Re: NĂM MỚI - CHUYỆN CŨ
Posted: Wed Feb 21, 2007 2:49 am
by linhgia
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở HẢI NGOẠI BÀN LUẬN SÔI NỔI VỀ SỰ KIỆN
TRAI ĐÀN GIẢI OAN
SẮP TỔ CHỨC TẠI VIỆT NAM
ÔNG VÕ VĂN ÁI GÓP Ý BÌNH LUẬN VỀ HAI CHỮ “GIẢI OAN”
Trong cuộc phỏng vấn của Đài Phật giáo Việt Nam phát về Việt Nam hôm nay, thứ sáu 16.2.2007, ông Võ Văn Ái đã bình luận và phân tích hai chữ “Giải Oan” theo quan điểm giáo lý đạo Phật và theo quan điểm của một công dân nước Việt trước hiện tình dân tộc. Nguyên văn bài phỏng vấn ấy như sau:
Phóng viên: Thưa ông Võ Văn Ái, dư luận đồng bào hiện đang rất sôi nổi về chuyến trở về Việt Nam lần thứ hai của Sư Ông Thích Nhất Hạnh để lập đàn Giải Oan tại ba miền đất nước. Xin ông cho biết ý kiến về chuyến đi này, nhất là về chuyện Giải Oan ?
Võ Văn Ái : Đã từ lâu, Sư Ông Nhất Hạnh không còn sinh họat với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở trong hay ở ngoài nước. Nên tôi không rõ các việc làm của Sư Ông và cũng kông có ý kiến với câu hỏi đưa ra.
Phóng viên : Nhưng Sư Ông Nhất Hạnh được nhiều người biết tên, cỡ như tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, về Việt Nam làm ăn dưới thời Cộng sản cũng là một biến cố đáng có ý kiến chứ, phải không thưa ông ?
Võ Văn Ái : Những ưu tư về giải thoát chúng sinh, về no ấm, hạnh phúc cho nhân quần, thì rất nên có ý kiến. Ngoài ra, chúng ta không thể ôm đồm, bao biện đủ thứ vấn đề, nhất là ở vào giai đọan cần tranh thủ thời gian cho những điều lợi ích, chẳng hạn như vận động cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam là một. Tuy nhiên, tôi hiểu điều nhà báo muốn đề cập, là vấn đề tự do đi lại thời Nhà nước độc đảng và độc tài vừa được tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới, WTO, phải vậy không ?
Nếu đúng, thì hãy nhìn vào sự kiện gây động dư luận thế giới và cộng đồng người Việt hai, ba ngày vừa qua. Đó là việc nhà cầm quyền Hà Nội bác bỏ đơn xin đến thăm Việt Nam của ông Arne Lynngård, Chủ tịch Sáng hội Rafto ở Na Uy, là Sáng hội trao Giải Nhân quyền Quốc tế cho Hòa thượng Thích Quảng Độ cuối năm ngoái. Mục tiêu chuyến đi của ông là đến Saigon viếng thăm Hòa thượng Thích Quảng Độ, và ra Hà Nội gặp gỡ các giới chức đảng và chính quyền để tìm hiểu chính sách nhân quyền và tôn giáo cũng như những cam kết cải cách dân chủ mà ông tân thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố hứa hẹn năm ngoái.
Nếu quả là hiện nay có tự do đi lại thực sự cho mọi người, thì sao Hà Nội không cấp giấy nhập cảnh cho một nhân vật quốc tế, là ông Chủ tịch Sáng hội Rafto ? Chỉ ví dụ này thôi, đủ phát giác thứ chủ trương độc tài lạc hậu « đấu tranh giai cấp » của Nhà nước Cộng sản. Chủ trương này khẳng định lập trường phân biệt bạn thù phân minh. Ai theo mình, bợ đỡ mình thì cấp chiếu khán, ai bị nghi là thù thì tức khắc đóng cửa đuổi đi.
Phóng viên : Còn việc lập đàn Giải Oan của Sư Ông Nhất Hạnh, mà Giáo phái Làng Mai cho biết theo truyền thống Trai đàn Thủy lục của Phật giáo, là vấn đề « thuần túy tôn giáo » thì ông nghĩ sao ?
Võ Văn Ái : Trên kia tôi đã trả lời và cho biết lý do vì sao tôi không muốn đưa ra ý kiến gì về Sư Ông này. Tuy nhiên thành ngữ « thuần túy tôn giáo » mà nhà báo dùng, cần đặt lại cho đúng. Tôn giáo là tôn giáo. Kéo thêm chữ « thuần túy » vào có thể gây ngộ nhận là cách hành xử tôn giáo như thế chưa chắc là một hành động tôn giáo.
Trong lĩnh vực tôn giáo, thì tôi có thể góp ý. Chẳng hạn như việc « lập đàn giải oan », « trai đàn thủy lục » chẳng hạn.
Trai đàn thủy lục là pháp hội bố thí trai thực cho các loài hữu tình dưới nước và trên bờ để giúp các loài qủi. Pháp hội này xuất hiện bên Trung quốc. Nguyên vào đầu thế kỷ thứ 6 Tây lịch, vua Lương Vũ Đế bên Tàu nằm mộng thấy vị thần tăng dạy thiết lập « Thủy lục trai » nhằm cứu độ tất cả chúng sinh trong 4 loài lăn lóc nơi 6 đường dữ. Từ đó trở thành truyền thống cúng cô hồn suốt 14 thế kỷ qua tại một số nước Châu Á. Nước ta từ nhiều đời có truyền thống Xá tội vong nhân rất long trọng và phổ biến, tổ chức vào ngày Rằm tháng Bảy âm lịch nhân dịp lễ Vu Lan mỗi năm, cũng là thời chư Tăng Ni xuất hạ sau 3 tháng an cư.
Từ ngày có tin sau Tết sẽ tổ chức 3 Trai đàn Giải oan ở ba miền đất nước, thì dư luận người Việt ở hải ngọai thông qua các báo đài hay trên Internet rất sôi động về hai chữ Giải Oan. Theo tôi, vấn đề quan thiết và chính yếu trong lúc này là Giải Oan cho ai ? Những ông bộ đội Miền Bắc chiến đấu cho lý tưởng Quốc tế Cộng sản, cho các lãnh tụ Lénine, Staline, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh họ hy sinh thân xác cho lý tưởng này, họ ý thức cái chết của họ là cái chết của những anh hùng, liệt sĩ. Họ đâu có chết oan ? Quân sĩ Việt Nam Cộng hòa tham chiến trong lý tưởng bảo vệ tự do và dân tộc, cũng chết như những anh hùng giữ nước. Họ có chết oan đâu ? Những người Vượt Biển ra đi lánh nạn độc tài Cộng sản, mong gióng lên trên thế giới Thông điệp tự do của một dân tộc bị áp bức. Số người chết trên biển, theo Cao ủy Tị nạn LHQ, xuýt xoát một triệu người. Người Vượt Biển ý thức về hành động Vượt Biển, về sứ mệnh tự do. Nên họ cũng không chết oan, mà chết vì rủi ro, tai nạn.
Trái lại, điều phải công nhận là có những cái chết oan ức suốt 60 năm qua trên đất nước ta. Đó là những đảng viên thuộc các đảng phái quốc gia bị Việt Minh cộng sản cố tình thanh toán, giết oan từ năm 1945. Trong cuốn sách « Nhận định về những Sai lầm tai hại của Đảng Cộng sản đối với Dân tộc và Phật giáo », Hòa thượng Thích Quảng Độ tả rõ cảnh Cộng sản thảm sát Sư phụ ngài, là Hòa thượng Thích Đức Hải, nơi sân đình làng Bặc ở tỉnh Hà Đông ngày 19.8.1945. Hòa thượng cũng nhắc tới vụ Cải cách Ruộng đất, với con số xử oan, giết oan 700.000 người, những hầm chôn tập thể ở Huế khi Cộng quân chiếm lĩnh thành phố gây ra. Không riêng Hòa thượng Quảng Độ, mà đã là người Việt Nam, thì từ Bắc chí Nam không ai là không biết các thảm cảnh khủng khiếp này.
Còn phải kể thêm những người bị hành quyết, bị chết mòn, chết đói, chết vì thiếu thuốc men trong hơn 150 Trại Cải tạo sau năm 1975. Hai giáo sư người Mỹ, ông Karl Jackson và bà J. Desbarats, ở Đại học Berkeley bên California đã làm một cuộc điều tra, nghiên cứu và lập thành hồ sơ Trại Cải tạo công bố năm 1984. Theo hai vị này, thì thời khoảng 1975 đến 1983, có 65.000 tù nhân bị Công an cộng sản hành quyết trong các Trại Cải tạo. Chưa kể đến số người chết vì bệnh, vì bị ngược đãi, vì bị bị trúng mìn khi đi gỡ mìn theo lệnh quản giáo, hoặc số tù nhân tự tử.
Đấy, giải oan là giải oan cho những vong hồn bị bức tử như thế, bằng tấm lòng thành thật và tinh khiết, với sự hộ trì trang nghiêm của một tập thể Tăng già. Đây là chuyện linh thiêng, chứ không phải là chuyện đùa giỡn hay bốc đồng theo thế cuộc.
Trong bản văn bi hùng độc nhất vô nhị của nước ta do thi hào Nguyễn Du sáng tác, có tên là Văn tế Thập loại chúng sinh, thì mười loại chúng sinh kể ra trong bài văn tế, những người chết mà tôi vừa kể trên chỉ nằm trong hai phần nhỏ ở loại thứ mười mà thôi. Lọai chúng sinh thứ mười trong bài văn tế của Cụ Nguyễn Du gồm có : kẻ ăn mày chết cô đơn, người tù chết trong ngục, hài nhi chết yểu và người chết vì các nạn. Đấy là mười loại chúng sinh thường thấy ở thời của Cụ Nguyễn Du, mà người Cộng sản gọi là « thời phong kiến ». So ra, chúng ta phải giật mình kinh hãi cho quá nhiều lọai người chết dưới triều đại Xã hội Chủ nghĩa ngày nay, nhưng các hạng người này chưa hiện diện trong Thập lọai chúng sinh ở thời đại cụ Nguyễn Du. Tôi muốn mở ngoặc ở đây để nói tới quan điểm lịch sử sai lầm của một số sử gia Cộng sản ở Hà Nội. Tại Việt Nam không hề có thời nào có thể gọi là thời phong kiến theo định nghĩa của từ phong kiến bên Châu Âu thời trung cổ. Cũng không hề có chế độ Nông Nô dưới thời Lý, thời Trần như sử gia Cộng sản Hà Nội học mót và a dua theo quan điểm Mác – Lê Nin.
Phóng viên : Nhưng cái mới trong việc Giải Oan của vị Giáo chủ Làng Mai là kết hợp các khối kinh điển Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Mác-Lênin. Ông có thấy đây là một Giáo lý Nhân bản mới không ?
Võ Văn Ái : Tôi đã nói tôi không muốn đề cập chuyện của Sư Ông Nhất Hạnh. Nhưng có thể góp ý về vấn đề tín ngưỡng. Nhân bản là lấy gốc người làm trọng, vậy thì phải nhớ rằng xã hội Cộng sản là một xã hội không có con người. Nó là xã hội trại lính, trại thú. Con người là con số không trong tập thể. Một Giáo lý Nhân bản không thể xuất hiện trong một xã hội như thế.
Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo... là những tôn giáo. Giải thích và hành trì giáo lý tuy có khác, nhưng các tôn giáo này có chung cùng mục tiêu hoàn thiện và thăng tiến con người dựa vào lòng từ bi, bác ái, nhân phẩm, tâm linh. Các tôn giáo này có thể chung cùng cộng tác trong một số công tác xã hội, chẳng hạn như vãn hồi hòa bình, nhân quyền, dân chủ, từ thiện, v.v... Còn cái tôn giáo mới của chủ nghĩa duy vật Mác-Lênin thì đặt nền tảng trên ý thức hệ « đấu tranh giai cấp », tất nhiên lấy căm thù làm sức mạnh chiến đấu, lấy bạo lực chuyên chế cướp chính quyền. Ý thức hệ này là tác giả thảm sát hàng triệu dân oan trong Cải cách Ruộng đất, trong Mậu Thân Huế, trong chiến tranh, v.v... Một bên là các tôn giáo cứu người, còn bên Cộng sản thì giết người. Giết người vì lý do cao cả gì chăng nữa vẫn là sự giết người. Muốn giải oan trong hoàn cảnh đó, thì phải chận đứng sự giết người bằng cách này hay bằng cách khác. Nhưng phải CHẬN ĐỨNG, phải có thái độ và hành động chận đứng sự giết người. Hệt như tước con dao trong tay thằng điên.
Sẽ khôi hài biết bao trong một cuộc lễ, mà chúng ta phải trố mắt nhìn một ông đọc kinh Đấu tranh Giai cấp, một Linh mục đọc Thánh kinh, một vị Sư đọc Mông sơn thí thực... Đối chõi như thế thì làm sao giải oan cho những vong hồn ôm lòng oán giận và muốn trả thù, gọi là oán linh, những người ôm lòng oán giận và muốn báo thù, gọi là sinh linh, những người sau khi chết hiện ra những hình tướng biểu thị lòng giận ghét, gọi là tử linh ?! Cảnh khôi hài cải lương này có giải oan được cho oan hồn uổng tử không ?
Phóng viên : Thế thì chẳng còn cách gì Giải oan nữa hay sao ?
Võ Văn Ái : Có chứ. Các ngày rằm và mùng một, người Phật tử tụng sám, tức sám hối, để thanh tịnh hóa tâm hồn mình đồng thời giải oan cho muôn loài. Mỗi năm vào ngày Rằm tháng Bảy có lễ hội Xá tội vong nhân mà Phật giáo mà dân tộc ta thực hiện qua bao nhiêu thế kỷ rồi. Bên Công giáo, Tin Lành có lễ Rửa tội và Giải tội. Vân vân. Chuyện hằng ngày của các tôn giáo trải qua hàng chục thế kỷ rồi, chứ đâu phải là chuyện chưa hề có.
Ý kiến tôi trong vụ này là phải khẩn thiết nỗ lực giải oan cho NGƯỜI HIỆN ĐANG SỐNG. Vì những người đã chết kia cũng là những người từng sống như chúng ta ngày nay. Những người ấy còn sống trước ngày phát động Cải cách Ruộng đất, trước Tết Mậu Thân Huế, trước ngày bom nổ đạn bay (do ai gây ra ?), trước ngày bị lùa vào 150 Trại Cải tạo sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975.
Người đang sống ngày nay, trừ hai triệu rưởi đảng viên Cộng sản, trên 80 triệu dân lành hiện phải chịu đựng đủ thứ oan ức, bức hiếp. Mỗi ngày có hàng trăm phụ nữ dân oan kéo ra vườn hoa Mai Xuân Thưởng kêu cứu. Có những người kêu oan từ mười, mười lăm năm mà nhà cầm quyền Hà Nội từ chối giải quyết. Có ai đây, là đấng trượng phu, là sĩ phu thời đại ra tay Giải Oan cho họ ? Tôi xin gióng lên câu hỏi này.
Phóng viên : Câu hỏi trên đây của tôi cũng hàm ý là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hiện nay có hành động gì nhằm Giải oan không ?
Võ Văn Ái : Ngày 2.11.75, 12 Tăng Ni tự thiêu tại Thiền viện Dược sư ở Cần Thơ phản đối chính sách đàn áp tôn giáo và nhân quyền của Nhà nước Cộng sản, là 12 Ngọn Đuốc Giải Oan cho người sống cũng như người chết. 30 năm sau, danh sách của những ngọn đuốc như thế lên tới con số 22 Tăng Ni và Phật tử trong và ngoài nước, trong đó có cả một nữ sinh viên người Đức tự thiêu tại Saigon để phản đối chính quyền đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. 22 là con số tìm được trong một thể chế thiêu đốt sách và tài liệu nào không nằm trong dòng ý thức hệ Cộng sản. Thực tế, con số này còn cao hơn. Tôi còn nhớ năm 1981, khi Giáo hội Phật giáo Nhà nước ra đời đến cưỡng chiếm trụ sở Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở chùa Ấn Quang, giáo hội nhà nước này đã đốt các tài liệu của Viện Hóa Đạo trong vòng 5 ngày mới xong.
Ngoài ra, tất cả các văn kiện của hai Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo do Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Độ viết ra đều đề cập và đưa ra hành động thỏa đáng nhằm Giải trừ Oan ức cho 83 triệu dân đang sống.
Cụ thể như nhân ngày Nhà nước Cộng sản kỷ niệm 25 năm ngày Đại thắng 75. Hòa thượng Thích Huyền Quang viết bức thư hôm 21.4.2000 từ Nghĩa Hành nơi ngài bị giam giữ ở tỉnh Quảng Ngãi, gửi giới lãnh đạo Hà Nội, đề nghị lấy ngày 30.4 mỗi năm làm « Ngày Sám hối và Chúc sinh toàn quốc ». Hòa thượng đòi hỏi cho Linh quyền người chết qua hành động sám hối công khai của Đảng Cộng sản, và Nhân quyền cho người sống qua việc thực thi dân chủ đa đảng.
Xin nhớ đề xuất và hành động cụ thể nhằm Giải Oan cho người chết cũng như người sống được vị lãnh đạo tối cao của Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất công bố từ bảy năm trước, năm 2000, chứ không phải đợi đến hôm nay, 2007, mới toan tính. Hành động này cụ thể phải do người gây tội, là Đảng Cộng sản tác nhân các vụ thảm sát, đứng ra chủ trì, chứ không là kẻ bị thảm sát, kẻ bị oan ức xin xỏ giải oan. Vì những oan hồn uổng tử này đã có lịch sử ghi nhận nỗi oan khiên của họ trên lá rừng và trời cao.
Linh quyền cho người chết là những ai ? Hòa thượng Huyền Quang kê rõ trong thư : 3 triệu người chết trong chiến tranh, binh sĩ Việt Nam Cộng hòa, 300.000 bộ đội mất tích theo số liệu Hà Nội, 700.000 người bị giết trong Cải cách Ruộng đất, 100.000 người bị hành quyết trong các Trại Cải tạo, một triệu người bỏ thân trên đường Vượt Biển, hàng chục nghìn người bị giết trong vụ Mậu Thân, v.v...
Nhân quyền cho Người sống là gì ? Là bỏ ngay châm ngôn « Dân biết dân câm họng, Đảng biết đảng bỏ tù », bỏ ngay ý thức hệ « đấu tranh giai cấp » và « chuyên chính vô sản ». Thực hiện cụ thể bằng việc nhân Ngày 30.4, Đảng Cộng sản chính thức công bố lời Sám hối trước toàn dân, người chết cũng như người sống, về những sai lầm, những tội lỗi mà Đảng Cộng sản vi phạm trong suốt lịch sử cận và hiện đại.
Phóng viên : Xin cám ơn ông Võ Văn Ái và xin hẹn quý thính giả ở Câu Chuyện Cuối Tuần vào thứ Sáu tuần tới, cũng vào giờ phát thanh này.--
============
Posted: Thu Mar 29, 2007 3:31 am
by linhgia
Thiền Đạo: Một thế giới Phật Giáo nhân bản hoàn toàn khác biệt với thiền ôm bụt giáo của Sư ông Nhất Hạnh
Mường Giang - đăng Mar 24, 2007
Từ Úc Đại Lợi, mới đây Hòa Thượng Huyền Tôn có gửi tới sư ông Nhất Hạnh một bức thơ, trong đó có đề cập tới “Bụt Đạo và Thiền Ôm”, do nhà sư ở Làng Mai làm giáo chủ. Thật sự đây cũng chẳng có gì lạ, đối với chuyện “tu đạo” của sư ông, mà hầu như ai cũng biết hết, qua Hoa Sen Trong Biển Lửa thời Việt Cộng xâm lăng VNCH, tới những chuyện làm mới đây như: Thuyết pháp tại Nhà thờ Riderside Church ngày 25-9-2001 có đăng quảng cáo trả tiền trên tờ New York Times. Sau đó sư ông bị Hội ký giả VN Hải Ngoại mở cuộc hội luận tại thành phố Westminster ngày 14-10-2001, tố cáo sư ông bịa chuyện nói láo “Vụ ném bom thành phố Bến Tre 300. 000 người, vào Tết Mậu Thân 1968”. Chưa hết, Tết này, sư ông và sư bà Nhất Hạnh lại dẫn tăng đoàn “Làng Mai” về VN lần thứ 2, để “Lập đàn Giải Oan” mà theo lời kêu gọi “hãy quên quá khứ, để xóa bỏ hận thù”, được viết trong bài “phổ cáo quốc dân và đồng bào Bụt tử (chứ không phải Phật Tử), có kèm theo cảnh máy bay trực thăng đầy trời với hình hai vĩ nhân “Tướng Võ Nguyên Giáp (phó thủ tướng phụ trách cai đẻ của CSVN) và sư ông Nhất Hạnh (giáo chủ Bụt đạo và Thiền ôm, anh hùng đánh Mỹ cứu nước XHCN thời Chiến tranh VN).
Chân lý của Phật Giáo từ mấy ngàn năm về trước, căn bản vẫn là con đường Đạo Đức và Chánh Pháp, do Phật Tổ Như Lai vạch ra nhưng chính chúng sinh tự mình, phải đi tìm chân lý của nguồn khổ để diệt khổ. Cho nên trong Tứ Diệu Đế quẩn quanh cũng chỉ có một chữ duy nhất “KHỔ” vì bệnh, già, tham sân si, ảo vọng, vô thường.... Tóm lại muốn diệt Khổ, mọi người phải đi trên con đường Bát Chánh, tuân theo Ngũ Giới: Cấm Sát Sanh, Dâm Loàn, Tửu Sắc, Đạo Tặc và Ngoa Ngữ.... Nói một cách khác, qua Triết Lý và Trí Tuệ của Phật Giáo, sư ông Nhất Hạnh hoàn toàn không có một chỗ đứng, dù nhỏ nhoi hay khiêm nhường trong cửa Phật, thì nói chi tới chuyện đòi sánh vai với hàng Tôn Đức Phật Giáo, trong quá khứ cũng như hiện tại, nhất là đối với các vị Cao Tăng, đang xả thân chống lại đảng Việt Cộng tại quê nhà như Thầy Huyền Quang, Quảng Độ, Thiện Minh, Tuệ Sỹ, Trí Siêu....
Còn một điều cực kỳ quan trọng khác, cũng cần phải nói rõ: Đó là giáo pháp của Bụt Đạo và Thiền Ôm do sư ông Nhát Hạnh làm giáo chủ, cũng hoàn toàn không có ăn nhập gì tới Giáo Lý Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng. Sở dĩ có sự lầm lẫn này, vì các tín đồ của Giáo Phái trên, mà hầu hết là người Tạng, Mông và Mãn Châu.... có thờ Song Tôn Phật (còn gọi là Hoan Hỉ Phật), qua cảnh Nam Nữ ôm nhau, trong tư thế như đang hành lạc. Sự thật, đây chỉ là một biểu tượng của sự tu trì, của các vị cao tăng, để đạt tới cảnh giới “Vô Thượng Du Gia Bộ”. Cùng trong ý nghĩa này, Nam Giới coi như đại diện cho “Trí Tuệ”, còn phụ nữ thì tượng trưng cho “Thiền Định”. Sự kết hợp Nam Nữ là cảnh giới cao nhất của sự tu trì, mà Mật Tông gọi là “Định Tuệ Song Tu”, mà vị Hoan Hỉ Phật được coi như Hộ Pháp...
Trong chùa vốn không có Phật vì Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện, đó chính là Phật. Bởi vậy, VN mới có câu tục ngữ “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là tu thân”. Đây cũng là mục đích và ý nghĩa của Thiền Đạo, được coi như một thế giới của Phật Giáo Nhân Bản, mà hiện nay khắp nhân loại đang tìm tới, để tự mình trai giới, tiến tới con đường chân, thiện, mỹ...
Năm 1957 tại thủ đô Mexico của Mễ Tây Cơ, trong cuộc hội thảo thế giới về Thiền và Phân Tâm Học. Tại đây, nhà khảo cứu đạo Phật là giáo sư Erich Fromm, đã căn cứ vào định nghĩa của Thiền Sư người Nhật là Suzuki mà minh định: “Thiền là nghệ thuật nhìn vào bản tính của hiện hữu mình. Đó chính là con đường dẫn chính ta từ hệ lụy do bản năng gây ra, tiến tới sự tự do của tâm thức. Đó là phương tiện giúp ta ngăn chận khỏi sự điên rồ của tinh thần, sự tàn phế của cơ thể và trên hết thúc đẩy ta dám công khai bộc lộ, cái khả năng hạnh phúc và thương yêu mọi người chung quanh mình.
Là Phật tử hay các nhà biên khảo-nghiên cứu, không ai không thấu triệt về những danh hiệu của các vị bồ tát trong Phật Môn. Nhờ đó ta biết Quán Tự Tại Bồ Tát cũng chính là Quan Thế Âm, được dịch từ Phạn Ngữ Alavokitesvara. Riêng danh từ Bồ Tát, cũng từ Phạn Ngữ Bodhi sattva, có nghĩa là người đã giác ngộ rồi NHƯNG vì thế nhân mà phải nán lại trần tục để giúp cho chúng sinh, cùng giác ngộ và thức tỉnh như chính mình. Tóm lại, dù có dựa vào tài liệu nào hay định nghĩa gì chăng nữa, thì cuối cùng danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát, tức là Bồ Đề Tát Đỏa. Đó là người đã giác ngộ trọn vẹn rồi nhưng vì chúng sinh, mà chưa thể làm Phật, hoặc đã thành Phật nhưng do thệ nguyện, mà cam chịu làm chúng sinh để cứu độ thế nhân, đang chịu trầm luân trong bể khổ.
Ngày nay sau hơn hai ngàn năm hiện hữu của Phật giáo, chúng sinh mới hiểu thấu các vị Bồ Tát, chính là những Vị Phật hữu tình, từ bi rất là người và vì người mà cười vui giúp đời giác ngộ. Cho nên ta không ngạc nhiên khi nghe lời Phật giảng là tượng ta cũng chỉ là gỗ cây, khi cần có thể chẻ làm củi hay nhìn thấy hầu như tất cả các tượng Phật đều chắp tay mỉm cười với hình thái vô cùng, vô lượng. Đó vì Phật lúc nào cũng từ bi, biết lắng nghe tiếng kêu than của người trần thế. Chỉ bao nhiêu đó cũng đủ rồi, cũng khiến cho những kẻ khổ đau hoạn nạn được an ủi, hy vọng, vì biết rằng trong niềm đau của mình, đã có người khác xẻ chia cứu giúp. Đó không phải là từ bi hỉ xả hay sao? giống như nước thánh cam lồ, chứa trong bình tịnh thủy mà Bồ tát Quan Âm, luôn có trong tay, để bất cứ lúc nào, cũng kịp thời “cứu khổ cứu nạn” mọi người trong muôn ngàn hoàn cảnh.
Phật Môn hiện có thiên kinh vạn quyển, mục đích cũng chỉ để giúp chúng sinh, bước vào thế giới của Hành Thâm Bát Nhã để vào cõi ngộ “chiếu kiến ngủ uẩn giai không”. Nhưng đâu có phải cứ tham thiền hay tụng tâm kinh vài ba chục năm, là đã thực sự tiếp nhận và hành trì đã quán chiếu thâm sâu lẽ đạo. Trong lúc mặt thật là phải thực chứng, đốn ngộ, thương người, yêu nước, chứ không phải học thuộc, tu lâu, suy luận là đại công cáo thành và làm thầy thiên hạ được.
Thiền đạo là con đường mà chúng sinh phải thực chúng, nếm trải và sống bằng tâm kinh, giúp ta tự vượt qua những lo âu phiền lụy, cũng như nguy cơ bệnh tật, sinh tử, tới từ mọi phía. Thế nhân đi tìm nẻo tới cõi thiền xưa nay, thường bối rối hay khựng điếng trước những tài liệu cao siêu qua các công án, huyền thoại, những tình tiết ly kỳ khó hiểu, khiến cho người sau luôn hoài nghi, phải chăng thiền môn có một bí quyết nào giúp đời, mà vẫn cố giấu? Ngày nay ta biết, thiền không phải là phương pháp tự hủy diệt tri thức, để biến thành trì độn, mới ngộ được. Nhưng chắc chắc ai cũng biết, bát nhã là một tri thức và Thiền, chính là một khoảnh khắc nào đó, làm cho ta chợt biến thành người vô tư lự trong cõi hư không, chẳng suy nghĩ, hết toan tính và như có như không, trong cõi hồn nhiên tĩnh mịch. Hơn hai ngàn năm về trước, Phật đã dạy chúng sinh thiền tâm, qua kinh “Quán Niệm Hơi Thở”, vì bất cứ ai, khi thiền đã định, thì tâm mới được yên, mà bước vào cõi tu trì với nghiệp duyên sinh, duyên khởi, vô ngã, vô thường... không vướng bận.
Các vị thiền sư ngày nay cũng thường thuyết giảng: “Người biết nghe là nghe những tiếng vô thanh, người biết nhìn là nhìn được thế giới nội tâm”. Nói chung ai cũng đều nghe thấy nhưng khó có ai, dám nói là mình đã nghe thấy sự thật, vì sự đời là cõi phù du, thấy vậy mà không phải vậy, nên quý nhất là học tĩnh lặng để mà lắng nghe sự thật của lương tâm khi không còn bùn nhơ vấy bám. Vào chùa, tình cờ xuống nhà hậu, ngang qua những vò muối tương, rất lấy làm lạ vì miệng vò bị bịt kín, cớ sao hương thơm từ trong, càng thơm ngào ngạt? Đó không phải là giống như cấm ngữ hay phép “ninh tĩnh chi viễn” của nhà Phật hay sao? Chính Lão Tử cũng đã từng nói: “ngũ sắc làm mắt ta mù, ngũ âm làm tai ta điếc”, mắt nhìn, tai nghe, miệng nói nhưng chắc gì ta không mù, không điếc, trong thế giới xô bồ của âm thanh âm sắc? Ludwig Van Beethoven bị điếc từ thuở nhỏ, nhưng lớn lên lại trở thành một nhạc sư vĩ đại của nước Áo và thế giới. Ngoài ra còn có Helen Keller bị khuyết mục bẩm sinh, nhưng sau đó cũng trở thành một nhà bác học. Điều đó cho thấy, có một thế giới đặc biệt, ở đó thế nhân không thể ngó-nghe, qua các giác quan bình thường của con người. Thế giới này, chính là cõi Thiền, mà cách đây hơn ngàn rưởi năm, Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã phải trải qua 9 năm diện bích mới đốn ngộ.
1- Huyền thoại về Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma và Thiếu Lâm Tự
Thiếu Lâm Tự được xây dựng trong rặng Trung Sơn, thuộc tỉnh Hà Nam, xưa nay cũng vẫn là một ngôi Phật Tự, chẳng những nổi tiếng nhất tại Trung Hoa, mà còn vang danh trên thế giới, về các huyền thoại có liên quan tới võ thuật nhưng trên hết, đây chính là nơi mà Bồ Đề Đạt Ma đã chọn đưa Thiền Phái, từ Ấn Độ vào với Phật Giáo Trung Hoa.
Thiền là một minh triết truyền thống của Á Đông và hơn một ngàn năm trăm năm về trước, được du nhập vào Nhật Bản, dưới danh xưng là ZEN. Đây là một danh từ, phiên âm qua Phạn Ngữ DHYĂNA, tức là Tĩnh Lự hay Im Lặng mà suy nghĩ. Tóm lại, dù ở đâu, ý nghĩa của Thiền cũng vẫn giống nhau vì đời sống của Thiền, là phải đối xử với chính mình và thế gian, bằng một tâm thức yêu mến và tôn kính nhất. Do tinh thần vi tha bác ái và tính khoan dung, cho nên Thiền ngày nay, đã vượt khỏi biên giới của Châu Á, ảnh hưởng càng ngày càng rộng tới nhiều nước Âu Mỹ.
Theo truyền thuyết được ghi trong sử liệu, thì nhân vật sáng lập ra Môn Phái Thiếu Lâm, chính là Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma. Năm 470 sau Tây Lịch, Ngài đã tới Trung Hoa bằng thuyền buồm và lưu tại nước Lương ở miền Nam, là một trong những nước rất sùng kính Phật Giáo, thời Nam Bắc Triều. Nhưng vì tư tưởng không phù hợp, nên ngay trong lần tiếp kiến đầu tiên, Vua Lương Võ Đế, mặc dù rất mộ đạo, cũng đã nổi giận và ra lệnh đuổi Đạt Ma ra khỏi nước.
Rời Lương, nhà sư sống những ngày lang bạt, qua cuộc hành trình về phương bắc, sau khi vượt qua sông Trường Giang mênh mông sóng cuộn, trong mùa nước lũ. Tại đây, Đại sư đã bị cảnh hoang dại nhưng đầy hùng vỹ của rặng núi Trung Sơn, thuộc tỉnh Hà Nam, lúc đó đã có ngôi cổ tự Thiếu Lâm, được xây dưới chân núi, đứng ẩn mình trong rừng cây rậm rạp, quyến rũ và mời mọc. Do bản tính thích tịch mịch, nay bỗng dưng ngộ được chốn muôn bề hoang vắng, cô quạnh. Vì vậy người quyết định ở lại tham thiền, trong một hang động nhỏ, phía sau chùa. Sau đó trải qua nhiều năm, ông đã ngồi diện bích bất động, mặt hướng vào vách núi, không để ý tới ngoại cảnh, bốn mùa. Tính chung Bồ Đề Đạt Ma đã diện bích, trong hang đá, hơn 9 năm mới đắc đạo và tại đây, mặt trời cũng đã thiêu cháy cái bóng của nhà sư trên vách núi. Phiến đá này, về sau được các đệ tử của Ngài, đem về trưng bày trong chùa Thiếu Lâm, tới nay vẫn còn nguyên vẹn.
Hiện có nhiều giai thoại, liên quan tới sự tham thiền của Bồ Đề Đạt Ma như chuyện Ngài, tự cắt phăng đôi mí mắt của mình, để không buồn ngủ khi tham thiền và thịt này, về sau mọc thành cây Trà. Việc Đạt Ma thu nhận Thần Quang (Tuệ Khả), Huệ Dương và Sinh Châu làm đệ tử, cũng là những giai thoại đặc biệt, cho thấy tất cả đều từ những cơ duyên mà có. Và chính nhờ những người đệ tử tài ba này giúp sức, trong việc phiên dịch và chú giải các kinh sách Phật Môn, từ Phạn sang Hoa ngữ hay ngược lại, mà quan trong nhất là bộ kinh Sutras. Chính hai đại sư Huệ Dương và Sinh Châu, đã giúp Bồ Đề Đạt Ma, đem võ thuật Trung Hoa, từ ngoài vào chùa Thiếu Lâm. Vì là người nổi tiếng hành đạo thời đó, nên năm 552 vua Hiếu Xương đã xây cho Đại Sư Sinh Châu, một ngôi chùa riêng tại sườn phía nam Long Son, trong dãy Thánh Thất. Tại đây, Ngài đã viết hai bộ kinh về Thiền Đạo.
Riêng Bồ Đề Đạt Ma sau khi rời hang đá, đã đem phép thiền định truyền lại cho các đệ tử nhưng ít người đốn ngộ nổi vì hay bị ngủ gục và không thể chịu dựng được sự tham thiền dài ngày, trong một hoàn cảnh khắc nghiệt. Sau khi tìm ra lý do bế tắc, Đạt Ma đã đem các phương pháp luyện tập cơ thể từ YOGA, mà Ngài từng học, giúp đệ tử tăng cường phát triển nội lực để giải trừ mọi căng thẳng về thể xác lẫn tinh thần.
Tất cả đến nay vẫn còn là huyền thoại, kể cả việc giảng dạy và luyện tập võ thuật, cũng như câu chuyện về căn phòng ngầm dưới mặt đất, ở trong chứa đầy máy móc và các mộc nhân võ sĩ. Theo truyền thuyết, đây chính là nơi cuối cùng để trắc nghiệm tài nghệ cũng như lòng dũng cảm của các nhà sư trẻ và các tăng đồ khi xuống núi. Nhưng chắc chắn theo sử liệu, chính Thiếu Lâm Tự là nơi đầu tiên mà Bồ Đề Đạt Ma đã đưa Thiền Đạo Phật Môn tới Trung Hoa và gây ảnh hưởng lớn sang Nhận Bản, trở thành ZEN sau này. Chùa Thiếu Lâm cũng là nơi phát xuất nền võ thuật Phật Học đầu tiên tại nước Tàu bằng phương pháp hòa hợp giữa tinh thần và thể xác, đã thu hút bao nhiêu thế hệ, suốt 1500 năm qua, đến nay vẫn tiếp tục và càng được phát huy tốt đẹp, làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực, sách báo, kể cả phim truyện để viết về một ngôi chùa danh tiếng nhất hoàn vũ.
2- Các vị Tổ Thiền Tông
+ Sư Tổ Thiền Tông và Thiếu Lâm Tự: Bồ Đề Đạt Ma
Như đã viết trên, Bồ Đề Đạt Ma chính là Tổ Thứ Nhất của Thiền Tông. Theo Phạn Ngữ, tên Ngài là Bodhidharma, sinh vào khoảng thế kỷ thứ V sau tây lich. Ngài là con thứ 3 của vua Hương Chi, nước Quốc Hương, ở miền nam Ấn Độ, với tục danh là Bồ Đề Đa La. Là người có tướng mạo bề ngoài rất hung dữ, da đen sì, râu quai nón, mắt trắng dã với hàng lông mày co quắp lại. Nhưng lại có trái tim bồ tát hiền từ và tâm hồn nghệ sĩ phóng khoáng, học hành thông thái, hiểu biết sâu rộng và tâm tính thích trầm tư tĩnh lự. Do lòng mộ đạo Phật truyền thống, nên sau khi Vua cha băng hà, Ngài đã xin phép gia đình xuất gia và được sư phu là Đại Sư Bát Nhã Đa La, ban pháp danh là Bồ Đề Đạt Ma.
Năm 520, dù lúc đó gần 80 tuổi nhưng nhớ lời dặn dò, Đạt Ma đã tới Trung Hoa để truyền đạo. Ngài đến nước Lương ở Quảng Châu, được Lương Võ Đế tiếp kiến. Sau đó vào nước Ngụy ở Lạc Dương và lên chùa Thiếu Lâm ở núi Trung Sơn, Hà Nam, quay mặt vào vách núi, thiền định suốt 9 năm mới đốn ngộ. Sau đó, do lòng thành khẩn của Vua Ngụy Hiếu Minh Đế, nên Tổ Đạt Ma đã đem Phật Pháp, truyền giảng cho dân chúng nước Ngụy. Năm 529 sau TL, Đạt Ma truyền Y Bát Chưởng Môn, cho đại đệ tử là Tuệ Khả rồi viên tịch. Hiện nhục thể vẫn còn tại bảo tháp chùa Định Lâm, trên núi Hùng Nhĩ, Trung Hoa.
+ Tuệ Khả, Tổ Thứ Hai
Ngài thuộc tôn thất nhà Chu, họ Cơ, sinh năm 494 ở Võ Lao, Trung Hoa. Đầu tiên xuất gia học đạo tại chùa Thiên Long Môn ở Hương Sơn với Thiền Sư Bảo Tịnh, nên được thầy cải danh từ Cơ Quan thành Thần Quang. Sau đó tới chùa Thiếu Lâm, thọ giáo với Tổ Bồ Đề Đạt Ma, được đổi tên là Tuệ Khả và được truyền Y Bát, trở thành Tổ Thứ Hai của Thiền Tông vào năm 529.
Năm 536, Ngài thu nhận một đệ tử, qua ngộ lý bất nhị, tên là Tăng Xán và truyền giao y bát. Sau đó ngài qua Nghiệp Đô giảng đạo và làm đủ mọi nghề để tùy nghi phổ độ chúng sinh. Vào năm 601, khi ngài đã 107 tuổi, đến giảng đạo tại Huyện Quảng Thành thì bị nhà sư tại chùa Khuôn Cửu, tên Biện Hòa, vì ganh tị nên vu cáo với Huyện Quan là Địch Trọng Khản. Ngài bị gia hình và viên tịch trong ngục. Sau đó, nhục thể được đệ tử đưa vào bảo tháp ở chùa Từ Châu.
+ Tăng Xán, Tổ Thứ Ba
Sinh vào khoảng thế kỷ thứ V nhưng không rõ quê quán. Theo sử liệu, thì vào năm 40 tuổi và đang mang bệnh ghẻ lở cùng mình, Ngài Tăng Xán tìm tới xin làm đệ tử của Tổ Tuệ Khả. Đây cũng là cơ duyên, nên chẳng những ông được Tổ thu nhận, mà còn truyền Y Bát và Ngài đã đến ở ẩn tại núi Hoàn Công, thuộc Thủ Châu... Đời Châu Võ Đế thuộc Bắc Triều, ngăn cấm và bức hại Phật giáo, nên Ngài Tăng Xán phải lánh nạn xuống tận Huyện Thái Triều, trong núi Tư Không. Tại đây, có nhà sư người Nam Ấn tên Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci), đến xin thọ giáo, được Tổ Tăng Xán truyền tâm ấn và bảo sang phương Nam để truyền đạo. Theo Việt Sử, Thiền Sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã sang thuyết pháp tại VN và lập ở đây, một phái Thiền đầu tiên.
Đời Khai Hoàng nhà Tùy, Tổ Tăng Xán thu nhận một đệ tử, mới 14 tuổi tên Đạo Tín, rồi 9 năm sau truyền Y Bát. Năm 602, Tổ Tăng Xán viên tịch dưới một gốc cây trong chùa Sơn Cốc ở Sơn Thu, sau một buổi giảng pháp.
+ Đạo Tín: Tổ Thứ Tư
Sinh năm 580 tại Huyện Quảng Tế thuộc Kỳ Châu, họ Tư Mã, xuất gia từ năm 14 tuổi. Ngay khi còn nhỏ tuổi, Tổ Đạo Tín đã lặn lội khắp nơi để tìm đạo, cuối cùng gặp được Tổ Tăng Xán ở Tư Không. Nhờ vậy mới được khai ngộ và truyền Y Bát. Năm 33 tuổi, đang lúc cùng với các môn đồ, giảng pháp trong thành Kiết Châu thì bị giặc Tào Võ Vệ, đến đánh và vây khổn thành. Tổ Đạo Tín đã cùng dân chúng trong thành, trì niệm “Ma Ha Bát Nhã”, nâng cao tinh thần chiến đấu, làm giặc phải lui. Từ năm 619 về sau, Tổ chu du khắp nơi để giảng và truyền đạo, lúc thì ở Loa Xuyên, khi về Phá Đầu-Kỳ Xuân và giác ngộ cho Thiền Sư Pháp Dung.
Về sau, trên đường tới Huyện Hoàng Mai, Tổ gặp được một đứa bé mới 7 tuổi nhưng dung mạo và khí phách khác thường. Tổ bèn xin làm đệ tử, đặt tên là Hoằng Nhẫn và sau đó truyền Y Bát. Thời gian này, vua Đường Thái Tông nghe tiếng, sai sứ triệu thỉnh nhưng Tổ từ chối. Năm 651, Tổ Đạo Tín qua đời, thọ 72 tuổi, trong thế ngồi kiết già, sau khi dặn dò mọi việc với các đồ đệ.
+ Hoằng Nhẫn, Tổ Thứ Năm
Sinh tại Châu Kỳ, Huyện Hoàng Mai vào năm 602. Theo truyền thuyết, Tổ là con của một người con gái họ Châu, vì không chồng mà mang thai, nên bị gia đình đuổi phải sống lang thang khắp nơi, trước khi sinh ngài. Tổ Hoằng Nhẫn có dáng dấp xinh đẹp như con gái, lại thông minh phi thường. Năm lên 7 tuổi, được Tổ Đạo Tín thu nhận làm đệ tử và truyền Y Bát. Kế thừa chưởng môn tại núi Phá Đầu, khi sư phụ là Tổ Đạo Tín qua đời, rất được nhiều người mến mộ nên xin theo học đạo rất đông.
Năm 670, Tổ thu nhận một đệ tử tên Lư Huệ Năng, nhờ một bài kệ nói lên được tinh túy của Phật Pháp, nên Tổ truyền tâm ấn và Y Bát, rồi Tổ bảo lui về ẩn ở phương Nam để tránh bị kẻ khác ganh tị ám hại. Năm 674, Tổ Hoằng Nhẫn thọ 74 tuổi, qua đời khi ngồi kiết già.
+ Huệ Năng: Tổ Thứ Sáu
Sinh tại Lĩnh Nam, tỉnh Quảng Đông năm 638 nhưng mồ côi cha từ năm 3 tuổi, nên phải làm lụng vất vả, kể cả vào rừng đốn củi để nuôi mẹ. Năm 24 tuổi, khi bán củi, ngang qua nhà nghe được câu kinh “Ưng Vô Sở Trụ, Nhi Sanh Kỳ Tâm”, nên phát tâm, về nhà xin mẹ qui y tòng đạo,với Tổ Hoàng Nhẫn. Mặc dù chỉ được giao việc hỏa đầu vụ trong bếp, nhưng Ngài không vì thế mà bất mãn hay xao lãng Phật Pháp. Một hôm, Tổ Hoằng Nhẫn khảo nghiệm trình độ môn đồ, Ngài Huệ Năng cũng có tới dự và sau khi nghe được bài kệ của Sư Huynh, một cao tăng uyên bác, tên Thần Tú:
“Thân như cội Bồ Đề,
Tâm như mặt gương sáng
Phải siêng năng tưới trồng
Và lau chùi, đừng để bụi bặm”
Ngài Huệ Năng nghe xong, bèn họa lại nhưng vì không biết chữ, nên nhờ người, viết trên vách nhà bếp:
“Bồ Đề vốn không có cội
Gương sáng cũng chẳng có mặt
Xưa nay chẳng có gì
Thì bụi bám vào đâu.”
Nhờ bài kệ này mà ngài được Tổ Hoằng Nhẫn truyền tâm pháp và Y bát và bảo phải chạy về phương nam để lánh họa. Quả nhiên, trên đường Tổ Huệ Năng, bị nhà sư Huệ Minh, dẫn tăng chúng đuổi giết để giựt lại Y Bát, nhưng trước thần sắc uy nghi, ung dung, đã thu phục được Huệ Minh và mọi người làm đồ đệ.
Đầu tiên, Tổ Huệ Năng ở Tào Khê nhưng vẫn không yên, phải lánh qua Hoài Tập và Tứ Hội. Để tránh kẻ thù truy sát, suốt 4 năm, ngài phải giả làm thợ săn để giấu tung tích và đi lần hồi về nam. Tại chùa Bảo Lâm ở Triều Khánh, Tổ Huệ Năng lưu lại một thời gian dài nhưng phải đợi tới năm 676, tại chùa Pháp Tịnh, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Tổ Huệ Năng mới được thừa nhận, xuống tóc, đồng thời khai mở Pháp Môn Đông Sơn. Năm 677, Tổ được hằng ngàn Phật tử đón rước trọng thể, khi trở lại chùa Bảo Lâm, ở Tào Khê.
Năm 713, Tổ Huệ Năng về lại chùa Bảo Ân, sau đó được vua Đường đổi là chúa Quốc Ân ở Tân Châu và qua đời khi 75 tuổi. Hiện nhục thân của Lục Tổ vẫn còn ở chùa này. Vì tuân theo di chí của Ngủ Tổ Hoằng Nhẫn, mà mọi người cũng đã biết “Y Bát là cái gốc của tranh chấp, tương tàn”. Vì vậy dù có rất nhiều đệ tử tài đức, nhưng từ Lục Tổ trở về sau, Thiền Môn chỉ truyền tâm pháp cho Chưởng Môn, mà không còn truyền Y Bát.
3- Từ các giai thoại thiền tới kịch No trong Zen của Nhật Bản
Từ khi Đạt Ma Sư Tổ đốn ngộ rồi phát sinh ra Phật Giáo Thiền Tông tại Thiếu Lâm Tự, chẳng những gây ảnh hưởng sâu đậm khắp Trung Hoa, mà còn bành trướng mọi vùng Á Đông như Cao Ly, Việt Nam, Nhật Bản. Trên đất Phù Tang, Thiền Tông chẳng những đã in sâu trong tâm trí và đời sống của mọi người, mà còn là những dấu ấn trong sinh hoạt nghệ thuật, văn hóa. Sân khấu NO hay Kịch Thiền của Nhật, ra đời giữa thế kỷ 14-15, trước khi hai nền kịch dân gian Nhật là Kahuki và Bunraku, thành hình vào thế kỷ 17.
Thông thường một buổi trình diễn kịch No kéo dài tới 6 giờ với 5 vở liên tục, đã có sẵn từ thế kỷ 17. Trong chương trình, còn có những màn hài kịch, mục đích nhái lại những hoạt cảnh vừa diễn. Bởi vậy hài kịch phụ diễn trong NO, không giống như tính hài hước của Shakespeare, gây sự vui nhộn để pha phôi cuộc đời, mà là sự minh bạch sắc sảo, cực kỳ trọng thể, làm tương phản giữa hai sắc thái của thế nhân.
Tóm lại, đặc điểm của kịch No là sự khai phá thời gian và không gian, bằng những cách thức khác hẳn với mỹ học của Tây phương, nặng về phần kịch tính hơn là nội dung. Mặt khác, khi thưởng thức kịch, khán giả dù không thuộc giới trí thức, đủ trình độ để theo dõi lời kịch (Utai) nhưng nhờ sự quyến rũ của nghệ thuật trình diễn, luôn độc lập với cốt truyện, vẫn có thể làm thu hút mọi tầng lớp khán thính giả. Đó là những giọng nói kỳ quái, qua phụ họa của các âm cụ như sáo, trống nhưng quan trọng nhất vẫn là các động tác, của diễn viên chính, biểu diễn trên một tấm Tabi trắng, trải giữa sân khấu. Cuối cùng, tất cả chỉ còn lại sự tĩnh lặng và hư vô, như òa vỡ trong nỗi buồn rầu của tiếng sáo ảo não, cô độc và bơ vơ, chẳng khác như cánh chim bay lượn không ngừng nghĩ, mà vẫn không biết sẽ về đâu.
Ngoài ra Thơ trong kịch No, cũng là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của Thiền Kịch Nhật Bản. Đó cũng chỉ là lối thơ thông thường của người Nhật, có từ 5- 7 vần xen kẽ, nhưng trong kịch No, thơ Thiền được gọi là Haiku, đã làm cho khán thính giả tự mình cảm nhận cuộc đời bằng chính tâm thức của riêng ta. Đó là một thế giới ngoại hạng, mà những thứ ngôn ngữ bình thường khó lòng vươn tới được. Điều này đã nói lên rất nhiều trong những bài thơ Haiku nổi tiếng của Thiền Sư Basho.
Đọc “Những nghịch lý của Thiền Học” (The Zen Paradoxes), khiến tâm hồn vô cùng thích thú về những giai thoại Thiền, vừa có duyên mà lại rất tình, làm cho người đọc càng muốn đọc để rồi tự mình suy tư tới mệt nghỉ. BÊN VŨNG NƯỚC LẦY LỘI, kể chuyện hai Thiền Sư trẻ, một ngày ra ngoài bổng bị mưa lớn. Bởi vậy con đường thật là lầy lội, vừa bùn vừa nước. Giữa lúc đó, trước mặt có một gái trẻ và đẹp, đang đứng co ro dưới mưa, lạnh run nhưng không dám lội ra vũng nước để sang phía bên kia đường. Ái ngại cho người, một trong hai Thiền sư trên, tên Tanzan, đã bồng người con gái đẹp qua đường. Còn thầy thứ hai là Ekido thì lặng thinh, không nói một lời. Đêm đó hai người ngụ tạm trong một túp lều trống bên vệ đường. Lúc này Ekido mới lên tiếng khiển trách bạn là tại sao đã tu hành, mà còn vướng vào chuyện đàn bà con gái? Nghe hỏi vậy, Tanzan đã trả lời: “Tôi đã bỏ người con gái đó bên vũng bùn từ hồi sáng. Sao thầy lại lôi cô ta đến đây làm chi?”
NI CÔ ESHUN tu tại một Thiền Viện trên nước Nhật, có nhiều nam tu sĩ và một ni cô trẻ tên Eshun. Giữa chốn Thiền Môn, tuy cô ăn mặc nâu sồng nhưng nhan sắc vẫn chim sa cá lặn, khiến cho nhiều nam tu sĩ phải động lòng. Trong số này, có một người bạo gan, dám viết thư tỏ tình và xin ni cô hãy tới nơi hò hẹn để anh ta thỏa lòng yêu nhớ. Nhận thơ, ni cô vẫn im lặng, không trả lời cũng như phản đối. Một ngày kia, đợi nam tu sĩ trên thuyết pháp xong, ni cô vội lên ngay trên bục giảng, nói to: “nếu Anh thật lòng yêu Tôi, thì hãy công khai, ôm Tôi và hôn trước mặt đám đông để tỏ lòng.” Dĩ nhiên, chàng tu sĩ nọ bỏ chạy và từ đó không còn thấy chàng ta nữa.
Tóm lại, từ những câu chuyện rời trên, cho ta thấy đằng sau các bi kịch đời, qua những trần trụi trong bối cảnh, ẩn hiện vẫn là sự giản dị của tư tưởng Thiền Tông, nhưng trong quá khứ cho đến nay đã trở thành một di sản quý báu, trong lòng hiện tại, chẳng những ngay tại Nhật mà còn khắp Á Châu và nhiều nơi khác trên thế giới.
4- Thiền Tông Việt Nam
Theo các câu chuyện truyền kỳ mạn lục, trong tác phẩm “Lĩnh Nam Chích Quái” và “Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục”, phần nào hé mở cho biết là Phật Giáo, đã có mặt ở VN từ các thời vua Hùng dựng nước. Tuy nhiên một cách chính xác hơn, Phật Giáo có trước Nho Giáo, nhưng không phải do các truyền giáo hay bậc chân tu, mà từ các thương buôn người Ấn và Chà Và. Họ là những tín đồ Phật Giáo, tới Giao Chỉ buôn bán, lưu trú, có khi kết hôn với người bản xứ. Do trên, những sinh hoạt của Phật giáo, cũng như các nghi lễ, như ăn chay, niệm Phật và nhất là lý thuyết “coi đời là bể khổ” rất phù hợp với tâm trạng của người VN lúc đó, đang sống trong gót sắt đô hộ của giặc Tàu phương Bắc.
Tuy nhiên dù là truyền thuyết, cho rằng Phật Giáo đã có thời Hùng Vương nhưng chắc chắn không phải là Thiền Tông, vì qua các câu chuyện thần kỳ, chẳng hạn như Chữ Đồng Tử và Tiên Dung, hay chuyện Man Nương... thấy các vị Phật đều có rất nhiều phép thần thông, gần giống như Phật Giáo Mật Tông tại Ấn Độ.
Căn cứ vào Phật sử, từ thế kỷ thứ II, mới có các vi Tăng Ni phái Đại Thừa, tới thuyết giảng Phật Pháp. Cũng từ đó về sau, đã phát sinh hai hệ phái: A Hàm (Agama) và Thiền Phái (Dhyana). Tóm lại, qua thời gian, có tám Thiền Phái đã phát triển tại VN:
a- Phái Tì Ni Đa Lưu Chi, do Thiền Sư người Ấn tên Vinitarusi, thành lập năm 580 tại Giao Châu. Thiền sư trụ trì tại chùa Pháp Vân, ở Cổ Châu-Long Biên. Thời kỳ này, đã có một tác phẩm đầu tiên của Thiền Học ra đới, đó là kinh “Tượng Đầu Tinh Xá’, có ý nghĩa rất thâm thúy, cao siêu, chủ đích ca tụng sự giác ngộ, như là tuệ giác, tâm thành, mà chữ viết và ngôn ngữ thường, không sao diễn tả hết. Phái này truyền tới năm 1231 thì dứt, qua 19 đời, trong đó có hai Thiền sư nổi tiếng nhất là Từ Đạo Hạnh và Vạn Hạnh.
b- Phái Vô Ngôn Thông: Được thành lập vào năm 820, do một Thiền Sư không rõ tên tuổi, đến từ Quảng Châu và trụ trì tại chùa Kiến Sơ, Làng Phù Đổng-Bắc Ninh. Là người trầm lặng, ít nói, Thiền sư chủ trương Phật tại tâm, nên con người có thể đốn ngộ trong khoảnh khắc, mà khỏi cần phải trải qua nhiều giai đoạn tu trì, hành xác. Ông cũng là người đầu tiên, phát triển phương pháp “Bích Quan Tọa Thiền”.
c- Phái Thảo Đường: Do Thiền sư Thảo Đường, người Tàu thành lập từ năm 1069. Ông vốn là một tù binh, bị bắt tại Chiêm Thành. Vua Lý Thánh Tôn, sau khi nhận biết, đã vội phong ông làm quốc sư.
d- Phái Trúc Lâm: Do Vua Trần Nhân Tôn thành lập từ năm 1278.
e- Phái Tào Động: Do Nhật Cư Thiền Sư, người Trung Hoa thành lập vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh.
f- Phái Liên Tôn: Du nhập vào VN từ thế kỷ XVI, do Thiền Sư Lâm Giác, từ Trung Hoa truyền vào, có trụ sở tại chùa Bà Đá và Liên Phái ở Hà Nội.
g- Phái Lâm Tế: Do Thiền Sư Nguyễn Thiều ở Quảng Đông, theo thuyền buôn vào Đàng Trong (Chúa Nguyễn) và tu trì tại chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định. Thiền sư chính là sư tổ của phái Lâm Tế, một thiền phái bành trướng rộng rãi nhất ở Miền Nam sau này.
h- Phái Liễu Động: Do Hòa Thượng Liễu Quán người Sông Cầu-Phú Yên, thành lập và phát triển mạnh mẽ tại Trung Việt. Ông cũng đã từng thọ giáo với các Hòa thượng Thạch Liêm (Trung Hoa) tại Thuận Hóa và Hòa thượng Từ Dung (Trung Hoa) ở Lạng Sơn. Ngài qua đời năm 1742.
Nói chung, xét theo kinh điển và phương pháp tu trì, thì Phật Giáo VN có 2 hệ phái Đại Thừa, chủ trương không câu chấp và nô lệ giáo điều, kinh sách. Trung đạo là tinh hoa của Phật giáo đại thừa (Giáo hội PG. Cổ Truyền, PG. Hoa Tông và PG. Tịnh Độ Tông). Tiểu Thừa chủ trương tự tu, tự độ, trọng văn tự, kinh sách, làm đúng theo lời Phật dạy, dùng kinh điển bắng tiếng Pali (Nam Phạn). Về phương diện nhận thức, Tiểu Thừa còn trong phạm vi hiện tượng, chưa vượt khỏi luận đề để vào bản thể luận như Đại Thừa. Tại VN, chỉ có Phật giáo Nguyên Thủy (Theravada) theo Tiểu Thừa.
5- Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Núi Yên Tử, cái nôi xuất phát của Trúc Lâm Thiền Phái, nằm cách Hà Nội chừng 200 km và Hạ Long 60 km. Tại thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Yên, đường dẫn vào núi, chỉ có 14 km theo hướng tây bắc, giữa những ruộng mía và vườn cây ăn trái. Hằng năm, nhà chùa đều có trẩy hội vào tháng ba âm lịch, thu hút nhiều thiện nam tín nữ, cũng như khách hành hương cả nước tới chiêm bái một thắng tích phi thường, trong dòng lịch sử của Hồng Lạc và Phật giáo Việt Nam.
Trước đây, do hình dáng từ xa nhìn giống con voi quay đầu về hướng biển, nên núi có tên là Voi. Đau đó được đổi thành Bạch Vân Sơn, bởi vì quanh năm suốt tháng, luôn có mây trắng, phất phơ trên đỉnh. Theo dân gian trong vùng thì từ thế kỷ thứ X, trên núi đã có một ngồi chùa Phật, do Đạo sĩ Yên Kỳ Sinh lập. Cũng theo truyền thuyết, vì tu hành thành tâm, nên nhà sư đã đắc đạo và lúc chết nhập vào một tảng đá. Cũng từ đó, núi có tên là Yên Tử, còn chùa thì gọi là Chùa Ông Yên, vẫn được lưu truyền tới ngày nay.
Trong quần sơn mang tên Yên Tử, ngày nay vẫn còn một tảng đá, nhìn như một bức tượng người, cao chừng 3, 5m. Tượng đứng uy nghi, sừng sững trên một độ cao 1000m, được coi như một chứng tích lâu đời nhất tại đây. Ngoài ra, một hệ thống chùa tháp, thuộc Thiền Phái Trúc Lâm, nay hầu như vẫn nguyên vẹn. Tất cả đều có một huyền thoại riêng, nhưng đầy nhân bản, được xây dựng vào năm 1299, khi Đại Đế Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tôn để đi tu. Trong sử Việt suốt mấy ngàn năm qua, chúng ta đã có nhiều minh vương, hiền tướng. Nên ngày nay phải gọi những vị vua có công lao hiển hách với đất nước, như Ngô Vương Quyền, Trần Nhân Tôn, Lê Thánh Tôn, Quang Trung Nguyễn Huệ... là Đại Đế, cũng là điều rất xứng đàng. Ngoài ra các danh tướng Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Trần Quang Khải, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi... ta phải dùng chữ Đức, kềm với tên họ để tỏ lòng tôn kính, các bậc vĩ nhân trên của đất nước. Nói chung di tích của Thiền Phái Trúc Lâm, coi như tập trung về phía đông của Yên Tử, nằm sát chân núi tới độ cao 1036 m.
Một con suối nhỏ nằm sát chân núi, xưa có tên là Hà Khê và được Đại Đế đổi là suối Giải Oan. Vẫn theo truyền thuyết, thì dòng suối này là chỗ mà 100 nàng cung nữ đã trầm mình, vì không được nhà vua cho phép hầu hạ bên mình. Do vậy, Ngài đã cho dựng một ngôi chùa sát dòng suối, trên cao độ 50 m, giữa một rừng cây u tịch để giải oan hồn linh của những người con gái. Đây còn có 5 ngôi tháp, lớn nhất là tháp mộ vua Trần Anh Tôn, Nhị Tổ Pháp Loa và Tam Tổ Huyền Quang.
Cũng từ đó, đường lên núi thật quanh co khúc khuỷu. Từ độ cao 300 m trở lên, lối đi được xếp thành các bậc đá, ôm theo sườn núi cheo leo. Rồi thì tới “Đường Tùng” là một lối đi rộng, hai bên có rừng tùng, uốn lượn, rợp bóng xanh tươi. Rừng này do chính Nhân Tôn Đại Đế trồng khi đến tu tại núi Yên Tử. Hiện tất cả đã trở thành cổ thụ, dù vậy vẫn xanh tốt uy nghi sau 700 tuổi thọ, trong lúc đã có nhiều Tháp Chùa ở đây, sắp thành phế tích. Hiện trên núi Yên Tử còn 274 cây tùng, chia thành 3 loại: Thanh Tùng, Mộc Tùng và Xích Tùng.
Tại cao độ 400m, có Hòn Ngọc là một gò đất rộng, bằng phẳng. Đây còn có tên là Hạ Kiệu, mà theo truyền thuyết, thì tất cả vua quan nhà Trần, kể cả sứ bộ ngoại quốc thời đó, khi tới vãng cảnh chùa, đều phải xuống kiệu, để đi bộ leo núi, tới bái yết Nhân Tôn, tu trên núi Hoa Yên, ở độ cao 700m. Ở đây có Tháp Tổ Huệ Quang cao 6 tầng, đứng sừng sững với 97 ngôi tháp khác bao quanh. Đây là nơi yên nghỉ của hầu hết các vị tu hành đời nhà Trần. Bên trong Tháp Tổ, nơi tầng thứ nhất có tượng Nhân Tôn Đại Đế, cao 0, 62m tạc bằng đá trắng, ngồi trên tòa sen, hai tay đặt trên đùi. Bức tượng này theo sử liệu, do một điêu khác gia thời Hậu Lê, dựa vào chân dung khái quát của nhà vua, từ sử sách mà tạc. Đây cũng là một tác phẩm điêu khắc của Phật Môn, duy nhất từ xưa còn lại nguyên vẹn.
Cùng nằm trong Khu Tháp Tổ, về phía sau là ngôi chùa Hoa Yên, được coi là đẹp, lớn và bề thế nhất trong hệ thống chùa tháp tại đây. Chùa được tu sửa nhiều lần, mà hai đợt quan trong nhất còn ghi trong sử sách, vào năm Vĩnh Thịnh (1358) và Vĩnh Khánh (1732). Riêng ngôi chùa hiện này được trùng tu lần cuối cùng vào thời Nguyễn, nhưng vẫn kiến trúc theo cung cách của đời Trần-Hậu Lê. Đây là nơi nhà Vua thuyết pháp cũng như tiếp kiến triều thần khi đến vãng cảnh chùa.
Từ cao độ 700 trở lên, dọc đường còn có nhiều chùa am và cuối đỉnh ở độ cao 1036m, là một ngôi chùa rất đặc biệt, gọi là chùa Thiên Trúc hay là chùa Đồng, vì được đúc bằng đồng, cao 1,35m, rộng 1,4m và dài 1,4m. Ở đây, mắt có thể nhìn khắp bốn hướng, từ vịnh Hạ Long, thành phố Hải Phòng, cho tới Bạch Đằng Giang, chập chùng sông nước, xa tít ngoằn ngoèo, cho tới tận biên giới Việt-Hoa ở phía bắc. Cảnh vật ở đây thật là muôn trùng bát ngát, tĩnh lự đến độ, có thể nghe cả tiếng chim non ríu rít ở trong rừng.
+ Trần Nhân Tôn, Tổ sư thiền phái Trúc Lâm
Ngài sinh năm 1258, con vua Trần Thánh Tôn. Năm 21 tuổi lên ngôi vua, cùng với Thượng Hoàng và các tướng lãnh Nhà Trần như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Bình Trọng, Phạm Ngủ Lão... đã hai lần đánh đuổi quân Mông Cổ, khỏi non sông Đại Việt, tạo nên một chiến công hiển hách trong dòng sử của nhân loại.
Thuộc gia đình sùng đạo, nên từ thuở nhỏ, Nhân Tôn đã từng theo Vua Cha, lên chơi núi Yến Tử. Rồi thời gian làm vua, Ngài lại thường thăm viếng dân tình khắp nơi, bài trừ những tệ đoan xã hội cũng như tham quan ô lại. Đồng thời giảng giải Phật Pháp để giáo hóa dân chúng. Với sự hiểu biết sâu rộng và nhìn xa, nên đã tìm thấy ở Phật Giáo, như là một vũ khí sắc bén để cách mạng xã hội, giải phóng con người khỏi những bi kịch đời, vì sinh, bệnh, lão, tử... Ngài đã đúc kết và viết thành những tác phẩm về Phật Học, rất nổi tiếng, hiện còn truyền tụng như Thiền Tâm Thiết Chủy Ngũ Lục, Truyền Đăng Lục, Thạch Thất Nay Ngữ... Nói chung, với đấng Minh Quân như Nhân Tôn, thi “Trong Nhân Gian có người còn đói khổ, thì Trẫm làm sao mà yên lòng?”.
Trước đó Phật giáo là yếu tố liên kết nhân tâm, quốc giáo của Đại Việt độc lập, tự chủ. Nhưng phải tới Tổ thứ sáu của Thiền Phái Yên Tử, Dân Tộc VN và Phật Giáo mới chính thức, bất khả phân ly và chung dòng sinh mệnh. Vua Trần Nhân Tôn hay Trúc Lâm Đầu Đà, chính là nhân vật lịch sử đã xây dựng một nền Phật Giáo VN và nhập thế tích cực, lấy tư tưởng và tinh thần dũng hoạt, siêu thoát của Thiền Tông Đại Thừa, làm căn bản hành động... Do trên, thiền phái Yên Tử trờ thành Trúc Lâm thiền phái, và Lục Tổ của Yên Tử, tức Vua Nhân Tôn, cũng là Tổ thứ nhất của phái này.
Năm 1293, dù chỉ mới 35 tuổi nhưng Ngài đã nhường ngôi vua cho con là Trần Anh Tôn. Từ đó về Phủ Thiên Trường (Nam Định), chuyên việc soạn kinh sách và truyền giáo. Năm Hưng Long thứ 7 (1299), vua Nhân Tôn chính thức xuất gia tại núi Yên Tử, lấy pháp danh là Điếu Ngự Giác Hoàng, chính thức lập Thiền Phái Trúc Lâm.
Ngô Thời Nhiệm, một đại thần nhà Hậu Lê, cũng thuộc Phái Trúc Lâm, đã viết: “Tam Tổ lấy từ bi làm thế, lấy quảng đại làm dụng, đồng đức với trời đất, hợp mình với Nhật Nguyệt. Có cái thanh rất chính, có cái hưởng là dài. Phật như Trúc Lâm Tam Tổ, chỉ lấy ngôn ngữ đạo lý mà giáo thế. Đó mới thật là nền tảng Phật Học: Đời và Thiện tại tâm.” Nhân Tôn, tổ thứ nhất qua đời năm 1308. Thiền Phái Trúc Lâm được nối tiếp Tổ Thứ Hai là Pháp Loa và Huyền Quang Tam tổ.
Tóm lại như Quốc Sư Trúc Lâm, thầy của Vua Trần Thái Tôn, thì trong núi vốn không có Phật mà Phật chính ở trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện. Đó chính là Phật. Đời là có có không không, bởi vậy Vua Trần Thái Tôn đã từ bỏ ngai vàng xã tắc, vinh hoa phú quý, như bỏ một đôi giầy rách. Riêng thế nhân đời đời kiếp kiếp, không thoát ra khỏi cái vòng danh lợi, chỉ vì:
“Lưỡi vướng vì ngon, tai vướng tiếng
Mắt theo hình sắc, mũi theo hương
Lênh đênh làm khách phong trần mãi
Ngày hết quê xa, vạn dặm đường.
(Trần Thái Tôn).
Nhân gian ai cũng đã bước và vói tới cõi thiền rồi nhưng ít người biết nghe, là nghe được những tiếng vô thanh, ít người biết nhìn là nhìn được thế giới nội tâm. Đằng sau những bi kịch đời, lại là lối dẫn về cõi Thiền. Đó là nghệ thuật tự nhìn vào bản tính mình, một thế giới mênh mông kỳ lạ, mà ta không thể nghe ngó, bằng các giác quan của người trần tục.
Cách đây hơn 25 thế kỷ, Đức Phật đã từ bỏ cung vàng điện ngọc, vinh hoa phú quý và hạnh phúc gia đình, để cùng đời sống khổ. Theo chân Đức Thế Tôn, trải dài bao thế kỷ và mãi mãi về sau, đã có không biết bao nhiêu vĩ nhân một đời vì nước như Thánh Gandhi ngày trước hay Đức Đạt Ma Lạt Ma của Tây Tạng hiện tại, làm cho chiếc áo vàng của Phật Giáo càng ngày càng tỏa sáng hào quang dưới ánh mặt trời, vì đó là biểu tượng của trí tuệ tâm linh và tự do nhân quyền. Với dân tộc VN, Phật Giáo đã và đang đồng hành suốt dòng sông lịch sử, ngay từ thời các Tổ Hùng dựng nước Văn Lang, tới ngày nay, đã góp không biết bao nhiêu máu xương để cùng với đồng bào, trải qua bao đời giữ và dựng nước.
Sư ông Nhất Hạnh nếu thật tâm lấy tình yêu để chiến thắng hận thù và đoàn kết, thì đất nước VN ngày nay đâu còn phải sống nhục nhã, lầm than và phân chia giai cấp, do chủ nghĩa cộng sản áp đặt. Xưa nay người đời nổi tiếng nhờ sự nghiệp an dân lợi nước, còn sư ông Nhất Hạnh thì tự mình làm cho mình nổi tiếng hơn 40 năm qua, khi tự mình vạch áo cho người xem lưng, nhận rõ chân tướng. Cuối cùng như lời nhận xét của GS Lưu Trung Khảo trong cuộc thảo luận của Hội ký giả VN Hải Ngoại về sư ông Nhất Hạnh, vào tháng 10-2001 tại Nam CA: “Cần phải có ranh giới rõ ràng giữa Thế Quyền và Thần Quyền. Một nhà tu có bổn phận hướng dẫn đệ tử đi vào con đường lương hảo. Nhưng nếu nhà tu hành bước sang lãnh vực chính trị, thì người ấy sẽ bị phán xét với tư cách là một công dân, chứ không phải là một tu sĩ”.
Nhưng nhức nhối nhất vẫn là lời của Hòa Thượng Huyền Tôn nói thẳng với giáo chủ Bụt Đạo “... sư ông Nhất Hạnh, sư bà Chân Không đã tách ra khỏi Phật Giáo để lập đạo Bụt Làng Mai thế giới, thì cứ tha hồ an lạc với cái Bụt chân không của mình. Đây là cái quyền tự do lập giáo phái hay tự tôn xưng, không ai ngăn cản... Nhưng cái quyền riêng của mọi người kính trọng hay khinh bỉ, chắc là cũng chẳng làm sao ngăn cấm ai được... “
Tóm lại sư ông Nhất Hạnh đâu phải là một tu sĩ hay còn dính dáng gì tới Phật Giáo, nên đâu có quyền nhân danh hay đại diện cho ai, trong chuyến đi về nước, để lập đạo tràng giải oan, mà giải oan cho ai. Trong khi đó VC cũng đâu có lên tiếng giải thích hay yêu cầu; còn người dân cả nước suốt năm qua đã hứng chịu không biết bao nhiêu thiên tai, bão lụt, nhất là tỉnh Bến Tre. Nên thứ cần thiết mà họ cần lúc này như Hòa thượng Quảng Độ đã kêu gọi “Đó là sự cứu trợ”, chứ không phải là phô trương hình thức, mà thiên hạ trong cũng như ngoài nước đã chán ngấy tới tận xương tủy từ mấy chục năm qua. -/-
Xóm Cồn
Tháng 2-2007
Mường Giang
---