Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Đất Nước Trọn Niềm Đau
Bài viết này dâng cho thánh lễ của Cha Augustino Phạm Sơn Hà OSB tổ chức để cầu nguyện cho tu sĩ, giáo dân giáo xứ Tam Tòa. Thánh lễ bắt đầu vào 9 giờ tối giờ Việt Nam ,ngày thứ bảy 15-8-2009 trên diễn đàn Paltak có tên ‘’ tiếng nói tự do của người dân Việt Nam’’
Năm 1954, hàng triệu người dân miền Bắc di cư vào Nam để chọn một mảnh đất sống mới. Thi Sĩ Trần Dần trong lúc đứng ở hàng ngũ những người cộng sản, ông không hiểu nổi vì sao những người miền Bắc, bỗng dưng thấy cách mạng về mà họ lại lũ lượt bỏ đi như vậy. Nào họ có biết cách mạng tốt đẹp hay xấu xí gì đâu? Toàn những lời hứa hẹn tốt đẹp mà họ vội vã không chịu tìm hiểu kỹ về cách mạng đã vội vã bỏ đi như tránh dịch khi cách mạng về tiếp quản thành phố.
Dẫu trách họ thật nhiều cho đúng tinh thần cách mạng là những người đi thiếu quả tim, khối óc. Nhưng dù sao với cái tâm của một con người, không cản được Trần Dần cũng mong họ đi trong sự an bình. Có lẽ đó là khiếm khuyết chứng tỏ ông không có lập trường vững vàng cách mạng khi thương những người đi.
Tôi cúi xuống – quỳ xin mưa bão
Chớ đổ thêm lên đầu họ
Khổ nhiều rồi
Người ta nói cuộc ra đi cay đắng ấy có nhiều lý do như vì tôn giáo, vì bị lôi kéo. Ít ai nói đến những người ra đi ấy gồm nhiều tri thức, nghệ sĩ. Họ nghĩ gì khi vội vã ra đi không để cách mạng có cơ hội ngỏ lời thanh minh. Bởi có lẽ là người nhạy cảm và tinh tế, họ đã thấy đâu đó dậy mùi của bạo quyền, của sự hung hăng thấp thoáng trong thơ văn của người cách mạng, như bài Tiến Quân Ca.
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.
Đường vinh quang xây xác quân thù
Một ngọn cờ quốc gia đáng lẽ phải mang dáng dấp của hòa bình, đoàn kết, thịnh vượng… đằng này trong quốc ca người ta gọi rõ nó là cờ máu, con đường vinh quang của quốc gia đó được xác định tiêu biểu là xây bằng xác của quân thù. Có lẽ chưa có đất nước nào mà quốc ca lại sặc mùi chiến tranh, giết chóc như quốc ca mà người cách mạng đã chọn.
Trong bài “Diệt Phát Xít” của Nguyễn Đình Thi sự thù hận đến mù quáng đã lên đến đỉnh điểm khi không những đòi giết phát xít mà còn giết cả những người liên quan đến phát xít.
Đã đến ngày trả mối thù chung
Diệt phát xít, giết bầy chó đê hèn của chúng.
Bầy chó đê hèn ở đây mà Nguyễn Đình Thi kêu gọi cách mạng giết là ai ?
Cho dù có là những người cam tâm làm cho Nhật, hay những người liên đới làm cho Nhật, hay phải làm vì lý do nào đó thì họ vẫn là người Việt Nam. Có nên khẳng định cần phải giết họ như giết những con chó, nên chăng khi chiến thắng xong rồi cần làm thế. Không có sự tha thứ, nhân ái nào của người cách mạng đang hăng say trong cơn men chiến thắng, chỉ thấy khao khát đòi hỏi được chém giết để thỏa cơn thèm máu… trong những ca từ.
Vốn dĩ hay chuyển tải những ý nghĩa nhân văn, cao thượng hướng con người tới những điều tốt đẹp như bác ái, yêu thương và trân trọng. Lắp đạn vào trong súng chưa đủ, những nhà thơ văn cách mạng còn mang giắt cả dao thù vào văn chương.
Đến người cầm bút còn say máu thế, nói gì là người cầm súng.
Những ca từ đến giờ nghe vẫn còn thấy rùng mình vì sợ hãi.
Đó cũng là một trong lý do hàng triệu người đã ra đi vào Nam.
Năm 1975 Bắc Việt đánh tan chính phủ miền Nam Việt Nam. Trong khí thế hừng hực hân hoan chiến thắng ấy. Một bài ca náo nức , phấn chấn ra đời có tên Đất Nước Trọn Niềm Vui. Niềm vui này có lẽ chỉ trọn vẹn cho những người chiến thắng, còn đất nước có trọn niềm vui hay không thì chúng ta cần nhìn vài hình ảnh, hàng triệu người vội vã bỏ đi trên những con thuyền mong manh. Từ khi lời ca ấy được lần đầu cất lên cho đến mười mấy năm sau nữa, nhưng con thuyền chở người Việt Nam mong manh lao ra biển cả, một ăn chín thua đánh cược sinh mạng để mong sao nhanh chóng rời khỏi một đất nước đang “trọn niềm vui”.
Hàng trăm, hàng chục ngàn trại tù nhân là lính VNCH cải tạo trong những trại tù hà khắc nhất thế giới bị đày đọa thể xác và tinh thần. Cũng chẳng may mắn hơn họ, những người lính chiến thắng lại đi vào cuộc chiến sa lầy ở Cam Pu Chia, ở biên giới phía Bắc cũng hàng trăm, hàng chục nghìn người lính ấy phải hy sinh hay lãnh thương tật.
Ngày hôm nay khi nóc nhà Việt Nam trên Tây Nguyên đang bị hàng nghìn người Trung Quốc ngự trị , đào bới những tài nguyên mà họ mua với giá rẻ mạt. Khi mà biển Đông trù phú hải sản đang bị hải quân Trung Quốc tuần tiễu với họng súng sẵn sàng nhả đạn và đã nhả đạn vào ngư dân Việt Nam. Khi mà bao danh lam, thắng cảnh rơi vào tay người Trung Quốc một cách êm ru.
Người Việt Nam hừng hực khí thế. Khí thế gì vậy ?
Khí thế ở Tam Tòa- Đồng Hới, người Việt Nam đang hừng hực lửa hận thù vác gậy gộc đi săn tìm nhau để đánh đập, để trút lòng căm hận được dấy lên từ những lời ca như thưở ban đầu cách mạng. Đó là những “quần chúng nhân dân tự phát do bức xúc” đang say trong cơn bạo lực đi truy sát những người Việt Nam khác. Khí thế sẵn sàng chiến đấu, dùi cui, bình hơi cay, đạn dược của những người lính để đối phó với kẻ thù là người dân Việt. Khí thế là những bài báo ngút ngàn lửa hận của truyền thông nhà nước đang nhất quyết đòi khơi dậy một cuộc tương tàn. Khí thế là bắt bớ, dọa dẫm, hành hạ những người dân đang cố gắng phản đối bạo quyền bằng những lời tâm huyết…
Tôi chỉ là một người dân thường Quảng Bình, nơi khởi đầu bước chân của nàng Công Chúa Huyền Trân mang tấm thân kiều diễm vào miền cát nắng, mong ước mang lại hòa bình cho đất nước như lời ca
Đi cho trăm họ được hòa bình ấm no, đèo núi cao đi tới kinh đô…
Xin hãy để những lời ca nhân ái vang lên ở quê hương tôi.
Xin đừng mang hận thù, gậy gộc, binh lính và súng đạn để dấy lên một cuộc tương tàn giữa những người dân Việt. Khi mà non sông gấm vóc, rừng vàng biển bạc đang bị kẻ thù truyền kiếp xâm lược, khi mà chúng đang bắn giết người Việt ngang nhiên ngoài khơi kia, đứng ở mảnh đất Tam Tòa này hướng ra phía biển là thấy rõ.
Đất nước này đang hứng trọn mọi niềm đau.
Đồng Hới những ngày đầy bạo lực
Người Đồng Mỹ
Bài viết này dâng cho thánh lễ của Cha Augustino Phạm Sơn Hà OSB tổ chức để cầu nguyện cho tu sĩ, giáo dân giáo xứ Tam Tòa. Thánh lễ bắt đầu vào 9 giờ tối giờ Việt Nam ,ngày thứ bảy 15-8-2009 trên diễn đàn Paltak có tên ‘’ tiếng nói tự do của người dân Việt Nam’’
Năm 1954, hàng triệu người dân miền Bắc di cư vào Nam để chọn một mảnh đất sống mới. Thi Sĩ Trần Dần trong lúc đứng ở hàng ngũ những người cộng sản, ông không hiểu nổi vì sao những người miền Bắc, bỗng dưng thấy cách mạng về mà họ lại lũ lượt bỏ đi như vậy. Nào họ có biết cách mạng tốt đẹp hay xấu xí gì đâu? Toàn những lời hứa hẹn tốt đẹp mà họ vội vã không chịu tìm hiểu kỹ về cách mạng đã vội vã bỏ đi như tránh dịch khi cách mạng về tiếp quản thành phố.
Dẫu trách họ thật nhiều cho đúng tinh thần cách mạng là những người đi thiếu quả tim, khối óc. Nhưng dù sao với cái tâm của một con người, không cản được Trần Dần cũng mong họ đi trong sự an bình. Có lẽ đó là khiếm khuyết chứng tỏ ông không có lập trường vững vàng cách mạng khi thương những người đi.
Tôi cúi xuống – quỳ xin mưa bão
Chớ đổ thêm lên đầu họ
Khổ nhiều rồi
Người ta nói cuộc ra đi cay đắng ấy có nhiều lý do như vì tôn giáo, vì bị lôi kéo. Ít ai nói đến những người ra đi ấy gồm nhiều tri thức, nghệ sĩ. Họ nghĩ gì khi vội vã ra đi không để cách mạng có cơ hội ngỏ lời thanh minh. Bởi có lẽ là người nhạy cảm và tinh tế, họ đã thấy đâu đó dậy mùi của bạo quyền, của sự hung hăng thấp thoáng trong thơ văn của người cách mạng, như bài Tiến Quân Ca.
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.
Đường vinh quang xây xác quân thù
Một ngọn cờ quốc gia đáng lẽ phải mang dáng dấp của hòa bình, đoàn kết, thịnh vượng… đằng này trong quốc ca người ta gọi rõ nó là cờ máu, con đường vinh quang của quốc gia đó được xác định tiêu biểu là xây bằng xác của quân thù. Có lẽ chưa có đất nước nào mà quốc ca lại sặc mùi chiến tranh, giết chóc như quốc ca mà người cách mạng đã chọn.
Trong bài “Diệt Phát Xít” của Nguyễn Đình Thi sự thù hận đến mù quáng đã lên đến đỉnh điểm khi không những đòi giết phát xít mà còn giết cả những người liên quan đến phát xít.
Đã đến ngày trả mối thù chung
Diệt phát xít, giết bầy chó đê hèn của chúng.
Bầy chó đê hèn ở đây mà Nguyễn Đình Thi kêu gọi cách mạng giết là ai ?
Cho dù có là những người cam tâm làm cho Nhật, hay những người liên đới làm cho Nhật, hay phải làm vì lý do nào đó thì họ vẫn là người Việt Nam. Có nên khẳng định cần phải giết họ như giết những con chó, nên chăng khi chiến thắng xong rồi cần làm thế. Không có sự tha thứ, nhân ái nào của người cách mạng đang hăng say trong cơn men chiến thắng, chỉ thấy khao khát đòi hỏi được chém giết để thỏa cơn thèm máu… trong những ca từ.
Vốn dĩ hay chuyển tải những ý nghĩa nhân văn, cao thượng hướng con người tới những điều tốt đẹp như bác ái, yêu thương và trân trọng. Lắp đạn vào trong súng chưa đủ, những nhà thơ văn cách mạng còn mang giắt cả dao thù vào văn chương.
Đến người cầm bút còn say máu thế, nói gì là người cầm súng.
Những ca từ đến giờ nghe vẫn còn thấy rùng mình vì sợ hãi.
Đó cũng là một trong lý do hàng triệu người đã ra đi vào Nam.
Năm 1975 Bắc Việt đánh tan chính phủ miền Nam Việt Nam. Trong khí thế hừng hực hân hoan chiến thắng ấy. Một bài ca náo nức , phấn chấn ra đời có tên Đất Nước Trọn Niềm Vui. Niềm vui này có lẽ chỉ trọn vẹn cho những người chiến thắng, còn đất nước có trọn niềm vui hay không thì chúng ta cần nhìn vài hình ảnh, hàng triệu người vội vã bỏ đi trên những con thuyền mong manh. Từ khi lời ca ấy được lần đầu cất lên cho đến mười mấy năm sau nữa, nhưng con thuyền chở người Việt Nam mong manh lao ra biển cả, một ăn chín thua đánh cược sinh mạng để mong sao nhanh chóng rời khỏi một đất nước đang “trọn niềm vui”.
Hàng trăm, hàng chục ngàn trại tù nhân là lính VNCH cải tạo trong những trại tù hà khắc nhất thế giới bị đày đọa thể xác và tinh thần. Cũng chẳng may mắn hơn họ, những người lính chiến thắng lại đi vào cuộc chiến sa lầy ở Cam Pu Chia, ở biên giới phía Bắc cũng hàng trăm, hàng chục nghìn người lính ấy phải hy sinh hay lãnh thương tật.
Ngày hôm nay khi nóc nhà Việt Nam trên Tây Nguyên đang bị hàng nghìn người Trung Quốc ngự trị , đào bới những tài nguyên mà họ mua với giá rẻ mạt. Khi mà biển Đông trù phú hải sản đang bị hải quân Trung Quốc tuần tiễu với họng súng sẵn sàng nhả đạn và đã nhả đạn vào ngư dân Việt Nam. Khi mà bao danh lam, thắng cảnh rơi vào tay người Trung Quốc một cách êm ru.
Người Việt Nam hừng hực khí thế. Khí thế gì vậy ?
Khí thế ở Tam Tòa- Đồng Hới, người Việt Nam đang hừng hực lửa hận thù vác gậy gộc đi săn tìm nhau để đánh đập, để trút lòng căm hận được dấy lên từ những lời ca như thưở ban đầu cách mạng. Đó là những “quần chúng nhân dân tự phát do bức xúc” đang say trong cơn bạo lực đi truy sát những người Việt Nam khác. Khí thế sẵn sàng chiến đấu, dùi cui, bình hơi cay, đạn dược của những người lính để đối phó với kẻ thù là người dân Việt. Khí thế là những bài báo ngút ngàn lửa hận của truyền thông nhà nước đang nhất quyết đòi khơi dậy một cuộc tương tàn. Khí thế là bắt bớ, dọa dẫm, hành hạ những người dân đang cố gắng phản đối bạo quyền bằng những lời tâm huyết…
Tôi chỉ là một người dân thường Quảng Bình, nơi khởi đầu bước chân của nàng Công Chúa Huyền Trân mang tấm thân kiều diễm vào miền cát nắng, mong ước mang lại hòa bình cho đất nước như lời ca
Đi cho trăm họ được hòa bình ấm no, đèo núi cao đi tới kinh đô…
Xin hãy để những lời ca nhân ái vang lên ở quê hương tôi.
Xin đừng mang hận thù, gậy gộc, binh lính và súng đạn để dấy lên một cuộc tương tàn giữa những người dân Việt. Khi mà non sông gấm vóc, rừng vàng biển bạc đang bị kẻ thù truyền kiếp xâm lược, khi mà chúng đang bắn giết người Việt ngang nhiên ngoài khơi kia, đứng ở mảnh đất Tam Tòa này hướng ra phía biển là thấy rõ.
Đất nước này đang hứng trọn mọi niềm đau.
Đồng Hới những ngày đầy bạo lực
Người Đồng Mỹ
HỌ LÀ AI (?)
Sơn Tùng Họ là những người đã ra khỏi Việt Nam, bằng cách này hay bằng cách khác, trước hay sau ngày 30.04.1975. Họ đang sống ở hải ngoại, hầu hết với danh nghĩa tỵ nạn cộng sản. Hầu hết, nếu không tất cả, là những người đã có đời sống tự do trên mảnh đất miền Nam trước khi Miền Bắc thắng cuộc phân tranh quốc cộng khiến họ phải bỏ lại tất cả để ra đi.
Tại sao phải ra đi ? Câu trả lời rất đơn giản. Họ đã tự trả lời khi bước chân xuống tàu ra khơi, chấp nhận mọi gian nguy, và sau khi sống sót đặt chân lên bờ đất tự do, nơi các trại tị nạn: họ không thể sống dưới chế độ cộng sản.
Với lý do ấy, họ được một quốc gia trong thế giới không cộng sản, hay “Thế giới Tự do”, nhận cho tái định cư, làm lại cuộc đời. Họ trở thành một phần tử trong cộng đồng người Việt tị nạn ở hải ngoại, dù họ đã nhập quốc tịch Mỹ, Pháp, Canada, hay một nước nào khác, trừ khi họ tự hội nhập hoàn toàn vào quê hương mới và cắt đứt mọi liên hệ với quê hương cũ.
Thế rồi bỗng dưng, vào một lúc nào đó, kẻ trước người sau, họ lên tiếng chỉ trích, khích bác cộng đồng, tách ra khỏi cộng đồng, đả kích những người còn giữ lập trường chống cộng, họ kết thân với những người đang phục vụ chế độ cộng sản ở trong nước.
Hiển nhiên, đây là một hành động nghịch lý mà những bộ óc lành mạnh không thể hiểu. Nhưng, dù sao họ cũng đang sống trong một xã hội tự do, họ có quyền chọn lựa, dù sự chọn lựa có nghịch lý đến đâu. Và sẽ không ai nói đến họ, vì họ chỉ là một số rất nhỏ bé trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nếu họ không tự nhận là những người sáng suốt, thức thời, tiến bộ, thậm chí còn nhân danh “đa số thầm lặng”, nhân danh chân lý để làm một đầu cầu cho cán bộ cộng sản xâm nhập, phá hoại cộng đồng.
Vì vậy, họ đã gặp phản ứng chính đáng từ những người không thay đổi lập trường chống cộng trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Và họ đã lên tiếng kêu ca bị “mất tự do”! Nhưng, kêu ca với ai? Kêu ca với cán bộ cộng sản từ trong nước ra!
Có lẽ đây là chuyện khôi hài làm cho người nghiêm nghị nhất cũng khó nín cười, hay người trầm lặng nhất cũng không thể không lên tiếng.
Vì vậy, vừa mới đây, ông Công Tử Hà Đông (bút hiệu viết phiếm của Nhà văn Hoàng Hải Thủy), đã phải lên tiếng để nói về những người này.
Những người này đã thường “giao lưu một chiều” với cán bộ cộng sản ở trong nước nhưng không ai quan tâm vì đó là chuyện riêng của họ, nếu những lời nói quái gở của họ không được cán bộ cộng sản dùng để xuyên tạc sinh hoạt trong các cộng đồng người Việt hải ngoại – như bài viết của ông Tô Nhuận Vỹ phổ biến trên Net sau một chuyến Mỹ du được Công Tử Hà Đông trích đoạn như sau:
“Với nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại thì cái mũ ‘cộng sản’ của cộng đồng luôn luôn chực chờ để chụp xuống đầu họ. Báo chí không ít lần đã phải kêu lên về cái thực trạng ‘mũ cối ở đây nhiều hơn ở cả Hà Nội’. Cho nên, các nhà văn luôn phải ‘biểu diễn lập trường’ (chữ của Nguyễn Mộng Giác). Trong nhiều dịp chuyện trò tâm sự, không ít anh em đồng nghiệp ở Mỹ trong khi cho rằng trong nước hoàn toàn chưa có tự do sáng tác với khá nhiều ví dụ thì đồng thời cũng khẳng định lúc này, tại đây, (Hoa Kỳ), cũng chưa có tự do sáng tác như mình ao ước, nên có lúc phải sống hai mặt. Hoàng Khởi Phong viết: Ở ngoại quốc này chúng ta làm chính trị dễ, yêu nước cũng dễ, làm văn chương cũng dễ, lấy nhau cũng dễ, bỏ nhau cũng dễ, làm thương mại cũng dễ, khai phá sản cũng dễ. Nói tóm lại, ở đây cái gì cũng dễ, chỉ trừ có một tấm lòng chân thật là hơi khó chút xíu.”
Và dưới đây là đoạn ông Tô Nhuận Vỹ thuật lại những cuộc tiếp xúc với các ông Nguyễn Bá Chung, Trương Vũ, Nguyễn Gia Kiểng, Lê Xuân Khoa:
Về Nguyễn Bá Chung: - “Chỉ vì mời hai học giả từ Hà Nội là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi qua tham gia nghiên cứu về văn học và văn hóa cộng đồng người Việt sau chiến tranh và do khởi phát từ một chi tiết trong phần đặt vấn đề của chương trình nghiên cứu của Nguyễn Bá Chung, trong đó có kể chuyện một cháu nhỏ khoe với ông nội lá cờ Việt Nam cháu tìm thấy trong sách nhà trường – cờ đỏ sao vàng thay vì cờ vàng ba sọc đỏ, chỉ bắt đầu từ như thế (một đoạn văn không do Nguyễn Bá Chung viết), mà một cuộc chống lại ồ ạt, ghê gớm bằng từ hàng trăm bài viết không thiếu lời lẽ nhục mạ, đe dọa, các cuộc mít tinh hội họp phản đối, các kiến nghị gay gắt, kiện cả ra tòa án mà khi tòa án bác bỏ thì vu luôn cho thẩm phán, luật sư thiên vị..., mà đánh tới tấp suốt hơn năm năm trời, với phạm vi trên toàn cõi có người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài rằng Trung tâm William Joiner, Kevin Bowen là tiếp tay cho cộng sản, rằng Nguyễn Bá Chung là cộng sản nằm vùng và phải trừng trị anh này. Ở một đất nước tự do mà hành sử như vậy thì hãi quá.”
Về Trương Vũ: - “Nhưng, trong không khí chống cộng cực đoan như thế, không phải không có những người dù không tán thành thể chế trong nước vẫn có cái nhìn trầm tĩnh như Trương Vũ, anh nói: ‘Vào lúc này mà nói chuyện chống cộng với ngôn ngữ, phương thức của ba mươi năm cũ chẳng khác gì chống những hồn ma trong một không gian hồi tưởng. Chẳng khác gì đi đi lại lại trên một lối mòn của tâm thức. Chống những hồn ma không được thì chống nhau. Ai không giống mình thì người đó là cộng sản, phản bội.’”
Về Nguyễn Gia Kiểng: - “Nguyễn Gia Kiểng cho rằng loại thái độ đó chỉ là để biểu lộ và trút bớt sự căm thù đang sôi sục trong lòng chứ không phải để giành thắng lợi. Cuộc đấu tranh vì vậy không khác gì một cuộc lên đồng, những người được ủng hộ nhất là những người tỏ ra táo bạo nhất, lên đồng hay nhất, gây được ấn tượng mạnh nhất.”
Về Lê Xuân Khoa: - “Ông cũng cho biết mình sắp có chuyến về Việt Nam trong những ngày tới. Ông nói: ‘Số cực đoan trong cộng đồng lẫn số bảo thủ quyết liệt trong nước chỉ là số ít mà thôi. Đa số, cho dù tạm thời thầm lặng, vẫn là những con người mong muốn thực sự hòa hợp, hòa giải để xây dựng đất nước dân chủ và giàu mạnh, dù đề xuất giải pháp còn khác nhau.’”
Công Tử Hà Đông đã trả lời những người này với một bài khá dài, và ông nói rằng những người này chưa được làm cộng sản, mà chỉ là một thứ tay sai của cộng sản.
Lê-nin, người thầy vĩ đại của dư đảng Cộng sản tại Việt Nam, có một định nghĩa thực tế về những người này: “Những tên ngốc hữu dụng.”
Ký giả Tú Rua Lê Triết gọi loại người này là những người “hơi hơi chống cộng” để so sánh với chuyện không hề có trong thế gian: “đàn bà hơi hơi mang bầu”.
Vậy thì thực sự, họ là ai?
Có lẽ nhiều người coi họ, và họ cũng tự cho, là những người trí thức, vì họ có bằng cấp đại học, có viết sách, viết báo, để không những nói lên quan điểm của mình, tự đề cao mình, mà còn lên giọng miệt thị người khác.
Nhưng, dường như từ lâu đã có sự lạm dụng danh nghĩa “trí thức” trong xã hội Việt Nam. Có bằng cấp cao chưa đủ để là người trí thức. Có sự hiểu biết chuyên môn về một ngành nghề nào đó không phải là trí thức. Có một số sinh hoạt liên quan đến trí óc cũng chưa phải là trí thức. Trí thức là người, ngoài sự Minh triết, cần có thêm Tâm, Trí, và Dũng.
Khi các chế độ cộng sản tại Liên bang Sô-viết và các nước Đông Âu đứng trước sự chống đối ngày một gia tăng từ bên trong, cũng đã có một số người tự nhận là tiến bộ, là thức thời, là ôn hòa, là thay mặt cho đa số thầm lặng, cho rằng các chế độ độc tài tàn bạo ấy có thể sửa đổi để mang một bộ mặt nhân bản và tồn tại, mà không cần xóa bỏ và cũng không thể xóa bỏ. Nhà văn Alexandr Solzhenitsyn đã dõng dạc nói: “Chủ nghĩa cộng sản không thể cải thiện, chỉ có chết.”
Những gì xảy ra sau đó tại Đông Âu và Liên Sô đã chứng minh nhận định của Solzhenitsyn. Nhà văn Nga ấy là một trí thức chính danh.
Dưới chế độ cộng sản tại Việt Nam ngày nay cũng đang có những trí thức chính danh như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Đan Quế, Đỗ Nam Hải, Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, và nhiều người khác nữa.
Những người trí thức ấy có Tâm, có Trí, có Dũng và sẽ đẩy bánh xe lịch sử tiến tới, tới nơi mà các dân tộc Đông Âu đã tới từ hai mươi năm trước.
Những người cộng sản đang nắm quyền tại Việt Nam ngày nay cũng không khác những người cộng sản đã nắm quyền ba, bốn mươi năm trước, là những kẻ phản động trước trào lưu dân chủ trên thế giới. Những kẻ ấy, dù ngoan cố tới đâu, cũng không thể cứu được cái chế độ cổ quái đã đi đến chỗ tận cùng của mục nát.
Một nhóm nhỏ người Việt ở hải ngoại giao du với một người tên Tô Nhuận Vỹ nào đó để được nói đến tên và được khen là thức thời, là tiến bộ, là ôn hòa ... là loại người mà thời nhiễu nhương nào cũng có.
Đó chỉ là vài con rối lăng xăng trên cái sân khấu không có vai trò nào dành cho họ.
Họ không là gì cả.
Sơn Tùng
Sơn Tùng Họ là những người đã ra khỏi Việt Nam, bằng cách này hay bằng cách khác, trước hay sau ngày 30.04.1975. Họ đang sống ở hải ngoại, hầu hết với danh nghĩa tỵ nạn cộng sản. Hầu hết, nếu không tất cả, là những người đã có đời sống tự do trên mảnh đất miền Nam trước khi Miền Bắc thắng cuộc phân tranh quốc cộng khiến họ phải bỏ lại tất cả để ra đi.
Tại sao phải ra đi ? Câu trả lời rất đơn giản. Họ đã tự trả lời khi bước chân xuống tàu ra khơi, chấp nhận mọi gian nguy, và sau khi sống sót đặt chân lên bờ đất tự do, nơi các trại tị nạn: họ không thể sống dưới chế độ cộng sản.
Với lý do ấy, họ được một quốc gia trong thế giới không cộng sản, hay “Thế giới Tự do”, nhận cho tái định cư, làm lại cuộc đời. Họ trở thành một phần tử trong cộng đồng người Việt tị nạn ở hải ngoại, dù họ đã nhập quốc tịch Mỹ, Pháp, Canada, hay một nước nào khác, trừ khi họ tự hội nhập hoàn toàn vào quê hương mới và cắt đứt mọi liên hệ với quê hương cũ.
Thế rồi bỗng dưng, vào một lúc nào đó, kẻ trước người sau, họ lên tiếng chỉ trích, khích bác cộng đồng, tách ra khỏi cộng đồng, đả kích những người còn giữ lập trường chống cộng, họ kết thân với những người đang phục vụ chế độ cộng sản ở trong nước.
Hiển nhiên, đây là một hành động nghịch lý mà những bộ óc lành mạnh không thể hiểu. Nhưng, dù sao họ cũng đang sống trong một xã hội tự do, họ có quyền chọn lựa, dù sự chọn lựa có nghịch lý đến đâu. Và sẽ không ai nói đến họ, vì họ chỉ là một số rất nhỏ bé trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nếu họ không tự nhận là những người sáng suốt, thức thời, tiến bộ, thậm chí còn nhân danh “đa số thầm lặng”, nhân danh chân lý để làm một đầu cầu cho cán bộ cộng sản xâm nhập, phá hoại cộng đồng.
Vì vậy, họ đã gặp phản ứng chính đáng từ những người không thay đổi lập trường chống cộng trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Và họ đã lên tiếng kêu ca bị “mất tự do”! Nhưng, kêu ca với ai? Kêu ca với cán bộ cộng sản từ trong nước ra!
Có lẽ đây là chuyện khôi hài làm cho người nghiêm nghị nhất cũng khó nín cười, hay người trầm lặng nhất cũng không thể không lên tiếng.
Vì vậy, vừa mới đây, ông Công Tử Hà Đông (bút hiệu viết phiếm của Nhà văn Hoàng Hải Thủy), đã phải lên tiếng để nói về những người này.
Những người này đã thường “giao lưu một chiều” với cán bộ cộng sản ở trong nước nhưng không ai quan tâm vì đó là chuyện riêng của họ, nếu những lời nói quái gở của họ không được cán bộ cộng sản dùng để xuyên tạc sinh hoạt trong các cộng đồng người Việt hải ngoại – như bài viết của ông Tô Nhuận Vỹ phổ biến trên Net sau một chuyến Mỹ du được Công Tử Hà Đông trích đoạn như sau:
“Với nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại thì cái mũ ‘cộng sản’ của cộng đồng luôn luôn chực chờ để chụp xuống đầu họ. Báo chí không ít lần đã phải kêu lên về cái thực trạng ‘mũ cối ở đây nhiều hơn ở cả Hà Nội’. Cho nên, các nhà văn luôn phải ‘biểu diễn lập trường’ (chữ của Nguyễn Mộng Giác). Trong nhiều dịp chuyện trò tâm sự, không ít anh em đồng nghiệp ở Mỹ trong khi cho rằng trong nước hoàn toàn chưa có tự do sáng tác với khá nhiều ví dụ thì đồng thời cũng khẳng định lúc này, tại đây, (Hoa Kỳ), cũng chưa có tự do sáng tác như mình ao ước, nên có lúc phải sống hai mặt. Hoàng Khởi Phong viết: Ở ngoại quốc này chúng ta làm chính trị dễ, yêu nước cũng dễ, làm văn chương cũng dễ, lấy nhau cũng dễ, bỏ nhau cũng dễ, làm thương mại cũng dễ, khai phá sản cũng dễ. Nói tóm lại, ở đây cái gì cũng dễ, chỉ trừ có một tấm lòng chân thật là hơi khó chút xíu.”
Và dưới đây là đoạn ông Tô Nhuận Vỹ thuật lại những cuộc tiếp xúc với các ông Nguyễn Bá Chung, Trương Vũ, Nguyễn Gia Kiểng, Lê Xuân Khoa:
Về Nguyễn Bá Chung: - “Chỉ vì mời hai học giả từ Hà Nội là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi qua tham gia nghiên cứu về văn học và văn hóa cộng đồng người Việt sau chiến tranh và do khởi phát từ một chi tiết trong phần đặt vấn đề của chương trình nghiên cứu của Nguyễn Bá Chung, trong đó có kể chuyện một cháu nhỏ khoe với ông nội lá cờ Việt Nam cháu tìm thấy trong sách nhà trường – cờ đỏ sao vàng thay vì cờ vàng ba sọc đỏ, chỉ bắt đầu từ như thế (một đoạn văn không do Nguyễn Bá Chung viết), mà một cuộc chống lại ồ ạt, ghê gớm bằng từ hàng trăm bài viết không thiếu lời lẽ nhục mạ, đe dọa, các cuộc mít tinh hội họp phản đối, các kiến nghị gay gắt, kiện cả ra tòa án mà khi tòa án bác bỏ thì vu luôn cho thẩm phán, luật sư thiên vị..., mà đánh tới tấp suốt hơn năm năm trời, với phạm vi trên toàn cõi có người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài rằng Trung tâm William Joiner, Kevin Bowen là tiếp tay cho cộng sản, rằng Nguyễn Bá Chung là cộng sản nằm vùng và phải trừng trị anh này. Ở một đất nước tự do mà hành sử như vậy thì hãi quá.”
Về Trương Vũ: - “Nhưng, trong không khí chống cộng cực đoan như thế, không phải không có những người dù không tán thành thể chế trong nước vẫn có cái nhìn trầm tĩnh như Trương Vũ, anh nói: ‘Vào lúc này mà nói chuyện chống cộng với ngôn ngữ, phương thức của ba mươi năm cũ chẳng khác gì chống những hồn ma trong một không gian hồi tưởng. Chẳng khác gì đi đi lại lại trên một lối mòn của tâm thức. Chống những hồn ma không được thì chống nhau. Ai không giống mình thì người đó là cộng sản, phản bội.’”
Về Nguyễn Gia Kiểng: - “Nguyễn Gia Kiểng cho rằng loại thái độ đó chỉ là để biểu lộ và trút bớt sự căm thù đang sôi sục trong lòng chứ không phải để giành thắng lợi. Cuộc đấu tranh vì vậy không khác gì một cuộc lên đồng, những người được ủng hộ nhất là những người tỏ ra táo bạo nhất, lên đồng hay nhất, gây được ấn tượng mạnh nhất.”
Về Lê Xuân Khoa: - “Ông cũng cho biết mình sắp có chuyến về Việt Nam trong những ngày tới. Ông nói: ‘Số cực đoan trong cộng đồng lẫn số bảo thủ quyết liệt trong nước chỉ là số ít mà thôi. Đa số, cho dù tạm thời thầm lặng, vẫn là những con người mong muốn thực sự hòa hợp, hòa giải để xây dựng đất nước dân chủ và giàu mạnh, dù đề xuất giải pháp còn khác nhau.’”
Công Tử Hà Đông đã trả lời những người này với một bài khá dài, và ông nói rằng những người này chưa được làm cộng sản, mà chỉ là một thứ tay sai của cộng sản.
Lê-nin, người thầy vĩ đại của dư đảng Cộng sản tại Việt Nam, có một định nghĩa thực tế về những người này: “Những tên ngốc hữu dụng.”
Ký giả Tú Rua Lê Triết gọi loại người này là những người “hơi hơi chống cộng” để so sánh với chuyện không hề có trong thế gian: “đàn bà hơi hơi mang bầu”.
Vậy thì thực sự, họ là ai?
Có lẽ nhiều người coi họ, và họ cũng tự cho, là những người trí thức, vì họ có bằng cấp đại học, có viết sách, viết báo, để không những nói lên quan điểm của mình, tự đề cao mình, mà còn lên giọng miệt thị người khác.
Nhưng, dường như từ lâu đã có sự lạm dụng danh nghĩa “trí thức” trong xã hội Việt Nam. Có bằng cấp cao chưa đủ để là người trí thức. Có sự hiểu biết chuyên môn về một ngành nghề nào đó không phải là trí thức. Có một số sinh hoạt liên quan đến trí óc cũng chưa phải là trí thức. Trí thức là người, ngoài sự Minh triết, cần có thêm Tâm, Trí, và Dũng.
Khi các chế độ cộng sản tại Liên bang Sô-viết và các nước Đông Âu đứng trước sự chống đối ngày một gia tăng từ bên trong, cũng đã có một số người tự nhận là tiến bộ, là thức thời, là ôn hòa, là thay mặt cho đa số thầm lặng, cho rằng các chế độ độc tài tàn bạo ấy có thể sửa đổi để mang một bộ mặt nhân bản và tồn tại, mà không cần xóa bỏ và cũng không thể xóa bỏ. Nhà văn Alexandr Solzhenitsyn đã dõng dạc nói: “Chủ nghĩa cộng sản không thể cải thiện, chỉ có chết.”
Những gì xảy ra sau đó tại Đông Âu và Liên Sô đã chứng minh nhận định của Solzhenitsyn. Nhà văn Nga ấy là một trí thức chính danh.
Dưới chế độ cộng sản tại Việt Nam ngày nay cũng đang có những trí thức chính danh như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Đan Quế, Đỗ Nam Hải, Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, và nhiều người khác nữa.
Những người trí thức ấy có Tâm, có Trí, có Dũng và sẽ đẩy bánh xe lịch sử tiến tới, tới nơi mà các dân tộc Đông Âu đã tới từ hai mươi năm trước.
Những người cộng sản đang nắm quyền tại Việt Nam ngày nay cũng không khác những người cộng sản đã nắm quyền ba, bốn mươi năm trước, là những kẻ phản động trước trào lưu dân chủ trên thế giới. Những kẻ ấy, dù ngoan cố tới đâu, cũng không thể cứu được cái chế độ cổ quái đã đi đến chỗ tận cùng của mục nát.
Một nhóm nhỏ người Việt ở hải ngoại giao du với một người tên Tô Nhuận Vỹ nào đó để được nói đến tên và được khen là thức thời, là tiến bộ, là ôn hòa ... là loại người mà thời nhiễu nhương nào cũng có.
Đó chỉ là vài con rối lăng xăng trên cái sân khấu không có vai trò nào dành cho họ.
Họ không là gì cả.
Sơn Tùng

I GHÉT YOU Tiếng Anh I love you
Tiếng Pháp Je t'aime
Tiếng Ðức Ich liebe Dich
Tiếng Hawaii Aloha I'a Au Oe
Tiếng Inđônêxia Saya cinta padamu
Tiếng Ý Tiamo
*Tiếng Nhật *Kimi o ai shiteru
Aishiteru
Chuu shiteyo
Ora omee no koto ga suki da
Ore wa omae ga suki da
Suitonnen
Sukiyanen
Sukiyo
Watashi Wa Anata Ga Suki Desu
Watashi Wa Anata Wo Aishithe Imasu
Watakushi-wa anata-wo ai shimasu
Suki desu (được dùng cho lần đầu giống như là làm quen khi bạn chưa thực sự trở thành người yêu).
Tiếng Hàn Quốc No-rul sarang hae
Tangshin-i cho-a-yo (anh thích em hoặc em thích anh - rất lãng mạn)
Tiếng Nga Ya vas liubliu
Ya tebya liubliu
Tiếng Quan Thoại Wo ai ni
@ Tiếng Nam Phi Ek het jou liefe Ek is lief vir jou
@ Tiếng An-ba-ni te dua Te dashuroj
@ Tiếng xứ Alentejano(Bồ Ðào Nha) Gosto De Ti, Porra!
@ Tiếng Amharic Afekrishalehou
@ Tiếng ả rập Ana Behibak (nói với người đàn ông)
-Ana Behibek (nói với người phụ nữ)
-Ib'n hebbak.
-Ana Ba-heb-bak
-nhebuk
-Ohiboke (đàn ông nói với phụ nữ)
-Ohiboka (Phụ nữ nói với đàn ông)
-Ohibokoma
-Nohiboke
-Nohiboka
-Nohibokoma
-Nohibokom
-Nohibokon
-Bahibak (phụ nữ nói với đàn ông-không thông dụng)
-Bahibik (đàn ông nói với phụ nữ-không thông dụng)
-Benhibak (không thông dụng)
-Benhibik (không thông dụng)
-Benhibkom (không thông dụng)
@ Tiếng Assamese - Moi tomak bhal pau
@ Tiếng xứ Bátxcơ - Nere Maitea
@ Tiếng Bolivia - Quechua qanta munani
@ Tiếng Bungari - Obicham te
@ Tiếng Mianma - chit pa de
@ Tiếng Campuchia - Bon sro lanh oon
@ Tiếng Campuchia - kh_nhaum soro_lahn nhee_ah
@Người Canada nói tiếng Pháp - Sh'teme
(ngôn ngữ nói, được phát âm như thế này)
@ Tiếng Quảng Ðông (Trung Quốc) - Moi oiy neya
- Ngo oi ney
@ Tiếng Crôatia - LJUBim te
@ Tiếng Séc - Miluji te
- MILUJU TE!
@ Tiếng Ðan Mạch - Jeg elsker dig
@ Tiếng Hà Lan - Ik hou van jou Ik ben verliefd op je
@ Tiếng £cuađo - Quechua canda munani
@ Tiếng Anh - I love you or I adore you
@ Quốc tế ngữ - Mi amas vin
@ Tiếng Estonhia - Mina armastan sind
- Ma armastan sind
- Farsi Tora dust midaram
- Farsi Asheghetam
-Farsi (người gốc Ba Tư) - doostat dAram
@ Tiếng Phần Lan - Finnish Mina" rakastan sinua
@ Tiếng Hylạp - s'ayapo (được nói thành s'agapo, chữ cái thứ 3 được hạ thấp giọng giống như 'gamma')
- philo su (cổ) (dùng để nhấn mạnh)
@ Tiếng Greenlandic - Asavakit
@ Tiếng Hêbrơ (Do Thái cổ) - Ani ohev otach
(đàn ông nói với phụ nữ)
- Ani ohev otcha
(đàn ông nói với đàn ông)
- Ani ohevet otach
(phụ nữ nói với phụ nữ)
- Ani ohevet otcha
(phụ nữ nói với đàn ông)
@ Tiếng Hin-đi (ấn độ)- Mai tumase pyar karata hun
(đàn ông với phụ nữ)
Mai tumase pyar karati hun
(phụ nữ nói với đàn ông)
Main Tumse Prem Karta Hoon
Mai Tumhe Pyar Karta Hoon
Main Tumse Pyar Karta Hoon
Mai Tumse Peyar Karta Hnu
Mai tumse pyar karta hoo
@ Tiếng Iran - Mahn doostaht doh-rahm
@ Tiếng Ai-len - Irish taim i' ngra leat
@ Tiếng ý - ti amo (nếu đó là mối quan hệ tình cảm/ người yêu/vợ hoặc chồng)
- ti voglio bene (nếu đó là một người bạn hoặc một người họ hàng)
@ Tiếng Lao - Koi muk jao huk chau
@ Tiếng Latin - Te amo
Vos amoamo te
(Latin cổ để nhấn mạnh cái tôi)
@ Tiếng Mãlai - Saya cintakan mu
Saya sayangkan mu
Saya sayangkan engkau
(Pha trộn Malayxia/Inđônêxia)
Saya cintakan awak
( Pha trộn Malayxia/Inđônêxia)
@ Tiếng Malayalam - Njyaan Ninne' Preetikyunnu
Njyaan Ninne' Mohikyunnu.
Ngan Ninne Snaehikkunnu
@ Tiếng Malaysia - Saya Cintamu
Saya Sayangmu
Saya Cinta Kamu
@ Tiếng Na Uy - Eg elskar deg (Nynorsk)
Jeg elsker deg (Bokmaal) (được phát âm thành "yai elske dai")
@ Tiếng Pakistan - Mujhe Tumse Muhabbat Hai
@ Tiếng Ba Tư (Iran cũ) - Tora dost daram
@ Tiếng Pig Latinh - Ie Ovele Ouye
@ Tiếng Ba Lan - Kocham Cie Ja cie kocham
Yacha kocham
Kocham Ciebie
@ Tiếng Bồ Ðào Nha - Portuguese Amo-te
@ Tiếng Bồ Ðào Nha - (người gốc Braxin) Eu te amo
NGHĨ GÌ VỀ NGÀY 19 THÁNG TÁM ?
Người cộng sản Việt Nam sắp sửa kỷ niệm ngày 19 tháng 8, ngày mà họ gọi là « Ngày Cách mạng Tháng Tám « . Chúng ta nghĩ gì về ngày này ? Phải chăng đó là ngày cách mạng ? Cách mạng là gì ? Cách mạng có tất yêu là tốt hay không ?
Ngày 19/8, ngày cộng sản cướp chính quyền.
Đức Đạt lai Lạt ma, khi nói về cộng sản, Ngài có tuyên bố: Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc, sinh xôi nẩy nở trong rác rưởi của cuộc đời...
Trên hoang tàn của Đệ Nhất Thế Chiến (1914-1918), Lénine đã được Bộ Tham Mưu Đức đưa về cướp chính quyền ở Nga. Trên hoang tàn của Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945), Hồ chí Minh đã được Cộng sản Liên Sô và Trung Cộng đưa về cướp chính quyền ở Việt Nam.
Thật vậy, Đệ Nhất Thế Chiến đại lược gồm 2 phe:
1) Phe Đức đứng đằng sau là đế quốc Áo – Hung và đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ.
2) Phe Pháp đứng đằng sau có Anh, Ý, Nga Sô, sau có Mỹ. Gần cuối Thế Chiến, Đức thấy không thể nào đương đầu với 2 mặt trận:
- Mặt trận phía đông bắc với Nga, lúc đầu là Nga hoàng Nicolas I I, sau là Chính quyền Dân Chủ Xã hội và Thợ thuyền, cầm đầu bởi Kérenski ; và mặt trận phía tây nam với Pháp, muốn dồn hết lực lượng vào mặt trận quan trọng này. Lợi dụng thời cơ, Lénine đang sống ở Thụy sỹ, đã đưa ra khẩu hiệu: « Hoà bình bằng bất cứ giá nào, ngay cả phải nhượng đất để có quyền ! « Chính vì vậy mà Bộ Tham Mưu Đức đã liên lạc với Lénine và đã đưa ông ta về Nga làm cuộc đảo chính cướp chính quyền. Sau khi cướp được chính quyền, ông ta đã ký hiệp ước ngưng chiến với Đức, nhượng cho Đức 1/6 lãnh thổ, trong đó có 1/3 lãnh thổ kỹ nghệ và 1/3 lãnh thổ canh nông.
Sau đó Lénine tìm cách xuất cảng đảo chính, mở ra trường cộng sản Đông phương, có những người như Lưu thiếu Kỳ, Đặng tiểu Bình, Hồ chí Minh v.v.. học ở đó.
Cũng lợi dụng thời cơ hoang tàn của sau Đệ Nhị Thế Chiến, Hồ chí Minh được cộng sản Liên sô và Tàu đưa về cướp chính quyền ngày 18/9/1945.
Ngày 19/8 có phải là ngày cách mạng hay không ?
Thật vậy, ngày 6/8, trái bom nguyên tử đầu tiên được bỏ xuống Hiroshima, ngày 9, trái bom thứ nhì được bỏ xuống Nagashaki, ngày 15, chính phủ Nhật đầu hàng vô điều kiện Đồng minh ; quân đội Nhật ở Đông dương như rắn mất đầu ; trước đó ngày 7/8, chính phủ Trần trọng Kim từ chức, được Quốc trưởng Bảo Đại chấp nhận, nhưng yêu cầu xử lý thường vụ. Lợi dụng cuộc biểu tình của công chức Hà nội đòi tăng lương, Đảng cộng sản đã cho người trà trộn vào đoàn biểu tình, cướp một vài công sở lúc ban đầu, rồi sau đó cướp chính quyền vào ngày 19/8/1945.
Cách mạng là gì ?
Cách mạng là một thay đổi lớn, như váy ngắn là một cuộc cách mạng trong thời trang của người phụ nữ. Thuốc trụ sinh của Fléming là một cuộc cách mạng trong ngành y học.
Tuy nhiên ở điểm này tôi xin lưu ý là cách mạng không tất yếu là lúc nào cũng tốt .
Nếu nhìn dưới khía cạnh chính trị, xã hội và lịch sử, thì cách mạng nhằm thay đổi 3 cơ chế của một xã hội: 1) Thể chế chính trị , 2) Giai tầng lãnh đạo , 3) Trật tự xã hội.
Từ đó một câu hỏi đến với chúng ta là cuộc cướp chính quyền của cộng sản vào ngày 19/8 có phải là một cuộc cách mạng không ?
Là một cuộc cách mạng, vì nó đã thay đổi từ thể chế chính trị quân chủ sang thể chế độc tài cộng sản ; vì nó đã thay đổi giai tầng lãnh đạo ngày xưa dựa trên những cuộc thi cử của triều đình để tuyển lựa giai tầng lãnh đạo, ngày nay dựa trên sự lựa chọn của cộng sản « Hồng hơn chuyên « để chỉ định những người có quyền ; thay đổi trật tự xã hội, từ trật tự quân chủ sang trật tự cộng sản.
Tuy nhiên như chúng ta đã nói ở trên thay đổi không nhất thiết là tốt, có những thay đổi đưa đến hậu quả xấu. Một xã hội thay đổi bình thường như một con người có một sức khỏe tốt không cần phải uống thuốc mạnh, hay phải lên bàn mổ, được ví như cách mạng. Những chính quyền quân chủ như Anh, Nhật và một số nước Bắc Âu, ý thức được sự tiến hóa của thời đại, nhường ngôi cho chính quyền dân chủ, chấp nhận chế độ quân chủ lập hiến, những xứ này không cần đến cách mạng.
Trong 3 cuộc cách mạng lớn ở trên thế giới, cách mạng Hoa Kỳ 1776, cách mạng Pháp 1789, cách mạng Nga 1917, chỉ có cách mạng Hoa Kỳ là mang tới kết quả tốt nhất. (1) Cách mạng Pháp mang đến kết quả vừa tốt vừa xấu. Cách mạng Nga mang tới hậu quả hoàn toàn xấu.
Để ý thức rõ những kết quả xấu của cách mạng Nga, tôi xin trích ra đây 2 câu nói của 2 người lãnh đạo cộng sản cao cấp của Nga :
Ông Gotbatchev, cựu Tổng bí thư đảng cộng sản : « Tôi đã bỏ hơn nửa đời người tranh đấu cho lý tưởng cộng sản ; nhưng ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng : Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo. »
Ông Boris Eltsine, cựu Ủy viên Bộ Chính trị, cựu Tổng thống, trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ đầu, ông đã tuyên bố :
« Nước Nga vào đầu thế kỷ thứ 20, đang ở chung một con tàu với thế giới. Nước Nga không phải là đầu tàu, nhưng cũng ở trong những toa hạng nhất. Thế rồi nước Nga nghĩ tự mình có thể có một đường lối phát triển riêng biệt, đã tách ra khỏi đoàn tàu. Không ngờ đoàn tàu thế giới cứ đi, còn nước Nga dẫm chân tại chỗ. Nước Nga ngày hôm nay so với những nước tiền tiến trên thế giới bị tụt hậu hàng nửa thế kỷ. »
Trở về cuộc cách mạng Việt Nam 19/8, có phải là một cuộc cách mạng tốt hay không ?
Hoàn toàn không.
Quả thật đó là một cuộc thay đổi thể chế chính trị, nhưng thể chế chính trị cộng sản còn đàn áp, bóc lột người dân gấp cả trăm lần chế độ quân chủ xưa kia.
Quả thật có sự thay đổi giai tầng lãnh đạo, nhưng giới lãnh đạo cộng sản xuất thân từ « đầu trộm đuôi cướp », từ anh thợ thiến heo, đến anh cai phu đồn điền, qua anh du kích, chăn trâu, giới lãnh đạo này không có một tý gì là nhân cách, danh dự, còn hành hạ, sách nhiễu người dân gấp chục lần xưa kia.
Quả thật có sự thay đổi trên trật tự xã hội ; nhưng trật tự xã hội cộng sản ngày hôm nay còn bất công gấp trăm lần xưa kia. Trong khi người dân không có một $ để sống, thì cán bộ, con ông cháu cha cộng sản tiêu tiền vứt qua cửa sổ, xài cả ngàn $ một đêm, đánh những canh bạc cả triệu $. Hối lộ, tham nhũng lan tràn. Đạo đức, giáo dục suy đồi. Bất cộng càng ngày càng tăng.
Câu: « Việt nam dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc « , chỉ là một sự lừa đảo người dân.
Việt Nam hiện nay có độc lập không ? Không, còn lệ thuộc vào Trung Cộng gấp cả trăm lần bị lệ thuộc vào Pháp trước đây. Không những vậy, Trung Cộng còn xâm đất lấn biển, 2 hiệp ước do cộng sản Việt Nam ký với Trung cộng vào năm 1999 và 2000, về biên giới và vùng biển, thì chỉ mang thua thiệt cho Việt Nam, nếu chúng ta so với hiệp ước Thiên tân mà Pháp ký với Tàu về biên giới và vùng biển Việt Nam.
Việt Nam hiện nay có dân chủ, cộng hòa không ? – Không, chế độ cộng sản Việt Nam ngày hôm còn độc tài gấp trăm lần chế độ quân chủ xưa kia, vì chế độ cộng sản cũng chỉ là một chế độ quân chủ trá hình, nhưng còn tồi tệ hơn nhiều.
Dân tộc Việt hiện nay có ấm no, hạnh phúc hay không ? – Không, bằng chứng là dân Việt hiện nay phải bỏ nước chạy tứ tán ra ngoại quốc, dưới bất cứ hình thức nào, đi làm thuê, làm mướn, đi lấy chồng ngoại quốc, đi bán thân nuôi miệng.
Quả thật ngày 19/8/1945 và ngày 25 tháng 10/1917, theo lịch Nga, ngày 7/11, theo lịch thường, là ngày thay đổi lớn, ngày cách mạng của cộng sản Việt Nam và của Nga. Nhưng là cách mạng theo nghĩa xấu, vì cách mạng không tất yếu là tốt. Chính 2 ngày ấy đã mang lại không biết bao đau thương, không những cho 2 dân tộc Nga và Việt Nam, mà còn mang đau thương cho biết bao dân tộc khác. Nạn nhân của chế độ cộng sản từ ngày cách mạng tháng 10/1917 tới nay trên toàn thế giới đã lên tới cả hơn 100 triệu người. Tổng thống Hoa kỳ, Ronald Reagan có nói :
« Lịch sử nhân loại có nhiều trang đau thương và đẫm máu. Nhưng không có trang nào đau thương và đẫm máu bằng trang sử cộng sản. Các dân tộc Nga sô và Đông Âu đã can đảm đứng lên đấu tranh lật qua những trang sử đau thương đó và viết lên những trang sử mới của hòa bình, tự do, dân chủ. Tôi hy vọng rằng những dân tộc còn sống dưới chế độ độc tài cộng sản, cũng can đảm đứng lên đấu tranh để lật qua những trang sử cộng sản đau thương và đẫm máu, để viết những trang sử tốt đẹp hơn cho chính mình « (1) .
Paris ngày 12/08/2009
Chu chi Nam
Ngày 19/8, ngày cộng sản cướp chính quyền.
Đức Đạt lai Lạt ma, khi nói về cộng sản, Ngài có tuyên bố: Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc, sinh xôi nẩy nở trong rác rưởi của cuộc đời...
Trên hoang tàn của Đệ Nhất Thế Chiến (1914-1918), Lénine đã được Bộ Tham Mưu Đức đưa về cướp chính quyền ở Nga. Trên hoang tàn của Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945), Hồ chí Minh đã được Cộng sản Liên Sô và Trung Cộng đưa về cướp chính quyền ở Việt Nam.
Thật vậy, Đệ Nhất Thế Chiến đại lược gồm 2 phe:
1) Phe Đức đứng đằng sau là đế quốc Áo – Hung và đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ.
2) Phe Pháp đứng đằng sau có Anh, Ý, Nga Sô, sau có Mỹ. Gần cuối Thế Chiến, Đức thấy không thể nào đương đầu với 2 mặt trận:
- Mặt trận phía đông bắc với Nga, lúc đầu là Nga hoàng Nicolas I I, sau là Chính quyền Dân Chủ Xã hội và Thợ thuyền, cầm đầu bởi Kérenski ; và mặt trận phía tây nam với Pháp, muốn dồn hết lực lượng vào mặt trận quan trọng này. Lợi dụng thời cơ, Lénine đang sống ở Thụy sỹ, đã đưa ra khẩu hiệu: « Hoà bình bằng bất cứ giá nào, ngay cả phải nhượng đất để có quyền ! « Chính vì vậy mà Bộ Tham Mưu Đức đã liên lạc với Lénine và đã đưa ông ta về Nga làm cuộc đảo chính cướp chính quyền. Sau khi cướp được chính quyền, ông ta đã ký hiệp ước ngưng chiến với Đức, nhượng cho Đức 1/6 lãnh thổ, trong đó có 1/3 lãnh thổ kỹ nghệ và 1/3 lãnh thổ canh nông.
Sau đó Lénine tìm cách xuất cảng đảo chính, mở ra trường cộng sản Đông phương, có những người như Lưu thiếu Kỳ, Đặng tiểu Bình, Hồ chí Minh v.v.. học ở đó.
Cũng lợi dụng thời cơ hoang tàn của sau Đệ Nhị Thế Chiến, Hồ chí Minh được cộng sản Liên sô và Tàu đưa về cướp chính quyền ngày 18/9/1945.
Ngày 19/8 có phải là ngày cách mạng hay không ?
Thật vậy, ngày 6/8, trái bom nguyên tử đầu tiên được bỏ xuống Hiroshima, ngày 9, trái bom thứ nhì được bỏ xuống Nagashaki, ngày 15, chính phủ Nhật đầu hàng vô điều kiện Đồng minh ; quân đội Nhật ở Đông dương như rắn mất đầu ; trước đó ngày 7/8, chính phủ Trần trọng Kim từ chức, được Quốc trưởng Bảo Đại chấp nhận, nhưng yêu cầu xử lý thường vụ. Lợi dụng cuộc biểu tình của công chức Hà nội đòi tăng lương, Đảng cộng sản đã cho người trà trộn vào đoàn biểu tình, cướp một vài công sở lúc ban đầu, rồi sau đó cướp chính quyền vào ngày 19/8/1945.
Cách mạng là gì ?
Cách mạng là một thay đổi lớn, như váy ngắn là một cuộc cách mạng trong thời trang của người phụ nữ. Thuốc trụ sinh của Fléming là một cuộc cách mạng trong ngành y học.
Tuy nhiên ở điểm này tôi xin lưu ý là cách mạng không tất yếu là lúc nào cũng tốt .
Nếu nhìn dưới khía cạnh chính trị, xã hội và lịch sử, thì cách mạng nhằm thay đổi 3 cơ chế của một xã hội: 1) Thể chế chính trị , 2) Giai tầng lãnh đạo , 3) Trật tự xã hội.
Từ đó một câu hỏi đến với chúng ta là cuộc cướp chính quyền của cộng sản vào ngày 19/8 có phải là một cuộc cách mạng không ?
Là một cuộc cách mạng, vì nó đã thay đổi từ thể chế chính trị quân chủ sang thể chế độc tài cộng sản ; vì nó đã thay đổi giai tầng lãnh đạo ngày xưa dựa trên những cuộc thi cử của triều đình để tuyển lựa giai tầng lãnh đạo, ngày nay dựa trên sự lựa chọn của cộng sản « Hồng hơn chuyên « để chỉ định những người có quyền ; thay đổi trật tự xã hội, từ trật tự quân chủ sang trật tự cộng sản.
Tuy nhiên như chúng ta đã nói ở trên thay đổi không nhất thiết là tốt, có những thay đổi đưa đến hậu quả xấu. Một xã hội thay đổi bình thường như một con người có một sức khỏe tốt không cần phải uống thuốc mạnh, hay phải lên bàn mổ, được ví như cách mạng. Những chính quyền quân chủ như Anh, Nhật và một số nước Bắc Âu, ý thức được sự tiến hóa của thời đại, nhường ngôi cho chính quyền dân chủ, chấp nhận chế độ quân chủ lập hiến, những xứ này không cần đến cách mạng.
Trong 3 cuộc cách mạng lớn ở trên thế giới, cách mạng Hoa Kỳ 1776, cách mạng Pháp 1789, cách mạng Nga 1917, chỉ có cách mạng Hoa Kỳ là mang tới kết quả tốt nhất. (1) Cách mạng Pháp mang đến kết quả vừa tốt vừa xấu. Cách mạng Nga mang tới hậu quả hoàn toàn xấu.
Để ý thức rõ những kết quả xấu của cách mạng Nga, tôi xin trích ra đây 2 câu nói của 2 người lãnh đạo cộng sản cao cấp của Nga :
Ông Gotbatchev, cựu Tổng bí thư đảng cộng sản : « Tôi đã bỏ hơn nửa đời người tranh đấu cho lý tưởng cộng sản ; nhưng ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng : Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo. »
Ông Boris Eltsine, cựu Ủy viên Bộ Chính trị, cựu Tổng thống, trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ đầu, ông đã tuyên bố :
« Nước Nga vào đầu thế kỷ thứ 20, đang ở chung một con tàu với thế giới. Nước Nga không phải là đầu tàu, nhưng cũng ở trong những toa hạng nhất. Thế rồi nước Nga nghĩ tự mình có thể có một đường lối phát triển riêng biệt, đã tách ra khỏi đoàn tàu. Không ngờ đoàn tàu thế giới cứ đi, còn nước Nga dẫm chân tại chỗ. Nước Nga ngày hôm nay so với những nước tiền tiến trên thế giới bị tụt hậu hàng nửa thế kỷ. »
Trở về cuộc cách mạng Việt Nam 19/8, có phải là một cuộc cách mạng tốt hay không ?
Hoàn toàn không.
Quả thật đó là một cuộc thay đổi thể chế chính trị, nhưng thể chế chính trị cộng sản còn đàn áp, bóc lột người dân gấp cả trăm lần chế độ quân chủ xưa kia.
Quả thật có sự thay đổi giai tầng lãnh đạo, nhưng giới lãnh đạo cộng sản xuất thân từ « đầu trộm đuôi cướp », từ anh thợ thiến heo, đến anh cai phu đồn điền, qua anh du kích, chăn trâu, giới lãnh đạo này không có một tý gì là nhân cách, danh dự, còn hành hạ, sách nhiễu người dân gấp chục lần xưa kia.
Quả thật có sự thay đổi trên trật tự xã hội ; nhưng trật tự xã hội cộng sản ngày hôm nay còn bất công gấp trăm lần xưa kia. Trong khi người dân không có một $ để sống, thì cán bộ, con ông cháu cha cộng sản tiêu tiền vứt qua cửa sổ, xài cả ngàn $ một đêm, đánh những canh bạc cả triệu $. Hối lộ, tham nhũng lan tràn. Đạo đức, giáo dục suy đồi. Bất cộng càng ngày càng tăng.
Câu: « Việt nam dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc « , chỉ là một sự lừa đảo người dân.
Việt Nam hiện nay có độc lập không ? Không, còn lệ thuộc vào Trung Cộng gấp cả trăm lần bị lệ thuộc vào Pháp trước đây. Không những vậy, Trung Cộng còn xâm đất lấn biển, 2 hiệp ước do cộng sản Việt Nam ký với Trung cộng vào năm 1999 và 2000, về biên giới và vùng biển, thì chỉ mang thua thiệt cho Việt Nam, nếu chúng ta so với hiệp ước Thiên tân mà Pháp ký với Tàu về biên giới và vùng biển Việt Nam.
Việt Nam hiện nay có dân chủ, cộng hòa không ? – Không, chế độ cộng sản Việt Nam ngày hôm còn độc tài gấp trăm lần chế độ quân chủ xưa kia, vì chế độ cộng sản cũng chỉ là một chế độ quân chủ trá hình, nhưng còn tồi tệ hơn nhiều.
Dân tộc Việt hiện nay có ấm no, hạnh phúc hay không ? – Không, bằng chứng là dân Việt hiện nay phải bỏ nước chạy tứ tán ra ngoại quốc, dưới bất cứ hình thức nào, đi làm thuê, làm mướn, đi lấy chồng ngoại quốc, đi bán thân nuôi miệng.
Quả thật ngày 19/8/1945 và ngày 25 tháng 10/1917, theo lịch Nga, ngày 7/11, theo lịch thường, là ngày thay đổi lớn, ngày cách mạng của cộng sản Việt Nam và của Nga. Nhưng là cách mạng theo nghĩa xấu, vì cách mạng không tất yếu là tốt. Chính 2 ngày ấy đã mang lại không biết bao đau thương, không những cho 2 dân tộc Nga và Việt Nam, mà còn mang đau thương cho biết bao dân tộc khác. Nạn nhân của chế độ cộng sản từ ngày cách mạng tháng 10/1917 tới nay trên toàn thế giới đã lên tới cả hơn 100 triệu người. Tổng thống Hoa kỳ, Ronald Reagan có nói :
« Lịch sử nhân loại có nhiều trang đau thương và đẫm máu. Nhưng không có trang nào đau thương và đẫm máu bằng trang sử cộng sản. Các dân tộc Nga sô và Đông Âu đã can đảm đứng lên đấu tranh lật qua những trang sử đau thương đó và viết lên những trang sử mới của hòa bình, tự do, dân chủ. Tôi hy vọng rằng những dân tộc còn sống dưới chế độ độc tài cộng sản, cũng can đảm đứng lên đấu tranh để lật qua những trang sử cộng sản đau thương và đẫm máu, để viết những trang sử tốt đẹp hơn cho chính mình « (1) .
Paris ngày 12/08/2009
Chu chi Nam

Vợ hút thuốc lá ngày 2 gói cho đến khi qua đời,
chồng đi kiện được bồi thường 1.9 triệu đô la
Cali Today News - Vợ của ông Leon Barbanell có thói quen hút thuốc lá ngay từ tuổi 16. Bà hút 2 gói Marlboro mỗi ngày và chết ở độ tuổi ngoài 70 do bệnh ung thư phổi.
Sau đó ông Barbanell, cư dân Florida đi kiện. Bồi thẩm đoàn gồm 5 phụ nữ và 1 đàn ông đã thảo luận hơn 1 ngày và đồng ý bồi thường số tiền 5.3 triệu đô la.
Nhưng họ cũng thấy bà Shirley Barbanell có trách nhiệm 63.5% và công ty Philip Morris USA chỉ có trách nhiệm có 36.5%, nên tiền bồi thường được rút bớt xuống.
Công ty Philip Morris cho biết sẽ đâm đơn kháng án. Murray Garnick, phó chủ tịch của Altria Client Services bênh vực quyền lợi cho Philip Morris USA nói: “Hôm nay bản án là kết quả quá bất công và đầy thành kiến”.
Tối Cao Phap Viện của Florida năm 2006 đã cho phép một loạt vụ án kiện thưa những người hút thuốc lá bị bệnh, gọi chung là các trường hợp “Engle progeny”, theo tên của bác sĩ Howard A. Engle, cũng là người hút thuốc và là gương mặt lãnh đạo kiện tụng các công ty thuốc lá.
Ed Sweda, một luật sư ở Boston, cho hay: “Vụ này cho thấy kiện tụng về thuốc lá còn nhiều hứa hẹn trong tương lai”. Một luật sư khác cho biết còn tới 150 vụ Engle cases khác sẵn sàng ra tòa.
Đào Nguyên source CNN

CHUYỆN TỨ THỜI CẢM MẠOĐầu tiên xin gởi đến bà con một mảng chuyện sáng hôm nay. Người cha dẫn "Phan" (không phải tên thật), đứa con 13 tuổi, cao 1.68m, nặng 70 kg, cùi cụi như trâu nước, khỏe như voi vào. Phan bị cảm, đã khám cách đây ba ngày. Ông bố bắt đầu bằng câu:
- Uống thuốc của BS cho không đỡ gì cả.
Mém một chút nữa là tôi "trào máu" Anh Đài với cái phần thưởng tinh thần "to lớn" này, nó cũng giống như anh chàng sửa TV sửa xong rồi được thân chủ báo là TV hỏng có hình, anh thợ sửa xe sửa xong rồi được phán cho một câu là xe hỏng chạy. Nếu mới ra trường mà được tặng câu này thì tinh thần xuống tới mắt cá ngay, nhưng "chân kinh" của y khoa có dạy, không nên tin người nhà mà luôn luôn phải hỏi trực tiếp bệnh nhân.
- What are the symtoms that bother you now, Phan? (Bây giờ thì triệu chứng gì làm em khó chịu vậy Phan?). Tôi hỏi.
Cậu bé nói: - Cough and runny nose, sore throat (ho và sổ mũi, đau cổ)
- Did you feel better while you were on medication (Lúc uống thuốc thì em có thấy đỡ không)?
- Yes, but the symptoms came back (Đỡ, nhưng rồi nó trở lại).
Nghĩa vụ định bệnh
Kính thưa quý vị,
Mỗi khi bệnh nhân vào phòng mạch than bị cảm hay cúm, thì BS phải hỏi cặn kẽ từng triệu chứng mà bệnh nhân đang (và đã) có. Lý do là vì:
- thứ nhất, rất nhiều người bị "hay fever", cũng thường bị sổ mũi, ho nhưng căn nguyên của bệnh này là sự dị ứng, không phải nhiễm trùng. Ở VN bệnh "hay fever" rất ít được biết tới. Chính chúng tôi cũng bị bệnh này từ nhỏ, mỗi khi quét nhà, lau chùi là nước mắt nước mũi chảy ròng ròng, mắt sưng húp, bị mọi người xúm vào diễu cợt, bảo rằng làm biếng (thực ra là bị dị ứng với dust mites có trong bụi). Vì kiến thức tổng quát về y tế của cá nhân chúng tôi và người nhà "quá cao" nên không hề biết có cái bệnh gọi là dị ứng (hay fever) này trên cõi đời. Ở Úc thì bệnh này vô cùng phổ biến, hầu như ai cũng biết.
- thứ nhì, cảm, hay cúm là một hội chứng, tức là tập hợp của nhiều triệu chứng, như ho, sổ, nghẹt mũi, đau cổ, nhức đầu, nhức mình, nóng lạnh, uể oải, mệt mỏi, biếng ăn vân vân, nhưng không nhất thiết bệnh nhân phải có tất cả mọi triệu chứng. Sổ và nghẹt mũi có thể do viêm soang (xoang), ho có thể do cả trăm nguyên nhân khác, nhức đầu, nhức mình, sốt cũng vậy. Nếu a tầm phù nghe theo lời bệnh nhân thì sẽ có lúc định sai bệnh hoàn toàn.
Nếu bệnh nhân đúng đến 90% thì tức là có 10% sai. Mỗi ngày xem 50 người, nếu nghe theo bệnh nhân tức là sẽ định bệnh sai 5 người. Một năm đi làm 300 ngày tức là định bệnh sai 1500 ca. Cứ cho là mỗi 100 ca định bệnh sai đưa đến 1 ca tử vong hay bệnh nặng gây ảnh hưởng lâu dài, tức tỉ lệ 1% thôi, thì tức là mỗi năm mình "giết" 15 người. Nhưng thưa quý vị, bệnh nhân không đúng được đến 90%.
Trong vùng "low social economic" mà chúng tôi làm việc, bệnh nhân tự định bệnh đúng cao nhất là 50%. Nghĩa là nếu nghe theo lời bệnh nhân, họ biểu chữa sao mình chữa như vậy, thì mỗi năm số lượng bệnh nhân mình làm hại trầm trọng sẽ tăng đến con số thiên văn luôn. (Điều đáng lưu ý là bệnh nhân càng có học vấn cao thì càng ít tự định bệnh và càng tin lời hướng dẫn của BS, bệnh nhân càng có ít trình độ học vấn thì càng tin vào lời hướng dẫn của... bạn bè). Vậy để bảo đảm sức khỏe cho bệnh nhân, nguyên tắc của BS là KHÔNG BAO GIỜ NGHE THEO SỰ ĐỊNH BỆNH CỦA BỆNH NHÂN. Sách y khoa thì dạy không bao giờ nghe theo sự định bệnh của bất cứ ai, kể cả của BS khác, bởi vì BS cũng trật như thường.
- thứ ba, quan trọng nhất là trong thời buổi cúm heo, cúm chim này, cần phân rõ cảm (cold) và cúm (flu). Người nói tiếng Anh thường dùng chữ "flu" với ý nghĩa là cảm lẫn cúm, nhưng BS thì phải phân biệt hai chữ này. Chữ "flu" có xuất xứ từ chữ "influenza", tức là tên loài siêu vi khuẩn tạo nên bệnh cúm. Cúm chim, cúm heo cũng do influenza gây nên (Tôi chúa ghét người ta gọi "bird flu" một cách "điệu điệu" là "cúm gia cầm", bởi vì căn bệnh này không chỉ xảy ra ở gia cầm, tức là loài chim mình nuôi, mà có ở các loài chim rừng. Dịch "bird flu" là cúm gia cầm làm sai ý nghĩa rất nhiều). Chữ influenza là tiếng Ý, có nghĩa là "influence" (sự ảnh hưởng).
Cảm hay Cúm?
Cảm và cúm đều là do siêu vi khuẩn (virus) gây ra, nhưng cúm (flu), như H1N1, do siêu vi khuẩn tên influenza gây ra và triệu chứng căn bản để phân biệt cảm và cúm là nhiệt độ của bệnh nhân. Điều kiện ắt có để gọi là cúm là khi bệnh nhân sốt trên 38 độ C (100.4 độ F). Những triệu chứng còn lại có thể giống y hệt nhau nhưng bệnh nhân bị cúm thì "oải" hơn bị cảm.
Triệu chứng của cảm, cúm (đã nêu trên) thường kéo dài khoảng 7 ngày và nặng nhất vào ngày thứ nhì và thứ ba. Các triệu chứng sốt và đau cổ sẽ TỰ ĐỘNG biến đi trước nhưng cái màn ho thì có thể kéo rất dài, từ 3 tuần, có khi lên đến 3 tháng, và tiếng Anh gọi là post viral cough (ho sau khi bị cảm). Bệnh nhân bị post viral cough này vẫn khỏe như vâm, ăn như hạm, nhưng... ho. Cái ho này không nguy hiểm nhưng nó là niềm đau không tên của chúng tôi, vì ba mẹ mà thấy con mình ho hoài, BS chữa không hết thì sẽ gắt gao "lên án". Mỗi ngày tổng thời gian mà tôi bỏ ra để giải thích cái post viral cough này không dưới nửa tiếng.
Hiểu rằng phụ huynh thì lo lắng, thông cảm rằng phụ huynh không có kiến thứ y khoa như BS, tôi bắt đầu ê a bài kinh nhật tụng với ông bố của Phan. Ngoài các kiến thức trên, tôi nhấn mạnh:
- Anh à, bị cảm thì khoảng 1 tuần lễ sẽ tự nó hết. Trong khi cảm thì mình cho các thuốc trị triệu chứng, như thuốc Codral Cold and Flu trị ho, sổ mũi, nóng lạnh và đau nhức. Thuốc chỉ hiệu nghiệm vài tiếng đồng hồ, rồi phải uống tiếp. Điều quan trọng là bệnh nhân cần hệ thống miễn nhiễm mạnh để đánh siêu vi khuẩn. Muốn hệ thống miễn nhiễm mạnh thì nghỉ ngơi, ngủ cho nhiều.
Ông bố gợi ý: - Nhưng thấy nó bị lâu quá rồi (lâu quá tức là 3 ngày, thưa quý vị) thì chắc phải uống trụ sinh mới được.
Tôi lại tiếp tục bài "kinh cảm cúm":
- Bị cảm là do siêu vi khuẩn. Thuốc trụ sinh chỉ chữa được bệnh do vi khuẩn (bacterium) gây ra thôi. Trong trường hợp này uống trụ sinh không đúng, chỉ có hại mà không có lợi.
Trụ sinh hay không trụ sinh?
Thưa quý vị,
Hồi nãy chúng ta đã phân biệt cảm và cúm, nhưng cả hai đều do siêu vi khuẩn (virus) gây nên và không dùng trụ sinh vì trụ sinh không hề giết được siêu vi khuẩn. Nhưng cũng có rất nhiều nguời đau cổ, hoặc ho, hoặc sổ hay nghẹt mũi, thậm chí bị nóng lạnh mà do vi khuẩn (bacterium) tạo nên, và trụ sinh là thuốc trị công hiệu. Vậy vấn đề là làm sao biết khi nào bệnh nhân bị nhiễm siêu vi khuẩn, không cần uống trụ sinh, còn khi nào thì bệnh nhân bị nhiễm vi khuẩn, cần uống trụ sinh!!!
Nói một cách tổng quát, người bị nhiễm siêu vi khuẩn thường có nhiều triệu chứng và có triệu chứng ảnh hưởng toàn thân. Nhiều triệu chứng là như vừa ho, vừa sổ mũi, vừa đau cổ, vừa nhức đầu, còn triệu chứng toàn thân như ê ẩm mình mẩy, mệt mỏi, uể oải, nóng lạnh, nhức nhiều khớp xương, có khi còn tiêu chảy và đau bụng. Để dễ nhớ, câu thiều là siêu vi khuẩn thi đánh bá xí lạng, tùm lum. Người ta thường nghĩ càng bị nhiều triệu chứng thì càng cần trụ sinh nhưng không phải như vậy, mà là ngược lại.
Cũng nói một cách tổng quát, vi khuẩn tấn công chúng ta như một mũi dùi vào một điểm nào đó. Cứ lấy một cái mụt nhọt để làm thí dụ thì dễ nhớ nhất. Người bị mụt nhọt bị đau ngay chỗ cái mụt nhọt, nhưng không uể oải, mệt mỏi, không ho, không sổ mũi, không tiêu chảy. Cho nên một người chỉ than đau cổ mà không có các triệu chứng cảm khác thì có nhiều xác suất cần uống trụ sinh, vì họ bị vi khuẩn tấn công vào cổ họng. Xin được mở ngoặc ở đây là chúng tôi không bao giờ khẳng định 100% điều gì mà lại dùng chữ "xác xuất" cao hay thấp, bởi vì thứ nhất, trong y khoa ít có trắng và đen, người bị nhiễm vi khuẩn nặng vẫn có thể có triệu chứng toàn thân như nóng lạnh, mệt mỏi và cũng có thể có nhiều triệu chứng, chớ không chỉ có mỗi cái "mụt nhọt" thôi.
Ngoài việc hỏi bệnh để chẩn đoán, bước kế tiếp là khám. Một người than đau cổ, khi khám mà ta thấy nó viêm (đỏ, sưng), lở, có mủ, thì người ấy cần trụ sinh (giống như có cái mụt nhọt trong cổ họng). Người than đau cổ, thường kèm với nhiều triệu chứng khác, mà khi khám ta không thấy cổ bị viêm, lở, thì người ấy ít có xác suất, hay không cần trụ sinh. Nhưng thưa quý vị, khi bệnh nhân than đau cổ, BS khám không thấy gì hết mà tuyên bố là "cổ trông bình thường" thì bệnh nhân, và thân nhân nhìn BS như thể "bộ thằng cha này đui sao, đau như vậy mà không thấy gì hết". Riêng bệnh nhân bị siêu vi khuẩn (cảm cúm) thì đôi khi trong cổ họng có những cục (lumps) nổi lên, hơi bọng bọng hay mọng mọng (như có chất lỏng bên trong). Những cục này gọi là lymphoid patches.
Sau khi chăm chú nghe xong hồi kinh "trụ sinh là liều thuốc không cần thiết" mà tôi tụng, ông bố của Phan nói:
- Nhưng cháu nó ho, sổ mũi hoài, chắc phải uống trụ sinh cho mau khỏi.
"Bà nội nó đội chuối khô", vậy là hồi kinh "trụ sinh không cần thiết" của tôi trôi theo dòng nước đổ xuống cái lá môn rồi. Tôi chưa chịu thua:
- Anh à, anh nói như vậy làm Hoàng buồn lắm. Chẳng lẽ nào Hoàng nghĩ rằng em nó cần uống trụ sinh, trụ sinh giúp được cho em mau hết bệnh mà Hoàng không cho. Không lẽ nào Hoàng ác như vậy? Hoàng không cho là vì trụ sinh không giúp được cho em mà còn có phản ứng phụ không tốt.
Ông bố tụng lại bài "trụ sinh là thần dược":
- Mình làm ba má thấy con mình ho như vậy sốt ruột lắm. Cho trụ sinh cho nó mau hết bệnh.
15 phút trôi qua cho một cái bệnh cảm tầm thường nhất. Đến lúc tôi phải chọn lựa giữa hai con đường, một là mất bệnh nhân này, mang thêm cái tiếng oán là BS thấy con người ta cảm mà không cho trụ sinh, BS "nuôi bệnh" thằng nhỏ, hai là đi ngược lại lương tâm của người thầy thuốc, tự bịt mắt để cho người mù dắt tay đi vào ngõ hẹp. Tức lắm, tôi muốn thét lên cho lời thơ tuôn theo máu vọt, nhưng hì hì, sợ người ta tưởng mình điên. Đành viết bài này cho nguôi ngoai nỗi sầu lẻ bóng.
Làm cách mạng hay trôi theo dòng đời?
Thưa quý vị,
Nếu chỉ có một bệnh nhân sáng nay đòi hỏi vô lý, ương ngạnh và thiếu hiểu biết như vậy thì đời nào tôi cho thuốc trụ sinh bừa bãi, nhưng câu chuyện sáng nay xảy ra hàng ngày, mỗi ngày cả chục lần. Cho nên cái xác suất mà tôi đầu hàng nó cao hơn sự mong muốn. Vì quá ẩn uất, thỉnh thoảng (mỗi ngày vài lần), tôi kèm thêm một câu:
- Bác (hay anh, chị) à, có thể có nhiều BS sẵn sàng cho trụ sinh như vậy. Lần này cháu cho bác trụ sinh nhưng lần sau, nếu bác muốn khám bệnh và tin cháu thì vào đây, còn bác muốn tự cho thuốc thì thì xin bác kiếm BS khác. Bệnh nhân muốn được chăm sóc tốt nhất thì chỉ cần khai bệnh. Nhiệm vụ của bệnh nhân là khai bệnh còn nhiệm vụ của BS là định bệnh và chữa bệnh.
Rốt cuộc thì quý vị biết sao không? Tôi vẫn có nhiều bệnh nhân, nhưng đặc biệt, trong trung tâm thì y tế có 80% bệnh nhân người Việt, thì bệnh nhân người Việt của cá nhân chúng tôi lại chưa chiếm đến 50%. Điều đau lòng nhất là khi bệnh nhân người Việt mình gặp BS "Tây" thì không bao giờ đòi hỏi gì cả, răm rắp nghe lời.
Tôi thông cảm cho cách làm việc của BS VN ở VN, cho năm bảy loại thuốc, khỏi cần giải thích, thuốc khỏi cần hiệu, hộp gì cả, vớt vô bao nylông là được, bởi vì nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc. Giải thích nhiều khi giáo đa thành oán. Tôi có thể nhắm mắt, quất cho bệnh nhân một nắm trụ sinh(trị vi khuẩn), ghi một hộp codral (có chứa paracetamol- trị nóng lạnh và đau nhức, codeine- trị ho và đau nhức, antihistamine và pseudoephedrine- trị sổ mũi, nghẹt mũi), tố thêm một vỉ Tamiflu (triệt siêu vi khuẩn), rồi dộng thêm một bịch steroid (cortisone, hydrocortisone, prednisone, prednisolone- trị viêm), thì bảo đảm dứt nọc, tứ thời cảm mạo đi đứt hết. Giết gà, giết cá gì cũng xài dao mổ trâu hay búa tài xồi ráo. Nhưng mà làm như vậy thì cũng giống như Trương vô kỵ chữa cho Thường Ngộ Xuân, bệnh hết nhưng "giảm thọ" bệnh nhân.
Thật, muốn làm một BS tốt, BS có lương tâm không phải dễ. Những điều học của Úc, đôi khi không hợp với bệnh nhân người mình.
BS Nguyễn văn Hoàng
(hoang4eb@gmail.com)
Hai Vì Sao Mỉm Cười
Một vị ẩn sĩ nọ tịnh niệm và chay tịnh đến suốt ngày không động đến thức ăn và nước uống. Từ trên đỉnh núi cao, ai ai cũng thấy có một ngôi sao xuất hiện giữa ban ngày: đó là dấu hiệu trời cao chấp nhận của lễ hy sinh của ông.
Ngày nọ, vị ẩn sĩ quyết định leo lên núi cao. Ông muốn vươn lên cao hơn trong sự khổ chế.
Vừa lúc ông đương leo núi, thì một cô bé trong làng chạy tới xin đi theo. Không thể từ chối được, vị ẩn sĩ đành để cho cô bé đi theo. Họ ra đi khi mặt trời vừa lên. Nhưng không mấy chốc, ánh nắng mỗi lúc một chói chang, cả vị ẩn sĩ lẫn cô bé gái đều cảm thấy khát nước. Vị ẩn sĩ vẫn cố gắng khắc phục cơn khát của mình, nhưng ông lại giục cô gái hãy uống nước. Cuối cùng, không ai chạm đến nước. Vị ẩn sĩ không uống nước vì lời thề của mình, còn cô gái không nỡ uống một mình.
Họ càng đi, cơn khát càng dằn vặt. Ðến một lúc, vị ẩn sĩ không nỡ nhẫn tâm nhìn thấy cô bé phải quằn quại trong cơn khát. Cuối cùng, ông đành lỗi lời thề. Ông cầm lấy nước đưa lên miệng và lúc bấy giờ cô bé gái cũng mỉm cười uống nước với ông. Sau khi đã uống nước, vị ẩn sĩ không dám nhìn lên trời cao nữa. Ông cứ đinh ninh rằng vì sao hiện ra mỗi ngày như một chứng giám cho sự khổ chế của ông, giờ đây có lẽ đã biến mất. Thế nhưng, trước sự ngạc nhiên vỡ lở của ông, khi ông ngước mắt nhìn lên đỉnh núi, ông thấy có hai vì sao lấp lánh như đang mỉm cười với ông.
Nói như mẹ Têrêxa Calcutta:
"Khi tôi chia sẻ, khi tôi trao ban cho người một điều gì làm tôi cảm thấy mát mát, đau khổ, thì sự chia sẻ của tôi mới có giá trị. Tôi không chia sẻ và trao ban của dư thừa, mà chính là trao ban chính tôi.
Khi tôi cố gắng chào hỏi một người tôi ghét cay ghét đắng, đó mới thật sự là một hành động bác ái.
Khi tôi có thể đến sống nghèo, chia sẻ kiếp sống nghèo của người khác, đó mới là một hành động bác ái.
Khi tôi có thể tha thứ cho những người xúc phạm đến tôi, đó mới là một hành động bác ái thực sự
Một vị ẩn sĩ nọ tịnh niệm và chay tịnh đến suốt ngày không động đến thức ăn và nước uống. Từ trên đỉnh núi cao, ai ai cũng thấy có một ngôi sao xuất hiện giữa ban ngày: đó là dấu hiệu trời cao chấp nhận của lễ hy sinh của ông.
Ngày nọ, vị ẩn sĩ quyết định leo lên núi cao. Ông muốn vươn lên cao hơn trong sự khổ chế.
Vừa lúc ông đương leo núi, thì một cô bé trong làng chạy tới xin đi theo. Không thể từ chối được, vị ẩn sĩ đành để cho cô bé đi theo. Họ ra đi khi mặt trời vừa lên. Nhưng không mấy chốc, ánh nắng mỗi lúc một chói chang, cả vị ẩn sĩ lẫn cô bé gái đều cảm thấy khát nước. Vị ẩn sĩ vẫn cố gắng khắc phục cơn khát của mình, nhưng ông lại giục cô gái hãy uống nước. Cuối cùng, không ai chạm đến nước. Vị ẩn sĩ không uống nước vì lời thề của mình, còn cô gái không nỡ uống một mình.
Họ càng đi, cơn khát càng dằn vặt. Ðến một lúc, vị ẩn sĩ không nỡ nhẫn tâm nhìn thấy cô bé phải quằn quại trong cơn khát. Cuối cùng, ông đành lỗi lời thề. Ông cầm lấy nước đưa lên miệng và lúc bấy giờ cô bé gái cũng mỉm cười uống nước với ông. Sau khi đã uống nước, vị ẩn sĩ không dám nhìn lên trời cao nữa. Ông cứ đinh ninh rằng vì sao hiện ra mỗi ngày như một chứng giám cho sự khổ chế của ông, giờ đây có lẽ đã biến mất. Thế nhưng, trước sự ngạc nhiên vỡ lở của ông, khi ông ngước mắt nhìn lên đỉnh núi, ông thấy có hai vì sao lấp lánh như đang mỉm cười với ông.
Nói như mẹ Têrêxa Calcutta:
"Khi tôi chia sẻ, khi tôi trao ban cho người một điều gì làm tôi cảm thấy mát mát, đau khổ, thì sự chia sẻ của tôi mới có giá trị. Tôi không chia sẻ và trao ban của dư thừa, mà chính là trao ban chính tôi.
Khi tôi cố gắng chào hỏi một người tôi ghét cay ghét đắng, đó mới thật sự là một hành động bác ái.
Khi tôi có thể đến sống nghèo, chia sẻ kiếp sống nghèo của người khác, đó mới là một hành động bác ái.
Khi tôi có thể tha thứ cho những người xúc phạm đến tôi, đó mới là một hành động bác ái thực sự
NGU DỐT CỦA QUỶ MA
Đỗ Thái Nhiên
(http://www.vietvusa .com) Ngụy là giả, là sai sự thực. Ngụy biện là kiểu lý luận dùng điều giả để khuất lấp sự thực, lấy điều gian dối để đánh lạc hướng nhân định của công luận. Ngu biện là gì? Thông thường ngu có nghĩa là dốt, là ngây ngô khờ dại, là không hiểu gì cả. Người ngu biện là người viện dẫn sự ngu dốt của chính mình để biện hộ cho những hành động gây thiệt hại cho người khác. Nói rõ hơn: Người ngu biện là người cho rằng sự ngu dốt của một người hiển nhiên là lý lẽ giúp người đó giải trừ được mọi trách nhiệm đối với tội ác do đương sự tạo ra. Sau đây là một trường hợp ngu biện điển hình:
Ông Dương Danh Dy là nhà ngoại giao có nhiều thập niên làm việc cho sứ quán CSVN tại Trung Quốc. Có thể nói được rằng Dương Danh Dy là người đứng hàng đầu trong số những người hiểu biết thấu đáo về quan hệ ngoại giao giữa CSVN và Trung Quốc trong hơn nửa thế kỷ qua. Ngày 02 tháng 07 năm 2009 , nhân một cuộc phỏng vấn của ông Mạc Lâm, phóng viên đài Á Châu Tự Do, ông Dương Danh Dy cho biết: Trong chiến tranh chống Pháp, Trung quốc giúp CSVN bằng cách chuyển tải vũ khí từ nội địa Trung Quốc xâm nhập Việt Bắc. Muốn vậy, Trung Quốc phải xây dựng những tuyến đường chạy quanh co vượt núi băng đồi trên lãnh thổ Việt Nam. Sau này khi xảy ra những tranh chấp về biên giới Việt Hoa, đại diện của Bắc Kinh nói chắc như đinh đóng cột rằng: “Đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy.”
Ông Dương Danh Dy nhận xét: “Tôi xin nói thật, tôi đã từng đi điều tra biên giới trên bộ nhiều lần và tôi thấy đúng là sự ngây ngô khờ dại.”
Ông Dương Danh Dy kết luận: “Thế là mình mất toi mấy chục hecta trở lên. Làm thế nào được! Đấy, lúc đó là trong hoàn cảnh thời chiến. Người ta giúp mình, mình chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó, có thể là không nghĩ ra, có thể là dốt, vân vân.Bây giờ muốn trách cứ thế nào thì cũng phải chịu thôi!”
Câu chuyện của ông Dương Danh Dy gồm hai trọng điểm: Một là Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam dựa vào lý luận công trình xây dựng của Trung Quốc tới đâu, lãnh thổ của Trung Quốc mở rộng tới đó. Hai là ông Dương Danh Dy chỉ đề cập tới một hồ sơ mất đất. Trên thực tế, có rất nhiều hồ sơ mất đất. Trên thực tế, dọc theo biên giới Việt Hoa, CSVN đã để rơi vào tay Trung Quốc vô số đất đai của Tổ Tiên.
Sau những mất đất dọc theo biên giới, liệu chừng CSVN có hay không từ bỏ nảo trạng ngu dốt nhằm giúp cho Việt Nam tránh khỏi tai họa“Đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy” ? Thưa rằng mãi cho tới ngày nay, CSVN chẳng những không xa rời sự ngu dốt mà còn làm cho sự ngu dốt kia nhân rộng gấp nhiều lần. Thật vậy, ngày 04/02/2009, tại Hà Nội, thủ tướng CSVN khẳng định: “ Việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước”. Chủ trương lớn ở đây là lớn cái ngu, lớn cái “ngây ngô khờ dại”. Bằng vào “chủ trương lớn” vừa kể, CSVN đã cho phép Trung Quốc mang vô số công nhân lao động chân tay vào Việt Nam để khai thác bauxite. Song song với việc khai thác kia là sự kiện Trung Quốc được quyền mở những tuyến đường chuyển tải tài nguyên từ Việt Nam về Trung Quốc.
Ngày 7/7/09 tin từ Việt nam cho biết: Công ty Kaidi của Trung quốc đã trúng thầu xây dựng nhà máy diện Mạo Khê, tỉnh Quãng Ninh, Bắc phần Việt Nam. Chi phí xây dựng lên tới 500 triệu Mỹ Kim. Khác với Mỹ, Nhật, Đại Hàn v.v, Trung Quốc là quốc gia được miễn trừ thuế kinh doanh khi vào Việt Nam đầu tư. Vì vậy trong mỗi trường hợp dự thầu, Trung Quốc bao giờ cũng rao giá nhận thầu thấp nhất. Và cũng vì vậy Trung Quốc hiển nhiên là quốc gia “độc quyền” trúng thầu tại Việt Nam. Cứ mỗi vụ trúng thầu như vậy là nhiều ngàn dân lao động chân tay từ Trung Quốc lục tục kéo vào Việt Nam với mớ máy móc sản xuất thực sự lỗi thời.
Trước kia, theo Dương Danh Dy, Trung Quốc chỉ cần hô hoán lên rằng “Đường của tôi ở đâu, đất của tôi ở đấy” là đủ lý lẽ để CSVN cúi đầu nhường đất cho Bắc Kinh. Ngày nay, quái tượng bauxite Tây Nguyên cộng với hàng loạt “trúng thầu xây dựng” do Hà nội cống hiến cho Bắc Triều đã tạo cơ hội để Trung Quốc ăn nói hung hản hơn: “Đường của tôi ở đâu, công trình xây dựng của tôi ở đâu, dân của tôi ở đâu, đất của tôi ở đấy!”. Không còn nghi ngờ gì nữa, tầm vóc ngu dốt của CSVN càng tăng trưởng, ngôn ngữ cướp đất của Trung quốc càng ngang ngược và trịch thượng.
Bây giờ hãy trở lại với câu chuyện giữa Dương Danh Dy và Mặc Lâm, phóng viên đài Á Châu Tự Do. Dĩ nhiên những gì Dương Danh Dy phát biểu đều được Hà Nội cho phép. Nói rõ hơn, Hà Nội muốn dùng lời lẽ của Dương Danh Dy để biện hộ cho CSVN về tội bán nước. Thực vậy, trả lời câu hỏi của Mặc Lâm về thái độ quá mềm yếu của CSVN khi đàm phán vấn đề biên giới với Trung Quốc Dương Danh Dy cho rằng: “ Bây giờ cũng không thể kết tội ai được, bởi vì nó là chuyện lịch sử rồi. Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề biển Đông. Cái hứa của ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả”
Mặt khác, ngu dốt xuất phát từ chế độ Hà Nội và do Dương Danh Dy minh thị xác nhận không là hồ sơ ngu dốt duy nhất của CSVN. Dư luận còn nhớ: Ngày 08/05/09, tại thành phố Geneva, Thụy Sĩ, Hội Đồng Nhân quyền của LHQ đã nhóm họp với mục đích kiểm điểm vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Vào dịp này, ông Phạm Bình Minh, thứ trưởng ngoại giao của CSVN đã khai trình rằng chính sự ngu dốt là nguyên nhân khiến chế độ Hà Nội chà đạp nhân quyền tại Việt Nam. Nguyên văn lời khai trình kia như sau: “Trình độ nhận thức của bộ phận nhà nước, kể cả trung ương và địa phương về quyền con người còn nhiều hạn chế: không chỉ không nắm được các qui định của luật pháp quốc tế, nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách là quốc gia thành viên của công ước quốc tế về quyền con người mà đôi khi còn nắm không chắc các qui dịnh của luật pháp và chủ trương chính sách của nhà nước, do vậy có nơi, có lúc còn để xảy ra các vụ vi phạm, làm hạn chế và ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của người dân.”
Khi bị thẩm vấn về một tội phạm với đầy đủ bằng cớ hiển nhiên, bi can thường tự biện hộ bằng cách viện dẫn rằng đương sự là người bị bệnh tâm thần hoặc rằng đương sự đã hành động dưới tác động của tình huống bất khả kháng. Không ai được phép nhân danh sự ngu dốt để phạm pháp. Đó là nguyên tắc pháp căn hàng đầu của toàn bộ hệ thống luật pháp trong thế giới văn minh. Nó giúp cho luật pháp có hiệu lực cưởng hành. Chế độ Hà nội: nhà cầm quyền tự nhận là đã độc chiếm đỉnh cao trí tuệ của loài người từ rất lâu, nay lại nêu bật tính ngu dốt của chính họ để biện minh cho tội ác bán nước, tội ác chà đạp nhân quyền. Đây là một sự kiện vừa kỳ quái, vừa thiếu tự trọng , vượt ra ngoài khả năng tưởng tượng của mọi người. Tuy nhiên, không phải ở đâu và bất kỳ lúc nào CS Hà Nội cũng khiêm cung trong vị trí ngu dốt. Lịch sử của đảng CSVN đã cho thấy đảng này có biệt tài nhảy múa giữa hai thái cực: bên này địa vị của kẻ cực quyền hách dịch, bên kia là vai trò mù mờ của một nô bộc ngu dốt.
Những khi dọc ngang trong hành động đàn áp đối lập, mua quan bán tước, cướp phá tài nguyên quốc gia, bóc lột tài sản của đồng bào, CSVN công khai tự nhận họ là cha mẹ của nhân dân.
Những khi phải đối mặt với núi tội ác quả tang, tội ác vô phương biện hộ: tội bán nước, tội chà đạp nhân quyền, CSVN lí nhí tự thú họ là kẻ nô bộc ngu dốt.
Không còn nghi ngờ gì nữa: ngu dốt của CSVN là ngu dốt của loài quỷ ma./.
Đỗ Thái Nhiên (http://www.vietvusa .com)
Đỗ Thái Nhiên
(http://www.vietvusa .com) Ngụy là giả, là sai sự thực. Ngụy biện là kiểu lý luận dùng điều giả để khuất lấp sự thực, lấy điều gian dối để đánh lạc hướng nhân định của công luận. Ngu biện là gì? Thông thường ngu có nghĩa là dốt, là ngây ngô khờ dại, là không hiểu gì cả. Người ngu biện là người viện dẫn sự ngu dốt của chính mình để biện hộ cho những hành động gây thiệt hại cho người khác. Nói rõ hơn: Người ngu biện là người cho rằng sự ngu dốt của một người hiển nhiên là lý lẽ giúp người đó giải trừ được mọi trách nhiệm đối với tội ác do đương sự tạo ra. Sau đây là một trường hợp ngu biện điển hình:
Ông Dương Danh Dy là nhà ngoại giao có nhiều thập niên làm việc cho sứ quán CSVN tại Trung Quốc. Có thể nói được rằng Dương Danh Dy là người đứng hàng đầu trong số những người hiểu biết thấu đáo về quan hệ ngoại giao giữa CSVN và Trung Quốc trong hơn nửa thế kỷ qua. Ngày 02 tháng 07 năm 2009 , nhân một cuộc phỏng vấn của ông Mạc Lâm, phóng viên đài Á Châu Tự Do, ông Dương Danh Dy cho biết: Trong chiến tranh chống Pháp, Trung quốc giúp CSVN bằng cách chuyển tải vũ khí từ nội địa Trung Quốc xâm nhập Việt Bắc. Muốn vậy, Trung Quốc phải xây dựng những tuyến đường chạy quanh co vượt núi băng đồi trên lãnh thổ Việt Nam. Sau này khi xảy ra những tranh chấp về biên giới Việt Hoa, đại diện của Bắc Kinh nói chắc như đinh đóng cột rằng: “Đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy.”
Ông Dương Danh Dy nhận xét: “Tôi xin nói thật, tôi đã từng đi điều tra biên giới trên bộ nhiều lần và tôi thấy đúng là sự ngây ngô khờ dại.”
Ông Dương Danh Dy kết luận: “Thế là mình mất toi mấy chục hecta trở lên. Làm thế nào được! Đấy, lúc đó là trong hoàn cảnh thời chiến. Người ta giúp mình, mình chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó, có thể là không nghĩ ra, có thể là dốt, vân vân.Bây giờ muốn trách cứ thế nào thì cũng phải chịu thôi!”
Câu chuyện của ông Dương Danh Dy gồm hai trọng điểm: Một là Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam dựa vào lý luận công trình xây dựng của Trung Quốc tới đâu, lãnh thổ của Trung Quốc mở rộng tới đó. Hai là ông Dương Danh Dy chỉ đề cập tới một hồ sơ mất đất. Trên thực tế, có rất nhiều hồ sơ mất đất. Trên thực tế, dọc theo biên giới Việt Hoa, CSVN đã để rơi vào tay Trung Quốc vô số đất đai của Tổ Tiên.
Sau những mất đất dọc theo biên giới, liệu chừng CSVN có hay không từ bỏ nảo trạng ngu dốt nhằm giúp cho Việt Nam tránh khỏi tai họa“Đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy” ? Thưa rằng mãi cho tới ngày nay, CSVN chẳng những không xa rời sự ngu dốt mà còn làm cho sự ngu dốt kia nhân rộng gấp nhiều lần. Thật vậy, ngày 04/02/2009, tại Hà Nội, thủ tướng CSVN khẳng định: “ Việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước”. Chủ trương lớn ở đây là lớn cái ngu, lớn cái “ngây ngô khờ dại”. Bằng vào “chủ trương lớn” vừa kể, CSVN đã cho phép Trung Quốc mang vô số công nhân lao động chân tay vào Việt Nam để khai thác bauxite. Song song với việc khai thác kia là sự kiện Trung Quốc được quyền mở những tuyến đường chuyển tải tài nguyên từ Việt Nam về Trung Quốc.
Ngày 7/7/09 tin từ Việt nam cho biết: Công ty Kaidi của Trung quốc đã trúng thầu xây dựng nhà máy diện Mạo Khê, tỉnh Quãng Ninh, Bắc phần Việt Nam. Chi phí xây dựng lên tới 500 triệu Mỹ Kim. Khác với Mỹ, Nhật, Đại Hàn v.v, Trung Quốc là quốc gia được miễn trừ thuế kinh doanh khi vào Việt Nam đầu tư. Vì vậy trong mỗi trường hợp dự thầu, Trung Quốc bao giờ cũng rao giá nhận thầu thấp nhất. Và cũng vì vậy Trung Quốc hiển nhiên là quốc gia “độc quyền” trúng thầu tại Việt Nam. Cứ mỗi vụ trúng thầu như vậy là nhiều ngàn dân lao động chân tay từ Trung Quốc lục tục kéo vào Việt Nam với mớ máy móc sản xuất thực sự lỗi thời.
Trước kia, theo Dương Danh Dy, Trung Quốc chỉ cần hô hoán lên rằng “Đường của tôi ở đâu, đất của tôi ở đấy” là đủ lý lẽ để CSVN cúi đầu nhường đất cho Bắc Kinh. Ngày nay, quái tượng bauxite Tây Nguyên cộng với hàng loạt “trúng thầu xây dựng” do Hà nội cống hiến cho Bắc Triều đã tạo cơ hội để Trung Quốc ăn nói hung hản hơn: “Đường của tôi ở đâu, công trình xây dựng của tôi ở đâu, dân của tôi ở đâu, đất của tôi ở đấy!”. Không còn nghi ngờ gì nữa, tầm vóc ngu dốt của CSVN càng tăng trưởng, ngôn ngữ cướp đất của Trung quốc càng ngang ngược và trịch thượng.
Bây giờ hãy trở lại với câu chuyện giữa Dương Danh Dy và Mặc Lâm, phóng viên đài Á Châu Tự Do. Dĩ nhiên những gì Dương Danh Dy phát biểu đều được Hà Nội cho phép. Nói rõ hơn, Hà Nội muốn dùng lời lẽ của Dương Danh Dy để biện hộ cho CSVN về tội bán nước. Thực vậy, trả lời câu hỏi của Mặc Lâm về thái độ quá mềm yếu của CSVN khi đàm phán vấn đề biên giới với Trung Quốc Dương Danh Dy cho rằng: “ Bây giờ cũng không thể kết tội ai được, bởi vì nó là chuyện lịch sử rồi. Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề biển Đông. Cái hứa của ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả”
Mặt khác, ngu dốt xuất phát từ chế độ Hà Nội và do Dương Danh Dy minh thị xác nhận không là hồ sơ ngu dốt duy nhất của CSVN. Dư luận còn nhớ: Ngày 08/05/09, tại thành phố Geneva, Thụy Sĩ, Hội Đồng Nhân quyền của LHQ đã nhóm họp với mục đích kiểm điểm vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Vào dịp này, ông Phạm Bình Minh, thứ trưởng ngoại giao của CSVN đã khai trình rằng chính sự ngu dốt là nguyên nhân khiến chế độ Hà Nội chà đạp nhân quyền tại Việt Nam. Nguyên văn lời khai trình kia như sau: “Trình độ nhận thức của bộ phận nhà nước, kể cả trung ương và địa phương về quyền con người còn nhiều hạn chế: không chỉ không nắm được các qui định của luật pháp quốc tế, nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách là quốc gia thành viên của công ước quốc tế về quyền con người mà đôi khi còn nắm không chắc các qui dịnh của luật pháp và chủ trương chính sách của nhà nước, do vậy có nơi, có lúc còn để xảy ra các vụ vi phạm, làm hạn chế và ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của người dân.”
Khi bị thẩm vấn về một tội phạm với đầy đủ bằng cớ hiển nhiên, bi can thường tự biện hộ bằng cách viện dẫn rằng đương sự là người bị bệnh tâm thần hoặc rằng đương sự đã hành động dưới tác động của tình huống bất khả kháng. Không ai được phép nhân danh sự ngu dốt để phạm pháp. Đó là nguyên tắc pháp căn hàng đầu của toàn bộ hệ thống luật pháp trong thế giới văn minh. Nó giúp cho luật pháp có hiệu lực cưởng hành. Chế độ Hà nội: nhà cầm quyền tự nhận là đã độc chiếm đỉnh cao trí tuệ của loài người từ rất lâu, nay lại nêu bật tính ngu dốt của chính họ để biện minh cho tội ác bán nước, tội ác chà đạp nhân quyền. Đây là một sự kiện vừa kỳ quái, vừa thiếu tự trọng , vượt ra ngoài khả năng tưởng tượng của mọi người. Tuy nhiên, không phải ở đâu và bất kỳ lúc nào CS Hà Nội cũng khiêm cung trong vị trí ngu dốt. Lịch sử của đảng CSVN đã cho thấy đảng này có biệt tài nhảy múa giữa hai thái cực: bên này địa vị của kẻ cực quyền hách dịch, bên kia là vai trò mù mờ của một nô bộc ngu dốt.
Những khi dọc ngang trong hành động đàn áp đối lập, mua quan bán tước, cướp phá tài nguyên quốc gia, bóc lột tài sản của đồng bào, CSVN công khai tự nhận họ là cha mẹ của nhân dân.
Những khi phải đối mặt với núi tội ác quả tang, tội ác vô phương biện hộ: tội bán nước, tội chà đạp nhân quyền, CSVN lí nhí tự thú họ là kẻ nô bộc ngu dốt.
Không còn nghi ngờ gì nữa: ngu dốt của CSVN là ngu dốt của loài quỷ ma./.
Đỗ Thái Nhiên (http://www.vietvusa .com)
Chúc Thư Cho Vợ
Hôm nay là một buổi chiều Chủ Nhật mùa hạ nóng bức, cảnh vật bên ngoài uể oải. Cây cối héo quắt, thảm cỏ úa vàng. Tôi một mình ngồi trong nhà hai chân gác lên ghế bành, ly bia ngấn bọt nằm cô đơn trên mặt bàn. Chợt có tiếng điện thoại reo lên trong túi áo. Vừa móc cell ra, tiếng vợ đã ở đầu giây bên kia nghe xối xả:
- Anh dạo này lộng hành quá lắm. Dám viết truyện nói xấu em rồi đem lên báo!
Tôi ngồi nhổm dậy ngơ ngác:
- Anh kể xấu em bao giờ? Em đang ở đâu vậy?
- Em đang ở nhà vợ chồng thằng Thìn. Nhờ chúng nó em mới biết bộ mặt thật của anh. Anh mở tờ Tự Do số mới nhất ra mà xem.
Hoang mang tôi tiến đến kệ tủ sách, rút ra tờ báo chưa đọc. Mở ra lật từng tờ, đến một bài truyện ngắn ký tên Nguyên Cương Andy với nội dung “cực kỳ phản động” nằm phơi ngay trang giữa. Tôi đọc phớt nhanh qua, nhưng tâm tư không gợi ra được một ký ức nào về bài này. Mình đâu có gửi đăng bao giờ? Sao trí nhớ mình tồi thế nhỉ?
Tiếng rít lên từ đầu giây bên kia đưa tôi về thực tại.
- Anh trông thấy cái bài của anh trong báo chưa hử? Lát nữa em về đến nhà thì anh biết tay. Chỉ giỏi …
Tai tôi lung bùng, mắt tôi hoa lên. Những giòng chữ của bài viết trong tờ báo bỗng nhập nhòa ẩn hiện. Mùi thơm của mực in vẫn phảng phớt. Hay là có kẻ nào chơi xỏ mình, viết xong ký tên Nguyên Cương Andy đem gửi cho báo? Nếu không thì tại sao nội dung lại phản “cách mạng” như thế này:
Chúc thư cho vợ,
…… Em yêu, ai mà sống ở đời được mãi. Ai chả có lúc phải nói lời vĩnh biệt. Khi anh ra đi, thì đây là di chúc – em hãy nhớ làm những điều sau đây anh dặn:
1) Mang cất ngay dàn Karaoke vào garage. Giọng em tối nào cũng rống lên hãi hùng như thế, không có anh, con mẹ Ấn Độ sau nhà nó nhẩy sang xé xác em ngay.
2) Tính em vốn không thích làm việc nhà, việc bếp. Em nên tái giá ngay để có kẻ hầu thay thế chỗ anh. Trong số bạn của anh, anh đề nghị em lấy thằng Long, vì khi còn sống, anh ghét thằng này nhất, lúc nào cũng vênh cái mặt lên cho rằng đời nó hơn anh mọi thứ. Lấy em xong là đời nó tàn, thử xem nó còn huyên hoang được nữa không.
3) Nếu thằng Long không chịu lấy em, thì em lấy thằng Hoàng. Thằng này mang nữ tính, bảo gì nghe nấy, em đỡ phải quát tháo như em đã quát anh.
4) Nhưng em chớ có lấy thằng Dư. Nó có võ Bình Định. Hỗn như em thì nó uýnh chết, không chết cũng u đầu. Tội nghiệp mấy đứa con anh đã mất cha giờ thành không mẹ
5) Cũng đừng lấy thằng Phú mắc bệnh đau tim. Cứ mỗi tháng credit cards của em gửi bill về, nom thấy là nó đột quỵ ngay, em sẽ thành góa bụa lần nữa.
6) Nếu cả bốn thằng Long-Hoàng-Dư và Phú đều không chịu lấy em, thì em chớ có đi mỹ viện sửa sang hòng re-marry. Để dành tiền ấy mà nuôi con vì anh biết chắc là chúng nó sẽ chỉ còn da bọc xương trong vòng một tháng.
7) Em cũng đừng theo tục lệ Việt-Nam nấu cháo hay nấu cơm cúng giỗ cho anh. Cháo em hễ nấu là khét, mang xuống âm phủ chỉ làm Diêm Vương thêm nỗi giận. Còn cơm em thì … thôi anh xin miễn. Em muốn cả địa ngục đi tiêu chảy vì ăn phải gạo sống, thì cứ việc nấu ….
Nguyên Cương Andy
- Anh dạo này lộng hành quá lắm. Dám viết truyện nói xấu em rồi đem lên báo!
Tôi ngồi nhổm dậy ngơ ngác:
- Anh kể xấu em bao giờ? Em đang ở đâu vậy?
- Em đang ở nhà vợ chồng thằng Thìn. Nhờ chúng nó em mới biết bộ mặt thật của anh. Anh mở tờ Tự Do số mới nhất ra mà xem.
Hoang mang tôi tiến đến kệ tủ sách, rút ra tờ báo chưa đọc. Mở ra lật từng tờ, đến một bài truyện ngắn ký tên Nguyên Cương Andy với nội dung “cực kỳ phản động” nằm phơi ngay trang giữa. Tôi đọc phớt nhanh qua, nhưng tâm tư không gợi ra được một ký ức nào về bài này. Mình đâu có gửi đăng bao giờ? Sao trí nhớ mình tồi thế nhỉ?
Tiếng rít lên từ đầu giây bên kia đưa tôi về thực tại.
- Anh trông thấy cái bài của anh trong báo chưa hử? Lát nữa em về đến nhà thì anh biết tay. Chỉ giỏi …
Tai tôi lung bùng, mắt tôi hoa lên. Những giòng chữ của bài viết trong tờ báo bỗng nhập nhòa ẩn hiện. Mùi thơm của mực in vẫn phảng phớt. Hay là có kẻ nào chơi xỏ mình, viết xong ký tên Nguyên Cương Andy đem gửi cho báo? Nếu không thì tại sao nội dung lại phản “cách mạng” như thế này:
Chúc thư cho vợ,
…… Em yêu, ai mà sống ở đời được mãi. Ai chả có lúc phải nói lời vĩnh biệt. Khi anh ra đi, thì đây là di chúc – em hãy nhớ làm những điều sau đây anh dặn:
1) Mang cất ngay dàn Karaoke vào garage. Giọng em tối nào cũng rống lên hãi hùng như thế, không có anh, con mẹ Ấn Độ sau nhà nó nhẩy sang xé xác em ngay.
2) Tính em vốn không thích làm việc nhà, việc bếp. Em nên tái giá ngay để có kẻ hầu thay thế chỗ anh. Trong số bạn của anh, anh đề nghị em lấy thằng Long, vì khi còn sống, anh ghét thằng này nhất, lúc nào cũng vênh cái mặt lên cho rằng đời nó hơn anh mọi thứ. Lấy em xong là đời nó tàn, thử xem nó còn huyên hoang được nữa không.
3) Nếu thằng Long không chịu lấy em, thì em lấy thằng Hoàng. Thằng này mang nữ tính, bảo gì nghe nấy, em đỡ phải quát tháo như em đã quát anh.
4) Nhưng em chớ có lấy thằng Dư. Nó có võ Bình Định. Hỗn như em thì nó uýnh chết, không chết cũng u đầu. Tội nghiệp mấy đứa con anh đã mất cha giờ thành không mẹ
5) Cũng đừng lấy thằng Phú mắc bệnh đau tim. Cứ mỗi tháng credit cards của em gửi bill về, nom thấy là nó đột quỵ ngay, em sẽ thành góa bụa lần nữa.
6) Nếu cả bốn thằng Long-Hoàng-Dư và Phú đều không chịu lấy em, thì em chớ có đi mỹ viện sửa sang hòng re-marry. Để dành tiền ấy mà nuôi con vì anh biết chắc là chúng nó sẽ chỉ còn da bọc xương trong vòng một tháng.
7) Em cũng đừng theo tục lệ Việt-Nam nấu cháo hay nấu cơm cúng giỗ cho anh. Cháo em hễ nấu là khét, mang xuống âm phủ chỉ làm Diêm Vương thêm nỗi giận. Còn cơm em thì … thôi anh xin miễn. Em muốn cả địa ngục đi tiêu chảy vì ăn phải gạo sống, thì cứ việc nấu ….
Nguyên Cương Andy
Những Mẫu Chuyện Nghe Được ở "Cổng Thiên Đường"
Tô Hải Chẳng biết khi bà Thiệu "sáng tác" ra cái bệnh viện "Vì dân" có thật để phục vụ nhân dân không chứ từ ngày "giải phóng miền Nam" bệnh viện này được đổi tên là Thống Nhất, chuyên phục vụ các quan mà hầu hết đều là các quan... "sắp chết" . Vì ít nhất đã qua tuổi 60 mới đạt được mức lương chuyên viên để được đủ tiêu chuẩn chữa trị trong bệnh viện này. Năm 59 tuổi, tức là cách đây 23 năm, khi tớ về hưu cũng là lúc tớ cầm được cái thẻ bảo hiểm y tế của bệnh viện này. Một số văn nghệ sỹ ăn lương nhà nước cũng hân hạnh được chữa bệnh và chết ở đây. Một số chưa được mức lương mà bệnh viện yêu cầu thì cười khểnh và đặt cho cái bệnh viện đó là bệnh viện "vì quan", là "cổng thiên đàng". Và sau này, khi các bác sỹ tài danh đều vượt biên, về hưu, bỏ ra làm bệnh viện tư thì nó xuống cấp đến nỗi nó mang cái tên: "Cửa địa ngục" đến nơi nhận một bịch thuốc nội gần giống nhau rồi... về... ! Của đáng tội. Tớ bảo đảm rằng nơi này là một nơi có "y đức" cao nhất nước . Hầu hết các "cháu bác sỹ" khó có thể hư được với mấy ông cán bộ già vì:
1) Mấy anh về hưu già hầu hết đều chẳng bao giờ chịu xì ra một cái phong bì nào
2) Cán bộ lương cao, bằng hoặc hơn gấp ba, bốn lần lương bọn tớ bây giờ... quá nhiều và tòan trẻ măng. Giám đốc giám điếc, giáo sư, giáo siết, tiến sỹ, tiến siết đều lúc nha lúc nhúc vào cái nơi tưởng rằng "ưu tiên này". Còn cái số thực sự được ưu tiên bây giờ... đều chữa bệnh ở Thái Lan, Xanh Ga Po, Thụy Sỹ... hoặc ít nhất cũng là bệnh viên Việt Pháp.
3) Số lượng người đến khám bệnh ngày càng nhiều. Trung bình mỗi "cháu bác sỹ" nếu khám tử tế như ở một bệnh viện tư thì chắc chắn không thể nào đủ thời gian dù chỉ dành cho mỗi cụ bệnh nhân 10 phút
Năm vừa qua là năm tồi tệ nhất của tớ vì phải bước chân tới cửa thiên đàng tới năm bảy lần trong đó có hai lần qua hẳn cửa nằm ở các khoa... chờ chết. Ấy vậy mà, cho tới hôm nay (21/7/2009). tớ lại vừa rút lui khỏi "cổng thiên đàng"... một lần nữa nhưng trong lòng thấy lóe lên chút niềm vui. Số là:
Mỗi lần nhập viện, dù hôn mê phải thở oxy, phải tiếp nước hoặc lấy thuốc về nhà đều có dịp trực tiếp với những quan điểm của những người chẳng còn khát vọng, hòai bão gì nên hầu hết đều nói thẳng, nói thật. Té ra SỰ THẬT viết hoa ở nơi bệnh viện Thống nhất này ngày càng đựoc tô thêm rõ nét.
Ngày 17 vừa qua, huyết áp tớ lên 153, đầu đau như búa bổ, không ăn uống được bất cứ thứ gì. Sau mấy lần cự tuyệt đi bệnh viện, bị áp lực của vợ con, bạn bè tớ đành chịu cưỡng chế lên taxi đến cổng thiên đàng Thống Nhất.....
Mới có 8h mà các cụ bệnh nhân đã đông như một góc bán tôm, cá chợ Bến Thành. Sau khi lấy được số ở phòng chờ thứ nhất. Gọi số xong, trình thẻ bảo hiểm y tế và sổ y bạ, khai bệnh xong thì được hướng dẫn đến phòng chờ số 2. Xếp sổ y bạ xong thì chờ bác sỹ gọi vào khám . Trở ra phòng chờ để lấy kết luận của bác sỹ sẽ phải đi mấy phòng chờ nữa nếu cần (thử máu, siêu âm, đo điện tâm đồ, chiếu X quang,... nghĩa là 7,8 phòng chờ). Sau hai phút sờ sờ nắn nắn của bác sỹ và kết thúc ở phòng chờ phát thuốc thì tổng số thời gian chờ có người nói rằng gấp 100 lần thời gian khám bệnh.
Cái sự chờ này đối với mấy ông già tuy có mệt thật nhưng chính lại là nơi mà dù chẳng quen nhau cũng có dịp để thổ lộ nỗi lòng, phát huy "tự do tư tưởng", thậm chí chửi đổng vài câu cho đỡ bức xúc cái... tâm hồn. Lần này cũng vậy, kiếm mãi mới ra một chỗ ngồi bên cạnh một cặp vợ chồng già mà tớ chẳng hề quen biết... Hai ông bà chia nhau một tờ báo, ngồi đọc để giết thì giờ, đang có vẻ chăm chú nghiên cứu tình hình đất nước. Bỗng ông chồng buông thõng một câu :
- Thế là lại chìm xuồng!
Bà vợ: - Chìm cái xuồng nào?
- Cái xuồng PMU18 chứ gì nữa. Đây này! Cái thằng "Dũng con" chết mẹ nó trong nhà giam rồi. Lấy ai mà xử tội bây giờ ? khi thằng "Dũng bố" đã được phục hồi Đảng tịch, ra khỏi tù và "phản công " lại tất cả những ai ghép tội hắn. Đưa đến cả một ông tướng công an và 2 nhà báo ra tòa thay hắn ta.
- Lại có chuyện diệt khẩu đây rồi !
Tớ ngứa miệng bèn đế vào một câu vu vơ:
- Cứ ai thấy nhà thằng này có tang lễ, đưa ma đàng hoàng thì tôi mới tin là báo nói thiệt, Trắng, đen, sống, chết, công, tội thời này tôi chả tin những gì ở báo nhà nước cả.
Ông già vừa buông hai tiếng "Đúng thế" thì... lạnh lùng tiếng loa phát ra "134 đến cửa 2" Thế là như vừa trúng số, ông vội vã gấp báo, lập cập đứng lên: "Có tôi" .... Và câu chuyện thời cuộc bị cắt ngang khi bà dìu ông đến cửa số 2 trình diện! Tớ đang tiếc ngẩn tiếc ngơ vì ít khi gặp được các loại "xưa nay hiếm" này thì.... hai ông cụ khác đã tiếp thu ngay hai chiếc ghế trống, tướng tá có vẻ "nhà binh về vườn", mỗi ông cũng cầm theo một tờ báo. Hình như hai cụ đang gay gắt tranh luận sẵn từ trước nên vừa ngồi xuống là đã tiếp tục nhập đề.
Cụ A: Lần này chú Lê Dũng đã lên tiếng kiên quyết ra phết rồi còn gì nữa. Định liều mạng đánh nhau với NÓ chắc?
Cụ B: Phải kiện chúng nó ra tòa án quốc tế chứ! Biển trời của mình mà nó bắt người của mình lại còn đòi nộp tiền phạt mới nhục chứ
Cụ A: Trước sau rồi cũng phải nộp, chỉ có điều dân nộp hay nhà nước nộp mà thôi!
Cụ B: Cống nộp đã bao đời rồi nhưng chưa bao giờ thấy khốn nạn như ngày nay
Giữa lúc đó một cụ được gọi tên vào khám bệnh. Cụ đứng dậy, miệng lẩm bẩm: "ĐM nó! Lúc này mà ông còn ở quân đội, ông chẳng chịu đâu!"
Tớ nhân thể "kích cầu" thêm một câu: "Thế hai bác cũng ở quân đội về cả hả.?" Được dịp cụ còn lại vội vàng giải bầy tâm sự: "Lão ta và tôi đều cùng sư đòan 325,đi B, đánh Đông dẹp Bắc, huân chương đỏ ngực, vậy mà nay, trước cảnh tổ quốc bị bọn bành trướng nó gặm nhấm dần mà chẳng làm gì được. Gặp nhau trước "cổng thiên đường," chạm tới các vấn đề thời sự chỉ thấy buồn thúi ruột. Khí thế "bộ đội cụ Hồ" ngày xưa giờ còn đâu nữa!"
Tớ vội tranh thủ "hâm" lại khí thế cho các cụ bằng một câu "kích cầu" nữa: "Ít nhất thì các cụ cũng còn biết tức giận và buồn bực trước hiện trạng cay đắng của đất nước hôm nay, tôi cũng như các cụ, là dân lính cụ Hồ xưa, đều thấy uất hận mà đành chịu. Chẳng hiểu mấy trăm ông tướng và hàng vạn quân họ nghĩ gì nhỉ ?"... Chưa kịp nói tiếp thì cụ cựu sư trưởng phát ra một câu mà nghe xong tớ thật bất ngờ: "Nghĩ với chẳng ngợi gì, lính tráng thời nay,! Chiến tranh không nổ ra với bất cứ ai là yên chí với con đường tiến thân vùn vụt rồi !. Lính 18 tháng trở về, quan cứ 3 năm lên một bậc. Tướng nhiều như lợn con. Họ chỉ mong đường lối ngoại giao càng "mềm dẻo" là càng bảo tòan được tính mạng thôi! Với họ, tất cả đã có người nghĩ hộ rồi. Họ đâu có phải nhiều băn khoăn thắc mắc như lớp "cựu chiến binh" chúng mình!.."
Giữa lúc ấy, bà xã tớ nhận được giấy đưa tớ đi xét nghiệm máu,.Vừa tới nơi chờ gọi tên thì chạm trán ngay một cuộc đối đầu khá gay cấn giữa một cặp vợ chồng, bà vợ thì cứ chạy theo van lơn: "Thôi mà! Ông cố chờ thêm dăm bảy phút nữa. Cứ sùng sục lên như thế thì có lợi gì". Ông chồng :" Khám bệnh khám biếc cái con mẹ gì mà chờ cả tiếng chẳng đến lượt, thôi !thôi !...đi về". Tớ định thần nhìn lại thì té ra vợ chồng một nhà văn tuy không nổi tiếng lắm nhưng cũng có dăm bảy bài báo, vài ba truyện ngắn được đăng trên các báo của nhà nước. mà khi tớ còn làm việc "trong biên chế", có quen sơ sơ. Thấy vợ chồng tớ, 2 ông bà bỗng dịu hẳn xuống và cả bốn đều ngồi xuống một chiếc ghế đá. ....rồi "bộc lộ tư tưởng" cùng nhau để... giết thời giờ,.
Ông chồng: -"Lên mạng dạo này thấy ông viết lách mạnh quá đấy. Lại nghe có hồi kí hồi kiếc gì nữa, có còn bản nào cho tôi xin một bản".Tớ hơi...sợ tí chút vì thấy ông ta cứ bô lô ba la như chỗ không người vội giải thích " Đâu có!đâu có ! Tôi nào nhìn thấy mặt mũi nó như thế nào đâu.Vả lại có gửi cho tôi,tôi cũng chẳng dám nhận .Cái tội "làm ra,tàng trữ,phát tán tài liệu chống phá nhà nước " đang sắp sửa chụp lên đầu tôi rồi đấy!Ông nói nhỏ cho tí chút! Nào ngờ ông ta lại lên giọng,to hơn:-"Sợ cái đéch gì cơ chứ! Ai thèm bỏ tù cái thằng già 83 vừa chống gậy vừa vịn vai vợ mới bước nổi đến cái "cổng địa ngục "này ! Bà vợ: "Khổ thân ông ấy, về hưu 2 năm nay , bỏ chức tổng giám đốc trở thành "tổng nhàn rỗi" nên ông ấy chỉ suốt ngày cắm cúi với cái computer tưởng sẽ giải trí được lúc cuối đời. Ai ngờ càng mê lên mạng thì lắm lúc ông ấy suýt mất mạng. Có lần, ông ấy đọc xong một tin gì đó thì bỗng dưng nổi khùng lên rồi tăng xông lên vùn vụt. Thần kinh đang ngày càng "có vấn đề"...chẳng biết cãi nhau với ai,nổi khùng với ai ,ông ấy chỉ biết cãi nhau với.....cái Tivi. Có lần vừa nghe một cái tin nào đó không vừa ý ,ông tắt máy cái phụt rồi bỏ đi ,kèm theo những câu chửi rủa mà chẳng ai phải nghe.. ngòai tôi cả!".
- Sống cứ như bà mà cũng đòi viết văn, viết báo!
- Biết lắm chỉ khổ, tôi chẳng cần biết ai là chủ tịch nước, ai là thủ tướng. Thằng nào cũng giống thằng nào thôi! Biết chỉ thêm đau đầu, không làm được, không viết được như ông Nguyễn Khải, chẳng cần phải đi tìm cái tôi nó mất hay nó còn ra sao? bao giờ,? ở đâu.? Ấy vậy mà, tôi vẫn cứ viết những chuyện chẳng dính gì đến chính trị, chính chọe gì. Chuyện bà bán xôi bắp nuôi con thành thạc sỹ, chuyện em bé mồ côi Cầu ông Lãnh.... chuyện ung thư, sida vẫn vui sống đến cuối đời. Chẳng cần ai chỉ đạo chỉ điếc gì... chẳng va chạm ai... Gửi đâu đăng đấy.
- Đấy ông Tô Hải xem, nhà văn, nhà báo mà ăn nói như thế đấy! "Đi tìm cái tôi đã mất" của Nguyễn Khải hay như thế mà bà ấy lại nói rằng viết để làm gì trong khi sống thì chẳng dám viết. ?Nói như bà thì đúng là không còn tư cách gì để cầm bút nữa. Thôi tôi đếch khám bệnh khám biếc gì nữa
Và cứ thế ông vùng vằng đi về chẳng cần thèm chào hỏi gì hai vợ chồng tớ nữa
Bà xã tớ gợi ý cho nữ nhà văn (xin phép cho tớ được giấu tên). -" Chạy theo ông ấy đi, giữ ông ấy lại.! Nhưng muộn quá mất rồi, ông thì hầm hầm ra đi không quay đầu trở lại, bà thì :"mặc kệ ông ấy,! cho ông ấy đi xe ôm về. "Lần sau, tôi chả dại gì mà đưa ông ấy đi khám bệnh nữa",
Thế đấy, chỉ ở cái cổng thiên đường này mà tớ đã thấy được cái "quan trí " của dân tộc ta nó bi-đát- đờ- xút đến chừng nào. Tuy nhiên, tớ cũng thấy được le lói những niềm vui vì chính ở cái nơi mà hầu hết những con người đã không còn nhiều hòai bão, nhiều toan tính, mưu ma chước quỷ, kiếm chác, tranh giành... những con người đã qua nhiều phen đấu tranh giữa cái sống và cái chết, và khi "cổng thiên đường" đã sẵn sàng chào đón các cụ U70,U80,U90 ra đi trong trật tự khỏi kẹt xe, ket lô cốt bằng những con số điểm danh,bằng những phòng chờ khá tươm tất thì chính là lúc những lời ăn, tiếng nói thiệt thà nhất, thậm chí bất cần đời được phát ngôn thỏai mái chẳng sợ ai ghép vào các tội "mất lập trường", "bị bọn xấu kích động"hoặc "âm mưu lật đổ chính phủ" nữa
Ai không tin cứ đến bệnh viện Vì dân (tức Thống Nhất- tức Cổng thiên đường), giả vờ là bệnh nhân ngồi ở mấy phòng chờ thì khắc biết.
Tớ không hề phịa.
Tô Hải
Tô Hải Chẳng biết khi bà Thiệu "sáng tác" ra cái bệnh viện "Vì dân" có thật để phục vụ nhân dân không chứ từ ngày "giải phóng miền Nam" bệnh viện này được đổi tên là Thống Nhất, chuyên phục vụ các quan mà hầu hết đều là các quan... "sắp chết" . Vì ít nhất đã qua tuổi 60 mới đạt được mức lương chuyên viên để được đủ tiêu chuẩn chữa trị trong bệnh viện này. Năm 59 tuổi, tức là cách đây 23 năm, khi tớ về hưu cũng là lúc tớ cầm được cái thẻ bảo hiểm y tế của bệnh viện này. Một số văn nghệ sỹ ăn lương nhà nước cũng hân hạnh được chữa bệnh và chết ở đây. Một số chưa được mức lương mà bệnh viện yêu cầu thì cười khểnh và đặt cho cái bệnh viện đó là bệnh viện "vì quan", là "cổng thiên đàng". Và sau này, khi các bác sỹ tài danh đều vượt biên, về hưu, bỏ ra làm bệnh viện tư thì nó xuống cấp đến nỗi nó mang cái tên: "Cửa địa ngục" đến nơi nhận một bịch thuốc nội gần giống nhau rồi... về... ! Của đáng tội. Tớ bảo đảm rằng nơi này là một nơi có "y đức" cao nhất nước . Hầu hết các "cháu bác sỹ" khó có thể hư được với mấy ông cán bộ già vì:
1) Mấy anh về hưu già hầu hết đều chẳng bao giờ chịu xì ra một cái phong bì nào
2) Cán bộ lương cao, bằng hoặc hơn gấp ba, bốn lần lương bọn tớ bây giờ... quá nhiều và tòan trẻ măng. Giám đốc giám điếc, giáo sư, giáo siết, tiến sỹ, tiến siết đều lúc nha lúc nhúc vào cái nơi tưởng rằng "ưu tiên này". Còn cái số thực sự được ưu tiên bây giờ... đều chữa bệnh ở Thái Lan, Xanh Ga Po, Thụy Sỹ... hoặc ít nhất cũng là bệnh viên Việt Pháp.
3) Số lượng người đến khám bệnh ngày càng nhiều. Trung bình mỗi "cháu bác sỹ" nếu khám tử tế như ở một bệnh viện tư thì chắc chắn không thể nào đủ thời gian dù chỉ dành cho mỗi cụ bệnh nhân 10 phút
Năm vừa qua là năm tồi tệ nhất của tớ vì phải bước chân tới cửa thiên đàng tới năm bảy lần trong đó có hai lần qua hẳn cửa nằm ở các khoa... chờ chết. Ấy vậy mà, cho tới hôm nay (21/7/2009). tớ lại vừa rút lui khỏi "cổng thiên đàng"... một lần nữa nhưng trong lòng thấy lóe lên chút niềm vui. Số là:
Mỗi lần nhập viện, dù hôn mê phải thở oxy, phải tiếp nước hoặc lấy thuốc về nhà đều có dịp trực tiếp với những quan điểm của những người chẳng còn khát vọng, hòai bão gì nên hầu hết đều nói thẳng, nói thật. Té ra SỰ THẬT viết hoa ở nơi bệnh viện Thống nhất này ngày càng đựoc tô thêm rõ nét.
Ngày 17 vừa qua, huyết áp tớ lên 153, đầu đau như búa bổ, không ăn uống được bất cứ thứ gì. Sau mấy lần cự tuyệt đi bệnh viện, bị áp lực của vợ con, bạn bè tớ đành chịu cưỡng chế lên taxi đến cổng thiên đàng Thống Nhất.....
Mới có 8h mà các cụ bệnh nhân đã đông như một góc bán tôm, cá chợ Bến Thành. Sau khi lấy được số ở phòng chờ thứ nhất. Gọi số xong, trình thẻ bảo hiểm y tế và sổ y bạ, khai bệnh xong thì được hướng dẫn đến phòng chờ số 2. Xếp sổ y bạ xong thì chờ bác sỹ gọi vào khám . Trở ra phòng chờ để lấy kết luận của bác sỹ sẽ phải đi mấy phòng chờ nữa nếu cần (thử máu, siêu âm, đo điện tâm đồ, chiếu X quang,... nghĩa là 7,8 phòng chờ). Sau hai phút sờ sờ nắn nắn của bác sỹ và kết thúc ở phòng chờ phát thuốc thì tổng số thời gian chờ có người nói rằng gấp 100 lần thời gian khám bệnh.
Cái sự chờ này đối với mấy ông già tuy có mệt thật nhưng chính lại là nơi mà dù chẳng quen nhau cũng có dịp để thổ lộ nỗi lòng, phát huy "tự do tư tưởng", thậm chí chửi đổng vài câu cho đỡ bức xúc cái... tâm hồn. Lần này cũng vậy, kiếm mãi mới ra một chỗ ngồi bên cạnh một cặp vợ chồng già mà tớ chẳng hề quen biết... Hai ông bà chia nhau một tờ báo, ngồi đọc để giết thì giờ, đang có vẻ chăm chú nghiên cứu tình hình đất nước. Bỗng ông chồng buông thõng một câu :
- Thế là lại chìm xuồng!
Bà vợ: - Chìm cái xuồng nào?
- Cái xuồng PMU18 chứ gì nữa. Đây này! Cái thằng "Dũng con" chết mẹ nó trong nhà giam rồi. Lấy ai mà xử tội bây giờ ? khi thằng "Dũng bố" đã được phục hồi Đảng tịch, ra khỏi tù và "phản công " lại tất cả những ai ghép tội hắn. Đưa đến cả một ông tướng công an và 2 nhà báo ra tòa thay hắn ta.
- Lại có chuyện diệt khẩu đây rồi !
Tớ ngứa miệng bèn đế vào một câu vu vơ:
- Cứ ai thấy nhà thằng này có tang lễ, đưa ma đàng hoàng thì tôi mới tin là báo nói thiệt, Trắng, đen, sống, chết, công, tội thời này tôi chả tin những gì ở báo nhà nước cả.
Ông già vừa buông hai tiếng "Đúng thế" thì... lạnh lùng tiếng loa phát ra "134 đến cửa 2" Thế là như vừa trúng số, ông vội vã gấp báo, lập cập đứng lên: "Có tôi" .... Và câu chuyện thời cuộc bị cắt ngang khi bà dìu ông đến cửa số 2 trình diện! Tớ đang tiếc ngẩn tiếc ngơ vì ít khi gặp được các loại "xưa nay hiếm" này thì.... hai ông cụ khác đã tiếp thu ngay hai chiếc ghế trống, tướng tá có vẻ "nhà binh về vườn", mỗi ông cũng cầm theo một tờ báo. Hình như hai cụ đang gay gắt tranh luận sẵn từ trước nên vừa ngồi xuống là đã tiếp tục nhập đề.
Cụ A: Lần này chú Lê Dũng đã lên tiếng kiên quyết ra phết rồi còn gì nữa. Định liều mạng đánh nhau với NÓ chắc?
Cụ B: Phải kiện chúng nó ra tòa án quốc tế chứ! Biển trời của mình mà nó bắt người của mình lại còn đòi nộp tiền phạt mới nhục chứ
Cụ A: Trước sau rồi cũng phải nộp, chỉ có điều dân nộp hay nhà nước nộp mà thôi!
Cụ B: Cống nộp đã bao đời rồi nhưng chưa bao giờ thấy khốn nạn như ngày nay
Giữa lúc đó một cụ được gọi tên vào khám bệnh. Cụ đứng dậy, miệng lẩm bẩm: "ĐM nó! Lúc này mà ông còn ở quân đội, ông chẳng chịu đâu!"
Tớ nhân thể "kích cầu" thêm một câu: "Thế hai bác cũng ở quân đội về cả hả.?" Được dịp cụ còn lại vội vàng giải bầy tâm sự: "Lão ta và tôi đều cùng sư đòan 325,đi B, đánh Đông dẹp Bắc, huân chương đỏ ngực, vậy mà nay, trước cảnh tổ quốc bị bọn bành trướng nó gặm nhấm dần mà chẳng làm gì được. Gặp nhau trước "cổng thiên đường," chạm tới các vấn đề thời sự chỉ thấy buồn thúi ruột. Khí thế "bộ đội cụ Hồ" ngày xưa giờ còn đâu nữa!"
Tớ vội tranh thủ "hâm" lại khí thế cho các cụ bằng một câu "kích cầu" nữa: "Ít nhất thì các cụ cũng còn biết tức giận và buồn bực trước hiện trạng cay đắng của đất nước hôm nay, tôi cũng như các cụ, là dân lính cụ Hồ xưa, đều thấy uất hận mà đành chịu. Chẳng hiểu mấy trăm ông tướng và hàng vạn quân họ nghĩ gì nhỉ ?"... Chưa kịp nói tiếp thì cụ cựu sư trưởng phát ra một câu mà nghe xong tớ thật bất ngờ: "Nghĩ với chẳng ngợi gì, lính tráng thời nay,! Chiến tranh không nổ ra với bất cứ ai là yên chí với con đường tiến thân vùn vụt rồi !. Lính 18 tháng trở về, quan cứ 3 năm lên một bậc. Tướng nhiều như lợn con. Họ chỉ mong đường lối ngoại giao càng "mềm dẻo" là càng bảo tòan được tính mạng thôi! Với họ, tất cả đã có người nghĩ hộ rồi. Họ đâu có phải nhiều băn khoăn thắc mắc như lớp "cựu chiến binh" chúng mình!.."
Giữa lúc ấy, bà xã tớ nhận được giấy đưa tớ đi xét nghiệm máu,.Vừa tới nơi chờ gọi tên thì chạm trán ngay một cuộc đối đầu khá gay cấn giữa một cặp vợ chồng, bà vợ thì cứ chạy theo van lơn: "Thôi mà! Ông cố chờ thêm dăm bảy phút nữa. Cứ sùng sục lên như thế thì có lợi gì". Ông chồng :" Khám bệnh khám biếc cái con mẹ gì mà chờ cả tiếng chẳng đến lượt, thôi !thôi !...đi về". Tớ định thần nhìn lại thì té ra vợ chồng một nhà văn tuy không nổi tiếng lắm nhưng cũng có dăm bảy bài báo, vài ba truyện ngắn được đăng trên các báo của nhà nước. mà khi tớ còn làm việc "trong biên chế", có quen sơ sơ. Thấy vợ chồng tớ, 2 ông bà bỗng dịu hẳn xuống và cả bốn đều ngồi xuống một chiếc ghế đá. ....rồi "bộc lộ tư tưởng" cùng nhau để... giết thời giờ,.
Ông chồng: -"Lên mạng dạo này thấy ông viết lách mạnh quá đấy. Lại nghe có hồi kí hồi kiếc gì nữa, có còn bản nào cho tôi xin một bản".Tớ hơi...sợ tí chút vì thấy ông ta cứ bô lô ba la như chỗ không người vội giải thích " Đâu có!đâu có ! Tôi nào nhìn thấy mặt mũi nó như thế nào đâu.Vả lại có gửi cho tôi,tôi cũng chẳng dám nhận .Cái tội "làm ra,tàng trữ,phát tán tài liệu chống phá nhà nước " đang sắp sửa chụp lên đầu tôi rồi đấy!Ông nói nhỏ cho tí chút! Nào ngờ ông ta lại lên giọng,to hơn:-"Sợ cái đéch gì cơ chứ! Ai thèm bỏ tù cái thằng già 83 vừa chống gậy vừa vịn vai vợ mới bước nổi đến cái "cổng địa ngục "này ! Bà vợ: "Khổ thân ông ấy, về hưu 2 năm nay , bỏ chức tổng giám đốc trở thành "tổng nhàn rỗi" nên ông ấy chỉ suốt ngày cắm cúi với cái computer tưởng sẽ giải trí được lúc cuối đời. Ai ngờ càng mê lên mạng thì lắm lúc ông ấy suýt mất mạng. Có lần, ông ấy đọc xong một tin gì đó thì bỗng dưng nổi khùng lên rồi tăng xông lên vùn vụt. Thần kinh đang ngày càng "có vấn đề"...chẳng biết cãi nhau với ai,nổi khùng với ai ,ông ấy chỉ biết cãi nhau với.....cái Tivi. Có lần vừa nghe một cái tin nào đó không vừa ý ,ông tắt máy cái phụt rồi bỏ đi ,kèm theo những câu chửi rủa mà chẳng ai phải nghe.. ngòai tôi cả!".
- Sống cứ như bà mà cũng đòi viết văn, viết báo!
- Biết lắm chỉ khổ, tôi chẳng cần biết ai là chủ tịch nước, ai là thủ tướng. Thằng nào cũng giống thằng nào thôi! Biết chỉ thêm đau đầu, không làm được, không viết được như ông Nguyễn Khải, chẳng cần phải đi tìm cái tôi nó mất hay nó còn ra sao? bao giờ,? ở đâu.? Ấy vậy mà, tôi vẫn cứ viết những chuyện chẳng dính gì đến chính trị, chính chọe gì. Chuyện bà bán xôi bắp nuôi con thành thạc sỹ, chuyện em bé mồ côi Cầu ông Lãnh.... chuyện ung thư, sida vẫn vui sống đến cuối đời. Chẳng cần ai chỉ đạo chỉ điếc gì... chẳng va chạm ai... Gửi đâu đăng đấy.
- Đấy ông Tô Hải xem, nhà văn, nhà báo mà ăn nói như thế đấy! "Đi tìm cái tôi đã mất" của Nguyễn Khải hay như thế mà bà ấy lại nói rằng viết để làm gì trong khi sống thì chẳng dám viết. ?Nói như bà thì đúng là không còn tư cách gì để cầm bút nữa. Thôi tôi đếch khám bệnh khám biếc gì nữa
Và cứ thế ông vùng vằng đi về chẳng cần thèm chào hỏi gì hai vợ chồng tớ nữa
Bà xã tớ gợi ý cho nữ nhà văn (xin phép cho tớ được giấu tên). -" Chạy theo ông ấy đi, giữ ông ấy lại.! Nhưng muộn quá mất rồi, ông thì hầm hầm ra đi không quay đầu trở lại, bà thì :"mặc kệ ông ấy,! cho ông ấy đi xe ôm về. "Lần sau, tôi chả dại gì mà đưa ông ấy đi khám bệnh nữa",
Thế đấy, chỉ ở cái cổng thiên đường này mà tớ đã thấy được cái "quan trí " của dân tộc ta nó bi-đát- đờ- xút đến chừng nào. Tuy nhiên, tớ cũng thấy được le lói những niềm vui vì chính ở cái nơi mà hầu hết những con người đã không còn nhiều hòai bão, nhiều toan tính, mưu ma chước quỷ, kiếm chác, tranh giành... những con người đã qua nhiều phen đấu tranh giữa cái sống và cái chết, và khi "cổng thiên đường" đã sẵn sàng chào đón các cụ U70,U80,U90 ra đi trong trật tự khỏi kẹt xe, ket lô cốt bằng những con số điểm danh,bằng những phòng chờ khá tươm tất thì chính là lúc những lời ăn, tiếng nói thiệt thà nhất, thậm chí bất cần đời được phát ngôn thỏai mái chẳng sợ ai ghép vào các tội "mất lập trường", "bị bọn xấu kích động"hoặc "âm mưu lật đổ chính phủ" nữa
Ai không tin cứ đến bệnh viện Vì dân (tức Thống Nhất- tức Cổng thiên đường), giả vờ là bệnh nhân ngồi ở mấy phòng chờ thì khắc biết.
Tớ không hề phịa.
Tô Hải

