Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Thùy Dương và trái táo trên cành yêu thương

Image
Cô giáo Thùy Dương trong lớp học của trẻ em Việt Nam tại Campuchia, Tháng Giêng năm 2009. (Hình: VOICE cung cấp)

Ngô Tịnh Yên
Trước khi đọc tiếp những dòng chữ trong bài viết này, xin quý vị hãy ghé vào trang mạng www.senhoa.com để mua những đôi bông tai do các em bé Việt Nam ở Cambodia làm, để giúp vào quỹ điều hành cơ sở của tổ chức từ thiện VOICE (Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment). Tổ chức này đang giúp nhiều đồng hương Việt khốn khó tại một đất nước không phải là quê hương mình, giúp các em bé gái bị bọn buôn người (human trafficking) hãm hại làm lại cuộc đời, đó là lý do tôi viết bài này.

Thời gian gần đây, trên sân khấu của Trung Tâm Ca Nhạc Asia đã xuất hiện một gương mặt trẻ trung xinh xắn tên Thùy Dương đến từ Úc đang làm MC cho các show nhạc. Tuy nhiên, tôi không quan tâm lắm, vì có thêm một bông hoa trong vườn văn nghệ thì cũng tốt thôi. Cho đến khi tôi biết được rằng cô gái tên Nguyễn Thùy Dương này (vốn là một luật sư) còn là giám đốc điều hành của VOICE, có trụ sở chính tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ, giúp định cư cho các thuyền nhân Việt Nam bị kẹt lại từ gần 20 năm nay tại Philippines, đến các nước thứ ba như Hoa Kỳ, Úc, Canada, Na Uy, v.v...

Ðã có một số bài viết về vai trò MC (và đôi khi hát) của cô, riêng bài viết này tôi chỉ nói đến một khía cạnh khác rất đáng trân trọng, đó là công việc từ thiện mà cô đang làm. Nhìn tấm hình Thùy Dương chụp với các em bé ở Cambodia, tôi như thấy lại hình ảnh và hoài bão của mình 20 năm xưa, đã từng làm những việc như thế, rồi vì hoàn cảnh và thời cuộc mà phải bỏ dở dang ước mộng của mình.

Nhớ lại, tim tôi đã đau đớn bao lần mỗi khi đọc những bản tin về các bé gái VN bị bắt cóc hay bị chính cha mẹ bán qua Cambodia để phục vụ trong các nhà thổ. Ðau đớn vì con người sao lại có thể làm ra những chuyện bất nhân ghê gớm như vậy? Xem videoclip “Hy Sinh” (Sacrifice) do tổ chức Di Dân Quốc Tế (IOM) thực hiện ở trang mạng senhoa, lòng tôi lại nghẹn ngào một lần nữa với hình ảnh các em bé gái Việt bị ép bán dâm trong các động điếm để trả nợ cho cha mẹ. Ða số các em đều nhiễm HIV và chết trước 21 tuổi. Một nhà sư đã phải thốt lên: “Chúng ta không còn cảm thấy xấu hổ khi làm những việc vô đạo đức nữa”.

Còn videoclip “Everybody's Free” cho thấy những con số thống kê kinh hoàng: 50% gia đình Việt Nam đã từng đem bán một đứa con gái của mình, có khi chỉ để lấy tiền làm những việc không cần thiết; tuổi trung bình của một bé gái bị đưa vào kỹ nghệ mãi dâm là 13 tuổi (thực tế còn có em nhỏ tuổi hơn); 1 triệu người Việt đang sống không giấy tờ ở Cambodia, và 30% phụ nữ Việt đang hoạt động trong kỹ nghệ sex ở nước này...

VOICE đã được thành lập một cách bán chính thức từ năm 1997 tại Manila, Philippines, như một văn phòng trợ giúp pháp lý có tên là Văn Phòng Ðại Diện Cộng Ðồng Việt Nam tại Úc, để giúp tái định cư khoảng 2,500 thuyền nhân Việt Nam còn bị kẹt tại Philippines mà không có nước nào nhận cho định cư, đã hoạt động rất hiệu quả, nên tính từ năm 2000 đến cuối năm 2008, đã tìm được chốn định cư cho tất cả số thuyền nhân Việt Nam không may còn bị kẹt lại.

Ðược biết từ cuối năm qua, hoạt động của VOICE tại Philippines đã đóng cửa, sau khi 15 hồ sơ chót của các thuyền nhân Việt Nam tại đây đã được giải quyết hết, để họ lên đường đi định cư tại các nước khác. Trong một bài phỏng vấn, Thùy Dương cho biết: “Tuy nhiên các công tác của VOICE cũng còn nhiều tại các nước khác, như Cambodia, Thái Lan... khi vẫn có nhiều cô gái Việt Nam, lên đến hàng chục ngàn cô, đang sống lây lất tại các nước này, sau khi bị bán hay bị lừa sang đây làm gái mãi dâm, bóc lột trong các cơ xưởng lao động, chưa kể đến đông đảo các người Việt lập nghiệp tại đây từ lâu, từ mấy đời qua, vẫn còn bị đối xử kỳ thị, con cháu họ không được đến trường học... VOICE sẵn sàng trợ giúp cho các người xấu số này, về các mặt pháp lý, tài chánh, giáo dục, xã hội, y tế, v.v...”

Hành trình đến với tình thương của MC Thùy Dương cứ như là một huyền thoại, rằng ngày xưa có một cô bé theo gia đình vượt biển đến trại tị nạn Hồng Kông lúc chỉ mới có 5 tuổi... cô từng kể lại là có một lần đoàn sinh viên Việt Nam từ Hoa Kỳ đến thăm trại tị nạn đã cho cô một trái táo. Ðó là lần đầu tiên trong đời, một cô bé Việt Nam được cầm trên tay một trái táo, cô thích nó đến nỗi không dám ăn, mà chỉ nâng niu, ôm trái táo vào lòng kể cả trong giấc ngủ...

Nó đã để lại trong tâm hồn cô bé một kỷ niệm đẹp, và một dấu hỏi cho chính mình: Bao giờ có dịp để trao lại trái táo đó cho những trẻ em bất hạnh đang cần đến nó? Ân tình đó gieo vào lòng cô một mơ ước: Rồi sẽ có một ngày... được trao lại cho những người khốn khổ trái táo trên cành yêu thương mà cô đã từng được nhận trong cuộc đời...

Một ngày trong mơ đã đến. Sau khi tốt nghiệp trường luật, cô đã tình nguyện về vùng Ðông Nam Á, sống cùng, chia sẻ với trẻ em và người bất hạnh trong sáu tháng, vẫn chưa đành từ giã họ, cô tình nguyện ở lại thêm sáu tháng nữa... Sau khi về lại Úc, cô lại tình nguyện sang Washington DC, để cùng mọi người vận động, thuyết phục thế giới tự do tiếp nhận những người tị nạn còn sống vất vưởng nơi các quốc gia tạm dung.

Trái tim tôi đang bị tổn thương, nhưng so với sự bất hạnh của các bé gái Việt ở Cambodia và các phụ nữ đang lầm lụi sống trong địa ngục trần gian nơi các nhà thổ, thì thấy nỗi đau của mình thật nhỏ nhoi và tầm thường quá! Nếu thiên đường và địa ngục ở ngay chính thế gian này đây, thì xin quý vị hãy mang thiên đường đến cho những đóa sen vẫn nở đẹp tươi trong bùn, vẫn rực rỡ khi vươn lên từ địa ngục trần gian. Xin hãy chuyền trái táo từ trên tay Thùy Dương qua nhiều bàn tay khác đang cần được săn sóc quan tâm và tình yêu thương giữa con người với nhau.

“Người hãy trao một nụ hồng nhân ái

Cuộc sống bao la những tình người tìm thấy”

Xin cám ơn việc làm của MC Thùy Dương, đã cho tôi lấy lại niềm tin vào cuộc đời, rằng trên đời này vẫn còn đó những tấm lòng và những người biết sống tử tế với nhau.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Giọt Lệ Trong Tim

Ba mươi năm giọt lệ
Ước mơ còn trong tim
Nhớ những người đã chết
Tự Do cố đi tìm

Mai về hành tinh lạ
Tìm lại thiên đường xưa
Cho ta thời tuổi ngọc
Bờ biển rộn mùa chà

Cho ta ngón tay gầy
Của mẹ sờ trên má
Cánh tay trần của cha
Ôm qua đời trẻ nhỏ

Ba mươi năm thổn thức
Chiều cho bạn bè tôi
Tủi sầu đầy trong ngực
Ngày trên biển nỗi trôi

Ba mươi năm rồi sao
Gương soi tìm bóng cũ
Hỏi hồn xưa trú ngụ
Xin hạnh phúc năm nào

Ba mươi năm dâu bể
Uất hận tràn con sóng
Tiếng khóc khô không lệ
Tan tác cả cánh đồng

Cát Biển
4/18/2009

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nữ hoàng Anh và 12 đời tổng thống Mỹ

Nữ hoàng Elizabeth II đã gặp tất cả 11 người đứng đầu nước Mỹ kể từ khi bà lên ngôi vào năm 1952. Trước đó, khi còn là công chúa, bà cũng có dịp trò chuyện với tổng thống Harry S Truman.

Image
Nữ hoàng và hoàng thân Philip (ngoài cùng bên phải) cùng vợ chồng Tổng thống Barack Obama, tại cung điện Buckingham hôm 1/4. Ảnh: PA.

Image
Tổng thống George W Bush nháy mắt với Nữ hoàng khi ông phát biểu tại Nhà Trắng ngày 7/5/2007. Ảnh: PA.

Image
Tổng thống Bill Clinton, cùng với vợ Hillary và con gái Chelsea, trò chuyện với Nữ hoàng tại cung điện Buckingham, ngày 14/12/2000. Ảnh: AFP.

Image
Tổng thống George H Bush chào mừng Nữ hoàng đến Nhà Trắng ngày 14/5/1991. Ảnh: AFP.

Image
Tổng thống Ronald Reagan và Nữ hoàng trò chuyện khi cưỡi ngựa tại Lâu đài Windsor, ngày 9/6/1982. Ảnh: Getty.

Image
Jimmy Carter (ngoài cùng bên phải) cùng Nữ hoàng và Hoàng thân Philip tại cung điện Buckingham, ngày 7/5/1977. Ảnh: PA.

Image
Gerald Ford khiêu vũ cùng nữ hoàng trong bữa tiệc tối tại Nhà Trắng, ngày 17/7/1976. Ảnh: AP.

Image
Tổng thống Nixon gặp Nữ hoàng, ngày 3/10/1970. Ảnh: PA.

Image
John F Kennedy (ngoài cùng bên phải) cùng vợ Jacqueline gặp gỡ Nữ hoàng và Hoàng thân Philip tại cung điện Buckingham, ngày 5/6/1961. Ảnh: Getty.

Image
Nữ hoàng và Dwight D Eisenhower tại buổi tiệc chiêu đãi ở Nhà Trắng, ngày 20/10/1957. Ảnh: Getty.

Image
Nữ hoàng với Herbert Hoover ở New York, ngày 1/10/1957. Ảnh: Getty.

Image
Công chúa Elizabeth và tổng thống Harry S Truman ngồi trong một thư viện của Đại sứ quán Canada ở Washington, ngày 2/11/1951. Ảnh: AP.

Diệu Minh

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image
Nước Mắt 30 Tháng Tư

THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG

Trường hợp của Thuyền Nhân Vũ Duy Thái
(Tự thuật từ trại tị nạn Songkhla, Thái Lan – Tháng 4,1980)
Tôi tên là Vũ Văn Thái, sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936 tại Hóa Lộc, Tuyên Sơn, Ninh Bình (Bắc Việt). Thuở nhỏ rất nghèo, phải chăn trâu cắt cỏ từ lúc 5 tuổi. Mồ côi cha năm 10 tuổi, mẹ ốm đau thường xuyên, nhưng lần hồi đến năm 23 tuổi thì đời sống tương đối dễ chịu hơn với nghề thợ may.

Tôi di cư vào Nam năm 1954 và lập gia đình vào ngày 6-4-1958 ở xứ An Lạc, Gia Định. Nhà tôi tên là Đinh Thị Bằng, sinh năm 1940 tại Phú Nhai, Nam Định (Bắc Việt). Nhà tôi cũng thuộc thành phần di cư năm 1954. Lúc mới lấy nhau, chúng tôi rất nghèo. Tiền đám cưới có 6,000 bạc chúng tôi cũng lo không nổi phải đem bán cái máy may được hai ngàn và vay mượn bạn bè thêm bốn ngàn nữa mới tạm đủ. Như thế nhà tôi đã khởi sự chia sẻ với tôi nỗi gian nan, vất vả của đời sống ngay từ lúc mới bước chân về nhà chồng. Những năm đều sống thiếu thốn cực nhọc trôi qua trong sự đảm đang, tần tảo của nhà tôi. Là một phụ nữ yếu đuối về thể chất nhưng lại rất mạnh mẽ về tinh thần, nhà tôi đã phấn đấu, hy sinh rất nhiều để lo lắng cho chồng con. Gần như trong suốt cuộc đời, nhà tôi không được hưởng thụ gì, không có một thói quen giải trí nào, không ưa thích một điều gì ngoài niềm vui lo toan sắp xếp công việc tề gia nội trợ, chăm lo bữa ăn giấc ngủ cho chồng cho con. Lúc nào nhà tôi cũng cố gắng sắp xếp để cho chồng con được ăn ngon, mặc đủ. Dưới mắt tôi, nhà tôi là một phụ nữ tuyệt vời, một mẫu người phụ nữ Việt Nam đảm đang, trung hậu, hiền hòa, luôn luôn là niềm an ủi khích lệ, là chỗ dựa vững chắc cho toàn thể gia đình.

Chúng tôi sinh hạ được tất cả 7 con, tuần tự gồm có:

1 Giuse Vũ Duy Thanh sinh năm 1959
2. Vincente Vũ Duy Khanh sinh năm 1961
3. Phero Vũ Duy Tuấn sinh năm 1963
4. Maria Vũ Thị Thanh Thủy sinh năm 1966
5. Maria Vũ Thị Thanh Thủy Trang sinh năm 1968
6. Martin Vỹ Duy Tài sinh năm 1971
7. Phero Vũ Duy Trí sinh năm 1975

Gia đình tôi được kể như hoàn toàn hạnh phúc nếu như không có sự sụp đổ miền Nam, đất nước rơi vào tay Cộng Sản (CS). Là một gia đình Thiên Chúa giáo ngoan đạo, các con tôi đã thụ hưởng một nền giáo dục nằm trong tình yêu thương của Thiên Chúa do đó không bao giờ chúng tôi có thể sống nổi dưới ách độc tài, đàn đáp của CS. Vì thế chúng tôi đành quyết định bỏ nước ra đi.

Chuyến vượt biển thứ nhất, vợ chồng tôi cho ba cháu trai đầu đi trước. Tầu khởi hành từ bến Bạch Đằng, Sài Gòn vào ngày 1 tháng 10 năm 1978 chở theo 130 người. Nhưng chỉ đi được 4 ngày thì chết máy. Ghe lạc vào một đảo san hô đầy đá ngầm thuộc đảo Bành Hồ (Đài Loan). Sống ở đó 50 ngày, thực phẩm hết, số người chết vì đói cứ tăng dần và những người sống sót đành xẻ thịt người chết mà ăn để sinh tồn. Hai cháu lớn của tôi, Vũ Duy Thanh và Vũ Duy Trung đã bị rơi vào hoàn cảnh cực kỳ bi đát này. Các cháu đã chết và xác của các cháu đành cho bạn đồng ghe ăn thịt.

Mãi tới sáng ngày thứ 50 trên đảo mới có tầu đánh cá Đài Loan tới cứu. Cả ghe 130 người chỉ còn sót có 60 người. Nhưng trên đường từ đảo san hô vào Đài Loan, lại có thêm một số người chết nữa vì quá kiệt sức. Rút cục khi đặt chân lên đất liền ở Đài Loan, chỉ còn 34 người sống sót, trong số đó có con trai thứ ba của tôi là Vũ Duy Tuấn và một đứa con đỡ đầu của tôi nữa tên Trịnh Vĩnh Thụy. Hiện cháu đang ở Đài Bắc. Còn cháu Thụy, nhờ có thân nhân ruột thịt bảo lãnh nên đã định cư tại tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Trước thảm kịch có hai anh ruột bị chết thảm, cháu Tuấn vì sợ bố mẹ đau buồn nên đã dấu biệt tin tức. Mãi tới ngày 20-12-1978, một người bạn của tôi tên Đỗ Minh Ngự ở Mỹ viết thư báo tin, gia đình tôi mới được rõ tin tức về chuyến đi kinh hoàng đó. Vào đúng thời điểm này, gia đình chúng tôi lại đang chuẩn bị vượt biển chuyến thứ hai. Chung tôi làm lễ cầu nguyện 3 ngày liền cho hai cháu ở nhà thờ An Lạc, Chí Hòa, rồi mặc dù vô cùng đau đớn, chúng tôi vẫn tiếp tục xúc tiến cuộc hành trình vượt biển với cả gia đình.

Chúng tôi rời Sài Gòn vào ngày 28 tháng 12 năm 1979 lúc 4 giờ sáng để đi xuống Rạch Giá. Qua 4 giờ sáng ngày 29-12 thì ghe của chúng tôi ra khơi, chiếc ghe mang số VNKG 0980, dài 13 m, ngang 2,5m, chở 120 người. Ghe chạy tới 7 giờ chiều ngày 30-12 thì gặp hải tặc Thái Lan (trên tàu cướp có treo cờ Thái Lan), chúng xáp lại cướp lần đầu. Cướp xong, chúng bỏ đi. Qua 8 giờ sáng ngày 31-12 lại gặp một tầu cướp khác. Lần này cướp xong, chúng phá máy tầu. Một chuỗi 8, 9 tiếng nổ phát ra ở hầm may làm chiếc ghe lập tức bị chao đi và chìm lỉm ngay ít phút sau đó. Tất cả mọi người trên ghe đều la khóc kinh hoàng. Vào những giây phút cực kỳ khiếp đảm này, vợ chồng chúng tôi không nói được với nhau câu nào. Tôi chỉ còn kịp nhìn thấy nhà tôi với vẻ mặt hết sức kinh hoàng, thảng thốt. Rồi tôi cuối xuống hôn hai con chót của tôi là cháu Tài (8 tuổi) và cháu Trí (4 tuổi). Tôi cũng nghe thấy tiếng cháu Thùy kêu la: “Cha ơi... chú Tuynh kìa..” và cháu Trang la lên “Cha ơi ... chết rồi..” Rồi ghe chìm lỉm. Lúc đó nhà tôi vẫn ở bên cạnh tôi. Nhưng nhà tôi không hề níu kéo lấy tôi. Đây là sự hy sinh cao cả cuối cùng của nhà tôi dành cho chồng con. Nhà tôi không muốn tôi bận bịu, vướng mắc giữa sóng biển để tôi có cơ hội cứu các con. Khốn thay, một con sóng độc ác đã ùa tới nhận chìm tất cả những người thân yêu của tôi. Tôi không còn thấy ai nữa. Chỉ có sóng nước ngập đầu. Ngay lúc đó tôi được một người cháu tên Phương níu tôi lại và tôi bíu vào một cái can nước. Tôi ôm cái can một cách hoàn toàn theo bản năng. Và lúc tôi mở được mắt ra thì tôi thấy nhà tôi vật vờ ngay trước mắt.. Rồi sau đó tôi ngất đi, không còn biết gì nữa.

Khi tỉnh dậy tôi nhìn thấy mình đang nằm trên tàu của hải tặc. Bên cạnh tôi là hai em Hùng và Châu đang làm hô hấp nhân tạo cho nhà tôi, chắc là nhà tôi vừa được các em vớt lên. Tôi cũng gượng dậy để ra phụ giúp nhưng bọn hải tặc đã ra hiệu là phải hất nhà tôi xuống biển. Thật không còn gì tan nát hơn lòng tôi lúc đó. Tôi nhào lại, ôm nhà tôi vào lòng, đau đớn nhìn nhà tôi hai mắt vẫn còn mở nhưng thân hình đã bất động. Tôi đã đã dùng tay vuốt cho hai mắt của nhà tôi khép lại rồi tôi khiêng ở đầu, hai em Hùng và Châu khiêng ở chân hạ nhà tôi xuống biển. Đó là lần cuối cùng tôi ở cạnh nhà tôi. Những giây phút đau đớn nhất của một đời người. Một cơn sóng áp tới. Biển xanh bao vây nhiều sóng dữ đã vĩnh viễn lôi cuốn đi người vợ thân yêu nhất đời của tôi. Không bao giờ tôi còn gặp lại. Không có cả một nấm mồ để tôi lui tới thăm viếng. Một thoáng lay động trên mặt biển. Rồi vĩnh viễn chia lìa. Ôi đau đớn nào cho bằng sự đau đớn mà tôi đã phải chịu đựng. Tất cả những người thân yêu nhất của tôi đã ra đi trong khoảnh khắc. Khi chết, nhà tôi bận một cái quần đen, một cái áo montagut đen. Nét mặt nhà tôi không tỏ vẻ đau đớn gì cả. Chỉ có nét thảng thốt thoáng qua trên khuôn mặt bình thản. Đó là hình ảnh cuối cùng của nhà tôi mà tôi ghi nhớ được trước giây phút ngàn năm vĩnh biệt.

Kiểm điểm lại, chẳng những nhà tôi chết trên biển mà tất cả bốn đứa con của tôi đều chết đuối hết, cháu Thanh Thùy, cháu Thùy Trang, cháu Duy Tài, cháu Duy Trí, những người thân yêu nhất của đời tôi đã vĩnh viễn đi vào lòng biển sâu. Tôi tưởng rằng nếu trên đời này có những thảm họa đau đớn nào thì thảm họa giáng xuống gia đình của tôi phải kể là một trong những thảm họa lớn nhất, khủng khiếp nhất, vượt quá sức chịu đựng của một con người... Cùng số phận với vợ con tôi còn có 65 người khác nữa đi cùng ghe với tôi cũng đã bị chết chìm. Như thế, cả thảy 70 sinh mạng thuyền nhân trong ghe này đã bị chết dưới bàn tay bạo tàn của hải tặc. Số còn lại được hải tặc đưa vào đảo Kra, một hòn đào nằm trơ vơ giữa biển cả trong Vịnh Thái Lan. Đảo này bây giờ trở thành địa ngục của dân Việt Nam tị nạn bằng thuyền. Bởi vì bất cứ ai bị đưa vào đây đều trở thành nạn nhân của sự bạo hành: Tra tấn đàn ông để khảo của, và bắt chỉ chỗ trốn của phụ nữ, còn phụ nữ thì lẩn lút trong hốc núi, trong rừng sâu hay trong vách đá ngầm nhô ra ngoài biển. Trên đảo có nhiều dấu tích thảm thương của đồng bào đi trước để lại như những hàng chữ viết lên vách đá, những mớ tóc đàn bà vương vãi rải rác khắp mọi nơi (chắc là được cắt đi để giả trai) và cả những xác thuyền, những ngôi mộ của những người đã bỏ xác ở đó.
Image
Chúng tôi được đưa lên đảo vào lúc 6 giờ chiều ngày 31-12 năm 1979. Lòng đớn đau, thân xác rã rời, bệnh hoạn. Các em tôi phải tìm kiếm cỏ khô trải thành nệm cho tôi nằm, lo tìm thức ăn cho tôi ăn. Vì tôi quá đau ốm nên chú Chiếu đã chịu khó đi mày mò ở khắp mọi chỗ, bòn mặt ở những nơi có vật dụng vương vãi của đồng bào đi trước bỏ lại để tìm kiếm cho tôi những viên thuốc. Có những viên đã vữa nát vì nắng mưa, có những viên mòn vẹt chỉ còn lại một phần tư nhưng tôi vẫn cố nuốt để cầm cự được cho sức khỏe đã vô cùng suy sụp của tôi.

Sáu ngày trên đảo là sáu ngày buồn thảm, kinh hoàng. Đói, bệnh và những nỗi nhớ thương, đau đớn đến tận cùng của tâm hồn tôi. Trong khi ấy, các phụ nữ đi cùng ghe vẫn phải lẩn trốn như những con vật vô phương tự vệ trước những cuộc lùng sục bạo tàn của hải tặc.

Đến ngày 6 tháng 1 năm 1980, chúng tôi được Cao Ủy LHQ phát hiện (bằng trực thăng bay qua đảo) và đưa thuyền ra đón vào quận Pakphanang thuộc tỉnh Nakorn Sri Thamaraj. Ở đó 18 ngày làm thủ tục với cảnh sát Thái, thì chúng tôi được đưa về trại Songkhla ngày 23-1-1980.

Hôm nay là ngày 10 tháng 4 năm 1980, là ngày thứ 100 nhà tôi và các cháu chết trên biển, trong Vịnh Thái Lan trên đường vượt thoát xứ CS để đi tìm tự do. Tôi đang ở trại tị nạn Songkhla. Cách đây 50 ngày, Cha Tuyên Úy Joe Devlin đã dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho nhà tôi và các con tôi tại nhà thờ ở trong trại. Hôm nay, nhân dịp 100 ngày, Người cũng dâng lễ cầu nguyện cho. Tôi vô cùng đớn đau, vô cùng chua xót nhớ lại những người thân yêu nhất của đời tôi. Vợ tôi, sáu con tôi đã vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại.

Lạy Chúa, xin Chúa hãy xót thương cho những linh hồn đã chết đớn đau trong thảm họa đớn đau chung của cả Dân Tộc Việt Nam chúng con. Xin Chúa hãy cứu vớt linh hồn vợ con, các con của con để đưa tất cả về nơi an nghỉ bình an hạnh phúc đời đời nơi nước Chúa. Xin Chúa hãy giúp con đầy đủ can đảm để đứng vững sau cơn gió bão khủng khiếp của đời người, để cho con còn đầy đủ minh mẫn, đủ sức khỏe để lo lắng cho đứa con trai duy nhất của con còn đang sống ở Đài Loan. Con đã chịu đau thương quá nhiều. Con cầu nguyện ơn Chúa ban xuống cho tất cả thân nhân còn lại của con, các đồng bào của con, những người sẽ vượt biển ra đi đều tới bến bờ bình an.

Songkhla, ngày 10 tháng 4 năm 1980
Vũ Duy Thái
(Nhân giỗ 100 ngày của vợ và các con chết trên Biển Đông)

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Đến Những Bạn Như Tôi

Thúy Nga

Hơn 34 năm về trước tôi là một đứa trẻ rất nhỏ. Sài Gòn còn đọng lại trong tôi qua hình ảnh của cha mẹ để lại. Tôi lớn lên trong lòng chế độ cộng sản, được giáo dục bởi chế độ, nhưng rồi trong tôi "thức tỉnh" những điều và cảm thấy mình may mắn được nhận ra. Cái quan tâm lớn nhất của tôi là làm thế nào để những thế hệ của tôi và nhỏ hơn được biết ra sự thật về cuộc chiến tranh hơn 30 năm về trước. Thời gian này được dịp để tôi có đôi lời tâm sự và nhắn gởi.

30/4 đen, 30/4 Quốc Hận. Ít nhất một lần khi nghe điều này tôi và các bạn đều nghĩ là gàn, thậm chí là " phản động ". Và rồi một ngày khi tôi phát hiện, mình cũng như bao thế hệ thanh niên khác đều bị lừa, những gì mà chúng ta tiếp nhận từ nền văn hoá cộng sản hoàn toàn trái ngược. Tôi tin vào những điều đó đơn giản chỉ là một cái nhìn qua cuộc sống thực tế và những gì mà đảng cộng sản đương thời đã và đang gây hại cho dân tộc Việt Nam.

Hôm nay, một 30/4 nữa lại về, chúng ta không ăn mừng một chiến thắng vẻ vang hay một ngày toàn thắng giành độc lập. Tôi và các bạn đang tiếp tay cho đảng cộng sản ăn mừng ngày 30/4 tang thương này một cách vô thức. Đây là một biến cố đau thương là vì ngày này chính là ngày Miền Nam Việt Nam chúng ta đã bị cướp bởi Cộng Sản Bắc Việt. Hai cuộc kháng chiến lớn chống Pháp-Mỹ mà chúng ta được nhồi nhét vào đầu thực chất là một âm mưu bành trướng thế lực của cộng sản đỏ. Đâu chỉ thế, ngày này đã khiến cho toàn dân tộc Việt Nam mất đất nước vào tay ngoại bang phương bắc mà tập đoàn cộng sản là chiếc cầu nối để rước voi về giày mả tổ.

Thật vậy, hãy thử nhìn lại, thảm cảnh ngày hôm nay, người dân chúng ta đâu chỉ ăn đồ Tàu, xài đồ Tàu mà các cô gái Việt Nam hôm nay trở thành những món hàng cho trai Tàu lựa chon. Hơn thế nữa, đất nước chúng ta đã bắt đầu xuất hiện những con đường mang tên Tàu. Cái tên Sài Gòn bị đảng cộng sản thay bằng tên thành phố Hồ Chí Minh. Tôi và các bạn vẫn còn có một ngày sẽ đòi trả lại hai chữ Sài Gòn vốn trở thành cái tên thân yêu và mãi mãi vĩnh cửu trong lòng tất cả. Thế nhưng nếu bị đổi là thành phố Mao Trạch Đông hay Ôn Gia Bảo ... thì một chút cơ hội cho chúng ta cũng sẽ không còn. Sự tủi nhục và thảm cảnh này ai có tội? Người Việt Nam chăng? Không, họ chỉ có lỗi khi câm nín sống xuôi theo chiều gió chứ không có tội. Kẻ có tội chính là đầu sỏ Hồ Chí Minh - người mà chúng ta luôn bị bắt buộc phải tôn kính và học tập, là nhà cầm quyền cộng sản tàn ác mà ông ta đã đào tạo nên. Tôi và các bạn, sự im lặng của chúng ta bao năm qua là tiếp tay cho thế lực gian ác đó.

Trên thực tế, người dân dù ngu dốt, ít học và thiếu hiểu biết nhưng vẫn có thể nhận thức được rằng họ đang bị đối xử bất công, thậm chí nhà cầm quyền cộng sản đôi khi xem họ thua cả loài vật. Người dân chỉ có bổn phận nghe và làm theo chứ không được quyền nói, điều này tôi và các bạn đều được chứng kiến hàng ngày. Thế nhưng có căm phẫn, chửi rủa sự tàn bạo của chế độ này cũng không đưa đất nước thoát ra khỏi thảm cảnh hiện nay. Tự do thật sự không phải đòi mà có, nó cần phải được đánh đổi, đôi khi cả bằng máu.

Đất nước chúng ta thật sự đã mất kể từ ngày mất Miền Nam Việt Nam chứ không phải đến bây giờ mới thảng thốt kêu: “Sắp mất nước!" Lời nói vô hại, sự than vãn cũng không có ích lợi gì. Thế nhưng nếu như lời nói có thể tẩy não thế hệ như chúng ta và lớp trẻ mai sau vốn đã bị nền giáo dục cộng sản độc hại, có thể thức tỉnh để xiết chặt tay trong tay cùng nhau đập tan sự thống trị nhu nhược đối với ngoại bang và tàn bạo với dân tộc, để đòi lại quyền làm người cho bạn, cho tôi và cho tất cả những người dân Việt khốn khổ dưới ách thống trị của đảng cộng sản mấy mươi năm qua. Chúng ta chẳng phải đã từng học: "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh". Đất nước hôm nay, đâu cần giặc phải đến bởi giặc vốn đã ở trong mái nhà của chúng ta từ lâu thì hà cớ gì chúng ta lại câm nín, đem những đồng tiền mồ hôi, thấm đượm nước mắt để vỗ béo cho những tên thái thú, những tên cộng nô vốn mang hình dạng người nhưng không khác gì bầy sói lang. Nói mất Hoàng Sa-Trường Sa, giới trẻ chúng ta đa phần vẫn bàng quang cho rằng "chuyện nhà nước". Nhà không có mái sao gọi là nhà? Đất nước không còn, mái ấm gia đình tất sẽ không còn.

Hãy thức tỉnh đi các bạn! Chúng ta là những con người thực, có tri giác và biết nhận thức thì đừng cam tâm sống trong thế giới ảo mà đảng cộng sản đã áp đặt tạo dựng. Im lặng chính là sự đồng thuận với tội ác. Một tiếng nói, một lời rỉ tai cho dù nhỏ bé nhưng với trăm ngàn tiếng nói ấy góp lại sẽ trở thành một cơn sóng lớn nhấn chìm tập đoàn đảng cộng sản bán nước cầu vinh trong một ngày không xa.

Thúy Nga

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

DVD ASIA 61

Nhật Trường Trần Thiện Thanh Kỳ 2

Bài của Dương Hà - Hoàng Nam
Hình của Trung Tâm Asia

Vào ngày Thứ Bảy 28 Tháng hai 2009, đứng trước Đại hí viện Long Beach Terrace xung quanh mình đoàn người đông đúc khiến tôi nhớ đến lần Trung tâm Asia tổ chức đại nhạc hội thu hình Nhật Trường-Trần Thiện Thanh Asia 50 tại La Mirada Theatre.Đó là show về Nhật Trường-Trần Thiện Thanh kỳ 1 vào năm 2006, mà số lượng DVD Asia 50 “Anh không chết đâu anh” vô cùng thành công về số bán.

Năm nay vào mùa Tháng Tư Đen đánh dấu 34 năm Việt Nam Cộng Hòa bị Đồng Minh Tháo Chạy bức tử, Tháng Tư oan khiên, Tháng Tư Người Lính VNCH bị gẫy súng, không khí khắp nơi phẫn uất vì Việt Nam mất đất vùng ranh giới Việt-Trung, mất các hải đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa, rồi nguy cơ Bauxite Tây Nguyên ... Tháng Tư người ta lưu luyến với hình ảnh hào hùng, những gương can đảm của người quân nhân VNCH từ Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn đến Ngụy Văn Thà, Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Văn Đương, Trần Duy Phước ... cũng nhằm ca ngợi hình ảnh đẹp đẽ của người lính Việt Nam Cộng Hòa muôn thuở bất tử vì các sự hy sinh cao cả, Trung tâm Asia tiếp tục thực hiện DVD Nhật Trường-Trần Thiện Thanh kỳ 2, tức Asia-61. Tôi xin ghi nhận những điều cảm nghĩ về show hát này, cũng như về ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh, người đem hình ảnh của người lính đi sát với âm nhạc của ông, một điều rất thú vị trong tôi.

Chương trình đại nhạc hội thu hình cho Asia-61 của Trung tâm Asia, một trong các trung tâm băng nhạc lớn và uy tín tại Little Saigon, đã huy động một lực lượng ca sĩ đông đảo và sự góp mặt của những anh cựu quân nhân thuộc Liên Hội cựu chiến sĩ Quân lực VNCH, và để thể hiện các sáng tác bất hủ của nhạc sĩ tài hoa Trần Thiện Thanh, qua các chủ đề tình yêu, quê hương và chiến tranh.
Image Danh sách các ca sĩ được ghi nhận, người ta thấy có sự góp mặt của các nghệ sĩ, trước 75 như Thanh Thúy, Trung Chỉnh, Anh Khoa, Thanh Lan, Ngọc Minh, Chí Tâm, Nhật Trường, Phương Hồng Quế, Chế Linh, Phương Dung ... và thế hệ sau này, như Thiên Kim, Mỹ Lan, Mỹ Huyền, Hồ Hoàng Yến, Spencer, Thùy Hương, Justin, Philip Huy, Lâm Nhật Tiến, Vũ Khanh, Như Quỳnh, Tường Khuê, Tường Nguyên, Diễm Liên, Lâm Thúy Vân, Băng Tâm, Tiến Dũng, Thanh Trúc, Châu Tuấn, Bích Vân, Nguyễn Hồng Nhung, Y Phương, Y Phụng, Đặng Thế Luân, Quốc Khanh, Ánh Minh, Ðoàn Phi, Ðan Nguyên, Trish Thùy Trang ... về phần kịch có Quang Minh, Hồng Ðào, Jonathan và Jennifer. Về emcees có 4 nghệ sĩ là Nam Lộc, Thùy Dương, Bảo Châu và Việt Dzũng.
Image
Bài nhạc mở đầu chương là nhạc phẩm "Bà Mẹ Trị Thiên" do 2 ca sĩ Thanh Lan và Vũ Khanh trình bày. Bài hát cho thấy rằng người mẹ già có hai người con trai. Lịch sử Việt Nam là phấn đấu để trường tồn, đời mẹ chống Tây, đời con đánh Cộng. Rồi người con lớn hy sinh trên chiến trường Lộc Ninh. Cuộc chiến nơi đây thật khốc liệt, vào ngày 4/4/1972, quân CS tung một trung đoàn quân chính quy tấn công một chi đội chiến xa tăng phái cho Trung đoàn 9 BB từ biên giới rút về tăng cường cho lực lượng phòng thủ Chi khu Lộc Ninh. Ngày 5/4/1972, quân CS bắt đầu tấn công vào bộ chỉ huy tại Lộc Ninh và hậu cứ Trung đoàn 9 BB đặt trong quận l ỵ . CS mở màn bằng địa pháo và sau đó tung bộ binh, thiết giáp tấn công theo hỏa lực hùng hậu của chúng. Lực lượng trú phòng đã chống trả mãnh liệt. Vào trưa cùng ngày, CS bị đẩy lùi khi chúng cố đánh chiếm phi đạo. Ngày 6 tháng 4/1972, CS mở đợt tấn công kế tiếp với sự yểm trợ của một tiểu đoàn chiến xa T54 khoảng 30 chiếc. Pháo binh VNCH tại Lộc Ninh đã phải hạ nòng súng bắn trực xạ vào các chiến xa địch quân đang xông đến, nhưng vì áp lực quá nặng của CS, thị trấn Lộc Ninh bị tràn ngập, một phần của đơn vị phòng thủ đã vượt thoát khỏi vòng vây của địch và về đến An Lộc. Sau khi tạm mất Lộc Ninh, Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Quân đoàn 3, đã khởi động kế hoạch bảo vệ An Lộc. An Lộc là chiến trường vang danh và vinh danh quân đội VNCH, mà hình ảnh hào hùng của Tướng Lê Văn Hưng. Theo kế hoạch thì bộ Tư lệnh Hành quân của Sư đoàn 5 BB cho Tướng Lê Văn Hưng chỉ huy và 2 tiểu đoàn của Liên đoàn 3 Biệt Ðộng Quân được trực thăng vận vào An Lộc. Cuộc di chuyển điều động quân xong vào ngày 5 tháng 4/1972. Ngày 7 tháng 4/1972, bộ Tổng Tham Mưu đã điều động Lữ đoàn 1 Nhảy Dù tăng viện cho Sư đoàn 5 BB. Sáng ngày 16 tháng 4/1972, Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù được lệnh tiếp ứng cho mặt trận Bình Long. Về các đơn vị thuộc Sư đoàn 5 BB, ngày 11 và 12 tháng 4/1972, Trung đoàn 8 BB được trực thăng vận vào An Lộc. Trước đó, Sư đoàn 5 BB được bộ Tổng tham mưu tăng viện Trung đoàn 52 của Sư đoàn 18 BB. Trung đoàn này đóng ở khu vực cầu Cần Lê, sau cuộc tấn công của CS vào các ngày 6 và 7 tháng 4/1972 thì chúng đã bị thiệt hại nặng. Sau hơn hai tháng tử chiến với quân CS, dưới sự chỉ huy của Tướng Lê Văn Hưng, Lực lượng VNCH đã giữ vững được An Lộc và sau đó đã khởi động các cuộc phản công giải tỏa áp lực địch quân ở các khu vực phụ cận thị xã tỉnh lỵ.

"Bà Mẹ Trị Thiên" của Nhật Trường Trần Thiện Thanh nhắc đến giai đoạn bi hùng của quân dân VNCH. Mà trên sân khấu Asia-61, khán giả đã thích thú, nức lòng với hình ảnh của các chiến binh tinh nhuệ nhất của quân lực VNCH, một thời khó quên.

"Mẹ già có một thằng con
tròn ba năm lính vẫn chưa về nhà
Mẹ còn nuôi một đứa con
ở tận Thất Sơn ra Trung Lập đồn
Mẹ chờ con ruột ở xa
thương yêu mẹ dành cho thằng con nuôi
Mẹ đợi một sớm bình yên
hai thằng con mẹ về vui với tuổi già

Rồi mẹ sẽ kể con nghe
năm mẹ mười tám mẹ đánh Tây công đồn
Rồi mẹ sẽ kể con nghe
mùa thu năm bốn mẹ mang mang tủi buồn….
Thằng Tây thằng Cộng bất nhân
chia đôi nước Việt, chia con sông gần
Còn đây còn từng đêm sâu
dòng xanh Bến Hải ngậm muôn đời sầu
Mẹ nuôi mẹ dạy đứa con
cho con đánh giặc cho dân yên lòng
Một ngày mẹ đợi bên sông
bờ Nam Thạch Hãn, đợi tin con diệt thù …

Nào ngờ có một lần kia
Thằng Hai anh dũng chiến trường Lộc Ninh
Chuyện đời có tử có sinh
có con đi lính hy sinh là thường

Mẹ ngồi bên cỗ áo quan
long lanh quốc kỳ hai hàng bội tinh
Mẹ buồn mà mắt mẹ vui
“Con mẹ vị quốc vong thân chiến trường”

Rồi ngày tháng ngày qua
đây mảnh vườn mẹ xới, luống khoai mẹ gầy
Mẹ định cưới vợ cho con
thằng con nuôi lính, thằng con sao thiệt thà …

Ngày kia bọn giặc kéo về
băng qua xóm mẹ giết dân trả thù
Sợ con chiều chiều hay qua
trầu cau con hái về dâng mẹ già

Mẹ đi mẹ chạy lên đồn
tin con biết giặc đang trên ruộng nhà
Gặp thằng giặc Cộng tinh ma
hỏi mẹ, mẹ mắng ! bèn bêu đầu già

Khi con về, xác mẹ thành xương mọc ruộng khô
Măng khóc tre trên mảnh đất quê
Khi con về, khi con về thê thảm nào hơn
Ôi nỗi buồn biết thuở nào nguôi
Ôi ! Mối thù đến thuở nào vơi !"

Trong 21 bài hát và một vở kịch, và nhiều hoạt cảnh ngoạn mục của Asia-61, màn Tân cổ giao duyên do 2 nghệ sĩ Chí Tâm và Ngọc Huyền trình diễn qua bài "Tạ Từ Trong Đêm", là một tiết mục cần có cho người lớn tuổi khi tâm tư chôn chặt với nỗi nhớ cố hương.

Bạn chúng tôi, nhà văn Phạm Tín An Ninh bên Vương quốc Na Uy khi viết về Nhật Trường Trần Thiện Thanh và bài hát "Tạ Từ Trong Đêm", đã ghi nhận như sau:

‘’ "Nhạc sĩ của Lính" là tên mà rất nhiều người miền Nam đã đặt cho anh. Bởi anh đã viết và hát trên 200 ca khúc, không phải chỉ về đời lính, về người tình của lính, mà còn ngợi ca người lính. Sự ngợi ca của anh không phải là những bản hùng ca rầm rộ tiếng quân hành, nhưng nó nhè nhẹ len lỏi vào tận cùng tâm thức, khua động những tình cảm rất thật, rất người. Nhạc của anh đã làm cho người ta hiểu và yêu lính hơn, và làm cho chính người lính thấy yêu đời lính của mình hơn. Những người lính với đầy đủ những bi hùng, nhưng cũng đầy ắp những lãng mạn, vị tha và nhân bản...

Từ giữa thập niên 60, chiến trường miền Nam bắt đầu sôi động, hàng hàng lớp thư sinh phải từ giã mái trường, phố thị ,"xếp bút nghiên theo việc kiếm cung". Người lính miền Nam lúc ấy được thi ca nói tới như là những chàng tuổi trẻ hiền lành, lãng mạn, đi hành quân như vui thú với rừng núi sông hồ, mà hành trang lúc nào cũng kèm theo thơ túi, rượu bầu và hình ảnh một người tình nho nhỏ ở hậu phương... để cuối cùng đành nói một lời khuyên:

" Nếu em biết rằng, có những người đi đấu tranh cho đời
mang lời thề lên miền sơn khê
Từng đêm địa đầu hun hút gió sâu
Nếu em đã gặp mẹ già thương con khấn nguyện đêm rằm
Vợ yêu chồng đang áo lạnh từng đông
Thì duyên tình mình có nghĩa gì không ? " (Tạ Từ Trong Đêm)

Những khúc hát này ngày xưa, những người cùng thế hệ thời ấy ai cũng có lần đã hát. Những tiếng hát đó không phải là những tiếng kèn hung hãn thúc quân vào trận mạc, nhưng chính là những làn gió ngát hương trên từng bước quân hành của người lính chiến miền Nam. Nó không làm át đi phần nào tiếng súng nhưng có lẽ đã làm dịu bớt đi những vết thương, những khốn khổ, chia lìa của cả một thời ly loạn."

Ca sĩ Nguyễn Hồng Nhung khi được hỏi về người lính VNCH, vì ra đời ở miền Bắc và cô ra đời sau cuộc chiến, cô cho biết là cô chỉ biết hình ảnh người lính VNCH qua âm nhạc Trần Thiện Thanh và mến mộ. Cô hát nhạc về người lính VNCH với tất cả tấm lòng trân trọng và quý mến.
Image Nguyễn Hồng Nhung cùng Lâm Nhật Tiến trình bày nhạc phẩm "Bắc Đẩu", nội dung rất bi thương khi người chiến sĩ mũ đen thiết giáp Nguyễn Ngọc Bích chết trận La Vang, rồi "bị liệm xác" đến ba lần, khi thịt xương nát tan. Chính cái chết 3 lần của Nguyễn Ngọc Bích quá thương tâm, Trần Thiện Thanh dâng lên nỗi cảm xúc, đã sáng tác ra bài ca này. Lời bài hát:

"Người bỗng trở thành vì sao Bắc Đẩu,
lẻ loi tinh cầu đêm đen không dấu
Cây "Cầu Ga" nhỏ anh qua anh qua
Vì sao Bắc Đẩu trôi dạt đêm mưa,
người xa cách người, nước mắt tiễn đưa đã thấy xót xa
Một lần anh đi đã thấy xót xa từ ngày hôm qua
Đây thinh không thiên thần lên tiếng hát,
chiêu hồn người từ hỏa ngục dương thế.
Kia bầu trời Ngọc Bích đã thênh thang ...
Ôi ...lời mời gọi anh bước chân sang.
Xin muôn năm như vì sao sáng đó
Hỡi người định mệnh là vì sao lẻ.
Dậy đi Bắc Đẩu!
Bừng mắt dậy soi sáng thiên thu.
Người tên "Bắc Đẩu" chết trận hôm nao?
Một áo quan đóng vội một chuyến cuối phiêu du ...
"Có thấy dấu chiến xa của người của hôm qua ?"
"Có thấy chiếc mũ đen của người lạc trong đêm?"
Người tên "Bắc Đẩu" chết trận La Vang, liệm xác ba lần ...
Ngọc bích cũng tan chỉ còn vì sao thôi, chỉ còn vì sao thôi ...
Cuộc đời vài mươi năm
Người vội về xa xăm"

Một điểm độc đáo của Nhật Trường - Trần Thiện Thanh là ông là người đa tài như ca hay, sáng tác nhạc hay, viết nhạc kịch và đạo diễn hay,... Bởi vậy nhà văn Nguyễn Đình Toàn cho nhận xét là: “Nhạc Trần Thiện Thanh không ai hát hay hơn Nhật Trường”.

Nói đến Nhật Trường là phải nói đến hai người ở nơi ông: một Nhật Trường ca sĩ và một Nhật Trường là một nhạc sĩ dưới tên Trần Thiện Thanh là hai tên tuổi đã có những đóng góp lớn cho nền ca nhạc Việt Nam từ hàng chục năm qua trong lịch sử tân nhạc Việt Nam. Nói với khán thính giả, những ai hâm mộ ông, ông chia sẻ tâm sự khi đến Hoa Kỳ định cư:

"...Mơ ước trong tương lai của tôi còn tùy thuộc vào khán thính giả còn yêu thích mình hay không, tiếng hát của tôi còn được đón nhận nữa hay không? Nhưng có một điều tôi sung sướng nhất ở đây là tôi được hát cho khán thính giả của tôi, hát cho họ, vì họ và mang ơn họ. Hát như chưa bao giờ được hát. Tôi ước mơ rằng cuối đời còn lại của tôi sẽ còn dịp được hát mãi để phục vụ cho khán giả yêu thương."

Trang Bách khoa tự điển Wikipia online viết về tiểu sử ông như sau:

"Trần Thiện Thanh (12 tháng 6 năm 1942 – 13 tháng 5 năm 2005) là một nhạc sĩ Việt Nam chuyên viết về nhạc trữ tình. Bút hiệu ông thường dùng là TTT nhưng thỉnh thoảng ông cũng ký tên Anh Chương (tên con trai ông), Trần Thiện Thanh Toàn (em trai ông, đã tử trận). Ông còn là ca sĩ nổi tiếng với nghệ danh Nhật Trường.

Trần Thiện Thanh sinh năm 1942 tại Phan Thiết. Ông đến Sài Gòn năm 1958 và chẳng bao lâu giọng hát trau chuốt của ông được giới yêu nhạc Sài Gòn yêu mến ngay.

Ông nguyên là giáo viên trung học, tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan năm 1965, phục vụ tại Cục Tâm lý chiến Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa từ năm 1965 cho đến cuối tháng tư năm 1975. Ông làm việc tại Ðài Phát thanh và sau đó Truyền hình Quân Ðội, từng là Trưởng ban văn nghệ của Đài và sau năm 1968 ông còn phụ trách thêm chương trình phóng sự chiến trường.

Ngoài ra, ông còn điều hành trung tâm phát hành nhạc và thâu băng tên là “Tiếng hát đôi mươi”. Đầu thập niên 1960, Nhật Trường lập ban Tứ Ca Nhật Trường gồm 3 nữ ca sĩ: Như Thủy (em gái của ông), Vân Quỳnh và Diễm Chi ("nữ hoàng" của phong trào du ca chuyên hát nhạc Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu, Miên Đức Thắng, Bùi Công Thuấn) hát phụ họa cùng với ông.

Trong những năm cuối thập niên 1960, Hùng Cường, Chế Linh và Nhật Trường thường mặc quân phục lên sân khấu để hát nhạc lính. Ông hoạt động rất nhiều với các đài phát thanh và truyền hình Việt Nam thời đó. Trong các phim kịch với đề tài người lính, Nhật Trường hay ca diễn với Thanh Lan.

Đầu thập niên 1970, ông thực hiện một số nhạc cảnh về Đại úy Nguyễn Văn Đương trong đó ông đóng vai người lính còn Thanh Lan đóng vai người vợ hậu phương Nguyễn Thị Lệ. Lúc đó, Nhật Trường và Thanh Lan thường hát chung với nhau. Đây là một tiết mục rất ăn khách trên TV thời đó. Loạt nhạc cảnh này cũng được thâu thành phim với tên “Trên Đỉnh Mùa Đông”.

Hai chủ đề lớn trong sáng tác của ông là tình yêu và tình lính. Ông sáng tác nhiều nhạc về lính, nhưng nhạc lính của ông thường không có thù hận, gay gắt hoặc kích động, thúc quân hoặc u uất, bi thảm mà nhạc của ông thường trong sáng vui tươi làm thi vị hóa và lãng mạn hóa đời lính gian khổ.

Sau 1975, ông nằm trong danh sách những nghệ sĩ bị chính quyền cộng sản cấm hoạt động. Tới năm 1984, Trần Thiện Thanh được phép hoạt động lại. Tuy nhiên, ông từ chối làm việc dưới chế độ mới.

Trong những năm ít xuất hiện trên sân khấu, Trần Thiện Thanh vẫn soạn nhạc. Tới năm 1993 thì ông sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình, ODP. Sau một thời gian sống tại Mỹ thì ông kết duyên với nữ ca sĩ Mỹ Lan.

Trần Thiện Thanh bị ung thư phổi. Ông mất vào ngày 13 tháng 5 năm 2005 tại nhà riêng ở thành phố Westminster, Quận Cam, Nam California.

Trần Thiện Thanh sáng tác khoảng 100 ca khúc, trong số đó có những bài nổi tiếng như :

- Ai nói yêu em đêm nay
- Anh không chết đâu anh, (vinh danh Đại úy Nguyễn Văn Đương)
- Anh về với em
- Bảy ngày đợi mong
- Biển mặn. (Đây là tác phẩm gần như kể về cuộc đời nhạc sĩ Trần Thiện Thanh)
- Chiếc áo bà ba, mang âm hưởng dân ca
- Chiều trên phá Tam Giang
- Chuyện hẹn hò
- Chuyến đi về sáng, (viết chung với Mạnh Phát)
- Đám cưới đầu xuân
- Hoa biển, (viết tặng Hải quân VNCH, sáng tác chung với Anh Thy, tên thật là Phạm Văn Khổn, cố chuẩn úy nhất hải quân)
- Người yêu tôi khóc
- Không bao giờ ngăn cách
- Lâu đài tình ái
- Mùa đông của anh
- Mười sáu trăng tròn
- Người chết trở về
- Người ở lại Charlie, (vinh danh Đại tá Nguyễn Đình Bảo)
- Rừng lá thấp, (viết tặng Đại Úy Vũ Mạnh Hùng hy sinh trên cầu sông Thị Nghè)
- Tình có như không
- Tình thư của lính, (sáng tác trong biến cố Tết Mậu Thân 1968. Trong dịp này ông là Trung đội trưởng Trung đội ứng chiến phòng thủ Biệt Khu Thủ Đô)
- Tình đầu tình cuối
- Trên đỉnh mùa đông
- Tình thiên thu (Chuyện tình Mộng Thường)
- Từ đó em buồn
- Tuyết trắng, (viết tặng Không quân VCH)
- Yêu...

Có lần Trần Thiện Thanh được hỏi vì sao ông chọn tên Nhật Trường. Ông trả lời: "Hồi nhỏ tôi thích ca hát lắm nhưng bố mẹ tôi không cho. Thế là tôi phải chờ đến ban đêm đợi bố mẹ đi ngủ rồi mới dám hát. Nhiều khi ban ngày thèm hát quá mà phải đợi đến tối, thấy ngày sao dài ghê nên tôi chọn tên Nhật Trường, có nghĩa là ... ngày dài.".

Sau khi định cư ở Hoa Kỳ, Trần Thiện Thanh gom bài Người bên lề cõi sống cùng với các bản khác như Đôi tiếng tự do, Từ nửa vòng trái đất, Ở giữa muộn phiền, Trại cấm,... để làm thành CD Đôi tiếng tự do.

Năm 2006, Trung tâm Asia có thực hiện chương trình đặc biệt Nhật Trường Trần Thiện Thanh - Anh không chết đâu anh (Asia DVD 50) và năm 2009 thực hiện chương trình "Nhật Trường - Trần Thiện Thanh 2" (Asia DVD 61), để vinh danh ông..."

Một người con trai ông là Trần Thiện Anh Chương, khi đi hát có lấy tên là Anh Chương hoặc Nhật Chương, đôi khi lấy tên là Trần Thiện Thanh Toàn (để nhớ chú) nhưng sau này khi làm việc trong vai trò ký giả thì chỉ lấy tên là Thanh Toàn, hiện cộng tác với đài truyền hình SBTN và Trung tâm Asia.

Hiện nay, tại Việt Nam, chỉ có một số ít ca khúc của ông được phép lưu hành chính thức như Chiếc áo bà ba, Tình đầu tình cuối, Gặp nhau làm ngơ, Bảy ngày đợi mong... Từ năm 2000, nhạc của Trần Thiện Thanh không còn được cấp phép nữa.
Trần Thiện Thanh - Âm Nhạc Bảo Vệ Quê Hương: Trần Thiện Thanh Nhật Trường đã hy sinh một đời bằng trái tim, bằng khối óc để nói lên hình ảnh người lính với lý tưởng bảo vệ sơn hà, người trai thế hệ không sờn lòng gìn giữ từng tất đất quê hương, anh ra đi nơi tuyến đầu mang theo màu da nắng cháy từ vùng chiến địa của Mùa Hè Đỏ Lửa 72 với An Lộc, Bình Long, Kontum hay miền trường sơn rừng núi với Dak To, A Shau, Chu Pao hay Khe Sanh, hay vùng địa đầu có Đông Hà, Hải Lăng, Triệu Phong, Thạch Hãn, nơi có sương mù buồn tênh của vùng Quảng Trị… nơi nào có chiến tích là được Nhật trường đưa vào những ca khúc của anh. Trần Thiện Thanh Nhật Trường nói thay cho người lính bằng dòng nhạc của ông, bằng giọng ca của ông. Những bài hát bất tử với quân dân Việt Nam Cộng Hòa: Chiều Trên Phá Tam Giang, Góa Phụ Thơ Ngây, Tưởng Người Chết Đi và điều đặc biệt nhạc Trần Thiện Thanh đã vinh danh những anh hùng tiêu biểu cho Việt Nam Cộng Hòa đi vào quân sử một thời chiến chinh: Ôi, những Trần Thế Vinh trong bài Bay Lên Cao Ði Anh, Trần Duy Phước trong Giấc Ngủ Trên Ðồi Xanh, Nguyễn Văn Ðương trong Anh Không Chết Ðâu Em, và Nguyễn Ðình Bảo trong Người Ở Lại Charlie.

Trước 75 Nhật Trường và Thanh Lan dựng những nhạc cảnh mà chúng ta xem khi họ song ca trên TV từ bài Góa Phụ Thơ Ngây, Chiều Trên Phá Tam Giang, Người Ở Lại Charlie đến Anh Không Chết Đâu Em, nói về cái chết anh dũng của đại úy Nguyễn Văn Đương. Dưới áp lực mưa pháo nặng nề lên căn cứ 30 và 31 tại mặt trận Khe Sanh, đại úy Đương, pháo đội trưởng B-3 Dù, báo cáo tăng địch xuất hiện dưới chân đồi và đích thân bắn trực xạ nát hai chiếc tăng địch. Trong khi Tiểu Đoàn 3 Dù anh dũng giữ từng thước đất, từng giao thông hào. Nhưng quân số Dù không đủ sức ngăn chặn cuộc tấn công mưa pháo và tăng địch cày nát chiến hào. Để rồi cuối cùng pháo đội trưởng Nguyễn Văn Đương vĩnh viễn ra đi tại Khe Sanh. Sau đó bài anh hùng ca Anh Không Chết Đâu Em, ám chỉ anh sẽ mãi mãi lưu danh trong sử xanh, anh mãi mãi sống trong âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa, trong lời nhạc của Trần Thiện Thanh, với nhịp điệu luyến láy ở cung La thứ, tiết tấu hào hùng thiết tha để diễn tả nỗi niềm tiếc nuối của tất cả chúng ta:
Trần Thiện Thanh - Âm Nhạc Về Tình Yêu: Dòng nhạc Trần Thiện Thanh chia ra hai chủ đề chính: Lính và Tình Yêu. Về Lính, như trên đã bàn là ông có nhiều bài về lính nhất. Trong số hơn 200 ca khúc ông sáng tác trước và sau năm 1975, nhiều ca khúc nói về người lính của chúng ta, trong ý niệm rất nhân bản, và mang nét trữ tình với lính yêu trong tình yêu vốn nhẹ nhàng. Bây giờ tôi xin trình bày về những bài tình ca thuần túy không có màu áo lính xen vào. Chủ đề Tình Yêu của Trần Thiện Thanh có rất nhiều bài dễ thương như: Khi Người Yêu Tôi Khóc, Bảy Ngày Đợi Mong, Hoa Trinh Nữ, Lâu Đài Tình Ái (phổ thơ Mai Trung Tĩnh), Cho Anh Xin Số Nhà, Mùa Đông Của Anh, Ai Nói Yêu Em Đêm Nay,... Những từ ngữ trong bài ca của Trần Thiện Thanh không cầu kỳ, dễ hiểu, nét nhạc dễ nghe, kỹ thuật viết nhạc chú trọng đưa những tâm tình đi vào lòng thính giả. Sau năm 1975, Trần Thiện Thanh vẫn sáng tác, bản Chiếc Áo Bà Ba mang âm hưởng dân ca quê hương Nam phần. Điểm hay là nhạc Trần Thiện Thanh nếu do Nhật Trường ca thì lại xuất sắc, theo nhiều trường hợp khác thì nhạc sĩ đặt nhạc không hẳn người ấy sẽ là ca sĩ ca hay, nhưng với Trần Thiện Thanh thì quá đặc biệt.

Theo Trần Củng Sơn viết về Nhật Trường Trần Thiện Thanh:

"Dòng nhạc Trần Thiện Thanh chia ra hai chủ đề chính: Lính và Tình Yêu. Về Lính, phải công nhận là ông có nhiều bài về Lính nhất. Những ca khúc về Lính của Việt Nam Cộng Hòa đa số không mang tính chiến đấu cao như những bài của miền Bắc Cộng sản nhưng đậm nét trữ tình. Đó là lý do tại sao bây giờ sau hơn 30 năm, ở trong nước trên những chiếc tắc xi hay xe đò, khách vẫn được cho nghe những giọng hát Như Quỳnh, Tuấn Vũ ca những bài hát Lính nghe rất mùi.

Chủ đề Tình Yêu của Trần Thiện Thanh có những bài dễ thương như Khi Người Yêu Tôi Khóc, Bảy Ngày Đợi Mong, Hoa Trinh Nữ. Về phổ thơ, bản Lâu Đài Tình Ái phổ thơ Mai Trung Tĩnh thật lãng mạn, bài Chiều Trên Phá Tam Giang phổ thơ Tô Thùy Yên cũng thành công.

Ca từ của Trần Thiện Thanh không cầu kỳ, dễ hiểu, nét nhạc dễ nghe, kỹ thuật viết nhạc vừa đủ để đưa những tâm tình đi vào lòng thính giả. Sau năm 1975, Trần Thiện Thanh vẫn sáng tác, bản Chiếc Aùo Bà Ba mang âm hưởng dân ca Nam Bộ nghe quen thấy cũng hay. Những ca khúc ông viết ở hải ngoại thường do chính tác giả trình bày, nếu do những tiếng hát ăn khách ca, có thể phổ biến rộng rãi hơn. Trong một lần thoáng nghe Nhật Trường đưa câu vọng cổ vào bài ca tân nhạc trên sân khấu, ý nhạc này cho phong cách mới mẻ. Điều này chứng tỏ phong độ của nhạc sỹ Trần Thiện Thanh, không muốn dẫm vào lối mòn trong lúc sáng tác."

Hoàng Nam, tôi còn nhớ vào khoảng giữa thập niên 60, người láng giềng nhà tôi vốn mê một nhạc phẩm bất hủ của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, ông nghe say sưa, nghe triền miên. Tôi nhớ giờ prime time của bản nhạc này là 6 hay 7 giờ sáng trước khi ông đi làm và giờ 7 đến 8 giờ tối trước khi đi ngủ. Ngày đó, nếu tôi nhớ không lầm thì ca sĩ là Hà Thanh đã ru chúng tôi ngủ qua tình khúc "Không Bao Giờ Ngăn Cách":

"Anh về với em rồi mai lại đi
Đường xa mang theo bao nhiêu tình ý
Viết tên người yêu lên ba lô nặng trĩu
Đêm quân hành dừng chân đồi hoa tím
Nhớ xưa đôi mình hẹn nhau mà sao sáng
Đâu bằng đôi mắt em

Chúng mình cách xa mà vẫn gần nhau
Tình yêu không mau phai như màu áo
Dẫu cho thời gian đem tâm tư vào nhớ
Lá rơi gọi mùa thu về sân úa
Vẫn không bao giờ
Không bao giờ ngăn cách đâu em..."

Ông láng giềng nhà tôi là người đã giới thiệu tôi dòng nhạc tình ca boléro về người lính của Trần Thiện Thanh, nhà ở Việt Nam chia chung vách nên giờ prime time của ông cũng là giờ prime time của tôi, khiến tôi nghe trong đam mê và rồi tôi mãi hát theo:

Không bao giờ
Không bao giờ ân tình lại vỡ đôi
Một người đi nghe thương sao thương nhiều quá
Dáng một người em xinh sao quá xinh màu má
Không bao giờ
Không bao giờ giữa mùa hè tuyết rơi
Một đời hoa không khi nào hai lần nở
Trái mộng còn trinh nguyên khi đón anh trở về..."

Tôi thích ca từ mà Trần Thiện Thanh dùng như: sao sáng đâu bằng đôi mắt em, thời gian đem tâm tư vào nhớ, ân tình lại vỡ đôi, giữa mùa hè tuyết rơi, đời hoa không khi nào hai lần nở,.... Thật tuyệt vời. Chính lời nhạc như vậy thu hút sự đắm say của nhiều người.

Nhạc sĩ Lê Dinh đã có lần nói rằng chủ đề Lính đã tạo ra những bài hát hay và thể điệu Boléro của tân nhạc Việt Nam. Mà Nhật Trường -Trần Thiện Thanh thường dùng thể điệu Boléro và chủ đề Lính. Nên tôi nghĩ dòng nhạc Nhật Trường -Trần Thiện Thanh dễ dàng nhập tâm khán thính giả từ thời chiến đến giai đoạn về sau.

Năm 1972, Nhật Trường đã hoạt động bên lãnh vực phim ảnh truyền hình. Ông thực hiện cuốn phim Trên Đỉnh Mùa Đông, do chính ông viết cốt truyện phim để nối kết đưa bài hát Anh Không Chết Đâu Em, như nhạc đệm cho phim kịch (theme song), mà nội dung phim nói về câu chuyện anh hùng mũ đỏ Nguyễn Văn Đương với người vợ là Nguyễn Thị Lệ. Ông trực tiếp làm đạo diễn cuốn phim này, và đóng vai chính (Nguyễn Văn Đương) cùng với ca sĩ Thanh Lan (vai Nguyễn Thị Lệ). Phim Trên Đỉnh Mùa Đông đã phát sóng vào năm 1972 trên đài 9 của Đài truyền hình Sài Gòn. Nguyễn Văn Đương và Nguyễn Thị Lệ là hai nhân vật có thật ngoài đời trước 1975, không do hư cấu.

Trên sân khấu Asia-61, ca sĩ Thanh Lan đạo diễn làm sống lại vở nhạc kịch Trên Đỉnh Mùa Đông.

Nhưng phần diễn xuất ca sĩ trẻ Quốc Khanh đã thủ vai Đại Úy Pháo Binh Dù Nguyễn Văn Đương và ca sĩ Như Quỳnh đóng vai người vợ tên là Nguyễn Thị Lệ, vở nhạc kịch được diễn xuất khá ngoạn mục.

Nhạc phẩm tiêu biểu cho tình xuân Phút Giao Mùa mà Trần Thiện Thanh sáng tác tặng Trần Duy Phước của Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù VNCH vào năm 1965. Bài ca do Ngọc Minh và Trung Chỉnh trình bày. Xuân lại về trong khói lửa chiến tranh. Rồi mùa xuân vẫn xanh, xanh như cuộc tình em với anh, lời ca thơ mộng:

"Xuân này anh không về,ngàn câu thề không chắc em vui,
quà xuân anh chẳng có, gác giặc từng giờ
Đời lính chiến lấy gì gửi về em?

Tiền đồn heo hút nhắc em kỷ niệm ấu thơ.
Hỏi "em có nghe trong tâm hồn gợi giây phút xưa?"
Năm nao đêm giao thừa ngày khói lửa chưa kín quê hương,
Và đôi ta nhỏ bé, thức xem giao thừa,
Kể chuyện vu vơ và thức trong mộng mơ.

...Rồi pháo nổ khai xuân để mình dỗi hờn xa xăm
Khi đường trần dập dìu người đi hái lộc đầu năm.
Rồi từng xuân đến bắt anh giã từ ấu thơ.
Rồi xuân chiến chinh phút giao mùa còn anh với anh
Xuân chưa ôm đôi đời
Lòng xin một phút giây mơ thôi..."

Sau khi thành công của cuốn phim truyền hình Trên Đỉnh Mùa Đông, vào năm 1974 Nhật Trường tiếp tục làm cuốn phim thứ hai mang tên Mộng Thường (tên ban đầu là Người Chết Trở Về) để giới thiệu bài hát Tình Thiên Thu Nguyễn Thị Mộng Thường cũng do ông viết truyện phim. Nội dung câu chuyện tình có thật này đã xẩy ra khi Thiếu Úy Biệt Động Quân Phạm Thái gặp kiều nữ tiếp viên hàng không Việt Nam là Nguyễn Thị Mộng Thường tình cờ một chuyến bay của Air Vietnam, khi Phạm Thái lên đường đi tác chiến trong biến cố Mùa Hè Đỏ Lửa, năm 1972. Tại mặt trận An Lộc Phạm Thái đã bị thương và mất tích, mọi người tưởng rằng chàng đã hy sinh tại trận địa khiến cho Mộng Thường phải đau khổ vì cuộc tình bị dang dở oan khiên. Sự thật thì Phạm Thái được cứu sống và ẩn náu trong một nhà thờ. Sau trận chiến chàng được vinh thăng Trung Úy. Phạm Thái đã gửi thư mời hôn thê Mộng Thường ở Sài Gòn lên An Lộc dự buổi lễ lên lon mới. Thật là một oan khiên khi Mộng Thường đón xe đò lên gặp chàng. Chiếc xe đò mà nàng đi chẳng may trúng mìn của CS gài trên đường. Nguyễn thị Mộng Thường bị thương nặng, và qua đời. Trần Thiện Thanh lại sáng tạo viết kịch bản kiêm đạo diễn phim truyện Mộng Thường, rồi đóng vai chính (Phạm Thái) cùng với Thanh Lan (vai Mộng Thường). Phim này đã được trình chiếu trên Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975. Hai nhân vật trong phim này là chuyện thật ngoài đời. Phim đề cao một mối tình thật đẹp trong thời chinh chiến, dù kết cuộc quá bi thương.

Ca sĩ Mai Ngọc Khánh nhận xét tài nghệ của Trần Thiện Thanh: "Anh Nhật Trường rất là người tài hoa, bài nhạc nào anh đặt cũng hay. Tôi nghĩ rằng mình không có đủ sức để mà hát những bài của ảnh, không đủ trí nhớ để mà hát những bài của anh Nhật Trường. Bài nào của anh cũng rất là phóng khoáng, nhạc lính cũng như nhạc tình. Bài Tình Thư Của Lính, Người Ở Lại Charlie, hay Chuyện Tình Mộng Thường, nhạc của ảnh bất hủ."

Trên sân khấu Asia-61, tương tự như vở kịch trước, ca sĩ Thanh Lan đã viết lại phần đối thoại, phân cảnh và đạo diễn cho thế hệ đàn em diễn xuất. Các ca sĩ trẻ ở hải ngoại thủ diễn vai trò xuất sắc lắm, họ đã làm sống lại vai trò ngày xưa của của Thanh Lan và Nhật Trường, đứng trên sân khấu hoành tráng, lộng lẫy của Asia Live-show 61.

Được chú ý nhiều nhất là nhạc kịch Tình Thiên Thu Nguyễn Thị Mộng Thường do Băng Tâm thủ vai Mộng Thường và Đan Nguyên vai Phạm Thái ca diễn. Có thể nói vở nhạc kịch này đã gây xúc động khán giả không ít.

Đó là những ghi nhận từ Dương Hà - Hoàng Nam về đôi nét qua tác phẩm Asia-61. Một DVD nên xem, để tưởng nhớ đến người nghệ sĩ tài hoa Nhật Trường - Trần Thiện Thanh, cũng để vinh danh quân lực Việt Nam Cộng Hòa nhân dịp tưởng nhớ về ngày đau thương 30 tháng Tư Đen của mỗi năm, mà năm nay đã 34 năm qua rồi!

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

34 NĂM SAU "GIẢI PHÓNG"

Đỗ Thái Nhiên
Theo nghĩa thông thường, "giải phóng" là cỡi trói, là thay đổi hoàn cảnh sống theo hướng làm cho đời người trở nên êm ả hơn, hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, sau 30/04/1975, người Việt Nam, đặc biệt là những người sanh sống tại miền Nam Việt Nam trước 1975 ngày càng tỏ ra hoài nghi về ý nghĩa của hai chữ “giải phóng” do chế độ Hà Nội xử dụng.

Ngay giữa Saigon, đầu năm 1976, nhạc sĩ Trần Nhật Ngân là người đầu tiên đặt dấu hỏi về hồ sơ giải phóng. Dấu hỏi kia được gói ghém trong nhạc phẩm “Anh Giải Phóng Tôi Hay Tôi Giải Phóng Anh?”. Sau dấu hỏi của Trần Nhật Ngân, mọi người nhanh chóng nghiệm ra rằng: Đối với CSVN, “giải phóng” có nghĩa là cưởng bách nhân dân phải từ bỏ thiên đàng để nhảy xuống hỏa ngục. Bây giờ, 34 năm đã trôi qua, chúng ta có thừa bình tĩnh để suy nghĩ về “cơn đau giải phóng”. Sau đây là những tình huống “bị” giải phóng điển hình:

Nạn nhân đầu tiên của hành động giải phóng lại chính là con đẻ của Bắc Kinh và Hà Nội. Đó là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Thực vậy, sau khi chiếm được Miền Nam Việt Nam, Hà Nội vội vàng “giải phóng” Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam ra khỏi sân khấu chính trị Việt Nam. Nói cách khác Hà Nội đã giải tán MTGPMNVN không trống, không kèn, không một lời cảm ơn, không một lễ hạ cờ. Kế tiếp màn giải-phóng-Mặt-Trận-Giải-Phóng là sự việc hàng loạt cán bộ Hà Nội được tung ra để chiếm giữ vị trí lãnh đạo, đồng thời cũng là vị trí tham ô từ trong Nam ra tới ngoài Bắc, từ xã ấp lên tới trung ương. Đó là ý nghĩa của tình đồng chí giữa Cộng Sản Bắc và Cộng Sản Nam.
Bây giờ chúng ta hãy xét tới mối “liên hệ giải phóng” giữa đảng CSVN và đất nước Việt Nam. Đất nước ở đây gồm nhân dân và lãnh thổ.

“Giải phóng” nhân dân Việt Nam

Sau 1975, đối với nhân dân Miền Nam Việt Nam, CSVN đánh các đòn giải phóng sau đây: giải phóng khỏi đời sống tự do để đưa vào những nhà tù khổ sai dưới mỹ danh “học tập cãi tạo”. Giải phóng khỏi những ngôi nhà khang trang để “tự giác” tìm tới vùng kinh tế mới. Giải phóng khỏi quê hương thân yêu để trôi dạt tới những vùng đất tạm dung nằm rãi rác khắp năm châu. Người Việt sinh sống tại hải ngoại khỏang 3 triệu người. Người Việt gục ngã trên đường vượt biên khoảng 500 ngàn người. Từ 1975 cho tới 1985 những người vượt biên bị gọi là phản quốc, bị đẩy ra biển trong chương trình vượt biên bán chính thức, vượt biên bất chấp những an toàn tối thiểu của những chuyến đi biển… Mặc dầu bị đối xử tàn tệ như vừa kể, lòng yêu gia đình, yêu quê hương hối thúc người Việt hải ngoại gửi tiền về trong nước ngày càng nhiều. Khối tiền to lớn kia đã che khuất hai chữ “phản quốc”. Người Việt hải ngoại được Hà Nội xảo trá tặng cho danh hiệu “những khúc ruột ngàn dặm của tổ quốc”. Rõ ràng là CSVN bất chấp liêm sĩ, sẳn sàng nói ngọt với người Việt hải ngoại chỉ để tiếp tục “giải phóng” túi tiền của những người trước kia đã bị CS ra tay hành hạ ở mức độ hiểm ác nhất. Đối với khúc- ruột- ngàn- dặm “moi tiền” là mục đích chính. Đối với đồng bào sống ngay tại quốc nội CSVN đã đối xử ra sao?

Trước tiên, hãy nói tới “Mẹ chiến sĩ”. Mẹ ở đây là những người đã dày công bảo bọc, che chở, tiếp tế cơm gạo cho đám cán binh Việt Cộng trong thời kỳ CSVN phải sống chui rúc ở hốc núi, hầm đất cùng đủ loại địa đạo… Ngày nay đám “con chiến sĩ” đã có quyền lực đầy mình, tiền bạc đầy túi. Thay vì đền đáp công ơn Trời Biển của Mẹ, đám con tai quái kia lại quay ra “giải phóng” nhà, “giải phóng” ruộng vườn của Mẹ và của vô số đồng bào khác. Công viêc giải phóng yêu ma kia đã tạo ra tại Việt Nam một giai cấp mới: giai cấp dân oan.

Giai cấp dân oan cộng với nông dân thất nghiệp phải chạy vào thành phố kiếm sống cộng với giới phụ nữ chấp nhận “lấy chồng ngoại” để có được cơm áo cho gia đình cộng với đông đảo nam nữ thanh niên sẳn sàng bán bắp thịt trong những chương trình “xuất khẩu lao nô” cộng với khối quần chúng lớn lao không có cơ hội đi học, không có nghề nghiệp chuyên môn… Các bài toán cộng vừa nêu dẫn tới nhận định rằng: hầu hết lực lượng lao động của xã hội Việt Nam ngày nay chỉ có thể là lao động chân tay. Lao động kiểu này gọi là lao động “tay làm, hàm nhai”. Lợi tức của “lao động tay làm hàm nhai” gọi là lợi tức cơm chim. Thế nhưng, ngày cả cơm chim của nhân dân cùng khổ cũng bị CSVN tận tình “giải phóng”. Thực vậy, thời gian gần đây, dưới danh nghĩa cờ bauxite và cờ công tác xây dựng, CSVN vừa miển thuế kinh doanh cho Trung Quốc, vừa mời gọi Trung Quốc tự do mang dân Tàu vào Việt Nam làm việc tại những nơi Trung Quốc trúng thầu, gọi là tụ điểm Tàu. Do được miễn thuế kinh doanh, Trung Quốc trở thành quốc gia độc quyền trúng thầu tại Việt Nam. Vì vậy, hiện nay từ Bắc chí Nam của lãnh thổ Việt Nam tràn ngập tụ điểm Tàu. Mỗi tụ điểm Tàu có trên dưới 2000 dân Tàu, hầu hết chuyên làm lao động tay chân. Đó là lý do giải thích tại sao giới lao động chân tay người Việt bị thất nghiệp và cơm chim của giới này đã bị người Tàu “giải phóng” với sự hổ trợ tích cực của nhà cầm quyền Hà Nội.

Như vậy là dạ dày của người dân đã trống rỗng. Liệu chừng có hay không hiện tượng rằng: bên trên cái dạ dày lép kẹp là quả tim và bộ óc hừng hực chống Tàu? Chính vì lo sợ lòng căm thù Tàu trong mỗi người Việt dâng cao, ngày 03/04/2009, chính phủ CSVN đã ký ban hành công văn số 1992/VPCP-QHQT cho phép thành lập học viện Khổng Tử tại Việt Nam. Tư tưởng Khổng không có tiền đề triết học, không có qui luật triết hoc. Nó không là tư tưởng biện chứng. Nó bao gồm những bài học rời rạc của Khổng Tử. Những bài học rời rạc kia khi đi vào thực tiễn đời sống của người Trung Quốc, người đời nhìn ra ba trọng điểm:

Trong gia đình: Người cha là nhân vật tối cao. Vợ con chỉ là những người phải tuyệt đối tuân lệnh gia trưởng. Trọng nam, khinh nữ là chân lý không cần chứng minh. Biết bao nhiêu tỷ phụ nữ đã chết vì “chân lý” quái ác vừa kể. Khổng Tử và đệ tử của Khổng không thể đưa ra bất kỳ lời giải thích nào.

Trong xã hội quốc gia: Vua là tối cao. Vua nắm quyền sinh, sát toàn dân.

Trong bang giao quốc tế: Trung Quốc là nước vua. Những quốc gia chung quanh chỉ là nước tôi. Trung Quốc có toàn quyền tùy nghi bành trướng.

Ba trọng điểm nêu trên khi đã được nhồi nhét vào tim óc Việt Nam sẽ biến người Việt trở thành những nô lệ của Trung Quốc trên căn bản tư tưởng rằng: Trung quốc là nước vua, Việt Nam là nước tôi. Vì vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, CS Hà Nội đang làm tay sai cho Trung Quốc trong nổ lực dùng viện Khổng Học để “giải phóng” TÍNH Việt và TÌNH Việt ra khỏi con người Việt Nam, thay vào đó là tâm lý an phận thủ thường. Thường ở đây là con người chấp nhận thân phận hèn mọn trước gia trưởng, trước Đức Vua và trước “Trung Quốc vĩ đại”.

“Giải phóng” lãnh thổ Việt Nam

Câu chuyện cơm chim bị giải phóng đi kèm với sự việc tính Việt và tình Việt bị giải phóng cho thấy: Con người Việt Nam đang bị CSVN ra sức giải phóng cả thể chất lẩn tinh thần. Từ đó, không cần tốn một viên đạn, người Tàu đã nghiểm nhiên tràn ngập lảnh thổ Việt Nam. Bây giờ hãy bàn tới biên giới và hải giới. Tất cả người Việt Nam đều còn nhớ năm 1999 và 2000 CSVN ký hiệp ước dâng đất, hiến biển cho Trung Quốc. Từ đó hai hiệp ước kia, đặc biệt là bản đồ biên giới Việt Hoa bị CSVN triệt để dấu kín. Ngày 29/03/2009, trong Lời Kêu Gọi Bất Tuân Dân Sự, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quãng Độ yêu cầu chế độ Hà Nội hãy khai trình với Liên Hiệp Quốc thềm lục địa Việt Nam đúng theo đòi hỏi của luật biển 1982. Lời kêu gọi vừa nói có hậu ý tố cáo CSVN không dám lập hồ sơ khai trình bởi lẽ hầu hết thềm lục địa Việt Nam đã bị CSVN cống hiến cho Trung Quốc. Sự việc bản đồ biên giới bị dấu kín đi kèm với sự việc CSVN không dám làm thủ tục khai trình thềm lục địa cho thấy CSVN đã “giải phóng” đất đai và biển cả Việt Nam ra khỏi khối tài sản của tổ tiên để dâng cúng cho Trung quốc.

Nói tóm lại, sau 34 năm cướpquyền cai trị đất nước, cái gọi là công lao giải phóng dân tộc của chế độ Hà Nội bao gồm các điểm trọng yếu sau đây:

1) Giải phóng ba triệu đồng bào ra khỏi quê hương để sống cuộc đời tị nạn khắp năm châu.

2) Giải phóng “cơm chim” của tuyệt đa số nhân dân lao đông để mở đường cho nhiều vạn dân Tàu, lính Tàu vào Việt Nam kiếm sống bằng nghề lao động tay chân.

3) Giải phóng tính Việt, tình Việt ra khỏi tim óc Việt Nam để thay vào đó là tư tưởng Khổng với mục đích ngấm ngầm tạo hoàn cảnh tâm lý để người Việt Nam chấp nhận suy- nghĩ- kiểu- Tàu, sống- theo- trật- tự- Tàu. Trật tự gia trưởng. Trật tự trọng Nam, khinh Nữ. Trật tự vua tôi: vua là đảng, tôi là dân. Trật tự nước vua là Tàu, nước tôi là Việt.

4) Giải phóng đất Việt, biển Việt ra khỏi tầm tay Việt Nam để làm lễ vật triều cống cho vua Trung Quốc.

Bốn khối tội ác giải phóng kể trên đã biến đảng CSVN thành tên phản quốc lớn nhất trong thế giới của các loại phản quốc.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Sáng Tạo Ảnh Hưởng Lớn Cho Nhân Lọai Trong 10 năm tới

nguồn: http://tech. msn.com/


Image
Năng lượng sóng biển chế thành điện


Image
Những dụng cụ y khoa bé tí, nhất là để chẩn bệnh mà không cần đến những máy cồng kềnh


Image
Máy in nổi như thật, thường được gọi là in 3 Chiều (3 dimension), in ra nhiều lớp, rồi rắp ghép lại được như thật,
thay vì chỉ in được một tờ giấy như hiện nay


Image
Những máy tính nhỏ thông minh, bây giờ mới chỉ dùng cho nghe nhạc, hoặc chỉ phương hướng,
nhưng ai biết được trong tương lai, máy tính sẽ giúp bạn được rất nhiều dịch vụ trong đời


Image
Xăng sinh thực vật, bây giờ người ta mới chỉ dùng cùi bắp chế tạo năng lượng,
nhưng đã có những hãng đang nghiên cứu gỗ vụn, cành cỏ … để tạo ra xăng cho xe chạy


Image
Đường xe điện, cái này mới đúng là “xe điện”, xe chạy bằng điện. Trên đường sẽ có những ổ điện dành cho xe tra bình vào ổ điện,
tăng thêm điện để chạy. Không cần những cây xăng nữa


Image
Đường giải trí tùy nghi, nghĩa là muốn xem, đọc, nghe thứ gì thì bấm Tivi lên và gọi hàng đó.
Không còn cảnh đài cho chiếu gì thì xem thứ đó, mà là khách hàng muốn xem, đọc, nghe thứ gì thì bấm nút “mua” thứ ấy


Image
Chữa được ung thư, kỹ thuật nguyên tử (Nanotech) có thể chữa được các bệnh trước đây không thể chữa được, như ung thư .
Bác sĩ có thể chữa chạy điện thẳng vào các tế bào thay vì uống thuốc trị bệnh như hiện nay

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Chuyện di tản 1975

Tiểu Tử

Tôi không có đi di tản hồi những ngày cuối tháng tư 1975 nên không biết cảnh di tản ở Sài gòn ra làm sao. Mãi đến sau nầy, khi đã định cư ở Pháp, nhờ xem truyền hình mới biết !

Sau đây là vài cảnh đã làm tôi xúc động, xin kể lại để cùng chia xẻ…
Chuyện 1

Ở bến tàu, thiên hạ bồng bế nhau, tay xách nách mang, kêu réo nhau ầm ĩ, hớt hơ hớt hải chạy về phía chiếc cầu thang dẫn lên bong một chiếc tàu cao nghều nghệu. Cầu thang đầy người, xô đẩy chen lấn nhau, kêu gọi nhau, gây gổ nhau… ồn ào. Trên bong tàu cũng đầy người lố nhố, giành nhau chồm lên be tàu để gọi người nhà còn kẹt dưới bến, miệng la tay quơ ra dấu chỉ trỏ… cũng ồn ào như dòng người trên cầu thang !

Giữa cầu thang, một bà già. Máy quay phim zoom ngay bà nên nhìn thấy rõ : bà mặc quần đen áo túi trắng đầu cột khăn rằn, không mang bao bị gì hết, bà đang bò nặng nhọc lên từng nấc thang. Bà không dáo dác nhìn trước ngó sau hay có cử chi tìm kiếm ai, có nghĩa là bà già đó đi một mình. Phía sau bà thiên hạ dồn lên, bị cản trở nên la ó ! Thấy vậy, một thanh niên tự động lòn lưng dưới người bà già cõng bà lên, xóc vài cái cho thăng bằng rồi trèo tiếp.

Chuyện chỉ có vậy, nhưng sao hình ảnh đó cứ đeo theo tôi từ bao nhiêu năm, để tôi cứ phải thắc mắc : bà già đó sợ gì mà phải đi di tản ? con cháu bà đâu mà để bà đi một mình ? rồi cuộc đời của bà trong chuỗi ngày còn lại trên xứ định cư ra sao ? còn cậu thanh niên đã làm môt cử chỉ đẹp – quá đẹp – bây giờ ở đâu ?... Tôi muốn gởi đến người đó lời cám ơn chân thành của tôi, bởi vì anh ta đã cho tôi thấy cái tình người trên quê hương tôi nó vẫn là như vậy đó, cho dù ở trong một hoàn cảnh xô bồ hỗn loạn như những ngày cuối cùng của tháng tư 1975…

Chuyện 2

Cũng trên chiếc cầu thang dẫn lên tàu, một người đàn ông tay ôm bao đồ to trước ngực, cõng một bà già tóc bạc phếu lất phất bay theo từng cơn gió sông. Bà già ốm nhom, mặc quần đen áo bà ba màu cốt trầu, tay trái ôm cổ người đàn ông, tay mặt cầm cái nón lá. Bà nép má trái lên vai người đàn ông, mặt quay ra ngoài về phía máy quay phim. Nhờ máy zoom vào bà nên nhìn rõ nét mặt rất bình thản của bà, trái ngược hẳn với sự thất thanh sợ hãi ở chung quanh !

Lên gần đến bong tàu, bỗng bà già vuột tay làm rơi cái nón lá. Bà chồm người ra, hốt hoảng nhìn theo cái nón đang lộn qua chao lại trước khi mất hút về phía dưới. Rồi bà bật khóc thảm thiết…

Bà già đó chắc đã quyết định bỏ hết để ra đi, yên chí ra đi, vì bà mang theo một vật mà bà xem là quí giá nhứt, bởi nó quá gần gũi với cuộc đời của bà : cái nón lá ! Đến khi mất nó, có lẽ bà mới cảm nhận được rằng bà thật sự mất tất cả. Cái nón lá đã chứa đựng cả bầu trời quê hương của bà, hỏi sao bà không xót xa đau khổ ? Nghĩ như vậy nên tôi thấy thương bà già đó vô cùng. Tôi hy vọng, về sau trên xứ sở tạm dung, bà mua được một cái nón lá để mỗi lần đội lên bà sống lại với vài ba kỷ niệm nào đó, ở một góc trời nào đó của quê hương…

Chuyện 3

Cũng trên bến tàu nầy. Trong luồng người đi như chạy, một người đàn bà còn trẻ mang hai cái xắc trên vai, tay bồng một đứa nhỏ. Chắc đuối sức nên cô ta quị xuống. Thiên hạ quay đầu nhìn nhưng vẫn hối hả đi qua, còn tránh xa cô ta như tránh một chướng ngại vật nguy hiểm ! Trong sự ồn ào hỗn tạp đó, bỗng nghe tiếng được tiếng mất của người đàn bà vừa khóc la vừa làm cử chỉ cầu cứu. Đứa nhỏ trong tay cô ta ốm nhom, đầu chờ vờ mắt sâu hõm, đang lả người về một bên, tay chân xụi lơ. Người mẹ - chắc là người mẹ, bởi vì chỉ có người mẹ mới ôm đứa con quặt quẹo xấu xí như vậy để cùng đi di tản, và chỉ có người mẹ mới bất chấp cái nhìn bàng quan của thiên hạ mà khóc than thống thiết như vậy - người mẹ đó quýnh quáng ngước nhìn lên luồng người, tiếp tục van lạy cầu khẩn.

Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, nhìn thấy. Họ dừng lại, khom xuống hỏi. Rồi họ ngồi thụp xuống, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ, họ nói gì với nhau rồi nói gì với người đàn bà. Thấy cô ta trao đứa bé cho một anh thanh niên. Anh nầy bồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem. Thằng nhỏ ốm đến nỗi cái xương sống lồi lên một đường dài…

Anh thứ hai đã lấy trong túi ra chai dầu từ lúc nào, bắt đầu thoa dầu rồi cạo gió bằng miếng thẻ bài của quân đội.

Thiên hạ vẫn rần rần hối hả đi qua. Hai thanh niên nhìn về hướng cái cầu thang, có vẻ hốt hoảng. Họ quay qua người đàn bà, nói gì đó rồi đứng lên, bồng đứa nhỏ, vừa chạy về phía cầu thang vừa cạo gió ! Người mẹ cố sức đứng lên, xiêu xiêu muốn quị xuống, vừa khóc vừa đưa tay vẫy về hướng đứa con. Một anh lính Mỹ chợt đi qua, dừng lại nhìn, rồi như hiểu ra, vội vã chạy lại đỡ người mẹ, bồng xóc lên đi nhanh nhanh theo hai chàng thanh niên, cây súng anh mang chéo trên lưng lắc la lắc lư theo từng nhịp bước….

Viết lại chuyện nầy, mặc dù đã hơn ba mươi năm, nhưng tôi vẫn cầu nguyện cho mẹ con thằng nhỏ được tai qua nạn khỏi, cầu nguyện cho hai anh thanh niên có một cuộc sống an vui tương xứng với nghĩa cử cao đẹp mà hai anh đã làm. Và dĩ nhiên, bây giờ, tôi nhìn mấy anh lính Mỹ với cái nhìn có thiện cảm !

Chuyện 4

Cũng trên bến tàu. Cầu thang đã được kéo lên. Trên tàu đầy người, ồn ào. Dưới bến vẫn còn đầy người và cũng ồn ào. Ở dưới nói vói lên, ở trên nói vọng xuống, và vì thấy tàu sắp rời bến nên càng quýnh quáng tranh nhau vừa ra dấu vừa la lớn, mạnh ai nấy la nên không nghe được gì rõ rệt hết !

Máy quay phim zoom vào một người đàn ông đứng tuổi đang hướng lên trên ra dấu nói gì đó. Bên cạnh ông là một thằng nhỏ cỡ chín mười tuổi, nép vào chân của ông, mặt mày ngơ ngác. Một lúc sau, người đàn ông chắp tay hướng lên trên xá xá nhiều lần như van lạy người trên tàu, gương mặt sạm nắng của ông ta có vẻ rất thành khẩn. Bỗng trên tàu thòng xuống một sợi thừng cỡ nửa cườm tay, đầu dây đong đưa. Mấy người bên dưới tranh nhau chụp. Người đàn ông nắm được, mỉm cười sung sướng, vội vã cột ngang eo ếch thằng nhỏ. Xong, ông đưa tay ra dấu cho bên trên. Thằng nhỏ được từ từ kéo lên, tòn ten dọc theo hông tàu. Nó không la không khóc, hai tay nắm chặt sợi dây, ráng nghiêng người qua một bên để cúi đầu nhìn xuống. Người đàn ông ngước nhìn theo, đưa tay ra dấu như muốn nói : « Đi, đi ! Đi, đi ! ». Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất ! Bấy giờ, tôi đoán ông ta là cha của thằng nhỏ đang tòn ten trên kia… Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt !

Không biết thằng nhỏ đó – bây giờ cũng đã trên bốn mươi tuổi -- ở đâu ? Cha con nó có gặp lại nhau không ? Nếu nó còn mạnh giỏi, tôi xin Ơn Trên xui khiến cho nó đọc được mấy dòng nầy…

Tiểu Tử

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Tình bạn giúp chúng ta sống lâu hơn Với mong muốn có được cuộc sống khỏe mạnh, nhiều người không ngần ngại đến gặp bác sĩ, đọc sách bí kíp sống lâu hay chi tiền cho những món dược thảo quý hiếm. Nhưng họ lại xem thường một thứ vũ khí lợi hại có thể giúp họ chiến đấu với bệnh tật và suy nhược, phục hồi nhanh chóng sau đau ốm, làm chậm quá trình lão hóa và kéo dài tuổi thọ: Những người bạn của chính họ!

Hiện tại các nhà nghiên cứu mới chỉ bắt đầu quan tâm tới tầm quan trọng của tình bạn cũng như các mối quan hệ xã hội đối với sức khỏe nói chung. Một nghiên cứu được tiến hành trong 10 năm tại Australia đã chỉ ra rằng những người già có nhiều bạn bè xung quanh sẽ giảm được 22% nguy cơ tử vong so với những người ít bạn. Một nghiên cứu lớn năm 2007 cho thấy những người có nhiều bạn bè tăng cân sẽ có nguy cơ bị béo phì cao hơn 60% so với thông thường. Và năm ngoái, nhóm nghiên cứu của trường Đại học Havard đã báo cáo rằng quan hệ xã hội tích cực sẽ tăng cường sức khỏe trí não khi chúng ta đương đầu với tuổi già.

“Nhìn chung, vai trò của tình bạn trong đời sống chưa thực sự được đánh giá cao,” Rebecca G. Adams, giảng viên ngành xã hội học tại Đại học Greensboro, Bắc Corolina, cho biết. “Người ta quan tâm rất nhiều tới gia đình và hôn nhân, nhưng chẳng mấy quan tâm nghiên cứu về tình bạn. Điều này khiến tôi khó hiểu. Thực tế, tình bạn có tác dụng tới sức khỏe tinh thần nhiều hơn các mối quan hệ gia đình.”

Trong cuốn sách mới có tiêu đề “Những cô gái đến từ Ames: Câu chuyện về những người phụ nữ và tình bạn 40 năm” (nhà xuất bản Gotham), Jeffrey Zaslow kể chuyện về 11 người bạn thời niên thiếu cùng sống ở Iowa và sau này chuyển tới 8 bang khác nhau. Nhưng bất kể xa cách, tình bạn của họ vẫn bền chặt qua thời đại học, qua hôn nhân, ly dị và nhiều khủng hoảng khác, kể cả cái chết ở tuổi 20 của một người trong nhóm.

Với việc sử dụng những cuốn vở rời, những album ảnh và hồi ức của chính các thành viên, Zaslow đã ghi lại tình bạn bền chặt làm nên cuộc sống của họ như thế nào và tiếp tục duy trì cuộc sống ấy ra sao. Vai trò của tình bạn đối với sức khỏe và thể trạng của họ đã được chứng minh qua từng chương sách.

Hai trong số những người bạn vừa phát hiện ra họ bị ung thư vú. Kelly Zwagerman, hiện là một giáo viên trung học ở Northfield, Minn., kể rằng khi bà nhận được chẩn đoán tháng 9 năm 2007, bác sĩ đã khuyên bà nên vui vầy cùng những người thân yêu. Và bà đã tìm đến những người bạn từ thời niên thiếu, dẫu họ sống cách xa bà.

“Người đầu tiên tôi kể cho nghe là những người bạn cùng đến từ Ames xưa kia,” bà nói trong một lần phỏng vấn. “Tôi gửi email cho họ. Và ngay lập tức, tôi nhận được những email, cuộc gọi và tin nhắn động viên. Ngay tức khắc, tôi đã nhận được những tình cảm dạt dào từ mỗi người trong nhóm.”

Khi bà than thở rằng việc điều trị làm họng bị đau, một người bạn xứ Ames gửi cho bà một chiếc máy làm bánh cùng sách hướng dẫn cách làm. Một người khác, dù con gái đã mất vì bệnh bạch cầu, gửi cho bà một chiếc mũ đan tay vì biết rằng đầu bà sẽ rất lạnh khi không có tóc che phủ; và thêm một người nữa gửi tới một bộ pajama làm từ chất liệu đặc biệt chống mồ hôi đêm.

Zwagerman nói bà thường cảm thấy thoải mái tâm sự về bệnh tình của mình với những người bạn hơn là với bác sĩ. “Chúng tôi nói chuyện lan man tới bất kì chủ đề nào trên thế giới này,” bà nói.

Zwagerman cho rằng những người bạn từ Ames là một yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình điều trị và phục hồi của bà, các nghiên cứu đã chứng minh rằng lời bà đúng. Năm 2006, một nghiên cứu được tiến hành trên gần 3000 y tá điều trị ung thư vú đã chỉ ra rằng những phụ nữ ko có bạn bè thân thiết có nguy cơ tử vong cao gấp 4 lần so với những phụ nữ có từ 10 người bạn trở lên. Và đáng chú ý là, việc những người bạn có mặt bên cạnh hay số lần liên lạc không liên quan tới việc kéo dài tuổi thọ. Bệnh nhân chỉ cần có bạn, đơn giản là vậy.

Bella DePaulo, một giảng viên tâm lý tại trường California, Santa Barbara, người chuyên nghiên cứu về những người độc thân với tình bạn, chỉ ra rằng trong rất nhiều trường hợp, tình bạn thậm chí có ảnh hưởng tốt tới sức khỏe hơn cả một người chồng/ vợ hay các thành viên trong gia đình. Trong nghiên cứu về ung thư vú với sự tham gia của các y tá nói trên, việc có một người chồng/ vợ không ảnh hưởng gì tới khả năng sống sót.

Rất nhiền nghiên cứu về tình bạn tập trung vào mối quan hệ sâu sắc giữa những người bạn gái, trong khi đó, một vài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nam giới cũng có lợi từ những tình bạn. Trong một nghiên cứu kéo dài 6 năm tiến hành trên 736 người đàn ông Thụy Sĩ tuổi trung niên, việc có một người bạn đời không làm thay đổi nguy cơ đau tim và động mạch vành, nhưng việc có những người bạn chắc chắn lại có ảnh hưởng. Hút thuốc lá và thiếu các mối quan hệ xã hội là 2 yếu tố nguy hiểm hàng đầu.

Thực sự vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng để giải thích tại sao tinh bạn lại có những ảnh hưởng to lớn đến vậy. Tất nhiên những người bạn có thể làm các việc lặt vặt và mua thuốc giúp người ốm, nhưng ý nghĩa của những người bạn vượt xa ra khỏi sự trợ giúp vật chất; trên thực tế, việc có mặt bên người ốm không thực sự là một yếu tố hỗ trợ.

Cũng có lẽ những người có nhiều mối quan hệ bạn bè sẽ tiếp cận tốt hơn với việc chăm sóc và các dịch vụ sức khỏe. Nhưng hơn thế, tình bạn rõ ràng còn có ý nghĩa to lớn về mặt tâm lý. Người có tình bạn đẹp sẽ ít có nguy cơ bị cảm lạnh, có lẽ vì họ ít bị stress hơn.

Năm ngoái, người ta đã tiến hành một thí nghiệm với 34 sinh viên của trường Đại học Virginia bằng cách đưa họ tới chân một quả đồi dốc và đeo trên lưng họ những ba lô nặng. Họ được yêu cầu ước lượng độ dốc của quả đồi. Một vài sinh viên đứng cạnh bạn mình trong suốt thí nghiệm, những người khác được bố trí đứng một mình.

Những sinh viên đứng cùng bạn đã đưa ra mức dự đoán thấp hơn về độ dốc của quả đồi. Và những người bạn bên cạnh càng thân thiết bao nhiêu, thì người sinh viên càng ước chừng quả đồi ít dốc bấy nhiêu.

“Những người có bạn bè cảm thấy họ có ai đó để hướng tới và trông cậy”, Karen A. Roberto, giám đốc một trung tâm lão khoa tại Virginia phát biểu. “Tình bạn là một tài nguyên bị đánh giá thấp. Và thông điệp mạnh mẽ của tất cả những nghiên cứu này là: những người bạn giúp cuộc sống của bạn tốt đẹp hơn."

G2V Star (Theo The New York Times)

Post Reply