TIN TỨC PHIM ẢNH CA NHẠC

Phim ảnh, âm nhạc đưa người ta vào thế giới ảo mộng quên đi bao nỗi muộn phiền của đời thường... Nơi đây chỉ ghi lại một phần nào đó của cái thế giới muôn mầu sắc và âm thanh đó mà thôi.

Moderator: Nguyễn_Sydney

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Re: TIN TỨC PHIM ẢNH CA NHẠC

Post by mexanh »

Những kỷ vật điện ảnh có giá trị cao
Duy Lê
26 tháng 7, 2025

Image
Chiếc roi da bò. (Hình minh họa: indiana-jones/Unsplash)

Hai món đồ biểu tượng của lịch sử Hollywood gần đây đạt mức giá đáng kinh ngạc tại các cuộc đấu giá: chiếc roi da bò mà Harrison Ford sử dụng trong phim “Indiana Jones and the Last Crusade” và chiếc xe trượt tuyết “Rosebud” trong phim “Citizen Kane.”

Những thương vụ này càng khẳng định sức hấp dẫn bền bỉ và giá trị tài chính đáng kể của các kỷ vật điện ảnh, với cả hai món đồ đều đạt giá lần lượt trăm ngàn và triệu đôla thông qua Heritage Auctions.

Chiếc roi da bò huyền thoại của Indiana Jones


Kỷ vật này, biểu tượng tinh túy của nhà khảo cổ học yêu thích phiêu lưu Indiana Jones, được bán với giá đáng kinh ngạc $525,000 trong Heritage Auctions’ Summer Entertainment Auction. Đạo cụ đặc biệt này được Harrison Ford sử dụng trong bộ phim được ra mắt vào năm 1989 “Indiana Jones and the Last Crusade,” phần cuối cùng của bộ ba tác phẩm “Indiana Jones” gốc.

Thiết kế tinh xảo của chiếc roi được thể hiện rõ qua mô tả chi tiết: đó là roi da bò David Morgan dòng 450, được làm thủ công từ da kangaroo 12 bím bện tinh xảo. Nó có hai phần bụng bện, được chế tác trên nền tay cầm bằng thép dài tám inch với một vòng đeo tay gắn vào chuôi kiếm, và được hoàn thiện bằng một dây da trắng và một nút bấm bằng nylon đen xoắn. Mức độ tỉ mỉ này làm nổi bật sự tận tâm với tính chân thực trong việc chế tạo đạo cụ cho một nhân vật được yêu mến như vậy.

Thêm vào nguồn gốc độc đáo của nó, chiếc roi da bò đặc biệt này còn tự hào có mối liên hệ với hoàng gia. Sau buổi công chiếu Royal Premiere của bộ phim vào ngày 27 Tháng Sáu năm 1989, Harrison Ford và các nhà sản xuất của bộ phim tặng chiếc roi cho Thái Tử Charles khi đó. Sau đó, Diana, Princess of Wales, tặng lại chiếc roi da bò, và kể từ đó nó được truyền qua nhiều đời chủ cho đến người sở hữu gần đây nhất. Dòng dõi này chắc chắn góp phần vào mức giá đấu giá đáng kể của nó, thu hút các nhà sưu tập quan tâm đến cả lịch sử điện ảnh và hiện vật hoàng gia.

Joe Maddalena, phó chủ tịch điều hành của Heritage Auctions, khéo léo tóm tắt ý nghĩa của chiếc roi da: biểu tượng của một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử điện ảnh, Indiana Jones, và là điểm nhấn của phiên đấu giá này. Chương trình, kết thúc vào Thứ Năm, ngày 17 Tháng Bảy, cho thấy sức mạnh cảm xúc và tài chính mà người hâm mộ và nhà sưu tập dành cho những tác phẩm điện ảnh kỳ diệu.

Chiếc xe trượt tuyết “Rosebud” bí ẩn trong “Citizen Kane”

Có lẽ còn ấn tượng hơn nữa, một chiếc xe trượt tuyết “Rosebud” trong kiệt tác điện ảnh “Citizen Kane” (1941) của Orson Welles đạt mức giá cuối cùng đáng kinh ngạc, $14.75 triệu, vào Thứ Tư ngày 16 Tháng Bảy. Đạo cụ này có tầm quan trọng to lớn trong cốt truyện, bởi nó cung cấp câu trả lời được mong đợi từ lâu cho bí ẩn trung tâm của bộ phim và gắn liền với lời cuối bí ẩn, “Rosebud,” mà Charles Foster Kane (do Orson Welles thủ vai) nói trước khi qua đời.

Bản thân Orson Welles xác nhận rằng ba chiếc xe trượt tuyết bằng gỗ balsa được chế tạo cho cảnh cao trào, khi Rosebud bị thiêu rụi giữa khối tài sản khổng lồ của Kane tại điền trang Xanadu. Việc lựa chọn gỗ balsa nhẹ là một quyết định có chủ đích, được thiết kế để cháy nhanh chóng và hiệu quả trước ống kính.


Trong số ba chiếc xe trượt tuyết này, chiếc xe trượt tuyết được đấu giá thuộc một trong ba đạo cụ duy nhất được xác nhận còn tồn tại qua nhiều thập kỷ kể từ khi bộ phim được sản xuất. Sự quý hiếm của những đạo cụ còn sót lại, đặc biệt từ một tác phẩm điện ảnh có ý nghĩa lịch sử như vậy, làm tăng đáng kể giá trị của các món vật phẩm.

Đáng chú ý, một chiếc xe trượt tuyết “Rosebud” khác được đạo diễn nổi tiếng Steven Spielberg mua lại tại một cuộc đấu giá của Sotheby’s vào năm 1982 với $60,500, một mức giá giờ đây trở nên vô giá trị so với lần bán đấu giá gần đây nhất. Điều này minh họa cho sự tăng trưởng theo cấp số nhân về giá trị của những kỷ vật điện ảnh quý hiếm theo thời gian.

Giá trị ngày càng tăng của các kỷ vật từ Hollywood

Hai thương vụ mua bán đình đám này diễn ra sau một cuộc đấu giá phá kỷ lục gần đây, càng củng cố thêm thị trường đồ tạo tác ở Hollywood đang bùng nổ. Chỉ bảy tháng trước đó, một trong bốn đôi giày hồng ngọc duy nhất còn sót lại của Judy Garland trong bộ phim kinh điển năm 1939 “The Wizard of Oz” được bán với giá đáng kinh ngạc, $28 triệu, vượt xa ước tính ban đầu là $25 triệu. Cộng thêm phí của nhà đấu giá, người mua ẩn danh cuối cùng sẽ phải trả khoảng $32.5 triệu cho đôi giày biểu tượng này, khiến nó trở thành kỷ vật điện ảnh có giá trị nhất từng được bán đấu giá.

Joe Maddalena của Heritage Auctions, người cũng tham gia vào phiên đấu giá đôi giày hồng ngọc, nhấn mạnh vị thế vô song của nó, tuyên bố với tờ The New York Times rằng không thể so sánh đôi giày hồng ngọc của Judy Garland với bất kỳ kỷ vật Hollywood nào khác. Các nhà đấu giá của Heritage Auctions gọi đôi giày này là “Chén Thánh trong hạng mục những kỷ vật từ Hollywood,” một minh chứng cho ý nghĩa văn hóa và lịch sử của mỗi vật phẩm.

Kỷ lục hiện tại này vượt xa danh hiệu trước đó được thiết lập vào năm 2011, khi chiếc váy trắng của Marilyn Monroe trong phim “The Seven Year Itch” (1955) được bán với giá $5.52 triệu (gồm cả phí).

Sự leo thang nhanh chóng của giá cổ vật cho thấy một thị trường đang phát triển mạnh mẽ, được thúc đẩy bởi niềm đam mê của các nhà sưu tập đối với lịch sử điện ảnh và sự công nhận ngày càng tăng đối với các đạo cụ này như những tác phẩm nghệ thuật và di sản văn hóa chính thống.

Khi những món đồ này trở nên hiếm và được tôn vinh hơn, giá trị của mỗi món sẽ tiếp tục tăng, khiến các sự kiện đấu giá kỷ vật điện ảnh trong tương lai trở thành những thời điểm đáng theo dõi một cách sát sao.

(theo People)

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Re: TIN TỨC PHIM ẢNH CA NHẠC

Post by bichphuong »

Image

CA KHÚC BẤT HỦ BÉSAME MUCHO


Thạch Bích
Tôi đang nhớ về Sài gòn một đêm vừa mưa, vừa gió… Cơn mưa rào miền Nam không những xoa dịu hơi nóng hầm hập suốt ngày, những luồng gío nhẹ luồn qua chắn song cửa đủ mang đến chút lành lạnh, khiến tôi nằm trong giường đã phải chùm chiếc chăn mỏng màu huyết dụ, có điểm những bông hoa trắng nhỏ li ti, Bố Mẹ mang theo từ hồi di cư vào Nam. Những đêm như thế, kéo chăn lên tới tận cổ, nằm đọc truyện hay nghe nhạc thì chắc không còn thú nào hơn …

Hồi đó tôi đang tuổi mới lớn, đã biết chăm sóc diện mạo của mình, đã biết vui buồn vu vơ… và cũng mới quen với anh T., một học sinh bên trường HNC. Thời ấy tôi có thói quen đêm đêm đón nghe chương trình “Tiếng nói Dạ Lan”, tiếng nói của em gái hậu phương gửi các anh trai ngoài trận tuyến… Tôi không phải là lính, thế mà tôi vẫn mê cái giọng Bắc ngọt ngào, dễ thương của Dạ Lan.

Nhưng lý do chính khiến tôi thích nghe chương trình này, là những bài nhạc tình lồng trong những buổi phát thanh đó, nhất là những bài nhạc ngoại quốc. Chỉ riêng điệu nhạc chính dùng đệm nền “Walk don´t run” do ban nhạc “The Venture” trình bày đã đủ làm tôi mê mẩn… Rồi tôi còn nhớ thật rõ ràng, vào đêm Sài gòn có mưa, có gió đó tôi đã lần đầu tiên được nghe trong chương trình “Dạ Lan” bài nhạc ngoại quốc rất lạ : Bésame mucho …

Vào cuối thập niên 60 những ban nhạc theo kiểu The Beatles : Một chàng gõ trống, ba, bốn chàng ôm đàn guitar điện gảy từng tưng và lắc lư qua lại như có chút men rượu… xuất hiện thể nấm rừng gặp mưa… Nào là “The Shadows” với bài “Apache”, (mà anh T. kể, bọn học sinh lớp anh đã ngổ ngáo đặt lời : “Kìa xem … Thầy Tổng đen … treo toòng teng …”, để ngạo Thầy Tổng giám thị có làn da ngăm ngăm và rất ư là nghiêm khắc). Còn ban nhạc “The Animals” được biết đến qua bài “The house of rising sun”… Những bài “Yesterday”, “Hey Jude” … giới trẻ chúng tôi ai chả đã từng nghe ?

Từ năm 1963 chiến trận bùng nổ khắp miền Nam, nhất là sau khi Mỹ đã đổ gần nửa triệu quân vào tham chiến… Thế nhưng Sài gòn vẫn ăn chơi phè phỡn, vẫn tóc dài (con trai), váy ngắn (con gái) và không hề bị “Mỹ hóa” hoàn toàn, trái lại dân Sài gòn rất… Tây ! Con ông lớn, bà bé, những cậu ấm, tiểu thư con nhà giàu, trưởng gỉa, đua nhau theo học các trường theo chương trình Pháp, đắt è cổ : J. J. Rousseau, Marie Curie, Lasan Taberd, Couvent des oiseaux… Và một ngày đẹp giời, dạo phố Lê Lợi, thế nào cũng gặp những cặp choai choai dung dăng, dung dẻ với nhau, miệng bi bô :

Tous les garçons et les filles de mon âge
Se promènent dans la rue deux par deux
Tous les garçons et les filles de mon âge
Savent bien ce que c’est d’être heureux
Et les yeux dans les yeux
Et la main dans la main …

(Tous les garçons et les filles – François Hardy)

Từ những kiosks thâu băng nhạc trên đường Nguyễn Huệ vẫn văng vẳng tiếng hát của cô đầm tóc vàng Silvie Vartan:

… La plus belle pour aller danser …

Nên hồi đó, với tôi, trên đời này những bản tình ca chỉ có thể bằng tiếng Anh, Pháp và… Việt Nam ! Vẫn biết rằng còn có tiếng Tàu, tiếng Nhật… và sau này, khi đi du học, tôi còn học thêm tiếng Đức nữa. Nhưng những thứ ngôn ngữ ấy làm sao có được những câu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình tựa như :

Trời ươm nắng cho mây hồng / Mây qua mau em nghiêng sầu / Còn mưa xuống như hôm nào em đến thăm, / mây âm thầm mang gió lên. / Người ngồi đó trông mưa nguồn / Ôi yêu thương nghe đã buồn / Ngoài kia lá như vẫn xanh, ngoài sông vắng nước dâng lên hồn muôn trùng. (Mưa hồng – Trịnh công Sơn)

Thế mà bài “Bésame mucho” này bằng tiếng gì lạ hoắc, tôi không thể nào hiểu được lời nhạc ! Nhưng điệu nhạc êm dịu, giọng ca của nữ ca sĩ tôi không biết tên thật ấm áp, thật truyền cảm và mang một thoáng buồn đã mê hoặc tôi. Tôi cảm nhận một chuyện tình si mê, đắm đuối, nhưng cũng có chia ly, tan tác … Từ đấy tôi lắng nghe, mỗi khi bài hát được truyền đi trên đài phát thanh Sài gòn, nhưng tôi không nhớ được gì ngoài… Bésame mucho ! Mà ngay chỉ hai chữ đó tôi cũng chả biết nghĩa là gì nữa, vậy mà tôi vẫn rung động, vẫn thấy thích mỗi khi nghe bài nhạc ấy…

Sau này khi qua sống bên Âu châu, tôi tìm hiểu, mới biết bài hát đó là tiếng Tây Ban Nha (Spain), một ngôn ngữ (cùng với tiếng Bồ Đào Nha / Portuguese) phổ biến trong khắp vùng Trung và Nam của châu Mỹ, từ Cuba, Mexico tới Argentina, Brazil… nơi xuất phát những điệu vũ say mê, sôi động, nồng nhiệt : Tango, Samba, Rumba… Và tôi đã biết : Bésame = kiss me, mucho = much; bésame mucho = kiss me much / kiss me a lot, cũng như tôi đã kiếm được lời cả bản nhạc và tạm dịch qua tiếng Việt : (Xem ảnh minh họa)

Hóa ra lời nhạc thật giản đơn, thật cô đọng như những câu thơ, như những nét chấm phá trong bức tranh thủy họa của Tàu. Nhưng chỉ vài câu rất đơn giản ấy đã đủ diễn tả hết sự si mê, đắm đuối, nỗi đau buồn chia ly trong cuộc tình…

Có lẽ cái hay của bài Bésame Mucho này trước hết chính là điệu Boléro nhẹ nhàng, chầm chậm, nhưng thấm sâu vào tâm gan người nghe, gây ra một nỗi buồn man mác. Chả thế đa số những bài “nhạc vàng”của Việt Nam cũng hay sử dụng điệu nhạc này. Trong khi vũ nhạc điệu Tango được coi như của Argentina, Samba của Brazil, thì Bboléro đã được cải biến từ vũ nhạc điệu Trova hồi cuối thế kỷ 19 và rất được ưa chuộng ở Cuba và sau này lan rộng sang Mexico.

Thứ đến có lẽ vì các tình tiết của bản nhạc đã phản ảnh phần nào tâm tư, mộng ước của chính tác gỉa, nữ nhạc sĩ và danh thủ đàn dương cầm người Mexico, Consuelo Velázquez : Bà vẫn được cho là bị long đong, lận đận trên tình trường. Năm 1941, lúc đó bà gần 25 tuổi (vì năm sinh của bà không chính xác, nên có tài liệu ghi tuổi của bà chênh lệch đến 10 tuổi), sau lần dự buổi nhạc cảnh (opera) Goyescas của soạn giả người Tây Ban Nha Enric Granados, bà đã có ngẫu hứng và sáng tác bài Besame Mucho.

Trong lần phỏng vấn mấy năm trước khi bà mất vào năm 2005, bà đã tiết lộ : Tới thời điểm sáng tác bài nhạc đó, bà chưa từng hôn ai, ôm hôn thắm thiết người bà mong đợi vẫn chỉ là ước mơ thầm kín…

Tài năng về âm nhạc của Consuelo Velázquez đã được ghi nhận rất sớm : Mới 7 tuổi bà đã biễu diễn đàn dương cầm trước công chúng. Khi 17 tuổi bà thành giáo sư âm nhạc và sau này bà là nhạc công (đàn dương cầm) trong ban nhạc cộng hưởng quốc gia của Mexico. Bà đã sáng tác nhiều nhạc phẩm được ưa chuộng như : No me pidas nunca, Pasional, Déjame quererte, Que seas feliz, Yo no fui, Chatito, chachito… Nhưng nhạc phẩm Bésame Mucho đã đưa bà Velázquez lên đỉnh danh vọng.

Không thể kể hết các ca sĩ nổi tiếng đã trình bày nhạc phẩm Bésame mucho, hai videos dưới đây sẽ giới thiệu hai giọng hát tuyệt vời : Cesária Évora và Andrea Bocelli. Tôi đã chọn hai người này không chỉ vì họ là những ca sĩ thượng hạng, mà cả về cuộc đời rất đặc biệt của họ.

– Bà Cesária Évora sinh năm 1941 (cùng năm bài Bésame mucho được sáng tác) ở Cap Vedes, một quần đảo phía bờ biển Tây của châu Phi, trong một “gia đình yêu âm nhạc”, thân phụ của bà đàn vĩ cầm. Sau khi thân phụ mất sớm, bà đã vào ở trong một cô nhi viện, trước khi được một gia đình nhận về nuôi. Bà sinh sống bằng cách đi hát trong các nhà hàng, phòng trà…

Mãi tới khi 47 tuổi bà mới nhận được hợp đồng với một hãng đĩa nhạc. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi đĩa nhạc của bà phát hành, bà đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng trên thế giới. Một điều đặc biệt khác: Bà không bao giờ mang giày, vớ khi lên trình diễn trên sân khấu, vì thế bà vẫn được mệnh danh là “Nữ hoàng chân đất”…


– Andrea Bocelli sinh năm 1958 tại Lajatico, miển Trung nước Ý. Bị bệnh bẩm sinh, mắt của Bocelli mờ dần và thành bị mù khi 12 tuổi. Cũng chính trong năm đó Bocelli đã đoạt giải nhất trong một kỳ thi tuyển ca nhạc với bài hát nổi tiếng “O sole mio – Mặt trời của tôi”. Tuy bị mù, Bocelli sống rất lạc quan, nhưng không tiếp tục theo đuổi nghiệp cầm ca, mà theo học ngành Luật và trình luận án Tiến sĩ tại Đại học Pisa.

Sau một năm hành nghề luật sư, Bocelli theo học thanh nhạc với Luciano Bettarini. Mặc dù đã đoạt nhiều giải trong một số kỳ thi tuyển ca nhạc, nhưng phải mất 5, 6 năm Boccelli mới có được những thành qủa đầu tiên, sau khi gặp và được Zucchero và Casselli nâng đỡ. Bây giờ Bocelli được coi là ca sĩ tenor thành công nhất thế giới, với hơn 70 triệu đĩa nhạc đã bán được …




Nhớ về Sài gòn ngày xưa, cũng là nhìn lại quãng đời đã qua Tuổi mộng mơ đã xa ! Qúa nửa đời người tôi đã biết… yêu, đã vui nhiều, đã thao thức, đã ưu tư… Hạnh phúc từng có trong tay, nhưng mất mát, đổ vỡ cũng đã chịu ! Nên bây giờ may mắn có được người “bạn đời” sánh bước, đi hết đoạn đường còn lại, tôi có những ước mong, thấy thích bản dịch kiểu … Mỹ hơn. Và tôi muốn cất tiếng hát nho nhỏ cho người tôi yêu : Bésame, bésame mucho ! …

Thạch Bích

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Re: TIN TỨC PHIM ẢNH CA NHẠC

Post by bichphuong »

Image

TÀ ÁO CƯỚI
( Hoàng Thi Thơ)

Hoàng Thi Thơ (sinh 16 tháng 7 năm 1929 - mất 23 tháng 9 năm 2001 tại nhà riêng của ông ở thành phố Glendale, Nam California) là một nhạc sĩ Việt Nam. Ông nổi tiếng tại miền Nam trước 1975 với những bài hát ca ngợi quê hương, đất nước, con người Việt. Một số bút hiệu khác của ông là Tôn Nữ Trà Mi, Tôn Nữ Diễm Hồng, Bích Khê, Triệu Phong.
Sau năm 1975, tại Việt Nam, ông cùng với nhạc sĩ Phạm Duy là hai người bị cấm về nhân thân (cấm toàn bộ tác phẩm), đến đầu năm 2009, một số bài hát của ông mới được Cục Nghệ thuật Biểu diễn thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho phép phổ biến trở lại.

Nói tới cõi giới âm nhạc của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nhiều người cho rằng sẽ là một thiếu sót đáng kể, nếu không nhắc tới ít nhất hai ca khúc, như một thứ hồi ký của đời ông. Đó là các ca khúc “Đường xưa lối cũ”và “Tà áo cưới.”
Theo nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, một trong những người có thẩm quyền nói về cuộc đời, cũng như tiến trình sáng tác của tác giả “Trăng rụng xuống cầu” thì, hai ca khúc kể trên được nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sáng tác trong năm 1958, khi ông trở về làng Bích Khê sau nhiều năm xa cách.

Đối với thế hệ trưởng thành trong thập niên 1940 thì “Ra đi” hay “Trở về” là một đề tài tạo nhiều xúc động. Do đó, nó cũng mang lại nhiều vòng hoa vinh quang, làm thành tên tuổi không ít văn nghệ sĩ. Đó là thời gian mà những cuộc ra đi, trở về nhuốm nhiều đau thương, nhiều nước mắt nhất, do những biến động lớn của lịch sử Việt Nam thời đó.
Nhiều người cho rằng những đoạn lìa, tang chế đứt ruột này, khởi sự từ cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp. Để rồi sau đấy, là cuộc di cư vĩ đại của hơn một triệu đồng bào miền Bắc vào miền Nam tìm tự do. Và, hơn ba thập niên vừa qua, lại là cuộc di tản, vượt biển vĩ đại, là những đoạn lìa, oan nghiệt trên bước đi thăng trầm của định mệnh dân tộc.

Riêng đề tài “trở lại” hay “tìm về” của nền tân nhạc Việt trong giai đoạn thuộc các thập niên 1940, 1950, người ta ghi nhận được khá nhiều những ca khúc mà tới hôm nay, dù khói lửa đã nguôi, tàn tro đã lắng, nhưng mỗi khi nghe lại các ca khúc ấy, những tâm hồn nhậy cảm, vẫn không khỏi bồi hồi, ngậm ngùi, tựa một lần thêm chứng kiến, sống lại với xiết bao thương đau cũ.

Nếu chỉ chọn ra những ca khúc mà ngay tự nhan đề đã nói rõ, nói hết nội dung tác phẩm thì trong giới hạn của mươi năm kể trên, người ta thường liên tưởng tới “Ngày về” của Hoàng Giác; “Trở về” của Châu Kỳ; “Ngày trở về” của Phạm Duy; và dĩ nhiên không thể không nhớ “Đường xưa lối cũ” của Hoàng Thi Thơ…
Nhưng, nếu Phạm Duy “thi ca hóa” với cực tả anh thương binh trong “Ngày trở về”:

Ngày trở về, có anh nông phu chống nạng cày bừa
Vì thương yêu anh nên ngày trở về
Có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ
Ngày trở về, lúa ngô thi nhau hát đùa trước ngõ
Gió mát trăng thanh, ôi ngày trở về
Có anh thương binh sống đời hòa bình.

Hay “Ngày về” của Hoàng Giác, ngỡ ngàng vì “bạn cũ,” vì “đường tơ” đã siêu lạc chân trời khác:

Trênđường tha hương, vui gió sương
riêng lòng ta mang mối nhớ thương
âm thầm thương tiếc cho ngày về
tìm lại đường tơ nay đã dứt
Nghe tiếng chim chiều về gọi gió
như tiếng tơ lòng người bạc phước
nhắp chén men say còn vương bóng quê hương
dừng bước tha hương lòng đau.

Nó vẫn là một tìm về không ra khỏi tính lãng mạn. Một dạng thức của “thú đau thương!”
Ngay“Trở về” của Châu Kỳ, tuy mang ít nhiều tính “tự sự” như:

Về đây nhìn mây nước bơ vơ
Về đây nhìn cây lá xác xơ
Về đây mong tìm bóng chiều mơ
Mong tìm mái tranh chờ
Mong tìm thấy người xưa
Về đây buồn trông cánh chim bay
Về đây buồn nghe gió heo may
Về đây đâu còn phút sum vầy
Đâu còn thắm niềm say
Lạnh lùng ngắm trời mây…

Thì, dù tha thiết, ngỡ ngàng đớn đau cách mấy, vẫn là tâm cảnh của một người đi tìm…một người. Chính xác hơn, đó là cuộc trở về với hy vọng tái ngộ một tình yêu dang dở. Riêng Hoàng Thi Thơ trong trởvề qua ca khúc “Đường xưa lối cũ” mới là một trở về tìm mẹ. Tìm em. Tôi muốn gọi đó là một “chuyện kể,” có lớp lang. Một thứ “hồi ký” viết bằng âm nhạc:

Đường xưa lối cũ,
có mẹ tôi run run trong hôn hoàng
Lòng già thương nhớ,
nhớ đến tôi, lom khom đi tìm con
Khi tôi về, bồi hồi trong nắng
Tưởng gặp người em hân hoan đứng đón anh về
Nào ngờ người em sang ngang khi xuân chưa tàn
Con đò nào đây đưa em tôi vào xa vắng…
Khi tôi về, nghẹn ngào trong nắng
Tưởng gặp mẹ tôi rưng rưng đứng đón con về
Nào ngờ mẹ tôi ra đi bên kia cuộc đời
Không lời biệt ly cuối cùng trước khi phân kỳ…

Cũng chính vì tính “chuyện kể”, tính “hồi ký” mà ca khúc “Đường xưa lối cũ” của họ Hoàng tới hôm nay, vẫn là những lời nói thay cho tình cảm của nhiều gia đình Việt nam; cả khi họ không cùng một tâm cảnh với tác giả.

Lại nữa, một trong những tác nhân chính, đưa tới nhiều cuộc “tử biệt sinh ly” trong tình yêu của nhân gian là, chuyện “sang sông” hay “lên xe hoa” của một trong hai người yêu nhau. Bởi thế, từ thuở rạng đông của nền tân nhạc Việt, Đoàn Chẩn – Từ Linh trong ca khúc “Tà áo xanh” cũng đã làm não lòng người với:

Rồi chiều nao xác pháo
bên thềm tản mác bay
em đi trong xác pháo
anh đi không ngước mắt
thôi đành em…
Lúc anh ra đi lạnh giá tâm hồn
hoa mai rơi từng cánh trên đường
lạnh lùng mà đi tiếc nhớ thêm chi
hoa tàn nhạc bay theo không gian.

Tới các ca khúc như “một người lên xe hoa” của Hoàng Trọng, hay “Tôi đưa em sang sông”của Y Vũ và Nhật Ngân, hoặc “Sang ngang” của Đỗ Lễ…, cũng là những ca khúc ở được dài lâu với những tâm hồn bi lụy.

Nhưng, có lẽ chỉ riêng một Hoàng Thi Thơ, đã đi vào thể tài này, qua bài “Tà áo cưới,” vẫn hình thức “hồi ký,”dành cho người em gái của mình, chứ không phải cho người yêu mà mọi người vẫn lầm tưởng qua câu:
Những tà áo cưới thướt tha bay bay trong nắng chiều

Đưa người em gái bước chân đi đi về bến nao ?
Ôi buồn làm sao ! Em có nhớ Thu nào ?
Những tà áo cưới tiễn em đi em lấy chồng
Chim trời theo gió biết nơi đâu đâu mà ước mong !
Cung đàn thầm rơi rơi mãi tiếng tơ lòng...

Hoàng Thi Thơ sáng tác trên 500 ca khúc từ tình ca đến nhạc quê hương, dân ca đến nhạc thời trang, đoản khúc đến trường ca, nhạc cảnh đến nhạc kịch.

Khoảng năm 1972-1973, ông sử dụng thêm bút danh mới là Tôn Nữ Trà Mi và sáng tác một loạt ca khúc mà báo chí thời đó gọi là "đem lại cho làng tân nhạc Việt Nam luồng sinh khí mới và cảm hứng tân kỳ" như "Rước tình về với quê hương", "Việt Nam ơi ngày vui đã tới", "Ô kìa đời bỗng dưng vui", "Xây nhà bên suối", "Ngày vui lý tưởng"... Những ca khúc này đã quen thuộc với người Việt Nam cho đến tận nay.

Tôi đi trong nắng Thu mầu nhớ
Ngơ ngẩn vì tiếng gió Thu buồn
Tôi đi trong lá Thu vàng úa
Cứ ngỡ là muôn lá tình thư.

Hôm nay sao áo bay nhiều thế !
Tôi tưởng ngàn cánh bướm khoe màu
Ô hay ! Tiếng pháo đâu buồn quá ?
Xác đỏ làm xao xuyến đường hoa...

Những tà áo cưới thướt tha bay bay trong nắng chiều
Đưa người em gái bước chân đi đi về bến nao ?
Ôi buồn làm sao ! Em có nhớ Thu nào ?
Những tà áo cưới tiễn em đi em lấy chồng
Chim trời theo gió biết nơi đâu đâu mà ước mong !
Cung đàn thầm rơi rơi mãi tiếng tơ lòng

Bâng khuâng trông gió bay tà áo
Gió hỡi làm sao bớt lạnh lùng ?
Tôi đi đi mãi theo mầu nắng
Nắng để lòng tôi với quạnh hiu.

Tình Khúc Bất Tử

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Re: TIN TỨC PHIM ẢNH CA NHẠC

Post by mexanh »

Image

"Từ Lệ Thu đến Hồng Nhung – Ba lần chết của nhạc Việt" -

"Nếu từ 1954, người Cộng Sản đã giết chết âm nhạc ở miền Bắc như thế nào, thì sau 1975, các ca sĩ xuất thân từ miền Bắc sau 1954 đã giết nhạc miền Nam như thế ấy. Âm nhạc Việt đã đi qua hai lần chết..."

NHL


Chắc là bạn đã từng nghe ca sĩ Hồng Nhung hát. Một giọng ca điêu luyện, rất hay – không ai phủ nhận. Nhưng, như cố nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã có lần phê bình rằng Hồng Nhung, hay Thanh Lam, Mỹ Linh, Bằng Kiều... là những ca sĩ được đào tạo bài bản, nhưng chính kỹ năng của họ đã giết chết âm nhạc khi trình diễn. Khi mà kỹ thuật điêu luyện và năng lực lên giọng thật cao, kéo hơi thật dài đã trở thành trọng điểm, thì chúng trở nên khuyết điểm. “Rằng hay thì thật là hay,” – nói theo cụ Nguyễn Du, nhưng khi nghe Hồng Nhung hay Bằng Kiều hát – thì “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào.” Khi ca nhạc chỉ là một sự trình diễn kỹ thuật hát xướng, thì cái hay của nó chỉ còn là hương vị khô cằn.

Hãy so sánh Hồng Nhung, Bằng Kiều với Lệ Thu và Chế Linh. Khi hai ca sĩ miền Nam nầy hát, họ không mang nặng tính trình diễn – mà họ chỉ hát một cách tự nhiên, chân thành, mà yếu tố kỹ năng không là trọng điểm. Khi Lệ Thu bước ra sân khấu, Chị đi chậm rãi nhẹ nhàng; Khi Chế Linh bắt đầu hát, đôi mắt của Anh như trải qua cơn mê hoặc hay đang say rượu. Cái chất nhạc và lời ca đã thôi miên tâm hồn của họ trước khi cất lời. Âm thanh Lệ Thu ướt đẫm cảm xúc thanh ngọt; Giọng ca Chế Linh đậm đà như cơm nếp miệt vườn.

Trong khi đó, giọng ca Hồng Nhung, Bằng Kiều mang âm hưởng của cái gì đó không thật, nghe ra thì nông cạn – và nhất là cái âm sắc giả dối. Kỹ thuật luyến láy của họ nắm đầu dây chuyển động cho lời ca – và câu hát càng lên cao, càng kéo dài thì nó càng giao hoán tình cảm tâm hồn về vị thế phụ thuộc và bị coi nhẹ. Nghe Bằng Kiều hát xong, không có gì còn lại trong tâm tư người nghe; khi Hồng Nhung chấm dứt câu ca kéo dài như bất tận, thì khán giả mơ hồ thấy cô ca sĩ nầy như muốn được vỗ tay vỡ rạp. Khi âm nhạc đã bị ngoại thân hóa – tức là hát nhạc một cách vô hồn, vô cảm – thì âm nhạc đã bị phản bội.

Ví dụ, bài “Đêm thấy ta là thác đổ” của Trịnh Công Sơn, chẳng hạn. Cố Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến ở Trường Viết văn Nguyễn Du thuở trước ở Hà Nội, đã từng cho đó là bài ca với lời thơ hay nhất của tân nhạc Việt Nam. Bạn hãy lên “Youtube” nghe Lệ Thu hát bài nầy, sau đó nghe Hồng Nhung hay Mỹ Linh, Thanh Lam cũng bài đó. Xong rồi bạn sẽ hiểu tại sao GS Hiến đã tôn vinh bài ca nầy của họ Trịnh như thế. Đơn giản thôi, vì ông nghe Lệ Thu hát nó.

Cũng một lời ca, “Rồi bên vết thương tôi quì,” thì Lệ Thu làm cho một người sành điệu Hà Nội như GS Hiến cảm nhận được cái tính chất bi tráng trong khiêm cung của thân phận làm người Việt Nam. Cũng với chừng lời đó, Hồng Nhung hay Thanh Lam hát thì chỉ làm cho chúng ta quên mất ý nghĩa, cũng như âm hưởng không đụng đến trái tim, từ lời nhạc, mà làm ta chỉ nghĩ đến cung khúc thuần kỹ năng.

Miền Nam trước 1975 có rất nhiều nhạc sĩ ở tầm cao. Từ Lê Thương đến Trầm Tử Thiêng; Từ Cung Tiến đến Ngô Thụy Miên, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, hay Lam Phương, Trần Thiện Thanh. Nhưng ca sĩ thì chỉ có hai người. Đó là Lệ Thu và Chế Linh. Hai ca sĩ nầy là hiện thân khá tràn đầy tâm chất miền Nam thuở đó. Lệ Thu là biểu trưng một thể loại nhân cách, tầm mức ưu hạng từ tri thức đến giọng nói, của một tâm hồn miền Bắc trước 1954 di cư vào Nam; trong khi Chế Linh là một niềm rung cảm từ một nền văn minh đã bị diệt vong của miền Trung, mà giọng ca ngọt ngào và chân tình bi đát của anh phản chiếu một âm hưởng bi hùng ở nơi một linh hồn vong quốc.

Trong khi đó, ở miền Bắc từ 1954, sau cái Thời của nhạc Tiền chiến và Văn Cao, khi mà năng lực quốc gia chỉ để dành cho chiến tranh, ta chỉ còn thấy một sa mạc hoang vu cho tân nhạc và ca sĩ. Có lẽ bài ca xứng đáng nhất cho thưở ấy là “Năm anh em trên chiếc xe tăng.” Cái hay ý nhị của “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” khi đã chuyển qua bài xe tăng nầy, đã trở thành một điều nhí nhỏm như là một bài đồng ca cho trẻ em hát – mà khi vừa vỗ tay, vừa hát, các em tất cả đều nhoẻn miệng cười to, không ngậm lại được.

Từ trong hoang mạc âm thanh đó, những Bằng Kiều, Hồng Nhung, Thanh Lam, Mỹ Linh được phát sinh. Khi các ca sĩ miền Bắc nầy cất lời ca cho một bài thật là “Sến” của Tú Nhi chẳng hạn, thì họ chỉ nâng cao kỹ năng của “Năm anh em trên chiếc xe tăng” vào một giòng nhạc vốn đã phủ nhận cái kỹ năng đó tự bản chất. Cho dù Hồng Nhung, hay Thanh Lam, Mỹ Linh, có cố gắng bao nhiêu đi nữa, thì họ cũng sẽ không khai mở và chuyên chở được giòng mạch ngầm linh cảm của nhạc Trịnh được. Và khi Bằng Kiều muốn hát nhạc Chế Linh, anh ta đã gột bỏ hết cái chất "Sến" rất bình dân, rất thật tình, rất gần gũi của thể loại ca từ và âm hưởng “Bolero” đó.

Âm nhạc khác với toán học – điều dĩ nhiên. Trong khi số học phát huy tính đơn vị đơn lập, thì âm nhạc mang bản sắc liên đới. Một con số tự nó mang một ý nghĩa quy định, nhưng một nốt nhạc, một lời ca đơn thuần chỉ là số không vô nghĩa. Tính liên đới của âm nhạc không những chỉ mang tính nội hàm, tức là từ nốt này chuyển sang nốt kia, lời này tiếp lời trước, mà bao gồm tính quan hệ tương tác giữa lời ca, nốt nhạc – và quan yếu nhất là giữa ca sĩ với người nghe. Khi ca sĩ hát, như Hồng Nhung hay Bằng Kiều cất tiếng ca điêu luyện của họ, tính tương tác giữa người nghe và ca sĩ bị cắt đứt. Ta không thấy cảm thông, không bị xúc động bởi bài ca họ hát được.

Ngược lại, khi nghe Lệ Thu hát “Hẹn Hò” của Phạm Duy, Chế Linh hát “Túy Ca” của Châu Kỳ, người nghe bị cuốn vào âm hưởng nơi lời ca – như thấy mình được trôi chảy hay nâng cao bằng cảm xúc cho đến cuối bài. Cũng những lời ca, nốt nhạc ấy, nhưng khi Hồng Nhung hay Bằng Kiều hát thì thấy linh hồn của nhạc đã bỏ rơi âm thanh. Nỗi khát khao được vỗ về và an ủi cho cuộc đời bình nhật đau thương nay khi nghe họ hát đã trở nên một gánh nặng mệt nhoài.

Nếu từ 1954, người Cộng Sản đã giết chết âm nhạc ở miền Bắc như thế nào, thì sau 1975, các ca sĩ xuất thân từ miền Bắc sau 1954 đã giết nhạc miền Nam như thế ấy. Âm nhạc Việt đã đi qua hai lần chết. Một đằng thì chính trị phủ định tâm hồn cá nhân qua âm hưởng; đằng nầy thì kỹ năng trình diễn thiếu tâm hồn đã hủy hoại ca từ bằng ý chí xác định ngã thức qua âm thanh. Mỗi lần nghe Hồng Nhung hát nhạc Trịnh, hay Bằng Kiều hát nhạc "Bolero," ta thấy như họ cầm dao sắc ngọt ngào cắt đứt bản nhạc cũ mòn trên tay. Những ai đã từng nghe Chế Linh hát “Thói Đời,” xong nghe qua Bằng Kiều hát “Hoài Cảm” hay “Đắp Mộ Cuộc Tình” thì sẽ thấy điều nầy. Một đằng là cơm gạo đồng quê mới giã cối ăn với rau dền hái sau vườn, đằng kia là chiếc bánh “Hamburger” của tiệm “McDonald” nơi góc phố đầy âm thanh. Ôi là cái Thời của tiếng ồn thay cho âm hưởng.

Lần nữa, âm nhạc Việt đã trải qua hai ba lần chết. Một đằng bởi ý chí chiến thắng, một đằng với nghệ thuật hòa bình. Không ngạc nhiên gì mà sau 1975, âm nhạc Việt Nam không còn ai sáng tác gì mới và hay nữa.

Vâng, kỹ năng hát cũng như là kỹ thuật “karaoke” tối tân từ công nghệ Nhật bản. Cả hai cùng là dao sắc đâm chết âm nhạc Việt. Với “karaoke,” ngày nay, xã hội và con người Việt ta lại còn chịu đựng thêm một cái chết âm nhạc nữa. Đó là cái chết rất hồn nhiên và bình dân từ năng ý trình diễn của dân ta. Hằng đêm, khi ta đi vào bất cứ ngõ phố nào, làng quê nào, thì các loa "karaoke" inh ỏi cũng muốn bắt chước Hồng Nhung, Bằng Kiều để mà giết chết Chế Linh và Lệ Thu. Trong thao thức vì mất ngủ bởi đám ca sĩ miệt vườn eo éo thâu đêm bên hàng dậu, ta mới cảm nhận được cái ý từ câu ca của nhà Trịnh, “Người chết (ba) lần thịt da nát tan.”

Cho nên khi nghe tin Lệ Thu vừa qua đời ở “California,” chúng ta phải cùng tiếc nuối. Bởi vì, cái chết của Chị là dấu ngoặc cho một Thời Quán âm nhạc Việt Nam đã đi qua và không bao giờ trở lại. Nhạc Việt đã bị giết chết từ lâu. Kể từ nay sẽ không còn một Lệ Thu, một Chế Linh nào cho chúng ta nghe và đồng cảm nữa.

Nguyễn Hữu Liêm

Post Reply