Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

1 phút suy tư

Tâm là một điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng, nên người ta mới gọi là tâm điểm.
Tâm của con người càng quan trọng hơn vì nó nói lên nhân cách của một con người :

- Tâm lệch lạc thì cuộc sống nghiêng ngã đảo điên.
- Tâm gian dối thì cuộc sống bất an.
- Tâm ghen ghét thì cuộc sống hận thù..
- Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui.
- Tâm tham lam thì cuộc sống dối trá…

Cho nên, ta không những đem tâm của mình đặt ngay trên ngực để yêu thương, mà còn :

- Đặt trên tay để giúp đỡ người khác.
- Đặt trên mắt để nhìn thấy nổi khổ của tha nhân.
- Đặt trên chân để mau mắn chạy đến với người cùng khổ.
- Đặt trên miệng để nói lời an ủi với người bất hạnh.
- Đặt trên tai để biết nghe lời than trách, góp ý của người khác.
- Đặt trên vai để biết chịu trách nhiệm và chia sẻ trách nhiệm với vợ chồng, anh em chị em.

Thân xác không tim thì thân xác chết,

Làm người không có tâm thì cuộc sống chỉ có hận thù và là mối nguy hiểm cho mọi người.



Thân Chúc Một Ngày Bình An

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

DÂN TỘC BẤT HẠNH KHI ĐẤT NƯỚC
KHÔNG CÓ TỰ DO VÀ CÔNG LÝ


LÝ ĐẠI NGUYÊN
Trong một đất nước mà con người không có Tự Do thì đừng hòng ở đấy tìm thấy Công Lý. Cái mà người ta gọi là công lý thì đó chỉ là cường quyền, áp bức, bóc lột, tùy tiện và phi pháp. Dù nó có tên là “Pháp Quyền” cũng chỉ là do ý chí chủ quan của một nhóm Việt cộng cưỡng chiếm quyền của toàn dân. Dân không có quyền lựa chọn chế độ, tuyển chọn chính quyền, không có phương tiện kiểm soát chính quyền, qua hệ thống truyền thông tư nhân tự do và các chính đảng đối lập. Khi một chính quyền không tôn trọng Nhân Quyền, luật pháp không bảo vệ Dân Quyền thì quyền lực chính trị của chính quyền đó không còn phát xuất từ Quốc Dân nữa, mà phải dựa vào các thế lực chính trị Quốc Tế. Thế là chủ quyền Dân Tộc bị biến mất. Chính vì vậy mà Việt nam, thông qua đảng Việt cộng đang từng bước lọt vào tay bọn bành trướng Trung cộng. Khiến cho nhiều đảng viên Việt cộng còn lương tri phải bật lên tiếng báo nguy về tình trạng mất nước. Thật bất hạnh cho Dân Tộc Việt Nam bị rơi vào hoàn cảnh bi thảm này.

Trước cảnh đau lòng đó, trong dân chúng, từ những bậc tu hành, đến văn nghệ sĩ, trí thức, thanh niên, lao động…nam, nữ và cả các cựu đảng viên cộng sản đã cùng đứng lên đòi Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền cho toàn dân. Đòi toàn vẹn đất nước và chủ quyền dân tộc. Họ đã, đang bị trả giá bằng sự tù đầy, quản chế khắc nghiệt. Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, lãnh đạo tối cao của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là người tù bị quản chế vô hạn định. Năm 2007, Việt cộng dùng tòa án phi pháp, kết án Linh Mục Nguyễn Văn Lý, 8 năm tù, 5 năm quản chế. Hiện Ngài vẫn còn trong tù, 2 lần bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người. Và 13 tù nhân chính trị : Ô. Nguyễn Phong, 6 năm tù giam, 3 năm quản chế. Ô. Nguyễn Bình Thành, 5 năm tù giam, 2 năm quản chế. Ô. Lê Nguyên Sang 4 năm tù giam. Ô Nguyễn Bắc Truyền, 3 năm tù giam. Luật sư Lê Thị Công Nhân, 3 năm tù giam, 3 năm quản chế. Luật sư Nguyễn Văn Đài, 4 năm tù, 4 năm quản chế. Nhà văn Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, 2 năm 6 tháng tù giam. Ô. Nguyễn Văn Hải, 2 năm tù treo. Ô. Trần Quốc Hiền, 5 năm tù giam, 2 năm quản chế. Ô. Trương Minh Đức, 5 năm tù giam. Ô. Trương Quốc Huy, 6 năm tù giam, 3 năm quản chế. Ô. Nguyễn Ngọc Quang, 5 năm tù giam, 2 năm quản chế. Ô. Phạm Bá Hải, 3 năm tù giam, 2 năm quản chế.

Cuối năm 2009, đầu năm 2010, tòa án phi pháp Việt cộng lại đã áp dụng điều luật 79, lật đổ chính quyền, và điều 88, tuyên truyền chống nhà nước để kết án 17 người dân yêu nước, đấu tranh ôn hòa cho tự do dân chủ và chủ quyền dân tộc. Khiến cho toàn dân uất hận và quốc tế lên án nặng nề. Trong đó gồm: Ô. Phạm Văn Trội, 4 năm tù giam. 4 năm quản chế. Ô. Trần Đức Thạch, 3 năm tù giam, 3 năm quản chế. Ô. Vũ Văn Hùng, 3 năm tù giam, 3 năm quản chế. Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa, 6 năm tù giam, 3 năm quản chế. Ô. Ngô Quỳnh, 3 năm tù giam, 3 năm quản chế. Ô. Nguyễn Văn Túc, 4 năm tù giam. 3 năm quản chế. Ô. Nguyễn Mạnh Sơn, 3 năm, 6 tháng tù giam, 3 năm quản chế. Ô. Nguyễn Văn Tính, 3 năm, 6 tháng tù giam, 3 năm quản chế. Ông Nguyễn Kim Nhàn, 2 năm tù giam, 2 năm quản chế. Ô. Trần Anh Kim, 5 năm, 6 tháng tù giam, 3 năm quản chế. Ô. Trần Huỳnh Duy Thức, 16 năm tù giam, 5 năm quản chế. Ô. Nguyễn Tiến Trung, 7 năm tù giam, 3 năm quản chế. Ô. Lê Công Định, 5 năm tù giam, 3 năm quản chế. Ô. Lê Thăng Long, 5 năm tù giam, 3 năm quản chế. Cô Phạm Thanh Nghiên, 4 năm tù giam, 3 năm quản chế. Bà Trần Khải Thanh Thủy, 3 năm, 6 tháng tù giam. Ô. Đỗ Bá Tân, 2 năm tù treo, 3 năm và 11 tháng quản chế.

Cô luật sư kiên cường bất khuất, Lê Thị Công Nhân hết hạn tù vào ngày 06/03/2010, bị công an Việt cộng dẫn giải về tận Phường, nơi cư trú và cho xem biên bản quy định về việc quản chế. Cô đã ký và viết ý kiến vào biên bản rằng : “Tôi không chấp nhận bản án, trong đó có hình phạt phụ là quản chế”. Thế rồi cô sinh hoạt đi lại bình thường. Chỉ 72 tiếng đồng hồ sau, vào lúc 13g30 ngày 09/03/10, khi cùng với người chị đi phố về, đã bị công an đón đường bắt giữ 3 tiếng vì “vi phạm lệnh quản chế”. Lý do ngầm là ngăn không cho cô trực tiếp gặp hãng tin quốc tế AFP để trả lời phỏng vấn lúc 3 giờ chiều cùng ngày.

Trên đây chỉ là một số tên tuổi mới bị Việt cộng chính thức kêu án, còn biết bao nhiêu là tù nhân tôn giáo và lương tâm đã bị Việtcộng cầm tù dài hạn từ trước tới nay, mà dư luận ít biết tới. Thực ra với chế độ độc tài toàn trị : Quốc Hội, Chính Phủ, Toà Án, Truyền Thông đều nằm trong tay Cộng đảng, thì toàn quốc có khác gì là một “nhà tù lớn”. Trên 80 triệu dân, nằm dưới quyền cai trị, tham nhũng, hà khắc của 3 triệu đảng viên cộng sản. Họ muốn nhốt ai vào nhà tù nhỏ thì nhốt. Bất kể họ đã ký vào các Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị. Chính vì vậy, mà họ đã không nương tay đối với các tôn giáo, nơi quy tụ sức mạnh của dân chúng. Để che mắt thế giới, họ cho Công An đội lốt “lưu manh, côn đồ” để tấn công các tín đồ tôn giáo. đập phá các nơi thờ tự, và những biểu tượng thiêng liêng của các tôn giáo. Hiện nay các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo tại vùng Cửu Long, đang là nạn nhân bị Việt cộng địa phương đàn áp, đánh đập dã man. Trước đó giáo dân Thiên Chúa Giáo ở Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm…và Tăng Ni Phật Giáo tại tu viện Bát Nhã, Lâm Đồng cũng gặp cảnh tương tự.

Thật đáng buồn cho giáo dân Thiên Chúa Giáo Việt Nam, vị cầm đầu của Phong Trào Giáo Dân quyết liệt đòi “Sự Thật và Công Lý”, là Tổng Giám Mục Hà Nội, Ngô Quang Kiệt đã bị rời quê hương đi Roma để chữa bệnh, giữa lúc vị thế của tín hữu Kitô Giáo Việt Nam đang lên cao. Theo một nguồn tin chưa chính thức, thì vị Giám Đốc Trung Tâm Công Giáo tại Quận Cam, Linh mục Nguyễn Uy Sỹ, một người trẻ đầy nhiệt huyết, năng nổ trong việc ủng hộ cho các cuộc đấu tranh của giáo dân ở Hải Ngoại, đòi Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền cho Việt Nam, vào tháng 7 tới, cũng sẽ bị thuyên chuyển tới một giáo xứ mới. Nhưng đây chỉ là vấn đề nội bộ của Giáo Hội Thiên Chúa. Vấn đề chung của Đất Nước và Dân Tộc là trách nhiệm của toàn dân, mà mọi tôn giáo, mọi đoàn thể Quốc Gia trong và ngoài nước phải biết vận dụng thời cơ, giữa lúc Việtcộng đang tranh nhau vị trí lãnh đạo. Trungcộng thì muốn áp lực Việt cộng phải làm tay sai trung thành với chúng, Hoa kỳ muốn Việt nam trở thành “đối tác chiến lược” của họ. Nhưng đòi Việt cộng “cần cải thiện hồ sơ nhân quyền của mình”. Không lúc nào bằng lúc này, thành ngữ : “Đi với Tầu thì mất nước”. “Đi với Mỹ thì mất đảng”. Đến đây thì những người cộng sản còn lương tri và tình tự dân tộc buộc phải lựa chọn. Với toàn dân thì trước sau như một “Không có Tự Do và Công Lý”, thì không thể huy động nổi sức mạnh của toàn dân để ngăn bành trướng, và đưa Quốc Gia Việt Nam chủ động gia nhập tiến trình toàn cầu hóa được.

Little Saigon ngày 09/03/2010.
Lý Đại Nguyên

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

ÍCH LỢI CỦA NỤ CƯỜI

1- Cười là một thần dược trị được cả bệnh thể xác lẫn bệnh tâm hồn.

2- Cười làm cho ta cởi mở bao dung và có một tinh thần lạc quan yêu đời.

3- Cười làm tăng hồng huyết cầu và lá lách hoạt động tích cực hơn.

4- Cười làm tăng sinh lực, khiến ta vui vẻ lanh lợi và thêm lòng yêu thương.

5- Cười làm cánh cửa cảm thông rộng mở thật dễ dàng với mọi người.

6- Cười mím, cười nụ, cười ra tiếng làm khuôn mặt chúng ta dễ mến hơn.

7- Cười làm thư giãn các bắp thịt trên mặt, tan biến những căng thẳng.

8- Cười làm toàn thân được nhẹ nhàng thanh tịnh, thư thái và an lạc.

9- Cười giúp ta tránh được tâm trạng cay đắng khổ đau, phản ứng kịp thời.

10- Cười giúp cho tâm hồn lành mạnh và thêm khả năng sáng tạo mọi việc.

11- Cười nhiều giúp ta biết tự kỷ có trách nhiệm và thực tế hơn.

12- Cười nhiều tránh được buồn nản, dễ thành công vì tiếng cười là trí tuệ.

13-Cười là khoảng cách ngắn nhất giữa hai tâm hồn, là biết nghệ thuật sống.

14- Cười dễ vui theo cái vui của người khác, hoan hỉ như mình thành đạt vậy.

15- Cười có thể làm tan di nỗi bực mình, buồn phiền của người đối diện.

16- Cười giúp ta vui sống hiện tại, quên hết quá khứ và lo lắng về tương lai.

17- Cười giúp ta trở về với chính mình, tức là thực sự trở về đời sống mới.

18- Cười có nhiều lợi ích cho ta về sức khỏe, tinh thần và cảm xúc tâm linh.

19- Cười giúp hồn nhiên tươi sáng,có nhiều khả năng chống lại bệnh tật.

20- Cười giúp các tế bào loại T trong máu tăng lên, có sức đề kháng mạnh.

21- Cười làm giảm phong thấp, các khớp xương đỡ bị sưng và chống sưng.

22- Cười làm giảm các chất hóc môn (cortisone) trong thận, sẽ sống khỏe hơn.

23- Cười tránh được nhức đầu, đau tim, cao huyết áp và mỡ trong máu.

24- Cười giúp tống khứ các khí dơ, thêm nhiều dưỡng khí cho bộ não thông minh.

25- Cười làm tăng máu, chống viêm khớp, làm con người luôn tỉnh táo.

26- Cười tạo điều kiện cho ánh sáng nội tâm thể hiện, thấu suốt mọi sự vật.

27-Cười giúp những nét phiền muộn tan biến, gương mặt trở nên tươi trẻ ra.


Cũng trong chiều hướng ấy mà rải rác khắp nơi trên thế giới, người ta đã bắt đầu tổ chức những “festival cười”.

Tại Đan Mạch, cứ đến Chủ nhật của thuần lễ thứ hai trong tháng giêng là mọi người lại tụ tập về quảng trường Town Hall của thành phố Copenhagen để…cười sảng khoái.


Câu lạc bộ cười lần đầu tiên được sáng lập ở Bombay năm năm trước đây bởi bác sĩ tâm lý Ấn Độ Madan Kataria. Tiếng tốt về câu lạc bộ này đã nảy sinh ra một ý tưởng tương tự ở anh công nhân quảng cáo thất nghiệp Đan Mạch, Jan Thygesen Poulsen. Và anh ta đã trở thành người khởi xướng câu lạc bộ cười ở đất nước này.

Tại Québec bên Canada , từ nhiều năm nay đã xuất hiện “festival chỉ để cười”. Tại festival này, mọi người đều có đủ thời giờ để lập cho mình một kiểu cười chẳng giống ai. Tại Pháp cũng rộ lên “Festival hóm hỉnh” ở Seine-et-Marne. Và mới đây hồi cuối tháng 6 năm 2005 tại Hồng Kông, người ta cũng đã tổ chức đại hội…cười.

Tuy nhiên, có một điều khác cũng không kém phần quan trọng, đó là hãy đem lại cho người khác những nụ cười lành mạnh, bởi vì chính những nụ cười này sẽ đem lại cho họ niềm an ủi trong những khi đau khổ và niềm khích lệ trong những lúc tuyệt vọng.

ST

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

TỘI TO GẤP VẠN LẦN SO VỚI TRẦN ÍCH TẮC VÀ LÊ CHIÊU THỐNG


Có thể coi đoạn mở đầu Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi trong là một đúc kết, một định đề lịch sử tiên liệu trước về sự lâm nguy của vận nước, cơ hội cho ngoại bang đến gây hấn đối với đất nước ta trong hết thảy mọi thời kỳ:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà /Để trong nước lòng dân oán hận

Quân cuồng Minh thừa cơ gây loạn
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi…


Sự xâm lấn của ngoại bang đối với đất nước ta bao giờ cũng nhân cớ từ sự rối ren về chính trị của một triều đại nào đó khiến cho lòng dân oán hận; một bộ phận tách ra thường là trong đám cung đình, “con cha cháu ông”, vì quyền lợi ích kỷ đã chạy đi liên kết với ngoại bang để bán nước cầu vinh cho bản thân mình.

Triều Trần, dòng tộc nhà Trần bên cạnh những anh hùng hào kiệt như Trần Hưng Đạo: Bệ hạ muốn hàng xin hãy chém đầu tôi đi đã; như Trần Bình Trọng: Thà làm quỷ nước nam hơn làm vương đất bắc; như Trần Quốc Toản, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư thì lại này nòi ra Trần Ích Tắc…

Tương tự triều Lê bên cạnh những Lê Lợi, Lê Thánh Tông lại cũng nảy nói ra Lê Chiêu Thống ? Vậy Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống là ai và bước vào thế kỷ XXI này liệu đất nước ta còn tiếp tục nảy nòi ra những kẻ cam tâm “ rước voi về dày mồ mả tổ tiên không ???”

Trần Ích Tắc (1254-1329) là con của vua Trần Thái Tông, em vua Thánh Tông, chú của vua Nhân Tông nhà Trần nước Đại Việt, tước hiệu là Chiêu Quốc Vương, phong tháng 5 năm 1267.

Đại Việt Sử ký Toàn thư (ĐVSKTT) có viết Ích Tắc là con thứ của Thượng hoàng [Trần Thái Tông], thông minh hiếu học, thông hiểu lịch sử, lục nghệ, văn chương nhất đời. Dù nghề vặt như đá cầu, đánh cờ, không nghề gì không thông thạo; từng mở học đường ở bên hữu phủ đệ, tập hợp văn sĩ bốn phương cho học tập, cấp cho ăn mặc, đào tạo thành tài như bọn Mạc Đĩnh Chi ở Bàng Hà, Bùi Phóng ở Hồng Châu v.v . . . gồm 20 người, đều được dùng cho đời...Đến 15 tuổi, thông minh hơn người, làu thông kinh sử và các thuật, vẫn còn có ý tranh đoạt ngôi trưởng đích. Ích Tắc đã từng gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống nam.”

Khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Việt Nam lần thứ hai (1285), ngày 15 tháng 3, Ích Tắc đem cả gia đình đi hàng giặc, được đưa về Trung Quốc và được Hốt Tất Liệt, vua nhà Nguyên, phong làm An Nam Quốc vương và chờ ngày đưa trở về nước. Sau khi quân Nguyên Mông đại bại, Trần Ích Tắc ở lại Ngạc Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc) , giữ chức quan Hồ Quảng bình chương chính sự, gia phong tới Ngân Thanh vinh lộc đại phu rồi Kim tử quang lộc đại phu, nghi đồng tam tư và chết ở Trung Quốc mùa hè năm Thiên Lịch thứ 2 (1329) đời Nguyên Văn Tông, thọ 76 tuổi. Năm Chí Thuận thứ nhất (1330) được nhà Nguyên truy tặng tước Trung Ý vương

Lê Chiêu Thống tên húy là Duy Kỳ còn tên khác là Lê Duy Khiêm, cháu đích tôn của Lê Hiển Tông. Vào năm 1771 cha ông là Thái tử Lê Duy Vĩ do có hiềm khích với chúa Trịnh Sâm nên cả bốn cha con là Duy Vĩ, Duy Kỳ, Duy Trù và Duy Chi đều bị nhốt vào ngục Đề Lãnh.

Đến năm 1782, sau khi Trịnh Sâm mất, quân lính ở phủ Trịnh làm loạn đã mở cửa ngục đưa Duy Kỳ về, ép vua Lê Hiển Tông và chúa Trịnh Khải lập làm Hoàng Thái tôn.

Vào tháng 7 năm 1786, vua Lê Hiển Tông trước khi qua đời đã trăn trối truyền ngôi lại cho người cháu trưởng là Duy Kỳ. Lúc này nhà Trịnh đã bị Tây Sơn đánh đổ, Duy Kỳ được Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đưa lên ngôi với niên hiệu là Chiêu Thống. Nhưng sau khi Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Nhạc kéo quân về Phú Xuân thì nạn cát cứ ở Bắc Hà lại diễn ra, nạn đói hoành hành, nhân dân cực khổ. Trịnh Bồng là con cháu chúa Trịnh lại nổi lên, trở lại Thăng Long và tự lập mình thành Nguyên soái Án Đô Vương lấn át nhà vua như trước khiến triều đình rối ren. Lê Chiêu Thống kế vị Hiển Tông nhưng lại bất lực trong việc chống chọi với thế lực họ Trịnh.

Dựa vào thế lực của Nguyễn Hữu Chỉnh (trước là tướng của quận Việp Hoàng Ngũ Phúc, sau lại theo Tây Sơn), Chiêu Thống đánh bại quân Trịnh, đốt phá phủ chúa. Nguyễn Hữu Chỉnh nhân đó lộng quyền, chống lại Tây Sơn.

Cuối 1787, Nguyễn Huệ lại kéo quân ra Bắc dẹp loạn, chiêu tập các cựu thần văn võ nhà Lê, lấy Sùng Nhượng Công Lê Duy Cận làm giám quốc. Trước sự tấn công dữ dội của quân Tây Sơn, Nguyễn Hữu Chỉnh và Lê Chiêu Thống chạy sang Quảng Tây cầu viện Mãn Thanh.

Tướng Mãn Thanh là Tôn Sĩ Nghị vào tháng 11 năm 1788 đã dẫn 29 vạn quân ồ ạt tiến vào Thăng Long trước sự dẫn đường và nội ứng của tàn quân Lê Chiêu Thống. Nhà Thanh phong cho Chiêu Thống làm An Nam quốc vương. Kể từ đây, Chiêu Thống tin tưởng hoàn toàn vào nhà Thanh. Dù trở lại ngôi vua, Chiêu Thống thực sự chỉ là bù nhìn của quân Thanh. Việc chủ yếu của vua lúc đó là luận công những người hộ giá và trị tội những người theo Tây Sơn. Ngoài ra, việc trong ngoài đều trong tay Sĩ Nghị. Vì âm mưu được trả thù, báo oán một cách ti tiện của mình mà Lê Chiêu Thống đã dẫn giặc về nhà, trở thành một ông vua bán nước chưa từng có trong lịch sử Việt Nam.

Mồng 5 tết năm Kỷ Dậu (1789), quân đội Tây Sơn do hoàng đế Quang Trung trực tiếp chỉ huy đã đánh tan 29 vạn quân Thanh ở gò Đống Đa giành lại độc lập cho Việt Nam. Lê Chiêu Thống đã cùng bầy tôi chạy theo tàn quân Thanh sang Trung Quốc. Sau 5 năm sống lưu vong trên đất khách, tháng 10 năm 1793, Lê Chiêu Thống chết ở Yên Kinh, thọ 28 tuổi, ở ngôi vua chưa được ba năm, kết thúc 354 năm trị vì của triều đại nhà Lê.

Qua số phận của hai kẻ bán nước, cầu vinh: một ông vua bù nhìn Lê Chiêu Thống nhờ bám vào ngoại bang mà có chút quyền hành; hai là Trần Ích Tắc, một thân vương tham vọng muốn ngoi lên ngai vàng không thành, bất mãn, quay sang liên kết với giặc. Cả hai kẻ phản phúc này đều có 2 điểm chung sau đây: Thuộc phe phái hoàng tộc ( con em cháu cha); hai là do cùng đường, do bất mãn, không còn chỗ dung thân trên mảnh đất Đại Việt nên đã quay sang làm tôi tớ cho giặc…

Còn ngày nay, nhiều kẻ không phải là do cùng đường như Lê Chiêu Thống, như Trần Ích Tắc; những kẻ không những không bị nhân dân bạc đãi, thậm chí còn nắm chức trọng quyền to, nhà cao, cửa rộng, ăn trên, ngồi trốc, bổng lộc ngập ngụa… nhưng do lòng tham vô đáy nên chúng đã có nhiều việc làm gây nên những hậu quả đe dọa đến an ninh, an toàn lãnh thổ quốc gia...

Vụ cho thuê trên 300.000 ha rừng trên 50 năm liệu có thể xếp vào loại hành vi rước “voi- rắn lạ…” về quê không? Những kẻ sử dụng quyền hành được nhân dân trao rồi đây sẽ phải trả lời trước công luận, trước chính quyền, trước Quốc hội, trước nhân dân vì sao dám làm những việc động trời trên. Nếu việc này không kịp thời được phát hiện và ngăn chặn triệt để thì: hậu quả của nó sẽ gây ra cho dân tộc này, đất nước này to gấp vạn lần so với những gì mà Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống từng làm ?!

Bởi đây không phải là hành vi của những kẻ cùng đường hay bị bạc đãi mà là: hành vi có tổ chức và nhân danh quyền lực nhà nước để thực thi ý chí cá nhân, nói theo cách nói của luật hình sự hiện đại!

Phước Lộc Thọ
http://vn.360plus.yahoo.com/phamvietdao ... e?mid=4167

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

“Nước mắt chảy xuôi”

Tạp ghi Huy Phương
Cứ mỗi lần có dịp phải vào nhà dưỡng lão để thăm người quen hay bạn bè, tôi thường có những suy nghĩ và ám ảnh, liệu rồi sau này lúc già yếu, bệnh hoạn, tôi có phải vào nằm ở đây không, mà ví như cha mẹ tôi còn sống, tôi có khả năng nuôi nấng săn sóc cha mẹ tôi ở nhà không hay lại phải đưa quý cụ vào đây?

“Nước mắt chảy xuôi” là thành ngữ Việt Nam nói đến tình thương chỉ có thể từ cha mẹ dành cho con cái, theo dòng thuận của đời người, từ cao xuống thấp, để khuyên chúng ta đừng đòi hỏi một sự báo đáp từ con cái. Nhưng sự thật, các bậc cha mẹ cũng buồn lòng khi thấy con cái đối xử với mình tệ bạc, nhất là đến tuổi già, bệnh tật, có khi bị bỏ quên, cha mẹ cảm thấy cô đơn, cần sự an ủi, săn sóc. Trong một bài viết về nỗi niềm của cha mẹ già bị bỏ quên trong xã hội hôm nay, tôi nhận được lá thư của một vị cao niên ở tận miền Ðông, bày tỏ ý kiến của cụ:

“Tôi đã khóc, khóc cho chính mình và cho ai trong tuổi già ở xứ này. Ông kể lại có cụ già đã chết cả một hai tuần, không ai biết. Con cái ở đâu? Ðó là những người có con mà còn vậy, còn những người không con thì chắc phải vô trường hợp này quá. Vì tôi không con gái, chỉ hai ‘đực rựa’, một ở Cali, một ở gần đây, nhưng ít khi kêu, và có khi không kêu hỏi thăm được một tiếng, lúc cần tiền hay cần gì đó mới kêu. Có lúc tôi nghĩ: hay mình bất hiếu với cha mẹ nên con cái nó bạc với mình chăng?

Ở Florida này cũng có một bà Việt Nam ở riêng, mỗi tuần có cậu con trai mang đồ ăn tới. Hôm đó cậu ta kêu cửa, nhưng không ai ra mở. Cậu ta tưởng bà cụ đi vắng bèn treo gói đồ ăn vào hàng rào cổng. Mấy ngày sau trở lại, thấy gói đồ ăn vẫn còn, mới khám phá ra bà mẹ đã chết. Thật là thảm!”

Ðây chắc chắn là chuyện này có thể tránh được. Nếu mẹ ở nhà riêng, con nên có một cái chìa khóa nhà để dùng lúc cần thiết. Ðem thức ăn đến cho mẹ, khi mẹ đi vắng, dù bận thế nào đi nữa, thì cũng vào nhà, để thức ăn vào tủ lạnh cho mẹ. Nếu mẹ ngủ thì cũng vào nhà xem mẹ có khỏe không? Ðiện thoại cho mẹ nhiều lần mà không nghe trả lời thì phải nhờ người ở gần, đến gõ cửa nhà mẹ xem sao, hay vội vàng chạy lại xem sự thể thế nào?

Câu chuyện như trên có thể xẩy ra bất cứ ở đâu.

Trái tim của người mẹ có nhiều chỗ dành cho đứa con, như đôi cánh của một con gà mẹ có thể dang ra che kín mười đứa con bé dại, nhưng người mẹ có chỗ nào trong trái tim của con. Ngày xưa, mẹ chưa bao giờ biết nói tiếng “bận” với con. Khi đang ăn mà con “làm bậy” cũng phải buông đũa đứng dậy. Nửa đêm dù đau yếu, mỏi mệt nghe tiếng con khóc cũng phải mở mắt, vỗ về và ôm con vào lòng. Sao các con bây giờ vẫn thường nói tiếng “bận” với cha mẹ. Vì bận nên các con đưa cha mẹ già lú lẫn vào nursing home, vì bận, nên theo lời một cô y tá cho biết, nhiều gia đình bỏ cha mẹ vào đây rồi không bao giờ lui tới thăm viếng. Cô cho biết nhiều người đã ở đây năm sáu năm rồi, không hề có ai lai vãng. Có bao nhiêu lý do để những đứa con có thể nêu ra để không còn chỗ nào trong lòng, nhớ đến cha mẹ. Nếu là đàn ông chúng ta nên vui, vì hiện nay trong các nhà dưỡng lão 70% là quý bà, vì các ông đã quy tiên sớm hơn vợ mình, thông thường ít nhất là 6 năm, để ngày nay khỏi phải chịu cảnh cô đơn, buồn tẻ.

Trước ngày Giáng Sinh tôi có dịp vào viếng thăm một người bạn sắp qua đời trong một nursing home. Trên hành lang dẫn vào phòng người bạn, và ngay trước chỗ làm việc của nhân viên ở đây, tôi thấy nhiều ông bà cụ ngồi trên những chiếc xe lăn, nhìn những người qua lại. Các cô y tá đã sắp xếp cho các cụ ra ngồi trên hành lang đối điện với văn phòng làm việc, một phần để trông chừng các cụ, một phần cho các cụ đỡ buồn. Nhưng các cụ nhìn sự vật một cách dửng dưng, đôi mắt đờ đẫn, có người đã gục đầu xuống ngủ. Giá mà có người đẩy xe lăn đưa các cụ đi dạo một vòng ngoài trời nắng ấm kia, chắc hẳn các cụ vui hơn và biết đâu cuộc sống sẽ kéo dài thêm một thời gian nữa. Giờ này trong công viên hay trên những con đường trong thành phố nhiều người mẹ đang đẩy chiếc xe đưa con đi dạo, nhưng vài mươi năm nữa ai sẽ đẩy chiếc lăn cho bà. Phải chăng định luật của cuộc sống và tình thương là “nước mắt chảy xuôi”, sẽ không bao giờ có một dòng nước chảy ngược về nguồn.

Người Âu Mỹ thường thèm địa vị của các bậc cha mẹ người Á Ðông lúc về già vẫn còn được con cái lui tới săn sóc, nhưng họ cũng nên nhớ lại, họ chỉ nuôi con cho đến năm 18 tuổi là hết bổn phận, trên pháp lý, không ai trừng phạt gì họ được, mà trên mặt tình cảm cũng không có gì phải cắn rứt lương tâm. Trong xã hội văn minh này, một đứa trẻ bỏ học, đi lang thang ngoài đường hay bị đối xử tàn tệ, cha mẹ có thể ra tòa và mất quyền nuôi dưỡng, còn những cụ già vô gia cư, đói khát bị bỏ bên lề đường, không ai có trách nhiệm và chẳng có ai phải ra tòa. Ðiều đáng nói là các cụ già cũng như những đứa trẻ, đều yếu đuối, không có khả năng tự bảo vệ và rất dễ xúc động, buồn vui. Trong một xã hội đáng gọi là văn minh, các trẻ em và người cao niên đều được che chở, bảo vệ và săn sóc chu đáo. Các cụ có các cơ quan xã hội lo thuốc men, thực phẩm nhưng với nỗi cô đơn, phiền muộn ai là người lo cho các cụ, trong khi những đứa trẻ có người an ủi, vỗ về và nói với nó những lời dịu ngọt.

Ngân khoản của liên bang cấp để ngăn ngừa tình trạng lạm dụng có đến 90% dành cho việc ngăn ngừa lạm dụng trẻ con, 7% để ngăn ngừa bạo hành trong gia đình nhưng chỉ có 2% sử dụng trong việc ngăn ngừa ngược đãi người già. Không biết có bao nhiêu đạo luật và ngân khoản dành cho việc chống lại việc ngược đãi súc vật? Cứ vào “Pet-Abuse.com” chúng ta sẽ tìm thấy hàng nghìn trường hợp công dân Mỹ, già và trẻ, đàn ông lẫn đàn bà bị tù tội, phạt tiền vì bạc đãi, bỏ đói, đánh đập hoặc giết những con vật thân yêu trong nhà. Bỏ quên một bà mẹ già trong nhà dưỡng lão nhiều năm có phải là một trường hợp ngược đãi không? Tôi nghĩ là không. Nếu có, luật pháp đã bắt đứa con phải phạt vạ hay vào nhà tù.

Theo người xưa, tuổi thọ là một ơn Trời và là một phúc đức lớn cho gia đình nào có cha mẹ tuổi thọ cao, trước nhất là của chính người cao tuổi nhưng đồng thời cũng là cho con cháu, bởi vì cha mẹ có sống lâu, con cháu mới có cơ hội được thể hiện lòng hiếu thảo. Có ba điều người ta thường mong ước ở đời là Phước, Lộc và Thọ. Phước có chỗ đứng cao hơn hết, Lộc thì phù du mà Thọ chưa hẳn đã là may mắn.

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

"9 Điều Khuyên" cho người cao niên...
"9 Recommendations" for the elderly...


1. Hãy vui với nguời khác, đừng tìm vui trong việc tích trữ của cải.
1-(Focus on enjoying people, not on indulging in or accumulating material things)..

2. Lập chuơng trình tiêu xài hết tiền của mà bạn để dành. Bạn xứng đáng tiêu pha nó trong mấy năm còn lại của đời nguời. Nếu đuợc, cứ đi du lịch. Để của lại cho con, chúng nó sẽ gấu ó nhau và nhiều chuyện rắc rối xảy ra sau khi bạn qua đời.
2-(Plan to spend whatever you have saved. You deserve to enjoy it and the few healthy years you have left. Travel if you can afford it. Don't leave anything for your children or loved ones to quarrel about. By leaving anything, you may even cause more trouble when you are gone).


3. Hãy sống với thực tại . Đừng sống cho quá khứ hay cho tương lai. Bạn có ngày hôm nay trong tay bạn. Ngày hôm qua thì đã qua, ngày mai thì chưa đến hoặc không bao giờ đến.
3-(Live in the here and now, not in the yesterdays and tomorrows. It is only today that you can handle. Yesterday is gone, tomorrow may not even happen).

4. Hãy vui với lũ cháu nội ngoại của bạn (nếu bạn có), nhưng đừng làm kẻ giữ trẻ trọn thời gian. Trách nhiệm nuôi dạy trẻ là của cha mẹ nó. Sau khi bạn đã nuôi con nên nguời rồi, bạn không còn trách nhiệm gì với bầy cháu của bạn. Đừng thấy áy náy khi từ chối giữ trẻ nếu bạn không thấy thích thú chăm sóc trẻ.
4-(Enjoy your grandchildren, if you are blessed with any, but don't be their full time baby sitter. You have no moral obligation to take care of them! Don't have any guilt about refusing to baby sit anyone's kids, including your own grandkids. Your parental obligation is to your children. After you have raised them into responsible adults, your duties of child-rearing and babysitting are finished. Let your children raise their own off-springs) .


5. Chấp nhận sự già yếu, đau nhức của tuổi già. Hãy vui với những gì mình còn làm được
5-(Accept physical weakness, sickness and other physical pains. It is a part of the aging process. Enjoy whatever your health can allow).


6. Vui với những gì bạn có. Đừng lao nhọc tìm những gì bạn không có. Đã trễ rồi, thời gian không còn nhiều nữa..
6-(Enjoy what you are and what you have right now. Stop working hard for what you do not have. If you do not have them, it's probably too late).

7. Hãy vui cuộc đời với người phối ngẫu, con cháu, bạn bè. Nguời thật sự yêu bạn, là người yêu chính bạn chớ không phải những gì bạn có. Ai yêu những gì bạn có chỉ gây khổ cho bạn mà thôi.
7-(Just enjoy your life with your spouse, children, grandchildren and friends. People, who truly love you, love you for yourself, not for what you have. Anyone who loves you for what you have will just give you misery).

8. Tha thứ cho mình và cho nguời. Chấp nhận sự tha thứ. Vui huởng sự bình an trong tâm hồn.
8-(Forgive and accept forgiveness. Forgive yourself and others. Enjoy peace of mind and peace of soul).

9. Làm quen với sự chết. Nó sẽ xảy ra. Đừng sợ hãi. Nó là một phần của cuộc đời. Chết là bắt đầu một cuộc đời mới hơn, tốt đẹp hơn.
9-(Befriend death. It's a natural part of the life cycle. Don't be afraid of it. Death is the beginning of a new and better life. So, prepare yourself not for death .

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Thế nào là trưng cầu dân ý?
Cách đây đúng một ngàn năm, mùa Xuân năm 1010, vua Lý Thái Tổ ban hành “Chiếu dời đô” để chuyển kinh đô nước Đại Cồ Việt là Cổ Loa (Ninh Bình) về thành Đại La (Hà Nội) ngày nay. Có người cho rằng đó là cuộc trưng cầu dân ý đầu tiên trong lịch sử nước Việt. Kết thúc chiếu dời đô, nhà vua nói: “Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào”. Rõ ràng, trước một vấn đề hệ trọng ảnh hưởng đế sự tồn vong của nước Việt, nhà vua không thể tự mình quyết định. Nhà vua muốn biết lòng dân như thế nào!

Ngày 6/10/1955 Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố mở cuộc trưng cầu dân ý nhằm xác định tương lai của Việt Nam. Với kết quả 92,8 % phiếu thuận, cuộc trưng cầu đã phế truất nhà vua Bảo Đại.

Hiến pháp 1946 ghi rằng “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết”. Trường hợp cụ thể được nêu ra có tính cách bắt buộc để cho toàn dân phúc quyết là “khi sửa đổi hiến pháp” sau khi đã được nghị viện thông qua. Các hiến pháp sau này không nói rõ như thế mà chỉ nói “trưng cầu các vấn đề quan trọng”. Hiến pháp 1992 hiện hành chỉ nói nhân dân có quyền thực hiện trưng cầu dân ý khi cơ quan nhà nước đưa ra trưng cầu, nhưng không nói rõ khi nào thì trưng cầu, và vấn đề nào được đưa ra trưng cầu.

Hơn 65 năm xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam chưa có một cuộc trưng cầu dân ý nào, mặc dù đã 3 lần thay đổi và sửa chữa hiến pháp. Bỏ quên quyền phúc quyết của dân chúng, đó là một thiếu sót rất căn bản của thủ tục lập hiến.

Năm 2005, nhà nước dự định thông qua Luật Trưng cầu Dân ý nhưng cuối cùng bộ luật này vẫn dừng lại ở mức độ dự thảo! Dự thảo bộ luật này chứa đựng nhiều xung đột, không thể thông qua, mà chủ yếu tập trung vào “vùng cấm” trưng cầu. Theo dự thảo thì các vấn đề sau đây không được đưa ra trưng cầu bắt buộc:

•Hệ thống chính trị và thể chế chính trị;
•Những vấn đề được khẳng định trong cương lĩnh của Đảng Cộng sản;
•Nghị quyết các Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng Cộng sản;
•Các luật thuế, luật ngân sách, chính sách giá cả;
•Chính sách dân tộc, tôn giáo;
•Các vấn đề rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ Quốc hội;
•Các vấn đề đại xá và đặc xá.
Với “vùng cấm” rộng lớn và bao trùm lên toàn bộ đời sống xã hội như vậy thì gần như chẳng còn vấn đề nào để phải trưng cầu!

Trưng cầu dân ý là việc người dân trực tiếp bỏ phiếu để quyết định những vấn đề liên quan đến vận mệnh đất nước hoặc những vấn đề có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội. Đây là hình thức dân chủ trực tiếp có ý nghĩa hơn cả việc bầu cử người đại diện cho mình vào quốc hội.

Hiện nay các tranh luận tập trung vào những vấn đề lớn sau đây:

•Những vấn đề nào thì được trưng cầu, hay đúng hơn là giới hạn của các vấn đề được đưa ra trưng cầu;
•Đối tượng nào có quyền đưa ra sáng kiến trưng cầu;
•Kết quả trưng cầu bắt buộc và trưng cầu tham khảo;
•Cơ chế và cách thức tổ chức trưng cầu.
Có ý kiến cho rằng cần phải giới hạn các vấn đề trưng cầu, không phải vấn đề nào cũng được đưa ra trưng cầu. Tôi không đồng ý quan điểm này vì theo tôi ở một nền dân chủ thực sự thì người dân có quyền quyết định mọi vấn đề, không cần bất kỳ một giới hạn nào. Khi nhà nước còn nghĩ đến việc “giới hạn” các vấn đề trưng cầu thì cũng đồng nghĩa với việc giới hạn quyền lực của nhân dân. Còn nghĩ đến “vùng cấm” là còn nghĩ đến các đặc quyền riêng cho mình.

Bất kỳ vấn đề nào cũng có khả năng được đưa ra trưng cầu nếu như sáng kiến trưng cầu được thông qua. Sáng kiến trưng cầu là một nhu cầu khách quan. Vấn đề đặt ra là người có sáng kiến trưng cầu có thu thập đủ số lượng chữ ký để được thông qua hay không chứ không phụ thuộc vào nội dung cụ thể của sáng kiến trưng cầu.

Có một sự kiện xảy ra gần đây cần nêu ra như một ví dụ điển hình:

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà giáo Phạm Toàn và GSTS Nguyễn Thế Hùng là những người tiên phong phản đối dự án bô-xit ở Tây Nguyên vì cho rằng dự án sẽ ảnh hưởng nặng nề về môi sinh cũng như về an ninh quốc gia. Với số lượng người đã ký tên phản đối dự án và lượng người truy cập vào trang web bô-xit như hiện nay thì tôi tin ba người này hoàn toàn có thể thu thập đầy đủ số chữ ký cần thiết để đưa ra sáng kiến trưng cầu là: “Có nên thực hiện dự án bô-xit hay không”. Vấn đề lúc này phải phụ thuộc vào kết quả trưng cầu chứ không còn phụ thuộc vào “Chủ trương lớn của Đảng”, bởi vì mục đích lớn nhất của Đảng phải là phụng sự mong muốn của nhân dân.

Nhiều ý kiến cho rằng nên giới hạn đối tượng nào có quyền đưa ra sáng kiến trưng cầu. Tôi cũng không đồng ý quan điểm này vì khi người dân có quyền bỏ phiếu trưng cầu thì họ phải có quyền nêu ra sáng kiến trưng cầu. Giới hạn đối tượng được nêu ra sáng kiến trưng cầu là giới hạn sự sáng tạo của xã hội.

Khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý là muốn biết người dân quyết định như thế nào, do đó kết quả trưng cầu có tính bắt buộc thực thi. Tôi không đồng ý quan điểm chia tách kết quả trưng cầu ra làm hai loại: kết quả tham khảo và kết quả bắt buộc. Nhà nước có nhiều cách thức để tham khảo ý kiến của dân, không nhất thiết phải chờ kết quả trưng cầu. Khi đã tổ chức trưng cầu dân ý thì kết quả trưng cầu phải có tính bắt buộc thực thi.

Chúng ta hy vọng dự luật trưng cầu dân ý sớm được thông qua để làm nền tảng phát triển cho một xã hội dân chủ thật sự.

Sài Gòn ngày 12/03/2010

Luật sư Lê Trần Luật

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Phở...và...cơmmmm. ..

Phở và cơm ....làm từ gạo tẻ
Phở ...ăn 'khoẻ'... giá rẻ...hơn cơm
Phở khỏi đơm...tay lùa ....miệng nuốt
Phở..là thuốc...'trau chuốt'....bệnh già

Phở ...chục tô...ăn hoài chẳng ngán
Cơm...nhàm chán...ngao ngán..thở dài...?
Phở ...miệt mài...húp chan...xùm xụp...
Cơm...lạy lục...tiếp tục...mà nhai...

Cơm ...nguội tanh....chỉ hoài...một món
Phở...được chọn...một món...ăn hoài
Cơm...vừa nhai...hai hàng ...lệ chảy
Phở...hết xảy...vừa nhảy...vừa nhai...

Cơm...ăn xong...phải chùi...đĩa,bát
Phở....húp xong...quẹt miệng...đi liền
Cơm...tính tiền ...bằng lương ...cả tháng...
Phở...ăn sáng..cuối tháng...trả tiền...

Cơm...dọn ra...nhâm nha với vợ
Phở...ngoài chợ...ăn với ...bạn bè
Cơm ...muối mè...vừa khô...vừa mặn
Phở...muôn mặt...gân, nạm, tái, vè....
............ .........
tùng xèng...cóc cóc...tùng xèng
****
Lý do đàn ông thích "phở". Nếu xét về "thành phần cấu tạo" thì cơm và phở rất giống nhau, đều được làm chủ yếu từ... gạo tẻ.
Phở có thịt có hành thì cơm có cũng có, đã vậy cơm còn hay hơn vì không bao giờ bị trộn... hàn the. Cơm cũng rẻ hơn và.... no lâu hơn.
Dân gian gọi vợ là cơm, bồ là phở. Nếu xét theo khoa học thì cách gọi đó chẳng xúc phạm ai cả vì hai "món" này đều có giá trị độc lập, chả cái nào cao hơn cái nào.
Nhưng rõ ràng phở luôn luôn tượng trưng cho sự bay bướm Ưu thế của phở so với cơm là quá rõ ràng trong chuyện tình ái, mặc dù nhiều lúc "phở" xấu hoặc già hơn "cơm".
Một số lý do hài hước sau góp phần lý giải việc đàn ông thích phở nhưng vẫn không bỏ được cơm:
Ðàn ông thèm "phở" vì ít được ăn phở. Muốn ăn phở, nhất là phở đặc biệt, thì phải có tiền, có xe, trong khi cơm ngày nào cũng được ăn và phải ăn.
Ðàn ông dùng cơm ở nhà trong không khí quen thuộc, ấm áp đến nhàm chán, còn dùng phở ở xa nhà, trang trí lạ mắt, đôi khi đẹp mắt và có cả âm nhạc.
No thì rất khó ăn thêm cơm. Còn phở, no tới mấy cũng có thể làm thêm một tô.
Ăn phở xong có thể đứng dậy, đi ngang hoặc ngồi, nằm một chút. Còn ăn cơm xong nhiều khả năng phải thu dọn và rửa bát đĩa.
"Phở" không quán nào giống quán nào, thậm chí là không tô nào giống tô nào.
Còn cơm thì có khi bao nhiêu năm vẫn thế, chỉ có nguội hơn.
"Phở" có thể ăn chung với bạn bè. "Cơm" thì rất ít, phần lớn là ăn chung với... bà nấu cơm.
Lúc ăn phở, có thể dễ dàng yêu cầu thêm tý hành, tý bánh hoặc thêm tý ớt cho mặn nồng.
Còn cơm, có gì trên mâm hãy xơi nấy, yêu sách lôi thôi còn bị mắng hoặc bị gắt gỏng "không ăn thì thôi".
Phở tuy cùng một chỗ nhưng có thể ăn tái, chín, nạm, gân.. tùy thực khách quyết định. Cơm thì do mụ nấu cơm quyết định.
Nếu ăn phở nhiều tới mức độ trở thành khách quen, khách có thể ăn... nợ. Còn nếu không đưa tiền lương, "cơm" sẽ dừng ngay
Bỏ tiệm "phở" này, có thể dễ dàng tìm tiệm khác. Còn bỏ "cơm" thì phức tạp vô cùng.
Một lý do nữa là "phở" nhiều Nước, còn "Cơm" thì Khô queo. HaHaHa..!!!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Liệu người ta có thể chết vì . . . buồn ?


Buồn , như ly rượu đầy
Không có ai cùng cạn
Buồn , như ly rượu cạn
Không còn rượu để say

( Buồn – Y Vân )
1.

Tháng 2, tháng ngắn nhất trong năm, sắp sửa qua đi. Nhưng mùa đông vẫn còn ở lại. Những ngày lạnh cao điểm vẫn còn chờ phía trước. Một buổi chiều , ngồi cô đơn trong quán cà phê Starbucks vắng người, nhìn ra bên ngòai những cụm tuyết trắng xóa bay lả tả, tôi chợt cảm thấy buồn . . . muốn khóc. Kể cũng lạ, đã mấy chục năm nay, bận rộn với bao vất vả lo toan của cuộc sống, tôi ít khi mang cảm giác buồn, cái cảm giác của những ngày trai trẻ, ngồi trong quán cà phê – khi vỉa hè, khi sang trọng lịch lãm – nhìn những mảng nắng xiên qua ô cửa kính, hay những giọt mưa từ cơn mưa vội vã làm ướt cả người từ đầu đến chân, nghĩ đến hiện tại vô vọng không lối thóat, nghĩ đến tương lai chết ngộp trong cuộc chiến khốc liệt , nghĩ đến những mối tình không có ngày mai, tôi đã biết buồn. Nỗi buồn của thế kỷ. Nỗi buồn của thế hệ. Buồn đến độ chỉ . . . muốn chết.

Ngày ấy, thanh niên thế hệ chúng tôi, buồn thì có buồn thật, buồn đến nẫu người, buồn da diết cả não trạng, buồn phờ phạc cả thân xác, buồn chín rục trái tim, và như đã nói, buồn đến độ chỉ muốn chết, nhưng trong trí nhớ còm cõi của mình, tôi không thể moi ra được xem trong đám bạn bè của mình, có ai chết vì buồn không. Nhiều người đã nằm xuống, vì bom đạn chiến tranh, vì tù đày thiếu ăn thiếu thuốc men, vì bệnh tật hiểm nghèo, vì lao mình vào biển cả vượt biên, nhưng hình như không có ai chết vì buồn, kể cả buồn vì thất tình.

Nhiều năm sau, cuộc sống giúp tôi quên bẵng đi những nỗi buồn. Để một buổi hòang hôn , bỗng chợt nhớ đến nỗi buồn thế kỷ, với cảm giác quay quắt đến độ . . . muốn chết. Đó chỉ là một lối nói cường điệu của văn chương, hay, trong thực tế đời thường, con người ta có thể chết vì buồn ?

Các khoa học gia hiện đại đã có câu trả lời.

Hai nhà nghiên cứu của Viện đại học Luân Đôn , Annie Britton và Martin Shipley, đã kết luận công trình nghiên cứu kéo dài 25 năm của mình về trạng thái buồn nản mà con người thường xuyên phải đối phó rằng, sự buồn nản, tự mình nó chưa đủ để làm cho người ta chết, nhưng nó là nguyên nhân chính dẫn đến việc uống rượu say sưa, nghiện hút thuốc lá, sử dụng các lọai ma túy, thuốc an thần hoặc bị suy nhược tâm lý. Từ đó, dẫn đến bệnh tim mạch và các căn bệnh nan y khác , con đường ngắn nhất đến tử vong.

Mặt khác, có một sợi dây nối liền trạng thái buồn bã của cân não đến các sinh họat ăn uống, ngủ nghỉ, giải trí và làm việc của một con người. Người mang tâm trạng buồn bã, chán chường không thiết ăn, ngủ không ngon giấc, lười biếng tập thể dục, lúc nào cũng ủ rũ, mệt mỏi, nguyên nhân cho những rối lọan tim mạch. Theo Christopher Cannon, giáo sư phụ giảng về Y khoa tại trường đại học Harvard , Hoa Kỳ, thì trạng thái buồn bã kích thích một số hóoc môn trong cơ thể tiết ra, gây Stress cho tim, khiến sự họat động của tim không được bình thường.

Một nhà nghiên cứu khác, Giảng viên Sandi Mann thuộc trường đại học Lancashire, kết luận rằng sự buồn chán không phải là không độc hại. Nó liên kết với những hình thái dồn nén tâm lý khác , làm tăng áp huyết và giảm sự miễn nhiễm của cơ thể.

Bà nói thêm :” Nhưng ai mà chả có lúc buồn bã, chán nản. Thế nên, chỉ có những người buồn kinh niên, buồn muôn thuở, mới phải lo lắng đến việc có thể chết vì buồn mà thôi .”

2.

Như vậy là tôi đã phần nào tìm được lời giải đáp cho thắc mắc phi . . . văn chương của mình. Dù, trong thực tế, sự buồn tẻ vì những đơn điệu của cuộc sống, và nỗi buồn ( do những mất mát, những hòan cảnh đau thương người ta phải trải qua ) có khác nhau. Nhưng hai thứ ấy vẫn có chung một đặc tính là chỉ những kẻ cứ suốt đời ngồi gậm nhấm nỗi buồn của mình ( buồn vong quốc, buồn tha hương, buồn vì chí lớn không thành, buồn vì danh không tọai v…vv ) mới có thể chết . . . vì bệnh tật do sự buồn bã chán chường gây ra. Còn những kẻ buồn vẩn vơ ( tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn – thơ Xuân Diệu ) ( như tôi ), buồn có lúc , buồn như một thứ . . . thời thượng, làm dáng ( trong văn chương ) thì vẫn cứ sống để thỉnh thỏang . . . được buồn.

Thế hệ của chúng tôi, tuy không may mà lại may. Ngày xưa, tuy mang tâm trạng buồn bã chán chường nhưng thời thế không cho phép chúng tôi cứ ngồi đó than khóc cho nỗi buồn thế kỷ của mình. Chúng tôi phải lăn xả vào cuộc chiến, chiến đấu hàng ngày với cái chết, sự thương tật, nên không có thì giờ nhiều cho nỗi buồn. Đến khi chiến tranh chấm dứt, hầu hết phải chịu đựng những khổ sở về vật chất ( thiếu ăn thiếu mặc, thiếu tiện nghi đời sống ) trong những trại cải tạo, nên một lần nữa, chúng tôi có rất ít thì giờ nghĩ đến những nỗi buồn ( xa gia đình, nhớ người yêu . . .) của mình. Những năm tháng khốn khổ ấy, giúp chúng tôi hiểu được rằng những dằn vặt thể xác vẫn dễ chịu hơn những dằn vặt về tinh thần. Nhờ vậy, chúng tôi sống sót.

Đến bây giờ, lúc chiều tàn của cuộc đời, lại may mắn có được những phương tiện kỹ thuật hiện đại sẵn sàng bên cạnh, như các phương tiện giải trí truyền hình,phim ảnh, như máy điện tóan và đường truyền Internet, nơi chúng tôi có thể xa lánh những nỗi buồn của mình bằng cách vùi đầu vào những trang điện tử ưa thích, những họat động giao lưu trong những nhóm thư mạng ( Mailgroups ).

Hãy thử tưởng tượng những người già sống quạnh quẽ trong căn nhà thênh thang, con cái đã trưởng thành, đã bay nhảy khắp tứ phương, người bạn đời có thể đã bỏ mình ra đi từ lâu hoặc còn sống thì cũng chỉ như cái bóng già nua bên cạnh. Nếu không có những họat động giúp mình quên đi những buồn tẻ hàng ngày, thì chắc chắn , quá khứ sẽ thống trị cùng với những điều bất như ý của nó. Người ta sẽ chết dần mòn ( theo nghĩa đen thực sự của cái chết ) vì buồn bã chán chường, vì cô đơn quạnh quẽ. Đó là một thực tại mà rất nhiều người già Việt nam sinh sống ở hải ngọai đang phải trải qua.

Các nhà nghiên cứu, trong khi chỉ ra những hệ quả nguy hại đến sức khỏe vì sự buồn bã, cũng đã căn cứ vào khám phá của mình, khuyên người ta nên tích cực tham gia nhiều các hình thức sinh họat xã hội mỗi khi có cảm giác buồn chán, vì sự mất mát của người thân, vì công ăn việc làm đình trệ do suy thóai kinh tế, vì nhiều những nguyên nhân khác trong đời sống.

Thực ra, những khám phá khoa học nói trên, dù đã được tiến hành một cách nghiêm túc trong thời gian 25 năm ( từ 1985 đến 2009 ) , cũng không nói được điều gì mới.(*) Công trình nghiên cứu ấy chỉ khẳng định tác hại chết người của buồn bã chán chường. Cuộc sống hàng ngày đã cho người ta nhiều dịp nhìn thấy tác hại ấy. Bởi vì buồn vốn là một thuộc tính của con người . Trong đời một con người, ai mà không trải qua những trạng thái buồn bã, chán chường. Không phải chỉ thóang qua, mà có khi trạng thái ấy kéo dài đến mức không thể chịu đựng nổi.Không phải chỉ một lần, mà rất nhiều lần trong cõi trần ai mà người ta chào đời bằng tiếng khóc oa oa. Có kẻ đã tự tìm cái chết để giải thóat mình khỏi những nỗi buồn dằn vặt, day dứt. Như vậy, buồn đến . . . chết người thì có gì là lạ !

3.

Nói đi thì phải nói lại. Cuộc sống lúc nào cũng kéo người ta đi theo với nó, nhiều khi phải rảo bước đi theo cuộc sống khiến người ta chóng mặt. Tuy không có thì giờ để buồn bã chán chường nhưng, nếu sống chỉ để chạy theo nó mòn hơi thì cũng . . . chán chường không kém. Thế nên, người ta cần những lúc dừng lại. Những lúc ngồi vẩn vơ, những lúc cảm thấy một nỗi buồn không đâu xâm chiếm tâm hồn, những lúc ngỏanh nhìn quá khứ mà tiếc nuối, mà mong ngày hôm qua quay trở lại . Và vì nỗi mong ước ấy là vô vọng, nên người ta trở nên chán chường mọi thứ của hiện tại, dù chung quanh mình đầy đủ những thứ xa xỉ của một thời xưa thiếu thốn, nghèo khổ. Có lẽ, đó là nỗi buồn lành mạnh. Nỗi buồn giúp người ta trở nên người hơn, nỗi buồn giúp thi vị hóa những thói quen nhàm tẻ hàng ngày.

Thế nên, thỉnh thỏang trong những dịp hiếm hoi không bận bịu với thời khóa biểu công việc dầy đặc của mình, tôi vẫn cố tìm thì giờ cho những nỗi buồn. Thí dụ như cái ngày cuối cùng của tháng Hai hôm nay, trời đổ tuyết trắng xóa đường phố, tôi ngồi trong quán cà phê quen thuộc, nhấm nháp ly cà phê ưa thích, nhìn ra bên ngòai lạnh lẽo để cảm hơn nữa sự ấm áp bên trong, và để mặc cho nỗi buồn cuối ngày tràn ngập trong hồn.

Chỉ tiếc rằng tuyến nước mắt đã khô cạn theo với chiều dài một đời người, nên tôi chẳng còn chút nào nhỏ ra làm ẩm ướt thêm buổi cuối ngày nhòe nhọet vì tuyết và vì buồn. Dù thực sự, tôi đang cảm thấy buồn . . . muốn khóc.

Và hẳn là, nỗi buồn “ thời thượng “ hôm nay, chẳng thể làm ngắn hơn những ngày – vốn đã ngắn - còn lại của đời tôi.

(*)Điều làm tôi ngạc nhiên là báo chí từ Anh đến Mỹ đã đối xử với công trình nghiên cứu 25 năm của hai giáo sư Annie Britton và Martin Shipley như là một khám phá mới mẻ về tác dụng nguy hại của sự buồn chán. Khởi đi từ một bản tin ngắn của hãng thông tấn AP ( Associateed Press ) với tiêu đề : Can you really be bored to death ?, tất cả các báo lớn ở Mỹ ( như tờ USA Today ), ở Anh ( như tờ The Guardian ) đều đăng lại tin này. Trong thế giới ảo (internet ), chỉ với từ khóa là tên vị giáo sư tác gỉa công trình nghiên cứu được điền vào mục tìm kiếm của Google, tôi đã nhận được kết quả hàng mấy trăm trang mạng , từ các cơ quan nghiên cứu y khoa cho đến xã hội học, đến những trang Blog cá nhân, trang nào cũng đăng lại bản tin của AP với những lời bình, thêm mắm thêm muối của người đọc. Làm như, chỉ cho đến hôm nay, sau khi công trình nghiên cứu của Annie Britton và Martin Shipley được công bố, thế giới phương Tây mới biết được rằng người ta có thể chết vì buồn nản. Trong khi đó, Việt Nam mình ai cũng biết – dù lõm bõm – buồn nản chán chường là một trong những nguyên nhân gây chết người đáng sợ. T.Vấn

© T.Vấn 2010

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Tai vạ cho “khúc ruột yêu thương”

Image
Vụ án Nexus Technologies, một công ty kinh doanh xuất khẩu của 3 anh em ruột người Mỹ gốc Việt họ Nguyễn ở Philadelphia, bang Pensylvania, Hoa Kỳ, đang làm xôn xao dư luận ở Mỹ và châu Âu.

Hãng tin Mỹ AP và hãng tin Pháp AFP đều đưa tin này hàng đầu. Toà án Philadelphia đã bắt đầu xử, nghe cáo trạng, lấy khẩu cung và điều tra sâu thêm, dự kiến đến tháng 7 sẽ có thể tuyên án.

Vụ án này rất quan trọng vì vừa là một vụ buôn lậu lớn, vừa là một vụ rửa tiền lớn, còn thêm là một vụ hối lộ các quan chức Hà Nội. Vụ này liên quan đến an ninh và quốc phòng của nước Mỹ, vì hàng xuất khẩu lậu từ Mỹ vào Việt Nam bao gồm những thiết bị kỹ thuật điện tử quân sự hiện đại, lên đến mấy chục triệu đôla Mỹ, như: trang thiết bị để vẽ bản đồ dưới mặt biển, thiết bị dò, tháo gỡ bom mìn, dò tìm các loại hóa chất, phụ tùng trực thăng, thiết bị viễn thông lắp đặt trên vệ tinh…

Luật pháp Mỹ rất nghiêm đối với lọai tội phạm này. Đã có riêng một bộ luật để xử, mang tên Foreign Corrupt Practices Act – Luật trừng phạt tội hối lộ cho người nước ngoài – viết tắt là FCPA.

Bài này bàn thêm về ảnh hưởng của vụ án đối với mối quan hệ giữa chế độ độc đảng cai trị đất nước với bà con ta trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Ðây là một vụ án tiêu biểu cho việc thực hiện Nghị quyết 36 của Ðảng Cộng sản, với nội dung ca ngợi 3 triệu bà con ta là “khúc ruột yêu thương của Tổ quốc”, kêu gọi các nhà kinh doanh Việt kiều mang tiền của về kinh doanh, tham gia xây dựng quê hương.

Chắc hẳn 3 anh em ruột các ông Nam Nguyễn, Kim Nguyễn và An Nguyễn sau khi lập nghiệp phát đạt dựng lên công ty Nexus Technologies đã nghe tin theo lời kêu gọi của Nghị quyết 36 để liều lĩnh lao vào những thương vụ béo bở mang tính mạo hiểm quá cao này.

Nay kết quả ra sao?
Ba anh em họ Nguyễn đã bị truy tố. Công ty Nexus Technologies đã đóng cửa. Tiền bạc tài sản đã bị niêm phong. Công ty phải chuẩn bị nộp phạt 27 triệu đôla.

Cả công ty và gia đình 3 anh em lo buồn, chới với, kinh hoàng, tỉnh ra là đã muộn, hối không kịp, không cái dại nào giống cái dại nào.
Kinh hoàng nhất là khi các chuyên gia luật đối chiếu Luật FCPA với tội trạng nhận định rằng ông Nam Nguyễn (54 tuổi) và ông An Nguyễn (34 tuổi) có thể bị tuyên án mỗi người 35 năm tù giam, còn ông Kim Nguyên (41 tuổi) có thể bị 30 năm tù giam. Thế là mất hết!

Để xem chính quyền Hà Nội sẽ có thái độ ra sao.
Rất nhiều khả năng là họ sẽ bỏ mặc 3 nạn nhân trong tai hoạ kinh khủng này, với cảnh sạt nghiệp và 105 năm tù lơ lửng trên đầu 3 Việt kiều “yêu nước” đã trót dại bùi tai khi nghe Nghị quyết 36 tán tỉnh ngọt ngào như mật.
Âu cũng là một bài học cực kỳ sâu sắc để đời cho bà con ta ở hải ngoại. Cảnh giác bao nhiêu cũng chưa đủ đối với chính quyền độc quyền đảng trị trong cơn khủng hoảng toàn diện triền miên hiện nay.

Khi thì họ gọi bà con ta là “khúc ruột thân thương”, khi thì chỉ là “khúc ruột thừa vô dụng”, cắt bỏ không chút thương tiếc!
Bài do tác giả gửi đăng.

Nguồn: Blog Bùi Tín – VOA

Post Reply