Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Một Lời Nói Chấm Dứt Sự Nghiệp 50 Năm

06-07-10: Bản Tin Hằng Đầu (Headlines) của Yahoo vừa cho hay, cách đây hơn một giờ nữ phóng viên gạo cội Henlen Thomas của Hearst Newpaper sau 50 năm tường trình tại Tòa Bạch Ốc, vừa tuyên bố về hưu sau khi truyền thông phát giác những lời tuyên bố gây bất bình của bà về Do Thái. Khi phóng viên hỏi ý kiến của bà về Israel , bà đáp rằng “Cút mẹ nó ra khỏi Palestines” (Get the hell out of Palestines). Khi được hỏi tại sao vậy, bà đáp rằng “Đó là đất đi chiếm đóng”. Khi được hỏi họ (Do Thái) sẽ đi đâu, bà đáp rằng “ Trở về Ba Lan, Đức hoặc một nơi nào khác như Hoa Kỳ.” Lời tuyên bố của bà đã được phổ biến rộng rãi trên hệ thống Internet. Từ một phóng viên đưa tin, bà trở thành một biên tập viên phụ trách một mục của tờ báo (columnist), bà được ưu tiên ngồi ghế giữa, ngay hàng đầu trong phòng họp báo của Tòa Bạch Ốc. Bà nổi tiếng và tạo sự nghiệp là đã đặt những câu hỏi “hắc búa” với bất cứ tổng thống nào. Thế nhưng ngày hôm nay lời tuyên bố của bà đã gây tác hại nghiêm trọng. Các chính trị gia của cả hai phía Tả & Hữu đều phê phán lời tuyên bố của bà. Phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Robert Gibbs nói rằng “Lời tuyên bố của bà là xúc phạm và đáng trách” (offensive and reprehensible) . Còn Hội Đồng Quản Trị của Hiệp Hội Phóng Viên Tại Tòa Bạch Ốc cho rằng lời tuyên bố của bà là “không thể biện hộ được “(indefensible) . Dù có lời xin lỗi nhưng một trường trung học đã hủy bỏ thiệp mời bà tham dự buổi lễ tốt nghiệp của học sinh.

Khởi đầu làm phóng viên cho Hãng UPI năm 1943, bắt đầu đưa tin từ Tòa Bạch Ốc vào cuối nhiệm kỳ của TT. Eisenhower rồi trở thành người phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ điều hành trong Câu Lạc Bộ Báo Chí rồi Chủ Tịch Hiệp Hội Phóng Viên tại Tòa Bạch Ốc. Thế nhưng ngày hôm nay, Hội Đồng Quản Trị của Hiệp Hội đã phải tuyên bố nói rằng việc bà từ chức làm dễ dàng họ phải tước bỏ quyền ưu tiên của bà ngồi ghế hăng đầu trong phòng họp báo của Tòa Bạch Ốc.

Các cụ ngày xưa nói không sai “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” (Một lời nói ra bốn ngựa đuổi không kịp) làm tiêu tan sự nghiệp và tăm tiếng xây dựng 50 năm trời. Nhưng dầu sao bà cũng còn là người tự trọng khẳng khái từ chức chứ không cãi chày cãi cối, và biện minh tại bị v.v…

Lược thuật: Đào Văn Bình

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Đời Người Phải Chăng Vô Nghiã

Lu Hà
Đời người nhanh thật. Thoáng một cái đã hết vèo. Nhớ ngày nào tôi còn lẫm chẫm biết đi, cổ chân cổ tay còn đeo vòng bạc loảng xoảng. Thế mà nay đầu tôi đã bạc rồi. Chỉ còn vài năm nưã là tôi sẽ 60 tuổi, rồi 70, rồi…rồi… Chắc chắn tôi sẽ phải từ biệt cái thế giới này. Bao giờ đầu thai trở lại có lẽ sẽ không còn cái diễn đàn tự do dân chủ văn chương thi phú ở hải ngoại này nưã. Chúng ta đều là người thiên cổ cả rồi. Thôi thì tôi cũng yên tâm bằng lòng với mình. Sống bình thường chẳng có bằng cấp chức vị gì, hưởng theo lương lao động chính đáng hoặc trợ cấp xã hội, nhưng tôi lại thấy rất vui.Chỉ làm thơ để tặng cho đời , luôn cùng với bạn năm châu tứ hải hàn huyên dốc bầu tâm sự trên mạng, làm tôi thấy cuộc đời này còn vui và có ý nghiã lắm.

Nếu ai hỏi tôi: Có muốn làm một ông Hồ Chí Minh, một Phạm Văn Đồng, một Võ Nguyên Giáp, một Ngô Đình Diệm,hay một Nguyễn Văn Thiệu không?Tôi sẽ thẳng thắn trả lời với các bạn rằng: Có các vàng, có người hàng ngày rưả chân rưả dái cho tôi , tôi cũng không thèm. Xin lỗi các bạn nói năng như vậy có phải là thô tục quá không? Vậy các bạn cho tôi xin lỗi nhé, dù có viết toạc ra hay viết tắt rồi mấy cái dấu chấm lửng thì trong đầu các bạn cũng hiểu ra thì cũng thế thôi. Cái nưả kín nưả hở thật ra cũng chẳng hay ho gì. Tôi thấy ông Hồ, ông Đồng, ông Giáp hay bao nhiêu ông nưã cũng chỉ là những con ngươì đáng thương thôi.Cho nên tôi nói thẳng tôi không muốn làm ông Hồ. Tôi sẽ chẳng được cái quái gì, cả một đời chui rúc, sống chui sống nhủi mặt lúc nào cũng như mặt chuột. Năm 1945 về làm chủ tịch nước, phạm bao nhiêu tội ác để dân oán hận căm hờn nhưng lúc nào cũng phải diễn trò đạo đức giả.Có vợ không được nhận vợ, có con không được nhận con, anh em họ mạc đều ghẻ lạnh xa lánh.Bản thân sai tay chân ám sát thủ tiêu hàng nghìn, hàng vạn người nên lúc nào cũng nơm nớp lo sợ sẽ có kẻ khác ám toán giết hại lại mình. Cũng giống như Hitler chỉ là cái bung xung, cái bùi nhùi, con ngáo ộp mà phe cánh tay chân lợi dụng mà thôi.Tôi thấy cái tham vọng quyền bính , hư danh cuả ông Hồ cũng đáng thương.

Những năm hải ngoại trâu chó, bôn ba làm tay sai gián điệp cho Nga- Tàu v.v.. Thật ra cũng là một đời căng thẳng vô nghiã mà thôi. Rồi từ năm 1945 đến 1969 nghiã là chỉ có 25 năm ngắn ngủi. Ông ta sống trong Bắc bộ phủ như một tên tù, một con tin cao cấp vưà hô hào bá đạo vưà là nạn nhân cuả chính mình. Sống như vậy thật sự là mất tự do, luôn bị đảng giám sát cai quản đánh bóng là một biểu tượng, một ông thánh giả giữ đền cho nhà thờ Mác Lê Nin. Hồ có khác chi như con chó nằm gậm trạn, luôn lo sợ đàn em cuả mình, vì lũ chúng trẻ khoẻ ác ôn hơn, lưu manh tàn bạo hơn.Chúng lợi dụng mình, xui thiên hạ ca ngợi kính yêu mình để mị dân thủ lợi. Vì cái trò sùng bái cá nhân, nhưng bản thân mình chỉ có cái danh hão thôi. Nhiều lúc cơn dục tính nổi lên cũng phải nén chiụ, giơ đầu chiụ báng vì cái tiếng cha già dân tộc. Có vợ có con cũng phải dã man thủ tiêu đi để giữ tiếng. Sống như vậy tâm điạ bất an thì làm sao tránh khỏi bệnh tật kia chứ. Cho nên tôi hiểu ra cái đời khổ nạn đáng thương hại cuả ông Hồ nên tôi mới bảo chỉ cần làm cái thằng tôi thực tại như bây giờ là sung sướng thực tế gấp trăm ngàn lần đời ông Hồ. Sống như ông Hồ là ngu chứ có hay ho gì đâu, dù cả đời có lắm mưu mẹo thủ đoạn, lường gạt sát hại đưa hàng nghìn người vào chỗ chết vào cạm bẫy và cuối cùng để làm gì?

Cuộc đời vinh quang với cái tên gọi là lãnh tụ tối cao. nhưng thực tế ông ta được cái gì? Những nhu cầu bình thường cuả một con ngươì, một mái nhà, một tổ ấm gia đình cũng không có. Áp bức muôn dân và chính mình cũng tự áp bức mình luôn, cũng tự mất luôn quyền tự do quyền làm người , chỉ vì một cái danh hão huyền mà thôi. Bài thơ lục bát tôi mới làm mô tả phàn nào những gì tôi tâm sự với các bạn ngày hôm nay. Thôi nhé hẹn lúc khác, bây giờ tôi phải đi mua gạo. Một niềm vui nhân sinh bình thường còn thú vị hơn ông Hồ có lính canh hầu hạ. Năm thì mười hoạ mới có đưá ma cô nào đó dẫn gái đến.Cũng phải lén lút nhìn trước nhìn sau như kiểu đánh du kích, thật khổ nhục và tội nhiệp lắm. Đời người như vậy xét cho cùng cũng là vô nghiã.

Các bạn thấy tôi nói có phải không?
Chúc các bạn bình an vui vẻ

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Chảnh? Dưới gốc me trước cổng trường X:
- Chào anh. Ông anh cũng ngồi chờ con thi tốt nghiệp hả?
- Ừa, sốt ruột quá. Còn anh sao trông rầu rĩ vậy?

- Tôi đang hồi tưởng từ khi đưa con vào mẫu giáo, là bắt đầu hành trình chạy trường chạy lớp, chạy tiền học phí, học thêm... tức không ít lần tiếp tay cho tiêu cực, tham nhũng trong ngành giáo dục! Nghĩ lại mà buồn.
- Còn tôi thì luôn tự hào là người cha lý tưởng hiếm có!
- Ông anh nói vậy có... chảnh quá hông?
- Không hề. Ông nghĩ đi: tôi không liệng con xuống đất khi nó mới mấy tháng tuổi, không cầm dao đâm nó khi vợ không cho đi nghỉ phép, không thắt cổ con liệng xuống ao vì ghen, không xích nó vào cột điện ngoài đường khi nó chơi game về, không trói nó vô gốc cây rồi gom lá đốt vì tội giấu điện thoại, không bẻ chân bẻ tay rồi bắt nó đi ăn xin, bán vé số... lại còn nuôi con ăn học đàng hoàng! Thời buổi này, có mấy người cha được như tôi với ông? Tự hào lên đi chớ!
- Ờ hé. Hoá ra tôi với ông đều là hai người cha vĩ đại! Hồi đó tới giờ không biết, cứ áy náy mãi... Tôi vui rồi. Ủa, sao tới lượt ông buồn?
- Hic hic... Tui buồn vì chợt nhớ đang có phong trào di tản giáo dục, người ta ai cũng cho con du học Tây, Mỹ, giá chót cũng Sing, Tàu; vậy mà con tôi tới đây phải học đại học... trong nước!

Người già chuyện

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Vì Sao Đảng Cộng Sản Trung Quốc
Trị Được Đảng Cộng Sản Việt Nam?


Song Chi
Có rất nhiều bài báo, cuốn sách phân tích, nghiên cứu về việc tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh với Mỹ và với phe Việt Nam Cộng hoà. Ở đây tôi chỉ xin nói lại vài điểm trong quan điểm của mình. Tôi cho rằng, trong cuộc chiến với Mỹ trước kia, Đảng Cộng sản Việt Nam có rất nhiều lợi thế và họ đã biết tận dụng tối đa những lợi thế này. Một, đó là họ đã khai thác được lòng yêu nước, tinh thần chống ngoại xâm mạnh mẽ của người dân Việt Nam dưới chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” để tiến hành một cuộc chiến tranh thực tế là vì quyền lợi của Đảng Cộng sản Việt Nam và của phe xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là Liên Xô lúc bấy giờ; hai, họ đã nhận được sự hỗ trợ về nhiều mặt từ lương thực, cố vấn quân sự cho đến vũ khí các loại, chẳng hề thua kém gì sự viện trợ của Mỹ dành cho Nam Việt Nam, thậm chí trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến khi miền Nam bị cắt giảm viện trợ rồi cúp hẳn thì viện trợ của phe xã hội chủ nghĩa dành cho miền Bắc vẫn hết sức hùng hậu; thứ ba, họ rất biết cách tuyên truyền, định hướng dư luận với nhân dân miền Bắc và với quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của các phong trào phản chiến, phong trào xã hội có tính chất khuynh tả ở các nước phương Tây lúc bấy giờ, thêm một cái may cho họ là báo chí phương Tây, nhất là báo chí của chính nước Mỹ, với cách đưa tin, bài nhấn mạnh về sự kéo dài của cuộc chiến, những tổn thất về tiền bạc và nhất là sinh mạng của người Mỹ, chỉ trích sự sa lầy của chính phủ Mỹ tại Việt Nam v.v… đã góp phần làm cho phong trào phản chiến tại Mỹ dâng cao cộng với dư luận quốc tế dẫn đên việc Mỹ quyết định rút khỏi Việt Nam. Và còn rất nhiều nguyên nhân khác nữa.

Nhưng đến bây giờ nếu xảy ra cuộc chiến với Trung Quốc, Đảng và Nhà nước Việt Nam hoàn toàn không còn có những lợi thế đó nữa. Người dân Việt Nam muôn đời vẫn là một dân tộc rất có tinh thần yêu nước, nhưng liệu bây giờ Đảng Cộng sản Việt Nam có còn nhận được sự ủng hộ 100% của nhân dân nữa không? Những người đảng viên từ trên xuống dưới, đặc biệt là các cấp lãnh đạo, không còn là những người vô sản như ngày xưa mà trái lại, bây giờ họ có quá nhiều tài sản, quá nhiều thứ để mất nên tinh thần chiến đấu chắc chắn cũng không thể bằng như ngày xưa. Nếu xảy ra chiến tranh bây giờ, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng không còn ai là đồng minh như đã từng có Liên Xô, Trung Quốc trước kia… Về mặt tuyên truyền, hướng dẫn dư luận, với nhân dân trong nước, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn muốn nói gì thì dân cũng tin và nghe theo, còn trên quốc tế thì cả thế giới đều hiểu rõ chủ nghĩa cộng sản và thực chất cuộc sống của người dân trong những quốc gia do đảng cộng sản lãnh đạo là như thế nào, ngay cả người Nga bây giờ còn phải lên án chế độ cộng sản; nên nếu hai nước “anh em, đồng chí” cùng do hai đảng cộng sản lãnh đạo này có đánh nhau thì thế giới cũng phản đối lấy lệ chứ chẳng ai nhiệt tình can thiệp, tình hình như vậy đã từng xảy ra khi Trung Quốc đánh Việt Nam vào những năm 1979, 1988. Chưa kể nước nào cũng phải nghĩ đến những quyền lợi của đất nước họ, nhân dân họ là trên hết, tại sao họ phải vì Việt Nam – một quốc gia chẳng phải là đồng minh của họ – để đối đầu với Trung Quốc, ảnh hưởng tới bao nhiêu mối lợi về thương mại, kinh tế…?

Trước đây, trong cuộc chiến tranh với một nước dân chủ mà chính phủ rất sợ phản ứng của người dân như nước Mỹ, Đảng Cộng sản Việt Nam tha hồ tận dụng điểm này để tuyên truyền xách động dư luận quốc tế và tạo sức ép về mặt dư luận với nhân dân Mỹ để đến lượt họ, gây sức ép lại với chính phủ Mỹ về cuộc chiến tranh hao người tốn của này. Nhưng với nhà cầm quyền Trung Quốc thì nhà cầm quyền Việt Nam thua vì Đảng Cộng sản Trung Quốc – cũng giống như Đảng Cộng sản Việt Nam, thậm chí còn hơn hẳn một bậc, chẳng hề coi nhân dân họ ra ký lô gì. Còn về việc nướng quân trong chiến tranh thì Trung Quốc sẵn sàng chẳng ngán gì ai. Trong bài viết “Hiểm họa diệt chủng”, tác giả Nguyễn Sơn có nhận xét về việc nếu xảy ra chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc như sau:

“So sánh về tư tưởng chiến lược quân sự tương lai. Chi Hoatian nhận xét “lý do mà nước Mỹ còn tồn tại vì chưa bao giờ có chiến tranh xảy ra ngay tại trên đất nước của họ. Nếu tình huống chiến tranh xảy ra hôm nay, tôi có thể tiên đoán là khi địch quân đã tràn vô tới thủ phủ Hoa Thịnh Đốn rồi thì Quốc hội Mỹ vẫn còn bận họp để tranh cãi có nên cho phép Tổng thống của họ tuyên chiến hay không? Đó là sự khác biệt giữa Mỹ và Trung Quốc. Chúng ta không phí thời giờ cho những bàn cãi vô bổ này. Đồng chí Đặng Tiểu Bình đã từng dạy “Cái cốt lõi của vấn đề nằm ở sự nhạy bén của Đảng. Một khi Đảng đã quyết định, thì lập tức mệnh lệnh được thi hành, không mất thời giờ vô bổ như các quốc gia tư bản”.

Và:

“Não trạng Trung Quốc từ sau trận chiến biên giới Việt-Trung cũng không thay đổi. Họ sẵn sàng thí mạng dân Trung Quốc nếu phải xảy ra cuộc đối đầu chiến tranh nguyên tử cũng như không ngần ngại sử dụng vũ khí hủy diệt nhân loại để chiến thắng nếu cần. Nếu thế chiến thứ hai hơn 57 triệu người đã bị chết, thì thế chiến thứ ba sẽ khủng khiếp hơn. Đối với lãnh đạo Trung Quốc mạng người chỉ là rơm rạ. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc tuyên bố câu nói lịch sử “nếu phải hy sinh một nửa dân Trung Quốc, tức là hơn nửa tỷ dân chết đi để giữ cho đảng CSTrung Quốc được tồn tại thì họ vẫn làm”. Vì nếu bị mất Đảng, tức là mất đầu tàu, mất lãnh đạo, mất phương hướng thì Trung Quốc coi như sụp đổ.”

Chưa kể, tất cả những trò ma mãnh, thủ đoạn nào mà Đảng Cộng sản Việt Nam có thể sử dụng với đối phương thì Đảng Cộng sản Trung Quốc còn là thầy của họ trong những trò này nữa. Cả hai quốc gia này đều nắm trong tay toàn bộ ngành báo chí truyền thông trong nước, tha hồ chỉ đạo cho báo chí nói gì thì nói, muốn đổi trắng thay đen, sửa đổi lịch sử, muốn tuyên truyền chính nghĩa về phía mình, bôi nhọ kẻ thù, kích động lòng căm thù của nhân dân, định hướng dư luận trong nước… tha hồ. Tuy nhiên, cho đến nay, mới thấy báo chí truyền thông Trung Quốc mạnh miệng trong lĩnh vực này, hết thẳng tay chửi Việt Nam là “lòng lang dạ sói”, “tiểu nhân bỉ ổi không biết xấu hổ”, rằng nếu “cuộc chiến tranh Trung-Việt năm 79 vẫn chưa đủ dạy cho Việt Nam một bài học tơi bời thì trong bài học lần này, chúng ta cần làm triệt để, để Việt Nam có được bài học nhớ đời và cũng là vì lợi ích lâu dài của Trung Quốc” hoặc “phải giết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ trong trận chiến thu hồi Nam Sa” và những kiểu hù dọa, lăng mạ, bôi nhọ, vu cáo khác nhau trong rất nhiều bài báo đăng trên một số trang báo mạng chính thức của Trung Quốc, đã được dịch và đăng lại trên trang Bauxite Vietnam gần đây. Trong khi đó thì báo chí Việt Nam suốt một thời gian dài không được phép nói bất cứ điều gì bất lợi cho “mối quan hệ hữu hảo” giữa hai nước, mãi đến gần đây mới thấy đưa tin ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc bắt giữ, cướp tài sản, đòi tiền chuộc… chẳng hạn.

Nếu Đảng Cộng sản Việt Nam chuyên nói ngược, nói một đằng làm một nẻo thì Đảng Cộng sản Trung Quốc còn hơn thế nữa. Hãy xem cái cách Đảng Cộng sản Trung Quốc một mặt cứ đem chiêu bài 16 chữ vàng trong mối quan hệ giữa hai nước ra để làm yên lòng những nhà cầm quyền Việt Nam nhưng mặt khác vẫn để yên cho báo chí thóa mạ Việt Nam, cho tàu bè ngang nhiên bắt bớ ngư dân Việt Nam… thì đủ hiểu. Nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không biết ngán sợ dư luận thế giới trong hàng loạt hành vi bắt bớ, giam cầm những người bất đồng chính kiến, thẳng tay đàn áp tôn giáo, ngang nhiên tuyên bố chính công an và chính quyền là thủ phạm tấn công và đánh sập hàng loạt các trang báo mạng độc lập và trang blog cá nhân có những quan điểm trái chiều với nhà nước v.v… thì Đảng Cộng sản Trung Quốc, với thế mạnh của một cường quốc kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới hiện nay và là chủ nợ của nhiều nước kể cả Mỹ, càng không coi dư luận thế giới ra cái gì. Nói như thế để nếu có một cuộc chiến tranh xảy ra giữa Việt Nam và Trung Quốc, có điều gì mà Trung Quốc không dám làm rồi sau đó phủi tay, tìm cách nói ngược lại trước dư luận thế giới? Ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, làm gì có báo chí độc lập để lên án chính phủ sa lầy trong một cuộc chiến vô nghĩa, buộc chính phủ phải rút lui như ở Mỹ? Còn người dân Trung Quốc thì đã được báo chí chuẩn bị tinh thần, định hướng dư luận trong suốt một thời gian dài để phần lớn họ sẽ tin rằng “đánh cho bọn Việt Nam xấu xa một trận” là đúng.

Tuy nhiên, thiết nghĩ, trong thời đại này, việc một nước nào đó sử dụng con đường quân sự, con đường chiến tranh để đánh chiếm một nước khác cũng là kế hạ sách. Thay vào đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc có hàng ngàn cách khác để vẫn nắm được Đảng Cộng sản Việt Nam trong tay, qua đó khai thác tối đa những gì có thể khai thác được từ mảnh đất hình chữ S này. Đó là việc sử dụng sức mạnh mềm – ở đây là vừa dùng tiền để mua chuộc các cấp lãnh đạo tham nhũng có hạng của Việt Nam, vừa sử dụng mối quan hệ “láng giềng hữu hảo”, “anh em đồng chí” như một lá bùa dán lên miệng để làm yên lòng giới lãnh đạo Việt Nam; lũng đoạn chính trị, lũng đoạn kinh tế, làm cho kinh tế Việt Nam ngày càng phải lệ thuộc vào Trung Quốc, mặt khác, chiếm đoạt dần dần lãnh thổ lãnh hải của Việt Nam mà không tốn một viên đạn. Dù là một nước lớn nhưng trong cách hành xử từ trước đến nay với các nước láng giềng nhỏ yếu hơn trong đó có Việt Nam, Trung Quốc chưa bao giờ tỏ ra là một nước đàn anh chính nhân quân tử, sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để lừa các nhà cầm quyền Việt Nam vào tròng, giành lấy từng kilomet đất, biển; trong làm ăn kinh tế thì chỉ toàn tính lợi cho nước mình còn sự mất mát, thiệt hại lâu dài thì nước khác phải gánh chịu. Điều này cũng đang diễn ra trong mối quan hệ của Trung Quốc với một số quốc gia khác, nhất là ở Châu Phi.

Trong nhiều năm dài, Đảng Cộng sản Việt Nam với các thế hệ lãnh đạo liên tiếp chỉ là những kẻ tham lam, bạc nhược, quan trí thấp, tầm nhìn ngắn, lại thêm nỗi lo sợ phải bảo vệ thể chế chính trị này bằng mọi giá, đã thua trắng tay các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc vốn thâm sâu, trăm mưu ngàn kế, lại không che giấu một tham vọng bành trướng đã ăn sâu vào máu từ bao đời nay. Đảng Cộng sản Trung Quốc thừa hiểu nỗi sợ lớn nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là phải giữ vững chế độ cho dù có phải chịu lệ thuộc vào ngoại bang (ở đây là Trung Quốc), có phải mất đất mất biển; họ cũng biết rât rõ điểm yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam nằm ở đâu và họ triệt để khai thác những điểm này. Chẳng hạn như Đảng Cộng sản Việt Nam rất sợ mất tính chính danh trước nhân dân nếu để cho nhân dân thấy giới lãnh đạo Đảng chỉ là bọn bán nước, nhu nhược, thì Đảng Cộng sản Trung Quốc cứ ngang nhiên và thường xuyên cho tàu vào ra vùng biển thuộc lãnh hải của Việt Nam, bắt bớ đánh đập đòi tiền chuộc các ngư dân Việt Nam… buộc nhà cầm quyền Việt Nam hiện nguyên hình là những kẻ hèn với giặc ác với dân trong mắt người dân Việt Nam; hoặc nếu Đảng Cộng sản Việt Nam rất sợ những bí mật về ông Hồ bị phơi bày ra thì đó cũng là một trong những con bài để Đảng Cộng sản Trung Quốc gây áp lực khi cần v.v… Nói tóm lại, chơi kiểu gì, chơi đường nào thì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng dưới cơ Đảng Cộng sản Trung Quốc mà thôi. Hay nói cách khác, chỉ có Đảng Cộng sản Trung Quốc là trị được Đảng Cộng sản Việt Nam vì tất cả những lý do trên. Điều đó lý giải vì sao trước nhà cầm quyền Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam trở nên bạc nhược, hèn hạ đến vậy.

Đảng Cộng sản Việt Nam vì những quyền lợi của họ mà phải hèn nhát chịu cho Đảng Cộng sản Trung Quốc ép mọi bề, nhưng còn nhân dân Việt Nam – một dân tộc đã từng có một lịch sử lâu dài vượt qua mọi âm mưu thôn tính, mọi cuộc chiến tranh tàn khốc, mọi sự nghiệt ngã của số phận để tồn tại, lẽ nào ngày hôm nay chúng ta lại chịu để cho lịch sử 1000 năm lệ thuộc phương Bắc sẽ lặp lại nhưng tinh vi hơn, tàn nhẫn hơn? Lẽ nào nhân dân Việt Nam lại cứ cam chịu để cho Đảng Cộng sản Việt Nam và một nhóm những kẻ nắm quyền lãnh đạo cao nhất được phép thay mặt nhân dân dâng đất, dâng biển, bán rẻ tài nguyên, biến mảnh đất này thành nguồn lợi khai thác đồng thời là bãi rác thả của đủ thứ độc hại từ sản phẩm kém chất lượng cho tới bùn đỏ bauxite… của nước khác? Đất nước này không phải chỉ của Đảng Cộng sản và của một nhóm người để họ có quyền muốn làm gì thì làm. Bao nhiêu quốc gia đã chọn được một con đường đúng để đi, kể cả những quốc gia từng một thời sai lầm như Liên Xô cũ và các nước Đông Âu nay cũng đã vượt qua được quá khứ, sao nhân dân ta phải cam chịu đi con đường sai thành ra lẻ loi không bè bạn không đồng minh, một mình đối mặt với hiểm họa từ phương Bắc?

© 2010 Song Chi

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Image

La Pagode, Chuông Không Tiếng Tự Bao Giờ…

Sài Gòn, những năm đầu thập niên 1960, La Pagode, lúc ấy chủ nhân còn là người Pháp, hiển nhiên là Chùa-không-chuông.
Ấy tuy nhiên quán tên chùa mang theo nó vẻ u trầm: bàn ghế gỗ gụ màu nâu sẫm, những cây cột bài trí thành những khuôn vuông vức, thẳng đứng từ sàn tới cái trần không cao, sắp đặt đều đặn trên một diện tích khá rộng.
Hai lối vào thông thoáng, tường vách xây thấp, ngồi trong, tầm nhìn trải khắp hai bên góc phố, hai con đường đẹp vào bậc nhất của Sài Gòn: Ðồng Khởi, Lê Thánh Tôn.
Ðường khi còn mang tên Catinat (sau đổi tên là Tự Do), vào một năm đầu thập niên 1950,
Alain Delon từng tham gia chiến trận ở Ðông Dương, đi trên con phố này, nhìn quảng cáo phim có Jean Gabin ở rạp chiếu bóng Eden, gần quán La Pagode, nói với bạn đồng hành giấc mơ làm diễn viên điện ảnh.
La Pagode những năm 1960-1970 có duyên nợ với giới văn nghệ Sài Gòn, trong khi giới báo chí lúc đó thường ngồi ở quán Givral, và giới trẻ ngồi chật hai tầng quán Brodard.
Cả 3 quán nổi tiếng này ở cùng một phía trên đường Tự Do
La Pagode chủ nhân người Pháp mà lại nhiều ý vị Phương Ðông, trừ cái quầy rượu hiển nhiên rất Tây, chạy dọc tường vách phía tay trái, nhìn từ lối vào ở đường Tự Do.
Các cô chạy bàn, đa số là người Hoa, hiền lành, lặng lẽ. Có một cô chạy bàn trông giống ca sĩ Khánh Ly, để Sỹ Phú, người tình của nhạc phẩm Cô Láng Giềng, gặp cô giống Khánh Ly này là đòi song ca Lời Buồn Thánh.
Ở bàn khuất sau một cây cột khoảng giữa quán, nếu nhìn thấy khói thuốc lá bay lên, thì đúng đấy là nhà văn Mai Thảo.
Khuôn mặt lặng lờ như phiến gỗ, và một thân hình cao nghệu đã ngồi thấp xuống bên ly rượu, trầm tư về một thành phố dĩ vãng.
Nhà văn-nhà thơ Thanh Tâm Tuyền mỗi sáng có thể ngồi ở bất cứ chỗ ngồi nào cùng bằng hữu, nhưng khi ngồi một mình, những kẻ giả danh văn nghệ các loại không thể tự tiện kéo ghế ngồi cùng.
Những bàn ghế gỗ gụ màu nâu sẫm, rộng và thấp tất nhiên không thể sắp đặt được nhiều, dù quán rất rộng, và dù cũng tạm đủ chỗ ngồi cho những người ưa thích tới quán “vẻ chùa” này.
Nhưng dù sao La Pagode cũng cần phát triển theo đà phát triển của “Hòn ngọc Viễn Ðông”, đáp ứng càng nhiều càng tốt .Nhu cầu ngồi quán của người Sài Gòn, đặc biệt giới văn nghệ, vốn ưa thích nhâm nhi hương vị đời sống phố thị.
Rồi thiết kế của La Pagode thay đổi, bàn ghế cao gọn, sắp đặt được nhiều gấp 3-4 lần số bàn ghế kiểu ghế bành trước đó.
Không để tường vách xây ở hai lối ra vào nữa, hết thảy được lắp đặt bằng những khuôn cửa kính.
Những khuôn cột vuông vức trong quán cũng được lắp kính bốn bề. La Pagode trông lấp lánh, khác hẳn vẻ u trầm trước đó.
Ấy tuy nhiên đấy là cái lấp lánh của thứ ánh sáng phản chiếu từ mặt hồ yên tĩnh, từ lớp kính gương lặng lẽ và trong suốt.
La Pagode với thiết kế như vậy, vẫn không giống Givral hay Brodard, hay nhiều quán gương kính khác của Sài Gòn.
Bởi La Pagode là một khối rộng rinh vuông vức, một thứ chùa hiện đại mà người ta có thể tưởng tượng.
La Pagode là nơi chốn thích hợp để thưởng thức hương vị tách cà phê, men say ly rượu.
Cũng có thể uống như cái cớ để ngồi với nhau, để ngó dòng đời trôi chảy phía ngoài cửa kính, cho chúng ta một tâm lý an toàn, ngoài cuộc.
Cũng có thể để nghe khúc hát của riêng mình, để mối ưu tư trí thức văn nghệ dấy lên.
Chung quanh, hai ngả đường đẹp của Sài Gòn, những khách bộ hành lịch sự, những chiếc xe hơi bóng loáng lướt qua.
Công viên Chi Lăng nằm xéo góc quán La Pagode, một ngày của một năm đầu thập niên 1960, nhà thơ Hoa Kỳ Allen Ginsberg đọc thơ trước đông đảo thanh niên, sinh viên Sài Gòn.
Chúng tôi nhìn nhà thơ từ La Pagode, một ông già ở tuổi ngoài 30 đầy râu tóc, giơ chân giơ tay diễn tả bài thơ như người lên đồng.
Một thi sĩ beatnik, thích hợp với Sài Gòn mà cái đẹp chen với cái xấu, tươm tất lẫn với lôi thôi, một bờ bến còn hoang dại của thềm lục địa văn minh.
Cũng từ lúc La Pagode thiết kế mới này, một loại máy hát tự chọn hiện đại, trong đợt đầu tiên nhập từ nước ngoài vào Sài Gòn, có mặt tại quán.
Chúng tôi bỏ vào máy đồng bạc cắc làm jeton, chọn bài hát mình muốn nghe.
Từ đó, mỗi khi bài hát “There were the days” lạ lùng vang lên từ chiếc máy hát, chúng tôi biết người bạn thi sĩ của chúng tôi đã vào quán, đang ngồi ở chỗ anh vẫn ngồi.
Vào thời gian rạp chiếu bóng Rex chiếu phim “Vĩnh biệt tình em” (tên tiếng Việt đặt cho phim Doctor Zhivago), ngày nào cũng có ít nhất năm, bảy người khách bỏ vào máy những đồng bạc cắc để nghe Chanson pour Lara.
Lara, người tình của Bác Sĩ Zhivago. Có nhiều chuyện đã xảy ra, bao điều đã thay đổi, chuyện của chúng ta là yêu nhau...
Lắng nghe thì bài hát sẽ rõ từng lời, nhưng âm thanh ấy không phiền nhiễu cho những câu chuyện muốn nói, nó hòa tan trong cái êm ả lưu cữu của quán “Chùa”.
Chàng đạo diễn “hippie” Ðặng Trần Thức, nghỉ ở Ðà Lạt một thời gian sau khi trình chiếu phim Hè Muộn,
Về Sài Gòn để tìm gặp dịch giả Nguyễn Mai Chi. Chàng đạo diễn muốn bàn việc chuyển thể tác phẩm văn học Bãi Hoang (bản dịch La Côte Sauvage của Jean-René Huguenin, đăng trên nguyệt san Văn) sang kịch bản phim, được mách bảo, vào quán La Pagode sẽ gặp.
Nguyễn Mai Chi là tên chung tác giả dịch phẩm Bãi Hoang của hai nhà văn thường xuyên có mặt ở quán “Chùa”: Nguyễn Xuân Hoàng và Huỳnh Phan Anh.
Nhà văn-nhà thơ Viên Linh, vừa đẩy cánh cửa lắp kính, vừa nghiêng đôi vai rộng, gầy và thẳng ngang như thước thợ, vào quán.
Anh lướt nhìn một vòng quanh quán, À đây rồi!..
. Tôi có ý này về đoạn kết cái truyện ngắn của cậu... “người anh thi sĩ” tới thẳng chỗ chúng tôi, Joseph Huỳnh Văn và tôi, đặt xuống mặt bàn cái cặp to đầy bản thảo bài vở của tuần báo Nghệ Thuật,
Một tờ báo văn nghệ uy tín nhất Sài Gòn trong mấy năm của thập niên 1960.
Anh mặc nhiên chọn La Pagode làm chỗ nối dài công việc ở tòa soạn, để một tay nâng ly bia, một tay quơ trong không gian, nói đoạn kết cái truyện ngắn của cậu phải như thế như thế thì mới ổn.
Rồi anh vụt đứng dậy, sang một bàn giáp lối vào ở đường Tự Do: anh vừa nhìn thấy trong khuôn gương ở cây cột, nhạc sĩ Cung Tiến.
Ông nhạc sĩ phục sức bảnh bao, khuôn mặt sáng đẹp trí thức, lúc nào cũng giống người khách du lịch quốc tế vừa đặt chân trên vỉa hè Sài Gòn, tạt vào một quán cà phê có tên La Pagode.
Chiếc khăn tay chấm nhẹ trên hàng râu mép sau ngụm cà phê sữa nóng.
Chúng tôi đọc thấy sau đó, nhạc phẩm của Cung Tiến phổ bài thơ Lệ Ðá Xanh, in trên tuần báo Nghệ Thuật.
Tác giả bài thơ ấy, Thanh Tâm Tuyền, linh hồn của nhóm tiên phong văn nghệ hiện đại và thơ tự do, may mắn thay những câu thơ âm trắc đồng tình.nào.
Nhà tổ chức văn hóa Ðỗ Ngọc Yến nghe bằng ánh mắt rất vui qua đôi mắt kính dày cộm.
Joseph Huỳnh Văn và tôi, không ôm mộng giang hồ như Nguyễn Tuân vang bóng một thời, chúng tôi đích thực là kẻ giang hồ mười năm trên một lộ trình duy nhất: từ nhà tới La Pagode.
Ðể mãi tới bây giờ, đi trên đường Ðồng Khởi, vẫn ngỡ mình sắp tạt vào quán “Chùa”.
La Pagode vẫn nơi đây, đúng nơi đây, góc Ðồng Khởi và Lê Thánh Tôn.
Nhưng đã không còn là cái quán, mà là văn phòng làm việc của công ty dịch vụ lữ hành SaigonTourist.Nay thì đến lượt Saigon Tourist không còn nửa
Vậy mà sao tôi vẫn ngỡ quán “Chùa”, vẫn ngỡ “người anh thi sĩ” vừa thấp thoáng ở đó, vai nghiêng lệch góc chiều.
Chuông không tiếng đã bao ngày
- Nghe quen em tưởng chiều đầy âm thanh
(thơ Viên Linh).
Nguyễn Đạt

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

HUẾ của một thời
Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ, cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.
Trong giọng nói, có một cái gì đó gọi là rất Huế, đối với Quảng Nam-Ðà Nẵng, cách nhau một ngọn đèo thì có khác, cũng là điều đương nhiên, nhưng với Quảng Trị, cách mấy mươi cây số đường đồng bằng, giọng Huế không lẫn vào đâu được. Dạ, dạ thưa tiếng nói nhỏ nhẹ dịu dàng.

Vì phải sống trong một hoàn cảnh đặc biệt nên phải kềm giữ sự yên tĩnh, nho nhã theo cung cách quý tộc, quan liêu hay bình dân thôn giã cũng phải nhu mì, gia giáo. Theo các nhà nghiên cứu về thổ âm thì cho rằng, “Ở nơi nước trong thì tiếng nhỏ, ở nơi nước đục thì tiếng tho.ạ” Ðiều rất Huế trong giọng nói này, lâu hóa thành thói quen, được xem là một phong thái lịch sự đặc bi t không đâu có. Làm sao người ta quên được cái tiếng dạ lạ kỳ của người con gái Huế, dạ để khỏa lấp, dạ để từ chối, dạ để đồng ý hay dạ có nghĩa là không gì hết. Làm sao anh chàng trong Quảng ra thi có thể hiểu hay chịu đựng nổi một lối trả lời vô thưởng vô phạt, nhưng nhỏ nhẹ, không thể trách vào đâu của một người con gái Huế mà anh ta muốn làm quen.

-Em tên chi? Dạ!
-Nhà em ở đâu? Dạ!
-Tôi có thể làm quen với em được không? Dạ!

Phải chăng ở nhà trước khi đi Mạ đã dặn không ăn trầu người, đừng để người lân la, trước ngoài sân sau lần vô bếp, tốt hơn hết là cứ dạ cho nhỏ nhẹ, cho lễ phép, cho tới khi mô hết dạ nổi thì thôi. E lệ, khép nép là những đặc tính của người con gái Huế mỗi khi nàng gặp khách lạ như thi sĩ Ðinh Hùng đã ghi lại, “Cô gái Huế đa tình, vành nón nghiêng khép nép.”

Người con gái Huế gặp người lạ, tay thì níu vành nón, sẵn sàng làm mạng che, tay thì quấn tà áo, vừa phòng thủ, vừa tránh những làn gió vô duyên quái ác. Cái thời áo trắng quần trắng đã làm cho bao nhiêu chàng trai phải xốn xang r5ng rời trước cái mờ mờ ảo ảo, nửa che mà nửa không của cái sương khói mờ nhân ảnh đó. Bạn cũng biết là nữ sinh Huế không bao giờ mặc quần đen, cái màu không tinh khiết, tội lỗi đó, có gì thì cũng phải che đậy, ngụy trang cho tới cùng.

Tính cách Huế thường là che dấu hay tự chế những cái phàm tục, bao gồm cả trong cách nói năng, ăn mặc, ứng xử. Khách đến nhà, thì gia chủ hay con cái trong nhà, phải quấn lại mái tóc, mặc vội chiếc áo dài, mới dám bước giáp mặt khách, dù thân hay sơ.

Tội nghiệp cho những người con gái Huế phải sinh ra trong những hoàn cảnh bần hàn, với một hai chiếc áo mà phải thay đổi luôn luôn, cứ bước ra khỏi cổng nhà là phải lên áo dài, bất kể đi đâu. Ngày nay phải chăng sự thanh lịch đó còn lại nơi chiếc áo dài, dù là chiếc áo dài cũ, bạc màu, vá víu của người con gái gánh một mớ bông thọ ra chợ, hay nơi bà bán đậu hũ trên vĩa hè, dù chân thì đi đất, miệng còn bập bập điếu thuốc Cẩm Lệ sâu kèn.

Cái ăn, cái ngủ là cái rất riêng tư của người Huế, nhiều khi phải giấu giếm đến mức sợ sệt, chớ có đột nhập nhà người ta vào cái thời điểm ấy. Cái nghèo muốn giấu đã đành, cái sang trọng, người Huế cũng không muốn cho ai biết. Cũng có khi cái nghèo mà nghèo kiểu cách, nghèo cái kiểu mệ chém củ khoai, buổi sáng trên chiếc mâm đồng chỉ có mấy chén cháo trắng thì gọi là “thời” cháo hoa.

Cái ăn không còn là cái khoái trá có thể hả hê trưng bày ra ngoài mà hình như phải giấu kín đi mới gọi là người nho nhã. Cơm đường, cháo chợ, cách đây vài mươi năm, trong xã hội Huế còn được xem là thứ tầm thường, hèn hạ. Bạn có biết là ngồi quán cà phê cụ Phấn là một sự cách mạng lớn trong xã hội Huế vào những thập niên năm mươi không? Ðến như khi cái xe nước mía từ Saigon du nhập ra Huế quả là đã thay đổi nhiều lắm. Ngay cả vào những năm 1950, Huế cũng chưa bao giờ có cái cảnh ăn đứng góc đường như chúng ta thB 0ờng thấy ở khu Pasteur-Lê Lợi Saigon.

Dân Huế ngày xưa thời phong kiến là vua chúa, quan lại, viên chức triều đình, binh lính và thư sinh, một thời sau đó là quân nhân, công chức và học sinh, sinh viên, không thấy có mấy ngành nghề công nghệ hay thương mãi, con buôn hình như không được trọng vọng mấy trong xã hội nho nhỏ này, cái lối xếp hạng sĩ nông công thương. Các ngành tiểu công nghiệp như chằm nón, đóng khăn, đóng giày, dệt lụa có khi được tuyển chọn từ các địa phương trong cả nước về kinh đô để phục vụ cho giới vua quan, sau đó ra cả cho thứ dân, nhưng không thấy có cơ hội phát triển ra rộng lớn.

Một nơi không có kỹ nghệ, không có nhà máy, không vận dụng nhiều đến cơ khí, thì cũng là một nơi yên tĩnh, nhịp sống lặng lẽ, chậm chạp. Thành phố mang một vẻ cổ kính hiền hòa, và không khỏi đượm một vẻ nghèo khó. Cũng như những thành phố cổ xưa, nhỏ bé khác, Huế như trong một chòm xóm nhỏ mà người dân hầu hết đều biết nhau, và vì sự giao thông hạn chế, chỉ có một chiều ngang theo quốc lộ, một mặt thì ngăn bởi biển, một mặt thì chặn bởi núi, ở đó thành kiến còn nặng nề, cố chấp, ít chấp nhận được cái mới lạ, tân thời. Khoảng năm 1948-49, khi mệ Sen (con vua Thành Thái), một người đàn bà Huế, lần đầu tiên dám lái một chiếc xe hơi Simca Aronde, thì cả thành phố coi đó là một hiện tư ợng dị thường.

Ðến với Huế, người ta như đi trở ngược lại dòng thời gian, ở đây, quá khứ bao trùm lên tất cả. Ở đâu cũng thấy những dấu vết nhắc ta nhớ tới những ngày tháng đã qua. Cung đình, bia mộ, lăng miếu thời Thăng Long hiện hữu trong gần tám thế kỷ, nhưng đã cách xa ta chừng hai thế kỷ, một phần đã mai một theo thời gian. Kinh đô Thuận Hóa thì vẫn còn đây với những di tích, đền đài, lăng tẩm, với những ngàn thông reo, với những bờ tre xanh mướt bên dòng sông Hương lặng lẽ. Những người đã khuất mà hình như linh hồn còn ở đâu đây, phảng phất bóng tinh kỳ hay tiếng trống chiêng, bát nhã, sênh phách cầm ca. Nơi đây, những dấu ấn cB Ba lịch sử còn ẩn hiện trên mỗi bờ thành, góc phố, nơi tấm bia mộ hay trên những lăng tẩm. Nơi đây là dĩ vãng, là tháng ngày qua, người ta về đây là để hồi tưởng, để nhớ nhung. Ở đâu cũng đượm một vẻ buồn, mà người ra đi thường ray rứt muốn có một ngày trở lại. Quê hương là cái gì mà người ta nặng lòng với nó như thế tôi thấy ở đây sao buồn quá! (Ðinh Anh Dũng trong Nhớ Huế).

Quá khứ của Huế được ghi nhận nhiều nhất qua những công trình lăng tẩm mà các vua nhà Nguyễn trước khi băng hà đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ kiểu cách và xứng đáng của một bậc đế vương, từ địa thế, khung cảnh tĩnh mịch đến các kiến20trúc lộng lẫy. Nơi nào cũng là núi rừng bao la, có đại thụ, có hồ sen cùng với tiếng chim, tiếng suối, tiếng thông reo đem lại cái cảm giác dịu dàng thơ mộng và yên tĩnh cho tâm hồn con người.

Huế không những là vùng đất của quá khứ, mà Huế còn như bao phủ bởi những linh hồn quá vãng, là của hương trầm, là của chuông mõ luôn luôn nhắc nhở tới sự hiện diện của những linh hồn oan khuất. Ðó là những linh hồn chưa siêu thoát trong một bề dày của Huế tang tóc, chết chóc, tức tưởi, của những ngày thất thủ kinh đô, khi giặc Pháp tấn công Huế năm 1885, lúc voi ngựa cùng người dày xéo lên nhau thoát ra bốn cổng thành, của giặc giã thanh toán hận thù nhau qua thời đại t=E 1 nguyệt tam vương của Tường-Thuyết, của hàng ngàn cái chết oan khuất giữa ngày Tết Mậu Thân mà máu xương rải rác từ đồng bằng Phú Thứ cho đến khe sâu Ðá Mài, của thây chất thây trên bờ biển Thuận An dưới cơn mưa pháo 75, của hàng trăm thân xác cuốn theo dòng nước lũ của mùa Thu năm Kỷ Mão. Có chỗ nào âm u, sầu thảm hơn Huế với những địa danh Ngã Tư Âm Hồn, Miễu Âm Hồn, cồn chém An Hòa, Mả Ông Trạng hay cả đến cái quán cơm có cái tên ma quái không đâu có là quán cơm Âm Phủ.

Ban đêm, Huế có chỗ nào là không có lập lòe nén hương, xuýt xoa khấn vái, cầu nguyện. Sau tang tóc Mậu Thân, hãy về Huế mà nghe, nửa đêm về sáng, láng giềng, hàng x m vang dậy chuông mõ và tiếng tụng kinh cầu nguyện cho những người đã mất sớm được siêu thăng. Huế là nơi đã trải qua nhiều biến cố đau thương, Huế đã than khóc với những tang tóc và oan khuất sẽ không bao giờ phai lạt. Nơi mỗi khu vườn của Huế đều có mỗi am thờ cho những người khuất mặt, với hoa quả, một cành hoa phượng và một ngọn đèo leo lét. Linh hồn những người khuất mặt hình như vẫn còn lẩn khuất đâu đây.

Ngày xưa mỗi năm vào ngày hai mươi ba Tháng Tư Âm lịch, để ghi nhớ ngày thất thủ kinh đô trong lịch sử, khắp nơi, nhất là ở vùng chợ Ðông Ba, người ta đã dựng trai đàn, chẩn tế suốt một tuần lễ theo nghi thức Phật Giáo đ3 cầu siêu cho những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát. Cũng như ngày lễ Vu Lan ở Huế có phần trọng đại hơn với những nghi lễ cúng cô hồn các đảng thập phương, phóng sanh, phóng đăng để hồi hướng công đức cho tất cả những người đã mất. Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ, cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.

Nói đến Huế, chúng ta liên tưởng đến những cảnh chùa chiền. Không đâu trên đất nước, trong một vùng đất nhỏ hẹp mươi chục cây số vuông, mà có tới trên một trăm cảnh chùa. Ðược cơ duyên như vậy là do từ gần bốn trăm năm trước. Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Ðế, tên húy Nguy ễn Hoàng trong khi vào Nam tìm Hoành Sơn nhất đái để dung thân, đã hạnh ngộ với một bà tiên (hay bụt) trong giấc mơ, chọn đất Hà Khê (Kim Long) để dựng chùa Thiên Mụ. Cho tới những đời vua sau, chùa chẳng những được trùng tu và xây dựng thêm (tháp Phước Duyên xây năm 1844 dưới thời vua Thiệu Trị) mà khắp đất thần kinh, chùa chiền được xây dựng thêm rất nhiều, khiến bây giờ Huế có những cảnh chùa rất đẹp, xét về mặt nguy nga tráng lệ, không thể so với lăng tẩm, nhưng không thiếu khung cảnh u tịch, nên thơ. Báo Quốc, Từ Ðàm, Diệu Ðế, Thuyền Tôn, Tường Vân và nhất là Linh Mụ, là những ngôi chùa đã ghi nhiều kỷ niệm trong lòng dân đất Thuận Hóa, Phú Xuân. Và trong tuổi ấu thơ của mỗi người Huế, ai không ghi dấu lại kỷ niệm của một=2 0ngày lên chùa?

Nhớ Huế làm sao khỏi nhớ đến những khu vườn. Vườn là khoảng không gian của thời thơ ấu của mỗi chúng ta, là bóng mát thời trẻ dại, là những nỗi hẹn hò, là những thứ trái cây ngọt ngào hay chua chát mà vẫn mang đầy hương vị của thời mới lớn. Những cây mít, những hàng ổi, những gốc thơm, những chùm khế. Nào nhãn lồng, nào vải trạng, nào là dâu. Có khi là bồ quân, có khi là lựu, có khi là đào. Tuổi ấu thơ và nhất là thời mới lớn, tuổi dậy thì, lòng ai không khỏi ngát hương hoa, trong một khu vườn tĩnh mịch nào đó, với nỗi lòng rung động thuở ban đầu còn trong suốt và đơn giản như những giọt sương mai.

Vườn của những vương phủ với giả sơn, hồ sen, thủy tạ, với những bức bình phong, tường ngăn trang trí bởi những mảnh sứ vỡ làm thành hình Long Lân Quy Phụng hay Mai Lan Cúc Trúc.

Những khu vườn đó đây ở Vĩ Dạ, ở Kim Long, ở Gia Hội, ở Ngự Viên, ở An Cựu là những khu vườn đã mang bao nhiêu lời thơ ý nhạc, mang bao nhiêu tình yêu thuở thiếu thời, là nơi của hẹn hò, mong đợi, thương nhớ

Có phải ngày xưa vườn Ngự Uyển
Là đây ho a cỏ giống vườn tiên
Gót sen nhẹ bước lầu Tôn Nữ
Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên
(Nguyễn Bính)

Vườn Huế ngày Hè còn rộn tiến ve, nhắc nhở tới mùa thi cũng là mùa chia cách. Giữa những buổi trưa yên lặng mùa Hè, một tiếng ve cất lên khởi đầu, rồi muôn ngàn tiếng ve vùng lên phụ họa, tạo nên một khúc hòa tấu, âm thanh lan ra từng vùng rộng lớn. Cùng với hoa phượng nở trên những con đường xứ HuA, tiếng ve đã mang mùa Hè đến bao nhiêu lần trong quãng đời học trò, ghi lại bao nhiêu mối tình, bao nhiêu sum họp và chia ly.

Nhà ở Huế thường làm sâu vào giữa vườn, từ cổng vào nhà có khi phải qua một hàng rào bông cẩn (dâm bụt) hay chè tàu, thỉnh thoảng rắc bởi những sợi dây tơ hồng màu vàng rực. Cậu học trò mới lớn, còn rụt rè, nhút nhát muốn làm quen với cô bé trong nhà làm sao có đủ cam đảm để vượt qua cái con ngỏ dài hun hút đó, hay những đêm trăng, đành thơ thẩn qua lại nơi ngỏ ấy mà ôm mối tình si. Hương trong vườn Huế, có khi là hương bưởi, có khi là hương dạ lý, có khi là hương sói, hương lài, hương mộc lan, cũng có khi là hương sầu 1ông thơm ngát một khung trời thời trẻ dại. Và đêm vườn Huế làm sao có thể thiếu trăng. Trăng lặng lẽ soi những bóng cây trong vườn, trăng lên trên đọt cau, trăng ướt trên ngọn dừa. Và trăng trên sông Hương, trăng trên màu sáng bạc của cầu Trường Tiền, trăng trên mái thuyền, trăng vỡ dưới mái cheo và ánh trăng rung động theo âm thanh của những tiếng hò đêm trên sông.

Huế với những dòng sông chảy ngang dọc tạo cho Huế một vẻ đẹp tươi mát dịu dàng. Huế có con sông Hương lượn lờ qua Lăng Gia Long, Minh Mạng, qua Ðiện Hòn Chén, qua Văn Thánh, Linh Mụ, Kim Long, về Vỹ Dạ, Cồn Hến, Tây Thượng trước khi tới Thuận An. Huế có con sông đào xinh xắn từ cầu ngói Thanh Toàn, qua An CBu về Bạch Hổ nắng đục mưa trong, với con sông từ Gia Hội, ngang qua chùa Diệu Ðế qua Ðông Ba tạo nên cái cảnh “Ðông Ba, Gia Hội hai cầu, ngó vô Diệu Ðế bốn lầu hai chuông,” với con sông đào từ cầu Bạch Hổ, qua Phú Xuân, tới An Hòa. Tất cả dòng sông đó đã ôm ấp Huế, chảy qua những khu nhà vườn, những bậc tam cấp của những khu vườn ven sông, mang những tiếng cười trong trẻo của ai ngày đó vang qua tới bờ sông bên kia. Với những dòng sông như thế, Huế có những con thuyền bềnh bồng trên bến nước, những ngọn đèn hiu hắt bên sông và cả những câu hò vang vọng, mang mang theo sóng nước đi rất xa, và cả với những mối tình chia cắt của ngày nào khi mà “thuyền về Ðại Lược, duyên ngược Kim Long.”

Nhưng cùng theo với những dòng sông đó, mỗi năm cơn bão lụt đã gieo tai họa thảm khốc xuống Huế. Nghèo đói, tai ương hầu như triền miên trên mảnh đất miền Trung cằn cỗi, nhưng Huế chính là tâm điểm của hiểm họa thiên tai. Có nơi nào chịu nhiều nỗi bất hạnh, thống khổ như Huế. Những xác người trôi ra biển cùng với những mái tranh nghèo theo những cơn nước lũ, cơn đói đổ ập lên cả một vùng đất cằn cỗi trong nhiều ngày tháng. Có nơi nào chịu những cảnh chết chất chồng dày xéo, có nơi nào chịu cảnh chết thảm khốc trong những mồ tập thể như Huế.

Huế như một người con gái tài hoa mà bất hạnh. Huế là “nơi đi để mà nhớ, không phải ở để mà thương.” Người xa Huế như xa một mối tình không trọn vẹn, nhưng xa rồi, thương nhớ xót xa biết bao nhiêu. Huế là nỗi ám ảnh không rời, Huế là nơi gợi cho chúng ta những giấc mơ xưa không bao giờ thành, là nơi chúng ta thường mong ngày trở lại nhưng không bao giờ đúng hẹn. Chúng ta khó tìm lại những gì của Huế trong thời thơ ấu của chúng ta, như không thể “tắm hai lần trong một dòng sông,” như không thể tìm lại mùi vị của một món ăn ngày trước, hương thơm dịu dàng của một đêm trăng sáng trong vườn xưa, và một mối tình xa xôi đã mờ nhạt.

Huy Phương

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image


Mùa Hè không trở lại

Huy Phương
Nam Cali mấy hôm nay nhiệt độ không cao lắm, trời chưa thấy nóng, nhưng buổi trưa trong không khí đã cảm giác có một thứ gì của Mùa Hè đang tới. Trên những con đường rợp bóng cây, hoa phượng tím đã bắt đầu nở rộ. Khi mới đến đây, chúng tôi không hề biết lai lịch loài hoa này nó từ đâu tới, tên là gì, nhưng đây là loài hoa báo hiệu Mùa Hè. Hoa tím nở, rồi rụng tím cả một khoảng đường. Hoa của Mùa Hè, nhân gian gọi tên là hoa phượng, ở quê nhà cũng như ở tiểu bang Hạ Uy Di ấm áp của Mỹ thì phượng đỏ, còn ở Cali thì phượng tím, mỗi phương trời mỗi sắc hoa. Làm sao trong lòng không có một chút xao xuyến nhớ lại những ngày tháng đã qua. Nhưng hình như Mùa Hè ở xứ này có màu sắc mà thiếu âm thanh, đó là tiếng ve làm xao động những buổi trưa hè của một thời thơ ấu.

Nhắc đến Mùa Hè là nói đến đời học sinh, tuổi hoa niên của những ngày cắp sách đến trường. Thời gian này kéo dài cho đến tuổi trưởng thành hay chỉ có được vài năm cho những người kém may mắn không có cơ hội đến trường. Thời học trò là thời trong trắng, ngây thơ nhất của một đời người, khi chưa hề có sự lo lắng của một người có gia đình, chưa hề biết ganh đua cho sự nghiệp, chưa có vinh nhục cho nợ cơm áo của cuộc đời.

Tác giả những bài hát Mùa Hè đã say sưa mô tả mùa này như là một Mùa Xuân: “Ðây suối trăng rừng thơ/Ðây gió nhung thuyền mơ/Ðây phím ngọc đường tơ/Ðây tứ nhạc ngàn xưa.” (Hùng Lân-Hè Về), hay: “Về đây ta lắng nghe muôn cung đàn/Ðường tơ tha thiết vương hương nồng nàn/Về đây nghe bao câu hát du dương mơ màng/Và về đây tắm ánh trăng huy hoàng.” (Canh Thân-Khúc Ca Mùa Hè). Cả thi sĩ Xuân Tâm (tiền chiến) cũng viết rằng: “Ôi tất cả Mùa Xuân trong mùa hạ.”

Nhưng Mùa Hè đã không có những niềm vui như thế!

Ðó là chưa nói đến thời gian có những Mùa Hè nghe tiếng con chim quốc gọi hè trên núi rừng Việt Bắc.

Không được như bạn bè, những năm tháng đầu tiên khi phải nghỉ học, tôi mang một nỗi buồn pha lẫn tiếc nuối và thường có những giấc mơ thấy mình vẫn còn đang ôm cặp sách hay ngồi trên băng ghế cũ trong lớp học ngày nào. Những ngày trở lại quê hương, nhất là vào Mùa Hè, đi qua lại ngôi trường cũ, “dẫy thềm hoa rụng”, cửa đóng then cài, sân trường vắng lặng, chỉ có ngọn gió hè cuốn tròn những chiếc lá và tiếng chim hót đâu đây trong bóng mát của chòm cây, tôi mang tâm trạng một người đã đánh mất tuổi thơ.

Rồi từ ngày ấy, “cuốn theo chiều gió”, không bao giờ tôi có dịp trở lại nhà trường, dù là được ngồi trong giảng đường trong những ngày tóc đã sương pha.

Tôi không được làm như “ông quan to nước Pháp” Carnot trở lại thăm trường cũ, trông thấy ông thầy dạy mình lúc còn bé, bây giờ đầu đã bạc phơ, để chạy ngay lại trước mặt thầy giáo mà lễ phép thưa rằng: “Tôi là Carnot đây, thầy còn nhớ tôi không?”

Tôi không được là đứa học trò xuất sắc hay đứa trẻ nghịch ngợm để thầy còn nhớ đến tôi. Tôi cũng không có chút danh vọng gì để thầy biết đến tôi hay đứng trước đám hậu sinh mà cao giọng nói rằng: “Các em hãy noi gương tôi, nhờ chăm chỉ nghe lời thầy dạy dỗ mà tôi có được ngày hôm nay!”

Tôi chỉ là một con người tầm thường, không có gì để đem lại sự hãnh diện cho thầy cũ, trường xưa. Nhiều khi giữa đám đông trong một đám hội hè ái hữu, người ta xướng danh, gọi nhau bằng những chức tước mà quên đi những thằng bạn cũ tầm thường, không danh phận, lạc lõng giữa đám đông.

Nếu thời tuổi trẻ có điều ân hận thì điều đó là không được đến trường thông suốt. Gia cảnh, hôn nhân hay chiến tranh đã tách rời những cô cậu học trò ra khỏi ghế nhà trường quá sớm. Có những người bạn phải nghỉ học nửa chừng để ở nhà lo chuyện ruộng đồng giúp cha mẹ vì neo người, không có tiền thuê mướn người làm. Có những “giai nhân” chưa qua hết trung học đã có người đem xe hoa đến “rước nàng về dinh.” Rồi chiến tranh đã xô đẩy bao nhiêu chàng trai phải “xếp bút nghiên” vào chiến trận giữa tuổi thanh xuân. Tôi biết tìm lại Mùa Hè ở nơi đâu! “Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng/Em chở Mùa Hè của tôi đi đâu?”( Ðỗ Trung Quân)

Tôi không rõ ngày nay tại các trường trung học ở Mỹ người ta có những bảng tưởng niệm những chàng trai trẻ nguyên học sinh của nhà trường đã hy sinh trong các trận chiến tại Việt Nam, Iraq, hay tại Afghanistan không, chứ từ đầu thế kỷ 20, nhiều trường trung học như Papanui School ở New Zealand hay Belfast School ở tiểu bang Maine của Hiệp Chủng Quốc đã có những đài tưởng niệm ghi danh những cựu học sinh của trường đã chết trong trận Thế Chiến Thứ I.

Trong một hai thập niên vừa qua, tại Việt Nam, cả thầy và trò đều bị cuốn hút trong chiến tranh. Chúng tôi gặp nhau ở quân trường, đơn vị, chiến trường, cùng chung vinh nhục và cuối cùng số phận đưa đẩy, lại gặp nhau trong nhà tù tập trung sau chiến tranh. Ngày nay chúng tôi lại gặp nhau trên đất khách, thầy và trò, đầu đều bạc tóc, ngậm ngùi nhớ lại những kỷ niệm nửa thế kỷ đã trôi qua. Phải chăng sự hoài niệm chỉ dành cho những người luống tuổi, không ai ở tuổi trung niên lại thích nhớ về dĩ vãng, khi đường đời chưa mỏi mệt đôi chân và tâm hồn. Mọi điều quá ngắn ngủi trên thế gian này làm cho người già thường quay lại nhìn đoạn đường đã đi qua.

Tôi không còn nhớ Mùa Hè nào đã để lại nhiều ấn tượng trong tôi. Mùa Hè cuối cùng bỏ trường, Mùa Hè của bom đạn, Mùa Hè của người tù biệt xứ hay là Mùa Hè bỏ nước ra đi. Bây giờ Mùa Hè hình như đang ở đâu đây, ở nơi này hoặc nơi kia, không gian đã thay đổi, thời gian quá xa xôi, không còn những chiếc xe đạp, không còn em, “ôm nghiêng tập vở, tóc dài tà áo vờn bay”, nhưng trưa nay trong nắng oi nồng, tôi nghe trong tâm tưởng như có tiếng trống trường dội lại từ một thời rất xa.

“Như mơ đường khói lên trời nắng, trường học làng kia tiếng trống vào.” (Bàng Bá Lân)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Chuyện Một Vị Sư Ở Chùa Hương
Người ta truyền tụng rằng tại Nam Thiên Đệ Nhất Động có một vị sư tu hành đắc đạo. Có lúc sư ngồi thiền cả tháng, không ăn không uống, không lay động để thể hiện trí tuệ dũng mãnh của của Phật.

Có lúc ngài tụng Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Viên Giác… tiếng như sư tử hống, vang vọng cả sơn lâm để thể thế gian có thể nghe rõ lời kinh, để thể hiện lòng từ bi của Phật. Có lúc đi đứng, nằm ngồi giữ nghiêm giới luật, từng động tác, từng cử chỉ đều giữ gìn chánh niệm để thể hiện tính trang nghiêm của chư Phật. Có lúc ngài thị hiện thành người chèo đò đưa khách thập phương hành hương, thỉnh thoảng nói vui một vài câu Phật pháp làm tỉnh ngộ lòng người. Có lúc ngài biến hóa thành một cậu bé luẩn quẩn ở bến đò, nhưng nói ra câu nào cũng khiến các cụ tấm tắc khen thầm tại sao có người uyên thâm Phật pháp đến như vậy. Phải chăng đây là Thiện Tài Đồng Tử tái sinh? Có lúc ngài thị hiện thành một cô gái xinh đẹp bán đồ kỷ niệm ở Bến Đục. Người vừa đẹp vừa trang nghiêm, tính tình lại lễ độ, hòa nhã, vui vẻ. Khách hàng nào có trả giá cô cũng chẳng kèo nài. Thảng hoặc nếu có ai không đủ tiền cô cũng vui vẻ bán để “ tạo phúc duyên”. Những ai không có tiền mà ham thích đồ kỷ niệm như tượng Phật, chuỗi Bồ Đề cô cũng biếu không và mỉm cười nói “Khi nào có tiền ông/bà trả tôi cũng được” khiến các cụ cứ tấm tắc khen thầm phải chăng đây là Tiểu Long Nữ hóa hiện? Có lúc ngài thị hiện thành một gã chuyên giết thú rừng để làm đồ nhậu, món ăn chơi khóai khẩu, bày bán ngay trước bến đò để giáo hóa những kẻ đang hành nghề sát sinh, tàn phá núi rừng cây cỏ và làm ô uế cửa Thiền.

Một ngày kia khi sư đang tọa thiền thì một người nhảy vào, túm lấy vai sư nói:

- Thầy xem tôi có xấu không? Tôi rất khổ vì người đời nói tôi xấu!

Đây là một ông chân tay vặn vọ, khẳng khiu, da nhăn nheo, tóc thô, mắt to mắt nhỏ, tai nhọn như tai dơi, răng khấp khểnh chìa ra ngòai, môi thâm và trề ra như cái lưỡi thứ hai trông giống như Quỷ Dạ Xoa. Nghe hỏi vậy sư hiền từ đáp:

- Có những người xấu gấp ngàn vạn lần ông. Ông chẳng có chi gọi là xấu cả.

Nghe nói thế ông xấu kia vặn hỏi:

- Thầy thử nói xem những người kia xấu như thế nào?

Sư chậm rãi đáp:

- Những kẻ có tiền của nhưng không phụng dưỡng cha mẹ. Những kẻ tham tài phụ ngãi. Những kẻ giàu nứt đố đổ vách nhưng không hề bỏ một xu cứu giúp người nghèo khó. Những kẻ khích bác người đạo hạnh, khinh chê Tam Bảo, đố kỵ với người xả thân cứu đời, vô tài nhưng lại có máu ghen tị. Những kẻ hay đâm thọc, ngồi lê đôi mách, thêu dệt, bịa đặt tin để gây chia rẽ. Những kẻ chuyên loan truyền tin xấu, chê bai dè bỉu thành qủa của người khác. Những kẻ ăn chơi đàng điếm, trụy lạc làm băng họai xã hội, buôn bán, chuyển vận xì ke ma túy làm tiêu ma thế hệ trẻ. Những kẻ lười biếng ăn bám xã hội, sống trên mồ hôi nuớc mắt của kẻ khác…tất cả những người này mới xấu…chứ ông có gì gọi là xấu đâu?

Nghe nói vậy ông xấu đó lạy tạ sư rồi lui ra. Khi bóng ông vừa khuất thì một người khác hung hăng bước vào. Ông này ai nhìn thấy đều khiếp vía. Ông ta cao lớn dềnh dàng, mặt sơn trắng sơn đen vằn vện như những tay đấu vật ở Hoa Kỳ. Tóc ông ta dựng đứng và tua tủa như những chiếc đinh nhọn. Hai tai ông ta đeo lủng lẳng hai chiếc còng sắt số tám. Lỗ mũi ông ta móc một chiếc nanh heo rừng. Mắt ông ta đeo một miếng da màu đen giống như những tên cướp biển chột mắt. Cổ ông ta xâm trổ thành hình con cú. Hai vai ông ta quàng chéo hai vòng đạn đại liên như những tay cướp hung bạo ở vùng biên giới Hoa Kỳ- Mễ Tây Cơ trong những phim Cao Bồi. Ông ta cửi trần, ngực xâm trổ thành những con thủy quái gớm ghiếc. Hai cánh tay ông ta xâm hình hai con rắn hổ mang mà hai bàn tay là hai cái miệng của con rắn, cho nên khi ông ta đưa tay ra, giống như hai con rắn muốn mổ người ta. Ông ta không mặc quần mà quấn một chiếc khố bằng da beo. Hai bên đùi xâm hình hai cô gái lõa thể trông giống như yêu tinh, thần nữ. Tay trái ông ta cầm một chiếc móc sắt, tay phải cầm một quả lựu đạn đã mở chốt sẵn. Ông ta đi giày bốt cao cổ của Mễ Tây Cơ với hai mũi giày có gắn hai chiếc đinh ba, đá ai một cái là lòi ruột. Giọng ông ta khàn khàn giống như giọng của Ngưu Ma Vương khiến đàn bà có thai gặp ông sẩy thai, con nít gặp ông ngã ra bất tỉnh. Ông ta bước tới trước mặt sư, chìa cái móc sắt và quả lựu đạn ra, hỏi:

- Thầy có thấy tôi đáng sợ không?

Nghe ông hỏi vậy, sư điềm nhiên đáp:

- Ổng chẳng có chi đáng sợ cả. Có ngàn vạn người khác còn đáng sợ hơn ông.

Ông ta ngạc nhiên, vặn hỏi:

- Những người đó có gì mà đáng sợ hơn tôi? Thầy nói thử xem.

Sư đáp:

- Những kẻ mặt mũi đẹp đẽ, ăn mặc sang trọng, nói năng ngọt ngào nhưng trong lòng chứa đầy âm mưu thủ đọan luờng gạt hại người, kẻ đó mới đáng sợ. Những kẻ hành tà đạo, tôn thờ thần linh, ma quỷ nhưng nói ra tòan chuyện đạo đức giả hình, biến người nghe thành những con cừu non khờ dại, những âm binh để sai khiến kẻ đó mới đáng sợ. Những kẻ quản trị những công ty lớn, miệng nói trung thành, tín nhiệm nhưng gian tham, lường gạt khách hàng khiến cả trăm ngàn người tán gia bại sản, kẻ đó mới đáng sợ. Những kẻ âm mưu thống trị nhân lọai nhưng nói ra tòan chuyện đạo đức, nhân nghĩa để lừa mị, kẻ đó mới đáng sợ. Những kẻ đứng sau lưng những thế lực đen tối, buôn bán nô lệ, đàn bà, trẻ em, đứng đầu những tổ chức trùm ma túy, kết thành bè đảng Mafia, không chuyện hung ác nào mà không dám làm, những kẻ đó mới đáng sợ. Những kẻ dùng ngòi bút, diễn đàn như gươm súng để đàn áp người cô thế, đầu độc dư luận, bóp méo sự thật, phỉ báng, vu oan giá họa người lương thiện như thế mới đáng sợ. Còn như ông thì chẳng có gì đáng sợ cả.

Nghe nói thế ông đáng sợ nọ chán nản lui ra. Khi ông vừa bước xuống thềm đá thì một cô gái bước vào, tới trước mặt sư, kiêu hãnh hỏi:

- Tôi là Hoa Hậu Hoàn Vũ. Thầy có thấy tôi đẹp không?

Sư nhẹ nhàng đáp:

- Cô chẳng có chi đẹp cả. Có cả ngàn vạn người còn đẹp hơn cô rất nhiều.

Nghe nói thế cô gái mở tròn đôi mắt, bực bội nói:

- Hoa hậu hoàn vũ là người đẹp nhất trong những người đẹp của thế giới. Thầy nói thử xem những người đẹp hơn tôi như thế nào?

Sư đáp:

- Giữ gìn trang nghiêm giới hạnh là thân đẹp. Ăn ở hiền hòa, thủy chung là nết đẹp. Thấy người ta ngã mà nâng lên, đó là cử chỉ đẹp. Thấy người ta đói cho ăn, rách cho mặc, nghèo túng mà giúp đỡ, đó là tấm lòng đẹp. Phụng dưỡng cha mẹ già, chu cấp người cô quả cô độc, tôn quý các bậc hiền thánh, cúng dường chư tăng ni đó là tâm hồn đẹp. Thấy người ta lâm nguy, sợ hãi mà nói lời an ủi giúp đỡ, đó là ngôn ngữ đẹp. Không một tà niệm nảy sinh, đó là ý đẹp. Thấy người ta u tối, không hiểu biết mà khai mở trí tuệ, cho học hành chữ nghĩa, đó là trí tuệ đẹp. Phá vỡ màn vô minh, hướng dẫn chúng sinh vào con đường an vui, giải thóat, đó là cái đẹp tối thắng mà Trời Đế Thích phải trải hoa tán thán. Tất cả những cái đẹp này cần phải được phát bằng tuyên dương, ghi vào sử sách, lập bia ghi công, dựng tượng để chiêm ngưỡng. Còn cái đẹp của cô là cái đẹp của sự ham muốn, chiếm đọat, xoay vần trong vòng sinh tử luân hồi, ngầm chứa khổ đau, sớm nở tối tàn không có chi đáng tán dương cả.

Khi sư nói hết lời, cô Hoa Hậu Hòan Vũ rầu rĩ lui ra. Nghe nói sau cuộc gặp gỡ này, sư chống gậy trúc, cứ theo đường lên trời ở trong Động Hương Tích mà đi rồi biến mất, người đời mong muốn gặp lại sư cũng chẳng được.

Người kể lại: Đào Văn Bình

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Chú tàu hỏa “tâm sự” Tôi là tàu hỏa, tàu hỏa Việt Nam. "Cụ tổ" tôi sinh ra ở mãi tận nước Anh cách đây dễ đã đến hai trăm năm. Nghe nói, khi mới chào đời, cụ vất vả lắm. Người ta làm om lên, bởi cụ tôi lúc mới sinh, trông đã vạm vỡ, vẻ ngỗ ngược. Khói nhả lên trời lại đen kịt, thử hỏi làm sao những người vốn quen đời sống thanh bình, cảnh sắc thơ mộng có thể chấp nhận nổi?

Hơn thế, không biết có phải vì ngày đông tháng giá (nước Anh vốn nhiều mưa tuyết), vẫn cứ phải mình trần trùng trục, gồng hết sức ra mà lao động, nên dòng giống nhà tôi đều mắc căn bệnh hen suyễn cả. Có lẽ gọi là "lao lực" thì đúng hơn. Đây như chính bản thân tôi, khi nghỉ thì chẳng nói làm chi, chứ khi chạy thì...

Các bạn thử tưởng tượng xem, họ xúc bón từng miếng than vào mồm tôi như tôi là một đứa trẻ. Họ nung đầu tôi nóng tưởng phát điên. Tôi cố nghiến răng chịu đựng, đôi khi răng xiết vào nhau kêu ken két, hơi nước thoát ra qua kẽ răng phập phì. Khi tôi dừng lại nghỉ, có lẽ các bạn thấy rõ, tôi mệt chừng nào. Tôi hổn hển, phì phò, rồi rống lên mà các bạn quen gọi là "huýt còi".

Dĩ nhiên, đôi khi tôi cũng tự bằng lòng với mình là mặc dù họ nhà tôi đã thuộc vào loại "đời cổ", nhưng ở Việt Nam này, xem ra người ta vẫn còn rất cần đến chúng tôi (cho nên, khi mới phong thanh dự án thay thế tôi bằng một người anh em "cùng cha khác mẹ" khỏe khoắn, "đẹp trai" hơn, nghe nói cũng nhiều người phản đối lắm đấy; họ sợ không "nuôi" nổi nó, vì nó "phàm ăn tục uống").

Cũng có người hỏi tôi: Cậu đi mãi trên một "vạch" cố định thế (ý họ nói đường ray) không chán à? Ồ, suy cho cùng rồi thì quen đi tất, như người ta lấy vợ ấy mà. Ví dụ như bởi cái "bà ray" này bà ấy "sít sịt" như thế nên tôi mới đi đến nơi về đến chốn được. Thì đấy, khi những ngón tay của bà ấy không nắm chắc lấy tôi (thử mất một ít thanh tà vẹt xem) người tôi không lảo đảo loạng choạng ư?

Tất nhiên, như tôi đã nói, nghề của họ nhà tôi vất vả lắm, ai nấy đều phải rất siêng năng. Thì gương cũ còn kia: Tôi có đứa em cùng cha khác mẹ là tàu điện. Nó tuy ăn uống sung sướng hơn tôi, làm lụng không vất vả bằng, chỉ loanh quanh chạy nhong nhong phố phường, nhưng rồi người ta thấy nuôi mãi nó thế cũng bất tiện (vả lại nó cũng không được khỏe) nên đã chuyển nó vào phục vụ trẻ em trong công viên.

Có lẽ việc này phù hợp với "cu cậu" hơn. Hôm vừa rồi chạy qua đường chính nối 2 khu vực Thành phố Sài Gòn, thoáng nhìn thấy cu cậu từ xa, tôi đã phải hét lên "sướng nhé". Ngoài chú em tàu điện ra, tôi không biết hết những ai là anh em trong họ mạc, nhưng tôi tin đám xe cộ kia có đứa cùng chung một "cụ tổ" với tôi. Kể ra, cái sướng của chúng là có thể chạy nay đây mai đó. Có đứa trông dáng vẻ thì to lớn mà lại rất nhàn tản.

Tuy vậy, mỗi lần gặp tôi ở chỗ đường chắn, tôi thấy chúng đều ngoan ngoãn biết điều dừng lại cả. Có đứa lên tiếng còi chào. Có đứa mắt nhấp nháy vẻ thân thiện lắm. Những lúc như thế - xin thưa cùng các bạn - tôi thấy thật khoan khoái và hạnh phúc

Nguyễn Duy Lý

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Giọt Nước Mắt Đơn Phương
Hoàiniệmchốnxưa



Hỡi ơi Ðà Lạt sau bao năm xa cách
Sao xấu đui như cục đất chui
Hai mươi năm sao Ðà Lạt vẫn đen thui
Sao Ðà Lạt vẫn lủi nhủi như một gã lủi thủi
Lê Thị Huệ, 1995.


- Đọc 4 câu thơ của Huệ sao mà chua chát cho bộ mặt Đà Lạt 20 năm sau quá đổi...

- Nhưng còn lòng người Đà Lạt thì sao hở Huệ? Tôi cũng muốn họa lại 4 câu thơ gọi là đáp tạ, Huệ đã cho tôi và các bạn có cái nhìn rõ về Đà Lạt 20 năm sau... nhưng tôi không thể, bài viết của Huệ làm tôi buồn, một nỗi buồn của 23 năm sau, cũng tại Đà lạt khơi dậy làm tôi quặn thắt nên thôi...

Cám ơn Huệ rất nhiều, cũng nhân cơ hội này, tôi xin gói ghém tất lòng một nỗi buồn man mác cho sự trở về 23 năm sau...

Tôi xin đi thẳng vào vấn đề tôi muốn nói. Cũng không phải là nhà văn, không phải là nhà thơ, nên không thể trời trăng mây nước đầy đủ cho cuộc hành trình này.

Tôi về lúc đó là năm 1998, không phải lén về như cô Huệ, nhưng cũng không dám về một mình. Tôi tháp tùng một cuộc du lịch của học sinh gọi là đi tour các nước Đông Nam Á. Đà Lạt là một trong những điểm đến và đi, nhưng Đà Lạt để lại cho tôi dấu ấn sâu sắc về lòng người và tình người...

Đà Lạt phải nói trước mắt tôi hoàn toàn xa lạ, xa lạ từ cảnh vật đổi thay đến tan tác... Xa lạ từ gương mặt ngơ ngác... thất thểu... Xa lạ từ lòng người khi đối diện, họ vồn vã trong cách xã giao, mời mọc, tôi không nhận ra một chút nào về chất thật ở họ, chất thật một người Đà Lạt trước năm 1975. Tôi không thầm trách cho nhân tình thế thái, vì tôi phải biết họ phải vật vã, khốn đốn, họ buộc phải đổi thay có thể nói là MỘT MẶT HAI LÒNG, để sống còn, để tồn tại một thân xác, mà tâm hồn cao đẹp đã chết kể từ khi cuộc diện gọi là đổi đời, chôn kín như mất đi những gì cao quý mà họ đã từng ắp yêu cũng chỉ vì chén cơm manh áo.


Ngỡ ngàng khi đối diện

Lang thang một mình trên mảnh đất thân yêu, tôi cảm nhận mình thực sự cô đơn và lạc lõng, lạc lõng như ngày đầu sang xứ người, chung quanh mình không biết ai là ai. Chỉ còn một hy vọng cuối cùng, tôi cần tìm ra những gì tôi muốn tìm, đó là những người bạn, những người anh, những người em chưa từng biết mặt, nhưng cùng chuyến tuyến với tôi khi xưa. Cùng một tâm trạng nhưng hai hoàn cảnh, hoàn cảnh người ra đi, hoàn cảnh người ở lại, tôi tin là tâm trạng không khác gì nhau, có khác chăng là những người ở lại phải gánh chịu vì thể xác bị dập vùi...

Như đã nói phần trên, một mặt mà hai lòng, xin các bạn chứng cho điều tôi sắp kể:

- Tôi vào một quán ăn, sau khi gọi phần ăn, tôi tiếp một lượt ba vị khách không mời mà đến, đó là ba anh bán vé số, thoạt nhìn, bị thương tật, nhưng rất vồn vã qua sự mời mọc. Thú thật các bạn, tâm trạng tôi bây giờ, dù biết những thương phế binh bao gồm cả hai bên, dù tôi nhận ra họ là ai? là phế binh VNCH thật hay giả, tôi không để tâm dù tôi biết họ giả nhưng tôi vẫn mua vé số, trả tiền mà không cần thối lại. Một điều, là một mặt hai lòng của họ, tôi khó mà tìm và tiếp cận người thực sự là bạn của tôi.

Một buổi sáng, tôi thả bộ lên dốc Hòa Bình, phía đối diện từ xa, lại cũng một anh bán vé số đang khó nhọc gượng gạo trên chiếc nạn gỗ thay cho chân phải, xoáy từng bước khó nhọc, đổ con dốc ngắn loang lổ vì xoáy mòn theo năm tháng, nhưng lần này, trông dáng anh tiều tụy, không như ba anh mà tôi đã gặp qua. Anh mặc chiếc áo trắng, chiếc quần nhà binh nhạt màu, đặc biệt là chiếc nón lưởi trai quân đội khi xưa đã nhàu nát, linh cảm cho tôi biết đây là người tôi muốn tìm, anh vừa điều khiển đôi chân, vừa chìa xấp vé số cho tôi, môi mấp máy không ra lời như mời gọi một ân huệ từ tôi.

- Anh vào đây tôi mua cho anh.

- Cám ơn.

Anh trao xấp vé số cho tôi, tôi cầm trên tay như lựa con số; nhưng không, tôi đang suy nghĩ phải mở lời với anh thế nào, để phút đầu tiên không gây ngỡ ngàng cho anh và cho tôi.

- Anh bán vé số bao lâu? có phải vì cuộc chiến mà anh thương tật thế này không ?

- Sau 75, tôi bị đuổi khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa, được biết gia đình bị nạn chìm ghe khi di tản, tôi lây lất đầu đường xó chợ, chân bị nhiễm độc (tử hoại ) phải cắt bỏ thêm một khúc nữa, là tự tôi cắt bỏ vì không tiền đi viện. Cuối cùng, tháng 9 năm 1975, tôi trở lại Đà Lạt một thân một mình, vì nghĩ mà thương cho ống chân phải của tôi đã và đang nằm lại nơi đây, tôi không muốn rời xa dù biết rằng nó vĩnh viễn xa tôi. Người chết là mất đi, tôi mai mắn dù sống trong âm thầm lặng lẽ, nhưng tôi không muốn mất đi những gì thuộc về ký ức, thuộc về bản thân tôi. Tôi biết ngoài tôi ra không ai thương tôi hơn tôi thương cho chính bản thân tôi, giữa một xã hội hiện hữu vẫn là người Việt Nam, nhưng tôi đã bị khai tử lâu rồi anh à!

- Anh nói đến đâu, nước mắt tôi rơi một cách tự do đến đó, giọt nước mắt nhạt nhòa lẩn lộn niềm thương cảm cho đồng đội tôi và cho cả chính tôi. Anh đâu có biết những người còn lành lặn ra đi, cũng mang một khối sầu ly hương, cũng nhớ nhung đồng đội, cũng tiếc rẽ cho thân mình. Ngày hôm nay trở về đây, tôi cũng nhận rõ ra là tôi cũng bị khai tử nào có khác chi anh. Phải, hôm nay tôi phải khóc, khóc trước sự chứng kiến của một người bạn, không phải khóc thương hại cho nhau mà là khóc cho niềm thương cảm, khóc cho tình người tan tác muôn nơi...khóc cho nỗi bất hạnh cả hai...

Qua giây phút cả hai yên lặng như để nhận ra sự gần gũi về nhau, tôi ngước mặt nhìn anh sau một cái quẹt nước mắt vụn về, kỳ thật là lúc anh kể chuyện, tôi nghe rõ tiếng nất nghẹn của anh từng chập, ấy vậy mà mặt anh ráo khô, không một giọt nước mắt rơi, cũng không đỏ mắt. Thấy như hiểu ra ngạc nhiên của tôi, anh ấy sởi lởi:

- Tôi đang khóc đó chứ anh, giọt nước mắt khô cạn từ lâu lấy đâu ra cho anh thấy bây giờ, giọt nước mắt của anh cũng là của tôi đó mà...

- Câu chuyện mỗi lúc có mòi thân tình hơn, tôi bắt đầu hỏi thêm về anh:

- Anh bị thương từ khi nào? Ở đâu? Đơn vị nào vậy anh?

- Thưa anh, tôi nguyên trung đội trưởng thuộc đại đội trinh sát Biệt động quân, có nhiệm vụ án ngữ và tảo thanh VC tại đồi 2 vú Lâm Đồng, tôi bị đạp phải mìn trong lúc xáp lá cà với địch vào tháng 12 năm 1974.

- Anh còn người thân không ?

- Tôi quê ở Vũng Tàu, lúc đó tôi còn trẻ chưa có vợ, cha mẹ và anh chị ra ghe xuôi theo làn sóng tị nạn, bị chìm và tất cả đều chết. Còn người thân quen ư? Còn, như không, có ai còn quan tâm cho ai đâu anh; vả lại có còn biết đâu là quê hương cưu mang và chứa chấp mình...

- Anh bán vé số có đủ sống không anh?

- Dạ, cũng tạm. có khi mưa phùn cả ngày không bán được, cũng như anh thấy đó! diện như tôi thì đâu có tư cách để vào nơi sang trọng để bán, những nơi đó ưu tiên cho các anh phế binh bên kia.

Những lúc ế như vậy thì cũng đành chấp nhận chịu lạnh vì nhịn đói, nhưng rồi cũng qua, vì mỗi lần như vậy là tôi nghĩ đến chân phải của tôi còn lạnh gấp bao lần, có khi giờ này và mãi mãi ngâm mình nơi dòng suối nào đó là tôi tự khắc thấy ấm lại.

- Thì ra, ba anh khi chiều hôm qua tôi gặp chính là thương phế binh bên kia, thảo nào có vẻ yêu đời và mập mạp...Tôi lấy chiếc áo trong túi xách choàng vào vai anh:

- Thấy anh đang lạnh, anh mặc vào cho ấm mình tiếp tục. Tặng cho anh làm kỷ niệm, vì biết bao giờ tôi mới gặp lại anh.

- Cám ơn ( cười ).

Câu chuyện sắp hồi kết thúc, vì đám học trò tề tựu, tôi đặt vấn đề với anh:

- Có lẽ mình chia tay anh à! Vé số này tôi mua hết cho anh. Tôi biết nói ra điều này có khi không phải, không có gì có thể lấp đầy mất mác trong tâm hồn cả 2 chúng ta. Đây là một món tiền nhỏ tôi kèm theo, mong anh không nghĩ ngợi và nhận cho tôi vui lòng.

- Rất cảm kích tấm lòng của anh, của một đồng đội mà ngày hôm nay anh đã cho tôi một hạnh phúc quá đầy đủ mà tôi hằn khao khát. Còn món tiền xin gửi lại anh, xin hãy cho tôi được giử trọn vẹn hình ảnh đẹp ngày hôm nay, hình ảnh gặp lại đồng đội của tôi, nếu anh có bịch gạo sấy cho tôi bây giờ tôi sẽ nhận ngay...

- Nói đến đây, anh ôm hôn tôi, nước mắt ràn rụa ướt cả mặt tôi và anh vội quay đi, tôi chạy với theo vừa móc ra xấp vé số, lúc này anh không nói không rằng, tôi cũng nhanh tay vúi vào túi anh toàn bộ vé số, và cũng chỉ nói đứt quãng một câu: Tặng cho anh, chúc anh trở thành triệu phú... Cả hai chúng tôi như đang trốn chạy ngược chiều nhau...

Hoàiniệmchốnxưa

Post Reply