TIN TỨC PHIM ẢNH CA NHẠC

Phim ảnh, âm nhạc đưa người ta vào thế giới ảo mộng quên đi bao nỗi muộn phiền của đời thường... Nơi đây chỉ ghi lại một phần nào đó của cái thế giới muôn mầu sắc và âm thanh đó mà thôi.

Moderator: Nguyễn_Sydney

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Bí Mật “Chăn Gối” của Jennifer
Loper Sẽ “Được” Xuất Bản?
Người đẹp đa tài Jennifer Loper như vừa bị một đòn trời giáng khi biết tin chồng cũ của mình - Ojani Noa, sẽ tiết lộ những bí mật “chăn gối” trước kia của cô bằng cách xuất bản chúng thành một cuốn sách.
Ojani Noa đòi cô vợ cũ của mình là nữ ca sĩ kiêm diễn viên J.Lo phải trả cho anh ta một số tiền là 4,9 triệu đô la thì Noa mới ngưng xuất bản cuốn sách viết về những chuyện mây mưa của J.Lo khi vẫn còn là vợ của anh ta.
Được biết, nội dung cuốn sách viết với những lời lẽ kết tội J.Lo đã không giữ trọn đạo vợ chồng. Noa còn tiết lộ thêm rằng, anh có cả một cuốn băng video quay cảnh hai người đi hưởng tuần trăng mật với những cảnh quay J.Lo vô cùng nóng bỏng, và Noa cho rằng nếu J.Lo muốn yên thân thì cũng phải trả một khoản tiền cho cuốn băng này.
Còn về phía J.Lo cô đã nhờ đến toà án Los Angeles (Mỹ) can thiệp bằng cách cấm Ojani Noa bán những câu chuyện
Image liên quan đến cô, vì đó là danh dự của một còn người và vì một điều hết sức quan trọng nữa mà J.Lo cho rằng chồng cũ của cô - Noa đã vi phạm giao ước giữa hai người.
Lopez và Noa đã kết hôn vào năm 1997, họ đã trúng mũi tên thần ái tình khi tình cờ gặp nhau trong một nhà hàng ở Miami . Nhưng chỉ 11 tháng sau đó “đôi đũa lệch” này đã đưa nhau ra toà để li dị.
Năm 2001cô kết hôn lần thứ hai với vũ công Cris Judd và cuộc hôn nhân này còn ngắn ngủi hơn cuộc hôn nhân
Image lần đầu, nó chỉ kéo dài được 9 tháng.
Chỉ một thời gian sau, cô tiếp tục đính hôn với tài tử Ben Affleck nhưng cuối cùng vào tháng 6/2004 cô lại làm vợ của ca sĩ Marc Anthony.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image
Nhạc sĩ Lam Phương (giữa), nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương ( trái ) và Trường Kỳ

LAM PHƯƠNG:
TRÊN 50 NĂM GẮN BÓ VỚI ÂM NHẠC


TRƯỜNG KỲ



Khi bài viết này đến tay bạn đọc, một chương trình vinh danh nhạc sĩ Lam Phương vừa được diễn ra vào ngày 25 tháng 06 năm 2006 tại thành phố Montreal, Canada với chủ đề "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương". Chương trình này do The Handicapped And Orphans Fund do nữ ca sĩ Thái Hà là đại diện, đã được sự hưởng ứng của khoảng 1500 khán giả, một con số kỷ lục trong cơn sốt "World Cup". Những nghệ sĩ góp mặt trong chương trình đặc biệt này gồm có : Ý Lan, Hương Lan, Tuấn Ngọc, Tuấn Anh, Nguyễn Hưng, Thanh Hà, Thiên Kim, Mai Linh và Thái Hà. Trước đó, đã có những chương trình vinh danh người nhạc sĩ tài hoa và dễ mến này được tổ chức tại nhiều thành phố khác ở Hoa Kỳ như Washington, D.C., Santa Clara, vv.... Cũng với chủ đề "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương",

Image
Nhạc sĩ Lam Phương ngỏ lời cám ơn khán giả tham dự chương trình "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương " tại Montreal ( Hình : La Toàn Vinh )


Một chương trình vinh danh khác sẽ được diễn ra tại Anaheim Convention Center ở quận Cam, California vào ngày 13 tháng 8.2006 tới đây. Vàø theo chỗ chúng t6i được biết, trung tâm Thuý Nga một lần nữa sẽ thực hiện riêng cho Lam Phương một chương trình video trong một ngày không xa trong khi tình trạng sức khoẻ của ông được ghi nhận là càng ngày càng khả quan...

I - LAM PHƯƠNG : MỘT Ý CHÍ MẠNH MẼ

Có một pha trộn giữa ngạc nhiên và cảm động khi tôi có dịp tiếp xúc với nhạc sĩ Lam Phương qua điện thoại một thời gian trước khi ông xuất hiện trong chương trình đặc biệt vinh danh ông nằm trong chủ đề " 50 Năm Âm Nhạc Lam Phương", tổ chức vào ngày 25 tháng 06 vừa qua tại Montreal. Ngạc nhiên, vì giọng nói của ông đã rõ ràng hơn trước rất nhiều, so với thời lần tôi gặp gỡ ông cách đây khoảng 7 năm tại căn "mobile home" của ông ở Orange County sau khi ông bị đứt mạch máu ở bán cầu não trái do biến chứng của bệnh tiểu đường. Tình trạng này đã khiến nhạc sĩ Lam Phương bị liệt nửa thân người bên mặt. Cảm động vì tình trạng sức khỏe của ông hiện nay đã rất khả quan, có thể đi lại quanh nhà một mình mà không cần đến gậy hoặc xe lăn, tuy vẫn gặp nhiều khó khăn. Trừ khi đi ra ngoài mới dùng đến gậy hoặc xe lăn, như hình ảnh của ông khi xuất hiện trên chương trình Paris By Night vài năm gần đây.

Sau khi bị liệt nửa người, nhạc sĩ Lam Phương thỉnh thoảng vẫn sáng tác vì niềm đam mê âm nhạc đối với ông luôn là nguồn sống, là sức mạnh tinh thần. Tuy nhiên đối với ông viết được một nhạc phẩm quả thật là vất vả khi phải vận dụng đầu óc và nhất là phải viết bằng tay trái, trong khi tay phải hầu như không còn sử dụng được do bán cầu não trái bị tổn thương... Nhưng ông đã vượt qua nhiều trở ngại do bệnh tật mang lại để thực hiện được điều mình mong muốn.

Khoảng 5, 6 nhạc phẩm do nhạc sĩ Lam Phương sáng tác trong thời kỳ này đã được trung tâm Thúy Nga đưa vào những sản phẩm audio và video.

Đối với Lam Phương, tất cả những kết quả đạt được để vượt qua những khó khăn đều đến từ ý chí mạnh mẽ của ông. Nếu không, chắc chắn ông đã bỏ cuộc để phó thác cho số mệnh như ông nói::"Không có ý chí là bỏ cuộc! Khong có ý chí là tiêu rồi đó! Đã, bỏ cuộc không tập nữa đâu! Bây giờ vẫn còn tập mỗi ngày đấy chứ!. Mỗi ngày có người lại nhà tập cho tôi. Thành ra tay chân tôi nó cũng đỡ lắm!.Nếu bệnh này mà không tập thì một thời gian tay chân nó sẽ teo lại "

Nhưng động cơ nào đã khiến Lam Phương có được niềm lạc quan để dùng ý chí cố gắng đạt được mục đích theo đuổi là trở lại với cuộc sống bình thường ?. Qua những trao đổi với ông, được biết âm nhạc lúc nào cũng vẫn là lẽ sống của ông.. Ông sẽ tiếp tục sáng tác một khi được quay về với tình trạng sức khỏe bình thường. Và người nhạc sĩ nổi tiếng đào hoa này đã vui vẻ cho biết trong đời sống tình cảm, ông sẽ sẵn sàng...lầm thêm nữa nếu may mắn được hồi phục. . "Lầm" là tựa đề một ca khúc tình cảm nổi tiếng của ông, đề cập về sự tan vỡ giữa ông và nữ kịch sĩ Túy Hồng, 10 năm sau khi hai người ra đến hải ngoại. Và hình như lúc nào ông cũng vẫn còn ở trong tình trạng giống như tên một nhạc phẩm của ông là "Tình Vẫn Chưa Yên". Dĩ nhiên sự phục hồi sức khỏe sẽ không thể nào xẩy ra một cách hoàn hảo như Lam Phương và những người mến mộ ông mong muốn. Nhưng đạt được kết quả như ngày hôm nay và còn tiếp tục tiến triển hơn nữa trong những ngày sắp tới đã là những gì được coi là đáng mừng vì theo ông" Bây giờ đối với ngày xưa cũng đỡ được đến 70 phần trăm!"

Chắc chắn do sự thôi thúc của âm nhạc và sự thiếu vắng tình cảm đã mang đến sự kiên nhẫn hiếm có cho người nhạc sĩ dễ mến và là người rất thương yêu thân mẫu của mình - đã qua đời vào năm 1979 -. thực hiện được ý chí của ông. Lam Phương tâm sự : ''Mình cũng kiên nhẫn lắm đó! Nhất là trong vấn đề tập nói! Lúc đầu họ dạy mình nói suốt từ A tới Z. Nói riết thì cái lưỡi mình nó dịu , rồi tự động nó trả lại như trước! Dĩ nhiên không thể ngay thẳng như người thường. Bệnh này không có thuốc men gì hết. Chỉ có chịu khó tập thôi, chứ không có uống thuốc cho trở lại như trước được".

Lam Phương cho biết ông khám phá ra mình bị bệnh tiểu đường từ năm 1991, trong thời gian làm giấy tờ thành hôn với người vợ sau tên Diệu...Nhưng sau đó ông trở về Pháp mà không quan tâm đến việc chữa trị nên vẫn ăn uống như một người bình thường. Đến khi trở lại Mỹ thì bệnh tình ông đã nặng với những triệu chứng rõ ràng...

Image
Cô Thái Hà, đại diện cho ban tổ chứ
c trao bảng lưu niệm cho nhạc sĩ Lam Phương trong chương trình "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương" tại Montreal ngày 25 tháng 06 năm 2006 ( hình : La Toàn Vinh )

Nhờ chịu khó ăn uống kiêng khem, nhạc sĩ Lam Phương chỉ dùng gạo lức, cá kho lạt và rau trái từ nhiều năm nay. Nên những kết quả thử nghiệm máu trong thời gian gần đây đã cho thấy một kết quả tốt đẹp đáng kể. Tuy ăn uống theo một chế độ rất khắt khe, nhưng vì ít hoạt động nên hiện nay ông cân nặng tới 170 lbs, với một chiều cao 1 thước 72, trong những sinh hoạt đều đặn hàng ngày. Mỗi ngày ông dậy từ sớm để chờ người đến tập cho đến trưa. Dùng cơm trưa xong, ông nằm nghỉ một lát rồi lại dập để tập tiếp với đầy đủ dụng cụ được sắm sửa trong nhà. Xong rồi ông nghe nhạc hoặc coi truyền hình trước khi ăn cơm tối. Ngày nào cũng đều đặn như vậy nên sự hồi phục đã đến với ông một cách khả quan...

Lam Phương đã thành thật cho biết ông đã rất bi quan trong thời gian đầu tiên khi mới tập, sau khi bị tai biến mạch máu não. Cả một chuỗi ngày tối tăm, mù mịt hiện ra trước mắt một người có đầu óc tưởng tượng phong phú như ông, đã khiến Lam Phương tưởng như cuộc đời ông không còn có một tia hy vọng nào. Tuy nhiên sau một thời gian chăm chỉ tập luyện, dần dần ông đã lấy được phần nào sự cân bằng cho tâm hồn, khi không còn bận tâm với cuộc sống bận rộn hàng ngày như những người chung quanh.

Thời gian bị bệnh, Lam Phương chung sống với người đã chính thức trở thành người vợ sau của ông từ năm 1991. Trong đó có một thời gian hai người cư ngụ ở Paris trước khi quay trở lại Mỹ. Nhưng chỉ hơn một năm sau khi ông bị ngã và bị liệt nửa người vào ngày 13 tháng 03 năm 1999, vợ ông đã tỏ ra có những thái độ cho thấy không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng để săn sóc ông trong những ngày bệnh hoạn nặng nề, như lời nhạc sĩ Lam Phương tâm sự. Sau một lần vợ ông tỏ ý muốn chia tay, ông không hề có một sự níu kéo nào khi chủ trường "giữ người ở lại mà không giữ người đi". Nên ông đã có một thái độ dứt khoát trong khi đầu óc trĩu nặng những mặc cảm tự ti của một người trong phút chốc trở thành tàn phế với miệng mồm méo mó, nói năng ngọng nghịu và tay chân không còn một chút vững vàng... Ông đã điện thoại liền cho vợ chồng người em gái út đến chở ông từ căn "mobile home" về ở nhà người con gái lớn lúc đó ở thành phố Westminster. Ông ở đây được hơn một năm, dưới sự săn sóc của vợ chồng người em gái từ Paris dọn sang, sau khi được biết tình trạng sức khỏe của ông bị sa sút nặng nề. Sau đó ông ra mướn một appartment ở khoảng một năm trước khi dọn ra một căn nhà ở thành phố Garden Grove ở với cặp vợ chồng này cho đến nay đã được hơn 4 năm.

Nhạc sĩ Lam Phương có hai người con gái với người vợ đầu tiên là nữ kịch sĩ Túy Hồng mà sự chia tay với ông đã trở thành đề tài cho mọi người bàn tán, nhất là sau khi ông cho ra đời nhạc phẩm "Lầm". Người con cả tên Ánh Hằng hiện cư ngụ ở thành phố Irvine, theo nghề chuyển âm phim như mẹ. Người con thứ nhì tên Ánh Loan cũng cư ngụ ở thành phố với ông. Cả hai vẫn thường xuyên ghé thăm người bố kém may mắn của mình mà họ đều hết lòng quí mến. Có thể nói một phần nhờ ở sự thương yếu của các con và vợ chồng người em, nhạc sĩ Lam Phương đã lấy lại được tinh thần để cố gắng theo đuổi ý chí phục hồi sức khỏe của mình, đối với ông là một điều mơ ước:"Mơ ước của tôi là được trở về cuộc sống bình thường, đi đứng bình thường vậy thôi! Chứ còn vấn đề tình cảm hay là tiền bạc thì tôi không cần nữa. Cuôc đời tình ái của tôi cũng vậyt, tôi phú mặc cho trời đưa đẩy tới đâu đi tới đó. ".

Niềm mơ ước của Lam Phương trên thực tế cho thấy ông đã thực hiện được ba phần tư nhờ vào sự quyết tâm của ông. Và có thể không còn bao lâu nữa ông sẽ có dịp tiếp tục theo đuổi những dự tính của mình như tiếp tục con đường sáng tác và đi trình diễn nhiều nơi.

Trong suốt buổi nói chuyện, nhạc sĩ Lam Phương đã cho người đối thoại với mình thấy được rõ tinh thần lạc quan của ông với những nụ cười và những câu trả lời vui vẻ. Người nhạc sĩ tài hoa và cũng rất đào hoa đo tuy đã nói là không cần đến vấn đề tình cảm nữa để phó mặc cho sự đẩy đưa của số mệnh. Nhưng thật sự hầu như ông còn quan tâm rất nhiều đến vấn đề này, từng có một thời gian dài bám sát lấy ông. Mặt khác, nhạc sĩ Lam Phương thú nhận không do dự khi luôn quan niệm tình yêu là một chất xúc tác rất mạnh cho việc sáng tác của một người nghệ sĩ, nhất là người nghệ sĩ đó là ông, luôn là một kẻ thích xông pha trong chốn tình trường để viết thành những bài tình ca bất hủ :" Cuộc đời nghệ sĩ mình phải có cái đó mới làm được . Nếu mà tôi khô khán thì tôi đâu có làm nhạc được.. Đó là cái điểm quan trọng cho con người sáng tác!".

Nắm được điểm quan trọng đó, Lam Phương đã cho ra đời hàng trăm ca khúc xoay quanh đề tài tình yêu, không kể những ca khúc viết về đời lính hay quê hương. Để ghi nhận tài năng của một nhạc sĩ sáng tác có nhiều đóng góp cho nền tân nhạc Việt Nam, vài năm gần đây nhiều chương trình đặc biệt vinh danh ông đã được tổ chức ở nhiều nơi khác nhau ở hải ngoại. Trước tiên là chương trình "Một Lần Cho Một Đời: 55 Âm Nhạc Lam Phương", diễn ra tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn vào ngày 17 tháng 10 năm 2004. Không đầy một năm sau, một chương trình khác đã được tổ chức tại Santa Clara, California. Ngày 25 tháng 6 năm 2006 vừa qua là một chương trình khác được tổ chức tại thành phố Montreal với chủ đề "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương". Trong khi đó một chương trình có tầm vóc khác mang cùng chủ đề đang được xúc tiến để diễn ra tại thành phố Anaheim, nam California. Lam Phương cho biết ông rất cảm động về những chương trình được thực hiện để vinh danh ông sau 54 năm ông đã cống hiến cả cuộc đời mình cho âm nhạc, tính từ khi tác phẩm đầu tay của ông là "Chiều Thu Ấy" ra đời vào năm 1952. Ngoài những chương trình vinh danh Lam Phương đã và sẽ được thực hiện, rất nhiều trung tâm nhạc đã đưa những ca khúc của ông vào những sản phẩm của mình với sự đón nhận nồng nhiệt của khán thính giả yêu mến ông. Gần đây hơn cả là CD "Tình Ca Không Đoạn Kết" với tiếng hát Ý Lan trong những ca khúc chọn lọc của Lam Phương, trong số có một nhạc phẩm mới của ông là Bài Thơ Không Đoạn Kết...

II- LAM PHƯƠNG : NHÌN LẠI QUÃNG ĐƯỜNG TRÊN 50 NĂM QUA...

Nhạc sĩ Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng. Ông sinh ngày 20 tháng 03 năm 1937 tại làng Vĩnh Thanh Vân, Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang và là anh cả trong một gia đình gồm 6 người con. Trong số có 2 người em gái ở Việt Nam mà một người đã qua đời vì bệnh tiểu đường.

Thân phụ ông, tên Lâm Đình Chất, đã lên Sài Gòn sinh sống từ khi ông còn nhỏ và từng có những gắn bó với những người đàn bà khác, với kết quả là ông có được một số khá đông em cùng cha khác mẹ. Cũng vì thế, ôâng đã dồn hết lòng thương yêu cho người mẹ tên Lê Thị Nho quê mùa nhưng chân chất, nghèo nàn nhưng giầu tình thương của mình. Do lòng yêu thương người mẹ hiền - qua đời vào năm 1979 - mà Lam Phương đã cố gắng vươn đến thành công trên con đường âm nhạc. Và đó cũng là động cơ thúc đẩy ông viết thành những ca khúc rất gần gũi với mọi người yêu nhạc: tôi thương má tôi lắm. Má tôi là một người đàm bà có vẻ quê mùa, nhưng mà thực lòng thương tôi lắm. Con trai lớn mà !. Má tôi nói một câu thôi mà tôi đã ráng làm muốn chết luôn ! . Câu nói của mẹ ông là sự ước ao có một nơi trú ngụ khá tươm tất cho bầy con đông đảo trong khi Lam Phương sống chui rúc với gia đình trong một con hẻm lầy lội tăm tối ở xóm Vạn Chài, vùng Đa Kao trong một ngôi nhà mướn tồi tàn, tôi hẹp.

Trước đó, khi lên 10 tuổi, Lam Phương đã bơ vơ lên Sài Gòn một mình để trọ học ở nhà người bác ruột trên đường Đinh Công Tráng ( Tân Định ), bỏ lại mẹ và các em ở miền quê. Theo lời kể của một người cháu thì "tuần lễ trước khi từ giã quê nhà, nhạc sĩ đã lang thang trên khắp các bờ đê, ngồi thẫn thờ hàng giờ nhìn đàn cò trắng tung bay trên đồng lúa xanh rờn, nhìn đám lục bình trôi trên bến Dầu Voi, là nơi hội nhập của hai giòng sông" . Một thời gian sau, mẹ ông cũng lên Sài Gòn để cùng sống trong một hoàn cảnh khó khăn và chật vật, thường được diễn tả trong những nhạc phẩm của ông như Đèn Khuya và Kiếp Nghèo . Ngoài những giờ học ở trường Lauriers, ông đã nhận được sự chỉ dẫn của nhạc sĩ Hoàng Lang. Do lòng thương cảm người học trò nhỏ tuy nghèo nhưng đầy năng khiếu, nhạc sĩ Hoàng Lan đã hết lòng truyền dạy cho ông mà không hề nhận thù lao. Nhưng chỉ sau vài tháng theo học nhạc, Lam Phương đã phải bỏ dở dang để đi làm. Nhưng không do đó mà niềm đam mê âm nhạc nơi ông sút giảm, mà có được đồng nào là ông tìm mua sách nhạc để nghiền ngẫm, tự học thêm.

Một cơ duyên đã đến với Lam Phương khi ông gặp được nhạc sĩ Lê Thương để được hướng dẫn thêm về phương pháp soạn ca khúc phổ thông. "Tôi chỉ có thể dạy em về kỹ thuật sáng tác, nhưng hồn nhạc thì tôi không dậy đươc. Cái đó là do thiên phú nơi mỗi người". Câu nói đầy chân tình đó của nhạc sĩ Lê Thương vẫn được ông khắc ghi mãi đến hôm nay. Nhờ nhận được sự hướng dẫn của hai người thầy nổi danh, vào năm 1952, khi mới được 15 tuổi cậu học sinh Lâm Đình Phùng đã hoàn thành nhạc phẩm đầu tay mang tựa đề "Chiều Thu Ấy", được phát thanh liên tiếp suốt mấy tháng trên đài phát thanh Pháp Á. Không lâu sau ông đã gửi đến người nghe một ca khúc khác là "Trăng Thanh Bình", cũng được coi là một thành công. Trước những kết quả gặt hái được, ông đã liên tiếp tung ra sau đó những ca khúc nằm trong đề tài quê hương như "Kiếp Tha Hương", "Tình Cố Đô", "Chuyến Đò Vĩ Tuyến" .v.v.

Về bút hiệu Lam Phương của mình, ông cho biết đã bỏ dấu mũ ở họ "Lâm" của mình để còn lại "Lam", trong khi nhận thấy tên "Phùng" hơi nặng nên ông đổi lại thành "Phương". Và tên Lam Phương ra đời từ đó. Ngoài ra tên Lam Phương còn mang một ý nghĩa như ông cho biết qua một cuộc phỏng vấn : " Tôi thích mầu xanh lam là mầu của hy vọng. Tôi nhìn về phương trời mầu xanh lam, luôn luôn phấn đấu thắng nghịch cảnh để vươn lên trong cuộc đời.

Suốt tuổi thanh niên, Lam Phương đã sống trong cảnh cơ cực, từ đó tư tưởng bi quan đã hằn sâu trong đầu óc của ông. Tư tưởng bi quan đó đã được ông đưa vào một nhạc phẩm rất quen thuộc của mình là Kiếp Nghèo, sáng tác vào năm 1954, khi cuộc sống của gia đình ông ở trong một hoàn cảnh rất bi đát.

Đến năm 58 là thời gian Lam Phương gia nhập quân đội thì ông nghiêng hẳn những sáng tác của mình về những nhạc phẩm đề cập đến đời lính chiến. Đến năm 59, ông giải ngũ để sau đó gia nhập ban văn nghệ Bảo An rồi qua đến đoàn Hoa Tình Thương. Cùng thời gian này ông cộng tác với các đài phát thanh Quân Đội và Sài Gòn cùng một lúc là thành phần của Biệt Đoàn Văn Nghệ cho đến ngày 30 tháng 4 năm 75, là ngày ông cùng với vợ là nữ kịch sĩ Túy Hồng - thành hôn với ông vào năm 1959 - và hai con gái rời Việt Nam trên chiếc tầu Trường Xuân.

Cuộc sống vật chất của Lam Phương đã sáng sủa hơn rất nhiều sau khi ông tung ra hai nhạc phẩm về đời lính là "Tình Anh Lính Chiến" và "Chiều Hành Quân". Hai nhạc phẩm này đã do chính Lam Phương in và tự phát hành. Trước đó, ông đã sắm được một chiếc Lambretta để ngày ngày đi giao những bản nhạc lẻ cho các sạp bán nhạc rời ở Sài Gòn nhờ lợi nhuận của những bản nhạc trước mang lại. Tình Anh Lính Chiến đã đạt được con số bán kỷ lục vào thời đó. Một thời gian sau nhạc phẩm Chiều Hành Quân ra đời và cũng đạt được một con số bán cao không kém.

Những năm cuối của thập niên 60 là thời gian tên tuổi Lam Phương nổi như cồn. Cuộc sống vật chất của ông đã bớt chật vật hơn trước rất nhiều. Tinh thần của ông đã phần nào bớt đi nỗi bi quan từng đeo đuổi từ lâu để vui với ánh mắt, với nụ cười của người mẹ hiền và bầy em nhỏ. Trước sự thành công của Lam Phương nhiều nhà phát hành đã liên kết để không phổ biến những sáng tác của ông. Tuy vậy nhờ sự chịu đựng vất vả, Lam Phương đã tự in và phát hành lấy để đạt được điều mong muốn. Trước sự đi lên của tên tuổi Lam Phương, nhiều nhà phát hành lớn sau đó đã thương lượng để mua những sáng tác của ông với giá thật cao. Thời gian này Lam Phương đã tậu được một căn nhà khang trang trong cư xá Lữ Gia và đến năm 72, ông mua thêm được một căn nhà khác trên đường Nhật Tảo ( gần Nguyễn Tri Phương ) để thật sự giã từ kiếp nghèo đã bám lấy ông từ hàng chục năm trước và mẹ ông cũng đã được toại nguyện với niềm ao ước của mình.

Ngoài việc sáng tác, Lam Phương còn cộng tác với nhiều ban nhạc của các đài phát thanh như ban Hoàng Lang, Võ Đức Tuyết, Văn Phụng, vv...Không những thế ông còn phụ trách phần văn nghệ cho ban Thẩm Thúy Hằng. Một chi tiết ít người biết làcó thời kỳ vào buổi tối ông còn là một nhạc sĩ trình diễn tại Club sĩ quan Hoa Kỳ trên lầu rạp Rex ở Sài Gòn từ cuối thập niên 60 là thời gian ông mới lập gia đình với nữ nghệ sĩ Túy Hồng.

Với trên 200 nhạc phẩm được sáng tác và phổ biến rộng rãi tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại sau này, Lam Phương đáng được đề cao như một trong những nhạc sĩ sáng chói của Việt Nam với một năng khiếu về âm nhạc và một tâm hồn nhiều xúc cảm.

Ra hải ngoại vào năm 1975, sau vài tháng ở trại tỵ nạn, gia đình nhạc sĩ Lam Phương được bảo trợ về định cư tại thành phồ Virginia Beach, trước khi dọn về Falls Church, tiểu bang Virginia. Năm sau gia đình ông lại dời về thành phố Dallas và kế đến là Houston. Đến năm 1981 do những bất đồng trong đời sống vợ chồng đã đưa đến sự chia tay giữa vợ chồng ông để rồi ông quyết định sang Pháp cùng với cô em út khai thác một nhà hàng ở Paris. Tuy nhiên vẫn thỉnh thoảng trở về Mỹ. Thời gian sống ở Paris chính là thời gian sáng tác dồi dào nhất của ông với khoảng trên 100 nhạc phẩm trong tổng số 200 nhạc phẩm trải dài suốt cuộc đời âm nhạc của ông, phần lớn là tình ca cùng một số nhạc quê hương và nhạc thời chinh chiến. Khung cảnh mới lạ, mang tính chất lãng mạn và cổ kính của thủ đô nước Pháp đã ảnh hưởng sâu xa đến dòng nhạc của Lam Phương khiến ông cảm thấy thoải mái hơn trong việc sáng tác. Từ đó nhiều nhạc phẩm đặc sắc của Lam Phương được ra đời như "Mùa Thu Yêu Đương", "Tình Hồng Paris", "Cho Em Quên Tuổi Ngọc", vv... Đến năm 1995, ông quyết định trở về Mỹ và cư ngụ tại tiểu bang California cho đến nay.

Nhìn chung, toàn bộ sáng tác của Lam Phương chỉ có 3 bài ông viết chung với các nhạc sĩ khác là Hồ Đình Phương ( "Lá Thư Miền Trung", "Nắng Đẹp Miền Nam" ) và Hoàng Thi Thơ ( "Mùa Hoa Phượng" ). .

Sau lần đổ vỡ với nữ kịch sĩ Túy Hồng, lời nhạc của Lam Phương đã hiện rõ những nét đắng cay,chua xót. Hình như sự chán chường, niềm thất vọng về tình đời, về tình người đã khiến người nhạc sĩ hiền từ về tính tình, nhỏ nhẹ trong lời nói và khiêm nhượng trong cách cư xử này xúc cảm để tạo thành những ca khúc tình cảm đề cập đến những sự tan vỡ, chia lìa điển hình như nhạc phẩm mang tựa đề "Lầm"...

Trong sự khủng hoảng tình cảm đó, Lam Phương đã sống những chuỗi ngày mang nặng những đau buồn. Nhưng cũng nhờ đó, ông đã cho ra đời nhiều ca khúc tình cảm thật đặc sắc khác.

10 năm sau khi cùng Túy Hồng chia tay, Lam Phương đã tìm được nguồn an ủi nơi một cuộc tình khác, chính thức cùng ông chung sống vào nam 1991. Và cũng đúng 10 năm sau cuộc hôn nhân này đã đi đến đổ vỡ, trong thời gian ông đang gặp quá nhiều khó khăn do tình trạng bệnh hoạn gây nên. Trong 10 năm sống với người vợ sau, ít ra cuộc sống của Lam Phương cũng đã có được những ngày vui rộn rã, nhất là kể Từ Ngày Có Em Về , tựa đề một nhạc phẩm rất nổi tiếng của ông. Thời gian này, Lam Phương cho biết đã tìm được nguồn hạnh phúc mà đối với ông là một cuộc Tình Đẹp Như Mơ . Cũng từ đó dòng nhạc của ông trở nên dồi dào hơn, tha thiết hơn để ông cho ra đời nhiều ca khúc tình cảm khác, trong đó có những bài như Bài Tango Cho Em , "Cỏ Úa", "Một Mình", vv... Nhưng cuối cùng việc gì đến đã đến, khi người vợ sau của ông tỏ ý định muốn ra đi vào năm 2001. Lam Phương đưa ra một kết luận ngắn gọn, nhưng rất chua chát :" Đàn bà mà!, khi mình đã không còn như xưa thì lần lần người ta cũng chán". Vì vậy ông thản nhiên chấp nhận để cố gắng tranh đấu với bệnh hoạn với những kết quả rất khả quan, trong sự săn sóc tận tình của 2 con và vợ chồng cô em út.

Hiện nay, Lam Phương cho là mình đang ở trong một tình trạng nhàn hạ...bất đắc dĩ. Ông còn nhiều dự định, còn cảm thấy nhiều sôi nổi trong công việc sáng tác. Nhất là ngọn lửa tình cảm nơi ông vẫn còn cháy âm ỷ, chỉ chờ cơ hội bùng lên. Những người yêu mến dòng nhạc Lam Phương hy vọng một ngày không xa sẽ tiếp tục được thưởng thức những ca khúc đặc sắc khác của ông, như ông đã cố gắng hoàn thành được một số trong thời gian gặp khủng hoảng về sức khỏe cũng như về tình cảm...

TRƯỜNG KỲ(kyvu@hotmail.com)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Avril Lavigne đính hôn

Image
Ca sĩ Avril Lavigne.

Khi đối thủ Britney Spears đang tưng bừng chuẩn bị cho đám cưới,
ngôi sao nhạc rock Avril cũng tuyên bố đính hôn cuối tuần qua tại California.
Chồng chưa cưới của cô chính là rocker Deryck Whibley.



Để Avril không thể từ chối, Deryck đã quỳ xuống cầu hôn theo
kiểu truyền thống và làm người đẹp cảm động bằng những lời ngọt ngào đầy hứa hẹn.
Sau khi nhận lời, ca sĩ đã đem khoe với mẹ và bạn bè chiếc nhẫn kim cương sáng
loá trên tay.



Mới hẹn hò từ đầu năm, đôi uyên ương đã như hình với bóng.
Giữa các chuyến lưu diễn bận rộn, cặp ngôi sao luôn tìm được thời gian dành cho
nhau. Một người bạn của nữ ca sĩ nói: "Avril lúc nào cũng như trên mây. Cô ấy
chưa bao giờ vui đến thế".



Tuy nhiên, gia đình Avril vẫn không yên tâm vì người đẹp nổi
tiếng là trẻ con và nóng nảy. Bên cạnh đó, Deryck mất điểm trong mắt phụ huynh
sau cuộc tình từng bị cho là nhiều toan tính với người thừa kế gia tài kếch xù
Paris Hilton.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

LAM PHƯƠNG VÀ MỘT
MÙA HÈ RẤT "HOT" !


KỲ VŨ
Thường những lời bàn tán về một chương trình ca nhạc - dù chê bai hay khen ngợi - sẽ "nguội" dần dần với thời gian sau ngày tổ chức. Một, hai tuần sau vẫn có những lời ra, lời vào là chuyện bình thường. Nhưng một tháng sau, chương trình "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương" tổ chức tại Montreal vẫn còn được nhắc tới trong những câu chuyện bình luận về show nọ, show kia là một trường hợp đặc biệt. Một trường hợp rất "hot" đối với một tên tuổi lớn như Lam Phương, nhân vật được vinh danh trong chương trình hôm đó. Ghi lại những lời bàn ra, tán vào về một chương trình như vậy có lẽ chẳng phải là một việc thừa, khi nó vẫn còn "hot". Nhất là thêm một chương trình qui mô khác dành cho việc vinh danh người nhạc sĩ tài hoa Lam Phương sắp được trung tâm nhạc Bích Thu Vân thực hiện tại Anaheim, nam California vào ngày 13 tháng 8 năm 2006. Đưa ra những kinh nghiệm từ một chương trình trước nhằm bổ xung cho một chương trình sau mang cùng chủ đề hẳn sẽ là một điều cần thiết. Cần thiết cho khán giả. Và cần thiết cho người tổ chức.

Điểm cần thiết hàng đầu chính là việc tôn trọng tên tuổi của Lam Phương mà cuộc đời đã gắn bó với 50 năm hoạt động trong lãnh vực âm nhạc. Những chương trình được thực hiện dưới hình thức vinh danh Lam Phương trước đó đã diễn ra tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn năm 2004, tại Santa Clara ở Mỹ năm 2005 và gần đây ở Montreal, Canada đều thành công tốt đẹp. Do đó, người ta hy vọng dựa trên những kinh nghiệm góp nhặt được từ những buổi tổ chức trước, đại nhạc hội với chủ đề "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương" sắp tới sẽ tránh được một vài trục trặc nhỏ cũng như hoàn chỉnh hơn nữa những điểm đã được coi là "đạt" của các chương trình trước.
Image
Nữ ca sĩ Khánh Ly xúc động
gục đầu ôm Lam Phương
Bây giờ trở lại với chương trình "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương" mới diễn ra tại Montreal, Canada vào ngày 26 tháng 5 năm 2006 do Quỹ Trẻ Em Mồ Côi Và Khuyết Tật tổ chức mà cô Thái Hà là người đại diện. Cô là người "đứng mũi chịu sào" cho chương trình này, được coi là có số khán giả tham dự kỷ lục tại Montreal từ nhiều năm nay, lên đến xấp xỉ 1600 người. Nhưng sự thành công này đến từ đâu?. Chăc chắn không từ cá nhân cô Thái Hà. Một mình cô không thể nào và không bao giờ làm nên chuyện nếu không được nhiều yếu tố khác hỗ trợ, dù cô đã có những sáng kiến hay và lạ đưa vào chương trình, cùng với một sự sắp xếp tiết mục khéo léo. Yếu tố nhân lực trong việc phân phối vé cùng sự hăng say giúp ban tổ chức của những thiện nguyện viên cần được ghi nhận... Phải chăng có được số khán giả đông đảo như vậy là nhờ ở lòng từ thiện của người tham dự đối với chương trình mang mục đích cứu trợ những trẻ em mồ côi và khuyết tật? Đúng ra, chỉ là một phần. Trên thực tế người ta đã khá..."oải" đối với những chương trình dùng mục đích từ thiện làm mục đích được thực hiện liên tục tại khá nhiều nơi. Ở Mỹ, Canada cũng như ở Úc. Đồng ý, kêu gọi khán giả đóng góp vào công việc từ thiện là một chuyện tốt. Nhưng cũng cần quan tâm tới nội dung giá trị của chương trình để cho tương xứng với số tiền họ bỏ ra mua vé. Đó là mục tiêu của ban tổ chức là Quỹ Trẻ Em Mồ Côi Và Khuyết Tật đề ra kể từ chương trình này.

Riêng đối với các cơ sở bảo trợ, trên danh nghĩa họ đã hưởng ứng nồng nhiệt vào công cuộc từ thiện qua chương trình này. Nhưng trên thực tế, họ coi đó như một hình thức quảng cáo cho cơ sở của mình. Đối với những chương trình lớn và giá trị, số người tham dự sẽ đông đảo và như vậy việc quảng cáo sẽ có hiệu quả. Thực tế, chỉ có giá trị của chương trình mới lôi cuốn được họ. Như tên gọi của ban tổ chức, những chương trình được thực hiện đều mang mục đích từ thiện, nằm trong một phần trong những hoạt động gây quỹ khác. Riêng với các chương trình nhạc hội, họ đặt trọng tâm vào giá trị nghệ thuật hơn là kêu gọi sự từ tâm của những người tham dự. Và họ đã thành công. Thành phần nghệ sĩ, mấu chốt của phần nghệ thuật, dĩ nhiên cũng là một trong những yếu tố quan trọng.
Image]

Trong đêm "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương" ở Montreal, những Ý Lan, Hương Lan, Tuấn Anh, Tuấn Ngọc, Thiên Kim, Thanh Hà, Nguyễn Hưng, Thái Hà, Mai Linh cùng MC Nguyễn Ngọc Ngạn và ban nhạc Liberty Band đã tạo thành một lực lượng nghệ sĩ hùng hậu. Mỗi ca sĩ ăn khách theo thể loại của mình. Xin đưa ra một vài ghi nhận rất ngắn, rất gọn, căn cứ trên sự "trưng cầu dân ý" nơi những người có mặt: Hương Lan ngọt ngào, rất thích hợp với dòng nhạc Lam Phương. Chính Lam Phương cũng đồng ý như vậy. Và ông cũng nhận thấy tiết mục trình diễn chung lần đầu tiên của Hương Lan và Ý Lan là một sáng kiến độc đáo. Còn tiếng hát Ý Lan đã làm tăng thêm giá trị những ca khúc của ông. Riêng Tuấn Anh đã lồng dòng nhạc của Lam Phương trong một thể cách trình diễn tuy... không giống một ai trước đó, nhưng đã được khán giả rất thích thú theo dõi. Hơn nữa, phần trình diễn của Tuấn Anh là một phần trình diễn..."nổi cộm", theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen với tính cách là một "performer" đúng nghĩa. Hình ảnh linh động, thoăn thoắt những bước nhảy đẹp mắt của Nguyễn Hưng cũng là những hình ảnh gây được nhiều ấn tượng. Những người khác, mỗi người một vẻ. Có người được mười phân vẹn mười, nhưng cũng có người chỉ vẹn được... hơn nửa. Có người thành công và cũng có người được gọi là thành công... đại khái.

Nhưng có một yếu tố rất quan trọng không ai phủ nhận được là phần âm thanh cho một chương trình ca nhạc. Phần âm thanh trong đêm "50 Năm Âm Nhac Lam Phương" đã không đạt được mong muốn của những người thực hiện, cùng với sự than phiền một số khán giả. Một cách cụ thể hơn, chỉ đạt được vào khoảng 70% nếu so sánh với phần âm thanh tương đối hoàn chỉnh của chương trình đại nhạc hội do tuần báo Thời Báo Canada tổ chức một tháng trước đó tại rạp Olympia De Montreal. Ban tổ chức từ đó rút ra một kinh nghiệm quí báu để quyết định trong tương lai sẽ không tổ chức tại một địa điểm chỉ thích hợp cho những cuộc hội nghị như Palais Des Congrès ( Convention Center ) với phần thiết kế riêng biệt, không thích hợp với việc sử dụng và điều chỉnh âm thanh đối với một chương trình ca nhạc. Trừ khi phải chi một khoản tiền rất nặng cho những thiết bị âm thanh tốt và đồng nhất thuộc loại "top" cùng với những chuyên viên dạn dầy kinh nghiệm.

Ban tổ chức chương trình "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương" chấp nhận khoản phí tổn đó. Nhưng những thiết bị âm thanh tối tân dự trù được sử dụng đã không thuê mướn được vì đã được đặt trước để dành cho những hoạt động cần đến âm thanh tại Montreal. Chẳng hạn như chương trình đua xe hơi Grand Prix tổ chức tại đây vào cùng thời kỳ diễn ra chương trình đại nhạc hội, những chương trình ca nhạc dành cho ngày lễ St Jean Baptiste, một lễ lớn của tỉnh bang Quebec, cũng như rất nhiều thiết bị đã được xếp đặt cho chương trình Đại Hội Nhạc Jazz ở Montreal 3 ngày sau đó. Ban tổ chức đã bắt buộc phải sử dụng một số thiết bị không đồng nhất thuê mướn ở những tỉnh bang khác của Canada và những thành phố Mỹ như Bostron và New York, mà trong lãnh vực chuyên môn về kỹ thuật không thể chấp nhận. Trừ khi ở trong tình trạng bất khả kháng. Đây cũng là một kinh nghiệm cho bất cứ nhà tổ chức nào khác trong việc lựa chọn địa điểm tổ chức một khi đặt phần âm thanh lên hàng quan trọng.
Image Quay trở về với câu hỏi đặt ra là sự thành công của chương trình "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương" đến từ đâu. Có thể trả lời thẳng là đến từ Lam Phương. Dứt khoát là như vậy. Thành công đến từ dòng nhạc đa dạng của ông và đến từ con người khiêm nhượng và dễ mến của ông trong suốt quá trình 50 năm hoạt động âm nhạc. Nếu có thể nói thêm, còn đến từ bản chất hào hoa của người nhạc sĩ năm nay 69 tuổi, đang hồi phục sức khoẻ một cách khả quan sau khi bị tai biến mạch máu não vào năm 1999. Từ sự hào hoa tràn đầy lãng mạn đó, ông đã để lại cho người nghe biết bao nhiêu là ca khúc tình cảm bất hủ.
Chính vậy mà tên tuổi Lam Phương đã thu hút được số lượng khán giả đông đảo kỷ lục ở Montreal đến với ông, dù chương trình vinh danh ông đã được diễn ra vào một thời điểm không mấy thuận tiện đối với những người cư ngụ ở thành phố này. Đó là cao điểm của mùa cưới. Và đó cũng là thời gian nhiều người đi chơi xa vào dịp "long week-end" ở tỉnh bang Quebec trong lễ St Jean Baptiste. Nhưng sự "đụng độ" đáng ngại nhất là mùa World Cup mà đa số người Việt trong thời gian này đều lâm vào một tình trạng được gọi đùa là bị... "bóng đè"! Tức là chỉ có quả bóng tròn là trên hết mọi thứ. Ngày 25 tháng 6 là ngày diễn ra hai trận ở vòng loại 8 : Mexico - Côte D''Ivoire và Anh Quốc - Costa Rica. Nhưng nếu nói theo nhận xét của MC Nguyễn Ngọc Ngạn thì Lam Phương đã là một tên tuổi thu hút mạnh hơn cả giải World Cup diễn ra trong thời gian này!. Anh loan báo con số 1600 người tham dự với ban giám đốc trung tâm Thúy Nga và đã khiến mọi người ngạc nhiên. Cùng trong thời gian diễn ra chương trình "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương" ở Montreal, nhiều shows khác tại những thành phố lớn như San Jose và Houston ở Hoa Kỳ với kết quả tất cả đều phải chào thua World Cup để chấp nhận một số khán giả thưa thớt. Có vài show ở San Jose chỉ có mặt loe hoe của vài chục khán giả. Thêm vào những bất lợi nêu trên, chương trình "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương" còn là một chương trình được tổ chức sau nhiều shows khác ở Montreal như: chương trình Hội Nha -Y -Dược, chương trình "Cho Em Một Ngày Mai" với nhiều nghệ sĩ nổi tiếng, chương trình của "Hội Tình Thương, chương trình của nhạc sĩ Lê Dinh kỷ niệm cuộc đời hoạt đông âm nhạc, chương trình của Hội Cựu Quân Nhân, của Gia Đình Mũ Đỏ, vv... mà tất cả đều đạt được sự thành công mong muốn với số lượng khán giả đông đảo. Thế nhưng vẫn có tới 1600 người đến với Lam Phương!
Image Với sự thu hút rất mạnh của tên tuổi Lam Phương trong mùa hè năm nay, nhiều người tiên đoán sự xuất hiện của ông tại Orange County vào ngày 13 tháng 08 năm 2006 tới đây ở The Groove Of Anaheim sẽ nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt của khán giả ở ngay tại nơi ông cư ngụ, nhưng từ lâu đã không có dịp cùng ông hội ngộ. Cuộc hội ngộ này còn được sự tham gia của rất nhiều nghệ sĩ tên tuổi như :Tuấn Anh, Ý Lan, Khánh Hà, Khánh Ly, Tuấn Vũ, Hương Lan, Ngọc Huyền, Như Quỳnh, Thiên Kim, Quang Tuấn, Thái Hà, Đặng Minh Thông, Đặng Thái Luân, Paul, Tiến Dũng, Lây Minh, Nguyễn Ngọc Ngạn, vv...Chương trình "50 Năm Âm Nhạc Lam Phương" đã thành công ở Montreal. Với phiên bản qui mô hơn, đông đảo nghệ sĩ hơn của chương trình này ở Quận Cam, nhà tổ chức là cô giám đốc trẻ tên Thương của trung tâm Bích Thu Vân hẳn đang đặt rất nhiều kỳ vọng nơi sự tham dự của khán giả yêu Lam Phương và mến mộ những nghệ sĩ có mặt trình bầy những sáng tác của ông. Lam Phương cho biết ông rất do dự và đắn đo khi nhận lời mời xuất hiện trong một chương trình có tính cách vinh danh ông. Nhưng ông đã rất hài lòng với chương trình diễn ra ở Montreal. Và ông đã rất nhiệt tình khi nhận lời tham dự chương trình sắp được diễn ra. Do đó, có thể coi đây là một mùa Hè rất "hot" của Lam Phương...

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Asia-51: Nhạc Vàng 30 Năm,
Tình Khúc Sau Cuộc Chiến

Việt Hải

Sau sự thành công vượt bực của bộ DVD Asia-50 "Vinh Danh Nhật Trường Trần Thiện Thanh", Trung Tâm Asia thừa thắng tiến thêm bước mới nữa là cho ra Asia-51 "Nhạc Vàng 30 Năm, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến". Mục tiêu là trình bày những bài ca khúc hát sau chiến tranh, khi mà Cộng Sản cố tình thủ tiêu dòng nhạc Vàng trong quốc nội. Nhạc Vàng lại ngoi lên sung mãn hơn bao giờ. Mà "Nhạc Vàng" là gì cơ chứ? Theo định nghĩa của những tay văn hóa bưng biền khi về thành trong men say chiến thắng phạng ngay là nhạc của thời Việt Nam Cộng Hòa có nhuốm chất "lãng mạn", có hơi hướm yêu thương thiên bẩm thì bị kết án là nhạc ủy mị, nhạc đồi trụy, đấy là Nhạc Vàng.

Với cái nhìn của tôi, như cái tên tiền định theo nghĩa đen, tức nghĩa rõ ràng nhạc Vàng là nhạc cao quý nhất vì là "Golden music" thì nó sẽ chẳng chết. Theo sách "Văn Hoá, Văn Nghệ... Nam Việt Nam 1954-1975" của Trần Trọng Đăng Đàn, thì báo cáo của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng tại kỳ họp thứ nhất của Quốc Hội, ngày 26 tháng 6, năm 1976 là: “Việc xây dựng nền Văn Hoá mới đuợc tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam. Đó là thứ Văn Hoá nô dịch, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động...” , nên trong khoảng 20 năm của VNCH tất cả văn hóa phẩm "nô dịch" và "đồi trụy" trong đó có nhạc Vàng cần được tiêu hủy. Thế là người ta cho thu gom các băng cassett, dĩa hát, các sách nhạc,... đem đốt hết. Lý do tôi phải mất dài dòng văn tự chỉ vì Asia-51 có chủ đích ôn lại cái quá khứ 30 năm, dài hơn số tuổi của VNCH mà những dòng nhạc Vàng tình ca, vốn mang bản chất con người đã phát triển mạnh tại hải ngoại và ngay cả trong quốc nội khi chính sách bế quan tỏa cảng đã thất bại. Khi bị Cộng Sản kiềm kẹp, người ta cất dấu nghe lén hay dấu kín trong tim. Đó là tính "phản động" và "nguy hiểm" của hệ quả nhạc Vàng.

***

Buổi thu hình cho Asia-51 đã được thực hiện tại thành phố Dallas Fortworth, tiểu bang Texas. Sau đó Trung Tâm Asia (TT Asia) có nhã ý mời một số văn nghệ sĩ, ký giả đến phòng họp Asia xem buổi chiếu Preview, nhờ vậy mà tôi đã ghi nhận những nét hay của DVD mà tôi còn nhớ cho bài viết này.

Những lời mở đầu của MC Nam Lộc giới thiệu mục tiêu của chủ đề (theme) show hát này: "Thay mặt TTAsia và toàn thể nghệ sĩ, xin trân trọng kính chào quý vị. Chúng tôi cũng rất hân hạnh lần đầu tiên được thực hiện chương trình đại nhạc hội thu hình tại Dallas, Texas, một thành phố với cộng đồng người Việt thật sinh động và khuôn mẫu, luôn luôn hỗ trợ các sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật dân tộc. Trong niềm hân hoan đó chúng tôi kính mời quý vị cùng bước vào chương trình: "Nhạc Vàng 30 Năm - Tình Khúc Sau Cuộc Chiến"”.



Anh nhắc lại là ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 thì danh từ Nhạc Vàng được dùng để nói về những ca khúc có nhiều người yêu thích nhất, nó cũng tương tự như chữ Golden Hits ở các quốc gia Âu Mỹ vậy. Tuy nhiên, sau mùa Xuân 1975 thì tình ca ở Việt Nam xem như đã khuất dạng hoặc bị cấm hát, và danh từ Nhạc Vàng được người trong nước sử dụng để nói về những tình khúc dù sáng tác trước hay sau 1975 mà họ vẫn lén lút lắng nghe. Đồng thời cũng để phân biệt với nhạc đỏ, là những ca khúc được viết ra để ca ngợi chế độ hoặc cá nhân trong hàng ngũ lãnh đạo của đảng hay nhà nước... Trong khi đó thì những tình khúc được sáng tác tại hải ngoại cũng không những là nguồn rung động thuần túy của hạnh phúc tâm tư lứa đôi, mà còn được san sẻ cho tình yêu quê hương đất nước, cho tha nhân, cho gia đình và cho các chiến hữu.




Nam Lộc và nhạc sĩ Trần Quảng Nam giới thiệu một liên khúc có tên "Tình Ca Sau Cuộc Chiến" mở màn gồm 3 ca sĩ Lâm Nhật Tiến, Ngọc Hạ và Đặng Thế Luân trình bày, gồm các nhạc phẩm: Em Còn Nhớ Mùa Xuân của Ngô Thụy Miên, Người Di Tản Buồn của Nam Lộc, Lời Kinh Đêm của Việt Dzũng, Mưa Sài Gòn Còn Buồn Không Anh của Nguyệt Ánh và Mười Năm Tình Cũ của Trần Quảng Nam. Phải nói là top hit Mười Năm Tình Cũ đã đánh dấu cho một giai đoạn chuyển đổi lớn, đã khuyến khích dòng nhạc vàng trở lại tại Việt Nam. Người ta nghe và hát bài này công khai ở nhiều tụ điểm, cũng như ở khắp nơi có người Việt cư ngụ trên thế giới. Cùng hiện diện với Trần Quảng Nam còn có phu nhân của anh, tức nữ nhạc sĩ Tú Minh, tác giả của một top hit nhạc vàng "Hãy Cứ Là Tình Nhân". Kế đến Trần Quảng Nam va Nam Lộc giới thiệu một liên khúc gồm 2 bài Rừng Lá Thay Chưa, nhạc Huỳnh Anh, phổ thơ Hoàng Ngọc Ẩn. Và bài Xót Xa, sáng tác của Lam Phương qua hai tiế[ng hát quen thuộc Phương Dung và Tuấn Vũ.



Tôi nhớ trong bài viết của tôi về nhạc sĩ Ngô Thụy Miên với bài hát Em Còn Nhớ Mùa Xuân, thì sau 1975 anh bị kẹt lại tại Sài Gòn, và người yêu của anh là chị Đoàn Thanh Vân đã di tản ra xứ ngoài, những phút giây nhung nhớ người yêu đã mang anh về dĩ vãng của mùa xuân yêu đương, dĩ vãng không nhạt phai cho tâm tư lắng đọng trong trí tưởng qua bài tình ca đầy lãng mạn “Em còn nhớ mùa xuân” này, trong một bài anh viết về mùa xuân yêu đương và ký ức cũ của Sài Gòn từ những nhà hàng hò hẹn sang phòng trà, những hộp đêm đến quán cơm Bà Cả Đọi như sau:

“Rồi đến là những mùa Xuân của tuổi trẻ, của những háo hức, đợi chờ, của những môi hôn vội vã, vòng tay quấn quít trao nhau trên đường phố thân thương, quán hàng quen thuộc. Em nhớ không, La Pagode, Givral của những sáng hẹn hò, Hoàng Gia, Pôle Nord của những chiều đưa đón, dạo phố tết Nguyễn Huệ, Lê Lợi tấp nập người qua, và những tối ghé quán Bà Cả Đọi, rồi Đêm Mầu Hồng. Cái không khí ấm áp tràn đầy tình thương của quê hương đó, làm sao có thể ngờ được chỉ trong vài tháng đã chỉ còn để lại một mùa Xuân, một mùa Xuân cuối cùng của những đổi thay, những mất mát, tan tác cho cả một thế hệ trẻ chúng ta..."



“Em có bao giờ còn nhớ mùa Xuân
Nhớ tháng năm xưa của tuổi dại khờ
Nhớ tiếng dương cầm giọng hát trẻ thơ
Có thấy bơ vơ ngày tháng đợi chờ
Nơi ấy bây giờ còn có mùa Xuân
Có dáng nghiêng nghiêng nụ cười thật gần
Có mắt nai vàng ngời sáng tình xanh
Em có bao giờ thấu cho lòng anh..."



Rồi một video clip thật cảm động do nhóm của Trịnh Hội thu hình lời tâm sự của thân mẫu của nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang. Trịnh Hội thuật lại niềm đau của mẹ anh Nguyễn Trung Cang là nỗi thống khổ khi bà phải nói lại về những ngày cuối đời của anh Cang. Cái đau của một người mẹ không có tiền để mua cho con một ống thuốc chữa trị khi con bà bị lên cơn suyễn. Bà vẫn khóc vì sự ra đi oan nghiệt của anh vì không khả năng chạy thuốc để cứu anh, dù là sự kiện đã qua hơn 20 năm rồi. Nhạc phẩm Anh Vẫn Biết của cố nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang, qua phần trình diễn của 7 tiếng hát của Asia Four và Khải Tuấn, Minh Thông và Châu Tuấn.



Một liên khúc gồm 2 bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Anh Bằng, phổ từ thơ của hai thi sĩ nổi danh là Thái Can và Nguyễn Tất Nhiên. Việt Dzũng kể về hai người thi sĩ này. Thái Can là một thi sĩ thời tiền chiến, sinh năm 1910 tại Hà Tĩnh, Bắc phần. Năm 1941, ông học chữ Hán và làm thơ cổ, nên có nhiều người liệt thi sĩ Thái Can vào trường phái thơ cổ. Thế nhưng trong thơ của ông có rất nhiều nét mới, được đăng trên các báo thời đó và được nhiều người yêu mến. Sau này ông vào Nam, và tốt nghiệp Bác sĩ, mở phòng mạch tại Đà Nẵng. Tập thơ của ông được nhiều người biết đến là tập Những Nét Đan Thanh, và bài thơ nhiều người thuộc nhất là bài Anh Biết Em Đi, mà nhạc sĩ Anh Bằng đã phổ thành ca khúc Anh biết em đi chẳng trở về. Riêng về người thi sĩ đa tài nhưng lại vắn số Nguyễn Tất Nhiên, thì ông là một thi sĩ nổi tiếng khi còn là một sinh viên trẻ, với những bài thơ viết cho những cuộc tình của tuổi mộng mơ, nhưng mang những nét phá cách ngỗ ngáo của tuổi trẻ. Những bài thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc và ngay lập tức được giới trẻ đặc biệt yêu mến, những bài hát như Em hiền như Ma Soeur, Thà như giọt mưa, Vì tôi là linh mục,… đã đưa tên tuổi ông lên đến đỉnh cao danh vọng. Ông cùng với gia đình sang Hoa Kỳ tỵ nạn, nhưng lại lâm vào cảnh u uất và qua đời rất tội nghiệp một mình lẻ loi trong một ngôi chùa ở miền nam California, đúng như lời thơ ông đã viết: Người từ trăm năm về như dao nhọn, ta chết âm thầm máu chưa kịp đổ... Về nhạc sĩ Anh Bằng thì ông là một nhạc sĩ sáng tác nhiều nhất từ trong nước ra đến hải ngoại, ông viết đủ mọi thể loại, từ những bài tình ca quê hương, cho đến những ca khúc đấu tranh, và đặc biệt là sau này ông chú trọng nhiều đến việc phổ những bài thơ tuyệt tác thành những ca khúc.

Khán gỉa đã được thưởng thức những bài hát như Chuyện Hoa Sim phổ thơ Hữu Loan, Chuyện Giàn Thiên Lý phổ thơ Yên Thao, Khúc Thụy Du phổ thơ Du Tử Lê,… , và sau đó một liên khúc gồm hai nhạc phẩm Trúc Đào, và Anh Biết Em Đi Chẳng Trở Về, qua phần trình bày của nam ca sĩ Vũ Khanh.





Một tiết mục khá lý thú trong Asia-51 là đề cập đến cố ca sĩ tài hoa Ngọc Lan và TT Mây Productions của anh Trần Thăng. Ngọc Lan là giọng hát được nhiều người thương mến, lưu luyến, để rồi luyến tiếc. Để vinh danh và làm sống lại hình ảnh và tiếng hát Ngọc Lan thì Asia và Mây Productions dự định phối hợp cho ra một DVD đặc biệt về Ngọc Lan sau này. MC Nam Lộc và anh Giám đốc Mây Productions cho biết như vậy. Mây Productions hiện tại thủ đắc bản quyền nhiều tác phẩm về ca sĩ Ngọc Lan nhất. Người ta vẫn nhớ ca khúc Mưa Trên Biển Vắng, do nhạc sĩ Nhật Ngân soạn lời Việt trong lần xuất hiện đầu tiên trên sân khấu Hollywood Night, trong show Asia-51 này được đồng diễn rất độc đáo do kỹ thuật ráp nối giữa hai tiếng hát Ngọc Lan và Lâm Thúy Vân, người nữ ca sĩ có giọng ca xuất sắc đã thành danh ngay từ lần đầu tiên xuất hiện trong chương trình Asia Đêm Saigon.





Ở trong nước hiện nay đã có phong trào phản kháng của các văn nghệ sĩ, không phải là mới đây mà là từ cả mấy chục năm về trước từ thời Nhân Văn Giai Phẩm, rồi đến phong trào Trăm Hoa Đua Nở, trong văn chương và cả trong âm nhạc... Những gương mặt nổi bật như Phan Khôi, Phùng Cung, Nguyễn Hữu Đang, Văn Cao, Hữu Loan, Nguyễn Sáng, Sĩ Ngọc, Chu Ngọc, Hoàng Tích Linh, Đặng Đình Hưng, Phùng Quán, Trần Dần,... và Hoàng Cầm. Nhà văn Phan Nhật Nam và Việt Dzũng đề cập đến đề tài phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, phong trào Trăm Hoa Đua Nở sau những năm 1954 khi Cộng Sản lên nắm quyền tại miền bắc.



Nhà văn Phan Nhật Nam kể lại: "Phong trào do Nhân Văn-Giai Phẩm đã khởi dựng ở Miền Bắc năm 1956. Vụ án văn hóa chống chế độ độc tài đảng trị Hà Nội lớn nhất cách đây đúng nửa thế kỷ mà hiện nay đang tiếp diễn cùng khắp cả nước dưới nhiều hình thức, với tinh thần quyết liệt hơn, với nhiều thành phần tham dự hơn. Vì xã hội miền Bắc vẫn giữ nguyên tình trạng bất công, áp bức dưới một chế độ còn tệ hại hơn cả tình thế dưới chế độ thực dân của người Pháp. Tình hình tương tự hiện nay của Việt Nam sau 30 tháng 4, 1975. Sau 1954 chỉ một nửa nước là nạn nhân; sau 1975, cả nước lâm cảnh cùng khốn, đoạ đày. Những tạp chí, sách, báo của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm viết năm 1956 đã gây nên tai họa cho bản thân những người cầm bút trong suốt mấy mươi năm, là một biểu hiện của ngọn lửa bất khuất của tầng lớp văn nghệ sĩ Việt Nam nói chung và người Miền Bắc nói riêng. Riêng nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đã khởi động, và lập nên thành tích đối kháng lừng lẫy với những kiện tướng Phan Khôi, Hữu Loan, và Hoàng Cầm".



Theo tôi, khi nói về thơ quê hương của thi sĩ Hoàng Cầm, người ta hẳn còn nhớ đến những bài thơ tuyệt diệu, đầy tình tự quê hương của ông như Lá Diêu Bông, Bên Kia Sông Ðuống, Quả Vườn Ổi, Cây Tam Cúc, Chùa Hương, Về Với Ta,...


Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh
Ði mãi tìm sim chẳng chín
Ta lên đồi thông nằm miếu Hai Cô
Gặm cỏ mưa phùn
(Về với ta)

Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Chị gọi đôi cây
Trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa chị đến quê em.


Trong ký ức miên man của thơ Hoàng Cầm khi ta càng đi sâu vào sự mô tả bằng chữ nghĩa, thì ta càng gần gủi với những miền quê xa xăm của quê hương hơn, ví dụ ông nói về Kinh Bắc, rồi những cánh chuồn chuồn khiêng nắng, đám cưới chuột tưng bừng rộn rã, các buổi hội hè thi ăn mía thổi cơm, thi đánh đu, hát đúm, Hội Gióng, Hội Vân Hà đến trai đời nhà Trần, gái Hậu Lê, Mưa Thuận Thành, và còn nhiều lắm những ký ức bừng dậy trong mộng tưởng. Thơ ông huyền diệu, ẩn chứa nét đẹp đẽ trong những làn sóng nước lăn tăn nô đùa từ ánh mắt nhớ về sông Thương, sông Cầu hay sông Ðuống.

Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc
Chiều xưa giẻ quạt voi lồng
Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc
Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông.

Thơ Hoàng Cầm trải dài theo cuộc đời đầy đặc những tác phẩm của ông như: Hận Nam Quan (kịch thơ, 1944, 1942), Kiều Loan (kịch thơ, 1945), 99 tình khúc (tập thơ tình, 1955); Những niềm tin (thơ dịch, 1965); Men đá vàng (truyện thơ, 1989); Tương lai (kịch thơ, 1995); Bên kia sông Đuống (tập thơ , 1993); Về Kinh Bắc (tập thơ, 1994);...và rồi những tác phẩm văn như Hận ngày xanh (phóng tác theo Lamartine, 1940); Bông sen trắng (phóng tác theo Andersen, 1940); Thoi mộng (truyện tiểu thuyết, 1941), Cây đèn thần (phóng tác theo Nghìn lẻ một đêm, 1941); và Tỉnh giấc mơ vua (phóng tác theo Nghìn lẻ một đêm, 1942).
Lược qua về tiểu sử thì thi sĩ Hoàng Cầm có tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời và cụ thân sinh của ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên. Thuở nhỏ, ông học tiểu học và trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, sau đó ông ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, viết lách dịch sách. Vì có kiến thức về dược thảo thuốc bắc, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc rất đắng là Hoàng Cầm. Về khía cạnh văn chương như đã nói ở phần trên, ông nổi tiếng với vở kịch thơ Hận Nam Quan, bài thơ Bên Kia Sông Đuống, nhất là vở kịch thơ Kiều Loan và bài thơ Lá Diêu Bông.

MC Trịnh Hội giới thiệu một đoạn video clip đặc biệt vừa được thực hiện với tác giả của nhạc phẩm Sao Em Nở Vội Lấy Chồng, và tác giả của bài thơ Lá Diêu Bông. Trịnh Hội đến thăm thi sĩ Hoàng Cầm, khi đề cập về tình hình đất nước, ông có những suy nghĩ rất lạc quan và tin tưởng mãnh liệt là xứ sở Việt Nam sẽ khá hơn trong tương lai nếu tất cả chúng ta đều mạnh dạn làm điều gì ích lợi cho dân tộc thì cứ làm. Tôi nghe như ngụ ý rằng hãy đứng lên với người trong hay ngoài xứ. Sau video clip là đến bài thơ bất hủ Lá Diêu Bông của thi sĩ Hoàng Cầm, qua dòng nhạc của Trần Tiến, là nhạc phẩm Sao Em Nỡ Vội Lấy Chồng qua tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Tuyền trong tiết mục về nhà thơ Hoàng Cầm.



Một trong những nhạc sĩ góp phần đắc lực vào phong trào tạo ra nhạc Vàng từ những năm đầu 80's là Đức Huy. Nhạc sĩ Đức Huy sáng tác nhiều bài tình ca nổi tiếng như: Đường Xa Ướt Mưa, Để Quên Con Tim, Người Tình Trăm Năm, Bay Đi Cánh Chim Biển, Mùa Thu Ru Em, Yêu Em Dài Lâu, Và Tôi Cũng Yêu Em, Và Con Tim Đã Vui Trở Lại,... và Đừng Xa Em Đêm Nay. Năm 1982 anh cho ra một băng cassette mang tựa đề Yêu Em Dài Lâu. Vào những năm 94, 95 sự xuất hiện của nhạc phẩm Đừng Xa Em Đêm Nay với giọng hát trữ tình của Thảo My đã trở thành một thứ âm thanh quen thuộc, và được yêu chuộng vì tính chất lãng mạn của nhạc phẩm, cũng như chất giọng truyền cảm đó đã làm cho bài hát dễ thăng hoa. Có lẽ cũng vì dòng nhạc tình ca của Đức Huy quá đặc biệt nên đã được nồng nhiệt đón nhận không những chỉ tại hải ngoại mà còn lan rộng rãi cả ở trong nước nữa. Khi lên các website trong xứ chấm điểm thì nhiều bài ca của Đức Huy được xếp hạng cao, mà trong đó có Đừng Xa Em Đêm Nay. Nhưng sau sự thành công nổi bật đó lại báo hiệu một định mệnh và duyên số đối với người hát cũng người sáng tác.





Theo tạp chí People có bài viết về một cô bé Việt Nam. Chuyện ban đầu thương tâm, nhưng đọan cuối cho thấy nỗi hạnh phúc của tình phụ tử. Vào chiều 29/4/1975, cô bé 7 tuổi Phương Thảo sống tại thị xã Sa Đéc nhỏ bé của mình lại nhốn nháo một cách khác thường trong hoang mang. Sáng ngày 30 khi thức dậy, cô nghe thấy hai chữ "giải phóng". Hai chữ ấy đã mang đến những thay đổi lớn lao trong cuộc đời cô gái Việt lai Mỹ, thuở nhỏ cô đơn, lạc lỏng giữa chúng bạn với cái tên "Mỹ lai". Ngày 30/4/1975 thì cô bé lại được ông bà dẫn đi trốn bên nhà dì, đợi khi tình hình ổn định mới quay về. Những cô nhỏ bạn hồi ấy đã trốn ba mẹ đi coi tụi Việt cộng, về kể lại: "Thấy Việt cộng đội nón tai bèo là trùm mền".


Vượt qua tất cả những năm tháng khó khăn gánh vác gia đình cùng mẹ và người em khác cha, cô gái ấy đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng, Phương Thảo. Và nhờ giọng hát nổi tiếng này, Phương Thảo tìm lại được người cha ở bên kia bờ đại dương, sau 28 năm xa cách. Ngoài ra, Phương Thảo cũng đã từng xuất hiện trên chương trình rất nổi tiếng 20/20 với Barbara Walters của đài ABC qua câu chuyện "Tìm Cha" (Looking For Daddy) mà Asia-51 cho trình chiếu video clip.



Tôi cũng xem trong một bài báo phỏng vấn, Phương Thảo tâm sự về những ngày xa xưa:

"Thuở nhỏ, Thảo đã không sống gần mẹ, chỉ sống với ông bà, đã phải luôn luôn quay đi khi trông thấy những đứa bé như mình được ba mẹ dắt đi trên đường, bị chọc hoài là "Mỹ lai". Có lẽ vì thế mà Thảo luôn sống thu mình lại trong một cảm giác cô đơn, đi ra đường thì lưạ những chổ ít người mà đi..."



Phương Thảo kể tiếp về người cha Mỹ như sau:

"Năm 1967 ông từng làm cố vấn ở huyện Hoà Long, tỉnh Sa Đéc, đến năm 1968 về nước, lập gia đình nhưng lại không có con. Cuộc tìm kiếm thực ra ban đầu rất mong manh. Hồi đó là năm 1990, ông Thomas Bass, một nhà báo Mỹ đang thực hiện đề tài về những đứa con lai tại Việt Nam, qua giới thiệu có tìm gặp Thảo. Ông đã lục tìm hồ sơ ở khắp 20 tiểu bang, đến năm 1993, có một cú điện thoại báo cho Thảo biết đã tìm thấy ba. Điều đầu tiên ba viết trong lá thư gửi về là ông bị sốc lớn khi biết mình có một đứa con và lại là đứa con ở Việt Nam. Ông kể những ý thích của mình: yêu súc vật, yêu thiên nhiên, tính hài hước..., tất cả đều giống Thảo. Chỉ có điều ông ngạc nhiên là bên nhà ông không ai có giọng hát cả. Năm 1996 về lại Việt Nam, một trong những từ tiếng Việt đầu tiên ông nói là "nước mắm", ông về thăm lại Sa Đéc và kinh ngạc về sự thay đổi ở đây. Ông không chịu ở khách sạn mà muốn về nhà ở cùng vợ chồng Thảo. Niềm vui nhất của Thảo khi tìm thấy ba là để bé Na Na cũng có ông bà ngoại như những đứa trẻ khác, không như Thảo ngày xưa.".



Sau sự hạnh phúc tìm lại người cha, Phương Thảo đề cập đến hạnh phúc hôn nhân của mình:

"Thảo hát từ khi còn nhỏ. Trong những lúc cô độc nhất, vất vả nhất, đấy chính là chỗ dưạ tinh thần lớn nhất và gần như duy nhất. Nhờ ca hát mà Thảo tìm được cha mình, tìm được tình yêu và hạnh phúc ngày hôm nay... Năm 1989, anh Ngọc Lễ gặp Thảo khi ấy, anh là trưởng ban nhạc tại phòng trà Cửu Long. "Ai cho em tình yêu" là bài hát đầu tiên anh Lễ viết cho Thảo dự thi Giọng hát hay Thành phố và đoạt giải Ba . Nhưng mỗi người lúc ấy đều đã và sắp có một cuộc sống gia đình riêng. Và rồi tất cả đều tan vỡ. Cuộc hôn nhân đầu tiên khiến Thảo sa sút tinh thần cực độ, còn sự nghiệp thì dậm chân tại chỗ. Năm 1993, hai người gặp lại nhau và ngay lập tức đã nghĩ rằng không thể xa rời. Tình yêu đã khiến chúng tôi nhìn thấy con đường đi riêng cho mình, anh Lễ thì cố gắng viết hay cho người yêu hát, còn Thảo cũng không nôn nóng, phải tập cho thành công mới thôi... Trải qua những đổ vỡ, Thảo càng qúy những gì mình đang có. Từ nhỏ, Thảo đã mơ một cuộc sống gia đình có cha, mẹ, con cái và cả hai đều cố gắng cho con mình có những gì mình không có. Chúng tôi là hai người giống nhau, đều yêu cuộc sống gia đình và tự làm các việc trong gia đình."



Đó là câu chuyện về người con gái mang hai dòng máu, may mắn sau cùng tìm được cha mình và được gặp người phối ngẫu, cũng là đồng nghiệp chửng chạc về quan niệm hôn nhân. Điểm đặc biệt là Ngọc Lễ sáng tác nhạc và Phương Thảo ca nhạc Ngọc Lễ. Asia-51 trình chiếu bài nhạc Xe Đạp của Ngọc Lễ, qua ba giọng ca Phương Thảo, Ngọc Lễ và Thùy Hương.


Image


Nói về thi sĩ làm thơ tặng vợ mình, chúng ta không thể quên bài thơ bất tử của nhà thơ Vị Xuyên Trần Tế Xương (1870-1907), qua bài Thương Vợ:



Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo xèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ, âu đành phận
Năm nắng mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!
Có chồng hờ hững cũng như không !



Thi sĩ Tú Xương ví von cái công lao nhọc nhằn của vợ mình như thân cò ốm yếu gồng gánh cả trách nhiệm lo cho gia đình. Từ đó văn chương Việt Nam dùng hình ảnh con cò tiêu biểu cho người đàn bà Việt Nam, vốn thủy chung và lo lắng gánh vác việc nhà. Sau biến cố tháng 4, 1975 người ta mục kích hàng triệu con cò thăm nuôi tù nhân Việt Nam Cộng Hòa, bị giam hãm trong những trại tù trong vùng rừng sâu hẻo lánh. Tôi lắng nghe sự giới thiệu về về bài ca kế tiếp, Con Cò, nhạc Nguyệt Ánh, qua tiếng hát Băng Tâm.



MC Nam Lộc nói: " Trong văn chương Việt Nam thì Con Cò là một hình bóng quen thuộc, rất gần gũi và đi vào đời sống con người một cách sâu đậm nhất. Qua văn học dân gian thì Cò lại còn tượng trưng cho hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam với tấm lòng thủy chung và hy sinh cao đẹp. Đó cũng là lý do mà sau biến cố 1975, nhiều bài hát đã được các nhạc sĩ sáng tác để ca ngợi cũng như để nói lên thân phận nhọc nhằn của những người đàn bà Việt Nam sau cuộc chiến. Đặc biệt là những người Vợ Tù Cải Tạo, họ đã phải dầm dãi nắng mưa, để tần tảo nuôi con và vất vả thăm chồng. Nỗi chua xót và cay đắng này đã được một số các chứng nhân ghi lại thành những bút ký hầu lưu truyền cho hậu thế về một khúc quanh bi thảm của lịch sử Việt Nam."

Thật vậy, tôi nghĩ những người Vợ Tù Cải Tạo cần được vinh danh vì công lao vô bờ bến của họ khi nuôi con ở nhà, mà còn phải thăm nuôi chồng bị tù đày.

Image




Chương trình Asia-51 DVD dài lắm, có nhiều bài hát trong chủ đề "Nhạc Vàng 30 Năm, Những Tình Khúc Sau Cuộc Chiến". Tôi chỉ viết lại một số những bài hát tiêu biểu mà tôi nhớ sau khi xem phần Preview xong mà thôi. Asia-51 đã ôn lại một số những tình khúc điển hình cho 30 năm âm nhạc của quê hương Việt Nam kể từ sau tháng Tư 1975. 30 năm với bao đổi thay biến hóa, bao nỗi trăn trở thăng trầm, và bao điều mất mát tàn phai. Nhưng âm nhạc Việt Nam vẫn còn đó, vẫn tồn tại trong trí nhớ và hằn sâu trong tim của những người thưởng ngoạn yêu dấu lấy nó, như Nam Lộc nói, không có một sức mạnh nào hoặc một chế độ nào có thể hủy diệt được sự kiện đó. Như dòng lịch sử của quê hương Việt Nam yêu dấu của chúng ta, dù đã trải qua bao lần bị giặc ngoại xâm, bao lần bị thôn tính đô hộ, bao lần thay đổi chế độ, nhưng quê hương ta vẫn sừng sửng còn lại đó. Dân tộc Việt Nam vẫn tồn tại, và con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình vẫn còn đó, vẫn là con người vốn mang trái tim nhân bản. Và giòng nhạc Vàng vẫn trải dài thêm cho thấy rằng không ai có thể ngăn cản những bài tình ca mở rộng, như những vòng tay ân tình, như những bước chân của người Việt Nam đang trải rộng khắp mặt địa cầu. Như một sáng tác của nhạc sĩ Trúc Hồ cảm nhận qua chuyến đi thăm viếng thủ đô Tiệp Khắc vào năm 2000 bắt đầu cho một thiên niên kỷ mới. Trúc Hồ cô đơn lang thang trên xứ lạ quê người, nhưng rồi anh xao xuyến khi nhìn dân Tiệp Khắc ăn mừng tự do sau cuộc cách mạng Đông Âu thành công, chợt thương cho đất nước Việt Nam vẫn còn chờ đợi ngày mai tươi sáng... và rồi từ đó nhạc phẩm Con Đường Việt Nam của anh ra đời để đón chào ngày vận hội mới, để "Nhớ khi tuổi thơ dại,... Tiếng khuya mẹ ru hời,...Thành tiếng quê hương đậm đà,...Từ những con đường Việt Nam", và như ước mơ "Đã bao năm rồi đó, Thôi không còn nữa".



Đó là nhạc phẩm Con Đường Việt Nam, nhạc Trúc Hồ, lời Anh Bằng, bài hợp ca bởi toàn bộ các ca sĩ góp mặt trong Asia-51 trước khi kết thúc chương trình. Những âm vang chan hòa trong hí viện có sân khấu hoành tráng, ánh đèn muôn màu lộng lẫy của Dallas Fortworth. Vâng, ta mơ một ngày mai như thủ đô Praha (Prague) của Tiệp Khắc chan hòa niềm vui để tất cả chúng ta cùng nắm tay nhau trở về những con đường quê hương Việt Nam, khi quê hương an bình tự do thật sự... "Đã bao năm rồi đó, Thôi không còn nữa".

Một DVD xuất sắc như ý tưởng mà tôi vừa xem xong.

Image

Việt Hải Los Angeles

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Trần Mạnh Tuấn & cuộc đời sau sàn diễn

Sau mỗi đêm phiêu linh ngẫu hứng trên sàn diễn Sax & Art, trở về cuộc sống đời thường, saxophonist Trần Mạnh Tuấn lại chững chạc trong vai trò người chồng, người cha của hai đứa con "đủ cả nếp lẫn tẻ".

Người nghệ sỹ say sưa kể về hai nhóc của mình với lòng tự hào. Bé trai Khoai 9 tuổi sắp vào lớp 3 hiện đang tập tành học piano tại Nhạc viện, có năng khiếu nhưng chẳng biết sẽ nối nghiệp saxo của bố hay không. Bé gái Cookie mới 3 tháng tuổi nhưng ăn nhiều chóng lớn, nhìn phổng phao như đã một năm tuổi.

Vợ anh – người thiếu phụ xinh đẹp Hạnh Linh hiện đang chăm nom quán Sax & Art kiêm quản lý… gia đình nhỏ này. Cô đã hy sinh nhiều cho cho chồng, chờ đợi anh suốt mấy năm khi anh du học ở Mỹ. Nhìn Trần Mạnh Tuấn tự hào về người bạn đời, mới thấy được hạnh phúc gia đình quan trọng như thế nào với người nghệ sỹ, và câu nói “Phía sau thành công của người đàn ông luôn có bóng dáng người phụ nữ” quả thật không sai.

Tháng 7 vừa rồi, hai vợ chồng đi du lịch Thái Lan. Đơn thuần nghỉ ngơi thư giãn như một cặp vợ chồng son, kết hợp với việc … mua sắm dụng cụ âm nhạc cho quán và tìm đĩa. Trần Mạnh Tuấn thích săn lùng những đĩa CD nhạc ngoại hàng độc, những DVD live show của các nghệ sỹ quốc tế để học hỏi. Ở Sài Gòn, tuần nào anh cũng lang thang lùng sục, để rồi khi tìm được đĩa “độc” thì mừng đến không ngủ được. Một sở thích khác của anh là máy móc cho dàn nhạc ... Ở nhà, anh có nguyên một bộ sưu tập máy ảnh, máy quay phim được nâng cấp, hiện đại hóa theo từng thời kỳ.

Khi hỏi việc kinh doanh Sax & Art lời lãi thế nào, Trần Mạnh Tuấn trả lời: “Thấy ổn, nhưng lời lỗ thế nào thì… không rõ lắm”. Với tư cách chủ quán, sáng sáng, anh tạt qua nghe quản lý báo cáo tình hình nhưng không chú trọng nhiều đến kinh doanh, bởi theo anh, như thế sẽ làm mất đi sự thăng hoa trong nghệ thuật (?). Ngoài ra, anh có người quản lý quán, rồi có vợ phụ giúp nên không phải lo lắng gì nhiều, chỉ dành thời gian dượt lại vài giai điệu saxo cho đêm diễn.

Hiện tại, Trần Mạnh Tuấn vừa thành lập công ty Saxophone & Nghệ thuật chuyên tổ chức biểu diễn, nhưng ông giám đốc không muốn nói nhiều về công ty, “bởi nó còn non trẻ quá, khi nào có khách hàng nhiều, Tuấn sẽ khoe”. Ước mơ của anh cao hơn kia, anh muốn cộng tác với một tổ chức nào đó để mở ra một khoa đào tạo về trống, bass, guitar, keyboards, v.v.. chuyên ngành nhạc nhẹ chứ không lỡ cỡ, cổ điển chung chạ với nhạc nhẹ như nhiều nơi đào tạo hiện nay. Hiện tại, anh làm gia sư cho những học trò có nhu cầu theo học saxo. Mà “học trò” của anh là các nhà ngoại giao quốc tế hoặc phó tổng giám đốc AIA, giám đốc công ty quảng cáo Mai Thanh ..v.v..

Trần Mạnh Tuấn có một niềm vui: được lãnh sự quán các nước Mỹ, Pháp, Canada, Đức ... tin cậy bởi anh đã giúp họ trong lĩnh vực giao lưu văn hóa, khi tiếp xúc, giúp đỡ nhiều nghệ sỹ quốc tế tới biểu diễn tại Việt Nam. Trong mắt nhiều người nước ngoài, Trần Mạnh Tuấn được xem như một trong những đại diện của Việt Nam về hoạt động âm nhạc.

Sắp tới, Trần Mạnh Tuấn sẽ phát hành album độc tấu saxophone Bóng Thời Gian tuyển chọn những ca khúc lãng mạn vang bóng một thời như Gửi gió cho mây ngàn bay (Đoàn Chuẩn – Từ Linh), Nỗi lòng (Nguyễn Văn Khánh), Em đến thăm anh một chiều mưa (Tô Vũ) ..v.v.. Anh xác định đây sẽ là album dành tặng cho lớp khán giả trung niên để nghe và nhớ về những hoài niệm đẹp của một thời quá vãng.

Trần Mạnh Tuấn cười mãn nguyện khi kể về Bóng Thời Gian, bởi nó là một trong những tâm huyết nghề nghiệp của anh đã sắp trở thành hiện thực. Dù trong cương vị nào, giám đốc hay chủ quán, dù ở trong hay ngoài sàn diễn, ở Trần Mạnh Tuấn vẫn nguyên vẹn hình hài một nghệ sỹ lãng tử, luôn muốn đem những âm thanh đẹp của cây kèn saxophone dâng hiến cho đời

Image

Trần Mạnh Tuấn: “Hãy sử dụng ngôn ngữ của mình”


Nhắc đến jazz Việt, có lẽ Trần Mạnh Tuấn là một trong những cái tên được đề cập nhiều nhất bởi sức hút của anh đối với công chúng yêu jazz qua những album saxo nhạc Việt jazzy ngẫu hứng. Nhưng, Trần Mạnh Tuấn không chỉ có thế…

Theo anh, Liên hoan jazz Châu Âu tại Việt Nam khá lặng lẽ vừa qua có đóng góp gì cho jazz Việt không?

Có chứ, không nhiều thì ít. Một là đã cho người Việt có được cái nhìn chung về jazz châu Âu đương đại. Jazz châu Âu – qua những gì thể hiện tại Liên hoan, không bàn về chuyện hay dở vốn tùy thuộc theo quan điểm cá nhân – đã tạo được màu sắc riêng độc đáo, đáng học tập. Hai là mở ra cơ hội cho nhạc công jazz của chúng ta có dịp cọ xát với bạn bè quốc tế, học hỏi tiếp thu cái mới, cái hay cùng kỹ thuật chơi jazz của họ. Năm ngoái tôi biểu diễn với Hà Nội Jazzband, năm nay lại chơi jazz với những người Sài Gòn trẻ cùng những nghệ sỹ đến từ Pháp, điều đó rất thú vị.

Nhưng về mặt công chúng, có thể nói đây là sự thất bại của Liên hoan jazz khi khán giả chủ yếu là người nước ngoài?

Vâng, nhưng tôi nghĩ điều đó không phải do dân ta không thích jazz mà bởi vì công tác tuyên truyền quảng bá về Liên hoan không được rộng khắp, không thu hút khán giả, người ta có biết đâu mà đi xem. Như địa điểm tổ chức chỉ có mỗi tấm băng-rôn bé tí, sân khấu quá đơn điệu, âm thanh ánh sáng sơ sài .v.v. Đây là vấn đề mà ban tổ chức nên khắc phục trong những liên hoan sau. Giới báo chí cũng nên nhắc tới jazz thường xuyên hơn chứ không chỉ chờ Liên hoan jazz mới nói về jazz.

Đứng bên cạnh những nghệ sỹ jazz hàng đầu châu Âu, anh có … tự ti không?

Hoàn toàn không. Tuy họ giỏi thật đấy, nhưng mình cũng có cái hay, cái bản sắc riêng của mình chứ. Kỹ thuật của họ rất điêu luyện, kinh nghiệm tuyệt vời, phong cách sôi nổi hào hứng. Bên cạnh họ, tôi lại… đằm thắm nhẹ nhàng hơn, không khoe kỹ thuật “múa rìu qua mắt thợ” mà khai thác những nét luyến láy nhấn nhá đặc trưng của âm nhạc dân gian Việt Nam. Nhờ vậy, tôi được bạn bè quốc tế rất thích và khen ngợi là sáng tạo.

Qua những gì anh thể hiện ở Liên hoan, người ta thấy một jazzman Trần Mạnh Tuấn khác hẳn với chàng nghệ sỹ saxophone trên sân khấu ca nhạc cũng như trong băng đĩa?

Đúng vậy, nhưng đều là Trần Mạnh Tuấn cả thôi, hai mặt của một con người. Tôi quan niệm người nghệ sỹ - bên cạnh việc theo đuổi đam mê riêng – còn phải làm tất cả những gì có thể theo nhu cầu của khán giả. Chính vì vậy, mới có một Trần Mạnh Tuấn của Hạ Trắng, Về Quê … Khán giả có rất nhiều thành phần, đáp ứng được bao nhiêu tốt bấy nhiêu, phải không? Thật ra tôi sáng tác rất nhiều nhưng ít khi biểu diễn ở Việt Nam, bởi không có điều kiện tổ chức một concert đàng hoàng. Đến bây giờ mới giới thiệu được mấy bài Ru rừng, Bạn và tôi, Giận hờn, Chợ phiên .v.v. trên sân khấu Nhạc viện. Tôi mong muốn sẽ có dịp giới thiệu những tác phẩm tâm đắc khác như Ru con do tôi hát với đàn bầu…

Anh có thể nói rõ quan điểm sáng tác jazz của Trần Mạnh Tuấn là như thế nào?

Thời học tại ĐH Berklee – Hoa Kỳ, thầy giáo của tôi có khuyên rằng: “Chỉ khi sử dụng ngôn ngữ của mình, bạn mới có thể phát triển được”. Tôi rất tâm đắc và luôn tâm niệm làm đúng như vậy. Tôi muốn mang những gì chân chất, mộc mạc đơn sơ của núi rừng làng quê vào âm nhạc. Định hướng sáng tạo của tôi đầu tiên dựa trên cảm xúc và cái đẹp, các tác phẩm của tôi phải có giai điệu đẹp và mang âm hưỡng dân gian chứ không phóng tác dựa theo những bài dân ca. Tôi muốn chất dân tộc và hiện đại trong tác phẩm phải hòa hợp với nhau chứ không lắp ghép gượng gạo. Tôi vẫn đang ở trong quá trình hoàn thiện những ý tưởng của mình.

Thế còn về mặt kinh doanh âm nhạc?

Tôi vẫn sẽ sản xuất những album nhạc đậm đặc Việt Nam phục vụ đông đảo công chúng. Album Về Quê của tôi đã bán được hơn 1 trăm nghìn bản trong vòng 1 năm 2 tháng, là điều tôi rất tự hào. Tôi nghĩ là mình đã đáp ứng được những gì khán giả cần, đồng thời, âm nhạc của tôi vẫn rất nghệ thuật chứ không phải hàng chợ. Điều quan trọng – theo tôi – là phải “bắt mạch” đúng thị hiếu khán giả, tiếp cận công chúng bằng những gì gần gũi quen thuộc, như nhạc Trịnh Công Sơn chẳng hạn. Đó là kinh nghiệm rút ra từ thất bại lớn của tôi: album Lời Ru Mắt Em làm chung với nhạc sỹ Vũ Quang Trung lỗ thê thảm, bán hai năm chưa được 1000 bản bởi âm nhạc Tây quá, công chúng không đón nhận. Tôi sẽ không bao giờ sản xuất album nhạc jazz quốc tế nữa, bởi một phần khán giả ít, phần nữa là mình không thể chơi jazz ngoại hay như người nước ngoài được.

Trong bối cảnh jazz Việt đang lặng lẽ như vậy, những người Việt tâm huyết với jazz như anh chỉ đếm được trên đầu ngón tay, anh có bi quan với tương lai jazz Việt không?

Tại sao phải bi quan? Tôi thấy hiện nhạc jazz đang được chú ý đấy chứ, bằng chứng là quán Sax & Arts của tôi mở ra đêm nào cũng đông khách, tuy nhiên đấy là quán nhỏ chứ nếu rộng hơn, 4-5 trăm chỗ thì cũng gay đấy! Không thể đòi hỏi jazz trở thành đại chúng trong một sớm một chiều được dù đó là ước mơ của tôi. Một thế hệ trẻ chơi jazz tài năng cũng đang dần chín, như Quyền Thiện Đắc saxo, Tuấn Hùng piano ở Hà Nội, Thanh Tân guitar, Thế Vinh trumpet ở Sài Gòn .v.v. Tôi dự định sẽ làm CD những ca khúc riêng của mình, làm vì tâm huyết là chính chứ không mong sẽ bán chạy. Năm 2005, có thể tôi sẽ tham gia Liên hoan nhạc Jazz Thượng Hải. Sau Liên hoan nhạc Jazz châu Âu, một nhà tổ chức biểu diễn ở Malaysia cũng đang xúc tiến với tôi để có thể tiến hành Liên hoan nhạc Jazz châu Á tại Việt Nam vào năm tới. Xem ra mọi việc đều rất khả quan, phải không?

(Theo GiaiDieuXanh)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Angelina Jolie bỏ Brad Pitt đi ở khách sạn “Bà Smith” đã xách vali, bồng bế 3 đứa con và ra khỏi tổ ấm ở Malibu (Los Angeles, Mỹ) của “ông Smith”. Tờ Star đưa tin, nhân viên khách sạn Bel Air tròn mắt ngạc nhiên khi thấy mẹ con nữ minh tinh Hollywood vào thuê phòng cùng trợ lý và vệ sĩ hôm 29/7.
Image
Diễn viên Angelina Jolie. Ảnh: Skins.
Star dẫn một nguồn tin cho rằng, Angelina Jolie rũ áo ra đi sau một trận cãi vã với Brad Pitt. Chàng tài tử gây cơn sóng gió cho gia đình nhỏ của anh, khi tuyên bố anh vẫn muốn giữ lối sống phóng túng, có “khoảng trời riêng” và buộc người phụ nữ độc lập như Angie thành bà nội trợ.
Image
Brad Pitt, Angelina Jolie và con gái Shiloh. Ảnh: Getty Images.
Hiện nay, Brad đang đóng phim Ocean’s Thirteen. Angie cũng nhận 2 hợp đồng là lồng tiếng cho phim hoạt hình Kung Fu Panda và đóng A Might Heart. Vì vậy, chẳng dễ giữ chân bà mẹ 31 tuổi này ở nhà làm bếp. Nguồn tin của Star còn tiết lộ, chàng Achilles choáng váng và nổi giận lôi đình khi biết người tình cùng các con bỏ đi khi anh đang đóng phim xa nhà. Nhân viên của khách sạn Bel Air tuyên bố: “Chúng tôi dành cho Angelina Jolie dịch vụ chăm sóc đặc biệt”.

Tuy nhiên, dường như đôi Brangelina đã giảng hòa vào ngày 3/8, khi họ đi ăn tối ở nhà hàng và hôn nhau say đắm.

Mai Trần (theo National Ledge)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image


HUYỀN THOẠI LÊ MINH BẰNG (The Legendary Lê Minh Bằng)
Duy Khiêm, Aug 21, 2006


Vào ngày 26 tháng 8 năm 2006 sắp tới đây, Trung Tâm ca nhạc Asia sẽ tổ chức một chương trình đại nhạc hội trực tiếp thu hình cho Asia DVD 52 tại thành phố Houston, tiểu bang Texas với chủ đề “Huyền Thoại Lê Minh Bằng” (The Legendary Lê Minh Bằng). Chủ đề này nghe thật là hấp dẫn, với sự cộng tác của số lượng ca nhạc sĩ đông đảo nhứt từ trước tới nay (theo như bích chương quảng cáo của Trung Tâm Asia). Tuy các nhạc phẩm của Lê Minh Bằng đã được trình diễn rất nhiều lần khắp nơi ở hải ngoại suốt ba mươi năm nay, nhưng có lẽ phần đông khán giả (nhứt là giới trẻ được sinh ra và lớn lên sau năm 1975) vẫn chưa biết thật rõ ràng, rành mạch về tác giả Lê Minh Bằng và những huyền thoại còn phủ kín chung quanh nghệ danh rất nổi tiếng này.



Ngược dòng thời gian và không gian để quay về thời điểm của năm 1966 ở Việt Nam, tức là cách đây đúng 40 năm, bỗng dưng trên các hệ thống đài phát thanh, truyền hình có một bài hát được rất nhiều khán thính giả ưa thích với những lời ca như:



Thượng Đế hỡi có thấu cho Việt Nam này
Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài.
Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn.
Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền.
Vì đất nước đang còn ưu phiền.
Còn tiếng khóc đi vào đêm trường triền miên

Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Quê hương non nước tôi ai gây hận thù tội tình
Nhà Việt Nam yêu dấu ơi bao giờ thanh bình?


Đó là bài “Đêm Nguyện Cầu” ký tên tác giả là Lê Minh Bằng, một cái tên xa lạ lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường âm nhạc ở miền nam Việt Nam. Ở phần trên của các dòng nhạc trong bản nhạc này có những lời giới thiệu như sau:

“Kính dâng tổ quốc mến yêu.
Chân thành ghi ơn những người đã và đang chiến đấu cho hòa bình Việt Nam.
Lê Minh Bằng, Quốc khánh 1966”




Bài hát này được ca sĩ Thanh Vũ trình bày lần đầu tiên trên đài phát thanh. Thanh Vũ là một ca sĩ khá đẹp trai, cao ráo, thường hát chung với Nhật Trường, Duy Khánh và Hùng Cường trên các sân khấu đại nhạc hội. Ca sĩ Thanh Vũ cũng hay song ca với Hoàng Oanh và Thanh Tuyền khi thâu thanh vào dĩa nhựa. Cũng chính bài hát “Đêm Nguyện Cầu” này đã đưa tên tuổi Chế Linh lên đài danh vọng khắp từ Bến Hải đến Cà Mau, như những tiếng rên siết, kêu than cho thân phận người dân trong thời chinh chiến đang mơ ước thanh bình. Bài hát này được tung ra vào đúng thời điểm chiến cuộc ở miền Nam Việt Nam đang leo thang với sự xâm nhập ồ ạt của bộ đội miền Bắc và những cán bộ tập kết từ năm 1954 đang hồi kết, gây chiến tranh đau thương tang tóc khắp nơi. Quân đội đồng minh Hoa Kỳ cũng đang đổ bộ vào miền Nam để tiếp tay với chánh quyền VNCH nhằm ngăn chận hiểm họa cộng sản và bảo vệ miền Nam được dân chủ, tự do lâu dài. Cho nên khán giả khắp nơi đã mau chóng đón nhận bài hát này, như những lời tâm sự rất xác thực để nói lên những ước vọng của dân chúng khắp nơi. (Ở hải ngoại sau này trong Video Asia 15: Tình Ca Anh Bằng, ca sĩ Elvis Phương đã hát bài Đêm Nguyện Cầu này). Sau đó là một loạt những bài hát khác của nhóm Lê Minh Bằng ra đời và được rất nhiều người ưa thích như Hai Mùa Mưa, Lẻ Bóng, Sầu Lẻ Bóng, Chuyện Hai Chúng Mình, Đôi Bóng, Tình Đời..v.v. Bài thơ “Cần Thiết” của thi sĩ Nguyên Sa được nhóm Lê Minh Bằng phổ nhạc và đặt tên là “Nếu Vắng Anh” khiến cho giới trẻ rất yêu thích vì có những câu thơ rất lãng mạn như:


Không có anh …. lấy ai đưa em đi học về ?
Lấy ai viết thư ….cho em mang vào lớp học ?
Ai lau nước mắt … khi em ngồi khóc ?
Ai đưa em đi chơi …trong chiều mưa …?

Vào lúc đó chỉ có một số rất ít người có liên hệ với sân khấu ca nhạc và giới ký giả kịch trường biết được Lê Minh Bằng là bút hiệu chung của ba nhạc sĩ nổi tiếng thời bấy giờ là Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng. Nhưng lý do vì sao mà họ hợp tác chung với nhau, ai là người viết nhạc, ai là người đặt lời, ai là người đặt tựa thì ít ai biết và họ đã kiếm được bao nhiêu tiền, chia chác ra sao, thành công hay thất bại thì cho tới nay vẫn còn là “huyền thoại” tức là vẫn còn là điều bí ẩn chưa được giải đáp một cách rõ ràng, thỏa đáng.



Theo tiết lộ của nhạc sĩ Lê Dinh trên tờ Nghệ Thuật xuất bản ở Canada, lúc đầu khi thành lập Nhóm Lê Minh Bằng (1966)thì ba người nhạc sĩ này đã họp lại và bàn bạc với nhau về đường lối sáng tác những bản nhạc của nhóm mình. Đó là làm sao mà sáng tác ra loại nhạc hợp với mọi tầng lớp dân chúng từ thành thị tới thôn quê, để ai cũng có thể thưởng thức được. Như vậy những bài hát này phải có lời ca trong sáng, giản dị, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Giai điệu và tiết tấu cũng nên đơn giản để dễ tập đàn, dễ tập hát (như điệu boléro, rumba slow, slow rock, boston…chẳng hạn). Nói tóm lại là nhạc và lời phải thật dễ thương, âm điệu uyển chuyển khiến người nào nghe một lần là còn nhớ thoang thoảng trong lòng. Vì là bước đầu thử nghiệm, nên cả nhóm không biết là những bài hát này sẽ thành công hay không, sẽ được nhiều người ưa thích hay chê bai? Để tránh trường hợp thất bại xảy ra có ảnh hưởng đến tên tuổi của cả ba nhạc sĩ này, thì cách tốt nhứt là chọn ra vài cái biệt hiệu khác nhau để ký tên lên các bài hát mới thử nghiệm này. Nhưng kết quả thật quá bất ngờ, đến nổi cả ba người nhạc sĩ này không tin rằng đó là sự thật. Vì sau khi những bài hát của nhóm tung ra, số lượng các bản nhạc in (music sheets) bán được khắp nơi đã tăng nhanh vùn vụt (sẽ kể thêm ở đoạn sau) và nhóm Lê Minh Bằng đã thành công vượt bực để trở thành “huyền thoại” sau này.

Trong nhóm Lê Minh Bằng này, người lớn tuổi nhất là nhạc sĩ Anh Bằng. Tên thật của ông là Trần An Bường và sinh năm 1925 tại thị trấn Điền Hộ thuộc tỉnh Ninh Bình gần ranh giới tỉnh Thanh Hóa. (cách Hà Nội khoảng 100 cây số về phía nam). Theo học Trung học ở Hà Nội trước khi di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống ở Sài Gòn cho đến năm 1975. Kế đó là nhạc sĩ Minh Kỳ sinh năm 1930 tại Huế. Ông thuộc dòng dõi hoàng tộc và tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ, có vai vế ngang hàng với vua Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy) và phục vụ trong ngành cảnh sát VNCH với cấp bực Đại Úy vào năm 1975. Trẻ nhất trong nhóm là nhạc sĩ Lê Dinh (tên thật là Lê Văn Dinh) sanh ngày 8 tháng 9 năm 1934 tại làng Vĩnh Hựu thuộc tỉnh Gò Công. Ông ghi tên học hàm thụ âm nhạc với trường Ecole Universelle de Paris khi còn học Trung học ở Gò Công. Năm 22 tuổi, ông sáng tác bài hát đầu tiên là “Làng Anh, Làng Em”. Ông học trường Cao Đẳng Vô Tuyến Điện Sài Gòn (1953-1955), dạy học (1955-1957) và làm công chức cho đài phát thanh Sài Gòn từ năm 1958 cho đến tháng Tư năm 1975.(Chức vụ là Chủ Sự Phòng Sản Xuất rồi Chủ Sự Phòng Điều Hợp).



Trước khi thành lập nhóm Lê Minh Bằng thì mỗi nhạc sĩ cũng đã tự mình tạo nên tên tuổi trong làng âm nhạc thời đó với số lượng và chất lượng của những tác phẩm nổi tiếng như Nỗi Lòng Ngưòi Đi, Nếu Vắng Anh, Tango Dĩ Vãng, Hẹn Anh Đêm Nay, Hận Tình, Còn Nhớ Hay Không…(Anh Bằng), Biệt Kinh Kỳ, Lá Vàng Rơi, Năm Ngọn Núi Ngũ Hành, Thương Về Miền Trung, Nhớ Nha Trang, Thương Về Miền Đất Lạnh…(Minh Kỳ), Tấm Ảnh Ngày Xưa, Cánh Thiệp Hồng, Nỗi Buồn Châu Pha, Chiều Lên Bản Thượng, Xác Pháo Nhà Ai, Ga Chiều ...(Lê Dinh).



Trong công việc hùn hạp, làm ăn với nhau, người Việt mình kỵ nhất là sự hợp tác giữa ba người. Nhưng nhóm Lê Minh Bằng không tin dị đoan, nên quyết tâm cộng tác với nhau như một công ty đàng hoàng. Cũng có thể gọi là huyền thoại vì đây là sự kết hợp khá lạ lùng giữa ba người nhạc sĩ của ba miền đất nước là Nam Trung Bắc lại với nhau. Ngoài việc sáng tác nhạc thì họ còn làm việc ở cả ba lãnh vực khác nhau (kinh doanh, công chức, cảnh sát).


Những hoạt động chính yếu của Nhóm Lê Minh Bằng:

(1)-Mở lớp dạy nhạc có tên là “Lớp Nhạc Lê Minh Bằng” ở tại số 102/8 đường Hai Bà Trưng, Tân Định, Sài Gòn. Cả ba nhạc sĩ này thay phiên nhau giảng dạy về lý thuyết (nhạc lý, ký âm pháp) và thực hành (luyện giọng, xướng âm). Thế nào là lên tông, xuống tông, thăng, giáng, nhịp đôi, nhịp ba, tại sao bài hát này là âm giai trưởng, âm giai thứ? Giờ lý thuyết của thầy Minh Kỳ rất là nghiêm trang, kỷ luật. Học viên không được đùa giỡn với nhau mà phải chăm chú lắng nghe phần lý thuyết khô khan này. Nhưng đến giờ của thầy Anh Bằng và Lê Dinh thì lớp học rất vui, khi các thầy cầm đàn guitar đệm những bài ca cho học viên thực tập. Có khoảng chừng một trăm học viên nam nữ theo học và sau này đã có những ca sĩ nổi tiếng như Kim Loan, Giáng Thu, Mạnh Quỳnh (ngày xưa, không phải MQ ở hải ngoại sau này), Hải Lý, Trang Mỹ Dung, Nhật Thiên Lan, Thu Thủy ...có rất nhiều học viên đã bỏ cuộc giữa đường, tìm nghề khác thích hợp hơn.


(2)-Thành lập ban nhạc mang tên là Sóng Mới chuyên trình diễn trên Đài Phát Thanh Sài Gòn (số 3 đường Phan Đình Phùng).


(3)-Cố vấn cho ông Nguyễn Tất Oanh, giám đốc hãng dĩa hát Asia và nhà xuất bản Sóng Nhạc ở số 37 đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn trong việc lựa chọn bài hát và ca sĩ để thu thanh vào dĩa nhựa và ấn hành các bản nhạc rời để tung ra thị trường.

(4)-Phụ trách trong việc tổ chức Chương Trình Tuyển Lựa Ca Sĩ được tổ chức hàng tuần ở rạp hát Quốc Thanh, do Đài Phát Thanh Sài Gòn thực hiện và được trực tiếp truyền thanh trên toàn quốc vào mỗi sáng Chủ Nhựt. Cuộc thi này rất hào hứng từ hàng chục năm rồi và đã lựa chọn được những ca sĩ tên tuổi thắng giải như Tùng Lâm, Duy Khánh (Tăng Hồng), Hùng Cường, Vân Hùng, Hoàng Yến, Bích Thủy …Đầu tiên là thí sinh trải qua phần phúc khảo, ba tháng sau vào phần bán kết và sau đó là phần chung kết. Ai hát được đúng nhịp và đừng bỏ cuộc nửa chừng của bài hát thì được ban giám khảo cho điểm trung bình là 13 điểm (theo thang điểm tối đa 20). Xen kẽ chương trình thi là các màn phụ diễn văn nghệ của các nghệ sĩ chuyên nghiệp của nhóm Lê Minh Bằng và vài nhóm khác.

(5)-Sáng tác, xuất bản và phổ biến các tác phẩm âm nhạc được ký tên với nhiều bút hiệu khác nhau như Lê Minh Bằng, Vũ Chương, Mạc Phong Linh, Mai Thiết Lĩnh, Mai Bích Dung, Dạ Ly Vũ, Dạ Cầm, Giang Minh Sơn, Hoàng Minh, Trần An Thanh, Tây Phố, Trúc Ly, Tôn Nữ Thụy Khương, Phương Trà, Huy Cường. v.v. ….Lợi tức thu được từ việc xuất bản và phát hành những bản nhạc sáng tác chung này là những món tiền khổng lồ thời bấy giờ. Đây chính là sự thành công to lớn nhứt của nhóm Lê Minh Bằng. Thành công ở địa hạt này cho đến nay vẫn còn là “huyền thoại” mà nếu không nghe chính những nhạc sĩ này kể ra rõ ràng, thì ít có ai tin rằng đó là sự thật.

Nhiệm vụ của từng thành viên trong nhóm Lê Minh Bằng:

Điều đầu tiên mà mọi người vẫn thường hay thắc mắc là trong một bản nhạc của nhóm Lê Minh Bằng thì ai là người viết nhạc và ai là người viết lời (tức là giai điệu và ca từ)? Theo sự tiết lộ của thi sĩ Nguyên Sa, là một người bạn rất thân với nhạc sĩ Anh Bằng, qua một bài viết trước kia thì hầu như nhạc sĩ Anh Bằng là người sáng tác tất cả những bài hát của nhóm Lê Minh Bằng. Ông sáng tác trọn vẹn cả nhạc lẫn lời của các bài ca. Hai nhạc sĩ kia là Lê Dinh và Minh Kỳ chỉ góp ý và sửa chữa chút ít mà thôi trước khi cho phổ biến. Sự phân công về nhiệm vụ của từng người cũng rất lạ lùng và rất thuận tiện tùy theo nghề nghiệp và sở thích của mỗi người.


Nhạc sĩ Anh Bằng là người trầm lặng, ít nói, không thích xuất hiện trên sân khấu hay trước đám đông. Ông thích dành nhiều thì giờ cho việc suy tư, yên lặng sáng tác theo tâm hồn nghệ sĩ của ông. Ông có một tâm hồn hết sức bén nhạy, dễ xúc cảm và cực kỳ lãng mạn (theo lời Nguyên Sa). Nên ông lãnh phần sáng tác các ca khúc cho nhóm. Còn nhạc sĩ Lê Dinh là công chức ở đài phát thanh Sài Gòn, nên ông có dịp theo dõi, liên lạc với các ban nhạc cộng tác với đài. Ông cũng góp ý và giúp cho việc phát thanh, phổ biến những sáng tác mới theo yêu cầu của khán giả khắp nơi liên lạc về đài. Riêng Minh Kỳ là Đại Úy cảnh sát nên lãnh nhiệm vụ giao dịch với các nhà in để thúc hối họ in ra kịp thời hạn những bản nhạc cần gởi đi các đại lý, cửa hàng văn hóa phẩm để bán.


Ở đây cũng cần phải nhắc lại về việc sản xuất và tiêu thụ âm nhạc cách đây hơn 40 năm rất là khác xa với thời đại hiện giờ. Ở nước ta thời đó, số lượng máy hát dĩa và dĩa nhựa còn khá mắc tiền, nên việc bán những dĩa nhựa còn rất hạn chế. Đa số dân chúng khắp nước từ thị thành tới thôn quê yêu thích tân nhạc đều nghe nhạc từ đài phát thanh và tìm mua những bản nhạc về tập hát, tập đàn. Những bản nhạc này (music sheet) được in trên giấy cứng xếp lại làm đôi, kích thước bề dài là 30 phân, bề ngang là 22 phân (tức là khổ giấy A3 hiện nay). Nhạc và lời được chép vào 2 trang trong (trang ruột), còn trang 1 tức là bìa bản nhạc thì được vẽ hình, hoặc chụp hình ca sĩ và viết tựa bài nhạc, tên tác giả. Trang bìa sau (tức trang 4) là để in mục lục các bài nhạc cùng tên tác giả hoặc cùng nhà xuất bản. Những nhà xuất bản nổi tiếng thời đó là Tinh Hoa Miền Nam, Sống Chung, Á Châu, Minh Phát, An Phú. Nếu ai không có tiền mua ấn bản của các nhạc phẩm thì họ mua tập vở học trò có kẻ hàng sẳn, kẻ thêm nét mực đậm lên các hàng là có được những khuôn nhạc để tìm mượn các bài hát và chép lại để dành cho việc tập đàn, tập hát.


Mỗi một bản nhạc như vậy được bán với giá 5 đồng VNCH. Có nhiều bài hát của nhóm Lê Minh Bằng vừa xuất bản lần đầu 10,000 ấn bản đã bán sạch hết trong tuần lễ đầu tiên. Các đại lý liên lạc yêu cầu tái bản thật nhanh để tung ra thị trường. Thành công vượt bực trong những nhạc phẩm của nhóm Lê Minh Bằng là “Chuyện Tình Lan Và Điệp”. Đi đâu cũng nghe có người ca:


“Tôi kể người nghe chuyện tình Lan và Điệp, một chuyện tình cay đắng, Lúc tuổi còn thơ, tôi vẫn thường mộng mơ đem viết thành bài ca, Thuở ấy Điệp vui như bướm trắng, say đắm bên Lan, Lan như bông hoa ngàn”

Trên đài phát thanh, khán giả yêu cầu phát thanh “Chuyện Tình Lan và Điệp” hàng ngày, hàng tuần, liên tiếp trong nhiều tháng trường. Khán giả yêu cầu “Lan & Điệp” mười lần thì các bài hát khác chỉ yêu cầu có một lần mà thôi. Các bản nhạc in ra không đủ bán. Nhà in Tương Lai ở đường Trần Hưng Đạo có bao nhiêu máy in cũng được sử dụng để in “Chuyện Tình Lan và Điệp 1,2,3” ròng rã suốt ngày đêm. Tổng cộng là gần 4 triệu năm trăm ngàn bản nhạc được in ra trong vòng hai năm. Mỗi bản nhạc là 5 đồng thì công ty Lê Minh Bằng đã thu về được gần mười lăm triệu đồng bạc VNCH sau khi trừ đi những phí tổn linh tinh. Tỉ giá hối xuất lúc đó là 70 đồng VNCH thì bằng một đô-la Mỹ. Như vậy tính sơ sơ thì cả ba nhạc sĩ này cũng kiếm được hơn 200,000 dollars Mỹ vào thời đó rồi. Nhạc sĩ Anh Bằng đã kể cho thi sĩ Nguyên Sa biết là “dạo đó tiền vào như nước”. Đúng là một huyền thoại khó quên. Sau khi bán các bản nhạc này thì họ lại còn bán được bản quyền cho nhà sản xuất dĩa nhạc Asia để thu thanh vào dĩa nhựa. Không phải chỉ có Chuyện Tình Lan Và Điệp, Đêm Nguyện Cầu là bán mạnh, mà tiếp theo còn có rất nhiều bài khác như Gõ Cửa, Căn Nhà Ngoại Ô, Nhật Ký Hai Đứa Mình, Phượng Hồng Phượng Tím, Linh Hồn Tượng Đá, Đêm Vũ Trường, Tình Đời, Sầu Tím Thiệp Hồng, Một Chuyến Xe Hoa, Hai Sắc Hoa Ti-Gôn, Tango Dĩ Vãng, Huế Xưa, Kiếp Cầm Ca, Xin Còn Gọi Tên Nhau …Có bài phải in ra hơn 100,000 ấn bản mới đủ để phát hành khắp miền Nam lúc đó.


Với sự thành công của nhóm Lê Minh Bằng như vậy thì không phải là họ độc chiếm thị trường âm nhạc theo kiểu “một mình một chợ” dù là họ đã ký tên với rất nhiều bút hiệu khác nhau. Họ cũng phải cạnh tranh với rất nhiều nhạc sĩ nổi danh khác chuyên môn sáng tác những bài hát theo thể điệu boléro, rumba như Lam Phương, Duy Khánh, Trần Thiện Thanh, Hoài Linh....và đặc biệt nhất là Trúc Phương. Đây là một nhạc sĩ trẻ vừa xuất hiện với một hào quang sáng chói và chỉ một thời gian ngắn đã lấn át các đàn anh nêu trên. Nhạc của Trúc Phương cũng chỉ là nhạc phổ thông quần chúng, nhưng lời ca thì rất đẹp, rất nên thơ vượt trội các nhạc sĩ đương thời. Nên không lâu sau đó các bài hát của Trúc Phương như Tàu Đêm Năm Cũ, Nửa Đêm Ngoài Phố, Thói Đời, Buồn Trong Kỷ Niệm, Ai Cho Tôi Tình Yêu …và nhứt là Trên Bốn Vùng Chiến Thuật và Hai Mươi Bốn Giờ Phép đã được đón nhận khắp nơi. Liền sau đó có ba nhạc sĩ cũng hợp tác thành một bộ ba y chang như nhóm Lê Minh Bằng là nhóm Trịnh Lâm Ngân, cũng có những cách thức làm việc từa tựa nhóm kia. Họ là nhạc sĩ Trần Trịnh, nhạc sĩ Nhật Ngân và một người bạn là Lâm Đệ, vốn là con trai của một trung tâm thu thanh (trong đó phần sáng tác chính là do nhạc sĩ Nhật Ngân đảm trách). Nhóm ba người Trịnh Lâm Ngân này cũng tung ra được gần ba chục bài hát rất nổi danh như Xuân Này Con Không Về, Qua Cơn Mê, Yêu Một Mình, Hờn Anh Giận Em, Tình Kỷ Nữ … Nhưng họ không thành công lắm trên phương diện thương mại và không tạo nên “huyền thoại” bằng nhóm Lê Minh Bằng.


Việc phân chia lợi nhuận và tác quyền của các thành viên trong nhóm:

Lợi tức của nhóm Lê Minh Bằng thu vào được hàng triệu đồng như vậy, thì việc phân chia làm sao? Nhạc sĩ Anh Bằng cho biết là mọi khoản tiền kiếm được đều được chia ra đồng đều làm ba phần cho ba nhạc sĩ, bất kể là nhiệm vụ của mỗi người ra sao. Công ty huyền thoại Lê Minh Bằng này đã hoạt động liên tục thành công như vậy đó trong suốt chín năm trời (1966-1975) và đã kiếm được hàng chục triệu đồng VNCH và họ cũng đã là những nhạc sĩ giàu nhứt thời đó. Nhưng ngoài việc hợp tác làm ăn chung này thì cả ba nhạc sĩ này cũng có làm ăn riêng rẽ, tùy theo hoàn cảnh và điều kiện của từng người.


Giàu nhất trong bộ ba này là nhạc sĩ Anh Bằng. Ngoài lãnh vực kinh doanh âm nhạc, gia đình ông còn có những cơ sở thương mại khác hái ra bộn tiền như hệ thống các quán cà phê có thương hiệu là Làng Văn ở đường Phan Kế Bính và Trần Quang Khải (Sài Gòn). Chủ nhân của lò bánh mì Michou Frères ở đường Trần Quang Khải cũng là Anh Bằng. Ông cũng là sở hữu chủ của một công ty xe đò chạy tuyến đường Sài Gòn–Đà Lạt. Tất cả những công việc giao dịch kinh doanh này ông đều giao cho các quản lý điều khiển để ông dành hết thì giờ vào nghệ thuật âm nhạc của ông. Có lẽ đã nhiều lần những người tài xế và lơ xe đò của chiếc xe này không bao giờ biết được thỉnh thoảng lại có một người đàn ông trung niên lặng lẽ ngồi ở băng sau chót của chiếc xe đò chạy từ Sài Gòn lên Đà Lạt. Ông ngồi im lìm thả hồn vào những cảnh vật ở hai bên đường mà trầm tư suy nghĩ như quên hết mọi chuyện xung quanh. Người đàn ông bí ẩn đó cũng chính là chủ nhân ông của chiếc xe đò này. Để rồi khi trở về nhà nhạc sĩ đã sáng tác ra "Đà Lạt Hoàng Hôn” do cảm xúc từ những chuyến đi một mình. Rất ít khi người ta thấy ông xuất hiện ở trên đài phát thanh hay đài truyền hình hoặc những nơi chốn có đông đảo mọi người. Trước năm 1975, tuy là nhạc sĩ của hơn 350 bài hát có số ấn bản hàng triệu bản nhạc in, bài nào cũng được thu thanh và phát thanh hàng trăm lần, nhưng trước sau ông chỉ đến Đài Phát Thanh Sài Gòn khoảng chừng ba lần để nghe và xem Thanh Thúy thâu Sầu Lẻ Bóng, Lệ Thu thâu Nước Mắt Một Linh Hồn và Thanh Vũ thâu Đêm Nguyện Cầu.



Cùng gia đình di tản sang Mỹ từ năm 1975 với số tuổi vừa đúng 50, nhạc sĩ Anh Bằng vẫn tiếp tục hoạt động trong lãnh vực âm nhạc với Trung tâm sản xuất và phát hành băng nhạc cassettes tên là Dạ Lan (1981-1990). Trung tâm này đã từng chiếm lĩnh thị trường nhiều năm với những tiếng hát như Ngọc Lan, Tuấn Vũ, Sơn Tuyền, Như Mai... và “Ngũ Long Công Chúa” gồm có Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Hải Lý, Kim Anh ..qua các băng nhạc Lê Minh Bằng 1, Lê Minh Bằng 2, Lê Minh Bằng 3... Ngoài ra ông còn trình diễn ở ban nhạc lưu động với những giọng ca như Ngọc Lan, Kiều Nga, Thy Vân, Hải Lý, Như Mai ....Rồi làm cố vấn cho Trung Tâm Asia Entertainment sau này (kể từ năm 1990). Trong suốt ba mươi mốt năm qua, nhạc sĩ Anh Bằng đã không ngừng sáng tác. Nếu trước năm 1975 số lượng các nhạc phẩm phổ thơ của ông chiếm chừng 10% trong tổng số các bài hát do ông sáng tác, thì sau này ra hải ngoại số bài hát phổ thơ hoặc lấy ý từ những bài thơ sẽ nhiều hơn như Trúc Đào, Chuyện Hoa Sim, Chuyện Giàn Thiên Lý, Về, Hiến Chương Tình Yêu, Anh Còn Nợ Em, Gửi Người Dưới Mộ, Chuyện Tình Hoa Trắng, Truyện Kiều...v..v.


Người thứ nhì trong nhóm Lê Minh Bằng cũng rất may mắn là nhạc sĩ Lê Dinh. Tuy ông là một công chức thâm niên của Đài Phát Thanh Sài Gòn (số 3 đường Phan Đình Phùng) liên tục từ năm 1958 cho đến năm 1975, nhưng ông không bị bắt đi học tập cải tạo nhiều năm. Lúc làm việc cho đài phát thanh, ông cũng có viết vài bài nhạc hùng tuyên truyền cho những chiến dịch tố cáo tội ác của cộng sản nhưng rất nhẹ nhàng. (Trong khi nhạc sĩ Minh Kỳ có viết vài bài hùng ca rất mạnh mẽ như Biệt Động Quân, Cảnh Sát Hành Khúc…). Bị kẹt lại ở Sài Gòn sau năm 1975, mãi cho đến ba năm sau ông mới cùng gia đình vượt biển thành công (tháng 8 năm 1978)và được một tàu hàng của Canada vớt mang vào Đài Loan tạm trú. Từ năm 1979 ông cùng gia đình sang định cư ở thành phố Montréal, Canada cho đến bây giờ. Ra hải ngoại ông không còn nhiều cảm hứng và môi trường thích hợp để sáng tác nữa mà chuyển sang lãnh vực làm đài phát thanh Việt ngữ và làm chủ nhiệm tờ nguyệt san Nghệ Thuật, trong đó ông viết rất nhiều bài vở. Những sáng tác sau này của Lê Dinh ở hải ngoại chỉ có vài bài như Thương Về Gò Công, Dòng Kỷ Niệm, Chữ Tình, Chỉ Là Phù Du, Bài Hát Của Người Điên, Nắng Bên Này Sông…


Nhạc sĩ Minh Kỳ đã chọn con đường binh nghiệp trong ngành cảnh sát từ những ngày còn trẻ. Ông có khả năng sáng tác nhạc rất nhanh và cũng rất hay. Ông thường viết ra một bản nhạc nhưng không viết lời ca liền lúc đó, mà hay nhờ người khác viết lời. Chẳng hạn như thi sĩ Hồ Đình Phương đã viết lời cho những bài Nha Trang, Thương Về Miền Trung ...của ông. Nhạc sĩ Lê Dinh cũng nhắc lại một kỷ niệm khó quên với Minh Kỳ như sau: vào tháng 11 năm 1964, nhạc sĩ Lê Dinh đang ngồi trong nhà ở cư xá Chu Mạnh Trinh (Phú Nhuận) thì nhạc sĩ Minh Kỳ chạy xe lambretta đến đưa cho Lê Dinh một bài nhạc còn ghi trên giấy nháp và nói ông vừa viết xong bài này mà chưa đặt lời và tựa được. Nhờ Lê Dinh soạn lời thật gấp, nội trong ngày mai phải xong để đem đưa nhà in và tung ra thị trường trước Tết Ất Tỵ này. Biết tánh tình hơi nóng nảy và gấp rút của Minh Kỳ, nên nhạc sĩ Lê Dinh đã thức trắng đêm và hoàn thành ra bài hát “Cánh Thiệp Đầu Xuân” rất nổi tiếng sau này. Hai nhạc sĩ này cũng soạn chung vài bài khác như Người Em Xứ Thượng, Hạnh Phúc Đầu Xuân, Mưa Trên Phố Huế, Một Chuyến Xe Hoa …

Huyền Thoại Lê Minh Bằng:

Hồi tưởng lại thời gian bốn chục năm về trước, khi thành lập nhóm Lê Minh Bằng, ba người nhạc sĩ này đều tin tưởng vào sự thành công, đoàn kết một lòng do những sự nhiệt tình, tài sức của tuổi trẻ. Nhưng công ty này chỉ tồn tại đúng chín năm rồi tan rã theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam. Sau cuộc đổi đời đó thì mỗi người mỗi ngã, nếu ai không tin dị đoan cũng phải tin, khi tai họa đã giáng trúng vào nhạc sĩ Minh Kỳ trong “bộ ba” (trio) này. Vì là một Đại Úy phục vụ trong ngành cảnh sát của VNCH, nên nhạc sĩ Minh Kỳ bị bắt vào trại tập trung cải tạo ở căn cứ Long Bình, gần thành phố Biên Hòa. trong những ngày hỗn loạn của tháng Tư năm 1975, nhạc sĩ Minh Kỳ đã từng tâm sự với người bạn thân thiết là Lê Dinh rằng, bằng cách nào ông cũng phải ráng dẫn theo đứa con trai trưởng (sanh năm 1966) ra nước ngoài để sau này còn có cháu nội mà nối dõi tông đường. Nhưng không hiểu vì lý do gì mà ông bị kẹt lại sau khi Sài Gòn thất thủ. Về cái chết của ông cho đến nay vẫn còn là huyền thoại, với những tin đồn sau này ở hải ngoại là ông chết do vụ nổ ở kho đạn Long Bình, gần trại cải tạo. Nhưng theo một bài báo của nhạc sĩ Lê Dinh trên tờ Nghệ Thuật (ở Canada) thì cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ thật là “lãng nhách” với những lý do khá mơ hồ và không sao hiểu nổi. Nguyên do có lẽ do một sự xích mích, gây gổ gì đó xãy ra giữa người những người tù cải tạo với các bộ đội cộng sản canh giữ tù nhân. Họ thường hay mua bán đổi chác đường, sữa với nhau một cách trái phép với nội quy của trại. Nhưng không hiểu thù oán làm sao mà tên cán bộ hay bộ đội này đã cho nổ lựu đạn làm thiệt mạng người nhạc sĩ tài hoa này (trong khi ông không có dính líu gì trong việc trả thù của họ) vào tháng 9 năm 1975, khi ông vừa đúng 45 tuổi đời. (Còn vụ nổ ở kho đạn Long Bình gần đó là việc đã xãy ra vào dịp Tết năm 1976 tức là sau khi nhạc sĩ Minh Kỳ mất đi gần 5 tháng). Nhưng sau này vợ con của nhạc sĩ Minh Kỳ cũng đều lần lượt vượt biên được và đoàn tụ với nhau trên đất Mỹ. Hiện nay người con trai lớn của ông đang sinh sống ở San Jose và vẫn còn độc thân. Hy vọng trong chương trình đại nhạc hội sắp tới đây, chúng ta sẽ được nghe chính những người thân nhân của nhạc sĩ Minh Kỳ giải đáp về những “huyền thoại” chung quanh cái chết của người nhạc sĩ vắn số này.

Nếu không có cuộc đổi đời xãy ra vào tháng Tư năm 1975 thì cho đến nay chắc có lẽ tình bạn và sự hợp tác của nhóm Lê Minh Bằng vẫn còn bền chặt ở trong nước cho đến tận bây giờ. Có thể nói “Huyền thoại Lê Minh Bằng” là:

-Một sự kết hợp kỳ diệu của ba miền đất nước thân yêu,
-Một quy tụ của ba nghệ sĩ có tính tình khác nhau: lãng mạn, nghiêm trang, khoan hòa nhân ái.


Tất cả đã tụ hội lại để phát huy khả năng sáng tác, thành công trên phương diện thương mại và góp phần to lớn vào gia tài âm nhạc của nước nhà với những “tình khúc thời chinh chiến” vẫn còn được ưa chuộng khắp mọi nơi cho đến tận ngày hôm nay. Sau chương trình Asia 51: “Nhạc Vàng 30 Năm Sau Cuộc Chiến” thì Trung Tâm Asia lại mang đến cho khán giả khắp nơi những hình ảnh và âm thanh của “Huyền Thoại Lê Minh Bằng” ở thời điểm của hơn 40 năm về trước. Đó là những di sản quý giá ở thời vàng son của âm nhạc Việt Nam hiện đại mà chúng ta mang theo được khi sống lưu vong nơi xứ người, vì những nhạc phẩm này đến nay vẫn còn chưa được phép hát lại ở trong nước. Chúng ta cũng hãnh diện là Trung Tâm Asia đã thực hiện, lưu giữ và giới thiệu lại cho những thế hệ sinh ra và trưởng thành sau cuộc chiến gia tài âm nhạc quý giá này. Riêng những bậc cha ông cũng có dịp ôn lại quãng đời hoa mộng xinh tươi của thời son trẻ ngày nào qua tác phẩm nghệ thuật này là Asia DVD 52.

Thực ra, bài viết này cũng chỉ vén được rất ít những tấm màn bí ẩn còn bao phủ lên “huyền thoại” Lê Minh Bằng từ suốt bốn chục năm nay. Hy vọng là trong chương trình đại nhạc hội sắp tới, chúng ta sẽ có dịp được biết nhiều hơn những truyền thuyết mới lạ được chính những nhân chứng trình bày về Lê Minh Bằng. Mặt khác, khán giả khắp nơi sẽ có dịp xem được những hình ảnh quý giá và những đoạn phim chưa hề công bố từ trước tới nay của gia đình ba người nhạc sĩ lừng danh này.

DUY KHIÊM
(31-7-2006)
Last edited by phu_de on Fri Sep 01, 2006 3:47 am, edited 1 time in total.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Nghĩ về những tác phẩm của Trung Tâm Asia.
HUY PHƯƠNG

Image

- Một nhà văn đã có lần kể cho tôi nghe, anh được một người bạn văn, một nhà văn đi “hàng hai” khuyến dụ anh hãy bỏ bớt những phần chống Cộng trong những trang sách, thì tác phẩm này có thể xuất bản tại Việt Nam.

Nhà văn này thú thật chẳng thấy vinh dự gì khi sách mình được bày trên các kệ sách ở Hà Nội, vả lại con người trước hết phải trung thực với mình và để khỏi hổ thẹn với mình lúc soi gương. Nếu vì một chút lợi lộc, dù tiền bạc hay danh tiếng, mà phải bán mình thì không còn xứng đáng là danh nghĩa một người làm văn hoá nữa.

Văn nghệ chỉ tồn tại khi nó phản ánh hoàn cảnh xã hội vào một thời nào đó, nói lên nỗi khổ đau hay hạnh phúc của con người, không thể đi bên lề của thế cuộc. Nó cũng không thể là một công cụ cho chính sách hay chế độ nào, vì con người là muôn đời mà chế độ chỉ nhất thời. Đất nước chúng ta trải qua nhiều năm dài chiến tranh với những nỗi chết chóc, khổ đau, phân ly, lưu vong... nhưng ít có tác phẩm lớn nào nói lên được nỗi khổ đau của con người - con người Việt Nam trong những giai đoạn ấy, chỉ có rất ít thi ca và còn lại phần lớn là âm nhạc. Trong các bộ môn văn hoá: kịch nghệ, điêu khắc, hội hoạ, thi ca..., âm nhạc có khả năng để làm công việc ấy nhất.

Trung Tâm Asia từ lâu nay đã chọn con đường đi gần gũi với con người Việt Nam, trước hết là với người Việt hải ngoại. Tập trung những tinh hoa của nền âm nhạc Việt Nam, quy tụ được những ca sĩ hàng đầu của nhiều thế hệ khác nhau, trung tâm này đã đi những bước dài vững chắc phục vụ cho nghệ thuật và con người. Ở đây chúng tôi không nói đến những băng nhạc như “Mùa Hè Rực Rỡ” hay “75 Năm Âm Nhạc Việt Nam” là những băng nhạc đã đánh dấu những sinh hoạt của người Việt hải ngoại, hay phục vụ thuần tuý cho nghệ thuật âm nhạc.

Khởi đầu đi từ những băng nhạc kỷ niệm mười, hai mươi năm lưu vong của người Việt bỏ xứ ra đi vì nạn Cộng Sản, thấm thía nỗi đau của con người Việt Nam, Asia đã để lại trong lòng người xem những ấn tượng khó có thể phai nhạt. Những cuốn DVD “Chiến Tranh và Hoà Bình”, “Những Tình Khúc Thời Chinh Chiến” là những tác phẩm “đầu giường” cho những người cựu chiến binh và những ai đã chia xẻ và sống qua sự gian nguy và hào hùng của một thời chiến tranh trên quê hương. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên, khi cuốn DVD “Anh Không Chết Đâu Anh” đã lên đến cao điểm, được hải ngoại đón tiếp nồng nhiệt. Đây là thời kỳ trung tâm Asia viết lại một trang sử hào hùng của cả một dân tộc, của miền Nam bảo vệ cho tự do với những hy sinh to lớn. Băng nhạc này không chỉ thuần tuý là những bài hát viết về lính của người mang áo lính Trần Thiện Thanh, hôm nay hiển nhiên đã trở thành một đề tài vinh danh người chiến sĩ VNCH, cho nên chúng ta không cầm nỗi xúc động khi thấy cả hội trường đứng đậy nghẹn ngào vài giây, rồi nổ bùng ra những tràng pháo tay. Một cuốn phim đầy nước mắt xúc động vì chiến tranh, chia ly, vì những cảnh đời mẹ goá con côi với những vành khăn tang, nhưng mang sự hào hùng của cả tuổi trẻ miền Nam đã hiến dâng cuộc sống cho đất nước. Asia trở thành một người bạn chân tình của quần chúng, chọn đúng con đường mình đi, “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi” và niềm đau của hằng triệu con người bỏ nước ra đi. Cuốn băng cũng đã trở thành một trang sử lớn viết bằng âm nhạc cho những thế hệ kế tiếp hôm nay hiểu rõ những gì cha ông đã chịu đựng, hy sinh và đã trả giá cho tự do như thế nào.

Image

Những người Việt Nam lưu vong trên khắp thế giới gần như đã biểu đồng tình xác nhận giá trị về nội dung cũng như việc dàn dựng của cuốn DVD, đã khơi lại trong lòng khán thính giả những xúc động to lớn đối với lịch sử, đối với người còn sống và những người đã nằm xuống cho cuộc sống chúng ta hôm nay.

“Tôi đã xem cuốn băng này nhiều lần, mỗi lần xem là mỗi lần không ngăn được dòng nước mắt!”, một đồng hương đã nói với tôi như thế. Đây là những dòng nước mắt tri ân những người đi trước. Những dòng nước mắt của khán thính giả Asia này cũng là một niềm khích lệ lớn lao cho nhà sản xuất, biên tập, dàn dựng và diễn xuất trong cuốn DVD. Những tác phẩm của Asia đã đem đến những xúc động vui, buồn, thiết thân với người xem, như một ly rượu nồng chứ không phải là một tách nước lã...

Mốc thời gian tháng 4/1975 luôn luôn để lại những vết hằn trong tâm khảm của chúng ta, nó làm thay đổi đất nước và cả con người. Dòng nhạc tình cảm mượt mà của con người bị gắn nhãn hiệu “nhạc vàng” mà chế độ mới lên án là đồi truỵ đã được thay thế bằng loại nhạc được lãnh đạo, chỉ huy, đầy căm thù, suy tôn. Nhạc vàng đã bị lấp vùi, xô đẩy, nhưng theo bước chân của những người đi tìm tự do, ở hải ngoại, nhạc vàng đã phát triển tối đa vể cả hai phương diện phẩm và lượng. Ở trong nước, các nhạc sĩ sau một thời gian bị khống chế tột bực, đã trở lại với con người nghệ sĩ, đã viết nên những dòng nhạc chân thật của lòng mình và chinh phục được quần chúng. Văn nghệ phản ánh được tâm tình con người và trường tồn, trong khi chế độ chính trị chỉ là giai đoạn.Vinh danh những dòng nhạc trong thời gian này, vinh danh những nhạc sĩ trong nước đã vượt qua nhiều khó khăn cơm áo để lưu lại cho đời những bản nhạc hôm nay, Asia đã xác định một thái độ chính trị qua bộ DVD mới nhất Asia số 51: “Những Tình Khúc Sau Cuộc Chiến” (30 Năm Nhạc Vàng) vừa mới phát hành. Không một lời lên án, nhưng việc Asia đã nêu lên cuộc đời cơ cực không lối thoát của nhưng nhạc sĩ, nghệ sĩ sân khấu, danh hài sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản là một thái độ can đảm của người làm văn nghệ biết đấu tranh cho công bằng và lẽ phải.
Chủ trương của Asia có thể không chỉ vinh danh những người làm nghệ thuật đi trước mà luôn luôn khai phá, tìm cách giới thiệu đến cộng đồng hải ngoại những tài năng làm rạng rỡ cho người Việt trong tất cả các địa hạt và không ngừng tìm tòi để giới thiệu những tài năng mới. Do đó, Asia không chỉ là người bạn với thế hệ di tản, thuyền nhân, cựu tù nhân...mà còn quen thuộc với những thế hệ tiếp nối.

Image

Biết kết hợp nhiều thế hệ ca nhạc sĩ trên sân khấu, dung hoà được cảm quan và thị hiếu của quần chúng, nhưng Asia vẫn giữ được lập trường có thể nói là không khoan nhượng với chế độ trong nước. Chính điều này, trước khi CSVN được vào WTO, trong một cuộc họp đòi hỏi Cộng Sản phải để cho sách báo, băng nhạc hải ngoại phát hành trong nước, có người đã nêu tên cuốn DVD Trần Thiện Thanh như một tác phẩm hải ngoại điển hình cần có sự công bằng khi trao đổi các tác phẩm văn hoá.

Thái độ chính trị của một tác giả, tác phẩm là điều cần thiết, nó cũng phải phản ảnh được tâm tình và đời sống của quần chúng, nếu không tác phẩm chỉ là một món hàng xa xỉ được trưng bày trong tủ kính, kệ sách hời hợt và xa lạ với con người trong cuộc đời thường hôm nay.

Hy vọng rằng Trúc Hồ, Thy Vân, Nam Lộc, Việt Dũng... và những người sau “cánh gà” sân khấu của Asia sẽ tạo thêm những tuyệt phẩm đi sâu vào lòng người, mang đầy tính chất nghệ thuật.

Huy Phương

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Vài tấm hình đàng sau cách gà Thúy Nga Paris


Image
Image
Image

Post Reply