Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

BA VÀ TÔI
Cha tôi, nhạc Paul Anka, Trung Hành trình bày:
https://www.youtube.com/watch…

Nếu bạn sống bên cạnh cha mẹ và có thể nhìn thấy những đổi thay từ từ của hai đấng sinh thành mỗi ngày thì chắc bạn cũng như tôi... ngậm ngùi nuối tiếc, ngay cả khi đang cùng Ba Mẹ ngồi ăn một bữa cơm tối.
Ba tôi đưa đũa gắp thức ăn cho vào chén, tôi giúp ông:
- Ba, để con gắp cho.
- Không, Ba tự làm được mà!
Đầu đủa của Ba cứ gắp gắp xuống mặt bàn...
-Ba để con gắp cho!
- Được mà!
Hai, rồi... ba lần. Ba chỉ gắp được một cọng hành trong đĩa thịt xào.
Miếng cơm trong miệng tôi bỗng đắng ngắt.
Một lần khác, Ba chan canh vào chén mà đổ tràn ra bàn, Ba đổ rác vô thùng mà tung tóe ra ngoài ...
Nhìn bên ngoài, so với những ông cụ cùng lứa tuổi thì Ba tôi thật khỏe mạnh, nói chuyện giọng còn sang sảng... Ba lúc nào cũng là người đàn ông trong gia đình. Ba trông coi sân trước, vườn sau chu đáo; đóng cửa khoá phòng cẩn thận; tắt bếp tắt đèn trước khi đi ngủ; thu dọn rác
rưởi sau những bữa tiệc; dành xách những túi đi chợ nặng nhất; bất cứ lúc nào, bất cứ việc gì... không cần vợ con lên tiếng yêu cầu, Ba đều hăng hái chu toàn. Ba đúng là hình ảnh trụ cột của gia đình, gương mẫu và đầy vị tha.
Nhưng, tôi biết mỗi ngày qua là mắt Ba mờ hơn một chút, tai lãng hơn, tay chân lọng cọng và trí nhớ cũng dần mai một. Vậy mà khi tôi đưa Ba đi Bác sĩ khám tai để mua máy trợ thính thì ông la chói lói:
- Ba đâu có điếc mà đeo ba thứ đó.
Hoặc triết lý hơn một chút:
- Ôi, thôi, già rồi... bớt nghe một chút, không sao. Lỗ tai là cái gây nghiệp chướng nhiều nhất, bớt nghe bớt gây nghiệp!
Cho đến lần bạn già gọi điện thoại hỏi thăm, Ba khoát tay ra hiệu:
- Nói ổng... Ba ngũ rồi hoặc... Ba đi vắng!
Khi tôi cằn nhằn:
- Ba lạ ghê, không ai gọi thì trách mà có người gọi thăm thì không chịu nói chuyện.
Ba bỏ nhỏ:
- Tai Ba... không nghe rõ, kẻ hỏi gà, người trả lời vịt, phiền lắm, con.
**********

Ba và mấy chị em tôi định cư ở USA tháng 7 năm 1994. Năm đó Ba tôi đã 64 tuổi, sau mười môt năm trong trại cải tạo đã biến Ba tôi từ một người đàn ông trung niên đầy sức sống, đang thăng tiến về mọi mặt trong đời sống trở thành một ông già sáu mươi ốm yếu, bệnh hoạn. Tài sản trong nhà lần lượt ra đi vì vợ con không có cơ hội để kiếm được một công việc làm ổn định. Tôi, đứa con gái lớn của Ba, sau một cuộc tình duyên dang dở thì cũng đang vất vả nuôi một đứa con gái nhỏ không có quê nội để về...

Tôi vẫn còn nhớ ánh mắt của Ba nhìn tôi ngày tôi lên thăm Ba ở trại tù Tiên Lãnh - Quảng Nam. Ánh mắt ấy đã theo tôi suốt những tháng ngày còn lại trong đời. Vừa xót xa và tràn đầy thông cảm. Ba đã nói: “Con gái, khi chúng ta không thể nào thay đổi được hoàn cảnh thì nên vui vẻ chấp nhận nó, biết đâu... trong cái rủi còn có cái may, con à!”

Câu nói của Ba như một lời tiên tri. Cùng với nước mắt của hai mẹ con và lời khai theo sự hướng dẫn của Ba, tôi và đứa con gái nhỏ đã may mắn được sự chấp thuận của phái đoàn phỏng vấn cho đi định cư tại USA theo diện Nhân đạo (H.O) cùng với Ba và mấy người em. Lúc đó tình hình phỏng vấn rất căng thẳng cho con em của cựu tù nhân trên 21 tuôỉ. Năm đó tôi đã ba mươi sáu tuổi, trường hợp của hai mẹ con tôi được xem như là một kỳ tích. Tuy vậy, quyết định đưa đàn con đi định cư ở một đất nước xa xôi khiến Ba tôi ray rứt nhiều ngày tháng, sau khi đến Mỹ.
Thực tế chẳng bao giờ giống như mình tưởng tượng. Những lá thư từ bạn bè, người thân gởi về trình bày hoàn cảnh nơi sống mới không chính xác, thật ra, họ cũng chẳng am tường gì cho lắm. Mấy cha con tôi lê thê lếch thếch ra đi, ra khỏi nước bằng máy bay hẳn hoi, không phải vượt rừng, vượt đại dương gì cho cam go.

Những tháng ngày đầu tiên trên đất Mỹ thật gian nan, Má tôi vì lý do sức khoẻ đã không cùng đi với gia đình vào năm đó. Dưới sự dìu dắt của Ba, tôi vừa làm chị vừa quán xuyến việc nhà thay cho mẹ. Tôi đã phải vật lộn với cơm áo và ngôn ngữ để vươn lên và tồn tại trong xã hội mới này. Mỗi ngày tôi đã phải làm việc 12 tiếng đồng hồ, lái xe đi và về gần 3 giờ. Ba tôi dù tuổi đã cao, cũng kiếm được một việc làm gần nhà... Những lúc rảnh, Ba còn giúp tôi chăm sóc đứa cháu ngoại. Vốn thấm nhuần giáo lý nhà Phật, Ba dạy cho con gái tôi nên làm điều thiện, tránh điều ác; giảng cho cháu thế nào là nhân quả, luân hồi và lòng vị tha. Sau này, cả hai mẹ con tôi đều chịu ảnh hưởng quan niệm sống của Ba tôi rất sâu đậm.

Tôi nhớ rõ ràng, sáu người trong gia đình tôi đặt chân đến vùng đất tự do này với vỏn vẹn hai trăm đô la trong túi, không kể là biết bao nợ nần còn vương vấn nơi quê nhà. Vậy mà cái xách tay đựng tiền đó, tôi đành đoạn bỏ quên trên máy bay khi chuyển phi trường ở Los Angeles.
Máy phóng thanh réo tên mình oang oang tôi cũng chẳng nghe được, đến khi có nhân viên của chương trình IOM đến giúp đỡ, tôi trình bày đúng những gì trong xách tay của mình và được hoàn lại nhanh chóng, dễ dàng. Buổi tối đặt chân lên đất Mỹ, tiếng Anh đầu tiên tôi xử dụng là lắp bắp hai chữ “Thank you” trong ràn rụa nước mắt.

Mấy cha con sau một đêm nghỉ lại ở một hotel sang trọng, món gà chiên cho buổi ăn tối đầu tiên nơi xứ người đã khiến chúng tôi muốn ói vì chưa quen với mùi bơ. Cả nhà ăn tạm bánh tráng, bánh in mang từ VN sang, trong ba lô. Sáng hôm sau, chúng tôi được lên máy bay qua Denver rồi về Georgia. Chỗ ở đầu tiên là căn nhà ngay trung tâm thành phố Atlanta.

Ngày ngày chúng tôi đón xe bus đi học tiếng Anh, học chữ và học cả cách giao tiếp. Mỗi học sinh có mặt trong buổi học trước khi ra về được cô giáo cho hai đồng token, là loại tiền để dùng trả cho xe bus hoặc tàu điện ngầm, đó là một cách khuyến khích những người di dân đến với lớp dạy tiếng Anh. Chúng tôi vừa học sinh ngữ vừa lo học lái xe, những tháng đầu, cuối tuần nào cũng có môt vài người Việt đến thăm và chở chúng tôi đi chợ mua thức ăn, có người mang gạo, nước mắm, bánh mì hay thịt hộp đến cho. Thỉnh thoảng có người từ các cơ quan từ thiện đến đưa chúng tôi đi nhận áo quần ở những nơi bán áo quần cũ. Mỗi người trong gia đình được phát một cái bao nylon loại lớn, đi vòng vòng trong tiệm tha hồ chọn những món mình ưa thích, miễn sao đầy bao là được.

Chị em tôi tham lam chọn toàn là đồ vest, com lê dày cộm, cháu bé con gái tôi thì ôm vô số gấu nhồi bông, búp bê… Ai cũng mừng rỡ vì khỏi phải chi tiền ra mà có đồ dùng, tiết kiệm được những đồng tiền trợ cấp, ai cũng vui.
Tôi nhớ có lần tôi đi chợ, muốn mua một cái chổi quét nhà mà ngần ngừ mãi, giá một cái chổi là $7, tôi nhẩm tính ra tiền VN mà hoảng hồn, không dám mua. Vậy mà Ba tôi một lần đi chợ, dám mua một bộ dao kéo, tông đơ điện để cắt tóc, tôi nhớ dạo đó chừng $19.99, thật là một khoản tiền khá lớn. Ba tôi giải thích: Nhà có hai người đàn ông, mỗi lần ra tiệm cắt tóc mất cũng hai ba chục rồi, chưa kể là phải nhờ người ta chở đi nữa. Mình cắt môt vài lần là lấy lại vốn. Sau khi Ba tôi nghiên cứu tập giấy kèm trong bộ đồ nghề về hướng dẫn cách xử dụng, ông đem tự điển Bách Khoa Toàn Thư ra tra tới, tra lui, thái độ rất tự tin, vui vẻ, yêu đời.

Thế là một ngày đẹp trời, Ba tôi hy sinh làm người mẫu cho chị em tôi luyện tay nghề. Đầu tiên là cô gái út, nổi tiếng khéo tay và từng là thợ cắt Âu phục bên VN. Không biết sao, mới cắm điện vào, đưa một phát, đầu tóc ba tôi bên phải trắng hếu. Con nhỏ hoảng hồn la lên:
- Chết, sao nó ủi nhanh quá vậy.
Con bé lấy cái kéo sửa tới sửa lui, nó lẩm bẩm, cắt bằng kéo coi bộ chắc ăn hơn. Hì hục cả buổi con nhỏ vẫn chưa dám đưa cái gương cho Ba tôi soi. Cô em kế ngồi nhìn em mình làm thợ cắt tóc, coi bộ không xong bèn làm khôn lên tiếng:
- Để tau, tông đơ bằng điện mà, mi giởn hoài.
Cô bé cẩn thận để cái lược lên rồi mới bấm tong đơ, vèo… liếm sát da đầu, trắng hếu nửa.
- Kỳ ghê ta!
Con nhỏ sửa tới sửa lui, chê:
- Ui, cái đầu Ba mình bị méo nên khó cắt cho đẹp.
Cậu em tôi chê hai con em gái không biết xử dụng đồ nghề bằng điện, nó cũng thử tay nghề, húi một phát, phía trước, mặt tiền của Ba tôi bị xẹt một phát, bên cao bên thấp. Đến phiên tôi ra tay nữa thì trời ơi, trông Ba tôi ngố như một người thường trú ở bệnh viện thần kinh đi lạc ra ngoài. Vậy mà Ba tôi soi gương, dòm khuôn mặt khùng khùng của mình rồi cười cười:
- Kệ, xấu mặt thì lâu, xấu đầu mấy lúc, mai mốt tóc dài ra mấy hồi.
Thằng em trai nhìn thấy mái tóc quái đản của Ba tôi thì e dè. Không dám chê, không dám phê bình, ngậm ngùi leo lên ghế ngồi đưa đầu tóc cho ba đứa tôi thực hành tiếp. Hắn khôn ngoan phán cho một câu:
- Cắt tự do, đi ra ngoài… tui đội mũ lên là chắc ăn nhất.

Tôi thương cái tính của Ba tôi dễ dãi, hiền hòa, ông chẳng những không phàn nàn về mái tóc không giống ai của mình mà còn lạc quan kể về những ngày mới vào trại cải tạo. Trên đó cũng đâu có ai biết cắt tóc là gì. Có một chú vì quá ốm yếu, không đi ra ngoài lao động được nên
khi cán bộ hỏi ai biết cắt tóc, chú giơ tay lên. Hy vọng làm chức thợ cạo này được nhàn nhã một chút. Đồ nghề giao cho chú chỉ là một cái kéo cùn. Ba tôi kể, khi chú nhắp nhắp, cắt tới cắt lui xong cái đầu tóc thì đúng là cha mẹ còn nhận không ra nữa, đừng nói gì chính đương sự.
Vậy đó nên khi được đám thợ không chuyên môn là bầy con của ông với dụng cụ cắt tóc bằng điện quá văn minh, ba tôi chấp nhận làm người mẫu cho chị em tôi dài dài suốt hơn hai mươi năm. Đến nay, em gái út tôi đã có bằng cắt tóc, con nhỏ chỉ cắt tóc cho người nhà. Ba vẫn là người mẫu trung thành, dễ dãi, dễ thương nhất trên đời.

Nhớ ngày ấy, nơi chúng tôi ở là vùng ít bóng dáng người Việt Nam. Hội Từ Thiện đã mướn cho gia đình tôi căn nhà nhỏ ở tạm, chắc là vì giá nhà quá rẻ. Mỗi ngày đón xe buýt đi học Anh Ngữ về, mấy chị em từ xe buýt nhảy xuống, lội bộ thêm chừng năm phút mới đến nhà. Quãng đường không xa nhưng đây là quãng đường thích thú của chúng tôi, vì khi đi bộ, thấy người ta có nhiều món đồ cũ đem ra để trước mặt nhà, có người dán tờ giấy “FREE”, nghĩa là... đồ cho không, biếu không! Ai cần thì cứ việc mang về xài. Ngày nào chúng tôi cũng lượm lặt đuợc vài món. Khi thì cái bàn nhỏ, lúc thì cái kệ để TV, vài cái đèn ngủ…
Một hôm, đi ngang qua khu vườn của một người da màu, thoang thoảng nghe hương thơm dìu dịu của rau húng. Mấy chị em lục lọi trong đám cỏ vừa mới cắt, thì ra có vô số rau húng mọc lẫn trong cỏ. Mấy đứa nhìn nhau cười, nét hân hoan hiện rõ trên mặt như gặp người quen. Cái cảm giác mà văn thi sĩ gọi là “tha hương ngộ cố tri”.
Về nhà, tôi nói liền với Ba:
- Ba ơi, đất ở đây chắc dễ trồng trọt, con thấy có rau húng mọc hoang trong cỏ.
- Ôi cha, thôi con ơi, Ba làm gì cũng được nhưng miễn cái vụ trồng tỉa nghe.
Tôi tròn mắt:
- Răng rứa Ba?
- À, thì... hồi xưa tới giờ, mỗi lần bà Nội con giú chuối trong khạp cho chín, hễ Ba ngó tới là kể như nó héo hon, không chín được. Bà Nội nói: "Ba rắn mắt, không trồng cây, không làm dưa, không...."
- Xời ơi, rứa mười mấy năm cải tạo Ba không trồng được rau, lấy chi mà ăn?
- Ba làm thợ đan giỏ, đan rổ tre, sau đó tụi nó đồn ba là Kỹ Sư Đường (Ba tôi xưa kia làm ở Ty Công Chánh thành phố Đà Nẵng) nên khi Trại có cái lò nấu đường bát, cán bộ bắt Ba qua nấu đường. Từ đường sá, cầu cống Ba qua làm ông thợ nấu mía thành đường ngon lành… Ba đổi đường lấy rau ăn, cần chi phải trồng với trọt?

Thế là sau đó Ba tôi say sưa ca đi ca lại bản nhạc “Hồi đó, trong trại cải tạo... ” Ba cứ khăng khăng là không có tay trồng trọt. Tôi không tin, phần thì ăn xà lách hoài cũng ngán, chúng tôi thèm những thứ rau có mùi, mang hương vị quê nhà. Thử tưởng tượng ăn thịt gà trộn muối tiêu mà không có rau răm, ăn bánh tráng cuốn thịt ba rọi cũng chỉ với xà lách. Hành ngò thì cũng có nhưng khá đắt, kể cả những thứ rau mùi cũng có bán ở chợ Việt Nam, chợ Thái Lan nhưng rất mắc và quan trọng là không có ai chở mình đi chợ. Tôi lải nhải nhắc Ba: "Không có việc gì khó, chỉ sợ mình... không trồng!"
Một hôm, có người quen biếu Ba mấy dây khổ qua con, Ba đem ra sau vườn cắm xuống đất một cách bất đắc dĩ, ngày ngày Ba ra tưới nước, thăm chừng một cách e dè, khổ sở. Dây khổ qua be bé như hiểu được nỗi khổ của Ba nên vươn vai lớn mạnh mẽ. Ba nhặt nhạnh mấy cành cây khô gác lên làm giàn. Cái giàn đơn sơ đón nhận những ngọn khổ qua với nhiều nụ vàng dễ thương. Đến khi mấy trái khổ qua nhỏ xíu, e ấp lẫn trong đám lá xanh mướt thì nụ cười của Ba như trọn vẹn hơn. Sau đó, mỗi khi “được” chở đi ăn phở, Ba len lén gói vài cọng rau quế vào trong giấy, về nhà tỉ mỉ đem ngâm vào ly nước cho tươi rồi trồng vào cái chậu nhỏ, Ba bón xác trà và tưới nước đều đặn, gặp ai cũng hỏi thăm mua phân bón ở đâu… Ba vì nhu cầu “ăn uống” của mấy đứa con mà hết lòng hết sức với mấy cây rau thơm, mấy cây ớt. Dần dà, vườn rau nhỏ của Ba với dây khổ qua, vài cây ớt, rau quế, rau húng... lại là niềm đam mê và tự hào của Ba.

Ba năm sau khi định cư ở quê hương mới này tôi đi mua căn nhà mới, chính là căn nhà tôi đang ở bây giờ. Hai cha con chọn nhà có sân sau bằng phẳng. Ba ra sức cuốc thêm ra phía sau, lấn vào bìa rừng để mở mang “bờ cõi”. Đất ở Georgia là vùng đồi núi nên toàn là đất đỏ lẫn với đá. Ba miệt mài “có công mài sắt, có ngày nên kim”.
Sân sau nhà tôi sau nhiều năm trồng trọt bây giờ là vườn rau với đấy đủ những thứ cần thiết. Nào là dưa leo, mướp, bí đỏ, bí đao, rau muống, rau lang, đậu bắp, rau thơm các loại, diếp cá, ớt, tía tô, khổ qua, đậu ve, rau mồng tơi, dền... là những thứ trồng vào mùa xuân, ăn suốt mùa hè mùa thu. Đầu mùa thu Ba còn tỉa được ngò rí và rau cải con, cải bẹ xanh để ăn bánh xèo. Những dịp này, buổi sáng ra vườn rau, hương của các loại rau thơm, ngò... tỏa lên ngan ngát, dịu dàng khiến tâm hồn khoan khoái thật dễ chịu. Ba còn ra công đào một rãnh nước song
song theo những luống rau, dưới đó Ba thả vài nhánh ngò ôm tức là rau ngổ, bên cạnh là đám bạc hà, hai thứ để nấu canh chua.
Ba tận dụng mảnh đất sau nhà làm thành một vườn rau rất tươi tốt, ngăn nắp. Giàn khổ qua phải cách xa giàn mướp ngọt một khoảnh sân, vì ngọt đắng là hai vị khắc nhau; rau quế là thứ kén nhất nên ưu tiên được “ngồi” trong chậu. Dây bí đỏ không lên giàn mà được thả cho bò lên đồi, như vậy chịu được mấy chục quả bí nặng nề, chắc nụi. Rau thơm và diếp cá, rau răm được sắp xếp ở gần nhau trông rất đoàn kết. Ba nói, mỗi khi cần ăn rau sống, đem rổ ra cắt một loạt là có đủ các thứ rau thơm không cần đi đâu xa. Rau muống là thứ thích nước nên Ba trồng ô
rau muống ở giữa hai rãnh nước, những cọng rau muống xanh mướt thấy mà ham! Bao nhiêu tiền con cái cho Ba vào những dịp Lễ, Tết Ba đều để dành mua dụng cụ làm vườn, mua phân bón.

Cách đây cả chục năm, khi khu nhà này đang còn xây dựng Ba thường lang thang vào xóm trong, nhặt những mảnh gỗ, khúc cây... sau đó ra Home Depot mua thêm một ít ván, Ba chăm chỉ đẽo đục, đo đạc… cuối cùng dựng lên được một căn nhà nhỏ ở góc vườn. Căn nhà làm theo kiểu ông bà thuở xưa, có cột kèo làm bằng mộng, không phải đóng đinh, có hai mái, có cửa chính, cửa sổ. Bên trong có hai dãy kệ để Ba chứa đồ đạc làm vườn, phân bón, máy cắt cỏ, một kiểu như căn nhà kho của Ba. Bên ngoài ông còn làm cái khóa rất kiên cố.
Trải qua bao mùa mưa nắng, tuyết phủ, căn nhà nơi góc vườn của Ba tôi vẫn rất chắc chắn, hiên ngang chịu đựng. Đám con cháu khen ngợi, ông thường hãnh diện: "Nhà lầu mấy tầng, cầu treo qua núi ông Ngoại còn làm được, dễ như chơi, huống chi thứ nhà nhỏ này". Hình như bao nhiêu kiến thức thời Ba học ở trường Công Chánh năm xưa nay được ông đem ra áp dụng, tuy thất cơ lỡ vận nhưng Ba tôi không thất chí nản lòng. Điều này thật đáng để chúng tôi ghi nhớ, noi gương và nhớ đến Ba với muôn vàn hãnh diện.

Vườn rau của Ba tôi mỗi năm thêm xanh tốt, mùa hè ông say sưa với mảnh đất nhỏ mà quên ăn quên ngủ, không ngại nắng mưa. Chúng tôi ủng hộ Ba bằng cách hăng hái chở Ba đi mua phân, mua đất xốp, thêm chuyện trả tiền nước hằng tháng không cằn nhằn. Má tôi thì khuyến khích bằng cách siêng năng đếm từng trái bí, trái mướp. Mỗi khi Ba cắt rau để đầy
trong tủ lạnh, chia cho con cháu ăn không hết thì Má chịu khó bỏ vào bịch nylon, buổi sáng sau khi đi bộ về, Má rủ vài người bạn già ghé qua khoe vườn rau và chia phần. Vườn rau nhỏ mang lại niềm vui cho nhiều người.
Ba tôi thường ví von chăm sóc vườn rau như nuôi bầy con. Có đứa dễ nuôi, không chăm sóc nhiều cũng lớn vùn vụt, mạnh mẽ ra đời thành công; có đứa cần phải o bế tỉ mỉ mới lớn, cũng có đứa cưng chiều quá mức thì lại ốm o hư hỏng, đem lại cho mình nỗi buồn phiền. Rau quả
ngoài vườn của Ba cũng vậy, có thứ thả lơ lửng vẫn tươi tốt cho ra hoa, ra quả ngon lành; có thứ được tưới nhiều nước, bón phân đều đặn lại èo uột, quắt queo. Ba tôi trồng rau với cả tấm lòng như thế. Dây bí đao mùa này yếu ớt, Ba tôi đâm lo như thấy đứa con bị bệnh, mỗi ngày tưới nước Ba đếm từng cái lá, hôm qua được mười bảy lá, hôm nay héo mất một lá rồi. Ba hỏi thăm người này người nọ lý do tại sao, Ba xem lịch VN coi có phải tại tiết trời quá độc, cây cỏ cũng hư hao, nhà nông gọi là mất mùa... Dây bí đao đã không phụ lòng Ba, dây bí nhỏ xíu mà cho ra quá nhiều trái, tròn trịa như một bầy heo con.
Ngày hè, chừng mười một giờ trưa là Ba ra nhà sau, lấy cạc tông che nắng cho đám rau, chiều về bớt nắng Ba dở ra, săm soi từng ngọn rau, từng cái lá. Mùa đông, Ba theo dõi dự báo thời tiết trên TV để thu hoạch hết ngoài vườn trước khi những đợt gió lạnh tràn về... Có lần Ba
tiếc mấy cây ớt còn đầy trái, bụi sả tốt tươi chưa muốn nhổ thì tuyết rơi, tuy không nhiều lắm nhưng cũng thừa sức làm đám rau của Ba héo hon ủ dột... Đứng trong nhà nhìn qua khung cửa kính, Ba chép miệng liên tục, thương cho vườn rau bị nhiễm lạnh.
Ba tôi là thế, việc gì làm Ba cũng bỏ hết tâm trí vào, Ba nói có như thế mới đạt được kết quả, bằng ngược lại mình cũng không lấy làm buồn vì dù sao mình cũng đã hết lòng hết sức, coi như “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” là ý trời mà, buồn làm gì.
Ba tôi sống lạc quan, nhẹ nhàng theo quan niệm Phật Pháp. Luôn có ý thức về sự vô thường, ngắn ngủi của một kiếp người nên cách hành xử của Ba tôi cũng sâu sắc, luôn quí trọng những niềm vui hiện tại. Ba tôi chăm sóc vườn rau mà đặt cả tình cảm vào như đang nuôi đàn con.
Vườn rau là niềm vui tuổi già của Ba, không những đem lại lợi tức nho nhỏ hàng ngày, mà qua đó, những suy tư của Ba cũng triết lý theo từng mầm xanh đang nảy nở mỗi ngày, bao muộn phiền như tan biến. Tôi tự hào mình là người đã “khuyến khích” Ba bước vào con đường trồng trọt này.
Nhìn dáng Ba cặm cụi bên những luống rau, dây bí, giàn mướp tôi ao ước cho Ba tôi mãi mãi có sức khỏe bên cạnh người bạn đời, ngoài niềm vui với gia đình con cháu còn vui với cả cỏ cây. Mong cho những ngày tuổi già của Ba được thanh thản, nhẹ nhàng như quan niệm sống đầy bao dung của Ba vậy.
Nhắc đến Ba má thì tôi không thể nào quên một câu chuyện, đó là một chiều cuối tuần đầu tháng Sáu, cách đây đã mười năm…
Chuông điện thoại reo.
- Con rảnh không, chở Ba má đi shopping?
Tôi giật mình, suýt làm rơi cái điện thoại xuống đất. Thường thì Ba Má tôi nhờ chở đi Chùa, đi chợ hoặc đi Bác sĩ. Tôi chưa bao giờ nghe Ba Má tôi muốn đi shopping. Tôi hỏi lại một lần nữa cho chắc ăn:
- Dạ, đi đâu Ba?
- Đi Mall.
Rồi không đợi tôi điều tra thêm, Ba tôi nhỏ nhẹ giải thích:
- Ba muốn đưa Má con đi Mall để mua tặng Má con món quà kỷ niệm năm mươi năm ngày cưới.
Ôi, đúng là Ba tôi, môt người đàn ông Việt Nam vô cùng lãng mạn, dù tuổi đời đã hơn tám mươi.
Thuở tôi còn bé và cả khi tôi đến tuổi cần để xây dựng hình tượng một người đàn ông cho đời mình, tôi vẫn mong ước đó sẽ là một người chồng, một người cha giống hệt Ba tôi vậy. Tôi nhớ những khi Ba Má tôi có chuyện cãi nhau, Má tôi lúc nào cũng nóng nảy hay hờn giận; trong khi Ba tôi lúc nào cũng nhỏ nhẹ “Mình ơi, mình hỡi” ngọt xớt. Ngày Ba Má tôi có cơ hội đoàn tụ thì tuổi đã cao, sức khỏe cũng theo thời gian mà giảm sút nhưng tình yêu của Ba dành cho Má vẫn tràn đầy, ấm áp. Tôi đã nhìn thấy ánh mắt long lanh niềm hạnh phúc của Má khi nhận món quà kỷ niệm ngày cưới từ người chồng năm mươi năm mà Má thường đánh giá là “xấu trai, con nhà nghèo nhưng... học giỏi”... Cuộc hôn nhân kéo dài tính đến nay đã hơn sáu mươi năm với tám người con, bốn trai, bốn gái.

Ba Má tôi và các con dĩ nhiên cũng trải qua những cơn sóng trong gia đình, cũng trải qua bao thăng trầm của thế cuộc nhưng dù bất cứ điều gì xảy ra, tận đáy lòng tôi, Ba vẫn là một người dàn ông mẫu mực tuyệt vời.
Đến năm 2012 thì cả nhà tôi các anh em, cháu nội ngoại được Ba tôi lần lượt bảo lãnh để đoàn tụ. Tuy hơi lâu vì ngày tuyên thệ nhập quốc tịch của Ba bị trì hoãn, lý do: ngón tay trỏ của Ba bị tai nạn lao động ở chỗ làm, cắt cụt mất một lóng nên khó khăn trong việc lấy dấu
tay, phải làm tới làm lui mấy lần. Thời gian chờ đợi quả là thăm thẳm, mỗi khi có tin tức bên nhà lộn xộn là Ba má lo canh cánh. Tội nghiệp nhất là vào những kỳ mùa đông giá buốt, nếu Ba có cảm lạnh hay sốt, ho là Ba lo uống thuốc, chăm sóc bản thân, khi thắp hương trên bàn thờ Phật thì lẩm bẩm hoài:
- Cho tui mạnh giỏi để đón mấy đứa con đứa cháu qua sum họp, đừng kêu tui đi sớm nghe ông bà.
Ôi nghe mà xót cả ruột!
Đợt cuối cùng đón người nhà từ VN qua, trong bữa cơm đoàn viên, Ba tôi thắp nhang ở bàn thờ Phật xong và nói trong nước mắt:
- Bây giờ Ba có chết cũng yên tâm, cả nhà mình ở đây hết rồi, cháu nội cháu ngoại đứa nào cũng có cơ hội học hành, làm ăn đàng hoàng. Ba hoàn thành tâm niệm rồi, cảm ơn Trời Phật!
Tôi không biết các anh, em tôi khi nghe câu nói này, cảm giác như thế nào chứ riêng tôi, thật là đứt ruột!
Năm này Ba tôi đã 88 tuổi, mắt mờ, tai nghễnh ngãng, thần thái không còn tươi. Ba mang đầy đủ các chứng bịnh của người già, ngủ li bì cả ngày. Sau một lần đi ra ngoài không nhớ đường về nhà thì Ba như rơi vào trạng thái trầm cảm, biếng ăn, lặng lẽ đến ngạc nhiên.
Mùa hè đang đến, những lúc nhìn ánh mắt mờ đục của Ba khi ngắm khu vườn sau nhà không còn xanh mướt nhiều loại cây quả nữa, tôi thật quá đau lòng... Má tôi đi ngoại giao hàng xóm, xin về mấy gốc cây con Ba cũng không màng chăm bón. Những thú vui đọc sách, xem TV... ba cũng lơ là hẳn, không còn lạc quan thuởng thức cuộc sống như trước kia.

Còn đâu giọng nói sang sảng kể chuyện tù cải tạo, còn đâu hình ảnh Ba cặm cụi bên những luống rau, săm soi những búp non hay tỉ mỉ sửa sọan những quả mướp, quả khổ qua mơn mởn, lủng lẳng trên giàn. Ba giờ đây lúc nhớ, lúc quên, chẳng còn biết phân biệt thời gian. Suốt ngày Ba lục lọi, tìm kiếm; nếu hỏi: Ba kiếm gì vậy? Câu trả lời: Ờ, không biết Ba kiếm gì nữa! Khuôn mặt, ánh mắt Ba lúc ấy ngơ ngẩn như một đứa trẻ. Trông thật tội. Vậy mà con cháu mời ăn một món gì là ông cứ buột miệng hỏi: Má ăn chưa? Má đâu rồi? Một đời Ba tôi, lúc nào cũng nghĩ
đến vợ con trước hết, quên cả thân mình.

Tôi không phải là một phụ nữ may mắn về đường tình duyên nhưng tôi cảm nhận mình là một người hạnh phúc. Và lẫn lộn trong vùng trời kỷ niệm của đời mình, tôi chợt nhận ra hình ảnh của Ba tôi lúc nào cũng hiện hữu bên cạnh tôi như một cái bóng khi vui khi buồn. Cùng tôi đi
du lịch, cùng ngồi xem giải vô địch bóng tròn, cùng bàn luận chuyện nhân tình thế thái, chuyện thời sự đó đây… Ba tôi là thế, đơn giản mà gần gũi; chiếc bóng của Ba đã phủ trùm lên cuộc đời tôi mãi mãi và duy nhất, không có gì thay thế được. Tôi biết rằng không có ngôn từ nào có thể diễn tả đầy đủ về lòng biết ơn của con cái đối với bậc cha mẹ, không có tặng phẩm vật chất nào xứng đáng, có đủ ý nghĩa để tặng cha mẹ trong các ngày Lễ Trọng. Tôi cầu mong cho Ba Má tôi luôn khoẻ mạnh, vui vẻ thanh thản tâm hồn trong những tháng năm còn lại của cuộc đời, như quan niệm sống của Ba vậy.

Mỗi một ngày qua đi, bình minh rồi hòang hôn... tôi dành phần sâu thẳm trong trái tim tạ ơn đất nước đầy tình người và bao dung này đã cưu mang gia đình tôi.
Cám ơn Ba, cám ơn cuộc đời đã cho tôi một món quà vô giá mà không phải thế gian này ai ai cũng may mắn có được.

Nam Giang Tử

nhuvan
Posts: 383
Joined: Sun Mar 27, 2016 8:29 pm

Post by nhuvan »

Image

Đêm Chúa Xuống Trần
Trần Mộng Tú


Đêm Giáng Sinh, gió đập mạnh vào cánh cửa không ngừng, tiếng đập như có người về gọi cửa. Gia đình đang chờ các con về mừng sinh nhật Chúa. Bà chủ nhà mở cửa ra, không phải các con, bà thấy một người đàn ông lạ, trung niên, đang co ro đứng lặng yên trước hiên nhà mình. Bộ dáng của ông ta đúng là bộ dáng của một kẻ không nhà, một Homeless.

Ngoài trời lạnh lắm, gió rung những hàng cây dọc con phố, ông ta lang thang ngoài đó không biết đã bao lâu? Bà ái ngại mời ông khách lạ vào, bà cho thêm củi vào lò sưởi, rót cho ông một ly sữa ấm. Bà mời khách hãy ngồi xuống đây, ngay bên ánh lửa ấm áp này. Bà nghĩ, ông hãy bỏ chiếc chăn lấm lem xuống, tôi sẽ tặng ông một chiếc chăn khác lành lặn và ấm hơn. Ông cũng cần thay đôi vớ bẩn nữa, cần đi cạo râu, cần một bộ quần áo sạch.

Bà khẽ khàng nói: Tôi có thể cho ông những thứ ông cần bây giờ. Hãy nói cho tôi nghe. Gia đình của ông đâu? Ông lang thang từ bao giờ, có ai đồng hành cùng ông không?

Ông vẫn đăm đăm nhìn ngọn lửa không nói. Bà lại nghĩ: Đêm Giáng Sinh là đêm hạnh phúc, an bình cho mọi người trần gian. Đêm những vì sao rọi ánh sáng chan hòa xuống thế. Đêm thiên thần ca hát vang trời. Sao ông lại không có chốn về để hưởng an bình?

Người khách lạ ngồi cạnh lò sưởi, lặng yên, uống từng ngụm sữa nhỏ, mái tóc bù rơi xuống vầng trán có vài nếp nhăn, hai má gầy, đôi mắt sâu cứ nhìn vào ngọn lửa. Ông không nói mình từ đâu tới, chắc rồi cũng không biết sẽ đi về đâu.

Nhạc Giáng Sinh đang réo rắt đâu đây, có tiếng chuông nhà thờ đổ. Những ngọn đèn xanh đỏ chấp choáng trên cây thông ở góc nhà, những gói quà lớn nhỏ, gói trong giấy kim nhũ bên dưới gốc thông. Người khách lạ hơ hai tay mình trên ngọn lửa, hai bàn tay với nhiều vết xước và mỗi lòng bàn tay bà nhác thấy những vệt máu chưa khô hẳn, chắc vết thương đang làm độc.

Người đàn bà đăm đăm nhìn người khách lạ, cố nhớ xem khuôn mặt này mình đã gặp ở đâu rồi, một nét mặt rất thân quen. Cả hai cùng im lặng. Người khách vẫn nhìn vào ngọn lửa bập bùng trong lò sưởi, bà chủ nhà nhìn khách lạ, khá lâu, cả hai cùng không nói thêm lời nào. Hương thơm từ những thanh củi thông tỏa lan khắp gian phòng khách ấm áp. Khách lạ bỗng đứng lên như từ giã, đi về phía cửa, mở nhẹ cánh cửa, bước ra.

Gió bên ngoài rít lên từng cơn, những cây thông như đang nghiêng mình cúi xuống. Người khách lạ bước vào khoảng trống phía trước, một cơn gió xoay tròn như con lốc cuốn chung quanh ông. Người đàn bà đi theo khách, đứng lại ở bực cửa dõi mắt nhìn theo, chiếc chăn lem luốc của ông sao bỗng lấp lánh như mạ vàng, bộ quần áo cũ kỹ của ông óng ánh bạc và trên đầu ông một vầng hào quang đến chói mắt. Ông mất hút vào con đường như vô tận phía trước. Bà thốt lên một tiếng kêu thảng thốt.

Chúa Ơi!

Bà dựa lưng vào cánh cửa, giữ bình tĩnh, cố tìm người đàn ông vô gia cư, rồi lại cố tìm hình bóng của Thiên Chúa mà bà tin là cả hai đã hiện hữu trước mặt bà.

Bà chỉ không biết rõ ràng đó là hai người hay chỉ là một mà thôi.

Tiếng chuông giáo đường rồn rập đổ bốn phương báo tin Chúa xuống làm người.

tmt
Giáng Sinh 2018

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Post by bichphuong »

Image

Mối tình ngoại đạo

Nguyễn Diệu Anh Trinh
Tôi không phải là người có đạo nhưng Giáng Sinh với tôi có nhiều kỷ niệm thật tuyệt vời. Tất cả gói trọn vẹn trong mối tình đầu lãng mạn như sương khói và buồn như mây chiều thu.

Ngày chàng rời tôi, Chúa cũng u buồn dang đôi tay tiễn biệt, thế gian như thầm lặng chia buồn, và cô bé ngoại đạo đa sầu đa cảm là tôi tưởng như đã chết mất một phần đời. Lời cầu nguyện chàng dạy tôi khấn với Chúa những đêm đi Lễ Thánh chắc chưa đủ vang vọng đến trời cao nên chỉ sau mấy mùa Noel là tan tác. Nụ hôn vội vàng mà da diết trước cổng nhà đã khiến tôi tràn nước mắt. …Anh đi rồi, đường xưa có nắng không anh. Lá hoa còn đây, hay tàn theo tháng ngày…? Phố phường vẫn đông vui mà lòng tôi vắng chàng. Ðêm Thánh lễ những năm sau đó tôi không đến nhà thờ bởi không còn bàn tay chàng đón đưa, sưởi ấm. Tiếng nhạc đêm Giáng sinh và tiếng chuông giáo đường như chạm vào trái tim nhỏ bé của tôi thành những vết thương đau buốt.

Ðời sống không ngừng trôi như trái tim không ngừng nhịp đập. Những dòng sông bắt nguồn từ núi cao sẽ chảy ra hòa cùng biển cả cho dòng nước luân lưu. Mối tình đầu ngây thơ và trong trắng thời tôi mới lớn, theo tự nhiên đã phải lùi vào dĩ vãng để nhường tâm tư tôi lại cho bao âu lo trước thực tế cuộc đời. Tận một ngăn rất sâu, đôi lần tôi nghe tim mình thổn thức. Nước mắt lại tràn ra và tôi lắc đầu xua đi nỗi nhớ. Tôi tự nhủ lòng hãy để cho tình xưa ngủ yên, trong giấc mơ tôi thấy chàng cùng tôi đi Lễ. Chàng giảng cho tôi nghe những lời Chúa giảng ở trên cao. Giọng chàng ân cần khuyên tôi không nên than thân trách phận. Tôi nhớ ánh mắt chàng ái ngại nhìn tôi cái thời mà đọc kinh cũng se sẽ. Câu “Kính Chúa là yêu nước” không ai dám phát ra trên bờ môi. Chàng thường bảo tôi, mọi sự đều có sắp đặt của Chúa, Chúa ở cùng ta. Thời tôi yêu chàng, thời tay trong tay, tôi tin lời chàng như chàng đã tin Chúa. Nhưng tin cách mấy tôi vẫn là cô bé ngoại đạo nên chúng tôi xa nhau …
Tôi rời quê nhà, mang theo mối tình thời mới lớn và những trăn trở của người thiếu phụ trẻ một mình nuôi con. Ðời sống có những nỗi nhớ không đếm được và những nỗi buồn không viết nên thành thơ. Tôi hòa nhập vào phong tục nơi quê hương mới. Ðêm Giáng sinh tôi ngạc nhiên khi thấy đường phố vắng lặng, không một bóng xe, bóng người ngoài phố. Tất cả các cửa tiệm, nhà hàng lớn nhỏ của người bản xứ đều đóng cửa. Ngày Chúa giáng trần, lễ chính ở nhà thờ được giáo dân chuẩn bị hàng tháng trời trước đó. Ðêm Noel là đêm để gia đình sum họp. Có nhiều người cả năm đi làm ăn xa, ngoài tiểu bang hoặc ngoài nước, Noel là ngày đoàn tụ, tặng quà, vui chơi… Từ người giàu có đến bình dân, từ trẻ con đến người già đều thích thú hưởng thụ.

Tôi còn nhớ Giáng Sinh đầu tiên nơi xứ người, tuyết rơi nhè nhẹ và khí hậu khá lạnh so với những người Á đông mới định cư như chúng tôi. Mấy chị em rủ nhau mua cây thông về chưng trong nhà cho tăng phần ấm áp. Sau khi dạo tới dạo lui vài nơi, chúng tôi mua cây thông màu xanh (còn có loại cây thông màu trắng như phủ đầy tuyết nữa) và mua thêm những thứ trang hoàng để treo lủng lẳng cho đẹp mắt. Dĩ nhiên là không thiếu những dây đèn chớp chớp đủ màu. Tôi và nhỏ em đồng ý với nhau chọn thêm bốn dây đèn có âm nhạc để không khí thêm rộn ràng. Về nhà, mấy cha con, chị em rất hào hứng sửa soạn cho Cây Giáng Sinh. Sau khi kết hoa, giăng đèn… mùa Ðông tuyết rơi ngoài khung cửa vậy mà chúng tôi mồ hôi toát ra vì vừa làm vừa đọc hướng dẫn bằng English, tra tự điển… để ráp cây thông với những dây đèn cho đúng. Chúng tôi kết thêm Ðèn Âm Nhạc vào. Cắm điện và mở công tắc lên. Mời tất cả cùng lắng nghe ….hợp tấu …Ðêm Thánh vô cùng…giây phút tưng bừng ….Jingle bell…jingle bell….Thôi chết rồi, bốn dây đèn âm nhạc là bốn bản nhạc Giáng sinh khác nhau, nhạc êm dịu xen lẫn nhạc rộn ràng. Tất cả loạn xà ngầu như một buổi tổng dợt văn nghệ. Mấy cha con nhìn nhau cười, người này đổ thừa người kia, đọc chữ thì phải đọc cho hết, ngoài hộp có dòng chữ nhỏ phía dưới ghi rõ tên bản nhạc. Cậu em trai tôi cười, thấy ngoài hộp có vẽ mấy nốt nhạc …đồ rề mi fa sol….là… Ok rồi, ai mà biết?

Mười mấy lần đón Giáng Sinh xa xứ đã qua, tôi dần dần làm quen với phong tục nơi quê hương mới. Noel là dịp đoàn tụ, tôi thường để dành ngày phép của mình để thụ hưởng niềm vui đầm ấm này. Những dịp đi shopping trong mùa Lễ, ngắm nhìn thiên hạ lao xao, áo quần đẹp. Mùa Ðông với thời tiết lạnh và khô là cơ hội cho bao model áo lạnh, khăn choàng, giày ống… đủ kiểu, đủ màu sắc. Tiệm quán chưng bày rực rỡ, không khí Giáng sinh tràn về trên khắp nẻo đường, đèn đóm lấp lánh. Thế gian đang hân hoan đón chào ngày Chúa ra đời. Những buổi sáng sớm lái xe đi làm trong mùa Lễ, ngang qua những ngôi giáo đường nằm lặng lẽ trong màn sương của vùng đồi núi này.Tôi chợt thoáng nghĩ về nơi chàng đã sống ngày chúng tôi yêu nhau. Ðà Lạt, thành phố buồn muôn thuở. Miền Ðất Hứa, nơi tôi đã đôi lần rơi nước mắt khi tìm đến địa chỉ chàng đã viết ở bì thư của những lá thư tình đầy yêu thương, lãng mạn. Nơi đã vùi chôn mối tình đầu của tôi bằng những khắt khe không nói được bằng lời. Nơi đó, chàng đã ra đi mang theo lời nguyện dâng đời cho Chúa.

Bao năm tháng qua, mỗi lần nhớ lại cảm giác khi hai bàn tay chàng nâng niu ôm lấy khuôn mặt tôi trong nụ hôn ngày cuối, lòng tôi vẫn như là muối xát. Tôi không còn là một cô bé ngoại đạo hay khóc thương cho mối tình đầu không có đoạn kết thuở xưa. Ðời sống và tâm trí tôi cũng không còn hiện diện những âu lo khi ăn chén cơm hôm nay chưa no, lòng đã lo cho bữa ăn ngày mai.

Tuy nhiên, lòng tôi vẫn nhớ lời chàng… Hãy tin Chúa, Chúa ở cùng ta, mọi điều xảy ra trong đời ta đều có Chúa dự phần.

Giáng Sinh và tôi với mối tình đầu dang dở, xin hãy ngủ yên.

Nguyễn Diệu Anh Trinh

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Post by bichphuong »

Image

Hoa Tím Bằng Lăng
Vì chiều cao “rất khiêm tốn” của mình, tôi cứ phải loay hoay điều chỉnh cái máy video cầm tay, cố gắng thâu lại hình ảnh của Tuân đang từ từ bước lên khán đài nhận bằng kỹ sư để mai mốt mang về Việt Nam “vinh quy bái tổ”. Tuân là đứa con “rất đặc biệt” của chúng tôi. Vợ chồng tôi mới cưới nhau được 10 năm nhưng Tuân năm nay vừa tròn 22 tuổi! Gia đình bên vợ và người ngoài cứ nghĩ nó là con riêng của tôi mang theo từ Việt Nam; và chúng tôi nghĩ Tuân cũng tin như thế, vì mỗi lần gọi điện thoại về Việt Nam nó vẫn gọi mẹ tôi là bà nội.

hoa tím bằng lăng1

Tuy nhiên, Tuân vẫn một lòng kính trọng Oanh như mẹ ruột, và vợ tôi cũng rất thương yêu và lo lắng cho nó ngay cả trước khi chúng tôi nên vợ thành chồng.

Sau bao nhiêu lần thử nghiệm và biết chắc chắn tôi không thể có con; thay vì buồn phiền, Oanh lại săn sóc cha con tôi nhiều hơn. Đã mấy tháng nay nàng chạy ngược chạy xuôi lo thu tục giấy tờ để tuần sau chúng tôi về Việt Nam nhận một đứa cháu gái của tôi làm con nuôi. Ngày nhận được kết quả thử nghiệm xác định tôi không thể có con, Oanh đã âu yếm nhìn tôi thỏ thẻ: “Ngay từ đầu em vẫn tin anh. Em không buồn đâu anh ạ! Em chấp nhận số phận, nhất là chúng mình đã có Tuân… Tuy nhiên, em nghĩ chúng mình cũng nên nhận thêm một đứa con nuôi cho vui cửa vui nhà. Nếu anh đồng ý, em sẽ lo giấy tờ để chúng mình nhận một đứa con của chú Khang làm con nuôi. Mình nuôi cháu vẫn tốt hơn…” Đó là lý do Oanh sắp xếp để ngay sau khi Tuân ra trường, chúng tôi sẽ về Việt Nam thăm gia đình và nhất là đưa Tuân về thăm lại mộ Trang, người mẹ ruột của Tuân đã ra đi trong tủi nhục ngày nó mới được 3 tháng tuổi, và Tuân trở thành “con trai” của tôi từ hơn hai mươi năm về trước tại Bình Giả, Việt Nam.

o0o

Ngày đó tôi cũng khoảng tuổi của Tuân bây giờ… Tôi trở về Bình Giả năm 1979, sau mấy năm gồng mình cầm cự với nghề “gõ đầu trẻ” tại một trường tiểu học ở vùng kinh tế mới thuộc tỉnh Sông Bé. Tôi thương đám học trò nghèo đói nhiều lắm nhưng chính tôi cũng không chịu nổi cảnh đói nghèo vì lương không đủ ăn nên đành phải bỏ trường về quê ăn bám gia đình sống qua ngày. Sau mấy năm vừa dạy học, vừa làm rẫy sống lây lất qua ngày, sức tôi đã kiệt quệ! Tôi đã “cắt hộ khẩu” ở trường cũ, nhưng không xin “nhập hộ khẩu” tại Bình Giả vì tôi trở về với ý định tìm đường vượt biên. Đã mấy năm rồi, bà con trong làng ai cũng biết tôi đi dạy học ở vùng “Kinh Tế Mới”, và thỉnh thoảng vẫn về quê thăm cha mẹ cũng như xin thêm gạo, bắp… nên không ai thắc mắc hay hỏi han giấy tờ tạm trú. Mùa mưa năm đó, ngoài việc chuẩn bị dầu nhớt cho chuyến vượt biên chung với một số bạn bè ngoài Láng Cát, tôi vẫn theo các em làm rẫy, làm ruộng, và nhất là vào rừng kiếm măng tre. Trong một dịp mò mẫm giữa rừng tre, tôi đã gặp lại anh Thành, một người trốn trại cải tạo, đang lẩn trốn trong rừng để tìm cách liên lạc với người vợ mới cưới được mấy tuần trước ngày anh đi học tập. Hôm đó trời trở cơn giông đột ngột, tôi chạy vội tới một gốc cây bằng lăng để trú mưa vì lúc đi rừng tôi quên không mang theo áo mưa. Lúc tới được gốc “cây cổ thụ”, tôi đã “hồn vía lên mây” khi nghe tiếng gọi tên mình vọng xuống từ ngọn cây:

– Toàn. Toàn phải không?

Tôi ngơ ngác kiếm tìm xem ai đã gọi mình, nhưng trời đã tối mịt vì cơn mưa trong rừng nên chẳng thấy gì. Tôi sợ quá, đang định chạy trốn thì một sợi giây thòng xuống từ một cành bằng lăng rậm rạp phía trên đầu… Một bóng người trùm kín trong chiếc áo mưa cũ kỹ, vừa tuột xuống vừa lên tiếng:

– Mình đây. Thành đây.

Anh Thành đã xuống đất. Tôi đứng chết sững ngó đăm đăm người “đàn anh” nổi tiếng đẹp trai và hào hùng của mấy năm về trước, bây giờ ốm yếu da bọc xương, đen đủi hốc hác đang run cầm cập vì đói và rét. Tôi ngập ngừng:

– Trời ơi! Đúng là anh Thành đây mà. Sao anh ra nông nỗi này?

– Mình trốn trại cải tạo về đây đã mấy tuần rồi nhưng không dám về nhà vì sợ bị bắt lại. Trời xui đất khiến cho mình gặp được Toàn ở đây. Đúng là số mình chưa chết.

– Anh đừng nói gở. Bây giờ anh tính sao?

– Toàn có gì ăn không? Hơn hai tuần nay mình…

Tôi chỉ định đi kiếm măng vài tiếng đồng hồ nên chẳng mang theo gì ngoài con dao cán dài để đào măng. Cũng may trong túi còn gói thuốc lá và mấy miếng kẹo cao-su (chewing gum). Sau khi kể cho tôi nghe sơ qua về cuộc đào thoát từ trại cải tạo, anh bẻ một cành hoa bằng lăng mầu tím, khắc một dấu hiệu đặc biệt lên đó và nhờ tôi mang về cho Trang, vợ anh, đang ở với cha mẹ chồng trên Xuân Mỹ, Làng Ba. Tôi vội vàng trở về, hẹn hôm sau sẽ dẫn người nhà của anh vô rừng sớm. Thấy tôi trở về với một cành hoa bằng lăng mầu tím, mẹ và em gái tôi ngạc nhiên lắm, nhưng tôi cũng chẳng giải thích. Tôi dò hỏi đứa em gái về Trang, vợ của anh Thành. Lúc đó tôi mới biết chuyện anh Thành trở về Bình Giả sau năm 1975 với một cô gái người miền Nam, bổn đạo mới. Gia đình anh Thành không chấp nhận nhưng cũng đành xin cha xứ làm phép cưới cho hai người mấy tuần trước ngày anh ấy lên đường đi “học tập”. Năm đó Trang mới 17 tuổi, nhưng vì loạn lạc, gia đình chẳng còn ai nên đã theo người yêu là anh Thành trở về Bình Giả. Niềm vui chưa trọn vẹn thì hoàn cảnh ngang trái đã chia cách đôi vợ chồng trẻ hơn bốn năm nay. Trang ở với gia đình cha mẹ chồng như một chiếc bóng cô đơn bên đường, mòn mỏi đợi chờ ngày chồng trở lại!

Tôi mang cành hoa bằng lăng mầu tím lên Xuân Mỹ tìm nhà anh Thành. Hai bác tỏ vẻ khó chịu khi tôi hỏi thăm và muốn gặp Trang. Về sau tôi mới hiểu là ở Bình Giả đâu có ai mang hoa tới nhà cho con gái; hơn nữa, nàng lại là một người con gái đã có chồng! Từ nhà bếp đi lên, nhìn thấy tôi cầm cành hoa bằng lăng mầu tím trong tay, nàng đứng sững sờ nhìn tôi, miệng ấp úng nói không nên lời. Tôi vội vàng lên tiếng:

– Có người nhờ tôi trao cành hoa này cho Trang. Có dấu hiệu khắc trên đó.

Trang cầm cành hoa rồi bật khóc nức nở:

– Trời ơi! Anh Thành! Anh đã gặp anh Thành…

Bác gái vừa đỡ Trang ngồi xuống bên cạnh, vừa dồn dập hỏi tôi:

– Cậu Toàn gặp thằng Thành nhà tôi ở mô rứa? Công an đang truy nã nó mấy tuần nay. Trang nín đi con. Tai vách mạch rừng. Chết! Chết cả nhà bây giờ! Ngày nào cũng có người tới nhà hạch hỏi về nó. Ông đóng cửa lại mau đi. Khổ thân con tôi!

Tôi thầm thì kể lại cuộc gặp gỡ anh Thành trong rừng hồi chiều cho hai bác và Trang nghe. Cuối cùng cả nhà quyết định sẽ chuẩn bị một số thức ăn và thuốc men rồi tờ mờ sáng hôm sau Trang xuống nhà tôi đi vào rừng tìm gặp anh Thành. Nếu có ai hỏi thì nói là gia đình tôi thuê nàng đi làm cỏ lúa ở Đồng Tròn. Bác trai cũng muốn đi theo nhưng không dám vì sợ hôm sau công an lại tới nhà làm việc.

Suốt một tuần liền, ngày nào Trang cũng “đi làm thuê” cho tôi để vào rừng gặp gỡ anh Thành. Cám cảnh trước hoàn cảnh hiện tại, sau mấy ngày bàn bạc cùng gia đình, tôi đã quyết định nhường chỗ trên ghe cho anh Thành. Chúng tôi cũng sắp xếp cho anh Thành theo xe bò của một người quen ở Hòa Long đi lấy cọc tiêu để tránh gặp gỡ những người quen, rồi tôi đón anh ấy ra Long Hương “ở nhờ” nhà một người bạn thân của tôi để chờ ngày ra đi. Hơn hai tháng trời, tôi và Trang trở thành những người đi buôn chuyến. Thực ra, tôi chỉ chở Trang ra Long Hương gặp chồng, có khi ở đó một hai ngày trong lúc tôi đi Hố Nai, Gia Kiệm… lo việc riêng. Người trong làng đã bắt đầu đồn đãi về việc tôi và Trang đi buôn chung với nhau, nhất là còn đi qua đêm nữa! Mẹ tôi buồn lắm! Mặc dầu tin tôi, nhưng “lời ong tiếng ve” đồn thổi nhiều chuyện ly kỳ hấp dẫn về chúng tôi nên bà rất khổ tâm. Cha mẹ của anh Thành có vẻ bình tĩnh hơn vì nghĩ rằng những lời đồn đãi đó sẽ làm người ta quên dần chuyện anh Thành trốn trại cải tạo. Tôi vẫn xem Trang như một người bạn thân vì tôi cũng chỉ hơn nàng một tuổi, còn anh Thành thì xem tôi như một đứa em ruột, “một vị cứu tinh” đã dám liều mình cưu mang và giúp đỡ anh trong cơn hoạn nạn.

Anh Thành và một số bạn bè của tôi đã ra đi đột ngột trước ngày dự tính vì công việc “bến bãi” bị đổ bể. Sau một tuần không thấy tin tức gì về chiếc ghe đó, chúng tôi yên chí anh Thành đã ra khơi bằng yên. Tôi lại theo bạn bè tìm cách mua lại một chiếc ghe cũ ở Cần Giờ, đút lót xin giấy tờ tạm trú và bắt đầu công việc sửa chữa chuẩn bị một chuyến đi mới. Công việc bề bộn nên gần ba tháng sau tôi mới trở về thăm gia đình. Mẹ tôi vừa khóc vừa kể cho tôi nghe về hoàn cảnh của Trang. Nàng đã có thai, bụng càng ngày càng lớn. Anh Thành coi như mất tích vì không có tin tức gì. Bà con trong họ chất vấn nàng nhiều lần về đứa bé trong bụng. Lúc đầu cha mẹ anh Thành tin Trang, nhưng không biết làm sao để giải thích. Mọi người đổ tiếng xấu cho tôi và nàng. Dần dà cả gia đình nhà chồng cũng tin lời đồn đãi của thiên hạ, nhất là chờ mãi không thấy tin tức gì của anh Thành nên bắt đầu hạch hỏi và coi khinh nàng. Hai bác đã xuống nhà nói chuyện với mẹ tôi, có vẻ trách móc và đặt vấn đề tại sao chính tôi cũng trốn biệt từ mấy tháng nay. Mẹ tôi chỉ biết ngồi khóc vì tủi nhục! Em gái tôi cũng nửa tin nửa ngờ nên đã tìm gặp Trang để hỏi cho ra lẽ. Nó tin lời giải thích của Trang nên càng ngày càng thân với nàng.

Tuổi trẻ bồng bột và nhiều tự ái nên tôi đã lên gặp cha mẹ anh Thành đôi co và cãi vã với cả gia đình và giòng họ anh ấy để bênh vực cho Trang, nhưng rồi mọi người lại càng khinh bỉ và ghét bỏ Trang nhiều hơn trước. Quá tủi nhục và hổ thẹn, Trang đã liều mình tự tử! Cũng may người nhà phát giác kịp thời và cứu chữa cho nàng và bào thai trong bụng. Mặc dầu được cứu sống nhưng Trang trở nên lầm lì ít nói, sống vật vờ như một cái xác không hồn giữa sự khinh ghét của giòng họ nhà chồng.

Lúc bấy giờ em gái tôi cũng mới mang thai nên đã bàn với mẹ xin cho Trang về ở chung cho đỡ buồn và cùng đỡ đần giúp đỡ nhau trong lúc bầu bì cho có chị có em. Chính vì lòng tốt của em gái tôi mà cả làng đều nghĩ đứa con trong bụng Trang là của tôi. Mỗi lần tôi về thăm, Trang khóc nức nở không phải vì nỗi tủi nhục khi bị mọi người phỉ báng, nhưng nàng khóc vì đã làm hại danh dự của gia đình tôi. Lại một lần nữa, mẹ tôi gọi hai đứa lên hỏi han ngọn nguồn, và khi nghe chúng tôi thề thốt không hề có tà ý với nhau, mẹ tôi đã “ngồi xổm trên dư luận” để nhận Trang làm con tinh thần trong khi mọi người nghĩ rằng mẹ tôi làm thế để tránh tiếng vì bà đã biết chắc chắn bào thai trong bụng Trang là cháu nội của bà. Mẹ tôi âm thầm ngậm đắng nuốt cay để an ủi vỗ về Trang, mong cứu vớt một linh hồn vì mẹ tôi sợ rằng Trang lại liều mình tự tử như mấy tháng trước. Ôi! Mẹ đã hy sinh chịu nhục vì con và vì thương một người côi cút trong cơn hoạn nạn. Con xin cúi đầu bái phục lòng can đảm của mẹ cho đến trọn đời.

Trước ngày ra đi, tôi đã trở về để từ giã gia đình. Ngay khi biết tin tôi sắp sửa ra đi, Trang đã khóc nức nở và chuyển bụng sinh con. Vì bao nhiêu biến cố xẩy ra dồn dập suốt thời kỳ mang thai, Trang đã trải qua một đêm dài đau đớn, quằn quại đến kiệt sức nên y tá trong làng đề nghị phải đưa nàng đi cấp cứu ở bệnh viện để mổ. Đáng lẽ sáng hôm sau tôi phải trở lại Cần Giờ để chuẩn bị ra đi, nhưng tôi đi không đành nên đã lỡ một “chuyến đò”. Tôi theo mẹ và Trang ra bệnh viện. Trong lúc làm thủ tục giấy tờ trước khi đưa Trang lên bàn mổ, người ta đòi phải có thân nhân ký tên trong giấy tờ nên tôi đã đứng ra lo liệu… Cũng có thể vì lầm lẫn, và cũng có thể do số phận an bài nên các bác sĩ và y tá đã ghi tên tôi là “chồng” của Trang trong hồ sơ bệnh lý. Đó là lý do tại sao Tuân trở thành con tôi! Khi nghe tin Trang đi mổ, cha mẹ anh Thành cũng ghé thăm và xin lỗi mẹ tôi vì những hiểu lầm trước đây. Mẹ tôi cũng không chấp nhất gì nên mọi người đều vui vẻ.

Sau hai tuần Trang được xuất viện, trở về nhà với mẹ tôi. Mẹ tôi bàn qua với hai bác việc lên cha xin rửa tội cho cháu, và chính tờ giấy bệnh viện ghi tên tôi là cha đứa nhỏ đã gây nên sóng gió ồn ào cả xứ đạo. Cha xứ lắng nghe, nhưng Ban Hành Giáo và bà con trong họ anh Thành quyết liệt phản đối. Họ đến nhà hạch hỏi mẹ tôi đủ điều. Tuổi trẻ háo thắng nên tôi đã nổi nóng đuổi hết mọi người và quyết định chẳng thèm xin rửa tội cho Tuân nữa! Tôi chỉ muốn mọi người để cho chúng tôi yên nhưng miệng người không phải dễ “khóa”! Tôi ngang tàng chấp nhận sự dèm pha của mọi người và cứ hiên ngang ngẩng đầu tiếp tục chạy mánh tìm ghe lo chuyện vượt biên lần nữa. Lần này tôi quyết định sẽ đưa mẹ con Trang cùng đi.

Tôi có thể “đạp dư luận xuống bùn đen” để sống, nhưng Trang phải âm thầm than khóc từng đêm, nức nở đè nén “nỗi oan Thị Kính” từng giờ từng phút nên đã bị băng huyết cho đến chết, và chết trong tủi nhục vào một đêm tôi vắng nhà! Tôi trở về nhìn xác Trang nằm im bất động mà thấy lòng muốn nổi loạn. Tôi biết chắc chắn những phút cuối đời Trang đã phải quằn quại trong đớn đau tủi nhục! Tôi đã thực sự thù ghét mọi người trong xứ khi biết tin “người ta” không muốn cho tôi chôn Trang ở nghĩa trang giáo xứ vì bà con trong làng nghĩ rằng Trang đã tự tử! Tôi không hiểu tại sao cả xứ lại lên án và “trừng phạt” thân xác một người đã chết trong khi hằng tuần ở nhà thờ vẫn đọc kinh “Thương Người Có 14 Mối, Thương Xác 7 Mối”, trong đó có ghi rõ việc “chôn xác kẻ chết!” Đâu có ai hiểu được nỗi đau đớn và tủi nhục đã gặm nhấm tim gan Trang từng giây từng phút vì bị cả làng, cả xứ kết tội oan ức, và nhất là sự dằn vặt nàng phải gánh chịu vì đã “gieo họa” cho gia đình tôi! Đâu có ai ở gần kề bên Trang trong những giây phút cuối đời của nàng để “kết án” nàng đã “liều mình tự tử”!!! Mẹ tôi muốn lên xin cha xứ giúp đỡ nhưng tôi đã điên lên phản đối. Tôi nhờ bạn bè ở xa về đào huyệt chôn Trang trong một góc rẫy của gia đình tôi ở mép rừng. Tôi đã bỏ xưng tội, bỏ lễ cả mấy năm trời vì lòng thù hận vẫn chưa nguôi! Đã nhiều đêm tôi gục đầu dưới tượng chịu nạn van xin lòng nhân từ hay thương xót của Chúa thay đổi trái tim “thù hận” của tôi, và tôi cũng xin Ngài thương tha cho những người đã kết tội “oan” cho chúng tôi! Tôi chỉ thật sự trở về với Chúa như “một con chiên lạc” mấy tuần trước ngày vượt biên…

Cháu Tuân tuy mồ côi mẹ nhưng được bú nhờ sữa của em gái tôi cũng mới sinh được vài tháng nên cháu vẫn lớn lên theo ngày tháng trong tình thương yêu đùm bọc của gia đình tôi. Tôi vẫn đi đi, về về tìm mối làm ghe vượt biển. Những hôm ở nhà, thỉnh thoảng tôi bế Tuân ra rẫy, đến ngồi bên mộ Trang khấn nguyện. Công việc làm ghe càng ngày càng khó khăn nên mãi 4 năm sau tôi mới thành công. Trước khi lên đường, tôi đã vô rừng tìm kiếm và đào được một cây bằng lăng nhỏ đem trồng bên mộ Trang để làm kỷ niệm. Lúc bấy giờ Tuân đã chạy nhanh, nói sõi và lúc nào cũng quấn quít bên tôi những ngày tôi về quê.

Cuối cùng tôi quyết định sẽ dẫn Tuân cùng đi mặc dầu mẹ tôi can ngăn nhiều lần. Tôi đã đi và tôi đã đến. Chính nhờ sự liều lĩnh của tôi mà Tuân có được ngày hôm nay. Tôi hãnh diện vì sự thành đạt của Tuân. Tôi mang ơn Oanh vì nàng đã tận tình yêu thương săn sóc “cha con” tôi từ bao nhiêu năm qua. Nếu không có tình yêu và lòng vị tha thông cảm của Oanh, tôi đã ngã quỵ trong cô đơn nơi xứ lạ quê người, và Tuân lại một lần nữa thành trẻ “mồ côi”!

Nhìn hình ảnh Tuân hiên ngang bước lên khán đài, tôi cảm động rưng rưng nước mắt. Tôi không khóc khi Trang chết. Tôi không khóc khi phải chôn nàng ở mép rừng thay vì chôn ở nghĩa trang của giáo xứ. Tôi không khóc khi từ giã mẹ già và gia đình ra đi, nhưng giờ này tôi khóc vì biết chắc chắn Tuân đã trưởng thành, và mấy ngày nữa sẽ về thăm mộ mẹ đang nằm cô đơn hiu quạnh dưới gốc cây bằng lăng “cha con tôi” đã trồng trước ngày “biệt xứ”.

o0o

Oanh đứng nép sát vào người tôi, run run cảm động nhìn Tuân đốt hương cắm lên mộ Trang rồi quỳ xuống gục mặt khóc thật to. Tôi dìu Oanh đến cạnh gốc cây bằng lăng đã bị đốn từ mấy năm trước, chỉ còn một số chồi non mới lên được vài mét. Tôi kinh ngạc khi khám phá ra một cành bằng lăng mới chớm vài nụ hoa mầu tím. Tôi với tay bẻ rồi cùng Oanh đến quỳ bên cạnh Tuân, nhẹ nhàng đặt cành hoa mầu tím trên ngôi mộ của Trang. Tuân ngẩng mặt lên nhìn hai chúng tôi khẽ nói:

– Con biết mẹ con đang mỉm cười bên kia thế giới. Con xin thay mặt cha mẹ quỳ lạy ba má đã nuôi con nên người.

Tuân nhẹ nhàng trao cho tôi tờ giấy thử nghiệm mẫu DNA xác định nó và tôi không phải “cha con”!

Nguyễn Duy-An

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Post by bichphuong »

Image

Cổ tích ngày Xuân: Truyện người đi tìm mùa Xuân bất diệt …
Lời người kể chuyện:


Gần đến mùa xuân đầu tiên của những người tù cải tạo, trong không khí hoang mang sau đợt chuyển trại,cũng như sau bản án tử hình định sẵn cho Đ/U Lê phúc Thịnh vì chuyển thư khi đi lao động, lệnh từ trên xuống, lán 9 sẽ phụ trách làm “báo tường” (bích báo) cho cả đội, và người chịu trách nhiệm cũng đã được trên phân công: cải tạo viên Dzư văn Tâm, tức nhà thơ nhà văn Thanh Tâm Tuyền. Một buổi họp nhanh gọn để quản giáo Thanh phổ biến mục đích yêu cầu của tờ báo tường: làm cho mọi người thấy được sự vĩ đại của đại thắng mùa Xuân 75, sự khoan hồng của Cách mạng, cũng như nhiệm vụ của mỗi CTV là phấn đấu học tập tốt để trở về xum họp với người thân cũng như tìm lạimột vị trí xứng đáng trong lòng dân tộc. Chúng tôi ngồi nghe một tai, bởi ngay người cả tin nhất hình như cũng đã đánh rớt niềm tin sau đợt học tập những bài chính trị cùng những bản tự khai khai đi khai lại nhiều lần vẫn bị kiểm điểm là chưa đạt… Trước khi kết thúc, quản giáo Thanh hỏi ai có thắc mắc giơ tay. Anh TTTuyền nẫy giờ ngồi im lặng, mới thủng thỉnh đưa ý kiến, “đề nghị anh quản giáo cho anh em nghỉ lao động để sáng tác”. Nhíu mày một chút, rồi quản giáo Thanh đồng ý, “cũng phải, thế này nhé, tùy bài dài ngắn, từ một đến hai ngày nghỉ lao động”. Trước khi ra về, anh không quên nhấn mạnh, “nhưng nhiều nhất là hai ngày lao động thôi nhé”…


Tôi biết anh Thanh Tâm Tuyền khi anh thỉnh thoảng đến nhà trò truyện cùng cha tôi, lúc ông đang thời kỳ gom góp tư liệu để thực hiện quyển Văn Thi Gia Phổ Trạng Lược Khảo. Biết đây chỉ có nghĩa là tình cờ đi về nhà gặp anh thì lên tiếng chào rồi né đi chỗ khác, chứ chưa hề được làm quen hay trò truyện, dù đã đọc thơ và văn anh trên Sáng Tạo, Văn.. . Chả thế, khi bị biên chế về chung lán, thấy mặt anh quen quen, lại thêm tên Dzư văn Tâm, phải hỏi dò mới biết đích thị anh là Thanh Tâm Tuyền (Trong lán còn có em anh, Phạm văn Chất, Thẩm Phán Tòa An Quân sự Vùng – là hai anh em ruột nhưng vì hoàn cảnh nên mang khác họ…). Anh sống rất ung dung điềm đạm. Suốt thời gian ở chung chỉ một lần tôi thấy anh nổi nóng là trong một ván mà chược (thuở chưa bị trại cấm, vì còn được ngụy trang là chơi bài Trung quốc..), ván ấy có một người chơi hơi xấu tính.


Sáng hôm sau anh bảo tôi, “cậu cũng nên nghỉ lao động ở nhà viết một bài”. Tôi cười, “thưa anh, em nghĩ đi ra ngoài khỏe hơn, cả tay chân lẫn đầu óc”. Anh cười, “thế à”. Bẵng đi vài ngày, một buổi chiều lao động về, anh vẫy tay gọi nhỏ, “cậu lại đây tôi cho xem cái này”. Tôi theo về chỗ anh nằm. Bên cạnh cái điếu dã chiến bằng nhôm chạm rồng của một người bạn làm cho anh (anh có tham gia gọt nõ), bừa bãi những tờ giấy sáng tác mừng Xuân của các CTV. Bài dài ngắn khác nhau, đủ các kiểu chữ, từ nguệch ngoạc chiếu lệ(cho phải phép hai ngày nghỉ lao động), đến nắn nót o bế, dù cùng một loại giấy do trại cung cấp. Anh chờ tôi hút xong bi thuốc, lơ mơ nhả khói mới nhỏ nhẻ, “thế này thì chuế quá, cậu ạ”. Tôi nhìn anh dò hỏi. Anh hất hàm, “cậu đọc thử đi”. Tôi cầm lên một vài tờ, cả văn xuôi lẫn … thơ. Và càng đọc tôi càng phục con người lúc nào cũng ung dung điềm đạm trước mặt tôi là anh. Chiêu một ngụm nước trà, anh thong thả, “ai thì cũng phải sinh tồn, thân cá chậu thì cũng phải “gặp thời thế, thế thời phải thế”, nhưng ca tụng họ như thế này …”, anh ngập ngừng im lặng như không muốn nói tiếp. Chợt anh lẩm bẩm, “chim mà hót được trong lồng mới là chim …”. Tôi ngậm ngụm trà đắng ngắt trong miệng, chia nỗi buồn cùng anh. Anh bỗng phá tan sự im lặng, “họ bảo tôi phải viết một cái gì…”. Trong ánh chiều mơ, anh ngồi yên lặng như một pho tượng mặt đăm chiêu nhẫn nại. Con người tài hoa ấy mới hai tuần trước đã khiến tôi thật sự tâm phục khi nghe anh đọc bài thơ mới làm, nhân một trưa thứ bẩy đi … nhà xí. Lời thơ đã lâu không còn nhớ, nhưng ý thơ thì không bao giờ tôi quên. Đại ý, anh ngồi trong không khí tù hãm, hôi thối của cái nắng gió Long giao, và phân người tù cải tạo của những hố xí tự đào giữa bát ngát cỏ tranh thiên nhiên, nơi mà ai cũng vội vào và vội ra … Từ những lá cỏ tranh cong vòng vì chĩu nặng những con nhặng xanh, trong ý thơ anh đã nhìn ra chuỗi ngọc biếc quanh chiếc cổ cao trắng ngần của người con gái năm xưa, hồn nhiên và thánh thiện … Tưởng tượng như thế thì chỉ có anh thôi ! Có tiếng gọi đi lãnh cơm. Tôi đứng dậy ngập ngừng, “hay anh cho đăng bài thơ chuỗi ngọc hôm nọ”. Anh bỗng đặt tay lên vai tôi "cậu viết cho tôi một bài nhé”. Tôi ngần ngừ. Anh nhìn thẳng vào mắt tôi, “tôi biết cụ DL. Cậu là con của cụ DL, tôi tin cậu...”.


Gia đình Viên ngoại họ Nguyễn lập nghiệp ở kinh thành, nhiều đời làm quan khá danh giá. Đến Viên ngoại, thuở sinh ra, tiên thiên bất túc, không theo đuổi được nghiệp đèn sách ông cha, đường hoạn lộ ngưng lại từ đó. Khi phương trưởng, bèn mở một cửa hàng buôn bán tơ lụa cho nhà giầu lẫn giấy, bút mực cho danh nhân sĩ tử, cuộc sống cũng trên bậc trung. Viên ngoại thành gia thất sớm, nhưng lớn tuổi mới sinh được một con trai, cưng như trứng mỏng. Nguyễn công tử thông minh dĩnh ngộ từ thuở nhỏ, càng lớn lên tinh hoa càng phát lộ. Viên ngoại mừng lắm, đặt hết kỳ vọng vào con, mong một ngày cháu nối nghiệp ông, đường hoạn lộ từ nay lại thênh thang ngẩng mặt cùng thiên hạ.

Nguyễn công tử đọc rộng hiểu nhiều, bên cạnh cái học từ chương, tài nghề cầm, kỳ, thi, họa nghề nào cũng đi đến chỗ tuyệt đỉnh. Chỉ có điều tự nhỏ tính đã gàn bướng, điều gì đã quyết không ai ép được. Nhiều lần Viên ngoại dục giã con tham dự khoa cử để công danh sớm đạt, công tử đều lắc đầu quầy quậy. Hỏi mãi thì mới thưa, thời buổi nhiễu nhương, cung vua, phủ Chúa, vua quan chẳng giữ đúng cương vị, thiên hạ sắp đại loạn đến nơi, sá gì một chút đỉnh chung để hại đến thân, thậm chí có thể tuyệt luôn dòng dõi. Và Nguyễn công tử cứ thế ngao du sơn thủy, trau dồi, phát triển nghề riêng, đặc biệt là nghệ thuật hội họa cũng như đàn cầm đã vang danh xa khắp, nhiều nghệ nhân từ phương Bắc cũng phải lần mò đến để gặp gỡ trao đổi học hỏi, ai nấy đều bội phục. Không ép được chí hướng con, hai vợ chồng Viên ngoại không khỏi buồn phiền, lại thêm giặc giã chiến chinh ngày một gia tăng khiến công việc làm ăn buôn bán đi đến khó khăn thua lỗ. Chẳng bao lâu, hai ông bà lần lượt theo nhau qua đời.



Lo hậu sự cho cha mẹ xong, Nguyễn bán hết cơ nghiệp, từ bỏ chốn đô hội nhộn nhịp, lại mua một miếng đất ở mé thành Tây, ngoại ô Thăng Long thành, cùng tiểu đồng lui về cư ẩn. Nơi đây phong cảnh hữu tình, cỏ cây hoa lá mơn mởn, non xanh suối trong chạy quanh, Nguyễn lấy làm đắc ý, mặc cho tiểu đồng vẫn buồn lòng vì phải xa chỗ đông vui. Từ đó bên lều cỏ, Nguyễn ngày ngày khi đàn ca hát sướng, lúc vung bút đề thơ, thỉnh thoảng mài mầu múa cọ, cuộc sống rất an nhiên tự tại, tưởng non Bồng xứ tiên cũng chỉ đến thế.

Một hôm, Nguyễn đang vẽ, chợt tiểu đồng chạy lên gặp, thưa rằng nhà hết gạo, rượu, mà tiền cũng chẳng còn. Tiện tay Nguyễn cuộn tròn bức tranh vừa vẽ xong, dặn tiểu đồng mang đi đổi lấy đồ ẩm thực. Tiểu đồng đi đến chiều tối mới về, khệ nệ mang theo, ngoài gạo, rượu, thịt, còn là những đồ thường dùng hàng ngày. Nguyễn đắc ý, họa sĩ xưa nay ít khi nuôi nổi thân mình, vậy mà chỉ với bức tranh nguệch ngoạc "chim núi hứng sương hoa" của Nguyễn, đồ ẩm thực của hai thầy trò khỏi phải lo trong vài ngày, quả là trời có ban cho mình chút tài mọn. Từ đó càng ngông nghênh, khỏi bận tâm vì cuộc sống, tiếp tục vui vầy cùng thiên nhiên, không hay rằng cái gì nhiều quá cũng nhàm, kể cả tác phẩm của nhà danh họa.

Lại một hôm, tiểu đồng khẽ thưa, "tranh lợn gà, chim chóc hoa quả dạo rầy khó bán, xin công tử vẽ tranh mỹ nữ bán thử". Nguyễn lấy làm khó nghĩ. Chàng vẽ tranh theo hiện thực, nhìn thấy gì vẽ nấy. Với Nguyễn, vẽ theo tưởng tượng cũng tỉ như gieo câu thơ sáo rỗng, của kẻ chưa hề trải qua thì làm sao mà động tâm để sinh tình thành tứ thơ, ý họa. Tuy nhiên vì đời thường mà cố. Nguyễn theo tiểu đồng ra ngoài chợ, ngó nhìn những thôn nữ qua lại nhóm chợ, ghi khắc hình ảnh trong tâm, về nhà vung cọ theo ký ức, những bức họa vì thế cũng sống động và đổi ra rất được giá. Người nghệ sĩ không vẽ chỉ vì miếng cơm manh áo. Từ lúc bắt đầu vẽ thiếu nữ, Nguyễn bỗng có một thôi thúc là vẽ được một bức tranh mỹ nhân toàn bích, để vài ba trăm năm sau tên tuổi còn lưu lại cùng bức họa. Bên cạnh những tranh vẽ cho cuộc sống đời thường, Nguyễn năng ra ngoài gặp gỡ quan sát đàn bà con gái nhiều hơn, để dành dụm chất liệu cho đại tác phẩm đã thành hình trong trí tưởng. Chất liệu đã tràn trề: người để lại một khóe mắt môi, kẻ cho chàng mũi cao dọc dừa, người đánh rớt một tiếng cười với hàm răng ngà ... Và ngày để khởi đầu cũng đến. Nguyễn dặn tiểu đồng đừng quấy nhiễu làm mất sự chuyên tâm cũng như hứng khởi của mình. Trước giấy dó trắng tinh, chàng bắt đầu vung cọ, để sau đó, miệt mài chạy theo sự lôi kéo của những đường nét, mầu sắc tự đến... Cuối cùng, sau những ngày mê mải, một buổi chiều nọ bức tranh cũng hoàn thành. Lùi lại ngắm nghía tác phẩm của mình, Nguyễn bỗng ngẩn người nhận ra cái không toàn. Khi vẽ, Nguyễn đã lục lọi khắp ký ức để tổng hợp tất cả vẻ đẹp của riêng mỗi người đã gặp, phổ lên gương mặt của mỹ nhân. Này là tóc, tai, môi, mắt, mũi, miệng ... của từng người đã có đó, tưởng như hóa công cũng không thể làm hơn được. Vậy mà, mỹ nhân tuy đẹp từng chi tiết, nhưng hình như những cái đẹp lại không hoà được cùng nhau, khiến gương mặt như không hồn, tẻ nhạt, ngay cả nỗi buồn vui cũng không tỏ rõ được ... Nỗi thất vọng ập tới như sóng vỡ bờ. Nguyễn đâm ra nghi ngờ tài năng của chính mình, không hay rằng người nghệ sĩ lớn nào cũng chỉ bằng lòng tác phẩm của mình khi còn đang thai nghén. Sẵn vò rượu đầy bên cạnh, chàng bê lên uống cạn một hơi. Rượu thấm, thêm sự phẫn uất, Nguyễn ngã lăn chiêng bên bức tranh bất toàn ...

Trong cơn mê thiếp, có tiếng nhạc ngựa leng keng. Có những bước chân nhè nhẹ của người đến. Có tiếng thì thầm nho nhỏ nhưng vẫn rõ ràng giọng nữ. "Phải chốn này không ?". Một giọng nữ trẻ con khác, "vâng, thưa tiểu thư chính nơi này.. A, công tử đây, thưa tiểu thư". Nguyễn cố ngước nhìn lên, ngây người choáng váng. Trước mặt chàng là một nhan sắc tuyệt thế toàn bích. Cũng mắt, môi, mũi, miệng này... dư một chút cũng hỏng, mà thừa một chút lại càng hỏng hơn, e rằng ngoài bàn tay của hóa công, con người không ai có thể tưởng tượng nổi chứ đừng nghĩ đến vẽ ra được. Thấy chàng cứ ngây người nhìn, cô bé a hoàn đi theo che tay bụm miệng khúc khích. "Tiểu thư nói gì đi chứ ...". Nữ lang quay sang cau mày gắt nhẹ, "cái con bé này, không được thất lễ ...". Cả cái cau mày cũng đẹp như sóng nước hồ thu. Nguyễn lắp bắp, "thưa, thưa ... tiểu thư con cái nhà ai, vãn sinh thật là vạn hạnh, vạn hạnh". Bấy giờ nữ lang mới nghiêng mình thi lễ, miệng nhoẻn cười chúm chím thưa, " Công tử dọn đến thành Tây này đã lâu, là hàng xóm với nhau, nhưng tiện thiếp gần đây công việc đa đoan, nên mãi hôm nay mới có cơ hội sang chào hỏi ....". Nguyễn cứ như bị hớp hồn, miệng dạ dạ, vâng vâng, mà kỳ thực ba hồn chín vía như đã chín tầng cao mây gió, ngay cả kéo ghế mời ngồi cũng lúng túng. Nữ lang thong dong tiếp, "tiện thiếp tuy ở cõi trên, nhưng cũng nghe tiếng công tử, cầm kỳ thi họa, tài hoa tuyệt thế, nên vẫn mong mỏi có ngày được tương ngộ". Nguyễn dần dần lấy lại bình tĩnh, chuyện trò cùng nữ lang, hai bên càng lúc càng tương đắc. Nguyễn cho nữ lang coi những bức tranh còn lại trong thư phòng, đủ mọi thể loại, nhưng tuyệt nhiên không dám đưa ra một bức tranh vẽ người nữ nào khác ngoài bức họa bất toàn đã lỡ thấy. Chàng tự nghĩ, với nhan sắc và phẩm cách của nữ lang, các bức họa về người nữ của chàng chỉ là những nét cục mịch, thô kệch. Chợt lại có tiếng nhạc ngựa từ xa. Nữ lang đứng dậy nghiêng mình tạ từ, "chắc phu quân của thiếp đã cho người đến đón ...". Nguyễn hốt hoảng bước theo, miệng lắp bắp, "xin cô nương cho biết phương danh ...". Chỉ thấy cả hai thoắt rời xa ... Lẫn trong tiếng cười khúc khích của cô bé a hoàn là một giọng thanh trong như ngọc, "Thành Tây có cảnh Bích Câu .... Tiện thiếp là Giáng Kiều xin cáo biệt. Mong công tử bảo trọng ". …

Nguyễn giật mình tỉnh giấc. Ngọn đèn dầu tiểu đồng thắp sáng đã cạn nửa, vò rượu rỗng không lăn trong góc. Có thể nào chỉ là một giấc mơ ? Nhưng mùi hương thanh khiết còn vương lại đâu đây, và nhất là gương mặt, dáng vẻ của nữ lang vẫn hiện rõ mồn một trong tâm trí. Rồi còn những câu chuyện trao đổi, thơ văn đàm đạo, đặc biệt câu nói của nữ lang khi an ủi chàng về sự bất toàn của tác phẩm, “người nghệ sĩ lớn không bao giờ bằng lòng về những tác phẩm đã hoàn thành của mình, vì thế, nhân gian mới luôn luôn được thưởng thức những kiệt tác mới của họ”. Nguyễn gọi khẽ, “Giáng Kiều, Giáng Kiều …”. Bỗng chợt một ý tưởng vụt đến. Chàng đánh thức tiểu đồng dậy lấy thêm rượu, rồi loay hoay căng lụa trên khung vẽ …

Trong hơi men sảng khoái, những nét cọ vung lên khoan nhặt … Và khi ánh dương ló dạng, bên ao sen hồng lá xanh vào hạ, Giáng Kiều như đang đứng trước mặt, mắt long lanh, môi chúm chím nhìn chàng ! Nguyễn hét to sung sướng. Chàng quỳ xuống nhìn vầng dương cảm tạ, rồi đứng dậy với tay cầm chiếc cọ vẽ bẻ làm đôi không chút do dự. Nguyễn biết, sau bức tranh này, suốt đời còn lại chàng sẽ không bao giờ có thể hoàn thành thêm được một tác phẩm hội họa nào khác nữa. ..

Từ đó, Nguyễn như người ngớ ngẩn, ngoài sự ăn ngủ, lúc nào cũng say đắm thẫn thờ bên tranh. Đọc sách, làm thơ, tách trà, chén rượu khi nào cũng như đối ẩm tương thân tương kính, mọi sinh hoạt thường ngày phó mặc một tay tiểu đồng. Tiểu đồng nhìn chủ lúc thương lúc sợ. Thương vì lòng trung, mà vẫn canh cánh sợ tà ma đã nhập vào thân xác chủ, sẽ di lụy cả hai. Có lần tiểu đồng đánh bạo rụt rè xin Nguyễn đi gặp thầy pháp để khu trục tà ma quỉ ám. Nguyễn nghe qua ơ hờ. Chỉ những lúc ngồi trước mặt Giáng Kiều chàng mới thật sự là Nguyễn công tử sống động và tài hoa một thời.



Một hôm sau khi nguệch ngoạc vài bức tranh dân gian để tiểu đồng mang đi đổi chác – tuy Nguyễn đã bẻ bút, nhưng chàng và tiểu đồng, cả hai không thể uống nước lã trừ cơm, vì thế tiểu đồng đã phải sắm cho chàng không chỉ một mà nhiều cọ vẽ khác – Nguyễn vội vã trở vào thư phòng ngồi trước Giáng kiều, vì muốn chia sẻ cùng nàng bài thơ mới làm. Vừa ngâm xong một câu đắc ý, Nguyễn ngẩng nhìn lên chờ đợi một nụ cười chúm chím khen thưởng của nàng, bỗng chàng thấy ngờ ngợ. Nguyễn lại gần, rồi lui ra xa chăm chú nhìn thật kỹ, và sắc mặt chàng tái hẳn, trống ngực đập thình thịch, không dám lưu lại trong thư phòng. Màu hồng sen lợt đi, lá bớt xanh, và còn thấy vài cọng bắt đầu héo úa. Hôm sau, đợi khi mặt trời lên cao, nắng đã theo các khung cửa rọi sáng thư phòng, Nguyễn mới bước vào. Lần này chàng săm soi nhìn ngắm người đẹp trong tranh thật kỹ. Giây lâu, chàng hốt hoảng thiệt tình, bụng bỗng lên cơn đau thắt. Không còn là nỗi nghi ngờ, mà chính là sự thật: cùng với ao sen bắt đầu héo úa, Giáng Kiều trong tranh “hình như” đã có những nét tuy còn ẩn hiện, nhưng rõ ràng là có già đi theo tháng ngày … Té ra chàng có thể vẽ được nét tiên, nhưng không thể đóng khung được thời gian … Cứ nghĩ đến ngày bức tranh “trăm tuổi”, lòng Nguyễn đau đớn không yên. Hình như càng lo sợ, chuyện đến càng mau. Một buổi sáng, châm trà đối ẩm, Nguyễn choáng váng khi thấy vết chân chim đầu tiên đã hiện mờ bên khóe mắt trái …. Nguyễn bỏ ăn, bỏ ngủ … đầu óc chỉ nghĩ suy tìm cách cứu vãn nữ lang trong tranh cũng là để tự cứu lấy chính mình. Mấy hôm sau, không kịp dặn dò tiểu đồng, Nguyễn cuộn tròn tranh trong ống nứa đeo trên vai, nhắm hướng kinh thành lẳng lặng ra đi khi trời còn mờ sáng. Nguyễn tìm đến những nhà sưu tầm danh họa, những lái buôn tranh, những người chơi cổ vật. Nơi nào chàng cũng nài nỉ chuyện trò, trình bầy về bức họa của mình, và tha thiết hỏi mọi người phương cách cứu lấy tranh khỏi bàn tay của vị thần thời gian. Nơi đâu chàng cũng được tiếp đãi rất ân cần, một phần vì tiếng xưa, phần khác cũng vì bức họa chàng đưa ra, ai cũng trầm trồ ngợi khen, thậm chí có người còn đòi mua lại bằng những giá rất cao. Nhưng buồn thay, không ai có thể chỉ cho Nguyễn một biện pháp khả dĩ có thể thắng được vị thần thời gian. Nguyễn thất vọng, từ chối tất cả những chiêu đãi trọng vọng hay kỳ kèo nài nỉ. Chàng quyết định đi tìm những nhân vật dị kỳ hơn như các thuật sĩ hay đạo sĩ …, những người mà dân gian đồn rằng họ có những công trình tu luyện đặc biệt, pháp thuật thần thông, thậm chí cải tử hoàn sinh hay cải lão hoàn đồng … Và Nguyễn rời kinh thành, bắt đầu cuộc hành trình đi về những vùng hẻo lánh, non cao nước sâu, nơi chàng có hy vọng gặp được những người này ở ẩn tu luyện. Một bữa, có hai kẻ vô lại thấy Nguyễn cứ khư khư nâng niu ôm giữ ống tranh, tưởng là của quý, theo dõi đến một khe vắng, rình đập đầu Nguyễn, giật ống nứa bỏ chạy. Nguyễn ôm đầu, máu túa che cả mắt, vẫn cố gắng đuổi theo, miệng vừa la hét, vừa van xin chúng trả tranh lại. Máu ra nhiều, Nguyễn ngất xỉu bên một tảng đá. Còn hai tên vô lại chạy một quãng xa không bị rượt đuổi, mới dừng lại, mở ra xem định chia nhau của. Đến khi khám phá chỉ là một bức tranh vô dụng (?), chúng bèn chửi tục, quăng phạch xuống đất, bỏ đi. Trong cơn mơ màng vì đau thiếp, Nguyễn thấy thoang thoảng một mùi hương xưa quen thuộc. Và một giọng dịu dàng thanh tao. “Thiếp xin lỗi, không ngờ chỉ một lần tương kiến lại gây nên mối họa cho công tử”. Nguyễn nhìn lờ mờ thấy Giáng Kiều đang kế bên, ánh mắt thương xót. Rồi bàn tay tiên mát rượi lau rửa, xé vạt xiêm y băng bó, rịt thuốc vết thương. Các đau đớn thân xác bỗng chốc tan sạch, và hồn Nguyễn cũng lâng lâng dịu êm. “Thiếp tu luyện chưa tới, nên đã mang chuyện bức tranh gặp ngược đãi thời gian ra vấn kế phu quân. Người cho thiếp hay, chỉ có mùa Xuân bất diệt và trường cửu mới giữ cho bức tranh trường tồn, trẻ mãi không già. Thiếp có hỏi thêm nơi nao có thể có được mùa Xuân bất diệt để công tử đi tìm thì phu quân thiếp lặng thinh… Thiếp chỉ biết đến thế và bây giờ thì phải tạm biệt, xin chúc công tử gặp nhiều may mắn”. Khi Nguyễn tỉnh lại, mười phần đã khỏe được bẩy. Nhìn xuống, bức tranh ai đã xếp lại trong ống nứa, đặt ngay ngắn cạnh chỗ chàng nằm. Nguyễn ngẫm nghĩ về những dặn dò của Giáng Kiều, quyết định sẽ mang tranh về nhà cho tiểu đồng cất giữ để chàng yên tâm khởi đầu một cuộc hành trình chắc chắn sẽ rất dài, đi tìm cho được một mùa Xuân bất diệt và trường cửu để giữ mãi vẻ đẹp của người trong tranh, làm quà tặng cho muôn đời mai sau …

Sau khi đã dặn dò tiểu đồng việc nhà, không quên vẽ thêm một số tranh đủ để y làm kế sinh nhai, một buổi sáng sớm đầu mùa thu, Nguyễn đứng trước tranh, khấn thầm cùng Giáng Kiều, “tiểu sinh đau lòng phải rời xa cô nương một thời gian, nhưng đã nguyện với lòng mình, đời còn lại, dù chân trời góc biển, dù có phải hy sinh cả mạng sống của mình, tiểu sinh cũng quyết tìm thấy và đem về một Mùa Xuân Bất Diệt để đền đáp những ân tình tri kỷ. Mong Trời đất dun dủi sẽ có ngày sớm tái ngộ cùng cô nương”. Tạ từ xong, khăn gói trên vai, Nguyễn cất bước ra đi. Chàng đi trong niềm hy vọng thì mong manh mà nỗi tuyệt vọng lại khôn cùng. Trời đất quá lớn, nơi đâu Nguyễn sẽ tìm thấy được Mùa Xuân Bất Diệt, cho dù tia hy vọng tái ngộ tuy leo lét nhưng vẫn cháy âm ỉ trong lòng chàng.



Nguyễn cứ thế đi mãi, lang thang từ phố phường đến thôn xóm, từ chốn đô hội đến nơi hoang dã, những non cao, động sâu… không nơi nào chàng không lần mò đến. Người xưa có câu, “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”, Nguyễn hỏi cả trẻ lẫn già. Nơi nào bước chân chàng đặt đến, câu hỏi đồng thời cũng được đưa ra cho những người Nguyễn gặp, là nơi nao chàng có thể tìm được Mùa Xuân Bất Diệt ? Mọi người nhìn chàng lạ lẫm với câu hỏi kỳ cục. Có người cười chế diễu cho chàng là kẻ dở hơi, có người lại nổi giận coi chàng như kẻ quấy phá trêu trọc. Cũng không ít người nhìn Nguyễn thương hại, xót cho chàng là kẻ chẳng may bị trời sinh ra ngây ngô khờ dại, nên không chỉ cho Nguyễn miếng ăn, có khi còn giúp chàng một chỗ nằm tạm qua đêm. Nhưng điều quan trọng nhất là câu hỏi về Mùa Xuân Bất Diệt, mục đích của chuyến đi của Nguyễn, thì không ai – kể cả một vài người có tiếng là học giả Nguyễn đã gặp – có thể trả lời được.

Những ngày như mây trôi, những tháng như lá rụng… Cứ thế Nguyễn mải miết đi, mải miết hỏi, để rồi mệt mỏi rã rời cùng nỗi tuyệt vọng khi bóng đêm đổ xuống, phấn chấn vui vẻ trở lại với niềm hy vọng để cất bước tiếp tục ra đi khi ánh dương vừa lên….

Trời đã vào cuối đông. Một buổi chiều nọ, sau một ngày dài, Nguyễn thấy người váng vất, cổ họng rã khô vì khát. Nhìn xa về phía trước, thấy một căn nhà tranh nhô bên đường, Nguyễn bèn lần đến, định tạm dừng chân xin một chút nước mát cho dịu cơn khát. Phên tre cửa sổ mở ra khi Nguyễn cất tiếng gọi, rồi một bà lão hiện ra trong khung cửa, mặt mũi phúc hậu nhìn chàng. Nguyễn chưa kịp cất tiếng, bà cụ thật là người tinh tế, đã quay nhanh vào trong nhà để trở ra với một bát nước trong cùng một vốc cơm còn bốc khói. Ngụm nước vừa chiêu, Nguyễn theo thói quen, câu hỏi bật ra khỏi miệng. Bà lão thở dài, “đời nhà nông gặp chiến chinh loạn lạc, đứa con trai duy nhất cũng bị giặc bắt đi, cảnh cơ khổ, một ngày xuân cũng không tưởng tới, nói chi là cả một mùa xuân …”. Và bà lão nhìn Nguyễn tò mò, “ thấy công tử cũng có dáng dấp của người đọc sách, hà cớ gì người lại cố công đi tìm chuyện huyễn hoặc như thế ?”. Nguyễn thật thà kể lể chuyện bức tranh của mình. Đang nói, bỗng dưng, bát nước bị giằng lại, cả nắm cơm chưa ăn cũng bị giật lấy, quăng xuống đất tung tóe. Mắt quắc lên, người rung rung cơn giận, bà lão lớn tiếng mắng, “Nay giặc Thanh từ phương Bắc sang chiếm đóng nước ta, hung hãn như sài lang. Chúng có phải cùng chung máu mủ gì đâu mà thương xót dân ta, chuyện tàn ác đến đâu cũng chẳng từ nan. Chúng giết người, cướp của, đốt nhà, trẻ không tha, già không thương, cảnh nước mất nhà tan ai không xót thương, ai không căm phẫn, uất hận. Đến như lão già nhà này cũng không thể ngồi yên cho giặc hoành hoành, bỏ nhà cửa vườn tược cho già trông coi để cùng mọi người đi cứu nước…. Còn ngươi, tuổi trẻ lưng dài vai rộng, có đọc sách mà chẳng biết đạo thánh hiền, “đất nước nguy nan, ai cũng phải góp phần”, chỉ chìm đắm trong những nhỏ mọn riêng tư, không coi đất nước là chuyện chung, không biết rằng mất nước là mất tất cả, già này có dư nước cũng chẳng phí hoài cho loại u mê ám chướng như ngươi”. Nói đoạn, sẵn bát nước trong tay, bà lão hất thẳng vào mặt Nguyễn, hầm hầm hạ cánh liếp cửa sổ, đóng xập lại …

Nguyễn đứng sững như trời trồng, rồi ngẩn ngơ bỏ đi. Lời bà lão như trì kéo, mỗi bước chân mỗi nặng nề. Đi được một quãng, Nguyễn dừng lại, ngồi bệt xuống dưới một gốc cây to gần đó, đầu óc miên man suy tưởng. Nguyễn cứ ngồi như thế, bất động. Mất nước là mất tất cả. Tất cả, kể cả Nguyễn và bức tranh người đẹp đã vẽ … Những câu mắng của bà lão văng vẳng bên tai như những ngọn roi vụt xé tâm can. Nguyễn thiếp đi trong trăm ngàn nỗi trăn trở mâu thuẫn …

Khi Nguyễn mở mắt ra, bình minh vừa chợt tới. Trong tiếng chim rộn rã đầu ngày, xa xa có tiếng hát ca hòa vang. Rồi một đoàn người lũ lượt đi ngang. Nguyễn nhận thấy đủ cả, già trẻ, lớn bé, nam nữ, quần áo giầu nghèo, sang hèn lẫn lộn, gậy gộc giáo mác trên tay, miệng cất cao lời ca, mắt hãnh diện ngước nhìn những ngọn cờ đào được giương cao bởi một số quân binh áo vải … Nguyễn chạy theo hỏi thăm, mới hay đây là dân chúng nhiều nơi tình nguyện gia nhập nghĩa binh, đang trẩy đến tụ hội cùng quân binh của vua Quang Trung hiện đóng tại đèo Tam Điệp, bàn luận kế sách chuẩn bị phá giặc. Hòa theo đoàn người lúc nào không hay, Nguyễn cùng cất cao tiếng hát. Chưa bao giờ lòng chàng thanh thản và sảng khoái đến thế ! Quân đi đã xa, khúc ca hùng tráng như vẫn còn đọng lại đâu đây trên không gian báo hiệu một mùa xuân sẽ về …



Lịch sử ghi lại rằng, năm 1789, trước khi xuất binh đuổi giặc, vua Quang Trung cho mở tiệc khao và tuyên bố cùng ba quân tướng sĩ, “nay hãy làm lễ ăn Tết Nguyên Đán trước, đợi đến trễ nhất là ngày mồng 7 Tết, vào đến Thăng Long sẽ mở tiệc lớn khao quân”. Đêm trừ tịch, quân Tây sơn vượt sông Gián Thủy, tiêu diệt đồn tiền tiêu của địch, khởi đầu sự triệt hạ hệ thống đồn phòng ngự của giặc. Đêm mồng 3 Tết, vây chặt Hà Hồi, buộc địch phải đầu hàng. Mờ sáng 5 Tết, quân binh quyết chiến với giặc ở đồn Ngọc Hồi. Tượng binh xung trận phá tan đội kỵ binh của giặc. Quân Thanh rút vào cố thủ trong lũy cao hào sâu, dùng đại bác và cung tên bắn ra ngăn cản. Những đội nghĩa binh dùng lá chắn che mình, cảm tử đột nhập vào trong chiến lũy xáp chiến cùng địch, mở cửa cho đại binh ào ạt tràn theo, san bằng đồn Ngọc Hồi, tiêu diệt một số lớn giặc, khiến cho toàn bộ hệ thống phòng ngự của giặc hoàn toàn tan rã. Ngày mùng 5, Đô Đốc Long bao vây tiêu diệt đồn Khương Thượng khiến tướng giặc là Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự tử. Gò Đống Đa trở thành nấm mồ lớn chôn xác giặc. Thế như chẻ tre, quân Đô Đốc Long tràn vào Thăng Long, Thống soái của giặc, Tổng đốc Tôn sĩ Nghị phải bỏ hết ấn tướng để chạy thoát thân. Buổi trưa ngày mồng 5, vua Quang Trung cùng đại binh kéo vào Thăng Long Thành, áo bào nhà vua nhuốm đen thuốc súng của những ngày ác chiến. Trong nắng xuân gió xuân, nhà vua đã nâng chén cùng ba quân tướng sĩ uống mừng Xuân ca khúc khải hoàn.



Trong lúc quân tướng còn hò reo say men chiến thắng cùng vua, thì Nguyễn, nay đã trở thành một bộ tướng tham mưu của Tây sơn, đang đứng lặng người ngoài đại sảnh, hồn lâng lâng cảm động với những giây phút lịch sử đã trải qua. Trở về kinh thành, lòng chàng không khỏi bùi ngùi nhớ lại những chuỗi ngày thơ ấu sống cùng cha mẹ khi xưa. Và bóng dáng thành Tây nơi chàng ẩn cư cũng chập chờn hiện về như một lời gọi. … Nguyễn bảo người hầu dắt đến cho chàng một con ngựa. Rồi để nguyên áo bào còn vương mùi thuốc súng, Nguyễn phóng mình lên con chiến mã, ra roi phi nhanh về hướng thành Tây…



Nguyễn buộc ngựa bên khóm trúc, lòng cực kỳ bối rối cảm động nhìn lại căn nhà xưa của một thời “Nguyễn công tử”. Căn nhà hoang vắng nhưng không tẻ lạnh, mà vẫn tràn sức sống của cỏ hoa mùa xuân đang nở rộ chung quanh. Chàng hồi hộp bước vào trong sân. Trên cửa ra vào vài mạng nhện giăng tơ, có gắn một bức tranh “độ nhật” khi xưa cùng mấy dòng nguệch ngoạc của tiểu đồng, “tiểu nhân không thể ở lại chờ công tử lâu hơn nữa, vì còn phải lên đường đuổi giặc. Xin công tử thứ lỗi và mong có ngày thầy trò gặp lại”. Nguyễn mỉm cười khoan hòa, gỡ bức tranh, đẩy cửa đi vào. Đến trước thư phòng, chàng dừng lại, trống ngực đập liên hồi, tay giơ lên nửa chừng lại buông thõng xuống. Nguyễn biết, chỉ một cái đẩy nhẹ, cửa thư phòng sẽ mở ra, ở đó … Ở đó, Nguyễn không dám nghĩ tiếp … Điều gì chờ đợi chàng sau cánh cửa ? Bức tranh chắc vẫn còn nguyên đó, nhưng có ai đợi chàng ? Nguyễn thở hít dài mấy lần sâu tận, rồi quả quyết đẩy cửa… nhắm mắt tiến lại gần bức tranh. Khi Nguyễn mở mắt ra cả thế giới như xoay quanh chàng cùng niềm vui vỡ òa tưởng bể tan lồng ngực. Trước mắt Nguyễn là một Giáng Kiều của lần gặp gỡ đầu tiên, đẹp thanh khiết như một cành lan, mắt long lanh, môi chúm chím nhìn chàng. Những bông sen trong hồ cũng tươi nhuận trên những chiếc lá xanh mướt như ngọc. … Nguyễn tiến lại gần Giáng Kiều, lòng cảm động với nỗi biết ơn tràn trề. Chàng vừa ngộ ra một điều, không có mùa xuân bất diệt và trường cửu mà chỉ có người làm nên mùa xuân bất diệt và trường cửu….

Lịch sử đã ghi thêm, cuộc hành binh thần tốc với chiến thắng lẫy lừng của anh hùng Quang Trung Hoàng đế đánh tan hai mươi vạn quân Thanh, giải phóng quê hương dân tộc thoát khỏi sự thống trị của giặc ngoại xâm phương Bắc đã biến mùa Xuân năm Kỷ Dậu, 1789 thành một mùa xuân bất diệt và trường cửu trong những trang sử hào hùng của dân tộc Việt …

lhtc

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Thơ xuân đất khách
Thanh Nam (1931-1985)

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
mới hay năm tháng đã thay mùa
ra đi từ thuở làm ly khách
sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ

Trôi dạt từ Đông sang cõi Bắc
hành trình trơ một gánh ưu tư
quê người nghĩ xót thân lưu lạc
đất lạ đâu ngờ buổi viễn du!

Thức ngủ một mình trong tủi nhục
dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
giống như người lính vừa thua trận
nằm giữa sa trường nát gió mưa

Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
làm thân cây cỏ gục ven bờ
chợt nghe từ đáy hồn thương tích
vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa

Ới hỡi quê hương bè bạn cũ
những ai còn ai mất giữa sa mù
mất nhau từ buổi tàn xuân đó
không một tin nhà, một cánh thư!

Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
rối bời tâm sự tuyết đan tơ
một năm người có mười hai tháng
ta trọn năm dài một tháng Tư!

Chấp nhận hai đời trong một kiếp
đành theo giông bão phũ phàng đưa
đầu thai lần nữa trên trần thế
kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ!

Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
tập làm con trẻ nói ngu ngơ
vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
thân phận không bằng đứa mãng phu!

Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
cờ còn nước đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do!

Bằng hữu qua đây dăm bảy kẻ
đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
đứa nằm yên phận vui êm ấm
đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa!

Mây nước có phen còn hội ngộ
thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
đối bóng mình ta say với ta

(Seattle 1977)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tiếng Sáo
Phạm Tín An Ninh
( Huỳnh Phong chuyển bài )

Tôi đến thăm Cali vào những ngày mưa, mưa tầm tã. Đài phát thanh Little Saigon, trong chương trình dự báo thời tiết, cho biết cả tiểu bang Cali đang bị ảnh hưởng một cơn bão nhiệt đới. Nằm nhà người bạn cùng đơn vị xưa ở thành phố Garden Grove, trong khu Little Saigon, cả ngày hai thằng thi nhau kể chuyện chiến trường, chuyện bạn bè, tù tội, làm cho những cơn mưa như càng dài ra thêm.

Anh bạn rủ tôi ra Hội Trường Nhật Báo Viễn Đông tham dự buổi ra mắt sách của một nhà văn nữ. Anh tỏ ra am tường về mọi thứ chuyện, bảo ở hải ngoại thời buổi này văn chương chữ nghĩa rẻ như bèo, mà nhà văn nhà thơ thì cứ mọc lên như nấm. Đúng là người Việt nam nào cũng có đầy thơ văn trong bụng. Nhưng nhà văn hôm nay là người quen, một cô bạn học cũ, sau này anh bất ngờ gặp lại khi cô đang làm phóng viên chiến trường, nên tới để cho cô ấy vui. Chúng tôi đến trễ, may mà còn mấy chiếc ghế trống phía sau để không phải đứng. Trên sân khấu, một diễn giả, dường như cũng là một nhà văn lão thành có tiếng tăm, đang giới thiệu tác giả và tác phẩm. Lại thêm một tác phẩm nữa về chiến tranh! Cuộc chiến chấm dứt đã hơn 30 năm, nhưng bao nhiêu nỗi oan khiên dường như vẫn còn nguyên trong lòng người tha phương, như những vết thương không bao giờ lành được. Người MC rất khéo léo, khi muốn tạo một không khí gây nhiều cảm xúc trước khi nhân vật chính, nhà văn nữ, lên trình diện và tâm tình vài lời cùng cử tọa, nên chương trình được nối tiếp bằng tiết mục ngâm thơ. Bài thơ "Ngày Ta Về" của nhà thơ Tô Thùy Yên được diễn ngâm bằng giọng rất truyền cảm của nữ sĩ Bích Loan. Cá nhân tôi cũng rất thích bài thơ "Ngày Ta Về" này. Bài thơ hay mà tác giả lại là người bạn cùng tù mà tôi rất quý, nên lắng tai chú ý nghe. Cả hội trường im lặng khi tiếng sáo cất lên cao vút. Anh MC vừa giới thiệu đó là tiếng sáo của Hồ Ngọc, tiếng sáo điêu luyện, nổi tiếng của miền Nam Cali. Lời giới thiệu này quả không cường điệu chút nào. Tiếng sáo trầm bổng, réo rắt, thiết tha, như vừa du hồn tôi vào một cõi hư vô nào đó. Rõ ràng tiếng sáo đã làm cho bài thơ gây cảm xúc tột cùng trong lòng người nghe, mà hầu hết đều từng mang tâm trạng của những kẻ “ta về”. Tôi đứng lên, nhìn về hướng sân khấu.

Hồ Ngọc, người cao lớn, đầu cúi xuống, các ngón tay như đang múa trên cây sáo nhỏ, tôi chỉ nhìn thấy mái tóc hoa râm bồng bềnh. Tôi thích thổi sáo từ nhỏ, khi mê tiếng sáo Nguyễn Đình Nghĩa trong chương trình Tao Đàn của Tô Kiều Ngân trên đài phát thanh Sài gòn, vào những đêm khuya thuở trước. Sau tháng 4/75, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, dường như đây là lần đầu tiên tôi được nghe lại một tiếng sáo hay và buồn như thế.

Tiết mục ngâm thơ chấm dứt, tiếng vỗ tay như muốn vỡ cả hội trường. Tôi cúi mình đi vòng về phía sau sân khấu, tò mò nôn nóng muốn biết Hồ Ngọc và cũng muốn được bắt tay ca ngợi anh một tiếng. Vừa đúng lúc Hồ Ngọc đang cầm chai nước lọc đưa lên miệng, thì cả hai chúng tôi đều nhận ra nhau. Anh chưa kịp uống một hớp nước, kêu tên tôi và ôm chầm lấy tôi. Hồ Ngọc, là nghệ danh của Hồ Ngọc Phú Hội, người bạn thân của tôi từ thời thơ ấu. Hai thằng ở cùng làng. Nhà ông bà nội tôi cách nhà Hội chỉ một vạc ruộng, con mương và đặc biệt là những hàng tre cao, mà buổi tối những đàn có trắng thường kéo nhau về ngủ ở đây, gây chút rộn rã cho một vùng không gian tĩnh mịch và tạo những nét chấm phá trên nền xám đen của khung trời sắp tối như một bức tranh thủy mặc. Vào mùa đông, những buổi chiều gió mưa tầm tã, tôi thường đứng bên cửa sổ nhà ông bà nội, nhìn ra hàng tre với những cái đọt cao vút theo gió chao qua đảo lại mà thấy tội nghiệp và lo lắng cho những chúcò trên ấy. Cha tôi và cha của Hội là hai người bạn cùng trường thời Pháp thuộc. Sau này cả hai ông đều làm thầy giáo. Cha tôi bị Việt Minh bắt đưa ra Liên Khu 5. Hai năm sau ông được thả về với cơn bệnh sốt sét, đành phải nghỉ dạy, nên gởi tôi theo học với cha của Hội, mà trong làng và cả bọn học trò chúng tôi thường gọi ông là thầy giáo Tám.

Ông là một vị thầy nổi tiếng dạy giỏi, nhưng rất nghiêm khắc. Đám học trò nhỏ của Thầy sau này vào đại học khá nhiều, và một số rất thành công trong nhiều sự nghiệp. Trong lớp hình như đứa nào cũng từng bị đánh đòn hoặc bị phạt ở lại quét sân trường, trồng cây vào những ngày thứ bảy chủ nhật, ngoại trừ tôi. Có lần làm sai mấy bài toán tôi suýt bị tát tai, nhưng rồi Thầy kịp dừng tay lại. Có lẽ Thầy ngại làm buồn lòng cha tôi, hơn nữa lúc ấy tôi mồ côi mẹ, nên Tiếng sáo ông cũng động lòng thương. Đứa học trò bị đòn nhiều nhất lại chính là Hội, đứa con trai lớn của Thầy. Mặc dù Hội học khá giỏi, nhất là môn toán. Thầy đánh con mình để làm gương. Lúc ấy, tôi nghĩ thầm như thế và thấy rất thương Hội và tội nghiệp cho Hội. Ngược lại với Thầy, mẹ của Hội lại là một người đàn bà phúc hậu, hiền lành và rất cưng chiều con. Những ngày nghỉ, tôi thường đến nhà Hội chơi, nhưng không dám bước vào ngôi nhà trên vì sợ gặp Thầy. Bọn tôi thường chơi phía sau vườn, mẹ Hội làm vài thứ bánh mang ra cho hai đứa chúng tôi ăn. Có lần hai thằng rủ nhau đi tìm những tổ sáo, mang về nuôi hai con sáo con, giấu nó phía sau hè. Mẹ Hội giúp tìm thức ăn và chăm sóc hai chú sáo. Hội tập cho những con sáo con biết bay và biết nói. Khi hai con sáo lớn lên, nó bay theo chúng tôi, đậu trên vai, theo bọn tôi tới trường, hót líu lo, và bập bẹ vài tiếng: chào anh! chào chị! Cả đám học trò bu quanh, thèm thuồng. Có thằng còn theo năn nỉ, cho quà chúng tôi chỉ để được sờ hay ôm con sáo. Hội còn dạy cho tôi làm bẫy phía sau bờ mương, bên hàng tre, để bắt được mấy con cuốc khi tìm theo tiếng “gọi hè” của nó.

Một lần, mang con cuốc về nhà nội, bất ngờ gặp cha tôi. Ông bảo con cuốc còn được gọi là Đỗ Quyên hay Từ Quy, theo tích xưa là hóa thân của Vua Thục Đế bên Tàu, mất nước nên đã khóc đến chảy máu mắt, chết đi hóa thành con cuốc kêu lên những tiếng khắc khoải não nùng. Nghe cha tôi kể lại chuyện xưa, Hội cảm động quá, bảo tôi đem con cuốc thả lại chỗ cũ, và từ đókhông bao giờ chúng tôi bẫy những con cuốc nữa. Từ nhỏ, tôi đã phục Hội có tính nhân từ và nhiều tài, dạy cho tôi nhiều chuyện hay, mặc dù Hội nhỏ hơn tôi đến hai tuổi. Khi hết bậc tiểu học, tôi phải rời quê vào Nha Trang, vì ở đây mới có trường trung học. Nhưng chỉ vài năm sau, chúng tôi lại gặp nhau ở thành phố này. Hội ở trọ nhà một người quen trên đường Âu Cơ, khu Xóm Mới. Thỉnh thoảng vào những ngày cuối tuần, tôi đạp xe đến thăm. Có khi hai thằng rủ nhau đi “cọp” xe lửa về thăm quê và lũ bạn nhỏ ngày xưa.

Lần đầu tiên tôi gặp Hội ở nhà trọ, đúng vào lúc anh ta đang tập thổi sáo. Hội mang ra khoe tôi cây sáo trúc rất đẹp, được giữ cẩn thận trong một cái hộp bao bằng vải nhung đen, Cây sáo được ông thầy người Huế tặng cho Hội, “một cậu học trò có năng khiếu, sẽ tạo cho chiếc sáo này có một linh hồn”. Ông Thầy bảo như như thế. Mặc dù lúc ấy, tiếng sáo của Hội chưa có gì đặc sắc. Sau khi xong trung học, tôi rời Nha Trang vào Sài gòn học thêm một vài năm, rồi xếp bút nghiên vào lính. Ra trường, được bổ sung về một đơn vị tác chiến lưu động ở Cao Nguyên. Năm tháng sống chết với đồng đội, núi rừng, nên chúng tôi không có dịp gặp nhau. Sau này, trong một lần bị thương, xuất viện được vài ngày phép trước khi ra đơn vị, tôi về thăm quê nội và ghé lại thăm cha mẹ Hội. Lúc này thầy Tám không còn dạy học nữa, mà ở nhà làm chủ, cho thuê các loại nông cơ: máy cày, máy gặt. Thầy đón tiếp niềm nở, tôi không còn thấy sợ như ngày xưa. Thầy cho biết là Hội cũng đã vào lính và đang phục vụ tận dưới Vùng IV đồng bằng sông nước. Cả năm cũng chỉ về phép một đôi lần ngắn ngủi. Thấy mẹ Hội bồng một đứa bé gái chừng một, hai tuổi, tôi lấy làm lạ, hỏi bà, và được biết đó là đứa con đầu lòng của Hội. Khuôn mặt đứa bé trông giống ông nội như đúc.

Không hiểu tại sao lúc ấy tôi không hỏi gì về vợ của Hội, và tại sao bà nội lại phải nuôi đứa cháu sơ sinh. Rồi từ đó cho đến ngày 30/4/75, tôi cũng không gặp lại Hội. Cho mãi hơn tám năm sau,khi tôi trở về từ những trại tù, và chính quyền Cộng Sản không cho tạm cư cùng với vợcon ở thị trấn Ninh Hòa (quê vợ), bắt buộc phải về “quản chế” nơi sinh quán, tôi mới gặp lại Hội. Hội bị tù ở trại A30 trong Nam, và được thả về trước tôi một năm. Anh ở một mình trong căn nhà tranh nhỏ, vốn làcái kho chứa vật dụng nông nghiệp hư hỏng lâu năm của cha anh, nằm ngay trên vùng đất của ngôi trường mà ngày xưa thầy Tám dạy học. Hội kiếm sống qua ngày bằng việc làm vườn trồng rau và sửa chữa xe đạp cho khách qua đường. Chúng tôi lại trở thành đôi bạn như ngày xưa. Có điều bây giờ gần như cả hai thằng phải sống bên lề xã hội. Cứ vài ngày phải đi làm thủy lợi, sửa chữa các con đường trong xã. Tối đến phải ra trình diện công an trước khi đi ngủ. Lúc này, cha tôi đã chết trong một trại tù khác trong Nam, còn thầy Tám, cha của Hội, bị kết tội “phá hoại công cụ sản xuất” khi ông không chịu giao nạp cho chính quyền những chiếc máy nông cơ của ông, và phá tháo ra từng mảnh nhỏ, chôn giấu rải rác khắp trong vườn, nên bị cưỡng bách làm việc đo đạc cho một hợp tác xã nông nghiệp, mà tên chủ nhiệm lại chính là một thằng hoc trò rất dốt của ông ngày xưa, học đâu chỉ tới lớp nhì rồi nghỉ. Trước 75, hắn ta là lính hải thuyền đào ngũ, do tội ăn cắp chất nổ, không dám trở về đơn vị, trốn ngoài một hòn đảo nhỏ, sống bằng nghề làm rẫy và đánh cá, rồi bị móc nối theo giặc. Sau tháng 4/75, nhờ tài nịnh hót, chỉ điểm mà từ một tên du kích, hắn ta trở thành chủ nhiệm HTX có tiếng hống hách và tàn ác nhất huyện. (Sau này lên đến chức trưởng ban thương nghiệp huyện, bị tù vì tham nhũng và đã chết sau vài năm được thảra).

Một hôm, vợ chồng tôi đến thăm, bất ngờ gặp vợ và hai đứa con trai rất dễ thương của Hội. Hội cho biêt là vợ con sống ở Nha Trang, chỉ lâu lâu ra thăm một lần. Vợ Hội là một người đàn bà đẹp, có nét đài các, dù trải qua cảnh đời cơ cực, nhưng nhan sắc không mấy tàn phai. Thấy vợ chồng con cái đoàn tụ, hạnh phúc, tôi mừng cho Hội. Chúng tôi cùng làm thịt con gà do vợ Hội mang về, hái rau thơm trồng sẵn sau vườn, ăn một bữa cơm chung “thịnh soạn”. Chỉ hai hôm sau, vợ con Hội lại trở về thành phố. Sau khi đưa vợ con lên xe đò, Hội theo chúng tôi về nhà ông bà nội tôi, nơi tôi đang “tạm trú”. Thấy anh không vào nhà ngay, mà đứng nhìn trời buồn bã, vợ tôi đùa:
- Mới đưa người đẹp đi mà lại nhớ rồi hay sao đây? Hội cười, nhưng nét buồn vẫn còn nguyên trên mặt. Buổi trưa hôm ấy, ba chúng tôi ngồi uống trà tâm tình dưới gốc cây xoài già, nơi ngày xưa tôi và cô Út thường ngồi đọc truyện cho bà nội tôi nghe. Khi vợ tôi hỏi vìsao mà vợ Hội không ở lại với anh nhiều hơn, Hội buồn bã trả lời:
- Bà phải về trông con, vì bà còn một đứa con gái nhỏ ở nhà. Nhưng nó không phải là con của tôi. Bất ngờ nghe qua điều này, vợ chồng tôi biết đây là một câu chuyện buồn.

Thấy chúng tôi trầm ngâm im lặng, Hội kể cho chúng tôi nghe về cuộc tình đẹp, nhưng trắc trở trong hôn nhân và những biến cố đau buồn của vợ chồng anh. Trước khi vào lính, nhờ trình độ Anh văn khávà lý lịch tốt, Hội được nhận vào làm thông dịch viên cho Cơ quan Mỹ phụ trách Chiến Dịch Phượng Hoàng tại một tỉnh Cao Nguyên. Với công việc này, anh có nhiều dịp gặp gỡông Phó ty Cảnh sát, và được ông nhờ anh, cứ ba buổi tối trong tuần, đến nhà dạy kèm cho cô con gái môn Anh văn và toán. Cô bé đang học lớp đệ ngũ. Hội cao lớn, đẹp trai, lại đàn hát hay, nhưng không phải vì thế mà chỉ mới hai tuần cô học trònhỏ đã “ái mộ” ông thầy. Sau này cô bé cho biết cô mê ông thầy chính vìtiếng sáo, “tiếng sáo ru hồn người ta”- lời cô bé nói. Cô bé rất xinh, có cái tên hơi kiếm hiệp “HàThị Triệu Minh”. Có thể ngày xưa phụ thân cô thích đọc chuyện chưởng và ái mộ nhân vật Triệu Minh? Dường như khi biết yêu thì các cô con gái “trổ mã”, lớn nhanh hơn và đẹp ra nhiều hơn. Chỉ một năm sau, khi lên lớp đệ tứ, Triệu Minh là hoa khôi trong đám nữ sinh trong tỉnh. Những ngày nghỉ học, cô học trò Triệu Minh nói dối mẹ, đi học nhóm, làm báo tường, tập hát với các bạn cùng lớp, nhưng thực ra là hẹn hò và dung dăng dung dẻ với ông gia sư trẻ. Trong thành phố này, góc núi, bờ sông, khu vườn, khe đá nào thơ mộng đều có in dấu chân, nghe lời tình tự, chứng kiến lời thề non hẹn biển của hai người.

Và tất nhiên ở những nơi ấy cũng còn cả dư âm “tiếng sáo ru hồn người ta” nữa. Khi cuộc tình của hai người đến thời kỳ say đắm nhất, cũng là lúc ông Phó Ty được các thám tử báo cáo tình hình. Có đứa con gái cưng xinh nhất tỉnh, không thể nào ông chịu để làm người tình với một chàng lãng tử, mà lương thông dịch chỉ ba cọc ba đồng. Ông bèn nhốt cô con gái trong nhà, mỗi lần đi học đều có người hộ tống. Ông xách súng đi tìm Hội, và bắn tiếng là sẽ không để yên, nếu Hội không chấm dứt với Triệu Minh và rời khỏi Cao Nguyên. Triệu Minh biết rõ tính khí của cha mình, nên nhờ một cô bạn thân tìm Hội, trao cho anh mảnh giấy, bảo Hội phải ra đi ngay và hẹn thề sẽ tìm gặp lại ở một nơi nào đó sau này, không ai biết. Mọi liên lạc đều qua trung gian của cô bạn học chí thân này.

Nghe lời Triệu Minh, Hội xin chấm dứt ngay hợp đồng làm việc, theo máy bay Mỹ rời khỏi Cao Nguyên và sau đó xin vào trường Thủ Đức, mà trước đây Hội tạm thời được hoãn động viên nhờ Cơ quan DAO can thiệp. Ra trường, Hội xin về phục vụ tại Tiểu Khu An Xuyên, tỉnh cực nam của đất nước và xa cách muôn trùng với Cao Nguyên. Trong suốt thời gian này, hai người vẫn liên lạc nhau, qua cô bạn trung gian. Mỗi tuần Hội đều nhận được một lá thư ướt đẫm nước mắt của Triệu Minh. Cuối cùng, Triệu Minh giữ lời thệ ước, sau khi thi đỗ tú tài, vờ vào Sài gòn xin vào đại học, rồi trốn cha mẹ, xuống Cà Mau sống với Hội.

Sau khi sinh đứa con gái đầu lòng, Triệu Minh viết thư thú tội với cha mẹ, bảo là mình đã chọn đúng người chồng xứng đáng để yêu thương và sẽ cùng nhau tự lực xây dựng hạnh phúc gia đình, không hề xin mẹ cha bất cứ điều gì, ngoài sự cảm thông và bao dung tha thứ. Triệu Minh nghĩ là dù sao ván cũng đã đóng thuyền, hơn nữa mình cũng đã sinh cho cha mẹ một đứa cháu ngoại, chắc chắn ông bà sẽ động lòng thương và chấp nhận cuộc hôn nhân. Nhưng cô đã lầm. Ông bà xuống tận nơi, xỉ vả Hội và Triệu Minh một trận, bắt phải tìm người cho đứa bé sơ sinh và Triệu Minh theo ông bà trở lại Cao Nguyên. Triệu Minh nhanh trí, cầu cứu cô bạn thân đến nhận trách nhiệm bồng đứa con cho bà cô ruột hiếm muộn ở Sàigòn, nhưng kỳ thực là giao cho mẹ của Hội, từ quê vào đóng vai cô của người bạn quý này. Đó là lý do vì sao cô con gái đầu lòng của Hội sống ở nhà ông bà nội từ lúc sơ sinh, cho mãi đến sau này. Con bé không muốn về với cha mẹ nữa. Cuộc tình lại một lần nữa chia ly.
Triệu Minh bị bắt buộc lên xe về Cao Nguyên cùng cha mẹ. Một thời gian sau, có lẽ vì đau buồn quá, Triệu Minh trải qua một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Gia đình phải đưa vào Sài gòn điều trị, nhưng bệnh tình ngày thêm trầm trọng, Triệu Minh ngày một tàntạ hơn. Cô đòi được gặp Hội một lần. Lời thỉnh cầu được ba cô chấp nhận, như là ân huệ cuối cùng cho một tử tội. Không ngờ sau khi gặp lại Hội, Triệu Minh bỗng khỏe lại. Chẳng hiểu vì động lòng trước mãnh lực của tình yêu hay là lo lắng sự sống còn của cô con gái, ông Phó Ty hứa sẽ cho làm đám cưới sau khi Triệu Minh bình phục. “Câu chuyện thật của tôi mà nghe sao giống như những chuyện tình buồn trong tiểu thuyết!”- lời Hội nói.

Lần này, ông bà giữ lời hứa. Nhưng người từ chối lại là ông thầy Tám, cha của Hội. Ông vừa tự ái, vừa phẫn nộ cung cách hành xử của cha mẹ Triệu Minh. Cuối cùng, vì thương con trai mình, và lòng thủy chung của Triệu Minh, ông chấp nhận cuộc hôn nhân, nhưng cả hai ông bà đều không có mặt trong ngày đám cưới. Đại diện họ nhà trai hôm ấy lại chính là cha mẹ của cô bạn quý của Triệu Minh. Sau đám cưới, cha của Triệu Minh dự định nhờ vào sự quen biết, xin kéo Hội về ngành Cảnh Sát và làm việc với ông. Lúc này ông không còn làm Phó ty mà đã nhận mộtnhiệm vụ khác và chuyển xuống làm việc ở thành phố Nha Trang. Nhưng Hội nhất quyết khước từ. Hơn nữa, nhờ có trình độ Anh văn và một số kinh nghiệm trong thời gian làm việc trong Chiến Dịch Phượng Hoàng, Hội vừa được chọn theo học một khóa tình báo ở Cây Mai. Sau khi mãn khóa được điều về một cơ quan tình báo ở Quân Đoàn IV, làm việc tại tỉnh lỵ Cần Thơ. Trong một căn nhà nhỏ thuê bên bờ sông thơ mộng, vợ chồng Hội thực sự sống những ngày hạnh phúc. Hai đứa con trai khôi ngô lần lượt ra đời ở đó. Cuối năm 74, cha của Triệu Minh lại được chuyển ra Vùng I nhận một chức vụ mới. Ông đi trước một mình, để gia đình vẫn ở lại Nha Trang, ông sẽ thu xếp đi sau. Nhưng chỉ hơn ba tháng sau, ngày 10 tháng 3/75, Ban Mê Thuột mất vào tay giặc, các tỉnh Kontum, Pleiku, có lệnh di tản, tái phối trí chiến thuật. Rồi tướng Ngô Quang Trưởng đau đớn nhận lệnh bỏ cả Vùng 1 trong tức tưởi. Cha của Triệu Minh liên lạc vợ con cho biết ông đang tìm phương tiện di tản, bảo cả nhà chờ ông.


Nhưng rồi họ không bao giờ còn gặp lại ông nữa. Ông được ghi nhận đã mất tích. Sau ngày mất nước, Hội đưa vợ và hai con từ CầnThơ về Nha Trang, tạm sống chung với gia đình vợ. Hội vào tù khi cả nhà được tin cha Triệu Minh đã chết ở bờ biển Thuận An, do mấy anh cảnh sát cộng sự với ông cho biết, nhưng không ai biết xác thân ông bị vùi lấp ở đâu cùng với mấy ngàn người bất hạnh khác. Khi tổ chức vươt biển cùng mấy người bạn tù, tôi có báo cho Hội biết, và vì chiếc ghe quá nhỏ, nên Hội chỉ có thể đi một mình, hay nhiều lắm là với một đứa con. Sau nhiều ngày suy nghĩ, cuối cùng Hội đã từ chối. Anh bảo là dù sao, anh cũng không thể bỏ vợ con ở lại được. Sau gần một năm ở các trại tị nạn Singapore rồi Bataan/Phi Luật Tân, gia đình tôi được sang định cư ở Na-Uy. Khoảng hai năm sau, tôi bất ngờ nhận lá thư từ đảo Palawan, phía sau trên bì thư, ghi tên người gởi là Hà Thị Triêu Minh. Cái tên dễ nhớ. Nội dung chỉ báo là mẹ con đã vượt biển và đến được Palawan, đang chờ thanh lọc, cần sự giúp đỡ của chúng tôi trong thời gian mẹ con phải sống ở đảo.

Biết chính xác đây là vợ con Hội, tôi băn khoăn không biết vì sao Hội lại không viết thư cho tôi mà lại là vợ. Hay là vì một bất hạnh nào đó mà Hội không đến được đất liền. Trong thư không hề nghe nói tới Hội. Tôi liền ra ngân hàng gởi 300 đô la và viết lá thư ngắn, mừng mẹ con Triệu Minh đến đảo và hỏi có Hội cùng đi không, tại sao không thấy nhắc đến trong thư? Hơn một tháng sau tôi nhận thư hồi âm. Trong gần hai trang giấy, Triệu Minh kể không biết bao nhiêu tội của Hội. Nào là ngoại tình với vợ của người ta, trở lại với cô bồ cũ, lấy tiền bạc từ mồ hôi nước mắt của vợ con để bài bạc, nhậu nhẹt say sưa cả ngày, không hề có trách nhiệm gì với mấy đứa con, nên ở lại không chịu cùng đi! Tôi khá ngạc nhiên, vì biết tính nết Hội từ thời ấu thơ cho đến hết trung học, và gần gũi Hội cả một năm sau khi hai đứa ở tù về. Cho dù nếu có buồn phiền, hay bất mãn cuộc đời đến đâu, Hội sẽ không làm như thế. Từ nhỏ, Hội là một người được sự giáo dục của cha, một vị thầy giáo nghiêm khắc. Sau này, dù trong hoàn cảnh nào, Hội vẫn luôn trọng danh dự và giữ tư cách của mình.

Tôi liên lạc với đám bạn thân còn ở Việt Nam. Tất cả đều nói về Hội với những điều ngược lại. Họ còn bảo “nếu có một người không bao giờ đi tu mà thành Phật, thì đó chính là thằng Hội”. Tôi gởi thêm cho Triệu Minh một số tiền nữa, vì nghĩ tới hai đứa con của Hội, nhưng không nhận được hồi âm. Sau này tôi được tin Hội đã sang Mỹ theo diện HO-10, nhưng không ai biết Hội ở đâu. Mấy năm sau, vào một mùa hè, vợ chồng tôi sang Florida dự đám cưới con trai của anh bạn chí thân, cùng đơn vị lúc xưa và sau tháng 4/75 lại là bạn cùng tù. Chị vợ của anh là một trong hai cô con gái của ông bà chủ nhà ở một quận lỵ, mà trước kia, lúc còn là hai thằng lính trẻ, chúng tôi đã đóng quân trong vườn nhà. Chúng tôi thân thiết và thương mến nhau còn hơn cả anh em, nên khi được anh chị báo tin làm đám cưới cho con, nhân cơ hội này, muốn họp mặt bạn bè của hai người sau bao nhiêu năm lưu lạc, vợ chồng tôi bay sang Florida ngay. Đích thân anh chị đón chúng tôi ở phi trường. Anh em bao nhiêu năm gặp lại nhau, chúng tôi ôm lấy nhau mà nước mắt trào ra lúc nào không biết. Về nhà, khách khứa đã khá đông. Bên phía đàn ông, hầu hết những người bạn cùng đơn vị cũ, còn cánh đàn bà, đa số là bạn học của chị vợ. Đang giới thiệu, bắt tay hỏi chào vui vẻ, tôi nghe chị vợ nói với mấy cô bạn:
- Bây giờ, bọn mày ở nhà chơi, tao ra phi trường đón con nhỏ Triệu Minh.

Nghe hai tiếng Triệu Minh, tôi và bà xã giật mình nhìn nhau. Cái tên vừa hiếm hoi dễ nhớ, vừa còn lại trong ký ức chúng tôi, với đôi điều khó hiểu. Cả vợ chồng tôi tò mò, nôn nao chờ đợi trong hơn 30 phút. Quả nhiên, người khách đàn bà vừa bước vô nhà chính là Hà Thị Triệu Minh tuy bây giờ ốm hơn và nhan sắc có tàn phai. Để chắc chắn, tôi hỏi nhỏ chị bạn:
- Có phải Triệu Minh này trước có ông già làm lớn bên Cảnh sát?
- Đúng rồi, dường như nó có chồng ở Nha Trang với ông đó, nhưng thằng chồng nó bồ bịch lôi thôi quá nên nó bỏ lâu rồi!
Nghe chị nói, tôi có chút bực mình, nhưng chỉ cau mày, không nói. Chị dắt Triệu Minh đến. Cô không nhận ra chúng tôi. Sau khi được chúng tôi giới thiệu về mình, Triệu Minh nắm tay mừng rỡ, nhưng trong đôi mắt vẫn u buồn và có điều gì đó không mấy tự nhiên. Triệu Minh cám ơn chúng tôi đã gởi biếu tiền cho mẹ con cô khi còn ở đảo Palawan. Cô cho biết mẹ con đang định cư ở thành phố Salt Lake City, thuộc tiểu bang Utah, đứa con đầu vừa mới vào đại học. Chúng tôi chúc mừng cô và hỏi tin tức về Hội, Cô khựng lại giây lát rồi cúi xuống, trả lời:
- Nghĩ tình cha của mấy đứa nhỏ, em bảo lãnh anh ấy về ở với mẹ con em, nhưng cũng với cái tánh trai gái rượu chè, chẳng lo lắng gì cho con, nên em tống ra khỏi nhà. Nghe nói bây giờ đang ở đâu đó dưới Cali!

Tôi ngỏ ý xin địa chỉ hay là số điện thoại của Hội, nhưng cô ta bảo đã không còn liên lạc từ lâu lắm. Và đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi gặp Triêu Minh.

Hôm nay, gần hai mươi năm sau, tôi bất ngờ gặp lại Hội. Không ngờ bây giờ tiếng sáo của Hội hay đến mê hồn người như vậy. Buổi ra mắt sách chưa chấm dứt, Hội bảo tôi ra xe để Hội đưa về nhà. Anh em xa cách bao nhiêu năm, giờ gặp lại sẽ có biết bao nhiêu điều để nói. Tôi dắt tay Hội đến giới thiệu với người bạn, và bảo Hội cho anh ta địa chỉ để nhờ anh đến đón tôi trước tám giờ tối, vì Hội cho biết phải đi làm ca đêm. Hội ở trong một garage thuê của một người quen ở thành phố Anaheim. Cái garage được sửa sang lại, đủ để một cái giường nhỏ và một cái bàn. Tất cả phần còn lại, là một phòng thu âm nhỏ, với một số máy móc. Hội bảo đây là nơi thu âm tiếng sáo của Hội đệm cho những giọng ngâm, giọng ca của bạn bè văn nghệ. Đặc biệt có nhiều ca sĩ nổi danh từng ra vô cái garage chật hẹp, nghèo hèn này. Thấy trên tường có tấm ảnh của một cô gái phóng lớn. Trông đẹp và quí phái. Mới nhìn, tôi tưởng một cô ca sĩ nào đó, nên hỏi Hội. Anh cười không trả lời mà hỏi lại tôi:
- Bạn không còn nhớ là ai đó hay sao?
Thấy tôi chau mày suy nghĩ, Hội bảo:
- Là Triệu Minh đó, lúc còn con gái, trước khi tụi này làm đám cưới!
Tôi à lên một tiếng rồi cười trêu Hội:
- Coi bộ vẫn còn yêu nàng hay sao mà treo ảnhnàng trang trọng thế?
Hỏi câu ấy, tôi không ngờ vô tình chạm tới vết thương trong lòng Hội. Anh tắt mất nụ cười, buồn bã:

- Sau khi mình vào tù hơn một năm, thì Triệu Minh có con với tên thiếu tá công an VC ở Nha Trang. Cha mẹ mình biết rõ điều này. Mặc dù Minh cho biết là trong một chuyến đi buôn cà phê, cô ta bị bắt và cả một bọn công an gài bẫy để phải uống thuốc mê cho gã thiếu tá trưởng đồn cưỡng hiếp, vì hắn ta quá mê mệt trước nhan sắc của nàng. Trước hoàn cảnh này, ba mẹ mình dù rất đau lòng nhưng cũng đành phải im lặng, khóc thầm. Những tưởng đến đó cũng đủ làm cho mọi người thấm thía tận cùng đau đớn, nhưng rồi tên thiếu tá công an không từ bỏ dục vọng. Hắn ta càng mê Triệu Minh hơn. Quyết định ly hôn với bà vợ quê mùa còn ngoài Hà Nội, và chiếm đoạt Minh vĩnh viễn cho mình. Hắn ta bỏ một số tiền lớn cho Triệu Minh mở sạp buôn khá lớn ở chợ Đầm. Vừa dùng quyền lực gian manh, vùa tung tiền tham nhũng được, sau một thời gian quỳ mọp dưới chân nàng, hắn ta gần đạt được mục đích. Ba mẹ mình biết được điều này. Mẹ mình thì hiền lành chỉ khóc, nhưng Ba mình thì đến thẳng nhà đòi bắt hai thằng cháu nội và dứt khoát từ Minh, không chấp nhận nàng là con dâu nữa. Riêng đứa con gái lớn được cha mẹ mình nuôi từ lúc mới sinh, từ chối về với mẹ mà xin được ở luôn với ông bà nội nó. Đúng thời điểm bi đát ấy, thì mình được ra tù. Khi được ba mình kể lại mọi điều, lòng mình đau đớn lắm, nhưng dù sao cũng còn mấy đứa con chung, và nhất là trong lòng mình vẫn còn in đậm hình ảnh của Triệu Minh trong những ngày nàng sống chết để được làm vợ mình. Mình xin cha mẹ mình tha thứ cho nàng, nếu từ nay nàng dứt khoát rời bỏ tên công an vô lại. Tranh luận thật nhiều, cuối cùng vì hai đứa cháu nội, ông đồng ý cho mình gặp lại Triệu Minh, nhưng nàng không được phép đến nhà ông. Chính vì vậy mà ông cho mình ra ở căn nhà kho, mà ngày xưa vợ chồng bạn có đến thăm.

Tôi nôn nao, ngắt lời Hội:
- Rồi sau đó Minh có dứt khoát với hắn ta không?
Hội buồn bã trả lời:
- Minh nói là không hề yêu hắn ta, ban đầu còn thù ghét hắn, nhưng dần dà từ tội nghiệp rồi đến thương hại khi thấy hắn ta quá si mê mình. Hắn bảo sẵn sàng bỏ đảng, bỏ ngành, bỏ mọi chức tước để chỉ được nàng. Hơn nữa dù sao hắn ta với nàng cũng đã có một đứa con gái. Minh thường bảo cái trợt chân ấy đã đưa cuộc đời nàng đi đến một ngã rẽ quá xa, khó mà đứng lên lại được. Hắn còn đòi được gặp mình để xin mình ký giấy ly dị, giao Minh cho hắn. Hắn bảo đảm sẽ lo cho Minh và cả mấy đứa con của mình được sung sướng.
- Rồi bạn có gặp hắn ta?
- Không! Dù cái tì vết quá lớn, nhưng mình không thể để mất Minh. Mình sẵn sàng bỏ qua hết mọi chuyện, làm khai sinh cho đứa con gái riêng của Minh là con ruột của mình, khuyên Minh nên trả tiền bạc tài sản lại cho hắn ta, và trả hắn ta về cho vợ con của hắn, đang khốn khổ ở Hà Nội. Nhưng khi Minh đến gặp hắn để nói lại điều này, hắn trở giọng hăm dọa, bảo là sẽ cho đàn em bắt mình vào tù trở lại, hay sẽ tìm cách thủ tiêu mình, làm Minh càng thêm lo sợ tai ương sẽ ụp xuống trên đầu mình. Sau đó lòng mình luôn bất an, không tin là trong hoàn cảnh khó khăn, Triệu Minh có thể dễ dàng trút bỏ mọi sợ hãi và cám dỗ tiền bạc để về sống với mình, bây giờ chỉ còn hai bàn tay trắng, nên mình đi chạy vạy vay mượn bà con bè bạn ít tiền, hùn hạp làm đìa nuôi tôm để vợ chồng cùng làm ăn, sinh sống. Nhưng đúng vào lúc đó, thì Minh và gia đình nàng xảy ra tai họa. Bà vợ Bắc kỳ của tên thiếu tá công an từ ngoài Hà Nội vào, dẫn theo một đám xã hội đen, chuyên đâm thuê chém mướn, đến tận sạp buôn của Minh đập phá, đánh đập Minh tàn nhẫn, lột cả áo quần và cắt hết tóc. Đã vậy còn lôi về nhà mẹ Minh hành hung, và bắt buộc trong vòng một tuần, tất cả mọi người phải biến khỏi thành phố này, đi đến một nơi nào đó thật xa, không ai được biết, nếu không sẽ lãnh tai họa.

Triêu Minh bán gấp nhà cửa và tất cả đồ đạc, cùng cả nhà chạy vào nhà bà dì ở Rạch Giá và tìm mối vượt biển sau đó. Hơn một tuần sau, mình dắt đứa con gái lớn vào thăm, ngôi nhà đã đổi chủ, và chẳng biết mẹ con Minh và gia đình nàng đã đi đâu.
- Như vậy tại sao sau này Triêu Minh lại đối xử tàn tệ và đi nói xấu về bạn?
Tôi thắc mắc.
- Ban đầu chính mình cũng không hiểu. Dần dà mình nghĩ là Triệu Minh tìm mọi cách để làm mình phải xa lánh mẹ con Minh. Có thể từ mặc cảm tội lỗi, nhưng muốn giữ thể diện với bạn bè, và nhất là với các đứa con ngày càng khôn lớn, nên nàng đã đổ hết bao nhiêu tội lỗi lên đầu mình. Khi nàng và gia đình vượt biển đến được đảo Palawan, đúng vào thời kỳ Cao Ủy Tị Nạn LHQ đóng cửa các trại, tất cả đều phải qua thanh lọc. Mẹ con Minh và cả gia đình đều bị từ chối vì chẳng có giấy tờ gì chứng minh là vợ con của sĩ quan VNCH, lúc ấy Minh mới viết lá thư gởi về cầu cứu mình, Cha mẹ mình và tất cả bạn bè ai cũng can ngăn, nhưng mình đã âm thầm làm bản sao Giấy Ra Trại và gởi gấp cho nàng. Nhờ có tấm giấy này của mình mà cả nhà mới được đến Mỹ.
- Vậy tại sao khi bạn đi HO đến Mỹ, lại không ở với mẹ con nàng. Chính cô ta bảo là đã tống bạn ra khỏi nhà?
Hội cười hiền lành, như chẳng có điều gì phiền muộn:
- Thực ra cô ấy không hề xô đuổi mình. Lo lắng và chăm sóc mình, nhưng luôn tìm cách lẫn tránh mình. Xa lạ đến lạnh lùng. Nhiều lần mình nghe tiếng nàng khóc. Và không biết ba đứa con, hai đứa của mình và một đứa con riêng của cô ta, bị ảnh hưởng thế nào, nhìn mình như một người xa lạ. Trong nhà không bao giờ nghe được tiếng cười. Mình có cảm giác như địa ngục. Hơn ba tháng, dù với tất cả nhẫn nhịn, chiều chuộng, cuối cùng mình đành phải bất lực ra đi, với hy vọng trả lại niềm vui và không khí gia đình cho mấy mẹ con nàng. Trong ba tháng ấy, chỉ có cậu em của cô ta thường gần gũi tâm sự với mình. Chính cậu ta đã kể lại tất cả những gì đã xảy ra. Hôm tiễn mình lên xe về đất Cali này, cậu đã trao lại cho mình một số tiền và lá thư của Triệu Minh nhờ chuyển cho mình. Lá thư chỉ là tấm giấy nhỏ, ghi vỏn vẹn một dòng: “Xin hãy tha thứ cho em, và xem như Triệu Minh đã chết từ lâu rồi, không còn trên trần gian này nữa”. Và đến nay cậu ấy là người duy nhất giữ liên lạc với mình, luôn tỏ ra kính mến mình.
- Sau này, Hội có dịp nào gặp lại Triêu Minh hay hai đứa con trai của Hội?
- Có một lần, khi thằng con trai lớn làm đám cưới, mình có nhận được thiệp báo tin và thiệp mời. Mình cũng vui mừng lắm, dù đọc trong thiệp báo tin, không thấy có tên mình, mà chỉ có tên mẹ nó. Mình vội vàng đi mua một bộ đồ veston mới, mượn trước một số lương, để bay lên mừng con, và cũng có dịp gặp lại Triệu Minh. Nhưng buổi tối trước ngày đi, thằng con lại gọi phôn (ông cậu cho nó số phôn), bảo là mình không nên lên, vì cái thư mời là do cậu nó bảo nó gởi, chứ không có ý kiến của mẹ. Nếu mình muốn đi, thì phải gọi xin phép mẹ nó. Nhưng rồi nó lại hạ giọng: “Con không có chút hy vọng gì là má sẽ OK!”. Cuối cùng đành phải bỏ chiếc vé máy bay. Mình buồn, nhưng không trách Triệu Minh. Rồi mới đây, bất ngờ lại gặp thằng em của nó. Nghe nói cũng tốt nghiệp kỹ sư hàng không và đang làm cho hãng Continental. Nó sắp cưới vợ, nên rủ con vợ tương lai đi chơi một vòng ở Las Vegas, rồi sau đó ghé lại Little Saigon mua một ít nữ trang và vật dụng dành cho ngày cưới. Nó gọi phôn hẹn gặp mình phía trước Phước Lộc Thọ. Mình mừng lắm, quên hết mọi chuyện, chỉ mong gặp lại thằng con ruột thịt, để xem bây giờ mặt mũi nó ra sao.

Tôi lái xe đến gặp nó và vị hôn thê. Cô dâu chào bắt tay tôi vui vẻ, nhưng thằng con thì nhìn tôi dửng dưng xa lạ. Tôi thoáng buồn nhưng kịp trấn tĩnh, vì nghĩ là từ lúc mới sinh ra cho đến bây giờ, nó có sống với tôi bao lâu đâu. Mời hai đứa đi ăn, nó từ chối, bảo chỉ cần uống nước. Chúng tôi ngồi tạm trong cái quán nhỏ bên trong Phước Lộc Thọ. Nó bảo là tụi nó sẽ làm đám cưới vào hai tuần tới tại Maryland. Trước khi đi cậu nó cho số phôn của tôi và dặn nó nhờ tìm gặp tôi khi ghé lại Little Saigon. Uống nước xong, nó đứng dậy móc bóp cho tôi tờ giấy 100 đô la. Con bồ của nó nói một tràng tiếng Mỹ, tôi hiểu là “tại sao lâu ngày mày gặp lại daddy của mày mà mày chỉ cho có 100!”. Nó móc bóp lấy thêm tờ 50 đưa cho tôi. Tôi ngượng ngùng, định từ chối, nhưng rồi sợ nó buồn, hơn nữa nghĩ tới đứa con gái lớn, là chị ruột của nó, đang sống thiếu thốn ở nhà ông bà nội bên Việt Nam, tôi nhét vào túi áo, nói cám ơn hai đứa. Sau đó tôi bảo nó chờ vài phút, rồi chạy đến tiệm hoa gần đó mua một bó huệ trắng. Quay lại, tôi xúc động nói với hai đứa: "Nhà ba ở rất gần đây, chạy xe chỉ chừng bảy, tám phút. Ông nội con vừa mất, hôm nay là 49 ngày. Lúc con còn nhỏ, ông nội rất thương con. Bây giờ hai đứa con có mặt ở đây lại sắp làm đám cưới, ba muốn hai con ghé lại thắp cho ông nội cây nhang. Ở nơi chín suối, chắc ông vui lắm”. Con bồ nhìn nó gật đầu, nhưng tôi rất bất ngờ và hụt hẫng khi nghe nó nói: “Để lần khác, hôm nay con không có nhiều thì giờ!”

Kể xong câu chuyện khá dài, Hội vẫn dửng dưng nhìn lên trần nhà như đang tìm kiếm một vật gì, trong lúc lòng tôi đau như dao cắt. Để cho Hội trầm ngâm một lúc, tôi lên tiếng:
- Tôi tội nghiệp bạn, nhưng không hiểu được bạn. Tại sao trước một nỗi đau như thế mà nhìn bạn vẫn thấy bạn thản nhiên, có khi còn cười nữa, cứ như không?
Hội nắm tay tôi, xuống giọng:
- Mình đã quen rồi. Hơn nữa cả dân tộc đều tan tác bi thương qua cuộc thăng trầm quá lớn ấy, nỗi đau của mỗi một chúng ta đâu còn có nghĩa gì. Tất cả chỉ đáng thương hơn là đáng trách!
Tôi nhìn Hội, lắc đầu:
- Nhưng ít nhất, bạn cũng phải giải thích, nói lên sự thực, để mấy đứa con của bạn nó hiểu chứ. Chẳng lẽ cứ để các cháu cứ nghĩ xấu về bạn, thờ ơ, đối xử tệ bạc với cha của nó mãi như vậy hay sao?
Im lặng một lúc, Hội lên tiếng:
- Thôi, chuyện đã như vậy rồi. Vả lại dù sao mẹ chúng nó cũng đã chịu đựng bao nhiêu khổ cực đắng cay để nuôi nấng bọn nó từ thuở còn tấm bé, đến bây giờ đã thành đạt, nên người. Đó chẳng phải là điều mà những người cha bất hạnh như bọn mình mong ước hay sao? Tốt nhất là hãy để chúng nó luôn nghĩ tốt và hết lòng kính trọng, yêu thương mẹ nó!
Nhớ tới lời mấy thằng bạn còn ở quê nhà, tôi buột miệng:
- Hèn gì đám bạn bè bảo là bạn không hề đi tu mà đã đắc đạo rồi.
Hội nở một nụ cười, nhưng không trọn, rồi như mới nhớ ra điều gì, anh kể tiếp:
- Cách nay vài tháng, Triệu Minh có dắt đứa con gái riêng về Việt Nam để gặp cha ruột của nó. Nghe nói hắn ta cũng đã tìm cách móc nối tổ chức vượt biển sau ngày Minh đến đảo Palawan, nhưng bị bắt vào tù, mất hết đảng tịch và bị sa thải khỏi ngành công an. Sau đó làm nhân viên bảo vệ cho một khách sạn nào đó ngoài Hội An, Đà Nẵng, nhưng đang bị bệnh rất nặng. Ung thư phổi thời kỳ cuối.
- Như vậy Triệu Minh vẫn còn nghĩ đến hắn ta?
Trầm ngâm một lúc, Hội lên tiếng:
- Cô ta làm thế cũng phải. Dù gì cũng là tình phụ tử mà. Hơn nữa cũng vì nàng mà hắn ta mới ra nông nỗi. Sau đó cô ta có về quê mình thăm đứa con gái đầu lòng. Từ lúc mới sinh cho đến bây giờ nó vẫn ở nhà ông bà nội. Nối nghiệp ông nội: dạy học, và đã có chồng con. Nó là đứa con duy nhất hiểu rõ chuyện của mình với mẹ nó, nên thường viết thư, gọi điện thoại hỏi han an ủi mình. Mấy lần nó phản đối mẹ nó và có ý định nói hết sự thực cho hai đứa em nó biết, nhưng mẹ nó năn nỉ và chính mình cũng can ngăn. Tôi bảo nó nên hiểu và thương mẹ nó. “Vì một mình phải nuôi dạy các con lớn lên ở quê người, mẹ cần sự kính trọng và vâng lời của các em con, mà đành phải đổ hết tội lên đầu ba. Ba nghĩ làm như vậy, chắc mẹ con cũng đau lòng ghê lắm. Người cần yêu thương và an ủi, chính là mẹ của con, chứ không phải là ba”.
- Vậy mẹ nó có tâm sự gì với nó về bạn hay không?
Tôi tò mò hỏi.
- Cháu có bảo là mẹ nó cũng ân hận lắm. Bà cũng nhớ tôi và mặc cảm tội lỗi quá lớn, khi ít nhiều gì cũng đã phản bội tôi mà còn phải nói với mọi người và nhất là với các con những điều xấu xa không đúng về tôi. Bà thường nhờ con gái chở bà ra nghĩa trang thắp hương trước mộ cha mẹ tôi và ngồi khóc sụt sùi. Nhiều lần bà có ý định đi tìm tôi, xin tha lỗi và trở lại với nhau, nhất là sau khi các con đã lớn và ra sống riêng, bà cô đơn một mình. Nhưng rồi bà không đủ can đảm, khi nghĩ là tất cả mọi thứ đều đã vượt quá xa giới hạn của nó rồi. Bà bảo, “Chiếc bình cổ đã vỡ tan tành, không thể nào có thể hàn gắn từ những mảnh vụn, mà một số cũng đã mất mát rơi rớt theo thời gian”. Bà có ý định về lại Viêt Nam, sau khi cô con gái út lấy chồng. Sẽ quy y, tu ở một ngôi chùa trên Cao Nguyên. Nơi mà ngày xưa, lúc gặp phong ba trắc trở trong tình yêu với mình, bà đã đến đó để cầu xin và thệ ước.
Tôi hơi bất ngờ và thoáng một chút ngậm ngùi:
- Dù sao cũng tội nghiệp! Tất cả cũng chỉ là hệlụy từ một cuộc chiến phi lý mà đám người thắng trận lại là một lũ bất lương. Tôi nghĩ bạn nên tìm gặp nàng, nói một câu thứ tha cho nhẹ lòng. Không phải nhẹ lòng cho riêng nàng mà cho chính cả bạn nữa. Và nếu được, thì sống lại với nhau, coi như đôi bạn trong tuổi già.
Hội cúi xuống, đôi mắt dường như nhắm lại. Suy nghĩ một lúc rồi hạ giọng:
- Mình đã nhờ đứa con gái nói với nàng điều ấy. Nhưng nàng chưa muốn gặp mình, chỉ xin cám ơn và khuyên mình hãy cố quên đi tất cả. Nàng bảo: ”Đời là bể khổ. Giờ đã cuối đời thì vướng bận thêm nữa mà làm gì”. Cả đứa con gái của mình cũng đồng tình. Cháu bảo “con thấy như thế vẫn hay hơn, chứ mỗi ngày ba má nhìn thấy nhau, dễ nhớ lại chuyện xưa rồi cũng chỉ buồn khổ hơn thôi!”
Nghe Hội nhắc tới cô con gái còn ở quê nhà, tôi hỏi:
- Sao bạn không bảo lãnh gia đình cháu gái lớn sang Mỹ sống với bạn cho vui?
Hội lắc đầu:
- Vợ chồng nó không muốn. Dường như nó ngại phải chọn ở với cha hay với mẹ. Vậy cũng hay. Chứ sang đây nó thấy mình cơ cực lại buồn thêm. Còn mình, khi nào rảnh rỗi, chạy đến viện dưỡng lão săn sóc, giúp đỡ cho mấy ông bà cụ đã quá già mà chẳng có con cái chăm nom, mình cũng thấy vui.

Tôi định nói một câu để khen và an ủi, thì Hội vội xem qua đồng hồ rồi kéo tôi đứng dậy. Đúng lúc cả hai thằng đang đối diện với bức ảnh lớn của Triệu Minh treo trên vách. Tôi hỏi lại Hội một câu đã hỏi lúc mới vào nhà:
- Nghĩa là bạn vẫn còn yêu Triệu Minh?
- Đúng, mình vẫn thiết tha yêu Triệu Minh, nhưng mà Triệu Minh ngày xưa, cái thời nàng và mình mới yêu nhau, và nhất là vì yêu mình mà dám bỏ tất cả. Cuộc tình đó đẹp quá đi chứ, phải không? Đến bây giờ, nhiều đêm mình vẫn nằm mơ thấy nàng. Chỉ những giấc mơ ấy thôi cũng đủ cho mình thấy hạnh phúc và quên hết mọi biến cố sau này.
- Bây giờ bạn đã có cô bạn gái nào, và có tính kiếm một cô vợ khác để có nhau trong tuổi già?
- Có chứ, mình đang có cô bạn, Bích Loan vừa ngâm thơ với mình chiều nay đó. Giọng ngâm của cô hay lắm. Trước kia là cô giáo ở Pleiku. Nhưng tụi mình chỉ xem như là bạn cho vui, chứ trong lòng mình không còn có tình yêu, trái tim của mình không còn biết rung động kể từ sau cuộc tình với Triệu Minh. Bỗng nhớ tới một điều, tôi hỏi Hội:
- Và dường như nhờ tình yêu ấy mà tiếng sáo của bạn mới tuyệt vời?
Hội cười, đưa tay lên vách lựa lấy một cây sao trúc đưa lên miệng thổi một đoạn trong bài Love Story. Khi chấm dứt, Hội hỏi tôi:
- Bạn có còn nhớ ra cây sáo trúc này không?
Tôi lắc đầu. Hội chìa cây sáo ra trước mặt tôi:
- Chính là cây sáo cũ, mà ngày mình còn đi học ở Nha Trang, ông thầy ngưởi Huế đã tặng mình, khi bảo mình là “đứa học trò có năng khiếu sẽ tạo cho chiếc sáo này có một linh hồn”.
Tôi gật đầu đắc ý, định khen Hội một lời, nhưng dường như Hội đã đọc được ý nghĩ đó, anh xua tay:
- Không, ông Thầy nói không đúng hẳn. Có thể là mình có chút năng khiếu, nhưng năng khiếu không thể tạo được linh hồn.
Thấy tôi ngớ ra chưa kịp hiểu, Hội tiếp lời:
- Chính hình ảnh của Triệu Minh, cùng với tất cả những hạnh phúc, đắng cay ấy đã làm nên linh hồn cho cây sáo! Tôi cầm săm soi cây sáo đã khá cũ, đưa lại cho Hội rồi buột miệng:
- Không ngờ qua biết bao thăng trầm, bạn vẫn còn giữ được cây sáo…mà lại không giữ được Triệu Minh. Vừa nói xong, biết mình lỡ lời, định nói một câu xin lỗi thì điện thoại reo.

Người bạn báo đã đến chờ phía trước. Tôi đứng lên nắm tay Hội, nhắc lại một kỷ niệm xưa, lúc hai thằng còn nhỏ. Chuyện Hội đã bảo tôi đem thả con cuốc chúng tôi vừa vui mừng bẫy được, sau khi nghe cha tôi bảo con cuốc ấy là hóa thân của Vua Thục Đế, vì mất nước mà khóc đến chảy máu mắt, chết đi hóa thành chim, cất lên những tiếng kêu khắc khoải, não nùng. Hội ôm chặt vai tôi:

- Không ngờ bây giờ bọn mình cũng là hai con quốc quốc.
Chia tay Hội, mở cửa bước ra ngoài. Đang giữa mùa hè mà sao những ngọn gió làm tôi buốt lạnh. Và dường như trời cũng vừa mới đổ thêm xuống một cơn mưa.

Phạm Tín An Ninh

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Image

Khi Vợ Vắng Nhà
Tràm Cà Mau

Ông Phú đã tám mươi tư tuổi, bị vợ giận vì suốt ngày ngồi ôm máy vi tính. Bà gọi cái máy nầy là“người tình mặt vuông cổ ngắn” của ông. Bà bỏ về tiểu bang Florida thăm cháu ngoại. Bà rủ ông đi, và nói khích rằng, sức mấy mà ông nỡ xa “con vợ bé mặt vuông”. Ông thì không muốn làm phiền anh con rể gốc Mỹ, tôn trọng đời sống riêng tư của hắn. Nếu đi thăm, thì ngụ tại khách sạn, chứ không ở chung nhà. Bà sợ tốn tiền, và cũng muốn được gần gũi, chơi với cháu ngoại nhiều hơn, nên dù ông không chịu, thì bà cũng cứ đi. Ông dọa bà rằng, con rể Mỹ thường có thành kiến, và xem mẹ vợ như chằn tinh. Người Mỹ có cả trăm ngàn chuyện tiếu lâm về bà mẹ vợ. Chuyện ông Adam là người đàn ông hạnh phúc nhất thế gian, vì ông không có một bà mẹ vợ, là một chuyện điển hình.

Bà nói, không cần biết, và cứ nhất định ra đi. Ông mở “internet”, tìm vé máy bay rẻ mua cho bà. Khi đưa bà ra phi trường, ông ôm tạm biệt và định nói rằng: “Hồi này bà không còn thương tôi nữa.” Nhưng tủi thân mà không nói được. Ông thầm thì: “Bà đi bình an nghe, vui nhiều với con cháu”.

Quay về nhà, tự nhiên căn nhà thành hoang vắng, quạnh quẽ. Buồn buồn, ông lật tờ báo, đúng trang có bài thơ “Hạnh Phúc Từng Phút Giây”. Đọc bài thơ xong, ông hết buồn ngay. Ông gật gù đọc lại hai câu thơ:
“Mỗi ngày qua, men hương đời uống cạn
Sống một giờ, vui sáu chục phút vui”
Ông biết rõ, thời gian còn thấy ánh mặt trời chẳng còn bao lâu nữa. Không tội chi mà phí phạm trong u buồn, dằn vặt, khổ đau, vô ích. Ông vừa đi vừa nhún nhảy hát “Tứng từng tưng, tứng từng tưng, tưng từng..” Rồi hân hoan ngồi vào máy vi tính, thư của bạn bè từ năm châu gởi đến cả trăm cái, chan chứa thân tình. Ông thầm cám ơn kỹ thuật tân tiến, đã thu nhỏ không gian của thế giới lại, để dù cho nghìn trùng xa, mà cũng như gần trong gang tấc. Có nhiều thư kèm theo hình các cô gái thân thể hồng hào lồ lộ, không áo quần, ông nhìn mà không có một chút động tâm nào. Con cái nhà ai mà đi phô trương thân thể cho thiên hạ xem thế nầy? Bố mẹ các cô thấy được, thì có bực mình không? Ông bấm bỏ hết các thư đó. Giá như còn trẻ, chắc ông cũng sẽ cất mấy tấm hình nầy lại và chuyển gởi cho bạn bè khác xem. Có phải các cô gái nầy muốn đem ra chia phần cho thiên hạ thưởng thức đường nét mỹ thuật trời dành riêng các cô không?

Ông Phú cười vì nhớ lại lời vợ nói rằng, đàn ông mà không có các bà nấu cho ăn, thì sẽ chết đói ngay. Có phải bà bỏ đi cho ông chết đói chăng? Mỗi lần nghe bà nói, thì ông cười thầm, vì bà đã quên chuyện thời ở tù cải tạo, ông đã từng nấu cơm cho hàng trăm tù nhân ăn. Nấu cho chín nồi cơm to lớn kiểu đó, thì đâu phải dễ dàng?

Buổi tối, ông ngồi nhấp trà nóng khề khà, nhìn ra cửa sổ, ngâm nga vài câu thơ ca tụng mùa đông. Bên ngoài tuyết rơi trắng xoá. Nhạc Chúa giáng sinh vang vang từ xóm giếng vọng lại.
Bỗng cái máu lãng mạn dậy lên trong lòng, làm ông ngất ngây, muốn một mình đi lang thang trong mưa tuyết giữa đêm Chúa giáng sinh. Nếu có vợ ở nhà, thì làm sao ông dám tự do thực hiện được cái ý muốn ngông nghênh nầy. Ông cười sung sướng và nghĩ rằng, vắng vợ, cũng có cái hạnh phúc riêng khác. Ông nghĩ lại mà thương vợ, bà cấm đoán ông nhiều thứ, vì lo lắng cho ông, sợ ông gặp tai nạn bất ngờ, sợ ông mệt. Nhưng bà quá lo lắng, và xem ông như đứa bé con, đôi khi làm ông bực mình.

Ông Phú mặc thêm áo khoác, kéo cao cổ, quàng khăn kín nửa mặt. Ngoài trời hoa tuyết vẫn còn bay lượn nhởn nhơ trong ánh đèn điện mù mờ. Ông cầm cây dù có cán dài làm gậy chống bước ra đường. Ông tự dặn dò, phải cẩn thận, đường trơn tuyết, đừng để té ngã mà vỡ xương chậu thì khốn đốn. Đêm Giáng Sinh, đường vắng, lâu lâu mới có một chiếc xe của kẻ về nhà muộn vụt qua. Nhà nhà kết hoa đèn màu sắc nhấp nháy. Ông Phú bước đi, lòng lâng lâng đầy sảng khoái. Ông vừa đi vừa hát nho nhỏ ca ngợi cuộc đời tử tế, dễ thương. Chỉ còn mình ông đi bộ giữa đường vắng vẻ khuya khoắt hôm nay. Không chừng ba bốn chục năm rồi, ông mới có dịp đi một mình như hôm nay, với tâm trạng hoàn toàn tự do, thảnh thơi nhẹ nhàng.

Đến một đoạn lề hẹp hơi tối tăm, ông thấy một kẻ không nhà, trùm một đống áo quần, ngồi bên chiếc xe đẩy, tuyết rơi phủ trắng cả xe lẫn người. Có lẽ đây một kẻ bị bệnh tâm thần lang thang. Lòng ông cảm thương. Ông còn mái nhà để về đêm nay, còn chén trà ấm áp để thông cổ, còn có chén rượu nhấp, và đói thì còn có thức ăn trong tủ lạnh. Kẻ không nhà nầy ngồi đây, lạnh lẽo, đói, khát, cô đơn, buồn, lo, sợ đủ thứ. Đoạn lề đường khá hẹp. Ông ngần ngại, sợ bị tấn công bất thần. Ông định quay lui, cẩn thận là hơn. Nhưng chân ông vẫn bước tới. Ông sẵn sàng phản công tự vệ bằng cây dù, nếu cần. Ông cố nhớ cho ra một thế võ hữu hiệu để sử dụng trong trường hợp nầy. Sức ông yếu, mà kẻ kia thì mang áo quần dày, có đánh vào người thì cũng như phủi bụi, không hiệu quả. Chỉ có cách đá vào hạ bộ, mà chân ông thì đi còn chưa vững, sức đá e cũng chẳng có là bao. Chỉ còn cái mũi dù là bén nhọn, đâm vào mắt thì ác quá, ông không dám, có lẽ yếu điểm hữu hiệu nhất là quanh yết hầu. Tim ông đập mạnh, tiến từng bước cẩn thận. Ráng làm ra vẻ bình tĩnh, sao cho kẻ kia đừng biết ông đang sợ. Bỗng ông thấy gã khoa tay, ông nhảy lui và chĩa cán dù ra thủ thế, đồng thời la lớn: “Ya..a..a..a” để cướp tinh thần địch thủ khi phát chiêu. Nhưng chân ông không vững, ngã nhào ra mặt tuyết. Ông lanh lẹ lăn hai vòng, nắm ngửa, hai tay giữ vững cán dù và la lớn:“Muốn chết thì đừng đụng vào ta!”. Trong khi đang hoảng hốt ông đã nói sai. Đáng ra là “Muốn sống thì đừng đụng vào ta”, mà ông nói “muốn chết”. Hình như kẻ kia nhỏm người, định rời chỗ ngồi, đến tấn công hoặc để giúp, đỡ ông dậy, mà nghe thế nên ngồi yên. Ông cẩn thận từ từ đứng lên, nói cho to kẻ kia nghe, để hắn sợ: “Lạy Chúa, con đã giết nhiều người quá rồi, đừng bắt con phải giết người thêm nữa.” Gã không nhà bỗng vùng dậy, bỏ chạy và la lớn “Cứu với, cứu với, kẻ giết người” Nghe thế ông cũng hoảng sợ, và quay gấp lại đường cũ, hấp tấp bước. Trống ngực ông đánh thình thình. Ông rẽ vào một ngõ tối, đi vòng qua đường lớn khác. Tiếng nhạc Giáng Sinh du dương vọng từ các căn nhà ven đường, làm lòng ông dịu lại. Ông ân hận đã làm cho gã kia sợ hãi bỏ chạy. Nhìn xuyên qua cửa sổ nhiều nhà, ông thấy thiên hạ đang họp mặt, ăn uống, ngồi quanh nhau, lòng ông vui, vui lây với hạnh phúc của mọi người.

Khi đi ngang qua một nhà thờ, thấy xe đậu đầy trong sân rộng, ông theo chân vài người bước vào bên trong. Không khí ấm áp. Nhà thờ cao, rộng. Ông ngạc nhiên thấy giáo dân toàn cả đầu đen. Vị Linh Mục đang làm Thánh lễ, nói tiếng Việt. Ghế ngồi không còn, nhiều người đứng xếp lớp đằng sau các dãy ghế bên hông. Họ ăn mặc chỉnh tề, đàn ông áo vét, cà vạt, đàn bà áo dài quàng khăn hoặc “còm-lê” màu sậm. Chỉ có ông là nhếch nhác lôi thôi. Nhiều người đứng dậy nhường ghế, ông không chịu, giả vờ đi qua phía khác cho họ yên tâm. Ông nhìn quanh, trai gái, già trẻ, đủ các lứa tuổi. Nhiều thanh niên mặt mày hung bạo, cũng đứng vòng tay trang trọng thành kính. Vị Linh Mục đọc kinh, ông không nghe rõ lắm. Cứ mỗi câu của vị Linh Mục xướng, thì được toàn thể mọi người đồng thanh đáp lại bằng một câu khác. Lời kinh nghe êm êm với âm thanh khi cao khi thấp như hát hò. Ông chỉ hiểu được mơ hồ thôi, nhưng lòng cũng ấm lại. Ông tự nói cho mình nghe: “Phúc thay cho những ngưòi còn có niềm tin tôn giáo”. Thánh lễ vừa trang nghiêm, vừa như trình diễn văn nghệ, đẹp mắt, đoàn thiên thần áo trắng rộng, xếp hàng đi quanh, thanh thoát như bay lượn. Linh Mục chủ lễ cầm cái dây nối với bình trầm lắc lắc đu đưa, có khói mờ lan tỏa. Tiếng đồng ca đong đưa nhẹ bồng “Bình an dưới thế cho người thiện tâm…” Ông thầm cám ơn Trời, vì ông đang được bình an, đời sống không có gì lo âu, chỉ có chút đau ốm bệnh tật, không có gì khó khăn. Còn chống gậy đi được dưới tuyết, còn nghe được lời ca tiếng hát du dương, còn được thấy cảnh vật, bạn bè, bà con. Không có đạo, nhưng ông cũng quỳ xuống làm dấu Thánh giá. Khi đứng lên, ông chóng mặt, muốn ngã nhào, phải đứng thở sâu, nén hơi xuống bụng một lúc, mới lấy lại bình thường.

Đứng xem lễ một hồi mỏi lưng, ông đi thụt lùi, ra khỏi nhà thờ. Đường càng vắng hơn. Cũng có người đi dự lễ đã lui xe ra về. Đi qua một đoạn đèn mờ, ông thấy cặp trai gái đang ôm nhau, hai tấm thân áp sát, hai vòng tay siết chặt. Có lẽ họ cũng đã trên bốn, năm mươi tuổi rồi. Tuổi nầy mà còn lén lút hẹn hò, thì e cũng có điều đáng đánh dấu hỏi. Sao không vào nhà mà ôm nhau lăn lộn, có khoái hơn không? Đâu phải trẻ con mười bốn mười lăm tuổi, sợ bố mẹ cấm đoán, phải thậm thụt nơi góc xó đường vắng? Có ai dám cấm đoán họ yêu nhau trong tuổi nầy? Hay người đàn ông kia đang có vợ? Có lẽ đàn bà thì ít khi trốn chồng ra nơi bụi bờ ái ân với người khác. Ông nhớ lời trong sách viết rằng, ái tình vụng trộm thì mê nồng say đắm, nhưng thường sợ phải công khai lấy nhau.

Đi trọn một vòng lớn, ông về đến nhà thì đồng hồ đã chỉ gần một giờ khuya. Ông nằm ngửa trên ghế nệm, thở dốc. Mệt, nhưng thấy khoan khoái, sung sướng, hạnh phúc. Ông uống một ly rượu cô-nhắc nhỏ, máu trong người chạy rần rần ấm áp. Thay áo quần xong, ông bật đèn, nằm đọc sách, chưa được nửa trang, thì mắt ríu lại, sách rơi và ông đi vào giấc ngủ ngon lành.

Khi gần sáng, ông lăn người vòng tay qua ôm vợ, nhưng vòng tay trống vắng, làm ông giật mình hoảng hốt. Bà đâu rồi? Bà dậy đi đâu? Nhưng ông chợt nhớ bà đang đi xa. Ông thở dài. Một chút buồn len qua trong ông. Nhưng ngay sau đó, ông cười, và tự bảo lòng, khi nào cũng phải vui, hoàn cảnh nào cũng cứ yêu đời. Vợ có ở nhà, cũng vui, mà vợ đi vắng thì cũng cứ vui theo lối khác. Nếu bà ở nhà, mà cứ gắt gỏng, chê bai, than vãn và làm khó ông, thì bà đi vắng, ông mới hưởng được sự yên bình thanh thản. Nghĩ thế mà lòng ông vui, và ngủ lại rất mau, giấc ngủ ngon lành vào lúc bình minh sắp ló dạng.

Buổi sáng, ông Phú tập thể dục theo lối “Thái Cực quyền”, phất tay đủ 1800 cái. Đáng ra phải để tâm rỗng không như sách dạy, nhưng ông chẳng tội chi bỏ phí thì giờ hưởng thụ cuộc đời. Ông vừa tập thể dục, vừa nghe tin tức buổi sáng. Ông quan niệm, thân thể vận động, mà lòng thì vui, hơn là để tâm trống rỗng. Nhờ nghe tin tức, mà ông không bao giờ chán nản bỏ tập. Chỉ có phất tay trong vòng nửa giờ thôi, mà máu vận động, làm ấm nóng toàn thân.

Trước khi tập thể dục, ông đã bắc lên bếp một nồi cháo gạo tẻ, để lửa riu riu cho khỏi sôi trào. Khi tập xong, ông khuấy cháo cho khỏi cháy dưới đáy nồi. Khi ăn sáng, ông mở nhạc du dương êm dịu từ máy vi tính. Ly cà phê lọc áp suất, nước sánh kẹo đặc màu sậm, tỏa hương thơm thoang thoảng trong phòng. Ông bật đèn bàn, cầm cuốn sách lật mau. Nhấp từng ngụm cà-phê nóng, hít sâu đầy phổi, ém hơi xuống bụng, ông tận hưởng cái yên tĩnh của buổi bình minh êm đềm. Ông tự nhủ, đời thật dễ thương. Tuổi già thong dong sung sướng, không phải bận tâm lo sinh kế là một hạnh phúc lớn của nhân sinh. Mỗi khi múc cháo đặc vào tô, ông ngâm nga câu thơ của một người bạn:
“Vợ cũ, chó già, tô cháo nóng
Ba nguồn thân thiết dạt dào thương…”
Ông ăn cháo với cá nục kho khô, mặn, cay. Thịt con cá săn cứng, thân cá cong lại, và xương thì mềm như làm bằng chất bột. Ông húp cháo thành tiếng kêu lớn sột sột, và hít hà vì cay. Cháo béo, vị cá mặn, bùi, thơm, tan trên thớ lưỡi. Ông thường khen cho ông nghe: “Ngon, tuyệt vời. Cao lương mỹ vị cũng không bằng.” Ông nghĩ, đây là cá nục, chứ có cá bống cát kho khô mà với ăn cháo, thì còn tuyệt vời hơn.

Có lẽ khi còn trẻ, mỗi sáng ông ưa ăn tô phở, hủ tiếu, hoặc bún bò, vì cơ thể cần nhiều năng lượng hơn. Bây giờ già, mới biết giá trị tuyệt vời của tô cháo gạo tẻ. Không trách chi, sách chép rằng, nhiều vị vua nhà Nguyễn thích điểm tâm bằng cháo gạo.

Mấy hôm nay, điện thoại cứ reo hoài. Bạn bè, bà con kêu liên miên, làm ông cảm động. Có lẽ họ biết bà đi vắng, sợ ông buồn vì cô đơn. Con ông kêu, anh ông kêu, chị ông kêu, em ông kêu, và cả mấy bà vợ của những ông bạn thân thiết cũng hỏi thăm sức khoẻ hằng ngày. Họ tế nhị không nói ra, nhưng ông biết. Người nào cũng nói chuyện rất lâu. Có người kêu hai ba lần mỗi ngày. Ông ríu rít chuyện trò, muốn tỏ cho họ biết ông cũng đang vui, bình thường. Ông học được cái lạc quan của sách dạy. Hoàn cảnh nào cũng tìm được nguồn vui đơn giản. Không bỏ phí thời gian để vật vã, để buồn thương, tiếc nhớ bất cứ chuyện gì. Trời nắng thì vui theo nắng, mưa thì vui theo mưa. Vợ có nhà, thì vui với hạnh phúc gia đình, vợ vắng nhà, cũng vui theo cách khác, vì được yên bình, không ai cấm đoán việc nầy việc kia, không ai cằn nhằn, không ai làm khó. Có cả trăm chuyện để làm, để tiêu khiển. Trà, rượu, đọc thơ, sách, truyện, nhạc, máy vi tính, múa “Tài Chi”, làm thơ, viết câu đối, nấu ăn… Chỉ sợ không có đủ thì giờ mà thôi. Có người hỏi ông có cảm thấy buồn, cô đơn không. Ông trả lời rằng, “người tình mặt vuông” làm ông bận rộn suốt ngày, cho ông từng niềm vui nho nhỏ, nở ra vô số nụ cười ý nhị, dạy ông học được nhiều điều hay, lạ, bổ ích cho đời sống, cho tính tò mò của ông. Cái máy vi tính, bị cụ bà gán cho cái tên “người yêu mặt vuông” của ông, bà cụ ghen với cái máy nầy. Ông nói với bạn bè, tuổi nầy rồi mà còn được vợ ghen, phải sướng và hãnh diện, vì mình cũng còn có giá lắm chứ, đâu phải là đồ bỏ đi.

Một ông bạn kêu điện thoại và đem đến cho ông bốn hộp thức ăn, có cá kho mặn, thịt heo nước dừa, tôm rim, thịt bò kho. Thêm một hộp dưa chua lớn. Ông Phú định từ chối, nhưng sợ bạn buồn, nên đành nhận, trong lòng cũng áy náy. Ông hỏi sao mà cho nhiều quá thế. Ông bạn bảo cất vào tủ lạnh, mà ăn cả tuần. Tuần sau ông đem đến thêm. Ông giẫy nẩy bảo, đừng đem đến nữa, tủ lạnh đã chật, đựng đầy thức ăn, không còn chỗ chứa. Ông nói thêm, ông thích nấu ăn lấy, cũng có cái vui riêng. Ông bạn cười, bảo ông đừng có khách sáo, vợ vắng nhà, không ai nấu, thì ăn uống bất thường, dễ phát bệnh. Ông ém thức ăn bạn cho vào ngăn đá. Tủ lớn, nhưng cũng đã chật lắm rồi.
Vợ chồng một gia đình đồng hương Việt Nam khác, ở cách ông mấy căn nhà, thấy ông đi về một mình, biết bà đi vắng. Anh chồng nói:
“Bác gái đi vắng, thì mỗi ngày mời bác đến nhà cháu ăn cơm nhé. Nếu bác ngại, thì cho vợ cháu thêm ít đồng tiền chợ, xào nấu nhiều thêm chút chút, cũng không mất công gì. Chứ bác một mình, nấu nướng cũng bất tiện. Nấu nhiều không ai ăn, nấu ít thì cũng khó. Đi ăn bên ngoài vừa đắt, vừa không hợp với vệ sinh sức khỏe”
Ông cám ơn lòng tốt, nói rằng, khi nào thật cần, thì ông sẽ qua ăn chung cho vui.

Đứa cháu ở thành phố xa, cách ông một giờ lái xe, đem đến cho ông bảy cái hộp nhựa, bên trong mỗi hộp đựng ba thứ thức ăn. Vợ chồng hắn bảo, mỗi ngày đem hâm trong lò vi-ba, ăn một hộp với cơm. Nếu ông ăn được, thấy ngon, thì hắn sẽ đem cho ông hằng tuần. Hắn bảo rằng, tội gì mà nấu ăn. Nếu khi nào hết thức ăn, ra chợ Tàu, mua một con vịt quay, một con gà hấp xì dầu, vài cân thịt heo quay, chia ra thành từng gói, bỏ vào ngăn lạnh, ăn dần, cũng đỡ mất thì giờ nấu nướng. Ông cười, hỏi đó có phải là cách nấu ăn của cháu hồi còn độc thân không. Người cháu lắc đầu, bảo hồi đó, anh ăn đồ Mỹ, tiện đâu làm đó cho mau. Ăn hoài cũng thấy quen miệng và cảm được cái ngon. Bây giờ nghĩ đến, không khỏi rùng mình ớn lạnh.

Có kẽ khuyên ông nên ăn cơm tháng trong thời gian bà vắng nhà, nhưng ông nhớ lời một người khác rằng, ăn cơm tháng ngấy lắm, chán đến độ ghét luôn cả anh chàng đưa cơm, cứ thấy y thấp thoáng đâu đó, là trong lòng chán nản giận hờn vô cớ. Nhưng cũng có ông bạn khác, kiếm được nơi nấu cơm tháng quá ngon miệng, không có bột ngọt, không mặn và ít dầu mỡ. Ông nầy cho rằng, hiếm có các bà nội trợ nấu được ngon như vậy.

Bây giờ, ông Phú mới nhận biết, có nhiều bà con, bạn bè thương mến ông, quan tâm đến ông, mà lâu nay ông không biết. Nhưng ông không muốn được ai thương hại. Ông vui sướng thong dong như thế nầy, thì việc chi mà thương hại? Tại sao đàn bà ở một mình, cũng tự nấu ăn, tự lo lắng, tại sao không ai ái ngại cho họ?

Ông thích tự nấu ăn lấy, nấu những món giản dị, mà ngon, vừa miệng. Mỗi khi đi chợ, ông mở máy vi tính, tìm mục nữ công, gia chánh, dạy cách nấu ăn. Ông ghi chú vật liệu cần thiết để nấu các món ông muốn, rồi xem thêm đoạn phim dạy cách nấu, cho ăn chắc. Xem xong, ông lầm thầm: “Dễ ợt. Dễ như húp cháo thánh.” Cầm danh sách ra chợ, nếu không biết mặt hàng, thì ông mon men hỏi mấy bà. Nhờ chỉ giúp, hoặc nhờ lựa giùm cá sao cho tươi, ngon. Được một cụ già như ông hỏi, các bà các cô có dịp làm phước, vồn vã chỉ dẫn. Có bà hỏi:
“Thế thì cụ bà mất rồi sao? Không ai giúp cụ đi chợ? Tội nghiệp chưa!”
Ông cười và nói đùa:
“Không, bà nhà tôi còn khoẻ mạnh lắm. Bà ấy đang bận xem phim bộ.”
Bà kia trợn mắt lên mà than:
“Trời đất!”.
Ông đùa tiếp:
“Phải biết thương vợ chứ. Phim đang đến đoạn hấp dẫn, bỏ đi chợ thì uổng lắm”
Bà kia nói lớn:
“Ông cụ tốt bụng thật. Cái ông xã nhà cháu lười như hủi. Chỉ đáng đem móc mà làm mồi câu cá sấu”
Ông Phú cười và tiếp:
“Ấy, ấy, không nên, đem ông chồng làm mồi câu sấu, uổng lắm. Thời buổi nầy, và tuổi tác đã lớn, kiếm cho ra một thằng lười như hủi cũng không phải dễ đâu nhé”
Bà kia cười và háy ông một cái.
Ông Phú nấu canh chua tôm đúng theo máy vi tính dạy. Nấu nước với cà chua, trái thơm, rau, hành cắt mỏng, giá, ớt, bột nấm, muối, chút đường, nước mắm. Rồi xào sơ tôm với tàu hũ cắt lát, thả vào nồi canh đang sôi. Ông cho thêm một ít nấm bào ngư cắt mỏng. Thế là xong. Dễ dàng. Ông múc canh, lấy một khúc cá hồi nướng, thêm dĩa xà-lách rửa và cắt sẵn, trộn với nước sốt bán trong chai. Bữa ăn ba món, lịch sự rồi. Bây giờ bụng đã đói lắm, thường ông chờ cho thật đói mới ăn. Ông biết, khi đói thì ăn cái gì cũng ngon, nấu dở cũng thành ngon. Ông vừa ăn, vừa lẩm bẩm “Ngon, ngon quá, tuyệt vời”. Ông cảm thấy ngon thật, nhưng ông biết rõ, cái ngon cảm nhận được, phần lớn nhờ bụng đói. Bởi vậy, khi chưa đói, ông chưa ăn.

Hôm nay ông lái xe ra phi trường đón một ông bạn vong niên cũ từ Na-Uy sang Mỹ Quốc thăm viếng. Gọi là bạn, nhưng họ thua ông chừng trên hai mươi tuổi. Nhờ vỏ vẻ làm được năm ba câu thơ con cóc, mà ông được có bạn thơ khắp nơi trên thế giới. Trẻ có, già có, đã là bạn thơ văn, thì tuổi tác nào cũng được. Họ đối xử với nhau rất chân tình, hào sảng, dù chênh lệch tuổi tác. Ở cổng ra, có hai cái màn hình trên cao, chiếu hình người đang sắp ra cửa quan thuế, để kẻ đi đón, nhận được thân nhân. Ông Phú nhìn chăm chăm lên màn hình để tìm bạn. Nhìn lâu mỏi mắt, ông gục đầu ngủ một giấc rất say, tiếng ngáy làm các hành khách ngồi kế cận mỉm cười. Không biết ông ngủ được bao lâu, và giật mình thức giấc dậy vì có ai đó vỗ vai ông. Ông thấy một cụ già, râu bạc phơ dài xuống bụng, tóc trắng như bông, hai hàng lông mày cũng trắng xoá. Ông Phú vội vã chào: “Lạy cụ ạ”
Kẻ đó cười nói lớn:
“Bác không nhận ra cháu sao? Cháu là Trần đây.”
Ông Phú đứng phắt đậy ôm lấy bạn:
“Khỉ nào! Để râu ria dài, đẹp như thế nầy, làm sao mà ai nhận ra được”
Hai ông cùng cười vang. Ông Phú đưa bạn ra về. Đến nhà, ông bạn hỏi bà đi đâu. Ông Phú cười nói:
“Bà ấy mê thằng cháu ngoại quá, nên bỏ nhà đi theo nó. Thằng nhỏ kháu lắm, mới đầy năm mà đã biết đủ mọi thứ chuyện. Cái thứ con lại, thông minh lanh lẹ lắm. Thằng ôn dịch, cướp vợ của ông ngoại nó”
Ông bạn có vẻ ái ngại hỏi:
“Thế thì ai nấu cơm cho Bác mỗi ngày?”
Ông Phú đáp lớn:
“Tôi nấu chứ ai. Tôi có thể biết cách nấu cả trăm món. Nấu ngon không thua gì đầu bếp nhà hàng. Nấu đúng công thức, và chế biến làm cho đậm đà, hợp với khẩu vị mình hơn. Hôm nay, chúng ta ăn cá hấp tương gừng với nấm tươi, canh tôm cải bẹ xanh, và rau xà lách trộn. Đủ chưa? Bảo đảm, ăn không ngon thì cho anh nọc tôi xuống mà đánh mười hèo”.

Ông bạn cười, nhìn ông Phú với con mắt nghi ngờ. Ông Phú cứ từ từ hâm thức ăn đã nấu sẵn, thong thả dọn ra bàn, phải để ông bạn đói meo, mới cho ăn. Khi ngồi vào bàn, ông bạn ăn ào ào vì đói. Ông khen:
“Không ngờ bác nấu ngon như thế nầy, mấy bà nội trợ chắc cũng chào thua. Bác mà mở tiệm thì mau giàu lắm đó.”
Ông Phú cười:
“Tôi đánh cá, bây giờ đem cơm nguội canh ôi ra cho anh, anh cũng thấy ngon miệng. Bí quyết nấu ăn ngon, là để cho khách đói cho đắng miệng ra, rồi mới cho ăn, thì ăn gì cũng khen ngon.”
Ông bạn vội vã cãi:
“Cá hấp tương gừng ngon quá trời, tôi chưa khi nào được ăn cá hấp ngon như thế nầy”
Ông Phú gõ cái muỗng vào dĩa, và nói:
“Có thể, vì nhờ mua được cá tươi và ngon. Vào siêu thị, cứ thấy thịt, cá với giá trên trời, thì thế nào đó cũng là thức ngon. Thiên hạ họ không ngu đâu. Mình ăn ít, nên mua các thức ăn thượng hạng mà dùng, đừng ham mua đồ rẻ”

Buổi sáng, ông Phú dậy sớm, loay hoay nấu cháo chay đã khách. Nấu theo máy vi tính dạy. Ông không bỏ bột ngọt, vì không có, và cũng sợ độc không dám ăn. Nấu xong, ông nếm thử. Ông lầm thầm than: “Dở ẹc” Có lẽ vì cháo chay, mà thiếu bột ngọt, nên lạt lẽo. Ông lục tủ lạnh, thấy cục xúp bò mà Tây gọi là “Bui-dông” (bouillon), ông thả vào nồi cháo, khuấy đều, rồi nếm thử nữa. Ông rùng vai, vì cháo nầy còn dở tệ hơn nữa. Ông mở tủ lạnh, thấy mấy cây cải xanh, lấy cắt ngắn, thả vào nồi, hy vọng nước cải ra làm ngọt cháo. Nhưng không ngờ, cháo càng tệ hơn, đã dở, mà còn có mùi hăng hăng. Thôi kệ nó. Ráng căng họng ra mà nuốt. Nếu không thì đổ đi, cũng không sao.

Ông Phú pha sẵn cà phê, trà, và mời bạn ra ăn điểm tâm. Ông cười và nói:
“Sáng nay ăn tạm ‘cháo ẹc’ nhá. Đáng ra mình ăn bò kho với bánh mì thì hâm mau hơn”.
“Cháo là quý rồi. Tôi vẫn thích ăn cháo xưa nay. Lại cháo chay. Hết sẩy. Bác tài tình. Chay mặn chi cũng nấu được”
Thấy ông bạn ăn cháo với dáng điệu khổ sở, chậm chạp, phải nhắm mắt, nhăn mặt mới nuốt trôi muỗng cháo. Ông Phú nín cười. Ông bạn cúi đầu, hỏi nho nhỏ:
“Hình như bác gọi cháo nầy là cháo ẹc?”
“Đúng, cháo ẹc”
“Sao lại có tên là cháo ẹc”
Ông Phú cười xòa, nói lớn:
“Vì cháo dở ẹc, nên gọi là cháo ẹc”
Ông bạn cười to sung sướng, nói:
“Thú thật với Bác, tôi nuốt không xuống. Xin Bác tha cho tôi. Tôi xin nhận lỗi bất lịch sự”.
“Tôi cũng không nuốt trôi cháo nầy. Thôi bỏ đi. Tôi chiên cho mỗi người hai quả trứng, ăn với bánh mì giòn, và phô-ma. Sách dạy nấu ăn, đôi khi cũng sai. Có tôi lần nấu xôi thập cẩm, mà thành cháo hổ lốn, đổ đi thì sợ tội của trời, ăn cho hết, thì như bị phạt cực hình.”

Hai người vừa ăn xong, thì ông San, một bạn cũ thân thiết, từ thành phố lân cận ghé lại thăm, vì được tin ông Trần mới từ Na-Uy sang chơi. Ông Phú đốt lò sưởi bằng củi, lửa cháy tí tách, tro tàn bay bay trong lò. Ông nhóm thêm một lư trầm nho nhỏ cho thơm. Dọn rượu ngọt, trà thơm, và vài thức ăn khô. Ba người bạn ngồi quanh lò sưởi râm ran hàn huyên chuyện cũ. Nhạc hòa tấu êm dịu đong đưa. Bên ngoài tuyết vẫn xuống đều.

Khi cao hứng, ông bạn từ Na-Uy tằng hắng, rồi ngâm bài thơ mới nhất của ông. Giọng trầm, ấm, ngôn từ bí hiểm. Ông Phú không khoái bài thơ lắm, nhưng cũng khen cho bạn vui lòng, vì ông nhớ lại câu “Thượng Đế cũng còn ưa nịnh nữa, huống chi người thế gian”. Sau một hồi nói chuyện thơ văn, ba người quay qua đề tài cuộc sống, gia đình. Ông San nói:
“Bây giờ về già, các bà vợ không còn thương chồng nồng thắm như xưa nữa. Họ thương con, thương cháu hơn thương chồng. Và khi có chuyện bất bình, thì cũng khó làm hòa hơn xưa. Hồi chưa già yếu, mỗi lần chồng làm gì sai trái, để các bà hờn dỗi, thì cứ kéo các bà vào phòng, đương nhiên là bà chống cự lại. Đôi khi giả vờ chống cự cho có lệ, có khi chống cự thật, nhưng chỉ cần tăng sức kéo bằng một lực cực-tiểu ép-si-lon thôi, là đủ. Tiếp đó, cá nước vui vầy. Sau khi ra khỏi giường, là hết giận hờn, hết trách móc, và không khí gia đình êm ấm, hòa thuận, vui ngay, rồi sẽ được các bà nấu cho thức ăn ngon lành, béo bổ nữa. Bây giờ già cả, không đủ sức ẵm các bà, mà có đưa được vào phòng nữa, cũng không làm ăn chi được, chỉ tổ làm các bà cáu thêm, giận thêm.”
Ông Phú lắc đầu cười:
“Làm hòa theo kiểu đó, thì cứ bị các bà vợ giận hờn dài dài, mỗi ngày giận hai ba lần, chịu chi cho thấu?”
Cả ba ông già cùng cười với nhau. Ông bạn từ Na-Uy nói:
“Tôi nghiệm, bác San nói có lý. Vợ chồng già, thường thiếu chuyện đó, nên cũng bớt xuề xoà dễ dãi với nhau. Một người bạn tôi nói rằng, ông nào để cho bà vợ biết rõ là hết khả năng sinh lý, thì cái tình nó cũng lạt đi nhiều lắm. Các bà cứ bỏ nhà đi thăm con cháu hoài, không còn thiết tha với ông chồng nữa.”
Ông Phú lắc đầu:
“Làm như các bà vợ già ngu lắm sao? Mấy bà biết tỏng tình trạng sinh lý yếu kém của các ông, có khi cả năm chưa làm gì. Giấu sao nổi? Vả lại, các bà cũng đã qua khỏi thời hăng tiết rồi, không còn muốn cái chuyện nhớp nháp đó nữa. Vợ chồng già, thì cái nghĩa, cái thương, nặng hơn cái tình.”
“Tôi đồng ý với bác, các bà không cần chuyện đó nữa, và cũng biết tỏng tình trạng sinh lý của ông chồng. Nhưng nếu ông chưa thú nhận tình trạng bi đát đó, thì “bí mật” cũng còn trong vòng nghi vấn, chưa chắc. Nên chưa có tình trạng thờ ơ, lạnh nhạt. Tuy các bà không cần, và không còn đòi hỏi sinh lý nữa, nhưng tận cùng trong tiềm thức, che giấu dưới lớp dày của đạo đức, của thành kiến, của xã hội, tuổi tác, vẫn là ám ảnh sinh lý nó kéo dài, dư âm từ thời mới dậy thì còn sót lại, không hoàn toàn xóa bỏ được”.

Rót thêm một ly rượu, uống cạn, ông bạn từ Na Uy tiếp lời:
“Không cần nói đâu xa, kinh nghiệm bản thân tôi đây. Vợ chồng tôi khắng khít nhau, đêm nào thiếu tôi, bà không ngủ được, dù chuyện gần gũi vợ chồng đã hết từ lâu. Nhưng kể từ hôm tôi ngu dại tiết lộ cho bà ấy biết, tôi không “làm ăn” chi được nữa, bà ấy nói là không cần, không quan trọng, thế mà rồi tình trạng đổi khác ngay. Tôi có thể cảm được cái lạt lẽo của vợ đối với tôi. Vòng tay ôm không còn thắm thiết như xưa, nụ hôn không nồng nàn như cũ. Ngay chính trong thâm tâm, bà cũng không biết cái thay đổi đó. Cái ấy tự nhiên nó đến, vì không còn lực hấp lực bí mật của kẻ khác giống tính nữa. Trời sinh ra tự nhiên, con cái, con đực, hấp dẫn nhau. Mà cái hạt nhân của sự hấp dẫn, là tình dục được che rất kín, giấu rất kỹ. Thế rồi sau đó, bà ấy thường hay đi thăm con cháu hơn, ở lại với cháu dài ngày, không lý gì đến tôi nữa. Vậy, các ông già, đừng nên bao giờ thú thật với vợ, tình trạng sinh lý bất lực của mình.”

Ông Phú vuốt cằm trầm ngâm:
“Điều anh nói, có đáng tin cậy không?”
“Lấy lý trí mà xét, thì có vẻ vô lý. Nhưng đó là sự thực. Bác thử xem, bà hàng xóm đối xử với bác, có lịch sự và tử tế hơn là đối với bác gái không? Tuy bà ấy không hề có tí ti tình ý gì với bác, mà nếu bác có tình ý với bà, thì không chừng bà ấy còn nổi giận lên, tuyệt giao. Ngay bản thân bác, có đối xử lịch sự, tử tế hơn với các bà hơn là các ông không? Mà bác đâu có toan tính chinh phục bà già nào đâu? Không lỗi tại ai, không có chi xấu. Tại ông trời bày ra thế, cho muôn loài, muôn vật khỏi bị tuyệt chủng.”
Ông Phú thở dài, nghiệm ra lời nói của ông bạn cũng không phải hoàn toàn vô lý. Ông cũng từng lỡ cho vợ biết tình trạng sinh lý của ông, và từ đó, bà cũng hay đi thăm cháu ngoại ở miền xa.

Đêm đã về khuya, ông Sơn cáo từ ra về. Ngoài trời tuyết còn rơi. Ông Phú khẩn khoản mời ông Sơn ngủ lại, vì không nên lái xe trong mưa tuyết giữa đêm hôm tối tăm. Vả lại, đời dễ chi còn có đêm vui như thế nầy của ba ông bạn già, mà không bị các bà vợ giám sát. Ông Sơn nhất định về, lý do là không nơi nào dễ chịu và êm ấm bằng cái giường nhà mình.

Ông bạn thơ từ Na Uy ở lại chơi ba ngày, ông Phú dạy cho cách nấu những món ngon, nấu dễ, mau chóng. Hôm đầu, thì ông bạn vừa học, vừa thực tập. Hai hôm sau ông Phú nằm xem truyền hình, giao cái bếp lại cho ông khách phưong xa thực hành việc nấu nướng. Ông nầy hăng hái và hớn hở nói:

“Kỳ nầy về nhà, tôi sẽ trổ tài nấu nướng cho bà vợ tôi lé mắt chơi.”
Hôm nào bà vợ ông Phú cũng kêu điện thoại về hỏi thăm, rằng ông có khỏe không? Có buồn không? Có nhớ bà không? Hôm nay ông ăn gì? Có ngủ đưọc không? Khi nào ông cũng trả lời tích cực cho bà vui. Về mục ăn gì, thì ông khai nào là gà bát bửu, vịt nướng chao, cá hấp tương gừng, sườn cừu nướng than, bò chiên lúc lắc, lẩu thập cẩm, gà ác hầm thuốc bắc… Toàn là những món ngon trong các tiệm lớn. Ông nói, ăn ngon lắm, ngon hơn cả các tiệm trứ danh. Bà hỏi ai dạy cho ông nấu? Ông trả lời là “Người Tình Mặt Vuông Cổ Ngắn”, bà tình nhân nầy uyên bác, thông thạo, biết gần hết chuyện trên thế gian. Bà vợ ông nổi cơn ghen lên, dằn điện thoại xuống cái rụp.

Có hôm làm biếng, ông ăn miếng bánh mì Mc Donald. Gặp lúc bà vợ kêu điện thoại về hỏi ông ăn gì hôm nay. Ông trả lời là đang ăn bánh canh tôm thịt.
Hôm nay ông đón tiếp vợ chồng người bạn từ Hawaii về đất liền chơi. Trước khi đón bạn, ông đã lái xe qua thành phố lân cận mua sẵn các thức ăn cất vào thùng đá lạnh: Phở, hủ tiếu, bún bò, bò kho, vịt quay, heo quay, bánh ướt, bánh hỏi, bánh lá, bánh bột lọc. Ông mua thức ăn đủ cho mười ngày, định dành thì giờ đi chơi, thăm phong cảnh địa phương.

Ông bạn nầy cũng là một người thích thơ phú, chuyên làm thơ đường luật. Khi bàn về thơ văn hiện đại, ông bạn nói:
“Bây giờ, người ta làm thơ lung tung lắm. Nào là thơ mới, thơ tự do, thơ tân hình thức, đủ thứ… Muốn được gọi là thơ chính thống, thì phải là thơ Đường Luật, có niêm, có vận, có đối, có ý, có tình. Trong tám câu thôi, mà bao gồm hết toàn diện. Không dư, không thiếu. Bọn trẻ bây giờ, viết văn xuôi rồi ngắt câu, xuống hàng, không vần, không điệu, cũng cứ gán ép cho là thơ. Ngay cả thơ lục bát, cũng chưa biết được căn bản quan trọng, là chữ thứ hai, khi nào cũng phải vần bằng. Ai cũng có thể tự xưng mình là thi sĩ cả. Chán mớ đời.”
Ông Phú cũng không rành về thơ lắm, không muốn bàn luận, chỉ đưa câu hỏi:
“Thế thì thơ của các thi sĩ hiện đại như, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu, Thế Lữ, Huy Cận, Phùng Quán,… không phải là thơ sao? Còn thơ lục bát, anh nói chữ thứ hai phải là vần bằng, tôi không biết luật ấy ai đặt ra, và viết ở đâu. Nhưng có lẽ cụ Nguyễn Du cũng không biết luật ấy, nên viết sai luật như câu ‘Mai cốt cách, tuyết tình thần” và “Khi tựa gối khi cúi đầu. Chín khúc, khi chau đôi mày”
Ông bạn đỏ mặt, gân cổ nổi lên, nói lớn:
“Tôi nói là thơ chính thống, thơ thực sự, chứ không phải viết thế nào cũng gọi là thơ được. Anh tưởng anh giỏi lắm sao? Anh khinh tôi không thông thái bằng anh chắc”
Thấy thái độ hùng hổ vô lý của bạn, ông Phú hốt hoảng:
“Thôi, thôi, tôi đâu biết chi nhiều về thơ văn đâu, chỉ nêu câu thắc mắc nhỏ. Tôi xin rút lại câu hỏi đó.Và nếu anh có hiểu lầm mà buồn tôi, thì tôi thành thật xin lỗi. Chuyện thơ văn, là chuyện nhỏ, chuyện tào lao, khi trà dư tửu hậu, đừng để hiểu lầm buồn nhau, uổng lắm.”
Ông bạn đưa tay chặt chặt giữa không khí, và gằn giọng giận hờn:
“Tôi không hiểu lầm. Anh xin lỗi là xúc phạm đến tôi, xúc phạm nặng nề.”
Rồi ông bạn nói thêm nhiều câu giận dỗi khó nghe khác. Mặt thì hầm hầm như đang muốn gây gổ làm lớn chuyện. Ông Phú dằn lòng, hít vào đầy phổi, chuyển khí sâu xuống bụng, tự bảo trong lòng:“Nhịn, nhẫn nhịn, đừng giận, đừng nói gì cả, hoà nhã tối đa. Bạn từ xa đến chơi, đừng làm mất lòng nhau. Tình bạn cũ, nếu không vun bồi thêm được, thì đừng làm vơi đi.” Ông ngồi yên.
Sau một hồi to tiếng, mà không ai cãi lại, ông bạn bỏ vào phòng nằm, trùm chăn, và tuyên bố tối nay không ăn.

Ông Phú thở dài. Có lẽ bạn đã già nên đổi tính thành trẻ con lại rồi. Ông thầm nghĩ, có lẽ ông cũng đã thành trẻ con từ lâu, mà ông không tự biết. Có thế bà vợ mới chán, bỏ ông đi thăm cháu ngoại. Ông Phú xuống bếp, hâm bún bò, làm ba tô lớn. Bỏ rau cắt nhỏ, bắp chuối thái mỏng, hành lát, rau răm, thơm, và múc nước cùng thịt heo, thịt bò vào tô. Lấy khăn ăn và dọn lên bàn. Ông hé phòng mời bạn ra ăn nhiều lần, ông bạn gắt: “Đã bảo không ăn mà”.
Bà vợ ông bạn vào dỗ dành hơn mười lăm phút, ông mới ra ngồi vào bàn, mặt còn nặng nề, không vui. Đang ăn, bà vợ bạn nói:
“Bún bò bên nầy lạ ghê, chỉ có thịt, nước, và rau thôi, không có bún. Chắc đây là lối ăn sáng tạo mới.”

Ông Phú giật mình, chạy vào bếp, thấy rổ bún đang nằm trên chạn. Thì ra, vì thấy tô đã đầy vun, ông tưởng đã có bún rồi. Ông mang bún ra, cả ba người cùng cười. Bây giờ mới thấy nụ cười trên môi ông bạn, làm ông Phú yên tâm.
Sáng hôm sau, ông bạn nhất định đòi đi, không chịu ở lại một tuần như đã dự định. Ông Phú cầm chân mãi, mà không được. Ông nói, thức ăn đã mua sẵn cho một tuần, các người không ở lại, thì ai ăn cho hết?

Tiễn vợ chồng bạn ra khỏi nhà, ông quay vào, vừa buồn, vừa mừng. Bạn bỏ đi thì buồn, nhưng mừng vì khỏi phải chịu đựng cái chướng ách, kỳ cục của bạn. Ông nghĩ, biết đâu, chính ông cũng chướng kỳ, mà ông không hề biết.
Ông Phú gọi điện thoại ngay cho bà vợ, nói với bà cái điều mà truớc đây ông không muốn để bà biết:
“Thôi, bà về đi, tôi nhớ bà lắm rồi. Tôi có làm gì cho bà buồn, thì bỏ qua nghe, tôi xin lỗi một vạn lần”.
Bên kia đường dây, tiếng bà vợ ông cũng ướt mềm, như nói trong nước mắt:
“Tôi cũng nhớ ông lắm. Nhiều hôm ngủ không được. Tôi sẽ về chuyến bay sớm nhất, ông nhớ đón tôi tại phi trường nhé!”

Ông Phú nghe lòng khoan khoái, mở nhạc êm dịu, nằm trên ghế trên bành và nhớ đến lời ông bạn từ Na Uy rằng: “Vợ chồng già, phải thương yêu nhau nhiều hơn, tử tế với nhau hơn, nhường nhịn nhau, dịu dàng với nhau hơn, để bù đắp vào cái thiếu tình dục mà trời đã lấy đi.”
Ông chìm vào giấc ngủ an bình và chờ điện thoại reo để biết giờ đi đón vợ.

Tràm Cà Mau

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

MẤT ĐẤT
Hồ Đình Nghiêm
1.

Nhân ở ngoại ô chốn kinh kỳ, gia cảnh tầm thường nằm dưới bậc trung. Cha theo binh nghiệp, tháng miệt ngày mài cùng khói lửa chiến trường. Mẹ ở hậu phương buôn bán lặt vặt nuôi đàn con ba đứa, nhan sắc mòn hao, trái tim luôn thắt thỏm ái ngại đón chờ hung tin từ chốn xa gửi về. Nhân là con đầu, lưng dài vai rộng nhưng chẳng biết phụ đỡ chuyện gì. Việc học chưa thành, mà dẫu có đỗ đạc trấn nhậm ra lo việc nước thì với lương lậu kia e chỉ đủ nuôi miệng mình, không chừng còn vác mặt về réo mẹ ngửa tay xin là đằng khác. Ai sao ta vậy, chớ cả thẹn, giấy rách phải giữ lấy lề.

Có căn nhà gạch hai tầng án đầu đường, mỗi bận qua về Nhân đều thoáng gặp một bóng hình thon thẻo ẩn hiện, vô ra dịu dàng. Để ý và cất công cố nhìn cho rõ mặt, dần dà lòng những đâm chồi đắm say. Tóc dài mịn đổ sau lưng một vệt đen, da trắng môi hồng, váng vất một dung nhan chừng như chỉ nằm trong tranh cổ hoang đường của Tàu của Nhật, của thuỷ mặc, của sương khói chực phôi pha. Người con gái tên Hậu ấy chẳng hề hay biết, vô tình chính mình đã làm chấn thương trái tim một đứa con trai trong xóm. Không nhìn ra bước chân thất thần của kẻ đang mộng du, quàng xiên qua lại trên lối đi chưa từng hiện mọc một bóng cây si.

Nhân bắt đầu chí thú chuyện văn chương, chong đèn suốt đêm viết nằm viết ngồi dàn chữ trải đặc trong cuốn vở học trò dày 50 trang, cà phê thuốc lá là đồng minh giúp Nhân vật lộn với cơn đồng nhập nọ, sáng suốt trong mê muội để hoàn tất những ước vọng thầm kín. Suy cho cùng, viết văn, trước tiên nó chứng minh được một điều, đấy là hành động của kẻ bất lực. Nếu đạt được những ước muốn, anh đã không tự hành hạ mình một cách kỳ lạ như vậy. Vô bổ!

Thấy con hư hao, đèn khuya thắp cháy tận bình minh, người mẹ tưởng chừng việc học hành thi cử của con đang tới hồi gay cấn. Bà quên, không nhớ ra, tuổi trẻ mình cũng đã từng dẫm chân vào “cầu tre lắc lẻo” ấy. Mất thăng bằng, hồn xiêu phách lạc rồi rơi xuống nằm yên trong vòng tay của ai đó. Vòng tay dịu dàng, dắt cô thiếu nữ bước sang lằn mức đàn bà chỉ trong khoảnh khắc. Lạc thú mọc đầy trên da thịt và nước mắt đổ ra cho hối tiếc, chảy xuống với trạng thái gần như hân hoan, một chia tay khó bề tìm lời giải thích. Vượt quá hạng tuổi bốn mươi, mẹ Nhân đêm nằm cũng có đôi lần khát khô một nỗi thèm muốn. Trong canh khuya tiếng thạch sùng chắc lưỡi đuổi bắt nhau, thê thiết giọng mèo gào khản, gió xào xạc ngoài vườn trăng ướt đẫm màu lá; tất cả chúng như biết tạo thành một hình khối từ tốn nằm đè xuống cơ thể người đàn bà, trắng mắt. Tỉnh thức mà như mộng ảo, nhập nhằng những thứ chẳng tượng hình, không rõ đích thực mình đang ước ao điều gì? Nhìn lịch, bấm đốt tay, não lòng hay ra xuân thì đã quá. Thằng con đầu đang độ tuổi cường dương thì thân này ví như cánh hoa sắp tàn úa. Nước chảy qua cầu, tối ngày ham việc mua bán, chẳng ngờ một sớm một chiều lửa tắt đèn lụn bàng hoàng ngó lại, lòng không khỏi dấy lên chút cảm hoài. Từ đấy con xanh xao thay hình đổi dạng là việc riêng con chịu, phần mẹ nên chải tém gọn gàng mái tóc rối, khi ra chợ nên bôi chút phấn son lên mặt hòng che bớt những nếp nhăn dãi dầu.

Nhân không ngó ra cái khác lạ ở mẹ. Thời giờ eo hẹp chẳng cho phép cậu quan sát một ai. Tan tường, về nhà ăn vội chén cơm, xong lại hối hả tìm tới quán cà phê, thu mình góc tối để chiêm nghiệm nỗi sầu khổ của đứa bị tình yêu dằn vặt. Quán cà phê kia chẳng lạ gì cậu học trò mặt vừa nổi mụn đó. Trong hộc tủ nằm ở quầy có nhốt cuốn vở xộc xệch giấy nhăn, tên Nhân ghi ở trang 5, phía dưới gạch xoá rồi bồi đắp số nợ mà cậu mãi mắc chịu. Những con số to, màu mực khi xanh khi đỏ, rõ như hai cọng hai muôn năm là bốn. Trước đó, người ta đã thu giữ thẻ căn cước bọc nhựa để làm vật thế chân; nhưng sau, thấy bất nhẫn, họ hoàn trả, tin vô lời hứa của Nhân.

- Anh không trả được thì bọn tôi chẳng biết phải dùng biện pháp gì? Cô gái ngồi sau quầy thường nhắc nhở Nhân với nụ cười chừng như vẫn còn mang đủ sự thân thiện. Hắn vòng tay tựa vào mặt gỗ sơn màu vàng nhạt:

- Không trả được bằng tiền thì tôi nguyện sẽ trả bằng sức.

- Ví dụ?

- Như lau chùi dọn dẹp, rửa tách rửa ly, chặt nước đá pha cà phê, linh tinh thượng vàng hạ cám.

- Những thứ ấy đã có người đảm trách cả rồi.

- Thế thì tôi xin được đóng vai chạy xe thồ đưa rước Trúc đi chợ. Giặt giũ phơi phóng áo quần cho Trúc tựa một đứa liên tử.

- Liên tử là gì?

- Liên là sen, tử là con. Nôm na là kẻ hầu người hạ.

Người con gái mang tên Trúc che miệng cười. Hoa hồng cắm trong ly chưng trên quầy không ngớt rung động. Nhân đọc câu cổ thi: Trúc xinh trúc mọc đầu đình, em xinh em đứng một mình cũng xinh.

- Thơ với thẩn! Tướng mạo thư sinh trói gà không chặc như anh chẳng biết có kham nổi bao việc nặng nhọc ấy chăng?

- Nếu được nên cho tôi thử một lần rồi sau đó hãy định lượng tới sức lực. Người ta sẽ xả thân lo việc mà chẳng hề mệt nếu họ ý thức đó là niềm hạnh phúc. Trúc có hiểu về chữ tình yêu không?

- Là cái gì?

- Là địa ngục mà trong đó giam chật những thiên thần.

- Hoang tưởng. Vậy thì đất sống của ác quỷ nằm ở nơi nao?

- Nằm đằng sau những lời từ chối.

Trúc có chút nhan sắc. Cô ngồi ở quầy tính tiền và cái rạng rỡ nơi gương mặt cô đã bao lần thu hút bọn đàn ông tới quán. Cô thích đón nghe những lời bóng gió, sưu tập chúng để rồi lượng định ra được tâm cảm của từng đứa một. Nó chẳng khác một tấm gương soi, qua đó Trúc biết trời sinh mình làm đứa con gái đẹp, đầu mình tứ chi nẩy nở đúng hạn kỳ. Mất dạy thì gọi là múp, kiểu cách thì kêu ngồn ngộn, văn chương lại gọi vun đầy một toà thiên nhiên. Đứa sính ngoại ngữ ưa liếm môi: Du xếch-xi, du hot cách gì đâu!

Một ngày kia, những tên già đầu cho tới những đứa đáng tuổi em, thế nào cũng có thằng được lọt vào mắt xanh, chừng đó Trúc mới gợn lòng đắn đo chuyện thật giả nằm ở lời đường mật. Hiện tại Trúc đón nghe chỉ cốt tìm chút vui thú, cậu học trò tên Nhân này mọi thứ đều trên trung bình duy chỉ phạm một lỗi lầm: Nghèo rớt mồng tơi! Nghèo là một cái tội, là một bản án. Nó tựa một con chim không biết bay, con gà trống không biết gáy, một thằng người chẳng bao giờ đơm ước mơ. Nếu có mơ ước thì cái đầu óc chứa lắm phẫn hận ấy chỉ mong cầu xoá bỏ được giai cấp, mọi người đều bình đẳng. Và như vậy, chiến tranh bộc phát. Và như thế, ác quỷ nằm ngay cả trong những khao khát, những hành động.

- Có nhiều khi tôi thấy anh viết rồi xoá bôi. Thực sự thì cuốn vở nhét sau túi quần kia chứa đựng những gì bên trong?

- Nó giam giữ đầu óc và trái tim tôi. Nó chứa đựng bóng hình những người con gái.

- Lại tình yêu?

- Phải. Bầu khí quyển cần thiết cho mọi sinh vật biết thở.

- Nó cần được chia sẻ không?

- Sao Trúc lại hỏi thế? Cà phê luôn cần đường, sữa. Và trước hết, cái nó cần là nước nóng. Nóng thật nóng. Rót xuống, thẩm thấu và gạn lọc rốt ráo những giọt đắng ứa ra.

- Bao lâu thì tôi được đọc chúng? Thử uống xem món cà phê anh pha chế có hợp khẩu vị mình không.

- Tôi nghĩ là Trúc sẽ nhăn mặt khi nếm thử.

- Ghê gớm vậy sao? Một sự từ chối?

- Không ai có thể từ chối được lời yêu cầu của Trúc. Cho tôi thêm một khoảng thời gian.

- Phải đợi đến chừng nào?

- Khoảng năm lần uống cà phê mắc chịu nữa.

- Sao nhiều toan tính mặc cả thế?

- Khi yêu ai, Trúc đều nhắm mắt buông xuôi chẳng hề phân vân?

- Đa sự quá, lý sự quá! Vậy thì thứ bảy tuần sau nhé.

- Tôi sẽ chép lại vào một cuốn vở khác, sửa đổi sạch sẽ tinh tươm cho Trúc mát mắt dễ cảm nhận. Tuần sau, thứ bảy, chín giờ tối.

Nhân đưa ngón trỏ ra, cong như một lưỡi câu để móc ngoặc với ngón tay Trúc.

- Nếu đây là một lời hứa hôn thì mọi thứ ở cuộc đời này sẽ đơn giản dễ chịu biết mấy!

- Nghèo mà ham!

Trúc rút tay về, cảm nhận chút xao động vừa truyền vào người. Như khi nhấn tay vào nút Play ở giàn máy Akai đặt bên quầy, âm nhạc phát tiếng, dịu dàng mang mình vào một cảnh quang đầy hư ảo, thổn thức, lặng người.


Thứ bảy đó Nhân không tới quán. Hắn là một kẻ bội tín? Trúc rủa thầm. Có thể hắn chạy làng, quỵt nợ. Hàm oan! Trúc chẳng mường tượng ra được hình ảnh một con đường nhỏ bưng bít chật chội bóng tối. Hai bóng ma chợt hiện đón đầu Nhân. Một đứa đốt cháy que diêm, ngọn lửa bé bỏng không run rẩy vì đêm đứng yên tuyệt chẳng vờn chút gió heo may. Đốm sáng dí gần, nhận diện.

- Mầy là Nhân, có phải không?

Một câu hỏi dư thừa.

- Mầy cần phải học hỏi nhiều điều mà bài học hôm nay thì nên thuộc nằm lòng: Từ rày trở về sau chớ có lai vãng tới quán cà phê đó nữa. Nghe rõ không? Vắn tắc chỉ một câu: Trúc là một bông hoa đã có chủ.

Que diêm tắt ngúm. Ngọn lửa chỉ soi sáng vừa đủ chiều dài lời tuyên bố, sau đó là nắm đấm, là chân đá. Cả quyền lẫn cước đều thi triển với tất cả sức mạnh mà chúng có được. Nhân ngã quỵ xuống mặt nhựa còn ấm nóng của thứ hắc ín vẫn lưu giữ nhiệt lượng mặt trời. Cơn đau bùng vỡ, thảng thốt, tê buốt. Mờ mắt, ù tai.

- Bọn này hành sự như quân tử, khi đánh người nên nêu rõ lý do cho nạn nhân khỏi ấm ức về nguồn cội. Thiết nghĩ vậy cũng tạm đủ, còn tái phạm thì khi ấy mang đao kiếm ra hỏi tội cũng chưa muộn.

Chúng biến rất nhanh. Xẻ rách vũng tối đằng kia để vọng về tiếng một đứa chu miệng huýt gió bài “La Vie en Rose”, âm thanh ca ngợi đời mang sắc hồng cứ thế mà xa dần, ngưng bặt, đóng khép.

Dĩ nhiên không khi nào Trúc có thể nghĩ ra được thứ hình ảnh quái gỡ trên. Cô đóng quán, cô tắm rửa, thay đổi áo quần và lơ mơ nghĩ tới Nhân. Hắn thật đáng ghét, chỉ giỏi ba hoa nơi lỗ miệng. Trúc lên giường, giấc ngủ chẳng tới ngay, trăn trở. Phải mà nắm cuốn vở của hắn trong tay giờ này… Có lẽ sự dối gạt là cái đáng lên án nhất trong những lỗi lầm mà con người luôn tạo ra.

Thời khắc đó, Nhân cũng nằm trên giường với những xây xát bầm tím ăn vào cơ thể. Nhân cắn răng chẳng hé môi với một ai. Đấy là cả một sự sĩ nhục, nó có khả năng làm cho đầu óc Nhân căng thẳng. Nỗi thù hận dồn tới réo gọi đòi được trả cũng như sự bất lực của kẻ cô thế luôn song hành đến với cơn đau mỗi một trở mình. Bóng tối không giúp Nhân xoa dịu, chận đứng bớt những ý tưởng rối loạn. Chiếc mùng nhỏ buông xuống, bưng bít, đóng khung như thứ mộ huyệt chật chội treo lơ lững giữa khoảng không. Đêm hâm hấp nóng. Đêm lùi sâu bằng tiếng chó sủa vu vơ tận đâu xa. Đêm sẽ qua trong bình yên nếu nó đừng khơi động lên những tiếng thở vội vọng dội từ căn phòng kề cận. Khi đau khổ người ta sẽ rên la, ngược lại khi đón nhận khoái cảm họ sẽ tái lập cách thế biểu tỏ ấy. Nhân ngóc đầu lên khỏi gối và cậu đủ thông minh để hiểu chuyện gì đang xẩy tới bên phòng mẹ. Chui ra khỏi mùng, Nhân ngồi ôm đầu thấy lòng đang rạn vỡ. Chuỗi tiếng động cố nén kia phút đầu làm nứt vách và rồi mọi thứ sụp đổ, tan hoang. Nhân mở đèn, vớ tay tìm, thắp đỏ một điếu thuốc. Khi gầy dựng cuộc ái ân, bao lâu thì người ta bỏ cuộc? Có dài bằng đường đi lụn tàn của điếu thuốc thơm? Nhân sợ hãi nếu phải nhìn thấy mẹ mình trần truồng nằm dưới thân thể một đứa mà bà đang dùng tay bấu víu. Nhân có thể chờ đợi, không một thì hai, cũng có thể đốt liên tục những điếu còn trốn trong bao Capstan. Con Anh Phai Sắc Tại Ai Nhỉ. Chiếc Áo Phong Sương Tình Anh Nặng… Chỉ một nhãn hiệu thuốc lá, bọn rách việc đã thêu dệt ra lắm chuyện bao đồng, vô can vô cớ.

Mẹ Nhân không ngỡ cái bóng đen đứng thù lù bên cánh cửa là thằng con mình. Nó chẳng đi ngủ hoang ở nhà bạn, nó chẳng bị mộng đè tới vùi giấc điệp ở phòng bên. Nó hiện ra êm re tựa một hồn oan, lẽ nào nó đã hay biết những diễn tiến từ mây cho tới mưa? Nó có là một chứng nhân chướng tai gai mắt? Bà gài vội những hạt nút áo, hai tà vướng víu khó khăn một che đậy lên bầu ngực trần. Vú này ngày xưa con từng ham hố bú lấy, sữa mẹ hiền thì hẳn là tâm con lành, chớ hung dữ làm lớn chuyện. Cha mẹ sanh con trời sanh tánh là cớ sự của ai kìa, chứ mẹ biết tánh con xưa nay vẫn lành như hòn đất. Con nhớ cho, mẹ cũng là một vạt đất bấy chầy hạn hán. Nói không ngoa, vừa qua chỉ là cơn mưa lần đầu mẹ đón nhận. Cá không có nước, cá chết. Đất khô cằn, con ơi, đất nức nẻ buồn thúi ruột gan. Hãy thứ tha cho mẹ lần úng thuỷ này, hãy tin mẹ nhé, mẹ quyết không dầm thân trong lụt lội triều cường cuốn hút.

- Mẹ khó nói, phải không? Con cũng khó xử trí, đã câm lặng cho gã đó ra về trong yên hàng vô sự.

- Bây giờ có nói gì cũng bằng thừa, con sẽ quy chụp rằng đó chỉ là lời nguỵ biện thanh minh thanh nga. Chỉ có điều duy nhất mẹ muốn con đón nghe…

- Con đang bình tĩnh, mẹ nói đi.

- Người đó hứa với mẹ…

- Mẹ tin vào lời hứa của một tên cha căng chú kiết nào đó?

- Chừng này tuổi mẹ không còn là đứa nhẹ dạ, thêm nữa điều ông ta hứa chả có gì ghê gớm cả, dễ thực hiện trong khả năng ông ta có.

- Bao nhiêu tiền? Một nửa tháng lương?

- Việc học của con ra sao rồi? Nếu thi hỏng… Người ấy bảo sẽ lo được cho con tờ giấy hoãn dịch vì lý do gia cảnh. Con sẽ chẳng bị động viên, con tránh dẫm vào vết chân của cha con.

- Hoài công! Con sẽ nhập ngũ, con đi lính. Đôi khi có những sự việc mà muốn giải quyết ổn thoả, người ta phải vin nhờ vào súng đạn. Đó là lý lẽ của kẻ mạnh. Con đi tìm ba, mẹ ở nhà tìm tới những thứ thực tiễn khác mà đánh đổi.

Cánh cửa phòng đóng lại mạnh bạo sau câu nói. Nhân thức suốt đêm, viết lá thư từ biệt đường đột gửi cho người con gái tên Hậu nhà nằm đầu đường, bỏ chung phong bì với cuốn vở học trò mà suốt 50 trang Nhân vẽ đầy mộng mị của thứ tình yêu câm lặng, những suy tưởng của cậu về trái cấm nằm ngoài tầm tay.



2.

Sáu giờ sáng, những ngọn đèn trong quán trông dữ dội, xỉa xói như mặt trời ban trưa ở vùng nhiệt đới. Xô cửa vào, đôi mắt cay cọng với sự choáng váng vụt hiện. Hương mùi cà phê thực sự không mang lại sự tỉnh táo, lúc đó. Nó trộn lẫn với bao tiếng động, góp phần thông báo về phút chuyển dịch ban đầu của một guồng máy chính thức kích hoạt. Mọi con trâu sẽ ra đồng, chẳng sớm thì muộn, chu toàn thứ bổn phận mà tự tiềm thức sâu lắng chẳng kỳ vọng tới một mùa gặt tốt lành. Khuôn mặt thằng đàn ông đứng sau loạt máy pha chế cà phê lộ rõ cái trì trệ của giấc ngủ chưa đi tới cuối đường, đôi chân nó vừa nhúng xuống bùn lầy, bất mãn với gió chướng quần tụ trên cánh đồng úng nước. Giọng nói chừng cũng mắc nghẹn, chưa thông đàm:

- Chào ông Neil.

- Chào đầu ngày. Tôi lấy một ly cà phê.

- Loại gì? Lớn, trung bình, nhỏ?

Đó là thứ vấn đáp gần như bắt buộc phải xẩy tới. Như ta vẫn mỏi mệt trả lời, không thật lòng: Ờ, tôi khoẻ, cảm ơn. Bạn thì sao? Chúc một ngày tươi đẹp.

- Ông vẫn còn làm chỗ đó chứ?

- Không, chán ngán, tôi đã giã từ. Tôi thích cái job này hơn, người bạn luôn tẩm đầy cái thơm thảo do cà phê trên toàn thế giới tụ bầy vây bọc, ủ hương.

- Đùa hoài, đang giỡn chơi phải không? 3 đô 75. Xin vui lòng.

Sáu giờ mà quán đông chật. Địa phương nầy từng có thằng phóng viên đi thơ thẩn mần ra cuộc trưng cầu dân ý, kết quả ghi nhận: Ai cũng điểm tâm cà phê, gần như tuyệt đối, trong đó có tới 45% quả quyết là có thể nhịn ăn sáng, chẳng đoái hoài tới trứng chiên, bacon, xúc xích, mì nướng nhưng có thể xơi tới ba tô cà phê. Cà phê như xăng dầu vậy, thiếu nó làm sao động cơ có thể phát sinh ra tiếng nổ?

Hai phần ba ngồi đó thảy đều chúi đầu vào các trang nhật báo mở rộng. Journal de Montréal, La Presse, Gazette, National… Họ chăm chú đọc những gì in thành bao cột chữ? Sột soạt giở lật từng trang giấy. Bệnh tật. Chiến tranh. Không tặc. Biểu tình. Khủng bố. Cái chết. Ngày nào cũng ngần ấy tin loan bằng vào các con chữ quen mặt. Mỗi ngày đều đặn trôi qua và chúng để lại cho con người vô vàn những cáo phó. Niềm đau đi qua cánh cửa chịu đựng, thoát về phía chai lì một biểu cảm. Con người sinh ra, mãi theo học một bài vỡ lòng luôn đeo bám: Sự chịu đựng. Có đứa gào thét, có kẻ câm như thóc. Lại hiện ra một tên ưa lý sự: Hút thuốc làm đời sống bạn bị tước đoạt bằng con số 20 năm. Bạn cứ uống rượu giải sầu thì bạn giảm thọ 30 năm. Và khi bạn bị tình phụ, bạn sẽ chết từng ngày.

Neil không xem báo, nó tượng trưng về một thứ gần như khô khan. Neil nheo mắt phóng ra ngoài ô cửa kính, nhìn nhận phút bàn giao giữa bóng tối nhọ mặt người đang dần chuyển đổi bằng vào cái vươn vai thức dậy của ánh dương quang. Bình minh luôn hiện thắp cho hy vọng về một khởi đầu, ngay cả đám bồ câu cũng tìm tới chỗ sáng để gật gù kiếm ăn trên vỉa hè lót gạch nâu. Thủng thẳng, chậm rãi như những thai phụ cẩn trọng với bụng bầu. Không hiểu sao bồ câu được chọn làm biểu tượng cho hoà bình? Với Neil, hình ảnh người đàn bà bụng mang dạ chửa sẽ đáng yêu hơn. Họ hiền từ, họ e dè, họ quan ngại tới những thứ tiểu tiết để động lòng, để cảm thương. Họ sống thở phút này mà mơ tưởng tới thì tương lai, rằng mình sắp tạo ra một mầm sống, hãy cho tôi đi qua bao thử thách để làm tròn giây phút nhiệm mầu ấy.

Như loài bồ câu, Neil bưng ly cà phê bước ra khỏi quán, đủng đỉnh băng qua hai đoạn đường có gắn cột đèn xanh đỏ báo hiệu lưu thông, nghe rõ dòng điện trở cựa mình mỗi một hoán đổi màu sắc. Gió luông tuồng chạy vội bên trên chùm lá cây mãi xao động, chốn ấy không hề là là chỗ cho bồ câu an tâm trú ngụ. Đứng ở ngã tư ngước mặt nhìn lên một cao ốc, Neil có thể thấy chữ Yellow máng trên đó luôn thập thò những con bồ câu ẩn mình bên trong, chúng ỉa cho bạc màu cái chữ Yellow to tướng ấy. Yellow là thương hiệu của một cửa hàng chuyên xuất nhập cảng đồ gia dụng bằng nhựa và là nơi có Neil từng làm việc bán thời gian. Mỗi khi ngửa cổ trông lên, Neil đều mang cái ý nghĩ, liên tưởng tới số phận của bọn di dân. Lần hồi chúng bị biến dạng đi, không hình thức này thì hình thức khác. Chữ Yellow bạc thếch vì cứt chim và mỗi ngày Neil nói ngoại ngữ nhiều hơn tiếng mẹ đẻ.

Tới công viên, Neil dừng chân, ngó quanh rồi ngồi xuống chỗ đã được định vị từ hôm qua. Quây lưng với bầy sư tử bằng đá luôn có nước chảy ra từ miệng để đổ xuống cái bồn chứa hình bầu dục. Tiếng róc rách không gián đoạn của nước luân hồi tuồng thế điệu ru dành cho một ông già râu tóc bờm xờm nằm ngáy giấc say trên băng ghế gỗ. Một kẻ vô gia cư, thực sự thì kẻ đó chẳng cần phô bày bằng hình thức ngủ bờ ngủ bụi, ngủ lăn ngủ lóc như vậy. Ăn mặc chỉnh tề, áo xống lành lặn, tóc tai ngắn gọn, tỉnh táo ôm ly cà phê trông thiên ngó địa hít thở không khí trong lành, cũng chẳng chứng minh được đấy là hình ảnh của một đứa có nhà cửa tử tế gia đạo an vui.

Cuối cùng thì cái bóng dáng luôn nằm trong tiềm thức bỗng hiện hữu thực sự, băng qua đường sau khi đóng cánh cửa xe bằng một tiếng động nhỏ. Xe sơn trắng, nhìn hoa mắt bởi thứ màu tượng trưng cho sự tinh khiết, vô nhiễm.

- Đợi đã lâu chưa?

Người đàn bà ngồi xuống bệ xi-măng bao quanh bồn nước, chút e dè có trong điệu bộ.

- Có những trở ngại ngoài ý muốn.

- Anh hiểu. Hoàn cảnh, đúng không? Trong chúng ta nào có ai muốn làm phiền lòng kẻ khác.

- Bao giờ thì anh bỏ được những thứ bóng gió mát mẻ kiểu đó?

- Anh không bỏ được, như có người biểu anh phải đoạn lìa thuốc lá. Anh vừa đốt cháy ba điếu. Cuộc đời quá ngắn, Hậu có thấy vậy không?

- Muốn thấy nó ngắn cỡ nào, trước tiên người ta phải tập sống cho thật lâu. Sau này, có khi anh sẽ bắt gặp niềm hối hận.

- Anh đã từng hối hận lắm thứ, nào còn gì để đâm hối tiếc. Hậu đang hối hận về điều gì?

- Đưa ly cà phê cho Hậu.

- Nó nguội lạnh mất rồi.

- Không sao. Hậu uống hết để thế một lời xin lỗi.

Người đàn bà mở nắp nhựa, khởi sự uống, mặt không gợn nhăn.

- Cái nhân vật Trúc ngày xưa bán cà phê, bây giờ ra sao?

- Không biết. Anh đã vắng mặt quá lâu với cuộc đời này.

Người đàn bà ngó tới dáng nằm co quắp của người đàn ông dơ bẩn:

- Chúng ta cũng đang thiếp đi với những cơn mộng dữ, thức dậy với bao cực lòng, đúng không?

- Anh chẳng rõ Hậu à. Anh đi lính, anh ngồi tù, anh chạy được sang đảo lạ, anh chờ thanh lọc. Anh xin định cư, tới bất cứ phương nào. Chừng như anh là đứa không có được thứ mà người ta gọi là tuổi trẻ.

- Neil. Cái tên mới lạ đó nói lên điều gì?

- Không là gì cả. Anh từng ghét một thằng người mang tên Nhân, chỉ vậy thôi, thằng Nhân kia trông có vẻ vô tích sự quá.

- Ít ra thì cũng có khi Nhân đã làm Hậu cảm động khi đọc qua những câu văn chân thật.

Người đàn bà ngó xuống cổ tay, chiếc đồng hồ như chưa bao giờ biết nghỉ dưỡng sức, hai cây kim vẫn hăm hở băng mình chuyển dịch.

- Lại phải chia tay. Hậu có cái hẹn ở Clinique vào 10 AM. Nếu bị ung thư ngực, cắt bỏ một bên, vận sự đó có gây nỗi bàng hoàng cho một ai?

- Nếu đó là sự thật, hơn ai hết Hậu cần có một người luôn kề cận mình. Hãy cho anh ngồi chung xe để cùng Hậu tới chốn ấy.

- Đừng, không nên. Nơi nọ tập trung toàn cả những con mẹ có vấn đề. Một quang cảnh ảm đạm, não nề, xám xịt.

Người đàn bà đứng lên, mở rộng miệng cái túi xách đeo một bên vai. Đưa tay vào để lôi ra bao nhựa trong, thấu suốt vật chứa đựng là cuốn vở học trò đã vàng úa, đã hư hao, xưa cũ hơn một cổ vật. Năm mươi trang như kịch bản vở thần thoại hoang đường bỗng chốc đội mồ trình diễn sống động. Nó nhốt mùi ẩm của thời gian và trùng khơi. Nét chữ nhoè mực xô đẩy nhau chạy giạt trên đường kẽ xanh, là sợi chỉ níu thân cánh diều bay hoảng hốt đã mấy mươi năm biền biệt trên bầu trời rộng không chung chịu nắng, mưa.

- Thích không? Châu về hiệp phố. Hậu như nhân viên làm việc ở viện bảo tàng nay xin được về hưu. Tạm biệt nhé anh Nhân.

Chữ tạm biệt thốt lên cùng lúc với món cổ vật rớt vào đôi tay Neil, gây ra một trọng lực dễ làm kẻ đón nhận phải xiêu thân. Người đàn bà bước đi, chẳng hề quay mặt lại, vất thằng người đứng như phổng đá bên những con sư tử hoá thạch, câm nín.

- Này ông bạn, vui lòng cho tôi một điếu thuốc.

Neil châm lửa cho cả hai, một homeless một không có quê hương. Người ta rít lấy cái độc hại để tự nhận là đang ấm lòng. Thân thể người đàn ông nồng nàn một thứ mùi khó phân tích, ông ngồi gần Neil, chỗ mà Hậu vừa rời bỏ.

- Bạn có sẵn hai đồng trong túi không? Chúa sẽ ngó xuống lòng tốt của bạn.

Cả hai đều dõi theo bóng người đàn bà vừa mở cửa xe. Chẳng mấy lâu, một mũi tên trắng vụt bay giữa con lộ thênh thang vừa chao bóng nắng.

- Bạn đến tự phương nào, bạn biết Marcel Proust chăng? Ông ta viết giản dị như này: “The true paradises are the paradises that we have lost”.

Neil trao hai đồng vào tay người xấu số đánh mất thiên đường. Neil ôm cuốn vở bước ra khỏi công viên. Thành phố này vẫn có những buổi sáng lặng ngắt như trong nghĩa địa. Vẫn thường khi mặt đất thôi còn sức hút. Một chú bồ câu vừa sà cánh xuống bên bồn phun nước. Neil ra tới lề đường, ngóng đợi một chuyến buýt sật sừ dừng lại.

Hồ Đình Nghiêm

Tạp chí Văn Học số 208 & 209. Tháng 8 & 9, năm 2003.
Đọc lại, chỉnh sửa vào đầu năm 2019

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Giấc Mộng Về Hưu
Bà lìa đời đúng vào ngày ông chính thức nghỉ việc để về hưu, chắc bà muốn hưởng nhàn một mình một cõi nơi bên kia thế giới, để lại giấc mộng nghỉ hưu mà ông đã lên kế hoạch từ lâu, nay chỉ còn một mình ông với nỗi buồn ngơ ngẩn.

Đứa con trai duy nhất của hai ông bà từ tiểu bang khác dẫn vợ con về lo tang lễ của mẹ xong, đã đề nghị ông về ở với chúng , để cha con , ông cháu đoàn tụ , để ông nương tựa lúc tuổi già. Lời đề nghị rất hợp lý hợp tình, nhưng điều này ông chưa hề nghĩ tới, cả một đời vất vả làm việc, ông chờ đợi cái ngày được nghỉ hưu này để rong ruỗi đó đây, hay để nằm nhà hưởng nhàn, đọc sách báo, coi ti vi, và lên internet là cả một cái thư viện khổng lồ để mở mang kiến thức.

Ông từng mơ hai vợ chồng sẽ đến New York vào mùa đông, sau những bữa dinner với. rượu vang chếnh choáng, ông bà trở về phòng trọ ấm cúng, ngoài kia tuyết rơi, gió lạnh, điều ấy không ảnh hưởng gì đến ông cả, vì ông có phải thức dạy đi làm nữa đâu, ông cứ việc ngủ chán chê, muốn dậy lúc nào thì dậy, rồi ông sẽ vén màn cửa sổ nhìn xuống đường, trong mùa Đông rét mướt kia có bao nhiêu kiếp người đang lao vào cuộc sống, đang tính toán từng giờ từng phút để nghỉ ngơi, để làm việc.

Ông buồn thật, nhớ bà, nhớ những bữa cơm, giấc ngủ, những lúc bà hiền dịu, và cả những lúc bà đanh đá mắng mỏ ông. Sự mất mát, đau thương còn mới quá, ông chả biết làm gì cho hết một ngày, thì về với gia đình thằng con trai vậy..

Nhà có hai vợ chồng với hai đứa con, thêm ông nữa là năm người, ra vào gặp nhau cũng thấy vui. Nhưng chỉ mấy ngày đầu thôi, dần dần ông biến thành baby sit cho nhà nó, trông hai đứa cháu nội, đưa đón chúng đi học, chúng muốn ăn cơm, uống sữa cũng gọi ông, chúng vô bathroom cũng gọi ông…Ăn uống thì con dâu ông quyết định, ông thèm ăn cơm với thịt kho mắm, thì nó bảo món ấy hôi nhà, mời bố ăn món khác. Con dâu còn gợi ý khi thấy ông tha thẩn một mình: nếu bố rảnh rang, buồn chân buồn tay không biết làm gì, thì bố cứ việc hút bụi nhà hay ra vườn cắt cỏ, vừa giết thời gian vừa được việc bố ạ

Trời ơi, con trai và con dâu coi như đời ông đang tàn, ở đây làm việc vặt cho nó rồi chờ chết hay sao? Thời gian nghỉ hưu của ông là vô giá, không tiền bạc nào mua nổi, ông cần dùng nó để vui hưởng, đâu có dư thừa mà phải tìm cách giết nó như con dâu ông đã tuyên bố.

Một tuần sau ông giã từ gia đình thằng con để trở về ngôi nhà của chính ông.

Ông bắt đầu lại cuộc sống độc thân khi tuổi đời đã 66, là một người khoẻ mạnh và nhiều tình cảm, ông muốn về thăm lại Việt Nam sau 25 năm xa cách., 25 năm qua hai vợ chồng ông cùng làm việc chăm chỉ, chẳng những đã giúp cho con trai một món tiền mua nhà khi nó cưới vợ, ông bà cũng có một căn nhà, một ít vốn, và lương hưu này nọ của ông, cộng với 401k…mỗi tháng gần 2000, tha hồ cho ông hưởng một cuộc đời phong lưu.

Về Việt Nam , ông ở chơi dưới quê với bà con họ hàng vài tuần rồi lên thành phố Sài Gòn thuê khách sạn, nơi đây là chốn cũ , những con đường, những khu phố, đầy ắp kỷ niệm. Ông như thấy mình trở lại thời trai trẻ, quán cà phê nào ông đã từng hẹn hò, cơn mưa nào còn đọng lại trong hồn ông những vũng nước, những vết bùn của bước chân vội vàng chiều cuối phố ?

Những ngày xưa đâu? Những mối tình ngắn dài đâu? Ông bâng khuâng bước vào một quán nước mong tìm lại chút hương vị ngày xưa. Nhưng nay đổi khác quá, các cô gái phục vụ trong quán vây quanh ông, chẳng hiểu sao họ biết ông là Việt Kiều nên rối rít hỏi thăm đủ chuyện, lòng ông tràn trề niềm vui và hãnh diện, ông đâu có ngờ ở tuổi này còn được các cô săn đón chiều chuộng như thế! Họ gọi ông bằng anh và xưng em ngọt xớt. Có một cô xinh nhất đám tiếp chuyện ông lâu nhất, đôi mắt cô liếc, đôi môi cô cười, dù ông luôn khẳng định cô chỉ ở hàng con cháu, mà sao cô vẫn là những ngọn sóng làm ông phải chòng chành chao nghiêng.

Ngày nào ông cũng đến quán để gặp cô gái xinh đẹp đó, cô thì thầm tâm sự với ông, cô tên Bưởi, một cô gái quê con nhà nghèo, phải tha hương lên Sài Gòn bán quán để kiếm tiền nuôi cha mẹ già, em nhỏ. Cô tha thiết mong được làm vợ ông, sang Mỹ sinh sống để hầu hạ ông.

Vốn hiền lành, thật thà, tin người như tin mình, ông nghe cảm động quá, lấy cô, vừa cứu được một kiếp người vừa có một cô vợ trẻ đẹp. Từ ngày vợ mất đôi khi ông cũng thấy lòng trống vắng, cô đơn, cũng mong muốn có bàn tay người đàn bà ấp ủ.Thế là ông theo cô Bưởi về quê ra mắt cha mẹ vợ tương lai và làm đám cưới.
Mối tình không biên giới kể cả về tuổi tác và khoảng cách địa lý, chỉ sau 9 tháng đã thành sự thật, cô Bưởi được sang Mỹ đoàn tụ với chồng.

Được vui duyên mới ông đã chịu nhục nghe thằng con trai gọi phone sang đay nghiến, ông già rồi mà còn mê gái, vợ con gì cái thứ gái bia ôm đó! và câu kết luận của con trai là từ bố luôn.

Thôi đành, ông thương con thương cháu, nhưng ông cũng phải thương chính cái thân ông chứ.

Từ nay ngôi nhà ông lại ấm cúng vì đũa đã có đôi, dù là đôi đũa lệch, ông phải tân trang lại ngoại hình, nhuộm tóc đen, làm răng giả, mặc quần jean áo thun và cả cách ăn nói cho trẻ trung để thích hợp với cô Bưởi. Ông chợt khám phá ra một báu vật vô giá ông đánh mất từ lâu mà không biết, đó là hai chữ “tự do”, vợ ông từ giã cõi đời cũng đồng nghĩa là mang trả lại cho ông sự tự do mà bà đã nắm trong tay suốt bao nhiêu năm qua.

Ông tung tăng dẫn cô Bưởi đi phố, đi chợ, đi chợ Mỹ thì không sao, vì chẳng ai để ý đến vợ chồng ông cả, nhưng vào chợ Việt Nam , sao người Việt Nam mình tinh đời thế, ông bắt gặp những cái nhìn tò mò, châm biếm như muốn nói ông già mà còn ham lấy vợ trẻ. Ông đưa cô đi shopping ở Walmart mà cô đã hoa mắt lên, khen quần áo tiệm này sang trọng quá, cô Bưởi vui sướng bao nhiêu lòng ông hạnh phúc bấy nhiêu.

Một năm trôi qua, ông vẫn thấy hạnh phúc còn mới mẻ, nhưng cô Bưởi thì không, cô đã biết chê đồ Walmart rổm, chê nhà hàng nọ không ngon, cô đã biết đánh giá cũng là cái xe hơi 4 bánh nhưng loại nào sang hơn, đẹp hơn. Ông chiều cô vợ trẻ , sắm cho cô một xe hơi đời mới đắt tiền, rồi cô đòi đi làm, ở nhà hoài chán quá, cô cần có tiền để mua sắm thêm và giúp đỡ cha mẹ ở Việt Nam .

Ông yêu cô, không muốn dời cô chút nào, lương hưu ông dư sức nuôi cô ở nhà với ông suốt đời. Nếu để cô đi làm hãng xưởng ông sợ có ngày mất vợ vì mấy thằng Mễ khoẻ mạnh đẹp trai, may quá cô đòi học làm nail, nghề nail có mấy thợ là đàn ông! Còn khách hàng thì toàn là phụ nữ.

Mộng cô đã thành, cô Bưởi đi làm nail, bản tính dạn dĩ xông xáo, chỉ trong vòng một năm mà cô bay nhảy hết tiệm này sang tiệm khác đến mấy lần, cô đi làm từ sáng đến tối, để ông ở nhà thui thủi và mong ngóng cô như trẻ mong mẹ đi xa về, ông chẳng thể nào kiểm soát được giờ giấc của cô, hôm thì cô nói khách đông, hôm thì cô bận đi shopping với bạn bè…đó là những lý do cô thường xuyên về trễ.

Để níu chân cô vợ trẻ, ông muốn có 1 đứa con cho vui nhà vui cửa, đàn bà khi có con thì sẽ chín chắn hơn. Cô Bưởi ngày càng ăn diện, quần áo đồ hiệu lộng lẫy, còn những quần áo cô sắm ở Walmart trước kia bây giờ thành rẻ lau hay đem cho Goodwill rồi, cô bĩu môi chê ông nhà quê không hợp thời, cô ít sánh đôi với ông, ông chỉ còn mỗi một ưu điểm mang ra khoe là anh yêu em vô bờ bến, cả đời anh dành cho em đây.

Khi cô Bưởi báo tin đã có thai, ông mừng quýnh quáng hơn cả ngày xưa vợ ông đã mang thai thằng con trai cưng duy nhất của ông, rồi cô sinh một thằng cu tí mà cô nói rằng nó giống ông như đúc.

Từ ngày có baby nhà cửa vui thật, ông bận rộn tưng bừng, hết pha sữa lại thay tã, bế con, ông đứng ngồi không yên mỗi khi nó gào khóc, còn mẹ nó lại đi làm nail đến tối mịt mùng mới về nhà như cũ.

Nhưng một ngày cô Bưởi không về nữa, ông đợi cô trắng đêm, sáng hôm sau ông lục lọi mọi ký ức để đoán xem cô đang làm nail ở tiệm nào, vì những chủ tiệm nail đều là người Việt Nam nên ông ngại chẳng ra mặt bao giờ và vì cô Bưởi không cho phép. May quá, ông đã đến đúng chỗ, một cô thợ nail nói Betty chơi thân với cháu, Betty tâm sự vì cha mẹ ngăn cản nên Betty phải trốn đi cùng người yêu để xây tổ ấm rồi.Thế hai bác không biết Betty đang yêu Tư Chuột à?

Ông ngẩn người, chết đứng ra, vợ ông Nguyễn thị Bưởi đi làm nail với tên Mỹ là Betty đã đi theo thằng Tư Chuột , ông đau đớn vì mất vợ mà cô này tưởng ông đau đớn vì mất con càng làm ông bối rối, ông hỏi một câu vụng về:

- Tư Chuột là thằng phải gió nào thế? cái tên Tư Chuột thấy mà ghê thì bà nào dám đến làm nail?

Cô gái cười giải thích tên Mỹ nó là Peter, tên Việt Nam là Tư, mặt nhọn hoắc như mặt chuột nên tụi cháu gọi thế .

Ông về nhà đành làm thân gà trống nuôi con, giận vợ nhưng con ông có tội tình gì, ông càng thương con hơn... Thằng bé 8 tháng tuổi, mập mạp khoẻ mạnh, bú vèo một cái hết bình sữa, chắc nó biết thân phận không có mẹ chăm sóc nên chẳng nỡ làm khó dễ cha già, nhưng mỗi lần ông thay diaper cho nó thì nó chẳng biết điều tí nào, hai chân nó vung vẫy lung tung làm ông lọng cọng dán mãi mới xong miếng băng keo…

Ông lo lắm, nếu cô Bưởi đi luôn không bao giờ trở lại thì sao? Ông tưởng tượng một ngày nào ông ngã bệnh, yếu đuối, phải vào Nursing home, thằng cu tí phải vào một nhà trẻ từ thiện nào đó, hai cha con sẽ là hai phương trời cách biệt. Ông thương cu tí quá, đành phải nhịn nhục mà kêu gọi cô Bưởi về thôi, ông liền đăng lên báo mục nhắn tin tìm vợ ‘Bưởi em, ở đâu về gấp, anh sẽ bỏ qua mọi chuyện để chúng mình cùng lo cho con”.

Ông hi vọng và chờ đợi cô Bưởi hồi tâm trở về, có một cú phone gọi cho ông, nhưng không phải cô Bưởi mà là bạn cô Bưởi, cái người ông đã gặp ở tiệm nail trước kia, cô hỏi địa chỉ đến nhà thăm ông, lần này cô tỏ ra hiểu chuyện:

- Cháu xin lỗi bác, lần trước cháu tưởng bác là bố của Betty, nay có người nói với cháu bác là chồng nó, đọc lời nhắn tin tìm vợ của bác trên báo thấy tội cho bác quá, nên cháu đến đây để cho bác biết cái thằng con mà bác đang nuôi đó không phải là con của bác đâu.

Ông lắp bắp:
- Tại sao cô biết nó không phải là con tôi?

Cô ta khẳng định:
- Betty nói với cháu mà, bác xem, mặt thằng nhỏ giống Tư Chuột y khuôn, hai mắt lồi đen, cái mặt nhọn hoắc.

Ông mở to mắt nhìn thằng bé, nó đang nằm cười toe toét, đâu biết mình đang là cục nợ trong ngôi nhà này. Trời ơi! Đúng quá, cô Bưởi cứ nói nó giống ông, nhưng mắt ông đâu có lồi, mặt ông đâu có nhọn thế kia, ông mê mẩn, mù quáng quá, ngày nào cũng ở bên nó mà không nhận thấy sự khác biệt này.

Khi cô làm nail về, ông gục đầu xuống bàn , tức giận và đớn đau !

Hôm sau tỉnh trí , ông lại bỏ vài chục đồng để đăng lời nhắn tin khác trên báo:

“Hai cháu Bưởi và Tư Chuột ( tức Betty và Peter) ở đâu về gấp để đoàn tụ với con của hai cháu là thằng Cu Tí .Chúc hai cháu trăm năm hạnh phúc”.

Lần này thì cô Bưởi lên tiếng, ông nhận được lá thư của cô vài dòng ngắn gọn:

“Đúng thằng cu Tí là con của cháu và anh Tư Chuột, nhưng Tư Chuột đã bỏ cháu, cháu cần rảnh tay để làm lại cuộc đời đầy hoa mộng phía trước, bác đã mang cháu qua Mỹ, mong bác hãy làm ơn cho trót, nuôi thằng cu Tí, để hủ hỉ cùng bác lúc tuổi già xế bóng. Cám ơn bác”.

Thanh Dương

Post Reply