Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Tìm lại tình yêu sau 60 năm xa cách

Một cặp tình nhân Mỹ yêu nhau từ khi còn ở trung học và bặt tin sau lễ tốt nghiệp. Hơn 6 thập kỷ chia xa, họ mới tìm thấy nhau và quyết định chung sống trọn đời.

Image
Jack Ross và Win Cushman những ngày còn đi học. Ảnh: Gannett News.
Jack Ross có tình cảm với Win Cushman từ ngày còn ở trường trung học Highland Park gần Chicago. Chuyện tình của hai người chấm dứt khi Cushman chuyển đến bang Iowa để vào đại học, còn Ross tới New York. Sau đó, cả hai lập gia đình, sinh con, trở thành ông bà và cuối cùng đều góa bụa. Tuy nhiên trong nhiều năm, Cushman vẫn giữ ảnh của người yêu cũ và Ross cũng chưa bao giờ quên gương mặt mối tình đầu.

Năm 2006, Ross tình cờ tìm thấy địa chỉ của người yêu cũ trên Internet và gửi thiệp mừng Giáng sinh cho bà. Tuy nhiên, địa chỉ trên không chính xác và bưu điện gửi trả thiệp cho ông. Không chỉ mình Ross có ý định này, Cushman cũng chuẩn bị quà Giáng sinh sau khi tìm được địa chỉ của Ross trong danh bạ. Ross nhận được nó và nhanh chóng liên lạc lại với bà.
Image
Ông Jack Ross và bà Win Cushman trong lễ cưới. Ảnh: Gannett News.
"Ông ấy gọi và tôi như lịm đi. Chúng tôi quay lại như những ngày còn đi học", bà Cushman cho biết.

"Đàn ông thường không bao giờ quên mối tình đầu. Tôi vẫn luôn tự hỏi là cô ấy đang ở đâu, làm gì", ông Ross chia sẻ.

Cả hai đều không thấy có nhiều khác biệt giữa tình yêu của tuổi 18 ngày xưa với tình cảm ở tuổi 80 hiện nay. Cả hai vừa làm đám cưới hôm 16/3 và hiện chung sống tại bang Arizona.

Ngọc Quỳnh (theo UPI, Chicago Sun-Times)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

"Mực Hàng Bồ, Đồ Hàng Chiếu" ?!
"Mực Hàng Bồ, đồ Hàng Chiếu" - câu "tân tục ngữ" này không phải ai cũng hiểu nhưng chắc chắn những người dân quanh phố Hàng Chiếu (Hà Nội) thì biết.

"Mực Hàng Bồ" chỉ những hàng nhậu vỉa hè, về đêm trải chiếu ngồi la liệt uống rượu với mực khô nướng trên phố Hàng Bồ, Lương Văn Can. "Đồ Hàng Chiếu" thì phức tạp hơn nhiều. "Đồ" ở đây chỉ những "phụ kiện" phục vụ cho một số ít người muốn thỏa mãn nhu cầu thể xác một cách bất bình thường.

Một góc phố Hàng Chiếu

Đoạn phố Hàng Chiếu gần Hàng Đường từ lâu đã hình thành một cái "chợ" nhỏ chuyên bán những thứ… khó nói. "Chợ" chỉ bán hàng từ sớm nhất là chập tối cho đến gần nửa đêm (tùy thời tiết). Tại đây thường xuyên có khoảng hai chục người phụ nữ trong độ tuổi "sồn sồn" ngồi trên những cái ghế nhỏ, tay cầm một vài cái túi xách. Cho dù đang ở độ tuổi nào, chỉ cần đi chầm chậm qua đây, bạn sẽ được hỏi han, mời chào và… được tư vấn. Những người đã thực sự có kinh nghiệm phòng the mà được xem các loại hàng hóa ở đây chắc cũng không khỏi đỏ mặt.

Đáng nói tới nhất ở đây là mặt hàng thuốc kích dục. Loại thuốc rẻ nhất - 1 gói bột rất dễ hòa tan trong nước, dùng cho nữ, có giá 30 ngàn đồng. Loại khả dĩ hơn thì 50 ngàn. Loại xịn nhất là sản xuất tại Đức, 100 ngàn cho 1 lọ thủy tinh nhỏ chứa một thứ nước trong suốt, không màu, không mùi. Cho dù là một nữ điệp viên thượng hạng cũng khó có thể phát hiện ra nếu loại thuốc này đã được pha vào đồ uống.

Trong vai "dân làng chơi", nhưng cũng phải một lúc lượn lờ, tôi và một cô bạn gái mới dám dừng xe để đáp lại lời mời chào nhiệt tình của một người bán hàng. Đứng một lúc, chúng tôi chứng kiến hàng chục lượt khách tìm đến đây mua hàng.

Dĩ nhiên, họ hầu hết là lén lút, mua nhanh bán nhanh vì xấu hổ (lạy Chúa, may mà còn biết xấu hổ). Bởi vậy, những cuộc mặc cả diễn ra chóng vánh và người bán hàng tha hồ hét giá trên trời. Khách mua phần lớn là những "cậu ấm cô chiêu" cưỡi trên những chiếc xe sang trọng. Đa số họ còn trẻ, rất trẻ, nhiều người có dáng chừng như là học sinh, sinh viên.

"Chợ" này đã tồn tại từ nhiều năm nay, lượng thuốc đã bán ra là không thể tính nổi. Trong số những người đã sử dụng, có bao nhiêu người chủ động, bao nhiêu người đã uống thuốc mà không được biết? Không những thế, thuốc xịn thì còn có địa chỉ nguồn gốc, trang web, một vài dòng hướng dẫn sử dụng… chứ những loại thuốc bột rẻ tiền hơn thì bên ngoài vỏ bao nilon chỉ có hình một người con gái hở hang, uốn éo và vài chữ tiếng Hoa.

Các "dược sĩ" ở đây một chữ tiếng Hoa bẻ đôi không biết, tuy bán những thứ rất nhạy cảm như vậy nhưng hỏi nhỏ mới biết những người bán hàng cũng chưa bao giờ dám dùng thử chính hàng mà mình bán ra. Nếu có ai dùng thuốc được bán ra từ đây rồi chết bất đắc kỳ tử thì cũng chẳng có cơ sở gì để truy cứu họ.

Tại các nước khác trong khu vực, mặt hàng phục vụ nhu cầu tình dục được bán trong một số cửa hàng chuyên môn và cũng chịu sự quản lý đặc biệt. Ở Việt Nam, mặt hàng này không phù hợp. Hơn nữa, sự "bán chui" như ở phố Hàng Chiếu có thể gây nhiều hậu quả khôn lường.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Made In Việt Nam

Tiểu Tử

Lẽ ra bữa nay bác sĩ Lê không nhận bịnh nhân vì là ngày nghỉ trong tuần của ông. Nhưng hôm qua, trong điện thoại, nghe giọng cầu khẩn của người bịnh ông không nỡ từ chối. Người đó – ông đoán là một cô gái còn trẻ – nói chuyện với ông bằng tiếng Mỹ. Cô ta hỏi ông nhiều lần :
- Có phải ông là bác sĩ Lee không?
Tên ông là Lê. Cái tên Việt Nam đó ở xứ Mỹ này người ta viết là "Lee", nên ông được gọi là "ông Lee" ( Li ).
Ông ôn tồn trả lời nhiều lần:
- Thưa cô, phải. Tôi là bác sĩ Lee đây.
- Phải bác sĩ Lee chuyên về châm cứu và bắt mạch hốt thuốc theo kiểu á đông không?
- Thưa cô phải.
- Có phải phòng mạch của bác sĩ ở đường Green Garden không?
Bác sĩ Lê, đã ngoài sáu mươi tuổi, tánh rất điềm đạm, vậy mà cũng bắt đầu nghe bực! Tuy nhiên, ông vẫn ôn tồn:
- Thưa cô phải. Xin cô cho biết cô cần gì?
Giọng cô gái như reo lên :
- Vậy là đúng rồi! Con Cathy bị bịnh suyễn nói bác sĩ chữa bịnh hay lắm.. Cả nhà nó, kể luôn ba má ông bà nó đều đi bác sĩ hết.
Đến đây thì ông bác sĩ già đó không kềm được nữa, ông xẵng giọng:
- Cám ơn cô. Bây giờ xin dứt khoát cho tôi biết coi cô muốn cái gì?
Giọng bên kia đầu dây như lắng xuống:
- Tôi xin lỗi bác sĩ. Xin lỗi. Tôi muốn xin bác sĩ cái hẹn cho ngày mai. Tôi bịnh…
- Mai là ngày nghỉ trong tuần, phòng mạch không có mở cửa. Ngày khác vậy.
- Ngày mai cũng là ngày nghỉ của tôi nữa, bác sĩ à.
- Cô đã bịnh thì cứ xin nghỉ để đi bác sĩ, ngày nào lại không được!
Một chút im lặng ở đầu dây bên kia rồi giọng người con gái bỗng nghe thật buồn:
- Họ đâu có cho nghỉ, bác sĩ. Họ nạt vô mặt: "Mầy muốn nghỉ thì mầy nghỉ luôn đi. Thiếu gì đứa muốn vào làm chỗ của mày. Mày biết không?"
Giọng nói như nghẹn ngang ở đó, rồi tiếp:
- Không có việc làm là chết, bác sĩ à…
Ông bác sĩ già làm thinh, suy nghĩ. Đầu dây bên kia, cô gái van lơn:
- Xin bác sĩ thông cảm. Tôi sợ bịnh nặng hơn, không đi làm nổi nữa là mất việc. Xin bác sĩ thông cảm. Xin thông cảm.
- Ờ thôi, để tôi ráng giúp cô. Sáng mai, chín giờ. Phòng mạch của tôi ở số…
- Cám ơn bác sĩ. Cám ơn! Con Cathy có chỉ phòng mạch của bác sĩ rồi.
- Xin lỗi. Cô tên gì?
- Kim. K, I, M.
Bác sĩ Lê vừa ghi vào sổ hẹn vừa nghĩ:"Tội nghiệp! Chắc lại đi làm lậu nên mới bị người ta hâm he như vậy. Theo cách phát âm thì cô này có vẻ là người á đông. Tên Kim chắc là Đại Hàn. Để mình phải phone lại cô Cathy hỏi cho chắc ý kẻo gặp thứ lưu manh thừa dịp ngày nghỉ không có cô phụ tá, nó gài bẫy mình thì khổ!"

Đúng chín giờ, chuông cửa phòng mạch reo. Ông bác sĩ già bước ra mở cửa. Đứng trước mặt ông là một cô gái á đông còn trẻ, ăn mặc theo kiểu "punk": quần áo có tua có tụi, tóc dựng đứng hỗn loạn như con gà xước, đeo nhiều vòng sên bằng bạc to như dây lòi tói, đầy cổ đầy hai cườm tay, mang cái xắc đỏ cũng có tua có tụi. Bác sĩ Lê, quá đỗi ngạc nhiên, chưa kịp hỏi gì, thì cô gái nói bằng tiếng Mỹ rất lưu loát:
- Chào bác sĩ. Tôi là Kim, bịnh nhân đã gọi điện thoại cho ông hôm qua. Tôi có làm cho bác sĩ chờ không?
Bác sĩ Lê chưa hết ngạc nhiên, trả lời một cách máy móc:"Không! Không!" Rồi ông bước tránh qua một bên: " Mời cô!"
Vào phòng mạch, ông đưa cho cô cái áo blouse trắng ngắn tay:
- Cô đến phía sau bình phong bỏ hết quần áo chỉ mặc quần lót thôi, rồi khoác ngược áo blouse này, lưng áo nằm về phía trước.
Trong lúc cô gái loay hoay làm theo lời dặn, ông bác sĩ già gọi phone về nhà, nói bằng tiếng Việt:
- Bịnh nhân của anh tới rồi, đang thay đồ. Chắc một giờ nữa là xong. Em đợi anh về rồi mình đi chợ.
Cô gái bỗng ló đầu ra khỏi bình phong mỉm cười nhìn ông, gương mặt thật rạng rỡ, định nói gì nhưng rồi không nói, thụt đầu vào tiếp tục cởi quần áo.
Một lúc sau cô ta bước ra, mắt ngời lên sung sướng, nói bằng tiếng Việt, giọng như reo lên:
- Bác sĩ là người Việt Nam mà con cứ tưởng là người Tàu! Tên "Lee" nghe Tàu trân!
- Ủa! Vậy mà tôi cứ nghĩ cô là người Đại Hàn chớ!
Rồi cả hai cùng cười, cái cười rất sảng khoái. Tình đồng hương trên đất khách bỗng thấy thật ấm, thật đầy…Ông bác sĩ già nhìn cô bịnh nhân trẻ mặc áo blouse trắng đứng trước mặt ông mà không còn thấy cô gái "punk" hồi nãy nữa!
Ông đưa cho cô cái dĩa, rồi vừa chỉ cái giường cao vừa nói:
- Cô cởi hết đồ nữ trang để vào đây, rồi lên nằm trên này để tôi chẩn mạch.
Cô gái làm theo như cái máy.
Phòng mạch được trang trí rất đơn sơ, nhưng thật yên tịnh. Trong không khí có mùi thơm dìu dịu của moxa (ngải cứu, đốt lên để hơ huyệt). Cái giường khám bịnh cao ngang tầm tay của bác sĩ. Ở một đầu giường có gắn thêm một vòng bằng da để chịu cái đầu của bịnh nhân, và khi bịnh nhân nằm sấp để châm cứu trên lưng thì mặt người bịnh nằm trọn trong vòng da. Như vậy, người bịnh không cảm thấy khó chịu nhờ khoảng trống ở giữa vòng da giúp người bịnh vẫn thở đều đặn và mắt được nhìn thoải mái xuống sàn nhà.
Bác sĩ đặt hai bàn tay lên cánh tay trần của cô gái, ôn tồn hỏi:
- Cô bịnh làm sao? Nói tôi nghe.
- Con ngủ không được, đêm nào cũng trằn trọc tới khuya. Hay bị chóng mặt. Đang đứng làm việc, tự nhiên muốn sụm xuống làm sợ toát mồ hôi. Con lo quá, bác sĩ. Mất việc làm chắc con chết quá, bác sĩ!
Ông Lê bóp nhẹ cánh tay bịnh nhân:
- Cô yên tâm. Có tôi đây. Mà…cô có uống rượu không?
- Không. Dạ thưa không.
- Cô có hút thuốc không?
- Dạ thưa có. Hút cũng nhiều…
- Cô có xì ke ma túy gì không? Nói thiệt tôi nghe.
- Mấy thứ đó con không dám rớ. Hồi ở bên nhà thằng anh con chết vì ba cái thứ ôn dịch đó, bác sĩ à. Vì vậy, con sợ lắm!
- Cô le lưỡi tôi coi.
Bác sĩ khom xuống nhìn rồi nói:
- Ùm. Được rồi. Bây giờ cô nằm yên, để hai tay xuôi theo thân mình, nhắm mắt, thở đều đặn.
Ông bác sĩ già đứng cạnh giường đặt mấy đầu ngón tay lên cườm tay cô gái, chăm chú bắt mạch. Một lúc sau, ông bước vòng qua phía đối diện bắt mạch tay bên kia. Bộ mạch nói lên một sự rối loạn tâm thần. Cô gái này chất chứa quá nhiều ẩn ức nên sanh bịnh. Ông nhìn cô gái đang nhắm mắt thở đều: gương mặt Việt Nam đó, bỏ đi món tóc "punk", vẫn toát ra nét nhu mì dễ thương. Ông cảm thấy tội nghiệp cô bịnh nhân trẻ này và thắc mắc không biết hoàn cảnh nào đã đưa đẩy cô ta trôi qua xứ Mỹ để có một cuộc sống mà ông đoán là thật bấp bênh, qua cuộc nói chuyện trong điện thoại. Ông nói:
- Bây giờ, cô nằm sấp xuống để tôi châm trên lưng.
Cô gái mở choàng mắt nhìn ông, mỉm cười, một nụ cười đầy tin tưởng. Ông bác sĩ nói tiếp:
- Cô đừng sợ. Châm không có đau. Còn nhẹ hơn kiến cắn nữa.
Cô gái trở mình nằm sấp, hai vạt áo blouse rớt xuống hai bên, bày ra cái lưng thon thon với nước da ngà ngà. Theo thói quen, trước khi châm, bác sĩ vuốt lưng bịnh nhân vài lần để bịnh nhân đỡ bị stress. Lần này, khi vuốt xuống thắt lưng, ông để ý thấy dưới làn vải mỏng của quần lót có một vết bầm nằm vắt ngang phía trên của mông. Ngạc nhiên, ông hỏi :
- Cô bị ai đánh hay sao mà bầm vậy?
Cô gái cười khúc khích:
- Bác sĩ coi đi!
Ông già kéo quần lót xuống một chút, thì ra không phải vết bầm mà là hàng chữ xâm màu chàm: Made In VietNam! Ông bật cười, vừa kéo lưng quần lót lên vừa nói:
- Cha…Bạo quá há!
Cô gái hơi rút cổ cười khúc khích vài tiếng nữa rồi im. Chắc cô đang sống lại với một vài kỷ niệm nào đó. Ông bác sĩ già áp hai lòng bàn tay lên lưng bịnh nhân, nhưng bây giờ sao ông không còn thấy cười được nữa. Hàng chữ "Made In VietNam" nhắc cho ông rằng con người nằm đây là sản phẩm của quê hương ông, cái quê hương đã mấy chục năm xa cách, cái quê hương mà ở đó ông không còn ai để nhớ, nhưng ông còn quá nhiều thứ để nhớ. Những thứ cũng mang dấu ấn "Made In VietNam", từ con trâu cái cày, từ mảnh ruộng vườn rau, từ hàng cau rặng dừa, từ con đường đất đỏ đến con rạch nhỏ uốn khúc quanh quanh…Chao ơi! Bỗng nhiên sao mà nhớ thắc thẻo đến muốn trào nước mắt…
Ông bác sĩ vuốt lưng cô bịnh nhân thật chậm để cho niềm xúc động lắng xuống tan đi. Ông có cảm tưởng như ông đang sờ lại được quê hương, có chỗ cao (đồi thông 2 mộ)chỗ thấp(Thung Lũng Tình yêu), có phù sa (ĐBSCL)đất mịn màng wá xá…Tự nhiên, ông muốn nói lên một tiếng "cám ơn". Ông muốn cám ơn cô bịnh nhân đã mang quê hương đến với ông bằng hàng chữ nhỏ xâm trên bờ mông, chỉ vỏn vẹn có một hàng chữ nhỏ. Và ông cũng muốn nói với cô, nói một cách thật tình, không văn chương bóng bẩy, nói như ông nói cho chính ông, vỏn vẹn chỉ có một câu thôi: "Tôi cũng made in VietNam đây!" Nhưng rồi ông làm thinh tiếp tục vuốt lưng người bịnh. Ông biết rằng cô gái không thể nào hiểu được ông, một bác sĩ già vừa quá sáu mươi, đã gần nửa tuổi đời lưu vong trên xứ Mỹ, có đầy đủ tiền tài danh vọng mà cũng xâm hàng chữ "Made In VietNam", xâm ở trong lòng…
Bác sĩ im lặng dò huyệt châm kim. Bỗng cô bịnh nhân nói, giọng buồn buồn, làm như cô vừa xem lại hết một đoạn phim đời nào đó:
- Thằng bồ của con xâm cho con để làm kỷ niệm hồi tụi này còn ở Louisiana. Ảnh là thợ xâm…
- Ủa! Rồi sao bây giờ cô ở đây?
- Con theo ba má con dọn về Cali, ổng bả nói ở Cali bạn bè nhiều làm ăn dễ.
- Ờ…người Việt mình thích ở miền nam Cali lắm.
Ngừng một chút bác sĩ lại nói, trong lúc hai tay vẫn tiếp tục châm kim:
- Ở Cali khí hậu tốt hơn nhiều tiểu bang khác. Mà…ba má cô làm gì ?
Cô gái làm thinh một lúc mới trả lời, giọng ngang ngang :
- Qua đây rồi ổng bả đá đít nhau. Bả lấy thằng Mễ chủ pressing , còn ổng thì chó dắt ổng ôm được một bà Mỹ goá chồng có tài sản.
- Vậy rồi cô ở với ai?
- Với ba con. Bà Mỹ cho con đi học college, ba con lái xe đưa rước.
- Vậy mà sao hôm qua, trong phone, cô nói cô đi làm?
Giọng cô gái như nghẹn lại:
- Khổ lắm bác sĩ.
Cô ngừng một chút để nén xúc động rồi nói tiếp:
- Ba con ỷ có bà Mỹ nuôi, không chịu đi làm. Tối ngày cứ đi nhậu với bạn bè, rồi nay đổi xe, mai đổi xe…Con nói ổng, chẳng những ổng không nghe mà còn chửi con: "Tiên Tổ mày! Tao đem mày qua đây đặng mày dạy đời tao hả!"
Lại ngừng một chút mới nói được, nói như trút hết ẩn ức còn lại:
- Có lần ổng xáng cho con mấy bạt tay đau điếng…
Rồi nghẹn ngào :
- Lần đó, con bỏ nhà đi hoang…
Nói xong, hít một hơi thật sâu rồi thở hắt ra một cái như vừa làm xong một việc gì thật khó!
Ông bác sĩ im lặng, tiếp tục châm, mà nghe thương hại cô bịnh nhân vô cùng. Cô ta cỡ tuổi con gái út của ông. Con gái út của ông đang học đại học, còn cô này thì đang sống trong hoàn cảnh quá bấp bênh. Cả hai đều Made In VietNam hết!
Châm xong, ông đặt tay lên cánh tay trần của bịnh nhân, vuốt vuốt như vuốt tay một đứa con đang cần được vỗ về an ủi:
- Cô cứ nằm yên như vầy độ mười lăm phút, nghen.
Tiếng "dạ" bỗng nghe như đầy nước mắt.

Sau khi gỡ kim, ông bác sĩ bóp tay bóp chân bịnh nhân một lúc rồi nói:
- Bây giờ thì cô mặc quần áo vào được rồi.
Cô gái ngồi lên nói "cám ơn" mà đôi mắt vẫn còn mọng nước. Cô bước vào sau bình phong, chậm rãi mặc quần áo, làm như cô muốn những xúc cảm hồi nãy có thời gian để thấm sâu vào lòng…
Khi cô bước ra, gương mặt cô đã trở lại rạng rỡ. Cô mỉm cười nhìn ông bác sĩ, rồi, vừa mở cái xắc đỏ vừa hỏi:
- Bao nhiêu vậy, bác sĩ?
- Không có bao nhiêu. Chừng chữa xong rồi cô hãy trả.
- Bác sĩ cho con trả mỗi lần, chớ đợi hết bịnh, tiền đâu con trả. Cái thứ đi làm lậu như con…
- Cô yên tâm. Rồi mình tính.
Ông bác sĩ đưa dĩa nữ trang:
- Cô đừng quên mấy thứ này.
Cô gái phì cười, không đeo vào người mà trút hết vào xắc, rồi hỏi:
- Chừng nào con trở lại nữa, bác sĩ?
- Tuần tới, cũng ngày này giờ này.
Bác sĩ mở tủ thuốc, chọn lấy ra hai chai có dán nhãn sẵn, trao cho bịnh nhân:
- Trên nhãn có ghi liều lượng: mỗi ngày, cô uống sáng trưa chiều, mỗi thứ hai capsule.
Ra đến cửa phòng mạch, ông bác sĩ già cầm bàn tay cô bịnh nhân trong hai bàn tay của ông, lắc nhẹ:
- Bớt hút thuốc đi, nghen! Từ từ rồi tôi sẽ chữa cho cô vụ ghiền thuốc nữa.
Ngập ngừng một chút rồi ông nói, giọng ôn tồn:
- Tôi muốn nói với cô điều này…
Cô gái chớp chớp mắt chờ. Chắc là lần đầu tiên cô được một ông già cầm tay một cách ân cần như vậy. Bác sĩ nói:
- Mình là người Việt Nam, ăn mặc theo "punk" không hạp với con người với bản chất của mình chút nào hết. Cô đâu có xấu mà cô làm cho xấu đi, uổng lắm! Mình phải xứng đáng là Made In VietNam, chớ cô.
Cô gái nhìn vào mắt ông bác sĩ, không nói gì hết, chỉ siết tay ông già một cái thật mạnh, rồi bước ra xe, một chiếc xe hơi cũ mèm phải đề tới bốn lần mới nổ máy!

* * *

Ông bác sĩ Lê ngồi uống cà phê với tôi ở khu Phước Lộc Thọ ( Orange County – Nam Cali ). Ông kể tiếp :
- Anh biết không, lần sau cô Kim đến phòng mạch, ăn mặc chải gỡ rất dễ thương. Chẳng có chút gì "punk" hết! Lần khám bịnh đó, tôi có hỏi cổ sao không về sống với thằng bồ ở Louisiane có phải hơn là sống cù bơ cù bất ở Cali. Cổ nói như mếu: "Ảnh có vợ rồi". Tôi biết: như vậy là cổ kẹt thiệt. Tôi đem chuyện này kể cho vợ tôi nghe. Bả cảm động lắm nên đề nghị giúp tiền cho cổ học một cái nghề gì đó, uốn tóc, làm nail chẳng hạn, để có công ăn việc làm vững chắc hơn là đi làm lậu tầm bậy tầm bạ.
Tôi nói chen vào:
- Chắc gì cổ chịu. Nghe anh kể, tôi đoán chị này cũng tự ái lắm.
- Anh nói đúng. Cổ từ chối hoài. Sau nhờ vợ tôi mời cổ về nhà khuyên nhủ, coi như là trong thân tình, cổ mới chịu. Hôm đó, cổ ôm vợ tôi vừa khóc vừa nói: "Con cám ơn ông bà. Cám ơn ông bà."
- Sau đó cổ có đi học thiệt không?
- Có. Học làm nail. Học giỏi nữa là khác.
- Cổ bây giờ ra sao rồi ?
- Mới đầu làm thợ, làm công cho người ta. Bây giờ vừa làm thợ vừa làm chủ. Khá lắm!
- Mừng cho cổ, há!
- Cổ xách đồ nghề tới làm nail cho vợ tôi, con út và hai con dâu tôi thường lắm. Làm không lấy tiền. Cổ cứ nói với mấy con tôi: "Tôi chịu ơn ông bà bác sĩ biết đời nào mới trả cho hết, mấy cô biết không? Tôi không dám nói ra, chớ mỗi lần tôi cầm bàn tay của bà bác sĩ để làm nail, tôi vẫn nghĩ không có bàn tay này thì làm gì tôi thoát ra khỏi hoàn cảnh của tôi hồi đó để có những gì tôi có hôm nay…"
- Dễ thương quá!
- Noël, ngày Tết…cổ đều mang quà đến tặng vợ chồng tôi.
- Con người ở có tình có nghĩa quá, anh há!
- Đã hết đâu! Cổ còn nhớ đến ngày giỗ của ba má tôi nữa. Mấy ngày đó tụi con tôi có đứa quên chớ cô ta không bao giờ cô ta quên. Ngày đó, cô đem đồ tới cúng và ở lại phụ vợ tôi nấu nướng dọn giẹp nữa. Cho nên vợ tôi quí cô ta lắm!
Nói xong, bác sĩ Lê vỗ vai tôi, cười:
- Anh thấy không? Cô ta mới đúng là "Made In VietNam" đó! Còn nguyên chất, hè!
Ông Lê vui vẻ cầm tách cà phê vừa nhâm nhi vừa nhìn quanh. Người Việt Nam đi đầy trong thương xá. Cung cách có hơi khác nhưng nói năng thì y hệt như ở bên nhà. Một vài tiếng chửi thề rớt rơi đây đó, nghe rất tự nhiên. Bỗng ông quay sang hỏi tôi mà nghe như ổng tự hỏi ổng:
- Không biết ở xứ Mỹ này, đồng hương lưu vong, có ai lâu lâu nhớ lại rằng mình "Made In VietNam", không?
- Có chớ anh! Nhưng cũng có người chẳng những không nhớ mà còn tự đóng cho mình con dấu "Made In USA" nữa, anh à. Thứ đó bây giờ thấy cũng nhiều!
Tôi đưa tách lên môi uống ngụm cà phê cuối cùng, bỗng nghe cà phê sao mà thật đắng…

Tiểu Tử

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Nhớ mãi hát ru Tiếng ru là tiếng lòng, là chiều sâu trong tâm tưởng, thể hiện tâm tư tình cảm của người hát. Có nhà thơ đã viết:

Dẫu tôi đi trọn cuộc đời
Vẫn chưa đi hết những lời mẹ ru.

Hát ru là một nét đẹp đặc sắc thuộc về văn hóa tinh thần của người Việt Nam xưa. Lời ru mộc mạc, đơn sơ nhưng sâu kín, dạt dào tình cảm, ẩn chứa bao điều hay lẽ phải hấp thụ dần vào người nghe –từ thuở ấu thơ. Hát ru gồm nhiều dạng: mẹ ru con, bà ru cháu, chị ru em... Dù thuộc dạng nào đi nữa hát ru vẫn thể hiện tâm hồn con người là bản sắc văn hóa. Ngày xưa, khi các thiết bị âm thanh chưa ra đời hoặc chưa phổ biến thì lời ru là một động lực, là phương tiện vỗ về những đứa trẻ lúc còn nằm nôi. Có thể nói lời ru đã hình thành nên tính cách cơ bản của trẻ, giúp trẻ cảm nhận được tình mẫu tử bao la vô bờ bến, yêu mến thiên nhiên, cảnh vật... Lời ru làm cho tâm hồn người thêm trong sáng, cao thượng. Lời ru giản dị, gần gũi mang nét dân dã giúp con người thêm yêu ngôn ngữ, tiếng nói dân tộc, tình yêu thương nhân loại, yêu quê hương xứ sở. Chiếc võng đong đưa, chiếc nôi kẽo kẹt, với bàn tay âu yếm của ông, của bà, của chị... với dòng sữa ngọt ngào tươi mát tràn đầy sức sống của mẹ sẽ thấm dần qua tiềm thức con người ngay thời thơ ấu, cộng thêm lời ru êm ả dẫn dắt người ta vào cõi thần tiên, nơi bình lặng, êm đềm, con người cảm nhận được hình ảnh quen thuộc đó từ thuở mới lọt lòng và cũng giúp con người lớn hơn lên từ đó. Có nhà văn đã nói rằng: thật bất hạnh cho những ai từ lúc sinh ra và lớn lên mà không được nghe tiếng ru ngọt ngào của mẹ, của bà... Tâm hồn của người đó sẽ sớm cằn cỗi và thiếu đi tình cảm thiêng liêng từ buổi đầu.

Lời ru thường không có tựa, không có bài bản cố định, được các bà, các chị... hát bắt quàng, hết câu nọ sang câu kia như.

Ví dầu nhà dột cột xiêu
Muốn đi cưới vợ sợ nhiều miệng ăn

Miệng vừa hát, tay đưa nhẹ chiếc võng, cháu oe oe khóc, các bà, các chị lại hát:

Má ơi con vịt chết chìm
Con thò tay xuống vớt con cá lìm kìm nó cắn tay con
Cắn con chảy máu re re
Cây me có trái, chị hai có chồng.

Chiếc võng đưa nhanh hơn, các bà, các chị bắt đầu hơi cao giọng, luồng gió mát từ chiếc võng đong đưa cộng với câu hát êm tai của bà, của chị, đứa trẻ dường như cảm nhận được tình cảm thiêng liêng của bà, của chị đang cố gắng đưa nó vào giấc ngủ, nên nó bớt khóc, chân mày hơi nhíu lại, các bà, các chị tiếp:

Khoang khoang buông áo em ra
Để em đi bán kẻo hoa em tàn.

Đến đây thì thật sự đứa bé đã lim dim, không còn khóc nữa, nhịp võng vẫn không ngừng, nhưng có lẽ giấc ngủ nó chưa sâu, nên các bà, các chị lại hát, phải ru cho nó ngủ thật sự ngon lành:

Má ơi đừng đánh con đau
Để con bắt ốc, hái rau má nhờ...

Nội dung của câu hát ru thường mang tâm sự của người phụ nữ đối với người thương, đối với cha mẹ, đối với chồng chứ ít khi bày tỏ tình cảm trực tiếp với đứa trẻ đang ôm trong lòng.

Thương con thì nhớ đến chồng hoặc than thân trách phận bởi người chồng phụ bạc, hay giải bày nỗi niềm chua xót bởi tình duyên lận đận, lao đao do lễ giáo phong kiến áp đặt. Đây là lời người phụ nữ với người chồng phụ bạc:

Gió đưa bụi chuối sau hè, anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẵm tay bồng, tay nào xách nước ơ tay nào vo cơm.

Hoặc:

Gà lạc mẹ gà kêu chít, phụng lìa loan phụng chẳng muốn bay
Từ ngày anh xa bạn đến nay, châu cầm lụy hạ biết ngày nào cho dạ anh nguôi.

Lời lẽ hát ru còn để tự sự về lòng chung thủy, về tình nghèo, về lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, cách dạy con...
Trong cảnh thanh vắng lúc hoàng hôn, bên nhịp võng đong đưa cô gái mượn câu hát ru con thay lời nhắn gởi về cha mẹ già ở quê xa:

Chiều chiều chim vịt kêu chiều,
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Hay:

Ngó lên nuột lạt trên nhà,
Đếm bao nhiêu nuột thương mẹ già bấy nhiêu.

Cũng có khi câu hát ru nói về tình bạn, tình đời hoặc người hát ru tự nhắc nhở mình:

Cây xanh thì trái cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành để đức cho con...

Phương tiện hỗ trợ cho hát ru là chiếc võng, cái nôi, cánh tay và lồng ngực. Tiếng ru là tín hiệu truyền thông giữa hai đối tượng tiếp xúc với nhau: người hát ru và trẻ đang cần tiếng ru vỗ về để đi vào giấc ngủ vô tư, hồn nhiên, đầy mộng đẹp. Chỉ khi nào đứa trẻ nhõng nhẽo, khóc nhè đòi ngủ và được đặt lên võng đong đưa hoặc bế lên tay thì tự nhiên chùm hát ru được phát lên qua giọng trầm ấm, đều đều của ông, của bà, của mẹ, của chị... như vỗ về, ôm ấp đưa trẻ vào giấc ngủ say.

Nhịp điệu của câu hát đưa em không gãy gọn và khúc chiết như bài lý mà được diễn đạt tự do, thoải mái, trầm bổng, nhặt khoan tùy thuộc vào trạng thái tình cảm giữa người hát và đứa trẻ. Trường hợp người hát ru đã hát hàng chục câu mà đứa trẻ chưa chịu ngủ hoặc đang ngủ mà giật mình khóc thét lên thì người hát ru không thể hát theo nhịp đều đều nữa mà phải chuyển giọng lên cao hơn hoặc xuống thấp hơn, đồng thời tiết tấu cũng phải thay đổi từ chậm đến nhanh, dồn dập hơn trước.

Hát ru là một trong những yếu tố tạo được mối quan hệ truyền cảm giữa ông bà và cháu, giữa mẹ và con, giữa chị và em. Ngay từ thuở bé, trẻ đã được nghe âm thanh ầu ơ dịu ngọt qua lời ru. Lớn lên, trẻ cảm nhận và hiểu được dần nội dung của từng câu hát ru và không biết tự bao giờ tiếng ru đã trở thành một trong những yếu tố giúp trẻ hình thành nhân cách. Đối với người hát cũng vậy, không phải họ hát chỉ để ru trẻ ngủ mà còn hát cho chính mình và những người xung quanh cùng nghe. Câu hát ru còn đưa họ về với cuộc đời đầy ắp những kỷ niệm vui buồn trong xã hội phong kiến ngày xưa.

Nay, dường như tiếng hát ru trở nên hiếm, còn chăng chỉ một ít vùng, một vài nơi ở nông thôn. Gần như máy hiện đại đã thay thế hát ru, chỉ cần lắp băng, ấn nút, người ta có thể ru em bé bằng mọi giọng hát, mọi thứ nhạc xa lạ kể cả giọng hát của người nước ngoài. Thậm chí có người còn mở nhạc Pop, Rock át đi tiếng khóc của trẻ. Như vậy, các em trưởng thành từ những điều xa lạ, không cảm nhận được hơi ấm của người thân, tình làng nghĩa xóm, hình ảnh quê hương, bao điều thân thuộc sẽ dần dần phai mờ trong ký ức tuổi thơ. Các em sẽ thiếu đi lời giáo huấn ân cần chất chứa trong những lời ru.
Trải qua bao cuộc bể dâu dù bao thay đổi của cuộc đời, tiếng ru vẫn mãi muôn đời còn giữ nguyên giá trị của nó. Cần phải có sự quan tâm giữ gìn và phát huy hát ru- một nét son trong kho tàng văn hóa dân tộc.

TRẦN KIỀU QUANG

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Chữ Tình !

Kathy Trần
Con người có chữ tình nên mới có chuyện tình yêu muôn đời không dứt. Người sang, kẻ hèn, người mạnh, kẻ yếu, người văn minh, người tiền sử chắc chắn lúc nào cũng phải có tình yêu.

Không có tình yêu làm sao trong thiên nhiên với định luật mạnh được yếu thua mà những con cái, luôn bé nhỏ hơn, vẫn sống còn và trong thế giới loài người, dường như các bà ngày càng tiến bộ và muốn vượt qua mặt các ông?

Các ông cho rằng trời sinh ra mình để làm chủ: Làm chủ người đàn bà, làm chủ gia đình, làm chủ đất nước, xã hội v.v.

Cũng trời sinh các ông có một trái tim đại bác luôn luôn kêu gào tình yêu với những nhu cầu khó thể đè nén hơn phụ nữ. Các ông, đa số, đi tìm đối tượng trước chứ không phải các bà và hầu như xã hội nào cũng chấp nhận cái quyền đó của các ông.

Các bà mà lỡ dại ngỏ lòng cho người ta biết là bị mắng nhiếc ngay: “Trâu đi tìm cọc chứ cọc nào đi tìm trâu?”

Trong khi đó, các ông cứ việc tự do. Không những cơm nhà, quà vợ, các ông còn đòi hỏi những “chuyện bên lề” cho cuộc đời thêm hấp dẫn.

Cái nhu cầu, thật ra không cần thiết vì không có cũng chẳng chết ai, của các ông đưa tới dịch vụ “lầu xanh, lầu hồng” làm khổ các bà và làm hại bao cuộc đời thiếu nữ cũng như tàn hại tinh thần, thể xác, gia đình, sự nghiệp, danh dự và thậm chí tới đất nước các ông.

Bất cứ thời đại nào, đất nước nào cũng không thiếu những trang sử của các ông thân bại, danh liệt vì những mảnh má hồng!

Hãy tưởng tượng nỗi đam mê ngùn ngụt của các ông có thể làm cháy tiêu cả một đất nước?

Người bình dân chúng ta không có đất nước, thành quách để làm nghiêng đổ nhưng vẫn có một trái tim để yêu, để tương tư và ao ước.

Buổi tối trời mưa giăng giăng, chàng ngồi bó gối, nhìn những giọt mưa rơi rơi từ mái tranh, những con dơi thoang thoáng bay tìm mồi, những cành hoa đẫm nước run rẩy, gió mang thêm hơi nước lạnh lùng, tự nhiên, chàng buồn buồn, nghe thèm một miếng trầu cho thơm miệng cho ấm bụng, một tấm chăn và... một ai đó cho ấm áp cõi lòng, rồi chàng đâm ra mơ mộng:

“Ước gì anh hóa ra mưa
Để em đi tắm nước mưa chậu đồng
Ước gì anh hóa ra dơi
Bay đi bay lại trên nơi em nằm
Ước gì anh hóa ra hoa
Để em nâng lấy để mà cài khăn
Ước gì anh hóa ra chăn
Để cho em đắp em lăn em nằm
Ước gì anh hóa ra gương
Để cho em cứ ngày thường em soi
Ước gì anh hóa ra cơi
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng.”


Cơn mơ của chàng đi tới ước muốn trầu cau. Chàng ước ao ai đó về sửa túi, nâng khăn, chia xẻ cuộc đời cùng chàng!

Bao giờ ước vọng đẹp như mơ của chàng thành sự thật?

Dù hàng rào lễ giáo ngăn cách nhưng chàng và nàng vẫn cứ tìm cách để gặp nhau, họ vẫn hẹn hò và rồi... có người sai hẹn để một người trằn trọc vào ra, chong đèn chờ đợi mỗi đêm:

“Đêm khuya khêu ngọn đèn loan.
Nhớ người quân tử thở than đôi lời
Mong chàng chẳng thấy chàng ơi
Thiếp tôi trằn trọc vội dời chân ra
Nhác trông trăng đã xế tà.
Đêm hôm khuya khoắt con gà gáy sang canh.
Mong anh mà chẳng thấy anh.
Thiếp tôi buồn bã khêu quanh ngọn đèn.”


Ngày nào đã hẹn hò nhau sao nay chỉ còn chờ đợi? Trăng đã xế, đêm đã khuya, gà đã gáy sang canh, ngọn đèn dầu đã cạn sao chàng chưa tới? Nước mắt thiếp tôi lại nhỏ xuống vơi đầy:

“Đêm khuya thắp dĩa dầu đầy,
Dầu đà khô hết, nước mắt này không khô!”


Chàng đã hứa hẹn, thề thốt nặng lời. Chàng hứa chắc với nàng rằng tình chàng nặng như sóng với bờ và sẽ không bao giờ có chuyện chia xa:

“Chừng nào cho sóng bỏ gành,
Cù lao bỏ biển, ai đành bỏ ai.”


Chàng nói rằng nếu vì lý do gì chàng không được cùng nàng gá nghĩa, chàng sẽ đi tu, không màng tới cuộc đời và nàng cũng một lòng hứa hẹn với chàng rằng:

“Đó đi tu, đây xin ở sãi,
Ăn dĩa tương chùa, trọn ngãi cùng nhau.”


Họ yêu nhau, họ hứa hẹn, họ thề non, hẹn biển và họ có được nhau. Hạnh phúc đã một thời của họ, nhưng ai tin được lòng người?

“Dò sông, dò biển dễ dò,
Mấy ai lấy thước mà đo lòng người?"
Nên bây giờ nàng cô quạnh:
“Đi đâu để nhện giăng mùng,
Để đôi chiếu lạnh, để phòng quạnh hiu.”
Chiếu lạnh, phòng không!
Đợi chờ héo hắt vì người thương đi mãi không về:
“Đói lòng ăn nửa trái sim,
Uống lưng bát nước đi tìm người thương.
Người thương ơi hỡi người thương,
Đi đâu mà để buồng hương lạnh lùng?”


Nàng tìm chàng, muốn theo chàng dù chân trời, góc bể, dù no, dù đói, dù gió bấc lạnh lùng vì chỉ muốn được gần ai. Nàng năn nỉ khi chàng ra đi:

“Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam...”


Muốn hy sinh tất cả mong được gần chàng nhưng trong lòng nàng, dù lời thề thốt năm xưa còn vang mà mối nghi ngờ lòng ai đổi thay đã thấp thoáng.
Nàng kéo chiếc khăn rằn lau những giọt nước mắt cam chịu nếu rủi số mệnh bắt nàng hẩm hiu:

“Ví dầu tình có dở dang
Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp về...”


Gặp nhau, chàng phân bày hoàn cảnh của mình, nêu những lý do hai đứa không thể gần nhau, rồi chàng... ra về.

Lòng đau như cắt, nàng xin chàng dù xa nhau cũng xin để lại manh áo cho nàng, để nàng ôm ấp những khi nhung nhớ:

“Anh về để áo lại đây
Để khuya em đắp gió tây lạnh lùng...”


Và chàng thản nhiên trả lời:

“Có lạnh lùng, lấy mùng mà đắp
Trả áo anh về đi học kẻo trưa.”


Chàng đòi áo lại để về đi học!

Bây giờ nàng mới biết chàng chỉ viện lý thôi, lý do chính là chàng về với... vợ, với con và nàng chỉ là mối tình qua đường!

Tình nghĩa gì nữa với con người đã lừa gạt mình dù đã hứa hẹn, thề thốt đủ điều:

“Anh về tìm vợ con anh,
Lá rụng về cội bỏ nhành bơ vơ.
Tiếc công vót nứa đan lờ,
Để cho con cá vượt bờ nó đi!”


Chàng không phải là của nàng, chàng là của vợ, của con và chàng về với họ, nàng hối tiếc tấm tình mình đã cho đi, công mình đã chăm sóc một người không xứng đáng... nhưng mà, trời ơi! Con tim có lý lẽ riêng của nó, nàng nhìn theo bóng người về mà nước mắt ròng ròng:

“Anh về em chẳng dám đưa
Hai hàng nước mắt như mưa tháng mười!”


Người đã phụ tình, người đi về rồi, mối tình một thuở đã tan nhưng mà cảnh còn nhung nhớ và tấm lòng người ngồi đây vẫn mãi tương tư:

“Chiều chiều ra bãi mà trông
Bãi thời thấy bãi, người không thấy người!”
Để ngậm ngùi tự hỏi:
“Cây đa bến cũ lỡ rồi
Đò đưa bến khác bạn ngồi đợi ai?”


Không chỉ người đàn ông gian dối, phụ tình mà người phụ nữ cũng góp phần vào những cuộc tình ngang trái bởi vì không bao giờ có chuyện một người làm nên tội lỗi trong tình yêu.

“Tại anh, tại ả, tại cả hai bên!”.

Thế nên khi nhìn bóng, nhìn hình, nghe tiếng nói, tiếng cười một người, chàng yêu nàng tha thiết và muốn tính cuộc trăm năm, nhưng mà...tiếng đồn rằng nàng đã có chỗ, có nơi!

Chàng gặng hỏi người thương:

“Bậu có chồng chưa, bậu thưa cho thiệt
Đừng để anh lầm tội lắm, bậu ơi!”


Yêu lầm đã tội mà lấy phải người lang chạ, không chung thủy sau khi họ đã một lời hứa hẹn sẽ thủy chung lại càng thêm chua xót:

“Bậu nói với ta: bậu không lang chạ
Bắt đặng bậu rồi, đành dạ bậu chưa?”


Nhiều khi người ta yêu nhau chân thành, tha thiết khi cả hai còn phòng không, bóng chiếc thế mà mối tình vẫn không thành:

“Anh thương ai khi anh trai chưa vợ
Em nhớ ai khi em còn gái chưa chồng...”


Tại ai hay chỉ tại họ không có duyên nợ cùng nhau?

“Trách ai se sợi chỉ hồng
Không săn lại rối cho lòng anh đau.
Biết là duyên nợ về đâu
Ai gánh thảm đi trước, ta quảy sầu theo sau!”


Mối tình chia xa làm nên sầu, nên thảm cho ai? Làm sao chia xẻ giùm nhau những thảm sầu này?

“Chữ thảm em gánh đổ đâu?
Chỉ cho anh vớt kẻo sầu nặng vai!”


Kathy Trần

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

TÌNH GIÀ


Thời trai trẻ, tôi thấy nhiều ông bà già, đã già gần sụm bánh chè mà vẫn còn lấy nhau. Tôi vừa ngạc nhiên, vừa nực cười, tự nghĩ “già rồi còn làm ăn” gì được nữa mà bày đặt yêu đương!” Tôi đem ý nghĩ ấy nói với Ngoại tôi, lúc ấy bà gần bảy mươi. Ngoại tôi nói: “Cháu hổng biết, chớ chuyện tình yêu thì người nào đầu gối còn có máu thì còn muốn yêu và muốn được yêu.” Cách nay vài năm, tôi gặp người bạn vong niên, một nhà thơ lừng lẫy, tuổi gần chín chục, ông có người yêu ngoài sáu chục,
tôi lại hỏi: “Anh già rồi còn gì nữa đâu mà yêu với yết?” Ông bạn tôi cười hồn nhiên, đáp: “Ở tuổi nào mà có người đề mình yêu và được người yêu mà không thích anh?”

Hồi đó, nghe Ngoại nói, tôi không phản đối, nhưng không tránh được tức cười thầm. Tôi muốn hỏi: “ông Ngọai mất lâu rồi, bà Ngoại có muốn yêu ai nữa không?” Nghĩ là vậy, nhưng tôi chẳng có gan đồng nên không dám hỏi.

Bây giờ tôi đã sáu lăm, có mười đứa con, với đàn cháu nội, ngoại gần bốn mươi đứa. Tôi đến Mỹ, vừa mười sáu năm. Tôi nhớ rõ như vậy là năm tôi đến Mỹ cũng là năm bà Nội bà Ngoại lũ cháu qua đời. Tôi quạnh quẽ từ đó. Ở vào cái tuổi xấp xỉ năm mươi mà “mồ côi”, lại mồ côi vợ trên cái xứ dư thừa vật chất, nhiều cám dỗ nầy. Lòng tôi rất khó chịu và phải tranh đấu thường xuyên trước sự cám dỗ quái ác kia.

Tôi chịu đựng như vậy gần tám, chín năm. Thời gian ấy là một chuỗi dài đáng kinh sợ cho một con người còn sung mãn về thể lực, nhưng lại thiếu thốn về tình cảm. Một thứ tình cảm đòi hỏi phải được đáp ứng từ một người không cùng giới tính.

Như mọi sự vật, sức chịu đựng trong lòng tôi cũng có giới hạn. Một hôm lòng khao khát trong tôi phát hiện ra nhược điểm của biên giới đó, nó len lỏi chui ra ngoài và chẳng đặng đừng, tôi quyết định đăng báo tìm bạn bốn phương, với hi vọng tìm được người bạn già cùng cảnh ngộ sớm hôm tâm sự cho đỡ buồn. Nếu có thể cùng tiến tới để hủ hỉ bên nhau.

Sau khi viết nội dung lời rao tìm bạn, gởi cho tờ tạp chí địa phương. Trở vào phòng, lòng tôi cảm thấy vui vui, đứng trước gương ngắm nghía, tôi thấy vóc dáng mình cũng còn “ngon lành ra phết”, gương mặt cũng đầy đặn, mái tóc vẫn tiêu nhiều hơn muối, râu ria nhẵn nhụi, chung chung cũng còn tí “có lý với đời”. Tôi mỉm cười rồi chợt giật mình, cái hàm răng chỉ còn hơn mười cái. Tôi nghĩ, mình phải làm lại hàm răng. Thế là sáng hôm sau, tôi đi tìm một ông nha sĩ.

Ngày tạp chí Kiến Thức Phổ Thông Dân Việt phát hành, đúng vào ngày hẹn tôi đến phòng mạch nha sĩ, nên quên phức nó đi. Khi về, tôi vừa bước vào nhà thấy trên chiếc sofa đôi ở phòng khách, vợ chồng thằng con Út đang ngồi bên nhau. Đứa cháu nội ba tuổi chạy tới chạy lui bên cha mẹ nó. Thấy tôi, chúng nhìn tôi rồi ngó nhau tủm tỉm cười có vẻ khác lạ. Tôi làm như không quan tâm định bước vào phòng thì vợ thằng Út nói:
- Thưa Ba, có tờ Dân Việt mới nè ba!
Trong khi tôi đưa tay lấy cuốn tạp chí từ tay con dâu Út thì thằng chồng nó nhìn tôi cười, nói:
- Con đọc thấy lời rao tìm bạn của Ba, nhưng con nghĩ Ba viết như vậy chưa đủ.
Tôi mở tờ báo, chọn mục “Tìm bạn bốn phương”, dò lời rao của mình, đọc nhẩm: “Đàn ông 65 tuổi, góa vợ 16 năm. Hiện đang sống với người con Út. Kinh tế, tài chính trung bình. Tìm bạn gái cùng lứa tuổi, cùng hoàn cảnh. Nếu hợp sẽ tiến xa hơn. Thư về…”
Đọc xong, tôi nhìn nó, hỏi:
- Ba đăng như vậy là đủ rồi. Con nói thiếu là thiếu chỗ nào?
Trong khi thằng con Út tôi cười ngặt nghẽo, thì vợ nó vừa cười vừa đáp thay chồng:
- Hồi nãy, đọc báo thấy Ba rao tìm bạn, ảnh nói với con, sao Ba không ghi thêm câu “Để ngắm nhau trong lúc vui và khi chết có thêm người khóc!”

Tôi bật cười vì lời châm chọc của tụi nó. Và tôi chợt nghĩ, cái tư tưởng của thằng Út nhà tôi, “để ngắm khi vui và…” Sao mà nó giống hệt với cái ý của tôi gần năm mươi năm về trước, “già rồi còn làm ăn gì được mà bày đặt…”

Tôi không nhớ rõ bao lâu, dường như hai tuần sau thì phải, tôi nhận được bốn lá thư của “những người bạn gái cùng cảnh ngộ như tôi”. Trong đó có một lá đáng chú ý nhất, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần. Người đẹp viết:

“Ngày..
Kính gởi ông,
“Hân hạnh biết ông qua mục “tìm bạn bốn phương”. Lần đầu tiên đặt bút viết cho một người không quen biết, tôi cảm thấy e ngại thế nào ấy. Sở dĩ bức thư nầy gởi đến ông vì tôi muốn được giao thiệp với ông để trao đổi tâm tư và học hỏi thêm những điều hay, ý đẹp của bốn phương. Hy vọng thư tôi đến sẽ đem lại cho ông một niềm vui nho nhỏ và ông sẽ hồi âm với tất cả lòng chân thành.
Mặc dầu chưa được biết ông lần nào, nhưng tôi hy vọng ông sẽ là người bạn tốt của tôi sau nầy. Tôi không ao ước gì hơn là có được một người bạn tri kỷ cùng chung lý tưởng, hiền lành, thành thật để dìu nhau trên bước đường đời còn lại trên mảnh đất tha hương. Ngoài ra, tôi không ước gì hơn nữa. Vì suốt đời tôi đã trải qua nhiều đau khổ đắng cay nên mãi đến bây giờ vẫn cô đơn buồn chán.
Tôi nghĩ tiền tài, danh vọng không bao giờ đem lại hạnh phúc lâu dài mà chỉ có sự chân thật mới đem lại cho chúng ta một tình bạn cao đẹp đáng quý trọng mà thôi. Riêng tôi, với những tánh tình sẵn có của một người phụ nữ Á Đông thuần túy hiền lành, đảm đang và chung thủy, hy vọng sẽ được làm người bạn gái của ông sau nầy và mãi mãi…
Tôi là cựu nữ sinh trường trung học Gia Long ngày xưa, sau khi tốt nghiệp đại học, lập gia đình với một thương gia xuất nhập cảng và đã tan vỡ từ năm 1974, vì không chịu đựng được sự đau khổ triền miên của ông chồng hào hoa, nhiều nhân tình…
Tôi và các con qua Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình do người chị ruột bảo lãnh trên 25 năm nay. Hiện các con tôi đã thành tài và có sự nghiệp, lập gia đình, nhà cửa khang trang. Tôi không còn lo lắng gì cho chúng nữa. Duy có một điều là tôi vẫn còn cô đơn và buồn chán vì từ trước đến nay, tôi chưa hề tìm được bạn tri kỷ như tôi đã từng ao ước. Cái ao ước nhỏ bé có được một người bạn đời chân thật, chỉ thế thôi ông ạ!
Đó là sự thật của lòng tôi. Tôi không dám viết gì nhiều hơn sợ làm phiền ông chăng? Vả lại, việc làm đầu tiên bao giờ cũng khó, khi ta chưa biết đường đi nước bước của nó. Dù sao tôi cũng rất mong nhận được thư ông một ngày gần đây để chúng ta có dịp hàn huyên cùng nhau trong những lúc cô đơn buồn thảm…
Xin phép ông cho tôi dừng bút. Hẹn những cánh thư sau sẽ dài và vui vẻ hơn.
Thành thật chúc ông nhiều may mắn trên đường đời.

Người bạn mới của ông
Trần Ngọc Lan Hương”

Tôi đọc đi đọc lại lá thư nhiều lần. Nội dung của nó làm tôi thích thú. Người đẹp trong trang thư có những đặc điểm tương đồng về học lực, hoàn cảnh, cô đơn… và nhất là cũng mong có một người bạn thành thật để chia sẻ vui buồn… cũng như tôi. Tôi “chấm” ngay người đẹp có cái tên đẹp đẽ nầy.

Tôi vào phòng, khóa cửa, tránh sự quấy phá từ thằng cháu nội. Tôi viết thư cho người đẹp mới quen. Vì muốn trải tâm tư qua trang giấy, tìm lại chút dư âm của thời trước bục giảng đại học. Tuy già nhưng chúng tôi cũng biết lãng mạn chứ bộ! Tình yêu không phân biệt tuổi tác nên ở bất cứ lứa tuổi nào cũng nôn nao, rạo rực như nhau.

Chúng tôi thỏa thuận không phone mà chỉ thư cho nhau. Hệ thống bưu điện ở Hoa Kỳ làm cho cả hai chúng tôi rất hài lòng. Mỗi xế chiều chúng tôi được thư nhau. Thư đi thư lại chừng hơn tháng, tình cảm biểu hiện, rõ nét qua từng cánh thư. Chúng tôi gởi ảnh cho nhau. Khi gởi tấm ảnh đến “cô Cử” gần bốn mươi năm về trước, tôi cẩn thận chọn một tấm ảnh vừa ý nhất, “bô trai” nhất rồi cặm cụi viết vào đó, “Trao Lan Hương, người đem đến cho anh nguồn vui và hạnh phúc.”
Đối lại, tôi cũng nhận được tấm ảnh của người thương. Trong ảnh, dưới lăng kính lúp, tôi thấy người phụ nữ xinh đẹp, tuổi trên dưới năm mươi, mặc thời trang, mái tóc dài chảy xuống ngập bờ lưng, kiểu tóc gợi nhớ giảng đường đại học xa xưa. Trong ảnh, người đẹp đứng trên lan can nhà.
Tôi rất thích thú vì ước vọng của mình đã đạt thành. Tôi viết thư cho nàng, hẹn ngày gặp mặt. Hôm sau, tôi nhận được hồi đáp. Nàng viết:

“Anh của em,
Không gì vui sướng bằng khi nhận được thư anh. Hương mong anh từng giờ đó! Anh biết không anh?
Đã lâu lắm rồi trên ba chục năm nay, Hương chưa bao giờ biết mong đợi ai mà bây giờ Hương đang mong chờ anh, chứng tỏ tình Hương đối với anh như thế nào. Anh ơi, Hương hồi hộp quá..!
Theo ý anh, Hương quyết định chọn ngày… chúng mình gặp nhau. Hương sẽ dành trọn vẹn ngày ấy bên anh.
Nhớ anh nhé, giờ ấy, ngày ấy nha anh!
Đêm về anh ngủ, mộng nhớ em nha!

Hôn nhiều,
Lan Hương của anh.”

Đọc thư xong, tôi thấy lòng rộn ràng khôn tả. Nói ra sợ lũ trẻ chúng cười, chẳng hiểu sao lòng tôi lúc bấy giờ rạo rực y chang như hồi mới biết yêu lần đầu. Tôi chợt nhớ đến lời của bà Ngoại tôi, và tôi thầm phục chính mình đã không hỏi Ngoại: “Già rồi, còn “làm ăn” gì được mà bày đặt yêu đương!”

Tôi ngắm gương, tóc hơi dài, tôi đi cắt ngay. Chỉ còn khoảng mười tám tiếng đồng hồ nữa là chúng tôi gặp nhau. Tôi chọn sẵn bộ veston đẹp nhất, chiếc càvạt xinh nhất, tìm quanh không biết cái kẹp càvạt biến đâu rồi. Tôi phóng xe ra tiệm, nhân tiện đi rửa luôn chiếc xe.

Sáng hôm sau, tôi dậy thật sớm. Trước gương, những sợi râu lún phún trên cằm bị tôi tận tình cạo nhẵn nhụi, cạo đi cạo lại nhiều lần, cạo đến nỗi da mặt nghe ran rát mới thôi. Tôi lấy hàm răng giả ra, săm soi, lau chùi lần nữa, gắn vào hàm, mỉm miệng cười, hàm răng đều đặn trắng bóng nhô ra. Tôi hài lòng về nó. Xịt lên đầu chút keo, tôi chải đi, chải lại những sợi tóc hiếm hoi, cố tình che dấu mái đầu hói của mình, nhưng tôi thất vọng. Thôi kệ, trời sinh sao chịu vậy! Tôi tự an ủi, “dầu sao tướng tá của mình vẫn còn có lý với đời”.

Tôi định bước ra cửa, thằng Út đang ngồi vừa xem TV vừa uống cà phê sáng. Nó thấy tôi ăn mặc tươm tất, dáng điệu lăng xăng, bèn cười hỏi:
- Hôm nay ba đi gặp Mami hả ba?
Tôi làm giọng nghiêm khắc:
- Chuyện của ba, con đừng có xen vào.
Vậy mà nó còn cười tiếp:
- Con có dám nói gì đâu! Thấy Ba vui, con chúc mừng Ba mà! Ba cho con gởi lời chào Mami nha Ba!
Rồi nó ôm con nó vào lòng nói nựng:
- Con ngoan! Bữa nay ông Nội đi coi mắt vợ, ít lâu nữa ông rước bà Nội về cho con. Hôm nay, con hổng được vào phòng lục lạo thư từ của bà Nội nha!
Nói xong nó nhìn tôi cười, đứng lên dang rộng hai tay hát:


“Tình yêu, ôi tình yêu,
Tình yêu làm cho lòng ta xôn xao,
Làm cho lòng ta nôn nao,
Làm cho giờ đây ta chao dao
Vì đêm qua ta không ngủ
Ta cám ơn tình yê…ê…êu…u!

Tôi không biết nó “sáng tác” lời ca quỷ quái đó hồi nào. Nhưng qua lời nó “dặn dò” đứa cháu nội, tôi biết chắc một điều là nó đã lén đọc thư Lan Hương gởi cho tôi. Đúng là “thằng con chết bầm”!

Mới đặt tay vào nấm cửa, tôi lại nghe con dâu nói với chồng nó:
- Anh kỳ quá, cứ “phá” Ba hoài. Mình nên thông cảm tuổi già cô đơn của Ba chứ anh!
Quay nhìn tôi, nó tiếp:
- Con chúc ba đi chơi vui vẻ. Ba lái xe cẩn thận nha Ba!

Đúng là con dâu của tôi hiếu thảo, khôn ngoan ra phết. Nó biết nói những lời làm vừa ý “ông già chồng”. Tôi bước ra ngoài, kéo cửa ập lại. “Hổng dè, con vợ thằng Út coi vậy mà biết điều. Đúng là khi chọn cưới nó cho thằng nhỏ, mình đã không lầm.” Tôi nghĩ, lòng cảm thấy vui vui.

Trời Đông năm nay thật lạnh, lạnh dai dẳng, lạnh lạ lùng.
Lòng tôi thì khác, ấm áp làm sao!

Tôi lên xe nổ máy. Chỉ gần ba mươi phút nữa, nó – chiếc xe, sẽ có người đẹp ngồi chiếc ghế bên cạnh “lão tài xế”. Trên đường tôi huýt sáo một bản nhạc tình, lòng cảm thấy khoan khoái vô cùng. Tôi phóng xe với tốc độ mà mỗi khi có việc hai tía con cùng đi, ngồi bên cạnh thằng Út, tôi thường nhắc nhở nó, “Con chạy vừa thôi, đâu cần chạy nhanh như vầy!”

Xe vào Exit chỉ dẫn, tôi lấy tờ giấy hướng dẫn lộ trình thủ sẵn trong túi ra xem, bất ngờ tay lái chao đảo, chiếc xe hơi lệch trên đường. Tôi nhẩm đọc,
“… quẹo trái, đến đường A, quẹo phải, gặp đường……… Đây rồi, số Z đúng rồi…”

Xuống xe, cẩn thận như chàng trai đi làm rể trước khi vào cổng nhà nhạc gia, tôi vuốt ve áo quần cho thẳng thớm, giữ thái độ bình thản, sửa tướng, “đường bệ” đi vào.

Ngôi nhà thật sang trọng, theo lời dặn của người đẹp, không cần bấm chuông, tôi gõ nhẹ vào cửa. Chỉ tiếng gõ đầu, cánh cửa mở ra. Nàng chờ sẵn.
Trước mắt tôi, người đàn bà khoảng sáu chục, vóc người mảnh khảnh, làm da trắng ngần, mặc đầm dài, trang điểm nhẹ, nét quý phái biểu hiện trên gương mặt mà nét thanh tú ngày nào còn phưởng phất đâu đây.Chiếc mũi thon, thẳng, kín đáo trên gương mặt trái soan đầy đặn, sáng sủa, trí thức dưới chiếc kính lão đắc tiền.

Tôi hỏi:
- Chào bà. Thưa bà tôi muốn gặp Lan Hương.
Người đàn bà nói:
- Xin chào ông, xin lỗi, ông là…
Tôi tiếp lời:
- Tôi là Tân, Nguyễn Đại Tân.
Người đàn bà cười khoe hàm răng trắng, đều như hạt bắp:
- Hân hạnh được gặp anh. Em là Lan Hương.

Tôi hơi giật mình, thoáng chút ngỡ ngàng. “Bà cụ” trước mặt tôi phưởng phất nét đẹp người trong ảnh mà Lan Hương đã gởi tôi, nhưng thể chất già hơn nhiều. Còn tấm ảnh cho thấy “người đẹp của tôi” chỉ khoảng trên dưới năm ba. Ai ngờ… Có lẽ Lan Hương nhận ra ý tôi, nàng cười nói:

- Tấm hình em gởi đến anh, chụp hồi em năm mươi hai tuổi, gần mười năm nay em không có chụp hình. Xin lỗi anh!

Đúng là nàng đã dối. Nhưng tôi chẳng dối nàng là gì! Khi gởi ảnh nàng tôi cũng lựa, chọn tấm ảnh “bô nhất” chụp hơn mười năm trước. “Đúng là vỏ quýt dày gặp móng tay… sắt”. Mà hổng sao, nàng của mình rất đẹp lão. Tôi nghĩ.

Chúng tôi cùng ngồi xuống. Trong khi tôi còn phân tâm, Lan Hương cất tiếng. Giọng nàng êm như lời văn trên những cánh thư gởi đến tôi. Nàng khéo léo:

- Em có cảm tưởng, dường như anh già dặn hơn tấm hình em có được.
Tôi không biết nàng nói thật hay là để trách khéo tôi, “anh cũng như em thôi, vậy mà còn trách người ta.” May thay! nàng đã giúp tôi trả lời:

- Sáu lăm tuổi mà trông anh còn trẻ, khỏe mạnh như trên năm mươi. Em rất mừng!
Tôi tiếp lời người đẹp:
- Em rất đẹp và quý phái. Được em chấp nhận anh làm người bạn đời, anh rất vui mừng!
Lan Hương khoe vành môi không son bóng mọng trong nụ cười duyên dáng:
- Cảm ơn anh! Mời anh dùng nước.

Tôi đứng lên, đến bên nàng. Lan Hương cũng đứng lên. Tôi nắm tay nàng rồi bất thần ôm trọn thân hình thon gọn ấy vào lòng. Nàng áp đầu vào vai tôi, lim dim đôi mắt đón nhận tình yêu như thuở xuân thời. Tôi tìm môi nàng, Lan Hương đáp nhận. Bốn cánh môi gặp nhau, quấn quýt.

Hai hàm răng giả mới gắn mấy ngày chưa quen, tôi cảm thấy khó chịu. Ngoảnh qua, tôi vội gỡ nó cho vào túi quần, lại tiếp tục đường môi. Toàn thân Lan Hương mềm nhũn, run bần bật, chẳng khác gì người tình đầu của tôi hơn bốn mươi năm trước.
Tôi vuốt tóc nàng, Lan Hương đưa tay giữ chặt, nói trong hơi thở thều thào:
- Đừng anh ! Em xuống tóc (cạo đầu) cầu nguyện Trời Phật ban cho em được gặp anh là người mà em nghĩ rằng, anh đến với em bằng tất cả lòng thành thật. Và chúng ta sẽ dìu nhau đi hết quãng đời còn lại. Đừng buồn em nghen anh!

Tôi chết lịm vì những lời ngọt ngày ấy, nhưng tôi không buồn vì mái đầu trọc của nàng, ngược lại tôi xúc động, lòng cảm thấy rưng rưng đón nhận mối chân tình của người “lão bà” đáng yêu đáng quý nầy./-


Thái Quốc Mưu

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nhà báo Trường Kỳ qua đời, thọ 63 tuổi


Image
Nhà báo Trường Kỳ. (Hình: Ðặng Mỹ Hạnh)
TORONTO, Canada - “Vua nhạc trẻ” Việt Nam, nhà báo Trường Kỳ , 63 tuổi, đã ra đi vào trưa Chủ Nhật 22 Tháng Ba 2009 tại thành phố Toronto, nơi ông đã đến để dự đêm ra mắt CD “ Ơn Nghĩa Sinh Thành” của em Tường Vi, được tổ chức tại Capitol Banquet Hall.

Trường Kỳ tên thật là Vũ Trường Kỳ, sinh ngày 29 Tháng Ba 1946 tại Hà Nội, con của ông Vũ Ngọc Trân và Phạm Thị Trọng Yêm, và đến năm 1954 thì cùng gia đình di cư vào miền Nam, và nhập học trường tiểu học Aurore, theo chương trình Pháp, gần ngã tư Cao Thắng và Phan Ðình Phùng, Sài Gòn.

Sau đó Trường Kỳ vào học bậc trung học tại trường Taberd, và đậu tú tài toàn phần vào năm 1966, trước khi ghi danh vào trường Ðại Học Luật Khoa Sài Gòn.

Trường Kỳ lúc còn đi học có nhiều thứ đam mê, như sưu tầm tem thư, sưu tập truyện bằng hình... cũng như mê cả âm nhạc, nên thường mở radio, theo dõi say mê các chương trình tuyển lựa ca sĩ của đài phát thanh Sài Gòn, không hề bỏ sót chương trình đại nhạc hội nào, và bắt đầu đi học đàn Accordeon từ nhạc sĩ Vũ Lung, rồi làm quen với các tác phẩm của Phạm Duy, Văn Phụng, La Hối, Nguyễn Hiền, Canh Thân... hay với các giọng ca của Thái Thanh, Thái Hằng, Châu Hà, Kim Tước... các ca khúc bất hủ như Bambino, La Cumparsita, La Paloma, Come Back to Sorrento, Blue Danube...

Tuy nhiên để đạt được những biệt danh “Vua Nhạc Trẻ”, “Lãnh tụ Hippy”... Trường Kỳ đã phải liên tục hoạt động trong làng văn nghệ trẻ Sài Gòn vào các năm của thập niên 1960, qua các bộ môn âm nhạc, thơ, truyện, và cả làng báo văn nghệ nữa, qua các tạp chí như Kịch Ảnh, Màn Ảnh... báo Sống, Tinh Hoa, Tiền Tuyến...

Có thể nói Trường Kỳ là một trong những người đi đầu trong phong trào phát triển nhạc trẻ Việt Nam vào đầu thập niên 1960, khi cùng với các nghệ sĩ trẻ thời đó, như Nam Lộc, Jo Marcel, Tùng Giang... đứng ra tổ chức thành công nhiều cuộc trình diễn nhạc trẻ qui mô tại Sài Gòn, từ Trường Taberd, cho đến sân Hoa Lư, Thảo Cầm Viên... được hoan nghênh nhiệt liệt, mà cho đến nay còn được nhiều người nhớ đến...

Trường Kỳ cũng đã chuyển dịch nhiều bài hát ngoại quốc sang lời Việt, giúp đóng góp thêm cho sự phong phú của làng nhạc trẻ Việt Nam vào thời đó.

Tháng Tư 1975, Trường Kỳ bị kẹt lại Việt Nam, và mãi đến năm 1979, mới tìm cách vượt biên cùng với 47 người khác trên một chiếc tầu dài chừng 12 mét và sau 12 ngày lênh đênh trên biển, qua ba trận bão lớn, mới được một tầu Scotland vớt và đưa đến Nhật Bản.

Tháng Mười Một, 1980, Trường Kỳ mới được nhận đến định cư tại Montreal, Canada, và năm 1983, thì bảo lãnh được vợ, con qua.

Sau khi ổn định cuộc sống, Trường Kỳ bắt đầu viết báo trở lại, cộng tác với nhiều báo Việt ngữ tại nhiều quốc gia trên thế giới, như ở Canada, Hoa Kỳ, Úc Ðại Lợi (Tivi Tuần San)... cũng như các đài phát thanh VOA, SBS, VOVN...

Từ Canada, Trường Kỳ đã xuất bản tác phẩm “Một Thời Nhạc Trẻ”, dày 384 trang, cũng như các Tuyển tập Nghệ Sĩ 1,2,3,4, trong đó có sưu tập, phỏng vấn, giới thiệu khá đầy đủ các ca, nhạc sĩ Việt Nam...

Trường Kỳ qua đời, để lại một vợ và con gái (Vũ Ngọc Tú Uyên) cùng con rể và hai cháu ngoại.
Theo cáo phó mang chữ ký của bà Ðinh Thị Thu Huyền,
góa phụ của nhà báo Trường Kỳ, thì thi hài của Trường Kỳ, đã được chuyển từ Toronto về Montreal,
và linh cữu hiện được quàn tại Magnus Poirier Inc., 6825 Rue Sherbrooke East, Montreal, Quebec, H1N 1C7.

Ngày giờ thăm viếng: từ 2 giờ chiều đến 10 giờ tối, các ngày 27, 28 và 29 Tháng Ba 2009.

Lễ an táng: 10 giờ sáng Thứ Hai 30 Tháng Ba 2009 tại nhà thờ Saint Jude. 10120 D' Auteuil, Montreal-Quebec H3L 2K. (L.T.)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Giáo Dục Thế Hệ Hai: Một Trọng Trách Chiến Lược.

Đỗ Văn Phúc

Năm nào, ngày 30 tháng Tư cũng được tưởng niệm trọng thể tại các địa phương với những slide show hình ảnh đau thương của những chuỗi ngày kinh hoàng, uất hận cùng những bài nói chuyện rất cảm động về một dân tộc bị tước đoạt nhân quyền, bị bóc lột triền miên từ hàng chục năm qua.
Nhưng kỷ niệm về ngày Quốc hận là chuyện quan tâm của “thế hệ Một” mà ít ảnh hưởng đến “thế hệ Hai”. Các em, các cháu không có một ký ức nào về những ngày đen tối; và nếu có chút nào chăng, thì các em đã cho rằng chuyện đã xưa cũ, nay phải hướng về tương lai!

Các em các cháu cho rằng cha anh cứ ôm ấp mãi hận thù trong khi thời thế đã “đổi thay”.
Và thế hệ cha anh thì đã tỏ ra thiếu sót trong việc giáo dục con em mình để họ thấu hiểu tường tận rằng cuộc dấu tranh hiện nay là giữa hai thế lực đối cực: chế độ độc tài Cộng Sản và lý tưởng tự do dân chủ; chứ không phải là giữa những người mất mát, ly hương và những kẻ chiến thắng và chiếm đoạt.

Đấu tranh cho một nước Việt Nam dân chủ, phát triển thịnh vượng là sự nghiệp cao quý lâu dài; truyền từ thế hệ này qua nhiều thế hệ mai sau. Chúng ta đang ở độ tuổi đã hoặc sắp về chiều, rất cần một sự chuyển tiếp hữu hiệu cho thế hệ sau. Qua biến cố VAALA trong tháng 1 vừa qua, đã cho thấy giữa thế hệ 1 và hai có những vấn đề cần soi rọi kỹ.

Bất cứ quốc gia nào, tổ chức nào, tôn giáo nào cũng coi trọng việc bồi dưỡng lớp hậu duệ. Đó là một nhiệm vụ chiến lược rất quan trọng. Nó là bức tường phòng thủ vững chắc lâu dài nhất vừa là mũi tấn công sắc bén khi cần thiết.

Ở cấp quốc gia thì lo bồi dưỡng thanh niên qua giáo dục từ học đường, được bổ túc bới các đoàn thể và gia đình. Mà trong đó, gia đình là hạt nhân đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách đạo đức của trẻ.

đảng phái, tôn giáo cũng chăm lo cho tương lai của mình bằng các đoàn thể thanh niên. Phe Cộng Sản thì có Đội Thiếu niên, đoàn Thanh niên CS. Phe Quốc gia thì: Phật Giáo thì có Gia đình Phật Tử; Công giáo thì có Thanh Sinh Công, Quân đội thì lo nguồn bổ sung qua trường Thiếu sinh quân….

Từ hơn ba chục năm qua, các tổ chức Cộng đồng, đoàn thể chính trị, hội Cựu quân nhân đã có nhiều thành tựu trong sinh hoạt đấu tranh chống Cộng tại hải ngoại. Nhưng vấn đề gây dựng cho hậu duệ bị xem nhẹ. Qua tin tức, báo chí, chỉ có vài đoàn thể có chăm sóc vấn đề hậu duệ; nhưng chỉ ớ mức độ có tính cách trang trí mà thiếu phần nội dung sâu sắc. Nhóm Thanh Niên Cờ Vàng, nhóm Thư Viện Toàn Cầu, Thanh Niên Đa Hiệu chưa đủ lớn mạnh để đại diện cho một lớp trẻ của chúng ta. Hội Chuyên Gia Việt Nam , Hội Văn Hoá Khoa Học thì nặng về chuyên môn hơn chính trị. Còn các thành phần khác thì thật phức tạp.

Chúng ta thử phân tích xếp loại các em các cháu để thấy mức độ nghiêm trọng ra sao

Đối với các em, các cháu lớn lên tại Hoa Kỳ, trong môi trường giáo dục Mỹ:
Các em, các cháu theo cha mẹ đến Hoa Kỳ từ lúc còn quá nhỏ để có nhớ những kỷ niệm đau thương trong thời gian dưới chế độ Cộng Sản. Đến Mỹ, cha mẹ ít có thì giờ day dỗ, sự hiểu biết của các em, các cháu là từ học đường. Khốn thay, trong các sách lịch sử dạy tại các trường học, chiến tranh Việt Nam bị mô tả một cách thiên lệch và đầy rẫy ác ý về phe đồng minh. Chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hoà bị quên lãng hay nếu có nhắc đến trong vài câu thì chỉ là những câu chê bai, lên án. Các nhà viết sử của Mỹ đa số thiên tả, và họ đã vô tình làm công cụ tuyên truyền cho Cộng sản để đầu độc công luận. Trong ngày lễ Cựu Chiến Binh 11/11/2004 tại thủ phủ Austin (cũng là ngày lễ công nhận Cờ Vàng tại Texas ), Thiếu Tướng Tư Lệnh Vệ Binh của Tiểu bang Texas đã đọc một bài diễn văn có ý nghĩa. Trong đó, ông lên án các nhà sử học Mỹ đã ác ý bôi bác chính nghĩa tự do của phe đồng minh. Ông kêu gọi nỗ lực tẩy xoá các trang sử sai trái này và thay vào bằng những trang sử chính xác, công bình.

Nếu quý vị có thì giờ vào các trang nhà của các Đại học Mỹ, quý vị sẽ sửng sờ thấy rằng họ đang xử dụng các bài vở do phiá Việt Cộng cung cấp để làm tài liệu giảng dạy hay tham khảo trong các môn học về Văn Hoá, Lịch sử Việt Nam . Đó là do chương trình trao đổi giáo trình giữa các Đại học Mỹ và Đại học bên Việt Nam . Có rất nhiều giáo sư tốt nghiệp các trường bên Việt Nam qua Mỹ đảm nhận việc giảng dạy tại Đại học Mỹ. Và có xác xuất cao những người này là đảng viên Cộng Sản, tốt nghiệp các trường lý luận của đảng.

Trong muôn một, nếu có các giáo sư từ tập thể người Việt hải ngoại, thì cũng rời rạc, thiếu tổ chức, hoặc những giáo sư xuất thân từ thế hệ “một rưỡi” mà sự hiểu biết về lịch sử cận đại Việt Nam rất mơ hồ.
Vậy thì trách chi các em các cháu thế hệ “hai” không hiểu đúng đắn như chúng ta kỳ vọng.

Đối với các em các cháu mới đến Hoa Kỳ sau khi đã lớn lên, học hành tại Việt Nam :

Rõ ràng, các em này đã bị hệ thống giáo dục tuyên truyền của Cộng Sản nhồi nhét những tư tưỏng sai lệnh trong những năm trí tuệ mới phát triển; do đó cách nhìn của họ đương nhiên trái ngược với cách nhìn của chúng ta. Đó là chưa kể đến các em có thể được huấn luyện để hoạt động chống phá phong trào đấu tranh của người Việt hải ngoại. Làn sóng người Việt đến Hoa Kỳ từ chục năm qua các các hình thức bảo lãnh gia đình, hôn nhân đã ảnh hưởng không nhỏ đến nếp sống văn hoá của chúng ta theo chiều hướng xấu đi.

Vì thế, mới đây, một nhóm những trí thức Việt Nam nhiệt tình đã quy tụ trong một dự án mang tính chiến lược lâu dài, họ đã mời thêm nhiều trí thức Hoa Kỳ cùng tham gia để sưu tầm, nghiên cứu các tài liệu sử học chính xác, khả tín nhằm trước mắt thuyết phục các trường học Mỹ xử dụng làm tài liệu tham khảo; sau đó, có khả năng sẽ thay thế hẳn những tài liệu do phe phản chiến và phiá Cộng Sản cung cấp. Đây là một công tác nặng nề, đòi hỏi nhiều thiện chí, thời gian, và nỗ lực mà cộng đồng nên yểm trợ hết mình để giữ vững phòng tuyến của chúng ta.

Để không phí phạm thời gian, chúng tôi kêu gọi những việc nên làm ngay:

1.- Chấm dứt những tranh chấp không cần thiết trong cộng đồng, giữa các đoàn thể, cá nhân vì một vài lý do không đáng tranh chấp. Việc ông Nguyễn Chí Thiện là thật hay giả, không ảnh hưởng lắm trong sự nghiệp đấu tranh chung mà đã làm phân hoá quá nhiều trong chúng ta. Việc ông Nguyễn Xuân Vinh mới đây bắt tay xã giao với Madison Nguyễn chẳng phải là đề tài quan trọng để hai phe ba phái đưa ra mạ lị nhau trên diễn đàn. Thay vào đó, xin dành thì giờ nhắm vào đúng đối tưọng. Nếu không, chúng ta chỉ làm vai trò con nghêu, con cò tranh nhau cho ngư ông bên Bắc bộ phủ thủ lợi. Ngoài ra, những mạ lị nặng nề, chụp mũ cẩu thả làm cho chúng ta ai cũng trở thành tay sai CS, chúng ta không còn tin ai nữa. Đó là một đại hoạ. Đó là thành quả của Nghị quyết 36 của Việt Cộng.

2.- Giáo dục không gì hiệu quả bằng hướng dẫn và làm gương. Một khi chúng ta giương cao ngọn cờ dân chủ, chúng ta phải tỏ ra dân chủ với nhau. Các em các cháu nhìn vào hoạt động của cha anh để đánh giá và tin tưởng vào sự khác biệt của cha anh với chế độ độc tài Cộng sản. Chúng ta không thể bắt ép các em các cháu phải theo chúng ta vì “chúng ta luôn luôn đúng”. Phải chứng minh qua hành động, qua bằng chứng cụ thể. Sự cưỡng ép là bằng chứng của độc tài sẽ làm các em các cháu xa lánh chúng ta.

3.- Trí thức Việt Nam hải ngoại không thiếu, khả năng ngoại ngữ dồi dào. Xin quý vị vì tương lai mà tích cực hơn trong việc giáo dục qua các bài bằng Anh Ngữ phổ biến rộng khắp trên các diễn đàn, các hội thảo, xâm nhập vào các trường học tái chiếm lại trận địa mà chúng ta tin rằng chúng ta có nhiều lợi thế và khả năng hơn Cộng Sản.

4.- Do nhu cầu của giới trẻ, nhiều báo chí hiện nay đã thêm nhiều phần tươi vui vào nội dung của mình. Nhưng do thiếu nhân lực, các báo thường có khuynh hướng lấy bài từ internet, hay từ nguồn bên Việt Nam , mà không đọc kỹ để sửa đổi văn phong và từ ngữ; do đó, đã tạo điều kiện cho văn hoá Việt Cộng xâm nhập. Xin báo giới nên rất cẩn trọng trong việc chọn lựa bài vở, tin tức. Nên tăng cường nhân lực đọc kỹ và thay thế văn phong từ ngữ của Cộng Sản một khi muốn xử dụng các bài vở từ các nguồn không phải của người Việt hải ngoại. Từ những năm qua, Việt Cộng đã âm thầm xâm nhập vào sinh hoạt văn hoá chúng ta qua con đường này. Rất nhiều báo, ngay cả các báo chống Cộng tích cực cũng vô tình bị xâm nhập qua các bài xem ra vô thưởng vô phạt như về các vấn đề thời trang, phim ảnh, ca nhạc, nếp sống gia đình…

Ba mươi tháng tư năm nay, xin hướng về tương lai nhiều hơn là nhắc nhở quá khứ. Hận thù cần ghi nhớ, nhưng không phải là động lực chính của cuộc đấu tranh. Chúng ta đấu tranh cho chính nghĩa, chứ không vì lòng thù hận. Các em các cháu cần biết như thế thì mới tham gia với chúng ta tích cực hơn, hiệu quả hơn.

Đỗ Văn Phúc
Mùa Quốc Hận 2009.

Do Van Phuc (Michael Do)
Webpage: www.michaelpdo. com
Communism is the most horrible and destructive disaster of the humankind

__._,_.___

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Quang Dũng, chàng thi nhân bất hạnh của thời đại chúng ta

Nguyễn Mạnh Trinh
Thi sĩ một đời tài hoa mà không dám làm thơ nữa. Chuyện không tưởng tượng được mà đã xảy ra. Thi sĩ, có những câu thơ hào hùng, của mênh mang chiến địa. Thi sĩ một thời đã có những bài thơ được trân trọng chép trong những cuốn sổ tay của những người lính mang tâm tư tuổi trẻ chiến đấu cho đất nước. Thế mà, sau khi đã có những bài thơ để đời, người thi sĩ ấy sống như một người vô danh ở phần đời còn lại và suốt đời lận đận về đường cơm áo. Người thi sĩ ấy, sau năm 1954, vào sống ở Hà N?i, thành một anh phóng viên đi lượm lặt tin tức về viết thành những bài vô thưởng vô phạt như “Ðọc bích báo nhà máy nước,” “Ðọc bích báo nhà máy diêm Hà N?i và nhà máy Gia Lâm”, “Ðọc bích báo hai trường Tân Trào và Trưng Vương”, “Công nhân nhà máy đèn đấu tranh cho thống nhất”... và Quanh quẩn với góc phố hẹp, với những mảnh đời bị bó rọ trong nan lồng, văn chương như bị cùn mòn đi. Có lúc ông ghi lại đời sống của thế giới chung quanh bằng những bài bút khí khá sống động thì lại bị cấp trên phê bình rằng đó là sự nhấm nháp lại những mảnh đời cũ khi mà đảng đòi hỏi phải có ngay những con người những hình tượng của hiện thực xã h?i chủ nghĩa.

Thi sĩ bất hạnh ấy là Quang Dũng, bút hiệu của Bùi Ðình Diệm, sinh quán tại làng Phương Trì, huyện Ðan Phượng, tỉnh Hà Ðông. Ông sinh năm 1921 và từ trần năm 1988, cách nay đã hơn hai chục năm.

Thi sĩ yêu quê hương và hình như lúc nào trong tâm thức cũng lẩn quẩn những bước chân hay những hình bóng của quê nhà. Với Quang Dũng, quê hương là con sông Ðáy hiền hòa một dòng lửng lơ chậm rãi giữa hai bờ xanh tươi những bãi mía nương dâu. Quê hương là Bương, Cấn, là núi Sài Sơn, là những làng đồi, có những giếng nước trong soi đôi mắt cô thôn nữ đa tình:

“Bao giờ trở lại đồng Bương, Cấn

Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng

Sông Ðáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc

Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng...”

Sơn Tây, nơi có “đôi mắt người Sơn Tây/U uẩn chiều lưu lạc/Buồn viễn xứ khôn khuây.” Sơn Tây, nơi “vừng trán em mang trời quê hương/Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương/Tôi thấy xứ Ðoài mây trắng lắm/Em có bao giờ em nhớ thương.”

Bài thơ “Ðôi mắt người Sơn Tây” mang cái u uẩn của người xa xứ, luôn hoài niệm nhớ về quê làng xưa, thôn ấp cũ. Chiến tranh làm mọi người trôi dạt, nhưng vẫn mong có ngày trở về, để nghe tiếng sáo thanh bình, thấy lại đỉnh Ba Vì, để thấy lại quê Bất bạt.

Và cũng chính Quang Dũng, đã có những câu thơ hào sảng, đã có những tâm tình rất nhân bản và đã bị đố kỵ và phê bình như là một chứng tích còn sót lại của giai cấp tiểu tư sản. Bài “Lính râu ria “có những câu thơ rất thật, rất lãng mạn của những chàng trai Hà Nội, dù đời sống cam khổ nhưng vẫn tươi vui và nhiều mơ mộng.

Khuya khoắt bờ sông vắng

Lửa hồng quán tản cư

Lính mấy chàng vất vả

Tìm sống một đêm thơ

Một anh gọi cà phê

Một người kêu thuốc lá

Một anh nhìn sau trước

“Chị ơi ly rượu nhỏ”

Rượu nhỏ một ly thôi

Ðời lính đã kham rồi

Một ly cho đỏ mật

Cho lên hương cuộc đời...”

Nhưng, dù có men rượu để quên nhưng sao vẫn thổn thức tấm lòng nhớ vợ thương con. Chiến sĩ, đâu phải tấm lòng gỗ đá, khi bế con người mà lại rưng rưng nhớ đến hơi sữa thơm của con mình.

“Chị ơi cháu ngủ đâu

Thế rồi bế con chị

Anh lim dim cúi đầu

Cô bé cười chúm chím

Mắt non nhìn như sao

Má hồng như trái mận

Mùa đang độ ngọt ngào

Bàn tay như rễ cây

Bộ râu như bàn chải

Anh hôn con người ta

Anh ôm ghì bé mãi

Cô bé năm tháng trời

Anh vừa tuổi ba mươi

Con anh giờ nơi đâu?

Anh mím cười rười rượi

Khi anh về đã xa

Chị dọn hàng đi ngủ

Chép miệng trong hơi chăn

Chị buồn chi không rõ

Khuya khoắt bờ sông vắng

Tiếng súng rền xa xa

Bước chân người rạo rực

Tiếng hát chìm đêm xa”

Thơ, ở đó là tấm lòng mở ra với người. Thơ là những dây đàn rung mãi ngân nga những âm điệu của thiên thu còn mãi. Thế mà, những quan chức băn nghệ như Tố Hữu đố kỵ tài năng, đã dìm thi sĩ vào những ngõ cụt của cơm áo nghiệt ngã, của những trường quy khắc nghiệt để những bài thơ tuyệt tác như thế trong một đời thi nhân tài hoa chỉ có mấy bài. Những bàn tay đồ tể, đã giết đi những con người thi sĩ.

Và, không phải Quang Dũng chỉ là một thi sĩ, mà ông có nhiều tài hoa khác, như về hôi họa, về âm nhạc. Ông còn là nhạc sĩ có những bài hát được truyền tụng một thời. Bài hát “Ba Vì” thông dụng trong thời kháng chiến có những câu như:

“Ba Vì mờ cao

Làn sương chiều xa buông

Gió về hương ngát thơm

Ðưa hồn về đâu...?”

Một bản nhạc của tấm lòng yêu quê hương thiết tha!

Quang Dũng (1921-1988) từ trần vào ngày 14 tháng 10 năm 1988 thì hơn hai mươi năm sau, tình cờ tôi giở đúng một trang sách cũ viết nhân ngày kỷ niêm năm năm ngày mất của thi sĩ. Bài viết “Khúc Ðộc Hành Quang Dũng”của một tác giả tên Văn Chinh đăng trong nguyệt san Văn Nghệ Quân Ðội xuất bản ở Hà Nội tháng 10 năm 1993. Trong đó tôi tìm được một vài đoạn làm tôi suy nghĩ. Như:

“Dọc con đường đến hiệu cà phê Hói, tôi cứ trân trân ngó tấm lưng gấu hơi gù của Quang Dũng, lòng cứ thắc mắc mãi. Một thân hình cao to quá khổ, mỗi bữa ăn hết một cân gạo cơm mậu dịch với năm mét phiếu vải và mười ba cân rưỡi gạo, ông sống thế nào nhỉ?

Vậy mà ông đã đổ vạ cho tôi những tội danh ‘anh hùng cá nhân tiểu tư sản!’ Trong sổ tay chép thơ hồi tôi còn đi học có bài Tây Tiến. Bị phát hiện, tôi phải làm kiểm điểm. Tôi còn nhớ rất rõ những day dứt tự xỉ vả và cả quá trình phấn đấu đầy nhọc nhằn xóa bài thơ khỏi trí nhớ và thản nhiên đốt cuốn sổ tay thơ. Cũng còn nhớ cảm giác chân thành thích thú rồi chân thành ghét bỏ Tây Tiến.”

Ơ kìa, tại sao một bài thơ có thể gọi là tuyệt tác của thi ca Việt Nam mà lại bị coi như tài liệu quốc cấm như thế. Tại sao mà phải nhọc nhằn xóa bỏ bài thơ, phải đốt bỏ, phải tự kiểm điểm để ghét bỏ nó? Có phải vì chính sách chủ trương của lãnh đạo văn nghệ Ðảng như vậy?

Nhà thơ Quang Dũng đã tự nói về bài thơ tuy tâm huyết nhưng lại gây tai họa cho cuộc đời mình như sau trong bài viết “Nhớ về Tây Tiến” in trong Sách Nhà Văn nói về Tác Phẩm, Nhà xuất bản Văn Học:

“...Chúng tôi lúc đầu đi bằng ô tô, sau chuyển sang hành quân bằng đôi chân, thực sự nếm mùi Tây Tiến: mở rừng, ngủ rừng. Những cái dốc thăm thẳm ‘heo hút cồn mây súng ngửi trời’, những chiều ‘oai linh thác gầm thét’, những đêm ‘Mường Hịch cọp trêu ngươi’... tôi mô tả trong thơ rất là thực. Hồi ấy trong đoàn chúng tôi có rất nhiều người sốt rét trọc cả đầu. Trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn nên bộ đội không những bị ốm mà còn chết vì sốt rét cũng nhiều. Chúng tôi đóng quân ở nhà dân cứ mỗi lần nghe tiếng cồng nổi lên, lại tập trung ra đến nhà trưởng thôn để tiễn một con người vĩnh biệt núi rừng. Tiếng cồng ở Tây Tiến thật buồn. Buồn đến nẫu ruột. Kể chuyện lại, bây giờ tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng cồng.”

Tại sao một bài thơ mà mang lại nhiều hứng cảm cho tác giả đến cả mấy chục năm sau lại bị để ý và coi như là có “vấn đề”? có phải vì thành phần “tạch tạch sè (tiểu tư sản)” của lý lịch tác giả? Hay vì lòng ghen tài của thợ thơ Tố Hữu người cầm cân nẩy mực lãnh đạo văn nghệ của Ðảng? Hoặc vì ý tưởng lãng mạn của bài thơ nói thực cái tâm cảm của một người yêu nước? Chỉ biết, về sau, một tài năng thơ như Quang Dũng mà phải long đong mưu sinh và những tác phẩm sau cũng là những gượng gạo, những bước chân đi trong vòng kềm tỏa, mang tâm thức của một người bất đắc chí lầm lũi trong cuộc nhân sinh. Cơm áo bó buộc, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, những nhu cầu tối thiểu của một con người cũng chưa đầy đủ, chưa nói đến cái nỗi hãi sợ cứ luôn ám ảnh. Hoàn cảnh ấy làm sao mà có được môi trường sáng tác tốt cho văn chương hiển lộng?

Nhà văn Phan Lạc Tiếp khi từ hải ngoại trở về thăm quê nhà có ghé đến thắp hương trên bàn thờ nhà thơ Quang Dũng và cảm khái:

“...Và những ngày cuối đời của Quang Dũng thật buồn. Ốm đau nằm không còn nói được. Và đến lúc ấy, lúc nằm chờ chết, Hà Nội mới cho in tác phẩm của anh, ‘Mây Ðầu Ô’ vào tháng 5 năm 1986. Bạn bè đến thăm và mừng tác phẩm anh phải nhờ con viết và ký hộ. Cứ vất vưởng như thế làm khổ vợ con.

“Răng long, đầu bạc lo cơm áo

Tay em: chìa khóa của đời anh

Cái nghèo đeo đuổi mãi không thôi

Chăn không có đắp, tiết đông rồi

Các con oán mẹ không tháo vát

Các con trách cha không thức thời...”

Từ xưa đến nay, chiến tranh đã là một hứng khởi cho thi nhân. Chỉ có nỗi niềm của người chinh phu chinh phụ cũng đủ làm cho tâm tư người đọc rung động thiết tha với biết bao nhiêu liên tưởng trùng điệp. Có mấy ai không cảm thấy chất ngất qua những câu Lương Châu từ của Vương Hàn đời Thịnh Ðường “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi. Dục ẩm tì bà mã thượng thôi. Túy ngọa sa trường quân mạc tía. Cổ Lai chinh chiến kỷ nhân hồi” mà cụ Vân Bình Tôn Thất Lương đã dịch:

“Rượu bồ đào, chén dạ quang

Ngập ngừng muốn uống tiếng đàn giục đi

Say nằm bãi cát li bì

Xưa nay chinh chiến người đi ai về”

Hay, đọc những câu Chinh Phụ Ngâm, những xúc cảm lại rưng rưng trong tâm thức. Những hùng tráng trộn lẫn với những thiết tha, nỗi nhớ mong cộng với niềm cô quạnh, tất cả làm thành một thế giới lãng mạn cho ký ức mỗi người. Những hình ảnh tạo dựng bằng thi ca đã thành những vệt ghi chép hằn trong bộ óc nhớ mãi tận ngàn sau.

Tôi lại nhớ đến những câu thơ Nguyễn Bắc Sơn. Những vần hào sảng ngang tàng. Những hình ảnh đẹp mà buồn bã, những câu thơ hùng tráng mà vẫn đầy chất lôi cuốn Thơ như những giong tay đi vào một thế giới lửa đạn, những câu như: “Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu. Ði hành quân rượu đế vẫn mang theo. Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo.” Hay “Lỡ mai đụng trận may còn sống.Về ghé sông Mao phá phách chơi. Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm. Ðốt tiền mua vội một đêm vui.” Những nỗi buồn rất thật. Chiến tranh của những người yêu hòa bình, cầm súng để tự vệ. Bao nhiêu năm, những thanh niên cùng huyết thống giết nhau vì trò chơi chủ nghĩa. Máu xương chồng chất, sinh lực dân tộc bị phung phí vào đấu trường bày ra bởi những cường quốc chia hai phe quốc cộng tương tàn lẫn nhau. Vì chủ nghĩa Cộng Sản ngoại lai, miền Bắc gây ra cuộc chiến để bao nhiêu bi kịch xảy ra suốt mấy chục năm cho dân tộc. Thơ Nguyễn Bắc Sơn buồn như tâm sự mênh mang thiên cổ, của tấm lòng thi sĩ sinh bất phùng thời. Thơ là kết tinh từ nỗi đau gửi gấm lại cho đời những hằn dấu chung mang của cả một thế hệ. Thơ có chia sẻ chung của những con tim đập những nhịp đập của thời quốc biến vang dội từ tiếng trống thúc quân xa xưa đến âm vọng chinh phu chinh phụ bây giờ. Tôi thích thơ Nguyễn Bắc Sơn bởi lắng nghe một mẫu số chung của thời đại chúng tôi từ ngôn ngữ chân thành và nhịp điệu giục giã. Những người lính, không chỉ đơn thuần là những chiến sĩ mà là những con người tràn đầy tình cảm. Thơ nẩy sinh từ trái tim.

Trở lại bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng vẽ lại những hào hùng của những chàng trai Hà Nội. Theo lời nhà văn Mai Thảo khi còn sinh tiền hay kể về đơn vị đặc biệt này thì Trung đoàn Tây Tiến thành lập từ đầu năm 1947 gồm những chàng trai tiểu tư sản xuất thân từ thành thị. Họ xuất quân đi về phía biên giới Lào với những địa danh như Châu Mai, Châu Mộc sang Sầm Nứa rồi vòng qua phía Tây Thanh Hóa. Lính Tây Tiến có những học sinh cũ các trường Bưởi, Thăng Long, Bảo Hộ như Quang Dũng, Vạn Thắng, Tuấn Sơn, Như Trang... Lại có những nhân vật đặc biệt như bác sĩ Phạm Ngọc Khuê, hay cô y tá nổi tiếng hoa khôi một thời của Hà Thành mỹ danh Phương Lan một thời đã làm rung động những trái tim trai trẻ.

Quang Dũng viết bài thơ trong cái hào khí một thời, chất ngất xúc cảm, đầy ắp không khí của Kinh Kha bên bờ Dịch Thủy:

“Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

Những câu thơ mang lại tai họa cho Quang Dũng. Những câu thơ mà ngày sau có người đọc lại bị lôi cuốn vào những xúc động trùng trùng. Thơ như những làn kiếm sắc, vút lên rồi loang loáng ánh trăng. Những ngôn ngữ có âm vang của đồng vọng thiên cổ, của những hy sinh vô bờ mà con dân nước Việt ra đi không tiếc nuối xác thân:

“...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Ðêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Tây tiến là một cuộc hành quân qua Lào từ ngõ Tây Bắc để mở một mặt trận mới nhằm chia sẻ chủ lực của quân Pháp. Ðịa hình cực kỳ hiểm trở, và cuộc di hành đầy gian khổ đói rét. Trung đoàn Tây Tiến sau cuộc hành quân trở về bị hao hụt quân số trầm trọng. nhưng, theo Ðỗ Lai Thúy thì nhan đề của bài thơ còn một ý nghĩa nữa:

“...Ðó là một chuyến đi về phía Tây, phía núi, phía mặt trời lặn, phía, theo quan niệm dân gian, của những người chết. Không phải ngẫu nhiên mà xưa nay nghĩa địa làng, những làng ma đều ở phía Tây. Và người chết đều được chôn chân về hướng núi, Tây Tiến như vậy, là từ chìa khóa của bài thơ, bó lá dứa gai treo trước cổng những ngôi nhà tang tóc, điềm báo về cái chết.

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục bên súng mũ bỏ quên đời...”

Nhưng cũng có lúc, sự lãng mạn đã đưa suy tưởng đến vùng liên tưởng xa hơn không gian và thời gian hiện tại. Mơ mộng giống như một sự thúc đẩy như hình ảnh vườn lê thơm ngọt của Tào Tháo gợi ra khi cả đoàn quân đang khát nước đến cực độ. Con người chiến sĩ cùng với tâm thức thi sĩ đã vượt qua những khắc nghiệt của chiến tranh, những gian nan của thiên nhiên cheo leo hiểm ác. Một phản xạ lạc quan của những người vì lòng yêu đất nước mà quên mình:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa...”

Những câu thơ diễn tả lại một tâm trạng của một thế hệ. Có câu thơ nào gợi lại cho chúng ta một cảm giác mạnh mẽ hơn câu thơ “áo bào thay chiếu anh về đất. Sông Mã gầm lên khúc độc hành.” Chữ “gầm lên khúc độc hành” thật nhiều gợi cảm, thật nhiều liên tưởng đến những hình ảnh một thời hào hứng của đất nước chiến tranh.

Rồi câu “mắt trừng gởi mộng qua biên giới. Ðêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” lại bị phê bình là đầy chất tiểu tư sản mà mục tiêu nhắm đến của những cuộc đấu tranh giai cấp. Kháng chiến gian khổ mà còn nghĩ đến tình cảm lãng mạn ngại khó ngại khổ không chịu hy sinh!!!

Ðảng chuyên chế muốn con người thành những bộ máy vô tri không yếu mềm tình cảm. Thành ra, chế độ ấy đã mang cơm áo làm vòng kim cô để trói buộc con người. Cũng như, những Trần Ðức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường một đời trí thức thông minh tài hoa hết mực mà bị chế độ trù dập đến khi chết mà vẫn còn thấy “sợ”. Họ đánh vật với sinh kế chưa xong nói gì đến chuyện thực hiện những tâm đắc của đời mình. Một người như Nguyễn Tuân mà giới văn nghệ gọi là Nguyễn Bất Tuân với nhiều giai thoại cũng phải chịu khuất phục và thú nhận mình sống còn đến lúc đó là biết sợ.

Quang Dũng thời kháng chiến tài hoa là như vậy, anh dũng là như vậy mà sau này bị loại khỏi quân đội, làm một nhân viên có cấp bậc lương thấp kém nhất và lúc nào cũng lẩn quẩn với sinh kế, vật lộn đến hụt hơi với cái ăn cái mặc. Người ông to cao nên sức ăn cũng nhiều hơn người thường nên bị đói kinh niên. Thảm thương cho người thi sĩ khi qua một câu chuyện kể về một bữa ăn giữa Quang Dũng và Nguyễn Tuân. Khách là Quang Dũng ăn hết tám bát xôi thịt trong khi người mời là Nguyễn Tuân chỉ ăn có một bát. Và câu mời lễ phép “Thưa ông, ông dùng nữa ạ?” của tác giả Vang Bóng Một Thời với câu trả lời bình thản của Quang Dũng “Vâng” tới tám lần như một điệp khúc nhói đau, của những người sinh ra lầm thế kỷ. Một người văn võ toàn tài, biết võ nghệ, đánh kiếm, lại thơ văn trác tuyệt, thế mà cứ lủi thủi trong góc hẹp thành phố để có lúc phải thét lên trong Mây Ðầu Ô:

“Mây ở đầu ô mây lang thang

Ôi! chật làm sao

Góc phố phường

Mây ở đầu ô

Hẹn những chân trời xa lạ”

Cho nên, khi Quang Dũng được nghe những bài thơ như Ðôi Bờ hay Ðôi Mắt Người Sơn Tây được nhạc sĩ Phạm Ðình Chương phổ nhạc qua giọng hát Thái Thanh thì nước mắt lại ròng ròng vừa cảm khái vừa sợ sệt. Cũng như khi nghe ai đó tán thưởng câu thơ “Ðêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” thì thi sĩ lại chắp tay lại than thở “Tôi suốt một đời khổ vì những câu thơ này!” Ôi một chế độ bạo tàn đã làm sĩ khí Bắc Hà chỉ còn như trong chuyện cổ tích. Ðã xa xôi lắm rồi có phải những ngẩng cao đầu đứng dậy nhìn ánh mặt trời? Thế mà vẫn còn những câu thơ sống mãi. Như bài thơ Tây Tiến, như Ðôi Mắt Người Sơn Tây.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Chuyện trùng phùng của nữ tù tử tội với con trai vị ân sư
Phim tập Đại Hàn thường dễ gây cảm xúc cho người xem, nhất là người Việt Nam… hơn là phim Nhật. Lý do là phim Đại Hàn thường có những tình tiết khá ướt át, lãng mạn đưa người xem vào một thế giới không thật…

Tuy nhiên buổi gặp gỡ của một cựu điệp viên Bắc Hàn vào ngày 11 tháng 3 tại Seoul, cô gái từng đã đặt bom trên chiếc phi cơ Đại Hàn vào năm 1987 khiến 115 người thiệt mạng, với gia đình của một người Nhật, lại là một câu chuyện thực. Chính vì thế mà nó làm cho người ta có cái cảm giác như đang ở trong phim.

Kim Hiền Cơ, cựu điệp viên Bắc Hàn, cựu tử tù Nam Hàn; nhận một công tác trực tiếp từ Kim chính Nhật: Gài bom khủng bố chiếc phi cơ hành khách của hãng hàng không Đại Hàn để cản trở quốc gia này tổ chức Thế vận hội 1988. Chuyến bay 858 khởi hành từ Bagdah–Iraq ngày 27/11/1987, chuyển tiếp sân bay Dubai của Tiểu vương quốc Á rập, dự trù ghé Bangkok trước khi đến trạm cuối là Hán Thành. Tuy nhiên chiếc máy bay đã phát nổ trên không phận giữa Miến Điện và Thái Lan làm tất cả 115 hành khách người Nam Hàn đều thiệt mạng. Cả thế giới rúng động vì biết đây không phải là tai nạn bình thường. Hai nhân vật khả nghi một nam, một nữ mang thông hành Nhật Bản chuyển tiếp ở sân bay Dubai được đặt vào ống nhắm của cảnh sát Đại Hàn, Nhật Bản… với sự phối hợp của Quốc gia Bahrain; nơi hai nhân vật dự tính leo lên một chuyến bay đi Roma.

Khi cảnh sát phát hiện cả hai thông hành đều là giả. Lập tức, người đàn ông cắn mẩu thuốc lá đang gắn trên môi, chất độc cực mạnh khiến hắn ta quị ngã và tắt thở ngay sau đó.

Cô gái dường như đang cố gắng làm hành động tương tự với một viên thuốc gắn trong răng, nhưng không kịp… vì người ta đã chận được miệng cô…

Câu chuyện trên từng được người viết gởi đến độc giả trên đất Nhật khá tường tận cách đây hơn 20 năm, không ngờ có ngày lại được nhắc lại trong một bối cảnh hoàn toàn khác.

Sau một vài cuộc họp báo vào những năm 1988, 1992... cựu tử tù Kim Hiền Cơ rút lui vào bóng tối, sống dưới sự che chở cẩn mật của cảnh sát Nam Hàn. Cô kết hôn cùng người vệ sĩ và có 2 đứa con. Trong các cuộc họp báo đó, cô thường nhắc tới người thày dạy tiếng Nhật cho cô trong suốt hai năm. Đó là một phụ nữ Nhật bị Bắc Hàn bị bắt cóc vào năm 77 và qua các cuộc điều tra không khó, Nhật Bản đã xác định vị ân sứ đó là cô Taguchi Yaeko.

Cô Taguchi bị mất tích vào năm 22 tuổi, để lại con nhỏ mà đứa thứ hai chưa đầy 1 tuổi. Hai đứa bé này được người bác ruột, anh của cô, đưa về nuôi và 20 năm sau, ông bác mới cho 2 đứa cháu biết rõ thân thế của chúng.

Mặc dù chính phủ Nhật Bản và các gia đình có người thân bị bắt cóc, rất muốn tiếp xúc với Kim hiền Cơ để hỏi cho cặn kẽ về số phận những người như cô Taguchi; tuy nhiên hai đời tổng thống Nam Hàn là ông Kim Đại Trọng và Roh MooHuyn đều áp dụng chính sách hoà hoãn“Vầng Thái Dương”, vì không muốn làm mất lòng Bắc Hàn; nên hạn chế tất cả các vụ tiếp xúc với Kim Hiền Cơ từ phía Nhật Bản, và còn chủ ý tạo ra những nghi vấn khác như vụ nổ máy bay trên không năm 1987 là do chính phủ trước dàn dựng và Kim Hiền Cơ cũng là một điệp viên giả. Vì thế phải đợi tới 12 năm ước nguyện của phía Nhật mới được thực hiện khi đương kim tổng thống Đại Hàn đắc cử với chủ trương cứng rắn với Bắc Hàn..

Ngày 11 tháng 3 vừa qua, đứa con trai của cô Taguchi, nay đã 32 tuổi… cùng người bác, cũng là bố nuôi đã bay sang Hán Thành gặp cô… nay đã là bà Kim Hiền Cơ, 47 tuổi.
Trong bộ đồ đen giản dị, Kim hiền Cơ rơm rớm nước mắt cúi chào 2 người khách Nhật. Khi bắt tay với cậu con trai Taguchi, cô bật miệng bằng tiếng Nhật rất lưu loát… “tôi muốn ôm cháu một chút được chứ?”
Image
Kim Hiền Cơ và cậu con trai bà Taguchi.
Tuy chỉ là một câu nói bình thường, nhưng nó chứa đựng tất cả những gì người nữ tử tù này muốn biểu hiện thay cho người mẹ của cậu con trai, tức ân sư của bà.

Có cuộc sống tương đối tự do và hai đứa con, có lẽ Kim Hiền Cơ đã cảm được cái nỗi đau xé lòng của cô giáo Taguchi khi đột nhiên bị mất con, bị mất tự do, bị đưa vào một thế giới hoàn toàn xa lạ với những nỗi hiểm nguy rình rập… Kim hiền Cơ muốn làm một cái gì đó cho người thầy tiếng Nhật của mình, cũng như cho gia đình của Taguchi. Và điều làm được là một cuộc gặp gỡ, cái ôm thay cho người mẹ cậu con trai và những xác nhận về tông tích mà Kim Hiền Cơ dư biết là có thể đem đến tai ương cho gia đình mình.
Tôi nghĩ Mẹ cháu còn sống, hãy cố gắng để có ngày gặp được bà…

Những chi tiết về bà Taguchi được Kim Hiền Cơ tiết lộ, cho thấy những gì Bắc Hàn tuyên bố về số phận những người bị bắt cóc hoàn toàn dối trá.

Gia đình Taguchi và Kim Hiền Cơ đã nói chuyện với nhau hơn 90 phút mà không cần thông dịch viên. Về phía Nhật, dù là những nguồn tin cũ đã hơn 20 năm; tuy nhiên đối với họ vẫn có giá trị để duy trì niềm hy vọng là những người bị bắt cóc vẫn còn sống sót. Trên căn bản này, khi hai phía Nhật-Triều mở lại các cuộc đối thoại, sẽ là một luận cứ để buộc Bắc Hàn phải thành thật hơn khi thương thuyết.

Post Reply