Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Bắc Kinh coi giải Nobel là 'tấn công Trung Quốc'

Image
Phát ngôn viên ngoại giao Trung Quốc Mã Triều Húc. Ảnh: AP.
Chính phủ Trung Quốc tiếp tục phê phán Nobel Hòa bình năm nay, sau khi giải thưởng này được tuyên bố trao cho Lưu Hiểu Ba, một người đang thụ án tù.

"Một số chính trị gia nước ngoài đang tìm cách dùng cơ hội này để tấn công Trung Quốc", NYT dẫn lời Mã Triều Húc, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, tuyên bố trong cuộc họp thường kỳ hôm thứ ba. Ông nói thêm rằng giải Nobel Hòa bình "cho thấy sự thiếu tôn trọng đối với hệ thống pháp luật Trung Quốc", bởi người được nhận giải là một tội phạm đã bị truy tố.

Ông Mã đồng thời chỉ trích ủy ban Nobel của Na Uy, tuy nhiên không nói rõ liệu vợ của Lưu là Lưu Hà có được phép đi Oslo nhận giải thưởng hay không.

Bà Lưu mới đây được phép đi thăm chồng ở tỉnh Liêu Ninh để báo tin về giải thưởng. Lưu Hiểu Ba, 54 tuổi, đang thụ án 11 năm tù vì tội "kích động lật đổ chính phủ".

Trong tuyên bố của mình, Ủy ban Nobel Na Uy nói họ quyết định trao giải cho Lưu "vì cuộc đấu tranh lâu dài bất bạo động đòi nhân quyền ở Trung Quốc".

Lần thứ hai trong vòng một tuần, Trung Quốc hủy cuộc gặp với một quan chức cấp cao Na Uy, thông tin trên báo chí Na Uy cho biết. Bộ trưởng Ngư nghiệp Na Uy Lisbeth Berg-Hansen đáng lẽ có cuộc gặp thứ trưởng phụ trách an toàn thực phẩm của Trung Quốc tại Bắc Kinh hôm nay.

Trước đó, ngay khi tin về giải Nobel hòa bình được công bố, Bắc Kinh đã triệu đại sứ Na Uy tới để phản đối. Trung Quốc nói rằng việc trao giải cho Lưu Hiểu Ba sẽ khiến quan hệ giữa hai nước xấu đi.

Thanh Mai

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

"Trồng người" kiểu Việt gian cộng sản

Thót tim khi nhìn cảnh phụ huynh lội sông đưa trẻ đến trường
(Dân trí) - Không có cầu, hàng ngày người dân và trẻ em thôn Phú Mưa (xã Jơ Ngây, huyện miền núi Đông Giang, Quảng Nam) muốn sang phía bên kia đường quốc lộ ĐT604 phải bơi qua con sông R’lang đang chảy xiết trong mùa nước lũ.

Sau một trận mưa lớn vào chiều tối ngày 6/10, con sông R’lang đục ngầu chảy xiết. Mặc dầu vậy, người thân và các em học sinh thôn Phú Mưa vẫn đều đặn đến lớp học tập. Trên khúc sông, hàng chục em học sinh đứng đợi người thân đến đón sau buổi học sáng ngày 7/10.
Có mặt tại đoạn sông đi qua thôn Phú Mưa, chúng tôi chứng kiến cảnh người thân nơi đây đưa các em học sinh đến trường đi học. Anh Alăng Ting cho biết: “Nhiều năm ni rồi, do không có cầu nên người dân chúng tôi muốn làm chi cũng phải bơi sông lớn. Nhiều lần cũng suýt mất mạng nhưng cũng phải liều mình chứ biết làm răng?”.

Theo ghi nhận chúng tôi, đoạn sông đi qua thôn Phú Mưa khá rộng và sâu nên các em học sinh không thể tự mình bơi qua được. Mỗi lần đi học các em phải nhờ người thân đến cõng hoặc dìu qua sông lớn.
Image
Muốn qua được sông để đến lớp, các em học sinh
phải nhờ người lớn đưa qua.
Một số người dân cho biết, hầu hết các em học sinh là người dân tộc Cơtu, đang theo học tại các trường tiểu học Jơ Ngây và THCS Bán Trú Lê Văn Tám (xã Jơ Ngây, huyện Đông Giang). Bất kể trời nắng hay mưa, các em cũng đều đặn đến trường học tập rất chăm chỉ.

Em Alăng Thị Tâm, học sinh lớp 6/3, Trường THCS Bán Trú Lê Văn Tám cho biết: “Ngày mô chúng em cũng đều bơi qua sông rồi cuốc bộ gần 5 km đến trường học. Nhiều khi nản nhưng nghĩ cuộc sống của gia đình còn khó khăn nên chúng em tiếp tục đến trường học tập”.

Anh Bh’nướch Pát, một người dân thôn Phú Mưa cho biết: “Năm mô cũng rứa, hễ trời có mưa là người dân thôn ni không thể ra ngoài kia mua hàng hóa được. Sáng mô tụi tui cũng đều lội sông đưa các em học sinh đến lớp”. Theo anh Pát, tình trạng thôn Phú Mưa bị cô lập mỗi khi đến mùa mưa lũ đã có thời hàng chục năm nay, người dân cũng đã nhiều lần kiến nghị lên cấp chính quyền nhưng đến nay vẫn chưa thấy ai nhắc đến.

Bí thư Chi bộ thôn Phú Mưa, ông Alăng Bảy, cho biết: “Mùa mưa, nhiều phụ huynh không thể đi rẫy làm nên phân nhau túc trực cạnh bời sông để đưa các cháu đi học. Không có cầu, người dân và các em học sinh Phú Mưa thôn đều phải bất chấp tính mạng của mình mỗi lần có việc phải qua lại”.

Chứng kiến cảnh người dân cõng các em qua sông có đoạn sâu tới ngang cổ mà thấy chạnh lòng...
Dưới đây là một số hình ảnh người dân thôn Phú Mưa cõng các em học sinh qua sông R’lang mà chúng tôi ghi lại ngày 7/10:
Image

Image

Image

Image

Có những đoạn sông sâu tới ngang cổ người lớn.
Image
Qua được sông thì ướt hết cả người và sách vở.

Image
Mừng hú vía khi qua được sông.
Bài và ảnh: Vương Hoàng

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image


Họ may mắn là người Chile


Chiến dịch cứu hộ 33 thợ mỏ Chile kẹt dưới lòng đất hơn 2 tháng bắt đầu từ đêm hôm qua, theo giờ GMT, tức chiều tối qua theo giờ địa phương. Công việc dự tính diễn ra vào tháng 12 cuối cùng đã đến sớm hơn gần 2 tháng, nhờ những nỗ lực của chính quyền Chile cộng với sự trợ giúp quốc tế về mặt kỹ thuật, đặc biệt là sự vào cuộc của cơ quan Vũ trụ Mỹ NASA.

Nín thở hồi hộp theo dõi cuộc giải cứu này không chỉ có các nhân viên cứu hộ hay gia đình của các thợ mỏ, mà còn hàng ngàn phóng viên báo chí, truyền hình trên khắp thế giới đang chầu chực đưa tin và hàng triệu người bất chấp sự khác biệt về múi giờ dán mắt vào màn ảnh nhỏ. Các kênh truyền hình như BBC, CNN.v.v. và kênh TVN24 của Ba Lan truyền hình trực tiếp toàn bộ quá trình giải cứu này mà không bỏ sót dù chỉ một phút. Mặc dù, người ta dự tính việc giải cứu sẽ mất từ 24 tới 48 tiếng đồng hồ.

Một sự chuẩn bị hết sức hoàn hảo, từ khoang cứu hộ, đội ngũ cứu hộ tinh nhuệ nhất cho tới các chuyên viên y tế, các nhà tâm lý học trợ giúp về tinh thần cho các nạn nhân và gia đình họ.v.v.

Khoang cứu hộ đã được chạy thử nghiệm để đảm bảo thật an toàn trước khi vận hành. Ba chuyên viên cấp cứu được đưa xuống tận nơi các thợ mỏ đang kẹt ở độ sâu 700m, để kiểm tra về y tế và chuẩn bị tinh thần cho những người sắp từ cõi chết trở về.

Có thể nói, công việc giải cứu hồi hộp và hấp dẫn không kém gì kịch bản phim Hollywood. Tất cả các thợ mỏ ngay khi lên tới mặt đất, sau vài phút gặp gỡ người thân đều được đưa ngay tới bệnh viện để kiểm tra sức khỏe bất kể họ yếu hay khỏe. Đất nước Chile vỡ òa trong hạnh phúc, dân chúng nhảy múa, reo hò, ca hát…

Điều đáng nói là, từ trước khi khoang cứu hộ được thả xuống, Tổng thống Chile đã có mặt, bên cạnh ông là bộ trưởng bộ Khai khoáng, bộ trưởng bộ Y tế. Dù chỉ có 1 công dân duy nhất trong số 33 thợ mỏ là người Bolivia nhưng Tổng thống nước này cũng bay tới hiện trường và chờ đợi. Ông muốn trực tiếp đón công dân của mình về nhà.

Tối qua, do không thể thức khuya hơn được nữa, tôi đã đi ngủ khi công việc cứu hộ vừa mới bắt đầu và người thợ mỏ đầu tiên được kéo lên mặt đất. Cứ tưởng, Tổng thống Chile chỉ đến động viên tinh thần hay nhiều lắm chào đón tượng trưng 1,2 thợ mỏ đầu tiên thôi, nhưng cả ngày hôm nay, lúc nào ngó vào truyền hình, vẫn thấy ông trong bộ quần áo bảo hộ lao động mầu da cam, ôm hôn từng thợ mỏ một, hòa cùng niềm vui với gia đình của các nạn nhân. Thỉnh thoảng, ông tự lấy nước uống hay với chiếc ghế để ngồi. Nếu không có vài lần trả lời phỏng vấn của phóng viên, hay phát biểu trực tiếp trên truyền hình, khó có thể biết đó là Tổng thống Chile! Cho tới giờ, 22 người đã được kéo lên, vẫn thấy Tổng thống Chile bên cạnh tốp cứu hộ, không biết ông ăn ngủ ra sao, vào lúc nào?
Image
Thợ mỏ Mario Sepulvede (đeo kính đen) được Tổng thống và đệ nhất Phu nhân (bên phải) chào đón
Cả thế giời hòa chung niềm vui với Chile trong một sự kiện may mắn hy hữu. Khi vụ nổ xảy ra hôm 5/8, giới chức ban đầu nhận định rằng, hy vọng sống sót của ê kip thợ này là 2%. Không mấy ai có thể ngờ là tất cả 33 người đều an toàn và khỏe mạnh.
Image
Dân chúng Chile nhảy múa, reo hò trên đường phố. Ảnh AP
Từ cõi chết trở về và trở thành những người anh hùng, thành đối tượng săn đón của truyền thông, báo chí, được cả đất nước, cả dân tộc chào đón, nâng niu, nhiều người nhìn những thợ mỏ Chile bỗng thấy chạnh lòng.

Báo Wyborcza hôm nay giật tít “Người Trung Quốc ghen tị với thợ mỏ Chile“. Bài báo cho biết, hoạt động cứu hộ ở Chile làm thợ mỏ Trung Quốc cảm thấy ghen tị và làm dấy lên làn sóng chỉ trích chính quyền Trung Quốc trong các hoạt động cứu hộ thợ mỏ ở nước này. Một công dân mạng Trung Quốc được trích lời cho biết: “Họ thật hạnh phúc vì sinh ra ở Chile, nếu ở Trung Quốc thì họ đã bị chôn sống rồi”.

Một công dân khác nói: “Chiến dịch cứu hộ ở Chile là một sự sỉ nhục với Trung Quốc, có biết bao nhiêu thợ mỏ Trung Quốc đã chết trong những vụ sập hầm như vậy“. Hiện, Trung Quốc được coi là nơi thợ mỏ lao động trong những điều kiện tồi tệ nhất thế giới. Chỉ tính riêng năm ngoái, con số chính thức (có thể ít hơn nhiều so với thực tế) đã có 2.500 thợ mỏ chết vì sập hầm.

Người Trung Quốc rõ ràng là kém may mắn hơn người Chile rất nhiều. Nhưng họ còn có phước lớn so với những đồng hương của tôi. Cứ nhìn cả đất nước Trung Quốc, từ lãnh đạo cho tới dân chúng, sôi sùng sục đòi Nhật trả tự do cho mấy ngư dân của họ bị bắt giữ khi đánh cá trong vùng biển tranh chấp giữa 2 nước hồi tháng trước, mà thấy tủi cho hàng trăm ngư dân ta bị đánh đập, giam giữ, đòi tiền chuộc trái phép. Đâu đó, lạnh lẽo trôi dạt giữa biển khơi là linh hồn của những ngư dân Hậu Lộc, Thanh Hóa. Chết mà người thân không được than khóc. Chết mà báo chí không được nhắc tới. Nếu họ không phải công dân Việt, thì đâu đến nỗi chết tức tưởi như vậy?

Một bạn đọc trong mục Ý Kiến gửi tới Đàn Chim Việt viết, nhìn Tổng thống Chile túc trực suốt đêm đón chờ thợ mỏ mà thấy tủi cho dân Việt Nam quá. Đừng đòi hỏi lãnh đạo Việt Nam những điều quá xa xỉ như vậy, bạn ơi! Mấy ông ấy, nếu có hạ cố thăm dân vùng lũ thì cũng com lê củ táo và che ô.

Bão lũ miền Trung làm chết dăm bẩy chục người, hàng chục ngàn ngôi nhà chìm nghỉm, dân mắc kẹt đói rã họng mấy ngày mà máy bay trực thăng còn dùng để tập duyệt kéo cờ đảng cho lễ duyệt binh. Chỉ một phút, một phút thôi, mặc niệm cho những người xấu số trước lễ bế mạc hôm 10/10, đâu có tốn công sức, tiền bạc gì, họ còn không làm. Diễn văn bế mạc của các ông lãnh đạo, bói cũng không ra một lời chia buồn với dân miền Trung chết thảm nói gì tới chuyện quốc tang cho mệt.

Một nhà báo trên tờ Hà Nội Mới còn lớn tiếng “xỉ vả” những người chỉ trích Đại lễ là “xúc phạm lòng tự hào dân tộc”. Không lẽ dân tộc này của riêng một nhúm người ở Hà Nội? Không lẽ phải reo hò nhảy múa, khi người ta tang tóc mới là tự hào?

Xin chia vui với những thợ mỏ Chile và gia đình họ. Chúc mừng đất nước Chile có vị Tổng thống giản dị, thương dân. Xin thắp một nén nhang cho những người miền Trung xấu số. Họ sống khổ và chết tủi. Hy vọng ở thế giới bên kia, họ sẽ trở thành công dân Chile.

© Đàn Chim Việt

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Nỗi đau đồng hương

Huy Phương


Tôi, người Thừa Thiên và bạn quê ở Khánh Hòa, dù “cùng lận đận bên trời một lứa”, từ Việt Nam chạy sang đây không thể xem nhau là đồng hương, vì tôi với bạn không phải là người cùng làng (hương đản).

Theo tục người Tàu, thì người cùng một tỉnh cũng gọi là đồng hương vì cùng đi thi hương ở một tỉnh, do đó ở hải ngoại chúng ta có nhiều hội đồng hương như Hội Đồng Hương Bắc Ninh hay Quảng Nam-Đà Nẵng, đặt tên như vậy là đúng. Trái lại, tôi và người bạn quê Khánh Hòa nói ở trên không thể ở chung trong một hội đồng hương được, nói theo cách nói sai bây giờ, tất cả người Việt gọi nhau là đồng hương, không lẽ có một hội đồng hương mang tên “Hội Đồng Hương Việt Nam”. Cũng như tôi và ông bạn nói trên có thể “liên lạc” với nhau, nhưng không thể nào “liên hệ” với nhau vì không phải là bà con, máu mủ, theo lối nói trong nước mà rất nhiều người bắt chước hiện nay. Nếu có một tiếng lâu nay chúng ta dùng sai, mà chúng ta biết là sai thì liệu chúng ta có sửa lại cho đúng không?

Chúng ta là người Việt ở trên đất Mỹ này chỉ có thể xem nhau là đồng bào, một danh từ mà trước đây người ta hay dùng theo nghĩa bóng là con dân chung một tổ quốc, như anh em cùng một bào thai sinh ra. Nhiều người ngại không dùng tiếng “đồng bào” vì sợ xem thường người khác, vì ngày xưa các nhân vật lãnh đạo quốc gia hay mở đầu diễn văn bằng những tiếng “quốc dân”, “đồng bào”. Nhưng không lẽ chúng ta gọi những người Việt trong nước là “đồng bào” và những người Việt cùng chúng ta tỵ nạn sang đây là “đồng hương”? Trên báo chí vẫn thường thấy những tin “cứu trợ đồng bào bão lụt tại miền Trung” nhưng lại viết “đồng hương tham gia biểu tình đông đảo”!

Điều đáng nói là hai tiếng “đồng hương” đã được lợi dụng triệt để để ca tụng tình thân ái, yêu thương, đùm bọc như “tình đồng hương”, “giá đồng hương”, giảm giá cho đồng hương, “đặc biệt cho đồng hương” nhưng nghĩa của nó là “lường gạt”, “xem thường”, “khinh bỉ”. Tôi không nói ngoa. Bạn thử vào một ngôi chợ Mỹ, rồi vào một ngôi chợ Việt để xem các cô bán hàng ở hai ngôi chợ này đối với khách khác biệt nhau ra sao? Bạn thử mua một món hàng ở tiệm đồng hương về nhà, không vừa ý, đem đổi lại, thái độ của ông chủ tiệm sẽ ra sao? Bạn thử vào một bãi đậu xe khu phố Việt để thấy lối hành xử của đồng hương chen lấn, vứt xe đi chợ giữa đường hay để sau đít xe người khác ra sao? Bạn thử vào một tiệm ăn đồng hương có nhiều người ngoại quốc đến ăn để xem người ta tiếp đãi khách da vàng, da trắng khác nhau ra sao?

Những chuyện giao tiếp giữa đồng hương với nhau, trên các tờ báo địa phương, người ta đã nói đi nói lại nhiều lần, nhưng chúng ta vẫn gặp những chuyện bực mình nghìn lần như một. Hôm qua chúng tôi từ một nhà hàng ăn trên đường Bolsa, lái xe ra trước một dòng xe nối đuôi nhau chạy liên tục. Biết thân, tôi đã chờ đợi khoảng thời gian khá lâu, những người đi qua toàn là đồng hương thân yêu, nhưng chẳng có ai đưa ra một dấu chỉ thân thiện. May quá, cuối cùng có một người ra dấu nhường xe cho tôi ra, vẫy tay chào lại thay một tiếng cám ơn, tôi thất vọng vì nhận ra người lái xe kia là một người Mỹ tốt bụng chứ không phải chủng loại da vàng mũi tẹt như tôi...

Sống trên mảnh đất có nhiều “đồng hương” nhất ở nước Mỹ này gần hai mươi năm, đã nhường lối xe ra hằng trăm lần cho tất cả mọi người lái xe, không phân biệt vàng, đen, trắng, đỏ, tôi ít khi thấy “đồng hương” mình vẫy một bàn tay để tỏ một cử chỉ thân thiện, mà chỉ thấy những khuôn mặt khó đăm đăm, ra chiều quan trọng, phớt lờ, trái ngược với nụ cười, lối xã giao của những người dân địa phương ở đây. Một lần khác trên con đường ra từ một khu chợ, một đồng hương còn trẻ, trong khi chờ xe đậu lấn qua phần đường ra, khiến chiếc xe của tôi phải mắc cạn không tiến được. Tôi xuống cửa xe nói với đồng hương xin nhích lên một tí, cho tôi đi lên, kẻo sau tôi còn nhiều xe đợi. Y có vẻ phật ý, lắc đầu. Tôi biết y coi thường người đồng hương, cũng như cái xe đời cũ của tôi. Nếu gặp một người Mỹ trắng sang trọng với cái xe đời mới, chắc y đã vui vẻ nhường đường. Cái này, ông cha ta thời xưa nói là kiểu “khôn nhà dại chợ”, đối với người nhà thì khinh bạc, lấn áp, nhưng đối với người ngoài thì sợ hãi kiêng nể.

Tôi cũng đã từng đỡ cửa cho hằng trăm “đồng hương” ở các cửa hàng trong khu người Việt, điển hình là tại thương xá Phước Lộc Thọ, người ta nghĩ tôi là một ông già điếc đặc nên đã không hề mở miệng cám ơn, đôi khi lại không buồn đưa bàn tay ra đỡ giùm cánh cửa, khiến tôi phải khép nép đứng lại một bên, ôm cánh cửa chờ đồng hương bước qua, sợ buông tay, lỡ cánh cửa đập vào mặt người ta. Chẳng phải mới chút đỉnh “thi ân” đã đòi “cầu báo”, mà sợ dân địa phương cho mình là người kém văn minh. Nhưng sự thực tôi đã lầm, vì nếu gặp một ông tây, bà đầm đỡ giúp cánh cửa thì “đồng hương” đã nở một nụ cười rất khả ái và không quên lịch sự cám ơn rối rít. Vậy câu nói “đồng hương khinh bỉ đồng hương” hẳn không sai.

Câu chuyện này đã được ông Bá Dương bên Tàu và nhiều trang báo bên Mỹ nói chuyện nhiều lần, nhưng chẳng ăn thua gì, chỉ sợ người ta lại nhớ đến câu: “Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi!”

Bạn bè cứ cho tôi là hận đồng hương nên mới “Khổ lắm! Nói mãi!” Quả thật là tôi có bị một anh “nhóc con đồng hương” lừa trong bệnh viện, rồi lại bị một “từ mẫu đồng hương” gửi cho cái bill $3,500 về một dịch vụ “ảo” không hề có thực khiến cơ quan medi-care phải è lưng ra trả. Tôi cũng biết tôi có khuyết điểm là nhớ dai và chưa xóa bỏ được hận thù. Tôi biết nhiều người, nhất là giới cao niên, vì ngôn ngữ hạn chế nên phải bám riết vào đồng hương, không bị lường gạt kiểu này, cũng bị lường gạt kiểu khác, nhưng nghĩ “tình đồng hương”, “chín bỏ làm mười”, “dĩ hòa vi quý”, nên bị chúng coi thường, lại càng làm tới. Nhiều người than phiền bị những “công ty đồng hương” nhận tiền cọc, tiền mua vật dụng cho những dịch vụ sửa nhà, ghép phòng, xong rồi cao bay xa chạy. Rất nhiều gia đình khá giả đã bị “đồng hương” đem xe truck đến dọn sạch nhà. Ai hiểu rõ “đường đi nước bước” và chuyện tiền bạc của đồng hương hơn đồng hương, và dọn nhà đồng hương cũng dễ hơn vào dọn nhà Mỹ. Quả thật đồng hương là một tập thể rất dễ tin nên dễ bị lừa, từ chuyện chính trị cho đến chuyện nhỏ nhặt như viên thuốc, gói trà.

Một nữ độc giả báo Viễn Đông vừa than phiền chuyện đi mua “cơm chỉ’ của đồng hương, về nhà thấy một con gián trong miếng canh mướp đắng, đem lại tiệm khiếu nại thì bị nhân viên không cho gặp chủ, lại còn bị mắng mỏ: “Mướp có gián thì ra chợ mà khiếu nại!” Một người khách khác than phiền mua phải chè thiu, bản thân người viết bài này cũng đã có dịp mua về nhà món tôm càng kho đã bị chua, đành phải mang ra gửi lại cho chủ tiệm thức ăn “to go”, được trả tiền lại, không bị sừng sộ, là may mắn, đằm thắm tình nghĩa đồng hương lắm rồi. Trong khi thức ăn “to go” của các nhà hàng Mỹ, trong ngày nếu bán không hết phải đổ thùng rác, không để qua đêm vì vấn đề vệ sinh và điều quan trọng là biết tôn trọng khách hàng, tiệm “to go” bán thức ăn ở Little Saigon này để nhiều ngày, siu thối, nếu không gọi “xem thường, khinh bỉ đồng hương” thì chúng ta gọi bằng chữ gì? Phải chăng đó là ý nghĩa của khẩu hiệu đẹp đẽ “đồng hương phục vụ đồng hương”!

Trước con mắt quan sát của thiên hạ đối với đồng hương chúng ta, nếu có ai đó có nhã ý giới thiệu nét văn hóa của đồng hương thì nên tránh xa các khu chợ đầy rác, tàn thuốc lá và cũng đừng nên giới thiệu nét “khả ái” của những cô cashier đồng hương, nó cũng không khác gì mấy các cô “Duyên Dáng Việt Nam Airlines” đâu!

Người ta nói ở nước Úc, Pháp, Canada hay ở các tiểu bang miền Đông nước Mỹ, đồng hương đối với nhau tử tế hơn nhiều. Cũng dễ hiểu thôi, cái gì ít mới quý. Một người Việt ở trong cộng đồng sắc dân khác rất dễ thương, nhưng cũng người này về với đám đông đồng hương thì sinh dễ ghét.

Tôi biết nhiều ông bà ở tận miền Đông buốt giá, ít người Việt, trong hoàn cảnh chưa gần đồng bào được, nên rất muốn về gần đồng hương. Gần đồng hương rồi mới gặp trăm thứ bực mình, nhưng chẳng thà bực mình với đồng hương còn hơn khốn khổ với trăm thứ “đồng bào” giai cấp mới hiện nay ở bên nhà.

Tôi cũng vậy. Nhưng khổ tâm lắm mới phải nói ra!

Nói mãi! Biết rồi! Khổ lắm!

Huy Phương

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Hội chứng nhà thổ trong trang trí phố xá ở VN ngày nay !


Không biết từ khi nào mà xứ ta bị nhiễm hội chứng trang trí phố xá kiểu nhà thổ như bây giờ ? Phố phố đèn lồng đỏ, băng rôn đỏ, đèn nháy đỏ, tím, hồng cứ là loạn xạ. Xưa chỉ có bên Tàu mới có kiểu ấy, vài nước văn minh như Sing, Hà Lan, Đức, Thái… chỉ tập trung vào một chỗ gọi là phố đèn đỏ. Ấy nhưng ở ta thì hiện nay: cả thành phố đều… đèn đỏ!

Mả mẹ cái tay nào đem cái hội chứng này về xứ ta – xứ sở của cây tre, lúa nước, con trâu đi trước, cái cày theo sau. Sự ngộ độc về văn hoá dường như đã ngấm sâu vào mấy tay ngành văn hoá xứ nhà hay sao mà tất cả mọi hội nghị, hội thảo, đại hội, đại lễ chỉ trang trí độc nhất một màu đỏ, đèn đỏ, hồng kỳ kiểu Tàu ?

Người làm văn hoá cần phải biết: việc hội nhập văn hoá nó không cùng nghĩa với hoà tan, mất văn hoá của mình từ ngàn đời Cha Ông đã có và xây dựng thêm. Con cháu có là tướng tá gì đi nữa thì cũng không được phá Chùa, phá Đình làng, phá nhà thờ Tổ họ.
Image Ngay cả việc đem cái văn hoá đỏ của xứ nào đó về xứ ta cũng cần chọn lọc và cho dùng ở những nơi riêng biệt, không phải là cứ đèn lồn…g là treo la liệt, treo cả lên đầu Vua, trước mặt Vua, xung quanh Vua như vụ Vua Lý vừa rồi. Ngành văn hoá nào làm thế thì chỉ là ngành văn hoá của đám rồng lộn, mà lộn vào làng.

Không nhìn thấy thì bảo già mắt kém, không nói thì con cháu bảo các Cụ già rồi dân trí thấp. Mà nói thì chúng bảo già rồi nhiều… chuyện, lắm ròi. Mả bố cái bọn con cháu vô văn hoá còn đem mũ Tàu gắn lên đầu Vua lý, đem đèn nháy Tàu gắn xung quanh đền Vua Trần, đem đá granite Tàu ốp vào ban thờ Vua Lê – thử hỏi chúng là con cháu loại gì hay loại nghịch tặc?

Dân tộc thì thông minh, dân thì thấp cổ bé họng lại dễ bị lừa vì bị đầu độc ngu dân bao thập kỷ. Vua gần nhất thì chúng đuổi, cướp ấn, đánh cho chạy rẽ đất, thế mà không hiểu là đời nào chúng lại đi tôn thờ Vua từ ngàn năm trước?

Vua nào chả là Vua?

Vua mới là chủ của cái xứ đất, các thể chế chính trị hay chính phủ này nọ chỉ là đám ma cô làm thuê. Thái Lan, Bỉ, Anh … đấy: thằng nào làm thủ tướng cũng phải đến yết kiến Vua, Dân chỉ nể Vua Cha chứ đối với mấy thằng chính khách làm thuê thì rõ ràng, minh bạch: không làm được thì cho nghỉ mẹ mày mà về đuổi gà. Thế nhé cho vuông.

Nhưng khổ nỗi xứ ta Vua Cha đi cả rồi, Dân như rắn mất đầu. Cứ vài thằng dân chơi nhảy lên tự nhận tao là lãnh đạo, tao thông minh nhất quả đất, tao sẽ cho chúng mày ăn bánh … hứa, thế là nghe theo rần rần, hô muôn năm vạn tuế loạn xạ. Nhục cho một Dân tộc thông minh như… Thánh Gióng!

Thế nhưng mà có đến cả bảy tám mươi phần trăm thanh niên lại chả biết nhục. Cái nút triết học nó là ở cái chỗ ấy, cái chỗ rồng… lộn ấy.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Sổ tay văn nghệ:

TUẤN VŨ HƯƠNG LAN MANG NHẠC VÀNG SÀI GÒN CHINH PHỤC HÀ NỘI

Trần Củng Sơn
Cali Today News - Khi đang viết bài này thì đêm nhạc của Tuấn Vũ Hương Lan tiếp tục trình diễn trở lại tại nhà hát lớn Hà Nội vào đêm 16-10-2010 sau khi đại lễ Thăng Long Ngàn Năm kết thúc. Đôi song ca này đã mở đầu sô diễn vào ngày 11-8-2010 và được khán giả miền Bắc đón nhận nồng nhiệt, giá vé khoảng mấy chục đô la Mỹ bán sạch và sô diễn kéo dài mấy tuần liền mà vẫn còn ăn khách.

Các trang báo nổi tiếng trong nước đưa tin rầm rộ cùng hình ảnh trên sân khấu, đặc biệt ảnh Tuấn Vũ đưa ngón tay trỏ để ngay miệng làm dấu yêu cầu khán giả không tán thưởng ồn ào để thưởng thức tiếng hát Hương Lan đang đứng bên cạnh.

Có vẻ như ganh tị củng cay đắng, một bài viết được đăng lên trang mạng trong nước có tựa đề : “ Khi Đặng Thái Sơn không thể “ địch” lại Hương Lan Tuấn Vũ” của nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc có những dòng chữ như sau :

“Có lẽ Đặng Thái Sơn mà biểu diễn tới đêm thứ 3 ở Hà Nội bây giờ chắc cũng chẳng có mấy ai xem. Không thể "địch" lại với Hương Lan, Tuấn Vũ, Tuấn Ngọc... Hồi cuối tháng 8 vừa qua, show diễn hát theo yêu cầu của họ ở Nhà Hát Lớn giá 1 triệu rưỡi đến 1 triệu 7 cho 1 vé. Biểu diễn hàng nửa tháng trời mà vẫn kín chỗ, không có vé mà mua. Mà hình như họ ăn khách Thủ đô đến ngỡ ngàng, vượt cả sự tưởng tượng của chính họ, nên họ lại đã quảng cáo biểu diễn tiếp tại Nhà hát lớn sau Đại lễ 1000 năm.

Như vậy, "sự kiện âm nhạc" nổi bật trong thời gian trước thềm Đại lễ lại là những đêm nhạc "Sến" của Hương Lan, Tuấn Vũ (!!!) Những chuyện này trước đây không thể xảy ra.”

Những người dân Miền Nam sau tháng 4-1975 không bao giờ quên chuyện kẻ chiến thắng từ Miền Bắc đã ra lệnh cấm và thiêu hủy văn hóa Sài Gòn trong đó có sách vở, băng nhạc, phim ảnh. Có những người đã bị ở tù vì cất giữ những sản phẩm văn hóa đó, có những người bị tịch thu cái máy hát ( có giá trị vào thời đó) chỉ vì phát ra những ca khúc mà Việt Cộng cho là Nhạc Vàng. Cả một bộ máy tuyên truyền của chế độ lên án Nhạc Vàng cho là đồi trụy, phản động. Ai mà lỡ miệng hát những bài Nhạc Vàng thì bị tố cáo với công an, cán bộ và bị bao nhiêu phiền phức, kể ra không thể nào hết được.

Cho tới hôm nay, năm 2010, ngồi kể lại chuyện đàn áp Nhạc Vàng cho con cháu ở lứa tuổi 30, 40 thì chúng rất ngạc nhiên vì không thể nào tưởng tượng nỗi cái chế độ Việt Cộng nó lại tàn ác và độc tài đến như vậy.

Nhưng vẫn còn đến hàng chục triệu nhân chứng ở Miền Nam vẫn còn sống từ trong nước đến hải ngoại xác nhận chuyện này chứ không phải tin đồn, tin bịa.

Và những người dân Miền Nam rời khỏi đất nước để tị nạn đã giữ gìn được những bài hát Nhạc Vàng cùng bao sản phẩm văn hóa Sài Gòn, trở thành món ăn tinh thần cho đời sống dân hải ngoại.

Câu chuyện cán bộ Việt Cộng thích nghe loại nhạc mà họ đã từng chê bai và đàn áp rồi sau đó đến dân Miền Bắc cũng thích đã được kể từ nhiều năm nay, không còn là chuyện lạ nữa.


Nhưng tin tức Hương Lan Tuấn Vũ cùng Giao Linh dùng Nhạc Vàng Sài Gòn chinh phục thủ đô Hà Nội với nhiều sô diễn bán hết vé tại Nhà Hát Lớn từ giữa tháng 8 đến tháng 10 năm 2010 trở thành sự kiện chính thức mà báo chí trong nước đăng tải phổ biến khắp nơi đã an ủi cho giới văn nghệ sĩ sáng tác của Sài Gòn từng bị Việt Cộng đàn áp thô bạo 35 năm qua.

Những bài hát được trình bày như Người Yêu Cô Đơn, Chuyện Tình Lan Và Điệp, Thói Đời, Hoa Sứ Nhà Nàng, Giọt Lệ Đài Trang, Những Đồi Hoa Sim, Lâu Đài Tình Ái, Kiếp Cầm Ca, Phút Cuối... được khán giả Hà Nội tán thưởng ngây ngất.

Tác giả những ca khúc Nhạc Vàng Sài Gòn được trình bày tại Nhà Hát Lớn Hà Nội có người còn sống, có người đã qua đời và khi nghe được tin tức này thì không còn niềm hạnh phúc nào hơn dành cho người sáng tác. Ngay cả Tuấn Vũ- theo bài báo mô tả- cũng xúc động không ngờ vì được đón nhận nồng nhiệt đến như vậy.

Dĩ nhiên giọng hát của Tuấn Vũ và Hương Lan ngọt ngào và họ đã thể hiện thành công những ca khúc trữ tình của dòng nhạc vàng Sài Gòn được dân chúng Miền Nam ưa thích. Người Miền Bắc cũng là người Việt Nam, cho dù có nét riêng văn hóa địa phương nhưng xét ra thì cũng có điểm chung và họ thích các bài ca trữ tình, câu nhạc dễ nghe, lời ca giản dị, trải ra những nỗi niềm của một con người bình thường.

“ Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn, đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành...” một trung tâm băng nhạc ở Quận Cam cho biết cuốn băng có bài hát Người Yêu Cô Đơn đã bán mấy chục ngàn cuốn vào thập niên 80, 90. Ngồi phân tích cái hay cái dở của bài hát này thật không dễ dàng. Nếu nói là hay về mặt nhạc thuật thì không thể đem vào nhạc viện để dạy cho nhạc sinh, nếu nói là không hay thì tại sao nhiều người thích. Và chắc chắn một điều là nó trở thành đề tài nghiên cứu cho những nhạc sĩ nào muốn có tác phẩm nổi tiếng.

Tác giả Đặng Hữu Phúc gọi đó là “ Nhạc Sến”. Thực ra danh từ “ nhạc sến” được mỗi người hiểu một cách khác nhau và chưa có ai đưa ra được một định nghĩa đầy đủ. Cũng giống như đã có bao nhiêu người định nghĩa “ tình yêu” nhưng đã có mấy ai đồng ý với nhau hoàn toàn.

Có người cho là chữ “sến” có dính dáng đến “ Mari Sến” nhưng có người cho là có liên quan đến cây “ đàn sến” cho ra những âm thanh luyến láy mang nét dân tộc. Những bài hát được xếp vào loại “sến” thường thì người hát phải luyến láy nghe mới hay, nhất là những chữ mang dấu hỏi, dấu ngã. Thí dụ như bản Kẻ Ở Miền Xa của Trúc Phương nghe Duy Khánh ca rất tới, bảo Tuấn Ngọc ca bài này thì nghe không ra.

Anh bạn dạy học trò phân biệt thế nào là nhạc sến, nhạc sang bằng cách đưa ra thí dụ rằng Kẻ Ở Miền Xa là nhạc sến, còn Diễm Xưa là nhạc sang ( ca từ rất trừu tượng và hát không nên luyến láy); Hương Lan Tuấn Vũ xếp vào loại hát nhạc sến, Khánh Hà, Vũ Khanh hát nhạc sang. Nhưng có nhạc phẩm lưng chừng giữa hai loại, có giọng ca như Duy Quang hát cả hai loại nhạc.

Còn nếu nói ca từ của nhạc sến đơn giản, bình dân thì cũng có thể nói là tầm thường mà cũng có thể nói là tinh luyện đến mức đơn giản để dễ đi vào lòng người.

Còn chuyện Đặng Thái Sơn biểu diễn dương cầm ít khán giả là vì chỉ có những người biết chơi đàn piano và những người thường nghe loại nhạc cổ điển Tây phương mới thưởng thức được. Cũng giống như có mấy ai biết thưởng thức hát bộ, hát chèo.

Thời thế đổi thay theo thời gian. Ngày xưa những người ở Hà Nội tự hào về chốn thủ đô ngàn năm văn vật, bây giờ dân tứ xứ đổ xô về đây sống, giọng nói cũng thay đổi và phong cách thanh lịch của Hà Thành cũng không còn. Hình ảnh thô lỗ của những kẻ vặt trụi bông hoa anh đào Nhật triển lãm tại một lễ hội chứng minh rõ ràng.

Mùa Giáng Sinh năm 2004 tại một câu lạc bộ văn nghệ ở Hà Nội có buổi họp mặt ca hát những ca khúc tiền chiến. Một anh chàng ngà ngà say lên cất tiếng bản Bài Thánh Ca Buồn của Nguyên Vũ “ Bài thánh ca đó còn nhớ không em. Noel năm nào chúng mình có đôi” và cả căn phòng bỗng rộn ràng không khí giáng sinh, chỉ vì dòng nhạc miền Bắc thiếu những ca khúc thuộc chủ đề này.

Thi sĩ Hữu Loan viết bài thơ Màu Tím Hoa Sim rồi sau đó bị xếp vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm bị trù dập. Phải đợi đến khi văn nghệ Sài Gòn phổ bài thơ này qua tài của nhạc sĩ Dũng Chinh với bản Những Đồi Hoa Sim thì dân chúng mới thưởng thức được cái hay của tác phẩm. Gọi đó là nhạc sến thì không hiểu ai đó chê hay khen?

Những ca khúc được trình bày tại Nhà Hát Lớn Hà Nội có khi không được nhắc tên tác giả vì lý do nhạy cảm, vì tác giả nằm trong danh sách bị cấm; cho nên không nhắc tới hoặc là nói sai tên ; và cũng có thể là không nhớ tên tác giả.

Sự thành công của sô diễn Hương Lan Tuấn Vũ một nữa là nhờ những ca khúc nhạc vàng Sài Gòn, nếu không có nó thì lấy gì mà hát. Cho nên hai người phải cám ơn những nhạc sĩ đó và nếu có thể thì gặp cơ hội thuận tiện tặng chút thù lao cho những tác giả gặp khó khăn tài chánh.

Thời thế đổi thay, Việt Cộng mấy chục năm trước cùng Trung Cộng đánh nhau với Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ. Bây giờ nguy cơ Trung Cộng bành trướng bộc lộ và Hoa Kỳ đang trở thành đồng minh chiến lược để giúp dân tộc Việt Nam tránh họa diệt vong bởi thế lực phương Bắc.

Nhạc Vàng Sài Gòn ba mươi lăm năm qua bị Việt Cộng chê bai đàn áp, bây giờ đang lên ngôi vua ở những đêm nhạc tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Thoáng ngậm ngùi cho lịch sử Việt Nam tang thương. Khi nào thì có sự thay đổi lớn lao để đưa dân tộc Việt Nam vào con đường phát triển đúng đắn tạo quốc gia tự do dân chủ giàu mạnh?

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

Lỡ Một Chuyến Tàu

Tưởng Năng Tiến
Cả dân tộc bước ra biển lớn.
(Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng)

Tôi rất ngại chuyện đánh răng, rửa mặt. Tắm, gội, giặt giũ – tất nhiên – cũng không lấy gì làm hào hứng lắm. Kẻ xấu miệng nói như vậy là ăn dơ, ở bẩn, người biết chuyện thì giải thích rằng tại tôi không phải mạng Thủy nên sợ nước. Riêng tôi, đôi lúc, lại trộm nghĩ rằng đây là nỗi sợ chung củaquốc dân đồng bào chứ chả riêng ai. Coi:

Tắm thì ra sông, ra ao. Người già không thể bơi lội được thì ở nhà, lấy nước ở bể nước mà con cháu gánh về, dội ít gáo… Rửa mặt thì có khăn cũng được, không thì dùng bàn tay mà rửa, rồi vuốt một cái. Rửa chân thì rửa bùn đất ở ao hay nước cạnh bếp, đợi một lát cho khô khi bước lên giường thì ngồi buông thõng chân xuống, xoa vào nhau cho hết bụi cát, là rửa chân cạn. Đánh răng là chuyện không thấy ai nói đến.

(Lê Văn Siêu. Truyền thống dân tộc. Trang 127& 128)[1]

Khỏi đánh răng luôn, cho nó đỡ phiền, là chuyện cũng… bình thường thôi nhưng rửa chân bằng cách “xoa xoa vào nhau cho hết bụi cát” thì quả là vô cùng giản tiện. Những bộ tộc sống trong vùng sa mạc Sahara (như Tubu, Nubians, Zaghawa, Kanuri, Peul hay Fulani, Hausa và Songhai) nếu biết được tục lệ “rửa chân cạn” lạ lùng và độc đáo này – chắc chắc – sẽ đều phải thích thú gật gù tán thưởng, và chân thành tỏ lòng ngưỡng mộ. Nhiều ông, nhiều bà dám còn ước mơ (qua đêm) bỗng biến luôn được thành người Việt – cho nó khoẻ!

Đó là mới nói (sơ) về sự e dè trong “truyền thống dân tộc” đối với nước ở ly, ở lu, ở gáo, ở chậu, ở khạp, ở ao, hay ở giếng – cạnh nhà. Đối với nước ở thác, ở ghềnh, ở sông, ở suối, ở hồ, ở biển… thì người Việt còn ngần ngại hơn nhiều:

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm!

Nghe mà thất kinh. Dù chưa bao giờ qua cửa Thần Phù, và dù không phải là thầy bói, tôi vẫn đoán chắc rằng ghe thuyền mà “lênh đênh” ngang đây thì nhang khói bốc lên (chu cha) dám tới… thấu trời xanh!

“Chỗ này chắc tà ma dữ lắm à nha?”

“Làm gì có, cha nội. Cửa Thần Phù – thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình – là chỗ sông Chính Đại đổ ra vịnh Bắc Bộ. Chưa bao giờ nghe ai nói tới ma qủi hoặc thủy quái gì hết trơn hết trọi.”

“Vậy cớ chi mà phải hương khói (mịt mù) như vậy?”

“Chắc tại thấp thoáng thấy biển nên lật đật nhang đèn cầu cạnh, van nài, xin xỏ, lễ bái, khấn vái (tùm lum) cho nó chắc ăn – vậy thôi. Có kiêng có lành chớ bộ.”

“Ôi, mà đó là chuyện hồi xa lắc xa lơ kìa. Đến cuối đời Lê, cửa sông Thần Phù đã bị bồi lấp và trở thành đất liền. Tuy vẫn còn bị ‘ám ảnh’ bởi hai câu ca dao vừa dẫn nhưng thái độ của mọi người, đối với nước nôi, chắc cũng đã khác (xưa) nhiều rồi – đúng không?”

“Không dám khác đâu. Nghe thử hai câu ca dao (tân thời) này là biết liền hà:

Mấy ngàn cây số biển xanh
Mà sao thiếu muối cho canh hàng ngày!

Và nếu ai không tin tưởng vào giá trị của văn học truyền khẩu, muốn có chứng cớ “bác học” hơn, xin hãy nghe nhận xét sau đây của ông Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (“đương đại”) Dương Trung Quốc:

Chợt nghĩ lại mà giật mình, với một quốc gia nằm trải dài trên biển cả, ngay trên một tuyến đường hàng hải truyền thống nối từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, mà dấu tích của những con tàu đắm và các cuộc khai quật khảo cổ học đáy biển gần đây là một minh chứng, mà dường như dân tộc ta đã từng là một dân tộc… sợ biển.

…

Đến mức mà một quốc gia có bờ biển dài rộng với tất cả các đô thị lớn đều nằm dọc kề bờ biển mà sau ngày thống nhất (1976) chúng ta cố đưa vào vận hành một con tàu khách hiện đại nối Hải Phòng với Thành phố Hồ Chí Minh mà chẳng bao lâu sau, mọi người lại lội lên bờ mà đi ô tô, tàu hỏa hay sang hơn là máy bay…”

Như thế (nếu nói nói theo Khoa Tử Vi Tập Thể) dân tộc Việt thuộc mạng Mộc, mạng Kim, mạng Hoả, hay mạng Thổ (tả)… gì đó – chứ dứt khoát không phải là mạng Thủy. Vận mạng này, đã có lúc (suýt) được thay đổi bởi mệnh lệnh của một vị lãnh đạo đất nước – khi ngài nghiêm giọng hô to:

“Cả dân tộc hãy bước ra biển lớn!”

Nói thiệt: nghe mà (mừng) muốn rớt nước mắt luôn.

Ở xứ sở này, cách đây chưa lâu, hễ lò dò ra biển là bị bắn bỏ tức thì. Nếu không lãnh đạn thì cũng lãnh tù. Còn nếu may mắn mà bỏ (được) của chạy lấy người thì sẽ bị Đảng và Nhà nước ném theo (tới tấp) những lời chửi rủa tàn tệ và thô tục: đồ thành phần cặn bã, đĩ điếm, trộm cướp, ôm chân đế quốc, chạy theo bơ thừa sữa cặn, trây lười lao động, phản bộ tổ quốc…

Nay, tự nhiên, dân chúng (lại) được Thủ tướng cho phép “bước ra biển lớn”. Như vậy, kể như, là được giải phóng (thiệt) rồi. Từ đây, theo dự kiến, toàn dân sẽ được tự do di chuyển cứ y như ở xứ Angola và xứ Bồ Đào – nơi mà mọi người đều được “đi vào đi ra” (hoàn toàn) thoải mái. Miễn có cái vụ săn đuổi, giết hại, bắt bớ, giam cầm, đầy ải, hay vu cáo và rủa xả… tùm lum – như hồi đó nữa.

Thiệt là quá đã, má ơi!

Ông Nguyễn Tấn Dũng, rõ ràng, đã đáp ứng được sự khát khao (bị đè nén hơn nửa thế kỷ nay) của cả dân tộc Việt. Nói tình ngay, ai mà không ước ao được nhìn thấy xem cuộc sống của nhân loại (thật sự) ra sao – bên ngoài bức màn sắt. Do đó, diễn đàn Vươn ra biển lớn được hưởng ứng nồng nhiệt chưa từng thấy:

Kể từ ngày 13-12-2006, khi Tuổi Trẻ bắt đầu diễn đàn ‘Vươn ra biển lớn’ từ bài viết khởi động của nhà sử học Dương Trung Quốc (‘Đừng bỏ qua cơ hội lớn’), đến nay diễn đàn đã đăng liên tục 43 số báo, với trên 60 bài viết trong số trên 500 bài viết nhận được từ bạn đọc. Không chỉ bạn đọc ở mọi miền đất nước với mọi giới, mọi lứa tuổi, điều bất ngờ là diễn đàn nhận được rất nhiều email của bạn đọc đang sinh sống, học tập, làm việc ở nước ngoài mà lúc nào tấm lòng cũng hướng về Tổ quốc mình.”

Ngoài những bài viết đã được chọn đăng trên Tuổi Trẻ mà ở đó các tác giả đã thể hiện trăn trở và tâm huyết với nước nhà trước vận hội mới, những bài viết chưa được chọn đăng cũng bày tỏ nhiều quay quắt, băn khoăn cùng với những hiến kế táo bạo trong nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, giáo dục, nhân lực đến cải cách hành chính, hợp tác quốc tế… với mục tiêu duy nhất: mỗi người là một tay chèo, quyết đưa con tàu đất nước ra biển lớn…

Con tầu đất nước, tiếc thay, “chưa rời bến được bao xa… đã chìm xuống biển” – theo như cách nói chua chát và ví von (Từ Titanic tới Vinashin – những cơn ác mộng kinh hoàng đến những cú lừa thế kỷ) của tác giả Nguyễn Trung:

Ngày 15 tháng 5 năm 2006, Vinashin khởi hành chuyến đi đầu tiên từ Văn phòng của Thủ tướng với quyết định 103/QĐ- TTg và cái đích đến là 10% thị phần đóng tàu biển của thế giới… Sau bốn năm hành trình và chưa rời bến được bao xa thì Vinashin đã chìm xuống biển sâu… dù vụ đắm tàu Vinashin không cướp đi những mạng người, nhưng cơn ác mộng của nó gây ra không phải là nhỏ. Hàng chục ngàn người mất việc. Nhiều công ty bị đẩy đến bờ vực phá sản hay chìm ngập trong nợ nần vì hùn hạp làm ăn với Vinashin, vì nhận thầu của Vinashin. Nhiều gia đình, mà trong có nhiều người về hưu, thương bệnh binh lâm vào sự khó khăn túng quẫn vì đã lỡ cho Vinashin vay mà không đòi được tiền.

Dư luận, trong cũng như ngoài nước – xem ra – đều có vẻ đồng thuận với nhận xét khắt khe, thượng dẫn. Theo phân tích của blogger Đào Tuấn, Vinashin chỉ là một cái bánh vẽ. Còn theo tuần báo Trẻ – phát hành từ Dallas, Texas – cái gọi là Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, thiệt ra, đúng là một “cái máy rửa tiền”.

Sự thực, hy vọng, không đến nỗi tàn nhẫn và phũ phàng đến thế. Ai lại có thể nhẫn tâm đem buôn lòng tin, và niềm hy vọng, của cả một dân tộc (vốn đã khốn cùng) như vậy chớ? Dù vậy, khó ai mà chối cãi được rằng đất nước lại vừa lỡ thêm một chuyến tầu (đời) nữa!

Ông Thủ tướng không tái xuất hiện để giải thích về chuyện lỡ tầu, và số tiền phải trả cho cái cái vé (đã lỡ mua) mắc tới mấy tỉ Mỹ kim này. Chỉ thấy một ông Phó Thủ tướng bước ra sân khấu, và hứa (đại) rằng: “Quyết tâm năm 2015 sẽ có một Vinashin mới.”

Ổng còn long trọng tuyên bố rằng đích thân “sẽ phụ trách Ban Chỉ đạo thực hiện việc tái cơ cấu toàn diện Vanishin. Ban này còn có sự tham gia của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và gồm một số Bộ trưởng, cùng với lãnh đạo một số Ban của Đảng.”

Ý, trời đất, qủi thần ơi! Ông Nguyễn Sinh Hùng nói chuyện nghe (sao) giống như một người mới từ trên Trời rớt xuống quá hà. Coi: chớ trước nay Vinashin có hoạt động mình ên bao giờ? Đâu khi nào mà không có sự tham gia và chỉ đạo của Đảng bộ (Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam) mà ông Phạm Thanh Bình là Bí thư Đảng uỷ chớ ai.

Chuyện đổi mới Vinashin cũng đâu phải mới mẻ gì. Theo Tạp chí Xây Dựng Đảng – nó đã được “đổi mới, sắp xếp lại tổ chức và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp” từ hồi đầu năm 2007 lận:

Từ đó đã phát huy vai trò của Đảng ủy Vinashin trong việc chỉ đạo các tổ chức đảng trực thuộc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nghị quyết và các văn bản chỉ đạo của Ngành, lãnh đạo đơn vị thực hiện nhiệm vụ sản xuất-kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật thực hiện Đề án phát triển Ngành Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực và mở rộng thị trường… Tổ chức đảng ở các đơn vị thành viên từ chỗ có 35 TCCSĐ (khi thành lập Đảng bộ Vinashin), đến cuối năm 2006 đã phát triển thành 68 TCCSĐ với hơn 3.200 đảng viên. Các tổ chức đảng phát huy vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của Đảng ủy Vinashin nhất là những chủ trương, chính sách về đổi mới, sắp xếp lại tổ chức và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Năm năm sau, ông Phó Thủ tướng lại nhắc (lại) “chủ trương, chính sách về đổi mới, sắp xếp lại tổ chức và nâng cao hiệu quả”của Vinashin, và hứa hẹn rằng năm năm sau nữa – năm 2015 – sẽ có… một Vinashin mới!

Chèng ơi! Sao cứ “năm năm” hoài vậy, cha nội?

Thì cũng hỏi cho nó ra lẽ vậy thôi, chớ mạng tui kỵ nước (thấy rõ) đâu có mặn mà ham hố gì chuyện xuống tầu, vươn ra biển lớn. Còn cả dân tộc Việt thì không biết là mạng Kim, mạng Hoả, hay mạng Thổ (tả) gì đó mà cứ bị cái đám đầu trộm đuôi cướp móc túi và xí gạt hoài à!

Tưởng Năng Tiến

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Gấp lắm rồi

Người ta nói: “đẹp tốt khoe ra, xấu xa đậy lại”. nhưng chuyện tôi kể cho qúy vị nghe tôi không biết là tốt hay là xấu, nhưng nó là chuyện ấm ức trong lòng. Không nói ra thì khó chịu, mà nếu cứ để nó trong bụng thì mính sẽ bị “stress”. Tôi đành liều mà công bố toàn dân thiên hạ. Nó là kinh nghiệm cuộc sống, là chuyện cười, nghe qua cười rồi bỏ đi.

Số là muà Đông thì lạnh, mà nhửng người tuổi loại ngũ tuần thường thì đêm về ngủ ngáy như sấm, hay như xe lửa cán đường rầy. Nếu trời ban cho cả cặp cùng ngáy thì đêm nào cũng là “giao hưởng hợp xướng” cho nên tránh tinh trạng “kết bè lập hội” chính phủ “ Quần Thâm” quyết định: Ăn chung, nằm riêng..ngủ với nhau.. khi cần”. Cuả đáng tội với cái tuổi “Chi thiên mệnh” vấn đề “ấy” hoạ chi đếm trên đầu ngón tay, vì thế ông bạn tôi mới than một câu:

Hồi xưa tuổi trẻ chịu chơi,
Ngày hai ba quả, tơi bời lá hoa.
Hôm nay anh đã về già,
vừa lên đã xuống như gà nuốt giây thung.


Các cụ còn nói “bỏ thì thương, vương thì tội”. Đúng như vậy, “tối lưả tắt đèn” nhớ “em”. Có sang sông, thì em tắt đèn lâu rồi. cuối cùng đành về phòng mình tắt đèn theo em. Còn nếu hôm nào trời ban mưa móc thì cứ “nửa đường đứt gánh” thế mới buồn phiền. Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng than thở: “Trên bảo dưới đ. Nghe” . chỉ cần nghe lời than tự đáy lòng của ông ta cũng biết nỗi buồn trong ông. Nhà báo VT đưa ra một định luật rằng “khi mà trên bảo dưới không nghe là lúc biết mình già”.

Ông bạn tôi không nhận mình gìa, nhưng nhận mình lớn tuổi. Nhiều lần gẫy gánh, nhưng quyết tâm không thể “cũng đành một kiếp phong ba”. Khi biết mình lớn tuổi, thì mọi sự phải đi nước rút nghiã là “ gấp”. Nhà người ta treo chữ “Phúc” trong nhà, nhà ông treo ngay chữ “Gấp” trong nhà. Ông đã từ giã bạn bè, về VN kiếm cái đi ngược lại “bạn bè”. Ông gấp lắm, ông theo đúng nguyên lý “còn nước còn tát”, tát cho đến hết nước thì thôi. Bạn bè có thắc mắc: “ người ta thì mong trút bỏ đôi giầy không vưà size, còn mày bỏ được đôi này, chưa hưởng thụ được hai chữ tự do thì đã thọc vào đôi khác qúa size” ông bạn chỉ cười và nói: “vì tao có con tim

không ngủ yên nên phải gấp”.hay “toa thuộc loại gừng càng già càng cay”. Vì vậy cừ gẫy gánh này ông lại kiếm gánh khác gánh tiếp.. đời ông chân lý xây trên một chữ “gấp”.

Nếu xét theo khía cạnh ngôn ngữ học thì chữ “Gấp” thì rất là phong phú. Ta hãy đánh vần chữ này mà suy. Trước nhất là “Gờ” có nghiã là cái mép nhô lên. “â” là âm thanh phát ra khi không nói thành tiếng. lúc bị gai đâm vào tay người ta cũng phát ra âm thanh naỳ, ngay cả lúc xung sướng cũng phát ra củng âm thanh này. “p” mẫu tự này khi phát âm ta nghe thấy nó nặng và dứt ngay như “phập” hay “bập”. nó diễn tả cái vội vã, hấp tấp, phải ngay lập tức. Dấu ‘ (sắc) phát âm lên lại càng làm cho vấn đề vội vàng hơn nữa. Suy rộng hơn trước khi “gấp” thì phải “gặp”, gặp rồi gấp. sau gấp đến chữ: “Vấp”. như vậy bộ ba này đi với nhau sẽ diễn tả thành “hối bất cập”. nôm na là nếu gặp mà gấp thì sẽ vấp. Ca dao VN có câu:

Đi đâu mà vội mà vàng,
Mà vấp phải đá mà quàng vào giây..


Cũng chính chữ “gấp” mà ông vội vàng không suy nghỉ cứ việc “leo lên lưng lừa” để rồi “ lừa lồng lủi lên lề, lừa lọt lỗ ”, ông trở thành “lê lết”. Chữ gấp còn đi đôi với chữ “gáp”. Tôi không hiểu chữ gáp ở đây có nghĩa gì, nhưng khi hai chữ đi với nhau là người ta hiểu ngay là “qúa vội vàng” . ngay trong chữ gấp có chữ ấp hay áp. Áp có nghiã là trấn áp, áp đặt, đè nén, dồn ép. một không muốn muốn hai, ba…

Ngoài cái nghiã vội vàng ấy, chữ “gấp” còn cho ta một nghiã rất cụ thể nữa là “gẫy” gẫy nhưng không rời nhau, vẫn còn dính với nhau, cái này mới là tội. vì không thể dứt khoát nên mới muộn phiền. Như vậy gấp sẽ gẫy..

Chuyện “cờ người” cũng vậy, phải từ từ không cho pháo chiếu. phải cản ngay khi thấy nuớc pháo nguy hiểm sắp sảy ra. chỉ khi nào thấy địch thủ đầu hàng ta mới pháo ra. Từ từ mới có kết qủa, phải biết khi nào tiến, khi naò thoái. “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Những kẻ hùng hổ khinh địch khi ra trận là nhửng kẻ dễ bị knock out nhất.

Bác H.O. kể cho tôi nghe câu chuyện về một người bạn. Anh bạn ấy ngâm 4 câu thơ khi về thăm quê hương:

Rằng đi cho biết Đồ Sơn,
Đi rồi mơí thấy rằng hơn đồ nhà,
Đồ nhà đả cũ lại già,
Làm sao so được với là Đồ Sơn


Nhưng khi thấy Đồ Sơn đẹp qúa , anh bạn ú ớ, ra lệnh không ai chiụ nghe thế là “công Giã Tràng” chỉ có nước ngó thôi. Anh bạn ca bản “ngậm ngùi” ra về lòng buồn vời vợi. Tối về gặp vợ, hai vợ chồng tâm sự chuyện đời. chuyện bất ngờ “trên không bảo dưới cứ nghe”. Anh nổi giận thở dài mà rằng “đúng là đồ khôn nhà mà dại chợ”. Bà vợ nghe thấy chồng thở dài hỏi: “có chuyện gì vậy anh?” anh bạn trả lời yếu ớt: “đâu có gì!”.

Những người theo chủ thuyết CS cho đó là thời kỳ “quá độ” . Trước khi tiến lên giai đoạn “trên bảo dưới không nghe” nó phải trải qua thời kỳ “ nghe lộn chỗ” , nghĩa là lúc cần nghe thì không nghe, lúc không cần thì cứ đòi nghe. cuối cùng anh tự yên uỉ chính mình

Rằng đi cho biết Đồ Sơn,
Đi rồi mơí thấy không hơn đồ nhà,
Đồ nhà tuy cũ tuy già,
Nhưng mà êm ái hơn là Đồ Sơn.


Một khi đã đạt tới tuổi ngũ tuần thì sức khoẻ cũng bắt đầu suy yếu và đi xuống. Xuống theo triền dốc. Vì vậy khi xuống dốc nếu thắng không tốt thì rất nguy hiểm. Cái tuổi này các cụ xếp váo tuổi “tri thiên mệnh”. Đã là tri thiên mệnh rồi mọi việc coi như “giao phó cho ông tạo”. công việc còn lại là hửơng thụ tới đâu hay tơí đó. Như vậy mọi việc tự nó trở thành “khẩn trương”. Danh từ VC này dài quá, nó không thể so sánh với chữ: “Gấp”. chữ gấp hay hơn và cụ thể hơn, vội vàng hơn. Không riêng ai mà mọi ngưòi đến tuổi tri thiên mệnh đều cảm thấy “gấp”. gấp với mọi sự việc và mọi sự việc dều gấp. Đi Đồ sơn cũng gấp, về nhà cũng gấp.

Bạn thấy thời gian một tuần nó đi nhanh lắm, thứ Hai thì đầu tuần, thứ Ba vẫn còn sớm chán, thứ Tư giữa tuần, thứ Năm gần cuối tuần, thứ Sáu sát cuối tuần và thứ Bảy cuối tuần, Chúa nhật hết tuần. Về tuổi cũng vậy. 40 tuổi còn trẻ, nhưng năm chục lên chiếu trên rồi. Sáu chục ra đường có người kính cụ. Cho nên ông bạn tôi tìm ra chân lý “qua 50 là gấp lắm”.

Nhưng Gấp thường đi đôi với gáp nên phải cẩn thận. Ngày xưa đề phòng chuyện “gáp” các ông tìm đến nào là “rượu Minh Mạng”. rượu Cắc Kè, rượu rắn, Rượu Hải Mã..Hay ăn các món mỹ vị như: “gà ác tiềm thuốc bắc, ngầu phín hầm thuốc bắc v.v..nói chung tìm đến những loại “ông ăn, ông uống, bà khen”. Nhưng ngày nay khoa học tiến bộ. Chỉ cần một viên thôi, bà khen ngay, giải quyết được tất cả..

Theo nguồn chân lý của ông bạn tôi, tôi muốn tránh cái “gáp” trong cái “gấp” ấy. Nhân dịp sinh nhật cuả vợ tôi, tôi muốn có một chuyện đặc biệt khác thường “để nhớ, để thương”. Sau khi suy đi tính lại tôi mua ngay một vỉ Viagra, quyết tâm làm cho vợ tôi ngạc nhiên.

Tính tôi hay phòng xa, nên trưóc khi nhập tiệc tôi uống ngay một viên. sợ sau tiệc quên mất. Bưã tiệc mừng sinh nhật được tổ chức tại nhà. Khách mơì toàn là bạn bè quen biết. chính vì chổ quen biết mới chết tôi. tụi bạn kéo tơí không mang theo thức ăn , nhưng lại mang tơí bia và rượu mạnh. Lúc đầu còn cầm chừng, sau khi rượu vào, cơ thể xừng xừng, thế là “chén chú chén anh” thi nhau nạp. Hết bia bọn bạn mở rượu. Tôi vị trí chủ nhà, không thể từ chối, thế là “ai tớí đâu, tôi tơí đó” để rồi cuối cùng “anh nằm xuống sau một lần anh uống say” và tôi không biết gì. Khi thức dậy thì đầu óc tôi nhức như buá bổ, chân tay tôi rã rời như mổi nơi mỗi cái. Nhìn đồng hồ thì đã trưa. Vợ tôi thấy tôi tỉnh lại chạy vào phòng nhìn ái ngại: “hôm qua anh xỉn quá, tụi bạn kiêng anh vào phòng nằm như chết, làm em sợ quá”. Tôi dựt mình nhìn vợ: “uả hôm qua anh nằm phòng anh hả”. vợ tôi; “anh ngủ phòng em thì làm sao em chiụ nổi mùì rượu, cũng may mà anh không có ói đó”. Tôi chợt nhớ tới viên Viagra hết tác dụng . thờì gian ghi trong toa chỉ có 4 tiếng., thôi “lỡ làng rồi”. Tôi vừa buồn vừa tiếc. Tôi nhủ thầm “thôi đành hẹn lại tối mai”.

Ngày mai đến rất chậm. thời gian như ngừng trôi, tôi cứ xem đồng hồ, căn giờ uống thuốc. Tôi như con chiên ngoan đạo, đúng giờ cầu nguyện. tôi ngoan ngoãn như bịnh nhân tới giờ uống thuốc. Chả bõ những khi đau, bác sĩ cho thuốc không thèm uống, giả bộ quên. Tôi hồi hộp như ngày nào mới cưới vợ. Hứng chí tôi mở máy nghe Aí Vân ca bản “Trăng sáng vuờn chè” Tôi ca theo “đêm nay mới thật là đêm, ai đem trăng sáng chiếu trên vưòn chè”.

Trời muà đông tối sớm. tôi dùng cơm tối, mắt cứ liếc nhìn vợ mà lòng bồn chồn. tôi uống một viên Viagra sau bưã ăn với ly trà Thái Nguyên. Gói trà tôi mua vào muà Noen năm ngoái khi về VN. Tôi không nghiền trà nên gói trà nằm im lìm trong tủ. hôm nay tôi mới khui. Muì trà thơm làm tôi hit hà khoái trá.. Tôi mong thời gian qua mau.

Tối thứ Sáu TV có phim hay, sau bửa cơm chiều cả nhà thường ngồi ở phòng khách để coi. Tôi cũng ngồi nhưng nào có thấy gì, nghe gì. Vợ tôi và mấy đứa con tôi cười ầm lên mổi lần thấy pha hay. Tôi im lặng như trời trồng chỉ thấy trên màn ảnh lố nhố hình người, maù xanh maù đỏ, nhấp nháy. Ngồi một lúc tôi kêu nhức đầu nên đi vào phòng ngủ.

Trong phòng ngủ tôi co ro ôm gối mong cho hết phim, tôi mong chờ, tôi bơ vơ, lạc lỏng. tôi cần vòng tay của vợ, muì thơm của tóc. người tôi nóng ran vì thuốc tác dụng. Tôi chổi dậy mở tv, coi một chút rồi tắt đi. Không biết phim dài hay tại tôi dài mong đợi. Tiếng cười của lũ con vẩn cứ vang lên khó chịu. Tôi mở tủ lấy quần áo đi tắm.

Nuớc làm tôi mát, muì xà bông làm tôi dịu. tôi khoan khoái hít thật sâu cho hơi thờ xuống tận Đơn điền. Tắm xong tôi vào phòng nằm, tôi lim dim hai mắt cố dỗ giấc ngủ để giết thời gian. Phim dài bao lâu rồi cũng hết. Tôi nghe rõ từng bước chân, bước xa dần, bước tới gần. và cuối cùng là cánh cửa phòng mở, vợ tôi mở đèn thấy tôi nằm trên giuờng.

“anh làm gì mà lên giuờng sớm vậy” . “anh nhức đầu qúa. Nhưng em vào là hết ngay”. Tôi nhổm dậy ôm chặt lấy vợ. Vợ tôi “anh đừng có lù xù”. Ngay lúc đó điện thoại reo. Vợ tôi gỡ tay tôi và nhắc điện thoại. tôi thấy vợ tôi hỏi “mày đang ở đâu”… “tao ra liền..”

Vợ tôi đặt điện thoại xuống: “ vợ chồng con Hoa cãi nhau, nó tức qúa chạy tới đây đang đứng trước cưả. Em ra mở cửa …” thế là xong. Con nhò này phá hoaị kế hoạch của tôi. Tới lúc nào không tới, tới ngay lúc này. Con Hoa là em gái vợ tôi, mổi lần nó giận chồng là chạy đến tâm sự với chị, không vậy còn ở lại đây miết cho tới khi chồng nó lên xin lổi rồi đón về. Nhà tôi có 3 phòng, phòng lớn nhất 2 cô con gái chiếm cứ, phòng trung bình thì vợ tôi dành, còn giang sơn tôi khiêm nhường. thu hẹp đủ kê một cái

giường nhò và cái bàn computer. Nhìn vào phòng người ta có cảm tưởng phòng của một vị cao tăng đắc đaọ. Nó giản đơn tới mức không thể đơn giản hơn. Mỗi khi cô em gái vợ tôi giận chồng đến nhà tôi tá túc, cô ta nằm lì trong phòng vợ tôi, coi phòng của chúng tôi như phòng của cô ta. thế là tôi một lần nữa “con tàu phải xa bến đỗ”.Tôi đành “ngậm nguì khăn gói ra đi” khỏi phòng vợ, nhường chỗ cho cô em gái yêu qúy. Tôi vưà đi vưà lẩm bẩm “người gì mà cứ hay giận chồng”. thế là viên thuốc thứ hai mất toi.

Rồi “ngày qua đi..qua đi” tôi nghe nặng sầu, lòng như muối sát, tôi nhớ vô cùng ngày nào tan trường theo em lẽo đẽo. “em tan trường về, anh theo Ngọ về.. nghiêng, nghiêng tập vở…” con đường ngập lá me bay nay chỉ còn là kỷ niệm. Tôi ngồi nhìn mưa rơi mà lòng buồn man mát. Bây giờ tôi vẫn theo em nhưng theo để vận tải hàng hoá mỗi lần “Sale”. Ấy vậy đã 25 năm gánh vác giang san, 25 năm tình lận đận. Nhưng thật sự lại hay. mỗi lần ngồi nhớ lại ôi bao nhiêu kỷ niệm. Vợ tôi thấy tôi ngồi nhìn mưa rơi, nàng tiến lại gần ôm cổ tôi: “làm gi mà suy thư thế?”. Tôi trả lời: “anh đang nhớ về dĩ vãng”. Vợ tôi buông tay nhìn qua cửa, ngoàì kia mưa trở nên nặng hạt đan nhau như tấm lươí chống B40 dầy đặc. mắt nàng nhìn xa xăm. Tôi ôm lấy vợ: “anh nhớ em quá”. Vợ tôi biết ý: Để em đi tắm trước” Tôi tranh thủ uống viên Viagra thứ 3.

Trời mưa càng lúc càng mưa to, hai cô con gái của tôi được dì Hoa đón về nhà ăn bánh xèo. Thật là may mắn, “tháng Sáu trời trơì mưa” “ trời không mưa, anh cũng lại trời mưa”

Tôi cầu cho mưa phong kín không cho 2 cô con gái tôi về. tôi muốn hôm nay hai đưá tôi sẽ có thời gian thật tuyệt vời.

Nhà thơ Nguyên Sa khóai trời mưa mặc cho trường Văn Học lụt đến đầu gối vẫn cầu trời mưa, tội cho đám học trò chúng tôi ướt như chuột. Nhạc sỉ Hoàng Thanh Tâm hùa theo đem thơ Nguyên Sa phổ nhạc. Thật tâm nhận xét “tình chỉ đẹp khi trời mưa đổ”. Ngày nào ngồi uống cà phê quán cóc đường Nguyễn Thông. cầu trời mưa cho ướt aó các em Gia Long về học. ú cha cha sao mà đẹp thế..

Trời mưa càng lúc càng lớn, tôi tắm vội, hình như tắm kỹ có một nửa rồi ôm đồ chạy vào phòng. Mưa đã lớn, gió còn lớn hơn, tiếng hú của dây điện nghe thật ma quái, và rùng rợn. tôi phóng lên giường ôm chặt lấy vợ. Một tiếng rầm đổ xập xuống phiá garage.

Tôi tung ngươì nhảy xuống xem chuyện gì. Vừa mở cửa garage, gió và nước ào ào tạt tới. Trước mắt tôi một thân cây tổ bố đổ gẫy đè bẹp cái mui xe. Nhìn lên mái nhà. một khoảng mái bị lũng xập. Nuớc tràn vào khắp nơi. Đồ đạc bay tứ tung. mấy thùng xà bông giặt thấm nuớc lũng tràn ra ngoài gặp nước xùi bọt trắng xóa che phủ toàn diện nền nhà. Tôi chụp cái áo mưa mặc vào, nhảy xuống ôm mấy món đồ cần thiết đem lên nhà. Dàn máy may và vắt sổ của vợ tôi nhìn như nhửng con tàu lênh đênh trên biển xà bông. Bọt xà bông càng ngày càng nhiều dâng lên cao che lấp tất cả. Mấy lô quần áo chưa kịp may ướt sũng chìm trong lớp xà bông dầy đặc. Tôi lấy tấm nilong che chắn phần mái nhà xập cho nuớc khỏi tràn vào phòng ngủ. Một cơn gió lớn thổi tung tâm ni lông. Mưa theo gió tràn vào trần nhà. Nước mưa thấm trần chảy xuống khắp nơi.

Vợ tôi mang xong, chảo, nồi. thùng mủ ra hứng nuớc. tất cả những gì có thể chưá nuớc đểu được huy động để hứng nước. Nưóc chảy vào xong, nồi, thùng. chỗ chảy nhanh, chỗ nhỏ giợt tất cả hợp lại thành một dàn nhạc hoà tấu nghe não nề, ai oán…

Khi trời giảm mưa, cũng là lúc viên Viagra không còn tác dụng. Viagra đã theo mưa bão trôi đi theo dòng đời nghiệt ngã. Tôi nhìn vợ xắn quần trơ đùi hứng nước mà tội nghiệp. Tôi thương vợ bao nhiêu thì tiếc viên Viagra bấy nhiêu. Đúng là “cơm đến miệng mà không được ăn”. Có Gấp lắm cũng đành thua “ mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”

Vỉ Viagra chỉ còn lại một viên. Không biết viên này có số phận hẩm hiu như 3 viên trước không xin chờ vậy.

“Trời kia đã bắt làm người có thân

bắt phong trần, phải phong trần,
cho thanh cao mới được phần thanh cao”


Tuấn Linh

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

ĂnMiếngTrảMiếng

Mây-cao-Nguyên


Nếu bạn trải qua thời kỳ khó khăn và chán nản, đừng nên than trời, trách đất!
Nhân tình, thế thái luôn luôn là tội đồ: Phán đoán sai lầm, ác y’, hoặc có y’ định không tốt. Sự ích kỷ của con người, sự thờ ơ, lãnh đạm, sự bạo động, sự dại dột, ngu dốt,

nông cạn…là gốc rễ đem lại cho chúng ta khốn khổ và đau buồn. Trước khi mời bạn theo dõi bài biên khảo: “Ăn miếng, trả miếng”, tôi xin kể cho bạn nghe câu chuyện: “Chiếc quan tài con” có nội dung như sau:
Người ta sở dĩ ham mê say đắm vào thanh sắc, danh, lợi, hay liều lĩnh tàn nhẫn dám làm những việc gian ác, là thường chỉ biết có cái sống ở trước mặt, chớ không chịu nghĩ tới cái chết nó vốn như con ma, ai cũng sợ, cũng ghét thật, nhưng cái chết lại chính là ông thầy, chính là bài thuốc chữa khỏi được bao nhiêu cái thói hư tật xấu xa ở đời. Người ta mà để tâm nghĩ đến cái chết, thì tự khắc mất cả lòng tham, tan cả máu ghen, hóa hết cả sự mê muội mà thành ra biết thương người đời, thương đời người thì mọi sự hay, dở, phải, trái ở đời không còn gì bợn đến tâm, sống rất thư nhàn, sung sướng và nhẹ nhàng vậy. “Tại chùa Tô Châu có một nhà sư tên gọi Viên-thủ-Trung tu hành đắc đạo.
Nhà sư thường bày trên án thư, trước chỗ ngồi, một cái quan tài con bằng gỗ bạch đàn, dài độ ba tấc, có một cái nắp đậy, mở được. Khách đến chơi trông thấy, cười nói rằng:
-Người chế ra cái này dùng để làm gì?
Nhà sư nói:- Người ta sống tất có chết, mà chết thì vào ngay cái này. Ta thực lấy làm lạ, người đời ai ai cũng chỉ biết có phú quí, công danh, tài sắc, thị hiếu, lo buồn, vất vả suốt đời, chẳng biết đến cái chết là gì. Như ta đây mỗi khi có việc không được như y’, ta cầm lấy cái này mà ngắm xem, là tức khắc trong tâm ta được yên ổn mà muôn nghìn sự tư lự đều lâng lâng sạch như không. Cái quan tài con này đủ thay lời huấn, lời giới của bực nghiêm sư, bài minh treo bên chỗ ngồi vậy”.
Xin bạn cùng tôi, chúng ta cùng suy ngẫm những điều sau đây:
*Nhiều người đau khổ từ những sợ hãi không đâu sẽ tìm thấy nhẹ nhàng, khoan khoái nhờ tập được lòng can đảm, cái tánh cương quyết. Chính hai cái thái độ tinh thần này- Lòng can đảm và tánh cương quyết- sẽ xua đuổi mọi sợ hãi; mọi điều tuyệt vời sẽ đến với bạn. Niềm tin sắt đá, lòng can đảm và sự sợ hãi là kết quả do chính tư tưởng mà chúng ta suy nghĩ.
*Coi chừng về cái tâm ly’ chủ bại. Kinh nghiệm là kết tinh của đau khổ. Nếu trong quá khứ bạn đã không được thành công mỹ mãn có thể làm cho tinh thần của bạn bị lung lay, đôi khi bỏ cuộc, nếu bạn không chịu cố gắng thử lại một lần nữa, tinh thần chủ bại có thể làm cho tâm trí của bạn bất mãn, sợ hãi, lo âu. Vì vậy, khi bạn bị đời hạ đo ván, tự đứng thẳng dậy và xông xáo, cung tay đấm mạnh vào sự thách thức kế tiếp. Con người đừng thấy chướng ngại vật mà lảng tránh, phải tìm cách vượt qua, được như vậy mới trở nên một con người phi thường. Đừng bao giờ để cho sự thất bại có đủ thì giờ phát triển trong tâm thức của bạn.
*A. Harry Moore, một đứa trẻ nghèo khổ đã trở nên Thống Đốc của tiểu bang New Jersey trong ba nhiệm kỳ, là nhờ ở sự phấn đấu rất sớm. Ông thường chán nản và thưa với mẹ ông: “Mẹ ơi! Con nản quá. Con muốn làm một cái gì đó và thành công như người ta, nhưng con không có đủ bản lãnh. Ngoài ra con không có tiền và có uy tín”. Mẹ ông trả lời: “Con có nhiều thứ lắm chứ. Tất cả điều con cần phải có là Thượng Đế và Tài Tháo Vát”. Bạn nghĩ xem đó có phải là một công thức tuyệt vời hay không?: Thượng Đế và Tài Tháo Vát.
*Một triết gia Hoa Kỳ, ông Henry Thoreau, mỗi buổi sáng thức dậy ông vẫn nằm nán trên giường và tự nghĩ đến những điều tốt đẹp nhất như là: ông có một thân thể khỏe mạnh, cường tráng, một tinh thần minh mẫn, linh hoạt, công việc làm của ông thật thích thú, quan trọng, tương lai của ông thật rực rỡ, con người tin tưởng nơi ông. Bởi nhờ vậy, khi ông bước xuống giường, ông cảm thấy tinh thần lạc quan, yêu đời, một ngày trong cuộc sống của ông ngập tràn những điều tốt đẹp, con người đối với ông đầy những chân, thiện, mỹ, và gặp nhiều cơ hội may mắn. Bạn thử thực tập xem sao?.
*Khi ông vua xe hơi Henry Ford đã bảy mươi lăm tuổi được người ta phỏng vấn về sự bí mật gìn giữ sức khỏe và tâm trí bình thản, ông đã trả lời: “Có ba nguyên tắc: Không ăn quá nhiều, không lo lắng quá nhiều và khi tôi làm việc hết mình, tôi tin tưởng nó sẽ xảy ra một cách tốt đẹp nhất đúng như ước muốn của tôi”.
Tôi còn nhớ đại ca sĩ Caruso khi ông ta lên mười tuổi, ông ước ao sau này sẽ trở nên ca sĩ, nhưng vị giáo sư âm nhạc đầu tiên của ông đã làm cho ông nản lòng bằng câu nói: “Mày không thể nào hát được, mày không có giọng gì cả. Mỗi một lần mày cất tiếng hát, tao nghe như gió va vào máng xối”.
Nhưng bà mẹ của ông, một người đàn bà quê mùa, ôm và khen ngợi tài ca hát của ông. Bà đã đi chân đất để dành tiền trả cho những bài học nhạc ly’. Những lời khen ngợi và động viên tinh thần của người mẹ quê mùa đã thay đổi hẳn cuộc đời của đứa bé lên mười.
Tại sao chúng ta không khen ngợi thay vì bình phẩm?. Chính những sự khuyến khích, khen ngợi của chúng ta sẽ tạo cho những người đang có tham vọng một nguồn cảm hứng lớn lao để họ thực hiện hoài bão của mình. Không những trên lãnh vực ca nhạc, mà còn trên những lãnh vực khác nữa.
Ví dụ như: Một thanh niên ở tại Luân Đôn, anh ta ao ước sẽ trở nên một văn sĩ. Nhưng tất cả hình như đi ngược lại với y’ muốn của mình. Anh ta chưa bao giờ đi học quá bốn năm. Thân phụ của anh đã bị tống giam vào tù vì không trả nợ nổi nợ nần, và người thanh niên này đã từng trải qua những giây phút đói khát. Cuối cùng, anh nhận được một công việc dán nhãn chai trong một nhà kho hôi hám; ban đêm anh cùng với những người bạn trẻ khác ngủ trên căn gát tối. Anh ít tự tin vào tài viết lách của mình nên anh lén và gửi những bản thảo vào lúc nửa đêm để không ai nhìn thấy vì sợ bị chế nhạo. Hàng loạt bài viết bị từ chối không đăng. Cuối cùng một ngày vĩ đại đến với anh với một tác phẩm được chấp nhận đăng. Thật vậy, người ta không trả cho anh một đồng xu, cắc bạc nào hết, nhưng vị chủ nhiệm đã hết lòng ca ngợi và công nhận. Anh ta sung sướng đến cái độ đi lang thang khắp cả ngả đường với đôi dòng lệ lăn dài trên má.
Lời khen, sự thừa nhận mà anh ta đón nhận qua một cốt truyện được đăng, đã thay đổi hẳn sự nghiệp đời mình, vì nếu không có sự động viên tinh thần đó, thì suốt đời người thanh niên này đã chôn vùi trong nhà kho hôi hám. Tôi nghĩ trong số các bạn cũng đã từng nghe qua tiếng tăm lẫy lừng của nhà đại-văn-hào: Charles Dickens.
Cũng một thanh niên khác tại Luân Đôn làm thư ky’ cho một hãng sản xuất thực phẩm khô. Mỗi buổi sáng anh thức dậy vào lúc năm giờ, quét dọn nhà kho, và lao động hùng hục mười bốn tiếng một ngày. Anh đã vất vả và tuyệt vọng. Sau hai năm, anh không thể chịu đựng được nữa, vì vậy, vào một buổi sáng anh ta thức dậy, và, không chờ ăn điểm tâm, lội bộ mười lăm dặm đường để nói chuyện với thân mẫu của anh đang làm quản gia gần đó.
Anh đã điên cuồng, khóc lóc, năn nỉ bà mẹ. Anh đã thề sẽ quyên sinh nếu còn tiếp tục làm việc trong hãng đó. Sau đó anh viết một lá thư dài thật thương tâm cho người thầy cũ, cho biết anh ta đang nản chí và không còn muốn sống nữa. Người thầy cũ đã khen ngợi và quả quyết với anh ta là một người rất thông minh đáng được làm những công việc tốt đẹp hơn và ông đã cho người thanh niên đó về trường giảng dạy.
Lời khen tặng của người thầy cũ đã thay đổi tương lai của chàng thanh niên mới lớn và đã đem lại một sắc thái bất hủ trong lịch sử văn chương Anh quốc. Bởi vì, người thanh niên đó không ai khác hơn là nhà đại-văn-hào H.G. Wells đã kiếm hơn một triệu đô la qua ngòi bút và đã viết được bảy mươi bảy cuốn sách để lại cho hậu thế.
Và một ông giáo khác đã cảnh cáo cậu bé tên là Thomas A. Edison rằng nó quá ngu không thể nào theo ngành khoa học được! Sau này ông đã trở nên một nhà khoa học lẫy lừng, những phát minh của ông để lại cho nhân loại nào là: máy đánh chữ, điện thoại viễn liên, máy đánh tín hiệu, máy quay phim, bóng đèn điện, máy chụp quang tuyến X...v.v… Đừng bao giờ để cho bất cứ một người nào làm bạn nhủn chí, cướp đoạt những nguồn cảm hứng tuyệt vời trong đời bạn bằng những hành động và lời nói bất nhân của họ.
Chỉ có một cách để tránh sự chỉ trích: là đừng bao giờ làm bất cứ gì, đừng bao giờ ganh đua với bất cứ ai. Đừng bao giờ ngẩng đầu lên trước đám đông để cho sự ganh tỵ chú y’ và tấn công. Sự chỉ trích là một dấu hiệu chứng tỏ con người của bạn có uy lực.
Bây giờ tôi xin trở lại hầu chuyện cùng bạn. Tôi đã từng dẫn chứng một câu của một trong những nhân vật trong tác phẩm của nhà đại-văn-hào Nga, ông Dostoevski: “Yêu thương con người bạn phải bịt mũi và nhắm mắt lại, nhưng bạn PHẢI yêu thương họ. Trong sự sinh hoạt của cộng đồng nhân loại đầy cả hỷ, nộ, ái, ố, bi, lạc, dục. Bạn bước vào tiệm ăn, người bồi bàn nhìn bạn như một người đi ăn chùa, bưng đĩa thức ăn đặt hơi mạnh tay. Người bạn lâu ngày không gặp chưa kịp tay bắt, mặt mừng đã mở miệng ăn nói vô duyên làm cho bạn hậm hực hết cả hứng thú để tâm sự, chuyện trò….Nói một cách khác, con người cố tìm cách để trừng phạt những người đối xử bất-lịch-sự đối với họ. Bạn hãy nhớ, phương cách đối xử tử tế hay bất lịch sự, con người sẽ ăn miếng trả miếng. Hình như đó là một quy luật. Đây là những sự kiện rất là hiển nhiên; nhưng thật là phiền không một ai, ngay cả những người bẩm sinh mở miệng đã có người ghét, vẫn nghĩ họ đâu phải là người bất-lịch-sự!?
Nhiều năm về trước, một bà lão đi lang thang ngang qua cửa tiệm bách hóa Pttsburgh, hẳn nhiên là để tiêu khiền cho qua ngày. Bà đi hết quày hàng này đến quày hàng khác mà không một ai thèm chú y’ đến bà. Tất cả những người thư ky’ bán hàng đều xem bà như một người khách nhàn du. Họ nhìn đi chỗ khác khi bà đứng trước quày hàng của họ. Sự sao lãng đã làm mất đi cơ hội bằng vàng.
Cuối cùng bà đến quày hàng do người thư ky’ trẻ trông coi, anh ta cúi đầu chào hỏi một cách lễ phép và hỏi xem bà cần gì. Bà trả lời: “Không. Tôi chỉ coi chơi giết thì giờ, chờ cho mưa tạnh để về nhà”. Người bán hàng trẻ tuổi mỉm cười: “Dạ thưa bà không sao. Mời bà ngồi ghế”.
Sau khi mưa tạnh, người thư ky’ đỡ bà dậy, đưa bà ra đường và chào tạm biệt. Trước khi đi, bà xin người thư ky’ tấm danh thiếp.
Vài tháng sau người chủ tiệm nhận được một lá thư, yêu cầu gửi người thư ky’ trẻ tuổi kia sang Tô-Cách-Lan để nhận phiếu đặt hàng, trang hoàng nhà cửa. Người chủ tiệm viết thư trả lời ông ta rất lấy làm tiếc vì người thanh niên không còn làm việc ở bộ phận bán dụng cụ trong nhà. Tuy nhiên, ông ta giải thích rằng, ông ta sẽ gửi một người khác rất có kinh nghiệm để thay thế.
Bức thư được trả lời, không có ai có thể làm công việc này, ngoại trừ người thanh niên đặc biệt đó. Bức thư do ông Andrew Carnegie ky’ tên và “căn nhà” ông muốn trang hoàng, là lâu đài Skibo ở Tô-Cách-Lan. Bà già kia chính là mẹ của ông Carnegie. Chàng thanh niên được phái sang Tô-Cách-Lan. Anh ta nhận được một phiếu đặt hàng lên tới mấy trăm ngàn Mỹ kim cho những đồ đạt trang hoàng trong nhà, và cùng với tấm chi phiếu mua hàng là một chi phiếu cổ phần trong cửa tiệm. Người thanh niên đó về sau trở thành chủ nhân của một nửa lợi tức trong cửa tiệm.
Mưa ngoài kia vẫn rơi, tôi dõi mắt nhìn ra song cửa, cây lá đang bắt đầu đổi màu, mùa thu lại về. Tôi chợt nhớ đến những lời vàng ngọc của cổ nhân thật là thâm thúy: “Yêu người ta mà yêu vô ly’, thành ra làm hại người ta. Ghét người ta mà ghét vô ly’, thành ra làm hại cho thân mình” và “Người quân tử, ta nên thân, song không nên quá chiều mà phụ họa. Kẻ tiểu nhân, ta nên tránh, song không nên ruồng rẫy như hằn thù”.
Bạn cũng dư biết, những tình bạn tốt đẹp nhất đôi khi cũng có những sự hiểu lầm và đều trải qua những cuộc thử thách. Thật vậy, một trong những sự bí mật để giữ cho sự liên hệ được tốt đẹp là biết cách chấp nhận những cơn giông tố này. Bạn phải y’ thức rằng mỗi một sự liên hệ lâu dài sẽ có những lúc khó khăn, không thể một sớm, một chiều dứt bỏ tình bạn đã từ lâu mình cố công vun bồi. Sau đây tôi xin đề nghị với bạn một số y’ kiến:
-Tìm hiểu nguyên nhân: Bạn để y’ xem, có những người đã một thời đánh bạn rất tâm đầu ? hiệp, chỉ một sự hiểu lầm nhỏ nhặt, từ bạn đổi thành thù. Đi bêu rêu, nói xấu, gặp nhau ngoảnh mặt làm ngơ. Tôi rất đau buồn khi gặp phải cảnh này. Tại sao họ không để ra một giây phút nào đó để tìm hiểu nguyên nhân đưa đến xích mích?. Nếu bạn có một chiếc xe hơi bị trục trặc máy móc, bạn tự sửa hoặc đem đến cho thợ phải không? Đâu phải mỗi lần xe bị hư hỏng, bạn vứt nó đi để chạy mua một chiếc xe mới. Bạn phải biết dìm tự ái nông nổi của mình và phải biết khoan hồng, độ lượng đối với bạn bè, người thân hoặc vợ con cho những sự đầu tư về tinh thần khỏi bị phá sản. Dành một đôi phút trong ngày, ngồi tĩnh tâm nhìn lại và cố gắng tự phân tích tại sao đem đến sự hiểu lầm này. Trình độ giáo dục rất quan trọng đối với đời sống của con người. Khi giận hờn, ai cũng cho rằng mình đúng, mình phải, chứ không biết ăn năn, hối cải.
-Xin lỗi khi mình cảm thấy sai quấy: Khi xem phim “love story” do hai tài tử gạo cội Ali MacGraw và Ryan O’neal đóng, họ đã kết luận cuốn phim đó như thế này: “Tình yêu có nghĩa là không bao giờ phải nói bạn cảm thấy hối tiếc”. Điều này chỉ đúng trong phim ảnh chứ không đúng với sự thật ở ngoài đời. Chắc chắn vậy, một sự liên hệ tốt đẹp bạn không bao giờ cần phải biết xin lỗi, chính cái chổ không biết đến điều phải, quấy để mà xin lỗi nhau cho nên bạn thấy vô số những cặp vợ chồng đưa đến ly dị, những bạn bè một thời gắn bó, nay nhìn nhau gần như muốn ăn tươi, nuốt sống. Trong gia đình cũng như ngoài xã hội, những vấn đề xung đột có thể tránh né được bằng cách xử dụng bốn chữ: “ANH CÓ THỂ ĐÚNG”. Cố gắng tránh né những tranh luận nhỏ nhặt.
Tất cả chúng ta đều sai quấy-rất nhiều lần. Một điều khùng điên của nhân loại là cứ để cho niềm kiêu hãnh và tự ái vặt ngăn cản không cho chúng ta làm lành và hàn gắn lại mối dây tình cảm. Một lời tạ lỗi thật sự còn hơn là sự hiểu biết về lầm lỗi mình đã gây ra. Dĩ nhiên, bạn đã nói hoặc làm cái gì đó mới gây sứt mẻ, tổn thương đến bạn của mình, nếu bạn thực tâm muốn tiếp tục đánh bạn, xin bạn đừng ngại ngùng cố gắng hết mình để vuốt ve tự ái của họ bằng những hành động và lời xin lỗi chân thật tự đáy lòng mình. Nếu đối tượng vẫn ngoan cố, khi đó thì chịu thua thôi.
Đọc lịch sử Hoa Kỳ, vào năm 1755, giữa cuộc chạy đua giành ghế vào Hạ Viện tại tiểu bang Virginia, vị đại tá hai mươi ba tuổi có tên là George Washington nói điều gì đó có vẻ làm sỉ nhục một người nhỏ thó nóng tính tên là Payne, tên này tức giận đánh ông George một hèo té lăn cù. Lính hầu cận chạy đến đỡ ông dậy và định hành hung trả thù cho ông, nhưng ông cản họ và nói ông có thể tự giải quyết một mình được.
Ngày hôm sau ông viết một lá thư cho tên Payne yêu cầu được gặp mặt tại một tửu quán. Khi tên Payne đến, ai cũng tưởng ông muốn hắn ta xin lỗi và thách đấu hắn đấu kiếm. Thay vì, ông George Washington đã thật tình xin lỗi về những lời sỉ nhục của chính ông đã gây ra cớ sự như vậy, và ông chìa tay cho tên Payne bắt để giải hòa.
Bạn thấy không, người biết ăn năn, hối lỗi đâu phải là những kẻ yếu đuối?. Phải mạnh lắm mới nhận rằng mình sai quấy. Tình bạn cũng như tiền bạc, rất dễ kiếm nhưng khó giữ. Bởi vì những sự liên hệ giữa con người và con người là những điều khó khăn nhất mà chúng ta đã cố gắng kiếm tìm trong cuộc sống này, dĩ nhiên “nhân vô thập toàn”, tất cả chúng ta đều có những lỗi lầm khác nhau, không nhiều thì ít. Và khi chúng ta phạm lỗi, chúng ta có thể tự mình tránh những khốn khổ mà con người đem đến cho nhau để rồi trong những lần gặp gỡ kế tiếp khỏi phải có những giây phút khó chịu, bực mình.
-Bệnh mặt sưng, mày sỉa: Không cần biết bạn giàu sang, phú quí, học cao hiểu rộng đến mức độ nào, trước kia bạn bước ra khỏi ngõ được kẻ hô, người ủng đã một thời hét ra lửa thì cũng mặc. Ngày nay trên bước đường tỵ nạn, nếu bạn chịu hòa mình cùng với họ để đánh bạn, vui chơi để khuây khỏa nỗi buồn nơi xứ người thì bạn phải biết hòa mình và quí trọng nhau trên phương diện tình người. Nếu bạn hành xử được như vậy, thì giá trị con người của bạn sẽ được mọi người quí trọng. Tất cả chúng ta đều là những du khách ngắn hạn trên cái hành tinh này, trước sau gì cũng làm phân cho cây cỏ mà thôi. Bạn để y’ xem, trong nhóm bạn làm gì cũng có một, hai người có bệnh chê bai, chỉ trích người này, người nọ. Dĩ nhiên sống trên đời làm gì mình được mọi người quí mến? Kể cả thánh nhân. Có một sự khác biệt lớn lao giữa thánh nhân và kẻ hay chỉ trích ở chỗ: Kẻ chỉ trích chỉ biết nhìn vào lỗi lầm của người khác, và thánh nhân chỉ biết nhìn vào tội lỗi của mình để được thánh thiện. Trong các buổi ăn nhậu, hoặc trong các cuộc điện đàm giữa các bà thân nhau…làm gì không chê người này, không khen người nọ? Nếu không có nói những chuyện tầm phào của thế nhân thì làm sao có hứng để nói chuyện?. Đến đây tôi cũng xin nhắc khéo bạn một điều: “Chơi thân với ai thì cũng nên cẩn thận những lúc hết còn thân”. Nếu bí đề tài để nói chuyện cứ việc đem Mây-cao-Nguyên ra mổ xẻ: khen cũng được, mà chê cũng xong. Nếu bạn cảm thấy đau khổ trong việc chỉ trích bạn bè, bạn cứ an nhiên tự tại chỉ trích đi. Nhưng bạn cảm thấy khoái cảm cho thỏa lòng ganh ghét của mình, tôi khuyên bạn nên dừng lại. Bởi vì, người bị chỉ trích họ chẳng bị hề hấn gì, mà chính tư cách của bạn bị bạn bè coi thường, xa lánh. Và cũng có vài người dùng những tên lẻo mép, chuyên môn đi học hớt để xem bạn bè nói gì về mình. Tôi khuyên nếu bạn mắc phải tâm bệnh này thì đừng nên làm như vậy: “Có cứng mới đứng đầu gió”. Cứ vui vẻ, chân tình, cởi mở, thân thiện, tay bắt mặt mừng với tất cả mọi người, bạn sẽ được mọi người quí mến. Bạn còn lạ gì cái quai hàm của con người là một loại “bắp thịt” được xử dụng nhiều nhất trong toàn thân thể của mình.
Tại sao chúng ta không học hỏi kỹ thuật của kẻ chiến thắng vĩ đại nhất trong nghệ thuật đánh bạn mà trên cõi đời này ai cũng biết đến? Nó là ai vậy? Ngày mai bạn đi trên đường có thể gặp được nó. Khi bạn cách xa nó chừng vài thước, nó bắt đầu ve vẫy đuôi. Nếu bạn dừng lại vuốt ve, nó gần như lột xác nhảy chồm lên bạn để chứng tỏ nó ưa thích bạn chừng nào. Và bạn cũng nên hiểu cho sự biểu lộ cảm tình nồng hậu của nó, không có một chủ đích nào hết: nó không muốn bán cho bạn một bất-động-sản, một món bảo hiểm, và cũng không muốn bạn kết hôn với nó.
Bạn có bao giờ dành một phút nào đó để suy nghĩ con chó là một gia súc không cần phải làm việc để kiếm sống? Con gà mái thì còn đẻ trứng; con bò cái cho sữa; và con chim hoàng oanh ca hót líu lo để chúng ta vui tai. Nhưng con chó mưu sinh bằng cách không cho bạn gì cả ngoại trừ TÌNH YÊU THƯƠNG. Học giả Dale Carnegie kể lại một câu chuyện dễ thương như sau: “Khi tôi lên năm, cha tôi mua cho tôi một con chó nhỏ lông vàng giá năm mươi xu. Nó là ánh sáng và niềm vui của thuở ấu thời. Mỗi buổi chiều vào khoảng 4 giờ 30, nó ngồi trước sân với đôi mắt xinh đẹp nhìn đăm đăm trên con đường nhỏ, và ngay khi nó nghe thấy tiếng nói và đu đưa cái cặp sách xuyên qua lùm cây, nó phóng nhanh như tên bắn, chạy hụt cả hơi lên khu đồi để đón tôi với tiếng sủa vang sung sướng gần như kích ngất.
Con chó Tippy là người bạn liên tục trong năm năm trời. Rồi một đêm bi thảm-tôi không bao giờ quên được. Nó bị sấm sét đánh chết cách chỗ tôi nằm chỉ vài ba thước. Cái chết của chó Tippy là một tấm thảm kịch trong tuổi ấu thời của tôi.
Tippy chưa bao giờ đọc một cuốn sách về tâm-ly’-học. Nó không cần phải đọc. Nó đã có sẵn thiên tư tuyệt vời trong nghệ thuật đánh bạn bằng cách quan tâm đến người khác hơn là làm cho người khác quan tâm đến mình.
Từ câu chuyện này, chúng ta có thể rút ra một triết ly’ để sống ở đời, bạn có thể làm bạn với rất nhiều người chỉ cần tốn hai tháng bằng cách quan tâm đến họ, hơn là bạn phải tốn cả năm này đến năm khác để làm cho họ quan tâm đến bạn.
Tuy nhiên bạn và tôi đều biết có người suốt cuộc đời của họ muốn ai cũng tùng phục mình, muốn ai cũng làm “đệ tử” của mình. Dĩ nhiên, điều này không được hữu hiệu. Con người đâu có quan tâm đến bạn- đến tôi. Sáng, chiều, tối họ chỉ quan tâm đến họ mà thôi.
Bước tiên khởi để sống hòa thuận với họ là cố tạo cho mình một thói quen nhìn vào những bản tính tốt của họ. Nếu bạn nhìn kỹ, bạn sẽ tìm thấy. Có những người khi lớn lên thù ghét xã hội, thù ghét nhân loại họ chỉ nhìn thấy ở con người những bản chất xấu xa, dối trá, nhỏ mọn, bần tiện, tham lam, lừa đảo, dua nịnh..v.v…bởi vì những người này lớn lên trong một bối cảnh gia đình bị ngược đãi, bị khống chế, bị bỏ bê, bị hất hủi..v..v..khi lớn lên bước ra ngưỡng cửa cuộc đời họ bị tự ti mặc cảm đủ thứ chuyện.
Chúng ta phải cố gắng, ít nhất, phải thông cảm với hạng người này. Trừng phạt họ thì cũng vô ích vì họ không y’ thức tại sao và do đâu họ hành động như vậy. Nếu chúng ta không thể tự mình giúp đỡ họ, thì nên tránh né họ là phương cách tốt nhất.
Ưa thích hay ghét bỏ con người là một vấn đề có tính cách thói quen của mỗi cá nhân hay triết ly’ sống cá thể, không phải chung cho tất cả mọi người.
Bạn quí mến,
Chúng ta hãy cùng nhau để trí tưởng tượng cái tiến trình văn minh của nhân loại từ cái thuở Thượng Đế dựng con người còn ăn lông, ở lỗ cho đến thời đại điện toán ở thế kỷ 21 này. Từ những bàn tay lông lá vốc từng miếng thịt thú rừng đưa vào mồm nhai ngấu nghiến máu chảy ròng ròng vì chưa khám phá ra lửa để nấu chín, đến những dĩa vàng, mâm bạc, ly tách bằng thủy tinh trong vắt, trên bàn khăn trải trắng bóc, hoa chưn bày sặc sỡ, thật là kiểu cách. Tay nào cầm dao, tay nào cầm nĩa được dạy dỗ cặn kẽ. Tư thế ngồi ngay ngắn lịch sự, nhai phải từ tốn không được ngốn ngáo, há miệng và nhai quá lớn….Nghệ thuật biểu lộ sự quan tâm đến những người khác trở nên lễ nghi ngay chính trên bàn ăn.
Cuộc chạy đua của nhân loại đã tìm ra những phương cách thực tế và hữu dụng cho mỗi cá nhân để điều chỉnh thái độ cho phù hợp với đà tiến của con người.
Trên bình diện tình thần và đạo đức, mỗi một người trong chúng ta cũng được dạy dỗ phải trau dồi thói quen độ lượng và yêu thương đồng loại. Ví dụ như hai câu ca dao: “Bầu ơi, thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.
Tôi có một người bạn, anh ta được bổ nhiệm làm quản ly’ một bộ phận của một công ty lớn, trong số đó có đủ các sắc dân. Một người tỵ nạn với vốn liếng tiếng Anh thông thường như anh, dĩ nhiên có sự va chạm và ganh ghét của một số công nhân. Nhưng thật là lạ lùng anh này đã hòa đồng với tất cả mọi người. Mỗi cuộc họp anh đều được chủ khen thưởng. Vì chỗ tình thân, tôi đã hỏi anh cái bí quyết đó, anh đã cười trả lời: Cái tâm y’ của tôi đối với mọi người luôn luôn tốt. Tôi biết nếu có một người nào đó không thích hay ghét tôi bởi vì họ thật sự không biết hay không hiểu những chủ tâm của tôi mà thôi. Câu nhật tụng của tôi là phải tìm hiểu con người. Xa hơn thế, bất cứ khi nào tôi nghe người nào đó chỉ trích hoặc có ác cảm với tôi, tôi tìm đủ mọi cách để giúp đỡ. Khi tôi đã tỏ những thiện y’ và làm những hành động tốt đẹp, hữu ích cho họ thì không ly’ do gì họ nuôi ác cảm với tôi mãi mãi. Bất cứ sắc dân nào cũng có kẻ tốt, người xấu. Chúng ta phải tìm hiểu con người.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Khổng Tử thăm xóm Bưởi

TCSung

Khổng Tử cùng Nhan Hồi chu du thiên hạ, ghé qua xóm Bưởi, nơi người nước Lỗ chạy lọan đến cư ngụ rất đông. Mỗi lần gặp người nước Lỗ, Khổng Tử đều xuống xe, ngả mũ chào.

Tử Lộ hỏi: 'Người nước Lỗ có gì, khiến Thầy phải kính nể đến thế?'
Nhan Hồi đáp: 'Người nước Lỗ bỏ nước chạy đến đây mà vẫn đánh giết nhau, không ai chịu ai, là người DŨNG. Ai cũng cho mình là Vua thiên hạ, là người có CHÍ lớn. Cứ ba người là có ba đảng, ba nhóm: người nước Lỗ quyết không bỏ cái tập quán bộ lạc thời tiền sử của tổ tiên, là người TRUNG. Người nước Lỗ có CHÍ, TRUNG, DŨNG, bảo thầy không kính nể sao được?'
Khổng Tử khen: 'Học trò ta nhiều, nhưng đi guốc trong bụng ta, chỉ có Nhan Hồị'
Nói rồi lên xe, cười tồ tồ mà đi.

Lời bàn Kim Thánh Thán
Ta bình sinh đọc sách thánh hiền nhiều, không thấy sách nào chép chuyện này. Lại có chỗ không ổn. Khổng Phu Tử là bậc đại hiền tài, ăn nói chững chạc, có đâu lại bảo học trò 'đi guốc trong bụng' mình. Phu Tử chứ có phải Phu Gạo đâu mà 'cười tồ tồ'?

Ta e ông Khổng Tử này là Khổng Tử giả. Người ta bịa chuyện để khuyên người nước Lỗ bỏ cái thói kèn cựa lẫn nhau. Người nước Lỗ bỏ nước chạy, đến tá túc xứ người vẫn giữ thói đâp phá nhau. Ai kém mình thì khinh, ai hơn mình thì phá. Ngồi khoanh tay không làm gì, ai làm thì chê bai.

Khổng Tử (thiệt) nói 'Người nước Sở mất cung, người nước Sở lượm được cung, có đi đâu mà thiệt'. Người nước Lỗ mất cung không tiếc, chì sợ người Lỗ khác lượm được. Người Lỗ thấy người ngoại quốc thành công thì xút xoa khâm phục, thấy người đồng hương thành công thì khổ sở, hậm hực. Người Lỗ có tài chịu đói khổ, đến độ coi bần hàn là đức hạnh, với điều kiện là không có người Lỗ khá giả hơn mình.

Nước Lỗ có người vì đại cuộc lao tù. Người nước khác ắt coi là anh hùng, người nước Lỗ lại nghi là đối lập cuội. Nằm tù một phần tư, một phần ba đời người để làm 'khổ nhục kế': ai nghe cũng cho là quái gở, người nước Lỗ lại cho là rất thuận taị.

Ta đi mòn gót giày, chưa thấy có dân nào kỳ dị như vậy, đúng là Nam Hải Dị Nhân.
Dân trí như vậy mà nước khá được, cổ kim chưa từng có.

Cái anh nào bịa chuyện trên, chắc là muốn răn đời. Nhưng người nước Lỗ thuộc loài cà cuống, chết đến đít còn cay. Khổng Tử (thiệt) nói gặp người đáng nói mà không nói là lỡ cơ hộị, gặp người không đáng nói mà nói là phí lời. Người Lỗ còn thở thì còn phá nhau, nói cũng như nước đổ đầu vịt, ích gì ?

Lời bàn của kẻ hậu sinh
Ðọc sách cổ, không gì thú hơn lời bàn của Kim Thánh Thán. Văn Thánh Thán sắc như dao, viết như đâm vào ruột gan người ta. Ðọc Thánh Thán, ta hiểu người xưa, việc xưa hơn cả Sử Ký Tư Mã Thiên.
Có điều Kim Ðại Nhân là người uyên bác, lẽ nào không biết rõ rằng người nước Lỗ là con rồng cháu tiên, làm gì có chuyện thối thân của loài cà cuống.

Thì ra cái ông Thánh Thán này cũng là Thánh Thán giả.

Khổng Tử giả, Thánh Thán giả, hàng hóa giả, người giả, cả đến chữ nghĩa thánh hiền cũng giả. Ðúng là thời đại loạn.

Nhưng đó chỉ là chuyện người nước Lỗ, ta chỉ đọc chơi rồi bỏ, liên hệ gì mà bận tâm./.

Post Reply