Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
TỰ ĐIỂN PHỤ NỮ
Mới đây, tổ chức đàn ông thế giới đã xuất bản một cuốn sách dày ba mươi tập, nhằm giúp cho các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về phụ nữ, một phạm trù phức tạp nhất của hành tinh . Chúng tôi xin lần lượt trích đăng một số chương trong đó, để các chàng trai tội nghiệp khỏi bỡ ngỡ và có một số kiến thức cần thiết để sống sót .
Chương I: Sự khác nhau giữa phụ nữ và nai .
1. Nai ngơ ngác suốt đời. Phụ nữ chỉ ngơ ngác khi cần ngơ ngác .
2. Nai không bao giờ giả nai. Còn phụ nữ thường làm thế .
3. Nai có sừng toàn đầu. Phụ nữ có sừng trong ánh mắt.
4. Nai ăn cỏ . Còn phụ nữ thỉnh thoảng ăn nai .
5. Gặp tai nạn, nai biến thành khô nai. Còn gặp tai nạn, phụ nữ biến thành … mít ướt .
6. Nai chạy theo đàn. Phụ nữ cũng chạy theo đàn, nhưng không phải đàn nai.
7. Nai nhảy tung tăng. Phụ nữ đi tung tăng .
Chương II: Sự giống nhau của phụ nữ và cọp .
1. Cọp gầm. Phụ nữ cũng gầm.
2. Cọp uyển chuyển. Phụ nữ mềm mại .
3. Trẻ con đứa nào cũng sợ cọp và đứa nào cũng sợ mẹ mìn, mặc dù cả đời có khi không nhìn thấy .
4. Cọp được gọi là ông ba mươi, Phụ nữ được gọi là sư tử.
5. Cọp nổi tiếng về sự oai vệ . Phụ nữ nổi tiếng về sự quý phái.
6. Cọp vẫn quan tâm tới móng. Phụ nữ cũng vậy .
7. Cọp nổi tiếng về da. Phụ nữ nổi tiếng về áo quần.
8. Cọp đôi lúc chỉ vồ chứ không ăn. Phụ nữ đôi khi chỉ yêu mà không lấy .
Chương III: Sự khác nhau giữa phụ nữ và khẩu súng .
1. Súng chỉ nổ khi có người bóp cò. Phụ nữ có thể tự khai hỏa .
2. Súng có thể bắn từng viên. Phụ nữ có thể trở thành súng máy, bắn hàng loạt .
3. Khi nguy hiểm người ta mang súng bên mình. Khi hạnh phúc người ta cần phụ nữ bên mình.
4. Súng có thể cướp cò. Phụ nữ có thể nói mà không báo trước .
5. Đầu súng có lưỡi lê. Đầu phụ nữ có cái kim kẹp tóc.
6. Đàn ông có thể ra đi với một khẩu súng, và cũng có thể ra đi với một cô gái .
7. Số đàn ông bị thương vì súng luôn ít hơn số đàn ông bị thương vì phụ nữ .
8. Súng có thể hết đạn. Phụ nữ chả bao giờ .
9. Ta xách súng. Còn phụ nữ xách ta.
Chương IV: Sự giống nhau và khác nhau của phụ nữ và một con sông .
1. Sông đôi khi không biết đâu là bờ. Phụ nữ cũng thế .
2. Biết bơi đôi lúc cũng chết. Hiểu phụ nữ đôi lúc còn chết nhanh hơn.
3. Sông êm đềm. Phụ nữ phẳng lặng.
4. Sông cuốn trôi mọi thứ khi ta xuống nước. Phụ nữ cuốn trôi mọi thứ khi ta vẫn ngồi trong nhà.
5. Sông có thác. Phụ nữ có cơn .
6. Sông mát mẻ. Phụ nữ tinh khiết.
7. Sông lấp lánh dưới ánh trăng. Phụ nữ lấp lánh dưới ánh đèn
Chương I: Sự khác nhau giữa phụ nữ và nai .
1. Nai ngơ ngác suốt đời. Phụ nữ chỉ ngơ ngác khi cần ngơ ngác .
2. Nai không bao giờ giả nai. Còn phụ nữ thường làm thế .
3. Nai có sừng toàn đầu. Phụ nữ có sừng trong ánh mắt.
4. Nai ăn cỏ . Còn phụ nữ thỉnh thoảng ăn nai .
5. Gặp tai nạn, nai biến thành khô nai. Còn gặp tai nạn, phụ nữ biến thành … mít ướt .
6. Nai chạy theo đàn. Phụ nữ cũng chạy theo đàn, nhưng không phải đàn nai.
7. Nai nhảy tung tăng. Phụ nữ đi tung tăng .
Chương II: Sự giống nhau của phụ nữ và cọp .
1. Cọp gầm. Phụ nữ cũng gầm.
2. Cọp uyển chuyển. Phụ nữ mềm mại .
3. Trẻ con đứa nào cũng sợ cọp và đứa nào cũng sợ mẹ mìn, mặc dù cả đời có khi không nhìn thấy .
4. Cọp được gọi là ông ba mươi, Phụ nữ được gọi là sư tử.
5. Cọp nổi tiếng về sự oai vệ . Phụ nữ nổi tiếng về sự quý phái.
6. Cọp vẫn quan tâm tới móng. Phụ nữ cũng vậy .
7. Cọp nổi tiếng về da. Phụ nữ nổi tiếng về áo quần.
8. Cọp đôi lúc chỉ vồ chứ không ăn. Phụ nữ đôi khi chỉ yêu mà không lấy .
Chương III: Sự khác nhau giữa phụ nữ và khẩu súng .
1. Súng chỉ nổ khi có người bóp cò. Phụ nữ có thể tự khai hỏa .
2. Súng có thể bắn từng viên. Phụ nữ có thể trở thành súng máy, bắn hàng loạt .
3. Khi nguy hiểm người ta mang súng bên mình. Khi hạnh phúc người ta cần phụ nữ bên mình.
4. Súng có thể cướp cò. Phụ nữ có thể nói mà không báo trước .
5. Đầu súng có lưỡi lê. Đầu phụ nữ có cái kim kẹp tóc.
6. Đàn ông có thể ra đi với một khẩu súng, và cũng có thể ra đi với một cô gái .
7. Số đàn ông bị thương vì súng luôn ít hơn số đàn ông bị thương vì phụ nữ .
8. Súng có thể hết đạn. Phụ nữ chả bao giờ .
9. Ta xách súng. Còn phụ nữ xách ta.
Chương IV: Sự giống nhau và khác nhau của phụ nữ và một con sông .
1. Sông đôi khi không biết đâu là bờ. Phụ nữ cũng thế .
2. Biết bơi đôi lúc cũng chết. Hiểu phụ nữ đôi lúc còn chết nhanh hơn.
3. Sông êm đềm. Phụ nữ phẳng lặng.
4. Sông cuốn trôi mọi thứ khi ta xuống nước. Phụ nữ cuốn trôi mọi thứ khi ta vẫn ngồi trong nhà.
5. Sông có thác. Phụ nữ có cơn .
6. Sông mát mẻ. Phụ nữ tinh khiết.
7. Sông lấp lánh dưới ánh trăng. Phụ nữ lấp lánh dưới ánh đèn

Đôi mắt của Van Gogh
Tôi ý thức rằng hơn một trăm năm trước, chàng điên tóc đỏ Vincent Van Gogh (1853-1890) một danh họa người Hòa lan cũng đã từng sống, từng đi trên những con đường làng này. Những người nông dân hiền hòa ở đây cũng là những người nông dân năm xưa. Tôi tưởng tượng chàng điên Van Gogh được một bà hàng xóm tặng cho một gói mận tươi rồi vui vẻ nói: 'Hôm nay trời đẹp lắm. Chắc anh lại đi vẽ những cánh đồng hướng dương?'
Tôi cũng là họa sĩ và tôi cũng vẽ. Tôi họa những cánh đồng hướng dương bằng tâm của mình. Tôi yêu xứ sở này bằng tất cả tấm lòng của mình. Mỗi nghệ sĩ đều phải sáng tác bằng tình thương. Ý thức đó trong một chớp mắt, biến tôi thành họa sĩ Van Gogh. Tôi nhìn mặt trăng bằng đôi mắt Van Gogh. Giữa hai chúng tôi, sống cách nhau hơn trăm năm, nhưng chỉ có một tấm lòng. Chúng tôi đều sống xa quê hương. Hòa lan cũng là quê hương của tôi. Tôi đã lớn lên trên xứ sở hoa Tu líp từ lúc còn cắp sách đến trường tiểu học. Trong một thế kỷ đó, Hòa lan như không thay đổi gì cả. Và chàng Van Gogh vẫn còn đó, đi chơi bên những cánh đồng hoa vàng rực của miền nam nước Pháp.
Ngày xưa Van Gogh vẽ bằng cọ, để lại những tác phẩm bất hủ cho nhân loại. Còn tôi vẽ bằng tâm. Tôi vẽ lại người nông dân già, ngồi chơi trên bằng ghế, dưới một cây sung mà trái vừa chín tới. Tay ông cụ để một tay trên đầu gậy, nhớ con, nhớ cháu, rồi mỉm cười một mình, nghĩ đến thời tiết mùa Hè. Tôi đến gần, chào cụ, lễ phép xin cụ cho tôi hái vài trái lựu đang chín phía sau nhà. Cụ già nhìn tôi, nhìn chàng điên tóc đỏ Van Gogh, rồi nhìn thấy đứa con, thằng cháu đang lang bạt đâu đó trên xứ người và đang xin từ cụ một vài trái lựu đỏ. Cụ già nói: 'Con hái đi. Nhưng con nhớ là chỉ được hái hai ba trái thôi đó.' Tôi hiểu cụ. Tôi chỉ được hái hai, ba trái lựu và muốn ăn nữa thì tôi lại phải xin. Rồi cụ lại có dịp nhìn đứa con, thằng cháu lưu lạc của cụ, vui vẻ nói với nó điều gì đó, với tất cả tình thương của mình.
Van Gogh chỉ có một quê hương để xa cách. Còn tôi, tôi phải sống xa tới hai quê hương. Tôi từng cảm thấy cô đơn. Tôi nghĩ đến sự cô đơn của Van Gogh. Nhưng bây giờ thì tôi hiểu, Van Gogh không chỉ có sự cô đơn mà thôi. Những bức tranh của chàng đẹp quá. Những bức tranh đã vẽ bằng tất cả tình thương của chàng. Tình thương đó, chàng đã tiếp nhận từ những ông bà cụ, lâu lâu cho chàng một trái táo, quả lê hay chùm nho xanh. Ở đâu, tình người cũng đẹp cả. Và tôi hiểu, chỉ cần biết tiếp nhận tình người, thì ở đâu ta cũng sống sâu sắc. Ta sẽ không lưu lạc nữa. Ta sẽ trở về căn nhà của tình thương, cảm thấy ấm cúng ở trong lòng. Ta sẽ biết rong chơi trên quả đất xinh đẹp này.
Em ơi, chàng điên Van Gogh đã chết trong sự cô đơn cùng cực, tự cắt lấy trái tai của mình, la hét trong một nhà thương điên. Người ta đã nói về chàng điên như vậy. Nhưng người ta đâu có sống ở đây như tôi và có thể người ta chưa nhìn sâu vào những bức tranh của chàng. Những bức tranh nằm trên khung vải và những bức tranh nằm trong sự sống. Những bức tranh đó đẹp lắm. Mà cái làm cho những bức tranh trở nên đẹp là tình người. Chính tình thương đã khiến cho những bức tranh của Van Gogh trở thành vô giá. Kỹ thuật vẽ của Van Gogh ư? Nó nằm ở tấm lòng của chàng. Chàng Van Gogh đã rong chơi thỏa thuê, đã vẽ và để lại cho cuộc đời một tấm lòng,một đôi mắt. Em hãy dùng đôi mắt đó mà nhìn tranh Van Gogh. Em hãy dùng đôi mắt đó mà nhìn cuộc đời. Và hãy biết rong chơi.
Pháp, 08 – 2007.
* Lữ.
Không Thể Tìm Đâu Ra
Tôi và bạn gái Mộng Mơ đã quyết định đi đến hôn nhân trong thời gian tới.
Mọi thứ đều tươi đẹp đối với tôi trong thời gian này chỉ có một điều duy nhất làm tôi phân tâm đó là... cô em gái xinh đẹp của bạn gái tôi.
Cô em vợ tương lai của tôi năm nay 18 tuổi, hay mặc những chiếc áo bó sát người và thường thì không mặc áo trong. Cô ấy luôn cúi thấp người mỗi khi đứng cạnh tôi và dường như luôn để cho tôi một góc nhìn không thể "chuẩn" hơn.
Tôi không thể không để tâm tới chuyện này bởi vì cô em vợ tương lai của tôi không bao giờ làm điều tương tự với những người khác.
Vào một ngày đẹp trời, cô em vợ tương lai bé bỏng và xinh đẹp của tôi gọi điện thoại cho tôi và mời tôi đến nhà để kiểm tra lại giấy mời cho đám cưới.
Khi tôi đến chỉ có mình cô ở nhà, cô đến bên tôi và thì thầm với tôi rằng cô rất yêu tôi và không thể cưỡng lại được tình cảm của mình. Cô nói rằng cô muốn có tôi, dù chỉ một lần trong đời trước khi tôi làm đám cưới với chị của cô ta.
Lúc đó tôi không thể thốt ra một lời nào và cảm thấy rất lúng túng thì cô ta nói:
- Bây giờ em sẽ lên phòng của em trên gác, nếu anh muốn thì hãy lên đó với em.
Tôi đứng im như pho tượng và nhìn cô ấy đi lên gác. Tôi đứng đó như vậy một lúc rồi quyết định quay lại thẳng tiến ra cửa trước. Tôi mở cửa và CHẠY ĐẾN CHIẾC Ô TÔ của tôi.
Thì lạ chưa kìa, trước mắt của tôi là cả gia đình nhà vợ chưa cưới của tôi (PNCO et al)đang đứng đó và vỗ tay. Với đôi mắt rơm rớm nước và giọng nói xúc động, bố vợ tương lai của tôi nói với tôi rằng:
- Gia đình ta rất vui sướng khi con đã vượt qua được bài kiểm tra nhỏ của ta. Ta sẽ không thể tìm đâu ra được một người đàn ông tốt và xứng đáng hơn hơn con cho con gái của ta. Chào mừng con đến với gia đình ta!
Tôi quả thật là một người may mắn! Nhân đây, xin nhắn các bạn: Hãy luôn để bao cao su trong ô tô của mình, bạn sẽ luôn luôn gặp may mắn !
(-:)
Mọi thứ đều tươi đẹp đối với tôi trong thời gian này chỉ có một điều duy nhất làm tôi phân tâm đó là... cô em gái xinh đẹp của bạn gái tôi.
Cô em vợ tương lai của tôi năm nay 18 tuổi, hay mặc những chiếc áo bó sát người và thường thì không mặc áo trong. Cô ấy luôn cúi thấp người mỗi khi đứng cạnh tôi và dường như luôn để cho tôi một góc nhìn không thể "chuẩn" hơn.
Tôi không thể không để tâm tới chuyện này bởi vì cô em vợ tương lai của tôi không bao giờ làm điều tương tự với những người khác.
Vào một ngày đẹp trời, cô em vợ tương lai bé bỏng và xinh đẹp của tôi gọi điện thoại cho tôi và mời tôi đến nhà để kiểm tra lại giấy mời cho đám cưới.
Khi tôi đến chỉ có mình cô ở nhà, cô đến bên tôi và thì thầm với tôi rằng cô rất yêu tôi và không thể cưỡng lại được tình cảm của mình. Cô nói rằng cô muốn có tôi, dù chỉ một lần trong đời trước khi tôi làm đám cưới với chị của cô ta.
Lúc đó tôi không thể thốt ra một lời nào và cảm thấy rất lúng túng thì cô ta nói:
- Bây giờ em sẽ lên phòng của em trên gác, nếu anh muốn thì hãy lên đó với em.
Tôi đứng im như pho tượng và nhìn cô ấy đi lên gác. Tôi đứng đó như vậy một lúc rồi quyết định quay lại thẳng tiến ra cửa trước. Tôi mở cửa và CHẠY ĐẾN CHIẾC Ô TÔ của tôi.
Thì lạ chưa kìa, trước mắt của tôi là cả gia đình nhà vợ chưa cưới của tôi (PNCO et al)đang đứng đó và vỗ tay. Với đôi mắt rơm rớm nước và giọng nói xúc động, bố vợ tương lai của tôi nói với tôi rằng:
- Gia đình ta rất vui sướng khi con đã vượt qua được bài kiểm tra nhỏ của ta. Ta sẽ không thể tìm đâu ra được một người đàn ông tốt và xứng đáng hơn hơn con cho con gái của ta. Chào mừng con đến với gia đình ta!
Tôi quả thật là một người may mắn! Nhân đây, xin nhắn các bạn: Hãy luôn để bao cao su trong ô tô của mình, bạn sẽ luôn luôn gặp may mắn !

Thư Gởi Ca Sĩ Phương Dung
Nguyễn văn Hoàng
cc: anh chị em nghệ sĩ Thưa cô Phương Dung,
Bức thư này cháu xin gởi cho cô, nhưng đồng thời cũng mong được các anh chị em nghệ sĩ trong và ngoài nước đọc chung, để chia sẻ tấm lòng của một người xa xứ.
Cháu là Hoàng, hiện ở Úc, đang sống chung với gia đình một anh bạn mà anh ta là người cô nuôi dưỡng trong nhà trước năm 1975. Thân phụ của cháu cũng là người đồng hương (Gò Công) của cô và biết phu quân của cô. Với quan hệ này, cháu thuộc hàng con cháu của cô, nên xin đuợc xưng là cháu.
Đọc được cuộc phỏng vấn của Nhiêu Huy thực hiện với cô, cháu có nhiều cảm xúc. Cháu đã chảy nước mắt.
Cũng như nhiều nghệ sĩ Việt Nam từng vượt biên ra hải ngoại, cô đã về nước và đã hát. Lòng hoài cựu, nhớ cố hương thì ai mà chẳng có, nên cháu không ngạc nhiên khi thấy cô về VN biểu diễn, nhưng cháu tự hỏi tại sao ngày trước nhà nước CSVN mắng chúng ta, trong đó có cô, là ma cô, đỉ điếm, bây giờ thì họ lại hoan nghênh cô về nước, còn tạo cơ hội cho cô hát trước đồng hương. Họ đã thay đổi chăng?
Thưa cô, thật vậy, sự thay đổi của nhà nước CSVN hẳn là có, thay đổi từ chủ trương kinh tế, đến thái độ đối với những người mà họ từng nguyền rủa. Không có gì là bất biến, thưa cô, trừ một điều, đó là lòng tham của những kẻ ích kỷ. CSVN một thời cầm súng, lấy của của người miền Bắc rồi miền Nam, bây giờ họ giàu nức tường đổ vách. Cầm súng để đoạt của cải người ta là ăn cướp. Ăn cướp cũng có thể hoàn lương, nhưng cô nhìn xem, các ông bà tư bản đỏ vẫn ngày càng giàu sụ, còn người dân thì đói. Lòng tham của họ bất biến. Chính vì có những người dân nghèo nên cô móc tiền túi ra làm từ thiện, nhưng các ông bà CSVN thì không, tiền họ vẫn đút túi. Có thể cô là người có cái tâm tốt, nhưng họ, CSVN, là người có cái trí khôn. Họ, trước thì dùng bạo lực lấy của, giờ thì dùng mưu mẹo, ra nghị quyết 36, dụ dỗ những người có cái tâm tốt mà kém trí như cô về làm thay công tác xã hội cho họ.
Số tiền tham nhũng, ăn trên xương máu của đồng bào của một tên trong đám tư bản đỏ đủ để xây hàng chục ngôi trường, hàng chục nhà thương. Nhưng họ nào có bỏ ra. Cái họ bỏ ra là một chút mẹo vặt và cô cùng những đồng hương nhẹ dạ nhào ra vốc túi. Chính trị là như vậy.
Trong khi đó, thưa cô, có những người thấy được sự nghèo khó của dân mình là do sự tham nhũng, tham quyền, ích kỷ và vô trách nhiệm của nhà nước CS. Họ muốn giải quyết tận gốc, họ lên tiếng đấu tranh và bị tù đày.
Những dòng nước mắt của cháu chảy ra khi đọc bài phỏng vấn của cô là cho những chiến sĩ này. Trong khi họ chiến đấu cho cái lớn lao, bị đày ải, thì cô vui vẻ hợp tác với cái chính quyền mưu mẹo, tham lam ấy. Cháu khóc cho dân tộc mình, sao lại có những người ngu muội như cô. Cháu hiểu được tại sao nước mình vẫn bị đám CSVN đểu cáng tham lam đè đầu, lý do đơn giản là vì có nhiều người như cô.
Tại sao họ lại phỏng vấn cô, hoan nghênh cô lên sân khấu? Có phải vì giọng ca của cô hay chăng? Thưa cô, năm nay cô đã đáng tuổi bà nội, bà ngoại rồi, tiếng hát "Yamaham" của cô làm sao mà so sánh với những giọng ca trẻ trong nước. Nhưng cô vẫn rất có giá, bởi vì cô là một nhân vật của quần chúng hải ngoại. Cô làm thì người ta bắt chước. Vì vậy mà Việt Cộng dụ cô, cũng như dụ những nghệ sĩ Việt Nam ở hải ngoại khác.
Có thể cô không ngu muội như cháu tưởng, cô thấy được chiều sâu của nghị quyết 36, nhưng cô vẫn về, vẫn hát, vì một niềm vui riêng, hay một ít bả vinh hoa cuối đời.
Cô ơi, sao bỗng trong lòng cháu dâng lên một niềm khinh miệt. CSVN như những con cọp, chè chén trên thịt của những con nai. Cô thì trồng cỏ nuôi nai, để thỉnh thoảng được VC pha một ngọn đèn sân khấu.
Trong giấc mơ, cháu mộng tưởng cô lên tiếng một lần cho những người trong lao tù đang đấu tranh chống tập đoàn hổ báo CS, đấu tranh cho tự do và dân chủ cho dân tộc. Giật mình tỉnh dậy, ôi thôi, thấy cô đang nhoẻn cười chải lông cho hổ báo. Dù con Nhạn Trắng Gò Công mặc bao nhiêu lớp áo dài mượt mà, dù cô có đứng dưới bao nhiêu ngọn đèn sân khấu lấp lánh, cháu e rằng cái khối bầy nhầy nho nhỏ trong đầu của cô cũng không sáng bao nhiêu.
Kính chào cô,
Nguyễn văn Hoàng
(Úc châu)
Vẫn Còn Những Người Tử Tế –
Huy Phương Hôm qua, trong một khu thương mãi đông người, lúc từ parking lái xe lùi lại, tôi nghe chiếc xe trước mặt đang bóp còi và người lái xe hình như đang nhắm vào tôi. Theo phản xạ tôi đạp thắng, và bực mình đưa hai cánh tay lên phác một cử chỉ khó chịu, có ý muốn bảo mình đã làm gì trái khiến cho tên kia phải nhấn còi. Nhưng chỉ mấy giây sau, tôi nhận ra phía bên kia một chiếc xe cũng đang lùi ra từ chỗ đậu, và nếu tôi không đạp thắng theo phản xạ vì tiếng còi kia thì hai xe đã đụng nhau từ phía sau. Người lái xe kia thấy sự việc và đã nhấn còi để giúp tôi, trong lúc tôi lại nghĩ xấu về y. Khi tôi biết hổ thẹn muốn làm một cử chỉ cám ơn thì người kia đã lái xe đi mất rồi.
Cũng như cách đây khá lâu, một hôm trời đã tối, tôi đang hối hả lái xe về nhà, thì bên trái tôi, một chiếc xe do một phụ nữ Mỹ lái, chạy theo bên cạnh, bóp còi nhẹ nhiều lần. Tôi có ngay ý nghĩ là cô ta muốn qua mặt mình hay bất bình vì tôi chạy chậm, miệng định thốt ra một tiếng càu nhàu. Nhưng không, khi hai xe đi song song với nhau, nhìn sang, tôi thấy người đàn bà đang cố ra dấu cho biết là tôi quên bật đèn xe.
Trong khu chung cư này, một đêm tôi có việc phải về khuya, khi chuẩn bị tắt đèn lên giường thì có tiếng gõ cửa. Nhìn qua “lỗ nhìn” trên cửa, tôi bực mình thấy ông hàng xóm đang đứng “chần vần” trước cửa nhà, nghĩ bụng chắc lại than phiền điều gì đây. Nhưng không, khi mở cửa ra, ông hàng xóm nhỏ nhẹ báo cho tôi biết tôi đã quên tắt đèn cái xe cổ lổ của tôi. Thì ra ông cũng mới đi đâu về, đậu xe cạnh xe tôi trong “car port”, có nhã ý muốn nhắc tôi kẻo ngày mai lại đi kiếm người câu giây bình như mọi lần. Đúng là láng giềng khi “tối lửa tắt đèn có nhau”, vậy mà tôi cứ nghĩ xấu cho ông. Cũng có những lúc tôi quên đóng nắp bình xăng, quên tắt đèn sau khi đã vào parking hay để cửa thùng xe mở trong khi đang lái xe, trong tất cả trường hợp đó đều có người tốt bụng nhắc nhở cho tôi. Đó là những người qua đường không quen biết gì với tôi, có khi cũng chẳng phải là đồng bào của tôi.
Tôi biết, ở nhiều khu nhà sang trọng khác, có những người thường canh chừng cho nhau những lúc chủ không có nhà, chào hỏi nhau mỗi lúc gặp gỡ, nhưng đã không ngần ngại bốc điện thoại gọi cảnh sát mỗi khi có điều bất như ý như một buổi họp mặt bạn bè trễ trong đêm gây ồn ào hay là tiếng con chó sủa. Với bản tính “tự vệ”, nhiều người như một con nhím, luôn luôn xù lông bắn ra những mũi tên nhọn mỗi khi có vật lạ đến gần. Thường thì con người luôn luôn đề phòng những kẻ xấu quanh mình, nhưng thật ra, mọi người ai cũng có lòng tốt, muốn giúp người khác hơn là những gì nghĩ về họ.
Đã xẩy ra nhiều trường hợp gia đình được thân nhân bảo lãnh qua đây, nhường phòng cho ở, được lo từ chuyện giấy tờ, đưa đón, làm thủ tục xin số an sinh xã hội, thi bằng lái xe, đứng ra thuê nhà, chuyên chở đồ đạc giúp, nhưng chỉ cần, một hôm nào đó, chỉ vì một lời nói, một cử chỉ sơ suất làm cho họ phật lòng, thì bao nhiêu điều giúp đỡ trong phút chốc tiêu tan, ơn nghĩa trở thành oán thù, có khi hai gia đình, vốn là anh em ruột thịt, không còn nhìn mặt nhau nữa. Có những người bạn thân thiết, chơi thân với nhau từ thuở nhỏ, nhưng trong một khoảnh khắc, họ trở thành những người xa lạ với nhau, thậm chí coi nhau như kẻ thù, vì một hai điều bất như ý về cử chỉ hay lời nói đụng chạm đến quyền lợi hay tự ái của nhau. Họ mau quên những điều tốt của bạn bè, thân bằng quyến thuộc, mà chỉ canh cánh bên lòng những điều bất như ý.
Cũng như đã có bao nhiêu lời oán trách, khinh bỉ khi chúng ta nói đến đồng minh lớn nhất của miền Nam Việt Nam là nước Mỹ. “Nước Mỹ đã tháo chạy”, “nước Mỹ đã phản bội”, “đồng minh như thế đó thì đâu cần đến kẻ thù”, những người chửi Mỹ hăng hái nhất chính là những người đã chịu ơn nước Mỹ, không khác gì những Tướng Lãnh đã giết một Tổng Thống mà họ đã chịu ơn như câu chuyện của ba mươi lăm năm về trước. Trong một chủ trương nào đó của những người lãnh đạo nước Mỹ và cả thế cờ của thế giới, miền Nam phải mất vào tay Cộng Sản, tội lỗi này chúng ta thường oán hận và đổ lên đầu nước Mỹ, mà quên nghĩ đến tội lỗi của mình: “tôi làm tôi mất nước”.(*) Nhưng chúng ta làm sao khỏi ngậm ngùi khi nghĩ đến 58,929 binh sĩ Mỹ đã bỏ mình (gồm có 11,465 thiếu niên Mỹ dưới tuổi thành niên) và hơn 300,000 người đã bị thương trong cuộc chiến này và hiện nay nhiều người còn mang thương tật thể xác và thương tổn về tâm lý. Hơn 1 triệu người Việt đã đến Mỹ bằng những con đường khác nhau và được nhân dân Mỹ giang tay và mở tấm lòng đón nhận trong những ngày đầu chân ướt chân ráo đến đây, trong đó có hơn 300,000 cựu tù nhân đã bị giam cầm trong các trại “cải tạo” cùng với gia đình đã được định cư tại Mỹ. Cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Mỹ chưa bao giờ có ý định ngồi lại với nhau để có một ngày tri ân nước Mỹ. Đã vậy lại còn thường dùng chính đồng tiền đóng thuế của dân Mỹ để “tiếp máu” cho một chế độ mà từ đó mình không sống nổi phải bỏ ra đi. Nếu cần chửi Mỹ thì bạn tôi luôn luôn đi hàng đầu. Để giải thích cho sự hiện diện của mình tại đất nước này, người này nói: “Người Mỹ có trách nhiệm phải mang tôi đến đây!”
Trong cuộc sống có khi chúng ta ngồi trách móc hết người này đến người nọ, bạn bè không nhờ cậy được, thân bằng quyến thuộc vô tâm, vợ con không hết lòng, rút cuộc thu rút lại trong vỏ kén, vò võ sống một mình. Khi đã như vậy, thì mình cũng chẳng tử tế với ai, nói gì chuyện giúp đỡ hay cảm thông với người khác. Khi một người đã nghĩ ai cũng đối xử không tốt với mình thì làm sao mình tốt với người khác được. Tôi biết nhiều người sống nhờ vả rất nhiều người nhưng luôn luôn than trách không ai giúp đỡ mình, cuối cũng đã để lộ ra cái bản chất của người vô ơn.
Chúng ta còn nhớ chuyện cách đây một vài năm một người đàn ông bị lên cơn đau tim đột ngột, không kiểm soát được chiếc xe đang lái trên một đoạn đường xa lộ đông xe rất nguy hiểm, một phụ nữ đang lái xe gần đó đã bỏ xe mình, tìm cách chạy bộ theo chiếc xe kia để giúp cho người lái xe đang lâm nguy dừng xe lại an toàn. Bạn cứ tin tôi đi, sáng nay bạn lái xe ra đường, nếu có chuyện gì xẩy ra, sẽ có rất nhiều người giúp bạn mà không hề có sự đắn đo, suy nghĩ, kể cả chuyện họ có thể hy sinh mạng sống. Đó có thể là một người da đen, một “thằng” Mễ - như giọng nói khinh miệt của bạn, một người da trắng qua đường hay một người cảnh sát. Chung quanh bạn là những người tốt bụng, họ vui lòng giúp bạn nếu cần, nhất là trong lúc gặp nguy hiểm. Bạn không bao giờ cô đơn đâu, và tôi nghĩ cuộc đời này cũng đẹp đẽ, đáng sống lắm chứ?
(*) Chữ của nhà văn Lê Văn Phúc- Virginia
Xin tìm đọc “NHÌN XUỐNG CUỘC ĐỜI”, tuyển tập tạp ghi thứ 4 của Huy Phương. Xin gọi số (949) 654-7715 nếu bạn muốn sách có chữ ký tác gỉa và gởi tận nhà.
HUY PHƯƠNG
Huy Phương Hôm qua, trong một khu thương mãi đông người, lúc từ parking lái xe lùi lại, tôi nghe chiếc xe trước mặt đang bóp còi và người lái xe hình như đang nhắm vào tôi. Theo phản xạ tôi đạp thắng, và bực mình đưa hai cánh tay lên phác một cử chỉ khó chịu, có ý muốn bảo mình đã làm gì trái khiến cho tên kia phải nhấn còi. Nhưng chỉ mấy giây sau, tôi nhận ra phía bên kia một chiếc xe cũng đang lùi ra từ chỗ đậu, và nếu tôi không đạp thắng theo phản xạ vì tiếng còi kia thì hai xe đã đụng nhau từ phía sau. Người lái xe kia thấy sự việc và đã nhấn còi để giúp tôi, trong lúc tôi lại nghĩ xấu về y. Khi tôi biết hổ thẹn muốn làm một cử chỉ cám ơn thì người kia đã lái xe đi mất rồi.
Cũng như cách đây khá lâu, một hôm trời đã tối, tôi đang hối hả lái xe về nhà, thì bên trái tôi, một chiếc xe do một phụ nữ Mỹ lái, chạy theo bên cạnh, bóp còi nhẹ nhiều lần. Tôi có ngay ý nghĩ là cô ta muốn qua mặt mình hay bất bình vì tôi chạy chậm, miệng định thốt ra một tiếng càu nhàu. Nhưng không, khi hai xe đi song song với nhau, nhìn sang, tôi thấy người đàn bà đang cố ra dấu cho biết là tôi quên bật đèn xe.
Trong khu chung cư này, một đêm tôi có việc phải về khuya, khi chuẩn bị tắt đèn lên giường thì có tiếng gõ cửa. Nhìn qua “lỗ nhìn” trên cửa, tôi bực mình thấy ông hàng xóm đang đứng “chần vần” trước cửa nhà, nghĩ bụng chắc lại than phiền điều gì đây. Nhưng không, khi mở cửa ra, ông hàng xóm nhỏ nhẹ báo cho tôi biết tôi đã quên tắt đèn cái xe cổ lổ của tôi. Thì ra ông cũng mới đi đâu về, đậu xe cạnh xe tôi trong “car port”, có nhã ý muốn nhắc tôi kẻo ngày mai lại đi kiếm người câu giây bình như mọi lần. Đúng là láng giềng khi “tối lửa tắt đèn có nhau”, vậy mà tôi cứ nghĩ xấu cho ông. Cũng có những lúc tôi quên đóng nắp bình xăng, quên tắt đèn sau khi đã vào parking hay để cửa thùng xe mở trong khi đang lái xe, trong tất cả trường hợp đó đều có người tốt bụng nhắc nhở cho tôi. Đó là những người qua đường không quen biết gì với tôi, có khi cũng chẳng phải là đồng bào của tôi.
Tôi biết, ở nhiều khu nhà sang trọng khác, có những người thường canh chừng cho nhau những lúc chủ không có nhà, chào hỏi nhau mỗi lúc gặp gỡ, nhưng đã không ngần ngại bốc điện thoại gọi cảnh sát mỗi khi có điều bất như ý như một buổi họp mặt bạn bè trễ trong đêm gây ồn ào hay là tiếng con chó sủa. Với bản tính “tự vệ”, nhiều người như một con nhím, luôn luôn xù lông bắn ra những mũi tên nhọn mỗi khi có vật lạ đến gần. Thường thì con người luôn luôn đề phòng những kẻ xấu quanh mình, nhưng thật ra, mọi người ai cũng có lòng tốt, muốn giúp người khác hơn là những gì nghĩ về họ.
Đã xẩy ra nhiều trường hợp gia đình được thân nhân bảo lãnh qua đây, nhường phòng cho ở, được lo từ chuyện giấy tờ, đưa đón, làm thủ tục xin số an sinh xã hội, thi bằng lái xe, đứng ra thuê nhà, chuyên chở đồ đạc giúp, nhưng chỉ cần, một hôm nào đó, chỉ vì một lời nói, một cử chỉ sơ suất làm cho họ phật lòng, thì bao nhiêu điều giúp đỡ trong phút chốc tiêu tan, ơn nghĩa trở thành oán thù, có khi hai gia đình, vốn là anh em ruột thịt, không còn nhìn mặt nhau nữa. Có những người bạn thân thiết, chơi thân với nhau từ thuở nhỏ, nhưng trong một khoảnh khắc, họ trở thành những người xa lạ với nhau, thậm chí coi nhau như kẻ thù, vì một hai điều bất như ý về cử chỉ hay lời nói đụng chạm đến quyền lợi hay tự ái của nhau. Họ mau quên những điều tốt của bạn bè, thân bằng quyến thuộc, mà chỉ canh cánh bên lòng những điều bất như ý.
Cũng như đã có bao nhiêu lời oán trách, khinh bỉ khi chúng ta nói đến đồng minh lớn nhất của miền Nam Việt Nam là nước Mỹ. “Nước Mỹ đã tháo chạy”, “nước Mỹ đã phản bội”, “đồng minh như thế đó thì đâu cần đến kẻ thù”, những người chửi Mỹ hăng hái nhất chính là những người đã chịu ơn nước Mỹ, không khác gì những Tướng Lãnh đã giết một Tổng Thống mà họ đã chịu ơn như câu chuyện của ba mươi lăm năm về trước. Trong một chủ trương nào đó của những người lãnh đạo nước Mỹ và cả thế cờ của thế giới, miền Nam phải mất vào tay Cộng Sản, tội lỗi này chúng ta thường oán hận và đổ lên đầu nước Mỹ, mà quên nghĩ đến tội lỗi của mình: “tôi làm tôi mất nước”.(*) Nhưng chúng ta làm sao khỏi ngậm ngùi khi nghĩ đến 58,929 binh sĩ Mỹ đã bỏ mình (gồm có 11,465 thiếu niên Mỹ dưới tuổi thành niên) và hơn 300,000 người đã bị thương trong cuộc chiến này và hiện nay nhiều người còn mang thương tật thể xác và thương tổn về tâm lý. Hơn 1 triệu người Việt đã đến Mỹ bằng những con đường khác nhau và được nhân dân Mỹ giang tay và mở tấm lòng đón nhận trong những ngày đầu chân ướt chân ráo đến đây, trong đó có hơn 300,000 cựu tù nhân đã bị giam cầm trong các trại “cải tạo” cùng với gia đình đã được định cư tại Mỹ. Cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Mỹ chưa bao giờ có ý định ngồi lại với nhau để có một ngày tri ân nước Mỹ. Đã vậy lại còn thường dùng chính đồng tiền đóng thuế của dân Mỹ để “tiếp máu” cho một chế độ mà từ đó mình không sống nổi phải bỏ ra đi. Nếu cần chửi Mỹ thì bạn tôi luôn luôn đi hàng đầu. Để giải thích cho sự hiện diện của mình tại đất nước này, người này nói: “Người Mỹ có trách nhiệm phải mang tôi đến đây!”
Trong cuộc sống có khi chúng ta ngồi trách móc hết người này đến người nọ, bạn bè không nhờ cậy được, thân bằng quyến thuộc vô tâm, vợ con không hết lòng, rút cuộc thu rút lại trong vỏ kén, vò võ sống một mình. Khi đã như vậy, thì mình cũng chẳng tử tế với ai, nói gì chuyện giúp đỡ hay cảm thông với người khác. Khi một người đã nghĩ ai cũng đối xử không tốt với mình thì làm sao mình tốt với người khác được. Tôi biết nhiều người sống nhờ vả rất nhiều người nhưng luôn luôn than trách không ai giúp đỡ mình, cuối cũng đã để lộ ra cái bản chất của người vô ơn.
Chúng ta còn nhớ chuyện cách đây một vài năm một người đàn ông bị lên cơn đau tim đột ngột, không kiểm soát được chiếc xe đang lái trên một đoạn đường xa lộ đông xe rất nguy hiểm, một phụ nữ đang lái xe gần đó đã bỏ xe mình, tìm cách chạy bộ theo chiếc xe kia để giúp cho người lái xe đang lâm nguy dừng xe lại an toàn. Bạn cứ tin tôi đi, sáng nay bạn lái xe ra đường, nếu có chuyện gì xẩy ra, sẽ có rất nhiều người giúp bạn mà không hề có sự đắn đo, suy nghĩ, kể cả chuyện họ có thể hy sinh mạng sống. Đó có thể là một người da đen, một “thằng” Mễ - như giọng nói khinh miệt của bạn, một người da trắng qua đường hay một người cảnh sát. Chung quanh bạn là những người tốt bụng, họ vui lòng giúp bạn nếu cần, nhất là trong lúc gặp nguy hiểm. Bạn không bao giờ cô đơn đâu, và tôi nghĩ cuộc đời này cũng đẹp đẽ, đáng sống lắm chứ?
(*) Chữ của nhà văn Lê Văn Phúc- Virginia
Xin tìm đọc “NHÌN XUỐNG CUỘC ĐỜI”, tuyển tập tạp ghi thứ 4 của Huy Phương. Xin gọi số (949) 654-7715 nếu bạn muốn sách có chữ ký tác gỉa và gởi tận nhà.
HUY PHƯƠNG
TÌNH YÊU TRƯỚC VÀ SAU
Gã Siêu
Nếu so sánh giữa con người với con vật, gã nghiệm ra rằng: Trong khi con vật luôn dẫm chân tại chỗ, trước sau như một, ngày xưa và hôm nay vẫn cứ y như thế, thì con người biến đổi không ngừng.
Gã xin đưa ra một vài thí dụ điển hình:
Con chim ngày xưa làm tổ thế nào, thì hôm nay nó vẫn làm tổ như vậy, cho dù chiếc tổ ấy được đan bằng những cọng cỏ khô thật tỉ mỉ và khéo léo.
Con ong ngày xưa kéo mật thế nào, thì hôm nay nó vẫn kéo mật như vậy, cho dù mật ong có hương vị thơm ngon tuyệt vời.
Dầu vậy, thỉnh thoảng gã cũng thấy con vật này hay con vật kia có những hành động khác thường, chẳng hạn: con sáo biết nói, con gấu biết đi xe đạp, con khỉ biết nhảy dây… Sở dĩ chúng làm được như vậy là do dày công tập luyện, để rồi hành động theo phản xạ, chứ không phải hành động theo bản năng.
Trong khi đó, con người không ngừng biến đổi và tạo nên những tiến bộ trong mọi lãnh vực.
Chẳng hạn trong lãnh vực ăn. Ngày xưa người ta ăn tươi nuốt sống, còn hôm nay chúng ta đã biết nấu chín và chế biến thành những món đặc sản, cao lương mỹ vị.
Chẳng hạn trong lãnh vực mặc. Ngày xưa người ta lấy lá cây hay da thú mà che thân, còn hôm nay chúng ta đã biết dệt nên bao nhiêu loại vải, đã biết may thành bao nhiêu mẫu mã áo quần.
Trong lãnh vực ở. Ngày xưa người ta ở hang, ở lỗ, còn ngày nay chúng ta đã biết xây dựng những tòa nhà nhiều tầng, thậm chí còn có cả những tòa nhà chọc trời.
Trong lãnh vực đi, ngày xưa người ta đi bộ, đi voi, đi ngựa, còn ngày nay chúng ta đã có được biết bao nhiêu phương tiện di chuyển như xe đạp, xe máy, xe hơi, tàu thủy, tàu hỏa, tàu bay, thậm chí còn có cả những phi thuyền, hỏa tiễn để chinh phục không gian.
Hôm nay gã xin “tán hươu tán vượn” với bàn dân thiên hạ về những biến đổi trong tình yêu. Đặc biệt là những biến đổi nơi anh đờn ông con giai trong quãng đời… làm chồng của mình.
Về tình yêu của anh chồng dành cho chị vợ, có người đã chia ra thành ba thời kỳ hay ba giai đoạn, nhưng cũng có người chỉ chia ra làm hai thời kỳ hay hai giai đoạn mà thôi.
Dựa vào những suy nghĩ cá nhân cũng như dựa vào những kinh nghiệm xương máu của các chiến hữu trên khắp các vùng chiến thuật, gã sẽ bàn tới những thời kỳ hay những giai đoạn này.
Trước hết về ba thời kỳ, hay ba giai đoạn của tình yêu.
Theo tác giả Kim Vốn trên báo “Phụ Nữ Chủ Nhật” thì đối với nhiều chuyên gia tâm lý, tình yêu có thể được chia thành ba giai đoạn, đó là sáu tuần, sáu tháng và sáu năm với “các thái độ ứng xử được thích nghi cho phù hợp”, đi từ chiều chuộng, sang chăm sóc một cách miễn cưỡng, để rồi cuối cùng…người vợ chẳng còn một ký lô gà ram nào sốt!
Sự phân chia này được trình bày bằng lời nói cũng như bằng giọng nói của anh chồng như sau :
Tình yêu theo thời gian
6 tuần: Anh yêu em!
6 tháng: Thì anh yêu em mà!
6 năm: Nếu không yêu cô thì tôi đã bỏ quách đi từ lâu rồi!
6 tuần: Em yêu, mẹ gọi điện thoại cho em nè!
6 tháng: Điện thoại của em đó!
6 năm: Điện hoài điện hủy!
6 tuần: Anh nghĩ rằng em rất thích có chiếc nhẫn ấy.
6 tháng: Ít ra chiếc lọ cũng có ích vì nó dùng để cắm hoa.
6 năm: Ừ thì cứ mua thứ gì mà cô muốn!
6 tuần: Ồ, không việc gì đâu
6 tháng: Cẩn thận, coi chừng vỡ
6 năm: Trời ơi, người đâu và vụng về đến thế!
6 tuần: Em mà nấu thì sẽ có một bữa ăn ngon lành.
6 tháng: Tối nay chúng ta sẽ ăn gì đây?
6 năm: Ngày nào cũng trứng luộc thì chịu làm sao được?
6 tuần: Với chiếc áo đầm này, em mới đẹp làm sao?
6 tháng: Lại một chiếc áo đầm nữa à?
6 năm: Bao nhiêu chiếc áo đầm mới đủ cho cô đây?
6 tuần: Anh đã cắt cỏ vườn, em khỏi phải quan tâm nữa.
6 tháng: Chiếc máy cắt cỏ hết mẹ nó xăng!
6 năm: Hôm nay cô đi mà cắt cỏ vườn.
6 tuần: Anh đã mướn cho em một cuốn phim thật hay
6 tháng: Có thật là em muốn xem cuốn phim đó không?
6 năm: Tối nay có bóng đá, cô để TV đó cho tôi.
Gã cũng đã sưu tầm được một số hình ảnh khác rất cụ thể về ba giai đoạn của tình yêu, nhưng mang tính cách trung lập hơn, khách quan hơn và vô tư hơn, không ngả bên này cũng không nghiêng bên nọ, không bênh chị vợ mà hạ thấp anh chồng, hay ngược lại hạ thấp chị vợ mà bênh anh chồng.
Gã tạm gọi ba giai đoạn này là : Trước, liền sau và lâu sau.
Với những người thích màu sắc, thì trước khi cưới là một màu hồng rực rỡ, liền sau khi cưới là một màu trắng nhạt, còn lâu sau khi cưới là một màu xám ảm đạm.
Với những người thích nghiên cứu về thời tiết, thì trước khi cưới là những ngày mùa xuân nắng ấm, liền sau khi cưới là những ngày hè thu oi bức hay mưa dông, còn lâu sau khi cưới là những ngày dài mùa đông lạnh giá.
Với những người thích âm thanh, trước khi cưới anh nói thì em nghe và em nói thì anh nghe, liền sau khi cưới, anh nói thì anh nghe và em nói thì em nghe, còn lâu sau khi cưới, thì cả hai cùng nói, nhưng hàng xóm phải nghe.
Với những người có tinh thần ăn uống, trước khi cưới thì nhìn nhau mà no, liền sau khi cưới thì nhìn nhau mà ngáp, còn lâu sau khi cưới thì nồi niêu xoong chảo thỉnh thoảng lại bay ra ngoài sân.
Với những người vốn mang dòng máu ga lăng, trước khi cưới thì chiếc dù lệch hẳn về phía nàng và chàng sẵn sàng chịu ướt, liền sau khi cưới thì chiếc dù nằm ở chính giữa và mỗi người chịu ướt một nửa, còn lâu sau khi cưới thì chiếc dù lệch hẳn về phía chàng và nàng đành cam chịu ướt.
Từ đó, người ta đi tới một kết luận không mấy sáng sủa :
- Yêu nhau trong ba ngày, ghét nhau trong ba tháng và chịu đựng nhau suốt ba mươi ba năm.
Có kẻ còn bi quan hơn khi phát biểu :
- Trong cuộc đời anh đàn ông có hai ngày vui lớn. Ngày vui thứ nhất đó là ngày lấy vợ, còn ngày vui thứ hai đó là ngày vợ chết.
Tiếp đến về hai thời kỳ, hay hai giai đoạn của tình yêu.
Nhiều chuyên viên tâm lý khác thích đơn giản và sáng sủa hơn, nên đã chia tình yêu và nhất là tình yêu của anh chồng thành hai thời kỳ hay hai giai đoạn.
Các chuyên gia này đã chọn ngày cưới mà cắm mốc thời gian cho sự phân chia ấy. Vì thế, hai thời kỳ hay hai giai đoạn này được gọi là tình yêu trước khi cưới và tình yêu sau khi cưới.
Báo “Phụ Nữ Chủ Nhật”, số ra ngày 15.01.2006 có đăng một bài ngăn ngắn với những ghi nhận như sau :
Trước khi cưới:
- Anh yêu! Ghê quá, con chuột chết kìa.
- Để đó cho anh.
Sau khi cưới:
- Anh ơi! Có con mèo chết trên mái nhà mình.
- Thì lấy cây mà hất nó xuống, có con mèo chết mà cũng phải kêu chồng.
Trước khi cưới:
- Em bệnh hả: Em yêu! Có đau lắm không em?
Sau khi cưới:
- Khỏe chưa? Dậy nấu cơm ăn, bộ tính cho cả nhà xơi mì gói hả?
Trước khi cưới:
- Không sao, dù bận nhưng nếu em cần là anh đến ngay.
Sau khi cưới:
- Anh còn lu bu nhiều việc lắm, chưa về ngay được đâu!
Trước khi cưới:
- Chúc em một sinh nhật thật vui vẻ và hạnh phúc.
Sau khi cưới:
- Ôi dào, còn đầu óc đâu mà lãng với mạn nữa hả em.
Trước khi cưới:
- Sao anh ăn cái gì em nấu cũng thấy ngon!
Sau khi cưới:
- Em chiên kiểu gì mà cháy đen như vậy?
Trước khi cưới:
- Trông em thật dễ thương mỗi khi em khóc.
Sau khi cưới:
- Hết than thở rồi lại khóc lóc, vợ con gì thấy mà phát chán.
Trước khi cưới:
- Em là người phụ nữ đẹp nhất mà anh từng gặp!
Sau khi cưới:
- Thằng bạn anh mới cưới được một cô bé vừa xinh lại vừa đẹp. Nó lấy vợ trễ, thế mà khôn.
Trước khi cưới:
- TV có gì hay không em?
Sau khi cưới:
- Dọn cơm chưa? Tối ngày ngồi đó mà xem phim Hàn Quốc.
Trên báo “Gia đình”, một chị vợ cũng đã ghi lại tâm sự buồn của mình, trước khi chia tay ca bản “anh đi đường anh, tôi đi đường tôi và tình nghĩa đôi ta chỉ có thế mà thôi” :
Trước: Anh chiều chuộng em như một nàng công chúa nhỏ: khi ăn, anh chủ động gắp cho em; khi đi xe bus đông người, anh giành chỗ tốt cho em, dù mặt đỏ tía tai; khi đi qua đường, anh luôn dắt tay em và đi trước mở lối cho em.
Nay: Khi ăn, anh chẳng thèm nhìn em lấy một lần; khi lên xe bus, anh để mặc em đứng bám vào tay vịn; khi đi qua đường, anh cũng chẳng thèm nắm lấy tay em.
Kết luận: Là phụ nữ, ai cũng muốn được yêu thương, được chiều chuộng, được bảo vệ. Anh có hiểu hay không?
Trước: Mọi áo quần, trong cũng như ngoài, đều do anh mua. Mẫu mã nào mới anh cũng đều sắm cho em.
Nay: Anh chưa một lần đưa em đi mua đồ, mỗi lần tới siêu thị, đến trước gian hàng của phụ nữ, em kéo anh vào để cùng chọn với em, anh lại nói một cách khó chịu:
- Em thấy bên trong có bóng dáng một thằng đờn ông nào không ?
Kết luận: Anh không hiểu tâm tình người phụ nữ là như vậy, bảo sao em không bị tổn thương?
Trước: Anh thường kéo em ra ngoài luyện tập thể dục và nói cho em hiểu rằng sức khỏe là vốn liếng quí giá nhất của con người.
Nay: Bản thân anh không tập thể dục nữa, lại còn bắt em phải ở nhà cả ngày, quanh quẩn với những công việc lặt vặt. Ngay cả khi em muốn tới câu lạc bộ tập thẩm mỹ, anh cũng không cho.
Kết luận: Anh có biết rằng phụ nữ khi đã đến tuổi trung niên, nếu không chú trọng rèn luyện và bảo dưỡng, thì tốc độ lão hóa sẽ rất nhanh.
Trước: Anh thường đem lại cho em rất nhiều những niềm vui bất ngờ. Chẳng hạn như anh đặt trên bàn của em chiếc vé xem văn nghệ, làm em vui suốt cả tuần.
Nay: Anh bỏ em qua một bên, chẳng thèm nói một lời. Có khi em nấu nướng thật ngon và đợi anh về cùng ăn, nhưng anh lại gọi điện thoại và nói với em rằng:
- Tối nay anh có tiệc chiêu đãi, không về ăn cơm đâu…
Kết luận: Anh có hiểu rằng một khi cơm canh đã nguội ngắt, em còn lòng dạ nào để hâm nóng lại đây.
Trước: Dù đi công tác xa thế nào, thì hàng đêm anh đều gọi điện thoại về cho em.
Nay: Khi đi công tác xa, thỉnh thoảng anh mới gọi điện thoại về cho em, nhưng cũng chỉ hỏi bài tập của con đã làm xong chưa. Ngay cả một câu quan tâm đến em, anh cũng không có.
Kết luận: Anh có biết rằng khi vắng anh, em nhớ anh nhiều lắm hay không? Sao anh quá tiết kiệm lời nói với em như thế.
Dù chia tình yêu thành ba hay thành hai thời kỳ và giai đoạn, nhưng những biến đổi trên xem ra cũng thật bất lợi, vì thế có kẻ đã băn khoăn tự hỏi :
- Phải chăng hôn nhân chính là nấm mồ chôn vùi tình yêu ?
Nghĩ như vậy xem ra có phần hơi bi quan, bởi vì trên thế gian vẫn có những cặp yêu thương nhau cho đến lúc đầu bạc răng long, đúng như lời mừng chúc: trăm năm hạnh phúc. Tuy nhiên cũng giúp cho chúng ta nhận ra cái khó khăn trong tình yêu.
Thực vậy, tình yêu trước hôn nhân hay còn được gọi là tình yêu của cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, thường dễ dàng bởi vì lúc bấy giờ người ta đang “mê mẩn cả tâm thần”, sẵn sàng kê cho bằng một trăm chỗ lệch, cũng như sẵn sàng chín bỏ làm… mười một, mười hai.
Cái khó khăn nhất chính là tình yêu sau hôn nhân. Làm sao duy trì cho nó được bền vững và liên tục phát triển, bởi vì lúc bấy giờ người ta mới tìm thấy những con rận trong chăn, cũng như mới khám phá ra những khuyết điểm của nhau và những lao đao vất vả trong cuộc sống lứa đôi.
Thế nhưng, dù khó khăn tới đâu chăng nữa thì cũng vẫn phải tìm lấy phương thức riêng để giải quyết và vượt qua, nếu muốn làm cho tình yêu của mình được hâm nóng, và bản thân mình, dù là những cặp “uyên ương… già”, cũng vẫn không kém phần say đắm.
Những vun trồng và chăm sóc của chúng ta sẽ làm cho khóm gừng càng già càng cay.
Những hy sinh cho nhau và vì nhau của chúng ta sẽ làm cho tình yêu ngày càng thêm nồng thắm
Gã Siêu
Nếu so sánh giữa con người với con vật, gã nghiệm ra rằng: Trong khi con vật luôn dẫm chân tại chỗ, trước sau như một, ngày xưa và hôm nay vẫn cứ y như thế, thì con người biến đổi không ngừng.
Gã xin đưa ra một vài thí dụ điển hình:
Con chim ngày xưa làm tổ thế nào, thì hôm nay nó vẫn làm tổ như vậy, cho dù chiếc tổ ấy được đan bằng những cọng cỏ khô thật tỉ mỉ và khéo léo.
Con ong ngày xưa kéo mật thế nào, thì hôm nay nó vẫn kéo mật như vậy, cho dù mật ong có hương vị thơm ngon tuyệt vời.
Dầu vậy, thỉnh thoảng gã cũng thấy con vật này hay con vật kia có những hành động khác thường, chẳng hạn: con sáo biết nói, con gấu biết đi xe đạp, con khỉ biết nhảy dây… Sở dĩ chúng làm được như vậy là do dày công tập luyện, để rồi hành động theo phản xạ, chứ không phải hành động theo bản năng.
Trong khi đó, con người không ngừng biến đổi và tạo nên những tiến bộ trong mọi lãnh vực.
Chẳng hạn trong lãnh vực ăn. Ngày xưa người ta ăn tươi nuốt sống, còn hôm nay chúng ta đã biết nấu chín và chế biến thành những món đặc sản, cao lương mỹ vị.
Chẳng hạn trong lãnh vực mặc. Ngày xưa người ta lấy lá cây hay da thú mà che thân, còn hôm nay chúng ta đã biết dệt nên bao nhiêu loại vải, đã biết may thành bao nhiêu mẫu mã áo quần.
Trong lãnh vực ở. Ngày xưa người ta ở hang, ở lỗ, còn ngày nay chúng ta đã biết xây dựng những tòa nhà nhiều tầng, thậm chí còn có cả những tòa nhà chọc trời.
Trong lãnh vực đi, ngày xưa người ta đi bộ, đi voi, đi ngựa, còn ngày nay chúng ta đã có được biết bao nhiêu phương tiện di chuyển như xe đạp, xe máy, xe hơi, tàu thủy, tàu hỏa, tàu bay, thậm chí còn có cả những phi thuyền, hỏa tiễn để chinh phục không gian.
Hôm nay gã xin “tán hươu tán vượn” với bàn dân thiên hạ về những biến đổi trong tình yêu. Đặc biệt là những biến đổi nơi anh đờn ông con giai trong quãng đời… làm chồng của mình.
Về tình yêu của anh chồng dành cho chị vợ, có người đã chia ra thành ba thời kỳ hay ba giai đoạn, nhưng cũng có người chỉ chia ra làm hai thời kỳ hay hai giai đoạn mà thôi.
Dựa vào những suy nghĩ cá nhân cũng như dựa vào những kinh nghiệm xương máu của các chiến hữu trên khắp các vùng chiến thuật, gã sẽ bàn tới những thời kỳ hay những giai đoạn này.
Trước hết về ba thời kỳ, hay ba giai đoạn của tình yêu.
Theo tác giả Kim Vốn trên báo “Phụ Nữ Chủ Nhật” thì đối với nhiều chuyên gia tâm lý, tình yêu có thể được chia thành ba giai đoạn, đó là sáu tuần, sáu tháng và sáu năm với “các thái độ ứng xử được thích nghi cho phù hợp”, đi từ chiều chuộng, sang chăm sóc một cách miễn cưỡng, để rồi cuối cùng…người vợ chẳng còn một ký lô gà ram nào sốt!
Sự phân chia này được trình bày bằng lời nói cũng như bằng giọng nói của anh chồng như sau :
Tình yêu theo thời gian
6 tuần: Anh yêu em!
6 tháng: Thì anh yêu em mà!
6 năm: Nếu không yêu cô thì tôi đã bỏ quách đi từ lâu rồi!
6 tuần: Em yêu, mẹ gọi điện thoại cho em nè!
6 tháng: Điện thoại của em đó!
6 năm: Điện hoài điện hủy!
6 tuần: Anh nghĩ rằng em rất thích có chiếc nhẫn ấy.
6 tháng: Ít ra chiếc lọ cũng có ích vì nó dùng để cắm hoa.
6 năm: Ừ thì cứ mua thứ gì mà cô muốn!
6 tuần: Ồ, không việc gì đâu
6 tháng: Cẩn thận, coi chừng vỡ
6 năm: Trời ơi, người đâu và vụng về đến thế!
6 tuần: Em mà nấu thì sẽ có một bữa ăn ngon lành.
6 tháng: Tối nay chúng ta sẽ ăn gì đây?
6 năm: Ngày nào cũng trứng luộc thì chịu làm sao được?
6 tuần: Với chiếc áo đầm này, em mới đẹp làm sao?
6 tháng: Lại một chiếc áo đầm nữa à?
6 năm: Bao nhiêu chiếc áo đầm mới đủ cho cô đây?
6 tuần: Anh đã cắt cỏ vườn, em khỏi phải quan tâm nữa.
6 tháng: Chiếc máy cắt cỏ hết mẹ nó xăng!
6 năm: Hôm nay cô đi mà cắt cỏ vườn.
6 tuần: Anh đã mướn cho em một cuốn phim thật hay
6 tháng: Có thật là em muốn xem cuốn phim đó không?
6 năm: Tối nay có bóng đá, cô để TV đó cho tôi.
Gã cũng đã sưu tầm được một số hình ảnh khác rất cụ thể về ba giai đoạn của tình yêu, nhưng mang tính cách trung lập hơn, khách quan hơn và vô tư hơn, không ngả bên này cũng không nghiêng bên nọ, không bênh chị vợ mà hạ thấp anh chồng, hay ngược lại hạ thấp chị vợ mà bênh anh chồng.
Gã tạm gọi ba giai đoạn này là : Trước, liền sau và lâu sau.
Với những người thích màu sắc, thì trước khi cưới là một màu hồng rực rỡ, liền sau khi cưới là một màu trắng nhạt, còn lâu sau khi cưới là một màu xám ảm đạm.
Với những người thích nghiên cứu về thời tiết, thì trước khi cưới là những ngày mùa xuân nắng ấm, liền sau khi cưới là những ngày hè thu oi bức hay mưa dông, còn lâu sau khi cưới là những ngày dài mùa đông lạnh giá.
Với những người thích âm thanh, trước khi cưới anh nói thì em nghe và em nói thì anh nghe, liền sau khi cưới, anh nói thì anh nghe và em nói thì em nghe, còn lâu sau khi cưới, thì cả hai cùng nói, nhưng hàng xóm phải nghe.
Với những người có tinh thần ăn uống, trước khi cưới thì nhìn nhau mà no, liền sau khi cưới thì nhìn nhau mà ngáp, còn lâu sau khi cưới thì nồi niêu xoong chảo thỉnh thoảng lại bay ra ngoài sân.
Với những người vốn mang dòng máu ga lăng, trước khi cưới thì chiếc dù lệch hẳn về phía nàng và chàng sẵn sàng chịu ướt, liền sau khi cưới thì chiếc dù nằm ở chính giữa và mỗi người chịu ướt một nửa, còn lâu sau khi cưới thì chiếc dù lệch hẳn về phía chàng và nàng đành cam chịu ướt.
Từ đó, người ta đi tới một kết luận không mấy sáng sủa :
- Yêu nhau trong ba ngày, ghét nhau trong ba tháng và chịu đựng nhau suốt ba mươi ba năm.
Có kẻ còn bi quan hơn khi phát biểu :
- Trong cuộc đời anh đàn ông có hai ngày vui lớn. Ngày vui thứ nhất đó là ngày lấy vợ, còn ngày vui thứ hai đó là ngày vợ chết.
Tiếp đến về hai thời kỳ, hay hai giai đoạn của tình yêu.
Nhiều chuyên viên tâm lý khác thích đơn giản và sáng sủa hơn, nên đã chia tình yêu và nhất là tình yêu của anh chồng thành hai thời kỳ hay hai giai đoạn.
Các chuyên gia này đã chọn ngày cưới mà cắm mốc thời gian cho sự phân chia ấy. Vì thế, hai thời kỳ hay hai giai đoạn này được gọi là tình yêu trước khi cưới và tình yêu sau khi cưới.
Báo “Phụ Nữ Chủ Nhật”, số ra ngày 15.01.2006 có đăng một bài ngăn ngắn với những ghi nhận như sau :
Trước khi cưới:
- Anh yêu! Ghê quá, con chuột chết kìa.
- Để đó cho anh.
Sau khi cưới:
- Anh ơi! Có con mèo chết trên mái nhà mình.
- Thì lấy cây mà hất nó xuống, có con mèo chết mà cũng phải kêu chồng.
Trước khi cưới:
- Em bệnh hả: Em yêu! Có đau lắm không em?
Sau khi cưới:
- Khỏe chưa? Dậy nấu cơm ăn, bộ tính cho cả nhà xơi mì gói hả?
Trước khi cưới:
- Không sao, dù bận nhưng nếu em cần là anh đến ngay.
Sau khi cưới:
- Anh còn lu bu nhiều việc lắm, chưa về ngay được đâu!
Trước khi cưới:
- Chúc em một sinh nhật thật vui vẻ và hạnh phúc.
Sau khi cưới:
- Ôi dào, còn đầu óc đâu mà lãng với mạn nữa hả em.
Trước khi cưới:
- Sao anh ăn cái gì em nấu cũng thấy ngon!
Sau khi cưới:
- Em chiên kiểu gì mà cháy đen như vậy?
Trước khi cưới:
- Trông em thật dễ thương mỗi khi em khóc.
Sau khi cưới:
- Hết than thở rồi lại khóc lóc, vợ con gì thấy mà phát chán.
Trước khi cưới:
- Em là người phụ nữ đẹp nhất mà anh từng gặp!
Sau khi cưới:
- Thằng bạn anh mới cưới được một cô bé vừa xinh lại vừa đẹp. Nó lấy vợ trễ, thế mà khôn.
Trước khi cưới:
- TV có gì hay không em?
Sau khi cưới:
- Dọn cơm chưa? Tối ngày ngồi đó mà xem phim Hàn Quốc.
Trên báo “Gia đình”, một chị vợ cũng đã ghi lại tâm sự buồn của mình, trước khi chia tay ca bản “anh đi đường anh, tôi đi đường tôi và tình nghĩa đôi ta chỉ có thế mà thôi” :
Trước: Anh chiều chuộng em như một nàng công chúa nhỏ: khi ăn, anh chủ động gắp cho em; khi đi xe bus đông người, anh giành chỗ tốt cho em, dù mặt đỏ tía tai; khi đi qua đường, anh luôn dắt tay em và đi trước mở lối cho em.
Nay: Khi ăn, anh chẳng thèm nhìn em lấy một lần; khi lên xe bus, anh để mặc em đứng bám vào tay vịn; khi đi qua đường, anh cũng chẳng thèm nắm lấy tay em.
Kết luận: Là phụ nữ, ai cũng muốn được yêu thương, được chiều chuộng, được bảo vệ. Anh có hiểu hay không?
Trước: Mọi áo quần, trong cũng như ngoài, đều do anh mua. Mẫu mã nào mới anh cũng đều sắm cho em.
Nay: Anh chưa một lần đưa em đi mua đồ, mỗi lần tới siêu thị, đến trước gian hàng của phụ nữ, em kéo anh vào để cùng chọn với em, anh lại nói một cách khó chịu:
- Em thấy bên trong có bóng dáng một thằng đờn ông nào không ?
Kết luận: Anh không hiểu tâm tình người phụ nữ là như vậy, bảo sao em không bị tổn thương?
Trước: Anh thường kéo em ra ngoài luyện tập thể dục và nói cho em hiểu rằng sức khỏe là vốn liếng quí giá nhất của con người.
Nay: Bản thân anh không tập thể dục nữa, lại còn bắt em phải ở nhà cả ngày, quanh quẩn với những công việc lặt vặt. Ngay cả khi em muốn tới câu lạc bộ tập thẩm mỹ, anh cũng không cho.
Kết luận: Anh có biết rằng phụ nữ khi đã đến tuổi trung niên, nếu không chú trọng rèn luyện và bảo dưỡng, thì tốc độ lão hóa sẽ rất nhanh.
Trước: Anh thường đem lại cho em rất nhiều những niềm vui bất ngờ. Chẳng hạn như anh đặt trên bàn của em chiếc vé xem văn nghệ, làm em vui suốt cả tuần.
Nay: Anh bỏ em qua một bên, chẳng thèm nói một lời. Có khi em nấu nướng thật ngon và đợi anh về cùng ăn, nhưng anh lại gọi điện thoại và nói với em rằng:
- Tối nay anh có tiệc chiêu đãi, không về ăn cơm đâu…
Kết luận: Anh có hiểu rằng một khi cơm canh đã nguội ngắt, em còn lòng dạ nào để hâm nóng lại đây.
Trước: Dù đi công tác xa thế nào, thì hàng đêm anh đều gọi điện thoại về cho em.
Nay: Khi đi công tác xa, thỉnh thoảng anh mới gọi điện thoại về cho em, nhưng cũng chỉ hỏi bài tập của con đã làm xong chưa. Ngay cả một câu quan tâm đến em, anh cũng không có.
Kết luận: Anh có biết rằng khi vắng anh, em nhớ anh nhiều lắm hay không? Sao anh quá tiết kiệm lời nói với em như thế.
Dù chia tình yêu thành ba hay thành hai thời kỳ và giai đoạn, nhưng những biến đổi trên xem ra cũng thật bất lợi, vì thế có kẻ đã băn khoăn tự hỏi :
- Phải chăng hôn nhân chính là nấm mồ chôn vùi tình yêu ?
Nghĩ như vậy xem ra có phần hơi bi quan, bởi vì trên thế gian vẫn có những cặp yêu thương nhau cho đến lúc đầu bạc răng long, đúng như lời mừng chúc: trăm năm hạnh phúc. Tuy nhiên cũng giúp cho chúng ta nhận ra cái khó khăn trong tình yêu.
Thực vậy, tình yêu trước hôn nhân hay còn được gọi là tình yêu của cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, thường dễ dàng bởi vì lúc bấy giờ người ta đang “mê mẩn cả tâm thần”, sẵn sàng kê cho bằng một trăm chỗ lệch, cũng như sẵn sàng chín bỏ làm… mười một, mười hai.
Cái khó khăn nhất chính là tình yêu sau hôn nhân. Làm sao duy trì cho nó được bền vững và liên tục phát triển, bởi vì lúc bấy giờ người ta mới tìm thấy những con rận trong chăn, cũng như mới khám phá ra những khuyết điểm của nhau và những lao đao vất vả trong cuộc sống lứa đôi.
Thế nhưng, dù khó khăn tới đâu chăng nữa thì cũng vẫn phải tìm lấy phương thức riêng để giải quyết và vượt qua, nếu muốn làm cho tình yêu của mình được hâm nóng, và bản thân mình, dù là những cặp “uyên ương… già”, cũng vẫn không kém phần say đắm.
Những vun trồng và chăm sóc của chúng ta sẽ làm cho khóm gừng càng già càng cay.
Những hy sinh cho nhau và vì nhau của chúng ta sẽ làm cho tình yêu ngày càng thêm nồng thắm
TÌM NƠI VẮNG VẺ
Giao Chỉ, San Jose
“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chỗ lao xao...”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm) Kelley Park
Nếu quý vị cư ngụ tại San Jose, thú vui ‘dại dột’ và không tốn tiền là vườn Kelley. Ðây chính là nơi vắng vẻ.
Hơn 100 năm trước bà quả phụ Frank J. Kelley đã tặng cho thành phố San Jose 156 mẫu đất vốn là tài sản của thân phụ để lại. Tên ông cụ là Laurence Archer, một thời đã là quan tòa và cũng là thị trưởng San Jose. Khu đất này là vườn trái cây, nằm ở trong khu tứ giác dọc theo đường Senter, phía nam là đường Tully, phía bắc là đường Story và cách xa một đoạn phía đông là Mc. Laughlin, rồi đến xa lộ 101.
Khu đất của nhà Kelley nằm ở hạ lưu của con sông cạn Coyote River và ngày nay trở thành địa danh của Kelley Park.
Tại khu vườn xanh tươi hiện nay có 3 cơ sở được coi là vùng giải trí rất bình dân và thuận tiện của khu vực số 7, đã trở thành nổi tiếng trong cộng đồng Việt Nam.
Ngay khu chính giữa là vườn hữu nghị Nhật Bản. So với các vườn Nhật trên thế giới thì Japanese Friendship Garden là công viên nhỏ bé thanh lịch nhất. Hầu như các nhiếp ảnh gia Việt Nam chụp hình đám cưới đã nhiều phen thi đua với nhiếp ảnh viên Mễ Tây Cơ. Chụp đi chụp lại hàng ngàn tấm hình cô dâu chú rể tại khu vườn Á châu đặc thù này.
Phía Bắc của Kelley Park, góc Senter và Story là khu vực Happy Hollow có vườn trẻ và sở thú. Ðây là khu vực thần tiên của các em nhỏ trên dưới 10 tuổi. Nếu gia đình có con em trên 6 tuổi thì không phải đi chơi xa tốn tiền vô ích. Các em chưa đủ sức để thưởng thức các trò chơi quá mạo hiểm hay hoành tráng ở khu giải trí quốc tế. Happy Hollow ở Senter là đã quá đủ vui mừng. Hiện nay khu vực đang được đại tu bổ với nhiều tiết mục mới và sẽ khai trương vào mùa thu. Hằng ngày vẫn còn mở cửa để các em vui chơi trong khu vực hiện có. Những trò giải trí, các súc vật của nông trại đều hiện diện đem đến cho các em những hình ảnh sống động mà trẻ nhỏ sống nơi đô thị không có dịp tiếp xúc.
Phía Nam vườn Kelley là khu cổ tích được gọi là History San Jose. Tại đây người lưu dân Việt Nam chúng ta có thể đến thăm để tìm về với thành phố San Jose hơn 100 năm trước. Ðây chính là chủ đề của bài này. Xin hãy cùng tôi bỏ chốn lao xao trên hai con đường Tully và Story lắm chuyện để tìm về nơi vắng vẻ. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ.
History San Jose
Hơn 50 năm trước, San Jose là một thành phố nhà quê. Du khách tìm đường đến San Jose hỏi thăm từ San Francisco chẳng ai biết San Jose ở chốn nào. Một bài ca đã kể câu chuyện đồng dao hát rằng. ‘Do you know the way to San Jose?’
Một sớm một chiều, San Jose đứng lên để lãnh danh hiệu kinh đô điện tử toàn thế giới. Vườn nho thành cơ xưởng. Các hãng điện tử danh tiếng thi nhau ra đời tại Silicon Valley. Tiền thuế đổ vào thành phố nhiều như nước chảy. Cơ quan phát triển đô thị thành lập. Các nhà cũ ở khu down town ảm đạm được phá bỏ để nhường chỗ cho cao ốc và dinh thự. Các trung tâm nghị hội, các cơ sở và hotel tráng lệ, tân kỳ thay đổi hoàn toàn bộ mặt của San Jose. Hàng trăm ngôi nhà và kiến trúc cổ tại down town được phân loại. Ban định giá lịch sử và các chuyên viên chọn lựa để duy trì lối 50 di tích và đưa vào khu History San Jose. Còn lại bao nhiêu cho phá bỏ hết. Khu vực phía nam Kelley Park gồm 14 mẫu đất góc đường Senter và Finland được dành riêng cho các di tích của San Jose cổ kính.
Những nhà bưu điện đầu tiên, phòng nha sĩ đầu tiên, tháp ánh sáng, cây xăng, nhà in tất cả di tích của một thời xa xưa được đem vào khu vườn lịch sử. Tất cả được tái dựng trong một khu vườn nhỏ bé, yên tĩnh và đặc biệt là an toàn nhất thế giới.
Ngôi nhà lịch sử của dòng họ Ng. Shing Trung Quốc xây cất năm 1888 tại khu China town San Jose ngày xưa đã được di chuyển về History Park năm 1991 và nay trở thành viện bảo tàng Trung Hoa
Một ngôi nhà của Hy Lạp cũng được thu xếp để có một chỗ trong vườn lịch sử.
Nhiều nhà cổ Victoria cũng đã theo nhau dọn vào Kelley Park.
Cộng đồng Bồ Ðào Nha (Portuguese) vào năm 1915 đã từng xây nhà thờ tại phía đông Santa Clara St. nay xây lại ngôi đền mới trong khu lịch sử và khánh thành năm 1997.
Tổng cộng có 27 công trình kiến trúc tại vườn lịch sử San Jose. Mỗi ngôi nhà, mỗi công thự đều do hội đoàn đại diện cho một tổ chức hay một cộng đồng đảm trách.
Trong nom tổng quát là tổ chức được thành lập có tên là History San Jose (HSJ). Cơ quan này bất vụ lợi, được sự tài trợ một phần của thành phố và phần lớn là tự tổ chức sinh hoạt gây quỹ và bảo trợ cho các ngày lịch sử sắc tộc hàng năm.
Ngôi nhà cổ Greenwalt
Trong số 27 công trình kiến trúc tại History San Jose có một nhà hai tầng nằm sát cạnh đường Senter, bên khu Parking phía Nam của vườn Nhật.
Tại lối vào dưới hầm, trên khung cửa sắt có ghi The Greenwalt 1877. Trong hồ sơ lịch sử, ngôi nhà này được dòng họ Greenwalt xây cất năm 1877 tại lô đất phía tây đường Almaden Expw gần xa lộ 87.
Khi chỉnh trang đô thị, năm 1991Greenwalt house được lựa chọn di chuyển vào khu lịch sử và bị bỏ trống quên lãng trên 10 năm không ai xử dụng. Lý do chính là nhà 2 tầng thuộc phạm vi lịch sử nên sửa chữa rất công phu tốn kém. Dù có nhiều cộng đồng muốn nhận lãnh nhưng không thực hiện được. Tất cả phần nội thất phải hoàn toàn làm lại theo đúng hình thức cũ, phải làm bằng nhân công chuyên môn đặc biệt nên rất phiền phức và đòi hỏi ngân khoản không xác định được bao nhiêu, cũng như thời gian bao lâu?
Ðã từ lâu cơ quan IRCC sưu tầm nhiều di vật bảo tàng và cũng có ý muốn tìm một nơi thuộc tài sản địa ốc công quyền để dựng nhà bảo tàng. Cơ may duy nhất là ngôi nhà này. Vì vậy mặc dù việc sửa chữa toàn diện bên trong và bên ngoài cùng toàn thể khu vực rất tốn kém, nhưng không thể tìm được một cơ hội khác. Ðó là cơ duyên đầu tiên của việc xây dựng Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân Và Việt Nam Cộng Hòa.
Từ lúc sơn sửa bên ngoài, thiết lập khu vườn hòa bình bao quanh, sửa chữa toàn diện bên trong 2 tầng, dọn dẹp khu hầm dưới đất và tầng gác trên mái nhà. Vừa xin tiền thân hữu, vừa vay tiền anh em. Nợ sau trồng lên nợ trước và sau cùng một đường ramp đặc biệt dành cho khách đi xe lăn hoàn tất. Trước sau gần 5 năm công tác. Một viện bảo tàng đã hoàn thành. Trị giá di sản, di vật và tác phẩm trưng bầy hơn 1 triệu Mỹ kim. Sửa chữa toàn diện lên đến 500,000 Mỹ kim. Không kể giá trị địa ốc lịch sử. Món nợ ân tình hiện nay là 300 ngàn Mỹ kim.
Một tấm bảng công đức ân nhân đã hoàn tất để gắn tên các thân hữu xa gần yểm trợ. Nhưng trong số các danh tính này phải có tên dòng họ Greenwalt là người đã kiến trúc ngôi nhà từ năm 1877 cách đây 132 năm.
Dòng họ Giacomazzi
Tuy nhiên, câu chuyện đặc biệt sau đây cho thấy ghi danh dòng họ Greenwalt chưa đủ. Số là một ngày nọ, trong khu vườn lịch sử vắng vẻ chúng tôi thấy hai vợ chồng người Mỹ thật già ghé lại. Bà cụ nói rằng chúng tôi là hàng xóm của gia đình đã từng ở ngôi nhà này. Sau khi trao đổi địa chỉ, một tháng sau chúng tôi nhận được điện thoại của ông Giacomazzi hẹn sẽ dẫn con trai đến thăm.
Ông già Giacomazzi người gốc Bắc Âu, năm nay 78 tuổi cùng con trai gần 50 tuổi lại thăm ngôi nhà cũ. Ông già nói rằng nhà này mẹ tôi mua lại của họ Greenwalt vào năm 1919 giá là 14 ngàn Mỹ kim. Cả nhà và đất. Nhà hiện nay chỉ còn một nửa phía trước, khi chủ nhà giao lại cho chính phủ đã bị cắt đi phân nửa phía sau.
Chúng tôi cùng bước vào ngôi nhà có trên 130 năm tuổi. Tôi hướng dẫn họ lịch sử bảo tàng. Hai cha con hướng dẫn cho tôi về lịch sử ngôi nhà. Ðây là khu Việt Nam Công Hòa, đây là khu thuyền nhân. Ðây là phòng ngủ, đây là phòng ăn. Chỗ này mẹ tôi tiếp khách. Ðây là nơi vợ tôi có bầu anh này. Khi đi sanh rồi về anh con trai này đã được nuôi nấng tại đây.
Rất cảm động, cả hai cha con đều nói rằng ngày nay những người đàn bà trong gia đình chúng tôi không còn nữa. Nhưng nếu còn sống hẳn mẹ tôi rất sung sướng được biết rằng di sản của gia đình được xử dụng vào công việc lịch sử. Không bao giờ dòng họ Greenwalt và Giacomazzi lại nghĩ rằng nhà của họ sau này sẽ là viện bảo tàng của một sắc dân Ðông Nam Á đến Hoa Kỳ 100 năm sau.
Và phần chúng tôi, cũng không bao giờ nghĩ rằng là người tỵ nạn Việt Nam đến tìm đất sống tại Hoa Ky,ợ lại có thể hoàn tất được một Viện Bảo Tàng trên quê hương mới.
*
Thành phố San Jose ngày nay có gần một triệu dân, danh tiếng điện tử vang lừng bốn bề. Dân Việt chiếm 10%, quanh năm sống trong cảnh lao xao. Riêng khu 7 với hai con đường Story và Tully lại càng lao xao, ồn ào biết bao nhiêu vui buồn tủi nhục.
Rất ít người biết rằng muốn đi tìm niềm vui nhẹ hồn nhiên cho trẻ thơ, hay đi tìm lại tình yêu, hoặc tạm thời rũ bỏ bụi trần, ta chỉ cần bước nhẹ vào vườn Kelley. Ðến Happy Hollow để trở lại tuổi thần tiên. Qua Vườn Nhật nhớ lại thời vừa biết yêu, hay qua vườn lịch sử San Jose trong tuổi cao niên. Hình ảnh ông bà già tay trong tay, đi trên con đường vắng vẻ của History San Jose. Không có bóng một chiếc xe. Sáu con đường ngang dọc, chỗ nào cũng là đường đi của khách bộ hành. Parking gần kề.
Người di dân Việt Nam tại San Jose nếu có bà con từ bốn phương trời hải ngoại và ngay cả bà con trong nước qua chơi, sẽ có dịp đi ngược dòng lịch sử Việt Nam từ 1950 đến nay. Quý vị sẽ biết thế nào là tự do dân chủ với Việt Nam Cộng Hòa. Hiểu biết thêm về thuyền nhân tỵ nạn. Ðồng thời xem hình ảnh của San Jose trên 200 lịch sử, cũng tại viện bảo tàng thành phố nằm trong khu Hotel Pacific của Kelley Park.
Xin hãy nghe lời cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ.
Nơi vắng vẻ nhất San Jose chính là Kelley Park
Giao Chỉ, San Jose
Giao Chỉ, San Jose
“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chỗ lao xao...”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm) Kelley Park
Nếu quý vị cư ngụ tại San Jose, thú vui ‘dại dột’ và không tốn tiền là vườn Kelley. Ðây chính là nơi vắng vẻ.
Hơn 100 năm trước bà quả phụ Frank J. Kelley đã tặng cho thành phố San Jose 156 mẫu đất vốn là tài sản của thân phụ để lại. Tên ông cụ là Laurence Archer, một thời đã là quan tòa và cũng là thị trưởng San Jose. Khu đất này là vườn trái cây, nằm ở trong khu tứ giác dọc theo đường Senter, phía nam là đường Tully, phía bắc là đường Story và cách xa một đoạn phía đông là Mc. Laughlin, rồi đến xa lộ 101.
Khu đất của nhà Kelley nằm ở hạ lưu của con sông cạn Coyote River và ngày nay trở thành địa danh của Kelley Park.
Tại khu vườn xanh tươi hiện nay có 3 cơ sở được coi là vùng giải trí rất bình dân và thuận tiện của khu vực số 7, đã trở thành nổi tiếng trong cộng đồng Việt Nam.
Ngay khu chính giữa là vườn hữu nghị Nhật Bản. So với các vườn Nhật trên thế giới thì Japanese Friendship Garden là công viên nhỏ bé thanh lịch nhất. Hầu như các nhiếp ảnh gia Việt Nam chụp hình đám cưới đã nhiều phen thi đua với nhiếp ảnh viên Mễ Tây Cơ. Chụp đi chụp lại hàng ngàn tấm hình cô dâu chú rể tại khu vườn Á châu đặc thù này.
Phía Bắc của Kelley Park, góc Senter và Story là khu vực Happy Hollow có vườn trẻ và sở thú. Ðây là khu vực thần tiên của các em nhỏ trên dưới 10 tuổi. Nếu gia đình có con em trên 6 tuổi thì không phải đi chơi xa tốn tiền vô ích. Các em chưa đủ sức để thưởng thức các trò chơi quá mạo hiểm hay hoành tráng ở khu giải trí quốc tế. Happy Hollow ở Senter là đã quá đủ vui mừng. Hiện nay khu vực đang được đại tu bổ với nhiều tiết mục mới và sẽ khai trương vào mùa thu. Hằng ngày vẫn còn mở cửa để các em vui chơi trong khu vực hiện có. Những trò giải trí, các súc vật của nông trại đều hiện diện đem đến cho các em những hình ảnh sống động mà trẻ nhỏ sống nơi đô thị không có dịp tiếp xúc.
Phía Nam vườn Kelley là khu cổ tích được gọi là History San Jose. Tại đây người lưu dân Việt Nam chúng ta có thể đến thăm để tìm về với thành phố San Jose hơn 100 năm trước. Ðây chính là chủ đề của bài này. Xin hãy cùng tôi bỏ chốn lao xao trên hai con đường Tully và Story lắm chuyện để tìm về nơi vắng vẻ. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ.
History San Jose
Hơn 50 năm trước, San Jose là một thành phố nhà quê. Du khách tìm đường đến San Jose hỏi thăm từ San Francisco chẳng ai biết San Jose ở chốn nào. Một bài ca đã kể câu chuyện đồng dao hát rằng. ‘Do you know the way to San Jose?’
Một sớm một chiều, San Jose đứng lên để lãnh danh hiệu kinh đô điện tử toàn thế giới. Vườn nho thành cơ xưởng. Các hãng điện tử danh tiếng thi nhau ra đời tại Silicon Valley. Tiền thuế đổ vào thành phố nhiều như nước chảy. Cơ quan phát triển đô thị thành lập. Các nhà cũ ở khu down town ảm đạm được phá bỏ để nhường chỗ cho cao ốc và dinh thự. Các trung tâm nghị hội, các cơ sở và hotel tráng lệ, tân kỳ thay đổi hoàn toàn bộ mặt của San Jose. Hàng trăm ngôi nhà và kiến trúc cổ tại down town được phân loại. Ban định giá lịch sử và các chuyên viên chọn lựa để duy trì lối 50 di tích và đưa vào khu History San Jose. Còn lại bao nhiêu cho phá bỏ hết. Khu vực phía nam Kelley Park gồm 14 mẫu đất góc đường Senter và Finland được dành riêng cho các di tích của San Jose cổ kính.
Những nhà bưu điện đầu tiên, phòng nha sĩ đầu tiên, tháp ánh sáng, cây xăng, nhà in tất cả di tích của một thời xa xưa được đem vào khu vườn lịch sử. Tất cả được tái dựng trong một khu vườn nhỏ bé, yên tĩnh và đặc biệt là an toàn nhất thế giới.
Ngôi nhà lịch sử của dòng họ Ng. Shing Trung Quốc xây cất năm 1888 tại khu China town San Jose ngày xưa đã được di chuyển về History Park năm 1991 và nay trở thành viện bảo tàng Trung Hoa
Một ngôi nhà của Hy Lạp cũng được thu xếp để có một chỗ trong vườn lịch sử.
Nhiều nhà cổ Victoria cũng đã theo nhau dọn vào Kelley Park.
Cộng đồng Bồ Ðào Nha (Portuguese) vào năm 1915 đã từng xây nhà thờ tại phía đông Santa Clara St. nay xây lại ngôi đền mới trong khu lịch sử và khánh thành năm 1997.
Tổng cộng có 27 công trình kiến trúc tại vườn lịch sử San Jose. Mỗi ngôi nhà, mỗi công thự đều do hội đoàn đại diện cho một tổ chức hay một cộng đồng đảm trách.
Trong nom tổng quát là tổ chức được thành lập có tên là History San Jose (HSJ). Cơ quan này bất vụ lợi, được sự tài trợ một phần của thành phố và phần lớn là tự tổ chức sinh hoạt gây quỹ và bảo trợ cho các ngày lịch sử sắc tộc hàng năm.
Ngôi nhà cổ Greenwalt
Trong số 27 công trình kiến trúc tại History San Jose có một nhà hai tầng nằm sát cạnh đường Senter, bên khu Parking phía Nam của vườn Nhật.
Tại lối vào dưới hầm, trên khung cửa sắt có ghi The Greenwalt 1877. Trong hồ sơ lịch sử, ngôi nhà này được dòng họ Greenwalt xây cất năm 1877 tại lô đất phía tây đường Almaden Expw gần xa lộ 87.
Khi chỉnh trang đô thị, năm 1991Greenwalt house được lựa chọn di chuyển vào khu lịch sử và bị bỏ trống quên lãng trên 10 năm không ai xử dụng. Lý do chính là nhà 2 tầng thuộc phạm vi lịch sử nên sửa chữa rất công phu tốn kém. Dù có nhiều cộng đồng muốn nhận lãnh nhưng không thực hiện được. Tất cả phần nội thất phải hoàn toàn làm lại theo đúng hình thức cũ, phải làm bằng nhân công chuyên môn đặc biệt nên rất phiền phức và đòi hỏi ngân khoản không xác định được bao nhiêu, cũng như thời gian bao lâu?
Ðã từ lâu cơ quan IRCC sưu tầm nhiều di vật bảo tàng và cũng có ý muốn tìm một nơi thuộc tài sản địa ốc công quyền để dựng nhà bảo tàng. Cơ may duy nhất là ngôi nhà này. Vì vậy mặc dù việc sửa chữa toàn diện bên trong và bên ngoài cùng toàn thể khu vực rất tốn kém, nhưng không thể tìm được một cơ hội khác. Ðó là cơ duyên đầu tiên của việc xây dựng Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân Và Việt Nam Cộng Hòa.
Từ lúc sơn sửa bên ngoài, thiết lập khu vườn hòa bình bao quanh, sửa chữa toàn diện bên trong 2 tầng, dọn dẹp khu hầm dưới đất và tầng gác trên mái nhà. Vừa xin tiền thân hữu, vừa vay tiền anh em. Nợ sau trồng lên nợ trước và sau cùng một đường ramp đặc biệt dành cho khách đi xe lăn hoàn tất. Trước sau gần 5 năm công tác. Một viện bảo tàng đã hoàn thành. Trị giá di sản, di vật và tác phẩm trưng bầy hơn 1 triệu Mỹ kim. Sửa chữa toàn diện lên đến 500,000 Mỹ kim. Không kể giá trị địa ốc lịch sử. Món nợ ân tình hiện nay là 300 ngàn Mỹ kim.
Một tấm bảng công đức ân nhân đã hoàn tất để gắn tên các thân hữu xa gần yểm trợ. Nhưng trong số các danh tính này phải có tên dòng họ Greenwalt là người đã kiến trúc ngôi nhà từ năm 1877 cách đây 132 năm.
Dòng họ Giacomazzi
Tuy nhiên, câu chuyện đặc biệt sau đây cho thấy ghi danh dòng họ Greenwalt chưa đủ. Số là một ngày nọ, trong khu vườn lịch sử vắng vẻ chúng tôi thấy hai vợ chồng người Mỹ thật già ghé lại. Bà cụ nói rằng chúng tôi là hàng xóm của gia đình đã từng ở ngôi nhà này. Sau khi trao đổi địa chỉ, một tháng sau chúng tôi nhận được điện thoại của ông Giacomazzi hẹn sẽ dẫn con trai đến thăm.
Ông già Giacomazzi người gốc Bắc Âu, năm nay 78 tuổi cùng con trai gần 50 tuổi lại thăm ngôi nhà cũ. Ông già nói rằng nhà này mẹ tôi mua lại của họ Greenwalt vào năm 1919 giá là 14 ngàn Mỹ kim. Cả nhà và đất. Nhà hiện nay chỉ còn một nửa phía trước, khi chủ nhà giao lại cho chính phủ đã bị cắt đi phân nửa phía sau.
Chúng tôi cùng bước vào ngôi nhà có trên 130 năm tuổi. Tôi hướng dẫn họ lịch sử bảo tàng. Hai cha con hướng dẫn cho tôi về lịch sử ngôi nhà. Ðây là khu Việt Nam Công Hòa, đây là khu thuyền nhân. Ðây là phòng ngủ, đây là phòng ăn. Chỗ này mẹ tôi tiếp khách. Ðây là nơi vợ tôi có bầu anh này. Khi đi sanh rồi về anh con trai này đã được nuôi nấng tại đây.
Rất cảm động, cả hai cha con đều nói rằng ngày nay những người đàn bà trong gia đình chúng tôi không còn nữa. Nhưng nếu còn sống hẳn mẹ tôi rất sung sướng được biết rằng di sản của gia đình được xử dụng vào công việc lịch sử. Không bao giờ dòng họ Greenwalt và Giacomazzi lại nghĩ rằng nhà của họ sau này sẽ là viện bảo tàng của một sắc dân Ðông Nam Á đến Hoa Kỳ 100 năm sau.
Và phần chúng tôi, cũng không bao giờ nghĩ rằng là người tỵ nạn Việt Nam đến tìm đất sống tại Hoa Ky,ợ lại có thể hoàn tất được một Viện Bảo Tàng trên quê hương mới.
*
Thành phố San Jose ngày nay có gần một triệu dân, danh tiếng điện tử vang lừng bốn bề. Dân Việt chiếm 10%, quanh năm sống trong cảnh lao xao. Riêng khu 7 với hai con đường Story và Tully lại càng lao xao, ồn ào biết bao nhiêu vui buồn tủi nhục.
Rất ít người biết rằng muốn đi tìm niềm vui nhẹ hồn nhiên cho trẻ thơ, hay đi tìm lại tình yêu, hoặc tạm thời rũ bỏ bụi trần, ta chỉ cần bước nhẹ vào vườn Kelley. Ðến Happy Hollow để trở lại tuổi thần tiên. Qua Vườn Nhật nhớ lại thời vừa biết yêu, hay qua vườn lịch sử San Jose trong tuổi cao niên. Hình ảnh ông bà già tay trong tay, đi trên con đường vắng vẻ của History San Jose. Không có bóng một chiếc xe. Sáu con đường ngang dọc, chỗ nào cũng là đường đi của khách bộ hành. Parking gần kề.
Người di dân Việt Nam tại San Jose nếu có bà con từ bốn phương trời hải ngoại và ngay cả bà con trong nước qua chơi, sẽ có dịp đi ngược dòng lịch sử Việt Nam từ 1950 đến nay. Quý vị sẽ biết thế nào là tự do dân chủ với Việt Nam Cộng Hòa. Hiểu biết thêm về thuyền nhân tỵ nạn. Ðồng thời xem hình ảnh của San Jose trên 200 lịch sử, cũng tại viện bảo tàng thành phố nằm trong khu Hotel Pacific của Kelley Park.
Xin hãy nghe lời cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ.
Nơi vắng vẻ nhất San Jose chính là Kelley Park
Giao Chỉ, San Jose
Chết Sướng Hơn
Một chú muỗi đực đang tà tà bay qua, bay lại thì bất ngờ, bị người kia xòe bàn tay đập cái chát. Chết, dẹp lép.
Quá uất ức, linh hồn muỗi không siêu thoát được mà bay lại bay vút lên trời xanh, vượt qua trăm ngàn tinh tú đến cúi lạy trước Thượng Đế khóc lóc:
- Thưa ngài, con có làm chi nên tôi đâu mà để bị loài người đập chết thẳng tay như vậy. Xin ngài cứu xét cho con được hồi sinh.
- Thế anh có chích người ta không.
- Thưa không. Hoàn toàn không. Chỉ có đám muỗi cái khát máu mới rủ nhau đi chích người ta. Đám muỗi đực tụi con là dân "chay trường". Bữa nào vui lắm cũng chỉ rủ nhau đi hút mật hoa mà thôi.
Thượng Đế gọi đám kỹ sư mang blue print ra coi lại.
Kỹ sư trưởng coi xong, kính cẩn:
- Thưa Thượng Đế, theo bản design của ngài hồi khai thiên lập địa thì chỉ có muỗi cái trưởng thành mới chích hút máu người và động vật máu nóng để nuôi trứng phát triển duy trì nòi giống. Muỗi cái có vòi dạng đặc biệt có thể xuyên thủng da người và động vật để hút máu. Muỗi cái cần hút thêm máu để có nguồn protein để sản sinh ra trứng. Còn muỗi đực được design với 1 cái vòi có đầu loe ra như hình loa kèn chỉ để mút những giọt sương đêm đọng trên hoa trái hoặc mật hoa mà thôi, tuyệt đối không chích ai được.
Tóm lại, muỗi đực dân "ăn chay trường".
Quay qua muỗi đực, Thượng đế trầm ngâm:
- Thế anh có "chích" mấy nàng muỗi cái không?
Muỗi đực lật đật lại sát gần Thượng đế, trình ngài xem cái vòi toè loe của mình rồi phân bua:
- Thưa ngài, xin ngài coi lại xem, cái vòi này mà chích được ai!
- Anh hiểu sai ý ta rồi. Ta hỏi anh có "chích" muỗi cái bằng cái vòi khác cơ, cái vòi ở dưới kia kià.
Vừa nói, ngài vừa chỉ tay vào hạ thể muỗi đực
Muỗi đực cúi đầu, gãi tai, thú nhận:
- Thưa, cái vụ này thì có. Có đều đều..
Suy nghĩ hồi lâu, Thượng Đế phán:
- Chính vì anh "chích" con muỗi cái, nó có bầu, nó cần protein để nuôi con anh, nó mới phải đi chích máu người. Nếu anh đừng chích nó thì nó cũng chỉ hút sương, hút mật, cũng "trường chay" như anh thôi... Kể cũng không oan uổng gì...
Thượng Đế chưa dứt lời thì muỗi đực, biết mình đuối lý, bật khóc nức nở.
Thượng đế mềm lòng:
- Thôi được, ta có thể cho anh sống lại với một điều kiện
- Điều kiện gì, thưa ngài?
- Anh sẽ không bao giờ được "chích" muỗi cái nữa. Anh có bằng lòng không?
Muỗi đực cúi đầu, suy nghĩ 1 lát, lẩm bẩm như là nói với chính mình:
- Nếu vậy, chết sướng hơn ..... hihihihihi
Siu Tầm Trên Net
Quá uất ức, linh hồn muỗi không siêu thoát được mà bay lại bay vút lên trời xanh, vượt qua trăm ngàn tinh tú đến cúi lạy trước Thượng Đế khóc lóc:
- Thưa ngài, con có làm chi nên tôi đâu mà để bị loài người đập chết thẳng tay như vậy. Xin ngài cứu xét cho con được hồi sinh.
- Thế anh có chích người ta không.
- Thưa không. Hoàn toàn không. Chỉ có đám muỗi cái khát máu mới rủ nhau đi chích người ta. Đám muỗi đực tụi con là dân "chay trường". Bữa nào vui lắm cũng chỉ rủ nhau đi hút mật hoa mà thôi.
Thượng Đế gọi đám kỹ sư mang blue print ra coi lại.
Kỹ sư trưởng coi xong, kính cẩn:
- Thưa Thượng Đế, theo bản design của ngài hồi khai thiên lập địa thì chỉ có muỗi cái trưởng thành mới chích hút máu người và động vật máu nóng để nuôi trứng phát triển duy trì nòi giống. Muỗi cái có vòi dạng đặc biệt có thể xuyên thủng da người và động vật để hút máu. Muỗi cái cần hút thêm máu để có nguồn protein để sản sinh ra trứng. Còn muỗi đực được design với 1 cái vòi có đầu loe ra như hình loa kèn chỉ để mút những giọt sương đêm đọng trên hoa trái hoặc mật hoa mà thôi, tuyệt đối không chích ai được.
Tóm lại, muỗi đực dân "ăn chay trường".
Quay qua muỗi đực, Thượng đế trầm ngâm:
- Thế anh có "chích" mấy nàng muỗi cái không?
Muỗi đực lật đật lại sát gần Thượng đế, trình ngài xem cái vòi toè loe của mình rồi phân bua:
- Thưa ngài, xin ngài coi lại xem, cái vòi này mà chích được ai!
- Anh hiểu sai ý ta rồi. Ta hỏi anh có "chích" muỗi cái bằng cái vòi khác cơ, cái vòi ở dưới kia kià.
Vừa nói, ngài vừa chỉ tay vào hạ thể muỗi đực
Muỗi đực cúi đầu, gãi tai, thú nhận:
- Thưa, cái vụ này thì có. Có đều đều..
Suy nghĩ hồi lâu, Thượng Đế phán:
- Chính vì anh "chích" con muỗi cái, nó có bầu, nó cần protein để nuôi con anh, nó mới phải đi chích máu người. Nếu anh đừng chích nó thì nó cũng chỉ hút sương, hút mật, cũng "trường chay" như anh thôi... Kể cũng không oan uổng gì...
Thượng Đế chưa dứt lời thì muỗi đực, biết mình đuối lý, bật khóc nức nở.
Thượng đế mềm lòng:
- Thôi được, ta có thể cho anh sống lại với một điều kiện
- Điều kiện gì, thưa ngài?
- Anh sẽ không bao giờ được "chích" muỗi cái nữa. Anh có bằng lòng không?
Muỗi đực cúi đầu, suy nghĩ 1 lát, lẩm bẩm như là nói với chính mình:
- Nếu vậy, chết sướng hơn ..... hihihihihi
Siu Tầm Trên Net
Đàn bà ... là ... là ... là ... là ...
Là những gì rung động trái tim ta
Làm cho ta cảm thấy nổi da gà
Là gặp gỡ, xốn xang, là tiếng sét ...
Là hợp "gu" vì cùng chung tính nết
Là âm thầm nhung nhớ lúc chia xa
Là nụ hôn Ôi rợn cả thịt da
Là B Ao lả vòng tay nhưng rất chắc
Là mái tóc mùi chanh thơm hăng hắc
Là môi mềm ấm tẩm buà mê
Là đôi chân thoăn thoắt, đến, đi, về
Là son phấn ngào ngạt hương rực rỡ...
Là niềm vui cho hồn ta cởi mở
Là đắng cay, nhục nhã lúc ghen tuông
Là dễ thương trong những lúc thẹn thùng
Là bẳn gắt dữ dằn khi la lô'i
Là những người sợ ma về ban tối
Là ôm chặt để kiếm sự chở che
Là đắm say lúc má tựa vai kề
Là hay nói "suố t đời yêu anh mãi"
Là cái tật tối ngày luôn lải nhải
Là chỉ mình lẽ phải . Các ông thua !!!
Là shopping hay đi sắm đi mua
Là phục vu, đến gãy lià xương sống
Là hỏi gì không nói, gọi không thưa
Là ngoài trời vừa nắng lại vừa mưa
Là phải trái trắng đen không phân biệt
Là cãi cọ, ta vẩn l0 thua thiệt
Là chịu thua . Thôi đi ngủ cho xong
Là vắng nhà một bữa đã nhớ mong
Là đủ thứ hầm bà lằng trong đó
Tạ ơn trờị Đàn bà vẫn còn đó
Để đàn ông vẫn còn có niềm vui
Chỉ đàn ông? Thôi chết quách cho rồi
Không đàn bà , ôi chẳng thà tận thế!
Ngó quanh ta, đàn bà vẫn còn đó
Để đàn ông ôm mãi thú đau thương
Chỉ đàn ông? thôi, ôi thiên đàng hạ giới
Không đàn bà, ôi thật là ... là...là....là.....
Là những gì rung động trái tim ta
Làm cho ta cảm thấy nổi da gà
Là gặp gỡ, xốn xang, là tiếng sét ...
Là hợp "gu" vì cùng chung tính nết
Là âm thầm nhung nhớ lúc chia xa
Là nụ hôn Ôi rợn cả thịt da
Là B Ao lả vòng tay nhưng rất chắc
Là mái tóc mùi chanh thơm hăng hắc
Là môi mềm ấm tẩm buà mê
Là đôi chân thoăn thoắt, đến, đi, về
Là son phấn ngào ngạt hương rực rỡ...
Là niềm vui cho hồn ta cởi mở
Là đắng cay, nhục nhã lúc ghen tuông
Là dễ thương trong những lúc thẹn thùng
Là bẳn gắt dữ dằn khi la lô'i
Là những người sợ ma về ban tối
Là ôm chặt để kiếm sự chở che
Là đắm say lúc má tựa vai kề
Là hay nói "suố t đời yêu anh mãi"
Là cái tật tối ngày luôn lải nhải
Là chỉ mình lẽ phải . Các ông thua !!!
Là shopping hay đi sắm đi mua
Là phục vu, đến gãy lià xương sống
Là hỏi gì không nói, gọi không thưa
Là ngoài trời vừa nắng lại vừa mưa
Là phải trái trắng đen không phân biệt
Là cãi cọ, ta vẩn l0 thua thiệt
Là chịu thua . Thôi đi ngủ cho xong
Là vắng nhà một bữa đã nhớ mong
Là đủ thứ hầm bà lằng trong đó
Tạ ơn trờị Đàn bà vẫn còn đó
Để đàn ông vẫn còn có niềm vui
Chỉ đàn ông? Thôi chết quách cho rồi
Không đàn bà , ôi chẳng thà tận thế!
Ngó quanh ta, đàn bà vẫn còn đó
Để đàn ông ôm mãi thú đau thương
Chỉ đàn ông? thôi, ôi thiên đàng hạ giới
Không đàn bà, ôi thật là ... là...là....là.....
SỢ VỢ
Trong tiếng Việt gần như không có thuật ngữ ”sợ chồng“ mặc dù xã hội không thiếu những người đàn bà coi chồng như chúa tể trong gia đình. Ấy vậy mà cái thuật ngữ SỢ VỢ, từ ngàn xưa, đã trở thành phổ biến, coi như một trong những thuộc tính quan trọng của đàn ông. Từ SỢ VỢ gợi lên một hình ảnh đáng yêu, dí dỏm, thơ mộng và... hiền triết.
Socrate là một triết gia lớn của nhân loại nhưng ông ta cũng là một người sợ vợ. Câu nói nổi tiếng của ông,
từ hơn hai ngàn năm nay đã được giới mày râu nhâm nhi một cách thú vị:
- Bạn hãy lấy vợ đi, vì bề nào cũng có lợi. Nếu lấy được một người vợ hiền thì bạn là một người đàn ông hạnh phúc, còn nếu lấy phải một bà chằn thì bạn sẽ thành một triết gia.
Như thế lấy vợ thật là tuyệt diệu.
Bạn tôi, có rất nhiều người thuộc trường phái sợ vợ. Có người mới lấy vợ về đã sợ, có người sợ dài dài trong suốt vài chục năm chung sống. Phó thường dân cũng sợ vợ mà người có chức quyền cũng sợ vợ. Người ít học lẫn các bậc trượng phu trí thức đều thuộc lòng câu ”nhất vợ nhì trời”.
Chẳng hạn như anh bạn bác sĩ của tôi lấy vợ đã ngoài hai mươi năm. Bữa kia hai ông bà rủ nhau đi chợ mua sắm các thứ để kỷ niệm ngày đám cưới.
Người vợ bảo:
- Anh giữ tiền nhé. Em mua cái gì thì anh chi.
Người chồng cất tiền vào túi áo. Nhưng khi hai người đến đầu chợ thì bà vợ lại cằn nhằn:
- Ðến chỗ đông người mà sao anh lớ ngớ như một thằng ngố vậy? Anh không biết bọn móc túi đầy trong chợ à?
- Ðừng lo, người chồng nói, chúng nó không làm gì được anh đâu.
Bà vợ ngắm nghía đức ông chồng một lúc rồi quyết định:
- Ðưa hết tiền đây. Anh giữ tiền, mất như chơi.
Người chồng vâng lời, đưa tiền cho vợ. Bà ta bỏ tiền vô ví, cầm chắc trong tay.
Hai người bước vô chợ, đi vòng vòng ngắm nghía hàng hóa một hồi, cuối cùng bà vợ quyết định mua một bộ đầm 130 ngàn. Nhưng khi móc ví trả tiền thì mới hay là ví đã bị rạch và gói bạc biến mất. Anh chồng nhỏ nhẹ nói:
- Phải chi lúc nãy em để anh giữ tiền thì đâu đến nỗi.
Bất ngờ bà vợ túm lấy cổ áo chồng, gầm lên:
- Ðồ ngu! Tại sao tôi bảo anh đưa tiền cho tôi giữ mà anh cũng đưa? Anh phải biết ngăn cản tôi chớ. Thế mới gọi là đàn ông chớ, đàn ông gì mà vợ bảo sao nghe vậy để đến nỗi mất hết tiền. Lỗi của anh sờ sờ như thế mà còn đổ cho người ta. Ðàn ông gì mà hèn quá vậy!
Bị nắm cổ áo ngay giữa chợ, anh chồng mắc cỡ quá, năn nỉ:
- Anh xin lỗi. Buông anh ra đi. Ðừng làm thế ở chỗ đông người.
Nhân vật thứ hai là một người tướng tá đạo mạo. Buổi trưa nóng nực, tình cờ tôi gặp anh ta trong một quán nước. Thấy cổ tay anh ta bị những vết xước chằng chịt như có ai lấy dao lam cứa hàng trăm nhát trên đó, tôi bảo:
- Ủa, tay của ông sao vậy?
Anh bạn vốn là một nhà giáo. Trước khi trả lời câu hỏi, anh ngó lui ngó tới xem có học trò ngồi chung quanh không, rồi rỉ tai tôi:
- Vợ nó ngắt.
- Trời đất! Ngắt mấy ngày mà nát bấy cái cổ tay vậy?
- Có một đêm thôi. Ðêm kinh hoàng. Mất ngủ.
- Sao ông không kháng cự?
- Vì mình có lỗi.
- Lỗi gì?
- Bị bắt quả tang đi chơi với bồ nhí.
- Thì cứ xin lỗi và hứa không quan hệ lăng nhăng nữa là được rồi. Việc gì mà phải nằm im chịu trận âm thầm trong đêm như thế?
Anh bạn giáo viên thở dài, xổ cái ống tay áo xuống, cài măng sét để che những móng vuốt đàn bà, đoạn phân trần:
- Nhà chật, con cái nằm ngủ sát bên cạnh. Vợ chồng cãi nhau sợ chúng nghe, chúng nó buồn, còn mình làm cha cũng sợ mất uy tín, vì thế mà cả bà vợ lẫn mình không ai nói một tiếng. Cuộc trừng phạt vì thế đã diễn ra quằn quại trong đêm tối, nhức nhối trong âm thầm.
Nhân vật thứ ba là một anh nhà văn. Ngày nọ tôi đến nhà anh ta chơi, vừa bước vào nhà đã nghe tiếng cãi vã phía trên cầu thang. Tôi vừa định lên xem chuyện gì thì thấy anh nhà văn hối hả chạy xuống, phía sau là một cô vợ trẻ cầm con dao thái thịt đuổi theo bén gót. Ðể bạn khỏi ngượng tôi nép vào trong gầm cầu thang, trốn. Cô vợ vung dao chém một nhát, anh nhà văn né kịp, con dao Ðồ Long chém vô tường nhá lửa. Cô vợ trẻ phóng lưỡi dao về phía đức ông chồng nhưng hụt. Một trận quyền cước tiếp theo sau. Anh bạn nhà văn nép vô xó chịu đòn, lưng áo bị xé toạc, hằn in dấu cán chổi của trận đòn ngày hôm trước. Lúc ấy tôi bèn xuất hiện can ngăn, đỡ đòn cho bạn. Bà vợ trẻ cúi xuống nhặt con dao, dứ dứ trước mặt chồng mấy cái rồi bỏ đi. Tôi dìu anh bạn lại ngồi nơi cầu thang. Hỏi vì sao bị cô vợ bé đánh quá xá vậy, thì đáp:
- Tối hôm qua mình về với bà cả và mấy đứa nhỏ.
- Thế là bà Hai có đồng ý không?
- Mình có xin phép nghiêm chỉnh.
- Vậy tại sao lại bị đánh?
Anh bạn kéo chiếc khăn tay ra hỉ mũi sồn sột, sau đó ho khan lên mấy tiếng rồi mới trả lời:
- Ðó là tại vì lúc ra đi thì mình khỏe mạnh mà khi trở về thì mình bị cảm cúm. Bà Hai hỏi: “Anh về nhà làm gì mà bị mất sức dữ vậy? “nhưng mình có làm gì đâu mà mất sức.
Nói đến đó thì anh bạn hắt xì hơi mấy cái liên tiếp, rồi lại phân trần:
- Ông nghĩ coi, cảm cúm có khi là chuyện trái gió trở trời.
Trên đây là ba mẩu chuyện sợ vợ với ba nhân vật khác nhau, ba tình huống khác nhau. Bạn đọc chớ vội chê họ là những kẻ hèn nhát đần độn. Anh bác sĩ trong mẩu chuyện thứ nhất sợ vợ chẳng qua vì lòng độ lượng, không muốn hơn thua với đàn bà, thật đáng khen thay! Anh giáo viên trong mẩu chuyện thứ hai sợ vợ vì mục đích vô cùng cao cả đó là ngại ảnh hưởng xấu đến con cái, thật đáng kính thay! Còn anh nhà văn trong mẩu chuyện thứ ba thì láu cá hơn nhiều. Hắn sẵn sàng đưa lưng ra chịu đấm để được... bắt cá hai tay.
ĐÀO HIẾU
Trong tiếng Việt gần như không có thuật ngữ ”sợ chồng“ mặc dù xã hội không thiếu những người đàn bà coi chồng như chúa tể trong gia đình. Ấy vậy mà cái thuật ngữ SỢ VỢ, từ ngàn xưa, đã trở thành phổ biến, coi như một trong những thuộc tính quan trọng của đàn ông. Từ SỢ VỢ gợi lên một hình ảnh đáng yêu, dí dỏm, thơ mộng và... hiền triết.
Socrate là một triết gia lớn của nhân loại nhưng ông ta cũng là một người sợ vợ. Câu nói nổi tiếng của ông,
từ hơn hai ngàn năm nay đã được giới mày râu nhâm nhi một cách thú vị:
- Bạn hãy lấy vợ đi, vì bề nào cũng có lợi. Nếu lấy được một người vợ hiền thì bạn là một người đàn ông hạnh phúc, còn nếu lấy phải một bà chằn thì bạn sẽ thành một triết gia.
Như thế lấy vợ thật là tuyệt diệu.
Bạn tôi, có rất nhiều người thuộc trường phái sợ vợ. Có người mới lấy vợ về đã sợ, có người sợ dài dài trong suốt vài chục năm chung sống. Phó thường dân cũng sợ vợ mà người có chức quyền cũng sợ vợ. Người ít học lẫn các bậc trượng phu trí thức đều thuộc lòng câu ”nhất vợ nhì trời”.
Chẳng hạn như anh bạn bác sĩ của tôi lấy vợ đã ngoài hai mươi năm. Bữa kia hai ông bà rủ nhau đi chợ mua sắm các thứ để kỷ niệm ngày đám cưới.
Người vợ bảo:
- Anh giữ tiền nhé. Em mua cái gì thì anh chi.
Người chồng cất tiền vào túi áo. Nhưng khi hai người đến đầu chợ thì bà vợ lại cằn nhằn:
- Ðến chỗ đông người mà sao anh lớ ngớ như một thằng ngố vậy? Anh không biết bọn móc túi đầy trong chợ à?
- Ðừng lo, người chồng nói, chúng nó không làm gì được anh đâu.
Bà vợ ngắm nghía đức ông chồng một lúc rồi quyết định:
- Ðưa hết tiền đây. Anh giữ tiền, mất như chơi.
Người chồng vâng lời, đưa tiền cho vợ. Bà ta bỏ tiền vô ví, cầm chắc trong tay.
Hai người bước vô chợ, đi vòng vòng ngắm nghía hàng hóa một hồi, cuối cùng bà vợ quyết định mua một bộ đầm 130 ngàn. Nhưng khi móc ví trả tiền thì mới hay là ví đã bị rạch và gói bạc biến mất. Anh chồng nhỏ nhẹ nói:
- Phải chi lúc nãy em để anh giữ tiền thì đâu đến nỗi.
Bất ngờ bà vợ túm lấy cổ áo chồng, gầm lên:
- Ðồ ngu! Tại sao tôi bảo anh đưa tiền cho tôi giữ mà anh cũng đưa? Anh phải biết ngăn cản tôi chớ. Thế mới gọi là đàn ông chớ, đàn ông gì mà vợ bảo sao nghe vậy để đến nỗi mất hết tiền. Lỗi của anh sờ sờ như thế mà còn đổ cho người ta. Ðàn ông gì mà hèn quá vậy!
Bị nắm cổ áo ngay giữa chợ, anh chồng mắc cỡ quá, năn nỉ:
- Anh xin lỗi. Buông anh ra đi. Ðừng làm thế ở chỗ đông người.
Nhân vật thứ hai là một người tướng tá đạo mạo. Buổi trưa nóng nực, tình cờ tôi gặp anh ta trong một quán nước. Thấy cổ tay anh ta bị những vết xước chằng chịt như có ai lấy dao lam cứa hàng trăm nhát trên đó, tôi bảo:
- Ủa, tay của ông sao vậy?
Anh bạn vốn là một nhà giáo. Trước khi trả lời câu hỏi, anh ngó lui ngó tới xem có học trò ngồi chung quanh không, rồi rỉ tai tôi:
- Vợ nó ngắt.
- Trời đất! Ngắt mấy ngày mà nát bấy cái cổ tay vậy?
- Có một đêm thôi. Ðêm kinh hoàng. Mất ngủ.
- Sao ông không kháng cự?
- Vì mình có lỗi.
- Lỗi gì?
- Bị bắt quả tang đi chơi với bồ nhí.
- Thì cứ xin lỗi và hứa không quan hệ lăng nhăng nữa là được rồi. Việc gì mà phải nằm im chịu trận âm thầm trong đêm như thế?
Anh bạn giáo viên thở dài, xổ cái ống tay áo xuống, cài măng sét để che những móng vuốt đàn bà, đoạn phân trần:
- Nhà chật, con cái nằm ngủ sát bên cạnh. Vợ chồng cãi nhau sợ chúng nghe, chúng nó buồn, còn mình làm cha cũng sợ mất uy tín, vì thế mà cả bà vợ lẫn mình không ai nói một tiếng. Cuộc trừng phạt vì thế đã diễn ra quằn quại trong đêm tối, nhức nhối trong âm thầm.
Nhân vật thứ ba là một anh nhà văn. Ngày nọ tôi đến nhà anh ta chơi, vừa bước vào nhà đã nghe tiếng cãi vã phía trên cầu thang. Tôi vừa định lên xem chuyện gì thì thấy anh nhà văn hối hả chạy xuống, phía sau là một cô vợ trẻ cầm con dao thái thịt đuổi theo bén gót. Ðể bạn khỏi ngượng tôi nép vào trong gầm cầu thang, trốn. Cô vợ vung dao chém một nhát, anh nhà văn né kịp, con dao Ðồ Long chém vô tường nhá lửa. Cô vợ trẻ phóng lưỡi dao về phía đức ông chồng nhưng hụt. Một trận quyền cước tiếp theo sau. Anh bạn nhà văn nép vô xó chịu đòn, lưng áo bị xé toạc, hằn in dấu cán chổi của trận đòn ngày hôm trước. Lúc ấy tôi bèn xuất hiện can ngăn, đỡ đòn cho bạn. Bà vợ trẻ cúi xuống nhặt con dao, dứ dứ trước mặt chồng mấy cái rồi bỏ đi. Tôi dìu anh bạn lại ngồi nơi cầu thang. Hỏi vì sao bị cô vợ bé đánh quá xá vậy, thì đáp:
- Tối hôm qua mình về với bà cả và mấy đứa nhỏ.
- Thế là bà Hai có đồng ý không?
- Mình có xin phép nghiêm chỉnh.
- Vậy tại sao lại bị đánh?
Anh bạn kéo chiếc khăn tay ra hỉ mũi sồn sột, sau đó ho khan lên mấy tiếng rồi mới trả lời:
- Ðó là tại vì lúc ra đi thì mình khỏe mạnh mà khi trở về thì mình bị cảm cúm. Bà Hai hỏi: “Anh về nhà làm gì mà bị mất sức dữ vậy? “nhưng mình có làm gì đâu mà mất sức.
Nói đến đó thì anh bạn hắt xì hơi mấy cái liên tiếp, rồi lại phân trần:
- Ông nghĩ coi, cảm cúm có khi là chuyện trái gió trở trời.
Trên đây là ba mẩu chuyện sợ vợ với ba nhân vật khác nhau, ba tình huống khác nhau. Bạn đọc chớ vội chê họ là những kẻ hèn nhát đần độn. Anh bác sĩ trong mẩu chuyện thứ nhất sợ vợ chẳng qua vì lòng độ lượng, không muốn hơn thua với đàn bà, thật đáng khen thay! Anh giáo viên trong mẩu chuyện thứ hai sợ vợ vì mục đích vô cùng cao cả đó là ngại ảnh hưởng xấu đến con cái, thật đáng kính thay! Còn anh nhà văn trong mẩu chuyện thứ ba thì láu cá hơn nhiều. Hắn sẵn sàng đưa lưng ra chịu đấm để được... bắt cá hai tay.
ĐÀO HIẾU

