Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Hành động nhỏ, Tình yêu lớn.
(Little Action, Great Love)


Đoàn Thanh Liêm
Bà chị ba của tôi thì lớn hơn tôi đến 15 tuổi, nên tôi được chị chăm sóc thương yêu đùm bọc hết mình. Chị tôi đã mất tại Mỹ vào năm 1993 cách nay đã trên 16 năm, lúc tôi còn đang bị giam giữ tại trại tù Hàm Tân. Một trong những kỷ niệm đáng ghi nhất về chị là có lần chị nói với tôi : “ Em xem đó, đứa trẻ nhỏ chỉ có thể lớn lên nhờ tình yêu thương bảo bọc của cha mẹ và anh chị em trong gia đình. Cái nôi êm ấm của gia đình mới ấp ủ nuôi dưỡng đứa con thành người đàng hoàng sau này cho xã hội.” Lúc chị tâm sự như thế, thì tôi cũng đã ngoài 30 tuổi và đã có vài cháu nhỏ cỡ 5-6 tuổi rồi.

Tôi có nhắc lại chuyện này với chị bạn người Bỉ là bác sĩ Olivette chuyên về bệnh tâm thần. Olivette nói với tôi : “Bà chị của anh tuy không hề có học gì về môn tâm lý trẻ con, nhưng chị ấy quả rất có kinh nghiệm thực tế sống động và phán đoán sự việc theo lương tri (common sense). Có đứa nhỏ bị bà mẹ bỏ bê rồi bị gửi vào nhà trẻ mồ côi, thì nó đã khóc liên tục suốt mấy ngày cho đến khi chết luôn đó…” Thành ra công việc thường ngày của một bà mẹ để chăm sóc, nuôi nấng và dậy dỗ cho lũ con, thì coi thấy nó nhỏ bé, đơn giản dễ dàng thôi. Nhưng mà những việc đó đã được làm với cái tình mẫu tử thật là lớn lao quý báu, với cả “tấm lòng bao la như biển Thái bình” ấy. Đúng như cha ông ta từ xưa vẫn thường nói : “Nhờ âm đức của ông bà, mà con cháu thành đạt” hay “Phúc đức tại mẫu”, tức là con cái được hưởng nhờ cái đức độ của bà mẹ hiền như thế đó.

1/Đó là trong phạm vi một gia đình. Còn ngoài xã hội, thì môi trường sinh hoạt rộng lớn hơn. Tại khu tôi ở từ nhiều năm nay là thành phố Costa Mesa, thì có một nhóm mấy bà đã ở vào tuổi 60-70 với con cháu đày đàn rồi, nhưng các bà vẫn miệt mài rủ nhau đi “lượm lon”, bơi nhặt nơi các thùng rác để kiếm những chai lọ, lon đựng bia, nước ngọt, gom góp về tích lũy la liệt tại nhà, rồi tìm cách đem bán cho các cơ sở tái chế đồ phế thải. Các bà dậy rất sớm, cỡ 5-6 giờ sáng là đã rủ nhau ra ngoài đường rồi, trước khi vào nhà thờ dự thánh lễ. Họ làm như vậy liên tục, ngày này qua tháng khác. Mà chỉ nhằm có mỗi một mục đích : đó là để kiếm tiền đem về Việt nam tìm giúp đỡ những bệnh nhân trong các trại phong cùi ở rải rác miền cao nguyên hay các nơi hẻo lánh xa xôi, ít có khi được cơ quan từ thiện nào đến thăm viếng. Trung bình mỗi năm nhóm này thu được cỡ 4-5 ngàn dollar. Nhưng các bà lại phải xuất tiền túi ra để trả tiền máy bay và các chi phí sinh hoạt khác khi ở Việt nam, mỗi lần ít nhất cũng tốn phí cho một người đến cả vài ba ngàn nữa.

Việc hy sinh làm chuyện từ thiện nhân đạo như vậy của các bà đã có ảnh hưởng rất tốt đẹp cho lũ con cháu, giúp chúng phát triển thêm được về tấm lòng trắc ẩn trước nỗi khổ đau của những nạn nhân bất hạnh vì chứng bệnh nan y, mà bị cô lập trong các trại phong cùi. Đây rõ rệt là trường hợp “Tình yêu thương đồng loại gặp cảnh hẩm hiu xấu số đã được các bà truyền lại cho lớp con cháu, khiến cho tấm lòng nhân ái mỗi ngày một thêm nhân rộng ra nơi thế hệ trẻ, để xã hội có cơ được cải thiện tốt đẹp hoàn hảo hơn mãi.

2/ Và đây là một trường hợp cụ thể khác nữa về sự thể hiện tấm lòng từ bi nhân hậu đối với bà con nơi các thôn xóm khó khăn túng quẫn ở quê nhà. Đó là một nhóm nữ phật tử chung nhau đi quyên góp trong số lũ con cháu trong gia đình các bạn hữu thân thiết, để kiếm phương tiện xây dựng các giếng nước ngọt trong lành cho các nơi thiếu thốn. Và nhất là giúp các sư cô mở những lớp học mẫu giáo hay xóa nạn mù chữ tại những vùng hẻo lánh. Việc làm âm thầm này đã tiếp tục từ nhiều năm nay tại California, hoàn toàn khiêm tốn nhỏ bé mà không hề bao giờ phải quảng cáo hay giới thiệu trên báo chí hoặc trên các đài truyền thanh, truyền hình. Đặc biệt là nhóm có những cộng tác viên tại các địa phương, nhất là ở mấy tỉnh miền Trung, gần với Huế, Đà nẵng. Nhờ vậy mà công tác xã hội nhân đạo này được tiến hành với năng suất rất cao, đáp ứng chính xác đối với nhu cầu cụ thể của mỗi địa phương. Đây rõ rệt là sự thể hiện cụ thể thiết thực của mối quan tâm đến hạnh phúc của số đông quần chúng ở những nơi xa xôi hẻo lánh. Tinh thần tự nguyện, tư giác này thường được phát triển nơi những tín đồ thuần thành, những con chiên ngoan đạo. Tại nước Mỹ, người ta gọi đây là loại “Hoạt động xã hội dựa trên một niềm tin tôn giáo” (Faith-based Social Action). Và thống kê về xã hội học ở Mỹ cho thấy là có đến hàng triệu những nhóm nhỏ (small groups) vẫn âm thầm hoạt động bên cạnh những tổ chức phi chánh phủ, bất vụ lợi (NGO) có quy mô lớn lao, mà ai cũng biết đến, điển hình như Ford, Rockefeller, Bill Gates Foundation v.v…

Hai trường hợp nói trên đây có thể coi như là một minh họa cho chủ trương “Đem Đạo vào Đời” của người tín đồ thuần thành, mà luôn luôn tìm cách biểu lộ tình yêu thương của mình đối với đồng loại bằng những hành động cụ thể thiết thực, điển hình như là : “Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc…” (trích từ kinh đọc của người công giáo). Nó chứng tỏ rằng : Tôn giáo vẫn có những đóng góp rất to lớn cho xã hội, không phải chỉ bằng các hoạt đông từ thiện nhân đạo, cứu giúp người gặp cảnh thiên tai hoạn nạn, điều mà chánh quyền nhà nước không bao giờ có thể bao biện làm cho hết được. Mà điều quan trọng nhất, đó là tôn giáo đã khơi động nơi tâm hồn con người cái ngọn lửa yêu thương đằm thắm, để mà tận tụy hy sinh chăm sóc lo lắng cho người đồng loại gặp cảnh bất hạnh, khó khăn ngặt nghèo. Mỗi người tín đồ tuy chỉ có thể thực hiện được những hành động khiêm tốn, đơn sơ nhỏ bé, không tên tuổi. Nhưng mà hàng triệu triệu con người cứ hàng hàng lớp lớp kiên trì làm việc như thế, ngày này qua ngày khác, xuyên qua những nhóm nhỏ tự phát không cần phải xin cơ quan nhà nước cho “miễn thuế” (tax-exempt), thì bộ mặt xã hội cũng được cải thiện rất khả quan tốt đẹp.

Đúng như chủ trương rất thiết thực của vị giáo sư khả kính Karl Popper của trường Đại học Kinh tế Luân Đôn (London School of Economics) đã nêu ra qua khẩu hiệu : “Cải thiện xã hội từng mảnh một” (Piecemeal Social Engineering). Chủ trương này đã được giáo sư ghi rõ trong cuốn sách thời danh xuất bản từ năm 1946 ngay sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, đó là cuốn “ The Open Society and its enemies” (Xã hội mở và những kẻ thù của nó). Chủ trương này đã được một môn sinh của ông là nhà tài phiệt George Soros đem ra thực hiện, đặc biệt tại Đông Âu sau khi chế độ cộng sản sụp đổ năm 1989. Tổ chức này hiện đặt trụ sở tại New York, lấy tên là “ Open Society Institute = OSI), mà tôi đã có dịp thăm viếng và tham khảo với các chuyên gia về Đông Âu vào năm 2008 vừa qua. (Người viết sẽ trình bày chi tiết hơn về chuyện này trong một dịp khác).

Vài chục năm gần đây, giới trẻ ở Âu Mỹ rất tâm đắc với khẩu hiệu :” Think globally, Act locally” ( Suy nghĩ toàn cuộc, Hành động trong tầm tay). Riêng bản thân mình, thì tôi đề nghị nên bổ túc vào khẩu hiệu này bằng một vế thứ ba nữa, đó là : “Love totally” (Yêu thương trọn vẹn). Và tôi nghĩ chỉ có tôn giáo mới có thể giúp cho chúng ta thực hiện tốt đẹp nhất cái vế thứ ba này thôi. Các tín đồ cứ việc tiếp tục dấn thân nhập cuộc với xã hội bằng những việc làm nhỏ nhoi khiêm tốn, nhưng mà sâu thẳm trong tâm hồn, thì luôn luôn phải có cái ngọn lửa nồng nàn của tình yêu thương đối với mọi người trong nhân quần xã hội.

Chứ dứt khoát đó không phải là cái “ngọn lửa căm thù giai cấp” như người cộng sản cuồng tín đã khơi động gieo rắc nơi quần chúng trên thế giới từ hồi đầu thế kỷ XX./

California, Ngày 9 Tháng 11 Năm 2009
( Nhân kỷ niệm 20 năm Ngày “ Bức tường Berlin sụp đổ” 1989 – 2009)

Đoàn Thanh Liêm

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Những cái tên ai cũng phải…cười


- Một đứa trẻ ra đời, điều đầu tiên mà bố mẹ nghĩ đến chính là đặt cho nó một cái tên với bao kỳ vọng. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, một số bậc phụ huynh đã đặt cho con mình những cái tên quá “đặc biệt” khiến chúng gặp khó khăn trong hòa nhập với cộng đồng.

Làm khổ đời con vì cái tên

Ngày đầu vào đại học, nghe thầy giáo gọi đến tên: Nguyễn Thương Hằng Mong Nhớ, cả lớp tôi nhốn nháo nhìn quanh xem nhân vật nào mang cái tên độc đáo, đảm bảo không “đụng hàng” như vậy.

Một bạn gái gầy gò, bé nhỏ cúi mặt đứng lên trước hàng trăm ánh mắt tò mò, nhìn như xoáy của mọi người. Thầy tôi khi ấy còn xuất khẩu thành thơ khiến cả lớp được buổi cười lăn lộn:

“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/
Đã thương lại nhớ, còn hằng nhớ mong”.

Sau này khi đã thân nhau, tôi mới biết, bố Nhớ khi đó là nhập ngủ đóng quân ở Quảng Trị. Tình hình khi đó rất gay gắt, mẹ ở nhà mong mỏi bố từng ngày nên mới lấy tên này để đặt cho cô con gái đầu lòng. Trong nhà, không chỉ Nhớ có tên đặc biệt mà thằng em trai kém cô 2 tuổi cũng tên là “Mong Chờ”.

Ngày còn học phổ thông, sinh hoạt ở địa phương, tôi gặp em gái có tên Ngô Thị Bạc Phận.

Nghe đâu, mẹ Phận khi xưa là cô gái đẹp nhất làng, được nhiều chàng trai theo đuổi. Nhưng “trái tim lầm chỗ để trên đầu”, bao nhiêu người tử tế không yêu, cô gái mười tám tuổi chỉ dành tình cảm cho chàng trai làng bên. Đó là một gã họ Sở chính hiệu. Sau khi “con ong đã tỏ đường đi lối về”, hắn đi lấy vợ trên tỉnh, bỏ mặc cô gái với cái thai đã bốn tháng. Cay đắng, tủi nhục cho đời mình nên khi sinh, mẹ em đã đặt tên con gái là Bạc Phận. Cô bé khốn khổ dù có đi đâu cũng cảm thấy rất ngại ngần khi người ta hỏi đến tên mình. Em cho biết: trên lớp, nhiều đứa bạn xấu chơi còn đem chuyện mẹ Phận không chồng mà có con đi rêu rao khắp nơi khiến em không còn dám đi đâu nữa cả.

Chú Ninh đầu đình, lo hộ tịch xã cho biết mình đã từng phải làm giấy khai sinh cho một bé trai tên Uất Hận. Khi thấy cái tên quá xấu, chú đã hỏi mẹ cháu tại sao lại đặt tên con như thế thì nhận được câu trả lời hết sức vô trách nhiệm: “Hận thằng chồng bội bạc theo gái nên tôi đặt tên con như thế”. Chú có phân tích cho chị phụ nữ đó hiểu cái tên quan trọng với một con người như thế nào nhưng chị ta khăng khăng nói muốn đặt tên con như vậy. Cái tên không vi phạm thuần phong mỹ tục của dân tộc hơn nữa luật pháp không hề có văn bản nào quy định về vấn đề đặt tên cho trẻ nên chú Ninh đã phải ký giấy khai sinh cho cháu bé.

Những cái tên nửa Tây, nửa ta (cho dù người đó là người Việt hoàn toàn) cũng khiến khổ chủ gặp không ít phiền toái. Khi học cấp 2, trường tôi có một bạn tên “Trần Đi Va Lốp” (tên viết hoàn toàn tiếng Việt). Cứ nghĩ trường mình có một bạn người Nga, cả bọn xúm đến xem mặt. Không ngờ đó là một bạn nam da vàng mũi tẹt chả khác gì bọn mình. Tôi còn nhớ khi đó, anh chàng đã khốn khổ mấy năm liền vì bị bạn bè trêu là “đi vá lốp”.

Mặc cảm đến từ những cái tên

Nếu như bạn gái Thương Hằng Mong Nhớ chỉ ngại ngần chút chút trước những cái nhìn tò mò của mọi người rồi sau đó sẽ tự hào kể “sự tích cái tên” và tình cảm nồng thắm của bố mẹ dành cho nhau thì rất nhiều trẻ em khác đã phải chịu những ám ảnh không đáng có về cái tên của mình. Như Phận chẳng hạn.
Em không thể nào chịu đựng nổi tiếng chê cười, ác ý của bạn bè và dần trở nên cô độc trong chính môi trường tập thể lớp mình. Phận cũng như nhiều người luôn nghĩ rằng cái tên chứa đựng một phần nào số phận của con người. Em luôn lo sợ chữ “Bạc Phận” sẽ ám vào đời mình như một tiền định. Phần vì mặc cảm, phần vì chán nản khi bị trêu chọc, học hết lớp 9, em nghỉ học ở nhà đi làm thuê cho dù sức học của Phận được nhiều thầy cô đánh giá là khá tốt.

Với Hận, em không có lỗi gì trong sự phản bội của bố. Thế nhưng em lại phải gánh chịu suốt đời nỗi căm giận của mẹ. Khi lớn lên, em sẽ chống chọi thế nào trước ánh mắt hiếu kì, chế giễu của người lạ. Cái tên Uất Hận có nghĩa quá nặng nề dễ khiến người ta có cảm giác bất an. Tiếp xúc với em, người khác dễ nảy sinh tâm lý “đề phòng” dù em hoàn toàn vô hại, dù em có thể là con ngoan trò giỏi. Chỉ vì một cái tên, em có đáng phải chịu ngần ấy thứ rắc rối trong cả cuộc đời?

Anh Trần Đại Phá, nhân viên một công ty có trụ sở đóng tại đường Trường Chinh (Hà Nội) cho biết: Anh đã từng không được thăng chức chỉ vì cái tên. Một sự trùng hợp kì lạ là anh và một đồng nghiệp khác tên Nguyễn Thành Công đều nằm trong tầm ngắm của các sếp cho chức phó phòng kỹ thuật. Sau này, khi anh bạn đồng nghiệp đã thăng tiến trên con đường hoạn lộ còn anh vẫn yên vị chức vụ nhân viên thì trưởng phòng mới rỉ tai rằng: Trong cuộc họp bình bầu hôm đó, đa số mọi người đều tán thành anh lên chức phó nhưng khốn nỗi tổng giám đốc (vốn khá mê tín) lại phán một câu: “Tên gì mà đã Phá lại còn Đại, chắc chỉ được nước vừa đại bại lại thêm… phá sản mà thôi”. Thế là không ai dám ho he gì nữa. Gã Thành Công cuối cùng… thành công thật. Còn anh thì đại bại (may mà không phá sản như lời tổng giám đốc!).

Một số người dân thậm chí còn thú nhận rằng, mỗi khi có dịp bầu bán trong khu dân cư, do chả biết mặt các ứng cử viên ra sao, năng lực tốt xấu thế nào nên họ cứ bầu đại cho những ai… có tên đẹp nhất. Rõ ràng, cái tên trong một số trường hợp đã ít nhiều làm nên ấn tượng của mọi người đối với cá nhân người đó. Cái tên đôi khi ảnh hưởng đến cả công danh, địa vị của người đó chứ chẳng chơi.Ngoài ra còn những tên khá kỳ cục như Nguyễn Tú Định ,Tú Đại ,Lê văn Dí,Trần Kiệt

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

VIỆT KIỀU VỀ QUÊ CƯỚI VỢ.

Nguyễn Thị Thanh Dương.

Tư Chuột định đi ngủ sớm cho khoẻ để mai ra phi trường làm một cuộc hành trình dài về Việt Nam, nhưng không thể nào ngủ được vì lòng đang nôn nao và lâng lâng sung sướng, chắc phải làm một lon bia cho dễ ngủ.

Tư Chuột mở tủ lạnh lấy hai lon bia và hộp cheese đầu bò lúc nào cũng có sẵn, ra bàn ngồi nhâm nhi một mình. Vừa tận hưởng từng hớp bia lạnh, vừa gật gù nhìn tấm hình vợ trên bàn thờ, vẫn là khuôn mặt hắc ám với đôi mắt sắc như dao suốt bao nhiêu năm qua đã làm tình làm tội ông, lườm nguýt và dò xét ông từng chút một.

Tư Chuột nhếch môi cười với hình:

- Mai tôi về Việt Nam lấy vợ, bà thông cảm nhé.

Tư Chuột làm công nhân, ở nhà thuê và nuôi người vợ ăn hại, quanh năm ốm đau, người gầy gò khô héo như con mắm, đã không đẻ được con, không làm ra tiền mà còn đanh đá chua ngoa, ghen bóng ghen gío mỗi khi ông nuốt nước miếng nhìn vợ người ta khoẻ mạnh tốt tươi. Bà Tư Chuột giữ chồng như người ta giữ một con chó qúy, chỉ sợ nó xổng mất, nhưng bà cũng chẳng giữ được cả đời, cơn bệnh triền miên đã đưa bà về bên kia thế giới cách đây vài tháng. Hôm đám tang vợ, Tư Chuột cũng khóc, cũng vái lậy trước bàn thờ vợ bằng tất cả tấm lòng thành thật biết ơn. Tuy muộn còn hơn không, ông đã được tự do.

Những ngày đầu ông xấc bấc lang bang vì không có ai lo cơm nước, nhưng bù lại ông tha hồ ăn nhậu, đi sớm về khuya.

Công bằng mà nói tuy không làm ra tiền nhưng bà biết giữ tiền và tiêu tiền, nên đồng lương công nhân ít ỏi của Tư Chuột cũng đủ cho hai vợ chồng sống . Có hôm Tư Chuột về nhà thấy một góc bếp chất đầy mấy bao gạo, hỏi ra là có tin đồn gạo thế giới lúc này đang khan hiếm và lên gía, nên bà mua về tích trữ, các chợ búa Việt Nam ở Mỹ được dịp lên gía gạo ào ào, chủ chợ tha hồ hốt bạc, bà mua sớm nên tiết kiệm được mấy chục đồng.

Tư Chuột làm ca đêm, ngủ bảnh mắt tới trưa mới thức dậy, cắm nồi cơm điện và ra tiệm cơm to go mua mấy đồng đồ ăn là xong. Hôm nào chán cơm ông vào tiệm phở đổi món. Đâu cần có bà Tư Chuột ông mới được ăn ngon.

Cũng vì thế mà Tư Chuột quen với thím Bông, chủ hàng cơm chỉ, bà chủ tinh đời và lắm chuyện, thấy ông khách ngày nào cũng đúng giờ giấc ra mua đồ ăn bèn hỏi chuyện mới biết Tư Chuột góa vợ. Thím Bông chụp ngay cơ hội bằng vàng vì thím có một đứa cháu gái ế chồng ở Việt Nam, cô Xuyến năm nay 45 tuổi, thím hớn hở khoe cháu hiền lành ngoan ngoãn, con nhà nề nếp ba đời là nhà giáo, từ ông nội, cha và đến cô. Thím khích lệ Tư Chuột về Việt Nam cưới cô Xuyến để có người đàn bà chăm lo cơm nước và hủ hỉ sớm khuya.

Để lấy lòng ông cháu rể tương lai, thím Bông bán đồ ăn cho Tư Chuột hậu hĩ, có khi còn cho free không lấy tiền.

Từ khi bà Tư Chuột đã “biết điều” biến mất khỏi cõi đời này, Tư Chuột đã nhận được mấy lời mai mối về Việt Nam cưới vợ, muốn lấy vợ hay lấy tiền công, họ đều sẵn sàng. Tư Chuột thấy mình “gía trị” hẳn lên, không còn là Tư Chuột ngày nào bị bà vợ mắng xa xả vào mặt mỗi khi say xỉn nữa.

Tư Chuột đứng trước ngả ba ngã bẩy, không biết tính sao. Nghe thím Bông rót vào tai những điều tốt đẹp về cô Xuyến, Tư Chuột cũng thấy xao lòng, đồng ý về Việt Nam gặp mặt nếu ưng ý thì cưới. Nhận lời xong Tư Chuột sợ “hớ” sợ “thiệt thòi”, thiếu cha gì những cô gái tuổi đôi mươi mơn mởn đang chờ đợi Việt kiều về cưới, cô Xuyến 45 tuổi sắp gìa đến nơi rồi, nhưng được cái cô Xuyến còn trinh trắng, đạo đức đoan trang, cô dậy môn Lý Hóa, cái môn mà ngày xưa đi học Tư Chuột sợ nhất vì dốt môn này nhất, nay mà được làm chồng cô giáo dậy môn Lý Hóa thì cũng oai ra phết. Ông an ủi dù sao cô Xuyến cũng còn trẻ hơn bà Tư Chuột và càng trẻ hơn so với tuổi 62 của ông. Mới tháng trước Tư Chuột vô tiệm phở, tình cờ gặp lại bà hàng xóm cũ một thời ở cùng apartment sau vài năm xa cách, bà ta hớn hở reo lên:

- Ủa, anh Tư Chuột đó hả? Lúc này anh già qúa tôi nhận không ra!

Tư Chuột bực mình vì bị chê gìa nên cũng hớn hở đáp lại:

- Ủa, chị đó hả?, dù chị càng ngày càng gìa, tôi vẫn nhận ra ngay.

******* *********

Tư Chuột về Việt Nam không báo cho thân nhân biết để gây bất ngờ, xách một cái va ly quần áo, gọn nhẹ thênh thang, không như lần trước về Việt Nam với vợ, bà Tư Chuột đã mua sắm và nhồi nhét đủ thứ như quần áo, đồ dùng trong nhà không xài nữa vào mấy cái va ly căng phồng để về làm qùa cho thân nhân.

Ông kêu Taxi về xóm cũ ngay trong thành phố Sài Gòn, người thân nhất của Tư Chuột là một bà mẹ gìa trên 80 tuổi, bệnh nằm liệt giường, Tư Chuột có một người anh và một người em gái ở Việt Nam, nhưng cả hai tranh nhau chết sớm trước mẹ gìa, nên mấy đứa cháu phải trông nom bà nội bà ngoại của chúng, thỉnh thỏang Tư Chuột gởi ít tiền về để chúng lên tinh thần và làm tròn chữ hiếu.

Về tới đầu ngõ, hàng quán xô bồ chật cả lối đi. Một thằng bé chừng 9-10 tuổi, ăn mặc nhếch nhác cầm một xấp vé số chìa ra mời mọc Tư Chuột:

- Ngoại, mua giùm con mấy tấm vé số đi ngoại.

Ai đời Tư Chuột đã tân trang ngoại hình, ăn mặc áo hoa lá cành xanh đỏ, tóc nhuộm màu hung nâu hợp thời trang thế này mà thằng nhỏ vẫn kêu bằng “ngoại”, tức là ông vẫn còn già khú đế như bà hàng xóm hôm nào đã nhận xét, làm Tư Chuột lại một phen bực mình, không thèm trả lời.

Thằng nhỏ vẫn chạy theo và kính cẩn năn nỉ:

- Làm ơn mua giùm con đi, từ sáng tới giờ ế qúa ngoại ơi!

Ông Tư Chuột phải gắt lên:

- Bán ế là phải rồi. Đi chỗ khá mà mời, tao không mua!

Thằng nhỏ ngẩn ngơ, chẳng hiểu vì sao ông khách không mua thì thôi, lại cáu kỉnh đến thế?

***** *****

Cô Xuyến cũng sống ở Saì Gòn, chung với cha mẹ, với vợ chồng thằng em và 3 đứa con của họ, 45 năm sống trong một ngôi nhà là một sự kiên trì bất đắc dĩ, khó ai địch nổi. Những ánh mắt xót xa thương hại của cha mẹ nhìn cô con gái già chưa chồng không làm cô Xuyến đau khổ bằng ánh mắt cay độc của con em dâu, giữa nó và cô chỉ là một sự hòa bình gỉa tạo, nó luôn mong cô lấy chồng, rời khỏi nhà cho khuất mắt, để vợ chồng con cái nó được ở thoải mái và sau này cha mẹ mất đi, sẽ hưởng trọn căn nhà này. Ở cái thời buổi nhà đất lên gía khủng khiếp, ngôi nhà của cha mẹ để lại là niềm mơ ước của bao người, bao anh chị em đã lục đục cãi nhau, giết nhau cũng chỉ vì tranh dành nhà cửa đất đai của cha mẹ, ông bà để lại. Thằng chồng nó, tức em ruột cô Xuyến, dù thương chị, nhưng cũng ngầm trách sự muộn chồng của chị đã là vật cản trong nhà, và cùng lập trường với vợ.

Cô Xuyến nào có sung sướng gì, cô khao khát từng ngày mong có một tấm chồng, những đêm khuya trăn trở, không ngủ, cô mơ một vòng tay đàn ông đụng chạm vào thịt da. Nhìn con em dâu lần lượt mang bầu ba đứa mà cô phát sốt ruột vì ghanh tị, cô tưởng tượng ra nó đã hưởng bao đêm ân ái mặn nồng. Ngay cả cha mẹ cô đã gìa mà còn có đôi có cặp, ông bà chăm sóc, đỡ đần nhau, chỉ một mình cô là lẻ loi, cô độc.

Khi được thím Bông ở Mỹ gọi điện về giới thiệu ông Việt Kiều Tư Chuột, cô Xuyến đã khấp khởi mừng thầm, như kẻ sắp chết đuối bỗng vớ được cái phao, cho nên dù Tư Chuột có gìa, có xấu hay nghèo cỡ nào cô cũng quyết chí bám lấy.

Sau một buổi gặp gỡ và chuyện trò, Tư Chuột và cô Xuyến đều đồng ý tiến tới hôn nhân, chưa có cuộc tình nào tiến triển nhanh đến thế. Mỗi người có một lý lẽ riêng của mình để đến với nhau.

Đám cưới diễn ra tưng bừng, hàng xóm ai cũng mừng cho cô Xuyến đi lấy chồng, huống gì cha mẹ cô và vợ chồng thằng em.

Trong tiệc cưới, chú rể uống rượu như uống nước, rượu vào lời ra, Tư Chuột ăn nói bát nháo, y như những gã bợm nhậu mà cô Xuyến thường nhìn thấy ở những quán xá trong xóm và ném cho họ cái nhìn khinh khi, coi như không cùng đẳng cấp.

Cách đây mấy chục năm, khi cô còn ở lứa tuổi đôi mươi phơi phới, thì cái hạng đàn ông ít học và ăn nhậu quên cả đất trời như Tư Chuột đừng hòng đứng trong danh sách những người đàn ông mơ ước của cô.

Nhưng đêm tân hôn, trong bóng tối, Tư Chuột không còn là ông gìa bợm nhậu luôn tuôn ra những lời lẽ thiếu văn hóa nữa, mà chỉ là một người đàn ông thuần tuý, một gã đói khát vồ vập thân thể cô, như muốn ăn tươi nuốt sống cô và đưa cô bước qua ngưỡng cửa đàn bà một cách tuyệt vời. Ôi, hưởng xong sự đời, cô Xuyến thấy tiếc mấy chục năm ế ẩm, là biết bao đêm vui như thế này.

Sau đêm mặn nồng, cô Xuyến thấy Tư Chuột thật đáng yêu, cô âu yếm chăm sóc Tư Chuột với đầy vẻ biết ơn và đếm từng ngày một, chỉ sợ hết 3 tuần lễ là Tư Chuột phải về Mỹ. Nhưng mới được một tuần thì Tư Chuột sửa soạn va ly để làm cuộc hành trình khác, một người bạn thân nhờ Tư Chuột mang tiền về cho thân nhân ở Cần Thơ, làm xong nhiệm vụ giúp bạn Tư Chuột sẽ quay về ngay. Tư Chuột hứa thế.

Nhưng Tư Chuột chỉ quay về trước một ngày lên máy bay trở về Mỹ vì gia đình người bạn giữ lại chơi và gặp lại những người bạn ngày xưa khi Tư Chuột đi lính, đóng quân ở Cần Thơ. Cô Xuyến biết làm sao hơn trước những lời giải thích ấy?, đành tự an ủi Việt kiều nào về Việt Nam chẳng bận rộn như thế, cô đã là vợ Tư Chuột, sẽ còn sống với nhau cả đời.

Trong bữa cơm giã biệt gia đình có đông đủ các cô dì, chú bác gần xa và đám cháu nhà Tư Chuột, chú rể mới đã tuyên bố kể từ hôm nay trở đi, cô Xuyến là dâu con nhà này, cô sẽ đảm trách phần chăm sóc mẹ chồng, mỗi tháng Tư Chuột sẽ gởi tiền về để nuôi mẹ gìa và vợ trong khi chờ đợi bảo lãnh cô sang Mỹ.

Cô Xuyến cảm động ngất ngây, không ngờ mình vẫn còn tốt số, ở lứa tuổi gái gìa, nhan sắc chẳng bằng chị bằng em mà vẫn lấy được Việt Kiều. Mai này cô sang Mỹ thì con em dâu sẽ biết tay cô, đừng có hòng mà nhận bất cứ món qùa nào của cô gởi về dù chỉ môt xu teng.

******* *****

Đúng như lời hứa, một tháng sau cô Xuyến nhận được 200 đô Tư Chuột từ Mỹ gởi về, mấy đứa cháu gái, mấy bà dì bà thím nhà Tư Chuột nhìn cô ghanh tị. Thói đời là thế, cô chẳng thèm chấp, vẫn cặm cụi đi dậy học và về nhà chăm sóc mẹ chồng, cô đợi khi nào nhận được giấy bảo lãnh của Tư Chuột thì mới xin nghỉ dậy.

Sau vài tháng đầu tiền bạc gởi về đều đặn, thì bặt tăm, không có tiền đã đành mà giấy tờ bảo lãnh cũng chưa thấy đâu. Cô gọi điện thọai sang Mỹ thì Tư Chuột nói đang thất nghiệp, đợi khi nào xin được việc làm khác ổn định mới làm giấy bảo lãnh. Thế là cô Xuyến phải bỏ tiền túi ra, tiền lương dậy học ít ỏi của cô, để nuôi mẹ chồng và nuôi thân, nhưng để giữ thể diện cô vẫn nói với mọi người là tiền của Tư Chuột gởi về và anh ấy đang tiến hành hồ sơ bảo lãnh. Mẹ cô cũng thế, đi đến đâu trong xóm bà cũng đợi dịp để khoe ra cháu nó sắp sửa đi Mỹ, làm họ hàng bên chồng cô Xuyến càng thêm ganh tị.

Cứ như thế, thấm thoát một năm trôi qua thì cô Xuyến không còn kiên nhẫn được nữa, đến khi cô tức tốc gọi phone cho Tư Chuột để hỏi rõ tình trạng này thì Tư Chuột đã đổi số phone tự lúc nào, cô liền gọi cho thím Bông, thì ra thím Bông hồi nào tới giờ đâu biết gì về tông tích Tư Chuột, chỉ quen sơ khi Tư Chuột ra tiệm mua đồ ăn mà thôi, dạo gần đây Tư Chuột cũng biệt tăm, biết đâu mà tìm?

Cô Xuyến hoang mang không biết chuyện gì đã xẩy ra với Tư Chuột? nhưng cô vẫn làm tròn bổn phận dâu con theo lời chồng dặn dò, người chồng Việt kiều tuy ở xa vạn dặm nhưng tai mắt xung quanh cô không thiếu gì, nếu làm mất lòng chồng thì bị chồng “xù” mấy hồi, thiếu gì đám đã dở khóc dở cười như thế.

Có lẽ vì cô tận tuỵ như vậy, nên đám họ hàng bên chồng bỗng thay đổi hẳn thái độ, họ không tỏ ra ghanh tị nữa mà còn thông cảm, ái ngại cho cô. Cho đến một hôm, một cô cháu cầm lòng không nổi mới gọi cô Xuyến lại mà thông báo là Tư Chuột đã bảo lãnh cô vợ trẻ 25 tuổi ở Cần Thơ sang tới Mỹ rồi, cô đừng hi vọng, đợi chờ gì ở Tư Chuột nữa.

Cô Xuyến kinh hòang và choáng váng trước cái tin khủng khiếp này. Thì ra Tư Chuột về Việt Nam cùng một lúc cưới hai ngươì vợ, ông ta lấy cô vì có những ưu điểm: có học, con nhà tử tế đáng tin cậy, nhưng khi về đến Cần Thơ theo lời mai mối của ai đó, thấy cô kia trẻ đẹp hơn, hấp dẫn hơn, nên Tư Chuột đã quyết định bảo lãnh người vợ trẻ như đã từng thèm khát ước ao, và để cô Xuyến ở lại Việt Nam, để có người chăm sóc mẹ gìa và mỗi lần về Việt Nam có sẵn vợ để “xài”. Cô Xuyến đã nghe biết bao chuyện Việt kiều ỷ cái thế của mình, ỷ có tiền đô, về quê hương tha hồ mua bán những cuộc tình.

Những người đàn ông Đài Loan, Hàn Quốc mua rẻ phụ nữ Việt Nam về làm vợ đã là một nỗi đau, nỗi nhục, mà ngay cả Việt kiều, bên cạnh những người nghiêm chỉnh, lương thiện, có không ít người đã đối xử với đàn bà, con gái Việt Nam, với đồng hương, đồng bào của mình cũng thậm tệ không kém.

Việt kiều có quyền lựa chọn, người vợ, người tình, ( phía phụ nữ thì trở thành người nhân aí bao dung, không đòi hỏi kén chọn gì hết) và như một ông chủ khó tính khó nết, nếu các cô sơ xuất không làm Việt kiều hài lòng, thì dọa bỏ, doạ không bảo lãnh, cho họ cái vé đi Mỹ mà cứ làm như ban cho họ cái vé lên thiên đàng.

Trước tình thế trớ trêu này cô Xuyến không che dấu được nữa, cô phải nhịn nhục với gia đình, với bạn bè và hàng xóm để khăn gói trở về ngôi nhà cũ, nơi có cha mẹ, có vợ chồng thằng em và ba đứa con của họ, lại tiếp tục cuộc sống giữa sự thương hại và hậm hực của những người thân của mình không biết đến bao giờ.

Nguyễn thị Thanh Dương

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Hội nghị Người Việt, "Một trò lường gạt trơ trẽn!" Ngày 15-11-2009, giờ 21:27 Cách đây đúng 20 năm, ngày 09-11-1989, Bức tường Berlin ở Đông Đức bị nhân dân phá sập. Biến cố này đã phơi bày tất cả bộ mặt của chế độ cộng sản tại Đông Đức nói riêng và tại các nước Cộng sản toàn cầu nói chung. Đó là một trò lường gạt thô bỉ và vĩ đại, che giấu một bản chất gian dối và bạo tàn, che đậy một xã hội đầy huyết lệ và tội ác, đúng như câu định nghĩa của người
Pháp: “Communisme : sang, fer, misère” (Chủ nghĩa CS là sắt, máu, khốn cùng) và như lời phê phán của Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II (người đã hạ đo ván CS): “Communisme : Mensonge, rien que mensonge!” (Cộng sản chỉ thuần là dối trá, lường gạt). Cuộc kỷ niệm hoành tráng tại thành phố Berlin hôm 09-11-2009 mới rồi, với sự tham dự của nhiều chính khách lỗi lạc từ thế giới dân chủ và khoảng 100.000 người, đã một lần nữa phơi bày dung nhan ghê tởm của chủ nghĩa, chế độ và chính đảng Cộng sản.

Thế nhưng, bên trời châu Á, CSVN vẫn tiếp tục mù quáng và trâng tráo chơi trò lường gạt, đặc biệt đối với đồng bào hải ngoại. Mới đây thôi, từ 18-07 đến 05-08-2009, một sinh hoạt gọi là “Trại hè Việt Nam 2009 dành cho thanh thiếu niên kiều bào với chủ đề “Ngọn đuốc dẫn đường” đã diễn ra với nhiều hoạt động sôi nổi trên 11 tỉnh, thành phố từ Bắc vào Nam”. Điểm nhấn của Trại hè lần này xoay quanh nội dung gọi là “theo dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng Dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới”; đang lúc thật ra đương sự chỉ là một tên gian hùng, tròng ách độc tài lên cả đất nước, đẩy Tổ quốc vào thảm họa đủ mọi mặt, và không hề được UNESCO xưng tụng là danh nhân văn hóa thế giới.

Vài hôm nữa đây, từ 21 đến 23-11-2009, tại Hà Nội sẽ diễn ra cái gọi là “Hội nghị người VN ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ nhất”, do bộ Ngoại giao CS triệu tập, với chủ đề "Vì một cộng đồng đoàn kết vững mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước", có sự tham dự của khoảng 1.500 thành viên gồm hàng lãnh đạo cấp cao của đảng, của bộ máy cai trị CS ở trung ương lẫn địa phương, cùng khoảng 850-900 “đại biểu kiều bào” từ 100 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới (theo thông tin mới nhất). Hội nghị sẽ thảo luận 4 chuyên đề: “Xây dựng cộng đồng người VN ở nước ngoài đoàn kết vững mạnh, thành đạt và hướng về đất nước”, “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc trong cộng đồng người VN ở nước ngoài”, “Chuyên gia, trí thức kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước”, và “Doanh nhân kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước”.

Điểm dối trá lường gạt thứ nhất, đó là danh xưng tiếm đoạt: “đại biểu kiều bào”. Có ai bầu cho những người Việt hải ngoại về nước lần này đâu mà gọi họ là “Ðại biểu”! Ðiều tồi tệ hơn nữa là trong số 850 kẻ mang hiệu danh cao quý này, có đến một nửa là cán bộ nhà nước - tức những nhân viên làm việc cho các tòa đại sứ Hà Nội khắp năm châu - nên số “Việt kiều” thực sự chỉ vào khoảng vài trăm mạng, và hẳn là những kẻ thân với Cộng sản. Cách sắp xếp thành viên tham dự như thế cho thấy nhà cầm quyền VN muốn bảo đảm là sẽ không có sự kiện nào (từ phát biểu, hành động đến quyết định) sẽ diễn ra ngoài ý muốn của họ.

Điểm dối trá lường gạt thứ hai, đó là nội dung 4 chuyên đề thảo luận. Bốn chuyên đề này thật ra đã được trình bày trong Nghị quyết 36 của trung ương đảng CS (ra ngày 26-03-2004). Qua hơn 5 năm thực hiện, bốn điều này đã chẳng đạt được thành quả nào, vì hầu hết đồng bào hải ngoại đều biết tỏng Nghị quyết ấy chỉ là một công cụ nhằm khai thác, khống chế, chia rẽ và lũng đoạn cộng đồng của họ (y như đàn anh Trung cộng đối với Hoa kiều trên thế giới). Thành quả duy nhất của nó là lôi kéo được một số thành phần cần sự yểm trợ về tài chánh của CS để làm ăn ngoài nước hoặc trong nước.

Điểm qua từng mục, trước hết người ta thấy việc “xây dựng cộng đồng người VN ở nước ngoài đoàn kết vững mạnh, thành đạt và hướng về đất nước” là một chuyện bằng thừa. Dù có một số bất đồng về phương pháp và đường lối, đại đa số đồng bào hải ngoại đều đoàn kết trong mục tiêu chống chế độ độc tài độc đảng tại quê nhà, đều thành đạt rực rỡ (nhờ không có CS) với hơn 300 ngàn chuyên gia đủ loại, trong đó có nhiều khuôn mặt làm vẻ vang dân Việt như khoa học gia Dương Nguyệt Ánh và dân biểu Cao Quang Ánh tại Hoa Kỳ, bộ trưởng y tế Philipp Rösler tại Đức, giáo sư Trịnh Xuân Thuận tại Pháp, tân giám mục Nguyễn Mạnh Hiếu tại Canada… Họ đều hướng về đất nước chứ không hướng về đảng CS, vì thế chẳng mấy ai hồi hương để phục vụ dưới cái ách của chế độ. “Ðại đoàn kết dân tộc” chỉ là một chiêu bài lường gạt quá cũ rích, vì cả một lịch sử dài cho thấy đó chỉ có nghĩa là ở dưới trướng của đảng, nằm trong tay nhà nước, để giúp cho chế độ tồn tại, với mối nguy thường trực “bị vắt chanh bỏ vỏ”!

Thứ đến, “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc trong cộng đồng người VN ở nước ngoài” là việc mà đồng bào hải ngoại đã làm từ lâu và làm rất tốt. Những lễ hội truyền thống, những dạng hình nghệ thuật (cổ và kim), những tác phẩm văn hóa (thơ văn, ca nhạc, sử địa…), các lớp học Việt ngữ đã được các cộng đồng người Việt khắp nơi trân trọng giữ gìn và phát triển. Đang khi đó thì tại VN, kể từ 1954 đến nay, biết bao giá trị văn hóa đã bị thủ tiêu (điển hình qua cuộc Cải cách nông nghiệp, cuộc Tấn công Mậu Thân), bao công trình văn hóa bị phá bỏ (hàng vạn ngôi chùa với di sản vô giá từ thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn, mới nhất là vụ xóa sổ di tích Hoàng thành Thăng Long và đền thờ Lý Chiêu Hoàng), bao ý nghĩa văn hóa bị bóp méo (thờ tên đồ tể Hồ Chí Minh bên cạnh các giáo tổ và anh hùng dân tộc, tạo ra quái thai “Văn hóa đảng”, công nhận “làng văn hóa” là làng không có phản đối những bất công của cường quyền…). Đặc biệt cái nôi của văn hóa cho mỗi người là trường học thì bị băng hoại vì giả dối và bạo hành, vì tham nhũng và bóc lột, vì đầu độc và ngu dân.

Việc kêu gọi “chuyên gia, trí thức kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước” cũng là một trò lường gạt quá cũ. Ai mà không nhớ tới kinh nghiệm đau thương của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, Tiến sĩ Trần Ðức Thảo, Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện… Sau khi lấy 2 bằng tiến sĩ lúc mới 23 tuổi tại Pháp, luật sư Trường trở về nước hành nghề, sau đó theo “cách mạng”. Năm 1956, vì viết bài phê bình những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, ông đã bị tước hết mọi công việc, quyền lợi, phải sống như kẻ bị khai trừ, lây lất nghèo đói cho tới chết. Tiến sĩ triết học Trần Ðức Thảo, khi rời nước Pháp năm 1951 để trở về Bắc Việt tham gia kháng chiến, thì đã thấy ngay cái học của mình bị Hồ Chí Minh khinh khi bằng cách chỉ giao cho dịch các truyền đơn sang Pháp ngữ. Năm 1956,vì có viết một bài về vấn đề phát triển tự do dân chủ cho nhóm Nhân văn Giai phẩm nên ông bị kết tội là phần tử phản động. Bị tước mọi phương tiện sống, Tiến sĩ Thảo trở thành một kẻ ăn mày lang thang. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, sau một đời cung cúc phục vụ CS kể từ khi về nước năm 1963, cuối cùng thì đã bị khai trừ vì tội viết “Thất trảm sớ” gởi Quốc hội CS….

Còn các “Doanh nhân kiều bào [muốn] góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước” thì hãy nhớ tới gương ông Nguyễn Trung Trực, Việt kiều Úc về đầu tư ngành ngân hàng, bảo hiểm, bị sạch túi; ông Trịnh Vĩnh Bình, Việt kiều Hòa Lan về đầu tư ngành dầu hỏa không những bị tước lột mà còn bị tù đày; ông Nguyễn Gia Thiều, Việt kiều Pháp (chồng hoa hậu Hà Kiều Anh) về đầu tư ngành viễn thông cũng bị tán gia bại sản và tù tội; ông Nguyễn An Trung, Việt kiều Nhật, về VN làm giám đốc Công ty Sài Gòn Ôtô rồi lâm vòng lao lý; ông Nguyễn Đình Hoan, Việt kiều Mỹ, về đầu tư giáo dục, chẳng những mất hết của cải mà còn bị tù, bị vu khống, bị cấm rời VN, bị Công an làm tình làm tội… Họ cũng chớ quên vụ cò mồi Trần Trường, Việt gian tay sai cho Việt Cộng ở Mỹ, về đầu tư đào ao nuôi cá, rồi cũng bị khốn đốn và vặt trụi; vụ ông Đỗ Thành Công, Việt kiều Mỹ, về thăm gia đình ở Phan Thiết, bị Công an bắt giam, chụp mũ là khủng bố, bị kết tội bịa đặt là âm mưu đánh phá Toà đại sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội….

Điểm dối trá lường gạt thứ ba, đó là Cộng sản còn gọi Hội nghị này là “Hội nghị về nguồn”, cụ thể hóa “chính sách trở về cội nguồn của người VN ở nước ngoài”, trên “tinh thần hòa hợp, đại đoàn kết dân tộc cùng hướng về nguồn cội”. Nguồn cội của con Hồng cháu Lạc đúng là Đất Mẹ VN, nhưng tuyệt nhiên khó có thể hướng về khi Đất Mẹ bị cai trị bởi một chế độ sai trái về phương diện chính trị và đạo đức. Không thể “về nguồn” theo nghĩa chấp nhận làm nạn nhân của một tập đoàn chuyên phản bội, chấp nhận làm tay sai cho giai cấp tư bản đỏ, chấp nhận làm tôi trung phục vụ đảng CS, nếu không sẽ đi vào con đường máu và nước mắt như tu đoàn Bát Nhã hiện thời. Không thể “về nguồn” khi CSVN ngày càng hiện nguyên hình là một tổ chức hoạt động không giấy phép, dùng bạo lực để cưỡng chiếm tài sản của toàn dân, phạm 4 tội ác cơ bản: tội thành lập một chế độ cai trị bất chính; tội tổ chức việc tham ô ngày càng tinh vi, lộ liễu và trắng trợn; tội đem giang sơn Tổ quốc bán cho lân bang, vừa để trả nợ chiến phí, vừa để được bảo vệ ngai vàng; tội phát triển các tệ đoan xã hội nhằm làm cho quần chúng, nhất là giới trẻ, ham mê trác táng, để nhân dân phần nào giảm đi cường độ chống bạo quyền (theo Đỗ Thái Nhiên, Về nguồn hay về hùa?).

Nếu tập đoàn lãnh đạo Cộng sản thực tâm đặt quyền lợi tổ quốc trên quyền lợi đảng phái thì trước khi tổ chức Hội nghị Người Việt, họ phải làm những việc sau đây: 1- phóng thích lập tức và vô điều kiện các tù nhân chính trị, 2- chấp nhận một xã hội đa đảng, đa nguyên, 3- cho phép báo chí tư nhân được xuất bản, 4- mời các nhân vật bất đồng chính kiến trong lẫn ngoài nước tham dự Hội nghị. Bằng không thì dù có tổ chức hàng chục Hội nghị như thế, CS cũng chẳng lừa gạt được ai, ngoại trừ những kẻ muốn về VN để chung tay bóc lột đồng bào.


Trích nguồn :" Tập chí Ngôn Luận.de"

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Tạp ghi Tháng Một, Hỏi thế có buồn không!
Hoàng Lan Chi
(Gửi về em, Lê Xuân Trường)
Mùa thu đã về thật rồi đó em. Nhớ ngày nào em hỏi tôi “Bên chị, thu đã về chưa?”. Lúc ấy mới tháng Tám và chưa phải là Thu. Tháng Mười, thu rực rỡ biết bao em ơi. Những cây phong đổi mầu và dưới ánh nắng, mầu lá phong vàng đỏ rực rỡ như dát vàng. Cứ mỗi độ thu về tôi luôn ngẩn ngơ khi lang thang đường phố. Cảnh đẹp như tranh vẽ.

Em còn nhớ Thu Phong của Tản Đà không?

Trận gió thu phong rụng lá vàng
Lá từ hàng xóm lá bay sang
Vàng bay mấy lá năm già nửa
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng

Tôi thích bài thơ ấy lắm. Vì “vàng bay mấy lá” rồi “ hờ hững ai xui..” Chả hiểu học sinh trung học bây giờ còn thưởng thức được những áng thơ đó không nhỉ?

Hình ảnh mùa thu lãng mạn và đẹp chỉ là hiện thực khi tôi bước vào tuổi lá vàng của cuộc đời. Tôi dẫm chân trên thảm lá vàng, tôi nhìn mầu lá phong đỏ. Chỉ mình tôi. Niềm ao ước đi dạo trong rừng phong với một người yêu dấu chưa bao giờ có. Và tôi viết Thu Phong:

Thu Phong
(Mượn ý thơ Tản Đà)

Trận gió thu phong rụng lá vàng
Lá rơi đường phố lối em sang
Vàng bay theo áo lùa chân guốc
Nắng hạ vì em, đã úa tàn
Trận gió thu phong rụng lá hồng
Lá rơi e ấp vướng ngoài song
Hồng bay theo má cô dâu mới
Tháng chạp vì em, chẳng dám đông
Trận gió thu phong khéo phũ phàng
Em con đò nhỏ mới sang ngang
Vầng khăn chinh phụ buồn ngơ ngác
Xuân chẳng vì em, hớn hở sang ..
Hoàng Lan Chi

Em biết tôi thích câu gì không? “Vàng bay theo áo lùa chân guốc!” Là lá vàng theo gió thu lùa chân guốc. Là tưởng tượng thế thôi chứ xứ Mỹ này ai đi guốc. Nhưng em ơi, cứ tưởng tượng một tà áo trắng nhé, một tóc thề ngang vai nhé, một guốc mộc rộn ràng nhé và lá phong bay bay theo tà áo lùa gót sen hồng. Đẹp quá phải không em? Nếu tôi là đàn ông, tôi yêu nàng ngay. Nếu tôi là nhạc sĩ, tôi viết nhạc cho nàng ngay!

Tháng Mười, cũng là sinh nhật tôi đấy em. Nhớ thuở sinh viên, anh bạn cùng chung thực tập sinh hóa nói rằng “Lan Chi sinh tháng Mười phải không”. Ngày đó tôi khờ khạo biết mấy, không biết là chàng ta đã xem ngày sinh của tôi ở phiếu thực tập và tôi đã tròn xoe mắt biếc “Sao anh biết” “Nhìn là biết” “Sao biết cơ” “Những người sinh tháng Mười hay khóc lắm. Mắt Lan Chi là mắt hay khóc!” Tôi đã tin anh bạn vì chính mình cũng hay khóc.

Tháng Mười năm nay cũng khóc. Khóc vì gia đình tan tác, khóc vì ngày về xa xôi quá và khóc vì sự phản bội của vài người.

Tháng Mười Sài Gòn đã bớt những cơn mưa hạ, đã có những chiều gió lộng để chong chóng xoay tròn bay bay hè phố. Tháng Mười thỉnh thoảng có chút se lạnh. Tôi vẫn hoài niệm về những ngày tháng cũ. Hoài niệm và mong ngày về. Nhưng với tình thế hiện nay thì bao giờ tôi về được? Trong nỗi đau về một ngày về xa xôi lắm, nỗi căm hờn tôi trút lên những kẻ bội phản. Sự căm thù đã hòa nhập vào máu xương như thẩm thấu và đã phát tiết thật nhanh. Tôi viết những bài bén nhọn, chỉ thẳng vào kẻ gian tà. Tôi không hiểu từ đâu tôi có năng lực, năng lượng và cả nhiệt huyết ấy!

Một anh bạn nói rằng xem những bài ký tên Lan Chi thì nhẹ nhàng, lãng mạn biết mấy và những bài ký tên TDL thì anh không tưởng được đó là cùng một người.

Tôi nhớ một người bạn cũ. Ba mươi năm, anh nhận ra tôi, cô bạn xưa “vì giọng văn nhẹ nhàng ấy”. Tôi nhớ một người bạn mới, anh viết thật dễ thương “Cám ơn chị Lan Chi về bài sáng nay. Tách cà phê thật ngon và văn chị lúc nào cũng nhẹ nhàng.” Thế nhưng hỡi ôi, tháng Mười năm nay, tôi không viết được gì nhẹ nhàng mà chỉ là những uất hận. Tôi nhớ “Chùm nho uất hận” mà tôi đọc đã lâu. Uất hận, thật chính xác để diễn tả tâm trạng tôi của những ngày tháng Mười năm nay.

Nếu thiếu vắng giọng văn nhẹ nhàng gợi những ngày tháng cũ thì với giọng văn mới, tôi có những chia sẻ mới. Những người chia sẻ ấy tôi không ngạc nhiên vì họ đã và đang là như thế. Duy chỉ mình em làm tôi ngạc nhiên. Đọc bài tôi viết của tháng Mười và em gửi đến tôi những tâm tình tháng Tư của em. “Em mới về. Trong đống mail ngập tràn, em đọc chị trước. Gửi đến chị bài em viết. Như là chút nhỏ nhoi chia cùng chị”. Em viết thế. Tôi say mê đọc ngay.

Để hôm nay, những ngày đầu tháng Một, cứ coi như cuối tháng Mười, tôi gửi tâm tình của em, có thể coi là một người tương đối trẻ bây giờ, rất trẻ khi đến vùng đất mới, nhưng suy nghĩ không hề trẻ. Uớc mong tâm tình em sẽ đánh động chút lương tâm còn sót lại của những người đang trôi vực thẳm chỉ vì những cái rất “thường” nhưng sức quyến rũ lại gớm ghê: Danh, Lợi.

Tôi vẫn yêu lắm, nhạc phẩm đầu tay em viết khi ở trại tị nạn. “Hỏi thế có buồn không” !

Em ơi, những con người cũng đi tìm tự do, và sau khi có tự do, hưởng tự do, thì họ bóp nghẹt tự do của đồng hương và của cả đồng bào còn trong vòng kiềm tỏa. Hỏi thế có buồn không hả em?

muoiot
Posts: 100
Joined: Sat Sep 19, 2009 6:52 pm

Post by muoiot »

Image

Cấm Đái Bậy!
Có nhiều chuyện xẩy ra trong đời sống một cách tự nhiên; chẳng hạn như đi ngủ và đi… tiểu. Các chuyện được xem là tự nhiên sẽ không còn gì là tự nhiên nữa nếu chúng ta bắt buộc phải quan tâm đến nó. Hơn thế, vấn đề bài tiết của cơ thể thật tình không có gì hấp hẫn, thú vị để đề cập đến; nhưng để “tự nhiên” cho đến mức độ mà cả xóm, cả thành phố, cả nước hôi mùi… nước đái thì vấn đề “nặng mùi” này phải là một phần trách nhiệm của từng công dân, của người lãnh đạo, của người vẽ, hoạch định chính sách của nhà nước - một vấn đề to tát của quốc gia chứ không phải chỉ riêng gì chuyện đại hội đảng, bầu cử quốc hội, tổng thống, chủ tịch nhà nước… chuyện chống lạm phát kinh tế… chuyện chống tham nhũng…!!
Image Từ thuở hoang sơ, dân số còn ít và con người còn sống raỉ rác thì “tiểu đồng” không bao giờ là vấn đề. Thực ra, vào thời xưa, vì phương tiện để gỉai trí còn rất thiếu thốn, thì tiểu đồng là một cái thú thật thuận tiện và không tốn kém của nhân lọai. Còn gì thích thú cho bằng vừa đứng xả bầu tâm sự giữa ánh nắng ban ngày vừa nghe chim hót và tiếng gió thổi rì rào chung quanh. Có lẽ thời nay chỉ có “ngồi cầu cá dồ” là có thể tạm so sánh được với “tiểu đồng” thôi! Nhưng mà hôm nay, thế kỷ 21 rồi, con người sống chen chúc nhau trong các thành phố đông người, thiên nhiên không thể nào bao dung rộng lượng với con người như lúc xưa nữa. Vấn đề đái đường, tường, gốc cây, góc phố, góc kẹt… phải cần xét lại. Ngòai lý do dơ bẩn, nguồn gốc của nhiều bệnh tật… nó, một mặt, tè lên danh dự của dân tộc khi du khách ngọai quốc nhìn thấy… mặt khác nó cũng là dấu hiệu gián tiếp bảo họ (du khách) “đừng nên trở lại đây nữa nhé!” Buồn chưa?

Trước hết hãy nói về người đái bậy. Đã có người tranh luận là “À! Nếu mót quá mà không có nhà vệ sinh công cộng nào ở gần thì làm sao bây giờ?” Nhưng phải thành thực công nhận là trong số người hay đái bậy, đại đa số là đàn ông! Tại sao vậy? Có phải là các bà nín giỏi hơn các ông? Các “chuyên gia” về “đái đường” không đồng ý như vậy. Họ nói là các bà không “cẩu thả,” “lười biếng” và “vô trách nhiệm” như các ông(?) Các bà không hay uống rượu (bia), cà phê, trà… đại lọai những thứ làm cho bàng quang đầy tràn bình mau hơn. Ngòai ra, vì lẽ việc thải nước thừa trong người ra ngòai, các bà thường phải cần có nhiều thời giờ hơn, phải cần chỗ kín đáo hơn. Họ không thể đứng tô hô giữa thiên thanh bạch nhật rồi “hit and run” như đàn ông cho nên họ phải cẩn thận hơn. Các bà chỉ đi chợ, shopping… những nơi mà họ biết có nhà vệ sinh công cộng có thể dùng được… trong khi các ông lại ít quan tâm đến các yếu tố lặt vặt mà rất cần thiết này. Vậy đề nghị các bác trai nên bỏ bớt chút ít thời giờ nhậu nhẹc để học cái “bí quyết thần kỳ” này của các bác gái xem sao!

Bây giờ nói rộng hơn về vai trò “dân trí” và “văn minh” của dân tộc (dĩ nhiên là cũng trong vấn đề đái bậy!) Có rất nhiều người, trong đó có cả nguyên thủ của các quốc gia như Nam Dương, Đài Loan, Đại Hàn… đã từng tuyên bố nhiều lần đại khái là:

“Nếu muốn xét trình độ văn minh của một dân tộc xem nó đến mức độ nào thì chỉ việc nhìn vào nhà vệ sinh công cộng của họ là đủ!”

(The public toilet is to reflect the civilization index of each country. It also reveals the country’s civilization level and quality of life).

Ngạn ngữ Nhật bản có câu:

“Nhà vệ sinh (buồng tắm) là một phần của đời sống. Chỉ nhìn vào buồng tắm của một gia đình là biết rõ gia đình đó như thế nào?”

(Họ có sống ngăn nắp không? có chăm sóc nhà cửa con cái của họ thích đáng không?)

Nếu có lời nói nào đơn giản và dễ hiểu hơn về vấn đề văn minh của dân tộc thì xin các bác làm ơn mách dùm cho cháu biết với? Người Nhật quan niệm đúng theo cái nghĩa “tề gia trị quốc” của dân Á châu chịu ảnh hưởng Khổng Mạnh. Đúng vậy! Nhà ở mà giống như đống rác thì ra ngòai đái đường có gì mà phải ngạc nhiên?

Vì vấn đề cắt giảm ngân sách, giảm chi phí cho tiện nghi công cộng, nhiều thành phố hoa lệ nổi tiếng trước kia như Paris, New York…, nay rất nhiều du khách đã phải lớn tiếng than vãn về “mùi nước đái” (New York’s subway systems và các đường hẻm - alleys…) và “phân chó.” (Paris ngòai vấn đề thiếu nhà vệ sinh công cộng còn bị 200 ngàn con chó tự do sản xuất 160 tấn phân mỗi ngày trên đường đi mà chính quyền thành phố không đủ nhân lực, phương tiện để dọn dẹp!).
Image Dầu có che mắt hay bịt mũi, cũng phải công nhận rằng: Có sẵn phương tiện và khả năng xây dựng lên các nhà vệ sinh công cộng đã là một chuyện đại sự rồi; phải giữ gìn bảo trì chúng cho sạch sẽ ở mức độ chấp nhận được đòi hỏi ngân sách to lớn và sự ý thức, sự tham gia, sự giáo dục, sự thành tâm hợp tác giữa chính phủ và quần chúng… Kích thước của vấn đề này chỉ nghĩ đến thôi cũng có thể bí đái rồi… nói chi đến chuyện thi hành…

Bây giờ nói về đất nước Việt Nam độc lập tự do hạnh phúc của mình. Nhà cháu xin nói rõ đây không phải là vấn đề vạch áo cho người xem lưng, hay bôi xấu dân tộc mà là bảo nhỏ với nhau bằng tiếng Việt đàng hòang! Đã có nhiều bác quá khích hấp tấp (nếu chưa nói là vô phép) văng tục một cách vô trật tự là “Việt Nam với 4000 văn hiến đâu chẳng thấy mà chỉ thấy 4000 năm đái đường!” Nhà cháu xin nhờ các bác nóng tính này một tí! Nhìn qua các chương trình đã và đang thực hiện trong thời buổi “đổi mới,” chúng ta thấy các khách sạn 5 sao, dinh thự “hòanh tráng” của các tay nhà giầu mới (mặc dù lương căn bản mỗi tháng của nhiều người chủ của cơ sở này không quá 200 đô la?), tượng đài hùng vĩ (kể cà công trình xây “lăng tẩm” cho người chết ở thế kỷ 21!) mọc lên như nấm… nhưng lại thấy thiếu bóng các xây dựng khiêm nhường, nhỏ bé nhưng cần thiết hơn nhiều. Đó là: “nhà xí công cộng.” Cứ tưởng tượng quang cảnh tương tự như là trong việc thi hành đường lối “đổi mới,” Việt Nam đã xây dựng rất nhiều ngôi nhà (bằng tiền thiếu vệ sinh!?) to lớn nhưng không hiểu đầu óc của giới lãnh đạo “định hướng” thế nào mà quên không cho vào “bàn cầu” một cái lỗ!!! Thiệt là chuyện “văng vãi tùm lum!” Việt Nam đã có cách mạng (có nghĩa là thay đổi tất cả những cái cũ) vô sản vinh quang “thành công” rồi; nay lại muốn thay đổi tòan diện (“đổi mới”) thì chỉ có cách “đổi thành cũ” mới đúng chứ! Chữ với nghĩa rõ chán! “Nói xuôi cũng được, nói ngược cũng hay!” “Nói đi cũng phải, nói lại cũng dễ nghe!”
Image Tại các thành phố lớn, số bảng “Cấm Đái,” nếu các bác rảnh hơi chịu khó đếm ra cho có con số chính xác, còn thấy nhiều hơn cả các bảng, băng “rôn” (biểu ngữ) ca ngợi sự lãnh đạo sáng suốt của Bác và Đảng. Các bảng lọai này nhiều đến mức độ làm cho du khách ngọai quốc phải hiểu lầm như trong trường hợp có thật đã xẩy ra cười ra nước mắt như sau:

Một du khách tây phương hỏi anh hướng dẫn viên du lịch (tour guide) ở Việt Nam:

- “Tôi đã đến Việt Nam nhiều lần. Ở Việt Nam có hai vịnh (“bay”) rất nổi tiếng mà tôi đã đi thăm. Đó là: "Ha Long Bay" và "Cam Ranh Bay." Nhưng còn một vịnh tôi thấy quảng cáo rất nhiều, ở trên tường, cây đại thụ bên đường, trong hẻm. Mà nó nằm ở đâu vậy? Anh có thể dẫn chúng tôi đi thăm được không?”

Anh hướng dẫn viên vội hỏi:
- “Xin ông cho biết tên của cái vịnh đó là gì?”
Ông khách chỉ lên bức tường bên đường rồi bập bẹ đánh vần:
- “CAM DAI BAY!”

Chỉ đọc cho qua nội dung của các bảng “cấm đái” đã đủ hiểu sự phong phú của tiếng Việt mình đến mức nào. Các bảng “cấm đái” có nhiều lời lẽ dài ngắn với cường độ khác nhau: từ lịch sự năn nỉ sự thông cảm như “Xin đừng đái nơi đây;” cho đến các lời cấm khô khan “Cấm Đái;” “Cấm không được đái;” cho đến lời đe dọa nặng nề có kèm theo cả các biện pháp chế tài (tưởng tượng) như “Cấm tuyệt đối không được đái. Vi phạm sẽ bi phạt nặng.” Dưới hàng chữ hăm dọa “phạt nặng” này lại ghi rõ tên các cơ sở có đầy đủ thẩm quyển như “Công an Phường…” Lời hăm dọa chế tài đôi khi còn được cho thêm “ấn tượng” với hình vẽ một con dao mà phần cạnh bén được sơn màu đỏ, có các giọt sơn đỏ (xem như) còn ướt nhỏ xuống giống như dao vừa mới được “làm việc” xong! Thực tế rất phũ phàng các bác ạ. Tất cả các bảng “cấm đái” đều hòan tòan vô dụng bởi vì không hề thấy có bóng dáng công an cảnh sát nào ở gần đó để các làm các bác muốn đái bậy phải sợ. Công an còn đang bận “làm việc” gì đó mà họ xem là quan trọng hơn chuyện đái bậy. Phải lấy làm lạ là ở Việt Nam công an có thừa thời giờ “bịt mồm” dân mà lại không có thời giờ “bịt chim” của dân cho bỏ cái tật đái bậy!? Đây là chưa kể chính ngay công an cũng thường ra đái ở đây mới chết chứ!!! Óai oăm ở chỗ là các lọai bảng “cấm” này hình như có ảnh hưởng ngược lại (“reverse effect!”). Nó có sức lôi cuốn và nhắc nhở mọi người rằng ở đây “đái đươc không cấm” (các bác thử đọc ngược từng chữ một của câu “cấm không được đái” từ phải qua trái xem sao?!)
Image Quang cảnh “đái đường” mới thật là một bản bi hài kịch dài không bao giờ hạ màn. Lần về thăm lại Sài gòn gần đây, nhà cháu chứng kiến cảnh một thanh niên ăn mặc khá bảnh bao, áo bỏ trong quần hẳn hoi, cầm tay đào đi dung dăng dung dẻ trên hè phố rất mùi mẫn. Bổng nhiên anh ta quay qua nói với cô bồ câu gì đó (nhà cháu đóan non đoán già là “Anh mắc… quá! Chờ chút xíu để anh…”). Thế là anh ta để cô đào đứng tuỗn ra ở bên lề đường; anh ta quay buớc vào bức tường gần đó rồi thong thả xả bình tự nhiên như con “kiki” của nhà cháu lúc nó buồn tình đi vòng vòng “marking territory” chơi chung quanh xóm vậy. Sau khi đóng nút quần xong xuôi, anh chàng ta đi trở ra cầm tay đào (yuck!) và dung dăng dung dẻ tiếp như không có chuyện gì xẩy ra! Hãi thật! Sao có thể như vậy được! Phải có người nào ở chung quanh đó nói lên một tiếng chứ! Hay ít nhất cô đào thơ mộng của anh ta dù không tiện nói cái gì nhưng cũng nên tạm thời không cho anh kép đẹp giai này cầm tay chứ! Trong một dịp khác được bạn bè chở ra Bình Triệu (ở ngọai ô Sàigòn) để ăn nhậu, nhà cháu thấy có một ông vào tuổi sồn sồn có vẻ bệ vệ của một đại gia (?) mặc “vét tông” lái xe ô tô rất “xịn,” đột ngột dừng xe lại bên lề đường, một tay vạch quần đái vào tường tỉnh bơ con sáo sậu; trong khi tay kia vẫn đang cầm điện thọai di động và miệng thì vẫn đang bi bô ra chỉ thị (qua điện thọai) cứ như đang “làm việc” ở văn phòng riêng!!! Việt Nam vào thời kỳ “đổi mới” có khác! Cũng còn may là các thành phố ở Việt Nam không có mùi phân chó; bởi vì chó không đủ cung cấp cho các tiệm nhậu. Dân nhậu nhìn thấy chó còn sống đi ngang qua mặt là đã thấy chẩy nước miếng rồi. Lấy đâu ra chó sút chuồng đi rong đái bậy, “marking territories?” Nếu có đi nữa thì đây là lọai chó chán sống; chỉ tổ bị hàng xóm lén đập đầu bắt cóc nấu rượu mận “chui” ngay tức thì! Thiệt tình, vào thời buổi “đổi mới,” “kinh tế thị trường,” “định hướng xã hội chủ nghĩa” chỉ thấy có cán bộ và đảng viên CS là sống phè phỡn. Còn lại, đến chó cũng phải hồi hộp khó sống, nói chi đến thường dân khố rách áo ôm!

Dân số Việt Nam càng lúc càng tăng nhanh, vấn đề đái bậy mỗi ngày sẽ càng trầm trọng hơn. Xin các bác các thím có thẩm quyền, có quyền cao chức rộng ở Việt Nam hãy ra lệnh cho tạm giảm bớt các chương trình hoa mỹ tuyển lựa “ca sĩ,” “hoa hậu…,” “kỷ niệm chiến thắng…” giảm xây cất (hay đập bỏ bớt đi!) các tượng đài kỷ niệm vô tích sự hao tổn công qũy và bắt đầu quan tâm hơn đến các vấn đề thực tế sát với đời sống hàng ngày của dân ngu khu đen như đái đường, xả rác, cống rãnh, giao thông “ùn tắc…” Nếu không bắt đầu từ bây giờ thì đợi đến lúc nào? Không lẽ các bác lãnh đạo đợi dịp để bán cái cho Việt kiều yêu nước hay con cháu của các bác học tốt nghiệp xong từ các đại học ở Mỹ, Úc, Pháp…

Tóm lại, “nhà xí công cộng” thực sự là cái thuớc để đo sự trưởng thành của một dân tộc. Dân chúng không cần các tượng đài hùng vĩ mà cần các nhà vệ sinh công cộng sạch sẽ chẳng riêng cho người bình thường mà cả trẻ em, người già và ngưới tàn tật cũng có thể xử dụng được. Ở đó nhân viên của nhà vệ sinh được dùng không phải là để ngồi trước cửa thâu tiền; mà lo dọn dẹp cho sạch sẽ bên trong. Hay là nhà cháu mạo muội đề nghị là nhà nước ta nên xúc tiến ngay một chương trình xây cất hàng lọat các nhà xí công cộng miển phí trong nước đồng thời người dân nào đến sử dụng (thay vì phải đi đái đường) còn được phát một món quà nhỏ tượng trưng - chẳng hạn như được tặng miễn phí một ổ bánh mì thịt sau mỗi lần thăm viếng! Nếu đất nước đạt được cái “chỉ tiêu” đó thì thiên đường chắc cũng chỉ đến thế thôi!

Trần Văn Giang

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Khổ như vợ ông nhậu! Nhiều bà vợ luôn mang nỗi thắc mắc: “Tại sao đàn ông thích nhậu hơn thích... vợ?”. Lời giải đáp từ chính các ông chồng bợm nhậu dưới đây có thể giúp các bà hiểu thêm “đối phương” để có chiêu đối phó.

Đàn bà thích “tám” thì đàn ông cũng thích “tọa đàm” đến mức phải gặp nhau thường xuyên ở ngoài quán nhậu. Chỉ khác nhau là các ông không có đề tài nhất định để phát biểu. Để giúp các ông nhận diện được hành vi của mình, chúng tôi thực hiện một cuộc khảo sát với 100 ông nhậu tại các quán trong địa bàn quận 3, quận 1 để ra một kết quả... không lạ lắm nhưng là chuyện mà các bà “khó hình dung”.

35% các ông cho rằng đi nhậu không có gì vui hết, vì phải giao tiếp, xã giao, để thuận lợi trong đường làm ăn. Nhậu khiến mỏi miệng vì nói nhiều, ăn và uống nhiều. Nhiều ông còn thuê người nhậu để đỡ cạn sức. Nhưng điều làm các ông đau khổ hơn cả là bà vợ không hề có đức tin vào ông chồng, luôn khẳng định các ông đổ thừa, lấy cớ làm ăn để hưởng thụ cuộc đời. Nhiều bà đi tận nơi chồng nhậu để thăm dò có em út “vớ vẩn” phục vụ không. Nhưng không vì thế mà các ông bớt nhậu. Ngoài chuyện làm ăn, các ông còn có thêm lý do: đằng nào bà vợ cũng nghĩ mình ham vui thì ham vui luôn, cho đỡ bị... nghi oan.

25% các ông nhậu theo quán tính. Riết rồi quen, đến lúc chẳng có làm ăn gì cũng ới nhau đi nhậu. Sau giờ làm việc, các ông phải ngồi bờ kè lai rai cho đến khi đường vắng hoe, mới về nhà. Với các đối tượng này, nạn kẹt xe là đồng minh che chắn cho hành vi nhậu, để các ông về nhà trễ một cách đàng hoàng.

Tuy nhiên, các bà vợ cũng không phải lúc nào cũng nhẹ dạ, hơn nữa nhậu không bao giờ giấu được chứng cứ, vốn biểu hiện rành rành trên “mặt tiền” của các ông nên mới ra chuyện. Các bà vợ bắt đầu cằn nhằn, và từ đây, các ông đi nhậu để trốn... bão. Đáng chú ý là có 23% các ông đi nhậu để... giải sầu mà nỗi sầu này chủ yếu do bà vợ tạo ra.

Thật ra, các ông cũng không hiểu bà vợ muốn gì. Chỉ biết càng nhậu các ông càng sầu, và càng không hiểu bà vợ sao cứ thấy mặt chồng, như thấy... quỷ sứ. Thay vì ở nhà, để tìm cách hiểu bà xã, thì các ông lại đi nhậu để quên... đời.

Điều mà các bà vợ khó hình dung nhất là 18% các ông đi nhậu để... tăng cường khả năng hùng biện, nhằm mục tiêu tranh luận với bà xã bởi ở nhà các ông không có cơ hội chiến thắng trong các cuộc khẩu chiến. Các đối tượng này yêu thích không khí chiến hữu tụ tập, ở đó ai cũng được quyền nhậu và được quyền... nói, không có ai bị bắt buộc phải lắng nghe. Điều này hoàn toàn khác với không khí ở nhà: bà vợ đã mở đài phát thanh thì ông chồng ít có “sóng” để truyền. Các ông nhậu ở nhóm này mong đợi bà vợ nói ít đi, nói ngắn đi...

Bao giờ các ông cũng về đến nhà lúc đã buồn ngủ díp mắt, các bà vợ cũng vẫn theo hỏi “Đi đâu bây giờ mới về?”, không có câu nào mới hơn dù thừa biết ông chồng đi nhậu. Từ đây các ông suy ra: phụ nữ không có khả năng quan sát và nhận biết tình hình đang diễn ra.

Tuy nhiên, các ông trong tỷ lệ phần trăm này không đạt được mục đích đã đề ra ban đầu... “nhậu để tăng khả năng hùng biện”. Bởi lúc các bà vợ cần bàn luận với chồng về các chủ đề nuôi dạy con, thu chi, quan hệ hai bên gia đình... thì các ông cũng vẫn ừ à: “tùy em thôi”.

Vài phần trăm còn lại không có ý kiến, vì đã “quắc cần câu” rồi..

Trong các cuộc tọa đàm về bạo lực gia đình, chân dung của nhiều ông nhậu được vẽ ra như một lời giải đáp cho phần nguyên nhân trực tiếp. Thế nhưng, đến lúc cần tọa đàm để đưa ra giải pháp, cũng chỉ thấy toàn đàn bà đến kể khổ, kêu trời...: “Thì ổng nhậu vô, ổng mới quýnh tui, chứ bình thường ổng hiền khô, nên làm sao tui nỡ ly dị. Có ông không đánh, nhưng nhậu vào, lời ra, mắng chửi vợ con. Có ông im im, vợ hỏi gì cũng không nói (xỉn rồi, làm sao nói) làm bà vợ lo lắng, mất ngủ, tinh thần bị thương tổn không thua kém bà vợ bị chồng quát mắng.

Có bà còn e dè mãi mới thỏ thẻ chuyện nhạy cảm: “Ổng mà nhậu vô, hay đòi hỏi lung tung, không để ý gì đến chỉ số ham muốn của tui”. Túm lại, các ông nhậu có khả năng bạo lực bà xã tất cả các hình thức: thể xác, tâm hồn, tình dục... Bạo lực thì bị lên án vậy mà nguyên nhân của “hắn” lại cứ ngoài vùng kiểm soát, chịu nổi không!

PHƯ CHU

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Các nhà ly khai TQ thất vọng
sau chuyến viếng thăm của tổng thống Obama



Theo giới quan sát, chính quyền Bắc Kinh đã không trả tự do cho một nhà ly khai Trung Quốc nào nhân chuyến viếng thăm của ông Obama. Điều này không giống như trước đây, khi các vị tổng thống Mỹ khác chính thức viếng thăm Trung Quốc.Cho dù Barack Obama đã đề cập đến Nhân quyền, tại thành phố Thượng Hải và tại Bắc Kinh, nhưng tổng thống Mỹ đã không thỏa mãn được tất cả những kỳ vọng của giới ly khai Trung Quốc. Tuyên bố với hãng AFP, bà Tsering Woeser, nữ văn sĩ người Tây Tạng, đã nói : ‘‘Tôi đã đặt rất nhiều hy vọng vào ông Obama và chờ đợi ông trên những vấn đề Nhân quyền, Tây Tạng hay Tân Cương. Nhưng tổng thống Mỹ đã lướt qua các chủ đề này mà không nhấn mạnh đến chúng. Ngay cả khi ông đề cập đến các vấn đề kể trên, cách làm của ông không đủ mạnh mẽ, cho nên tôi cảm thấy thất vọng’’.

Quả là tổng thống Mỹ đã nhắc nhở đến ‘‘các quyền phổ cập’’ của con người tại Thượng Hải, khi ông tiếp xúc với giới sinh viên, và sau đó, nhân cuộc họp báo với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tại Bắc Kinh. Tuy nhiên, không ít người Trung Quốc cảm thấy còn hụt hẫng trước kết quả chuyến viếng thăm của Obama. Trong số này có ông Ngải Vị Vị, nghệ sĩ độc lập rất nổi tiếng của Bắc Kinh, thuộc tầng lớp phản kháng. Ông Ngải Vị Vị nói : ‘‘nhiều người Trung Quốc, đặc biệt là giới trẻ, mong muốn một xã hội cởi mở hơn, công bằng hơn. Dó đó, họ cần đến sự yểm trợ của các lãnh đạo nước ngoài’’.
Bắc Kinh không trả tự do cho một nhà đối lập nào

Theo ông Ngải Vị Vị, tổng thống Mỹ chưa nhận thức được đầy đủ rằng việc Bắc Kinh không tôn trọng tự do ngôn luận, và sự thiếu vắng Nhân quyền cũng như một thể chế pháp trị là một ‘‘mối đe dọa’’ không riêng gì cho sự ổn định của Trung Quốc mà cho cả thế giới. Ông Ngải Vị Vị nói : ‘‘nếu tổng thống Obama không ý thức được điều này thì chuyến viếng thăm của ông chỉ là một sự thất bại…Tôi đồng ý với một số bài bình luận, theo đó tổng thống Mỹ đã tiến hành một cuộc trình diễn ngoạn mục theo phong cách Hollywood. Nếu ông ta không nỗ lực thêm nữa, thì người Trung Quốc sẽ thất vọng với các giá trị phổ cập và bởi Hoa Kỳ’’.

Thái độ bất bình của ông Ngải Vị Vị còn bắt nguồn từ việc tổng thống Obama đã không phản ứng gì về hàng loạt các vụ sách nhiễu các nhà đối lập, xảy ra nhân chuyến viếng thăm Trung Quốc của ông. Như nhiều lần trước đây, khi có lãnh tụ nước ngoài công du hoặc vào thời điểm công luận thế giới chú ý đến Trung Quốc, Bắc Kinh đã theo dõi chặt chẽ các nhà ly khai và những người công dân từ nông thôn lên thành phố dâng kiến nghị. Một số các nhà đối lập, lần này đã bị bắt giữ. Ông Ngải Vị Vị kết luận : ‘‘ông Obama đến Trung Quốc và một số người bị bắt giữ vì sự việc này. Dó đó, ông không thể lẩn tránh vấn đề. Ông ta không thể thoái thác rằng ông ta sẽ đề cập đến vụ việc này vào năm tới hay trong một dịp khác, khi trong thời gian đó, người Trung Quốc bị tống giam’’.

Một nhà ly khai khác, luật sư Lý Phương Bình tỏ ra rộng lượng hơn, cho dù ông đã bị công an giới hạn quyền đi lại. Ông Lý Phương Bình cho biết : ‘‘Tất nhiên, tôi đã chờ đợi nhiều hơn, nhưng những điều diễn ra cũng có thể được lý giải bởi tình hình kinh tế’’. Tuy vậy, ít ai có thể tán dương các thành qủa mà tổng thống Mỹ đã gặt hái được trong lãnh vực Nhân quyền tại Trung Quốc. Nhiều nhà quan sát nhận xét : chế độ cộng sản Trung Quốc đã không trả tự do cho một nhà ly khai nào, nhân chuyến viếng thăm của Obama như trước đây, khi các vị tổng thống Mỹ khác công du nước này. ( RFI )

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Vợ ta, vợ người


Trăm năm trong cõi người ta
Chồng hay so sánh... vợ ta, vợ người.
Vợ ta nhiều nói, ít... cười
Vợ người ít nói, cười tươi suốt ngày.
Vợ ta giống chiếc... cối xay
Vợ người yểu điệu, mảnh mai, dịu dàng!
Vợ ta nhìn muốn... xâm xoàng
Vợ người nhìn muốn... mò sang “bợ” về!
Vợ ta nhìn hết muốn... mê
Vợ người nhìn thấy đã phê, đã... thèm!
Vợ ta nhãn mác lem nhem
Vợ người mẫu mã giống em... chân dài!
Vợ ta nhan sắc tàn phai
Vợ người nhan sắc mỗi ngày thêm... tươi!
Nói ra sợ mấy anh cười
Vợ ta xấu nết, xấu người (là) do... ta!
Làm chồng hiểu biết sâu xa
Vợ ta sẽ đẹp bằng... ba vợ người!

Thế nà anh So Vo rồi (-:)


THƯỜNG ĐOÀN

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image


Xin Hãy Cho Nhau Một Nụ Cười
Giá một nụ cười rẻ hơn giá tiền điện, thế nhưng nụ cười lại tỏa sáng nhiều hơn hàng trǎm bóng đèn điện. Không ai nghèo đến nỗi không thể mỉm một nụ cười, cũng không ai đủ giàu để sống mà không cần đến nụ cười của người khác. Một nụ cười - vốn liếng tuy nhỏ bé nhưng lại sinh hoa lợi nhiều, nó làm giàu cho kẻ đón nhận nó mà không hề làm kẻ trao tặng nó phải nghèo đi. Ngược lại, có khi người ta sẽ còn mãi mãi ghi nhớ.

Không ai đủ giàu mà bỏ qua không nhận lấy một nụ cười. Nụ cười tạo được hạnh phúc trong gia đình. Nụ cười là dấu hiệu của nhân ái. Nụ cười làm cho kẻ nhọc nhằn tìm được sự thoải mái dễ chịu. Nụ cười đem lại sự can đảm cho người nản chí, hoang mang.

Nếu có một lúc nào đó trong đời, bạn gặp một ai đó không cho bạn được một nụ cười như bạn đáng được nhận, thì bạn hãy quảng đại mà nở một nụ cười với người đó. Bởi vì không ai cần đến nụ cười cho bằng người không bao giờ biết cười.

Có một câu chuyện kể rằng: Saint Exupery từng là phi công tham gia chống phát xít trong Đệ nhị Thế chiến. Chính từ những nǎm tháng này ông đã viết ra tác phẩm "Nụ cười"... Không biết đây là một tự truyện hay một truyện hư cấu, nhưng tôi tin rằng nó có thật. Trong truyện, Saint Exupery là một tù binh bị đối xử khắc nghiệt và ông biết nay mai có thể bị xử bắn như nhiều người khác. Ông viết: "Tôi trở nên quẫn trí. Bàn tay tôi giật giật, cố gắng rút trong túi áo một điếu thuốc. Nhưng tôi lại không có diêm. Qua hàng chấn song nhà giam, tôi trông thấy một người cai tù. Tôi gọi: "Xin lỗi, anh có lửa không?"... Anh ta nhún vai rồi tiến lại gần. Khi rút que diêm, tình cờ mắt anh nhìn vào mắt tôi. Tôi mỉm cười mà chẳng hiểu tại vì sao lại làm thế. Có lẽ vì khi muốn làm thân với ai đó, người ta dễ dàng nở một nụ cười. Lúc này dường như có một đốm lửa bùng cháy nhanh qua kẽ hở giữa hai tâm hồn chúng tôi, giữa hai trái tim con người. Tôi biết anh ta không muốn, nhưng do tôi đã mỉm cười nên anh ta phải mỉm cười đáp lại. Anh ta bật que diêm, đến gần tôi hơn, nhìn thẳng vào mắt tôi và miệng vẫn cười. Giờ đây trước mặt tôi không còn là viên cai ngục phát xít mà chỉ là một con người.

Anh ta hỏi tôi: "Anh có con chứ?".

Tôi đáp: "Có" và lôi từ trong ví ra tấm hình nhỏ của gia đình mình. Anh ta cũng vội rút trong túi áo ra hình những đứa con và bắt đầu kể lể về những kỳ vọng của anh đối với chúng. Đôi mắt tôi nhoà lệ. Tôi biết mình sắp chết và sẽ chẳng bao giờ gặp lại được người thân. Anh ta cũng bật khóc. Đột nhiên, không nói một lời, anh ta mở khoá và kéo tôi ra khỏi buồng giam. Anh lặng lẽ đưa tôi ra khỏi khu vực thị trấn chiếm đóng, thả tôi tự do rồi quay trở về. Thế đó, cuộc sống của tôi đã được cứu rỗi chỉ nhờ một nụ cười".

Từ khi đọc được câu chuyện này tôi nghiệm ra được nhiều điều. Tôi biết rằng bên dưới mọi thứ vỏ bọc chúng ta dùng để thủ thế, để bảo vệ phẩm giá và địa vị, vẫn còn đó một điều thật quý giá mà tôi gọi là tâm hồn. Tôi tin rằng: nếu tâm hồn bạn và tâm hồn tôi nhận ra nhau thì chúng ta chẳng còn gì phải sợ hãi hay cǎm thù oán ghét nhau. Nếu bạn từng có một khoảnh khắc gắn bó với đồng loại qua sức mạnh của nụ cười, thì tôi tin rằng bạn cũng đồng ý với tôi, đó là một phép lạ nho nhỏ, một món quà tuyệt vời mà chúng ta có thể dành cho nhau. Một nữ tu ở Calcutta đã cảm nhận được điều này trong cuộc sống, và bà đưa ra lời khuyên chân thành: "Hãy mỉm cười với nhau, mỉm cười với vợ, với chồng, với con cái bạn và với mọi người dù đó là ai đi nữa, vì điều này sẽ giúp bạn lớn lên trong tình yêu của nhau..."

Post Reply