Page 1 of 1

Khác biệt giữa Hà nội-Saigon

Posted: Sat Dec 25, 2004 1:19 am
by Nguyễn_Sydney
Cà phê : cà phê Saigon với những hàng ghế xếp thẳng hàng như trên xe buýt .Cà phê Ha nội chen chúc với hai đôi tình nhân cùng xếp chung một bàn .

Ăn trưa : Cơm trưa Saìgon với tô canh khổ qua có tính tiền .Cơm trưa Hà nội với bát nước rau dầm sấu không lấy tiền .

Cảm ơn : Ở saìgon, bạn dửng dưng khi thấy cô receptionist cúi gập người chào bạn . Ở Hà nội, bạn phải xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó nói lời cám ơn .

Cơn mưa : Mưa Saigon giống tính tình các Cô gái Saigon-đỏng đảnh nhưng mau quên .OMưa Hà nội giống tính tình các cô gái ha 2nội-âm ỉ và dai dẳng .

Ăn mặc : Ở Saigon ,bạn có thể mặc quần short, dép lê đàng hoàng vào rạp Rẽ.Ở Ha 2nội, bạn có thể thấy các bác xe ôm mặc đồ Vét đứng chờ khách bên Bờ Hồ .

Xe máy : Ở Saìgon, họ gọi chiếc xe gắn máy của bạn là xe hai bánh,Ở Ha 2nội, họ coi chiếc xe máy của bạn là xe có động cơ .

Gọi mobile phone ngoai đường ": Ở Saìgon, bạn hãy dừng xe dắt lên vỉa hè- quay ngược đầu xe- nếu không muốn chiếc điện thoại của bạn cuốn theo chiều gió ..Ở Hà nội, bạn hảy đứng giữa ngã tư tấp nấp người qua lại để nói chuyện điện thoại-cho cả thế giới biết bạn là ai .

Phở : Hà nội khó mà thiếu mì chính (bột ngọt ).Saigon :Làm sao ăn phở được khi mà không có rau, giá và tương đỏ -tương đen .

Nhà sách : Hà nội :Nhân viên hách dịch . sàigon:Vào đọc chùa thoải mái nhất là các em bé , có thể ngồi tại chỗ đọc mà không bị sợ đuổi .

Sinh viên và cave : Saigon : Nhiều em SV trông như Cave .Hanội : nhiều em cave trông như Sinh viên .

Chào hỏi :khi bạn chào mẹ người yêu trước khi ra về ....
ở hà nội :Cháu chào cô cháu về ! - ở saigon :con thưa dì con dìa !

Chợ tình : Chợ tình Saigon : Anh hai có xài em không . Chợ tình Ha nội :Chơi gái không đại ca .

Tỏ tình : khi bạn nói với một cô gái :Thế em có yêu anh không ?...
con gái ha nội :Nếu nói không thì sao ?
con gái saigon :tại sao lại không nhỉ ?

Cave :
khi bạn vừathanh toán xong tiền cho cave ....
cave Hanội :Cho em xin thêm 10 ngàn để đi xe ôm về ?
cave Saigon:Em bớt cho anh 10 ngàn, lần sau nhớ kiu em nha "

Posted: Sat Dec 25, 2004 2:16 am
by GMVTVN
:cry:

Posted: Sat Dec 25, 2004 2:24 am
by phu_de
GMVTVN wrote:Tôi chưa tùng đi Hà Nội và cũng chưa từng biết giới cave nhưng thà rằng chạy theo SV giống như cave hơn là bị lầm theo tán cave nhưng cứ tưởng là sinh viên. Lại càng thích hơn nếu đưa hết cho cave Saigon vẫn còn 10 ngàn đi xe ôm :lol:
Quá hay, quá hay, khâm phục khâm phục, đúng là sư phụ, khi nào tui về phải vấn kế anh mới được, hehehe
Đang chờ anh post trong kia, hihi
PD

CHÈ VIỆT NAM

Posted: Sat Jan 22, 2005 11:22 am
by CNN
Chè Việt Nam, chè Hà Nội

Chè cũng là một món chay truyền thống, ngọt ngào hương vị quê hương. Chưa biết chè có từ đời nào và bắt nguồn từ đâu, nhưng từ lâu đã thấm đậm vào ca dao xứ Ðoài:

Mặc dù cha đánh mẹ đe
Em đây chẳng bỏ bát chè Ðông Viên


Chẳng rõ chè có sinh từ thời bánh chưng, bánh dầy hay không nhưng rõ ràng là chè cùng tuổi với xôi - xôi chè, kết thành một mơ ước ấm no ngon ngọt của chính những con người làm ra nó:

Ðừng có chết mất thì thôi
Sống thì có lúc no xôi, chán chè.


Thế là từ đấy, chè đã nên một thức ăn quê - "hương gây mùi nhớ"

Chàng đi nhớ cháo làng Ghề
Nhớ cơm phố Mía, nhớ chè Ðông Viên


và đậm đà tình thương:

Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh hoa lý, nấu chè hạt sen


Xưa kia, trong những ngày hội hè, đình đám, ở đình làng, xôi chè lên mâm trước xôi thịt. Hai mâm thước, đồng chạm, chân quỳ: một mâm xôi nếp cái hoa vàng, một mâm chè con ong nấu thành mật ngọt, sau khi cúng tế được đem ra cắt lát chia phần cho từng giáp. Còn ở chùa, những ngày lễ tết, đàn chay, ngoài hương hoa, oản, chuối thường có một mâm chè kho mầu vàng đậm, khum khum như một quả đồi nhỏ. Lễ xong, mâm chè được cắt ra phát lộc cùng oản, chuối. Ở các gia đình trong "Lễ cơm mới" sau vụ mùa cũng nấu chè con ong, trong "Tết cả" thường nấu chè kho và trong những ngày đông tháng giá thường nấu chè bà cốt.

Từ mật mía đến đường bánh, đường phèn (như đường phèn Tràng Chủ có tiếng một thời) đến đường kính, chè đã phát triển nhiều loại, nhiều cách chế biến với nhiều nguyên liệu khác nhau mà tên gọi thường ghép với nguyên liệu. Chè đậu xanh, chè đậu đãi, chè đậu đen, chè đậu trắng, chè đậu ván Huế, chè bắp, chè mầm, chè ngô non..., chè khoai môn, chè môn sáp vàng, chè khoai lang, chè khoai tây..., chè sắn lắt, chè sắn bột, chè bột sắn, chè chân trâu, chè củ từ, chè củ súng, chè củ mài, chè mã thầy, chè vừng, chè kê, chè lạc, chè đậu phụng, chè hạt sen (liên tử canh), chè chuối, chè thạch lựu, chè long nhãn...

Ngoài ra còn có tên tượng hình cho chè hoa cau, chè con ong, chè bà cốt..., hoặc chế biến hỗn hợp đủ thứ thành phần mặn ngọt như chè thưng, chè lạp xường, chè thịt quay, chè trứng đỏ, chè trứng trắng và đủ thứ hoa trái bốn mùa như chè thập cẩm.

Cho đến nay ở Hà Nội người ta đã lên danh sách được 51 loại chè. Ngoài phố phương có chè gánh rong, ngồi rong khắp nẻo Hàng Buồm, Hàng Bạc, Quảng Lạc - Sầm Công, Cửa Nam, Sinh Từ... Người bán chè toàn là đàn bà, con gái, chưa thấy đàn ông bán chè (trừ mấy chú bán "lục tào xá", "chí mà phù") "Ai chè đậu xanh, chè đậu đen, ra ... mua...!". Tiếng rao lảnh lót, kéo dài lướt qua như luồng gió và ngọt như chè đường! Chè cứ đi rong, chẳng cần biển hàng, tên hiệu nhưng ai cũng biết, cũng đợi chờ tìm đến đúng giờ, đúng chỗ. Nhưng năm 60,70 ở phố Tạ Hiện, Lương Ngọc Quyến vẫn còn một số hiệu bán chè vừng đen. Ðến những năm 80, 90 lại xuất hiện những hiệu chè vàng, chè đậu ở ngã tư Lương Văn Can, Hàng Bồ, hàng xôi vò - chè đường ở Lò Ðúc, ở Khâm Thiên, ở phố Huế, v.v... Chỉ có chè thập cẩm ở phố Hàng Bạc là có biển: chè Sài Gòn. Còn chè thập cẩm ở 74 Trần Hưng Ðạo thì có biển hiệu liên danh "Chè thập cẩm - cà phê" bán suốt 4 mùa làm cho "chè bà Ngọc" cạnh đó thu mình lại trên vỉa hè trong mùa hè oi ả.

Ðã là chè thì ở đâu cũng giống nhau. Tuy nhiên, chè Hà Nội có cái khác về cách chọn nguyên liệu, cách nấu chè và cách thưởng thức. Như chè đỗ xanh người ta không dùng đỗ mờ mà kén đỗ hạt tiêu, vàng, thơm hơn và xay sao cho vỡ đôi đều hạt không gãy nát. Chè đỗ đen thì kén loại xanh lòng, cắn giòn, đều hạt, không có hạt rám. Vừng thì chọn vừng nếp, hạt mẩy đều để chè thơm và béo, v.v... Lại còn các loại hương liệu đặc trưng phù hợp, như chè kho thì có tò ho - thảo quả; chè bà cốt có gừng; các loaị chè khác thì có hoa nhài, hoa bưởi hoặc dầu chuối, vani. Rồi cách rắc đậu, rắc cốm, thả hạt sen khi nấu chè sen, chè cốm, chè hoa cau cũng rất khéo, không chìm, không vón, vừa sánh vừa trong. Chè Hà Nội đã được cải tiến quy trình chế biến, tinh lọc nguyên liệu và hương liệu thanh khiết hào hoa, thơm hương đẹp sắc, từ nội dung chất lượng đến hình thức trình bày. Bát ăn chè là sứ Giang Tây, thanh mỏng, nhỏ nhẹ, miệng bít vàng, lòng men trắng bóng, múc chè đường, chè sen nhìn trong suốt đến tận đáy.

Chè Hà Nội là như thế! Tuy nhiên nếu chọn loại chè đặc sản Hà Nội thì có lẽ chỉ có chè cốm.

Trong "Miếng ngon Hà Nội", Vũ Bằng viết: "Sau một bữa cỗ béo quá, ăn một bát chè cốm trong muốt ta thấy nhẹ nhõm ngay vì hết ngấy, cuống họng cứ lừ đi nhưng cái lừ đây không phải chỉ ngọt lừ mà lại còn cái thơm lừ của cốm trương hạt, ăn đã trong họng mà lại không quánh lấy răng như bánh cốm".


Tác giả: Khuyết danh
Source: Đặc Trưng

Posted: Wed Mar 16, 2005 2:30 am
by khieulong
Ăn và đọc Thỉnh thoảng chúng ta gặp ở tiệm một vài người Mỹ ngồi ăn phở. Có người cầm đũa khá thạo. Trong số một đôi triệu người Mỹ luân phiên đến xứ này rồi ra đi, những kẻ tò mò tiến xa vào nếp sống Việt Nam tới mức ấy chắc không lấy gì làm nhiều. Các kẻ ấy trở về nước, giữa dăm ba câu chuyện ly kỳ về đất Việt xa xôi kể với bạn bè, có thể múa biểu diễn cặp đũa, có thể nói đến cái mùi lạ lùng của rau quế vừa ăn vừa ngắt từng lá bỏ vào tô phở, đến cái vị ngộ nghĩnh của những tép củ hành nhúng trong nước dùng vớt ra với chỏm lá xanh xanh v.v... Như thế là vượt xa quá những khuôn sáo, những chỗ gặp gỡ thông thường của các du khách rồi. Du khách Tây phương nói về món ăn Việt, bất quá gặp nhau ở món nước mắm, rồi thôi.

Vậy những người Mỹ hiếm hoi nọ đáng khen, về sự hiểu biết rộng rãi.

Tuy nhiên từ chỗ biết ăn phở cho đến cái trình độ am hiểu các đặc điểm, các sở trường sở đoản của từng thứ phở bò, phở gà, phở nước, phở áp chảo, phở tái, phở chín, phở nạm, phở gầu, phở sụn v.v..., còn nhiều cách biệt. Rồi từ chỗ thạo phở cho đến cái tâm tình về phở như của Nguyễn Tuân, lại còn một tầng cách biệt nữa. “Nắm vững” một món ăn — chỉ một món thôi — đâu phải dễ.

Thật vậy, không cứ là khách ngoại quốc, ngay đến người Việt Nam không phải ai cũng bưng tô phở mà ăn như nhau, với những cảm tưởng giống nhau. Một nông dân ở thôn ấp nào đó ngoài Phú Yên, Quảng Ngãi v.v... ăn phở Bắc cũng như ăn hủ tiếu Mỹ Tho, cũng như ăn mì Tàu, nghĩa là hững hờ. Còn người nông dân ở Cà Mau, Rạch Giá v.v... chẳng hạn có thể có sự thiên vị bất lợi cho phở. Người Việt miền Nam chỉ hoan hỉ chấp nhận món phở sau một vài canh cải, tức sau khi đã trút vào tô phở được non nửa dĩa giá sống.

Phở là món ăn phổ biến hết sức rộng rãi từ Bắc chí Nam mà còn thế, huống hồ là những món ăn khác. Mỗi món ăn thường chỉ được sủng ái ở một vùng, hoặc rộng hoặc hẹp. Xơi nó thì ai cũng xơi được, nhưng gọi là tri kỷ, biết đến tận cùng cái ngon của nó, chỉ có thể là người một địa phương. Chả cá, bún thang, là những thứ quí của đất Bắc; từ ngày vào Nam dường như nó lạc lõng, ít ai thấu triệt ý vị của nó. Bún bò, bánh lá, ngày nay lưu lạc khắp nơi; nhưng tôi tưởng tượng ở một góc chợ Trương Minh Giảng, ở một hẻm Bàn Cờ, thỉnh thoảng miếng bánh lá mỏng mà gặp lại một cái lưỡi Huế có phảng phất mùi thuốc Cẩm Lệ nó sẽ mừng rơn. Bỏ một miếng bánh, húp một muỗng bún vào mồm, có phải ai cũng thưởng thức như ai đâu. Giữa món ăn với người ăn phải có sự tương đắc. Khi đã tương đắc, đã cảm thông sâu xa với nhau, người Nam ăn ba khía, ô môi, người Huế ăn cơm hến, người Bình Định ăn mắm cua chua chan bún thấy thấm thía, nồng nàn. Cái mùi vị nồng nàn ấy, kẻ khác không chịu được.

Mỗi món ăn chỉ có một số người thực sự hiểu nó, số người ấy là của một địa phương. Vậy món ăn có liên hệ đến khí hậu địa phương chăng?

Ở xứ lạnh dễ thấy cái ngon trong trong chất mỡ béo, ở xứ nóng dễ rành về các thứ rau, canh. Người Huế ăn cay, một phần hình như cũng vì khí trời ẩm ướt của những mùa mưa dai dẳng. Người miền Nam thích giá sống vì nó giải nhiệt?

Khi đã chuyên ăn một món nào đó, người ta càng ngày càng thành thạo trong việc chọn lựa, sử dụng, người ta tìm thấy ở nó những đặc điểm mà kẻ khác không để ý đến; do đó người ta vượt bỏ, tách rời khỏi quần chúng. Về quả ớt chẳng hạn, chắc chắn đồng bào ở các nơi ít ai theo kịp người Huế trong cách thưởng thức: kẻ yêu ớt không chỉ yêu nó vì cái vị cay, mà còn vì mùi hăng nồng, vì cái tiếng kêu giòn phát ra dưới răng khi cắn nó, lại yêu vì trông nó sướng mắt, cầm nó sướng tay trong giây phút mân mê trước khi đưa lên mồm... Người Huế ngoài cách ăn ớt bột, ớt tương, ớt xắt, ớt giã v.v..., còn thích lối ăn cầm cả trái ớt tươi rắn chắc mà cắn kêu đánh bụp trong miệng thật ngon lành; để cắn, họ chọn ớt xanh.

Nhưng một chuyện khí hậu nhất định không đủ. Cái ăn còn tùy thuộc ở sản phẩm sẵn có của địa phương, ở lịch sử v.v... Ở lịch sử? Nghe thì to chuyện, nhưng chính tại lịch sử mà người Bình Định quen ăn bánh tráng. Thứ bánh tráng Bình Định tìm mua ở Sài Gòn rất khó, vì không thấy bán ở các chợ, chỉ gặp tại một vài nơi ngoại ô hẻo lánh; người Bình Định có những bữa ăn dùng toàn bánh tráng thay cơm, cho nên bánh tráng ở đây có địa vị quan trọng hơn ở các địa phương khác. Đi xa, người Bình Định nhớ bánh tráng như người Việt sang Âu châu nhớ cơm, nhớ bánh cuốn. Như thế có phải vì bánh tráng từng là lương khô dùng trong quân đội Nguyễn Huệ, xuất phát từ Bình Định?

Món ăn còn quan hệ với lịch sử theo cách khác. Thiết nghĩ người Việt Nam đời Trần dùng món thịt cầy không đối diện với dĩa rau thơm giống dĩa rau thơm chúng ta có trước mặt ngày nay. Không phải đột nhiên tự lúc đầu lá mơ đã đi với thịt cầy, rau om đã tìm đến thịt cầy. Tôi chắc thế. Các đấng tổ tiên phải có một thời kỳ mò mẫm, thí nghiệm; có thể các ngài đã thử dùng lá chanh và rau răm ăn với thịt heo chẳng hạn, dùng rau om với thịt gà, dùng lá lốt với thịt cầy chẳng hạn v.v... Cả tập thể tham gia vào cuộc tuyển trạch, mọi người đều có quyền tự do khen chê. Những cái không thích hợp dần dà bị đào thải, các lầm lẫn được sửa chữa, các thiếu sót được bổ túc. Cứ thế, từ thế kỷ nọ sang thế kỷ kia, hết thế hệ này đến thế hệ khác kế tiếp nhau canh tân, rốt cuộc mới đến chỗ toàn mỹ.

Nhưng đã toàn mỹ chưa? Chưa chắc. Hôm nay ta nhắm nháp chả cá, lấy làm đắc ý và hãnh diện về nghệ thuật nấu nướng của dân tộc; tam bách dư niên hậu, có thể cách ấy sẽ bị xem là quá thô sơ. Trước đây năm bảy thế hệ, trên mâm chả cá có thể thiếu thìa là, có thể thiếu chén đậu phụng rang, mắm tôm có thể thiếu giọt cà cuống... Sau đây năm bảy thế hệ người Việt nữa, ai ngờ được sẽ xảy ra thêm những phát kiến gì mới?

Một món ăn, nó cần có thời gian để tự cải tiến; mỗi địa phương cần có thời gian để hoàn thiện các món ăn của mình. Lâm Ngữ Đường chê bai món ăn Tây phương nghèo nàn: nó nghèo nàn như vậy phải chăng vì lịch sử văn minh của Tây phương ngắn ngủi hơn của Trung Hoa? Lịch sử dần dà làm phát triển văn chương, khoa học; nó cũng làm phát triển các món ăn nữa. Nhưng trong khi các kế hoạch gia hy vọng đốt giai đoạn để sản xuất gấp bom nguyên tử, không ai đốt được giai đoạn để cải thiện món phó-mát, để sản xuất gấp một thứ phó-mát mới ngon hơn các thứ cũ. Nghệ thuật khoan thai đủng đỉnh hơn khoa học; nó không chịu sự thúc bách giục giã. Phải chờ đợi. Phải có thời gian cho nó.

Sự hình thành của một món ăn cũng như của một câu ca dao, của một điệu dân ca. Ấy là những công trình tập thể, trong đó mỗi cá nhân đều có sự đóng góp. Thật dân chủ, bình đẳng: mỗi người một lá phiếu. Lá phiếu ở đây là cái lưỡi. Và sự chọn lựa của mỗi người không có lý do gì để thiếu chân thành. Mỗi người chọn lựa bằng cả các tạng phủ của mình, bằng tất cả các đặc điểm thể chất của mình, để cùng nhau đi đến cái kết quả chung trong đó mỗi người của địa phương đều có trách nhiệm: người Huế tìm ra cái hay ho của ruốc, người Nam thấm thía ý vị của nước cốt dừa v.v... Tại sao vậy? Người ta không tìm được câu trả lời dễ dàng. Sự chọn lựa ấy, căn nguyên của nó bắt nguồn từ những cội rễ nào thâm thiết sâu xa trong kiến trúc sinh lý của con người mỗi nơi. Người của mỗi địa phương có một cá tính riêng về tâm lý: có nơi hào hùng, có nơi keo kiệt, có nơi ưu du nhàn dật... Mỗi địa phương cũng có thể có một cá tính sinh lý chăng? Sự dị biệt trong thứ cá tính ấy hẳn là mong manh, tế nhị, tinh vi lắm; khó lòng mà biện biệt phân minh. Tuy nhiên rõ ràng nó đã nêu ra những đòi hỏi khác nhau, những sở thích khác nhau.

Như vậy người ta không chỉ ăn bằng mồm. Con người ăn là ăn bằng cả gốc gác quê hương, bằng phong tục tập quán của mình, bằng cái khí chất riêng biệt của cơ thể mình, cũng như bằng lịch sử, bằng trình độ văn hóa của xứ sở mình. Trong một dĩa đồ ăn, có phản ảnh của khí hậu một miền, của những đặc điểm sinh lý con người địa phương... Và giả sử nói có cả phản ảnh của một phần nào những đặc điểm tâm hồn trong đó có quá chăng? Cái vị ngọt rất thanh của các thứ chè ở Huế gợi nhớ đến nét dịu dàng trong giọng nói và trong tính tình người Huế. Nhất là nếu so sánh thứ nước chấm pha chế rất dịu ở Thừa Thiên với thứ nước mắm thường dùng giữa khoảng đèo Hải Vân cho đến đèo Đại Lãnh, người ta không khỏi nghĩ đến cái tâm lý xẳng xớm bộc trực của người dân Việt từ Quảng Nam Quảng Ngãi trở vào...

Từ chút nước mắm chấm rau chấm thịt mà nói đến tâm hồn con người, e đã quá xa. Tưởng không nên tiếp tục chuyện ăn uống nữa, nếu không muốn lạc vào chỗ viển vông lố bịch.

Nhưng văn chương nghệ thuật lại cũng không khác cái ăn là mấy. Ca dao, dân ca là sản phẩm của một địa phương; và thưởng thức đến tận cùng cái hay ho của nó hình như cũng chỉ có thể là người của địa phương. Nghe một điệu ru à ơi trong đêm khuya chúng ta rung cảm thấm thía đến đáy lòng, tưởng trên thế giới khó có một giống dân nào nghe điệu hát ấy mà cùng có được cái rung động của chúng ta. Họ có nghe chăng bất quá là nghe bằng lỗ tai thẩm âm tinh tế; còn chúng ta nghe bằng cả quãng đời thơ ấu của riêng mình, bằng truyền thống của dân tộc mà mỗi chúng ta thừa tiếp nơi mình...

Hiểu một câu ca dao, một bài thơ cũng vậy. Ngôn ngữ dùng để làm ra thơ văn không thể là cái ngôn ngữ chỉ có nghĩa mà thôi. Tiếng Espéranto không có hy vọng dùng vào thi ca. Nó chỉ có nghĩa, nó không có hồn.

Hồn của ngôn ngữ là cái quái gì?

Mỗi tiếng nói: non sông, ruột thịt, xanh, vàng v.v..., ngoài cái nghĩa nó ra, còn có khả năng khơi động nơi mỗi chúng ta một rung cảm nào đó. Liên quan giữa rung cảm nọ với ý nghĩa của mỗi tiếng nói thật xa xôi mơ hồ. Bởi vì cùng một tiếng có một nghĩa nhất định, lại có thể gợi lên những xúc động khác nhau tùy mỗi người, mỗi dân tộc. Cái nội dung tình cảm mơ hồ nọ do cuộc sống của tập thể gửi vào ngôn ngữ. Có dự vào cuộc sống của tập thể nào mới cảm thông với cái hồn của ngôn ngữ nấy. Chủ trương thơ thuần túy chính căn cứ vào sức tác động bí ẩn của ngôn ngữ, chứ không phải vào ý nghĩa minh bạch của nó; bởi vậy cái hay mà thơ thuần túy nhằm đạt tới là ở ngoài phạm vi ý nghĩa. Và như thế một kẻ trí thức ngoại quốc, sống ngoài cộng đồng dân tộc Pháp, một kẻ mà những buồn vui sướng khổ trong đời không liên hệ gì đến tiếng nói Pháp, mà hàng ngày những tai nghe mắt thấy cùng xúc cảm trong lòng không dính líu gì đến tiếng nói Pháp..., một kẻ như thế có thể thưởng thức được gì ở thơ Valéry, Mallarmé? có thể thưởng thức sao được như một người Pháp?

Cũng như ăn không chỉ bằng mồm, người đọc không chỉ đọc bằng khối óc suy xét. Người ta thưởng thức cái đẹp của một văn phẩm nước nào bằng cả cái kinh nghiệm chung chạ cùng tiếng nói nước ấy, bằng cả sự gần gũi với nếp sống đã từng phát sinh và không ngớt bồi đắp cái tiếng nói ấy... Nếp sinh hoạt nọ đã thổi sinh khí vào ngôn ngữ kia, làm sao hiểu hết một công trình mỹ thuật xây dựng trên ngôn ngữ kia mà không cần biết đến nếp sinh hoạt nọ?


Nguyên một tiếng nói để sử dụng đã thế, những công trình xây dựng bằng tiếng nói ấy lại còn mang thêm nhiều nét cá tính của từng xứ sở, từng dân tộc.

Âm thanh và cuồng nộ của Faulkner là một tuyệt phẩm của Mỹ. Con người Việt Nam chúng ta biết tìm ở chỗ xó xỉnh nào trong tâm hồn mình cho ra cái “cuồng nộ” tương tự? Sách đọc mà thực tình thấy khoái là khi nào người đọc cảm thấy giữa mình với tác giả có chỗ đồng thanh đồng khí. Đàng này cái “cuồng nộ” nọ chỉ làm ta kinh ngạc.

Người Mỹ, qua các nhân vật của Steinbeck, của Hemingway, của Caldwell v.v..., thấy quả thấp thoáng họ có cái bạo liệt dữ tợn riêng. Những anh chàng mê say vuốt lông chuột, ham đấm đá, đấu bò rừng, những ông cha trông thấy đứa con trai độc nhất vừa tự tử chết lại tiến đến bắn thêm cho nó một phát vào đầu, trông thấy thằng rể da đỏ liền quạt cho nó một loạt đạn dưới chân v.v..., những nhân vật ấy đã mang sẵn ít nhiều cuồng nộ nơi mình; tâm hồn của họ tương ứng với nhau. Gặp nhau họ thích thú, họ khoái trá. Còn chúng ta, không phải là cá mà đòi vui cái vui của cá sao được!

Trái lại, một vài tác giả Việt Nam như Nguyễn Tuân chẳng hạn làm sao được thưởng thức ở một dân tộc hiếu động? Nguyễn Tuân tiền chiến có cái ề à dềnh dang, chuyển ra ngoại ngữ có lẽ là vô duyên mà đối với chúng ta thì là hấp dẫn. Bút pháp ấy biểu hiện một phong thái đặc biệt, quen thuộc ở một lớp người trong xã hội ta, nhắc nhở đến nếp sống của dân tộc ta trong một thời đã qua; ta thấy nó đẹp, người ngoài có thể chỉ thấy là lạ, nếu không là kỳ cục.

Như vậy bảo rằng nhân loại giống nhau quả có giống, nhưng chú ý đến chỗ khác nhau thì cái khác cũng sâu xa lắm lắm.

Hơn ba mươi năm trước, khi những cuốn truyện của Pearl S. Buck ra đời, Âu Mỹ lấy làm ngạc nhiên. Trong bài tựa cuốn Người mẹ, Louis Gillet cho rằng Pearl Buck đã trình bày được chỗ lạ lùng nhất của người Tàu, ấy là họ rất giống người Âu Mỹ.

Xưa kia, phương tiện giao thông hiếm hoi, xứ xứ cách nhau, người người xa nhau, vì vậy dân Tàu cho dân Âu là quiû, dân Âu cho dân Tàu cổ quái: tục lệ kỳ dị, ăn mặc lố lăng, ngôn ngữ líu lo. Cái bề ngoài dị biệt làm cho các dân tộc không hiểu nhau. Sau bước đầu tiên kết thân, người ta thở ra nhẹ nhõm: Thì ra Tàu với Tây cùng là người cả, không ai là quỉ. Cũng hỉ, nộ, ai, lạc... Giống nhau đáo để! Hay nhỉ.

Nhưng rồi gần gũi lâu dài hơn chút nữa, đi sâu vào các hỉ nộ ai lạc ấy, mới lại thấy muôn vàn khía cạnh khác nhau.

Như thế có một thời kỳ để chúng ta phát giác ra chỗ giống, và một thời kỳ nữa để nhận định ra các chỗ khác của nhau.

Một cuốn sách về cơ học, dịch ra tiếng nước nào cũng hiểu được cùng một cách; nhưng một tác phẩm văn nghệ phải tìm đến những tâm hồn đồng điệu. Bạn đồng điệu, tôi ngờ rằng không thể cách ta quá xa trong không gian.

Thỉnh thoảng gặp những người không thích ứng được với những món ăn của đồng bào khác địa phương ở ngay trong nước mình, mà lại tiếp đón niềm nở tấm tắc ngợi khen ngay các hình thức văn nghệ mới lạ từ xa đến, các trường hợp đó đôi khi đáng ngờ.

Cơ thể chọn món ăn riêng cho nó và có những yêu ghét rõ rệt; tâm hồn chọn cái đọc lại dễ dàng hơn sao?

Võ Phiến

Posted: Thu Mar 17, 2005 12:42 am
by khieulong
Phạm Duy _Gởi một thế hệ Việt Nam thay lời Kinh cầu hồn. Người phiêu lãng,
Nước mắt có về miền quê lai láng
Xa quê hương! Yêu quê hương!

(Tình hoài hương – Phạm Duy)

Như vậy là người nhạc sĩ già ấy đã chọn cho mình được một chỗ để yên nghỉ.

Không nhất thiết phải nói ra, ai cũng biết rằng đó là quê nhà.

Thời đại mà ông - người đã để lại những dấu ấn vĩ đại trong suốt nửa thế kỷ – đang sống nốt những ngày cuối cùng, là một thời đại có quá nhiều những cay nghiệt, quá nhiều những đảo lộn của lịch sử, quá nhiều những nhiễu nhương vượt khỏi tầm nhận thức thông thường, nhiễu nhương đến độ khi chọn cho mình một lối về như quê nhà, cũng là chọn con đường đi đầy hệ lụy.

Định mệnh của người nghệ sĩ, ngoài một kiếp tằm nhả tơ, còn là nỗi khao khát một môi trường, ở đó tác phẩm của mình tồn tại, và chính mình, được khẳng định. Định mệnh ấy, ở thời đại của chúng ta, thời đại của nhiễu nhương, đã trở thành một bi kịch cho người nghệ sĩ. Và người nhạc sĩ già thấy mình đang ở ngay trọng tâm của cơn lốc ác nghiệt.

Quê hương tôi, có con sông đào xinh xắn,
Nước tuôn trên đồng ruộng vắn,
Lúa thơm cho đủ hai mùa…

Đã bao lần tôi nghe những lời nhạc xoáy lòng của Tình hoài hương. Đã bao lần tiếng hát vượt thời gian vượt không gian đuổi theo tôi trên những con đường xa lộ xuyên bang thăm thẳm đi tìm một người bạn thời hoa niên, uống với nhau chén rượu, và kể cho nhau nghe câu chuyện kể đi kể lại hàng ngàn lần về một quê nhà xa tít tắp bên kia bờ đại dương. Để viết được một bài hát có tầm cỡ như Tình hoài hương, ngoài tài năng, người nghệ sĩ phải có một tấm lòng thật sâu đậm với đất nước. Nếu không thì làm sao nó có thể làm rung động được lòng người. Nếu không thì làm sao cả hai thế hệ người Việt ở miền Nam, nay dù phiêu bạt ở bất cứ nơi đâu trên những mảnh đất xa lạ, lúc vui lúc buồn vẫn cứ nghêu ngao:

Quê hương ơi! Tóc sương mẹ già yêu dấu
Tiếng ru nỗi niềm thơ ấu,
Cánh tay êm tựa mái đầu,
Ôi bóng hình, từ bao lâu còn ghi mãi sắc mầu,

Quê hương như người mẹ, chiều xuống đứng tựa cửa ngóng những đứa con đi xa đang rảo bước trở về. Và cả những đứa không trở về, hay không còn sống để trở về.

Trở về để rồi lại ra đi. Ra đi để có ngày trở về.

Cái điều tưởng chừng như rất bình thường ấy, rất đơn giản ấy, đã không còn bình thường, đơn giản nữa. Người ta đã dùng nó để phục vụ cho những mục tiêu chính trị ngắn hạn, thiển cận, và độc ác.

Sự việc một người già chọn sống ở quê hương những ngày cuối đời đã bị đem ra làm công cụ tuyên truyền cho một chế độ cần được loại trừ càng sớm càng tốt. Sự việc một người nghệ sĩ (hay nhiều người nghệ sĩ) đem nghệ thuật phục vụ cho đông đảo đồng bào mình ở quê nhà, đã được dùng để đánh bóng cho cái thô nhám của một học thuyết văn hóa dung tục, thô thiển và phi nhân bản.

Quê hương, dân tộc là của tất cả mọi người, không của riêng một chế độ nào, một nhóm người nào, dù đó là nhóm cầm quyền. Trở về giữa lòng quê hương, là trở về với vòng tay mẹ, không phải là chấp nhận sự tồn tại của một chế độ không có lòng dân. Tương tự như vậy, người nghệ sĩ tài năng phải được coi là tài sản của dân tộc. Tác phẩm của ông phải được coi là di sản cần được bảo tồn cho các thế hệ mai sau.

Người nghệ sĩ đích thực, trở về hay ra đi, hoàn toàn ở ngoài vòng cương tỏa của những khái niệm ngắn hạn, giả dối, độc ác. Vì ông, bằng tài năng và tấm lòng, đang vĩnh cửu hóa những giá trị nhân bản trong thời đại ông, làm giàu có thêm những thế hệ tương lai của đất nước.

Rồi đây, lịch sử sẽ phân biệt rõ ràng cái trường cửu của những giá trị nhân bản, tập thể quần chúng nhân dân với sự tồn tại ngắn ngủi của một chế độ, một nhóm cầm quyền. Nhập nhằng hai khái niệm ấy là thiếu trung thực và thiếu công bằng với người, với mình.

Ở ngoài này có ai đó lên tiếng thống trách. Thương nữ bất tri vong quốc hận. Người ca nữ không biết đến cái nhục mất nước. Nhưng nước có mất đâu. Nước vẫn còn đó, dân vẫn còn đây. Những giá trị vĩnh cửu ấy, dù cho có nhất thời dưới sự thống trị của những chế độ không bắt rễ từ lòng dân mà ra, thì không nên coi như đã mất. Vì non xanh nước biếc vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, vì dân vẫn là cái gốc trên đó mồ mả cha ông làng quán họ hàng lề thói tập tục tồn tại, và cũng từ đó những chế độ cầm quyền ra đời, nên cuộc ra đi nào cũng phải chứa cái mầm của sự trở về.

Nhìn hình ảnh người nghệ sĩ già trong bộ quần áo nâu giữa những đường phố quê hương tấp nập người qua kẻ lại, tôi hiểu được cái tâm tình ngổn ngang của người đã từng đặt những bước chân mình trên các thủ đô tráng lệ của thế giới. Không nơi đâu cho mình được cảm giác yên bình bằng quê hương. Không nơi đâu cho mình được sự tự tin vững chãi bằng quê hương. Từ đó, những tác phẩm nghệ thuật ra đời. Từ đó, những mảnh vụn của lòng được chắp vá lại. Từ đó, cuộc sống được mang thêm nhiều phần ý nghĩa. Và cũng từ đó, người ta dễ dàng tha thứ cho nhau.

Nhưng để có được sự chọn lựa ấy, sau bao nhiêu trăn trở, xét mình, còn cần đến cả đảm lược. Bởi vì kên kên vẫn rình rập đâu đó chờ ăn sống nuốt tươi tâm hồn mong manh dễ vỡ của người nghệ sĩ. Bởi vì những oan nghiệt lưu cữu của cuộc chiến 30 năm vẫn dễ dàng ập lên đầu người nghệ sĩ nhiều ngộ nhận, trách móc hoặc thậm chí, lên án. Người ta không chịu nhìn ra cái nguyên ủy của hệ lụy lưu vong quê nhà nằm ở chính cái chế độ thiển cận kia, nó đã hủy hoại đi bao nhiêu những cơ hội để xây dựng đất nước, hòa giải dân tộc. Tệ hại hơn hết, nó đã chặn đường về của những con người còn nặng một tấm lòng. Ở ngoài này, đây đó cũng xuất hiện những quan niệm thiển cận không kém. Mắt nhắm mắt mở vì những hỏa mù từ trong nước, cũng vô tình tiếp tay chặn đường về của chính mình và người khác.

Ai cũng có một quê hương để trở về, nơi đó có mồ mả cha ông và núm ruột để lại. Ai cũng có một thành phố của những ngày mới lớn trái tim biết rung động lần đầu tiên để những đêm không ngủ thổn thức nhớ về. Ai cũng có căn nhà thuở ấu thơ để khi mái tóc bạc phơ về lại trước hiên nhà, đứng kiễng chân nhìn vào mà tưởng tượng như còn nghe tiếng mẹ hát ru à ơi đưa con vào đời. Không tôn trọng những riêng tư ấy ở một con người là độc ác. Lợi dụng những tình cảm ấy cho những mục tiêu chính trị nhất thời là vô luân.

Khi tôi nói lên những điều này, có thể tự tôi đã chất lên vai mình thêm những hệ lụy không cần thiết. Nhưng biết làm sao khác hơn được. Cõi người ta tự nó vốn đã không bằng phẳng dễ đến dễ đi, mà những cư dân ở đó lại chọn cho mình niềm vui bằng cách làm cho mọi việc trở nên rối rắm hơn. Âu cũng là định mệnh làm người, cái định mệnh có ma đưa lối, quỷ dẫn đường.

Giờ đây, khi ngoảnh mặt nhìn lại đoạn đường đời đã đi qua, bất chợt, tôi thấy đoạn đường còn lại phía trước sao mà ngắn ngủi. Và cũng bất chợt, tôi nhìn ra những giằng xé buốt lòng của người nghệ sĩ già. Phần cuối con đường đang sừng sững phía trước, bây giờ là lúc nên tiếp tục ra đi hay trở về? Nhưng đi là đi đâu, và về, là về đâu? Hay lại giống như nỗi bất hạnh của một người nghệ sĩ khác, suốt một đời trăn trở, giây phút cuối cùng nằm xuống cũng vẫn chưa tìm ra câu trả lời cho câu hỏi mà chính ông đã đặt ra cho mình. Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà.

Bao nhiêu người ra đi đã thực sự chuẩn bị cho mình ngày trở về? Và khi đối đầu với giây phút phải làm một sự lựa chọn, mấy ai không thao thức trăn trở?

Tôi cũng sắp sửa phải đối diện với phút sự thật ấy của riêng mình. Ra đi hay trở về, tôi chưa biết mình sẽ chọn con đường nào, nhưng cái trăn trở của tôi còn là liệu mình có đủ đảm lược để đi theo con đường mình chọn hay không?

Người ta cần đến đảm lược để sống đã đành, nhưng để chết, cũng phải cần đến đảm lược hay sao?

Nguồn: http://www.talawas.org/

Posted: Fri Mar 18, 2005 1:55 am
by khieulong
Chuyện ly kỳ xung quanh cây cảnh trị giá bạc tỉ...

Ông khách cố vật nài nhưng mặt chủ nhân vẫn lạnh tanh. "100.000 USD chứ trả hơn nữa tôi cũng không bán"... Người ngoài nghe loáng thoáng sẽ tưởng đây là giá lô đất biệt thự đô thị mới hay ngôi nhà mặt phố nào đó, chứ không thể ngờ đó là cái giá của một cây cảnh... Thấy bộ mặt buồn so cùng cái dáng lủi thủi của ông khách người xứ Thanh - kẻ thất bại trong thương vụ ngã giá cây cảnh, nhiều người trách ông chủ cây: “Cái cây trị giá gần bằng ngàn tấn thóc mà ông không bán. Sao dại thế?”. Nhưng ông Nguyễn Mạnh Cường - chủ nhân của khối tài sản bạc tỉ này mặt vẫn dửng dưng. Cái dửng dưng của một anh nhà giàu, có báu vật nhưng không muốn chia sẻ...

Ở đất Hải Dương không ít người không biết đến ông với biệt danh Cường “giống” vì ông là Giám đốc của Công ty Giống lúa Kiên Giang, Cường “đặc sản” do ông là chủ của nhà hàng Lầu Hương Quán thênh thang cả vài ngàn mét vuông sát vành đai thành phố; và còn là Cường “cây cảnh” với hàng trăm cây cảnh cao cấp, trong đó có cây sanh trị giá gần 2 tỉ đồng.

Nguyễn Mạnh Cường dẫn tôi sang thăm Lầu Hương Quán, đồng thời cũng là nơi ông trưng bày vườn cây cảnh độc đáo và quý hiếm của mình. Đó là một kiến trúc đồ sộ theo lối cổ, có cổng chào, lầu vọng nguyệt, tòa ngang, dãy dọc những ngôi nhà sàn cột to gần một người ôm, đậm chất rừng núi Tây Bắc. Cái bắt mắt nhất, hấp dẫn nhất của Lầu Hương Quán là vườn cây cảnh quý với số lượng hàng trăm cây mà điểm nhấn vẫn là cây sanh cổ thụ.

“Cây này được giới chơi cây đánh giá là một trong những cây cảnh đắt nhất nước cùng cây sanh dáng long mẫu tử của dòng họ Đỗ ở Nam Điền, Nam Định và cây sanh hai thân gốc từ thời triều đình Huế của ông Sử Trường Sơn ở Hà Nội. Lạ thế! Cây cảnh đắt giá nhất vẫn là sanh...”. Ông vừa nhỏ nhẹ giảng giải cho tôi vừa kiêu hãnh ngắm “cậu con cưng” của mình nổi bật giữa đám hoa lá vô thường kia.

Cảm nhận đầu tiên khi chiêm ngưỡng “kỳ thụ” này là nó khá to, cao đến hơn 2 m. Cây hình chữ S, dáng xiêu, cong cong theo thế “đằng vân thập toàn” (mười áng mây đẹp cùng nhấp nhô). Thân cây mốc trắng, rễ rủ bệt to bằng bắp chân, đanh quánh lại như làm bằng đá tảng đã là minh chứng sống động về cái tuổi trường thọ, vắt qua hai thế kỷ của nó. Riêng về gốc tích của câỵ trị giá bạc tỉ này đã đủ kỳ lạ rồi.

Cách đây 8 năm, trong một lần ông Cường lang bạt khắp trong Nam, ngoài Bắc sưu tầm cổ thụ mà không tìm được cây nào ưng ý thì tình cờ ở thành nội Huế, ông nghe được một anh xe ôm úp mở về một cây cảnh quý đang được rao bán. Ông tất tả dò tìm đến nhà người bán cây cảnh nọ. “Vừa nhìn thấy nó (tức cây sanh) tôi đã mê ngay! Chẳng biết cái cảm giác mừng như bắt được vàng nó thế nào chứ với riêng tôi thì phải cải chính là mừng như... tìm thấy cây cảnh ưng ý” - Ông Cường tếu táo.

Nghe người bán giới thiệu thì cây sanh cổ thụ này là của gia bảo của quan thượng thư họ Hồ, truyền đến anh ta là đời thứ 7 (vậy cứ suy luận ra thì tuổi cây không dưới 200 năm) thì ông lại càng say. Hiện gia cảnh của chủ nhân cây đại thụ này túng quẫn quá, nhà dột nát không có tiền sửa thì anh ta mới đành chặc lưỡi...

Cái sự mặc cả, ngã giá cũng thật là một kỳ công. Sau bao cuộc thương thuyết, ông Cường bạo tay trả 220 triệu đồng (nên nhớ vàng thời điểm đó có 4 triệu một cây). Gia chủ đồng ý rồi, tưởng đã ổn thì hai bố con họ Hồ nọ cứ bịn rịn, ngần ngừ, nước mắt lưng tròng, chừng như đổi ý. Hoảng quá, ông Cường thảy cọc tiền trả ngay gia chủ rồi thuê cả cái cần cẩu dăm tấn bốc cây lên xe tải chở về Bắc tắp lự.

Ông Cường chăm sóc báu vật này một cách rất tỉ mẩn, cái tỉ mẩn của một người biết giá trị đích thực của cây cảnh. Cây cảnh quý này có hẳn một “thực đơn” riêng vì khác với cây cảnh mới trồng, cây càng già càng phải kén chọn khoản “ăn uống”. Ông Cường tài tình như một danh y, chỉ bằng cách quan sát lá là đoán được bệnh của nó: lá hơi cằn, ngả sắc, mặt lá không bóng... đó là triệu chứng suy dinh dưỡng của cây, cần phải chăm sóc, phục tráng ngay; lá sần sùi rồi rụng là sâu phá hoại thân.

Để giữ phong độ cho cây, cứ 15 ngày có một đợt bón nhẹ gồm: NPK, vi sinh, ma-nhê... chừng 200 gam và cứ khoảng 1 tháng, sau cữ cắt tỉa, cây được bón thúc cũng những thành phần tương tự nhưng liều lượng gấp đôi... Mặc dù chưa từng dự bất kỳ một cuộc thi nào (vì cả cây và chậu nặng đến 3 - 4 tấn nên rất khó chuyên chở xa) nhưng giới chơi cây cảnh từ ông Nguyễn Hùng Tuấn, tiến sĩ sinh học, Giám đốc Trung tâm Khoa học - Mỹ thuật - Sinh vật cảnh; bà Hà Kiều Oanh, tiến sĩ thuộc Trung ương Hội Sinh vật cảnh đến các nghệ nhân nổi danh như các ông: Bào “già” Hải Phòng, Cường họa sĩ Hà Nội, Dũng “tổng hợp”... khi nhìn thấy cây sanh này đều trầm trồ “đệ nhất thiên hạ”.

Không ít lần, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương - ông Nguyễn Văn Chiền đã đến thăm Lầu Hương Quán của ông Cường cũng chỉ vì mê cái cây độc nhất đó hơn điếu đổ. Nhiều người khi chỉ lần đầu nhìn thế cây như mười áng mây này đã tựa như bị bỏ bùa, dùng dằng đi không dứt. Ông Cường kể, cách đây mấy năm có đoàn 9-10 người của Tổng công ty Bưu chính viễn thông đánh cả ôtô đến tham quan cây và ngã giá 1,2 tỉ nhưng ông Cường lắc đầu.

Rồi là ông Phiến “cá” (tức Nguyễn Văn Phiến, chủ quán cá đặc sản nổi tiếng ở Việt Trì, Phú Thọ) một tay chơi cây nức tiếng với hàng ngàn cây cảnh trị giá tiền triệu, tiền tỉ cũng nằn nì cốt để bổ sung cái cây vua này vào bộ sưu tập. Cácvidít của ông ấy còn để lại đây, số điện thoại 09132...

Mới đây nhất, cái ông doanh nghiệp gì ấy ở mãi tận trong Thanh Hóa cứ nỉ non trả lên tới ngót 2 tỉ, nhưng ông Nguyễn Mạnh Cường vẫn một mực chối từ. “Ông ấy buồn lắm! Bảo cả đời tôi vào Nam, ra Bắc thành công lắm, thất bại cũng không ít nhưng lần này là lần thất bại lớn nhất...”, rồi quầy quậy bỏ đi nhưng vẫn hay phôn cho tôi để gạ tiếp. Ông Cường cười. Cái cười tựa của một lão nông được mùa, nghe giòn lạ!

Quý cây cảnh như chính mạng sống của mình, ông Nguyễn Mạnh Cường bố trí tại điền viên của mình suốt đêm ngày có đến 7 - 8 trai tráng bảo vệ cùng 5 con chó bécgiê to như con bê suốt ngày tuần tiễu. Tưởng con ruồi cũng không thể lọt qua! “Ấy thế mà năm kia, vườn cây của tôi bị đạo tặc đấy. Lúc nghe tin, sáng chưa rõ mặt người, tôi đã bổ ra để kiểm tra. Hú vía, chỉ có mấy cây nhỏ bị mất. Còn cái anh cổ thụ này dường như nặng quá. Bão cấp 9, cấp 10 mà nó còn trơ trơ thì chúng làm sao khiêng nổi...”.

Tôi kể ông nghe chuyện ở Hưng Yên có ông bố chết đi để lại cho hai đứa con đôi lão tùng trị giá 100 triệu nhưng vì phân chia không sòng phẳng nên thằng em mang dao ra phay một nhát mất 1/3 cây, về sau bán chưa được một phần giá trị. Tôi kể chuyện ở Huế nhà nọ có cây sanh gia bảo, bố mất đi, thằng con lăm lăm đòi bán đi lấy tiền uống rượu, chơi bời khiến cho bà mẹ trên 70 tuổi, lưng còng, tóc bạc cứ ngày ngày mang... dao ra canh. Tôi kể... Rồi hỏi ông: “Ông có định... di chúc khối tài sản ngót 2 tỉ này cho đứa nào không?”. Ông Nguyễn Mạnh Cường tư lự, bảo: “Tôi còn khỏe. Vả lại hai đứa con đều rất mê cây nên cũng không lo lắm...”.

Chơi cây cảnh là một cách tĩnh tâm, một dạng thiền. Phải chăng ông Cường đã đạt đến trình độ ấy?

Dương Đình Tường

Posted: Tue Mar 22, 2005 12:35 am
by khieulong
Nước Mỹ của những ''chúa chổm'' Image Khoảng 51 triệu gia đình Mỹ hiện sử dụng trung bình 8 thẻ tín dụng cho mỗi gia đình và mắc nợ trung bình gần 12.000 USD. Điều này góp phần làm tăng trưởng kinh tế nước nhà nhưng đối với người dân Mỹ là một cơn ác mộng thật sự

Gia đình vợ chồng Ed và Ginger thuộc tầng lớp trung lưu Mỹ. Họ mua trả góp một căn nhà lớn, trang bị 6 TV xài truyền hình cáp, thường đi ăn nhà hàng, ăn mặc toàn đồ hiệu, nuôi 3 con chó, 2 con mèo và một “con rồng có râu” (một giống thằn lằn nhập khẩu từ nước ngoài) ăn mỗi ngày 20 con cào cào đắt tiền vì mua ở những cửa hàng đặc biệt. Tất cả nhờ 5 thẻ tín dụng mà họ có. Sau nhiều năm sống “quá hớp” trên mức thu nhập như thế, họ mắc nợ như chúa chổm.

Bị các công ty tín dụng đòi nợ hằng ngày theo kiểu khủng bố, họ đến tiến sĩ Phil, người dẫn một chương trình truyền hình nổi tiếng chuyên tháo gỡ khó khăn cho những gia đình có hoàn cảnh bi đát, nhờ giúp đỡ. Tiến sĩ Phil chẩn bệnh và kê toa thuốc: cắt ngay truyền hình cáp, không đi ăn ngoài nữa, phóng thích ngay “con rồng có râu”, cố gắng sống tiết kiệm...

Để giúp đỡ những người mắc nợ thoát nợ có nhiều tổ chức xã hội có tên gọi “Những người” mắc nợ vô danh coi việc mắc nợ thẻ tín dụng như một trường hợp bị ngộ độc. Họ soạn thảo một chương trình giải độc nợ tín dụng nhái theo chương trình giải độc dành cho những người nghiện rượu. Chương trình này gồm 12 giai đoạn và nghe nói có hiệu quả.

Ed và Ginger còn may chưa đến mức tuyệt vọng phải nhờ tòa án cho phép phá sản. Ở Mỹ, luật pháp cho phép các gia đình tuyên bố phá sản vì mất khả năng trả nợ. Các số liệu thống kê gần nhất cho biết cứ 15 giây có một gia đình Mỹ xin phá sản, cao gấp 5 lần so với năm 1980.

Thật ra, cũng phải thông cảm với gia đình của cặp vợ chồng nói trên. Khó ai có thể cưỡng lại sức cám dỗ mua sắm vì họ được tạo mọi điều kiện để làm việc đó. Thẻ tín dụng là phương tiện đắc lực nhất để họ tha hồ mua sắm.

Cứ mỗi giây, các gia đình Mỹ nhận được không biết bao nhiêu lời mời hấp dẫn mua trả góp tủ lạnh, xe hơi... với mức lãi 0%. Mỗi tuần có một ngân hàng khuyến khích họ xài thẻ tín dụng. Thậm chí có nhiều cửa hàng sang trọng mời khách hàng uống rượu nhẹ miễn phí trong khi lựa mua hàng. Một khi men rượu bốc lên, họ không còn chú ý đến giá tiền mắc hay rẻ.

Do đó, cơn sốt mua sắm không bao giờ giảm sút. Điển hình là hiệu quả kinh doanh của QVC, một công ty chuyên bán hàng từ xa. Họ tiếp thị loại ví, xách tay phụ nữ giá 175 USD/cái. Trong vòng 10 phút họ bán được 5.132 cái và cuối ngày bán được 13.788 cái. Mỗi năm, các cửa hàng của công ty này nhận được 180 triệu cú điện thoại đặt mua, vị chi mỗi giây có 2 người mua.

Theo nghiên cứu của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, có 43% gia đình Mỹ ăn xài theo kiểu vung tay quá trán. Trong 10 năm qua, mức tiêu dùng bằng thẻ tín dụng đã tăng gấp đôi. Mỗi gia đình sử dụng trung bình 8 thẻ tín dụng. Hiện tượng mắc nợ như chúa chổm nổi lên từ cuối thập niên 1970. Trách nhiệm này một phần thuộc về các ngân hàng thương mại.

Giáo sư Robert Manning, một chuyên gia về thẻ tín dụng, cho biết: “Các ngân hàng đã phát động một chiến dịch khuyến khích khách hàng sử dụng thẻ tín dụng vì theo họ, tín dụng là một quyền lợi của tầng lớp trung lưu chớ không giống như trước đây là một thứ đặc quyền có được sau khi đổ mồ hôi sôi nước mắt”.

Hiện tượng nợ nần nói trên càng nghiêm trọng trong 4 năm qua cũng vì chính quyền khuyến khích tiêu dùng để giảm nạn lạm phát bằng cách duy trì mức lãi suất gốc rất thấp. Ngoài ra giá nhà đất tăng cao trong những năm gần đây khiến giá trị thế chấp tăng theo và khả năng vay mượn của các gia đình cũng vậy.

Thói quen gửi tiền tiết kiệm ở ngân hàng của những thế hệ trước hầu như biến mất. Thế hệ mới sau này muốn có tất cả trong nháy mắt và do thiếu hiểu biết không tiên liệu được những rủi ro khi mà lãi suất của thẻ tín dụng lên đến 18%. Có người ví trường hợp này giống như cấp giấy phép lái xe cho một người không biết lái. Họ không ngờ các ngân hàng cấp thẻ không hề biết hai chữ “thông cảm” là gì. Thanh toán trễ hạn là họ áp dụng những mức lãi suất rất cao. Cho dù thu nhập của bạn ổn định, bạn cũng không thể kham nổi.

Từ mười năm nay, nhiều loại giá cả mà trước đây được xem là ổn định như học phí và y tế phí nay đã tăng lên không ngừng. Trong khi đó, đồng lương giẫm chân tại chỗ, hoặc có tăng thì cũng lẹt đẹt theo sau. Điều này khiến những gia đình có hai nguồn thu nhập (từ vợ và chồng) bất lực nhìn 75% thu nhập của mình biến mất vì phải trả tiền góp mua nhà, mua xe hơi, trả tiền học phí, y tế phí, theo tính toán của bà Elizabeth Warren, giáo sư Đại học Harvard. Trong những năm 1970, các khoản này chỉ chiếm 50% thu nhập của một gia đình chỉ có một nguồn thu nhập.

“Tôi thấy càng ngày càng có nhiều gia đình thuộc tầng lớp trung và thượng lưu đứng bên bờ vực. Chỉ cần một chút biến động là mọi sự sẽ sụp đổ”. Đây là nhận xét của ông Dave Jones, Giám đốc Hiệp hội các hãng tư vấn độc lập cho khách hàng sử dụng thẻ tín dụng.

Ông Jones nêu ví dụ: nữ y tá Cathy, 37 tuổi, phải nghỉ việc 3 tháng sau một cuộc giải phẫu. Do không có tiền tiết kiệm, vợ chồng cô không thể trả 15.000 USD cho ngân hàng cấp thẻ tín dụng mà họ đang xài. Tình cảnh của họ không phải là hiếm. Bà Elizabeth Warren nhận xét: “Nước Mỹ được xây dựng trên một lâu đài thẻ tín dụng nhưng không ai quan tâm đến điều đó”. Nhưng nền kinh tế Mỹ sẽ bị thiệt hại nặng nếu hàng triệu gia đình Mỹ ngưng mua sắm”.

Tin tức mới nhất cho biết Quốc hội Hạ viện Mỹ đang xem xét một dự luật cải cách luật phá sản theo hướng nới rộng quyền hạn của các ngân hàng cấp thẻ tín dụng đối với những gia đình xin phép phá sản. Người ta hy vọng quý vị hạ nghị sĩ sẽ bác bỏ dự luật này vì hiện nay đã có hơn 40 vị đang mắc nợ thẻ tín dụng như chúa chổm. Ví dụ, hạ nghị sĩ Bobby Scott đang sử dụng 7 thẻ tín dụng từng mắc nợ từ 80.000 đến 175.000 USD. Hay như hạ nghị sĩ Duncan Hunter, Chủ nhiệm Ủy ban Quân vụ Hạ viện, sử dụng 5 thẻ và mắc nợ từ 75.000 đến 250.000 USD. Với tâm trạng của chúa chổm nhiều người hy vọng họ sẽ chống lại dự luật trên. (VKH)

Posted: Wed Mar 23, 2005 12:34 am
by khieulong
AI ĐẦU TIÊN GỌI CHÍCH CHOÈ LÀ CHÍCH CHOÈ? Tháng 11/1995, trong chuyến thăm trường Đại học Columbia ở New York, tôi có dịp gặp P. Gordon, một nhà nghiên cứu Việt Nam học. Thật là một ngạc nhiên thú vị được bàn luận về thơ Việt Nam với một người Mỹ trên đất Mỹ. Trong cuộc trò chuyện, Gordon có hỏi tôi đôi điều liên quan đến “cây diêu bông”: nó thuộc họ thực vật nào? hình dáng ra sao? tên khoa học của nó là gì? v.v... Bởi lẽ ông đã đọc và đã mê bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm và, cũng như khá nhiều độc giả khác, nhất định tin rằng có một loài cây gọi là “diêu bông” thật trong thiên nhiên. Ông nói đã tra tất cả các loại từ điển tiếng Việt mà không ra. Tôi bèn nhân danh là bạn của nhà thơ xin lỗi đã để ông mất công đuổi theo một cái bóng bởi lẽ loài cây bí ẩn kia chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của nhà thơ mà thôi. Diêu bông, tôi giải thích, thuộc loại từ “bịa”, tương tự như nonce word (từ được đặt ra để dùng trong một trường hợp đặc biệt) của Anh/Mỹ, nó còn quá mới để được đưa vào từ điển “chính quy” trong tình hình ngành từ điển học sơ sinh của Việt Nam chưa phát triển đủ mức để soạn ra những từ điển đặc chuyên kiểu như Dictionary of Nonce words của Anh/Mỹ hoặc Dictionnaire des Neologismes của Pháp.

Do đâu mà nẩy ra cái từ diêu bông phi ngữ nghĩa song lại đầy biểu năng trực cảm ấy? Nói cách nào đó, diêu bông không biểu nghĩa, mà chủ yếu là biểu âm. Một trong những đặc thù của cái đẹp nơi chữ thơ, tôi nghĩ, là sự lên ngôi của con âm thay vì con nghĩa. Hãy một lần nữa nghe bà cô tổ Hồ Xuân Hương của chúng ta biểu âm sự nứt ra của một động Hương Tích:

Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm

Cái động từ phòm (hình như chỉ được dùng hai lần trong thơ Hồ Xuân Hương, ngoài ra không gặp ở đâu khác) cũng thuộc loại từ “bịa” phi ngữ nghĩa mà biểu năng trực cảm của nó kỳ diệu đến nỗi ai cũng hiểu tác giả định nói gì. Không có khả năng như tạo hoá “bịa” ra, chẳng hạn, một động Hương Tích thì nhà thơ “bịa” ra chữ! Những chữ tinh khôi tự nhiên như bản thân sự sống, vừa ra đời đã trở thành những thực thể.

Thi sĩ, tôi quan niệm, là kẻ đầu tiên kéo thế giới ra khỏi vùng khuyết danh. Mà khuyết danh có nghĩa là chưa tồn tại. Thi sĩ cho sự vật một cái tên mà trước đó nó chưa có - tức là đưa nó vào tồn taị. Ai đầu tiên gọi chích chòe, khi nó còn khuyết danh, là chích chòe, người ấy đích thị là một nhà thơ. Loài chim ấy ắt đã có từ rất lâu trước đó, người ta hẳn đã nhiều lần thử đặt cho nó một cái tên nhưng không đậu và chỉ đến khi ai đó, trong một loé chớp thần hứng, bật thốt ra hai âm tiết chích chòe trúng phắp, không gì thay thế nổi, thì nó mới thực sự tồn tại, thêm cho trời đất một cái gì không chỉ đơn thuần là một loài chim.

Hoàng Cầm đã “bịa” ra một loài cây cho ai kia bỏ một đời đi tìm lá dẫu biết chẳng bao giờ thấy được. Hư ảnh đã ngự vào đời thực, trở thành một thực thể trường tồn, chí ít cũng dài lâu hơn đời nhà thơ.

DƯƠNG TƯỜNG