NTV
. Người ta thường hay “hỏi thế gian tình là gì” chứ mấy ai “hỏi thế gian tình bạn là gì” đâu .
Thôi thì cứ để những định nghĩa lơ lửng đó, cho người ta mặc sức bàn ra tán vào. Chỉ cần biết rằng tình bạn là thứ cực kỳ quan trọng trên đời này. Có ai đó bảo, không có bạn người ta sẽ không sống nổi. Mình thì nghĩ rằng, vẫn sống nổi chứ, nhưng cuộc sống đó có trọn vẹn hay không mà thôi. Và ai sẽ muốn một cuộc sống không trọn vẹn?!
Tình bạn không phải là thứ hiển nhiên đến với ta. Nếu muốn có một tình bạn thực-sự, người ta cũng phải nỗ lực, như xây một ngọn tháp, như trồng một cái cây, như chăm chút cho một mảnh vườn. Nếu bạn lơ đãng, bạn không thực tâm, bạn quá ơ thờ, cái cây sẽ héo, mảnh vườn sẽ đầy cỏ dại, ngọn tháp sẽ xô nghiêng. Ai bảo tình bạn không cần vun đắp?
Emerson nói rằng “Cả cuộc đời dành cho bạn bè vẫn còn quá ngắn ngủi”. Có thể trong mỗi khúc đoạn của cuộc sống, chúng ta gắn bó với một người bạn/một nhóm bạn nào đó. Cũng có thể chúng ta chỉ có một người bạn/một nhóm bạn –thân-nhau-vĩnh- viễn. Dù sao đi nữa, sẽ không bao giờ là quá nhiều nếu chúng ta có những người bạn để chia sẻ và yêu thương. Hãy giành những lời nguyện cầu tốt đẹp nhất cho tình bạn, bạn nhé, bởi đó là một trong những điều tốt đẹp nhất bạn có thể có được trong cuộc đời này.
Và cũng đừng quên những tình-bạn-tự-nhiên. Vì sao bạn chảy nước mắt khi thấy những bạn bè cùng trang lứa đang cực nhọc mưu sinh, hay đang chơi vơi trong dòng lũ? Có một mối dây vô hình nào đó liên kết ta và họ, dù xét ra những điểm chung nếu có thì cũng xa tít mù mù. Đó chính là tình yêu thương, đó chính là tình bằng hữu không biên giới. Trái tim rất kì lạ. Nó là thứ duy nhất không biên giới, trừ khi bạn đặt một biên giới cho trái tim mình.
Đoàn Thanh Liêm
Nhân dịp Lễ Tạ Ơn năm nay, tôi xin viết thật ngắn gọn về cảm nghĩ của mình để chia sẻ với bạn đọc thân mến khắp nơi.
Trước hết, tôi xin trích mấy câu từ bài hát dễ thương quen thuộc, mà đã từ lâu tôi vẫn tâm đắc và ngâm nga với sự thích thú :
“Dù đến rồi đi, tôi cũng xin tạ ơn người, tạ ơn đời,
tạ ơn ai .. đã cho tôi còn những ngày quên kiếp sống lẻ loi.
… đã cho tôi tình sáng ngời như sao xuống từ trời
… đã cho tôi còn thấy những ngày ngồi mơ ước cùng người…”
Tôi rất ưa thích cách nói của dân gian, gọi cuộc sống con người tại thế này là : “cái nợ đồng lần”, tức là mỗi người cứ xoay vần mà “vay trả, trả vay” cho người khác. Tại Mỹ, người ta cũng hay nói : “Give and Take”, tức là trao ra và nhận vào. Dân ta cũng hay nói : “Sống là sống chung với nhau, chia sớt cho nhau “. Cũng như người Mỹ thường nói : “To live is to share” vậy.
Đã đành rằng người có lòng hảo tâm khi làm điều tốt đẹp giúp cho ta, thì họ chẳng hề mong được báo đền trả lại. Cụ thể như cha mẹ lo lắng hy sinh tận lực hết mình cho con cháu, thì đâu có bao giờ lại trông mong được con cái báo hiếu đâu. Tục ngử có câu : “Thi ân bất cầu báo” là có ý ghi nhận cái tinh thần nhân đạo, vô vụ lợi cuả người chuyên làm điều thiện, luôn luôn sẵn sàng ra tay giúp đỡ người gặp cảnh khó khăn hoạn nạn, mà không đòi hỏi một điều kiện nào khác.
Nhưng mỗi khi ta nhận được một sự giúp đỡ, một ân huệ nào, thì ít nhất ta cũng phải nhận biết đến cái thiện tâm, cái hảo ý cuả vị ân nhân đó đối với ta chứ. Cụ thể là mỗi người chúng ta đều được gia đình, dòng họ dậy dỗ, xây dựng nhân cách để trở thành một con người có vị thế vững chắc trong xã hội. Chúng ta cũng được nuôi dưỡng trong môi trường văn hoá đạo đức truyền thống cuả dân tộc. Chúng ta cũng được tiếp cận với khoa học kỹ thuật, cũng như về tư tưởng học thuật cuả Âu Mỹ. Nên có thể nói : “Chúng ta là thứ sản phẩm đa văn hoá “.
Như trường hợp bản thân mình, ngoài nền giáo dục truyền thống dân tộc Việt nam, tôi còn được đào tạo theo chương trình học cuả Pháp, cuả Mỹ nưã. Như vậy, tôi phải tỏ lòng biết ơn về cái sự may mắn được tiếp cận với nền văn hoá giáo dục rất là tiến bộ và khai phóng cuả Âu Mỹ. Nhờ vậy, mà tôi mới có được một sở học tương đối rộng mở, theo kịp với thời đại ngày nay.
Vì thế, nhân dịp muà Lễ Tạ Ơn năm nay, tôi xin nói lên lòng cảm mến tri ân cuả mình đến với tất cả các bậc tiền nhân đã để lại cho tôi một gia sản tinh thần thật là dồi dào, phong phú. Tôi cũng xin cảm ơn tất cả các vị thầy cô người Việt hay ngoại quốc đã dày công dậy bảo chỉ dẫn cho tôi về đủ mọi mặt kiến thức, cũng như phong cách sống ở trên đời. Và tôi cũng xin cảm ơn tất cả các bạn bè thân hữu đã hồn nhiên và hào phóng chia sẻ với tôi mọi điều tốt lành trong cuộc sống cuả thế hệ mình.
Tôi rất chân thành mỗi khi được nói lên lòng biết ơn đối với tất cả các vị ân nhân mà tôi đã có duyên được gặp gỡ, được nhận lãnh những ân huệ từ nơi tay họ, trong suốt cuộc hành trình cuả mình nơi trần thế này.
Một lần nưã, tôi xin nhắc lại :
Xin tạ ơn Người,
Xin tạ ơn Đời./
Nguyễn Xuân Quang
Một nơi mà bất cứ ai khi đi du lịch cũng bắt buộc phải thăm viếng, “tham quan”, nhiều khi còn quan trọng, cần thiết hơn cả đền đài, lăng miếu, đó là nhà vệ sinh. Đi qua nhiều nhà vệ sinh trên thế giới, tôi nhận ra một điều là nhìn vào phòng vệ sinh công cộng của một nước, nhất là nhà vệ sinh công cộng của dân bản sứ, là ta có thể nhìn thấy rất rõ bộ mặt thật của giới lãnh đạo của nước đó. Nhà vệ sinh càng hôi thối, bẩn thỉu, đầy ròi bọ thì bộ mặt thật của giới lãnh đạo nước này cũng vậy.
Ai cũng biết là sự bài thải chất cặn bã trong cơ thể con người ra ngoài là một nhu cầu cần thiết, bắt buộc. Một bé sơ sinh ra đời không có hậu môn, người Việt cho là do trời phạt những kẻ sinh thành đã ăn ở bất nhân, bác sĩ cần phải làm hậu môn nhân tạo, một bé sơ sinh ra đời đường tiểu không thông, bác sĩ phải giải tỏa chỗ bị bế tắc, có làm như vậy thì những em bé đó mới sống còn. Chất bài thải giữ một vai trò quan trọng đối với sức khỏe của từng người và của cộng đồng.
Trước hết xin nói qua một chút về ngôn ngữ học để thấu hiểu những tên gọi chất bài thải ra từ đường ruột. Tên gọi chất bài thải này trong tiếng Việt cổ là xí, xít, kít, xia còn dùng nhiều ở miền Bắc và tiếng Việt phổ thông ba miền ngày nay là cứt và gọi theo Hán Việt là phân, phẩn. Từ xí như thấy qua từ chuồng xí, nhà xí. Xí biến âm với xi (trợ giúp cho trẻ sơ sinh đi ngoài như xi ị). Từ xít như thấy qua câu đồng dao:
Con nít ăn xít ông già.
Từ kít biến âm với xít (k=c=x, car = xa, xe). Từ xia thấy qua mấy câu thơ của Tú Xương:
Lớ ngớ đi xia may vớ được
Phen này chắc hẳn kiếm ăn to.
Xí, xi, xít, kít, xia ruột thịt với Anh ngữ shit, cứt, phân.
Từ cứt là biến âm của kít ruột thịt với xít. Theo x= c= k, xít = shit = kít = cứt.
Tại sao lại gọi là xí, xít, shit, kít, cứt? Ta gọi một con bọ là con bọ xít (hung hăng con bọ xít) vì con bọ này có mùi hôi thối như xít, như shit, như kít. Anh ngữ gọi bọ xít là stink bug. Bug biến âm với bọ (bu- = bọ), còn stink, hôi thối ruột thịt với Việt ngữ sình như xác chết sình thối, vũng sình, sình lầy, ta có s(t)ink = sình.
Việt ngữ cứt ruột thịt với Phạn ngữ kuth, hôi, kuthita, hối thối, hôi hám, có kut- = cứt.
Như thế chất cặn bã đường ruột được gọi tên theo mùi hôi thối của nó. Cũng nên biết hai từ xấu xí nếu coi là một từ đôi thì có nghĩa là vừa xấu lại vừa hôi, vừa bẩn.
Trong khi đó Hán Việt phân, phẩn biến âm với Việt ngữ bẩn, theo ph=b (phỏng = bỏng), ta có phẩn = bẩn.
Nguyên thủy con người còn sống giữa thiên nhiên, nhu cầu bài thải chất cặn bã đi thẳng ra ngoài thiên nhiên mà ngày nay còn thấy ở nhiều nơi như ở Việt Nam thấy qua từ đi đồng, đi cầu (thải xuống sông), nhà thơ Xuân Diệu có tập thơ Gởi Hương Cho Gió mà những người yêu thích văn thơ có người đã dùng nhan đề tập thơ chỉ việc làm này trong lúc hóng gió đồng, gió sông.
Theo đà văn minh thêm của xã hội con người, sự bài thải cũng tiến bộ thêm. Con người sau đó tạo ra những chỗ thoải mái, tiện nghi cho việc bài thải chất cặn bã như thấy qua các từ Hán Việt đại tiện, trung tiện, tiểu tiện. Thoạt đầu chỉ là một cái hố quây kín cho có riêng tư như cái phòng nhỏ, nhà nhỏ thấy qua các từ chuồng xí, nhà xí, nhà ỉa (danh từ xã hội chủ nghĩa Việt Nam), “phòng nước“ W.C (Water Closet), phòng tắm, nhà “lau chùi” (toilet), nhà ngơi (rest room), phòng vệ sinh… Ngày nay, lịch sự, kiểu cách hơn nhiều mỹ từ đã được dùng để chỉ những chỗ này như ở Nhật gọi là Summer palace, ở nhiều nơi gọi là Happy house, ở Ấn Độ gọi là Temple of Release (Đền Giải Tỏa)…
Trong một xã hội tân tiến hơn các nhu cầu của thân xác trở thành các thú tiêu khiển. Người La Mã cổ có những bàn cầu công cộng làm theo cái bệ ngồi như một loại ghế dài (bank) có khoét lỗ, có khi có hình chữ L hay chữ U hay hình chữ nhật, người dùng ngồi sát cánh nhau, hay đồi diện nhau, vừa đi ngoài vừa đàm đạo, bàn luận thế sự, văn học, nghệ thuật, ngâm thơ và có thể ngồi “cụng ly” nhắm rượu với nhau nữa. Những bàn cầu có lỗ ngồi như ngồi trên ghế này là cha đẻ ra loại bồn cầu ngồi của Tây phương ngày nay.
Rồi sau đó nhu cầu bài tiết trở trành một thú khoái lạc giống như nguyên thủy ăn để mà sống rồi sau trở thành một thú ăn uống, một nghệ thuật ăn uống, một thứ khoái lạc. Người Trung Hoa xếp đi xia vào hàng đệ tứ khoái theo thứ tự ăn, ngủ, đ…, ỉa.
Vì thế các phòng vệ sinh cộng cộng phản ánh trình độ văn minh, dân trí và sự lãnh đạo của chính quyền một quốc gia. Nhà vệ sinh có thể dùng để định giá bộ mặt thật của một quốc gia.
Những cường quốc châu Âu vốn tự hào là có một nền văn minh cao hơn mọi người nhưng các nhà vệ sinh còn nhiều bất tiện. Các nhà vệ sinh ở những nơi công cộng thường thiếu, không cung ứng đủ nhu cầu ở những nơi có hàng ngàn du khách viếng thăm một lúc nên tình trạng giữ gìn vệ sinh thiếu kém và phải chờ đợi lâu ví dụ như ở quảng trường St Peter ở Vatican chẳng hạn. Du khách thường phải vào các tiệm ăn, quán nước ăn uống để dùng phòng vệ sinh. Nếu không ăn uống thì phải trả tiền. Trong phòng vệ sinh thường có một mụ già trông như bà chằng đứng đòi tiền, nếu không trả thì sẽ bị nghe tiếng Ý, tiếng Tây, tiếng Tây Ban Nha… Vì thế du khách lúc nào cũng phải thủ vài đồng tiền lẻ trong túi mà phải là tiền địa phương, nhiều chỗ không nhận tiền đô la nhất là lúc này Mỹ kim bị mất giá. Mấy đồng bạc lẻ đối với một người du khách không đáng vào đâu nhưng khiến du khách muốn tìm cái tiểu tiện hay đại tiện mà chỉ thấy bất tiện, phiền toái nhất là đang khi cái bọng nước căng tức óc ách, cảm thấy thương hại cho những người giữ phòng vệ sinh và cảm thấy ô nhục cho nước chủ nhà.
Nhất Tây phương và có lẽ cả thế giới là nhà vệ sinh công cộng của Hoa Kỳ. Vào nhà vệ sinh Hoa Kỳ có được cái cảm giác thư thái, nghỉ ngơi đúng như cái tên gọi rest room.
Ở Á châu hầu hết các nhà vệ sinh công cộng còn thua xa các nước Tây phương. Ở nhiều quốc gia này, nhiều khi thật là kinh tởm và kinh hoàng, rợn người khi bước vào.
Bước xuống phi trừơng Dheli, cái hàng chờ kiểm tra nhập cảnh ngoằn ngoèo cả ngàn người xếp hàng. Trong khi chờ đợi, bực bội, bước vào phòng vệ sinh muốn tìm một chút thoải mái. Bước qua cửa. Bồn tiểu kiểu dân gian Ấn Độ nhuộm mầu cà ri vàng khè, nồng nặc mùi khai. Người gác cửa một tay cầm một lon nước, một tay cầm mớ giấy vệ sinh cũng vàng khè mầu gia vị masala. Người dùng có quyền chọn lựa. Nếu lấy lon nước thì phải cho tiền trà nước (tiền tip), có ít một chút cũng không sao, còn nếu cầm xấp giấy thì bắt buộc phải trả tiền mua giấy. Anh ta bán giấy chứ không cho giấy. Bán thì có giá của nó. Chịu không nổi, không thể bước thêm vào trong nữa, phải dội ra ngay. Những ngày sau đó, ngồi trên xe bus, xe lửa ngắm cảnh bên đường. Buổi sáng sớm, sát cạnh ven đường, hàng dẫy người, ngồi xổm, bên cạnh để một lon sữa bò đựng nước, ngắm nhìn du khách đi qua.
Những ghat (bến) sông Hằng ở Varanasi là những cái nhà vệ sinh khổng lồ, lớn nhất thế giới. Người ta thưởng thức tất cả tứ khoái và chiêm bái thần linh, ma quỉ tại chỗ cùng chung với thú vật, xác người… Chưa ở một nơi nào tôi thấy đàn ông thản nhiên đứng tè giữa phố đông người qua lại, cùng chung với bò thờ như ở xứ này.
Trung Hoa đang cố vươn lên thành đại cường quốc nhưng phòng vệ sinh hãy còn chưa thấy được tới mức… đại tiện (lợi). Ở những khu xóm tân tiến đầu xóm thường có nhà cầu công cộng nhưng du khách khuyên không nên bước vào. Ngay cả những nơi dành cho du khách cũng rất ư là thiếu… cách mạng. Những phòng vệ sinh tại phi trường hiện đại, nhà vệ sinh làm theo kiểu Tây phương, bước vào, mù mịt khói thuốc lá, ngộp thở. Phải nín thở. Mắt cay xè, vừa trút bầu nước vừa khóc ròng ròng. Mấy ông chui vào phòng vệ sinh hút thuốc. Mẩu thuốc lá đầy trong bồn tiểu. Đi máy bay Trung Hoa, nhà vệ sinh cũng khủng khiếp. Nếu vô phúc ngồi phải những hàng ghế gần phòng vệ sinh thì sẽ phải ngửi mùi nồng nặc từ trong đó xông ra suốt cả một chuyến bay dài.
Gần đây nhân dịp Thế Vận Hội 08-8-08, cố gắng giữ cho mặt mũi nước Trung Hoa được vệ sinh hơn, chính phủ đã cho xây một số nhà vệ sinh ở những nơi có nhiều du khách viếng thăm và tự hào xếp loại nhà vệ sinh giống như xếp hạng các khách sạn theo số lượng ngôi sao. Tôi bước vào một phòng vệ sinh 4 sao ở Tử Cấm Thành tìm cái tiền tiện nho nhỏ “bốn sao”.
Tác giả đội mũ thế vận hội 08-8-08 đang “tư lự” chờ đợi đến lượt mình để được trút bầu tâm sự trước một phòng vệ sinh bốn sao ở Tử Cấm Thành, Bắc Kinh.
Bồn vệ sinh theo kiểu Tây phương nhưng dùng chung với hàng triệu dân Trung Hoa ghiền trà đặc không lau rửa thường xuyên nên nhuộm màu nước trà đặc, đóng cáu bẩn giống như cáu bẩn nước trà đặc trong bình trà, trông như đồ giả cổ Trung Hoa. Sự bảo trì vẫn mang tinh thần đại đồng của chủ nghĩa cộng sản, nghĩa là làm cho xong. Số lượng bồn tiểu không đủ cung ứng cho người dùng, người chờ đông như kiến. Ở Hoa Kỳ luật lệ bắt buộc những cơ sở công cộng phải cung cấp số bồn vệ sinh tính theo số người thăm viếng. Bước vào nhà vệ sinh “từ tinh” bước ra tá hỏa “tam tinh”.
Nhà vệ sinh của Liên Xô vĩ đại vốn theo chủ nghĩa cộng sản cũng không hơn gì Trung Hoa.
Tôi đi du lịch Việt Nam trong một tour của người Mỹ tổ chức. Bước xuống phi trường Nội Bài, vào phòng vệ sinh. Phi trường mới xây nhưng nhà vệ sinh để lộ cho thấy kỹ thuật xây cất còn theo kiểu tiểu công nghệ hay những tay thợ làm cẩu thả. Đi tiểu, rửa tay xong, tôi và một vài ông Mỹ trong đoàn nhìn quanh tìm giấy lau tay. Tìm mãi không thấy. Cuối cùng tìm thấy một vật trông như cái hộp hở miệng giống như cái lò nướng bánh mì (toaster) lớn. Đây là cái “lò” xấy tay. Người dùng đút tay vào lò xấy cho khô tay. Nhìn vào lò, mốc meo mọc đầy vì nước ở tay nhỏ xuống hợp với độ ấm của lò tạo ra một môi trường thuận tiện cho mốc meo mọc. Một cái lò cấy nấm mốc. Trong “lò” có cả mẩu thuốc lá. Sự bảo trì, không đạt tới “chỉ tiêu”, “chỉ đạo” kém. Mấy ông Mỹ chậm hiểu không biết là cái gì vì không có đề chữ (dù là chữ Việt). Bao nhiêu chữ nghĩa ban “quản lý” để dành viết khẩu hiệu. Đáng lý nếu hà tiện chữ nghĩa hay ngại viết tiếng Anh thì cũng nên vẽ cho một cái hình cũng được. Chẳng dám thò tay vào lò, tôi móc túi lấy gói giấy lau tay chia cho mọi người.
Đền Ngọc Sơn ở Hồ Hoàn Kiếm giữa thủ đô Hà Nội là chỗ thờ các đấng thiêng liêng, thần thánh, một trong những biểu tượng tiêu biểu của thủ đô ngàn năm văn vật, tiếp đón hàng trăm du khách một lúc, vậy mà chỉ có một cái “nhà ỉa” kiểu ngồi xổm nhỏ như cái chuồng xí, mùi nồng nặc, nước rửa tràn ra ngoài lênh láng, chắc chắn làm ô nhiễm nước hồ. Rồi đây Rùa Thần chắc sẽ về chầu trời sớm để được siêu thoát.
Phóng uế ngay trên các đại lộ chính của thành phố vẫn còn thấy khắp nới. Chẳng đâu xa, ngay bên kia đường của khách sạn bốn sao chỗ tôi đang ở, trên tường giữa những khẩu hiệu rực rỡ mầu máu đỏ da vàng ca tụng đảng và nhà nước nổi bật rõ mồn một câu “khẩu hiệu” mầu trắng Cấm ỉa.
Khẩu hiệu “cấm ỉa”. Tôi không có dịp “tham quan” một phòng vệ sinh công cộng của Việt Nam ta ngày nay để xem ra sao, nhưng dừng chân dọc đường nhìn các nhà vệ trong các quán ăn thật là lợm giọng. Hành nghề y khoa nên có tật phải rửa tay trước khi ăn, nhưng tôi không dám bước chân vào phần lớn các nhà hàng ăn nổi tiếng của người Việt Nam ở trong nước (và ngay cả ở hải ngoại) vì bước vào, lúc ra sẽ không dám ăn. Tôi phải dùng giấy lau tẩm cồn lau tay trước khi ăn, rồi sau khi ăn xong mới dám liều mình bước vào nhà vệ sinh.
Hầu hết các nước Á châu khác và ở hải đảo, ngoại trừ Úc, nhà vệ sinh công cộng cũng đều tồi tệ.
Chỉ có một nơi ở Á châu mà phòng vệ sinh tôi cho là sạch sẽ vào bậc nhất là Nhật Bản. Một trong những yếu tố giúp người Nhật sống lâu là vấn đề vệ sinh. Người Nhật rất sạch sẽ. Nhà vệ sinh công cộng của Nhật ở những nơi có du khách tới rất tiêu chuẩn, đầy đủ, chăm sóc kỹ lưỡng, sạch sẽ, miễn phí, đạt tới mức một chín một mười so với ở Mỹ. Nhân viên lau chùi cầu tiêu Nhật làm việc với tinh thần Thần Đạo, Võ Sĩ Đạo. Họ rất hãnh diện và tự hào khi nhìn thấy phòng vệ sinh của nước mình sạch sẽ.
Về tiện nghi họ còn hơn cả Mỹ. Họ cung cấp tay vịn ở bồn tiểu loại đứng cho các người tàn tật phái nam, có cả bồn rửa trôn (bidet) cho phái nữ và bồn rửa tay riêng cho trẻ em.
Bồn rửa tay cho trẻ em trong phòng vệ sinh ở Nhật. Phòng vệ sinh có hai loại: một loại theo Tây phương và một loại cổ truyền Nhật dành cho những người thích ngồi xổm kiểu Á châu dân dã.
Bồn cầu truyền thống Nhật Bản và dấu hiệu hình “chiếc dép” chỉ rõ ở bên ngoài cửa. Ngoài cửa mỗi loại nhà vệ sinh đều có bảng hiệu vẽ hình chỉ rõ. Lưu ý là nếu dùng bồn cầu ngồi xổm Nhật Bản thì ngồi quay mặt vào trong (để lỡ cửa có bung ra cũng an toàn không bị ai nhìn thấy). Phía trong có tay vịn giúp những người phế tật nắm giữ khi ngồi xuống đứng lên.
Nhà vệ sinh công cộng Nhật không một nước Á châu nào sánh bằng. Đại Hàn và Đài Loan bị Nhật chiếm đóng một thời gian khá lâu cũng học được ít nhiều cái tính sạch sẽ của Nhật nên phòng vệ sinh công cộng của hai nước này cũng tương đối sạch. Ta cũng thấy rất rõ là ở thành phố Hội An nhờ có người Nhật ngày xưa đặt chân tới mà thành phố còn có những căn nhà cổ làm theo sắc thái Nhật, trông rất gọn gàng, khang trang, thanh lịch với những phòng vệ sinh được chăm sóc sạch sẽ hơn ở phố cổ Hà Nội.
Trên nóc thế giới, ngay ở đền Potola, Lhasa Tây Tạng, ngày nay đã bị Trung Hoa xâm chiếm, phòng vệ sinh cũng bị Hoa hóa.
Còn các phòng vệ sinh trong khách sạn thì Nhật ăn đứt Hoa Kỳ. Trong các khách sạn bốn, năm sao tôi ở, hệ thống phòng tắm đã tới mức “siêu hiện đại”. Bồn cầu có bàn cầu sưởi ấm, có vòi nước ấm rửa, vẽ hình cái mông và vòi nước rửa riêng cho các bà (bidet) vẽ hình đầu phụ nữ, có chỗ có thêm hơi nóng xấy khô, có xịt nước hoa. Chỉ cần bấm cái nút.
Bồn cầu “hiện đại” bấm nút Nhật Bản. Tôi giả vờ như một anh chàng nhà quê không biết tiếng Nhật và tiếng Anh bấm thử cái nút dùng cho phái nữ có vẽ hình đầu phụ nữ xem vòi nước của phái nữ có khác cái vòi nước rửa dành cho hai phái không. Vòi nước dành cho phái nữ bắn ra phía trước nhiều hơn, êm dịu, mơn trớn hơn. Cũng nên biết là vòi nước giữ cố định một chỗ nhiều khi phải xê dịch bàn tọa để nhắm cho vòi nước bắn trúng đích.
Cách lau chùi thay đổi theo từng vùng trên thế giới, theo từng nền văn hóa.
Một lần ở Ai Cập, theo chân đoàn lạc đà vào sa mạc sống đời du mục với tộc người Bedouins, đêm về dựng lều ngủ giữa sa mạc mênh mông. Không còn gì thú hơn ngồi và hóng gió trên biển cát mênh mông dưới trời trăng lồng lộng. Trước khi đi hóng gió sa mạc, tôi hỏi xin giấy vệ sinh. Đám dân du mục rũ ra cười, cho tôi là dân tỉnh ngố, họ bảo rằng tôi cứ yên chí, ngoài đó đã có sẵn đồ chùi. Giữa hoang vu của đêm trăng sa mạc, không một bóng người nhưng tôi vẫn thấy ngại ngùng, tìm đến một mô cát rồi ngồi núp ở phía sau, không có người nhưng có chị Hằng, sợ chị xấu hổ mà chui vào nấp trong mây dấu mặt thì mất cả cái thú vừa ngắm trăng vừa hóng gió. Nhìn quanh, chỉ mênh mông cát và cát, nhiều hơn cả Hằng hà sa số, không có cả một cái lá cây, không một cọng cỏ. Cuối cùng thì tôi biết. Những người sống trong sa mạc họ chùi bằng… cát. Chịu thua. Tôi đành phải hy sinh lấy cái quần lót. Chùi xong tôi bới cát chôn chiếc quần, sợ dân sa mạc này mà biết được, họ sẽ chế riễu mình là dân… thành phố có đầu óc rởm. Đây không phải là lần đầu tiên tôi dùng đồ lót. Tôi còn nhớ mãi những ngày biến động của đời sinh viên thủa trước. Lần đó theo đoàn biểu tình xuống công trường Con Rùa trước Viện Đại Học tham dự lễ “xuống tóc”của luật sư Vũ Văn Mẫu, tôi bị bắt đem về giam ở khu B tại Tổng Nha Cảnh Sát Saigon. Căn phòng hẹp như chuồng cọp giam mấy chục mạng sinh viên, phải ngồi dựa sát vào nhau, không nằm được. Góc phòng có một cái thùng vệ sinh. Có đứa đi vệ sinh xong để nguyên, có đứa đánh trịn. Tôi không thể nào làm được như thế bèn bắt đầu xé vòng quanh phần dưới của chiếc áo lót “may-ô” dùng làm giấy vệ sinh. Nhiều người ùa đến xin một mảnh áo. Tôi đã “xẻ áo” cho họ nhưng họ không hề nghĩ tới “chia cơm” cho tôi. Một mảnh áo, một miếng cơm trong tù quí hơn vàng. Khi được thả về, chiếc áo may ô của tôi chỉ còn cái vòng ở cổ, trông giống như tôi đeo kiềng.
Những người sống trong rừng dĩ nhiên dùng lá. Người Nhật nghĩ ra cách rửa trôn này có lẽ bắt nguồn từ thói quen dùng nước của người Á châu từ ngàn xưa. Người Âu châu ở xứ lạnh không thích rửa nước nhất là về mùa đông. Người Âu Mỹ thích lau chùi vì thế phòng vệ sinh còn có tên gọi là toilet. Từ toilet, Pháp ngữ là toilette có gốc Pháp ngữ toile, vải (vải “toan”). Toilet là phòng “lau chùi”.
Người Âu châu rửa nước chưa quen thấy… nhột. Tuy nhiên những ai đau khổ vì bệnh trĩ (trĩ ngoại) lại rất khoái.
Trong phòng tắm, cái gương soi mặt cũng rất tiện nghi. Thường sau khi tắm, gương bị mờ mịt vì hơi nước. Gương ở Nhật phía sau có gắn bộ phận làm tan hơi nước giống như ở kính xe hơi nên có một khoảng ở giữa gương không bị mờ, vẫn dùng soi mặt, chải tóc được sau khi tắm.
……
Biết đến bao giờ cái bàn tọa của dân dã Việt Nam được các nhà lãnh đạo chăm sóc như dân Nhật? Ngày nào cái phòng vệ sinh công cộng ở Việt Nam còn chưa bằng ở Nhật thì xìn đừng nói là Việt Nam đã tiến bộ.
Đi qua nhiều nhà vệ sinh trên thế giới, tôi nhận ra một điều là nhìn vào phòng vệ sinh công cộng của dân bản sứ của một nước là ta có thể nhìn thấy rất rõ trình độ dân trí của dân tộc đó. Nhìn vào phòng vệ sinh công cộng của dân bản sứ của một nước là ta có thể nhìn thấy rất rõ bộ mặt thật của giới lãnh đạo của nước đó. Nhà vệ sinh càng hôi thối, bẩn thỉu, đầy ròi bọ thì bộ mặt thật của giới lãnh đạo nước này cũng vậy.
Người Việt mỗi lần vào phòng vệ sinh công cộng ở đất nước mình, xin hãy cúi đầu ngồi xuống mà suy ngẫm về đất nước Việt Nam mình.
Dân Việt Nam ta vốn có hồn thơ lai láng nên ngoài những mẩu chuyện châm biếm đả phá chế độ cộng sản, họ còn sáng tác rất nhiều vần thơ và ca dao nói lên những hoàn cảnh sinh hoạt bi ai cũng như tâm tư uất hận của người dân dưới chế độ bạo tàn. Dĩ nhiên những vần thơ “quốc cấm” này đều khuyết danh, chỉ được lén lút học thuộc lòng rồi thì thầm rỉ tai cho nhau nghe nên được gọi là “thơ chui”.
Những vần thơ chui đôi khi dí dỏm khiến người nghe phải tủm tỉm cười thầm hay ôm bụng cười sằng sặc hoặc đôi khi não nùng thống thiết bày tỏ tinh thần chống đối chủ nghĩa cộng sản đem lại đói khát, khổ đau, nhục nhã cho người dân sau ngày chúng cưỡng chiếm Miền Nam.
Vào ngày 30-4-1975, khi mà những đôi dép râu giẵm nát hè phố Sài Gòn thì mây sầu cũng phủ đầy trời, khí oan kín đất. Cái chiến thắng của những kẻ đào đường, phá cầu, giật mìn xe đò, đốt trường học, pháo kích nhà dân cũng là đám mây đen bắt đầu vần vũ báo hiệu một cơn giông tố hãi hùng sắp sửa xảy ra cho quê hương và dân tộc. Cho nên khi thấy những cái nón cối xuất hiện thì đồng bào đổ xô nhau chạy, chạy toát mồ hôi trước những kẻ tự xưng là “giải phóng”. Nhìn cảnh tượng đó, một bác sĩ, cũng là một nhà thơ còn kẹt lại ở Việt Nam đã làm một bài thơ có tựa đề:
CHẠY! CHẠY!
Tự do, độc lập nhất trên đời,
Thiên hạ sao mà chạy chết thôi!
Mới thấy bóng cờ sờn tóc gáy,
Vừa nhìn ảnh bác toát mồ hôi.
Tổ cò, tổ quốc tung hê cả,
Nhân bánh nhân tình vứt bỏ rơi.
Ông Táo quên quần la cuống quýt:
“Mau lên kẻo nó tới kia rồi”.
Và vừa chạy, đồng bào vừa bảo nhau:
Đôi dép râu giẵm nát đời son trẻ,
Mũ tai bèo che khuất nẻo tương lai.
Công lý và tự do là hai danh từ mang nhiều ý nghĩa cao đẹp mà người dân của bất cứ quốc gia nào cũng đều ấp ủ, thậm chí có rất nhiều người còn hy sinh xương máu mình để bảo vệ công lý và tự do. Nhưng những người cộng sản vốn độc tài, ghét công lý, thù tự do nên khi vừa cưỡng chiếm Miền Nam họ liền cho thay đổi hai con đường Công Lý, Tự Do ở Sài Gòn lại thành đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Đồng Khởi. Thấy vậy người dân mới mỉa mai rằng:
Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý,
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.
Lúc mới chiếm được Miền Nam, Việt Cộng áp dụng nhiều biện pháp khắc khe để kềm kẹp đồng bào như kiểm soát từ miếng ăn, từ lời nói, tư tưởng, sự đi lại. Người dân muốn di chuyển từ địa phương này đến địa phương khác phải xin phép với nhiều thủ tục giấy tờ phức tạp, khó khăn. Di chuyển không giấy phép sẽ bị bắt giữ hay không có danh sách trong “hộ khẩu”. Người dân không còn được tự do đi lại dễ dàng như trước kia khiến họ oán ghét chế độ, từ đó trong lòng nhân dân phát sinh ra một bài thơ chui “ĐI RA . . . ĐI VÀO” khá dí dỏm, mở đầu bằng câu Kiều của Nguyễn Du:
Trăm năm trong cõi người ta,
Ai ai cũng được đi ra, đi vào.
Chậm tiến như ở nước Lào,
Người dân vẫn được đi vào, đi ra.
Tiên tiến như ở nước Nga,
Người ta cũng được đi ra, đi vào.
Xa xôi như nước Bồ-Đào,
Đồng bào vẫn được đi vào, đi ra.
Mọi rợ như Angola,
Người ta cũng được đi ra, đi vào.
Độc tài như xứ bác Mao,
Nhân dân vẫn được đi vào, đi ra.
Chỉ riêng có tại nước ta,
Người dân cóc được đi ra, đi vào.
Chiếm được Miền Nam, cộng sản dùng mọi thủ đoạn gian manh như đổi tiền, đánh tư sản mại bản, tịch thu tài sản, sưu cao thuế nặng để bóc lột nhân dân cho đến trần trụi. Quá bần cùng, không cơm ăn áo mặc người dân phải đi ăn xin, ăn mày. Trong thời điểm này, ăn mày xuất hiện khắp đường phố và dân gian đã nhại bốn câu Chinh Phụ Ngâm để nói lên thảm cảnh ăn mày của người dân dưới sự cai trị tàn bạo của ngụy quyền tự nhận là “Đỉnh cao trí tuệ của loài người”:
Con cháu Lạc Hồng chung giống cả,
Không què đui sao rủ rê nhau.
Đảng ta bị gậy trao tay,
Nửa đêm truyền hịch đợi ngày . . . ăn xin!
Sau ngày 30-4-1975, Miền Nam như sụp xuống địa ngục, tập đoàn cộng sản đã vẽ nên bức tranh đen tối cho quê hương. Trước kia, dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa người dân được sống sung túc về vật chất, thoải mái về tinh thần. Sự giàu sang, sung túc của Miền Nam bị những người cộng sản Bắc Việt gọi là “sự phồn vinh giả tạo” và sau khi “giải phóng” Miền Nam họ đã biến sự phồn vinh giả tạo này thành địa ngục của đói rách, khổ đau, nhục nhã, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc, cả nước phải ăn cơm độn với khoai hay phải ăn bo bo. Các cựu sĩ quan với bằng tú tài, cử nhân, kỹ sư, giáo sư phải chạy xe ôm, đạp xích lô, bán chợ trời . . .
Nhìn những người có học, trí thức đó phải bưng những cái mẹt đi bán từng trái chanh, trái ớt, từng bó rau muống, từng tấm vé số, từng điếu thuốc lá hay sửa xe ở góc đường thấy mà chảy nước mắt cho một cuộc đổi đời. Trước cảnh quê hương bầm dập tả tơi, đồng bào lầm than khốn khổ, người dân đã nhại bài ca dao “Mười Thương” để nói lên thảm trạng của đất nước sau ngày được gọi là “giải phóng”:
Một thương phá hại xóm làng,
Hai thương bác bảo gian nan trường kỳ.
Ba thương cơm độn củ mì,
Bốn thương hội họp bất kỳ ngày đêm.
Năm thương chân cứng đá mềm,
Bắt đi đánh trận đông Miên, hạ Lào.
Sáu thương sản lượng bình cao,
Để cho mức thuế ngày nào cũng tăng.
Bảy thương sản xuất siêng năng,
Thuế rồi nhịn đói nhăn răng cả nhà.
Tám thương được hát quốc ca,
Của hai nước bạn là Nga với Tàu.
Chín thương nô lệ cúi đầu,
Chùi giày Trung Cộng, quạt hầu Nga Sô.
Mười thương có một bác Hồ,
Làm cho điêu đứng cơ đồ Việt Nam!
Cộng sản đưa ra khẩu hiệu “Lao động là vinh quang” nhưng thực chất của chính sách thi đua lao động là phương cách bóc lột mồ hôi, máu lệ của người dân để đời sống của cán bộ và lãnh đạo giàu sang, “ngồi mát ăn bát vàng”. Đây, xin hãy nghe người dân nghèo khổ, lầm than gióng lên những tiếng chuông ngân dài, ai oán:
Thi đua làm một thành hai,
Để thằng cán bộ mua đài, mua xe.
Thi đua làm một thành ba,
Để thằng cán bộ xây nhà, lót sân.
Thi đua làm một thành tư,
Để thằng cán bộ tiền dư, bạc thừa.
Thi đua làm một thành năm,
Để thằng cán bộ vừa nằm, vừa ăn.
Hay: Công nhân giai cấp tiền phong,
Ăn đói vác nặng, lưng còng mắt hoa.
Một người làm việc bằng ba,
Để cho lãnh đạo xây nhà, xây lăng.
Mọi người thi đua thật hăng,
Để cho lãnh đạo ăn nằm thảnh thơi.
Công nhân vợ ốm, con côi,
Lãnh đạo nhà đẹp, xe hơi bề bề.
Bao giờ cho hết trò hề?
Ngoài sự bóc lột người dân, chế độ cộng sản còn sinh ra tệ nạn tham nhũng. Tham nhũng ở khắp mọi nơi trong guồng máy nhà nước. Cán bộ tham nhũng đã trở thành những“tư bản đỏ” với tiền rừng, bạc biển. Theo tin tức cho biết hiện thời có rất nhiều cán bộ cao cấp và lãnh đạo cộng sản là những triệu phú hay tỷ phú Đô-la (USD). Ai cũng biết hầu hết cán bộ cao cấp và lãnh đạo cộng sản đều thuộc thành phần vô sản vì thế người dân mới hỏi nhau rằng nếu chúng không tham nhũng, không mánh mung, không ăn cắp công quỹ, không ăn cướp của dân, không bán rẻ tài nguyên quốc gia thì thử hỏi tiền đâu để chúng trở thành triệu phú hay tỷ phú Đô-la? Xin hãy nghe những lời ta thán của người dân:
Hỡi phường cán bộ gian tham,
Sao chẳng chịu làm chỉ chực ăn không?
Hoặc:
Chủ tịch nằm ngủ trong lăng,
Trung ương nghỉ mát lăng xăng nước ngoài.
Phu nhân buôn lậu dài dài,
Cô chiêu, cậu ấm nước ngoài yên thân.
Chung quy chỉ chết thằng dân!
Quá khổ dưới sự cai trị bạo tàn khiến người dân uất hận đem các lãnh tụ cộng sản ra oán trách và châm biếm. Người bị oán trách trước tiên là Hồ Chí Minh:
Trách ai sinh thứ họ Hồ,
Để cho đất nước như đồ vất đi.
Ngoài sự oán trách, người dân còn đem ông Hồ ra mà châm biếm:
Mỗi năm một mét vải sô,
Làm sao che được cụ Hồ em ơi!
Hay:
Di ảnh bác Hồ lộng kiếng treo,
Nghĩa là liệng cống, cạnh chuồng heo.
Vất mi xuống đó, loài muông cẩu,
Đừng để chúng ông giận đá bèo.
Và khi nhà nước cộng sản vừa mới dựng xong tượng Hồ Chí Minh ở Bến Ninh Kiều thuộc tỉnh Cần Thơ thì người dân cũng có liền hai câu thơ bằng thứ văn chương đối kháng mà khi đọc lên hồn ma ông Hồ cũng phải nhức nhối:
Chiều chiều trên Bến Ninh Kiều,
Dưới chân tượng bác đĩ nhiều hơn dân.
Chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa hoang tưởng nên khi áp dụng nó sẽ đem lại những hậu quả tai hại thế mà Hồ Chí Minh đã du nhập chủ nghĩa này tròng lên đầu lên cổ nhân dân với lời hứa đưa đất nước lên “thiên đàng cộng sản”. Thiên đàng đâu không thấy mà chỉ thấy đất nước bị tụt hậu, dân tình lầm than, khốn khổ cho nên, ngoài sự oán trách ông Hồ, dân Việt Nam ta còn oán trách cả Karl Marx, cha đẻ của chủ nghĩa hoang tưởng này:
Cụ Mác ơi! Cụ là đồ chó đẻ,
Thiên đàng cụ hứa như thế kia a?
Sau ông Hồ, các lãnh tụ của tập đoàn cộng sản bị nhân dân nguyền rủa, châm biếm nhiều nhất là Tổng bí thư Lê Duẫn, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh Đặng Xuân Khu, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, tướng Võ Nguyên Giáp:
Ai sinh tên Duẫn tên Duân,
Em đã không quần, cái áo cũng không.
Ai sinh tên Sắt tên Đồng,
Em đã mất chồng, mất cả thằng Cu.
Ai sinh tên Khủ tên Khu,
Tố cha giết mẹ, bỏ tù toàn dân.
Hay: Thằng Đồng, thằng Duẫn, thằng Chinh,
Tụi mày có biết dân tình cho không?
Rau muống nửa bó một đồng,
Con ăn bố nhịn, đau lòng thằng dân!
Hoặc:
Ông Đồng, ông Duẫn, ông Chinh,
Vì ba ông ấy dân mình lầm than.
Và:
Trường Chinh, Lê Duẫn, Văn Đồng,
Cả ba đồng lòng phá hại nước ta.
Khi Lê Duẫn sang Tàu, sang Nga xin viện trợ súng đạn để đem về pháo kích vào nhà dân, giết hại dân lành thì đồng bào nhại theo bài ca dao “Con Mèo Trèo Lên Cây Cau” để lên án tập đoàn CSBV:
Con mèo trèo lên cây cau,
Hỏi thăm chú Duẫn đi đâu vắng nhà?
Chú Duẫn sang Tàu, sang Nga,
Xin súng, xin đạn cúng ma bác Hồ.
Bản chất của cộng sản là gian ác, vô luân được che giấu dưới mỹ từ “Đạo đức cách mạng vô sản”. Đảng viên càng nhiều tuổi đảng bao nhiêu, giữ chức vụ đảng càng cao bao nhiêu thì mức độ vô luân càng tinh vi bấy nhiêu. Xin hãy nghe người dân chế giễu cái “Đạo đức cách mạng” của các lãnh đạo cộng sản:
Phủ Chủ tịch có con dê,
Làm bao cán bộ vỗ về mệt công..
Dê Duẫn lẩn tránh đám đông,
Tối ngày tìm húc cái lồng không “rê”.
(Cái LỒNG không G).
Và khi mà Võ Nguyên Giáp bị phe Lê Duẫn, Lê Đức Thọ làm nhục bằng cách tước hết binh quyền rồi giao cho chức vụ phụ trách “Sinh đẻ có kế hoạch” thì các chị em phái nữ che miệng cười:
Ngày xưa Võ Giáp cầm quân,
Ngày nay Võ Giáp cầm quần chị em.
Còn những chị em khác có óc hài hước, hóm hỉnh hơn một chút thì khúc khích rỉ
tai nhaumà rằng: Ngày xưa Võ Giáp bịt đồn,
Ngày nay Võ Giáp bịt l.. chị em.
Để kết luận, dưới sự cai trị của cộng sản, đồng bào đói khổ, xã hội suy đồi, truyền thống dân tộc bị chà đạp, tự do con người bị tước đoạt. Và cũng dưới sự cai trị của cộng sản mà Việt Nam ta đã trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới, còn xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội nhiều tệ đoan nhất hoàn vũ. Tóm lại, Xã Hội Chủ Nghĩa của cộng sản hoàn toàn thất bại, bị phá sản toàn diện, gây ra những vết thương rỉ máu cho Mẹ Việt Nam và những vết thương rỉ máu này chỉ lành được khi quê hương không còn bóng dáng của những người cộng sản.
Quán Chủ Phong Trần Quán
Tể Tướng An Nam vời quan án sát “Mặt Trận Tổ Quốc” (MTTQ) vào dinh nhủ rằng:
- Bọn kiều bào ở các xứ Tây Ðộc và Cờ Hoa đã dùng các kênh truyền thông ảo phá rối tình hữu nghị mười sáu chữ vàng của ta với thiên quốc như vậy mà các vị cứ bàng quan tọa thị mãi sao?
Quan Án Sát “MTTQ” sợ vàng mặt thiếu điều vãi cả ra quần, bèn sụp xuống tâu trình:
- Xin ngài an tâm, hạ quan đã có kế sách tuyệt vời , chỉ cần bỏ ra vài triệu tiền Ðô là hai kinh phẳng lặng như tờ.
- Tuyệt vời! Kế hoạch như thế nào?
- Mình mời các tên có máu mặt ở hải ngoại về cho họ ăn chơi vài bữa rồi ta khoa trương thanh thế là đã tuyển lựa được hàng ngàn trí thức, tư bản yêu nước về xây dựng đất nước rừng vàng biển bạc như vậy vừa được lòng hải ngoại vừa răn đe được bọn trí thức, tư bản phản động trong nước.
- Nhỡ bọn phản động len lỏi vào thì sao?
- Xin ngài an tâm, chúng ta đã có hai cái sàng, sàng “MTTQ” và sàng sứ quán thì bọn phản động lọt vào sao được. Người nào ta nắm chắc thuộc thành phần có cảm tình nặng hoặc đang chấm mút lợi nhuận của ta thì mình mới gọi về.
- Nhỡ có đứa ngứa miệng hỏi về chuyện bô-xít , biên giới, biển Ðông thì sao?
- Xin tể tướng bình tâm. Có cho vàng cũng không có đứa nào dám thắc mắc những chuyện bí mật quốc gia như vậy.
- Nhưng mình cũng phải có màn kịch giải đáp thắc mắc không có lại mang tiếng là chúng ta độc tài đảng trị.
- Dạ, để hạ quan xin mời thượng thư Bộ Lễ vào cho ngài phán bảo.
Vài phút sau thì quan thượng thư Tô Như Rứa ra mắt tể tướng. Viên thượng thư Bộ Lễ này nổi tiếng về chính sách trị dân bằng “Lề Phải”. Thảo dân hay cấp dưới mà cầm đũa, cầm dao, cầm bút tay trái, nhìn bên trái hay chạy xe bên lề trái là bỏ tù liền. Dân chúng sợ quá không ai dám nói tới hoặc sử dụng tay trái nữa. Nhiều người ngủ với vợ cũng không dám nằm bên trái vợ. Chừng vài năm nữa là dân An Nam mang tật đi, đứng, nằm, ngồi... cứ lệch về bên phải hết.
Tể tướng vỗ trán hỏi quan thượng thư rằng:
- Thượng thư đã có danh sách phái đoàn Việt Kiều tham dự Hội Nghị Diên Hồng của ta chưa?
- Dạ, xong hết rồi. Ta có hai danh sách. Một danh sách chính thức và một danh sách giả. Danh sách chính thức là người của ta, còn danh sách giả gồm những tên phản động, mình tung lên mạng để làm hỏa mù và cũng để chúng đánh nhau cho rã đám.
- Ðộc! Ðộc thiệt. Thế danh sách thực có ai nổi tiếng không?
- Ta đã có sẵn mấy tay mình nuôi từ mấy năm nay rồi. Kẹt một cái kiếm bọn nổi tiếng ở Mỹ, ở Tây khó quá.
- Túng quá thì cứ nhét tên dâu rể của tôi vào, chúng nó là Việt kiều Mỹ cả đấy. Thế quan thượng thư đã soạn sẵn câu hỏi cho họ chưa?
- Dạ, đâu vào đấy cả rồi. Họ sẽ được học tập trước là tuyệt đối không được đụng chạm vào các vùng nhậy cảm như mất đất, mất biển, bô-xít, tham nhũng.
- Nhớ khuyến khích chúng về mở tiệm phở, quán cà-phê, khách sạn, đánh golf, gái gú, cờ bạc.
- Vâng! Mình sẽ bắt cả phái đoàn đi thăm lăng Bác, chụp hình từng người để sau này chúng không dám mở miệng nói xấu Bác nữa.
- Nhớ kêu nhiều ca sĩ nổi tiếng về bồi dưỡng tinh thần phái đoàn đấy
- Dạ, ta có đủ cả ca sĩ quốc nội lẫn quốc ngoại toàn hàng độc không đấy ạ.
- Tốt lắm! Nhớ sắp cho cặp vợ chồng ấy dẫn đầu phái đoàn để trát tro vào mặt lũ chống Cộng. Thôi thượng thư về cùng các bộ khác cứ thế tiến hành cho tốt nhé.
Sáu trăm tờ báo, mấy chục đài truyền hình, phát thanh trong nước được lệnh ngài Tô Như Rứa ra sức ca tụng phái đoàn Việt Kiều ưu tú về nước để được tai nghe mắt thấy Tổ Quốc An Nam XHCN toàn vẹn lãnh thổ, hải đảo, biển trời mở rộng tới tận Bắc Kinh, nhà nhà bô-xít đầy sân, đầy ngõ, đất nước sạch bóng tham quan...
“Ðảng ta muôn năm trường trị” để mỗi năm lại có hàng ngàn Việt Kiều được xênh xang áo mão về làng du hí của trời.
Vô Danh Thị/VN.
Tôi du học Tây về! Câu đơn giản thế nhưng lanh lảnh như tiếng chuông mới đúc. Chữ “Tây” không chính xác về địa lý nhưng chuẩn xác về sự phân chia cấp bậc cũng như cái nhìn trong xã hội. Có điều tôi chỉ đi “Tây” Nga về chứ không “Tây” Mỹ, “Tây” Úc hay “Tây” Đức, Pháp... Cái “thiệt thòi” hôm nay là “ưu đãi” trước kia của Bộ đại học dành cho tôi. Chả gì nước Nga cũng “ông anh cả” của Việt nam – “nước cộng hòa thứ 16 của Liên xô”. Tôi là kỹ sư kinh tế ở Nga về. Nghe không vang như câu trên. Phải thôi.
Kinh tế Nga chục năm nay lu mu, chả ra “kế hoạch quốc gia”, chả ra “kinh tế thị trường”. Sách vở là phương tiện cãi nhau của các nhà “đổi mới”. Năm năm đèn sách nhét thứ đó vào đầu không ngớ ngẩn là may. Tôi mang chiếc bằng đi xin việc. Đầu tiên tôi mua báo, nghiên cứu “tuyển người”, đánh dấu xanh đỏ những chỗ “khả thi” và bắt đầu gọi điện. Nhà có điện thoại lợi đủ đường. Tuy nhiên, mỗi lần “bắt” được giọng đầu dây kia, hiện tượng này chiếm 30% số lần gọi, mẹ và bà chị dâu đều “ý tứ” xem đồng hồ. Nào tôi có ham “nấu cháo điện thoại” mà tại phí điện thoại “cấu” vào đồng lương gớm quá. Tôi đi Tây, tưởng “kinh tế” cho gia đình mấy năm sinh viên. Nào đâu đúng thời kỳ khó khăn. Việt nam qua thời “tem phiếu” từ lâu mà nước Nga bắt đầu “talon”*. Tháng 2 kg đường, 7 lạng thịt, 2 chai vôtka là tiêu chuẩn sinh viên! “Talon” đường, rượu tạm đủ còn thịt thiếu nặng. Ra chợ, có đấy, nhưng học bổng eo hẹp.
Chẳng nhẽ để con gái chết đói ở đất nước Xã hội chủ nghĩa, mẹ tôi đành tiếp viện. Năm năm “hạch toán” ra chắc cũng lõm của mẹ tôi ối. Biết thân, biết phận, về nước tôi không dám làm mình, làm mẩy “quen ở Tây” thế nọ, thế kia. Chỉ duy nhất cái “màn tra tấn” 6 giờ sáng bị khua bằng đủ âm thanh “nội” “ngoại” là tôi “choáng” hẳn.. “Nội” là tiếng mẹ tôi mở cửa sắt đi tập thể dục, chị dâu tranh thủ sáng có nước bơm giặt giũ. Xô chậu “duyệt binh” xủng xoảng ra trữ nước dùng trong ngày. “Ngoại” là tiếng rao bán. Từ “mỳ nóng”, “bánh cuốn”, “xôi” các loại đến gạo tẻ, gạo nếp “tên tuổi” nghe như tiếng Thổ, hoặc mắm muối kèm mùi khó tả... Điên nhất là ông mãnh “mỳ nóng” sáng nào cũng như “đồng hồ Tây”. Nó đứng dưới cửa sổ tôi gào “mì nóng” lanh lỏi, kết thúc bằng chữ “ròn”. Chao ôi, khâm phục độ nẩy của lưỡi nó. Đồ rằng, cả miền Bắc có mình nó biết phát âm chữ R! Không trốn được những âm thanh đó, tôi chúi đầu vào đống chăn chịu đựng qua “cơn bĩ cực”. Nhưng giờ “thái lai” đến là lúc mẹ tôi đi tập thể dục về. Nhìn con gái còn “giương đò”, bà lại ca “dậy sớm có lợi cho sức khỏe” là lá la... Thôi thà dậy béng cho xong. Chuyện xin việc không thể gọi điện thoại. Tôi đã qua bài học thứ nhất khi tổng kết thông tin qua điện thoại là con số 0 tròn trĩnh. Mấy người trực điện thoại hoặc nhấm nhẳng hoặc chẳng trả lời câu nào cho ra hồn. Tôi mò tới “Trung tâm giới thiệu việc làm” và thấy ngay mình là con ngớ ngẩn. Vừa lộ “tốt nghiệp ở Nga về”, họ hỏi ngay: - Sao không ở lại, về làm gì? - Làm việc. - Việc gì mà làm? Tôi trố mắt nhìn họ, thầm điểm lại xem mình có vào nhầm chỗ. - Ở đây không giới thiệu việc à? Sao ngoài kia cả chục người làm hồ sơ? - Họ làm hồ sơ xin đi ra nước ngoài lao động, làm ăn. Đi Hàn quốc, Libi, Iran... có cả đi Nga đấy. Cô có muốn... Tôi xua tay cám ơn rồi chuồn thẳng ra cổng. Bài học thứ hai. Tránh lai vãng ở “Trung tâm giới thiệu mờ ám”. Không khéo bị lẫn vào hàng ngũ các cô gái “sính” chồng Đài Loan. Sau hai bài học, 50% nhiệt tình “phục vụ đất nước” đã đi tong.
Tôi chuyển sang “xu hướng” nghe ngóng chứ không đâm đầu làm theo báo nữa. Người thân mong ngóng tôi về sau những năm xa cách, qua 5 tháng, tình cảm cũng vơi đi. Đến mẹ tôi còn sốt ruột khi thấy con gái thất nghiệp nằm chỏng gọng ở nhà. Bà rỉ rả “nhàn cư vi rồi đấy con ạ”. Đúng quá, nhàn đến “rách việc” đây. Sáng chiều cơm nước. Từ ngày tôi về, tự dưng “Osin” về quê. Chả hiểu bà chị dâu tốt nghiệp khoa kinh tế ở đâu mà giỏi tính thế. Tôi hậm hực cũng chịu, nhăn nhó mẹ tôi chả “hát” nửa tiếng đến ong thủ mất. Bạn bè, đứa có việc đi cả ngày, đứa chưa có việc lại có người yêu, chồng con. Tôi trơ thổ địa, chẳng nhẽ trách ông Trời. May còn dăm ba đứa “lơ lửng giữa trời”. Tối tối tôi xách xe chạy qua nhà chúng tán gẫu, chia xẻ “mánh khóe sống đời”. Tôi hiểu giờ người ta xin việc là xin vào chỗ có “mầu”.. “Mầu” là bổng lộc. Khoản này không thể có ngay khi mới làm mà phải nhích lên “lão làng”. Không phải ai cũng nhấp nhổm lên được. Chỉ những “tinh hoa” thôi. “Mầu” nữa là “mầu đi Tây” theo suất “nâng cao”. Tụi bạn tôi may mắn có việc thấy chí tiến thủ của chúng nhuộm sắc “hướng ngoại”. Chúng cong mông theo các lớp tiếng Anh, tiếng Pháp như lũ “sống gấp”, xem ngoại ngữ là cái “cánh” mang chúng ra bầu trời tự do. Sau mấy tháng “thất nghiệp” từ một con “Nga ngố” tôi kết hợp tính nói thẳng, nói thật của Tây với ngoa ngoắt của mấy bà hàng rau, hàng thịt mà mỗi ngày hai lần tôi nhẵn mặt thành một dạng “củ chuối” mà mẹ tôi không chấp nhận được. Bạn bè bầu tôi là “huấn luyện viên phụ huynh” tầm cỡ. Từ chỗ mẹ tôi muốn lấy lại hình ảnh đứa con gái út thùy mị của trước ngày đi Tây, chuyển sang tôi “biến” bà phải chấp nhận triết lý “cái gì cũng có thể với con gái mình”, thậm chí là cướp biển! Một kết quả đôi bên cùng có lợi.. Tôi được tự do, mẹ tôi khỏi thấp thỏm khi khuya khoắt. Nhưng một cái lợi nữa mà tôi chưa lường được.
Tình trạng “bụi đời” của tôi khủng bố tinh thần cả nhà nên họ huy động toàn bộ các mối quen biết họ hàng từ “bắn đại bác” đến “phi dao” để tìm việc cho tôi. Vào một bữa cơm chiều, ông anh trai yêu quý thông báo một tin quan trọng rằng ông giám đốc, bạn cũ hồi phổ thông, dù mới tìm lại nhưng có nhiều duyên nợ, nhận tôi vào công ty ông ta. Mà đó là công ty nhà nước trăm phần trăm, thuộc Bộ khoa học và Công nghệ môi trường cơ mà. Cả nhà xôn xao, khởi sắc. Tôi cũng hí hửng như sắp thành “ông nọ, bà kia”. Thêm bài học thứ ba. Muốn xin được việc phải quen biết. Tổng quát, muốn được bất kỳ việc gì đều phải có “quan hệ”. Cứ kiểm chứng bằng những buổi tôi “đánh quả” nhà bạn bè là biết.
Chị dâu hay mẹ tôi đi chợ, y rằng bọn bán hàng nó giúi cho rau già, bí xơ, thịt dai nhoách. Không có “quan hệ khách hàng thường xuyên” tôi xây dựng mấy tháng nay làm sao có đồ ăn ngon. Tôi giờ ra chợ mua cả tuần không trả tiền là cứ vô tư. Quen thế, không chừng khi nào cưới, tôi phát đại cho chúng thiếp mời cũng chẳng có gì muối mặt hết! Ông anh giục tôi tới Bộ Giáo dục và Đào tạo xin giấy chứng nhận tốt nghiệp làm hồ sơ. Tôi ngoạc mồm cãi “bằng sờ sờ ra còn chứng nhận, chứng nhiếc gì” liền bị cả nhà xúm vào sỉ vả ác liệt. Mỗi người một giọng lên lớp hòng dẹp cái thói “ngông nghênh” của tôi. Mười giờ sáng tôi có mặt ở cổng Bộ Giáo dục và Đào tạo. “Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” có khác, nhà cửa của Bộ đàng hoàng, khang trang. Khu vườn thênh thang giữa thủ đô tấc đất, tấc vàng nhìn sướng mắt. Tôi tiến đến khu nhà 5 tầng, bắt đầu một chuỗi những “xin lỗi chú”, “xin lỗi cô” và cuộc “việt dã” theo cầu thang. Giờ tôi mới biết người Việt nam nào có tính “nhúng mũi” vào chuyện người khác. Tất cả các câu hỏi của tôi đều được trả lời u ơ “không rõ”, “hình như”. Tôi khùng người vì leo thang nhưng ngộ ra vì sao mẹ tôi về hưu rồi còn tập chạy(!).
Cuối cùng tôi cũng mò ra phòng phụ trách lưu học sinh tốt nghiệp. Tôi gõ cửa dõng dạc, bước vào sau tiếng hừm.. Tôi chào lịch sự dù chỉ nhận lại chiếc gật hay lay động cơ cổ.
- Cô cần gì?
Một trong hai người đàn ông đang đọc báo hất hàm hỏi.
- Thưa, cháu xin chứng nhận tốt nghiệp để làm hồ sơ xin việc.
- Về bao giờ?
- Dạ, gần một năm.
- Sao giờ mới lên đây?
- Dạ... chẳng ai bảo cháu phải lên ngay cả.
- Cô này vô tổ chức, nguyên tắc về nước phải báo cáo ngay, còn chờ ai bảo.
Bị mắng “ngứa tai” lắm nhưng bài học cả nhà dạy hôm qua còn nguyên nên tôi im như hến. Tôi rút bằng, sổ điểm cùng giấy sứ quán cấp trình ông ta. Ông ta cầm tấm bằng, không đọc mà lật qua, lật lại. Lật chán ông quay nhìn tôi.. Nhìn như đánh giá mặt hàng, không khác gì tôi chọn cá. Thậm chí còn bĩu môi. Tôi nghĩ, ông này mua cá mà “thể hiện” thế, bọn hàng cá chửi cho tanh người. Nghĩ gì thì nghĩ tôi vẫn làm mặt khép nép. Chợt ông ta ném bẹt cả bằng lẫn giấy tờ của tôi xuống bàn, hỏi gọn lỏn:
- Học gì? Ở đâu?
- Dạ kinh tế, trường Plekhanov ở Matxcơva.
- Học từ năm nào? Tốt nghiệp năm nào?
- Dạ... những điều đó có cả trong bằng rồi, sao chú còn hỏi.
- Tôi hỏi là việc của tôi. Cô không trả lời được phải không?
Ông ta ngẩng nhìn tôi mãn nguyện. Chả hiểu ông ta phát minh được cái quái gì từ mấy câu hỏi trẻ con đó mà mắt ông chợt ánh lên ranh mãnh.
- Cô học hành cái gì. Sang chỉ lo đi buôn, bằng thì mua.
Tôi há hốc mồm còn chưa tin ông ta đang “vu cáo” mình. Ông ta dồn tiếp:
- Cô nói tôi nghe, bằng này cô mua bao nhiêu?
Đến nước này tôi chịu hết nổi. Bao kinh nghiệm cãi nhau với mấy bà ngoài chợ chợt loang loáng trở về. Tôi vênh mặt không kém ông ta, mắt cũng “đèn pha ôtô” xoáy áp đảo:
- Chú nói bằng này giả? Chú nói bằng này mua? Nghĩa là bảng điểm cũng giả, giấy chứng nhận của chú trưởng phòng Lưu học sinh Matxcơva cũng mua nốt. Vậy chú làm ơn ghi cho cháu mấy chữ vào đây. Tiện ký và đóng dấu luôn cho cháu. “Nói có sách, mách có chứng”, mai kia có người sang Matxcơva, cháu kiểm chứng lời chú. Vừa nói tôi vừa rút xoạch tờ giấy và cây bút đặt trước mặt ông ta. Ông ta đứng bật dậy, há hốc mồm chẳng khác gì tôi lúc trước, lắp bắp:
- Cô... cô ăn nói với tôi thế hả. Giọng lưỡi con buôn...
- Chú nhìn người như thần. Cháu học kinh tế chú nói đi buôn. Bằng chú lật qua mà biết giả, thật kém gì người buôn “xanh”... Ông ta đập bàn đánh rầm:
- Cô tưởng đây là chợ, cô phát biểu vô tổ chức... biết đây là đâu không?
Tôi suýt nữa cũng học bà bán thịt bò kèm 70% thịt trâu ngoài chợ chống tay vô hông, “quạc” lại:
- Cháu biết... thì chỉ có chợ mới nói “giả, thật, giá bao nhiêu” chứ.
Mặt ông ta đỏ rần như người có triệu chứng huyết áp “quá tải”. Tôi trót “cưỡi lưng hổ”, tự biết không đường lui.
Cuộc đấu khẩu sẽ đến đâu nếu không có tiếng cười của người đàn ông thứ hai trong phòng. Cả hai “đối thủ” cùng dồn mắt sang ông ta. Người đàn ông chậm rãi tới bên tôi. Nét mặt hòa nhã nhưng mắt giấu vẻ khoái chí sau cặp kính.
- Cháu nói với chú Đạo thế là không được. Chú Đạo người lớn chẳng chấp cháu “trẻ người, non dạ” làm gì. Đứa nào mới đi Tây về chẳng thế. Đưa bộ copy đây chú vào sổ. Chiều mai lên lấy giấy ở phòng 32. Thôi, chưa xin lỗi chú Đạo còn chờ gì?
Nghe vậy là tôi đủ “thông minh” hiểu ý. Một trọng tài kinh nghiệm thổi còi đúng lúc nhắc hai cầu thủ “fair play”! Tôi chuyển tần số lời nói:
- Chú Đạo bỏ qua cho cháu mấy lời láo lếu vừa rồi. Ở nhà cháu vẫn bị mẹ mắng suốt vì tội cãi bướng mà. “Chú Đạo” kia mặt vẫn đỏ nhưng lẽ nào không “miễn cưỡng bắt tay đối thủ”. Ông ta lầm lỳ chẳng ra gật, ra lắc ngồi xuống cầm tờ báo đọc tiếp. Tôi lại gần người đàn ông mang kính để ký vào sổ, khẽ nói nhỏ:
- Cháu cám ơn chú nhiều. Ông ta mỉm cười với tôi:
- Molodec! (Cừ lắm!)
Bữa cơm chiều, tôi “tường thuật” lại chuyện “chú Đạo”. Chị dâu tôi khoái bất ngờ tới mức trước mặt mẹ chồng dám vỗ đùi đôm đốp. Tôi ngờ rằng bà này cũng từng bị cái Bộ kia “đì” rồi nên giờ được “trả thù quá khứ”. Mẹ và anh tôi nhăn nhó. Mãi sau mẹ mới chép miệng:
- Mày thật chả khác bố mày ngày xưa.
Bố tôi ra đi sớm khi tôi mới 10 tuổi. Tôi chẳng còn nhớ nhiều về bố. Nhưng tôi tin, nếu ông còn, ông sẽ xoa đầu con gái rượu chứ chẳng mắng đâu. Đầu tuần, theo lời ông giám đốc tôi đến cơ quan làm việc. Không biết nếu tôi đi làm dâu mẹ tôi có lo như tối hôm trước ngày tôi đi làm. Bà đi ra nhắc, đi vào dặn. Anh trai tôi răn đe:
- Mày làm thế nào cho tao còn gặp lại được bạn bè. Bớt mồm đi. Người ta hỏi, trả lời cho ngoan ngoãn. Lớn rồi, nghe hỏi phải biết ý họ mà trả lời.
Con bạn thân đọc “lesson” cho tôi lĩnh hội. Nào bánh kẹo, thuốc lá, trà ra sao, chào ai cô chú, ai anh chị... Đặc biệt khoản “ngoại hình”:
- Mặc đầm cho nữ tính. Đầm dài bớt ganh ghét của đồng nghiệp nữ nhưng mất cổ động viên nam. Độ ngắn của đầm tỉ lệ thuận với trình độ văn hóa.
Tôi lục tung valy tìm ra chiếc đầm xanh. Màu hơi ngớ ngẩn nhưng có vẻ nữ tính. Độ dài của nó vừa khéo để không sexy cái đầu gối củ lạc, lại chứng tỏ tính kín đáo của bằng Đại học. Tôi đi sớm, lởn vởn chờ phòng số 4 có người. Theo lời giám đốc, tôi xông tới “làm quen”. Ở nhà mẹ vẫn khen tôi có đức “trơ tráo”. Tôi còn nhiễm tính “tự tin mù quáng” của người Nga nên chả bối rối chút nào khi bước vào.
- Chào các chị, các anh - Tôi hơi nghêng người và nở nụ cười bài bản
- Em là Thu, anh Bình giám đốc nhận em vào làm công ty mình từ hôm nay.
Năm người, định vị năm bàn quay nhìn tôi. Một giây, hai giây... năm giây. Tôi chợt thấy nụ cười trên môi mình vô duyên trước 10 chiếc mắt dọi vào. Từ hôm về nước, tôi xem nhiều phim Việt nam và không chịu được vẻ vô cảm của các “sao” điện ảnh. Giá họ học được vẻ mặt của năm người đang chiếu tướng tôi đây chắc nền điện ảnh Việt nam sẽ phất kém gì Holywood.
Sang giây thứ sáu, muốn hay không nụ cười của tôi cũng không le lói hơn được nữa. Tôi đứng đực ra chờ phản hồi nhưng hình như họ cố làm vẻ nghễnh ngãng. Tôi thầm rủa số mình đi đâu cũng không xuôi xẻ.
- Sao tôi chả biết gì nhỉ?
Một giọng nam chất kim vang lên phá tan bầu không khí “mặc niệm”.
- Ông Bình làm những chuyện lạ đời. Đùng đùng cái gì cũng theo ý mình, hay dở thế nào cho người khác đổ vỏ. Giọng nữ ồ ồ cằn nhằn.
- Em có nghe loáng thoáng - giọng cô gái khá trẻ ngồi bàn gần cửa – Anh Bình nói nhận người về. Sắp tới công ty mình ký hợp đồng với công ty thiết bị y học của Nga. - Ôi dào, viện này thiếu gì kỹ sư học Nga về. Toàn thằng chẳng làm được việc gì lại còn nhận thêm.
Giọng kim vừa nẫy nhưng tôi đã phát hiện ra của người đàn ông ngồi góc phải. Dù cửa sổ mang ánh sáng ban mai vào nhưng khuôn mặt ông vẫn không vì thế bớt già nua và nhăn nhó như quả táo Tàu. Kinh nhất là cặp mắt kẻ chỉ, khó đăm đăm đang tranh thủ “miệt thị” tôi. Tôi vẫn đứng vì chả có ai định mời mình ngồi xuống chịu trận. May hôm nay tôi mặc chiếc đầm xanh. Tuy ngớ ngẩn nhưng theo các nhà “tâm lý học”, màu sắc có tác dụng giải tỏa. Màu xanh lờ lợ đó như lá chuối đặt trên thùng nước đang sánh qua sánh lại. Khổ nỗi “chiếc lá chuối” này không mảy may tác dụng “tâm lý” ông giọng kim. Ông chán bâng quơ, chuyển sang chĩa mũi dùi vào tôi:
- Ai bảo cô tới đây?
Kinh nghiệm ở Bộ Giáo dục và Đào tạo đã dạy tôi chẳng nên ngạc nhiên trước câu hỏi thừa. Ngoan ngoãn như lời ông anh dặn, tôi thỏ thẻ:
- Dạ thưa, anh Bình dặn sáng nay em tới làm quen với các anh chị.
Tình hình nghe ra chẳng sáng sủa hơn sau câu trả lời nhún nhường của tôi. May cô gái gần cửa bước tới kéo ghế mời tôi. Tôi đầy cảm kích. Tôi liếc tìm bộ ấm pha trà, lấy mấy gói bánh kẹo, thuốc lá ra đặt trên bàn, mạnh dạn hỏi cô gái còn đang đứng gần tôi:
- Cho mình mượn mấy chiếc đĩa được không?
“Đồng minh trong hy vọng” của tôi nhanh nhẹn mở tủ lấy đồ và giúp tôi. Tôi thầm cám ơn Trời. Dù thái độ của tôi giờ không còn tự tin như trước nhưng tôi vẫn đủ “khả năng” bê ra từng bàn mời các vị đang chiễm chệ đọc báo và bình luận chuyện không đâu. Tất nhiên họ uống trà. Tất nhiên họ gặm nhấm bánh kẹo và coi sự phục vụ của tôi là “tất nhiên” khỏi cần cảm ơn. Còn tôi “tất nhiên” phải quên thói lịch sự của Tây mà coi đó là văn hóa Việt nam!
Người đàn ông ngồi gần cửa sổ chợt cắt ngang câu chuyện về giá xe máy Thái lan đang xuống:
- Em học ngành gì bên Nga?
- Dạ em học Kinh tế.
- Lại Kinh tế - giọng kim lần này hơi méo có lẽ do chiếc kẹo Hải châu còn mắc trong răng – Đâu cũng nhan nhản kỹ sư kinh tế. Mang tiếng học hành mà chả biết “đếch” gì. Làm hợp đồng viết ngu bỏ mẹ. Cháu ông Viện phó học Kinh tế vừa vào Viện, con bà Hoài phòng “Công nghệ nguyên tử” cũng đang làm hợp đồng bên đó.
Tôi khẽ nhăn mặt. “Lại gặp bạn “chú Đạo” rồi. Giờ mà ông hỏi giá bằng Đại học, mình phải hô bao nhiêu đây?”.
- Cô ở đâu đến đây?
Chiếc kẹo đã chui tọt vào họng nên câu hỏi vang lên lanh lảnh. Một câu hỏi đơn giản như bài học đầu tiên của chương trình học ngoại ngữ, ông có hỏi bằng tiếng Anh tôi vẫn trả lời vô tư.
- Em ở Hà nội ạ.
Những khuôn mặt “đầy ấn tượng” hiện ra. Cáu kỉnh là của ông giọng kim:
- Ai chả biết Hà nội. Quen ai mà tới đây?
- Á... – hơi ngượng vì sự “chậm hiểu” nhưng tôi chữa ngay
- Dạ, em chỉ quen anh Bình giám đốc thôi ạ.
- Quen mỗi ông Bình mà xin được vào Viện lớn thế này.
Giọng ồ ồ thắc mắc kèm theo cái nhìn nghi vấn rất “nữ tính”. Tôi còn quen thêm được ai từ ngày về nước ngoài mấy bà buôn ngoài chợ.
- Thế cô con ai?
Cái hất hàm đầy tính “khảo sát” của ông giọng kim chĩa vào tôi. Tất nhiên lần này tôi đã “thấu” câu hỏi. Ông anh tôi chả dặn phải xem ý người ta mà trả lời là gì. Tôi dõng dạc:
- Dạ em không con ai cả ạ.
Có bịt tai tôi cũng nghe tiếng cô gái “đồng minh” cười váng lên. Tiếng ho khục khục giấu tiếng cười “thiên nhiên” là của ông ngồi kế cửa sổ, anh chàng trung niên từ đầu chưa nói gì chợt rút kính lau lấy, lau để. Chỉ còn lại hai khuôn mặt của hai chất giọng “ngược đời” là thộn ra. Giọng kim rít lên:
- Cô học đâu kiểu nói trêu ngươi thế hả? Cô biết tôi là ai không?
Tôi nghệt mặt chả hiểu mình có tội gì. Tôi quay sang “đồng minh” cầu cứu nhưng cô ta còn mải cười đến mức chạy bắn ra hành lang, vội vàng lao ngay vào ông Bình đang bước tới. Cô khẽ “Ối”, ngượng nghịu. Bốn người còn lại kéo ghế đứng lên chào đồng loạt. Chỉ có tôi đang ngẩn ngơ vì “quả mắng” nên ngồi tại chỗ khẽ lúng búng.
- Chào mọi người! - Giọng sang sảng đúng chất Sếp - Làm quen vui quá. Nhân viên mới có quà cho anh em hả. Được đấy. Quay sang bên, ông giám đốc nói:
- Anh Trung tổ chức và chị kế toán lên phòng tôi có việc cần bàn nhé!
Hai người đứng dậy theo ông lên phòng. Tôi toát mồ hôi. Thôi xong. Ông anh nhắc “khéo lời với ông trưởng phòng tổ chức mới hòng được vào biên chế”. Loạng quạng thế nào tôi “trêu ngươi” ông ta rồi. Vụ này khéo đứt! Ngày sau, tôi đến, chẳng có chỗ riêng của mình trong phòng, chẳng có việc cụ thể. Giám đốc bảo làm quen công việc nhưng có ai nói năng gì với tôi đâu. Cô “đồng minh” trở nên giữ kẽ. Mặt ai cũng như bức tường. Cảm tưởng tôi bị tẩy chay. Tôi ra hành lang nghe chim sẻ chíu chít trên nhánh xà cừ, buồn bã như giữa đảo hoang. Vài ngày sau, giám đốc chỉ tôi phòng nhỏ, kêu dọn dẹp, kê bàn vào lấy chỗ làm việc. Sáng 8 giờ đi, trưa cơm nhà, chiều lại công ty. Việc duy nhất là ngồi và ngó qua cửa sổ. “8 giờ vàng ngọc” thoải mái tiêu. Chán, tôi lò dò xuống phố thăm tình hình Model của Hà nội.
Từ ngày tôi đi làm, dù tập sự không lương, mẹ yên lòng hẳn. Tôi thành “thất nghiệp” toàn phần. Hiếm hoi gặp bọn bạn chẳng biết kể chuyện gì. Chẳng lẽ kể chuyện “năm anh em trên chiếc xe tăng” hở ra là nã đạn vào tôi. Hay kể chuyện Sếp sáng đảo qua công ty vài phút là biến. Thỉnh thoảng, ông định vị trong phòng thì toàn thấy “họp... kín”. Có lần không nén được tò mò, tôi ghé tai nghe trộm. Hoá ra các bố chơi “tá lả”. Tôi chán ngấy đóng vai người thừa. Ho hoe tính chuyện xin thử chỗ khác đã bị ông anh dạy thế nào là đức kiên tâm “trường kỳ kháng chiến”.. Tiền tiêu do mẹ tài trợ đủ ăn sáng, bơm xe, tình rỗng tuyếch, công việc đuổi ruồi. Tôi tù túng trong mọi ràng buộc từ nhà đến công ty. Mẹ tôi nhắc khéo chuyện “gia đình”. Tôi tỉnh queo:
- Mẹ chi tiền. Con ra chợ coi thằng nào “sạch nước cản” mua về làm chồng.
Bà chán. Tôi buồn, tôi nhớ nước Nga.
Khi ở đó tôi chỉ nhìn thấy những điều đen tối mà chê nhưng khi về rồi, tôi biết, tôi thiếu nó. Cho dù ngày đó có bơ vơ, có khó khăn, khắc nghiệt nhưng tất cả thật rõ rằng để mình phải vượt qua. Còn sống nơi quê hương sao tôi lạc lõng. Ai giúp tôi mài bớt những sù sì, góc cạnh để có thể lăn tròn trong xã hội này? Tối thứ bảy, tôi ngồi nhà xem vở tuồng “tân cổ giao duyên”, ngoan như bà góa thủ tiết với chồng.
Chuông điện thoại kêu, tôi uể oải nhấc.
- Thu hả?
- Thu đây, ai đó?
- Còn nhớ Thắng “mập” không? Tao đây.
- Ôi Thắng, mày đang ở đâu vậy? Tôi reo lên khi nhận ra thằng bạn thân từ ngày học phổ thông đến suốt năm tháng ở Nga.
- Matxcơva chứ ở đâu. Mày thế nào, nghe tụi nó bảo đi làm rồi hả?
- Làm khỉ gì, chán muốn bỏ. Tao đã thấy lời mày khuyên ở lại là “chân lý”.
- Thế mày còn thích đến với “chân lý” không?
- Thích cũng phải qua ối “cửa” mới tới được “chân lý”. Còn mày thế nào?
- Tao gọi về hỏi mày chịu qua giúp tao phụ trách phần kế toán cho công ty của tao ở Matxcơva không? Đồng ý tao gửi giấy tờ về làm hộ chiếu. Tao điểm ra chỉ mày đủ khả năng, đúng nghề và tính “bà la sát” của mày mới trị được bọn trong công ty. Nghĩ sao?
Tôi bất ngờ chẳng nói được lời nào. Hơn một năm qua, tôi đã biết, ở Việt Nam “nghề” sáng giá nhất là “nghề đi Tây”, “nghề xuất ngoại” dù ngắn hạn, dài hạn. Những ai chê “nghề” này chắc chắn là Sếp. Mà Sếp chỉ chê “dài hạn” vì đi lâu dễ “vênh cạ” chứ “ngắn hạn” Sếp OK đầu tiên.
- Ê, chán nước Nga chưa mà im như thóc vậy?
- Không... tao đang tính – tôi lúng túng không biết nên nói kiểu gì để hợp “phong cách người Hà nội”
- mẹ tao lo đi nữa sẽ “ê sắc ế”...
- À... mày định lấy chồng kiểu gì tao không biết nhưng nếu định lấy thằng yêu mày thì lấy tao đi. Tao yêu mày lâu rồi. Lần này tôi “cấm khẩu” hoàn toàn.
Thắng chợt chuyển giọng:
- Nói thật đấy. Trời ạ, mẹ tôi nói cấm có sai “Ngưu tầm ngưa, báng bổ như mày, chỉ gặp thằng ngang ngửa”.
Nhưng dù “củ chuối” cỡ nào tôi cũng không thể tưởng tượng ra được màn tỏ tình “mày” “tao” qua điện thoại quốc tế!
- Thu ơi, suy nghĩ đến trưa mai nhé! Thời Edison chỉ cho suy nghĩ 5 phút thôi mà -Thắng cười hì hì- không đùa đâu, 100% nghiêm túc. Hẹn mai!
Máy bay cất cánh, mảnh đất quê hương chao nghiêng. Dòng sông Hồng kia rồi, quanh năm đỏ đậm phù sa. Hà nội li ti, nhấp nhô mái ngói. Tôi lại ra đi lần nữa. Chút nhơ nhớ, bâng khuâng về Hà nội, về mẹ. Giọng cô chiêu đãi viên Nga nhắc người ngồi cạnh đeo dây an toàn nghe quen như mới hôm qua. Nhưng hình như vẫn có gì là lạ. Có lẽ, lạ vì không ngơ ngác như khi xưa sang học. Con đường phía trước sẽ không trải thảm, sẽ không ít khó khăn, nhưng tôi biết, ở đó tôi có thể sống và làm việc mình mong muốn. Cảm giác tự do ngọt ngào. Hà nội mờ dần qua làn mây mỏng. Quê hương ơi, ta sẽ về như tìm bóng cây giữa con đường chang nắng. Sẽ về để thêm động lực ra đi. Về để hiểu ta Người Việt Nam và Quê hương ngàn đời vẫn một! ./.
Tác giả: Trương Quốc Dũng
Đêm cuối cuộc trường chinh đầy gian khổ, ngày mai vào yết kiến Như Lai để lên kiếp Phật. Đường Tăng trằn trọc không sao ngủ được. Suốt cuộc đời tâm nguyện tới cõi này, giờ đây khi sắp trút bỏ kiếp người, ông bỗng thấy lòng day dứt.
Nhiều ngày nay, thân thể Đường Tăng đã rã rời, đầu óc đầy mộng mị, tay biếng lần tràng hạt. Tâm linh như muốn níu chân dừng lạị Máu ông nhức nhối thấm lần cuối qua tim, cứa vào quá khứ đau xé. Ông nhớ tới những người sinh thành ra mình. Tinh cha, huyết mẹ tạo nên mà bao nhiêu năm nay ông không một lần thắp hương, không một lần nhắc nhở.
Chặng đường dài tới đất Phật khiến trái tim ông dần chai sạn. Ông đã quá nhiều lần phải lạy lục, cầu khẩn các thần thánh lớn bé, đã quá nhiều lần giẫm đạp lên xác máu yêu ma xa gần, chỉ với một mục đích: mau thành chính quả. Ông thương ngườị Nhưng đêm nay, trước ranh giới cuối cùng của cõi Người và Phật, ông chợt hiểu ra cội rẽ của tình thương ấỵ Mỗi lần cứu giúp con người, ông chỉ thầm tính toán như xây thêm cho mình một bậc thang tới Phật đài.
Nhiều lần Đường Tăng đã tự hỏi tại sao nước mắt mình ngày càng lạnh giá. Giờ đây ông thầm biết, trên con đường thỉnh kinh về cứu rỗi người đời, ông đã dần dần xa lạ với con người.
Ông trở mình, thở dài: không là người, ta sẽ là ai ? Yêu quái cản đường, biết bao kẻ chính từ trên đây xuống, pháp thuật vô biên, ác nghiệt vô cùng. Ta nhập vào chốn ấy biết rồi thành Phật hay ma.
Đường Tăng chợt nhói trong tim. Ông khẽ rên lên, hai tay ôm ngực. Mở mắt thấy các đệ tử đang đứng bên giường nhìn ông âu lo. Cả ba hình như không ngủ.
Đường Tăng thở hắt: "Không sao đâu Ta chỉ chợt nhớ tới ngày xưa". Nói rồi lại nhắm mắt.
Nghe tiếng Ngộ Không: "Xin thầy đừng tự dối lòng. Thầy đang nhớ cả kiếp người". -- Đường Tăng rùng mình khi giọng Ngộ Không quá u uất -- "Con từ đá sinh ra. Coi thường cả thần thánh, yêu ma, chỉ mong được thành người. Thầy đã là người lại tự bỏ mình đi tìm hồn phách khác. Đêm nay sao khỏi xót xa".
Bát Giới cười khẽ: "Làm người có gì vui. Chúng ta đã dốc lòng theo đạo, ngày mai được lên chốn thần tiên, sung sướng biết bao nhiêụ Thầy đừng luyến tiếc".
Sa Tăng an ủi: "Thầy trò mình sắp hóa Phật mang đạo xuống khai sáng cho loài người. Công quả vĩ đại lắm".
Đường Tăng lắc đầu, nằm im hồi lâu, hai tay vẫn đặt lên tim, mắt vẫn nhắm, nước mắt trào ra ấm nóng lạị Rồi như trăn trối: "Ta ước gì đêm nay đừng sáng. Ta đau đớn cho mười mấy năm viễn dụ Ngộ Không ơi ! Một đời con mong được thành người thì bị bắt ép phải theo ta để thành Phật. Bát Giới tự dối mình giác ngộ thật ra chỉ là đi tìm một chốn hoan lạc mớị Sa Tăng rời cõi u mê này sang cõi hoan tưởng khác mà lại hy vọng khai sáng. Còn ta ? Không còn là người, không phải là người thì làm sao đồng cảm mà đòi khai sáng, cứu vớt con người".
Ngộ Không sụp xuống nắm tay thầy nghẹn ngào: "Thầy đã nhận ra chân lý. Nhưng chậm quá rồi".
Đường về. Qua sông. Thiên sứ cười và chỉ cho Đường Tăng thấy thân xác ông đang trôi dạt dưới cầụ
Nhưng Đường Tăng đã không nghe thấy gì nữa. Đôi mắt vô hồn.
Lời bàn của Lê Ngọc Trà:
Đường Tăng không phải là chuyện về sự lưạ chọn giữa Phật và đời, giữa tâm linh và vô thần, duy vật. Tác giả chỉ mượn cốt truyện xưa để gửi vào đó một điều mình suy nghĩ, vì vậy ở đây Phật chỉ có ý nghĩa như một điển tích, một hình ảnh. Cái hay là người viết đã tạo ra được một tác phẩm vừa đầy chất ngụ ý, tượng trưng, vừa đầy âm điệu tình cảm, với những tính cách phát họa hết sức đơn sơ nhưng rất có hồn. Đặc biệt là nhân vật Đường Tăng. Đó là sáng tạo độc đáo của tác giả. Khác trong Tây Du Ký, ở đây Đường Tăng người hơn, đời hơn, và dễ thương hơn. Cũng là "nhại" truyện Tây Du, nhưng đến phần cuối, tác giả bất ngờ rẽ sang lối khác để cho Đường Tăng "ngộ" ra không phải cái thuộc về Đạo mà là cái thuộc về Đời -- cái chân lý về giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của sự hy sinh và con đường "cứu vớt con người". "Con từ đá sinh ra...". Hóa ra cái kiếp người dẫu lầm than và buồn chán bao nhiêu vẫn là một kiếp sống, một sự sống trên cõi đời nàỵ Được sống, được làm người vẫn là điều quý giá nhất. Những gì cho dù thiêng liêng, đẹp đẽ bao nhiêu mà xa lạ với con người, không mang lại hạnh phúc cho con người thì cũng điều vô ích.
Truyện Đường Tăng đầy những câu ngắn có hồn. Chữ ít nhưng dường như chữ nào cũng sống, cũng có một âm điệu tình cảm, một không gian....
Người Việt có bao nhiêu cách xưng hô giữa vợ và chồng?
Trong cách xưng hô giữa vợ và chồng của người Việt Nam chúng ta rất là phong phú, đa dạng và cực kỳ uyển chuyển trong từng tình huống giao tiếp khác nhau, tôi sẽ nói một số cách xưng hô như sau: -
Lúc thân thiết: Riêng hai vợ chồng với nhau khi chưa có con: Anh ơi, em ơi; mình ơi; cao hơn nữa là: Ai ơi VD: vợ giọi yêu chồng về ăn cơm: Ai ơi về ăn cơm. Chồng hỏi yêu: Cơm ai nấu, vợ trả lời: nấu chớ ai.
Vợ chồng lúc đã có con, xưng hô với nhau hoặc xưng hô trước mặt các con:
Chồng xưng hô với vợ là: Bà nó, Mẹ nó, Bu nó, Bủ nó, Bầm nó, Má nó, Mạ nó, Mợ nó;
Vợ xưng hô với chồng: Ông nó, Bố nó, Ba nó, Cha nó, Cậu nó.
Vợ chồng xưng hô với nhau khi có cả mọi người khác ngoài gia đình: Vợ: Ông nó nhà tôi, Bố nó nhà tôi, Ba nó nhà tôi, Bủ nó nhà tôi,..... và Ông xã nhà tôi;
Chồng: Bà nó nhà tôi, Mẹ nó nhà tôi, Bầm nó nhà tôi,, Má nó nhà tôi,....... và Bà xã nhà tôi.
- Khi vợi chồng căng thẳng, giận nhau:
Cách xưng hô giữa vợ và chồng không còn ngọt nào như trước nữa: Hai người thường dùng những từ, lời lẽ không tốt đẹp đi kèm với cách xưng hô nói ở trên
VD: Tôi nói cho cô rõ; Tao nói cho mẹ mày biết; Thằng này sẽ, ông mày chẳng ngán mẹ mày ,đây sẽ cho mẹ mày biết tay.v.v;
Tôi nói cho anh rõ, Ta nói cho bố mày biết, đây cũng chẳng thua kém bố mày, Bà mày cũng chẳng chịu thua.v.v. rất rất nhiều không sao kể xiết được.
Quả thực người VN có vô vàn cách xưng hô giữa vợ và chồng, hiếm có nơi nào trên thế giới có nhiều cách xưng hô ứng xử giữa vợ chồng phong phú và đa dạng như vậy.
Chúng ta cần tự hào và gìn giữ những cách xưng hô đẹp, đồng thời cũng cần lên án những cách xưng hô không đẹp thiếu văn hóa trong cách ứng sử trong gia đình.
Tình bằng hữu - bạn già Nguyễn Ý ĐỨC
Tục ngữ Mỹ có câu nói: "Tiếp tục kiếm thêm bạn mới nhưng hãy duy trì bằng hữu cũ, vì bạn mới là bạc mà bạn cũ lại là vàng".
Cụ Nguyễn đình Chiểu của chúng ta trang trọng bạn xưa với:
" Trong đời mấy bậc cố tri, Mấy trang đồng đạo, mấy nghì đồng tâm"
Nhiều người tuổi cao cũng có chung ý nghĩ là, khi về già, ngoài việc có một sức khỏe tốt, một gia đình êm ấm, thì tình bạn lâu năm là một hành trang quý giá mà họ đã mang theo được cho tới giai đoạn cuối của cuộc đời.
Bạn hữu là gì?
Hiểu theo nghĩa thông thường, bạn là một nhóm người không có liên hệ ruột thịt, gắn bó với nhau qua những tương đồng về hoàn cảnh sinh sống. Họ đến với nhau trong tâm đầu ý hợp, bằng kết nối những tâm tư, những nguồn giao cảm gần giống nhau. Họ thân với nhau để chia xẻ vui buồn, để cùng thực hiện những hoài bão chung, để nương tựa lẫn nhau. Họ hiểu nhau, tin tưởng nơi nhau, thích nhau. Đây là một gắn bó của sự thủy chung và thương yêu vị tha và lâu dài. Với nhau, họ là người đồng hành, là người tin cậy.
Bạn hữu khác với người quen biết, gặp nhau trong sinh hoạt hàng ngày như ở sở làm, trong cộng đồng, ngoài lối xóm. Đó chỉ là những tiếp xúc trong một thời gian giới hạn và cần thêm nhiều lôi cuốn khác nữa để chuyển sang bằng hữu.
Trong đời sống hàng ngày, nhiều khi người ta đã lạm dung chữ bạn. Mới gặp nhau vài lần mà đã nói đó là bạn tôi, cứ như là thật. Ông chủ lấy lòng nhân viên, sai bạn ơi làm hộ tôi cái này, sao mà ngọt như mía lùi.
Bạn hữu thường tập trung vào mấy nhóm.
Một số người có tinh thần độc lập, tự cho là không cần ai. Không phải họ sống cô độc. Nhưng, với họ, những giao tế qua lại thường nhẹ nhàng, có cũng được mà không cũng chẳng sao. Rồi tùy theo hoàn cảnh, tùy theo nhu cầu, nếu cần thì giao tiếp , sau đó có thể quên đi cũng được. Họ sống với hiện tại và thỏa mãn với những người mà họ mới gặp hay đã có sẵn Cho nên khi mất một giao hữu, họ cũng chẳng tiếc thương gì nhiều.
Những người kỹ tính, lựa bạn mà chơi thì có gắn bó sâu đậm đặc biệt với một số người mà họ coi là rất thân, nên họ buồn tiếc khi mất. Còn những liên hệ khác thì chỉ là những thiển giao, quen biết nhiều hơn là kết bạn. Họ sống nhiều với bạn xưa và không muốn tìm bạn mới khi tới tuổi cao.
Người hiếu bạn có nhiều bằng hữu hơn: bạn quen từ những năm trước, bạn mới tạo ra sau này. Họ là những người sống với cả quá khứ, hiện tại trong tình bạn và sửa soạn cho tương lai với nhiều bạn bè. Họ luôn luôn dùng giao tế nhân sự để kiếm thêm bạn mới.
Nhiều nhà xã hội học phân biệt bằng hữu tương nhượng, bằng hữu tiếp thu và bằng hữu trong hợp tác. Khi đôi bên cho nhau lòng trung thành và tình thương yêu thì có sự cân bằng của tình bạn, đôi bên nương tựa lẫn nhau. Khi chỉ có một bên cống hiến tất cả và bên kia không đáp lễ thì chỉ có tình bạn một chiều. Khi chỉ hợp tác vì một quyền lợi, một mục đích mà không có thương yêu, chung thủy thì giao tế không kéo dài và rất giới hạn.
Đặc điểm của bằng hữu:
Khác với tình anh em, vợ chồng, tình bạn hữu có những sắc thái riêng biệt. Đây là một giao hảo có tính cách tự nguyện, một ràng buộc riêng tư do đôi bên thương lượng, một liên hệ qua lại trong tinh thần bình đẳng và mang nhiều thiện ý, cảm tình tốt.
Vì tự nguyện với có quyền lựa chọn và được chọn lựa nên không ai bắt buộc ai phải là bạn. Nó cũng không có ràng buộc pháp lý như tình nghĩa vợ chồng, hoặc lễ nghĩa huyết tộc như tình anh chị em ruột thịt. Cho nên dù có liên hệ huyết mạch, người cùng lối xóm, cùng sở làm mà không có tương khí tương đồng thì cũng không trở nên bằng hữu được. Ta có thể tỏ ra hết sức lịch sự với người cùng phòng, cùng sở nhưng không có điều gì bắt buộc ta phải thích và là bạn người đó. Ta không thể tự coi là bạn của một người khi ta không biết người đó có sẵn sàng nhận ta là bạn không. Một nhà văn Pháp đã nói: " cha mẹ là do số phận, bạn bè do lựa chọn ".
Bình đẳng vì tình bạn xây dựng trên cá nhân mỗi con người. Nó không đòi hỏi sự bằng nhau tuyệt đối về học vấn, về địa vị trong xã hội, về sự giàu tiền, lắm bạc như nhau, thành công như nhau. Đã có nhiều tình bạn nẩy nở giữa chủ và thợ, giữa thầy và trò, giữa người giàu và người nghèo.
Tình bạn cũng tôn trọng tính cách độc lập của nhau: mỗi bên có nếp sống riêng tư , tự do quyết định cho đời sống của mình mà không bị bên kia can thiệp. Không có sự áp đặt như chủ với nô lệ hay khuất phục như lãnh chúa độc tài với thần dân.
Trong tình bạn, đôi bên dành cho nhau những cảm tình tốt, những chăm sóc, quan tâm tận tình, những giúp đỡ khi cần và sự rộng lượng, sẵn sàng với nhau. Thiện ý này không đưa đến sự lợi dụng nhau hoặc phụ thuộc nhau. Người giúp thấy thoải mái làm mà không cho là có bổn phận hoặc bị bắt ép phải làm, mà người nhận không bị ám ảnh là đã đòi hỏi quá nhiều ở bạn. Khi đã phụ thuộc vào nhau thì sự tự do, bình đẳng không còn nữa. Một tình bạn đích thực không những chỉ cởi mở để cho mà còn vui vẻ để nhận.
Tình trạng sẵn sàng với nhau cũng là căn bản của bằng hữu và trong tình bằng hữu, không có sự ghen tị mà còn cần chung thủy, thành thật với nhau, không mầu mè , che đậy.
Để có bằng hữu
Tình bạn có thể được xây dựng trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào của con người.
Căn bản là ít nhất họ có cùng một thôi thúc tình cảm, có sự chia sẻ trao đổi những ý nghĩ giống nhau, có cùng sở thích, cùng quyền lợi. Trong tình bạn tuy cũng có những khác biệt nhưng khác biệt này bổ túc cho nhau vì nếu hoàn toàn giống nhau thì đâu còn đối thoại, đồng cảm.
Bạn thường tìm thấy trong các nhóm có chung sinh hoạt: học cùng trường, ở cùng khu phố, làm cùng nghề, cùng thú vui giải trí, cùng lui tới cơ sở tôn giaó. Nó nẩy sinh ở những lứa tuổi khác nhau. Nhóm trung niên có lợi điểm là có bạn ở mọi lứa già trẻ trong khi người già có bạn ở cùng lứa tuổi hoặc trẻ hơn. Về giống tính thì thường thường đàn ông đàn bà đều có nhiều bạn như nhau, nhưng chồng thì không hay tâm sự nơi bạn mà tin cẩn vợ hơn, còn vợ thì có nhiều bạn gái để tâm sự ngoài chồng mình.
Bằng hữu nẩy sinh trong những thôi thúc tình cảm giữa hai người. Thôi thúc càng cao thì bằng hữu càng sâu đậm. Một câu hỏi thường được nêu ra là tại sao ta có ước muốn gắn bó với đối tượng này mà lại hững hờ với đối tượng khác. Có những tình bạn xuất hiện như tia chớp trên nền trời xanh: mới chỉ gặp một vài lần, chưa biết quá trình, hiện tại của nhau nhưng đã có cảm tình cho nhau, đã muốn được có bạn và được nhận là bạn. Ý thức chưa thấy gì, nhưng tiềm thức đã nhận ra và tiên đoán là nhiều triển vọng tình bạn sẽ nẩy nở sau này.
Sự chèo kéo, nài nỉ không đưa tới tình bạn, như các cụ ta nói: "thấy sang bắt quàng làm họ ." và đồng nghiệp, đồng sở không đương nhiên thành bằng hữu vì đây chỉ là giao tế khách quan, không vượt qua lãnh vực nghề nghiệp.
Một vấn đề tế nhị là sự xét đoán và chấp nhận trong tình bạn: nhận xét một cách khách quan về việc làm của bạn hoặc chấp nhận và hỗ trợ vô điều kiện. Đa số đều kỳ vọng có sự chấp nhận không phê phán từ bạn mình. Một số khác lại tin cậy ở nhận xét của bạn để quyết định và để học cách hành xử trong hoàn cảnh mới. Như vậy mặc dù con người không thích bị đánh giá, nhưng một nhận xét chân thành của bạn có thể có ích cho họ.
Bạn Già
Giống như lúc mới sinh và trong thời còn thơ ấu, tuổi già chịu một số phận không mấy vui là phải phụ thuộc vào người khác sau khi đã có nhiều mất mát. Nhưng, đáng lẽ vươn ra khỏi sự phụ thuộc như lớp tuổi thơ thì người già lại đi sâu vào vòng phụ thuộc. Họ không còn làm việc, bị giảm lợi tức, con cái đi ở riêng, mất dần bạn bè, người thân yêu, kém sức khỏe, bệnh hoạn. Cho nên về già mà có được những bạn cố tri thân thiết hoặc tạo thêm ra những bạn mới để nương tựa lẫn nhau là một điều rất an ủi.
Nhiều người cho rằng dù họ hàng thân thuộc có giúp đỡ nhưng bằng hữu thường gần gũi nhau hơn và có những điều mà chính người phối ngẫu không cung ứng được bằng những bạn cố tri. Họ đã cùng vui buồn có nhau khi xưa mà bây giờ già rồi vẫn còn có nhau. Họ nương tựa lẫn nhau để có bàu bạn, hiểu nhau để giúp đỡ lẫn nhau. Họ lắng nghe nhau tâm sự, kể lại cho nhau những kỷ niệm , những việc đã cùng làm. Họ đối xử, xưng hô thân mật như mấy chục năm về trước
Thường thường người già muốn có những người bạn cùng lứa tuổi, có hoàn cảnh như nhau, sở thích kinh nghiệm như nhau, sống gần nhau để thuận tiện qua lại. Nhưng họ cũng có khuynh hướng là tạo thêm bạn mới ở lứa tuổi trẻ hơn để thay thế vào chỗ của những người bạn cùng tuổi sẽ lần lượt ra đi. Cũng có người già tập trung nuôi dưỡng bạn cố tri, giới hạn trong việc tìm thêm bạn mới để tiết kiệm sinh lực và để tránh gặp những trái ý không cần thiết
Về già cũng có một số hoàn cảnh khiến tình bạn gặp trở ngại. Kém sức khỏe khiến không cùng nhau sinh hoạt; phụ thuộc vào bạn trong các sinh hoạt hàng ngày. Nếu sự phụ thuộc quá nhiều khiến đôi khi bạn cũng thấy khó chịu, xa dần. Rồi người già rơi vào cảnh cô lập, nhất là khi giảm khả năng đối thoại với tai nghễnh ngãng, mắt kèm nhèm. Cũng nhiều người già không có thì giờ nhiều cho bạn bè vì phải dành thì giờ chăm sóc cho sức khỏe của mình, dành thì giờ để nghỉ ngơi. Ngoài ra, có trường hợp trong đó ngươì dư giả thì bạn bè năng tới lui, mà người đã nghèo thì lại vắng kẻ tới lui.
Tình nghĩa vợ chồng già dù như đũa có đôi, nhưng cũng nên có những bạn riêng để phòng hờ thời gian cô góa. Khi mất người phối ngẫu, lão nam cảm thấy cô đơn nhiều hơn vì đã mất người bạn tâm tình quan trọng nhất. Bình thường các cụ bà có nhiều bạn tâm tình trong suốt cuộc đời. Nhưng khi chồng chết, thì cụ bà thấy quan hệ với bạn cũ của vợ chồng giảm dần. May mắn là họ dễ dàng tạo thêm bạn mới, giao hảo mới bằng cánh tham dự vào nhiều sinh hoạt công đồng, tôn giáo. Đa số bạn của các cụ bà khi đó là cô quả vì đồng cảnh tương lân, chỉ có một số nhỏ có gia đình. Cho nên khi còn sống với nhau mà bà vợ không chịu giao tế tạo bạn cho mình thì khi góa sẽ có nguy cơ cô đơn nhất là chẳng may khả năng tài chánh lại không được dồi dào.
Mặc dù có thể có những căng thẳng, những thay đổi ngoài tầm kiểm soát, tình bạn vẫn giúp người già cảm thấy vui lên rất nhiều. Cho nên mất một bạn cố tri là một tai biến vì nhiều người già cảm thấy không còn đủ thời gian để thay thế khoảng trống đó.
Hơn nữa, như Simone de Beauvoir đã viết:" Cái chết của bạn thân thiết là sự đoạn tuyệt đột ngột với một phần quá khứ của mình. Chúng ta không những mất một hiện diện mà còn mất vài khía cạnh của cuộc sống mà chúng ta đã gửi gắm nơi họ. "
Gái Huế
Con gái Huế rất khó chơi
Ta dân Nam bộ thốt lời vũ phu
Khó chơi vì hát như ru
Nói như chim hót, bước như rắn trườn
Cộng lại thì thành văn chương
Trừ ra thì dễ bất thường động tâm
"Sơn bất tận, thuỷ bất thâm"
Lên núi Ngự mới ớn thầm sông Hương
Ta từ xưa thích du dương
Ưa trèo núi, khoái bơi xuồng lội sông
Giang hồ một phút yếu lòng
Kêu lên hai tiếng mặn nồng: Huế ơi!
Dù các em rất khó chơi
Nhưng ta cũng thử ngỏ lời bướm ong
Các cô gái Huế nghe không
Kêu thêm tiểu muội đến bồng ta đi...
Gái Bắc
Con gái Bắc rất chịu chơi
Ta dân Nam bộ ngỏ lời cầu hôn
Chịu chơi vì lắm hồi môn
Chẳng hạn răng khểnh, má tròn đồng xu
Chưa kể con mắt tiểu thư
Dáng đi công chúa, lời ru thiên thần
Ta thường dễ động lòng trần
Thấy con gái đẹp manh tâm ngó hoài
Các em mình hạc xương mai
Thấp cao vẫn nhớ, mập gầy vẫn thương
Chanh chua vẫn ngọt như đường
Nói xạo cách mấy vẫn tương tư hoài
Nhớ nhau "lồi hết vành tai
Lõm hai con mắt, lồi mười ngón chân"
Em tên Bích, Thảo, hay Dung
Hay Loan, Oanh, Yến... có lần chịu chơi
Từng yêu khi mới chào đời
Đêm nay gọi các em ơi, ta buồn
Hà Nội băm sáu phố phường
Ngó môi em hết nhớ đường về Nam...
Gái Nam
Con gái Nam rất ham chơi
Ta dân cùng xứ ngỏ lời biểu dương
Ham chơi đến lúc lên giường
Em còn xuống giọng cải lương rất... mùi
Sáng đèn nhớ lúc tối thui
Giàu sang em nhớ khoai lùi dính tro
Các em như miếng cá kho
Ngó vô thấy đã, cắn vô thấy... bà
Cắn vô xương gỡ không ra
Trừ khi trình diện ông già của em
Lên Đồng Nai, xuống Long Xuyên
Các em má lúm đồng tiền bắt ham
Chỉ người điên mới không tham
Ta tỉnh táo muốn gỡ làm vốn riêng
Kệ "đồng tiền" trắng hay đen
Ngày ta bỏ túi đợi đêm bỏ... mùng
Các em mới liếc đã... khùng
Hèn chi thi sĩ, anh hùng phải tiêu
Mỹ nhân nghĩ thiệt trớ trêu
Xưa nay danh tướng biết điều dưới "cơ"
Vòng Bến Tre, bọc Cần Thơ
Ở đâu ta cũng choán giờ cơ quan
Nước dừa em tắm thả giàn
Ta vốn đàng hoàng cũng lén rình coi
Rình coi con quạ kêu rồi
Quạ kêu "nam đáo" nữ ơi, đề phòng
Phải không Đào, Cúc, Thu, Hồng
Ta trai khác họ đem lòng nhớ thương