TIN HOA KỲ

Xin cho biết tin từ đâu ra, phát xuất từ nước nào!!!
CNN
Posts: 1017
Joined: Wed Dec 01, 2004 8:18 am

Post by CNN »

Những nhà tù bí mật của CIA và chính sách tra khảo tù nhân của Hoa Kỳ (LÊN MẠNG Thứ hai 25, Tháng Chín 2006)

Với một loạt những bài diễn văn hùng hồn liên quan đến đề tài khủng bố cộng với những vận động mạnh mẽ tại Quốc Hội Hoa Kỳ trong thời gian qua, Tổng Thống Bush một lần nữa đã chứng tỏ khả năng của một vị nguyên thủ quốc gia, cho dù đã bị yếu thế và công kích tơi bời, để lèo lái nghị trình tranh luận về những vấn đề trọng đại cho quốc gia theo một chiều hướng thuận lợi theo ý mình. Để tạo thêm sự chú ý của mọi người, ông Bush tuyên bố đã ký lệnh chuyển 14 tù nhân đặc biệt đã bị giam giữ trong thời gian qua tại những nhà tù bí mật của CIA (Cơ quan Tình Báo Trung Ương) đến nhà tù đặc biệt và nổi tiếng tại Guantanamo Bay, mặc nhiên xác nhận những lời tố cáo và chỉ trích của các hội bảo vệ nhân quyền quốc tế cũng như công luận và các chính phủ trên thế giới trước đây về chính sách dẫn độ đặc biệt của Hoa Kỳ, thường được gọi bằng từ ngữ rendition. Nội dung những lời tố cáo (do một số các cơ quan truyền thông ở Mỹ điều tra và phát giác) cho rằng chính quyền Bush đã không tôn trọng tinh thần của Công ước Geneva liên quan đến việc đối xử tù binh khi tìm cách chuyển giao các tù nhân bị tình nghi là khủng bố đến những nhà tù bí mật tại các quốc gia đệ tam để dễ bề tra khảo khi lấy lời khai.

Trong suốt nhiều ngày qua, bộ tham mưu ở Toà Bạch -c đã vạch ra một chiến lược cũng như ước muốn rõ ràng là từ đây cho đến ngày bầu cử vào đầu tháng 11 sắp tới, cử tri Hoa Kỳ bớt chú trọng đến một đề tài thời sự bất lợi liên quan đến một cuộc chiến gian nan đầy tốn kém tại Iraq và càng ngày càng mất dần sự ủng hộ của người dân, để quay sang để ý đến đề tài khác có lợi hơn: đó là chính sách của TT Bush về một cuộc chiến đấu chống lại tinh thần Hồi-giáo cực đoan đã làm mồi khích động cho bọn khủng bố toàn cầu. Ông Bush cũng biết nắm bắt thời cơ, biến một thất bại pháp lý ở Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ để trở thành một cơ hội chính trị nhằm đánh bóng cho thành tích cương quyết chống khủng bố của mình.

Khi chính thức tuyên bố chuyển giao các tù nhân đặc biệt này sang trại giam ở Guantanamo Bay, TT Bush đã thách thức các đại biểu ở Quốc Hội Hoa Kỳ là phải chuẩn thuận cho ngành hành pháp của ông được thêm quyền hạn rộng rãi để có thể xét xử các tù nhân thuộc nhóm al-Qaeda, chủ mưu các vụ tấn công khủng bố. Đồng thời, ông cũng được dịp chĩa mũi dùi tấn công sang phe đối lập (đa số thuộc đảng Dân Chủ) bằng cuộc tranh luận về sự khác biệt giữa hai bên trong chính sách và khả năng bảo vệ an ninh quốc gia. Theo lập luận của TT Bush trong cuộc tranh luận này, những ai không đồng ý với kế hoạch và chính sách của ông tức là đã cản trở và không cung cấp cho ông đầy đủ phương tiện để bảo vệ hữu hiệu cho sự an nguy của Hoa Kỳ.

Sự thay đổi đột ngột về đề tài thời sự đang tranh luận tại chính trường ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn (Washington) cho thấy là một vị tổng thống Mỹ, mặc dù có tỉ lệ ủng hộ của người dân rất thấp dựa theo những bảng thăm dò dân ý trong thời gian qua, vẫn còn có những khí cụ đáng ngại như việc ký những sắc lệnh, hay quyết định một vài thay đổi trong chính sách để từ đó tạo ra sự chú ý mới về đề tài thời sự theo như nghị trình mong muốn, nhất là trong thời điểm quan trọng cận kề ngày bầu cử.

Thật ra thì những hành động vừa qua của TT Bush đã chứng tỏ một sự nhượng bộ đáng kể trước những lời công kích của công luận thế giới về các nhà tù bí mật của CIA, một đề tài gây lúng túng không ít cho Ngoại trưởng Condoleezza Rice trong chuyến công du sang các nước Âu Châu trước đây vì nó nói lên tính chất đạo đức giả của chính phủ Mỹ, cũng có những vi phạm nhân quyền tồi tệ đáng lên án trong khi vẫn thường huyên hoang và thích dạy đời thiên hạ về những thành tích nhân quyền của các quốc gia khác. Việc chuyển giao 14 tù nhân đặc biệt sang nhà tù ở Guantanamo Bay - gồm có có 3 người dân Pakistan, 2 người Yemen, 2 người của Saudi Arabia, 2 của Mã Lai Á (Malaysia), 1 người Palestine, một người Libya, 1 của Somali, 1 của Tanzania và 1 của Nam Dương (Indonesia) - được coi như là để khoá sổ một chương trình gây tai tiếng không nhỏ cho uy tín và danh dự của Hoa Kỳ. Đó là kế hoạch bí mật của chính quyền Bush kéo dài trong 5 năm qua muốn che dấu tung tích của khoảng 100 nghi can khủng bố của tổ chức al-Qaeda tại nhiều nhà tù bí mật khắp nơi trên thế giới để dễ bề tra khảo và tránh con mắt soi mói của các hội bảo vệ nhân quyền quốc tế. Riêng tại nhà tù ở Guantanamo Bay, Hoa Kỳ đã giam giữ khoảng gần 1000 nghi can bị bắt giữ tại khắp nơi kể từ sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, với tội danh là "chiến binh thù địch" (enemy combatant) và giam giữ dài hạn mà không cần phải đem ra xét xử cũng như không cần phải quan tâm đến việc tôn trọng một số quyền tối thiểu dành cho nghi can theo như truyền thống của các quốc gia tôn trọng nhân quyền. Hoa Kỳ cũng cấm luôn các hội từ thiện và bảo vệ nhân quyền như Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế được quyền thăm viếng các tù nhân, một sự nhượng bộ tối thiểu mà ngay cả các quốc gia khi lâm chiến cũng đều tôn trọng. Tuy trong số các tù nhân, phần đông bị bắt trong cuộc chiến tấn công phe Taliban tại A Phú Hãn, có nhiều thành phần Hồi-giáo cực đoan và nguy hiểm nhưng cũng không ít một số người bị bắt oan vì nhiều lý do khác nhau, nhiều khi chỉ vì cái tội là người dân Ả Rập hay Hồi-giáo và bị tình nghi là có những mối liên hệ nào đó với những phần tử bất hảo. Một số lớn các nghi can có thể phạm vào những tội nhỏ nhặt không liên can gì đến chuyện khủng bố mà chỉ là những vi phạm về luật di trú khi quá hạn cư trú (tại Hoa Kỳ có khoảng 11 triệu người gốc Mễ phạm tội này). Sau biến cố 9/11, các giới chức trách nhiệm trong chính quyền Bush, trong nỗ lực phòng chống các tổ chức khủng bố, đã có những phản ứng và hành động quá đáng, dễ khiến rơi vào tình trạng lạm dụng theo kiểu "thà bắt lầm hơn tha lầm" vốn đi ngược lại giá trị lâu đời của các quốc gia tiên tiến tôn trọng tinh thần "coi những nghi can là vô tội cho đến khi nào có đủ chứng cớ để buộc tội". Nguyên tắc về quyền "habeas corpus" - theo đó bất cứ một nghi can nào cũng phải có quyền được ra trước toà để nghe và thấy những chứng cớ buộc tội mình - phổ cập trong công lý tại Hoa Kỳ cũng như nhiều quốc gia tiên tiến khác được coi như là một điểm son nổi bật nhất mà người dân của họ có thể tự hào là được sống trong một quốc gia tự do dân chủ thực sự, không có tình trạng bắt giam bí mật và trái phép. Vì thái độ hung hăng quá đáng đó của nhiều viên chức trong chính quyền Bush trong thời gian qua, Hoa Kỳ đã bị lên án bởi nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền như Human Rights Watch, Amnesty International (Hội Ân Xá Quốc Tế) và lời công kích phê bình rằng Guantanamo Bay là một nhà tù gulag (một loại nhà tù lao cải khắc nghiệt dưới thời Liên Sô) tuy có hơi cường điệu nhưng cũng khiến cho Hoa Kỳ lúng túng khó phương chống đỡ và càng mất cảm tình nhiều hơn nữa trên trường quốc tế.

Sự nhượng bộ này có lẽ cũng là kết quả chung cuộc sau hai năm tranh luận trong nội bộ của chính quyền Bush, bắt nguồn từ một lời thỉnh cầu đặc biệt của Thủ Tướng Tony Blair của Anh Quốc, một trong những đồng minh chí cốt với TT Bush trong cuộc chiến tấn công Iraq từ hơn ba năm qua.

Thật vậy, trong suốt năm 2004, các viên chức cao cấp của hai bộ ngoại giao và quốc phòng của Anh đã thúc hối nhiều lần các vị đối tác của họ trong chính quyền Hoa Kỳ nên cứu xét mau chóng việc thả bốn nghi can là công dân Anh còn bị giam trong nhà tù ở Guantanamo Bay. Mặc dù Hoa Kỳ đã thả ra 5 nghi can Hồi giáo có quốc tịch Anh trước đó, nhưng đối với 4 tù nhân còn lại thì sự tranh cãi đã diễn ra gay gắt giữa các viên chức của văn phòng Phó tổng thống cũng như của các bộ ngoại giao, quốc phòng, tư pháp và cơ quan tình báo CIA với hai lập luận đối chọi giữa một bên là ngoại trưởng Rice và bên kia là PTT Dick Cheney. Trong một chuyến công du sang Hoa Kỳ vào tháng 11 năm đó, ông Blair đã nêu lên vấn đề này với TT Bush và được hứa sẽ can thiệp ngay. Chỉ hai tháng sau, vào tháng Giêng năm 2005, bốn nghi can này được thả về Anh Quốc và sau đó đã được trả tự do ngay lập tức vì không đủ chứng cớ để buộc tội. Trong những tháng sau đó, các chính phủ thuộc các quốc gia Âu Châu khác cũng bị áp lực của dân chúng nên đã yêu cầu Hoa Kỳ thả các nghi can là công dân của mình. Tổng cộng có khoảng 100 nghi can đã được thả về nguyên quán sau đó, mặc dù chi tiết này không được nhiều người chú ý đến.

Nội vụ nổ lớn ra hơn vào cuối năm đó khi tờ nhật báo Washington Post cho đăng một bài điều tra trong tháng 11 năm 2005, lần đầu tiên tường trình về sự hiện hữu của các nhà tù bí mật này cũng như chính sách dẫn độ các tù nhân đặc biệt mà cơ quan CIA đã thông đồng hay mua chuộc các cơ quan tình báo tại một vài quốc gia khác để làm ngơ. Đây là một vết nhơ cho uy tín của Hoa Kỳ nói riêng, nhưng cũng là đối với các quốc gia liên hệ, nhất là khi các quốc gia tình nghi đó lại nằm trong khối Liên Hiệp Âu Châu (như Ba Lan và Lỗ Ma Ni) vì nó đi ngược lại tinh thần nhân bản cũng như tôn trọng nhân quyền theo như tinh thần của Công ước Geneva. Lúc đó, Toà Bạch -c không phủ nhận hay xác nhận sự hiện hữu của chương trình này, mà chỉ đưa ra lời than phiền rằng bài báo đã làm hại đến nền an ninh quốc gia. Nhưng nó gây khó chịu không ít cho cả ngoại trưởng Rice lẫn TT Bush trong các chuyến công du sang Âu Châu vào dịp đó khi mà chính phủ các nước Âu Châu, trước áp lực của dân chúng bất bình trước tin này, đã phải lên tiếng yêu cầu Hoa Kỳ giải thích rõ ràng nội vụ. Trong chốn riêng tư, họ đã áp lực Hoa Kỳ cần phải chấm dứt chương trình này cũng như việc bắt giữ các nghi can tại nhà tù ở Guantanamo Bay mà không đem ra xét xử.

Mặc dù TT Bush đã than phiền là nhiều người đã có những "nhận thức sai lạc" (misperceptions) về nhà tù Guantanamo Bay như trong dịp hội kiến với Thủ Tướng Angela Merkel của Đức vào tháng Giêng năm 2006, nhưng sau đó không lâu, như trong một cuộc họp báo hồi tháng Sáu vừa qua, ông cũng đã vọt miệng nói rằng "tôi cũng muốn đóng cửa nhà tù Guantanamo" vì nó đã trở thành cái cớ để cho vài quốc gia thân hữu của Mỹ tiếp tục chỉ trích là Hoa Kỳ đã không tôn trọng những giá trị lâu đời của mình.

Cùng lúc đó, Đại tướng Michael V. Hayden, tân tổng giám đốc CIA, trong một cuộc nói chuyện với nhân viên thuộc cấp, đã gợi ý rằng có thể ông ta sẽ duyệt xét lại chương trình giam giữ tù nhân bí mật mà CIA đã thực hiện trong thời gian qua để xem có thể tiếp tục được nữa hay không. Thế nhưng cuộc duyệt xét này đã không còn cần thiết nữa vì một quyết định quan trọng của Tối Cao Pháp Viện, trong vụ án Hamdan chống lại Rumsfeld, (Hamdan là một tù nhân Hồi-giáo nộp đơn kiện Ngũ Giác Đài của ông tổng trưởng Rumsfeld) đã được ban ra cũng trong tháng Sáu khi đa số các vị thẩm phán cho rằng tất cả các nghi can bị giam giữ đều phải được hưởng những quyền bảo vệ theo đúng với tinh thần của Công ước Geneva. Phán quyết này mặc nhiên kết tội chương trình giam giữ tù nhân bí mật của CIA là bất hợp pháp.

Mặc dù đã biết có sự chống đối hay chỉ trích từ lâu về chương trình giam giữ tù nhân bí mật này (mà không chịu đem ra xét xử), các luật sư cố vấn ở Toà Bạch -c cũng đều sững sờ trước thất bại pháp lý nặng nề do phán quyết của TCPV. Trong các cuộc họp sau đó trong nội bộ, luật sư cố vấn của CIA là ông John Rizzo đã cho rằng chương trình nhà tù bí mật này thật ra đã gặp quá nhiều khó khăn để có thể được lưu giữ vì một số quốc gia đã yêu cầu CIA phải đóng cửa ngay các nhà tù bí mật này trên lãnh thổ của họ hoặc từ chối không tiếp tay nữa với CIA trên nhiều địa hạt khác. Chính ông Dan Bartlett, một phụ tá cao cấp ở Bạch Cung, cũng phải thú nhận rằng "phán quyết Hamdan đã buộc chúng tôi" phải công nhận rằng có giam giữ bí mật một số tù nhân nào đó, đồng thời cũng chữa thẹn rằng việc lấy khẩu cung trong thời gian qua đã khá đầy đủ nên giờ đây không còn cần thiết nữa và do đó Hoa Kỳ có thể bắt đầu đưa các nghi can này ra toà để xét xử.

Trong những phiên họp của bộ tham mưu ở Bạch Cung, ngoại trưởng Rice đã thẳng thắn đề nghị một sự thay đổi trong chính sách. Bà Rice cho rằng Hoa Kỳ cần phải chấm dứt chương trình này, dựa trên cả hai tiêu chuẩn chính sách ngoại giao lẫn giá trị đạo đức. Bà Rice nói với các thành viên trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia rằng chương trình nhà tù bí mật này đã khiến cho việc liên kết để hợp tác với các quốc gia khác trong lãnh vực tình báo càng ngày càng khó khăn, và do đó TT Bush cần phải giải quyết việc này ngay. Vì thế cho nên trong bài diễn văn tuyên bố đóng cửa các nhà tù bí mật này khi chuyển giao 14 tù nhân đặc biệt sang nhà tù ở Guantanamo Bay, TT Bush đã lập lại phần lớn những lập luận của bà Rice: "Hoa Kỳ là một quốc gia pháp trị. Tôi sẽ tiếp tục làm việc với cộng đồng quốc tế để xây dựng một nền tảng chung hầu có thể bảo vệ đất nước và quyền tự do của người dân."

Thế nhưng cùng lúc đó, TT Bush cũng muốn định nghĩa lại một vai trò của các nhà tù CIA, từ khía cạnh bảo vệ nhân quyền của tù nhân sang khía cạnh bảo vệ sự an nguy cho người dân Mỹ. Ông Bush cả quyết rằng nhờ việc lấy khẩu cung ráo riết những tay đầu não của al Qaeda như Khalid Sheik Mohammed, nhân vật được xem như là đạo diễn chính của màn khủng bố 9/11 và Abu Zubaida, một phụ tá cao cấp của Osama bin Laden, mà giới tình báo Mỹ đã thu thập được một kho những tin tức quí giá cho nỗ lực phòng chống khủng bố. Do đó, ông đã khẩn thiết yêu cầu Quốc Hội phải thông qua một đạo luật cho phép các cuộc lấy khẩu cung như trên được tiếp tục cũng như không trừng phạt những nhân viên thi hành nhiệm vụ lấy cung này.

Mặc dù đã cố gắng nhiều lần, bằng nhiều chiến dịch tuyên truyền với nhiều bài diễn văn nẩy lửa khác trong thời gian qua, bộ tham mưu ở Bạch Cung đã không thể nào đảo ngược lại tiến trình càng ngày càng tụt dốc về uy tín của TT Bush kéo dài trong năm qua, mà nguyên nhân chính có lẽ là sự thiếu kiên nhẫn của người dân Hoa Kỳ trước viễn ảnh bi quan kéo dài của cuộc chiến tại Iraq càng ngày càng tốn kém hơn. Nhưng lần này, trong những tuần lễ trước và sau ngày 11 tháng 9 năm nay, Toà Bạch -c đã lợi dụng dịp kỷ niệm 5 năm biến cố đau thương này để tung ra một chiến dịch tích cực hơn nữa để mong giành lại thế thượng phong hầu tránh cho phe Cộng Hoà không bị thất bại nặng nề trong kỳ bầu cử sắp tới, tức là có thể mất đa số nắm quyền tại một hay hai viện ở Quốc Hội.

Những cuộc thăm dò dân ý trong những tháng gần đây đều cho thấy là uy tín của TT Bush nói riêng và của đảng Cộng Hoà nắm quyền ở Quốc Hội nói chung cũng đều tụt giảm đáng kể, khiến cho cơ nguy có thể mất một hay hai viện lập pháp cho nhiệm kỳ sắp tới không phải là chuyện khó xảy ra. Và nếu như điều này hiện thực, thì chính quyền Bush sẽ coi như bị trói tay trong thời gian tới, và TT Bush chính thức trở thành một vị "tổng thống vịt què" (a lame duck president), khập khiễng không còn đi đứng vững nữa cho dù vẫn còn ngồi tại chức trong vòng hai năm dài. Đáng ngại hơn nữa là nếu như phe Dân Chủ chiếm được đa số ở Thượng Viện, với khả năng thiết lập những uỷ ban điều tra đặc biệt, nhiều phần là các viên chức cao cấp trong chính quyền từ TT Bush trở xuống đều phải vất vả và tốn hao công sức để ra điều trần trước các uỷ ban này để bị lấy khẩu cung trước những lời kết tội về những khiếm khuyết hay sơ hở trong thời gian qua.

Điều hy vọng duy nhất hiện nay cho TT Bush và phe Cộng Hoà là đề tài an ninh quốc phòng là lãnh vực duy nhất mà họ có thể giữ được sự hậu thuẫn của đa số dân chúng, dù chỉ là một đa số mong manh và khít khao. Nhưng nó có khả năng đem lại chiến thắng trong các thùng phiếu như đã được chứng minh trong hai kỳ bầu cử trước đây vào năm 2002 và 2004. Vì thế cho nên tất cả các cuộc tranh luận hiện nay đều phải được dàn dựng hay sắp xếp dưới lăng kính yêu nước và bảo vệ tổ quốc để giúp cho đảng Cộng Hoà tiếp tục khai thác được ưu thế này.

Lịch sử cận đại Hoa Kỳ cho thấy là trong mấy thập niên qua, người dân Mỹ đã gần như có sẵn định kiến rằng phe Cộng Hoà có ưu điểm về các lãnh vực đối ngoại và quốc phòng trong khi đảng Dân Chủ được sự ủng hộ và tin tưởng nhiều hơn trên các địa hạt đối nội và dân sinh. Trong chiều hướng đó, mỗi khi đất nước đang nằm trong nguy cơ bất an hay có chiến tranh, các lãnh tụ phe Cộng Hoà thường giành lấy ưu thế. Thế nhưng lần này, điều tai hại đã xảy ra cho đảng Cộng Hoà với kết quả thất bại và tốn kém nặng nề của cuộc chiến tại Iraq, một cuộc chiến thiếu chính nghĩa với những lý cớ sai trái hoặc được nguỵ tạo, lại được thi hành một cách quá chủ quan và thiếu trách nhiệm bởi những lãnh tụ đầy kiêu căng nhưng bất tài như ông Rumsfeld, và đáng ngại hơn nhất, là càng ngày càng gây bất ổn trên thế giới cũng như tạo ra thêm nhiều kẻ thù cho Hoa Kỳ. Do đó mà trong kỳ bầu cử năm 2002, bộ máy tuyên truyền của chính quyền Bush đã thổi phồng lên mối nguy về kho vũ khí tàn sát quy mô của lãnh tụ độc tài Saddam Hussein để từ đó có thể chỉ trích tất cả các vị dân biểu hay nghị sĩ nào không ủng hộ TT Bush cho giải pháp quân sự tấn công Iraq. Qua đến kỳ bầu cử năm 2004, những hình ảnh sai trái và bất lợi về cuộc chiến chỉ mới được hé mở một phần nhưng chưa tạo được sự thức tỉnh của đa số quần chúng vì vẫn còn bị ảnh hưởng bởi chính sách tuyên truyền cố tình liên kết cuộc chiến tại Iraq với biến cố 9/11. Nhưng đến năm nay thì tất cả những sự thật đã được phơi bày, chính TT Bush cũng phải thú nhận trước giới truyền thông toàn quốc rằng chế độ Saddam Hussein không có dính líu gì đến vụ 9/11, và ngay cả trên Thượng Viện Mỹ dưới quyền của đa số theo đảng Cộng Hoà, một bản tường trình cũng đã được thông qua với lời kết luận rõ ràng rằng giới tình báo Mỹ đã biết chắc chắn rằng Iraq đã không có kho vũ khí độc hại trước đó, cũng như chính quyền Saddam Hussein đã không có liên lạc gì với tổ chức al-Qaeda, thậm chí còn coi tổ chức này là một phần tử nguy hiểm như kẻ thù.

Vì thế cho nên kỳ này lá bài cuộc chiến Iraq không còn ăn khách nữa và rất nhiều các vị dân biểu và nghị sĩ (của cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà) đã mạnh dạn lên tiếng chống đối cuộc chiến tranh này mà không sợ bị chụp mũ là hèn nhát hay không có tinh thần ái quốc cao độ. Trong thực tế, những nhân vật diều hâu, chủ chiến cực đoan như các ông Cheney, Paul Wolfowitz (phó tổng trưởng quốc phòng) chưa bao giờ tình nguyện cầm súng ra chiến trường mà lại thường tìm cách chạy chọt để xin hoãn dịch. Riêng ông Cheney đã xin được hoãn dịch liên tiếp đến 5 lần để khỏi phải bị động viên và tránh bị đẩy vào chiến trường tại Việt Nam.

Vì thế cho nên lần này, TT Bush và phe Cộng Hoà chỉ còn cố bám víu vào những tù nhân nghi can khủng bố nhằm khơi lại những hình ảnh kinh hoàng của biến cố 9/11 để tiếp tục khai thác những tình cảm sôi nổi và tức giận của người dân Hoa Kỳ. Nói một cách đơn giản, lần này TT Bush muốn lập luận rằng ông ủng hộ việc cho phép nhân viên CIA dùng cực hình để tra khảo (mà ông gọi một cách văn hoa là "những phương cách lấy cung khác") những nghi can thuộc phe khủng bố al-Qaeda cho dù nó có đi ngược với Công Ước Geneva hay không, miễn là nó giúp cho chúng ta có được những tin tức quí giá trong công cuộc dẹp tan bọn khủng bố. Vậy những ai không ủng hộ đường lối và chính sách của ông tức là chỉ lo bảo vệ đến quyền lợi của bọn khủng bố thay vì đến nền an nguy của người dân Mỹ. Theo suy luận này, mà phe ủng hộ thường diễn giải một cách cường điệu hơn, khi bắt được một kẻ tình nghi khủng bố có khả năng hay nguy cơ chôn giấu đâu đó một quả bom nguyên tử để tấn công tại những thành phố lớn thì việc lấy cung và tra khảo để có thể phát giác kịp thời và ngăn chặn một vụ nổ bom (theo kịch bản của nhiều phim hành động hay phim truyền hình ăn khách 24 hours) là điều dễ hiểu và dễ dàng chấp nhận cho dù đó là những phương thức tra khảo tàn nhẫn vô nhân đạo (vì có mục đích là cứu được mạng sống cho hàng trăm ngàn người khác). Thế nhưng trong thực tế, mọi việc không diễn ra như trong trong phim truyện, và thông thường các chính quyền nếu không bị giám sát thường hay lợi dụng để lấn quyền vì tâm lý thông thường "ỷ mạnh hiếp yếu" mỗi khi biết mình được ưu thế sức mạnh sẵn có. Quan trọng hơn nữa là kỹ thuật tra khảo tù nhân trong nhiều trường hợp thường không phải là khí giới hữu hiệu nhất để lấy được những tin tức quí giá, theo sự nhận định của đa số các chuyên viên trong ngành tình báo. Các giới am tường trong lãnh vực này đều cho rằng khi bị tra tấn dữ dội, hầu hết các tù nhân đều nhận tội cho xong hoặc khai tất cả những gì theo đúng ý muốn của người lấy cung để chấm dứt những hình phạt tra tấn. Để rồi sau đó khi điều tra tiếp về những lời tiết lộ này thì mới khám phá ra rằng điều đó không đúng sự thực, rồi lại tiếp tục tra khảo tiếp để lại được nghe những lời khai khác nữa. Đó là trường hợp đã xảy ra với những lời khai của Abu Zubaida khiến cho giới tình báo và nhà chức trách Mỹ phải tốn công sức để điều tra thêm nhưng cuối cùng phải xác nhận là không đúng sự thực. Phương thức hữu hiệu nhất để lấy những lời cung khai cần thiết và xác đáng từ những tù nhân không phải là dùng sức mạnh uy hiếp khiến cho họ phải kinh sợ, mà đúng ra là phải làm sao chứng tỏ được khả năng hiểu được tâm lý của nghi can để tạo nên một sự thông cảm (trong một chừng mực nào đó) cho những hành động phạm pháp và sau đó là một sự đầu hàng hay nể phục theo cái kiểu "khẩu phục tâm phục", vì tất cả những ẩn ức sâu xa của mình đã được giãi bày và có người đồng cảm nên không cần gì phải dấu diếm.

Lập luận của TT Bush là một chiêu thức tuyên truyền và chính trị đầy tính mị dân nhưng vô cùng kiến hiệu, vì nó giúp cho ông khoác được cái áo của một vị lãnh tụ biết chăm lo cho sự an nguy của người dân Hoa Kỳ bằng tất cả những cố gắng và phương tiện, cho dù là những phương tiện bất hợp pháp gây bất mãn và chống đối của công luận thế giới. Nó chỉ giúp thoả mãn được cái tự ái cá nhân nhất thời của người dân Mỹ thiếu trưởng thành và hiểu biết sâu xa nên không nghĩ đến những hậu quả tai hại trong lâu dài. Nhưng trong đoản kỳ nó cũng đem lại cho ông Bush một ưu thế vì rất ít chính trị gia nào có can đảm lên tiếng chống đối vì sợ sẽ bị chụp mũ là không biết lo nghĩ đến quyền lợi và sự an nguy của người dân Hoa Kỳ trước tiên. Đó là lý do tại sao, tại Hạ Viện, mặc dù có sự chống đối của hầu hết các vị dân biểu phe Dân Chủ, cuộc bỏ phiếu tại Uỷ ban Quốc Phòng đã đi đến kết luận thông qua việc ủng hộ giải pháp của chính quyền Bush với đa số 52-8.

Nhưng điều đau đớn và xui cho TT Bush, nhưng có lẽ cũng là vận may cho uy tín và danh dự của Hoa Kỳ trong lâu dài, sự chống đối khá mạnh mẽ lần này lại diễn ra ở Thượng Viện, dưới sự chủ động của những tên tuổi nhiều uy tín của đảng Cộng Hoà cùng với những thành tích và lý lịch gạo cội khiến không ai có thể chụp mũ là những thành phần hèn nhát hay không yêu nước. Đó là các nghị sĩ bảo thủ như John Warner, chủ tịch Uỷ Ban Quốc Phòng, cựu bộ trưởng Hải Quân Mỹ; và các ông khác như John McCain, một cựu tù binh đã từng bị bắt giam nhiều năm tại nhà tù Hoả Lò ở Hà Nội; Lindsay Graham, một cựu sĩ quan ngành quân pháp cùng vài nghị sĩ phe ôn hoà khác như Susan Collins. Vì thế cho nên, tại Uỷ Ban Quốc Phòng ở Thượng Viện, đa số 15/9 đã bác bỏ những đề nghị của TT Bush để thông qua một dự luật khác tôn trọng tinh thần của Công ước Geneva. Hiện nay, các đề nghị này sẽ được thảo luận tại đại hội đồng của mỗi viện và trong chiều hướng đó, nhiều phần là sẽ được thông qua ở Hạ Viện theo chiều hướng thuận lợi cho TT Bush nhưng chắc chắn sẽ bị chống đối ở Thượng Viện. Do đó một cuộc điều đình để dàn xếp ở lưỡng viện sẽ diễn ra để mong đi đến một giải pháp thoả hiệp chung cuộc. Trong nhiều trường hợp khi những xung khắc hay khác biệt giữa hai viện quá lớn để có thể thoả hiệp hay tương nhượng, các dự luật hay đề nghị bị coi như là thất bại.

Đó là viễn ảnh hiện nay của đề nghị này, nhất là với thời gian hạn hẹp còn sót lại chỉ vài tuần lễ trước khi các dân biểu và nghị sĩ phải vội vàng nghỉ họp và đóng cửa trụ sở để có thể về địa phương mình và sửa soạn cho chiến dịch vận động tái tranh cử của mình. Đó là lý do giải thích tại sao TT Bush, vốn ít khi nào chịu bỏ thì giờ để ngó ngàng đến những quan tâm của ngành lập pháp, trong tuần qua đã cùng với PTT Cheney và phụ tá chính trị Karl Rove thân hành đến Hạ Viện để họp riêng với các vị đại biểu của đảng Cộng Hoà hòng mong đạt được một sự đoàn kết để thông qua dự luật của mình. Nếu như điều này không được thông qua, TT Bush và phe Cộng Hoà sẽ không có thành tích nào để đem ra khoe với thành phần cử tri của mình.

Hơn thế nữa, lần này họ cũng không thể tấn công đối phương thuộc đảng Dân Chủ là không cương quyết trong sứ mạng bảo vệ an ninh người dân vì trong phe chống đối đề nghị này cũng có khá nhiều các nghị sĩ thuộc đảng Cộng Hoà với thành tích và lý lịch sáng chói. Như trường hợp của ông McCain, một cựu tù binh trong thời chiến tranh tại Việt Nam và là nạn nhân của những đòn tra khảo dã man, việc chống đối không cho phép CIA dùng hình thức tra khảo là một quyết định đứng đắn và sáng suốt vì đã nhìn rõ những tệ hại của chính sách này. Bởi vì nếu Hoa Kỳ cũng áp dụng những biện pháp vô nhân đạo này tức là đã tự hạ mình xuống ngang hàng với những thể chế độc tài và dã man và quan trọng hơn nữa là trong những cuộc chiến trong tương lai, các quân nhân của mình khi bị phe địch bắt giữ có thể cũng sẽ là nạn nhân của những hình thức tra khảo đó mà Hoa Kỳ không thể nào kêu cứu vì chính mình cũng đã hành xử như vậy.

Chưa hết, chính sách của chính quyền Bush cho phép CIA dùng cực hình để tra khảo tù nhân còn bị chỉ trích và chống đối kịch liệt bởi hai vị tướng lãnh đã từng giữ chức vụ cao cấp nhất trong quân đội: đó là hai cựu đại tướng John Vessey và Colin Powell, đã từng là tổng tham mưu trưởng quân lực Hoa Kỳ. Trong một lá thư gửi cho nghị sĩ John McCain, cựu tướng Powell, cũng là cựu ngoại trưởng trong nhiệm kỳ đầu của TT Bush, đã cảnh cáo rằng không nên tìm cách sửa đổi những giới hạn đã quy định trong Công Ước Geneva (tức là tìm cách hợp thức hoá những hình thức tra khảo tù nhân và tù binh) bởi vì hiện nay "thế giới đang bắt đầu hoài nghi về nền tảng đạo đức của Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống khủng bố". Cùng lúc đó, trong một lá thư gửi cho nghị sĩ John Warner, chủ tịch Uỷ Ban Quốc Phòng, được ký tên chung bởi 24 cựu tướng lãnh và 3 cựu viên chức cao cấp trong ngành ngoại giao và tư pháp Hoa Kỳ, người ta đọc thấy nỗi "quan tâm sâu xa" (profound concern của các vị này trước những nỗ lực muốn xói mòn tinh thần của Công Ước Geneva. Đối với các vị này, sự chống đối của họ có thể được diễn tả một cách đơn giản như sau: Công Ước Geneva có thể giúp bảo vệ cho các quân nhân Mỹ khi bị bắt làm tù binh. Khi Hoa Kỳ tìm cách vi phạm Công Ước này bằng cách ngược đãi các tù nhân thì trong tương lai các tù binh Mỹ cũng sẽ bị trả đũa tương tự, hay còn tệ hơn thế nữa.

Thật ra thì sự chống đối trước những nỗ lực đi quá đà của chính quyền Bush đã ngấm ngầm xảy ra trong hậu trường từ nhiều năm qua, phần lớn do bởi một số viên chức cao cấp và kỳ cựu trong những ngành tư pháp, quốc phòng và ngoại giao nhưng cuối cùng đều bị phủ quyết bởi cấp trên của họ là những tổng bộ trưởng trung thành với TT Bush. Thông thường đây là những công chức với nhiều thâm niên công vụ nên đã quen với những đường lối và sinh hoạt cẩn trọng trong ngành nghề của mình, và với lương tâm nghề nghiệp, thường rất đắn đo và cân nhắc kỹ lưỡng lợi hại của từng quyết định cho quyền lợi tối thượng và lâu dài của quốc gia Hoa Kỳ. Trong khi cấp trên của họ là các vị tổng trưởng trong nội các và tổng thống thì có thể có những toan tính chính trị riêng tư có lợi hay thích hợp hơn với lý tưởng đảng phái của mình. Do đó trong bất cứ nhiệm kỳ của tổng thống nào, dù là theo Dân Chủ hay Cộng Hoà, người ta thường thấy có những vụ tiết lộ từ bên trong nội bộ của chính quyền bởi một vài viên chức trong cuộc, mỗi khi họ thấy những việc làm của cấp trên có sai lầm hay chệch hướng, tai hại cho quyền lợi lâu dài của đất nước. Cũng trong tinh thần tôn trọng sự công bằng và lẽ phải, luật pháp và xã hội Hoa Kỳ cũng tìm cách bảo vệ những nhân viên cấp thấp có can đảm tố cáo những sai phạm của cấp trên (whistleblower's protection). Trong trường hợp của chính quyền Bush, nhiều viên chức cao cấp trong Bộ Tư Pháp dưới thời cựu tổng trưởng John Ashcroft đã từ chối không chấp thuận việc cho phép thu lén các cuộc điện đàm của người dân mà không có án lệnh của toà án đặc biệt. Ở Bộ Quốc Phòng, mặc dù bị áp lực của các sếp dân sự là các vị thứ trưởng quốc phòng, các sĩ quan cao cấp về quân pháp của bốn quân chủng Lục Quân, Hải Quân, Không Quân và Thuỷ Quân Lục Chiến lúc nào cũng lên tiếng phản đối việc cho phép các sĩ quan tình báo có thể dùng những biện pháp tra khảo để lấy cung các tù binh, và yêu cầu nên áp dụng thủ tục truy tố công bằng và đứng đắn (due process of law) đối với các tù nhân. Theo lập luận của họ thì nếu áp dụng đúng thủ tục này thì những chứng cớ hay những lời khai của các tù nhân sẽ dễ dàng được chấp thuận trong các phiên toà xét xử sau này, bằng không thì có thể sẽ bị từ chối và lúc đó các nghi can này sẽ dễ dàng được toà tha bổng vì không đủ chứng cớ hay với những chứng cớ thu thập được một cách trái phép.

Đó là lý do giải thích tại sao lần này TT Bush gặp lúng túng không ít khi mà những người chống đối ông tích cực nhất lại là những người cùng đảng Cộng Hoà với những thành tích và lý lịch sáng chói như các ông John McCain và Colin Powell. Ông Bush và phe Cộng Hoà không còn có thể áp dụng bài bản cũ là chụp cái nón cối lên đầu những vị này, như họ đã làm với các chính trị gia và lãnh tụ của đảng Dân Chủ trong thời gian qua mỗi khi những người lên tiếng chống đối hay chỉ trích các chính sách của chính quyền, là những phần tử yếu hèn thiếu tính cương quyết, và lúc nào cũng chỉ chực chờ thoả hiệp với kẻ thù. Hơn nữa, lập luận của ông Powell khá đanh thép và vững vàng, khó thể nào biện bạch ngược lại. Ông Powell lý luận rằng: "Một phần của cuộc chiến chống khủng bố này bao gồm sự tranh đấu trên các mặt trận chính trị và ý thức hệ. Tư cách và uy tín đạo đức của Hoa Kỳ phải được coi là một trong những khí cụ đắc lực nhất. Hiện nay trên mặt trận ngoại giao trước công luận, chúng ta đã gặp nhiều khó khăn thất bại. Vì thế cho nên điều này (nếu được thông qua) càng đưa ra một thông điệp tai hại và sai trái đến cộng đồng thế giới."

Điều đáng lo ngại là, theo lời nhận định của nhà báo Fareed Zakaria, một bỉnh bút chính trị am tường về thời sự tại Trung Đông của tạp chí Newsweek, dường như chính quyền Bush hiện nay vẫn mù quáng và không chịu nhận thức rõ về thực trạng chính trị này. Sau những vụ xì-căng-đan đầy tai tiếng làm giảm thiểu uy tín nặng nề cho Hoa Kỳ như các nhà tù ở Guantanamo Bay, Abu Ghraib, vụ thảm sát thường dân ở Haditha và nhiều vụ bê bối hay sai lầm khác, Hoa Kỳ cần phải đưa ra một biểu tượng tốt đẹp hơn để đánh bóng cho những thái độ và tư cách nghiêm túc căn bản của mình. Việc tọc mạch muốn thay đổi những quy định của Công Ước Geneva theo quyền lợi riêng tư của mình là một dấu hiệu sai lầm, được đưa ra trong một thời điểm sai lệch, bởi một chính quyền sai trái.

Thật ra thì TT Bush cũng như các phụ tá ở Bạch Cung cũng không thấy có gì cần thiết hay khẩn cấp để thông qua những dự luật có lợi cho mình trong mong muốn xét xử các nghi can này hầu có thể ngăn chặn các hành động khủng bố trong tương lai. Trong thời gian giam giữ vài năm qua, nếu như muốn xét xử để trừng phạt đích đáng và với những chứng cớ vững vàng, nhà chức trách Hoa Kỳ có thể đem ra 14 nghi can khủng bố cùng với nhiều nghi can khác trước những toà án quân sự hay dân sự để luận tội và để cho tiến trình công lý tự nhiên diễn tiến. Dù có được tha bổng hay trừng phạt nặng nề, nền an ninh của Hoa Kỳ cũng như của thế giới đã không thực sự thay đổi gì mấy, và trong thực tế các giới chức hữu trách của Hoa Kỳ cũng như của các nước khác vẫn có thể tiếp tục theo dõi các nghi can này (cho dù có được tha bổng) nếu như vẫn còn tình nghi họ. Có lẽ ông Bush và nhiều người nữa chẳng quan tâm thực sự đến việc những nghi can khủng bố có bị xét xử nhanh chóng hay không. Thế nhưng điều mà ông và các lãnh tụ của đảng Cộng Hoà mong muốn nhất, có lẽ là một cơ hội để cho họ có thể lợi dụng và chứng minh lòng cương quyết chống khủng bố trước một khối cử tri từ hơn năm năm qua vẫn còn bị ám ảnh bởi những hình ảnh kinh hoàng của biến cố khủng bố 9/11 và không nhiều thì ít, vẫn còn có thể tiếp tục bị ảnh hưởng của chiến dịch tuyên truyền tinh vi này. Và cơ hội tốt đẹp nhất không gì khác hơn là một đạo luật, hay một dự luật nào đó với những lợi ích chính trị nhất thời như đề tài đang được tranh luận hiện nay.

Điều đáng buồn hơn nữa là có khá nhiều các vị dân cử, dù trong thâm tâm đã biết sự sai lầm này, nhưng vì áp lực chính trị nên đã không dám nói lên sự thực vì có thể bị ảnh hưởng tai hại cho sự nghiệp chính trị của họ. Liệu cử tri Hoa Kỳ lần này có đánh giá và phê bình họ một cách nặng nề hay không, tức là sáng suốt bỏ phiếu chọn lựa mà không bị mù quáng bởi một chiến dịch hù doạ? Chúng ta khó mà biết được.

Nhưng chắc chắn là lịch sử sẽ phán xét một cách nghiêm khắc những chính trị gia và các vị dân cử thiếu can đảm đó, mà hành động không dám nói lên sự thật có thể sẽ đem lại những di hại lâu dài cho nhân loại.

Nguyễn Anh Tuấn
Houston, Texas
Source: VNN

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Bản lượng định tình báo quốc gia được công bố theo lệnh cuả TT Bush lại tương phản với tuyên bố đầy lạc quan cuả ông trước đó
Đăng Khoa-Source:AP, Sep 26, 2006


Bản lượng định tình báo tổng hợp cuả Cơ Quan Tình Báo Quốc Gia cuối cùng đã được TT Bush ra lệnh cho phổ biến hôm thứ ba sau khi nhiều nhà lập pháp lưỡng đãng đòi hỏi. Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận là những lượng định đưa ra trong bản báo cáo lại tương phản với đều khẳng định đầy lạc quan cuả TT Bush đưa ra trước đó là thế giới ngày nay đang được an ninh hơn.

Theo nhận định cuả các chuyên viên tình báo thượng thặng cuả quốc gia đưa ra trong báo cáo trên, cuộc chiến Iraq mà Hoa Kỳ phát động và tiến hành cho đến hiện nay đã trở thành “một cớ vô giá” cho những kẻ quá khích Hồi Giáo tuyên truyền lòng thù ghét sâu xa Hoa Kỳ và tình hình này sẽ ngày càng tệ hại hơn trước khi nó được cải thiện. Vẫn theo nhận định trên, hiểm hoạ gây ra bởi những kẻ quá khích Hồi Giáo đã nhờ cơ hội trên mà phát triển mạnh cả về quy mô nhân sự và điạ dư.

Trước đó, TT Bush và các cố vấn hàng đầu từng tuyên bố rằng những lượng định tình báo ủng hộ lập luận cuã ông là thế giới đang được an ninh hơn nhờ những nỗ lực chống khủng bố cuả chính phủ ông trên toàn cầu trong đó cuộc chiến Iraq là trung tâm điểm.

Tuy nhiên, thực tế là trong hơn ba trang lượng định tình hình cuả bản báo cáo chưá đầy dẫy những cảnh báo về tình hình lan rộng chủ nghĩa khủng bố trái với lập luận nói trên cuã chính quyền TT Bush.

Bản báo cáo viết rằng “Nếu chiều hướng này tiếp tục, mối đe doạ đối với những quyền lợi cuả Hoa Kỳ ngay trong nội điạ và ở ngoại quốc sẽ trở nên đa dạng hơn, dẫn đến gia tăng các cuộc tấn công khủng bố trên toàn thế giới” Bản baó cáo còn nhận định rằng trong tình hình nhiều nhóm khủng bố độc lập cùng chia sẽ một mục tiêu chung và ở rải rác, việc nhận diện và truy tìm chúng sẽ trở nên khó khăn bội phần.

Cần nhắc lại rằng trong tuyên bố đưa ra hôm thứ ba, TT Bush gọi những kẻ cho rằng cuộc chiến mà chính phủ Bush tạo ra tại Iraq đã làm cho tình hình khủng bố tệ hại hơn là những kẻ ngây thơ và sai lầm.

Trong khi đó, trong cuộc phỏng vấn dành cho CNN, TT Pakistan Musharaff đã nói rằng ông từng chống đối và hiện vẫn giữ quan điểm là Hoa Kỳ đưa quân vào Iraq sẽ chỉ khuyến khích những kẻ quá khích và khiến cho thế giới bị mất an ninh hơn. Ông nói “Tôi vẫn giữ quan điểm này là nó (việc Hoa Kỳ đưa quân vào Iraq) sẽ làm cho thế giới trờ thành một nơi nguy hiểm hơn.”

Đăng Khoa-Source:AP

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cựu thị trưởng New York Giuliani lên tiếng bênh vực những nỗ lực chống khủng bố của chính quyền cựu TT Bill Clinton
Sep 27, 2006
Cali Today News – Hôm thứ tư, cựu thị trưởng New York Rudy Giuliani đã lên tiếng bênh vực những nỗ lực chống khủng bố cuả chính quyền cựu TT Bill Clinton và nói rằng những chỉ trích gần đây cuả phía Cộng Hoà nhằm đổ trách nhiệm vụ 11/9 cho cựu TT Clinton là hoàn toàn sai.

Cần nhắc lại rằng đã xảy ra một cuộc chiến lời qua tiếng lại giữa hai đãng liên quan đến việc cựu TT Clinton hoặc TT Bush, ai là người đã không ngăn ngừa được vụ tấn công khủng bố 11/9. Vụ trên đã nổ ra sau khi một cuộc phỏng vấn cuả cựu TT Clinton dành cho đài Fox News cuả đảng Cộng Hoà, trong đó ông gay gắt kết án những kẻ chỉ trích chính phủ trước đây cuả ông thiếu nỗ lực tiêu trừ khủng bố.

Phát biểu trước cử toạ là các cử trị Cộng Hoà, cựu thị trưởng Giuliani nói rằng “Những ai nghĩ ra chuyện đổ lỗi cho cựu TT Clinton là hoàn toàn sai lầm vì nhiều, rất nhiều lý do, ngay cả một lý do nhỏ tôi nghĩ ông ta cũng không đáng có.” Ông Giuliani nói tiếp “Tôi không nghĩ ông ta là người bị quy lỗi. Kẻ đáng phải quy lỗi vụ 11/9, tôi nghĩ chúng ta nên nhớ lại xem, chính là những kẻ khủng bố, những kẻ Hồi Giáo cuồng tín, chúng đến đây và sát hại chúng ta và còn muốn đến nữa để tái diễn chuyện này.”

Không như nữ ngoại trưởng Rice thách thức cựu TT Clinton, cựu thị trưởng nói tiếp rằng ông tin lời cựu TT Clinton nói về những nỗ lực chống khủng bố cuả ông. Ông Giuliani nói “Mọi tổng thống Hoa Kỳ đều làm hết sức để ngăn chặn một vụ tấn công như thế, trong đó có cả cựu TT Cliton và TT Bush. Các vị tổng thống đã làm hết sức mình với những thông tin họ có được vào lúc ấy.”

Khi được hỏi liệu ông có ý định ra tranh cử tổng thống vào năm 2008 không, ông Giuliani nói rằng ông “đã nghĩ đến việc này” nhưng hiện chưa có quyết định.

Đăng Khoa-Source:AP

dacung
Posts: 409
Joined: Tue Dec 13, 2005 6:26 am
Location: USA
Contact:

Post by dacung »

Lễ khởi công xây dựng tượng đài tưởng nhớ nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản
2006.09.28
Richard Finney - Nguyễn An

Sáng thứ tư giờ Hoa kỳ, tại trung tâm thủ đô Washington đã diễn ra lễ khởi công xây dựng tượng đài tưởng nhớ nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản. Phái viên Richard Finney của đài Á châu Tự do có mặt tại chỗ tường trình do Nguyễn An chuyển ngữ và trình bày sau đây.

Image
Tượng đài tưởng nhớ nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản sẽ được xây dựng trong nay mai.
PHOTO RFA/Do Hieu


Tượng đài dự trù toạ lạc trên một khu đất nhỏ không xa toà nhà quốc hội Hoa kỳ. Đó là một pho tượng bằng đồng, giống hệt tượng nữ thần Dân chủ được những ngừơi tranh đấu cho dân chủ dựng lên tại quảng trường Thiên An môn tại Trung quốc vào năm 1989.

Lên tiếng tại buổi lễ tổ chức ngoài trời nhân dịp khởi công xây dựng tượng đài, tiến sĩ Lee Edwards, chủ tịch sáng hội tưởng nhớ nạn nhân của chế độ Cộng sản tuyên bố đài tưởng niệm được xây dựng để nhớ đến hơn 100 triệu nạn nhân bao gồm nam giới, phụ nữ và trẻ em đã chết tại 25 quốc gia trên khắp thế giới trong thế kỷ vừa qua.

Ông cho biết: “Mặt trước bệ tượng đài sẽ là hàng chữ, “Cho hơn 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản và cho tất cả những ai yêu chuộng tự do”, còn mặt sau của bệ là hàng chữ, “Cho Tự do và độc lập của các quốc gia và dân tộc bị giam hãm”.”

Image
Quan khách đến tham dự lễ khởi công xây dựng tượng đài tưởng nhớ nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản.
PHOTO RFA/ Do Hieu


Ông Edward cũng cho hay rằng chi phí xây dựng tượng đài không do chính phủ Hoa kỳ cung cấp, mà được quyên góp từ các cộng đồng di dân tại Hoa kỳ, bao gồm các sắc dân Ban tích như Latvia, Lithuania, Estonia cũng như Trung hoa và Việt Nam. Ngoài ra, các chính phủ Đài Loan, Tiệp khắc, Ba Lan và ba nước Ban tích cũng góp phần tài chính.

Tiến sĩ Lee Edwards nói rằng những người đóng góp xây dựng đã nghe thấy lời kêu than của hằng hà sa số con người bị giết vì tội danh gọi là “kẻ thù của nhân dân”, của vợ hay chồng những người bị tống vào trại lao cải vô thời hạn chỉ vì thụôc gia đình đáng ngờ vực về chính trị. Đó cũng là tiếng kêu than của các trẻ mồ côi, của những họ hàng thân thích như cô chú, anh em không dám nhận mối quan hệ với nhau chỉ vì sợ sẽ bị đưa vào trại tập trung như người thân.

“Bằng những ngôn ngữ khác nhau và từ khắp nơi trên thế giới, họ luôn luôn kêu gào, đừng quên chúng tôi, đừng quên chúng tôi. (Vì thế mà) chúng tôi không thể, chúng tôi không được phép, và chúng tôi quyết không quên những ai đã chết và cả những ai đang chết vì chủ nghĩa Cộng sản.”

Image
Quang cảnh xung quanh tượng đài tưởng nhớ nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản sẽ được xây dựng trong nay mai.
PHOTO RFA/Do Hieu


Cũng lên tiếng trong buổi lễ khởi công, thứ trưởng ngoại giao Hoa kỳ Paula Dobriansky nói rằng cái chết của nạn nhân tại các nước Cộng sản là hậu quả trực tiếp và thường là cố tình của các quyết định mà giới lãnh đạo ban hành. Bà nhấn mạnh rằng tượng đài tưởng nhớ này sẽ tồn tại lâu hơn là đời sống của những người xây dựng nó:

“Nó sẽ nói với các thế hệ sau về những lầm than mà chủ nghĩa Cộng sản đã gây nên, về những cố gắng tập thể để chống lại chủ nghĩa ấy cũng như nội lực mạnh mẽ của những người từng là nạn nhân của chủ nghĩa ấy, nhưng đã chiến thắng được nó.”

Bà Dobriansky nói thêm rằng sự sụp đổ của các nước Cộng sản Đông âu cuối thế kỷ trước phải được coi là chiến thắng của tinh thần con ngừơi. Đó cũng là chỉ dấu cho thấy rằng tinh thần con nguời luôn toả sáng cho dù có bị đầy đoạ và phá huỷ.


Thông tin trên mạng:

- Honor the Victims of Communism and Those Who Love Liberty


Theo dòng câu chuyện:

- Phỏng vấn Tiến Sĩ Lee Edwards, chủ tịch Ủy Ban xây dựng tượng đài tưởng nhớ nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản

- Cộng đồng Mỹ gốc Việt với dự án xây dựng đài Tưởng niệm Nạn nhân Cộng sản

- Xây dựng tượng đài kỷ niệm nạn nhân của các nước cộng sản chủ nghĩa

Tiếng Việt

--------------------------------------------------------------------------------

© 2006 Radio Free Asia

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Bob Woodward qua cuốn “State of Denial”: Chính phủ Bush đang cố tình lừa đối công chúng Mỹ về thực trạng ngày càng xấu của cuộc chiến Iraq
Sep 28, 2006

Trong một cuốn sách được xem là sẽ nổ tung dư luận (explosive book) trong những ngày tới, nhà báo Bob Woodward phơi bày điều mà ông gọi là thực tế tệ hại tại Iraq mà chính quyền TT Bush đang cố tình lưà đối công chúng và dư luận Mỹ.

Luận điểm cuả cuốn sách có tựa đề “State of Denial” cho rằng chẳng có gì lạ nếu như chính quyền TT Bush cố tô hồng cho bộ mặt cuả cuộc chiến Iraq, nhưng điều đáng phải nói, theo ý tác giả, là chính quyền TT Bush đang tiến hành một kế hoạch cố tình lừa đối công chúng Mỹ về tình hình ngày càng tệ hại hơn ở Iraq. Theo ông, các đơn vị Mỹ đóng tại Iraq bị tấn công nhiều hơn so với mức mà công chúng Mỹ được thông tin.

Nhà báo Woodward viết rằng TT Bush và Ngũ Giác Đài đang cố tình giấu nhẹm đi những lượng định tình báo theo đó dự báo tình hình bạo lực tại Iraq sẽ còn xấu đi nhiều trong năm tới.

Phát biểu trong chương trình “60 Minutes” cuả đài CBS, nhà báo Woodward nói rằng “Đã đến mức là hiện nay xảy ra từ 800 đến 900 vụ tấn công mỗi tuần. Như vậy có nghĩa là trên 100 vụ tấn công một ngày. Và tính ra là cứ mỗi giờ bình quân xảy ra 4 vụ tấn công nhắm vào các binh sĩ Hoa Kỳ”

Cuốn sách ghi lại nhiều khẳng định cuả các sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ rằng số vụ và cường độ tấn công cuả lực lượng nổi dậy Iraq hiện đang ngày càng tăng. Các sĩ quan này khẳng định bình quân một ngày xảy ra120 vụ tấn công tức gần 900 vụ/tuần, nhắm vaò các đơn vị Mỹ và chính phủ Iraq.

Nhà báo Woodward còn tiết lộ cho hay rằng viên cựu cố vấn cuả cố TT Nixon là Henry Kissinger rất thường xuyên gặp TT Bush và chính ông này khuyên TT Bush nên tiếp tục chiếm đóng Iraq.

Theo nhận định cuả nhà báo Woodward, “Kissinger đang tiếp tục cuộc chiến Việt Nam, bởi vì theo quan điểm cuả ông, cuộc chiến Việt Nam trở thành vấn đề là vì chúng ta mất ý chí.”

Đăng Khoa-Source:MSNBC

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Quốc Hội Hoa Kỳ giới hạn mức chi tiêu quân phí cho chiến trường Iraq của chính phủ Bush
Sep 29, 2006



Cali Today News- Thứ sáu 29/9 Quốc Hội Mỹ đã ngăn chận chuyện chính phủ Bush muốn xây dựng các căn cứ quân sự trường cửu trên đất Iraq hay kiểm soát khu vực dầu lửa của xứ này, khi thông qua 70 tỉ đô la cho chiến phí ở Iraq và Afghanistan.

Các giới hạn này nằm trong mức chi tiêu quốc phòng kỷ lục là 447 tỉ đô la và các nhà lập pháp Dân Chủ và nhiều người trong Đảng Cộng Hòa cho là phiến quân ở Iraq ngỡ Hoa Kỳ muốn hiện diện dài lâu trên Iraq.

Họ kêu gọi TT Bush nên có một lời tuyên bố về chính sách theo đó Hoa Kỳ không có kế hoạch kiểu như thế. động thái mới của Quốc Hội được xem là một thất bại cho chính phủ Bush.

TT Bush chưa hề nói là Hoa Kỳ muốn xây dựng căn cứ dài lâu ở Iraq, nhưng các viên chức của chính phủ thì tiên đoán là sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Iraq sẽ kéo dài.

Thượng Viện Mỹ đã đồng nhất chấp thuận dự thào chi tiêu quân sự, và gửi qua cho văn phòng TT chờ chữ ký của TT Bush. Trước đó thì Hạ Viện cũnh đồng ý với tỉ lệ 394 phiếu thuận và 22 phiếu chống.

Các nhà lập pháp cũng đồng ý chuẩn thuận cho 34,8 tỉ đô la cho an ninh nội an của Hoa Kỳ. Còn các dự thảo chi tiêu khác không liên quan tới an ninh, thì phải đợi sau ngày bầu cử 7 tháng 11 mới được bỏ phiếu.

Với dự thảo mới, Quốc Hội Mỹ bằng lòng chấp thuận chiến chí cho các chiến trận tới 507 tỉ đô la, với chiến phí cho Iraq tới trung bình 8 tỉ đô la mỗi tháng, theo số liệu của cơ quan Congressional Research Service của Quốc Hội Mỹ.

Như thế mức chi phí quân sự sẽ cung cấp cho Ngũ Giác Đài khoảng 377,6 tỉ đô la cho các chương trình chính yếu, ít hơn 4,1 tỉ đô la mà TT Bush yêu cầu, nhưng cao hơn 19 tỉ đô la cho mức tiêu xài hiện nay.

Tiền lương cho giới quân sự tăng thêm 2,2%, với 557 triệu đô la cho lực lượng trừ bị của Lục Quân và cho Vệ Binh Quốc Gia cao hơn số tiền mà TT Bush yêu cầu cho hai đơn vị này.

Lê Lộc theo Reuters

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

FBI lo ngại khủng bố cấu kết với băng đảng
Sunday, October 01, 2006


WASHINGTON (AP) - Các viên chức chống khủng bố hàng đầu của FBI có rất nhiều điều để lo ngại: Vũ khí có tầm hủy diệt hàng loạt, những kẻ khủng bố xuất thân tại địa phương khó phát hiện và triển vọng những thành phần băng đảng tội phạm sẽ cộng tác với al-Qaeda nếu giá cả thích hợp.

Mặc dù chưa có bằng chứng trực tiếp nào cho thấy tội phạm có tổ chức hợp tác với những kẻ khủng bố, những dấu hiệu đầu tiên về một mối liên hệ đã nổi lên trong một hoạt động ngầm mới đây của FBI. Các nhân viên FBI đã ngăn chặn một người đàn ông có quan hệ với băng đảng trong việc bán hỏa tiễn cho một mật báo viên đóng vai một người trung gian cho khủng bố.

Trường hợp đó và những yếu tố khác đang làm gia tăng những lo ngại về việc băng đảng tội phạm hợp tác với những đệ tử của Osama bin Laden.

Các tổ chức tội phạm có thể tạo dễ dàng trong việc chuyển tiền hoặc rửa tiền, chuyển lậu người, giả mạo lý lịch hoặc mua chất nổ và vũ khí, các viên chức nói.

Các nhóm khủng bố có rất nhiều mối để họ lựa chọn.

Có năm gia đình La Cosa Nostra nổi tiếng ở New York, các nhóm tội phạm Nga ở khu Brooklyn của New York cho tới Moscow, và những tổ chức tội phạm người Á Châu đang nổi lên và hoạt động ở nhiều nước Hồi Giáo có những chi nhánh của al-Qaeda.

Một cuộc nghiên cứu được thực hiện theo hợp đồng cho Ngũ Giác Ðài mới đây đã cảnh cáo rằng ngày càng gia tăng tiềm năng tội phạm có tổ chức có thể trợ giúp cho khủng bố.

“Mặc dù khủng bố và tội phạm có tổ chức là hai hiện tượng khác biệt, sự kiện quan trọng là các tổ chức khủng bố và tội phạm gối lên nhau và hợp tác với nhau trong vài hoạt động kinh doanh,” cuộc nghiên cứu nói. “Hiện tượng hợp lực của khủng bố và tội phạm có tổ chức đang gia tăng bởi vì quân khủng bố và tội phạm có tổ chức sử dụng các phương pháp tương tự để gia tăng các hoạt động của họ.”

Việc băng đảng có thể trợ giúp một kẻ khủng bố không dính dáng gì tới ý thức hệ hoặc cảm tình mà chỉ là sự ham tiền, theo lời ông Matt Heron, người đứng đầu đơn vị tội phạm có tổ chức của FBI ở New York.

“Họ sẽ làm ăn với bất cứ ai, nếu họ có thể làm ra tiền,” ông Heron nói. “Họ sẽ bán cho một kẻ khủng bố cũng dễ dàng như họ sẽ bán cho một tu sĩ. Ðối với họ, đó là một quan hệ làm ăn.”

“Nếu băng đảng có chất nổ và một kẻ khủng bố có tiền và muốn có chất nổ, họ có thể làm bạn với nhau ngay tức khắc,” ông nói.

Vào năm ngoái, nhưng lo ngại đã gia tăng sau khi một di dân người Armenia bị bắt tại New York vì bị cáo buộc cầm đầu một âm mưu bán vũ khí quân sự cho một mật báo viên FBI đóng vài một người trung gian cho quân khủng bố.

Arthur Solomonyan đã rêu rao rằng ông ta có thể bán cho mật báo viên các hỏa tiễn đặt vai qua mối quan hệ của ông ta với tổ chức tội phạm ở Nga. Solomonyan và 17 người khác ở New York, Florida và California đã bị truy tố trong vụ này.

Các băng đảng mafia Ý, Nga và Á Châu vẫn hoạt động tích cực, đặc biệt ở New York, mặc dù chính phủ đã truy tố nhiều nhân vật trong những năm gần đây.

Trong khi tiềm năng cấu kết giữa băng đảng và khủng bố đang được FBI theo dõi chặt chẽ, các tổ khủng bố xuất thân từ địa phương và các vũ khí hủy diệt hàng loạt đang là những quan tâm lớn cho những người trong FBI được giao nhiệm vụ ngăn chặn những cuộc tấn công của khủng bố.

Internet đã trở thành một Afghanistan mới, cho phép những cảm tình viên của khủng bố truyền bá những tư tưởng quá khích của họ và tuyển mộ và huấn luyện những đi theo ngay trên các máy điện toán tại nhà họ. Ðiều đó gây thêm khó khăn cho các nhà điều tra trong việc nhận diện họ. (n.n.)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Chó đánh hơi DVD lậu tại phi trường.

Image
Lucky and Flo are the world's first DVD-sniffing dogs.


Tuần rồi, The Motion Picture Association of America (MPAA) vừa đưa ra trình làng cặp chó labrador chuyên đánh hơi DVD lậu.

Xin xem thêm ở đây:
Báo Úc SMH

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

TT Venezuela quá đà khi gọi bộ trưởng QP Hoa Kỳ là “Mr. Dog”
Oct 04, 2006
Cali Today News – Hôm thứ ba, TT Hugo Chavez cuả Venezuela đã đưa những phát biểu chỉ trích chính sách đối ngoại cuả Hoa Kỳ và gọi bộ trưởng QP Donald Rumsfeld là “Mr. Dog” và “Dog of War” (xin miễn dịch!) sau khi bộ trưởng Rumsfeld bày tỏ mối quan ngại về việc nước này mua và gia tăng kho vũ khí chiến tranh.

TT Chavez nhấn mạnh rằng việc Venezuela mua vũ khí không đe doạ đến an ninh cuả bất cứ quốc gia nào cả mà chỉ có Hoa Kỳ là mối đe doạ mà thôi. Ông Chavez thách thức Hoa Kỳ cứ hỏi TT Columbia láng giềng Alvaro Uribe xem Venezuela có phải là mối đe doạ hay không.

Cần nhắc lại rằng trong chuyến đi gặp các nhà lãnh đạo quân sự nam bán cầu tại Nicaragua tuần này, bộ trưởng Rumsfeld nói rằng ông hiểu được vì sao các quốc gia láng giềng lo ngại chuyện Venezuela lo tích trữ vũ khí.

Trong thời gian gần đây, Venezuela đã gần như đạt được các hợp đồng mua vũ khí với Nga với tổng số tiền lên đến $3 tỉ đô la, tức 2.4 tỉ euro. Theo hợp đồng này, Nga sẽ cung cấp cho Venezuela 30 chiến đấu cơ Sukhoi Su, 53 trực thăng quân sự và 100,000 khẩu súng trường Kalashnilov. Venezuela cũng là quốc gia đầu tiên ở châu Mỹ La Tinh có được giấy phép thiết lập xưởng sản xuất súng trường nói trên tại Venezuela.

Không những mua súng cuả Nga, mà theo lời cuả TT Chavez, Venezuela còn đạt được hợp đồng cung cấp thiết bị quân sự với Trung Quốc. Theo đó, TQ sẽ bán cho Venezuela ra-đa và hệ thống phòng không hiện đại nhất cùng với hoả tiễn không đối không có khả năng bắn hạ bất cứ loại máy bay hiện đại nhất xâm nhập không phận nước này.

Cần nhắc lại rằng trước đây không lâu, TT Chavez đã gọi TT Bush là “the Devil” và cáo buộc chính phủ Bush đang tiến hành âm mưu thôn tính quốc gia Venezuela trong chiến lược kiểm soát nguồn cung cấp dầu hoả to lớn này. Tuy nhiên, caó buộc trên đã bị chính phủ Bush bác bỏ.

Đăng Khoa-Source:AP

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Lễ đặt tên cho tàu hải quân USS George H.W. Bush
Chiếc tầu dài 333 mét và sẽ được sử dụng làm nơi cư ngụ và hoạt động của hơn 5000 nhân viên hải quân Hoa Kỳ
Tổng Thống Bush đã tỏ lòng tôn kính đối với quân đội Hoa Kỳ trong một buổi lễ đặt tên cho tầu sân bay mang tên thân phụ của ông là Cựu Tổng Thống George H.W. Bush.

Cả hai đương kim và cựu Tổng Thống Hoa Kỳ cùng với gia đình và hằng chục khách mời đã có mặt ngày hôm nay tại một xưởng đóng tầu ở tiểu bang Virginia. Tổng Thống Bush ghi nhận những đóng góp của các thế hệ nam nữ quân nhân Hoa Kỳ trước và bày tỏ lòng kính trọng đối với những hy sinh được thực hiện bởi một thế hệ mới.

Chiếc tầu sân bay của hải quân Hoa Kỳ trị giá sáu tỷ đô la này được đặt tên ngày hôm nay để vinh danh vị cựu Tổng Thống 82 tuổi và cũng là một cựu chiến binh có nhiều huân chương trong Thế Chiến Thứ Hai. Chiếc tầu này dài 333 mét và sẽ được sử dụng làm nơi cư ngụ và hoạt động của hơn 5000 nhân viên hải quân. Tầu này có một sân bay rộng gần hai hectares có thể dùng làm bãi đáp cho 80 máy bay.

Theo truyền thống của hải quân, một phụ nữ, trong trường hợp này là ái nữ của cựu Tổng Thống Bush, bà Doro Bush Koch, đập vỡ chai rượu vang trước mũi tầu khi tầu này được chính thức đặt tên.

Cựu Tổng Thống Bush trước đó đã nói với đám đông người có mặt trong buổi lễ rằng đây là một ngày tuyệt vời trong đời ông.

Post Reply