Tin Trong Nước

Xin nhớ: tin cần có "nguồn", trích từ đâu ra!!!
User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Xuất cảng cô dâu đất phương nam
Thursday, May 19, 2005


Từ vài năm qua, tại Sài Gòn và nhiều tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, đã hình thành những dịch vụ có thể gọi là “dịch vụ xuất cảng cô dâu”.

Dịch vụ hoàn toàn mang tính cách tư nhân này, nói chung ngày càng phát triển, đồng thời phát sinh từ đây bao nỗi đau lòng. Nguyên nhân dẫn tới việc hình thành “dịch vụ xuất cảng cô dâu”, từ việc mở cửa thị trường, với các doanh nhân Ðài Loan, Hàn Quốc qua lại làm ăn nhiều hơn hết, đặc biệt người Ðài Loan kết hôn nhiều hơn hết với phụ nữ Việt Nam. Hiện nay, riêng Sài Gòn và các tỉnh miền Tây Nam Bộ, các cô dâu Việt Nam lên xe hoa với chú rể Ðài Loan chiếm tỉ lệ gần 90% cả nước.


Tâm tình Hàn Quốc

Thời gian trước khi người ta có thể hình dung một dịch vụ như “dịch vụ xuất cảng cô dâu”, người viết bài này được giới thiệu với một kỹ sư người Hàn Quốc. Ông ta thuộc đơn vị Công Binh Ðại Hàn (Hàn Quốc), trong lực lượng quân đội đồng minh chiến đấu tại Việt Nam trước 1975. Khi tham gia xây dựng cầu Ðà Rằng ở Tuy Hòa (Phú Yên), ông ta chung sống với một phụ nữ địa phương và có một đứa con. Khi mãn hạn phục vụ, về nước, ông ta vẫn liên lạc và thỉnh thoảng có giúp đỡ hai mẹ con trong cuộc sống. Nhiều năm sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, có dịp sang Việt Nam, hai mẹ con vẫn sống với nhau, trong nghĩa nặng tình sâu với ông kỹ sư người Hàn Quốc. Việc người ta giới thiệu tôi với ông ta, là viết giùm một cuốn hồi ký, về tâm tình của người phụ nữ ấy đối với ông ta, một người ngoại quốc. Tất nhiên ông ta dẫn tôi gặp hai mẹ con vẫn sống ở Tuy Hòa, và ông thổ lộ: “Tôi sẽ đem cuốn hồi ký này về nước, nhờ người dịch sang tiếng Hàn Quốc, in và phát hành tới nhiều người đọc, để đánh thức lương tâm của những người đã từng sang Việt Nam, chung sống, có con với phụ nữ Việt, số người này không phải là ít”. Cuốn hồi ký tôi chấp bút đó, nửa năm sau khi tôi gặp ông kỹ sư, đã được phát hành tại Hàn Quốc. Tất nhiên tôi không thể biết kết quả có được như sự mong đợi của ông kỹ sư ấy không, nhưng tôi tin, chẳng phải ở hiệu quả của cuốn sách, mà ở tâm tình của người Hàn Quốc.


Ðường dây môi giới

Ðể hình thành dịch vụ mà chúng ta gọi là “dịch vụ xuất cảng cô dâu”, tất nhiên phải có những đường dây môi giới. Ðường dây phải có hai đầu, tại xứ của các cô dâu và xứ của các chú rể. Một nhóm hàng chục cô gái đi dạo ở khu phố nào đấy tại Sài Gòn, nhìn có thể biết ngay: Những cô gái ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, nhà quá nghèo khổ, không có trình độ học thức hoặc nghề nghiệp gì, lên Sài Gòn để được các đường dây môi giới tổ chức cho người Ðài Loan, người Hàn Quốc (ít hơn nhiều) xem mặt để chọn làm vợ. Không nhất thiết chú rể tương lai đích thân sang Việt Nam để xem mặt chọn cô dâu, mà là những người trong đường dây môi giới ở đầu dây bên kia, chụp ảnh các “cô dâu Việt Nam”, mang về cho “các chú rể Ðài Loan” chọn lựa.

Trong thực tế, số cô dâu Việt Nam ở Ðài Loan có được hạnh phúc như mong muốn không nhiều: Tổ ấm gia đình, có điều kiện khả năng gửi tiền bạc về giúp đỡ cha mẹ... Ðiều này dễ hiểu, ngoài sự thiếu hiểu biết và khó hòa nhập về nhiều mặt ở nơi mình sang sống, còn do mánh khóe của các đường dây môi giới trong quá trình dịch vụ. Họ sẵn sàng giới thiệu: những cô dâu có trình độ văn hóa hết cấp 3, những cô gái thực ra chưa học hết cấp 1; trình độ Anh ngữ có bằng C, thực ra các cô chỉ thông thạo duy nhất tiếng chào Hello! Bye, bye!... và nhiều mánh khóe khác để vỗ béo cho... dịch vụ!

Và còn nỗi cay đắng nào hơn, khi phụ nữ là một món hàng kinh doanh?!


Từ “chát” dẫn tới “ngọt ngào hạnh phúc”

Hoàn toàn ngẫu nhiên, tôi kể câu chuyện cô dâu Việt của xứ Hàn. Ðám cưới tôi mới dự, ở nhà hàng Minh Phú 3, trên đường Hoàng Văn Thụ, quận Tân Bình. Cô Dung, dễ coi, nhưng từ nghề bán hủ tíu chuyển sang bán bánh mì, cô không thể dám mơ một cuộc sống gia đình tương lai có thể đoạn tuyệt ngành nghề ấy và những ngành nghề tương tự, nghĩa là đời sống của giới lao động nghèo.

Cách đây nửa năm, cô chợt mơ về phương trời xa lạ, qua Chat ở Internet. Cô quen biết anh Park Jae Yeong, quản lý một chi nhánh của hãng Daewoo. “Chat” qua lại trong vòng nửa năm, đã thành một vòng tròn ôm ấp hạnh phúc. Anh Park Jae Yeong sáng láng, chững chạc, và rất lễ nghĩa Phương Ðông, sau đám cưới, dặn cô dâu Việt nhanh học tiếng Hàn để về nhà chồng biết chào hỏi đúng lễ với cha mẹ chồng. Còn anh, từ lúc quyết định chọn cô dâu là cô gái Việt tên Dung, anh liền học nói tiếng Việt, học bất cứ lúc nào rảnh. Trong 3 tháng, anh Park Jae Yeong nói được rành rẽ, như anh đã nói với tôi: “Tôi biết người Việt Nam thích món kim chi, còn người Hàn Quốc chúng tôi thích canh chua cá kho tộ”. Và anh còn biết, hiện nay đã có gần 2,500 cô dâu Việt ở xứ Hàn.

Dù sao, cũng có trường hợp chua chát mà ngọt ngào hạnh phúc, hỡi các cô gái Việt Nam nghèo khổ, không dám mơ gì nhiều hơn một cuộc sống đỡ khổ hơn. Các cô không dám mơ “Giấc Mơ Mỹ”, cái giá để mơ, ít nhất là hai chục ngàn đô la. Ðấy là chưa nói, có ngân khoản tối thiểu ấy rồi, mà lắm người đã bị “bể mánh”, tan vỡ giấc mơ.


NGUYỄN ÐẠT

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ðại Sứ Hanford: Việt Nam Hứa Cải Tổ, Hoa Kỳ Tiếp Tục Theo Dõi
Saturday, May 21, 2005


Hoa Thịnh Ðốn (20 tháng Năm, 2005) – Theo tin từ Uỷ Ban Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam (CRFV), Ðại Sứ Lưu Ðộng John Hanford, Giám Ðốc Văn Phòng Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, cho biết Hoa Kỳ ghi nhận lời cam kết của Việt Nam về cải tổ chính sách đối với tôn giáo nhưng vẫn quan tâm về những vụ đàn áp tôn giáo vẫn xẩy ra ở Việt Nam.


Hiện diện trong phần đầu buổi tiếp tân do Ủy Ban Tự do Tôn Giáo Cho Việt Nam tổ chức ngày 19 tháng 5, 2005 tại Hart Building thuộc trụ sở Thượng Viện Hoa Kỳ, Ðại Sứ Lưu Ðộng John Hanford cho biết rằng Việt Nam đã thoả thuận với Hoa Kỳ về những bước cụ thể nhằm cải tổ chính sách đối với tôn giáo.


Phía Việt Nam cam kết sẽ ban hành luật mới ấn định rõ ràng các quyền tự do tôn giáo và luật mới này sẽ hoàn toàn thay thế các luật hiện hành. Việt Nam cũng cam kết bảo đảm sự chấp hành tuyệt đối ở các cấp từ địa phương lên đến trung ương để tránh tình trạng mà Hà Nội giải thích là địa phương lạm quyền hiện đang diễn ra ở Việt Nam.


“Trong vài tháng qua, 12 vị tu sĩ thuộc các tôn giáo đã được trả tự do và chính Thủ Tướng Việt Nam đã ban hành chỉ thị đối với đạo Tin Lành, qua đó ngăn cấm vấn đề bắt ép người Thiên Chúa Giáo bỏ đạo,” Ðại Sứ Hanford phát biểu.


Ông cho rằng đây là những dấu hiệu khả quan, cho thấy việc Hoa Kỳ chỉ định Việt Nam vào thành phần Quốc Gia Ðáng Quan Tâm Ðặc Biệt vào tháng 9 năm ngoái đã có hiệu lực bước đầu. Theo Ðạo Luật Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế được ban hành năm 1998, các quốc gia bị chỉ định sẽ tự động bị chế tài nếu không cam kết cải thiện tình trạng đàn áp tôn giáo.


Ông Hanford xác nhận rằng vẫn có những vụ đàn áp xẩy ra sau khi Việt Nam cam kết, bao gồm cả những trường hợp ép bức bỏ đạo. Ông cũng lo lắng về tình trạng người Thượng ở Cao Nguyên Trung Phần tiếp tục bị sách nhiễu và trường hợp công an thường xuyên giải tán các buổi cầu nguyện tại gia.


Theo ông, việc cam kết về chính sách chỉ là tiên khởi: “Ðiều quan trọng là thực hiện và chấp pháp.”


Ðại Sứ Hanford là người rất am tường về vấn đề Việt Nam. Trước khi được bổ nhiệm làm Ðại Sứ Lưu Ðộng, ông là phụ tá đặc trách vấn đề tự do tôn giáo cho Thượng Nghị Sĩ Richard Lugar. Việt Nam là quốc gia đầu tiên mà ông công du sau khi nhậm chức Ðại Sứ Lưu Ðộng. Ông cho biết là đã bỏ nhiều công sức nhất đối với Việt Nam so với tất cả các quốc gia khác trên thế giới. Ông đã tiếp xúc trực tiếp với Ngoại Trưởng Colin Powell và Tổng Thống Bush để đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách các Quốc Gia Ðáng Quan Tâm Ðặc Biệt.


“Tôi rất cảm ơn cộng đồng Việt đã cung cấp tin tức và nuôi dưỡng sự chú ý của cả Lập Pháp lẫn Hành Pháp đối với tình trạng đàn áp tôn giáo ở Việt Nam,” ông kết luân.


Ông đặc biệt ghi nhận những đóng góp của Uỷ Ban Tự Do Tôn Giáo Cho Việt Nam từ ba năm qua, qua nhiều buổi họp với văn phòng của ông.


Trong cuộc tiếp xúc riêng trước buổi tiếp tân, vị phụ tá cho Ðại Sứ Hanford cho biết rằng toà đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam đang theo dõi và can thiệp rất sát cho trường hợp của Mục Sư Thân Văn Trường, hiện đang bị giam tại Bệnh Viện Tâm Thần Biên Hoà và bị chích thuốc gây tê dại, đơ lưỡi và sùi bọt mép. Mục Sư Trường thuộc Hội Thánh Tin Lành Báptít Liên Hiệp Việt Nam.


Ðầu tháng 5, Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển cung cấp hồ sơ của MS Trường cho Văn Phòng của Ðại Sứ Hanford. Văn phòng này đã đánh điện ngay cho Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội để yêu cầu điều tra. Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ đã liên lạc trực tiếp với vợ của Mục Sư Trường và lên tiếng với Việt Nam.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hà Nội bước vào mùa ...“Bia”

Sunday, May 22, 2005
Image Người phục vụ chạy hối hả vì khách uống quá nhanh và uống càng nhiều hình như lại càng khát. (Hình: Không Ðức)

Image

Ngày nay ở VN bình đẳng nam nữ trong mọi chuyện, tất nhiên cả chuyện uống bia và đi nhậu. (Hình: Không Ðức)
Image

Một cô gái bán mực nướng đi dạo qua quán bia để chào hàng. (Hình: Không Ðức)
Image
Uống ở quán chưa đã, khách hàng phải “To Go.” (Hình: Không Ðức)

Phóng sự của Không Ðức/ Người Việt


Hà Nội đang vào Hè và cũng đồng nghĩa với mùa “Bia” đang vào đỉnh điểm và đem lại sự hài lòng cho tất cả những người trong cuộc: Những ông, bà chủ của vô số các quán bia và vô số những khách nhậu. “Bia” mới quả thật là lễ hội bình dân theo đúng nghĩa của nó.

Trong những ngày nóng dễ sợ đầu mùa Hè này, có hai chuyện thường xảy ra: Các viên chức đều không mấy ai muốn ra ngoài đường và rất ngại đi lại dưới trời nóng như thiêu đốt. Chỉ các sếp vẫn không ngại đi lại vì họ đi xe hơi có máy lạnh. Phần lớn các công sở đều đã gắn máy lạnh để tăng “khả năng làm việc” và sự phục vụ của các nhân viên nhưng bây giờ thì tác động như ngược lại. Hầu hết các nhân viên, quan chức đều đi làm sớm về muộn vì nơi làm hóa ra là khách sạn mát mẻ hơn ở nhà, và lại còn đỡ tiền điện.

Ðiều thứ hai thường thấy, là sau giờ làm việc thì chẳng còn thú vui nào khác nữa là ra quán bia với bạn bè, đồng nghiệp ... Về nhà thì không muốn, chuyện tình ái thì đã đi khách sạn, nhà trọ, nhà “nghỉ”... buổi trưa rồi, còn đâu thú vui gì khác. Sau giờ làm việc, nếu bạn cần tìm ai, hay đi xe chậm chạp trên đường sẽ liên tục bị kéo mời vào các quán bia đủ loại, từ sang trọng đến bình dân ở khắp nơi hai bên đường.

“Anh ơi vào đây!” “Chỗ này, anh ơi, có chỗ để xe thoải mái!” “Nhà em đây, bia Hà Nội mới về!”... Những câu chào, câu mời thường xuyên nghe quá nhiều mỗi ngày. Nếu ngó qua những quán bia như vậy, quý vị sẽ thấy tiềm năng kinh tế Việt Nam thật khủng khiếp: “Cứ bảo dân không có tiền! Nhầm, rất nhiều và họ đang tiêu như nước vào chuyện ăn, chuyện uống.” Hầu hết các quán bia đều đông kín chỗ, người ngồi như xếp hàng và tự nguyện, khác hẳn trong các cuộc họp cũng đông người nhưng là do bắt buộc. Xe gắn máy xếp thành hàng thẳng tắp và chúng ta có cảm giác như cả thành phố đang tham dự một lễ hội diễn ra ở khắp mọi nơi, mọi góc của thành phố.

Nhưng để uống bia ở Hà Nội cũng không phải dễ. Một trong các loại bia được ưa chuộng nhất là bia hơi Hà Nội luôn trong tình trạng khan hiếm. Và nhà máy bia thì cũng chẳng cần tăng năng suất, công suất làm gì: Càng khan hiếm, càng dễ bán, các chủ quán, thầu bia càng phải tìm cách móc nối để có bia. Nhiều người nói, bây giờ để làm được đại lý bia Hà Nội là rất khó khăn và bia thật, giả nhiều khi khó phân biệt. Không cần sản xuất nhiều vẫn có lãi.

Vì thế, cứ đi trên đường phố Hà Nội, nhìn qua bảng hiệu các quán bia là biết liền: “Bia Hà Nội 100%”; “Bia Hà Nội thật”; “Ðại lý Bia Hà Nội”; “Bia Hơi Hà Nội chính thức”; “Bia Hà Nội bảo đảm”; “Bia Hà Nội Tùng Béo thật”... Hình như tất cả chẳng ai tin ai nên cứ phải gào to: Bia tôi thật đấy! Nhưng nghe vậy, nhìn vậy và biết vậy. Nóng quá nên ai cũng đành phải vào chứ đâu có lựa chọn gì nhiều.

Tuấn, nhân viên kỹ thuật một công ty thú nhận: “Thật sự em cũng hoàn toàn không muốn ra khỏi phòng làm việc trong thời tiết như thế này. Chỉ khi sếp gọi bắt phải đi thì đành chịu và đi nhanh nhất thôi. Cứ ngồi đó, vào internet chat, xem tin... và đợi đến chiều để rủ nhau ra quán bia ngồi đến tối khuya về mà thôi. Thời gian này, chẳng ai muốn làm gì cả.” Tuấn chỉ là một trong rất nhiều người như vậy. Nếu ai phải đi giải quyết thủ tục giấy tờ trong những ngày này thì thật là không may. Trời nóng, thêm vào bao nhiêu điều bực tức của bản thân, xã hội gia đình đè nén nên các “các đầy tớ của dân” mặt luôn cau có, nói năng nhát gừng và có thái độ khó chịu.

Họ cư xử như đám “con dân” đến làm thủ tục, giấy tờ đang gây khó chịu, làm phiền phức cho họ. Mà khốn nạn cho đám “con dân đen” kia, họ cứ tưởng các nhân viên hành chính nhận lương hàng tháng là để ngồi đó, phục vụ họ và ít ra cũng nên cười với họ. Sự thật hoàn toàn không phải vậy, các “đầy tớ” chỉ nhận lương cho có chỗ để còn nghĩ cách làm thêm, kiếm tiền thêm chứ lương làm sao đủ ăn... nhậu.

“Mà bà con phải hiểu, trong những ngày nóng bức này ai cũng đang mệt mỏi, chỉ đợi hết giờ để về nhà, đi nghỉ hay đi ra quán bia chứ còn việc của bà con rồi đâu sẽ vào đó, việc nào giải quyết được thì sẽ giải quyết, việc nào không thì không...”, hình như đó là ý nghĩ của không phải chỉ một nhân viên ở các “cửa quan” trong những ngày này. Thế nên, mới có chuyện một “con dân” nào đó đi tới những 28 lần đến “đăng ký” sở hữu nhà của mình mà kết quả vẫn là con số không. Rất nhiều người ngạc nhiên và kháo chuyện về hiện tượng này. Có gì mà lạ, ngay chính tôi đây, đã đi tới 9 lần để giải quyết một chuyện nhỏ hơn rất nhiều mà cũng chưa xong, huống chi chuyện đất đai của nhà nước.

Tôi vào quán bia “Hải Xồm” trên đường Láng. Xe gắn máy đậu chật vỉa hè và thậm chí hôm đó hết cả chỗ để xe máy. Ðông đến mức, đám bảo vệ ngày thường vốn lịch sự nay cũng đuổi khách đi chỗ khác để tự kiếm chỗ gửi xe. Mà khốn nạn thay cho đám khách hàng: Bạn bè hẹn nhau, đã có người ngồi đợi bên trong rồi, đi đâu bây giờ? Ðành phải cung cúc đi ra xa gửi xe rồi quay lại. Kinh doanh quán bia ở Việt Nam những lúc này dễ và sướng thật. “Ðã bảo hết chỗ để xe rồi mà còn cứ cãi. Không thích uống thì thôi, đi ra chỗ khác,” hai anh bảo vệ bực tức trao đổi với nhau. Sau không thấy nhà đầu tư là Việt kiều giàu có nào về mở quán bia vào mùa Hè và mở quán rượu vào mùa Ðông, hay mở nhà máy bia ở Việt Nam, bảo đảm quý vị sẽ còn giàu hơn nữa.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Qua vụ nhà đầu tư gốc Việt Trịnh Vĩnh Bình kiện chính quyền Việt Nam: ông Phan Văn Khải ăn nói ra sao về bảo vệ đầu tư khi sang Mỹ?
Tuesday, May 24, 2005

Image
Ông Trịnh Vĩnh Bình (ảnh riêng của Ngày Nay)
Image
Nhà máy hải sản (ảnh riêng của Ngày Nay)


TRỌNG KIM
(Đặc biệt của Ngày Nay)

Câu hỏi được đặt ra khi tin ông Khải sau chuyến Úc du vào đầu tháng 5, sẽ tới thăm Hoa Kỳ vào ngày 21-6, đúng vào dịp tin nhà đầu tư Hòa Lan gốc Việt Trịnh Vĩnh Bình đã nhờ tổ hợp luật sư Mỹ kiện Việt Nam đòi bồi thường sau khi ông về VN làm ăn thành công hồi đầu thập niên 90 nhưng vì đụng chạm với công an địa phương khiến bị khánh tận với bản án 11 năm tù và tịch thu tài sản. Ông đã ở tù 18 tháng nhưng sau đó đã bỏ trốn được ra nước ngoài trước khi tòa chính chức tuyên bản án trên.
Sau nhiều năm dàn xếp, không có kết quả, kể cả với sự can thiệp hỗ trợ từ phía chính phủ Hoà Lan, ông Bình đã nhờ tổ hợp luật sư Mỹ Covington Burling ở Hoa Thịnh Đốn nổi tiếng về các vụ tranh tụng liên quan tới tranh chấp đầu tư ở các nước đang phát triển, đại diện để kiện nhà cầm quyền VN trước tòa quốc tế thuộc Liên Hiệp Quốc đòi bồi thường thiệt hại. Con số đòi bồi thường chưa được tiết lộ nhưng theo một nguồn tin riêng của Ngày Nay có liên hệ tới vụ trên thì số tiền đòi phía Việt Nam bồi thường lên tới cả 100 triệu MK vì tài sản của ông Bình lúc bị tịch thu ở VN, theo gia đình ông Bình ở Hòa Lan cho Ngày Nay biết, lên tới từ 20 tới 30 triệu MK (vào năm 2000).

Kẹt giữa hai lằn dạn

Vấn đề của ông Trịnh Vĩnh Bình, qua sự điều tra và theo dõi của Ngày Nay từ 10 năm qua là điển hình cho trường hợp các nhà đầàu tư về Việt Nam bị kẹt giữa lằn đạn của hai phe bảo thủ và đổi mới dù chỉ là đổi mới kinh tế. Chính Thủ tướng Phan Văn Khải vào tháng 5-1998 cũng đành bó tay trước áp lực của phía Công an lên tới bộ Chính trị để triệt hạ ông Bình sau khi thấy ông thành công lớn trong địa hạt xuất cảng thủy sản và địa ốc mặc dù ông Khải biết rõ là đụng tới ông Bình là trực tiếp va chạm tới chính phủ Hòa Lan, một nước đang có nhiều hỗ trợ và viện trợ cho Việt Nam.
Ông Trịnh Vĩnh Bình, sinh năm 1947 một thương gia rất thành công ở Hòa Lan, được báo chí Hòa Lan ca ngợi như một điển hình của sự hội nhập vào mạch chính của người Việt tị nạn. Từ một thuyền nhân (1976) đến Hòa Lan tay trắng ông Bình học lại và tốt nghiệp đại học, nhập tịch Hòa Lan và gia nhập đảng chính trị của Hòa Lan (đảng Dân Chủ Tự Do cầm quyền thời cuối thập niên 80), được báo chí Hòa Lan gọi là “vua chả giò”.
Đầu thập niên 90, ông Bình đã nghe theo chính sách Đổi Mới kinh tế của Hà Nội qua sự vận động của tòa đại sứ VN ở Paris, Pháp và sau khi theo đoàn doanh nghiệp Hòa Lan về thăm VN để thăm dò khả năng đầu tư, ông đã quyết định bán công ty chả giò ở Hòa Lan để đem hơn 3 triệu Mỹ kim (2,328,250 Mỹ kim tiền mặt và 96 ký vàng) về VN đầu tư làm ăn.
Ông Bình đã thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn Tín Thành xuất cảng nông hải sản tại thành phố Saigon và công ty cổ phần Bình Châu có nhà máy hải sản đông lạnh ở Vũng Tầu, mua một số nhà đất tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tầu và thành phố Saigon để phục vụ cho việc đầu tư sản xuất của mình.
Ông Bình đã sử dụng môt số vốn khá lớn để trồng rừng, nghiên cứu thí nghiệm để nuôi tôm với gần hai trăm mẫu ở Bà Rịa – Vũng Tầu và Côn Đảo tạo công ăn việc làm cho trên 500 công nhân; xây dựng cơ sở chế biến hải sản xuất khẩu với sản lượng chiếm 35% tổng sản lượng đánh bắt của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tầu; xây dựng khách sạn 10 tầng tại thành phố Saigon và còn nhiều dịch vụ công nghiệp khác.

Đụng Công An: sạt nghiệp

Vấn nạn chính của ông Bình cũng như nhiều nhà đầu tư khác bị kẹt ở VN là vấn đề phép vua thua lệ làng. Ông Bình dù được sự khuyến khích, hỗ trợ bởi các nhà lãnh đạo CSVN Đổi Mới cấâp tiếân, muốn mở rộng thị trường VN ra trước thế giới nhưng trong việc điều hành hàng ngày, ông đã đụng chạm tới thứ “quyền lực đen” như người trong nước thường gọi, của phe công an địa phương. Theo điều tra của Ngày Nay, ông Bình đã bị công an làm khó dễ từ cuối năm 1996. Ông bị giam giữ bởi cơ quan an ninh điều tra PA24. Đến cuối năm 1998 thì việc giam giữ trở thành quản thúc tại gia, sau bị đưa ra tòa lãnh án tù.
Người trực tiếp dàn dựng vụ án nhằm triệt hạ ông Bình là trung tá Ngô Chí Đan, trưởng phòng An Ninh Điều Tra Bà Rịa – Vũng Tàu. Ông Ngô Chí Đan vốn kỳ thị Việt kiều và người trí thức, lại có ác cảm với ông Bình. Trong quá khứ ông Bình đã vô tình đụng chạm đến anh vợ của ông Đan ở Bà Rịa. Thế nhưng, theo một nguồn tin riêng của Ngày Nay ở trong nước, ông Đan đã không thể coi thường luật pháp nếu không có “cái dù” ở mức cao nhất của ngành Công An lúc đó là ông thứ trưởng Nguyễn Khánh Toàn. Ông Toàn còn là Tổng Cục trưởng vụ An Ninh. Trong phiên họp Liên Ngành có cả Tư Pháp, ông Toàn đã chỉ thị là ông Trịnh Vĩnh Bình có tội phải xét xử trong hai tuần.
Theo tài liệu Ngày Nay có trong tay, đã có những bằng chứng cho thấy vụ án ông Bình đã được đưa lên tới thượng từng lãnh đạo của nhà nước Cộng Sản Việt Nam lúc bấy giờ. Nhưng với sự bao che của cấp chỉ huy cao cấp nhất của ngành Công An, vụ án đã không được giải quyết theo luật pháp hiện hành ở Việt Nam dù chính thủ tướng Phan Văn Khải đã ra lệnh “xem xét lại” trường hợp của ông Bình, nghĩa là không nên đem ra xử trước toà án. Ngày 13-5-1998, sau khi xem hồ sơ vụ án Trịnh Vĩnh Bình, ông Khải đã có bút phê gửi tới Bộ Trưởng Bộ Công An Lê Minh Hương như sau:
“Anh [ông Hương] chỉ đạo Công An Bà Rịa Vũng Tàu xem lại trường hợp anh Trịnh Vĩnh Bình. Thủ tướng Hòa Lan đã đặt vấn đề, tôi đã hỏi trực tiếp một số đồng chí lãnh đạo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu anh Bình không có lỗi đến mức phải xử, do anh dựa vào người trong nước bị họ lừa gạt, làm bậy.”
Tướng Lê Minh Hương đã chuyển ý Thủ Tướng Khải qua ông Nguyễn Khánh Toàn đề nghị giải quyết theo ý ông Khải... Nhưng ông Nguyễn Khánh Toàn không hiểu vì lý do gì mà tới ngày 20-5-98 lại tổ chức phiên họp Liên Ngành giống như phiên họp 3-5-98 và lần này ông Toàn càng gay gắt với vụ án hơn và quyết tâm xử vụ án cho bằng được...
Theo một nguồn tin riêng khác của Ngày Nay, không phải chỉ Thủ tướng Khải đứng đầu chính phủ được thông báo về vụ ông Bình mà phía lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam cũng có liên hệ. Ông Phạm Thế Duyệt, một thành viên Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị, cơ quan đầu não của đảng CS Việt Nam cũng được báo cáo nhưng theo tin trên, ông Duyệt đã được báo cáo không đúng sự thật qua sự che giấu của ông Thứ trưởng Toàn.
Mặt khác, vẫn theo nguồn tin trên, với sự hỗ trợ khác của ông Trần Đình Hoan, chánh văn phòng Bộ Chính trị để đưa ra văn bản số 822 ngày 23-6-98 mang danh nghĩa chỉ đạo của Bộ Chính trị cho vụ án, nghĩa là quyết xử vụ ông Bình theo chiều hướng định sẵn của phía Công An.
Kết quả là với hai tội danh được dàn lên và do vu cáo, (hoạt động đầu tư bất hợp pháp và hối lộ viên chức chính quyền), ông Trịnh Vĩnh Bình đã bị xử án 11 năm tù và phạt vạ 480 lượng vàng và 6.2 tỷ đồng. Tấât cả tài sản của ông Bình dầu tư ở VN bị tịch thu.
Theo các chi tiết của luật sư đại diện ông Bình đưa ra trong vụ kiện trước toà quốc tế thì “căn cứ trên lời vu cáo của một người tên Trịnh Hiền Thanh ngày 4 tháng Mười hai năm 1996, và mặc dầu vu cáo này sau đó đã được y cải chính rồi rút lại, ông Trịnh Vĩnh Bình đã bị giam giữ và bị cáo buộc ba tội trạng có liên hệ đến hoạt động đầu tư của ông.” Luật sư của ông Bình cũng nêu lên qua lá thư gửi nhà cầm quyền VN hồi cuối năm 2003 thì:
“Thật sự, sự vô tội của ông Trịnh Vĩnh Bình bây giờ có thể được chứng minh một cách dứt khoát. Ngày 24 tháng Sáu năm 2002, tên Trịnh Hiền Thanh đã thú nhận bằng văn bản với nhà chức trách Việt Nam là y đã vu khống tố cáo ông Trịnh Vĩnh Bình về những hành động mà do đó ông bị xét xử. [Ngày Nay được biết ông Thanh, mới chết cách đây hai năm vì những biến chứng của bệnh tiểu đường] Căn cứ trên lời thú nhận đã bạch hóa mình như vậy, ông Trịnh Vĩnh Bình đã dấn mình vào trong một cuộc tranh đấu dài để rửa sạch tên tuổi của mình. Ông đã tiếp xúc với nhiều viên chức tư pháp và nhân vật đảng ở Việt Nam, đã kêu gọi sự can thiệp ngoại giao của chính phủ Hòa Lan và đã nhận được sự ủng hộ của các ủy viên thuộc Quốc hội Âu Châu. Tất cả những người được nghe trình bày sự việc của ông Trịnh Vĩnh Bình, kể cả Thủ tướng Phan Văn Khải, đều nhìn nhận có sự bất công trong vụ này; mặc dầu vậy, tài sản của ông Trịnh Vĩnh Bình chưa được hoàn trả và ông chưa được phục hồi danh dự”.
Trong việc kiện nhà nước Việt Nam trước tòa án quốc tế về đầu tư, ông Bình, qua luật sư của ông thì ông đã “thực thi quyền lợi của mình như một nhà đầu tư Hòa Lan tại nước VN Cộng Hòa XHCN dựa theo Hiệp ước đầu tư giữa Hòa Lan và Việt Nam.”

Bất lợi cho Việt Nam

Cho tới nay thì mọi sự sẽ chờ đợi quyết định của tòa quốc tế của LHQ về giải quyết các vấn đề tranh chấp, khiếu nại đầu tư quốâc tế sẽ họp vào tháng 12 tới ở Thụy Điển hoặc cùng lắm là vào đầu năm tới. Điều chắc chắn là cả hai phía đã quyết định đi tới vì cho tới cuối tháng 4 qua, cả hai phía (ông Bình và chính quyền Hà Nội)đều đã đóng tiền ký qũy trước tòa lên tới 150 ngàn MK cho mỗi bên.
Phía tổ hợp luật sư Mỹ đại diện cho ông Bình (như Ngày Nay đã loan trong số trước) đã dựa trên điều 9 của bản Hiệp ước giữa Hòa Lan và Việt Nam liên hệ tới việc “phát huy và bảo vệ đầu tư” ký kết vào năm 1994. Đại diện phía VN ký vào hiệp ước trên lúc đó là ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm. Phía chính quyền Việt Nam đã thuê tổ hợp luật sư có tiếng của Pháp Glide Loyrette Rouel có văn phòng ở Hà Nội đại diện. Đặc phái viên Nguyễn Văn Huy của Ngày Nay ở Paris đã tiếp xúc với luật sư Michel Pitron của tổ hợp trên sau khi Ngày Nay loan tin ông Bình kiện VN ở số báo trước nhưng chưa có phản ứng vì ông cho biết còn phải hỏi thân chủ, tức chính quyền VN. Cho tới khi báo Ngày Nay đưa in vào ngày 10 tháng 5, vẫn chưa có hồi âm từ phía các luật sư Pháp.
Thế nhưng, dẫn thế nào thì hậu quả của tin ông Bình kiện VN trước tòa quốc tế của LHQ cũng sẽ không có lợi cho việc VN qua các lời kêu gọi của Thủ tướng Phan Văn Khải nhắm vào người Việt nước ngoài về đầu tư ở VN và trong việc VN đang cố chứng tỏ sự cố gắng “trong sáng” hóa trong luật lệ đầu tư để xin gia nhập WTO.
Có lẽ, cũng phải nhắc lại là phản ứng có cảm tình với nạn nhân của báo chí trong nước lúc xẩy ra vụ án Trịnh Vĩnh Bình vào cuối thập niên 90, đầu thiên niên kỷ 2000, với cảnh báo ai còn dám đem tiền về VN đầu tư. Lấy điển hình là trên tờ Lao Động đặt vấn đề trên tít bài viết “Bản án Trịnh Vĩnh Bình: Liệu có phù hợp với chủ trương khuyến khích Việt kiều đầu tư về nước?”. Bài báo do ký giả Minh Trương viết đã có kết luận như sau:
“Vụ xử Trịnh Vĩnh Bình đang được giới đầu tư nước ngoài và Việt kiều chăm chú theo dõi và bàn luận vì từ vụ xét xử này họ có thể rút ra được nhiều nhận định và kếât luận về môi trường đầu tư ở Việt Nam, về chính sách, luật pháp khuyến khích đầu tư và hành động thực tế của Nhà Nước Việt Nam trong việc thực hành chánh sách đó. Bình có quốc tịch Hòa Lan, tức là mang tư cách công dân nước ngoài nhưng có gốc Việt, nghĩa là đồng bào Việt Nam. Bình đã thực sự đem tiền về nước, đã thực sự bắt tay vào làm ăn công khai, hoàn toàn trong vòng kiểm soát của nhà nước. Liệu những “Trịnh Vĩnh Bình tương lai” nghĩ gì khi Nhà nước Việt Nam thuyết phục họ đem tiền về nước làm ăn, sau vụ án này.”
Với vụ kiện của ông Bình trước toà quốc tế, một nhà đầu tư đang có cơ sở ở VN xin dấu tên đã cho Ngày Nay hay “chẳng hiểu Thủ tướng Khải sẽ ăn nói ra sao khi ông sang Mỹ gặp các nhà đầu tư hỏi về vấn đề liệu tương lai đầu tư vào Việt Nam có sẽ may mắn hơn trường hợp ông Bình hay không?”. Nói cách khác “liệu ông thủ tướng Khải đã thoát ra khỏi áp lực của giới Công An hay chưa?”

Trọng Kim
(10-502005)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ðặc sứ Tôn Giáo Bộ Ngoại Giao: Việt Nam vẫn đàn áp tôn giáo, kể cả chuyện ép buộc bỏ đạo
Sunday, May 22, 2005



WASHINGTON 22-5 (TH) - Dù CSVN liên tiếp đưa ra nhiều chỉ thị, lệnh lạt có vẻ nới lỏng sự kiểm soát sinh hoạt tôn giáo nhưng thực tế cho thấy các hành động đàn áp vẫn diễn ra.

Ðây là điều được ông John Hanford, đặc sứ về Tự Do Tôn Giáo Thế Giới của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nhìn nhận và được Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Việt Nam (CRFV) thuật lại trong bản tin phổ biến hôm Thứ Sáu 20-5-2005 vừa qua.

“Ông Hanford xác nhận vẫn có những vụ đàn áp xảyra sau khi Việt Nam cam kết, bao gồm cả những trường hợp ép bức bỏ đạo. Ông cũng lo lắng về tình trạng người Thượng ở cao nguyên Trung phần tiếp tục bị sách nhiễu và trường hợp công an thường xuyên giải tán các buổi cầu nguyện tại gia.” Bản tin CRFV viết tường thuật những lời nhận xét của đặc sứ Hanford.

Trong dịp này, ông nói “Hoa Kỳ ghi nhận lời cam kết của Việt Nam về cải tổ chính sách đối với tôn giáo nhưng (Hoa Kỳ) quan tâm về những vụ đàn áp tôn giáo vẫn xảy ra ở Việt Nam.”

Trùng hợp với ngày ông Hanford lên tiếng trong một buổi tiếp tân tổ chức ở Văn Phòng Thượng Viện Hoa Kỳ hôm 19-5-05, một nguồn tin Internet, mạng Ý Kiến.Net phổ biến bức thư thứ hai (đề ngày 16-5-2005) gửi Phan văn Khải, thủ tướng CSVN, trình bày về thái độ im lặng của nhà cầm quyền trung ương đã không thèm trả lời cho “Thư Kiến Nghị” (đề ngày 5-3-2005, tức đã hơn 2 tháng) “bày tỏ nguyện vọng của cộng đồng Tin Lành Mennonite chúng tôi được tự do thực hiện quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo tinh thần của chỉ thị 01/2005/CT-TTg ban hành ngày 04/2/2005.”

Bản kiến nghị thư thứ hai nêu ra nhiều trường hợp công an phường Bình Khánh, quận 2, Sài Gòn đã nhiều lần xông vào giải tán, bắt tín đồ về trụ sở Công An Phường thẩm vấn nhiều giờ với các lời lẽ đe dọa và cấm tham dự sinh hoạt tôn giáo của Hội Thánh này.

Bức thư của bà truyền đạo Lê thị Phú Dung (vợ mục sư Nguyễn hồng Quang đang ở tù) coi hành động nín lặng của ông Khải là “mở đường cho các cấp chính quyền địa phương tiếp tục đàn áp chúng tôi” mà bà nêu ra một số trường hợp điển hình.

Trong bức thư kiến nghị của bà Lê thị Phú Dung, bà còn thuật lại bản thông báo của Nguyễn văn Hai, chủ tịch phường Bình Khánh ngày 5-5-2005, gọi Hội thánh Tin Lành Mennonite là “những kẻ phản động lợi dụng tôn giáo, hoạt động tôn giáo bất hợp pháp.” Bản thông báo này được dán trước trụ sở văn phòng giáo hội Mennonite và nhà cầm quyền phường Bình Khánh “còn có chương trình phát thanh mỗi sáng để tuyên truyền xuyên tạc Hội thánh chúng tôi với dân chúng.”

Ngày 11-5-05, khi Thứ trưởng Ngoại Giao Robert Zoellick loan báo ở Hà Nội rằng Hoa Kỳ đã đạt được thỏa thuận với nhà cầm quyền CSVN về vấn đề (nới lỏng) tự do tôn giáo thì bà Phạm thị kim Hường, nữ mục sư Hội Thánh Tin Lành Mennonite ở tỉnh Ðồng Nai phổ biến bản tường trình kêu cứu rằng nhà cầm quyền địa phương tiếp tục đàn áp, bắt bớ tín đồ của hội thánh này.

Ngày 18-5-05, đài phát thanh Á Châu Tự Do (RFA) phổ biến bản tin nói rằng nhiều đồng bào sắc tộc Hmong theo đại Tin Lành ở tỉnh Lào Cai đã bị đánh đập, tịch thu đất canh tác (bao vây kinh tế) vì đã không chịu bỏ đạo.

Trước đó một ngày, đài RFA cũng thực hiện một cuộc phỏng vấn tín đồ Tin Lành ở tỉnh Thái Bình kể lại chuyện một truyền đạo bị viên chức nhà nứơc đánh đập đến thương tích phải vào bệnh viện khi đi thăm một tín đồ đang bị bệnh.

Trong ngày 20-5-2005, “Ban tôn giáo chính phủ” CSVN đã tổ chức một cuộc họp để “triển khai chỉ thị” cho “các vị chức sắc trong ban trị sự Tổng Liên Hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) và mục sư quản nhiệm các chi hội thuộc khu vực Bình Phước, Tây nguyên...”

Ðầu Tháng Ba 2005, Phan văn Khải ra chỉ thị đặc biệt đối với nội dung có vẻ nới lỏng sinh hoạt tôn giáo đối với đạo Tin Lành ở khu vực Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc của các sắc tộc thiểu số sau khi bị áp lực nặng từ phía chính phủ Mỹ. Cuộc họp ở Sài Gòn vừa kể không thấy nói gì đến sự tham dự của các cơ quan công an và nhà cầm quyền các địa phương liên quan đến vấn đề cấp giấy phép hoạt động.

Ngày 12-5-2005, Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế (USCIRF,) cơ quan độc lập nhưng do chính phủ và quốc hội Hoa Kỳ đồng thành lập, phổ biến bản phúc trình nói rằng “trong 5 năm qua, đã có 100 nhà lãnh đạo tôn giáo bị bỏ tù, hơn 1,000 nhà thờ, nhà nguyện bị đóng cửa, và nhà cầm quyền tiếp tục đàn áp về tôn giáo đối với những người thuộc sắc tộc thiểu số.”

Tháng Tư 2004, hơn 20,000 người Thượng ở ba tỉnh Ðắc Lắc, Gia Lai và Ðắc Nông đã biểu tình tập thể ở nhiều khu vực khác nhau đòi tự do tôn giáo và đất canh tác truyền thống. Hơn một ngàn người đã chạy trốn sang Cam Bốt để tránh bị trả thù. Nhiều người Thượng bị cáo buộc tổ chức biểu tình hoặc tổ chức vượt biên đã bị án tù nặng nề.

Tháng 9 năm ngoái, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ xếp CSVN vào danh sách các nước “cần quan tâm đặc biệt” vì tiếp tục đàn áp tôn giáo.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Lê Khả Phiêu đả kích chế độ CSVN hiện tại dung dưỡng tham nhũng
Wednesday, May 25, 2005


HÀ NỘI 25-05 (TH).- Nguyên Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam, Lê Khả Phiêu, nói rằng chống tham nhũng ở Việt Nam “chặn chỗ này lại bục chỗ kia” và “trầm trọng hơn”.

Nhân cuộc phỏng vấn của báo chí trong nước được tờ Tuổi Trẻ Online đăng tải ngày 25 Tháng Năm 2005, khi được hỏi ông đánh giá thế nào “về tình trạng tham nhũng hiện nay”, Lê Khả Phiêu nói rằng “Kiểm điểm lại thì thấy chặn chỗ này lại bục chỗ kia, có cái càng bục lớn hơn”.

Lê Khả Phiêu, 74 tuổi, làm tổng bí thư được một nhiệm kỳ từ 1997 đến 2001 thì bị phe Ðỗ Mười, Lê Ðức Anh đánh đổ với những lời cáo buộc loan truyền rỉ tai nhân cuộc bầu bán nhân sự đảng là ông này “là gián điệp Trung Cộng” cũng như thành lập cơ quan theo dõi đảng viên cao cấp không cùng phe phái để trù dập.

Từ cuối năm ngoái sang đầu năm nay, Phan Văn Khải, nhân danh thủ tướng nhiều lần lên tiếng nói rằng nhà nước sẽ “quyết liệt” chống tham nhũng. Nhiều năm qua, các cấp lãnh đạo Việt Nam nhiều lần tuyên bố thẳng tay với tham nhũng “không trừ một ai” nhưng theo sự nhận xét của ông Phiêu thì tình trạng tham nhũng của đảng viên cán bộ Cộng Sản Việt Nam bây giờ “tham nhũng không phải một người mà trở thành đường dây từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới.”

Hồi còn nắm quyền tổng bí thư, Lê Khả Phiêu đã cho đưa ra nghị quyết bắt tất cả quan chức cả nước phải kê khai tài sản cùng với việc đẩy mạnh “phê bình và tự phê bình” nhằm đối phó với tham nhũng đã được mô tả thời đó là “luồn sâu, leo cao” trong hệ thống Ðảng và nhà nước. Tuy nhiên, sau khi ông bị cưa ghế tổng bí thư, dần dần không thấy hệ thống báo đài của chế độ động chạm gì đến chuyện này khiến nó trờ thành một thứ “đánh trống bỏ dùi.”

Hiện nay, Quốc Hội Cộng Sản Việt Nam đang thảo luận một luật về chống tham nhũng và thất thoát ngân sách mà chỉ nói tới chuyện “lãng phí” trong khi hệ thống cầm quyền có đủ mọi loại cơ quan thanh tra nhà nước từ trung ương tới địa phương, rồi kiểm toán nhà nước, vốn dĩ cũng làm nhiệm vụ chống tham nhũng.

Trong cuộc phỏng vấn của tờ Tuổi Trẻ, Lê Khả Phiêu tiết lộ rằng khi ông ta còn là tổng bí thư “có những vụ tôi biết, anh Sáu Dân (bí danh Võ Văn Kiệt, nguyên thủ tướng thời Lê Khả Phiêu) biết mà không khui được. Nó thành dây che chắn nhau, thậm chí cả bên ngoài che chắn chứ không chỉ trong nước”. Ðiều tiết lộ này chứng tỏ những đời tổng bí thư của Ðảng Cộng Sản Việt Nam dạo sau này không hoàn toàn có thực quyền ăn trùm cả Ðảng mà thực quyền nằm trong tay nhóm người nào có nhiều thế lực.

Trong cuộc phỏng vấn nói trên, Lê Khả Phiêu muốn gắn chuyện chống tham nhũng với chuyện “xây dựng Ðảng” trong khi nhiều chuyên viên quốc tế khi đến Việt Nam thời gian gần đây đều nhắc nhở rằng muốn chống được tham nhũng thì phải tách biệt quyền hạn giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp. Hiện nay và cũng như bao nhiêu năm qua, cơ chế Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Namnắm toàn bộ và chỉ huy toàn diện mọi sinh hoạt quốc gia.

Bên cạnh những lời phát biểu của Lê Khả Phiêu, báo điện tử ngày 25 Tháng Năm 2005 phổ biến bài phỏng vấn đại biểu quốc hội Tạ Hữu Thanh, và cũng là Phó Trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương, thú nhận rằng “minh bạch là biện pháp chống tham nhũng nhưng nhiều việc chúng ta đang làm thiếu minh bạch.”

Ngày 15 Tháng Ba 2005, Viện Quản Lý Kinh Tế Trung Ương Việt Nam đưa ra một bản phúc trình và được báo Lao Ðộng tường thuật nói rằng “chi phí bôi trơn, ngoài luật” làm cho tốn phí kinh doanh ở Việt Nam cao nhất khu vực.

Ngày 13 Tháng Tư 2005, báo điện tử đăng tải bản tin nói rằng Thủ Tướng Phan Văn Khải kêu gọi “người dân hãy chung sức chống tham nhũng” khi ông ta tiếp xúc với cử tri ở Hóc Môn ngày 12 Tháng Tư 2005.

Ngày mùng 2 Tháng Chín 2001, các ông Phạm Quế Dương và Trần Khuê mới làm đơn xin thành lập “Hội Nhân Dân Giúp Ðảng Và Nhà Nước Chống Tham Nhũng” thì đã bị đàn áp thẳng tay. Hai ông và một số thân hữu đã bị công an bắt thẩm vấn liên tiếp nhiều ngày rồi còn bị lôi ra phường để đấu tố.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Việt Nam: Thoi thóp chợ đêm Sài Gòn
Thursday, May 26, 2005


SAIGON, Việt Nam.- Vài tháng trước mùa SEA Games 22 (Ðông Nam Á Vận Hội lần thứ 22, do Việt Nam tổ chức hồi năm 2003), được tổ chức tại Việt Nam, các khu chợ đêm Phạm Ðôn, Trần Ðiện (Q.5), Kỳ Hòa (Q.10), Bến Thành (Q.1) gấp rút được khai trương cách nhau không quá 30 ngày. Rộn ràng, sôi nổi được những ngày đầu nhưng hiện nay thì tất cả đều èo uột, hiu hắt...


Chỉ còn 1/10 so với trước

Giữa tháng 5-2005, chúng tôi (phóng viên báo Phụ nữ) có mặt tại đường Trần Ðiện, Q.5 lúc 7 giờ tối. Con phố vắng tanh. Chợ đêm Trần Ðiện đã “biến mất”. Nhớ lại những ngày đầu mới khai trương, khu chợ khá “xôm tụ” người mua kẻ bán. Muốn vào chợ, chúng tôi phải gởi xe tận phía ngoài. Vòng qua con phố gần đấy, khu chợ ẩm thực Phạm Ðôn nay cũng chỉ còn khoảng mười quầy (xe chở bán thức ăn đậu tại chỗ) nằm dọc hai bên đường, hơn 30 quầy còn lại đều đã nghỉ bán, xe vẫn đậu đấy, trống không...

Chúng tôi tấp vào một gian hàng, vừa kéo ghế ngồi, lập tức nhận được bốn, năm tấm “menu” (bảng tên thức ăn) của ba, bốn chủ hàng gần đấy đem đến chào mời. Gần hai tiếng đồng hồ ngồi tại chợ, chúng tôi chỉ đếm được 9 thực khách! Chị Hằng, một chủ quầy “kỳ cựu” của chợ bày tỏ: “Lượng khách chỉ bằng 1/10 so với lúc mới khai trương”. Chị cho biết, chợ đang trong tình trạng thoi thóp, không biết chết khi nào trong mùa mưa sắp tới.

Các khu chợ đêm khác như Kỳ Hòa, Bến Thành vẫn còn hoạt động. Tại chợ đêm Bến Thành, sầm uất nhất chỉ có khu hàng ăn uống. Còn ở khu hàng tiêu dùng, đến khoảng 8 - 9 giờ tối là nhiều sạp đã bắt đầu thu dọn, dẹp tiệm dần. Thu hút khách du lịch, làm phong phú thêm danh sách các điểm tham quan, mua sắm tại Sài Gòn là một trong những mục đích chính của khu chợ ngay khi mới có kế hoạch thành lập, nhưng chúng tôi gặp rất ít khách ngoại kiều đi mua sắm. Nhiều công ty du lịch cho biết, dù chợ đêm Bến Thành nằm ngay trung tâm thành phố nhưng hiện vẫn chưa đưa được điểm này vào chương trình tour. Nguyên nhân là hình thức sạp chợ, hàng hóa quá nghèo nàn!


Ðể cho đêm thật sáng đèn...

Hiện chợ đêm Kỳ Hòa (Q.10) đã được bình dân hóa. Chúng tôi ghi nhận tại đây đa phần các mặt hàng được bán chỉ với giá khoảng hàng 10.000 đồng - 30.000 đồng/món. Chủ yếu là hàng của các cơ sở sản xuất nhỏ.

Anh Khoa, một người bán mền gối tại đây, cho biết: “Chợ thu hút nhiều công nhân và đối tượng sinh viên mua sắm nên muốn “sống” được, chúng tôi phải bán hàng với giá rẻ. Tại đây, khu bán hàng tiêu dùng ngày càng phình ra, khu ăn uống đang bị thu hẹp dần, phù hợp nhu cầu của người tiêu dùng. Khu chợ này mang vẻ nhộn nhịp hơn các chợ đêm khác nhưng người xem vẫn cứ nhiều hơn người mua. Dù vậy, có lẽ Kỳ Hòa là khu chợ đêm còn có đông khách lui tới nhất. Hiện giá sang mặt bằng tại đây đã tăng lên khoảng 15% - 20% so với giá ban đầu nhưng vẫn chưa thể gọi là một khu chợ đêm hấp dẫn nhiều đối tượng.

Bà Nguyễn Thị Lan, Trưởng Phòng Kinh tế quận 5, thẳng thắn nói về sự “dẹp tiệm” của chợ đêm Trần Ðiện: “Chợ ế vì đặt không đúng nơi, người dân không có nhu cầu”. Thực tế, những chợ đêm “có giấy phép hoạt động” kể trên đều hiu hắt chính là do chúng ta thiếu một kế hoạch xây dựng khu chợ đêm có bài bản và dài hạn.

Ông Nguyễn Ðức Hy, Trưởng Phòng Nghiên cứu và Phát triển Công ty Du lịch Fiditourist (Q.l), nói: “Chúng ta rất cần một chợ đêm hấp dẫn du khách, thậm chí chợ phải mở cửa suốt đêm, bởi nhu cầu đi chơi đêm và mua sắm ở chợ của các ngoại kiều khi đến Việt Nam là rất lớn mà chúng ta chưa đáp ứng được. Tôi nghĩ, người tham gia buôn bán tại chợ là một yếu tố quan trọng, phải là những người kinh doanh chấp nhận đầu tư dài hạn, có tầm nhìn xa. Trong khi hiện tại, hầu hết những đối tượng kinh doanh ở chợ đêm chỉ có cái nhìn tức thời, quan tâm đến cái lợi trước mất, hàng hóa thiếu chọn lọc...”.

Bà Nguyễn Thị Lập Quốc, Giám đốc Sở Du lịch Saigon, cũng nhận xét: “Thái Lan có chợ đêm Silom-Surawong-Patong hấp dẫn hầu hết các khách du lịch. Có thể nói, du khách nào đến Thái Lan cũng biết chợ đêm này. Theo cách làm của Thái Lan muốn xây dựng một chợ đêm có sức sống, điều cần thiết là chúng ta phải chọn được một vị trí đẹp thích hợp cho cả người mua lẫn người bán. Thiết kế gian hàng phải ấn tượng, đậm bản sắc địa phương, từ ánh sáng cho đến trang trí. Sản phẩm phải chọn lọc mang tính độc đáo, lạ, ngộ nghĩnh và rẻ. Còn ở nước ta, khu chợ đêm gần trung tâm nhất là Bến Thành, chỉ xét riêng mặt hàng hóa cũng đã thấy rập khuôn chợ ban ngày!”.


(Theo báo P.N. ngày 25-5-2005)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Khủng hoảng điện miền Bắc trầm trọng hơn vì thủy điện Hòa Bình chỉ sản xuất có 7% công suất
Friday, May 27, 2005




HÀ NỘI 27-5 (TH) - Sinh hoạt kinh tế và xã hội Việt Nam từ Thanh Hóa ngược lên toàn miền Bắc bị khủng hoảng nặng nề hơn khi nhà máy thủy điện Hòa Bình gần như ngưng hoạt động từ mấy ngày nay và điện “cứu trợ từ miền Nam đưa tới cũng không đóng góp được nhiều,” theo các tin tức từ trong nước.

“Theo tin từ phòng kế hoạch - kỹ thuật của nhà máy thủy điện Hòa Bình, sản lượng điện phát ra trong ngày 26-7-05 của nhà máy chỉ còn dưới 3.6 triệu kWh, đạt khoảng 7% tổng sản lượng điện phát ra mỗi ngày (trong điều kiện bình thường) của nhà máy.” Báo điện tử VNNet viết.

Theo nguồn tin này, dù có mưa ở khu vực nhưng không lớn nên “lượng nước về hồ Hòa Bình vẫn chỉ ở dưới mức 165m3/giây.” Nhà máy thủy điện này chỉ chạy cầm chừng cho đến khi nào chưa biết nếu không có lũ xảy ra mà một viên chức sở khí tượng trung ương Hà Nội nói rằng “trong hai, ba ngày cuối tháng 5 và ba bốn ngày đầu tháng 6 sẽ xuất hiện một đợt mưa trên diện rộng hơn ở miền Bắc.”

Bà Nguyễn Lan Châu, phó giám đốc Trung Tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, đưa ra lời tiên đoán bi quan rằng “Lũ tiểu mãn có thể xảy ra vào các ngày 28/29-5 song lưu lượng chỉ đạt khoảng 1000m3/giây” tức không đủ lớn nên bà này nói rằng “có lũ tiểu mãn cũng gần như không,” theo tin của tờ Tiền Phong.

Hiểu như vậy, tình hình thiếu điện cho toàn miền Bắc Việt Nam sẽ chỉ có thể cải thiện nếu có mưa lũ lớn xảy ra ở khu vực thượng nguồn và sông Ðà, nguồn nước chính yếu để nhà máy thủy điện Hòa Bình hoạt động.

Từ khu vực hầm mỏ Quảng Ninh đến nhà máy xi măng ở Hải Phòng, tất cả đều bị ảnh hưởng sản xuất vì thiếu điện. Trong ngày 27-5-05, báo Tiền Phong có một ký sự mô tả đời sống nông dân tỉnh Hà Tây thiếu gạo ăn vì không có điện chạy máy chà xát lúa. Nông dân trữ thóc và khi cần thì bán thóc để mua gạo nhưng nhà máy không có điện nên không ai mua thóc.

Vì nhà máy thủy điện Hòa Bình, và cả nhà máy thủy điện Thác Bà, mất gần hết khả năng sản xuất điện cho miền Bắc, VNNet nói rằng “trong hai ngày qua những khu vực bị cắt điện ở 22 tỉnh miền Bắc tiếp tục gia tăng.”

Cũng vì bị cắt điện, nhiều khu vực đô thị cũng bị cắt luôn nước vì các nhà máy nước không có điện để máy bơm hoạt động.

Báo Tuổi Trẻ làm một ký sự ngắn đưa ra một số hình ảnh trái ngược ở thủ đô Hà Nội cho thấy trong khi điện bị cắt ở rất nhiều khu vực cư dân thì “Một điều hết sức lạ lùng là trong khi các công sở, các nhà máy xí nghiệp ở miền Bắc bị cắt điện phải ngưng hoạt động và người dân ở nhiều khu vực thiếu điện sinh hoạt thì các tụ điểm vui chơi giải trí ở trung tâm Hà Nội vẫn có điện.”

Tờ báo này kể sơ sơ một số hình ảnh nghịch lý: “Ði qua các nhà hàng, khách sạn, vũ trường ở Hà Nội sẽ thấy hoạt động ở đây hết sức nhộn nhịp. Quả là vô lý khi đèn đường và đèn điều khiển giao thông thành phố còn nhiều lúc phập phù, nhưng những ánh đèn lung linh nơi các tụ điểm giải trí vẫn hoạt động hết công suất.”

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Trưởng Ban Quản Lý Lao Động Việt Nam tại Đài Loan tiếp tay cho bọn chà đạp nhân phẩm nữ lao động Việt Nam?
Sunday, May 29, 2005

Image

Linh Mục Nguyễn Văn Hùng


Phái viên Người Việt On Line/tường trình từ Taipei

Theo nguồn tin từ các nạn nhân cũng như cơ quan điều tra Đài Loan tại thành phố Đài Nam, được cơ quan truyền thông địa phương loan tải thì sau khi hai cha con người Đài Loan, chủ một công ty môi giới lao động Việt Nam bị bắt về tội hãm hiếp vì có sự tố giác của các nữ công nhân người Việt, ông Trần Đông Huy, trưởng ban quản lý lao động Việt Nam tại Đài Loan đã tìm đến các nạn nhân để thuyết phục họ chấm dứt các hành động thưa kiện hầu cho mọi sự chấm dứt một cách êm thấm.
Chỉ vài ngày trước đây, sau khi có đơn tố cáo của các nữ lao động Việt Nam là họ đã bị hai cha con chủ công ty môi giới người Đài Loan là Hồng Minh Du và Hồng Khánh Chương thay phiên cưỡng hiếp, cảnh sát tại thành phố Đài Nam đã tiến hành cuộc điều tra và đến tận văn phòng bắt giữ hai nghi can nói trên. Theo tin tức chúng tôi ghi nhận được thì số phụ nữ Việt Nam là nạn nhân của hai cha con tên này trong thời gian qua đã lên đến hàng trăm người. Nỗ lực đưa vấn đề ra trước ánh sáng công lý cũng có sự trợ giúp của các luật sư Đài Loan thuộc tổ chức thiện nguyện Legal Aid Foundation.
Tuy nhiên, trong lúc cuộc điều tra vẫn còn đang tiếp diễn, vào lúc 9 giờ 30 sáng ngày 27 tháng 5, ông Trần Đông Huy đã cùng với một phụ nữ Việt Nam khác tìm đến một nạn nhân để tìm cách thuyết phục cô này bãi nại.
Lý lẽ ông Trần Đông Huy đưa ra là 1) những người đưa đơn kiện không tiền nên không có khả năng thuê luật sư; 2) những nguyên đơn không có bằng chứng nên dễ bị thua và nếu thua sẽ bị phạt tiền bồi thường và có thể phải đi tù(?). Ông Trần Đông Huy đề nghị là các nạn nhân bằng lòng để được “xin lỗi” và bồi thường cho một số tiền để cho vấn đề được giải quyết êm thấm. Ông Trần Đông Huy còn đòi nạn nhân phải để ông ta chụp hình gọi là để làm kỷ niệm(?)
Khi luật sư của nạn nhân biết được điều này đã chính thức phản đối với Viện Kiểm Sát Đài Nam và yêu cầu phải có biện pháp ngăn chặn không cho ông Trần Đông Huy, với chức vụ trưởng ban quản lý lao động Việt Nam tại Đài Loan lại có hành động tiếp tay với phía bị cáo. Tờ “Tự Do Thời Báo” tại Đài Loan trong số ra ngày 27 tháng 5 năm 2005 cũng đã có bài tường thuật về việc này.
Sang đến ngày 28 tháng 5, ông Trần Đông Huy lại còn gửi văn thư, gọi điện thọai đến văn phòng bộ Ngọai giao, bộ Tư Pháp, bộ Nội Vụ... Đài Loan cũng như các tổ chức thiện nguyện đang họat động trong lãnh vực bảo vệ quyền lợi người nữ lao động ngọai quốc ở Đài Loan để cáo buộc rằng linh mục Nguyễn Văn Hùng, người từng giúp đỡ người lao động ngọai quốc tại đây từ năm 1999 đến nay, là thành phần “phản lọan, chống đối nhà nước Việt Nam.”
Linh mục Hùng cho biết điều này đối với ông không có gì lạ vì trong những năm qua, trong mỗi lần có tranh chấp giữa chủ Đài Loan và công nhân Việt Nam, ông Trần Đông Huy cũng như đại diện Văn Hóa Kinh Tế Việt Nam tại Đài Loan (một hình thức giống như tòa đại sứ) đều không bao giờ lên tiếng bảo vệ quyền lợi chính đáng của người công nhân Việt Nam phải đi làm việc nơi xứ người.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Mỹ Tài Trợ Các Hội NGO Để Lập Xã Hội Dân Sự, Tự Do Hóa VN WASHINGTON -- Chiến lược lâu dài của Mỹ là gì? Một trong các kế sách, chính là xây dựng một xã hội dân sự cho Việt Nam, để người dân “dần dần có thể hành xử những quyền tối thiết của mình một cách tự do hơn.”
Và Mỹ sẽ chi tiền để tài trợ kế hoạch này, theo lời đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michael Marine, trong bài phỏng vấn trên đài VOA loan hôm 28-5-2005.
Bản tin như sau.
“Hôm 26 tháng 5 vừa qua, bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, Chủ Tịch Tổ Chức quốc Tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản tại Việt Nam đã mở một buổi tiếp tân trong khuôn viên tư gia của ông để khoản đãi ông Michael Marine, Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam với sự có mặt của một số đại diện các cơ quan truyền thông trong vùng thủ đô Washington. Theo lời bác sĩ Nguyễn Quốc Quân thì ông muốn tạo cơ hội để ông Đại Sứ có thể nói chuyện với giới truyền thông người Việt trong vòng thân mật. Đây cũng là dịp để các nhà báo và những người làm việc trong các cơ quan truyền thanh truyền hình có thể trao đổi quan điểm với ông Đại Sứ về những vấn đề có liên quan đến Việt Nam, trong đó có việc cải thiện các mối quan hệ Việt Mỹ, vấn đề nhân quyền, và nhất là tự do tín ngưỡng.
Trong lời giới thiệu Đại Sứ Marine với cử tọa trong buổi tiếp tân, bác sĩ Nguyễn Quốc Quân nói rằng ông Michael Marine là một giới chức ngoại giao xuất sắc của Hoa Kỳ. Trước khi đảm nhận công tác ngoại giao, ông đã phục vụ 4 năm trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Ông nói thông thạo tiếng Quan Thoại, tiếng Pháp và tiếng Đức. Ông đã đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng trên thế giới và nhận được rất nhiều ban thưởng của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về thành tích phục vụ xuất sắc của ông. Bác sĩ Quân cũng nói rằng đây không phải là lần đầu tiên ông gặp gỡ Đại Sứ Marine:
Tôi đã hân hạnh có dịp gặp gỡ ông Michael Marine tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trước khi ông đảm nhận chức vụ Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam trong năm ngoái. Chúng tôi đã trao đổi quan điểm với nhau một cách thẳng thắn về những vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại Việt Nam, nhất là làm thế nào để can thiệp và vận động cho việc trả tự do cho các nhân vật bất đồng chính kiến, và làm thế nào để những người này không bị bắt trở lại. Chúng tôi cũng đã thảo luận về việc làm thế nào để cải thiện sự liên hệ giữa các cộng đồng người Mỹ gốc Việt và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng như phương cách thực thi hiệp định thương mại song phương.
Cũng theo lời bác sĩ Nguyễn Quốc Quân thì vấn đề nhân quyền là ưu tiên hàng đầu trong nghị trình làm việc của Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, và ông là người đã đóng vai trò quan trọng trong việc vận động trả tự do cho Linh mục Nguyễn Văn Lý, Thượng Tọa Thích Thiện Minh, Giáo Sư Nguyễn Đình Huy và bác sĩ Nguyễn Đan Quế.
Sau phần giới thiệu của bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, ông Đại sứ đã trình bày với cử tọa về những tiến triển trong các mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, và những gì mà Hoa Kỳ sẽ thực hiện trong thời gian tới. Ngoài phần trình bày vừa kể ông Đại sứ còn dành cho tất cả đại diện trong giới truyền thông một cuộc họp mặt riêng sau buổi tiếp tân để trao đổi quan điểm cũng như trả lời những câu hỏi do báo chí nêu lên.
Trả lời câu hỏi về mối bang giao giữa 2 nước do đặc phái viên đài VOA nêu lên ông Đại Sứ cho biết:
Hoa Kỳ và Việt Nam đã bình thường hóa bang giao cách đây 10 năm. Từ đó đến nay quan hệ giữa 2 nước đã gia tăng một cách vững chắc trong nhiều lãnh vực. Nếu có người hỏi tôi là mối quan hệ đó như thế nào thì tôi có thể nói rằng quan hệ đó càng ngày càng vững chắc. Tôi tiên đoán là trong vòng 10 năm tới người ta sẽ thấy sự tăng trưởng nhiều hơn về các mối quan hệ trong lãnh vực y tế, các hoạt động tương tác về quân sự, về giáo dục, và dĩ nhiên là trong lãnh vực mậu dịch và thương mại.
Cũng theo lời Đại Sứ Michael Marine thì trong lãnh vực kinh tế, 2 nước đã đạt được những tiến bộ khả quan, được chứng minh bằng những con số trao đổi mậu dịch:
Trong lãnh vực kinh tế, ta thấy một sự phát triển vượt bực kể từ khi hai nước đi vào hiệp định thương mại song phương cách đây khoảng 3 năm rưỡi. Kể từ đó con số trao đổi mậu dịch đã tăng lên gần 300%, và mậu dịch 2 chiều đã tăng từ 1 tỉ đô la lên đến hơn 6 tỉ đô la 1 năm. Và nếu ta nhìn con số đó hiện nay thì sẽ nhận thấy rằng kể cả xuất khẩu và nhập khẩu đã tăng khoảng 30%.
Tuy nhiên theo lời ông Đại Sứ thì vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam vẫn là mối quan tâm hàng đầu của Hoa Kỳ, và đôi bên đang có những nổ lực nhằm cải thiện vấn đề này:
Đây là một lãnh vực đáng quan tâm, như quí vị đã biết Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam vào danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm. Lý do lớn nhất là tình trạng của những người Thượng theo đạo Tin Lành tại Tây nguyên. Tuy nhiên kể từ đó chúng tôi cảm thấy phấn khởi vì sự kiện cho thấy rằng chính phủ Việt Nam đã tiếp tục làm việc về chính sách đó đối với đạo Tin Lành. Và chúng tôi tin rằng tình hình đang được cải thiện và sẽ được tiếp tục cải thiện trong những tháng tới. Vấn đề chính là phải cho phép các Nhà Thờ đăng ký để họ có thể sinh hoạt tự do, và phải thi hành chính sách chống lại việc bắt buộc bỏ đạo. Vì vậy bất cứ ai nhúng tay vào việc bắt buộc bỏ đạo đều phải bị trừng phạt, đồng thời cho phép người dân có chổ để tham gia các sinh hoạt tôn giáo của mình.
Khi được hỏi là liệu việc Thủ Tướng Việt Nam Phan Văn Khải sắp viếng thăm Hoa Kỳ vào tháng tới, có phải là dấu hiệu cho thấy 1 kỷ nguyên hợp tác mới giữa 2 nước hay không thì ông Đại Sứ cho rằng đây chỉ là một bước hiển nhiên trong tiến trình phát triển bang giao giữa 2 nước:
Tôi không nghĩ đây là một dấu hiệu mà là một diển tiến hợp lý trong khi mối bang giao giữa 2 nước đang tiếp tục mở rộng. Như quí vị biết, Tổng Thống Clinton đã viếng thăm Việt Nam trong năm 2000. Có thể nói đây là một cuộc thăm viếng lẫn nhau của một nhà lãnh đạo cao cấp Việt Nam. Nó có thể giúp thiết lập một giai đoạn cho sự tăng trưởng nhiều hơn trong mối quan hệ giữa 2 nước, tuy nhiên sự tăng trưởng đến mức độ nào và nhanh chóng ra sao thì còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố chứ không phải chỉ nằm trong phạm vi của một cuộc viếng thăm cá nhân.
Trả lời câu hỏi liệu Hoa Kỳ có thể làm được gì để giúp cải thiện tình trạng nhân quyền được xem là tồi tệ tại Việt Nam, ông Đại Sứ cho biết:
Tôi thấy có nhiều điều mà Hoa Kỳ có thể làm và đang làm. Một là công khai nói lên tầm quan trọng của vấn đề này với nhân dân Mỹ. Dĩ nhiên là chúng tôi sẽ yêu cầu Việt Nam phải tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền, chứ không phải tiêu chuẩn của Hoa Kỳ, chúng tôi không đặt hệ thống của Hoa Kỳ lên Việt Nam, nhưng đó là những tiêu chuẩn quốc tế mà Việt Nam nên tuân theo. Chúng tôi cũng sẽ có những chương trình tài trợ để giúp các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong dân chúng về mặt xã hội dân sự nhằm tạo một môi trường, trong đó dân chúng dần dần có thể hành xử những quyền tối thiết của mình một cách tự do hơn.
Được biết trước đây không lâu, Đại sứ Michael Marine cũng đã mở một cuộc tiếp xúc tại thành phố San Francisco với các đại diện của cộng đồng người Việt và giới truyền thông tại miền Bắc Tiểu Bang California để trình bày những vấn đề ưu tiên trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ có liên quan đến Việt Nam. Đây cũng là dịp để diễn giả và cử tọa có thể trao đổi quan điểm với nhau về những vấn đề có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến cộng đồng người Việt hải ngoại, một cộng đồng mà càng ngày càng có nhiều nhiều ảnh hưởng đến các sinh hoạt chính trị tại Hoa Kỳ.”

Post Reply