Tin Trong Nước

Xin nhớ: tin cần có "nguồn", trích từ đâu ra!!!
User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Không được nhập cảnh vào Việt Nam!
Nguyễn Hưng Quốc


“Anh đi với em sang bên kia có chút việc.”

Viên công an cửa khẩu mang bảng tên Nguyễn Anh Tuấn vừa nói vừa đứng dậy, trên tay cầm tờ hộ chiếu của tôi, đi về phía văn phòng chỉ huy của trạm công an xuất nhập cảnh ở phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn. Trước khi đi theo Tuấn, tôi dặn các sinh viên trong phái đoàn du khảo (study tour) do tôi hướng dẫn: “Các em cứ tiếp tục trình hộ chiếu và đợi tôi ở phía bên kia. Tôi sẽ về ngay.”


Lúc ấy là 4:15 phút chiều Thứ Bảy, 19 tháng 11. Phái đoàn gồm có tôi và 11 sinh viên Úc từ trường đại học Victoria, Melbourne về Việt Nam tham quan và học tập. Đúng ra, phái đoàn có đến 14 sinh viên, nhưng một người trong họ đã đến Việt Nam mấy ngày trước đó và hai người khác sẽ bay thẳng từ Bangkok đến Hà Nội. Điểm hẹn của chúng tôi là ở phi trường Nội Bài vào khoảng 8 giờ tối, khởi đầu cho cuộc du khảo kéo dài 4 tuần, trong đó, 18 ngày đầu ở Hà Nội và 10 ngày cuối cùng du hành từ Hà Nội vào Sài Gòn bằng xe lửa và xe buýt, với các điểm ghé chính là Huế, Đà Nẵng - Hội An và Nha Trang.


Xin lưu ý: du khảo là hình thức giáo dục được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các đại học Âu Mỹ. Các nhà giáo dục khuyên, khuyến khích và tạo điều kiện để sinh viên có thể tham gia các chuyến du khảo ở nước ngoài ít nhất là một lần trong suốt chương trình Cử nhân của họ. Đi đến bất cứ nước nào cũng được. Miễn là có đi. Đi để trực tiếp kinh nghiệm tính chất đa dạng và khác biệt giữa các nền văn hoá. Đi để cảm nhận, từ đó, thông cảm và khoan dung trước những cái mới và những cái lạ. Đi để phát triển khả năng giao tiếp liên văn hoá với những người đến từ những xã hội khác với mình.


Riêng trường Victoria University, nơi tôi giảng dạy, đã từng tổ chức các chuyến du khảo tại Việt Nam trong nhiều năm. Phải thành thật thừa nhận Việt Nam chưa phải là một địa chỉ hấp dẫn để tham quan cũng như để nghiên cứu đối với sinh viên Úc. Có năm chuyến du khảo chỉ tập hợp được khoảng 7, 8 sinh viên. Con số quá ít, nhưng đại học vẫn sẵn sàng tài trợ để chuyến đi được tổ chức thật chu đáo: họ coi trọng mục đích giáo dục lâu dài hơn là các lợi nhuận về kinh tế trước mắt. Tuy nhiên, kể từ khi tôi chính thức tiếp nhận vai trò chủ nhiệm Khoa Việt học, do quá bận bịu với nhiều đề tài nghiên cứu cũng như việc cải tổ chương trình giảng dạy, đến năm nay tôi mới đứng ra tổ chức được chuyến du khảo đầu tiên sang Việt Nam. Có 14 người tham dự. Không phải nhiều lắm nhưng mọi người trong Khoa đều cho đó là một sự thành công lớn: những tin tức về dịch cúm gia cầm càng ngày càng làm cho nhiều người lo lắng nên ngay cả chuyến du khảo sang Trung Quốc do trường Victoria University tổ chức vốn thường thu hút khá nhiều thành viên, năm nay, chỉ có 11 người. Lên máy bay, tôi cảm nhận ngay áp lực của dịch cúm gia cầm: vào giữa tháng 11 mà lượng hành khách trên chuyến bay VN780 vào sáng Thứ Bảy ngày 19 tháng 11 khá vắng. Có rất nhiều ghế trống. Dãy ghế của tôi chỉ có một mình tôi. Khi mệt hoặc mỏi, tôi có thể nằm dài trên đó. Tuy vậy, các sinh viên tham gia chuyến du khảo sang Việt Nam thì rất vui, nhất là các sinh viên trẻ. Họ túm lại với nhau chuyện trò và hát hò inh ỏi suốt cả tám tiếng đồng hồ bay. Có người kể là suốt cả buổi tối trước đó họ không hề chợp mắt. Có người lại kể là, để chuẩn bị cho chuyến đi, trong nhiều tuần lễ, họ thường xuyên đến các tiệm ăn Việt Nam ở Footscray để tập... cầm đũa! Với không ít người, đây là chuyến xuất ngoại đầu tiên trong đời. Náo nức và háo hức kể cũng phải.


Mà chắc không phải chỉ có các sinh viên của tôi. Trên máy bay, tôi đọc được một bài viết ngắn đăng trên nhật báo Thanh Niên về kết quả đáng mừng của ngành du lịch Việt Nam: mỗi năm số người đến Việt Nam một tăng. Vài năm gần đây, trung bình mỗi năm tăng đến hơn nửa triệu người: năm 2003 có hơn 2 triệu lượt du khách; năm 2004 gần 3 triệu; năm 2005 này, chỉ mới 10 tháng đầu, đã hơn 3 triệu. Số lượt du khách đến Việt Nam cho cả năm 2005 được dự đoán là khoảng trên 3 triệu 4. Trong số gần 3 triệu rưỡi này, chắc chắn là có khá đông người Việt ở nước ngoài. Nhớ, cách đó mấy ngày, tôi đọc được đâu đó, cũng trên báo chí trong nước, người ta dự đoán sẽ có khoảng trên 100,000 Việt kiều về quê ăn Tết. Người ta cũng dự định tổ chức các cuộc đón rước long trọng dành cho Việt kiều, chẳng hạn, treo băng rôn chào đón Việt kiều ở các sân bay quốc tế ở Sài Gòn và Hà Nội; đưa người giúp các cụ già không rành rẽ các thủ tục khai báo hải quan; tổ chức các buổi tiệc tất niên hay tân niên với sự tham dự các nhiều cán bộ lãnh đạo quốc gia hoặc địa phương, v.v...


Tôi chẳng bao giờ “mơ tưởng” đến những cảnh chào đón như vậy. Nhưng tôi hy vọng khi chính sách đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài thay đổi, những rắc rối không đáng có mà tôi và rất đông Việt kiều khác gặp phải ở Việt Nam sẽ giảm bớt đi. Để các chuyến về thăm quê vui hơn; những kỷ niệm cũ mau phai nhạt hơn và những ấn tượng mới còn lại sẽ ngọt ngào hơn.


Máy bay đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất vào lúc 4 giờ kém 5 phút chiều. Trong lúc sắp hàng chờ trình hộ chiếu để chuyển máy bay đi Hà Nội, một sinh viên cho biết em rất hồi hộp khi lần đầu tiên đặt chân đến Việt Nam. Em hỏi cảm giác của tôi. Tôi đáp: “Cũng hồi hộp.” Em nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên. Tôi giải thích: mặc dù tôi đã về Việt Nam khá nhiều lần nhưng lần nào tôi cũng có chút hồi hộp. Hồi hộp vì sắp được gặp lại thân nhân và bạn bè cả cũ lẫn mới. Hồi hộp vì, thú thực, tôi không hoàn toàn an tâm về cách thức nhà cầm quyền Việt Nam đối xử với tôi hay với giới viết văn ở hải ngoại nói chung. Lần này, tôi lại càng hồi hộp hơn vì cùng đi với tôi là 14 người. Em sinh viên ấy trấn an tôi: “Chuyến đi này nhất định là vui!” Tôi đáp: “Vâng, chắc chắn là rất nhộn. Những gì tôi được nhìn thấy trong chuyến bay kéo dài suốt 8 tiếng đồng hồ báo cho tôi biết điều đó.”


Khi báo với các sinh viên là hãy chờ tôi bên ngoài khu vực nhập cảnh, tôi nghĩ là mình chỉ “làm việc” khoảng 10, 15, 20 hay 30 phút là cùng. Tôi nhớ lại là cách đây hai năm, bạn tôi, Hoàng Ngọc-Tuấn, cũng bị mời “làm việc” như thế khi mới bước chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi cho những cuộc “nắn gân” như thế chắc không kéo dài quá lâu. Vả lại, tôi thầm nhủ, người ta thừa biết là tôi không phải đi một mình. Còn bao nhiêu người khác đang chờ đợi tôi.


Nhưng tôi lầm. Khi đến văn phòng chỉ huy của trạm công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất, tôi được bảo ngồi chờ. Khoảng 10 phút sau mới có người gọi tôi đến quầy. Tôi nhìn vào bảng tên người ấy đeo trước ngực: Vũ Xuân Ái. Ông Ái cầm tờ hộ chiếu của tôi trên tay, hỏi:

“Anh tên Nguyễn Ngọc Tuấn hay Nguyễn Tuấn Ngọc?”

“Nguyễn Ngọc Tuấn.”

“Anh sinh ở đâu?”

“Quảng Nam.”

“Anh dạy đại học ở Úc, phải không?”

“Vâng.”

“Anh đến Việt Nam có chuyện gì không?”

“Tôi dẫn một đoàn sinh viên Úc về Việt Nam tham quan và học tiếng Việt.”

“Đoàn sinh viên Úc có bao nhiêu người?”

“14 người, nhưng ở đây với tôi chỉ có 11 người. Một người đã đến Hà Nội và hai người sẽ bay từ Bangkok đến Hà Nội tối nay.”

“Xin anh chờ một lát.”

Nói xong, ông Ái vào căn phòng phía sau quầy, đọc gì đó trên màn ảnh computer rồi cầm điện thoại lên nói chuyện với ai đó. Tôi ngồi chờ. Nhìn sang góc bên kia, ở khu vực trình hộ chiếu nhập cảnh, tôi không thấy bóng dáng của một sinh viên nào cả. Tôi đoán mọi người đã bị đẩy xuống khu vực nhận hành lý, sau đó, sang khu vực nội địa để chờ chuyến bay đi Hà Nội. Tôi không lo lắng lắm. Chuyến bay đi Hà Nội sẽ cất cánh vào khoảng 6 giờ rưỡi: tôi có thừa thời gian để sang gặp họ. Đến hơn 5 giờ, ông Ái mới xuất hiện ở quầy công an hải quan. Ông cho gọi tôi đến, trịnh trọng tuyên bố:

“Tôi xin thông báo cho anh biết là chúng tôi được lệnh không cho anh nhập cảnh vào Việt Nam.”

Tôi sửng sốt: “Cái gì? Tôi không được vào Việt Nam?”

Ông Ái nhìn tôi và gật đầu xác nhận. Tôi lại hỏi: “Anh biết là tôi đang dẫn cả phái đoàn sinh viên sang Việt Nam du khảo?”

“Tôi biết. Nhưng đây là lệnh từ trên.”

“Nhưng tại sao tôi không được nhập cảnh vào Việt Nam?”

Ông Ái đáp:

“Tôi cũng không được biết. Chúng tôi chỉ làm theo lệnh từ Bộ Công An.”

“Nhưng ít ra Bộ Công An phải cho biết lý do chứ?”

“Chúng tôi không được quyền biết. Chúng tôi chỉ là cấp thừa hành.”

Nói xong, ông Ái cúi xuống lúi húi viết vào tờ biên bản theo mẫu đơn in sẵn; sau đó, yêu cầu tôi ký. Nội dung tờ biên bản như sau:
BỘ CÔNG AN CỤC QUẢN LÝ XNC TRẠM CACK-TSN ** * Số 1087/BB CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tp. HCM, ngày 19 tháng 11 năm 2005


BIÊN BẢN

Về việc: Từ chối nhập cảnh
Hôm nay, ngày 19 tháng 11 năm 2005, hồi 17 giờ 05 phút.
Tại cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.

Chúng tôi gồm:
1/ Ông Đinh Thế Công, Chức vụ: Phó Trưởng trạm CACK Tân Sơn Nhất.
2/ Ông Vũ Xuân Ái, Cán bộ Tham mưu CACK Tân Sơn Nhất.
3/ Ông Nguyễn Trung Hải, Cán bộ Đội xuất nhập cảnh 2.

Tiến hành lập biên bản vi phạm quy chế xuất nhập cảnh đối với:

Người vi phạm là: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn
Sinh ngày 29/10/1957. Quốc tịch: Úc (Người VN định cư tại Úc)
Hộ chiếu số: M 32 465.48
Thị thực số B0008922 giá trị 1 lần đến 19/2/2006 do ĐSQ VN tại Canberra cấp ngày 8/11/2005.
Địa chỉ thường trú/tạm trú tại: Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội.
Nhân chứng gồm: Đại diện Hàng không VN: Đỗ Ngọc Anh, nhân viên.
Nội dung vi phạm: Chuyến bay VN 780 của hãng HKVN từ Melbourne Úc nhập cảnh TSN lúc 15h30’ CACKTSN lập biên bản từ chối nhập cảnh đối với ông Nguyễn Ngọc Tuấn (chi tiết nhân sự như trên). Lý do: theo yêu cầu của Bộ Công An.
Tang vật gồm có: Hộ chiếu M32 46548
Thị thực: E0008922 (foto)

Căn cứ:
· Pháp lệnh xuất nhập cảnh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
· Nghị định 05/2000/NĐ-CP ngày 3/3/2003 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam

Chúng tôi quyết định:
· Lập biên bản từ chối nhập cảnh đối với đương sự, huỷ bỏ thị thực số E0008922.
· Yêu cầu HKVN chịu trách nhiệm chuyên chở đương sự về lại nơi xuất phát trên chuyến bay gần nhất: dự kiến chuyến bay VN783 HKVN xuất cảnh lúc 20h55’

Biên bản được lập thành 02 bản, kết thúc lúc 17 giờ 40 ngày 19/11/2005, đã được đọc lại cho đương sự nghe và công nhận những điều ghi trong biên bản là đúng. Biên bản được giao cho đương sự 01 bản.


Tôi theo dõi từ đầu đến cuối quá trình lập biên bản nhưng tôi vẫn không hết bàng hoàng. Từ lâu, tôi biết mình không được lòng của nhà cầm quyền Việt Nam, nhất là từ phía công an văn hoá. Trong các lần về Việt Nam, thỉnh thoảng tôi vẫn bị công an văn hoá thuộc Cục Xuất Nhập Cảnh ở số 254 đường Nguyễn Trãi, quận 1, thành phố HCM mời lên “làm việc”. “Làm việc” ở đây là chuyện trò và chất vấn về chuyện viết lách của tôi ở hải ngoại. Phần lớn tập trung vào cuốn Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản xuất bản lần đầu vào năm 1991 của tôi. Lần nào, với ai, tôi cũng đều khẳng định: tôi không hề làm chính trị. Tôi chỉ viết về văn học và văn hoá; và luôn luôn viết với tư cách một nhà phê bình. Mọi ý nghĩ của tôi đều được trình bày một cách thẳng thắn, công khai, chả có gì phải giấu giếm cả. Rất khó biết được là người ta có tin tôi hay không. Lần “làm việc” cuối cùng là vào ngày 25 tháng 12 năm 2002. Sau đó, yên. Chuyến đi mới nhất của tôi vào tháng 12 năm 2004 diễn ra tốt đẹp. Không có chuyện gì phiền phức. Tôi thoải mái gặp gỡ, nhậu nhẹt và tán dóc với bạn bè trong giới văn nghệ từ Hà Nội vào đến Sài Gòn, dù, dĩ nhiên, tôi luôn luôn tự kiểm soát mình, không bao giờ sa đà vào những đề tài chính trị. Ra phi trường Tân Sơn Nhất, không có ai chận lại khám xét hành lý, lục từng cuốn sách và từng bức tranh tôi mang về Úc như cái điều thỉnh thoảng vẫn xảy ra mấy năm trước đó.


Tôi ngẫm lại: từ cuối năm 2004 đến nay, chưa đầy một năm, do bận bịu với công việc ở đại học, tôi viết rất ít; và tuyệt đối không viết về bất cứ đề tài gì có tính “nhạy cảm” về chính trị. Vậy, tại sao người ta lại cấm tôi vào Việt Nam sau khi đã cấp visa cho tôi? Tôi đặt câu hỏi với các công an hải quan. Không ai trả lời được. Lần nào, người ta cũng chỉ lặp đi lặp lại: “Đây là quyết định của ‘trên’. Chúng tôi chỉ là những người thừa hành.” Tôi biết tôi không thể đối thoại với những người “thừa hành” câm điếc như thế. Đành im.

Tôi ký tên vào biên bản và yêu cầu được gặp các sinh viên trong đoàn du khảo do tôi hướng dẫn để đưa cho họ chi phiếu trả tiền học và tham quan cho Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội; đưa họ một số tiền để họ ăn uống trong những ngày ở Hà Nội và dặn dò họ một số việc cần thiết. Nhưng các công an hải quan từ chối. Họ bảo tôi không được phép rời khỏi khu vực nhập cảnh. Tôi yêu cầu họ, nếu không cho tôi sang gặp các sinh viên thì cho một sinh viên trong đoàn sang gặp tôi. Cuối cùng, sau khá nhiều cãi cọ căng thẳng, lời yêu cầu ấy cũng được thực hiện. Một sinh viên đến gặp tôi. Tôi kể sơ lược cho em ấy nghe quyết định của Bộ Công An không cho tôi nhập cảnh. Em ấy há hốc vì kinh ngạc rồi gào lên: “Bọn họ có điên không?” Rồi em nhào đến các công an đang đứng canh tôi: “Ai là người chỉ huy ở đây? Tại sao các ông lại làm như vậy đối với thầy của tôi? Các ông có biết là ông ấy đã giảng bao nhiêu điều hay đẹp về văn hoá và xã hội Việt Nam, làm cho chúng tôi yêu mến Việt Nam và muốn học tiếng Việt, học về văn hoá và xã hội Việt Nam không?” Một công an biết tiếng Anh trả lời “Chúng tôi chỉ làm theo lệnh trên mà thôi!” Tôi khuyên em sinh viên nên bình tĩnh, rồi đưa cho em tiền và các giấy tờ liên quan đến chuyến đi. Hai nhân viên hải quan áp tải em qua khu vực nội địa để đi Hà Nội.


May, trước khi đi, tôi mang theo một cái Sim card cũ mua từ Việt Nam mấy tháng trước đó để dùng cho điện thoại di động. Tôi dùng điện thoại di động liên lạc với Khoa Tiếng Việt và Văn Hoá Việt Nam ở Hà Nội để cho họ biết là tôi bị buộc phải quay lại Úc và bàn với họ cách thức ra phi trường Nội Bài đón các sinh viên trong đoàn về nhà khách của đại học. Đã quá giờ hành chính, tôi không thể liên lạc được với Toà Đại Sứ Úc ở Việt Nam, cho nên tôi liên lạc với thân nhân và bạn bè mình ở Việt Nam cũng như ở Úc để họ biết tình hình. Một vài người bạn ở Việt Nam hứa sẽ nhờ người này người nọ trong Bộ Công An để nhờ giúp cho tôi được nhập cảnh vào Việt Nam. Có người, rất tự tin và nhiệt tình, hứa sẽ đến ngay phi trường để gặp tôi và trực tiếp giải quyết vấn đề. Thế nhưng, cuối cùng, tôi không được gặp ai cả. Một người bạn có quan hệ khá rộng với giới lãnh đạo Việt Nam cho tôi biết: tình hình hoàn toàn tuyệt vọng.


Một nhân viên của hãng Hàng Không Việt Nam và hai công an dẫn tôi xuống khu vực bán vé máy bay để thu xếp chuyến đi sang Úc. Tối hôm đó chỉ có chuyến bay sang Sydney. Hành trình ghi trên vé máy bay của tôi là từ Melbourne đi Hà Nội và từ Sài Gòn trở về Melbourne, do đó, tôi bị buộc phải mua vé máy bay khác đi Sydney. Tôi phản đối với lý do là vé của tôi cũng mua từ Vietnam Airlines; nếu phải trở về Sydney, tôi chỉ bù thêm tiền chứ không đồng ý bỏ hẳn cái vé cũ để mua một cái vé khác. Cô bán vé cứ khăng khăng đòi tôi phải mua vé mới. Tôi cương quyết từ chối. Người ta dẫn tôi lên lại khu vực Nhập cảnh. Khu vực này là nơi hành khách quốc tế chờ trình hộ chiếu vào Việt Nam. Ngoài các quầy hải quan, cả khu vực rộng mênh mông này chỉ có ba dãy ghế nhựa cũ kỹ và một phòng vệ sinh. Lần nào tôi đi vệ sinh cũng đều có hai công an đi kèm. Đến khoảng 7 giờ rưỡi, viên thượng tá công an Đinh Thế Công nói với tôi, giọng nghiêm và lạnh: “Quyết định của Bộ Công An không thể nào thay đổi được. Bởi vậy, anh nên tìm cách quay về Úc càng sớm càng tốt. Như vậy khoẻ cho anh và cho cả chúng tôi nữa. Anh thấy đấy, đây không phải là nơi có thể ở vài ba ngày để chờ chuyến bay về Melbourne.”

Cuối cùng, khoảng 8 giờ, tôi quyết định trả tiền vé máy bay để về Sydney. Trước đây, tôi đã mua vé khứ hồi Melbourne – Hà Nội và thành phố HCM – Melbourne với giá 1450 đô Úc. Bây giờ phải chìa credit card ra để trả thêm 713 đô Mỹ cho chuyến bay một chiều về lại Sydney; sau đó, lại phải mua vé bay từ Sydney về Melbourne. Tôi có cảm giác như bị ăn cướp trấn lột. Nhưng dù sao tôi cũng phải đi. Ít nhất, khi đến Sydney, tôi có thể liên lạc được với các sinh viên của tôi ở Hà Nội và nhờ đại học của tôi can thiệp để tìm cách giúp đỡ các sinh viên ấy trong thời gian họ theo học ở Việt Nam. Ở đây, tôi hoàn toàn vô vọng. Cái Sim card cũ của tôi có thể hết hiệu lực bất cứ lúc nào. Sau khi lấy vé, hai công an “áp tải” tôi lên máy bay. Ở cửa nào, tôi cũng được “ưu tiên” đi trước. Thiên hạ sắp hàng, mặc; tôi đi qua, với hai công an: một phía trước và một phía sau. Sau khi tôi vào hẳn máy bay, hai người công an mới đi ra.

Chuyến bay bay suốt đêm. Đến 9 giờ 30 sáng Chủ nhật tôi mới đến Sydney. Hoàng Ngọc-Tuấn ra phi trường đón. Trước đó, khi liên lạc với Tuấn, tôi đã nhờ Tuấn đặt giùm một vé máy bay từ Sydney đi Melbourne, nơi tôi ở và làm việc. Không có chuyến bay nào vào ngày Chủ nhật còn vé. Tuấn đành phải mua vé chuyến bay đầu tiên của ngày Thứ Hai, 21 tháng 11. Tôi có được gần một ngày và một đêm ở Sydney. 4 giờ sáng Thứ Hai, tôi đã thức dậy để ra phi trường về Melbourne. Chuyến bay hạ cánh xuống phi trường Avalon ở Melbourne vào lúc 7:30. Đây là phi trường mới, cách trung tâm thành phố Melbourne đến hơn 50 cây số. Tôi đã quá mệt mỏi với chuyện ngồi bó chân trên máy bay nên chọn đi taxi thay vì xe buýt về nhà. Tôi nghĩ đi taxi sẽ nhanh hơn nhiều. Nhưng khi chiếc xe buýt đã lăn bánh, tôi mới phát hiện việc chờ đợi một chiếc taxi trống ở đây có khi mất khá nhiều thì giờ.

Tôi về nhà lúc gần 9 giờ sáng. Trước đó hai ngày, tôi cũng rời nhà lấy taxi đến phi trường Melbourne vào lúc 9 giờ sáng. Như vậy, tổng cộng thời gian kể từ lúc tôi rời nhà vào ngày Thứ Bảy 19 đến khi quay về nhà vào Thứ Hai, 21 là đúng 48 tiếng. 48 tiếng đồng hồ, trong đó có khoảng 18 tiếng đồng hồ ê ẩm trên máy bay, chỉ để đi từ nhà mình đến nhà mình. Thật lãng nhách.

Tin tức về việc tôi bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam lan đi khá nhanh. Vừa về đến nhà, mở computer lên, tôi đã thấy có đến mấy chục emails hỏi thăm. Một trong những emails mới nhất, từ một người bạn văn nghệ, hỏi: “Thằng mất dạy nào chận anh lại, không cho anh vào thế?”

Ờ nhỉ, hỏi vậy mà hay.

Melbourne 22.11.2005

© 2005 talawas

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Dẫn sinh viên Úc về Việt Nam du khảo: Nhà văn Giáo Sư Nguyễn Hưng Quốc, trưởng khoa Việt học đại học Victoria bị cấm nhập cảnh
Wednesday, November 23, 2005


Nhà biên khảo và lý luận phê bình văn học nổi tiếng của văn học Việt hải ngoại Nguyễn Hưng Quốc, và cũng là Giáo Sư NguyễnNgọc Tuấn chủ nhiệm khoa Việt học tại trường đại học Victoria ở Melbourne, Úc Châu, đã bị công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất không cho nhập cảnh khi ông dẫn 14 sinh viên Úc về tham quan và học tập ở Việt Nam.

Theo nguồn tin do chính nhà văn Nguyễn Hưng Quốc công bố thì vào hồi 04 giờ chiều ngày Thứ Bảy 19 Tháng Mười Một vừa qua, trong tư cách chủ nhiệm khoa Việt học, ông đích thân dẫn 14 sinh viên Úc về Việt Nam du khảo. Sau khi phi cơ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, trong lúc cùng những sinh làm thủ tục nhập cảnh thì nhà văn Nguyễn Hưng Quốc được một nhân viên công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất mời ông sang một phòng khác có chút việc. Tại đây nhà văn Nguyễn Hưng Quốc được ông Ðinh Thế Công, phó trưởng trạm công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất, thông báo là ông không được phép nhập cảnh vào Việt Nam, đồng thời lập biên bản từ chối nhập cảnh đối với nhà văn Nguyễn Hưng Quốc. Công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất cũng khước từ việc cho phép nhà văn Nguyễn Hưng Quốc được ra khỏi phòng để gặp mặt, dặn dò, chỉ bảo những công việc phải làm cho những sinh viên của ông. Nhà văn Nguyễn Hưng Quốc lên tiếng cực lực phản đối, rút cục công an cửa khẩu đã cho phép một đại diện sinh viên vào gặp ông để được chỉ bảo những công việc để những sinh viên này tiếp tục cuộc du khảo mà không có giáo sư hướng dẫn.

Ðây không phải là lần đầu tiên công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất làm khó dễ nhà văn Nguyễn Hưng Quốc, cũng như nhiều nhà văn khác từ hải ngoại về thăm Việt Nam. Nhà văn Nguyễn Hưng Quốc vượt biên tới Pháp vào giữa thập niên 1980, và đã có thời gian làm tổng thư ký một tạp chí về văn học ở Pháp. Sau đó ông cho xuất bản cuốn “Văn Học Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản” vào năm 1991, ông được trường đại học Victoria mời qua giảng dạy về văn học Việt Nam vào giữa thập niên 1990, sau đó được trường này đề cử làm chủ nhiệm khoa Việt học. Vốn là người gắn bó với văn học Việt Nam, nhà văn Nguyễn Hưng Quốc đã nhiều lần trở về thăm Việt Nam, và lần nào cũng bị mời công an văn hóa làm việc. Chuyến đi mới nhất của ông về Việt Nam vào Tháng Mười Hai năm 2004, và là chuyến đi duy nhất ông không hề bị cơ quan công an làm phiền toái.

Trên biên bản trục xuất mà công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất đã ghi một cách văn hoa là “Biên bản từ chối nhập cảnh”, nhà văn Nguyễn Hung Quốc bị ghi trong phần lý do bị từ chối nhập cảnh: Theo yêu cầu của Bộ Công An. Nhưng khi ông hỏi những nhân viên làm thủ tục thì họ chỉ cho biết là họ phải thi hành những yêu cầu của Bộ Công An, họ chỉ là cấp thừa hành và cũng không biết nhà văn Nguyễn Hưng Quốc đã vi phạm điều gì, theo bộ luật nào.

Ngoài ra để có thể trục xuất nhà văn Nguyễn Hưng Quốc càng sớm càng tốt, công an cửa khẩu đã ép ông phải mua thêm một vé máy bay về Sydney, để dời khỏi phi trường Tân Sơn Nhất ngay trong đêm Thứ Bảy. Trong khi ông đã có sẵn vé máy bay về Melbourne là nơi ông đang giảng dạy, nhưng phải chờ chuyến bay về Melbourne hai ba ngày sau mới có. Ðiểm đáng nói thêm ở đây là nhà văn Nguyễn Hưng Quốc mua vé của hãng hàng không Vietnam Airlines, song nhân viên của hãng này cũng từ chối đổi vé máy bay cho ông từ Melbourne về Sydney, buộc lòng ông phải mua một vé máy bay khác về Sydney rồi từ đây lại phải mua thêm một cái vé để về Melbourne.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Bài cũ trích từ Đàn Chim Việt
25-05-2005

----------------------

Đất nước này không phải của riêng các anh
Trần Ngọc Thành

Đường vô xứ Nghệ loanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô ...

Câu ca dao ấy cứ luôn ám ảnh tâm trí tôi, lâu lắm rồi tôi mới lại về quê.
"Anh điên à? Về làm gì? Muốn chết hay sao mà lại chui đầu vào rọ? Đừng có anh hùng rơm!"... Một vài người quen ngăn cản.

"Cứ về đi. Đừng sợ. Cái mà họ mong muốn nhất ở chúng ta là sự sợ hãi. Bất kì một giai cấp thống trị độc tài nào cũng cố gắng để đạt được hai cái ở tầng lớp bị trị: sự ngu dốt và khiếp sợ. Anh không đơn độc đâu. Hãy về đi!"... Những người bạn khuyên.

Cám ơn các bạn, những người đã lo lắng cho tôi, những người đã động viên tôi. Trước khi tham gia vào cuộc đấu tranh vì dân chủ, tự do cho đất nước, tôi đã xác định cho mình ... ”dấn thân vô là phải chịu tù đày”...



Cũng như trước đây, thế hệ tôi gối đầu giường cuốn"Thép đã tôi thế đấy" với câu nói bất hủ của Paven Coóc- sa- ghin: “Cái quý giá nhất là cuộc sống. Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí”. Thế hệ chúng tôi đã mang theo câu nói ấy ra trận, đã dùng máu của mình để bảo vệ, xây dựng nên cái chế độ mà đến bây giờ, vì nó, tôi cảm thấy " xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí".


Nhưng thôi, đó là chuyện của quá khứ. Lần này tôi về Việt nam để thăm quê hương, người thân sau bao năm trời xa cách và cũng nhân dịp này kiểm nghiệm xem chính quyền sẽ đối xử ra sao với những người phê phán họ; suy nghĩ của dân chúng ra sao trước hiện tình đất nước và bè bạn cư xử với tôi ra sao khi những năm trước đây được công an thông báo tôi là phần tử bất mãn, chống đảng, chống nhà nước?


"Anh đừng gửi hành lí, chỉ nên xách tay những gì quan trọng nhất thôi. Cẩn thận kẻo họ cho người bỏ lén vào một gói hê rô in vào túi xách hay ba lô là anh dựa cột đấy!"


"Chú ý khi đi đường. Ở Việt nam hằng ngày có bao nhiêu người chết vì tai nạn giao thông. Nếu họ muốn, thì việc tạo ra một vụ đụng xe không có gì là khó khăn cả. Cứ nhìn gương bà Nông Thị Xuân đấy"...


Lại những lời lo âu chân thành!

Ôi, các bạn của tôi ơi! Đừng có quá bi quan như thế! Thế hệ những người cầm quyền thời Trần Quốc Hoàn, Lê Đức Thọ đã qua rồi. Tôi tin rằng thế hệ những nhà lãnh đạo Việt nam bây giờ trẻ hơn, có học thức hơn, thì họ sẽ không chơi những miếng võ bẩn mang đày màu sắc lục lâm thảo khấu như những tay xã hội đen thời nào. Bây giờ chỉ có bọn khủng bố Al Qaeda mới giở cái trò đánh lén hèn hạ đó. Mà Việt nam, theo tôi được biết, cũng đã hơn một lần bày tỏ thái độ ủng hộ thế giới văn minh, chống khủng bố. Lẽ nào...???


Đúng như dự đoán, tôi không gặp phải bất kì một khó khăn nào khi lên Đại sứ quán nước CHXHCN Việt Nam tại Ba lan xin thị thực nhập xuất cảnh Việt Nam cả. Tiếp tôi một cách rất lịch sự, Ông trưởng phòng Lãnh sự bảo: "Anh phải chờ một tuần để chúng tôi điện về Hà nội hỏi ý kiến về trường hợp visa của anh". Khoảng một tuần sau, đang dạo phố phường Beograd (Nam Tư cũ), ông trưởng phòng lãnh sự báo tin Hà nội cho phép tôi được về Việt nam và mời lên lấy visa.


Thủ tục cấp visa nhanh gọn, duy chỉ có một điều gợi cho tôi thoáng băn khoăn: Tôi không phải trả một đồng lệ phí nào. Mặc dù tôi được biết những người khác mang hộ chiếu Ba Lan đến xin thị thực vào Việt Nam đều phải nạp lệ phí. Như để giải đáp thắc mắc của tôi, Ông trưởng phòng lãnh sự nở một nụ cười rất... ngoại giao: "Anh cứ về đi. Khỏi tiền nong gì cả. Chúc anh may mắn!".


Tôi hơi áy náy, phỉ phui cái mồm của mấy chú đồng hương trẻ tuổi, khi biết chuyện tôi không phải trả lệ phí visa: "Rứa là anh toi rồi. Chuyến ni hắn cho anh vô tù đó. Mấy ai vô tù phải nộp lệ phí?"
Tôi đã lường trước mọi khả năng và chuẩn bị cả khả năng xấu nhất, Tôi chọn cửa khẩu Tân Sơn Nhất để nhập cảnh.


"Kính thưa hành khách, máy bay đang giảm độ cao. Chỉ còn ít phút nữa chúng ta sẽ hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất - Ho Chi Minh City. Xin quí hành khách vui lòng thắt dây an toàn". Tiếng loa êm dịu vang lên, đánh thức tôi dậy.

Máy bay liệng mấy vòng để hạ độ cao. " Bục, bục!", hai tiếng trầm đục vang lên.
- Càng hạ rồi đấy! Một vị khách trẻ măng ngồi cạnh tôi giải thích, vẻ thành thạo.
Trái hẳn với những gì mà các bạn của tôi lo lắng, không ai đe doạ, gây khó dễ cho tôi lúc làm thủ tục nhập cảnh. Viên đại uý biên phòng cầm quyển hộ chiếu của tôi với một vẻ quan tâm vừa phải, có thể do tôi cố tình không đánh dấu huyền ở tên tôi nên họ không nhận ra người cần chú ý.


Nhìn đám hành khách đang chen lấn, xô đẩy nhau để nhận hành lý trên băng chuyền, tôi cũng hơi tiếc là mình cẩn thận quá, không đem theo va ly, thành thử không mang được gì làm quà cho anh em bè bạn , ngoài mấy bộ quần áo duy nhất cho bản thân trong những ngày ở Việt Nam.

Sài Gòn đang mùa mưa. Trời đất âm u. Buổi chiều đầu tiên, nằm trong căn gác đìu hiu thoang thoảng mùi ẩm mốc của một khách sạn loại "nhiều sao", tôi khoan khoái nghe tiếng mưa quất xối xả vào cửa kính, có cả những hạt mưa táo bạo lọt qua kẽ nứt của kính cửa sổ bay vào chỗ tôi nằm. Trời mát lạnh, dễ chịu quá! Đương nhâm nhi vị đắng đầy quyến rũ của ly cà phê Ban Mê Thuột, thì có tiếng gõ cửa khe khẽ. Một cô gái trẻ lách cửa chui vào: - Anh Hai có cần phục vụ gì thêm, tụi em sẵn sàng à nghen! Rồi nhoẻn miệng cười tình tứ.


Tôi lắc đầu từ chối. Điều này tôi đã có trong danh sách "Những việc cần làm ngay" khi còn ở Việt Nam, bất kỳ lúc nào tôi cũng có thể bị chụp hình, quay phim lén. Đặt chân xuống sân bay, tôi bắt đầu cảnh giác với tất cả mọi thứ.

Trong thời gian ở Sài gòn, tôi cảm thấy tương đối tự do, nghĩa là không bị theo dõi, bám đuôi gì cả. Buồn cười cho mấy anh bạn vàng ở bên đó cẩn thận quá hoá lẩm cẩm. Đấy, rõ ràng là có ai động gì đến tôi đâu!


Sài Gòn bề bộn, ngổn ngang, náo nhiệt, bụi bặm. Hàng triệu chiếc xe máy các kiểu phóng loạn xị ngậu, còi inh ỏi. Nạn kẹt xe rất trầm trọng và phổ biến. Những cô gái Sài Gòn ra đường trùm khăn kín mặt để tránh cái bụi bẩn, ô nhiễm , chỉ thiếu vài gã đàn ông râu quai nón xồm xoàm phủ kín nắm đấm theo qui định của Taliban, là bạn sẽ có cái cảm giác đang ở một nước Hồi giáo nào đó. Ngay ngày đầu tiên, tôi đã là nạn nhân của bụi bặm đường phố, mắt đau và bắt đầu sưng. Tôi tranh thủ đi thăm bạn bè, la cà ở các tiệm cà phê, hỏi chuyện những thực khách cùng bàn, chuyện gần, chuyện xa, chuyện làm ăn, chuyện xã hội…Bạn cũ tôi có hai loại: Loại có chức vụ, giàu có, có nhà cho thuê, có đất chờ được giá, tiêu tiền “chùa” không cần đắn đo thì hễ hả, mãn nguyện tự hào khoe có thằng bạn ở Thành ủy, có ông anh “kết nghĩa” ở Trung ương, mày có cần gì không, tao giúp. Với loại này thì xã hội ngày nay là cơ hội ngàn vàng, thằng nào không tranh thủ đục khoét là daị, nhưng phải biết nhìn trước ngó sau, “kính trên nhường dưới”, thằng nào tham, không biết điều thì “đi“ sớm. “.... Đ. M., ngu như bò mà cũng làm chủ tịch, bí thư thử hỏi thằng nào không tức…”, “ Tao sẵn sàng chạy xe ôm chứ đ…cần quỵ lụy chúng nó…”. Tôi hỏi tại sao ai cũng kêu ca , phàn nàn nhưng rất ít người đấu tranh? -“Cộng sản nó ác lắm mày ơi, lơ mơ là nó diệt, vợ con mất nhờ, thôi âu cũng là số phận của dân tộc đã gửi trứng cho ác….”. Nhìn gương mặt những người dân hối hả trầm tư, cau có, cảnh giác, tôi thấy mình như ở một nơi xa la, tôi chưa gặp một nụ cười nào tự nhiên, dù là ở cô nhân viên khách sạn. Tôi hỏi bạn bè về đám tang tướng Trần Độ, rất ít người biết, người biết cũng rất mơ hồ. Thế mới biết chính quyền cộng sản đã thành công trong việc bưng bít thông tin. Chẳng có chương trình truyền hình nào mà không lặp lại nhiều lần câu “ ơn đảng, ơn bác”.



Phải năm ngày sau tôi mới có thể lên đường về quê. Bạn tôi làm việc ở sân bay, lấy vé máy bay cho tôi nhưng tôi từ chối. Tôi quyết định đi tàu hỏa Bắc-Nam để mục kích sự đổi thay của đất nước, để được chuyện trò với hành khách trên tàu. Ngồi cùng buồng với tôi chỉ có dân miền Bắc: Một cụ già 80 tuổi, cựu chiến binh, lính đặc công; hai bà về hưu tuổi ngoài 60; một chị dân buôn và một cô gái trẻ người Thái Bình vào Sài Gòn làm “Osin”. Các buồng khác cũng đủ thành phần, già có, trẻ có, đủ các tỉnh. Tôi có mang theo máy ghi âm nhưng không dám đưa ra vì sợ bị nghi ngờ, dễ bị ăn đòn nên đành phải ngồi chầu rìa, hóng chuyện. Không ai biết tôi là “ Việt kều”. Những câu chuyện được nghe có thể tập hợp thành nhiều tập chuyện ngắn… Ai bảo nước ta dân trí thấp? Vì rỗi hơi, chỉ có ăn và ngủ nên mọi vấn đề đều được đưa tranh cãi, sôi nổi nhất vẫn là vụ Năm Cam, họ khen Năm Cam giỏi, họ bình luận về cách làm tiền của hai loại cán bộ: lãnh đạo kinh tế, công an kinh tế thì bám vào các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân: loại khác thì dựa vào đám hình sự, xã hội đen, bảo kê chúng nó để chúng nó nuôi. Ông già cựu chiến binh thỉnh thoảng thở dài: “ Thế hệ chúng tôi đổ xương đổ máu để bây giờ chúng nó ăn cướp, chúng nó lộng hành, hở miệng phê phán thì chúng nó cho là phản động…”. Tôi hỏi cụ có biết Tướng Trần Độ không? Cụ trả lời: “ Tôi thuộc thế hệ Trần Độ, tôi biết tài ba và đức độ của ông ta, con người như vậy mà bị chúng nó khai trừ ra khỏi đảng, bị chúng nó đày đọa thì cái đảng này chỉ là đảng của maphia, đất nước này rồi sẽ lụi tàn, không còn đạo đức, nhân cách, với mấy thằng lãnh đạo thì chỉ có tiền, tiền”.


Ông nổi cơn thịnh nộ và lấy khăn lau nước mắt. Ông vạch áo chỉ cho tôi xem những vết sẹo trên ngực ông, trên vai ông, ông bảo ông là con nhà võ, biết khí công, ngồi thiền nên mới sống đến hôm nay. Cô gái “ Ôsin” liên lục bị nôn vì tàu lắc. Đường sắt Việt Nam vẫn giữ nguyên “bản sắc XHCN”, vẫn là con đường độc đạo, đường tàu chỉ rộng 1,1 mét, khi tàu chạy tốc độ trên 60km/giờ, nằm trên tàu giống như người đánh võng. Khúc ruột miền Trung vẫn vậy, đại đa số dân vẫn nghèo, dọc đường tàu còn rất nhiều xóm lều tranh…


Dù được thông báo tại ga Sài Gòn là do lũ lụt, đường bị tắc, sẽ bị chuyển tàu, suốt chặng đường trên tàu không hề có thông báo là đến ga nào sẽ chuyển tàu. Hành khách tự tìm xuống ga để hỏi. Loa phóng thanh trên tàu thỉnh thoảng lại ré lên vài câu hát đứt đoạn rồi tắt lịm, nhân viên đường sắt hình như tưởng hành khách điếc cả nên không cần phải chữa loa. Phục vụ ăn uống có tiến bộ hơn, cơm hộp có canh và thịt hoặc cá. Đến ga Yên Trung đã 11 giờ đêm, hành khách được thông báo xuống ga để chuyển tàu. Từ Huế ra có khoảng chục ông Tây “balô”. Hàng trăm hành khách ngồi nhấp nhổm trên sân ga, không ai biết là phải chờ đợi đến bao lâu, nhà ga im lìm, không một bóng dáng nhân viên đường sắt. Ngành đường sắt và ngành du lịch hiện đại hóa, đi tắt, đón đầu kiểu này thì mấy ông “Tây” cũng chỉ dám đến một lần…cho biết.


Hai giờ sau mới có đoàn xe ca đến đón ra Vinh, cháu tôi đã chờ tại ga, 2 giờ 30 đến nhà anh chị, vẫn còn 80 cây số nữa mới về đến Quê. Sau cái ôm hôn rất chặt nghẹn ngào nước mắt bởi bao năm xa cách, bà chị gái lo lắng thông báo: mấy hôm nay công an đã rình rập ở nhà tất cả các anh chị em ruột thịt và họ hàng, những nơi mà tôi có thể đến trong thời gian ở Vinh.Tôi trấn an anh chị: Họ đến để “bảo vệ” mình, đừng lo lắng gì cả. Sau một giờ hàn huyên và ăn uống qua loa, anh chị bảo tôi đi nghỉ kẻo mệt. Nằm giữa lòng Tổ Quốc, giữa Đất Mẹ thân yêu, tôi bồi hồi, thao thức: Bao giờ đất nước mình mới hết đấu tranh giai cấp? Bao giờ giữa anh em bè bạn mới hết phân biệt địch ta? Đảng dạy nhân dân phải luôn luôn nâng cao cảnh giác đập tan âm mưu địch, đập tan âm mưu “diễn biến hòa bình”. Tôi bỗng dưng trở thành “địch” của anh tôi, của chị tôi, của bạn bè tôi, của bà con làng xóm tôi. Lực lượng công an canh phòng tôi để tôi không được “diễn biến hòa bình” với những người thân, với những người ruột thịt. Tôi buồn cười mà lòng tê tái…


Ngồi trên xe ca lắc lư về Quê Mẹ, tôi tranh thủ ngắm nhìn đồng rộng, núi đồi:

Sau bao năm xóm làng vẫn thế
Vẫn người dân vất vả quê tôi
Vẫn một nắng hai sương vật lộn với đất trời
Con đường nhỏ vẫn lõm, lồi, cát bụi…

Quê tôi trước đây nổi tiếng với dòng Lam trong xanh, với trường Huỳnh Thúc Kháng, với đình Phúc Hậu, đình Nhân Trung, đền Quả Sơn, Chùa Bà Bụt,… Năm 1976 đảng bắt dời dân lên dồi để “điện khí hóa”, dưới sức mạnh của “chuyên chính vô sản”, những vườn cây ăn trái tốt tươi chỉ trong một tuần là không còn bóng dáng. Hàng trăm ngôi nhà được dựng chênh vênh trên 199 quả đồi, dân quê tôi được “ khỉ hóa”. Thời đó, dân ngoài Bắc cải biên câu hát của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý để tặng quê tôi: “…Làng ta di động để ruộng không ai cày, cho cỏ chăng dây, cho đói nghèo về thôn xóm…, ta nghe trong đó ăn cơm là chuyện lạ…”

Làng tôi chỉ còn lại ông bà già và trẻ nhỏ, lớp lớp thanh niên lần lượt ra đi, trừ một số rất ít vào đại học, phần lớn ra Bắc vào Nam tìm việc làm, lặn lội sang “Tây” để “cày”, để vào các trại tỵ nạn. Cán bộ xã hầu hết là lớp con cháu, anh em, tôi thường xuyên đóng góp xây dựng xã nên họ hiểu tôi, biết tôi, nếu nói tôi là phản động có vẻ hơi kỳ. Trưởng công an xã đến thăm và chỉ yêu cầu ông anh tôi đưa hộ chiếu của tôi ra trình, họ nói với anh tôi: “ Hộ chiếu của bác toàn chữ tây, chúng cháu không đọc được”. Tôi thăm mộ mẹ tôi, quỳ rất lâu trước mộ mẹ, xin mẹ tha thứ vì khi mẹ ốm đau, mẹ mất tôi không về được; thăm mộ cha tôi, thăm mộ tổ tiên ông bà; tôi đi thăm mẹ vợ ốm nằm một chỗ hơn ba năm nay, thăm anh rể ốm nặng, thăm bà con làng xóm. Tim tôi thổn thức, đến bao giờ quê tôi mới thoát khỏi cảnh nghèo? Biết tin chú em họ cán bộ công an huyện về nhà ngày chủ nhật, tôi tranh thủ đến thăm và không bỏ lỡ cơ hội “diễn biến hòa bình” với chú em, gia đình này rất thân và rất quý tôi nên tôi không sợ. Năm ngoái công an tỉnh có đến “ thăm” anh tôi, được chú em đón tiếp. Chuyện trò gần ba tiếng đồng hồ, chú em nghe rất chăm chú, hình như những thông tin này chú chưa bao giờ được nghe, chú nói với tôi chân tình: em rất lo cho anh, những chuyện này anh có nói vói ai không? Tôi trả lời, tôi nói với những người cần nói và những người biết nghe như chú. Chia tay tôi, chú nhắc tôi cẩn thận.


Mấy ngày sau tôi lại xuống Vinh thăm bạn bè và cơ quan cũ. Đã mười mấy năm trời nhưng họ vẫn nhớ tôi, thân thiết với tôi, có người ở xa ba bốn chục cây số vẫn đến . Họ tổ chức tiệc tùng, bia rượu, hát karaoke. Một phó giám đốc dành hẳn hai ngày trời dùng xe máy chở tôi đi. Tôi hỏi các bạn: Chúng mày không sợ à? -“ Sợ đếch gì, năm ngoái chúng nó đã về điều tra lý lịch mày ở cơ quan, tung tin mày thế này, thế nọ, chúng tao nghe chỉ cười”. Tuy nhiên, một vài đứa là cán bộ cấp cao hơn thì sợ, khi nghe tôi gọi điện vội vã trả lời: Mày đang bị công an theo dõi, hãy cẩn thận, tao bận không đến được. Tôi hiểu các bạn đó “bận” gì! Biết lực lượng “bảo vệ miễn phí” lại thường xuyên bám sát, tôi đùa: Chúng mày cứ chuyện trò ăn uống thoải mái, đã có người trông xe. Tôi lại tranh thủ “diễn biến hòa bình” tiếp, phổ biến thông tin…Đa số có nghe lén đài BBC như những năm “kháng chiến”, một vài đứa có đọc Trần Khuê, Hà Sĩ Phu qua các bản copy, tâm đắc nhưng không dám phổ biến, tức tối và chửi đổng nhưng không dám công khai, “…Chúng nó cho chết mày ơi, còn vợ, còn con, chúng nó cho vào Nghi Kim (trại tù ở xã Nghi Kim) vài tháng là toi đời”; - Chúng mày có biết nhóm “dân chủ” Hà Nội, có biết đám tang Tướng Trần Độ không? - Có biết, có nghe, nhưng chỉ nghe và biết thế thôi, đ…thằng nào dám nói; - Nếu có một lực lượng dân chủ trong nước đứng lên kêu gọi, chúng mày có dám ủng hộ không? - “Biết là chúng nó phá hoại đất nước, tham nhũng, ăn cướp, nhưng chúng nó có súng, dùi cui và nhà tù, dân chúng chỉ biết than ngắn, thở dài”. Nói thì nói vậy thôi, trong số bạn bè cũ ở đây cũng có nhiều thằng đục khoét. Số tiền chúng nó chiêu đãi tôi hôm qua, hôm nay tôi biết đó là tiền “chùa”. Nói gần, nói xa chúng nó chống chế: “ Ở trong cái guồng máy này, không “ăn” không được, không ăn thì không có tiền để “cống” bọn cấp trên, nếu thiếu thứ đó thì chỉ có đứng đường, nếu mày ở nhà cũng thế thôi. Tất cả cán bộ đương chức từ thấp đến cao thằng nào cũng đểu, đểu nhiều, đểu ít, đểu có lương tâm và đểu không có lương tâm. Mày thấy không, ở Hà Nội, Sài Gòn nổi tiếng về vụ Năm Cam với các ông ủy viên trung ương, nghe đâu còn có các ông cao hơn nữa, tỉnh ta năm ngoái nổi tiếng về vụ Mặt trận Tổ Quốc lấy tiền dân ủng hộ đồng bào bị bão lụt chia nhau, có sao đâu, vào tù một thời gian rồi được ân xá, về rung đùi hưởng lộc tuổi già, mày đúng là thằng từ mặt trăng nhảy xuống…”. Tôi uống ngụm bia để cố nuốt miếng thức ăn đang nghẹn ở cổ. Chỉ ngôi nhà cao tầng tối om từ trên xuống dưới hắn tiếp tục: “ Đó là khách sạn Phương Đông, công trình, “đề án” của Hồ Hữu Hùng chủ tịch tỉnh; thành phố bé bằng bàn tay mà mười mấy khách sạn, chẳng hề có khách nhưng vẫn tiếp tục xây; cứ có “đề án” là có tiền, bên A, bên B chia nhau rủng rỉnh, thằng dân là cái đinh gì. Không kể biệt thự, đất đai, riêng tiền mặt gửi ngân hàng, chủ tịch tỉnh 13 tỷ, bí thư tỉnh ủy 15 tỷ. Khi dân biết, dân thắc mắc chủ tịch liền xuất mấy trăm triệu, mua một “chân” ở Bộ Tài chính, bay ra Hà Nội an toàn…Tôi ngẩn mặt, không biết nói gì hơn.


Giữa trung tâm thành phố Vinh đang thực hiện một công trình: Đắp núi nhân tạo và dựng tượng “bác” Hồ cao mấy mét. Tên tuổi “bác” được đám môn đồ khai thác triệt để, công trình nào đã gắn tên “bác” thì phải được thi hành, chi phí, tốn kém bao nhiêu chỉ có… “bác” biết: đường Hồ Chí Minh, bảo tàng HCM, lăng HCM, nhà lưu niệm HCM…Thằng nào dám cãi, dám chống???

Ở Vinh một tuần, tôi ra Hà Nội, thăm bạn bè và những người thân, đến trung tâm đầu não xem họ đối xử với tôi ra sao. Tàu đêm, đến ga Hàng Cỏ lúc sáu giờ sáng, phía trong ga đám tài xế taxi săn đón, ở cổng ra cánh xe ôm đủ các kiểu mời chào, đủ giọng miền Trung, miền Bắc, đứng gần rìa đường là các bác xích lô. Tôi chọn một bác xích lô già dáng khắc khổ nhưng hiền từ để có cơ hội giúp bác. Vẫn còn nhiều thời gian, tôi bảo bác chở tôi dạo phố. Hà Nội buổi sáng xe cộ thưa hơn, tiết trời vào thu mát dịu, thoang thoảng mùi hoa sữa. Đến phố Lý Thường Kiệt tôi đề nghị bác xích lô đổi chỗ vì ái ngại quá, ai lại để một thằng trẻ hơn bắt ông già gò lưng đạp. Bác xích lô không đồng ý, bác bảo tôi không quen phố, lỡ công an phạt, giữ xe thì phiền cho bác. Lượn một vòng các phố, sợ bác tài mệt, tôi bảo bác chở về khách san Nam Ngư. Chủ khách sạn là một cán bộ về hưu, vui vẻ và điềm đạm: “Anh yên tâm, ở đây an toàn tuyệt đối”. Sau khi ăn sáng ở một quán phở gà gần đó do bác giới thiệu, tôi đánh một giấc ngon lành. Gần hai giờ chiều chuông điện thoại làm tôi thức giấc: “ Anh có khách”. Quái, mình đã gọi điện báo tin cho ai đâu? À, chắc là họ. Họ muốn đánh nhanh, bất ngờ để tôi không kịp đối phó. Tôi chủ ý dềnh dàng không xuống ngay, thử tính kiên nhẫn của họ, xem họ có cáu tôi không. Hơn nửa tiếng sau tôi xuống, hai người khách: một già độ tuổi gần 50 mặc thường phục, một trẻ, tuổi độ dưới 30, sắc phục công an mang lon trung úy. Ông khách già hơn vồn vã: “Chào anh, anh mới ở Ba Lan về”. Cứ như thể bạn tôi lâu ngày gặp lại. Xin lỗi các anh là ai? Tôi không quen. -“ chúng tôi ở Bộ Công An, được lệnh mang giấy mời đến cho anh”, viên trung úy vội vã mang phong bì có dấu của Bộ Công An đưa cho tôi. Tôi đọc. Tôi được Bộ Công An mời lên làm việc ở phố 40 Hàng Bài vào lúc 8 giờ 30 ngày 1 tháng 10. Việc gì đến, đã đến. Tôi nói với hai người khách: Chuyến về Việt Nam lần này tôi không có ý định, không có chương trình làm việc với cơ quan nào cả, kể cả Bộ Công An. Trong tờ khai để xin thị thực tôi đã ghi rõ mục đích chuyến đi và đã được phòng lãnh sự Đại Sứ Quán Việt Nam tại Ba Lan cấp thị thực, sau thời gian một tuần chờ ý kiến của Bộ Công An. “ Giấy mời của Bộ Công An, anh phải đến, nếu không sẽ bất lợi cho anh”, ông khách giải thích. Thực ra tôi có quyền không đến mà họ chẳng làm được gì tôi. Tôi mang hộ chiếu nước ngoài, được cấp thị thực về thăm thân, du lịch giống như những ông Tây, bà Đầm khác. Nhưng đây cũng là mục đích của chuyến về quê, thử xem họ nắn gân mình ra sao. Lời qua tiếng lại với hai ông khách này chỉ thêm mất thời gian, tôi trả lời đồng ý và ký vào bản copy giấy mời.


Sau khi họ về, tôi lên phòng riêng phác họa cho mình kế hoạch đối phó. Tôi cân nhắc kỹ và quyết định gọi điện cho Đại Sứ Quán Nước Cộng Hòa Ba Lan tại Hà Nội. Ông Trưởng phòng lãnh sự mời tôi lên nói chuyện. Tôi đi xe ôm lên sứ quán. Ông Đại sứ và trưởng phòng lãnh sự chờ tôi. Sau cái bắt tay rất chặt, họ mời tôi dùng trà và bánh ngọt. Tôi trình bày ngắn gọn, tôi là một trong những người Việt và Ba Lan gốc Việt ở nước ngoài, chủ trương đấu tranh cho nền dân chủ thực sự tại Việt Nam. Ở Ba lan chúng tôi phát hành tờ báo Đàn Chim Việt bằng tiếng Việt, phổ biến rộng rãi tại Ba Lan, Tiệp và nhiều nước khác…Về nước lần này, tôi liên tục bị công an theo dõi, khi vừa đặt chân đến Hà Nội là có giấy mời của Bộ Công An. Sau khi hội ý với ông Đại sứ, ông bí thư thứ hai đề nghị tôi để hộ chiếu lại tại Đại sứ quán, “ Như thế an toàn hơn”- ông nói, “Ngày mai đúng 8 giờ xe của chúng tôi sẽ đến đón ông đi làm việc, ông nên cẩn thận khi đi lại và ăn uống ở chỗ đông người, ông nên nhớ đây là Việt Nam chứ không phải ở Ba lan”. Tôi cám ơn ông và về khách sạn.


Đúng 8 giờ sáng, xe Đại sứ quán chở ông lãnh sự đón tôi đến cơ quan Bộ Công an ở phố Trần Bình Trọng. Sự có mặt của nhân viên sứ quán Ba Lan đi cùng tôi gây nên một sự bất ngờ không hề thú vị đố với các cán bộ công an. Phòng “làm việc” được chẩn bị vội vã, không hề có nước nôi. “Làm việc” với tôi có bốn người: Hai người mặc thường phục cỡ tuổi 48-50 tự giới thiệu là Hường và Triệu, không giới thiệu chức vụ. (Triệu đã đến khách sạn hôm qua để đưa giấy mời cho tôi), một người mang quân hàm thượng tá, không giới thiệu tên và viên trung úy đã đến khách sạn. Tôi mở đầu trước: Xin các anh cho biết mục đích và tính chất của buổi làm việc hôm nay? Tôi về nước lần này chỉ để thăm thân và du lịch, không có chương trình này. Hường trả lời tôi: “Anh có đơn tố cáo ba vấn đề: Về nước bằng giấy tờ giả, buôn bán heroin và tổ chức người vượt biên trái phép”. Tôi hỏi lại: Đơn do ai gửi, có địa chỉ người gửi, và có chữ kí không?. Hường trả lời: “Không có”. -Vậy đó là thư nặc danh?. Im lặng. Tôi dịch lại nội dung trên cho ông lãnh sự, ông ta nhún vai và nó: “Ở Ba Lan, và theo tôi hiểu ở các nước khác cũng vậy, thư nặc danh không có giá trị pháp lý, càng không bao giờ là cái cớ dễ gây phiền hà cho công dân”. Tôi hỏi tiếp: Chắc thư này là do các anh bịa ra để lấy cớ? Các anh có thể cho tôi xem nội dung? Hường: “Không, chúng tôi không bịa, chúng tôi sẽ cho anh xem sau buổi làm việc”. Tôi: Các anh có tin điều đó không?. Im lặng. Ông lãnh sự: “Hộ chiếu ông Thành do chúng tôi cấp, việc thật hay giả chúng tôi có khả năng kiểm tra hơn các ông”. Dường như sự có mặt của ông lãnh sự làm cho họ không tự chủ,bối rối khi làm việc với tôi nên ông thượng tá nói với ông lãnh sự: “ Đây là việc riêng giữa bộ Công An với ông Thành, ông có thể về nghỉ để chúng tôi làm việc với ông Thành”. Ông Lãnh sự: “Ông Thành là công dân của đất nước chúng tôi, chúng tôi có trách nhiệm bảo vệ, những vấn đề các ông nêu ra là rất nghiêm trọng, chừng nào chưa có kết luận rõ ràng tôi vẫn phải ở đây”. Ông Thượng tá: “ Đề nghị ông Thành cho chúng tôi kiểm tra hộ chiếu”. Ông Lãnh sự: “ Hộ chiếu của ông Thành không có vấn đề gì, chúng tôi cấp, chúng tôi biết”. Ông Thượng tá: “ Chúng tôi kiểm tra visa, đó là visa do phía Việt Nam cấp”. Ông lãnh sự: “ Tại sao các ông không kiểm tra qua sứ quán Việt Nam tại Ba Lan, các ông có thể gọi điện, fax, email?”. Lúng túng. Tôi: Tôi qua cửa khẩu đàng hoàng, có lính biên phòng của các anh kiểm tra, chẳng lẽ các anh không tin tưởng cảnh sát cửa khẩu?. Chừng như để tôi phiên dịch không lợi lắm, ông thượng tá hỏi ông lãnh sự có biết tiếng Anh không? Ông lãnh sự trả lời :có. Ông thượng tá giải thích bằng tiếng Anh (tuy không chuẩn lắm) rằng tiếng Việt có nhiều dấu, gây khó khăn cho việc kiểm tra. Ông lãnh sự: tiếng chúng tôi cũng có nhiều dấu (ông, eng…) vấn đề là cách thức lưu giữ hồ sơ”. Trong khi chúng tôi “làm việc”, Triệu Lấy máy ảnh bấm lia lịa, tự nhiên như không. Tôi phật ý: Anh chụp ảnh mà không hỏi ý kiến tôi, theo phép lịch sự như thế là không được, tôi không đồng ý. Triệu cười xuề xòa: “Chụp mấy kiểu kỷ niệm thôi mà”. Thấy việc tranh cãi thủ tục kéo dài thời gian, tôi đề nghị ông lãnh sự về sứ quán lấy hộ chiếu, tôi biết thực chất họ muốn gì, tôi sẽ ở lại làm việc với họ. Ông lãnh sự đồng ý. Sau khi ông lãnh sự ra khỏi phòng, tôi nói: Các anh ngại “người ngoài”, bây giờ chỉ có “ta” với nhau các anh vào thẳng vấn đề đi, tôi còn còn nhiều người quen, chưa đi thăm được ai, còn lại ít thời gian lắm. Hường: “ Đã lâu anh không về?”. Tôi: Vâng , đã lâu. Hường: “Ở bên đó chắc anh viết nhiều?. Tôi: Khả năng tôi có hạn nên viết được ít, chỉ khi nào cần thôi. (Vì chưa xác định được đối phương sẽ dẫn tôi đi đâu nên tôi trả lời thăm dò). Hường: “ Anh có còn quốc tịch Việt Nam không?”. Tôi: Điều đó chắc các ông biết rõ, tôi về nước bằng hộ chiếu Ba Lan có thị thực do phòng lãnh sự Việt Nam cấp. Hường: “ Anh có bút danh Trần Minh rất hay”. Tôi: Tên tôi là Trần Ngọc Thành. Hường: “ Anh viết nhiều bài hắc búa, đặc biệt là bài “71 năm tồn tại…” phủ nhận sự lãnh đạo của đảng”. Tôi: Tôi viết những gì tôi cảm thấy có lợi cho đất nước. Hường: “Chắc anh hay ra nước ngoài?”. Tôi: Đúng, tôi hay đi, vì công việc và thỉnh thoảng đi thăm bạn bè. Ông thượng tá: “ Anh có nhiều bạn bè ở Pháp và Mỹ Không?”. Tôi: Có, tôi có nhiều bạn bè ở Pháp, Mỹ, Úc, Tiệp, v.v. Hường: “ Họ có đến Ba lan không?”. Tôi: Có, một số người có đến. Hường: “ Anh có biết Nguyễn Gia Kiểng không?”. Tôi: Có. Hường: “ Anh có đọc cuốn Tổ Quốc Ăn Năn không?. Tôi: Có, tôi có đọc. Hường: “ Anh nhận xét thế nào?. ” Tôi: Đó là một cuốn sách hay, có một số vấn đề còn tranh cãi, nói chung tôi tán thành tư tưởng của Nguyễn Gia Kiểng là hòa giải và hòa hợp dân tộc, dân chủ hóa đất nước. Hường: “Chúng tôi biết, anh có ảnh hưởng lớn đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài, anh nên viết những gì có lợi cho đất nước”. Tôi: Không dám, tôi chỉ là người bình thường, khả năng có hạn, tuy nhiên tôi cố gắng theo lời khuyên của các anh, viết những gì mà tôi cảm thấy có lợi cho đất nước….Cuộc nói chuyện tiếp tục cho đến khi ông lãnh sự mang hộ chiếu của tôi đến. Ông lãnh sự: Đây, hộ chiếu của ông Thành đây, đề nghị các ông kiểm tra. Ông thượng tá: “ Ông có thể chờ ngoài xe ôtô được không? Lúc nào kiểm tra xong chúng tôi sẽ báo”. Ông lãnh sự: “Tôi chờ ở đây, các ông kiểm tra với sự có mặt của tôi”. Ông thượng tá cầm hộ chiếu của tôi, lật tất cả các trang: “Ông Thành đi nhiều quá”. Tôi: Vâng Tôi đi nhiều và tôi mong tất cả mọi người Việt Nam cũng được tự do đi lại như tôi… “ Cuộc Kiểm tra” kéo dài không đầy hai phút, viên trung úy giở trang có visa vê vê như thử tờ giấy bạc và bảo visa thật, không có vấn đề gì. Ông Lãnh sự: “ Các ông đã thỏa mãn chưa?... Im lặng. Suốt cuộc nói chuỵên không hề có nước. Tôi khát và hình như ông lãnh sự cũng khát, tôi mở ví rút tiền: “Nhờ các anh mua giùm chai nước khoáng để tôi tiếp ông lãnh sự, ông ta là cán bô ngoại giao! Triệu: “ Chết, chết, mãi làm việc chúng tôi quên”. Nước khoáng được đưa ra, tôi rót mời ông lãnh sự, tôi cũng uống cho đỡ khát sau đó đứng dậy: “Xin phép các anh thời gian nói chuyện cũng đã dài, các anh đã kết luận giấy tờ của tôi, không có vấn đề gì, thư tố cáo chỉ là trò vu cáo, tôi đề nghị và xin các anh cho tôi xin bức thư tố cáo để làm kỷ niệm”. Hường: “Anh có thể đọc qua nhưng chúng tôi phải giữ lại”. Ông ta cầm lướt qua cho tôi đọc, thư viết bằng máy vi tính, chắc chắn là do họ đạo diễn. Triệu yêu cầu tôi ký vào biên bản buổi làm việc được viết trên mẫu giấy in sẵn. Tôi đề nghị phaỉ được đọc lại, sửa chữa những chỗ không chính xác nếu có và yêu cầu được giữ một bản. Hường và Triệu hứa ngày mai sẽ đưa cho tôi (nhưng họ đã không thực hiện lời hứa). Hường nói: “Còn nhiều vấn đề muốn trao đổi với anh, nhưng hôm nay làm việc đã nhiều, mặt khác có ông lãnh sự nên không tiện nói, đề nghị anh dành một buổi khác để làm việc riêng với chúng tôi, có thể là ở nhà khách Bộ Công An, ở đó rộng rãi hơn và có đủ tiện nghi. Tôi trả lời : Theo tôi buổi làm việc hôm nay như thế là đủ, tôi còn rất ít thời gian. Hường: “Nhưng chúng tôi còn nhiều vấn đề muốn tiếp tục làm việc”. Tôi: Việc này tôi cần trao đổi với Sứ Quán Ba Lan. Chúng tôi ra xe, ông lãnh sự đưa tôi về khách sạn và không quên dặn tôi phải luôn luôn cẩn thận, đề phòng. Tôi cám ơn sự nhiệt tình, chu đáo của ông.



Tôi thực sự cảm động trước tấm lòng của những người “ngoại quốc”. Với tôi, đây vẫn là đất mẹ thiêng liên, là máu mủ, ruột thịt. Những câu ca dao cổ của tổ tiên lại hiện rõ trong tôi “ Bầu ơi, thương lấy bí cùng,…Gà cùng một mẹ, chớ hoài đá nhau”. Mẹ Việt Nam ơi! những đứa con của Mẹ vẫn tiếp tục đá nhau, Mẹ đâu có dạy đàn con của Mẹ vậy. Nếu không có sự chứng dám, can thiệp của các ông “ngoại quốc”, chắc gì tôi đã về đây trọn vẹn. Hộ chiếu của tôi có thể bị giữ lại vì “khả nghi”; tôi có thể bị tạm giữ vì cái thư “nặc danh” kia. Quyền lực trong tay, họ tự cho phép mình muốn làm gì thì làm. Họ nghĩ rằng tôi vẫn là con dân dưới quyền họ. Họ nghĩ rằng có sức mạnh trong tay thì không cần lịch sự, không cần phép xã giao. Những cán bộ “đối ngoại” của đảng như vậy, những cán bộ “đối nội” sẽ đến mức nào? Tôi phần nào thông cảm với những đứa bạn tôi, nhưng chẳng lẽ cả dân tộc đều khiếp sợ? Suốt đem tôi thao thức, những tình cảm trái ngược đan chen: Ở trung tâm thủ đô Vacsava có ”vương quốc” nhỏ của người Việt với trên chục ngàn người, có đầy đủ các thứ từ lòng lợn, tiết canh, rau thơm, bún chả… Nước Tiệp chỉ gần chục triệu dân nhưng có mấy chục ngàn người Việt sinh sống, rồi nước Đức, Hungari,… Nếu giữa thủ đô ta có một chợ “Tây” đông như vậy, thử hỏi tồn tại được mấy ngày? Ta có gì hơn họ, họ có gì hơn ta?


Ngày hôm sau, các nhà “chức trách” lại đến. Vẫn ông Hường, ông Triệu. Tôi bắt đầu chán sự “quan tâm” của các ông này. Hường: “Hôm nay chúng tôi muốn mời anh tiếp tục nói chuyện”. Tôi: Xin lỗi, tôi không có thì giờ. Giấy tờ các anh đã xác minh, hay các anh vẫn cho rằng tôi buôn bán heroin? Hường cười: “Ai lại vậy, chúng tôi muốn tiếp tục câu chuyện bỏ dở hôm qua vì sự có mặt của ông lãnh sự, chúng tôi mời anh đi uống cà phê”. Chà tử tế quá! Tôi chợt nhớ những lời đồn về những ly cà phê của ông Lê Đức Thọ và sự ra đi của các ông Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái. Các ngài sợ “Tây” thì tôi dùng “Tây” dọa. Tôi nói: Ông Đại sứ Ba Lan yêu cầu, nếu công an Việt Nam cần gặp thì nhất thiết phải có sự hiện diện của cán bộ sứ quán. Hường: “ Không cần thiết, chúng ta trao đổi chuyện người nhà”. Chuyện người nhà? Thú vị thật. Tôi nói: Tôi sẽ đi cùng các anh nhưng đề nghị các anh cho biết địa điểm cuộc nói chuyện để tôi điện báo cho sứ quán, lúc cần thiết họ có thể tìm tìm tôi. Tôi giả vờ lên gác gọi điện để “đánh đòn gió”.


Họ chở tôi đến nhà khách Bộ Công An phía Hồ Tây, Quảng Bá.

Cũng như hôm qua, tôi yêu cầu cho biết tính chất cuộc nói chuyện. Hường: “Hôm nay chúng ta nói chuyện thẳng thắn, tôi thấy anh viết nhiều bài chống đảng, chống nhà nước”. Tôi: Những bài tôi viết xuất phát từ trách nhiệm của công dân đối với đất nước, tôi không chống lại Tổ Quốc, không chống lại nhân dân. Có thể quan điểm của các anh khác quan điểm của tôi, muốn đất nước phát triển, theo tôi phải thay đổi phương thức quản lý nhà nước. Hường: “ Các anh viết nhiều bài nói xấu đảng, làm ảnh hưởng đền uy tín của đảng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài”. Tôi: Người Việt ở nước ngoài có cơ sở đối chứng là sự phát triển kinh tế và sự lãnh đạo của chính quyền dân chủ các nước sở tại. Người đọc có quyền đánh giá các bài viết, chúng tôi chỉ nêu sự thật khách quan. Cha ông ta có câu: “Hữu xạ tự nhiên hương”. Nếu đảng tài giỏi thì dù hàng ngàn thằng phản động hay hàng ngàn bài báo nói xấu, dân vẫn không tin. Sư thật là cho đến nay, nước ta vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới, thu nhập bình quân đầu người chỉ xấp xỉ 400 đô la, trong khi đó Thái Lan, trước kia ta cho là nước nhược tiểu vậy mà thu nhập của họ gấp hai mươi lần thu nhập của ta. Các nước khác như Nam Hàn hay Singapore càng giàu hơn nữa. Dân ta cần cù và thông minh. Vậy thì do đâu? Trong nghị quyết đại hội đảng lần thứ 9, đảng đưa ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2010, thu nhập quốc dân sẽ gấp đôi hiện nay, tức là 800 USD bình quân đầu người. Đến thời điểm đó các nước khác càng vượt rất xa chúng ta, như vậy dưới sự lãnh đạo của đảng đất nước ta mãi mãi nằm ở nhóm nước nghèo nhất thế giới?. Trường: “Đất nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh, lại thường xuyên bị thiên tai”. Tôi: Chiến tranh đã lùi xa gần 30 năm, còn thiên tai nước nào chả có, vả lại thiên tai do ai gây ra? Một phần do con người, chặt cây, phá rừng, phá hoại môi sinh. Hường: “Các thế lực phản động ở Mỹ và Tây Aâu đang tìm mọi cách chống phá đất nước, tuyên truyền, chia rẽ…”. Tôi: Tôi không đồng ý với các anh điểm đó, tôi thấy người Việt ở đâu cũng yêu nước, cũng trăn trở với đất nước. Chắc các anh có xem các băng nhạc hải ngoại? Lớp trẻ sinh ra sau năm 1975 ở nước ngoài hát tiếng Việt rất hay, nói tiếng Việt rất sõi, các bài hát về quê hương rất truyền cảm, nếu không có tình cảm thật sự thì không thể hát được như vậy. Các anh đừng nghĩ rằng cứ ở Pháp, Mỹ, Canada là phản động, nhiều khi phản động nằm ngay trong nước, chính trong bộ máy của các anh, vụ án Năm Cam là một thí dụ. Hường: “ Nguyễn Gia Kiểng là phản động ,Tổ Quốc Ăn Năn là phản động”. Tôi: Tôi phản đối, Nguyễn Gia Kiểng rất yêu nước, tôi đã tiếp xúc nhiều lần với Nguyễn Gia Kiểng ở Ba Lan và ở Pháp, tôi tán thành và ủng hộ chủ trương của anh: hòa giải và hòa hợp dân tộc, dân chủ hóa đất nước, đa nguyên về chính trị, có như vậy người Việt ở tất cả mọi nơi trên toàn mới có cơ hội đóng góp cho đất nước. Người Việt rất thành đạt ở nước ngoài, người Việt nắm nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ các nước, nhiều nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới là người Việt, ai cũng muốn đóng góp cho đất nước, nhưng họ sợ: sợ bị sách nhiễu, sợ bị trả thù, sợ nạn tham nhũng …


Cuộc nói chuyện kéo dài gần 3 giờ, tôi tranh luận thẳng thắn, tôi phê phán nhiều chính sách và chủ trương sai như làm đường Hồ Chí Minh, chọn địa điểm xây dựng nhà máy lọc dầu ở Dung Quất…Tôi kêu mệt và đề nghị nghỉ. Tôi nói, đây là buổi làm việc cuối cùng, các anh hãy để cho tôi yên trong những ngày còn lại. Họ chở tôi về khách sạn.


Ngày tiếp đó tôi được tự do, tôi đi thăm bạn bè và người thân, thật không may, tôi bị ngộ độc thức ăn sau một bữa thưởng thức món bánh tôm và trạch biển ở nhà hàng Hồ Tây. Bà chị họ tôi nói rằng có những bà buôn cá, để cá cả tuần trông vẫn tươi rói, ruồi nhặng cũng chẳng dám bâu vì đã được ngâm qua… dung dịch fooc- môn. Bể chứa fooc- môn ngâm xác người cho sinh viên ngành y thực tập ở phố Lò Đúc vẫn bị múc trộm để…bán. Tôi nghe mà lạnh cả sống lưng. Tưởng đựơc yên, nhưng sáng ngày 4/10 hai ông Hường và Triệu lại đến, mang theo một tập Đàn Chim Việt cố ý để cho tôi nhìn thấy. Hường: “ Hôm nay chúng tôi đến mời anh lên gặp cấp trên của chúng tôi, cấp trên chúng tôi muốn làm việc với anh và đề nghị anh viết cam kết”. Tôi: Tôi đã nói với các anh rồi, tôi không làm việc với ai nữa cả, tôi rất mệt, tôi cần nghỉ ngơi và đi thăm bạn bè. Hường: “ Nhưng cấp trên chúng tôi cần gặp anh, chúng tôi có bằng chứng về hoạt động chống đối của anh ở nước ngoài”. À ra vậy, các cuộc làm việc và nói chuyện hai hôm trước nhằm mục đích tạo bằng chứng chứ gì?. Tôi: Tôi không có thời gian. Tôi đã mua vé tàu đi thăm bạn , nếu cấp trên của anh cần gặp, hãy để dịp khác. Hường: “Bao giờ anh lại ra Hà Nội?” Tôi: Còn tùy, nhưng chắc chắn là tôi ra vì tôi đăng ký bay ở Nôi Bài. Hường: “Đây số điện thoại của chúng tôi đây, lúc nào anh ra nhớ gọi điện cho chúng tôi.” Tôi cầm số điện thoại: Nhưng tại sao tôi lại phải gọi điện cho các anh?


Từ giờ phút này, họ tăng cường giám sát tôi vì tôi không làm theo ý họ. Tôi quyết định về Vinh nghỉ ngơi đến sát ngày bay mới ra Hà Nội để khỏi bị quấy rầy vì tôi biết công an Nghệ An chỉ “bảo vệ” tôi chứ không được phép “ nói chuyện”. Họ không rời tôi, điện thoại “được” họ nghe trộm. Các anh chị tôi sợ, tôi thường xuyên phải trấn an. Chỉ còn hai ngày nữa tôi bay, tôi chuẩn bị lên đường. Cùng bay với tôi có thằng cháu đã từng bảy năm ở quân đội, xuất ngũ về quê không có việc làm, con một cựu chiến binh người cùng làng, được ông anh ruột lo cho mọi thứ: hộ chiếu, vé máy bay, visa để sang một nước châu Âu làm việc kiếm sống. Họ thay nhau “bảo vệ” tôi, kể cả ở trên tàu. Xuống ga, tôi điện cho người nhà ra đón và bảo thằng cháu đi cùng không được theo tôi, tự đi vào nhà người quen để tránh rầy rà, lúc nào ra sân bay tôi đón. Tôi bảo ông anh họ cố gắng cắt “đuôi”, nhằm lúc người đi làm đông và học sinh đi học, đường tắc, kẹt xe, chúng tôi luồn lách và cắt được “đuôi”. Nhưng họ biết số đăng ký xe, việc tìm địa chỉ chủ xe chẳng khó khăn gì. Khoảng năm giờ chiều họ lập xong vọng gác. Tội nghiệp mấy anh công an trẻ phải thay nhau đứng hứng bụi đường, mất ngủ và làm mồi cho muỗi. Đêm đó tôi ngon giấc. Sáu giờ sáng có chú công an phường trẻ măng gõ cửa, lễ phép: “ Nhờ bác cho xem hộ chiếu”, ông anh họ lấy hộ chiếu của tôi cho xem. Gần mười phút sau, Triệu và một người nữa trẻ hơn, mặc thường phục gõ cửa vào nhà. Triệu : “Anh mới ở Vinh ra?”. - Vâng, tôi đáp. “ Sao anh không ở khách sạn?”. Tôi: Vì ngày mai tôi bay nên tôi đến thăm anh chị, tiện thể ở đây luôn. Triệu: “Luật pháp Việt Nam không cho phép người nước ngoài ở nhà dân”. Tôi: Nhưng tôi đâu phải là người nước ngoài? Vả lại đây là người nhà. Triệu: “ Nhưng anh mang hộ chiếu nước ngoài”. Tôi: Sao lại có loại pháp luật kỳ lạ vậy? Ở châu Âu và các nước khác có hàng vạn người Việt sống tạm cư, nếu chính quyền các nước đó học Việt Nam thì không biết con Rồng, cháu Tiên ở các nước đó lấy gì để trả tiền khách sạn? Ngành du lịch các nước đó chắc phải sản xuất hàng tấn huy chương để tặng chính phủ Việt Nam vì đã đưa ra sáng kiến đó. Triệu: “Khi nào anh bay?”. Tôi: Ngày mai. Triệu: “ Sao sớm vậy”. Tôi: Tôi đã đăng ký vé từ trước, vả lại người của các anh luôn luôn rình rập, điện thoại thì bị nghe lén, ở đây tôi đâu được tự do. Triệu: “ Đề nghị anh thu xếp chiều nay đến gặp cấp trên của chúng tôi”. Tôi: Tôi không còn thời gian. Triệu: “Cấp trên chúng tôi yêu cầu anh đến làm việc và viết cam kết”. Đó là việc của cấp trên các anh. Triệu: “Anh phải đến”. Tôi: Tôi không đến. Triệu: “ Có người tố cáo anh”. Tôi cười: Lại tố cáo, có giống hôm trước không?. Triệu: “Anh cùng đi với một người nữa sang châu Âu?”. Tôi im lặng, như vậy là họ đã theo dõi thằng cháu tôi từ Vinh. Triệu: “Nếu anh không đến chúng tôi sẽ bằng mọi cách giữ anh lại, kể cả người cùng đi với anh”. Tôi không giữ nổi bình tĩnh: Tôi thách các anh, các anh chẳng có quyền gì giữ tôi cả. Triệu: “ Có thể anh không bay được chuyến này”. Tôi: Tôi sẽ bay.

Đã đến lúc họ giở luật cùn. Tôi: Xin lỗi các anh tôi đang mệt, các anh về cho tôi nghỉ. Và tôi tiễn họ ra cửa. Tôi bảo với ông anh họ bằng mọi cách phải đến thông báo cho thằng cháu hoãn chuyến bay. Dận cá chém thớt, không làm gì được tôi có thể họ sẽ trả thù thằng cháu dù đó chỉ là con của người cùng xóm. Anh tôi lấy cớ đến cơ quan, cháu tôi được tin, tức tốc ra bến tàu “phắn”. Tôi thở phào nhẽ nhỏm, lập tức gọi điện thoại di động cho Đại sứ Quán Ba Lan rằng tôi bị công an Việt Nam đe dọa, sẽ gây khó dễ khi ra sân bay để buộc tôi lỡ chuyến bay. Ông lãnh sự trả lời: “Xe Đại Sứ Quán sẽ đưa ông ra sân bay, ông hãy hết sức cẩn thận khi ra phố, nếu cần chúng tôi sẽ đón ông tại nhà, tôi cám ơn ông lãnh sự quá quan tâm đến sự an toàn của cá nhân tôi. Người của công an không rời tôi nửa bước, khi tôi gọi điện ở bưu điện, họ cũng lại gần giả vờ mua báo để nghe tôi nói chuyện. Tôi thầm an ủi họ: chỉ còn một tối này nữa thôi, các cậu sẽ không còn vất vả, có thể ở nhà ngủ với vợ con không còn bị muỗi đốt. Để bớt phiền phức cho sứ quán, sáng hôm sau tôi thuê taxi, có hai xe máy hộ tống để đề phòng mọi bất trắc dọc đường. Tôi đến Đại Sứ Quán lúc 10 giờ, chuyện trò, uống trà và ăn bánh ngọt, đến 11giờ xe chúng tôi xuất phát ra sân bay, cùng đi với ông lãnh sự là một người già hơn biết tiếng Việt nhưng không nhiều.

Xuống xe, chuẩn bị làm thủ tục, tôi nhìn thấy Hường vẻ mặt tức tối, đi từ chỗ nọ đến chỗ kia. Trên xe, ông lãnh sự đã thông báo cho tôi rằng Đại Sứ Quán Ba Lan đã gửi công hàm phản đối sang Bộ Ngoại giao Việt Nam về những việc làm của cơ quan công an đối với cá nhân tôi, Bộ Ngoại Giao Việt Nam hứa bảo đảm an toàn tuyệt đối cho tôi khi xuất cảnh. Không biết bao nhiêu người cùng đi với ông Hường, không làm được gì tôi, chắc chắn họ đang tìm thằng cháu. Lúc trực diện với tôi, Hường không còn giữ bình tĩnh: “ Tai sao anh không đến làm việc với cấp trên?”. Tôi: Tại sao tôi lại phải đến? Hường: “ Anh nói gì với sứ quán để họ gửi công hàm phản đối sang bộ ngoại giao?. Tôi: Các anh đe dọa tôi còn họ gửi công hàm là quyền của họ. Hường vung tay trước mặt tôi: Nguyễn Gia Kiểng là người của CIA, nhận tiền của CIA. Tôi gạt tay Hường: Anh nên lịch sự, thằng nào nói với các anh như vậy là thằng ngu. Hường: “Còn thời gian mời anh vào đây nói chuyện”. Tôi: Tôi không còn chuyện gì để nói. Hường: “Nếu anh cứ tiếp tục hoạt động chống đảng, chống nhà nước thì anh không được về”. Tôi: Tôi sẽ về, chúng tôi sẽ về, đất nước này đâu phải của riêng các anh!

Hành lý của tôi đước kiểm tra rất kĩ, nhưng có hai cán bộ ngoại giao Ba Lan đứng gần giám sát nên không có việc gì xẩy ra. Tôi vào phòng chờ, chuẩn bị ra máy bay, vẫy tay cám ơn và chào tạm biệt những người bạn Ba Lan đáng kính, cám ơn đất nước Ba Lan đã bao bọc, che chở tôi. Tôi gọi điện tạm biệt, báo tin cho bạn bè và anh chị em ruột thịt, rằng tôi an toàn, cám ơn tất cả, những người đã từng lo lắng cho tôi. Máy bay cất cánh, tôi nhìn qua của sổ: Tạm biệt Đất Mẹ thân yêu, hẹn sớm ngày gặp lại.


Warszawa 2002 - TNT

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hà Nội: Xe hơi sang bóng loáng phố phường
Friday, November 25, 2005


HÀ NỘI 25-11-Tại Hà Nội đang có một lớp người giàu sang đang nổi lên và để thể hiện sự giàu sang này, họ tậu xe hơi với giá mà những người dân bình thường ở Việt Nam phải “chóng mặt” vì mỗi chiếc xe trị giá hơn 100,000 đô la, tức là vài tỷ đồng tiền Việt Nam.

Trong khi đó, theo phúc trình của cơ quan UNDP thì thu nhập bình quân (GDP) mỗi năm theo đầu người của Việt Nam năm 2004 là khoảng 553 đô la Mỹ. Tỉ lệ nghèo, theo chuẩn quốc gia của Việt Nam tính đến năm 2002 là 29% dân số cả nước.

Báo Tiền Phong hôm 25 tháng 11, cho biết, những chiếc xe đời mới giá không dưới 100,000 đô la nhưng giá trị đích thực của những chiếc xe không chỉ tính bằng tiền... Một xu hướng chơi xe hơi hàng hiệu đang hiện hữu ngày một rõ giữa lòng Hà Nội.

Kiểu cách độc đáo, những chiếc xe được gắn cái mác “hoàng tử trên phố” này đang gây chú ý không chỉ với dân sành xe đất Hà thành.

Báo Tiền Phong kể: “Tại ngã ba Quang Trung-Hồ Xuân Hương một ngày giữa tháng 11 năm 2005, giữa trưa nắng ấm, đám viên chức làm việc tại mấy cao ốc gần đó xúm đen, xúm đỏ quanh một chiếc ô tô màu đen lừng lững đậu ngay đầu ngã ba.

Không có chủ, nhiều khách mạnh dạn đặt tay lên sườn chiếc xe vuốt một cái rõ dài thật âu yếm, miệng trầm trồ: “Ði xe này mới đã! Ðúng xe hàng hiệu!”

Nhưng hiệu gì thì chẳng ai biết vì xe chẳng có chữ, cái lô gô hình e líp khuyết gắn phía sau nom lạ hoắc. Mấy phó nháy đi qua không bỏ lỡ cơ hội chộp vài kiểu ảnh làm tư liệu.

Một bác cao niên, chẳng hiểu mô tê thế nào dọa: “Gọi cảnh sát đến kéo xe đi, ai lại đỗ nghênh ngang thế này”. Cuối cùng thì chủ xe cũng xuất hiện, tự tin mở cửa xe nổ máy. Chiếc xe lừ lừ lao đi để lại những lời râm ran bàn tán.

Thực ra đây là chiếc xe có hiệu NISSAN Infiniti QX 56, loại xe 2 cầu có động cơ 5.5 lít với 8 chỗ ngồi. Chủ nhân của chiếc xe là ông P.X.D. trú tại phố Ngô Quyền. Ông D. đã bỏ ra 1.4 tỷ đồng, khoảng 90,000 đô la để sở hữu chiếc xe độc đáo số một Hà Nội vào tháng 3 năm 2005. Tuy nhiên, giới sành chơi xe đất Hà thành thì khẳng định rằng, nếu không mặc cả, tròn trĩnh giấy tờ, chiếc xe này được bán 156,000 đô la, tức 2.5 tỷ đồng VN...

Hà Nội hiện đã xuất hiện khoảng vài chiếc NISSAN 2 cầu hiệu Murano nhưng động cơ 3.5 lít. Trong số đó có 3 xe biển kiểm soát dân sự như chiếc Murano đen BKS 29X-2009; 29 V-77... Ngoài ra, một số xe có bảng số ngoại giao, bảng số nước ngoài. Những chiếc Murano “nhập cảnh” Hà Nội sớm nhất là vào tháng 1 năm 2005 và mới đây nhất là vào tháng 8 năm 2005.

Trên sổ sách chiếc xe 29V-77... có giá suýt soát tỷ bạc. Nhưng giá thị trường, chúng được chào mua 125,000 đô la đến 130,000 đô la (khoảng 2 tỷ đồng VN). Murano là loại xe hai cầu đã rất được ưa chuộng tại thị trường Mỹ, và một số quốc gia phương Tây.

Nói đến những chiếc xe sành điệu, giới sành xe phải “nghiêng mình” khi nhắc đến chiếc Lexus GX 470 với chiếc lô gô chữ “L” cách điệu (loại xe mang thương hiệu riêng của hãng Toyota sản xuất riêng cho thị trường Hoa Kỳ) vừa xuất hiện tại Hà Nội tháng 6 năm 2005. Ðây là chiếc xe loại hai cầu 8 chỗ, động cơ 4.6 lít. Chủ nhân của chiếc xe là một “đại gia” ở phố Thái Hà. Giới buôn xe đồn rằng chiếc xe này giá thật không dưới 2.5 tỷ đồng, tức 150,000 đô la.

Báo Tiền Phong cho biết tiếp: “Khoảng một tháng lại đây, nhiều người đi trên đường Tây Sơn-Nguyễn Trãi-Hà Ðông, thỉnh thoảng lại bắt gặp một chiếc xe BMW Sporting màu đen. Với người bình thường khi may mắn gặp chiếc xe thứ thiệt lướt qua chỉ ngẩn ngơ mà khen rằng: “Tuyệt vời quá”.

Người ta đã từng chứng kiến một nhóm thanh niên đi xe gắn máy bám theo chiếc xe từ đầu phố Khâm Thiên cho đến Ngã Tư Sở chỉ với mục đích ngắm cho kỹ chiếc xe lạ và không ngớt bàn tán. Có điều, chiếc xe mang bảng số của một cơ quan nước ngoài tại Hà Nội.

Theo dân sành xe, đây là chiếc BMW thể thao hiệu Coupe Z9. Có lẽ đây là chiếc Z9 đầu tiên tại Hà Nội, trước đó vài tháng người ta cũng thấy xuất hiện tại Hà Nội một, hai chiếc Z7. Ngay cả giới buôn xe cũng không thể đoán được chiếc Z9 kia bao nhiêu tiền mà chỉ ước khoảng 130,000 đô la.

Báo Tiền Phong tiết lộ chủ nhân của chiếc xe trú tại quận Thanh Xuân. Nói đến những chiếc xe hàng hiệu BMW, không thể không nói đến loại xe 5 chỗ sêri 7 như: BMW 745, 760, những chiếc xe này có giá từ 145,000 đến 150,000 đô la (2.3 tỷ đồng). Loại xe này ở Hà Nội cũng chỉ “đếm trên đầu ngón tay”.

Giới chơi xe Hà Nội luôn đánh giá cao những chiếc “Mẹc” (Mercedes) nhập nguyên chiếc có phân khối lớn như S500, S600. Tuy sang trọng, lịch lãm và khá đắt với giá lên đến 160,000 đô la (2.5 tỷ đồng), song những chiếc xe này được dân chơi đánh giá là “cổ điển.”

Cuối cùng phải nói đến những chiếc Hummer - loại xe hai cầu do Mỹ sản xuất. Những chiếc xe này du nhập vào Hà Nội từ vài năm gần đây theo con đường ngoại giao.

Trước đó dân chơi không dám mua Hummer vì mấy lẽ: Xe to quá cỡ, rất khó cho việc đậu xe và di chuyển và hơn thế chúng ngốn xăng như uống nước lã.

Vậy nhưng đến nay đã có một chủ Salon xe hơi tại Hà Nội dám mua Hummer. Giá chiếc Hummer mới lên đến 180,000 đô la (3 tỷ đồng), tuy nhiên những chiếc xe không mới có giá khoảng 145,000 đô la.


*Ai là chủ nhân xe “hàng hiệu”?

Theo báo Tiền Phong, trước hết, họ phải là người nhiều tiền. Bởi lẽ mỗi chiếc xe hàng hiệu có giá trung bình 2 tỷ đồng và để nuôi những “hoàng tử” trong nhà họ phải chi phí cả ngàn đô la mỗi tháng cho việc “làm đẹp”, bảo dưỡng và “nuôi ăn” hàng ngày.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn, họ phải là những người đam mê xe hơi đẹp, lạ mắt, và “độc”. Ðể có thể sở hữu một chiếc xe ưng ý, nhiều chủ xe phải đặt tiền trước đó hàng năm trời. Nếu không đam mê, không kỹ tính, ai có thể kiên trì làm được điều này?

Chiếc xe hơi không chỉ phản ánh sự giàu có của gia chủ mà nó còn phản ánh cá tính, địa vị xã hội và thậm chí là nghề nghiệp của chủ sở hữu. Chủ nhân của những chiếc xe dáng thể thao, động cơ mạnh mẽ thường là lớp doanh nhân trẻ (tuổi 30-40).

Lớp doanh nhân này tại các thành phố lớn như Hà Nội đang ngày một đông. Tuy nhiên, len lỏi sở hữu những chiếc xe hơi hiệu còn là các “quý tử” của một số đại gia cỡ bự, một số quan chức... Xu hướng chơi xe này tại các nước phát triển rất rõ: Sở hữu những chiếc xe đầy cá tính là các ngôi sao thể thao, ca nhạc, những minh tinh màn bạc...

Tại Việt Nam những ngôi sao dùng xe hàng hiệu còn rất khiêm tốn. Ðối với các đại gia có bề dày kinh nghiệm sống, thì việc đi một chiếc xe quá lạ gây chú ý của nhiều người không phải là tốt. Những dòng xe cổ điển như BMW, Mẹc seri mới, công suất máy cao vừa sang trọng, quý phái lại giữ được kín đáo cần thiết tất sẽ được những đại gia lớp trên (50 tuổi trở lên) chọn lựa.

Hiện xe hơi hàng hiệu được du nhập về Việt Nam qua một số con đường chính. Con đường ngoại giao. Sau khi hết thời hạn làm việc tại Việt Nam nhiều xe được các nhân viên ngoại giao nhượng lại cho chủ người Việt. Tất nhiên là những chiếc xe phải được đánh giá chất lượng và nộp thuế. Hiện tại, nhiều tay chơi xe vẫn đi những chiếc xe bảng số ngoại giao hay bảng số có chữ NN (nước ngoài), đẹp, sang trọng mà lại ít bị công an kiểm tra.

Con đường thứ hai để xe hiệu vào Hà Nội là thông qua nhập cảng. Khách hàng có thể đặt tiền cho salon xe hơi hay các đại lý xe hơi, sau đó các đại lý này thông qua một công ty có chức năng nhập cảng đưa xe về. Do là xe đắt, lại nhập đơn chiếc hoặc rất ít nên những chiếc xe này có giá cao.

Ðể giảm “thiệt hại” cho người mua do mức thuế cao, chúng được ghi hóa đơn với giá rất rẻ. Tuy nhiên, với dân sành chơi, thì giá cả không phải là cái gì quá nặng nề điều cốt yếu là có được những chiếc xe ưng ý mà thiên hạ phải trầm trồ thán phục.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

VN Suy Tính Tiêu Hủy Toàn bộ: 200 Triệu Gia Cầm Toàn Quốc Image
Hơn 1,000 Nhân Viên Y Tế Tập Trận Đối Phó Dịch Cúm Gia Cầm. Các nhân viên y tế thực tập cấp cứu, đưa 1 bệnh nhân H5N1 vào bệnh viện ở Hà Nội hôm 27-11. Có hơn 1,000 ngươì thực tập đối phó dịch cúm này trong buổi tập trận đầu tiên. (Photo AFP)


Hà Nội - Nhà cầm quyền VN hôm Chủ Nhật tổ chức diễn tập để đánh giá khả năng ứng phó của thủ đô Hà Nội khi đối diện đại dịch cúm gà.
Trên 1000 bác sĩ, y tá, viên chức và binh sĩ dự phần vào cuộc thực tập tại quận Việt Hùng.
Trong cuộc diễn tập, 30 nhà có 60 người bệnh bị cach ly, lập bệnh viện dã chiến tại trường học và cứu chữa bệnh nhân tại chỗ.
VN có 42 người bệnh chết trong tổng số 68 tử vong vì cúm gia cầm tạị châu Á.
Gần đây, tại Huế, các viên chức Bộ nông nghiệp đã tổ chức phun thuộc diệt trùng tại cac khu vực chưa phát sinh cúm gà. Chính quyền VN đã gia tăng cac nỗ lực kiểm soát gia cầm, cấm nuôi gà và giết chim ở các thành phố lớn.
Trong khi đó, đài Á Châu Tự Do RFA hôm 27-11-2005 loan báo rằng Việt Nam đang xem xét khả năng tiêu huỷ toàn bộ tổng đàn gia cầm cả nước với hơn 200 triệu con.
Bản tin viết rằng, dựa theo tin từ Hà Nội, hôm Thứ Bảy phó thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đề cập tới vấn đề vừa nói, sau khi cảnh báo rằng dịch cúm trên gia cầm đang lan rộng và Việt Nam cận kề nguy cơ đại dịch cúm trên người.
Cũng hôm Thứ Bảy, chính phủ Việt Nam quyết định trợ giúp người nuôi gia cầm ở các vùng chưa có dịch nhưng thị trường đóng băng không tiêu thụ được. Người chăn nuôi được giúp 10 ngàn đồng cho mỗi con gia cầm, và sẽ chỉ được giúp một lần duy nhất. Ngoài ra hộ chăn nuôi bị ảnh hưởng bởi dịch cúm sẽ được khoanh nợ 1 năm, và được vay vốn để chuyển đổi chăn nuôi hoặc đổi nghề.
Khi đề cập tới khả năng tiêu huỷ toàn bộ tổng đàn gia cầm trên cả nước, hãng Tin Nhanh Việt Nam đưa tin là nhiều lãnh đạo các tỉnh thành, đã đặt vấn đề lãng phí vì vừa có chủ trương tiêm phòng vắc xin đồng loạt, tổng chi phí 450 tỷ đồng thì nay lại có thể tiến hành tiêu huỷ toàn bộ gia cầm.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ba linh mục Công Giáo hiệp thông với các giáo hội bạn bị đàn áp
Sunday, November 27, 2005


HUẾ 27-11 (NV) - Ba vị linh mục tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo tại Huế vừa gửi đến ba giáo hội bạn một thư hiệp thông và đồng thời cực lực lên án chế độ Hà Nội theo đuổi chính sách đàn áp, bách hại tôn giáo bằng đủ mọi thủ đoạn trong khi bề ngoài lúc nào cũng khoe khoang nâng cao quyền làm người.

“Chúng tôi cực lực phản đối bạo quyền CSVN, ngày 27, tháng 9, 2005, qua Tòa án nhân dân quận Chợ Mới tỉnh An Giang, đã xét xử bất công và vô pháp luật (không cho nhân dân tham dự, kể cả thân nhân bị cáo, không cho luật sư biện hộ, thậm chí các bị án cũng không được tự biện hộ, với hai tội danh đặt điều dối trá quá quen đến nhàm là 'gây rối an ninh trật tự' và 'chống người thi hành công vụ' để giáng đè những bản án rất bất công nặng nề lên Tu sĩ Nguyễn văn Ðiền (7 năm tù), Tu sĩ Võ văn Bửu (7 năm tù), bà Mai thị Dung (5 năm tù), ông Nguyễn thanh Phong (6 năm tù), bà Nguyễn thị Hà (4 năm tù) và ông Tô văn Mãnh (6 năm tù)...” Ba vị Linh Mục Nguyễn văn Lý, Phan văn Lợi và Nguyễn hữu Giải viết như thế trong bức “kháng ngôn” đề ngày 28, tháng 11, 2005, đối với kiếp nạn của Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo. “Chúng tôi đòi hỏi bạo quyền CSVN phải lập tức trả tự do vô điều kiện cho các tu sĩ và tín đồ của GHPGHH Thuần Túy trên đây và phục hồi danh dự cho họ.”

“Chúng tôi cực lực phản đối bạo quyền CSVN đã sách nhiễu, đàn áp, đe dọa sinh hoạt Phật sự của các thành viên Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cụ thể là hành hung HT Thích Quảng Ðộ ngăn cản Ngài đi dự lễ giỗ Tổ Nguyên Thiều tại Chùa Giác Hoa hôm 19, tháng 11, 2005... Chúng tôi cực lực phản đối việc bạo quyền CSVN gần đây đã dùng Công an và báo đài để mở chiến dịch tấn công nhằm triệt hạ 9 ban đại diện GHPGVNTN tại các tỉnh miền Trung và miền Nam vừa phục hoạt, độc đoán tự cho mình quyền coi một tôn giáo đã có từ lâu đời như GHPGVNTN là 'bất hợp pháp' và 'vi phạm luật pháp hiện hành của nhà nứơc CHXHCNVN' (?)...”Bản kháng ngôn cũng viết về một trường hợp đàn áp khác cũng mới đây nhắm vào GHPGVNTN như canh gác HT Thiện Hạnh ở Huế. “Ðây là một trong rất nhiều hành động xâm phạm tự do tôn giáo một cách trắng trợn. Việc thành lập và tổ chức nhân sự của các giáo hội là một quyền tự do cơ bản của công dân, không nhà nước văn minh nào trên thế giới được quyền xen vào để trịch thượng lạm quyền cho phép hay cấm cản thô bạo các sinh hoạt tôn giáo như thế.”

Ðối với đạo Tin Lành, bức thư hiệp thông viết rằng “Chúng tôi cực lực phản đối bạo quyền CSVN đang mở chiến dịch đồng loạt đàn áp các tín đồ Tin Lành ở nhiều nơi, đặc biệt tại nhiều tỉnh miền Bắc...” Bức “kháng ngôn” nêu ra các trường hợp đàn áp xảy ra tại Lào Cai, Thanh Hóa, Hà Giang.

Ba vị linh mục Huế “tỏ lòng khâm phục trước tinh thần hy sinh, sẵn sàng chấp nhận gian khổ vì niềm tin; trước tinh thần độc lập, can đảm đòi Giáo hội phải được tự do trong tổ chức và sinh hoạt; trước tinh thần bất khuất, dám đương đầu với bạo quyền một các hiền hòa nhưng kiên quyết của quý lãnh đạo và tín đồ. LM Nguyễn Văn Lý mới được CSVN trả tự do ngày 31, tháng 1, 2005 sau khi bỏ tù ngài từ giữa tháng Năm 2001 chỉ vì ngài gửi bản điều trần đến Quốc hội Hoa Kỳ tố cáo chính sách đàn áp tôn giáo có hệ thống của nhà cầm quyền Hà Nội.

Mới đây ngài đi thăm HT Thiện Hạnh và được chứng kiến cảnh “tù không án” của hòa thượng. Ngay sau đó, LM Lý cũng tường thuật cho thấy Công An cấm ngài bước chân ra khỏi nhà chung Huế. LM Phan văn Lợi và Nguyễn hữu Giải, từ khi LM Lý bị bắt đến nay vẫn sống trong cảnh quản chế “mồm.”

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

LM Trần Công Nghị bị chính quyền Việt Nam trục xuất tại Hà Nội
Báo Người Việt
Monday, November 28, 2005


“Tôi muốn trắc nghiệm thử xem Việt Nam thật sự có tự do tôn giáo hay không”


HÀ NỘI, Việt Nam - Linh Mục Trần Công Nghị, giám đốc VietCatholic, đã bị chính quyền Việt Nam trục xuất tại phi trường quốc tế Nội Bài hôm Chủ Nhật 27 Tháng Mười Một vừa qua.


Trả lời phỏng vấn báo Người Việt qua điện thoại, Linh Mục Trần Công Nghị cho biết: “Trong khi xuất trình giấy tờ tại phi trường quốc tế Nội Bài, công an xuất nhập cảnh có hỏi nơi sinh của tôi. Sau đó, họ cho biết hành lý của tôi bị thất lạc và yêu cầu tôi vào ngồi tại một phòng riêng. Khoảng 40 phút sau, một nhân viên an ninh đến cho tôi biết là chính quyền Việt Nam hiện chưa sẵn sàng cho tôi vào. Tôi có hỏi lý do, nhưng họ không cho biết.”

Linh Mục Trần Công Nghị cho biết thêm: “Sau đó họ đưa cho tôi một vé máy bay khác bay về Taipei, Ðài Loan. Tại đó, tôi phải chờ mất 10 tiếng đồng hồ mới có vé về lại Mỹ. Tổng cộng chuyến hành trình của tôi từ Mỹ về Việt Nam và ngược lại mất hai ngày ba đêm. Cho đến giờ, tôi vẫn chưa nhận được hành lý.”

Lý do bị trục xuất có thể là vì Linh Mục Trần Công Nghị là giám đốc VietCatholic, một cơ quan thông tấn xã Công Giáo Việt Nam hải ngoại. Linh Mục Trần Công Nghị nói: “Mỗi ngày, VietCatholic gởi chừng 4,000 email cho những linh mục trong nước. Những thông tin này nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà nước Việt Nam. Trong 10 năm kể từ khi thành lập, mỗi khi đại diện chính quyền Việt Nam gặp đại diện Tòa Thánh Vatican, họ thường yêu cầu tòa thánh dẹp bỏ VietCatholic nhưng không được.”

Ðược hỏi có biết mình có thể bị trục xuất trước đó không, Linh Mục Trần Công Nghị nói: “Tôi cũng nghi lắm, vì trước đó tôi đã trả lời phỏng vấn trên đài BBC và RFA về sự kiện truyền chức cho 57 linh mục Việt Nam kỳ này cũng như những vấn đề liên quan đến tự do tôn giáo tại Việt Nam, nên có thể chính quyền đã để ý.”

Mặc dù nghi ngờ, Linh Mục Trần Công Nghị vẫn về Việt Nam để đưa tin một sự kiện quan trọng đối với giáo hội (Công Giáo) Việt Nam. Linh Mục Nghị nói: “Tôi muốn vào Việt Nam trước là để đưa tin về sự kiện này. Hơn nữa, tôi cũng từng gặp đức hồng y đại diện tòa thánh và tôi muốn trắc nghiệm thử xem Việt Nam có thật sự có tự do tôn giáo không.”

Trước đây, Linh Mục Trần Công Nghị đã về Việt Nam hai lần và chưa bao giờ bị trục xuất.

Chiếu khán nhập cảnh hai lần đó do Sứ Quán Việt Nam tại Mexico và Campuchia cấp. Chiếu khán nhập cảnh lần này cũng do Sứ Quán Việt Nam tại Mễ Tây Cơ cấp, nhưng linh mục đã bị trục xuất.

Trước đây, Linh Mục Trần Công Nghị là một nhân chứng ra điều trần tại Quốc Hội Hoa Kỳ liên quan đến tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Xem thêm ở đây:
http://vietcatholic.net/news/

DangMy
Posts: 277
Joined: Sat Dec 11, 2004 3:49 am

Post by DangMy »

Thư Hiệp thông cùng các Giáo hội
Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo VNTN và Tin lành


Việt Nam, ngày 28 tháng 11 năm 2005
Kính thưa Quý Lãnh đạo và Quý Tín đồ của Giáo hội Phật giáo Hòa hảo Thuần túy, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, và Liên đoàn Hội thánh Tin lành miền Bắc và miền Nam Việt Nam.

Theo dõi các giác thư, kháng thư, thông cáo báo chí của Quý Giáo hội và những bản tin trên các đài phát thanh quốc tế cùng các mạng thông tin toàn cầu trong những tháng ngày gần đây, chúng tôi, một số các Linh mục thuộc Giáo hội Công giáo Việt Nam, một lần nữa xin được hiệp thông cùng Quý Lãnh đạo và Tín đồ qua những tâm tình, nhận định và các kháng ngôn dưới đây, dựa trên một vài sự kiện đau thương tiêu biểu vừa mới xảy đến cho Quý Giáo hội.
1- Chúng tôi cực lực phản đối Bạo quyền CSVN, ngày 27-9-2005, qua Tòa án Nhân dân quận Chợ Mới, tỉnh An Giang, đã xét xử cách bất công và vô pháp luật (không cho Nhân dân tham dự, kể cả thân nhân bị cáo, không cho luật sư biện hộ, thậm chí các bị án cũng không được tự biện hộ, với hai tội danh đặt điều dối trá quá quen đến nhàm là “gây rối an ninh trật tự” và “chống người thi hành công vụ”,…) để giáng đè những bản án rất bất công nặng nề lên Tu sĩ Nguyễn Văn Điền (7 năm tù), Tu sĩ Võ Văn Bửu (7 năm tù), bà Mai Thị Dung (5 năm tù), ông Nguyễn Thanh Phong (6 năm tù), bà Nguyễn Thị Hà (4 năm tù) và ông Tô Văn Mãnh (6 năm tù). (Theo Bản tin số 971 VP-TƯ của GHPGHH và Kháng thư số 217/TB/TƯ của Đạo trưởng Lê Quang Liêm ngày 28-9-2005).
Chúng tôi đòi hỏi Bạo quyền CSVN phải lập tức
trả tự do vô điều kiện cho các Tu sĩ và Tín đồ
của GHPGHH Thuần tuý trên đây và phục hồi danh dự cho họ.


Chúng tôi cực lực phản đối Bạo quyền CSVN, ngày 10-11-2005, đã cho người đến đập phá Thư viện GHPGHH là một di tích lịch sử quan trọng và hủy bỏ những tài liệu truyền giáo quý giá của Giáo hội nầy tại Thánh địa Hòa Hảo, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Sau đó công an còn hành hung hăm doạ những Tín đồ lên tiếng phản đối hành vi thô bạo, phản văn hóa, chà đạp những giá trị thiêng liêng nầy (Theo Thông báo số 1006 VP-TƯ ngày 13-11-2005).
Yêu cầu Bạo quyền CSVN phải trả lại
công trình này đúng nguyên trạng.


2- Chúng tôi cực lực phản đối Bạo quyền CSVN đã sách nhiễu, đàn áp, đe dọa sinh hoạt Phật sự của các thành viên Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất, cụ thể là hành hung Hòa thượng Thích Quảng Độ ngăn cản Ngài đi dự lễ Giỗ Tổ Nguyên Thiều tại Chùa Giác Hoa hôm 19-11-2005 (Theo Thư báo động của Thượng tọa Thích Viên Định ngày 23-11-2005). Đây là hành vi xâm phạm quyền tự do đi lại, tự do cư trú và tự do hành đạo của Nhân dân, chà đạp truyền thống đạo lý của Dân tộc và của Tôn giáo.

Chúng tôi cực lực phản đối việc Bạo quyền CSVN gần đây đã dùng công an và báo đài để mở chiến dịch tấn công nhằm triệt hạ 9 Ban Đại diện Giáo hội PGVNTN tại các tỉnh miền Trung và miền Nam vừa phục hoạt, độc đoán tự cho mình quyền coi một Tôn giáo đã có từ lâu đời như GHPGVNTN là “bất hợp pháp” và “vi phạm Luật pháp hiện hành của Nhà nước CHXHCNVN”(?), rồi ngang ngược quản chế không án từ nhiều thành viên của các Ban Đại diện này, trong đó có Hòa thượng Thích Thiện Hạnh, Chánh Thư ký Viện Tăng Thống, Chánh đại diện vùng Vạn Hạnh, Trưởng Ban đại diện Thừa Thiên- Huế của GHPGVNTN (Theo Thông cáo báo chí của Phòng Thông tin GHPGVNQT tại Paris ngày 23-11-2005).

Đây là một trong rất nhiều hành động xâm phạm Tự do Tôn giáo cách trắng trợn. Việc thành lập và tổ chức Nhân sự của các Giáo hội là một Quyền Tự do cơ bản của Công dân, không Nhà nước văn minh nào trên thế giới được quyền xen vào để trịch thượng lạm quyền cho phép hay cấm cản thô bạo các sinh hoạt tôn giáo như thế.

3- Chúng tôi cực lực phản đối Bạo quyền CSVN đang mở chiến dịch đồng loạt đàn áp các Tín đồ Tin Lành ở nhiều nơi, đặc biệt tại nhiều tỉnh miền Bắc, qua những vụ việc như đánh đập tín đồ người H’Mong tại xã Chí Cà, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang vì họ không chịu ký giấy bỏ đạo; trừng trị thô bạo một cựu đảng viên xã Tả Pìn, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai vì ông này theo Tin Lành; gây thương tích cho hai cha con Tín đồ ở xã Hợp Thành, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa vì tội “truyền Đạo trái phép”. (Theo đơn của Mục sư Phùng Quang Huyến, Tổng Hội thánh Tin lành VN miền Bắc, đề ngày 8-11-2005). Việc xúc phạm và đàn áp rất bạo tàn Niềm Tin Tôn giáo những Tín đồ đơn sơ yếu thế ở những vùng sâu vùng xa như thế là một hành vi đê hèn, ô nhục, đáng kinh tởm.

Chúng tôi cực lực phản đối Bạo quyền CSVN đàn áp Giáo hội Tin lành Phúc âm toàn vẹn tại xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa qua việc cấm người Dân theo Đạo, ngăn cản Tín đồ thờ phượng Chúa, tịch thu Kinh Thánh, phạt tiền cách vô luật, thách thức Tín đồ đi kiện. Quan chức Bạo quyền địa phương thậm chí dám tuyên bố: “Ở Thanh Hóa không có Đạo Tin lành và không bao giờ có chỗ đứng cho Đạo Tin lành ở Thanh Hóa”. Rõ ràng là Công an và Bạo quyền các cấp tỉnh Thanh Hóa đã vi phạm nghiêm trọng Pháp luật, Quyền Tự do Tôn giáo, phân biệt đối xử với những người có Đạo (Theo đơn kiện của Giáo hội Tin lành Phúc âm Toàn vẹn xã Quảng Yên ngày 16-11-2005).

4- Chúng tôi xin tỏ lòng khâm phục trước tinh thần hy sinh, sẵn sàng chấp nhận gian khổ vì Niềm Tin; trước tinh thần độc lập, can đảm đòi Giáo hội phải được tự do trong tổ chức và sinh hoạt; trước tinh thần bất khuất, dám đương đầu với Bạo quyền cách hiền hòa nhưng kiên quyết của Quý Lãnh đạo và Tín đồ. Tất cả những thái độ đó nói lên sự siêu việt cao cả của các Tôn giáo, sự xấu xa tồi tệ của Chủ nghĩa Vô thần vô Đạo và sự phi nhân của Chế độ bạo quyền Cộng sản. Tất cả những thái độ đó nhắc nhở đỡ nâng những ai còn sống im tiếng run rẩy trong nỗi sợ hãi Bạo quyền, cảnh báo những ai còn sống trong nỗi căm thù Tôn giáo, trong ảo tưởng về sự hữu hiệu của bạo lực, trong cuồng vọng bẻ gãy được ý chí của Đức Tin, gieo niềm hy vọng cho những ai mơ ước một tương lai đầy Nhân ái, Thông cảm và Hòa bình trên Quê hương.

Việc Quý Lãnh đạo và Tín đồ chấp nhận gian khó như thế là một cách hòa đồng thông cảm thực sự với nỗi khổ đau của hầu hết toàn thể Đồng bào, khiến Quý Giáo hội đi vào được trong con tim mến phục gần như của Toàn Dân và trong Lịch sử vinh quang của Tổ quốc. Đó cũng là bằng chứng Cộng sản luôn coi Tôn giáo rất nguy hiểm cho Cộng sản và quyết tâm tận diệt, bằng cách thức ngang nhiên thô bạo là đàn áp cấm cản hay tinh vi thâm độc là o bế vuốt ve nhằm làm biến thoái bản chất cao đẹp của Tôn giáo hoặc lợi dụng Tôn giáo để tô vẽ điểm trang cho Chế độ mà có thể có Giáo hội không sao cưỡng lại được.

5- Tinh thần hy sinh, độc lập và bất khuất của Quý Vị khiến chúng tôi nhớ lại Lời Chúa Giêsu đã cảnh giác: “Nếu anh em thuộc về thế gian, thì thế gian yêu thích những gì thuộc về nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Sách Tin Mừng theo Thánh Gioan chương 15, câu 19); Lời Kinh Thánh đã dạy bảo: “Con hãy nói lên thay cho những kẻ không còn quyền phát biểu. Hãy nói lên quyền lợi của mọi kẻ cùng cực. Hãy phán đoán công minh. Hãy bênh vực quyền lợi của những kẻ nghèo nàn khốn khổ” (Kinh Thánh Cựu ước, sách Châm ngôn chương 30 câu 8 và 9);

Lời của Đức Giáo hoàng Phaolô VI, Giáo chủ Công giáo, đã nhắc nhở: “Làm Kitô hữu trong thời đại này mà không chấp nhận khó khăn gian khổ vì Đức Tin, thì chưa phải là Kitô hữu đích thực”; và Lời của Công đồng Vatican II đã khẳng định: “Các cơ quan Lập pháp, Hành pháp dân sự không có quyền ngăn cản việc chọn lựa, đào tạo, bổ nhiệm và thuyên chuyển các Viên chức riêng của Tôn giáo, việc thiết lập các cơ sở Tôn giáo, việc liên lạc với Giáo quyền và những Cộng đoàn Tôn giáo ở những nơi khác trên toàn cầu…. Công quyền không được phép dùng bạo lực, đe dọa hay những phương tiện khác để bắt buộc người Dân phải tuyên xưng hay chối bỏ một Tôn giáo nào, hoặc ngăn cản không cho họ gia nhập hay rời bỏ một Cộng đoàn Tôn giáo…” (Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo, số 4 và 6, ngày 07-12-1965).
Cuối cùng, chúng tôi nguyện xin Thiên Chúa là Cha mọi người, qua lời cầu bầu của tất cả các Vị Thánh Tử đạo Việt Nam, thông ban cho Quý Giáo hội ơn luôn kiên trung và can đảm làm chứng cho Chân, Thiện, Mỹ; soi dẫn Nhà cầm quyền Việt Nam ơn chân thành và mau mắn tôn trọng Sự thật, Lẽ phải, tôn trọng quyền lợi Nhân dân, để Đất nước Việt Nam chúng ta sớm có ngày tỏa sáng Hòa bình, Chân lý, Công bình, Tình thương và Tự do.
Việt Nam, ngày 28-11-2005
Cùng ký tên: -
- Lm Têphanô Chân Tín
- Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải
- Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý
- Lm Phêrô Phan Văn Lợi

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Đức Hồng Y Sepe Tấn Phong 57 LM Image HANOI -- Hàng ngàn người công giáo đã đứng dọc theo các con đường tại Hà Nội hôm thứ ba để chứng kiến buổi lễ phong chức cho 57 tân linh mục dưới sự chủ toạ của một vị hồng y của tòa thánh Vatican. Đây là lần đầu tiên giáo dân trông thấy một vị đại diện của giáo hoàng tại Việt Nam. Bản tin sau đây của đài VOA.

Cảnh sát công an đã đứng chặn xe cộ lưu thông tại các con đường đưa tới nhà thờ chính toà để cho dân chúng dễ dàng đến dự lễ. Nhiều người đứng đầy trên hè phố, trên mái nhà và bao lơn. Đây cũng là một dấu hiệu cho thấy những hạn chế đối với giáo dân tại Việt Nam đã được nới lỏng đến mức nào.

Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, bộ trưởng bộ truyền giáo Vatican, đã chủ trì buổi lễ ngoài trời kéo dài hơn 3 tiếng đồng hồ tại nhà thờ chính tòa Hà Nội, và kêu gọi các tân linh mục hãy truyền bá niềm tin của họ.

Ngài nói: “Tôi xin cảm tạ chính phủ và Ban tôn giáo chính phủ Việt Nam. Thật là một điều rất có ý nghĩa khi buổi lễ phong chức này diễn ra vao lúc khởi đầu mùa giáng sinh.” Ngoài ra, hồng y Sepe còn hối thúc các tân linh mục hãy truyền đạo cho dân chúng và rửa tội cho họ.

Buổi lễ hôm thứ ba biểu dương sức mạnh ngày càng tăng của công giáo tại miền Bắc Việt Nam, hơn 50 năm sau khi phần đông các giáo dân đã chạy trốn khỏi sự cai trị của cộng sản và đất nước bị chia đôi. Buổi lễ phong chức đã được cử hành bằng tiếng Latin và tiếng Ý rồi sau đó được phiên dịch sang tiếng Việt.

Hàng trăm linh mục, kể cả nhiều giám mục của Việt Nam đã có mặt tại quảng trường rộng lớn trước nhà thờ. Nhiều nhà ngoại giao nước ngoài có mặt tại buổi lễ nhưng không có đại diện của chính phủ nào chính thức tham dự.

Hà Nội và tòa thánh Vatican vẫn chưa có quan hệ ngoại giao với nhau. Đức giáo hoàng Benedicto 16 có nói rõ ý định của ngài là bình thường hoá quan hệ với các nước Á châu chưa có quan hệ, nhất là với Trung Quốc và Việt Nam.

Cụ Nguyễn Văn Tòng, một giáo dân 80 tuổi ở tỉnh Hà Nam tỏ ý hết sức hoan hỉ vì đã được dự buổi lễ này, và lần đầu tiên cụ được trông thấy một vị hồng y đến thăm Việt Nam.

Phát ngôn viên bộ ngoại giao Việt Nam ông Lê Dũng tuần truớc phát biểu rằng chuyến thăm Việt Nam của hồng y Sepe sẽ đóng góp vào sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Hiện nay có khoảng 6 triệu người công giáo tại Việt Nam, chiếm khoảng 7% dân số 82 triệu người.

Trong chuyến thăm Việt Nam, hồng y Sepe cũng sẽ chủ toạ lễ công bố thành lập giáo phận mới tại Bà Rịa để phục vụ cho một số đông giáo dân trong tỉnh.

Vào cuối buổi lễ phong chức hôm thứ ba, đức tổng giám mục giáo phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt đã ngỏ lời cảm tạ hồng y Sepe là đã mang lại một niềm vui vô tả cho giáo dân trong nước, và ngài nói rằng sự hiện diện của hồng y tại Việt Nam là bằng chứng cho thấy tính phổ cập của giáo hội.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ngân Hàng Thế Giới: Việt Nam cần một đợt cải cách mới để phát triển
Thursday, December 01, 2005


HÀ NỘI 1-12 (TH) - Việt Nam cần phải thực hiện “một thế hệ cải cách thứ hai” nếu nước này muốn trở thành một nền kinh tế có lợi tức trung bình.

Ðây là lời tuyên bố của ông Martin Rama, kinh tế gia của văn phòng Ngân Hàng Thế Giới (WB) tại Việt Nam trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày Thứ Năm 1, tháng 12, 2005 một tuần lễ trước khi có cuộc họp 2 ngày của các nhà tài trợ cho Việt Nam.

Ông nói rằng sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường từ năm 1986 thường được gọi là “đổi mới” cần một đợt cải cách mới.

“Chương trình Ðổi Mới tự thân của nó là một cuộc cải cách không hoàn tất, nhất là trong các lãnh vực ngân hàng và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.” Ông Rama nói trong cuộc họp báo.

Trước đó, vào các ngày 29 và 30, tháng 11, 2005, một cuộc “Hội nghị quốc tế tổng kết cải cách hành chính giai đoạn 2001-2005” đã diễn ra tại Hà Nội.

“Cách thức làm việc của công chức CSVN chưa thay đổi”. David Ma, chuyên gia cải cách hành chính đã nói như thế trong hội nghị và được báo điện tử VietnamNet tường thuật như thế.

Jordan Ryan, đại diện LHQ tại Việt Nam dịp này cũng đả kích rằng tệ trạng tham nhũng, quan liêu, phẩm chất phục vụ thấp, thiếu minh bạch, v.v... vẫn còn đầy dẫy trong guồng máy công quyền CSVN.

David Ma còn cho hay “Nhiều mục tiêu đặt ra trong giai đoạn I (2001-2005) đã không thực hiện được. Cách thức làm việc của công chức và cơ quan công quyền chưa có thay đổi cơ bản”. Theo sự tường thuật của VNNet.

Năm năm trước, CSVN loan báo rầm rộ chương trình “tinh giản biên chế” để nâng cao khả năng phục vụ của hệ thống công quyền CSVN. Ðiều đầu tiên phải làm là loại bỏ những người thừa, không khả năng nhưng được thu nhận vì thân quen, để lấy tiền tăng lương cho những người còn lại. Tuy nhiên guồng máy công quyền CSVN hàng năm lại phình to ra thêm hàng chục ngàn người như hệ thống báo chí trong nước tường thuật.

Hôm thứ Hai, CSVN thông qua Luật Phòng Chống Tham Nhũng, trước khi bế mạc khóa họp vào ngày hôm sau, đã bị giới tham vấn đầu tư ngoại quốc tại Việt Nam chê rằng không có tác dụng gì. Trước đó, Quốc hội CSVN cũng đã thông qua Luật Ðầu Tư cũng đã bị đả kích kịch liệt vì gia tăng quyền hạn “xin cho” cho đám quan chức của chế độ, vì như thế, gia tăng cơ hội để các nhà đầu tư bị hạch sách vòi vĩnh tham nhũng.

Một viên chức Công An cao cấp CSVN nói rằng chỉ riêng trong lãnh vực xây dựng căn bản, tiền thất thoát vào túi tham nhũng đã lên khoảng $1.88 tỉ đô la mỗi năm, chưa kể tham nhũng ở trong tất cả các bộ ngành, địa phương tại Việt Nam.

Hôm thứ Ba, cuộc khảo cứu điều tra về tình trạng tham nhũng hối lộ tại Việt Nam (do chính phủ Thụy Ðiển tài trợ) được công bố cho thấy một phần ba cán bộ đảng viên của chế độ nói rằng nếu “được” mời ăn hối lộ thì họ sẵn sàng nhận.

Cũng trong cuộc họp báo của WB, cơ quan này cho hay dù nền kinh tế Việt Nam phát triển khả quan, các cuộc viện trợ, tài trợ để nước này tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo, cũng sẽ không có bao nhiêu thay đổi so với năm ngoái là $3.4 tỉ đô la. Tuy con số lớn như vậy nhưng nhà cầm quyền Hà Nội thường chỉ được giải ngân khoản một nửa vì thủ tục hành chánh của chế độ rườm rà và mặt khác cũng không thi hành đúng các điều kiện để được tháo khoán ngân khoản.

Post Reply