Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Chúa ơi!
Con quỳ lạy Chúa trên Trời
Sao cho Con trốn được người Con yêu
Rằng Con thiếu nợ đã nhiều
Nàng còn mua sắm đủ điều Chúa ơi!
Con cày hai dzóp hụt hơi
Người con yêu lại đua đòi chơi xe
Bảo gì Con cũng phải nghe
Nếu Con cãi lại là te tua đời
Trước đây Con tưởng gặp thời
Chúa ban Con được một người Con yêu
Giờ đây thân xác tiêu điều
Đời Con phải chịu rất nhiều đắng cay
Thân Con chẳng khác trâu cày
Nợ nàng Con trả dài dài chưa xong
Con giờ như cá lòng tong
Sụt ba chục ký, ốm nhong, rã rời
Thế mà đâu hết nợ đời
Nấu cơm, rửa chén, bị đòi... tù ti
Người đâu gặp gỡ làm chi
Để cho khổ thế còn gì là xuân?
Chúa ơi! Con khổ vô ngần
Chúa mà không giúp là thân con tàn
Con đang thiếu nợ trăm ngàn
Nhìn đồ Nàng sắm hai hàng lệ rơi
Con quỳ lạy Chúa trên Trời
Giúp cho Con trốn được người Con yêu!
Chúa phán:
Thôi thì Con hảy đánh liều
Để nàng cứ thả
coi diều tới đâu!
Theo ta thì chẳng bao lâu
Gió diều gặp bảo
quay đầu về ngay!
Dù sao..rán khổ hôm nay
Nếu chịu không thấu
thì mau mau....bay.. .về ...với ta
Con quỳ lạy Chúa trên Trời
Sao cho Con trốn được người Con yêu
Rằng Con thiếu nợ đã nhiều
Nàng còn mua sắm đủ điều Chúa ơi!
Con cày hai dzóp hụt hơi
Người con yêu lại đua đòi chơi xe
Bảo gì Con cũng phải nghe
Nếu Con cãi lại là te tua đời
Trước đây Con tưởng gặp thời
Chúa ban Con được một người Con yêu
Giờ đây thân xác tiêu điều
Đời Con phải chịu rất nhiều đắng cay
Thân Con chẳng khác trâu cày
Nợ nàng Con trả dài dài chưa xong
Con giờ như cá lòng tong
Sụt ba chục ký, ốm nhong, rã rời
Thế mà đâu hết nợ đời
Nấu cơm, rửa chén, bị đòi... tù ti
Người đâu gặp gỡ làm chi
Để cho khổ thế còn gì là xuân?
Chúa ơi! Con khổ vô ngần
Chúa mà không giúp là thân con tàn
Con đang thiếu nợ trăm ngàn
Nhìn đồ Nàng sắm hai hàng lệ rơi
Con quỳ lạy Chúa trên Trời
Giúp cho Con trốn được người Con yêu!
Chúa phán:
Thôi thì Con hảy đánh liều
Để nàng cứ thả
coi diều tới đâu!
Theo ta thì chẳng bao lâu
Gió diều gặp bảo
quay đầu về ngay!
Dù sao..rán khổ hôm nay
Nếu chịu không thấu
thì mau mau....bay.. .về ...với ta
Em cứ mặc
Em cứ mặc, các loại hàng mỏng dính
Để bao người chột dạ bước liêu xiêu
Nước da kia mà để lộ ra nhiều
Sẽ được chiếu, các anh nhìn đã lắm
Em cứ mặc muốn sexy phải ngắn
Hở phần lưng, ôi ngó đã làm sao!
Huống chi đưa cái lõm rốn ra chào
Rung rinh rốn làm sao không mê được!
Mông má có đầy, mắt môi có ướt
Mới gợi thèm, nhìn thấy đã gì đâu
Lỡ quen nhau, giao ước buổi sơ đầu
Hãy nhớ học kiểu khoe khoang, mốt, mảnh...
Van em cứ hồn nhiên mà đỏng đảnh
Quần tưa tưa và vải lụa Hà Đông
Giản dị thôi mà duyên dáng vô cùng
Em nên nhớ, còn cho mình ngắm nữa
Em cứ mặc và trưng bày...thả cửa
Xin hãy là vệ nữ của ngày xưa
Mộc mạc, đơn sơ, giản dị, sương mờ..
Em ơi anh vẫn đợi chờ
Ngày nao em cứ dại khờ như xưa....
PNCÔ/HaTrang
Em cứ mặc, các loại hàng mỏng dính
Để bao người chột dạ bước liêu xiêu
Nước da kia mà để lộ ra nhiều
Sẽ được chiếu, các anh nhìn đã lắm
Em cứ mặc muốn sexy phải ngắn
Hở phần lưng, ôi ngó đã làm sao!
Huống chi đưa cái lõm rốn ra chào
Rung rinh rốn làm sao không mê được!
Mông má có đầy, mắt môi có ướt
Mới gợi thèm, nhìn thấy đã gì đâu
Lỡ quen nhau, giao ước buổi sơ đầu
Hãy nhớ học kiểu khoe khoang, mốt, mảnh...
Van em cứ hồn nhiên mà đỏng đảnh
Quần tưa tưa và vải lụa Hà Đông
Giản dị thôi mà duyên dáng vô cùng
Em nên nhớ, còn cho mình ngắm nữa
Em cứ mặc và trưng bày...thả cửa
Xin hãy là vệ nữ của ngày xưa
Mộc mạc, đơn sơ, giản dị, sương mờ..
Em ơi anh vẫn đợi chờ
Ngày nao em cứ dại khờ như xưa....
PNCÔ/HaTrang

Tình-yêu Online !!!
Tình online có lắm điều lý thú
Chỉ tội thay cho mấy chú Việt kều.
Nàng hai mươi, tập tễnh bưoc vào yêu,
Chàng năm mấy, tuổi xế chiều sống dậy.
Yêu say đắm, yêu chẳng cần che đậy,
Từ quen nhau, chàng cảm thấy yêu đời.
Tóc hoa râm, cặp mắt kiếng đồi mồi,
Chàng nhuộm lại, rồi chơi thêm kiếng mát.
Chải mái tóc y chang Châu Nhuận Phát,
Sửa dáng đi chẳng khác Lưu Ðức Hoà.
Chàng tin rằng mình có số đào hoa,
Nên mới grab được một cô bồ nhí.
Nhưng chuyện đời có nhiều khi phi lý,
Vừa quen nhau mới chỉ một tháng tròn.
Nàng thì thầm, "Anh yêu có nhớ hôn?
Ðúng một tháng, tặng em qua kỷ niệm."
Dân cắt cỏ, cả một đời cần kiệm,
Chàng nghe xong chết lịm nữa con người.
Nhưng vì yêu nên cũng ráng gượng cười,
Ra nhà bank rút tiền mua chiếc nhẫn.
Ðược vài hôm nàng lại làm mặt giận,
"Nói yêu em mà chẳng hiểu cho em
Chat ở ngoài dịch vụ hổng tự nhiên,
Anh hãy gởi ít tiền mua vi tính."
Ðang khi yêu, chàng giống như thằng lính,
Chỉ cúi đầu nghe lịnh của quan bà.
Một ngàn đô, nghĩ lại cũng xót xa,
Nhưng thôi kệ, để vui lòng người đẹp.
Bóp của chàng cứ mỗi ngày mỗi xẹp,
Rồi một hôm người đẹp lại phán rằng,
"Từ nhà em ra ngoài phố chẳng gần
Em cần có mấy ngàn mua A-mốc."
Say men tình, chàng trở thành thằng ngốc,
Còn bao nhiêu cũng "ma róc" đem dâng.
Vì đã lỡ mạo danh là bác sĩ,
Có lẽ đâu nghèo hơn bác thằng Bần.
Chàng kẹt quá rút dần tiền tín dụng,
Ðể gởi về cung phụng cho người thương.
Trời xui chi cái cảnh đời ngang trái,
Chàng đi làm, nàng lại được lãnh lương.
Rồi một hôm, chàng quyết định hồi hương
Về Việt Nam thăm người tình bé nhỏ.
Tạm giã biệt với cuộc đời cắt cỏ,
Khoác vét-tông làm bác sĩ chuyên khoa.
Ðến phi trường mãi chẳng thấy nàng ra,
Chàng nôn nóng vẫy taxi đi kiếm.
Tìm đến nơi nỗi mừng vui tắt lịm,
Nàng đang ngồi âu yếm với một người.
Chàng nghẹn ngào không nói được một lời,
Khi nàng hỏi, "Bác ơi, tìm ai đó?
Tôi với bác chưa một lần gặp mặt
Sao bỗng nhận là người quen vô cớ?"
Gã thanh20niên bỗng chồm lên, hùng hổ
"Ông đi mau, tui xuỵt chó bây giờ. "
Chàng buồn thiu đưa cặp mắt thẫn thờ,
Ðón taxi để đi tìm khách sạn.
Trở về Mỹ sống chuỗi ngày buồn chán,
Chàng mới thề muôn kiếp hận đàn bà.
Ðôi khi ngồi nghĩ lại thấy xót xa,
Thiệt là tức, đã già còn dại gái.
Siu Tầm

Nói Với Các Bạn Trẻ Trong Nước
(Nếu được, kính nhờ quý vị chuyển cho bạn bè trong nước) Các bạn VN đói nghèo, thất thế ở trong nước thân mến,
cc: Báo Sinh Viên Yêu Nước
Cách đây vài hôm tôi có dịp nói chuyện với một người bạn trong nước. Người bạn này nhận chân ra được sự gian tham của chính quyền CSVN là chướng ngại lớn nhất cho sự tiến bộ, công bằng của VN. Tư bản đỏ thì giàu sụ, bạn thì khố rách áo ôm. Người bạn tôi trách tôi và trách những người Việt hải ngoại như tôi là chỉ biết nói bằng cái miệng, nếu ngon tại sao không về nước mà chống Cộng.
Thưa các bạn,
Tôi cười khì. Sống là để mưu cầu hạnh phúc. Cơm áo, nhà cửa, tự do và an toàn là những căn bản của hạnh phúc, thiếu nó là bất hạnh ngay. Dĩ nhiên là hạnh phúc còn bao gồm nhiều thứ khác nhưng chẳng phải vậy ư? Các bạn đang chịu bất hạnh vì nhà cửa dột nát, cơm áo không đủ ấm no, quyền tự do không có, ấm ớ chỉ trích chính quyền là bị đàn áp, bắt giam, tức không có sự an toàn. Tôi đã có đủ. Khi tôi có đủ những thứ này rồi thì tôi bắt đầu nghĩ cho người khác, mà đầu tiên là cho đồng bào của tôi, tức là các bạn.
Nhưng ủa, thưa các bạn, tại sao tôi phải bỏ những căn bản hạnh phúc này, lao đầu về chỗ thiếu an toàn, mất tự do, để hy sinh cho các bạn? Kẻ đang thiếu thốn, nghèo đói, bị chèn ép, chịu đựng sự bất công là các bạn. Kẻ đang sống trong cái xã hội mục ruỗng, thối nát, mạnh ai nấy vơ vét, mạnh ai nấy rút ruột của công, xây cầu thì cầu sập, gái thì bán thân cho ngoại nhân, trai thì bán sức làm lao nô, là các bạn. Đứng lên giành lại quyền làm chủ, lật đổ cái chính quyền thối nát kia, để mưu cầu một cuộc sống bình đẳng, dân chủ, tự do và ấm no hay không là chuyện mà các bạn đóng vai chánh, tôi chỉ xin một vai phụ. Các bạn không làm thì các bạn suốt đời khom lưng cho đám tư bản đỏ và con ông cháu cha đè đầu cỡi cổ.
Thưa các bạn,
Nói xấu thì tôi không xấu, bởi vì tôi nào có hại ai, tôi vẫn chống đám chính quyền VC đang đì các bạn, tôi vẫn làm điều mà một số người Việt tị nạn đã lãng quên. Nhưng nói tốt đến mức thánh thiện thì tôi cũng chẳng được như vậy, vì tôi không xả thân về VN để tranh đấu cho quyền lợi của các bạn. Ai đấu tranh thì tôi ủng hộ, về tinh thần, về tiếng nói và về tài chánh. Bằng nếu các bạn không đấu tranh thì chuyện các bạn nghèo, các bạn bị hiếp đáp, các bạn sống trong một quốc gia lạc hậu, tôi đành phó mặc. Chuyện đấu tranh là chuyện của các bạn. Tôi ghét bất công, tôi chửi bất công. Tôi ghét VC gian tham, tôi chửi VC. Tôi còn có bổn phận trả lại món nợ ân tình cho quốc gia mà tôi đang ở, cho xã hội đã ra tay cứu vớt tôi. Tôi đã là công dân của quốc gia này, nơi mà tôi được đối xử bình đẳng, nơi tôi có phần làm chủ, không cần hối lộ, móc ngoặc, khúm núm với bất cứ ai.
Các bạn có ba con đường chọn lựa, một là chạy ra hải ngoại như tôi, hai là đấu tranh cho bản thân các bạn, ba là suốt đời theo làm tôi tớ cho cái đám gian tham. Bạn chọn con đường thứ nhất, hôm nào gặp nhau trên mảnh đất tự do này chúng ta sẽ nhậu một bữa đã đời. Bạn chọn con đường thứ nhì thì tôi hoan hô và ủng hộ hết mình, còn chọn con đường thứ ba thì tôi cũng chẳng biết làm sao, đành để cho các bạn bị đè đầu, cỡi cổ.
Một người Việt hải ngoại (không đại diện cho ai hết),
Nguyễn văn Hoàng
(Hoàng Nguyên, hoang4eb@gmail.com)
Những Công Nhân Sa Cơ ở Đô Thị
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đánh gục giới công nhân
Down and out in Ho Chi Minh City - The global economic crisis bears down on Vietnamese workers.
By Matt Steinglass - GlobalPost
Hoàng Trần
chuyển ngữ Hai năm về trước chị Lê Thị Cúc, 35 tuổi, rời bỏ làng quê thuần nông của mình ở Tỉnh Quảng Bình thuộc miền trung và đến thành phố lớn để kiếm một việc làm tại một nhà máy may quần áo. 10 giờ một ngày, 6 ngày một tuần, chị may những chiếc áo thun (T- shirt) cho các thương hiệu của các nước phương Tây như Old Navy và The Gap, lương khoảng 60 đô la một tháng.
Khoản tiền đó không phải là nhiều, chỉ đủ cho chị tiêu xài cho bản thân và gửi về nhà 10 đô la cho cha mẹ già và năm người anh em, nhưng cũng còn tốt hơn cái tình cảnh nghèo túng tuyệt vọng ở Quảng Bình, và chị đã có mọi lý do để nghĩ rằng mọi chuyện sẽ được cải thiện.
Việt Nam vừa mới tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới [WTO], nền kinh tế đã từng tăng trưởng 7% mỗi năm kể từ năm 2000, đầu tư nước ngoài đang được rót vào, và mọi người đang nói rằng trong vòng một hoặc hai chục năm nữa đất nước có thể sẽ giàu lên bằng Thái Lan.
Ngồi trên một chiếc chiếu cói trải giữa sàn căn phòng rộng hơn 9 mét vuông thuê chung cùng 4 công nhân may mặc khác, chị Cúc cho biết tinh thần lạc quan bao nhiêu mà hai năm trước chị đã từng có, thì bây giờ đã biến mất hết rồi.
Chị đã và đang bị thất nghiệp kể từ tháng Mười hai 2008. Công ty may Collan Inc. mà chị từng làm đã cắt giảm 1000 trong tổng số 3000 công nhân mà họ có vào năm ngoái. Với nhu cầu tiêu dùng tại Hoa Kỳ, Âu châu và Nhật Bản sút giảm đột ngột vào mùa thu năm 2008, xuất khẩu của Việt Nam, cỗ máy cái trong nền kinh tế nước này, đã rơi xuống vực thẳm.
Dù vậy, chị Cúc vẫn đang cố bám lấy thành phố, gửi đi những lá đơn xin việc. Cho tới lúc này, chị vẫn không nhận được bất cứ hồi âm nào.
“Tôi quá mệt mỏi cho số phận của mình rồi,” chị Cúc than thở.
Ngày nay có hàng nhiều chục ngàn người như chị Cúc ở Thành phố Hồ Chí Minh. Vào tháng Mười hai, tài liệu của tổ chức công đoàn do nhà nước quản lý ở địa phương cho biết thành phố đã có 30.000 người mất việc làm trong tháng Mười một. Trong khi với phần còn lại của Việt Nam, theo bà Nguyễn Thị Hải Vân, vụ phó Vụ Lao động và Việc làm của chính phủ [Bộ Lao Động, Thương binh và Xã hội], đã ước lượng vào đầu tháng ba rằng tổng cộng số việc làm bị mất trong nửa năm đầu có thể lên tới 300.000.
Những số liệu đó chỉ áp dụng cho thiểu số những công ăn việc làm của Việt Nam trong khu vực chính thức — ví dụ như ở các công ty sở hữu của nước ngoài, những nơi phải báo cáo mức tiền lương với cục thuế. Trong những doanh nghiệp nhỏ sở hữu gia đình theo lối không chính thức tạo ra giá trị chủ yếu của nền kinh tế, thì không có cách gì để nói được có bao nhiêu công ăn việc làm đang bị biến mất.
Trong khi đó, dân số Việt Nam thuộc loại trẻ: theo cơ quan Phát triển của Liên hiệp quốc UNDP, lực lượng lao động đang tăng lên mỗi năm một triệu công nhân. Cũng theo báo cáo này của UNDP ước tính rằng để tìm công ăn việc làm cho họ, và cho mỗi năm 200.000 người rời bỏ nghề nông để kiếm việc làm trong các nhà máy như chị Cúc, nền kinh tế sẽ phải tăng trưởng trên 8,5%. Thay vào đó, mức tăng trưởng năm nay ước đạt từ khoảng từ 5,5% theo Ngân hành Phát triển châu Á, cho tới 0,3% theo tổ chức Economist Intelligence Unit.
Theo truyền thống, các công nhân Việt nam khi mất việc làm có thể quay lại làng quê của họ để tìm kiếm sự hổ trợ. Họ trở về với thân nhân, những người phải chia sẻ thêm vài ba bát cơm từ vụ mùa màng hàng năm. Thế nhưng vào lúc này, điều đó có thể sẽ khó khăn hơn. Nền nông nghiệp của Việt Nam đã và đang dần dần hợp nhất lại về tay một người chủ (nào đó) cho có hiệu quả hơn, và nhiều gia đình nghèo không có ruộng đất riêng của họ.
“Tôi không thể trở về làng quê, ở đó chẳng có việc gì mà làm cả,” theo lời của người từng cùng làm việc với chị Cúc tại Collan, cô Đinh Thị Hạ. Hạ cũng như Cúc tới từ vùng quê Quảng Bình nghèo túng, cũng đã bị mất việc hôm 20 tháng Một 2009, và cô đã trở về làng trong dịp đón năm mới, Tết âm lịch. Không thể tìm được việc làm, cô đã trở lại Thành phố Hồ Chí Minh, và kể từ đó cô đang cố gắng tìm lấy một việc làm.
“Hai năm trước tôi đã từng hy vọng là mình có thể tiết kiệm được một ít tiền,” Hạ kể. “Thế nhưng điều đó giờ đã bay biến lên trời rồi.”
Những công nhân không thể trở về nhà buộc phải làm việc bán thời gian, những công việc không chính thức để kiếm sống. Lê Xuân Thông, 38 tuổi, đang kiếm được một khoản lương ổn định 200 đô la một tháng như là một người bán hàng cho một siêu thị bán máy truyền hình Sanyo cho tới khi bị mất việc vào tháng Mười một. Giờ thì anh lái một chiếc “xe ôm,” hay còn gọi là xe taxi hai bánh, chạy trên những con đường của Thành phố Hồ Chí Minh.
“Vào một ngày thuận lợi, tôi có thể kiếm được 100.000 đồng (6 đô la Mỹ). Gặp ngày không may …” Thông nhún vai. “Tôi phải làm việc. Tôi có một đứa con gái sáu tuổi.”
Với những người khác, sự sụp đổ của nền kinh tế như hiện nay là điều khó khăn hơn nhiều. Thuyên, 23 tuổi, lớn lên trong một làng quê miền núi vùng biên giới với Trung Quốc, và đã di chuyển tới Hà Nội năm 2005 để làm việc tại một nhà máy dây cáp diện của Nhật. Cô bị mất việc tháng Mười hai 2008, nhưng vẫn chưa cho cha mẹ biết nơi giờ đây cô đang làm ở chỗ nào: một phòng đấm bóp.
“Khi em tốt nghiệp phổ thông, em chỉ muốn trở thành một công nhân thôi,” Thuyên tâm sự. “giờ thì em lo là ai đó quen biết sẽ nhìn thấy em đang làm trong quán đấm bóp này. Nhưng em không có lựa chọn nào khác cả.”
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đánh gục giới công nhân
Down and out in Ho Chi Minh City - The global economic crisis bears down on Vietnamese workers.
By Matt Steinglass - GlobalPost
Hoàng Trần
chuyển ngữ Hai năm về trước chị Lê Thị Cúc, 35 tuổi, rời bỏ làng quê thuần nông của mình ở Tỉnh Quảng Bình thuộc miền trung và đến thành phố lớn để kiếm một việc làm tại một nhà máy may quần áo. 10 giờ một ngày, 6 ngày một tuần, chị may những chiếc áo thun (T- shirt) cho các thương hiệu của các nước phương Tây như Old Navy và The Gap, lương khoảng 60 đô la một tháng.
Khoản tiền đó không phải là nhiều, chỉ đủ cho chị tiêu xài cho bản thân và gửi về nhà 10 đô la cho cha mẹ già và năm người anh em, nhưng cũng còn tốt hơn cái tình cảnh nghèo túng tuyệt vọng ở Quảng Bình, và chị đã có mọi lý do để nghĩ rằng mọi chuyện sẽ được cải thiện.
Việt Nam vừa mới tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới [WTO], nền kinh tế đã từng tăng trưởng 7% mỗi năm kể từ năm 2000, đầu tư nước ngoài đang được rót vào, và mọi người đang nói rằng trong vòng một hoặc hai chục năm nữa đất nước có thể sẽ giàu lên bằng Thái Lan.
Ngồi trên một chiếc chiếu cói trải giữa sàn căn phòng rộng hơn 9 mét vuông thuê chung cùng 4 công nhân may mặc khác, chị Cúc cho biết tinh thần lạc quan bao nhiêu mà hai năm trước chị đã từng có, thì bây giờ đã biến mất hết rồi.
Chị đã và đang bị thất nghiệp kể từ tháng Mười hai 2008. Công ty may Collan Inc. mà chị từng làm đã cắt giảm 1000 trong tổng số 3000 công nhân mà họ có vào năm ngoái. Với nhu cầu tiêu dùng tại Hoa Kỳ, Âu châu và Nhật Bản sút giảm đột ngột vào mùa thu năm 2008, xuất khẩu của Việt Nam, cỗ máy cái trong nền kinh tế nước này, đã rơi xuống vực thẳm.
Dù vậy, chị Cúc vẫn đang cố bám lấy thành phố, gửi đi những lá đơn xin việc. Cho tới lúc này, chị vẫn không nhận được bất cứ hồi âm nào.
“Tôi quá mệt mỏi cho số phận của mình rồi,” chị Cúc than thở.
Ngày nay có hàng nhiều chục ngàn người như chị Cúc ở Thành phố Hồ Chí Minh. Vào tháng Mười hai, tài liệu của tổ chức công đoàn do nhà nước quản lý ở địa phương cho biết thành phố đã có 30.000 người mất việc làm trong tháng Mười một. Trong khi với phần còn lại của Việt Nam, theo bà Nguyễn Thị Hải Vân, vụ phó Vụ Lao động và Việc làm của chính phủ [Bộ Lao Động, Thương binh và Xã hội], đã ước lượng vào đầu tháng ba rằng tổng cộng số việc làm bị mất trong nửa năm đầu có thể lên tới 300.000.
Những số liệu đó chỉ áp dụng cho thiểu số những công ăn việc làm của Việt Nam trong khu vực chính thức — ví dụ như ở các công ty sở hữu của nước ngoài, những nơi phải báo cáo mức tiền lương với cục thuế. Trong những doanh nghiệp nhỏ sở hữu gia đình theo lối không chính thức tạo ra giá trị chủ yếu của nền kinh tế, thì không có cách gì để nói được có bao nhiêu công ăn việc làm đang bị biến mất.
Trong khi đó, dân số Việt Nam thuộc loại trẻ: theo cơ quan Phát triển của Liên hiệp quốc UNDP, lực lượng lao động đang tăng lên mỗi năm một triệu công nhân. Cũng theo báo cáo này của UNDP ước tính rằng để tìm công ăn việc làm cho họ, và cho mỗi năm 200.000 người rời bỏ nghề nông để kiếm việc làm trong các nhà máy như chị Cúc, nền kinh tế sẽ phải tăng trưởng trên 8,5%. Thay vào đó, mức tăng trưởng năm nay ước đạt từ khoảng từ 5,5% theo Ngân hành Phát triển châu Á, cho tới 0,3% theo tổ chức Economist Intelligence Unit.
Theo truyền thống, các công nhân Việt nam khi mất việc làm có thể quay lại làng quê của họ để tìm kiếm sự hổ trợ. Họ trở về với thân nhân, những người phải chia sẻ thêm vài ba bát cơm từ vụ mùa màng hàng năm. Thế nhưng vào lúc này, điều đó có thể sẽ khó khăn hơn. Nền nông nghiệp của Việt Nam đã và đang dần dần hợp nhất lại về tay một người chủ (nào đó) cho có hiệu quả hơn, và nhiều gia đình nghèo không có ruộng đất riêng của họ.
“Tôi không thể trở về làng quê, ở đó chẳng có việc gì mà làm cả,” theo lời của người từng cùng làm việc với chị Cúc tại Collan, cô Đinh Thị Hạ. Hạ cũng như Cúc tới từ vùng quê Quảng Bình nghèo túng, cũng đã bị mất việc hôm 20 tháng Một 2009, và cô đã trở về làng trong dịp đón năm mới, Tết âm lịch. Không thể tìm được việc làm, cô đã trở lại Thành phố Hồ Chí Minh, và kể từ đó cô đang cố gắng tìm lấy một việc làm.
“Hai năm trước tôi đã từng hy vọng là mình có thể tiết kiệm được một ít tiền,” Hạ kể. “Thế nhưng điều đó giờ đã bay biến lên trời rồi.”
Những công nhân không thể trở về nhà buộc phải làm việc bán thời gian, những công việc không chính thức để kiếm sống. Lê Xuân Thông, 38 tuổi, đang kiếm được một khoản lương ổn định 200 đô la một tháng như là một người bán hàng cho một siêu thị bán máy truyền hình Sanyo cho tới khi bị mất việc vào tháng Mười một. Giờ thì anh lái một chiếc “xe ôm,” hay còn gọi là xe taxi hai bánh, chạy trên những con đường của Thành phố Hồ Chí Minh.
“Vào một ngày thuận lợi, tôi có thể kiếm được 100.000 đồng (6 đô la Mỹ). Gặp ngày không may …” Thông nhún vai. “Tôi phải làm việc. Tôi có một đứa con gái sáu tuổi.”
Với những người khác, sự sụp đổ của nền kinh tế như hiện nay là điều khó khăn hơn nhiều. Thuyên, 23 tuổi, lớn lên trong một làng quê miền núi vùng biên giới với Trung Quốc, và đã di chuyển tới Hà Nội năm 2005 để làm việc tại một nhà máy dây cáp diện của Nhật. Cô bị mất việc tháng Mười hai 2008, nhưng vẫn chưa cho cha mẹ biết nơi giờ đây cô đang làm ở chỗ nào: một phòng đấm bóp.
“Khi em tốt nghiệp phổ thông, em chỉ muốn trở thành một công nhân thôi,” Thuyên tâm sự. “giờ thì em lo là ai đó quen biết sẽ nhìn thấy em đang làm trong quán đấm bóp này. Nhưng em không có lựa chọn nào khác cả.”
Liên Minh Quân Sự Việt Cộng-Hoa Kỳ
Nguyễn Ðạt Thịnh Chuyện nghị sĩ John McCain đòi mở rộng bang giao Việt Cộng-Hoa Kỳ, không phải là chuyện mới, mặc dù ông mới tuyên bố Hoa Kỳ “muốn tăng cường liên hệ quân sự” với Việt Cộng trong cuộc họp báo tại Hà Nội hôm thứ Ba mùng 7 tháng Tư. Ông còn nói việc tăng cường này sẽ đưa đến việc các sĩ quan quân đội Việt Cộng được huấn luyện tại Hoa Kỳ.
McCain là thành viên uỷ ban Quốc Phòng thượng viện, nên chuyến thăm viếng Á Châu của ông trong giai đoạn Á Châu đang là sân khấu cho hai biến chuyển mang tính chất quân sự, cũng chuyên chở nhiều ý nghĩa đặc biệt. Hai biến chuyển đó là vụ chiếc tiểu hạm Impeccable bị 5 tiểu hạm của Trung Cộng khiêu khích trên Biển Ðông, và vụ Bắc Hạn phóng không thành công một vệ tinh không gian.
Trước cuộc họp báo này, McCain còn nói với các sinh viên viện Cao Ðẳng Ngoại Giao Hà Nội là ông nhìn thấy nhu cầu cộng tác quân sự với Việt Cộng sau thái độ tranh dành của Trung Cộng tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Chuyến đi của ông đã hoàn thành, nhưng ông có thành công chút nào không?
Cùng đi với McCain còn có 2 nghị sĩ nữa là Lindsey Graham và Amy Klobuchar; bà Klobuchar là nghị sĩ Dân Chủ, trong lúc cả hai nghị sĩ Graham và McCain đều thuộc đảng Cộng Hòa.
Truớc khi đến Việt Nam, họ đã ghé thăm Nhật, và sau Việt Nam họ sang Trung Cộng; trên bình diện quân sự Nhật là đồng minh của Hoa Kỳ, Trung Cộng và Việt Cộng không hẳn đồng minh với nhau, nhưng cả hai cùng có thái độ bênh vực Bắc Hàn. Thái độ chính trị của Việt Cộng có điểm tế nhị là họ chống Trung Cộng với mức độ “vừa phải” trong những vấn đề tranh chấp hai hải đảo Hoàng Sa và Truờng Sa, nhưng vẫn thần phục Trung Cộng trên những địa hạt khác.
Trong lúc thế giới đang thảo luận biện pháp trừng phạt Bắc Hàn về việc phóng hỏa tiễn, thì Việt Cộng cùng với Nga và Trung Cộng lên tiếng kêu gọi một biện pháp nhẹ nhàng và một thái độ tự chế của thế giới tự do. Ðối với cuộc vận động cộng tác quân sự của ông McCain, Hà Nội không có một thái độ chính thức nào cả.
Cũng trong buổi họp báo tại Hà Nội, nghị sĩ Graham kêu gọi Việt Cộng nên có một phản ứng lên án Bắc Hàn như một nguy cơ quân sự cho vùng Ðông Á; Graham là một cựu đại tá không quân và cựu thẩm phán.
Ngoài ra Hà Nội còn không thích lời McCain kêu gọi cởi mở chính trị hơn, trả tự do cho những người bị giam giữ chi vì bất đồng chính kiến với nhà nuớc, và cho phép người Việt Nam có nhiều tự do hơn, nhất là tự do ngôn luận.
Ông nói, “đồng hành với tiến bộ kinh tế phải là cởi mở chính trị và tôn trọng nhân quyền”, nhiều hãng thông tấn và truyền thông quốc tế tuờng thuật câu tuyên bố này của McCain, nhưng truyền thông trong nuớc không đề cập đến.
Báo Hà Nội Mới viết, “TNS Giôn Mắc-kên bày tỏ ấn tượng mạnh mẽ về sự phát triển của Việt Nam cũng như tiến trình phát triển trong quan hệ song phương giữa hai nước, nhất là trên lĩnh vực kinh tế và giáo dục - đào tạo, đồng thời cho rằng, hai bên cần tăng cường hợp tác hơn nữa trên những lĩnh vực có thế mạnh của hai nước.”
Ngoài việc tuờng thuật McCain nói với Nguyễn Tấn Dũng những “ấn tuợng mạnh mẽ về sự phát triển của Việt Nam”, Hà Nội Mới còn kể lại việc ông McCain đến thăm “chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng”, và được ông Trọng cho biết ông mong rằng, với vốn hiểu biết về Việt Nam, với cương vị và uy tín của mình, TNS Giôn Mắc-kên sẽ tiếp tục có những đóng góp thiết thực vào việc thúc đẩy quan hệ hai nước, hai QH, đồng thời tác động để chính quyền Hoa Kỳ sớm công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, sớm để Việt Nam được hưởng quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), thúc đẩy các doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam, cũng như tăng cường giao lưu thương mại giữa hai nước.”
Báo Sài Gòn Giải Phóng tường thuật lại một câu phỏng vấn McCain về liên hệ quốc phòng Mỹ-Việt Cộng:
HỎI: “Ông có muốn thấy sự gia tăng về quan hệ quốc phòng giữa hai nước, theo ông tầm mức và phương pháp nào mà hai nước sẽ áp dụng trong thời gian tới?”
ÐÁP: “Có những chuyến thăm của tàu hải quân Mỹ tới Việt Nam. Ngoài các hoạt động khác, tôi muốn các sĩ quan Việt Nam tham gia các trường quân sự tại Mỹ. Một số trường quân sự Mỹ mà sĩ quan Việt Nam nên tham khảo và chúng tôi khuyến khích họ theo học.
“Tôi tin rằng Mỹ nên hợp tác với quân đội Việt Nam, có thể làm tốt công tác trao đổi thông tin về các mối đe dọa của các tổ chức khủng bố. Các công việc này phải được thực hiện tốt hơn.”
Thái độ của một tờ báo tại Hà Nội, không dám đề cập đến cuộc vận động liên minh quân sự của McCain, và một tờ khác tại Sài Gòn, chỉ nói mơ hồ về cuộc vận động này, cho thấy là McCain đã thất bại, và Hoa Kỳ chỉ là nguồn nước còn rất xa, trong lúc Trung Cộng vẫn là ngọn lửa gần của đám cháy sát nách đang đốt sôi nước Biển Ðông, tàn phá núi rừng Dak Nông và gây vỡ, mẻ biên giới cực Bắc.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nguyễn Ðạt Thịnh Chuyện nghị sĩ John McCain đòi mở rộng bang giao Việt Cộng-Hoa Kỳ, không phải là chuyện mới, mặc dù ông mới tuyên bố Hoa Kỳ “muốn tăng cường liên hệ quân sự” với Việt Cộng trong cuộc họp báo tại Hà Nội hôm thứ Ba mùng 7 tháng Tư. Ông còn nói việc tăng cường này sẽ đưa đến việc các sĩ quan quân đội Việt Cộng được huấn luyện tại Hoa Kỳ.
McCain là thành viên uỷ ban Quốc Phòng thượng viện, nên chuyến thăm viếng Á Châu của ông trong giai đoạn Á Châu đang là sân khấu cho hai biến chuyển mang tính chất quân sự, cũng chuyên chở nhiều ý nghĩa đặc biệt. Hai biến chuyển đó là vụ chiếc tiểu hạm Impeccable bị 5 tiểu hạm của Trung Cộng khiêu khích trên Biển Ðông, và vụ Bắc Hạn phóng không thành công một vệ tinh không gian.
Trước cuộc họp báo này, McCain còn nói với các sinh viên viện Cao Ðẳng Ngoại Giao Hà Nội là ông nhìn thấy nhu cầu cộng tác quân sự với Việt Cộng sau thái độ tranh dành của Trung Cộng tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Chuyến đi của ông đã hoàn thành, nhưng ông có thành công chút nào không?
Cùng đi với McCain còn có 2 nghị sĩ nữa là Lindsey Graham và Amy Klobuchar; bà Klobuchar là nghị sĩ Dân Chủ, trong lúc cả hai nghị sĩ Graham và McCain đều thuộc đảng Cộng Hòa.
Truớc khi đến Việt Nam, họ đã ghé thăm Nhật, và sau Việt Nam họ sang Trung Cộng; trên bình diện quân sự Nhật là đồng minh của Hoa Kỳ, Trung Cộng và Việt Cộng không hẳn đồng minh với nhau, nhưng cả hai cùng có thái độ bênh vực Bắc Hàn. Thái độ chính trị của Việt Cộng có điểm tế nhị là họ chống Trung Cộng với mức độ “vừa phải” trong những vấn đề tranh chấp hai hải đảo Hoàng Sa và Truờng Sa, nhưng vẫn thần phục Trung Cộng trên những địa hạt khác.
Trong lúc thế giới đang thảo luận biện pháp trừng phạt Bắc Hàn về việc phóng hỏa tiễn, thì Việt Cộng cùng với Nga và Trung Cộng lên tiếng kêu gọi một biện pháp nhẹ nhàng và một thái độ tự chế của thế giới tự do. Ðối với cuộc vận động cộng tác quân sự của ông McCain, Hà Nội không có một thái độ chính thức nào cả.
Cũng trong buổi họp báo tại Hà Nội, nghị sĩ Graham kêu gọi Việt Cộng nên có một phản ứng lên án Bắc Hàn như một nguy cơ quân sự cho vùng Ðông Á; Graham là một cựu đại tá không quân và cựu thẩm phán.
Ngoài ra Hà Nội còn không thích lời McCain kêu gọi cởi mở chính trị hơn, trả tự do cho những người bị giam giữ chi vì bất đồng chính kiến với nhà nuớc, và cho phép người Việt Nam có nhiều tự do hơn, nhất là tự do ngôn luận.
Ông nói, “đồng hành với tiến bộ kinh tế phải là cởi mở chính trị và tôn trọng nhân quyền”, nhiều hãng thông tấn và truyền thông quốc tế tuờng thuật câu tuyên bố này của McCain, nhưng truyền thông trong nuớc không đề cập đến.
Báo Hà Nội Mới viết, “TNS Giôn Mắc-kên bày tỏ ấn tượng mạnh mẽ về sự phát triển của Việt Nam cũng như tiến trình phát triển trong quan hệ song phương giữa hai nước, nhất là trên lĩnh vực kinh tế và giáo dục - đào tạo, đồng thời cho rằng, hai bên cần tăng cường hợp tác hơn nữa trên những lĩnh vực có thế mạnh của hai nước.”
Ngoài việc tuờng thuật McCain nói với Nguyễn Tấn Dũng những “ấn tuợng mạnh mẽ về sự phát triển của Việt Nam”, Hà Nội Mới còn kể lại việc ông McCain đến thăm “chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng”, và được ông Trọng cho biết ông mong rằng, với vốn hiểu biết về Việt Nam, với cương vị và uy tín của mình, TNS Giôn Mắc-kên sẽ tiếp tục có những đóng góp thiết thực vào việc thúc đẩy quan hệ hai nước, hai QH, đồng thời tác động để chính quyền Hoa Kỳ sớm công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, sớm để Việt Nam được hưởng quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), thúc đẩy các doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam, cũng như tăng cường giao lưu thương mại giữa hai nước.”
Báo Sài Gòn Giải Phóng tường thuật lại một câu phỏng vấn McCain về liên hệ quốc phòng Mỹ-Việt Cộng:
HỎI: “Ông có muốn thấy sự gia tăng về quan hệ quốc phòng giữa hai nước, theo ông tầm mức và phương pháp nào mà hai nước sẽ áp dụng trong thời gian tới?”
ÐÁP: “Có những chuyến thăm của tàu hải quân Mỹ tới Việt Nam. Ngoài các hoạt động khác, tôi muốn các sĩ quan Việt Nam tham gia các trường quân sự tại Mỹ. Một số trường quân sự Mỹ mà sĩ quan Việt Nam nên tham khảo và chúng tôi khuyến khích họ theo học.
“Tôi tin rằng Mỹ nên hợp tác với quân đội Việt Nam, có thể làm tốt công tác trao đổi thông tin về các mối đe dọa của các tổ chức khủng bố. Các công việc này phải được thực hiện tốt hơn.”
Thái độ của một tờ báo tại Hà Nội, không dám đề cập đến cuộc vận động liên minh quân sự của McCain, và một tờ khác tại Sài Gòn, chỉ nói mơ hồ về cuộc vận động này, cho thấy là McCain đã thất bại, và Hoa Kỳ chỉ là nguồn nước còn rất xa, trong lúc Trung Cộng vẫn là ngọn lửa gần của đám cháy sát nách đang đốt sôi nước Biển Ðông, tàn phá núi rừng Dak Nông và gây vỡ, mẻ biên giới cực Bắc.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Vung tiền qua cửa taxi

Ảnh mang tính minh họa của quickblogcast.com.
Một người đàn ông Đài Loan ngồi trên taxi, rải hơn 60.000 USD xuống đường phố, tạo nên một trận mưa tiền và cảnh xô đẩy tranh cướp hỗn loạn.
Chen Ping-teng, 43 tuổi, khai với cảnh sát rằng ông ta vứt tiền hôm 13/4 để thoát khỏi cảnh bị những linh hồn ma quỷ đeo bám từ lâu khiến ông không thể ngủ được ban đêm. Chen cho biết ông ta vừa kiếm được 300.000 USD sau khi bán một căn hộ.
Nhiều tài xế dừng lại giữa đường cao tốc khi Chen vung từng nắm tiền qua cửa sổ một chiếc taxi, tạo ra cảnh tranh cướp hỗn loạn trên đường.
Chen bị cáo buộc gây rối trật tự công cộng và hủy hoại tiền. Các nhà điều tra còn phát hiện ra rằng ông ta đã đốt gần 15.000 USD vài ngày trước đó tại một khách sạn.
Người đàn ông này khai rằng ông từng ném tiền ở rất nhiều nơi khác nữa. Các chuyên gia tâm lý xác nhận rằng ông ta bị hội chứng tâm thần phân liệt. Chen có bà mẹ 78 tuổi và phải kiếm sống qua ngày bằng công việc tay chân vất vả.
Ngọc Sơn (theo CNA)

Ảnh mang tính minh họa của quickblogcast.com.
Một người đàn ông Đài Loan ngồi trên taxi, rải hơn 60.000 USD xuống đường phố, tạo nên một trận mưa tiền và cảnh xô đẩy tranh cướp hỗn loạn.
Chen Ping-teng, 43 tuổi, khai với cảnh sát rằng ông ta vứt tiền hôm 13/4 để thoát khỏi cảnh bị những linh hồn ma quỷ đeo bám từ lâu khiến ông không thể ngủ được ban đêm. Chen cho biết ông ta vừa kiếm được 300.000 USD sau khi bán một căn hộ.
Nhiều tài xế dừng lại giữa đường cao tốc khi Chen vung từng nắm tiền qua cửa sổ một chiếc taxi, tạo ra cảnh tranh cướp hỗn loạn trên đường.
Chen bị cáo buộc gây rối trật tự công cộng và hủy hoại tiền. Các nhà điều tra còn phát hiện ra rằng ông ta đã đốt gần 15.000 USD vài ngày trước đó tại một khách sạn.
Người đàn ông này khai rằng ông từng ném tiền ở rất nhiều nơi khác nữa. Các chuyên gia tâm lý xác nhận rằng ông ta bị hội chứng tâm thần phân liệt. Chen có bà mẹ 78 tuổi và phải kiếm sống qua ngày bằng công việc tay chân vất vả.
Ngọc Sơn (theo CNA)
Vị Thiền Sư Nổi Tiếng
Mời quý vị và các bạn theo dõi câu chuyện về một vị thiền sư nổi tiếng người Nhật, tên là Ha-cu-in. Sau nhiều năm sống ẩn dật trên núi, thì một ngày kia, một thiếu nữ, con nhà giàu trong làng, tố cáo với mọi người là vị thiền sư đã làm cô mang thai. Vừa nghe tin ấy, cả dân làng do cha mẹ của thiếu nữ dẫn đầu, đã giận dữ kéo đến chòi của vị thiền sư. Họ la hét, chửi rủa ông đủ điều.
Nhưng vốn điềm tĩnh, nhà sư chỉ mỉm cười nói: "Thế ư?"
Ai cũng nghĩ rằng đó là một cách nhận tội. Và khi đứa bé chào đời, thiền sư Ha-cu-in lặng lẽ đến nhận nó về. Ông bồng ẵm, nâng niu và chăm sóc như con ruột của mình vậy.
Nhưng khoảng 18 tháng sau, người thiếu nữ bỗng hối hận về hành vi của mình. Cô ta thú nhận rằng bố của đứa trẻ là một ngư phủ trong làng.
Nghe tin ấy, ai trong làng cũng cảm thấy xấu hổ vì đã nghĩ xấu và nhục mạ một con người đáng kính. Thế là một lần nữa, dưới sự dẫn đầu của cha mẹ người thiếu nữ, cả làng kéo đến chòi của vị thiền sư. Mọi người sụp lạy tỏ dấu sám hối vì đã xúc phạm đến thanh danh của vị tu sĩ thánh thiện.
Khi nghe mọi người đồng thanh tuyên bố sự vô tội và phục hồi danh dự cho mình, vị thiền sư vẫn chỉ mỉm cười nói: "Thế ư?"
Quý vị và các bạn thân mến,
Thái độ điềm nhiên trước sau như một của vị thiền sư trên đây biểu lộ một tâm hồn đã hoàn toàn làm chủ được mình, và đồng thời cũng làm chủ được mọi tình huống.
Một tâm hồn như thế nói lên sự siêu thoát cao độ. Tâm hồn ấy chẳng còn chấp nệ với ích kỷ nhỏ nhen, với hư danh ảo vọng. Tâm hồn ấy chẳng còn bị lay chuyển bởi bất cứ rủi may, hên xui nào ở đời này.
Không những bởi làm chủ được mình, làm chủ được ngoại vật và hoàn cảnh, thái độ điềm nhiên thanh thoát của người Kitô hữu còn là kết quả của một niềm tin trong sáng, vững mạnh vào tình thương và uy quyền của Thiên Chúa.
Thái độ ấy mở rộng lòng người đón nhận chương trình của Thiên Chúa trên cuộc đời mình. Cho dù có trải qua tối tăm và thử thách, con người vẫn xác tín ở sự thành công mỹ mãn.
Thái độ ấy nói lên niềm tin nơi chính bản thân mình. Dù có yếu hèn, có vấp ngã, con người vẫn là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu chung thủy và trọn vẹn.
Thái độ ấy biểu lộ cái nhìn lạc quan trước cuộc đời và trước tha nhân. Dù có đen bạc tới đâu, cuộc đời vẫn luôn có một ý nghĩa cao cả để vươn tới. Dù gian trá và độc ác tới đâu, tha nhân vẫn luôn là hình ảnh của Thiên Chúa, một hình ảnh tuyệt đẹp và đáng yêu.
Về điểm này, thánh Phaolô tông đồ nêu gương cho chúng ta. Khi bị điệu ra trước quan tổng trấn Phêli, thánh Phaolô đã mạnh mẽ trả lời như sau:
"Tôi xin thưa với quan là tôi phụng thờ Thiên Chúa của tổ phụ chúng tôi... Cũng như những kẻ tố cáo tôi, tôi trông cậy vào Thiên Chúa... Vì thế tôi cố gắng giữ lương tâm ngay chính và sạch tội trước mặt Thiên Chúa và trước mặt mọi người" (TÐCV 26,14-16).
"Hãy giữ lương tâm ngay chính và trong sạch". Lạy Chúa, xin giúp con mỗi ngày một tiến lên trên con đường trọn lành, gần với mẫu gương Chúa muốn chúng con đạt tới.
Ngọc Nga sưu tầm
Mời quý vị và các bạn theo dõi câu chuyện về một vị thiền sư nổi tiếng người Nhật, tên là Ha-cu-in. Sau nhiều năm sống ẩn dật trên núi, thì một ngày kia, một thiếu nữ, con nhà giàu trong làng, tố cáo với mọi người là vị thiền sư đã làm cô mang thai. Vừa nghe tin ấy, cả dân làng do cha mẹ của thiếu nữ dẫn đầu, đã giận dữ kéo đến chòi của vị thiền sư. Họ la hét, chửi rủa ông đủ điều.
Nhưng vốn điềm tĩnh, nhà sư chỉ mỉm cười nói: "Thế ư?"
Ai cũng nghĩ rằng đó là một cách nhận tội. Và khi đứa bé chào đời, thiền sư Ha-cu-in lặng lẽ đến nhận nó về. Ông bồng ẵm, nâng niu và chăm sóc như con ruột của mình vậy.
Nhưng khoảng 18 tháng sau, người thiếu nữ bỗng hối hận về hành vi của mình. Cô ta thú nhận rằng bố của đứa trẻ là một ngư phủ trong làng.
Nghe tin ấy, ai trong làng cũng cảm thấy xấu hổ vì đã nghĩ xấu và nhục mạ một con người đáng kính. Thế là một lần nữa, dưới sự dẫn đầu của cha mẹ người thiếu nữ, cả làng kéo đến chòi của vị thiền sư. Mọi người sụp lạy tỏ dấu sám hối vì đã xúc phạm đến thanh danh của vị tu sĩ thánh thiện.
Khi nghe mọi người đồng thanh tuyên bố sự vô tội và phục hồi danh dự cho mình, vị thiền sư vẫn chỉ mỉm cười nói: "Thế ư?"
Quý vị và các bạn thân mến,
Thái độ điềm nhiên trước sau như một của vị thiền sư trên đây biểu lộ một tâm hồn đã hoàn toàn làm chủ được mình, và đồng thời cũng làm chủ được mọi tình huống.
Một tâm hồn như thế nói lên sự siêu thoát cao độ. Tâm hồn ấy chẳng còn chấp nệ với ích kỷ nhỏ nhen, với hư danh ảo vọng. Tâm hồn ấy chẳng còn bị lay chuyển bởi bất cứ rủi may, hên xui nào ở đời này.
Không những bởi làm chủ được mình, làm chủ được ngoại vật và hoàn cảnh, thái độ điềm nhiên thanh thoát của người Kitô hữu còn là kết quả của một niềm tin trong sáng, vững mạnh vào tình thương và uy quyền của Thiên Chúa.
Thái độ ấy mở rộng lòng người đón nhận chương trình của Thiên Chúa trên cuộc đời mình. Cho dù có trải qua tối tăm và thử thách, con người vẫn xác tín ở sự thành công mỹ mãn.
Thái độ ấy nói lên niềm tin nơi chính bản thân mình. Dù có yếu hèn, có vấp ngã, con người vẫn là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu chung thủy và trọn vẹn.
Thái độ ấy biểu lộ cái nhìn lạc quan trước cuộc đời và trước tha nhân. Dù có đen bạc tới đâu, cuộc đời vẫn luôn có một ý nghĩa cao cả để vươn tới. Dù gian trá và độc ác tới đâu, tha nhân vẫn luôn là hình ảnh của Thiên Chúa, một hình ảnh tuyệt đẹp và đáng yêu.
Về điểm này, thánh Phaolô tông đồ nêu gương cho chúng ta. Khi bị điệu ra trước quan tổng trấn Phêli, thánh Phaolô đã mạnh mẽ trả lời như sau:
"Tôi xin thưa với quan là tôi phụng thờ Thiên Chúa của tổ phụ chúng tôi... Cũng như những kẻ tố cáo tôi, tôi trông cậy vào Thiên Chúa... Vì thế tôi cố gắng giữ lương tâm ngay chính và sạch tội trước mặt Thiên Chúa và trước mặt mọi người" (TÐCV 26,14-16).
"Hãy giữ lương tâm ngay chính và trong sạch". Lạy Chúa, xin giúp con mỗi ngày một tiến lên trên con đường trọn lành, gần với mẫu gương Chúa muốn chúng con đạt tới.
Ngọc Nga sưu tầm
30-4-1975 và những tiếng khóc hờn ai oán.
Phạm Thắng Vũ
Tôi đang đứng trên một bờ ruộng cạnh quốc lộ 1 hướng về Tây Ninh. Phía sau tôi là cây cầu cũng mang tên là cầu Bông trùng tên với cây cầu trong khu Đa Kao của thành phố Sài gòn. Cây cầu này là mốc địa giới giữa quận Hốc Môn của tỉnh Gia Định và quận Củ Chi của tỉnh Hậu Nghĩa. Trên các thửa ruộng sau hàng cây Trâm bầu thấp thoáng những chiếc xe tank M 113, M 48 mà binh sĩ Sư đoàn 25 Bộ binh đã bỏ lại sau khi tan hàng tập thể trong hơn tháng trước. Trí óc của một thanh niên mới vừa 18 tuổi tôi và Trí người em con cậu háo hức rảo bước vào các chiếc xe này. Trèo vào các chiếc xe tăng mà nghĩ về hình ảnh những người lính đã từng ngồi tại đây trong các chiến trận. Súng đạn vẫn còn nguyên trong xe và trên các bờ ruộng.
Là dân sống ở Sài gòn tôi theo mẹ về dưới vùng Hốc Môn này để tìm mua ruộng đất làm ăn trong buổi giao thời thay vì chờ nhà nước CS đưa đi vùng kinh tế mới. Có tiếng lên đạn. Tôi nhìn chung quanh và thấy vài thanh niên khác cũng chạc tuổi tôi đang cầm một cây M 16 trên tay. Một thanh niên đang chỉ dẫn cho bạn mình cách sử dụng cây súng rồi tiếng bấm cò, tiếng kim hoả mổ vào chỗ trống. Súng không có gắn đạn. Lập lại các động tác đó vài lần rồi họ vất cây súng đó trên bờ ruộng, kéo nhau đi.
Trí nói với tôi: Mình ráng kiếm xem coi có cây Côn nào không. Trí óc thanh niên ai cũng thích sở hữu một súng lục trong tay nhưng chúng tôi lục tìm trong các chiếc xe nhà binh này mà không tìm được cây súng Côn nào cả. Chúng tôi đi trở ra ngoài đường lộ. Một phụ nữ mặc áo trắng đang lui cui nhặt tìm một cái gì đó gần lề đường. Tiến lại gần người phụ nữ này. Bà đang xem từng tấm thẻ Căn cước quân nhân, Thẻ bài kim khí, Thẻ giấy lãnh lương của lính...nằm vương vãi trên đường và các cạnh bờ ruộng. Mắt người phụ nữ này đỏ hoe. Tôi hỏi :
- Dì kiếm gì vậy hả dì?
Nhìn chúng tôi, người phụ nữ trả lời: Chị xem coi có giấy tờ của anh ấy không? Chiến tranh chấm dứt rồi mà không thấy ảnh về. Thì ra chồng người phụ nữ này là một chiến binh Biệt động quân tăng phái chiến đấu trong khu vực Hốc Môn-Thành Ông Năm này trong những này cuối của chiến. Rồi nhìn chúng tôi, người phụ nữ kể :
- Ảnh tên Tia, Nguyễn văn Tia... Các em có thấy tấm thẻ bài hoặc giấy tờ nào tên Nguyễn văn Tia thì đưa cho chị nha. Rồi lầm bẩm: Anh Tia ơi! Anh ở đâu sao không về. Một mình em với các con biết làm cái gì bây giờ đây hả anh? Chúng tôi đi dọc theo các bờ ruông này. Dưới ngay một trụ điện ven đường, một hố cá nhân đã được ai đó lấp vội nhưng vẩn còn thấy các mảnh thân xác của một tử sĩ nằm bên dưới. Chúng tôi vội lùi xa khi luồng gió đồng từ đâu thổi đến làm bốc lên mùi tử thi bị rữa. Nằm không xa, một nấm đất mà ngay phía trên đầu là một cây súng M 16 cắm ngập xuống đất với chiếc mũ sắt lính chụp trên báng súng. Hình ảnh nấm mồ với cây súng này y chang trong một cảnh phim chiến tranh lúc tàn cuộc. Có tiếng người phụ nữ khi nãy gọi chúng tôi. Chúng tôi quay lại. Tôi nhìn khuôn mặt bà. Một phụ nữ miền Nam tuổi khoảng 40. Vẻ nhẫn nại chịu đựng với chút thoáng buồn của người vợ lính làm tôi tự dưng có cảm tình với bà. Bà hỏi chúng tôi :
- Các em có biết lính còn đóng quân ở đâu nữa không? Các em có nghe có thấy nơi nào trong vùng này lính quốc gia vẫn còn chiến đấu chưa ra hàng không? Chỉ cho chị biết đi.
Trí trả lời: Lính hay đóng trong khu rừng Điều lắm... Mà khi đó chứ bây giờ chắc không còn ai nữa đâu dì ơi.
Mắt người phụ nữ sáng lên, nhìn Trí, miệng lắp bắp hỏi dồn: Rừng Điều! Lính đóng ở đó hả? Cách đây bao xa? Làm sao đi vào đó được? Hay là em vào đó tìm anh Tia giúp chị đi. Chị gửi tiền cho em ngay bây giờ. Đi ngay đi em, giúp chị đi mà. Tội nghiệp chị.
Rồi người phụ nữ khóc nhìn chúng tôi. Tôi nhìn thằng Trí dò hỏi. Nó im lặng chốc lát rồi lắc đầu nói:
- Không còn ai trong đó nữa đâu dì ơi ! Cháu biết rõ như vậy với lại muốn đi vào đó phải có xuồng chứ lội bộ sình lầy không được.
Người phụ nữ mắt đỏ hoe vẫn cứ nài nỉ thằng Trí giúp rồi thấy không được bà quay qua nắm tay tôi van nài:
- Giúp chị nha em. Tôi nghiệp chị mà. Chị đâu có biết đường đi vào đó đâu.
Tự nhiên nước mắt bắt đầu rỉ ra từ mắt tôi. Tôi nói với bà:
- Dì ơi! cháu ở Sài gòn mới về đây có ít ngày hà. Cháu cũng không biết chỗ đó đâu. Nếu biết thì... nhưng chưa nói hết câu thì thằng Trí đã kéo tôi đi chỗ khác. Đi một quãng khá xa nó nói:
- Anh đừng nhận lời giúp bả. Làm sao mà đi vào đó được. Gần hai tháng "giải phóng" rồi, không còn lính nào sống ở trong đó hết. Em biết rõ như vậy.
Tôi quay đầu nhìn lại, người phụ nữ tay vẫn vẫy chúng tôi trong tiếng khóc.
Tiếp tục đi dọc theo trên đường. Đằng trước mặt có một chiến xa M 113 nằm sát bên rặng cây Bình bát ngay gần vệ đường. Tôi và Trí tiến lại. Nhìn qua cửa mở toang phía sau, chiến xa này có nguyên cả một cây súng Cối khá lớn còn nằm trong lòng xe. Tôi định trèo vào xe thì mũi ngửi một mùi xác chết. Nhìn kỹ một thi hài lính chiến nằm ngay trên sàn xe sát cạnh chân đế của cây súng Cối. Tiếng ruồi vo ve gần bên. Không có dấu vết đạn nào trên thân xe tăng. Như vậy, người chiến binh miền Nam VNCH này chắc chắn đã tự sát chết.
Bỏ chiếc xe tăng, chúng tôi trèo lên cây cầu nhỏ tiến vào một con rạch thông thương với con kênh chính sát gần mặt đường. Dọc theo con rạch này, những bụi hoa Sim dại tím sẫm đung đưa theo gió chiều. Có cái gì nổi lùm xùm trong các bụi Năng. Chúng tôi tiến lại xem. Một xác người đang trong giai đoạn rữa nát. Kinh quá! Chúng tôi đi tiếp để thấy thêm vài xác chết nổi dập dềnh đây đó. Những người này là thường dân. Chắc chắn như vậy vì họ mặc thường phục. Hầu hết là đàn ông nhưng cũng có xác của phụ nữ nữa. Trí kéo tay tôi chỉ về một cái xác nổi gần bờ hai tay bị trói chặt. Bước chồm sát tới để xem cái xác, chân thằng Trí đạp vào vài viên đất trên bờ làm chúng lăn tòm xuống nước. Nghe động, một đàn cá Rô bơi ra từ dưới bụng của xác người này . Trên lưng áo trắng bỏ vào quần vẫn còn dấu những vết đạn, máu loang lổ. Họ là ai và bị ai giết?
Rồi tôi thấy ở khá xa tuốt trong phía sâu có bóng hai người đang lui cui làm cái gì khuất sau các hàng cây Dứa dại cạnh bờ rạch. Tôi và Trí tiến lại. Một người phụ nữ và một cô gái tuổi thiếu niên đang cúi đầu đọc kinh lâm râm. Một tờ báo trải ngay trên mặt đất với ít bánh ngọt trên đó. Vài cây nhang đang cháy khói nghi ngút cắm gần một dép nhựa loại có dây quai gót phía chân trái. Tôi nhìn xuống con rạch. Xác một người đàn ông áo sọc ca rô nổi phình trên các bụi cây Năn-Lác mà chân phải vẫn còn mang dép. Tôi và Trí đứng yên lặng trong chốc lát rồi quay ra. Gió đồng mang mùi xác chết đến mũi chúng tôi. Một cái mùi đặc biệt không lẫn vào đâu được. Sau lưng tôi bây giờ là tiếng khóc than của hai mẹ con người này. Tôi nhìn cảnh vật chung quanh. Đồng quê buổi chiều thật êm ả. Vài cánh cò trắng bay chập chờn xa xa như trong các câu chuyện, hình ảnh về các cảnh đồng quê yên bình. Nhìn ra phía đường lộ, vài chiếc xe hai bánh, xe đò vẫn bình thản chạy qua. Không ai biết trên đường, người đi tìm tung tích chồng mình và trong con rạch này, người đang khóc than cho số phận của thân nhân mình. Hết chiến tranh mà sao vẫn mầu thê lương tại đây?
Trời đã chiều trên cánh đồng tàn cuộc chiến. Tiếng gió bây giờ thổi mạnh, rít từng cơn qua các cành cây kẽ lá như lời đang than van của các quả phụ miền Nam VNCH bại trận.
Tiếng ai oán hờn căm trong gió
Một tấc quê hương, một tấc người.
Phạm Thắng VũViết để tưởng nhớ ngày 30-4-1975.
Phạm Thắng Vũ
Tôi đang đứng trên một bờ ruộng cạnh quốc lộ 1 hướng về Tây Ninh. Phía sau tôi là cây cầu cũng mang tên là cầu Bông trùng tên với cây cầu trong khu Đa Kao của thành phố Sài gòn. Cây cầu này là mốc địa giới giữa quận Hốc Môn của tỉnh Gia Định và quận Củ Chi của tỉnh Hậu Nghĩa. Trên các thửa ruộng sau hàng cây Trâm bầu thấp thoáng những chiếc xe tank M 113, M 48 mà binh sĩ Sư đoàn 25 Bộ binh đã bỏ lại sau khi tan hàng tập thể trong hơn tháng trước. Trí óc của một thanh niên mới vừa 18 tuổi tôi và Trí người em con cậu háo hức rảo bước vào các chiếc xe này. Trèo vào các chiếc xe tăng mà nghĩ về hình ảnh những người lính đã từng ngồi tại đây trong các chiến trận. Súng đạn vẫn còn nguyên trong xe và trên các bờ ruộng.
Là dân sống ở Sài gòn tôi theo mẹ về dưới vùng Hốc Môn này để tìm mua ruộng đất làm ăn trong buổi giao thời thay vì chờ nhà nước CS đưa đi vùng kinh tế mới. Có tiếng lên đạn. Tôi nhìn chung quanh và thấy vài thanh niên khác cũng chạc tuổi tôi đang cầm một cây M 16 trên tay. Một thanh niên đang chỉ dẫn cho bạn mình cách sử dụng cây súng rồi tiếng bấm cò, tiếng kim hoả mổ vào chỗ trống. Súng không có gắn đạn. Lập lại các động tác đó vài lần rồi họ vất cây súng đó trên bờ ruộng, kéo nhau đi.
Trí nói với tôi: Mình ráng kiếm xem coi có cây Côn nào không. Trí óc thanh niên ai cũng thích sở hữu một súng lục trong tay nhưng chúng tôi lục tìm trong các chiếc xe nhà binh này mà không tìm được cây súng Côn nào cả. Chúng tôi đi trở ra ngoài đường lộ. Một phụ nữ mặc áo trắng đang lui cui nhặt tìm một cái gì đó gần lề đường. Tiến lại gần người phụ nữ này. Bà đang xem từng tấm thẻ Căn cước quân nhân, Thẻ bài kim khí, Thẻ giấy lãnh lương của lính...nằm vương vãi trên đường và các cạnh bờ ruộng. Mắt người phụ nữ này đỏ hoe. Tôi hỏi :
- Dì kiếm gì vậy hả dì?
Nhìn chúng tôi, người phụ nữ trả lời: Chị xem coi có giấy tờ của anh ấy không? Chiến tranh chấm dứt rồi mà không thấy ảnh về. Thì ra chồng người phụ nữ này là một chiến binh Biệt động quân tăng phái chiến đấu trong khu vực Hốc Môn-Thành Ông Năm này trong những này cuối của chiến. Rồi nhìn chúng tôi, người phụ nữ kể :
- Ảnh tên Tia, Nguyễn văn Tia... Các em có thấy tấm thẻ bài hoặc giấy tờ nào tên Nguyễn văn Tia thì đưa cho chị nha. Rồi lầm bẩm: Anh Tia ơi! Anh ở đâu sao không về. Một mình em với các con biết làm cái gì bây giờ đây hả anh? Chúng tôi đi dọc theo các bờ ruông này. Dưới ngay một trụ điện ven đường, một hố cá nhân đã được ai đó lấp vội nhưng vẩn còn thấy các mảnh thân xác của một tử sĩ nằm bên dưới. Chúng tôi vội lùi xa khi luồng gió đồng từ đâu thổi đến làm bốc lên mùi tử thi bị rữa. Nằm không xa, một nấm đất mà ngay phía trên đầu là một cây súng M 16 cắm ngập xuống đất với chiếc mũ sắt lính chụp trên báng súng. Hình ảnh nấm mồ với cây súng này y chang trong một cảnh phim chiến tranh lúc tàn cuộc. Có tiếng người phụ nữ khi nãy gọi chúng tôi. Chúng tôi quay lại. Tôi nhìn khuôn mặt bà. Một phụ nữ miền Nam tuổi khoảng 40. Vẻ nhẫn nại chịu đựng với chút thoáng buồn của người vợ lính làm tôi tự dưng có cảm tình với bà. Bà hỏi chúng tôi :
- Các em có biết lính còn đóng quân ở đâu nữa không? Các em có nghe có thấy nơi nào trong vùng này lính quốc gia vẫn còn chiến đấu chưa ra hàng không? Chỉ cho chị biết đi.
Trí trả lời: Lính hay đóng trong khu rừng Điều lắm... Mà khi đó chứ bây giờ chắc không còn ai nữa đâu dì ơi.
Mắt người phụ nữ sáng lên, nhìn Trí, miệng lắp bắp hỏi dồn: Rừng Điều! Lính đóng ở đó hả? Cách đây bao xa? Làm sao đi vào đó được? Hay là em vào đó tìm anh Tia giúp chị đi. Chị gửi tiền cho em ngay bây giờ. Đi ngay đi em, giúp chị đi mà. Tội nghiệp chị.
Rồi người phụ nữ khóc nhìn chúng tôi. Tôi nhìn thằng Trí dò hỏi. Nó im lặng chốc lát rồi lắc đầu nói:
- Không còn ai trong đó nữa đâu dì ơi ! Cháu biết rõ như vậy với lại muốn đi vào đó phải có xuồng chứ lội bộ sình lầy không được.
Người phụ nữ mắt đỏ hoe vẫn cứ nài nỉ thằng Trí giúp rồi thấy không được bà quay qua nắm tay tôi van nài:
- Giúp chị nha em. Tôi nghiệp chị mà. Chị đâu có biết đường đi vào đó đâu.
Tự nhiên nước mắt bắt đầu rỉ ra từ mắt tôi. Tôi nói với bà:
- Dì ơi! cháu ở Sài gòn mới về đây có ít ngày hà. Cháu cũng không biết chỗ đó đâu. Nếu biết thì... nhưng chưa nói hết câu thì thằng Trí đã kéo tôi đi chỗ khác. Đi một quãng khá xa nó nói:
- Anh đừng nhận lời giúp bả. Làm sao mà đi vào đó được. Gần hai tháng "giải phóng" rồi, không còn lính nào sống ở trong đó hết. Em biết rõ như vậy.
Tôi quay đầu nhìn lại, người phụ nữ tay vẫn vẫy chúng tôi trong tiếng khóc.
Tiếp tục đi dọc theo trên đường. Đằng trước mặt có một chiến xa M 113 nằm sát bên rặng cây Bình bát ngay gần vệ đường. Tôi và Trí tiến lại. Nhìn qua cửa mở toang phía sau, chiến xa này có nguyên cả một cây súng Cối khá lớn còn nằm trong lòng xe. Tôi định trèo vào xe thì mũi ngửi một mùi xác chết. Nhìn kỹ một thi hài lính chiến nằm ngay trên sàn xe sát cạnh chân đế của cây súng Cối. Tiếng ruồi vo ve gần bên. Không có dấu vết đạn nào trên thân xe tăng. Như vậy, người chiến binh miền Nam VNCH này chắc chắn đã tự sát chết.
Bỏ chiếc xe tăng, chúng tôi trèo lên cây cầu nhỏ tiến vào một con rạch thông thương với con kênh chính sát gần mặt đường. Dọc theo con rạch này, những bụi hoa Sim dại tím sẫm đung đưa theo gió chiều. Có cái gì nổi lùm xùm trong các bụi Năng. Chúng tôi tiến lại xem. Một xác người đang trong giai đoạn rữa nát. Kinh quá! Chúng tôi đi tiếp để thấy thêm vài xác chết nổi dập dềnh đây đó. Những người này là thường dân. Chắc chắn như vậy vì họ mặc thường phục. Hầu hết là đàn ông nhưng cũng có xác của phụ nữ nữa. Trí kéo tay tôi chỉ về một cái xác nổi gần bờ hai tay bị trói chặt. Bước chồm sát tới để xem cái xác, chân thằng Trí đạp vào vài viên đất trên bờ làm chúng lăn tòm xuống nước. Nghe động, một đàn cá Rô bơi ra từ dưới bụng của xác người này . Trên lưng áo trắng bỏ vào quần vẫn còn dấu những vết đạn, máu loang lổ. Họ là ai và bị ai giết?
Rồi tôi thấy ở khá xa tuốt trong phía sâu có bóng hai người đang lui cui làm cái gì khuất sau các hàng cây Dứa dại cạnh bờ rạch. Tôi và Trí tiến lại. Một người phụ nữ và một cô gái tuổi thiếu niên đang cúi đầu đọc kinh lâm râm. Một tờ báo trải ngay trên mặt đất với ít bánh ngọt trên đó. Vài cây nhang đang cháy khói nghi ngút cắm gần một dép nhựa loại có dây quai gót phía chân trái. Tôi nhìn xuống con rạch. Xác một người đàn ông áo sọc ca rô nổi phình trên các bụi cây Năn-Lác mà chân phải vẫn còn mang dép. Tôi và Trí đứng yên lặng trong chốc lát rồi quay ra. Gió đồng mang mùi xác chết đến mũi chúng tôi. Một cái mùi đặc biệt không lẫn vào đâu được. Sau lưng tôi bây giờ là tiếng khóc than của hai mẹ con người này. Tôi nhìn cảnh vật chung quanh. Đồng quê buổi chiều thật êm ả. Vài cánh cò trắng bay chập chờn xa xa như trong các câu chuyện, hình ảnh về các cảnh đồng quê yên bình. Nhìn ra phía đường lộ, vài chiếc xe hai bánh, xe đò vẫn bình thản chạy qua. Không ai biết trên đường, người đi tìm tung tích chồng mình và trong con rạch này, người đang khóc than cho số phận của thân nhân mình. Hết chiến tranh mà sao vẫn mầu thê lương tại đây?
Trời đã chiều trên cánh đồng tàn cuộc chiến. Tiếng gió bây giờ thổi mạnh, rít từng cơn qua các cành cây kẽ lá như lời đang than van của các quả phụ miền Nam VNCH bại trận.
Tiếng ai oán hờn căm trong gió
Một tấc quê hương, một tấc người.
Phạm Thắng VũViết để tưởng nhớ ngày 30-4-1975.
Ðại úy James Howell
và chiếc thương thuyền Maersk Alabama Ðại úy James Howell đang hành quân tại A Phú Hãn và chiếc thương thuyền Maersk Alabama vừa được giải cứu bên ngoài hải phận Somalia, là hai diễn biến quân sự cách nhau cả ngàn dậm, và tưởng như không có một liên hệ nhỏ nào với nhau hết. Ðiều này có thể đúng trên một góc nhìn nhỏ. Nhưng nhìn theo cái góc sử dụng binh lực của chính quyền Hoa Kỳ, hai diễn biến này có thể giúp tổng thống Barack Obama và quân đội Hoa Kỳ rút được một bài học vô giá.
Trước nhất hãy nói chuyện giải cứu chiếc thương thuyền Alabama chuyện vừa xẩy ra và còn nóng bỏng trên trang nhất của báo chí thế giới. Ông Richard Phillips, 53 tuổi, thuyền trưởng chiếc Alabama bị bắt ngày thứ Tư mùng 8 tháng Tư, trong những điều kiện đúng truyền thống hào hùng của một thuyền trưởng, và đúng quy luật không chống cự của hàng hải thương thuyền.
Cũng như thái độ không chống cự của một cô teller khi ngân hàng bị cướp, thuyền trưởng Phillips đầu hàng không chống cự hải tặc. Chi tiết hào hùng là ông ra lệnh cho thủy thủ đoàn vào khoang an toàn, chỉ một mình ông đứng ngoài cho 4 tên hải tặc võ trang bắt đem đi.
Ðối phó với tên cướp ngân hàng không phải là việc của cô teller mà là việc của cảnh sát, và đối phó với hải tặc Somalia không phải là việc của thuyền trưởng Phillips mà là việc của phó Ðô Ðốc Bill Gortney, tư lệnh hải lực Hoa Kỳ tại khu vực Trung Ương.
Gortney ra lệnh cho chiếc tuần dương hạm Brainbridge đón nhận một toán chuyên viên đối phó với những trường hợp bắt cóc của FBI xuống tầu bằng trực thăng, rồi chiếc Brainbridge tiến vào hải phận Somalia.
Ông Abdulkhadir Walayo, phát ngôn viên của thủ tướng Somalia, nói với hãng thông tấn AP, “Chính phủ Somalia mong muốn mọi việc được giải quyết êm đẹp, nhưng chúng tôi vẫn công nhận quyền giải quyết bằng vũ lực của Hoa Kỳ.”
Chiếc BrainBridge vào vùng hoạt động, hạm trưởng liên lạc với bọn cướp biển bằng radio, nội dung của mọi cuộc nói chuyện đều do toán chuyên viên FBI khuyến cáo. Họ yêu cầu toán hải tặc cho biết tình trạng sức khỏe của thuyền trưởng Phillips, họ bảo bọn cướp xác định đích xác đòi hỏi của chúng, họ mặc cả, trả giá, cò kè bớt một thêm hai, để mua thời gian và cũng để tạo ấn tượng cho bọn cướp biển về thiện chí thương thuyết của hải quân Hoa Kỳ, rồi họ hỏi về nhu cầu thực phẩm, nước uống của bọn này.
Dĩ nhiên sau nửa tuần sống giữa biển khơi, bọn hải tặc cần lương thực, FBI đề nghị chúng đón nhận một chiếc tiểu hạm không võ trang đem thực phẩm vào cho chúng. Chiếc tiểu hạm đến gần, chúng nổ súng bắn, nhưng chỉ bắn thị oai. Thủy thủ đoàn không bắn trả, chỉ im lặng dừng lại để FBI có thời gian cần thiết nói chuyện với hải tặc.
Họ bảo bọn này là chiếc tiểu hạm không võ trang, hơn nữa chúng vẫn thừa thì giờ giết con tin nếu thủy thủ dùng đến vũ khí. Bọn hải tặc đồng ý và đón nhận một số thực phẩm tươi, đồ hộp, thực phẩm đông lạnh đủ cho chúng ăn suốt một tháng.
Làm xong sứ mạng tiếp tế, chiếc tiểu hạm quay lại chiến hạm mẹ để được kéo lên; nhưng ngoài sứ mạng tiếp tế cho thuyền trưởng Phillips và bọn cướp biển, chiếc tiểu hạm còn hoàn thành một sứ mệnh khác: tạo tín nhiệm cho bọn cướp biển. Chúng thấy là hải quân Hoa Kỳ chân thật, nói tiếp tế là tiếp tế, không lừa gạt, không lợi dụng.
Chiều hôm đó biển động, FBI, qua lời của hạm trưởng Brainbridge, đề nghị kéo chiếc xuồng nhỏ của hải tặc vào một vùng kín gió, ít sóng hơn. Bọn cướp đồng ý. Chiếc Brainbridge thả một sợi giây thừng dài xuống biển để bọn cướp buộc vào xuồng của chúng; chiếc chiến hạm lớn kéo chiếc xuồng con với khoảng cách 100 thước.
Có những lúc chiến hạm hơi chậm lại thì chiếc xuồng chỉ còn cách khoảng vài chục thước. Bọn cướp trí AK 47 vào sau lưng Phillips, sẵn sàng giết ông nếu biến động xẩy ra. Bốn tay thiện xạ trong lực lượng người nhái bố trí trên boong sau chiến hạm Brainbridge, và ngay khi hạm trưởng ra khẩu lệnh, họ nổ súng, bắn chết toàn bộ 3 tên hải tặc, tất cả mọi vết đạn không vết nào dưới vai.
Xin chuyển qua câu chuyện của đại úy Howell, anh là đại đội trưởng đại đội B, tiểu đoàn 1, trung đoàn 26 bộ binh; tiểu đoàn trưởng của anh là trung tá Brett Jenkinson, đồn trú tại thung lũng Korengal.
Tạp chí Time trong số báo phát hành ngày 20 tháng Tư, mang chủ đề “How not to lose in Afghanistan” (Làm cách nào để đừng thất trận tại A Phú Hãn) đề cập đến công tác khó khăn của quân đội Hoa Kỳ, mà điển hình là Howell. Trên 2 trang 26 và 27 là 4 bức ảnh chụp cảnh các bô lão làng Loi Kolay, thung lũng Korengal, đến họp với Howell để bàn bạc về phương cách hữu hiệu nhất bảo vệ dân làng chống sự xách nhiễu của bọn khủng bố Al Qaeda và Taliban.
Câu hỏi phải đặt ra là “Howell là ai?” mà lại đang đóng vai những chuyên viên FBI trên chiếc Brainbridge? Anh chưa được huấn luyện một ngày nào cả về công tác dân vận và phòng thủ dân sự, anh là hiện thân của 4 tay thiện xạ đã bắn ngã 3 tên cướp biển trong một giây ngắn, bắn thật chính xác.
Trả lời câu hỏi How not to lose in Afghanistan? của tờ Time, cũng là câu tự hỏi của quân đội và của chính phủ Mỹ, tôi xin mách nước cho họ là đừng bắt trâu giữ nhà, đừng bắt chó đi cầy. Hãy gửi ngay những toán chuyên viên về an ninh, hành chánh, kinh tế, … sang A Phú Hãn. Họ không bắn chính xác được như 4 anh thiện xạ trên tầu Brainbridge, hay như Howell, nhưng họ có khả năng giải quyết những vấn đề không nằm trên địa hạt thuần tuý quân sự, để giúp rút quân số Hoa Kỳ đang hiện diện tại A Phú Hãn xuống còn một nửa, và rút ngắn thời gian chiến tranh tại A Phú Hãn, cuộc chiến dài nhất của Hoa Kỳ, dài 7 năm.
Sở dĩ tôi có chút kinh nghiệm để khuyến cáo người Mỹ, vì trong thời gian mang cấp đại úy, và giữ trọng trách chính trị tại Quân Khu IV tôi đã được chứng kiến cảnh thiếu tá Colin Powell đem cheese và bột mì đến giúp dân hai quận Cái Nước và Ðầm Dơi sau một cuộc tấn công tàn phá của Việt Cộng. Dĩ nhiên việc làm của Powell không đúng và do đó không kiến hiệu.
Bốn thập niên sau, tôi đang chứng kiến Howell lập lại những sai lầm của Powell, để đưa chiến tranh A Phú Hãn đến chỗ thất bại như chiến tranh Việt Nam.
Nguyễn Ðạt Thịnh
và chiếc thương thuyền Maersk Alabama Ðại úy James Howell đang hành quân tại A Phú Hãn và chiếc thương thuyền Maersk Alabama vừa được giải cứu bên ngoài hải phận Somalia, là hai diễn biến quân sự cách nhau cả ngàn dậm, và tưởng như không có một liên hệ nhỏ nào với nhau hết. Ðiều này có thể đúng trên một góc nhìn nhỏ. Nhưng nhìn theo cái góc sử dụng binh lực của chính quyền Hoa Kỳ, hai diễn biến này có thể giúp tổng thống Barack Obama và quân đội Hoa Kỳ rút được một bài học vô giá.
Trước nhất hãy nói chuyện giải cứu chiếc thương thuyền Alabama chuyện vừa xẩy ra và còn nóng bỏng trên trang nhất của báo chí thế giới. Ông Richard Phillips, 53 tuổi, thuyền trưởng chiếc Alabama bị bắt ngày thứ Tư mùng 8 tháng Tư, trong những điều kiện đúng truyền thống hào hùng của một thuyền trưởng, và đúng quy luật không chống cự của hàng hải thương thuyền.
Cũng như thái độ không chống cự của một cô teller khi ngân hàng bị cướp, thuyền trưởng Phillips đầu hàng không chống cự hải tặc. Chi tiết hào hùng là ông ra lệnh cho thủy thủ đoàn vào khoang an toàn, chỉ một mình ông đứng ngoài cho 4 tên hải tặc võ trang bắt đem đi.
Ðối phó với tên cướp ngân hàng không phải là việc của cô teller mà là việc của cảnh sát, và đối phó với hải tặc Somalia không phải là việc của thuyền trưởng Phillips mà là việc của phó Ðô Ðốc Bill Gortney, tư lệnh hải lực Hoa Kỳ tại khu vực Trung Ương.
Gortney ra lệnh cho chiếc tuần dương hạm Brainbridge đón nhận một toán chuyên viên đối phó với những trường hợp bắt cóc của FBI xuống tầu bằng trực thăng, rồi chiếc Brainbridge tiến vào hải phận Somalia.
Ông Abdulkhadir Walayo, phát ngôn viên của thủ tướng Somalia, nói với hãng thông tấn AP, “Chính phủ Somalia mong muốn mọi việc được giải quyết êm đẹp, nhưng chúng tôi vẫn công nhận quyền giải quyết bằng vũ lực của Hoa Kỳ.”
Chiếc BrainBridge vào vùng hoạt động, hạm trưởng liên lạc với bọn cướp biển bằng radio, nội dung của mọi cuộc nói chuyện đều do toán chuyên viên FBI khuyến cáo. Họ yêu cầu toán hải tặc cho biết tình trạng sức khỏe của thuyền trưởng Phillips, họ bảo bọn cướp xác định đích xác đòi hỏi của chúng, họ mặc cả, trả giá, cò kè bớt một thêm hai, để mua thời gian và cũng để tạo ấn tượng cho bọn cướp biển về thiện chí thương thuyết của hải quân Hoa Kỳ, rồi họ hỏi về nhu cầu thực phẩm, nước uống của bọn này.
Dĩ nhiên sau nửa tuần sống giữa biển khơi, bọn hải tặc cần lương thực, FBI đề nghị chúng đón nhận một chiếc tiểu hạm không võ trang đem thực phẩm vào cho chúng. Chiếc tiểu hạm đến gần, chúng nổ súng bắn, nhưng chỉ bắn thị oai. Thủy thủ đoàn không bắn trả, chỉ im lặng dừng lại để FBI có thời gian cần thiết nói chuyện với hải tặc.
Họ bảo bọn này là chiếc tiểu hạm không võ trang, hơn nữa chúng vẫn thừa thì giờ giết con tin nếu thủy thủ dùng đến vũ khí. Bọn hải tặc đồng ý và đón nhận một số thực phẩm tươi, đồ hộp, thực phẩm đông lạnh đủ cho chúng ăn suốt một tháng.
Làm xong sứ mạng tiếp tế, chiếc tiểu hạm quay lại chiến hạm mẹ để được kéo lên; nhưng ngoài sứ mạng tiếp tế cho thuyền trưởng Phillips và bọn cướp biển, chiếc tiểu hạm còn hoàn thành một sứ mệnh khác: tạo tín nhiệm cho bọn cướp biển. Chúng thấy là hải quân Hoa Kỳ chân thật, nói tiếp tế là tiếp tế, không lừa gạt, không lợi dụng.
Chiều hôm đó biển động, FBI, qua lời của hạm trưởng Brainbridge, đề nghị kéo chiếc xuồng nhỏ của hải tặc vào một vùng kín gió, ít sóng hơn. Bọn cướp đồng ý. Chiếc Brainbridge thả một sợi giây thừng dài xuống biển để bọn cướp buộc vào xuồng của chúng; chiếc chiến hạm lớn kéo chiếc xuồng con với khoảng cách 100 thước.
Có những lúc chiến hạm hơi chậm lại thì chiếc xuồng chỉ còn cách khoảng vài chục thước. Bọn cướp trí AK 47 vào sau lưng Phillips, sẵn sàng giết ông nếu biến động xẩy ra. Bốn tay thiện xạ trong lực lượng người nhái bố trí trên boong sau chiến hạm Brainbridge, và ngay khi hạm trưởng ra khẩu lệnh, họ nổ súng, bắn chết toàn bộ 3 tên hải tặc, tất cả mọi vết đạn không vết nào dưới vai.
Xin chuyển qua câu chuyện của đại úy Howell, anh là đại đội trưởng đại đội B, tiểu đoàn 1, trung đoàn 26 bộ binh; tiểu đoàn trưởng của anh là trung tá Brett Jenkinson, đồn trú tại thung lũng Korengal.
Tạp chí Time trong số báo phát hành ngày 20 tháng Tư, mang chủ đề “How not to lose in Afghanistan” (Làm cách nào để đừng thất trận tại A Phú Hãn) đề cập đến công tác khó khăn của quân đội Hoa Kỳ, mà điển hình là Howell. Trên 2 trang 26 và 27 là 4 bức ảnh chụp cảnh các bô lão làng Loi Kolay, thung lũng Korengal, đến họp với Howell để bàn bạc về phương cách hữu hiệu nhất bảo vệ dân làng chống sự xách nhiễu của bọn khủng bố Al Qaeda và Taliban.
Câu hỏi phải đặt ra là “Howell là ai?” mà lại đang đóng vai những chuyên viên FBI trên chiếc Brainbridge? Anh chưa được huấn luyện một ngày nào cả về công tác dân vận và phòng thủ dân sự, anh là hiện thân của 4 tay thiện xạ đã bắn ngã 3 tên cướp biển trong một giây ngắn, bắn thật chính xác.
Trả lời câu hỏi How not to lose in Afghanistan? của tờ Time, cũng là câu tự hỏi của quân đội và của chính phủ Mỹ, tôi xin mách nước cho họ là đừng bắt trâu giữ nhà, đừng bắt chó đi cầy. Hãy gửi ngay những toán chuyên viên về an ninh, hành chánh, kinh tế, … sang A Phú Hãn. Họ không bắn chính xác được như 4 anh thiện xạ trên tầu Brainbridge, hay như Howell, nhưng họ có khả năng giải quyết những vấn đề không nằm trên địa hạt thuần tuý quân sự, để giúp rút quân số Hoa Kỳ đang hiện diện tại A Phú Hãn xuống còn một nửa, và rút ngắn thời gian chiến tranh tại A Phú Hãn, cuộc chiến dài nhất của Hoa Kỳ, dài 7 năm.
Sở dĩ tôi có chút kinh nghiệm để khuyến cáo người Mỹ, vì trong thời gian mang cấp đại úy, và giữ trọng trách chính trị tại Quân Khu IV tôi đã được chứng kiến cảnh thiếu tá Colin Powell đem cheese và bột mì đến giúp dân hai quận Cái Nước và Ðầm Dơi sau một cuộc tấn công tàn phá của Việt Cộng. Dĩ nhiên việc làm của Powell không đúng và do đó không kiến hiệu.
Bốn thập niên sau, tôi đang chứng kiến Howell lập lại những sai lầm của Powell, để đưa chiến tranh A Phú Hãn đến chỗ thất bại như chiến tranh Việt Nam.
Nguyễn Ðạt Thịnh

