõ giá trị hạnh phúc gia đình cần gìn giữ hơn là chơi ngông. Tuổi già, vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi, chịu dựng nhau giỏi hơn, quen với cái thói hư tật xấu của nhau. Không còn thấy khó chịu nhiều nữa. Dễ dung thứ cho nhau, chấp nhận nhau, vì họ biết rõ bên cạnh cái chưa tốt của người bạn đời, còn có rất nhiều cái tốt khác. Vợ chồng, khi đó biết bao nhiêu là tình nghĩa, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu thân thiết, cho nên hạnh phúc hơn, vui hơn. Tình yêu trong tuổi già thâm trầm, có thì giờ bên nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn. Cũng có nhiều ông bà già ưa cãi vã nhau, cũng dễ hiểu, khi đó tai của cả hai ông bà đều lãng, người nầy nói một đường, người kia hiểu nẻo khác, cho nên buồn nhau giận nhau, không gây gổ sao được?
Nói đến đây, cụ Lê xuống giọng nho nhỏ, chỉ đủ cho tôi nghe thôi, và cụ nói với nụ cười trên môi:
- Tôi biết chắc nhiều phần, những vợ chồng già hay gây gỗ nhau, vì thiếu ăn nằm với nhau, thiếu tình dục. Không phải tôi nói đùa đâu. Có tình dục đều đặn, cơ thể sinh sản ra kích thích tố, làm cân bằng tình cảm. Làm con người thấy dễ tính, cởi mở hơn, và ít bực bội hơn. Những vợ chồng trẻ dễ tha thứ dễ bỏ qua cho nhau, vì họ có chuyện đó đều đều. Anh cứ nghiệm mà xem, sau khi ra khỏi giường, các bà vợ thường dịu dàng hơn, tử tế hơn, cho mình ăn ngon hơn. Đừng bảo khi về già các bà hết ham muốn. Sai toét. Các bà sợ chuyện đó, sợ chứ không phải hết ham muốn đâu. Sợ là phải, đau quá mà. Xe chạy lâu ngày khô nhớt máy, làm sao mà chạy được. Mấy ông già thiếu hiểu biết, phải hỏi bác sĩ, có gì mà xấu hổ, ngượng ngùng. Ai mà chẳng làm chuyện đó, che dấu làm chi. Một ống thuốc nước trơn, chỉ có mấy đồng bạc mà mua được vạn cái hạnh phúc gia đình. Chuyện nầy mà nói ra, có người cho là thiếu thanh lịch. Tôi ghét bọn đạo đức giả, vừa ngu xuẩn, vừa ích kỷ. Đừng quá lộ liễu, đừng quá lố lăng thì thôi. Tại sao chuyện tốt, hiểu biết ích lợi cho cuộc sống con người, mà phải dấu diếm? Tôi tin rằng, người Mỹ thì mười người, có đến tám, biết chuyện thuốc thang nầy, còn người mình, thì mười người, may ra chỉ có hai ba người biết mà thôi.
- Chuyện tào lao ấy mà. Đàn ông nói riêng cho nhau nghe thôi.
Cụ cười, nháy mắt với tôi, rồi đổi giọng lớn hơn, nói tiếp:
- Tuổi già, thì tất cả mộng ước điên cuồng của thời trẻ trung đã tan vỡ, đã lắng xuống, không còn khích động trong lòng, không còn thao thức nhức nhối. Họ biết sức mình đến đâu, và không tội chi mà ôm cao vọng cho khổ thân. Họ còn biết thêm rằng, nếu những cao vọng điên cuồng ngày xưa mà có thành đi nữa, thì e cũng chỉ là hư không, chẳng đáng gì.. Khi tuổi già, thì biết khôn ngoan mà an phận, biết vui với bình thường.. Biết đâu là hạnh phúc chân chính. Nhiều người già rồi mới tiếc suốt một thời son trẻ không biết sống, phí phạm thời gian theo đuổi những huyễn mộng, làm đau khổ mình, làm điêu đứng người khác. Tuổi già, vui khi thấy mình hết nông nỗi, nhìn đời bằng cái tâm tĩnh lặng hơn. Ai khen không hớn hở mừng, ai chê không vội vã hờn giận. Vì biết rõ mình không có gì xuất chúng để thiên hạ khen nịnh. Và biết mình cũng có nhiều cố tật không chừa được, đáng chê. Chê thì chê, khen thì khen. Khen cũng thế, mà chê cũng thế, thì ta vẫn là ta, là một kẻ già, đáng được khoan thứ hơn là trách móc. Lúc nầy, không còn muốn làm giàu, không bị con ma tham lam thúc bách để kiếm và tích trữ cho nhiều tiền nhiều bạc. Con cái cũng đã lớn, không phải chi tiêu nhiều thứ, thì tiền bạc, chỉ cần đủ sống thôi, cũng là thỏa nguyện. Họ cũng không cần se sua, tranh hơn thua với ai, tinh thần họ vui vẻ, dễ chịu và khỏe khoắn hơn.. Mối lo âu về tài chánh cũng nghẹ gánh. Bởi khi đó, nhiều người đã tích trữ được một số tiền nhỏ. Nhà cửa cũng đã có.. Nợ nhà, nợ xe cũng ít đi, hoặc không còn nữa. Con cái cũng đã lớn, không còn là gánh nặng cho mình. Chúng nó đã có nghề nghiệp, đã làm ăn được. Chắc chắn tương lai chúng khá hơn mình nhiều. Người già không chi tiêu nhiều, ăn cũng ít đi rồi,chơi cũng không còn phung phí dại dột như tuổi trẻ. Khi già, thời gian mới là thực sự của mình, vì không còn phải chạy ngược chạy xuôi kiếm sống nữa. Không còn bị bó buộc bởi trách nhiệm bổn phận. Có thể ngồi mơ mộng hàng giờ trên ghế đá công viên, thưởng thức thiên nhiên tuyệt thú, có thể tìm được an bình tuyệt đối, không như thời còn trẻ, đi nghỉ mát, mà thỉnh thoảng cũng bị công việc nhà ám ảnh, nhắc nhở. Tuổi già về hưu, là một mong ước của gần như của tất cả mọi người. Nhiều người gắng làm sao kiếm cho nhiều tiền để dược về hưu sớm hơn. Nhiều thanh niên, ngày về hưu còn xa lắc, xa lơ mà vẫn mơ ước. Người Mỹ, trẻ già chi cũng nghĩ đến hưu trí. Hưu trí trong tuổi già là một phần thưởng của tạo hóa, của xã hội. Cho sung sướng, nghỉ ngơi. Già là nghỉ ngơi, là khỏe khoắn. Mỗi buổi sáng nằm dài trên giường, sáng nào cũng là chủ nhật trong tuần, muốn dậy lúc mấy giờ cũng được, muốn nằm cho đến trưa đến chiều cũng không sao. Nằm thoải mái, không ai chờ, ai đợi, không có việc gì gấp gáp phải làm, ngoại trừ cái bọng tiểu nó thúc dục, không cho mình nhịn lâu thêm được nữa. Thế thì sao mà không sung sướng. Nếu chưa về hưu, còn đi làm việc, thì cái tâm của người lớn tuổi cũng nhẹ nhàng, ít bị những sức căng, bị áp lực đè nén. Vì tài chánh cũng quan trọng, nhưng không quá quan trọng đến nỗi khi thất nghiệp thì mất xe, mất nhà, mất vợ mất con như những người còn trẻ. Khi này, nhiều thứ trong cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tiền bạc cũng không quá nhiều. Vã lại, già rồi, kinh nghiệm công việc nhiều, cho nên giải quyết mọi sự trong dễ dàng, thong thả. Bạn đồng sự cũng có chút nể nang, phần vì tuổi tác, phần vì kinh nghiệm. Có trường hợp, còn có việc thì tốt, mất việc thì mừng hơn, vì có lý do chính đáng để về hưu cho khỏe. Vì nếu việc có hoài, việc lại dễ dàng, thì tiếc, không muốn về hưu. Tuổi lớn, không cần thăng tiến, không cần đua chen với ai, cho nên tinh thần thoải mái, được bạn bè chung quanh thương mến hơn. Những người về hưu rồi, trở lại làm việc, thì đi làm, như đi chơi, chứ không phải "đi cày" như nhiều người khác quan niệm. Vui thì làm tiếp, chán thì về nhà nghỉ ngơi. Người lớn tuổi, thì sức khỏe xuống, bệnh hoạn ồ ạt đến tấn công, không ai thoát khỏi bệnh hoạn. Nhưng họ lại cảm được cái sung sướng của một ngày khi bệnh thuyên giảm. Một ngày khi cảm thấy gân cốt ít nhức mỏi hơn, dễ chịu trong từng khớp xương hơn. Ngưới trẻ đâu có thấy được những nỗi sung sướng nầy? Vì họ chưa kinh nghiệm, chưa trải qua, nên chưa biết. Họ có sức khỏe, nhưng họ không biết đó là sung sướng, cho nên, xem như chẳng có giá trị gì. Anh chị xem, nếu anh chị có một tảng ngọc to bằng cái bàn nằm trong vườn, mà anh chị không biết đó là chất ngọc, thì không biết quý, không biết mình sung sướng có tảng ngọc, mà chỉ quý và sướng vì viên ngọc nhỏ xíu nằm trên chiếc nhẫn mà thôi. Có người viết sách rằng, tuổi già, buổi sáng ngủ dậy, nghe xương cốt đau nhức mà mừng, vì biết mình chưa chết. Tôi thêm rằng, biết mình còn sống là mừng, biết mình đã chết nhẹ nhàng, càng mừng hơn.... Nầy anh chị có nhớ câu chuyện Thượng Đế khi đuổi tổ phụ loài người là ông Adam và bà Eva xuống trần gian, có chỉ mặt mà phán : "Từ nay chúng mi phải đổ mồ hôi trán mới có hạt cơm vào mồm". Đó là câu nguyền rủa độc địa nhất, là lời phán ý nghĩa nhất, là con người phải sống trong nhọc nhằn. Sách Phật cũng có viết đời là đau khổ, và tu để tránh khổ. Đó, đời nầy đáng sống lắm, nhưng cũng nhiều khổ đau lắm. Bởi vậy nên tôi nói, được sống là mừng, mà được chết, cũng mừng. Tôi đi đám ma ông bạn già, thấy gia đình khóc lóc, rên rỉ thảm thương, con cháu mếu máo kể lể. Tôi cười trong bụng, nghĩ rằng bọn nầy không biết luật của tạo hóa. Có sinh thì có diệt. Chúng nó muốn thân nhân của chúng sống đời đời sao? Biết đâu chỉ là khởi điểm của một cuôc rong chơi. Nầy, tôi đọc cho anh chị nghe một đoạn thơ của anh bạn tôi:
Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó
Ai thay da mãi mãi sống muôn đời ?
Kẻ trước, người sau xếp hàng xuống mộ,
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi ....
Khi tuổi già, thì xem cái chết như về.. Ai không phải chết mà sợ. Sống qua khỏi tuổi năm mươi, là đã lời lắm. Tuổi trung bình của con người trên thế giới nầy chưa được con số năm mươi. Thì mình nên tự xem như được sống thêm đời thứ hai. Đời trước đã hoàn tất, có cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Đời sau nầy, thì chắc chắn là sung sướng hơn hạnh phúc hơn đời trước. Vì đã từng trải, đã gom được kinh nghiệm của đời trước, để thấy đâu là hạnh phúc chân thật, đâu là phù du huyễn hão. Chết là về..Nhưng chỉ sợ không về được đến nơi đến chốn, mà như chiếc xe hư máy dọc đường. Làm khổ chủ xe, bắt nằm liệt mê man, không sống mà cũng không chết, đó mới là cái đáng sợ. Tôi biết vậy, nên đã làm di chúc, khi nào tôi bị mê ba ngày, thì xin rút ống cho tôi đi. Đi về bình an. Nầy, anh chị nghĩ sao về ông bác sĩ mà người ta đặt cho tên là bác sĩ tử thần? Già rồi tôi không nhớ rõ tên, hình như ông ta tên là "Ki-Vô-kiên" phải không? Cái tên gần gần như vậy. Theo tôi, thì ông nầy là một vị Bồ Tát, cứu độ cho chúng sinh mau qua khỏi khổ đau, để bị ra tòa, bị tù tội. Chỉ có cái tâm Bồ Tát thật lớn mới làm được việc đó. Tôi cố tìm một cái ảnh ông ta để thờ sống, mà không có. Tôi nghĩ, trong tương lai, luật pháp sẽ không ngăn cấm việc cho người đau đớn ra đi sớm hơn, vì đàng nào cũng chết, tại sao phải kéo cái đau đớn ra dài hơn mới được chết. Trừng phạt người ta hay sao? Trong tuổi già,người ta biết ơn sự nhiệm mầu của tạo hóa. Có bộ máy nào, không phải là gang thép, bạch kim, mà chạy một mạch sáu bảy chục năm không ngưng nghỉ, mà vẫn còn hoạt động như quả tim, buồng phổi, trái thận, cái bao tử, não bộ. Có hệ thống ống dẫn nào hoạt động sáu bảy chục năm mà chưa thay thế như các mạch máu của hệ thống tuần hoàn. Thì dù có rò rỉ van tim, chất mỡ đọng nghẹt trong vài ba mạch máu, thì cũng là sự thường tình, và mừng là còn sống, còn sinh hoạt được. Dù có phải liền liền đi vào cầu tiểu mỗi ngày nhiều lần, thì họ vẫn sung sướng là cái vòi xài mấy chục năm mà vẫn chỉ mới rò rỉ sơ sơ. Mấy cái vòi nước trong nhà,bằng kim khí cứng, không rỉ sét, thế mà năm bảy năm đã phải thay rồi.
Buổi trưa, tôi lái xe mời ông bà cụ Lê đi ăn tiệm. Đi qua khu phố có nhiều tiệm Việt Nam, khách bộ hành đông đúc tấp nập. Tôi để ý thấy cụ cứ ngắm nhìn những người đàn bà con gái trên đường. Tôi hỏi nhỏ cụ:
- Bác cũng còn thích nhìn đàn bà đẹp? Thế là trái tim bác còn trẻ lắm đó. Bác nhìn họ, với tâm trạng nào?
Cụ Lê cười và nói tự nhiên:
- Mình nhìn họ, như ngắm một bức tranh nghệ thuật. Thưởng thức một vẻ đẹp thiên nhiên của trời ban cho thế gian. Ngắm nhìn cái đẹp, không có gì là sai trái cả. Chỉ khi nào nhìn, rồi trong lòng mình nẩy sinh ra tư tưởng gian tà, đen tối, ham muốn, thì khi đó mới đáng trách. Có ai kết án một người thưởng thức bức tranh Vệ Nữ không? Chắc là không.
Tôi nói nhỏ :
- Nhưng nếu có điều kiện cho phép, bác có muốn "gần gũi" với những người đẹp đó hay không? Có còn đủ sức không?
- Nầy, tôi nói cho anh biết, có ai cho tôi lái chiếc xe đời mới, tân tiến, tôi cũng không khoái bằng khi lái chiếc xe cũ, cổ lổ sĩ của tôi. Vì đã quen tay lái, quen nhịp máy, quen tốc độ, quen sử dụng, thì mình thấy thoải mái và dễ dàng hơn chứ. Lái chiếc xe lạ đâu thích bằng lái chiếc xe quen thuộc của mình. Anh có đồng ý không? Tắm ao ta vẫn khoái hơn tắm ao người chứ !
Cụ Lê cười, tôi cười theo. Cụ bắt lại câu chuyện cũ:
- Bây giờ anh đã đồng ý với tôi rằng tuổi già là thời gian sung sướng nhất chưa? Nếu ai già, mà không biết tuổi già là sung sướng, thì lỗi tại họ. Họ có cái sướng, cái quý, mà họ không biết hưởng.
Hoàng Hải Thủy
Bánh xe lãng tử muộn màng năm 1995 đưa tôi sang Kỳ Hoa, khoảng năm 2000 tôi, ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, viết bài “Như Con Chuồn Chuồn” về bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân.
Hôm nay, một ngày đầu năm 2009, tôi trích vài đoạn trong bài viết ấy mời quí vị đọc: * Người sống sót trong tai họa ghê rợn của nhà Ngô Đình là bà Trần Lệ Xuân, bà vợ ông Ngô Đình Nhu. Trước ngày xảy ra cuộc đảo chính một tháng, với tư cách Dân Biểu Quốc Hội VNCH, bà Trần Lệ Xuân rời Sài Gòn đi Pháp, bà nói bà đi làm “cuộc giải độc dư luận các nước Tây phương về tình hình chính trị VN“; bà nói nhiều người Âu Mỹ hiểu sai tình trạng đang xẩy ra ở VNCH. Bà dự định sau thời gian ở Pháp bà sẽ sang Hoa Kỳ. Chín giờ tối một ngày cuối thu ở phòng khánh tiết phi trường Tân Sơn Nhất, trước khi lên phi cơ bay đi, bà Lệ Xuân nói câu cuối với các phóng viên báo chí đến đưa tiễn bà khi có người hỏi bà dự định sẽ ở lại bao lâu ở Pháp, bao lâu ở Mỹ:
Tôi như con chuồn chuồn Khi vui thì đậu, khi buồn thì bay…
Bà đi, và như con chuồn chuồn bay đi, không bao giờ bà trở lại Sài Gòn, nơi một thời gian dài bà là Đệ Nhất Phu Nhân; theo tôi bà là vị Đệ Nhất Phu Nhân duy nhất của Việt Nam Gần bốn mươi năm qua — ( tôi viết bài này năm 2000 ) — tôi vẫn nhớ hình ảnh thanh tú, sắc xảo của bà Lệ Xuân trong những cuộc họp báo của bà. Tôi chỉ gặp bà, đúng hơn là tôi chỉ nhìn thấy bà, nghe bà nói, trong những lần bà mở cuộc hội báo. Tôi không một lần thấy bà ở nơi nào khác.
Thời bà là Đệ Nhất Phu Nhân, tôi là phóng viên nhật báo Sàigònmới, bà Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, bà chủ báo của tôi, vì muốn lấy lòng bà Lệ Xuân nên rất chăm đi dự những cuộc hội báo của bà Lệ Xuân. Và tôi, là phóng viên báo Sàigònmới, tôi bắt buộc phải đến dự những cuộc họp báo của bà Trần Lệ Xuân để viết bài tường thuật. Trong những lần xuất hiện nơi công chúng bà Lệ Xuân thường mặc áo dài mầu trắng hoặc mầu hồng nhạt. Ngoài việc “lăng xê” mốt “áo dài hở cổ”, bà là người khởi đầu phong trào các bà mệnh phụ phu nhân Sài Gòn mang nữ trang bằng ngọc thạch. Các bà nhà giầu Sài Gòn trước đó vẫn mang nữ trang kim cang, bắt chước bà Lệ Xuân, các bà mới chơi nữ trang ngọc thạch. Trong một cuộc hội báo ở phòng khánh tiết Tòa Đô Chánh Sài Gòn, tôi thấy bà Lệ Xuân mang ở hai cổ tay mỗi cổ tay một chiếc vòng ngọc thạch. Thường thì các bà, các cô Việt Nam chỉ mang ở cổ tay trái một chiếc vòng ngọc. Bà Lệ Xuân, với tư cách dân biểu quốc hội, là tác giả luật cấm phụ nữ Việt hành nghề mãi dâm và luật cấm đàn ông Việt có vợ bé, cấm ly dị. Bà là người phụ nữ Việt Nam bị người đời phỉ báng nặng nhất lịch sử.
Người cùng thời kháo nhau rất nhiều chuyện không đẹp về đời tư của bà. Anh Đạo Văn Hoàng Trọng Miên viết cả một quyển truyện năm, bẩy trăm trang để mạ lỵ bà. Truyện Đệ Nhất Phu Nhân của anh ăn cắp văn Hoàng Trọng Miên được đăng trên nhật báo Quyết Tiến, Sài Gòn, được in thành sách, được tái bản ở Hoa Kỳ. Tôi thương bà Trần Lệ Xuân. Bà phải sống để chịu quá nhiều kỷ niệm đau thương và ghê rợn. Tối đầu thu, mưa gió trên Rừng Phong, tôi hoài tưởng một buổi tối năm xưa, năm 1963, cũng vào giờ này- 9 giờ tối - tôi lên phi trường Tân Sơn Nhất, không phải để “đưa” mà để “xem” người ta đưa tiễn bà Dân biểu Trần Lệ Xuân đi “giải độc dư luận các nước Âu Mỹ”. Tối ấy, trong phòng khánh tiết phi cảng, bà Lệ Xuân bận áo dài trắng hồng, ngồi trong cái ghế bành da nâu, phóng viên truyền thông bao quanh bà, những ánh đèn cực sáng được rọi vào bà để người ta quay phim bà. Một phóng viên hỏi bà dự định ở Pháp bao lâu, ở Mỹ bao lâu, bà trả lời bà chưa định, bà mỉm cười nói:
Tôi như con chuồn chuồn. Khi vui thì đậu, khi buồn thì bay…
Lúc ấy tôi đứng ngay bên cạnh ghế của bà, nhờ ánh đèn sáng của máy quay phim tôi nhìn rõ những nếp răn nơi đuôi mắt bà, tôi nhìn rõ hàm răng của bà. Có lẽ trên cõi đời này hôm nay chỉ còn tôi là người duy nhất còn nhớ tối năm xưa trước khi đi khỏi nước bà Trần Lệ Xuân nói câu phong dao Như Con Chuồn Chuồn đó. Buổi tối năm 1963 ấy cách buổi tối hôm nay gần bốn mươi năm. Năm ấy bà Trần Lệ Xuân ba mươi tám tuổi, tôi ba mươi tuổi. Ngưng trích Bài Xưa viết năm 2000, tôi viết những dòng mới: Như quí vị vừa đọc, trên giấy trắng, bằng mực đen, tôi kể :
Lúc ấy tôi đứng ngay bên cạnh ghế của bà, nhờ ánh đèn sáng của máy quay phim tôi nhìn rõ những nếp răn nơi đuôi mắt bà, tôi nhìn rõ hàm răng của bà.
Buổi tối ở phi cảng Tân Sơn Nhất ấy — Tháng 10, 1963 — cách hôm nay 45 năm. Nhiều người trong ảnh đã qua đời, bà Trần Lệ Xuận hiện sống trầm lặng ở Paris. Tháng 12 năm 2008, một trong những người từ nhiều năm thích đọc những bài tôi viết, người tôi xưng tụng là Nữ Hiệp Vương Ngọc Anh, cô em của Nữ Hiệp Vương Ngọc Yến, người đẹp Thiên Long biết tất cả những bí kíp võ công trong thiên hạ, gửi cho tôi khoảng 10 tấm ảnh ghi Cuộc Ra Đi Không Về của bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân ở phi cảng Tân Sơn Nhất. Dưới tấm ảnh bà Trần Lệ Xuân trả lời phỏng vấn — đăng cùng bài này - Nữ Hiệp Vương Ngọc Anh ghi câu hỏi:
Công Tử kể ông đứng ngay cạnh bà Lệ Xuân! Sao trong ảnh này không thấy ông đâu cả?
Tôi — CTHĐ — hồi hộp xem kỹ bức ảnh trên màn hình computer. Xem đi, xem lại. Đúng là không có tôi đứng cạnh bà Trần Lệ Xuân — bên phải của bà — trong ảnh. Đau quá là đau. Tôi từng tiếc hận vài lần nhưng chưa bao giờ tôi tiếc hận vì chuyện tôi đã không bon chen len vào đứng bên ghế bà Lệ Xuân ngay từ phút đầu, khi phái viên Tạp Chí LIFE chụp bức ảnh này. Tôi có cái tật không giống ai là không thích bon chen. Khi người ta tranh nhau xúm lại quanh bà Trần Lệ Xuân, tôi đứng ở ngoài. Chỉ khi cuộc phỏng vấn đã gần xong, tôi mới đến đứng cạnh ghế bà Trần Lệ Xuân. 50 năm cuộc đời, hôm nay tôi mới biết việc đêm xưa ấy khi bà Trần Lệ Xuân sắp đứng lên đi ra phi cơ tôi đến đứng gần bà là việc tôi thầm lặng chào bà. Trong ảnh, ông bận veston đen, mang kính cận trắng, ngồi bên trái bà Trần Lệ Xuân là ông Trần Tấn Quốc, Chủ nhiệm-Chủ Bút Nhật Báo Tiếng Dội. Người thanh niên bận veston sám đứng sau, bên trái bà Trần Lệ Xuân, bên phải ông Trần Tấn Quốc, là Ký gỉa Phan Nghị, Nhật báo Ngôn Luận. Ký giả Phan Nghị, ông Chủ Báo Trần Tấn Quốc, đã ra người thiên cổ.
Tôi, sống lưu đày ở Xứ Người, tôi tiếc hùi hụi, tôi tiếc ơi là tiếc: 45 năm xưa — trăm năm một thưở — tôi đã dzô dzang đến cái độ lởm khởm không chịu bon chen, nên không có tôi trong bức ảnh tôi cho là Ảnh Lịch Sử. Nếu ảnh có tôi, hôm nay tôi trưng ảnh lên trang báo này để khoe với quí vị — vinh váo chừng bao! Nhưng buổi tối 45 năm xưa làm sao tôi biết, làm sao tôi ngờ, 45 năm sau, trong những ngày cuối đời tôi, tôi tiếc ngẩn ngơ vì buổi tối 45 năm xưa tôi đã không chịu chen vào đứng bên ghế bà Trần Lệ Xuân! Tiếc ơi là tiếc. Cái Tiếc này không có Tiếc nào có thể Tiếc hơn. Tôi từng viết tôi chỉ thấy bà Trần Lệ Xuân bận áo dài Việt Nam, tôi không thấy, dù một lần, bà bận âu phục — robe đầm, jupe, sơ-mi, áo pull, quần jeans — Ấy là tại tôi không được thấy. Bà Trần Lệ Xuân khi bà bận âu phục, như trong ảnh bà đứng với ông Ngô Đình Nhu, ông chồng bà, ở Đàlạt năm xưa. Ảnh xưa gợi nhớ chuyện xưa, tôi đi một đường cảm khái:
Ấy ai như con chuồn chuồn, Khi vui thì đậu, khi buồn thì bay? Đẹp người mà nết lại hay. Nhìn ai, ta nhớ những ngày vàng son. Thương ai biển cạn, non mòn, Có về đâu nữa Sài Gòn ngàn năm!
Mỗi ngày chỉ cần bỏ ra 30 phút làm vườn, thực hiện đều đặn trong 5 ngày/tuần có thể giúp giảm 38% nguy cơ mắc chứng liệt dương.
Không những thế, thói quen thường xuyên phụ việc nhà giúp vợ đều được xem là "loại thuốc viagra tự nhiên" đối với phái mạnh.Nếu vác thêm cày..nửa thì dai hơn .
Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Y tại Vienna (Áo) đã rút ra kết luận trên sau khi theo dõi tác dụng của hoạt động thể chất ở 674 đàn ông từ 45 đến 60 tuổi. Các ông cũng có thể "đốt" khoảng 1.000 calorie/tuần bằng cách đạp xe 6,5 km trong 15 phút hoặc chạy bộ 2,5 km, hoặc đơn giản là nhảy trong vòng 30 phút mỗi ngày.
Nguy cơ mất khả năng đàn ông giảm đến 52% đối với những người "đốt" được 4.000 calorie/tuần.
Ý niệm “vinh quang” thường sánh đôi với những mỹ từ như “dũng cảm”, “hào hùng” “kiên cường” “bất khuất” v.v… và hầu như không bao giờ chịu cặp kè với từ “SỢ”. Cho nên khi đặt nhan đề cho bài viết là “VINH QUANG CỦA NGƯỜI SỢ VỢ” tôi cảm thấy hồi hộp, ngại ngùng, không biết rủi như bà xã tôi mà đọc được thì nàng có hiểu thấu cho lòng ngưỡng mộ sâu sắc của tôi khi nghĩ đến nàng, viết về nàng không, hay nàng lại tưởng tôi có ý chơi chữ để chế diễu nàng.Sợ, cho dù là sợ ai thì cũng là “sợ”. Mà sợ thì chẳng những không có gì vinh quang mà còn hèn lắm các bố ạ.
Khi tưởng tượng đến một người đang sợ, trong trí ta hiện lên hình ảnh một kẻ đang co ro, khép nép, mặt mũi xanh lè, tay chân run lẩy bẩy, giọng nói ấp a ấp úng… Nói chung hình ảnh một người đàn ông như vậy không có gì là vinh quang cả.
Người đàn ông vinh quang là người làm chủ bà vợ của mình. Thậm chí không cần ra lệnh mà chỉ trừng mắt một cái là bà vợ đã phải ngoan ngoãn vâng lời hoặc dẹp ngay ý định phản đối. Ngồi vào bàn ăn mà không có chai bia hả? Ném đũa xuống bàn rồi đứng dậy là bà vợ khiếp vía. Một anh chồng thường khoe: Tiền bạc tớ quản lý. Mọi việc trong nhà tớ quyết định. Muốn đi đâu, mua sắm gì, phải xin phép tớ. Tớ bảo gì, nghe nấy. Người xưa gọi cái đạo lý ấy là “phu xướng phụ tùy.”
Bậc vua chúa còn danh giá hơn vạn lần. Các ngài có rất nhiều vợ. Chẳng cần yêu đương, tán tỉnh, cũng đếch thèm viết thư tình, cứ phát hiện ra chỗ nào có gái đẹp là a-lê “tiến cung”, ba mươi giây là thảy lên giường. Nhưng cũng có khi đến ba mươi năm chưa chắc đã được hưởng ơn mưa móc.
Thời Tần Thủy Hoàng mỗi tối các bà vợ được tắm rửa, điểm phấn tô son, khử mùi lông nách… rồi cứ để trần truồng như thế, bọc trong cái chăn lớn. Hai tên quân hầu khỏe mạnh vác cả người lẫn chăn đem đến tận long sàng dâng vua, giống như đầu bếp dâng khoanh giò lụa. Vua hé chăn ra coi, thích thì “ngự” không thích thì bảo đổi người khác. Hai tên quân hầu lại vác một khoanh giò lụa khác. Cứ thế, chạy rầng rậc cả đêm. Về sau này các ông con Trời ở bên Tàu đổi mốt khác. Buổi tối các ngài ngự trên chiếc xe dê, tà tà đi dọc các hành lang của tam cung lục viện. Ơn mưa móc của các ngài tưới vào đâu tùy thuộc vào sự ngẫu hứng của chú dê kéo xe. Rõ ràng là các bậc đế vương coi chuyện chăn gối với những bà vợ mình như một trò chơi ru-lét: Trái banh dừng ở chỗ nào là trúng thưởng ở chỗ đó.
Tóm lại, ngày xưa cũng như ngày nay, trong dân gian hay trong cung cấm cánh đàn ông thường tự hào về quyền lực của mình đối với đàn bà và coi khinh những người sợ vợ.
Nhưng làm một đấng nam nhi đứng trong trời đất mà không biết sợ vợ thì uổng cả một đời trai!
Bạn tưởng tôi nói đùa? Bạn không hiểu? Thế bạn thích có một chiếc Dream mới tinh hay một chiếc xe mô-bi-lét cà rịch cà tàng? Lái một chiếc Dream bạn phải nâng niu, cẩn trọng, sợ bị va quẹt, bị trầy xướt… nói chung là bạn phải làm nô lệ cho nó nhưng phải công nhận là nó chạy êm ru. Sướng lắm! Còn đi chiếc mô-bi-lét muốn vứt đâu thì vứt, không sợ trầy xước không ngại va quẹt, không sợ bị kẻ gian cuỗm mất… nhưng thường hay nghẹt cái bu-gi lắm các bố ạ!
Như vậy bạn đã hiểu tại sao người ta sợ vợ rồi chứ? Một người đàn ông hay bắt nạt vợ bằng la hét hay trừng mắt, tưởng là ngon, thực ra đó là người chồng bất hạnh nhất trên đời. Bởi vì hắn đã coi vợ mình như một chiếc mô-bi-lét cà tàng, chẳng có gì thú vị, chẳng cần phải nâng niu trân trọng.
*Một người sợ vợ trước hết vì vợ anh ta đẹp. Đắc Kỷ vợ Trụ Vương, Bao Tự vợ U Vương … là những tuyệt sắc giai nhân mà hai ông vua đầy uy quyền của lịch sử Trung Quốc kia phải sợ hãi vâng lời răm rắp. Trụ là một người có tài về quân sự, có sức mạnh hơn người, ông đánh thắng bộ tộc Di, nhưng thua cái vòng số một nõn nà của Đắc Kỷ. Ông là kẻ bạo ngược, mọi người đều sợ ông nhưng ông thì sợ Đắc Kỷ.
Nhan sắc của Bao Tự cũng lừng danh trong thiên hạ, nàng đã khéo dùng cái “vốn tự có” của mình để làm mê mẩn U Vương và quay ông ta như quay dế. Bữa nọ nàng làm bộ buồn và bảo: Ta bị stress. U Vương bèn cho massage thư giãn, cũng vẫn buồn, gọi các danh hài vô quậy, cũng chẳng vui được chút nào. Hỏi làm sao hết buồn thì đáp: Thiếp chỉ thích nghe tiếng xé lụa. Bao Tự vốn xuất thân là cô bé quê mùa do nhặt được trên nương rẫy đem về, nhưng kiểu giải trí này thì quả nhiên quá cầu kỳ và tốn kém. Bởi vì lụa Tô Châu, Hàng Châu ngày nay mua một mét cũng mất 50 đô la Mỹ, thời đó chắc cũng không rẻ gì, thế mà cứ đem cả ngàn mét lụa ra xé để mua lấy một cái nhếch môi cười. Chiều vợ mà như U Vương quả trên đời chỉ có một. Cho nên người Trung Quốc đã hoảng hốt mà thốt lên rằng: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân.” Có nghĩa là Vẻ đẹp của người nữ tuy không có sóng gió bão bùng nhưng rất dễ làm chìm đắm con người.
Vào khoảng đầu thế kỷ 20 ở Paris có chàng văn sĩ tài ba gốc người Áo tên là Rilke, tuy cách xa Trung Quốc ngàn dặm nhưng chắc vì cũng có kinh nghiệm mê gái đầy mình và có lẽ cũng đã từng bị các nương tử tóc vàng đì cho sói trán nên bèn nắm mấy cái sừng trên đầu mình mà khóc rằng: “Đẹp là một cái gì đáng sợ.”
Người sợ vợ, dĩ nhiên rất yêu vợ, cưng và quý như một báu vật trên đời. Người vợ muốn được chồng cưng và quý như thế phải là một người như thế nào chứ! Ngoài nhan sắc, tính tình phải dịu dàng, phải có tri thức, phải có đời sống tình dục và đời sống tinh thần hòa hợp với chồng. Nói chung là một người không thể thiếu trong đời sống của anh chồng. Có như thế anh chồng mới sợ mất, sợ sứt mẻ tình cảm, sợ không làm vợ mình hài lòng, sợ nàng buồn bã, nhan sắc sẽ tàn phai.
Tôi biết có anh chồng cưng vợ đến nỗi có lần ghen mà không dám nói nặng, tất nhiên cũng không dám đánh, nhưng vì tức quá nên anh ta rút một cây nhang trên bàn thờ đập vào vai nàng một cái. Sách thánh hiền thường dạy: Chớ bao giờ đánh người đẹp dù là đánh bằng một đóa hoa. Anh bạn của chúng ta chắc cũng hiểu cái đạo lý ấy nên mới dùng một cọng nhang. Bởi vì đó là thứ dùng để thờ lạy, để tỏ lòng tôn kính. Đánh vợ mà đánh bằng một cọng nhang thì có khác gì quỳ trước mặt nàng mà hành lễ?
Nghĩ cho cùng, sợ vợ mà kiểu như U Vương, Trụ Vương thì chỉ đem lại tai họa. Nhưng sợ vợ mà biết nâng niu chiều chuộng nàng thì đúng là cái phước lớn của thiên hạ. Và nói theo triết học Thiền tông thì: Biết sợ vợ là đã NGỘ rồi vậy.
GIỮ CHÁU: MỘT NIỀM VUI CỦA TUỔI GIÀ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Thượng Chánh
Đa số trong chúng ta thuộc thế hệ baby boomer đều bước qua ngưỡng cửa của tuổi 60, và chắc là đã lên chức ông bà ngoại hoặc ông bà nội từ lâu rồi. Nay thì nghỉ hưu, lãnh tiền già, sống tà tà, vui hưởng tuổi già và chờ ngày...ra đi.
Sống tại xứ người khác với sống ở quê nhà. Bên nầy hầu như mạnh ai nấy lo, đầu tắt mặt tối phải lo đi cày để sống, để trả nợ con, nợ nhà và nợ xe, v.v....
Già hay trẻ gì cũng đều có nỗi lo riêng của nó hết!
Một trong nhiều nổi khổ tâm của giới trẻ tại Bắc Mỹ là vấn đề tìm người, mướn người giữ con để có thể đi làm, hay mỗi khi cả hai vợ chồng đều bị kẹt hoặc bận việc gì đó nên không thể giữ con được, v.v ...
Chuyện coi thường như vậy mà không phải dễ đâu!.
Vấn đề là phải tìm được nơi tín nhiệm hoặc người babysit kỹ lưỡng và đáng tin cậy. Một số bạn may mắn có cha mẹ ở đâu đó không xa mấy, nên thỉnh thoảng nếu lỡ kẹt thì cũng có thể nhờ ông bà nội hay ông bà ngoại giữ hộ cháu bé là thượng sách nhất.
Babysit là một job...thiện nguyện hay là job chùa, nhưng lại là một niềm vui của những cặp vợ chồng già Việt Nam tại xứ người.
Có thể nói là mỗi khi con cái nhờ cha mẹ một việc gì, thì chắc chắn là cha mẹ mau mắn ok liền chớ ít khi nào nỡ chối từ lắm. Còn ngược lại thì hổng chắc lắm đâu nghen...Người ta bảo nước mắt chảy xuôi mà lỵ!
Mỗi người, mỗi nhà đều có mỗi cách giáo dục dạy bảo con cháu khác nhau, không ai giống ai hết. Có gia đình thì còn hơi khắc khe khuôn mẫu như lúc họ còn ở bên nhà, nhưng nói chung phần đông ông bà Việt Nam tại hải ngoại cũng đã cởi mở rất nhiều lắm rồi. Đây là những người thức thời, biết thích ứng vào hoàn cảnh nơi đang sinh sống.
Hai vợ chồng tác giả cũng không thoát ra khỏi quy luật tre tàn măng mọc như bao nhiêu gia đình khác.
Từ hơn một năm nay, mình được lên chức làm ông bà ngoại nên thỉnh thoảng được con gái nhờ babysit cháu. Đang sống trong tâm trạng hội chứng trống ổ buồn chán thấy mồ, nay đàn chim lại bay trở về ổ thì còn gì hơn nữa. Là cha mẹ, chúng ta có bổn phận tinh thần phải giúp đỡ con cháu của mình vô điều kiện. Cha mẹ một ngày, vẫn là cha mẹ mãi mãi!
Việc giữ cháu cũng đem đến cho ta những niềm vui nho nhỏ, giúp cho cuộc sống bớt tẻ nhạt, và cuộc đời hình như có ý nghĩa hơn lên.
Phải nói rõ, công lớn là của bà ngoại cháu, từ việc săn sóc, cho bú, cho ăn, thay tã, lau chùi tắm rửa đứa nhỏ, v.v...bà ngoại đều giành làm hết. Có lẽ đó cũng là do cái thiên chức và bản năng nuôi con tự nhiên của người phụ nữ...
Ông ngoại chỉ chạy vòng ngoài và chờ lệnh mà thôi... Ông ngoại được giao cho bồng ẫm hun hít, hoặc chơi đùa với nó là khoái lắm rồi. Đã lắm, sướng lắm bạn ơi!. Người ta nói già trẻ bằng nhau mà, chắc cũng đúng. Gần bên cháu, ông ngoại có cảm tưởng mình trẻ lại được vài chục tuổi như chơi. Ông ngoại bò chơi với cháu cả buổi cũng chưa thấy chán. Tập cho trẻ nói bập bẹ cái nầy cái kia, mới thấy thật là dễ thương làm sao. Tuần nào không thấy mặt cháu, thì mình nhớ kinh khủng.
So với các bạn khác, mình cũng chưa có kinh nghiệm nhiều vì chỉ mới làm ông bà ngoại lần đầu tiên mà thôi. Bên nầy, chuyện săn sóc trẻ nhỏ, cho ăn cho bú cũng có khi hơi khác hơn những gì mình đã biết và thường quen làm ngày xưa ở bên nhà. Bởi vậy muốn làm gì hơi khác thường, thì nên hỏi ý con mình tức là cha mẹ của cháu bé trước rồi hãy làm, chớ đừng ỷ mình là tía má của chúng mà làm đại có khi bị chúng cự nự. Đừng quên là mình đang sống ở Canada và Hoa Kỳ chớ không phải bên Việt Nam.
Nghề gì cũng vậy phải cần học hỏi hết, kể cả nghề...làm ông bà.
Bên nầy có rất nhiều sách viết về phương pháp giữ trẻ, và nghệ thuật để trở thành ông bà tốt (grandparenting). Dĩ nhiên sách báo viết theo bối cảnh Âu Mỹ dựa vào văn hóa, phong tục, tập quán và cách hành sự của xã hội Tây phương, khác với những giá trị đạo đức của người Việt Nam mình.
Khó có thể nói bên nào đúng bên nào sai hết. Chúng ta cần điều chỉnh lại cách suy nghĩ để thích nghi với hoàn cảnh mới, tránh trường hợp xung khắc với con cháu do sự dị biệt về tuổi tác và văn hóa (generation gap, culture gap) tạo nên...
Đừng quên là con cái chúng ta đã lớn lên và được giáo dục tại xứ người với những giá trị khác hơn các giá trị của cha mẹ chúng đã hấp thụ được ở bên nhà. Cái quan trọng là phải biết dung hoà hai nền văn hóa lại với nhau.
Là người Việt Nam, chúng ta cố gắng giữ lại phần nào cái nếp văn hóa của mình, ít nhất là trong sinh hoạt gia đình.
Nhận giữ cháu thì ông bà phải có trách nhiệm nhiều lắm.
Vấn đề coi thì đơn giản như vậy, nhưng chúng ta cần để ý một số điểm sau đây để cho tình cảm của ông bà và con cháu không bị sứt mẻ:
*- Mối giao hảo giữa các cháu và ông bà còn tùy thuộc vào một số điều kiện khách quan như chúng ở gần hay ở xa nhà ông bà; thỉnh thoảng mới nhờ giữ hộ hay trở thành một thông lệ thường xuyên. Có bao nhiêu cháu? Đây là lần đầu tiên hay nhiều lần rồi?.
*- Tình cảm của cháu đối với ông bà cũng tùy thuộc vào tình cảm của ông bà dành cho cha mẹ của cháu.
*- Xung khắc trong mối quan hệ. Cha mẹ của cháu có được ông bà đối xử bình đẳng như người đã trưởng thành hay không? hay cha mẹ của chúng vẫn còn bị ông bà xem như còn là...con nít, nên bị xài xể thường xuyên vì cư xử không đúng theo ý ông bà mong muốn?
*- Không nên rầy la chỉ trích con cái mình trước mặt con của chúng. Nên nhớ là con cái của mình nay dã lớn, là một người đã trưởng thành rồi, nên chúng có tự do và toàn quyền quyết định làm những gì chúng nó thích.
*- Tuổi tác của ông bà cũng rất quan trọng trong việc giữ cháu.
Nếu ông bà còn trong hạn tuổi 60 thì chắc chắn là còn nhiều sức, và thời gian sinh hoạt vui đùa cùng cháu nhiều hơn là ông bà đã ngoài 80 tuổi.
*- Tình trạng sức khỏe của ông bà cũng là một giới hạn trong việc giữ trẻ.
*- Tôn trọng nguyên tắc ủy thác quyền. Ông bà và cha mẹ các cháu phải thống nhất ý kiến trong cách dạy dổ các cháu. Một sự lủng củng, không đồng nhất quan điểm về giáo dục khiến đứa trẻ sẽ hoang mang bối rối.
*- Ông bà phải tôn trọng các giá trị tinh thần cũng như các nguyên tắc về an ninh cho đứa trẻ. Phải hết sức thận trọng, coi chừng trẻ bị té ngã hoặc nuốt đồ vật lạ nguy hiểm.
*- Phải cương quyết tôn trọng, và bảo vệ các điểm thiết yếu về giáo dục vì đứa bé có thể khai thác sự bất đồng quan điểm của người lớn để đòi hỏi nầy nọ và lâu ngày trở nên rất khó dạy.
*- Nên nhớ mình chỉ là ông bà mà thôi, còn cách dạy dỗ là quyền của cha mẹ đứa bé. Ngoại trừ trường hợp cha mẹ đứa bé lâm trọng bệnh, ở tù hoặc đã chết thì lúc đó mình mới có thể thay mặt cha mẹ cháu trong việc giáo dục.
*- Nên tránh so bì ganh ghét lẫn nhau giữa bên nội và bên ngoại về vấn đề bên nầy có thể giàu sang hơn bên kia, nên cho ca đô lớn hơn, nhiều hơn để chinh phục tình cảm của cháu, để được cháu thương nhiều hơn (?)... Nên nghĩ đến sự an vui và hạnh phúc của cháu hơn là sự ích kỷ của người lớn.
*- Giữ cháu không có nghĩa là mình phải hy sinh cuộc sống cá nhân của mình. Từ chối babysit nếu mình cảm thấy bị lợi dụng, nhờ cậy lúc không cần thiết, hoặc mình mệt mỏi không còn hứng thú trong việc giữ cháu nữa. Phải can đảm nói rõ cảm nghĩ của mình, nói rõ lòng mình cho con cái biết.
Kết luận
Giữ cháu là một niềm vui, đồng thời cũng là một bổn phận của chúng ta trong tuổi xế chiều.
“Điều tốt đẹp nhất trên thế giới không thể nào nhận thấy được, hoặc sờ mó đến được, nó phải được cảm nhận qua con tim mà thôi”(The best and most beautiful things in the world cannot be seen,or even touched; they must be felt with the heart. Helen Keller)