Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Chị Tư Ù
Tiểu Tử


Image

Chợ cá hồi đó nằm trên khoảng đất tráng xi măng giữa bờ sông và nhà lồng chợ, chung với hàng rau cải và trái cây. Về sau, thấy việc bơm nước rửa chợ cá vẫn không làm trôi hết mùi tanh của nhớt cá thấm vào xi măng, nhà chức trách trong làng cho xây chợ cá chờm hẳn ra sông, bằng gỗ theo điệu nhà sàn chống chân xuống nước nhưng bề mặt rộng như một cầu tàu. Như vậy, nhứt cử lưỡng tiện, bởi vì vừa rửa chợ ngay trên mặt sông, vừa có chỗ cho ghe thuyền cập vào để lên hàng. Ngoài ra, còn thêm một tam tiện nữa là chiều chiều người ta hay ra đó để câu cá hoặc hóng mát bởi vì chợ chỉ nhóm có buổi sáng thôi.

Ở chợ cá, chị Tư Ù là xếp sòng ! Không phải chỉ tại vì cái sự to thuyền lớn bánh của chị, mà còn tại vì chị thuộc vào gia đình bán cá bán mắm lâu đời nhứt trong làng. Bắt đầu là bà ngoại của chị từ thuở chưa có chợ nhà lồng (hồi đó chợ còn nhóm lộ thiên ở dưới xóm lò heo). Kế đó là má của chị. Thời này, ở nhà không còn làm mắm bán mắm, chỉ bán cá thôi và đã dọn về căn phố trệt nằm ngang hông chợ. Và bây giờ là đến phiên chị Tư. Trong gia đình, con Tư học hành thì dở nhưng lại chịu cực giỏi. Lại biết bươn chải làm ăn. Chỉ có nó mới nối nghiệp tao được. Cũng như tao đối với bà ngoại bây hồi đó. ...Má chị Tư thường nói như vậy, hồi còn sanh tiền, hồi lũ con vừa mới lớn. Về sau, quả đúng như vậy: mấy đứa kia sau khi dựng vợ gả chồng, xuống Sài Gòn làm việc cho nhà nước, có đứa làm cho hãng tư ở đâu tuốt ngoài Trung xa lắc xa lơ. Chị Tư ở lại nối nghiệp sau khi bà già nằm xuống. Rồi bởi vì có sự mẹ truyền con nối ba đời như vậy mà không riêng gì ở chợ cá, trong làng ai cũng biết tiếng chị Tư và bạn hàng cá cũng nể nang một phần.


Hỗn danh Tư Ù không phải mới có sau này, mà đã có từ hồi chị Tư còn nhỏ. Trong nhà chỉ có mình con Tư là sổ sữa hơn hết má chị thường nhắc chuyện này, vì bà rất hãnh diện đã làm một việc không phải ai cũng làm được . Bà kể: Hồi sanh nó ra, tao rặn muốn bứt hơi luôn ! Tưởng đâu tao ngủm rồi chớ. May nhờ bà mụ cũng giỏi, bả rặn phụ tiếp sức mấy lần, con nhỏ mới chịu lọt ra. Y¨... nó lì từ còn trong bụng chớ phải mới đây đâu bây ơi! . Bà hay ngừng ở đó một chút, xỉa cục thuốc qua lại mấy lần, làm như để nhớ lại cái đau thuở đó và cái nhẹ sau khi đã sổ lòng đứa con... Rồi lúc nào bà cũng tiếp: Bà mụ mà còn phải công nhận là cả làng này chưa ai sanh đứa nhỏ nào bự bằng nó hết ! Ai tới thăm khi bồng nó lên cũng nói là nó nặng như con Tây ! Tía bây đi ruộng về thấy cũng phải hết hồn! . Rồi cũng vì cái sự nặng như con Tây mà mấy bà mấy cô xóm Chợ hay tới lui ẵm bồng nựng nịu bé Tư . Bé Tư mau ăn chóng lớn, lúc nào cũng ú na ú nần , hay cười dễ ngủ nên trong xóm ai cũng thương. Mãi đến khi vào trường tiểu học, trẻ con trong trường mới đặt cho danh hiệu Tư Ù . Từ đó, thành tên luôn.


Hồi đó trong lớp, hai đứa học dở nổi danh là con Tư Ù và thằng Út Cón. Thằng này người Tàu, tên Lý Cón, con trai út của chú Phấn thợ bạc. Vợ chồng chú Phấn sanh một bầy con gái rồi ngưng ngang. Tám năm sau thiếm Phấn bỗng lại có bầu. Lần này, hai vợ chồng đưa nhau về Chợ Lớn đi mấy chùa chiền cầu nguyện cúng vái dữ lắm. Sau đó, sanh Út Cón. Cho nên, cả nhà chú Phấn cưng nó như vàng. Nó muốn gì được nấy. Ðến nỗi, khi đến tuổi đi học, nó không chịu đi, là cả nhà cũng làm thinh. Cho tới lúc thấy nó lớn đại rồi mới tìm cách dụ dỗ, nói khích để nó cắp cặp vào lớp. Vì vậy khi nó đi học với Tư Ù thì nó đã lớn hơn tới bốn năm tuổi !


Trái với Tư Ù, Út Cón gầy nhom trắng nhách. Tánh tình thì hay hờn hay giận trong lúc Tư Ù lại xông xáo du côn như con trai. Vậy mà hai đứa lại thích nhau, lúc nào cũng đi chung chơi chung, và gọi nhau bằng bồ .


Tiệm vàng của chú Phấn nằm ở dãy phố trệt phía bên kia nhà lồng chợ, thành ra đối diện với nhà má Tư Ù. Và vì hai nhà nằm trịch về phìa bờ sông ngang sân xi măng nên từ nhà này có thể nhìn thẳng qua nhà bên kia mà nói chuyện cũng được. Chỉ cần nói lớn tiếng một chút là nghe rõ. Sáng nào, Tư Ù cũng lon ton chạy qua tiệm vàng để cùng đi học với Út Cón chớ không đi chung với mấy đứa trong nhà. Lâu lâu, con Tư bị kẹt gì đó thì thằng Cón ra trước cửa tiệm réo: Ù ơi! Ơ¨... Ù ! Bồ làm khỉ gì bển mà chưa chịu qua ? . Có hôm, cả hai đứa cùng trễ, nghe tiếng trống trường đánh thúc tới mới hè nhau chạy mà cười hắc hắc, giống như... chạy đua vào lớp.


Những ngày nghỉ, tụi nó hay rũ nhau lên chùa ăn cắp nhãn . Thật ra tụi nó còn quá nhỏ để trèo lên mấy cây nhãn trong vườn sau của chùa, nên đến đó chỉ để lượm nhãn dơi ăn làm rớt rải rác dưới đất. Nhưng vẫn nói là đi ăn cắp cho nó oai! Út Cón hay đem hột nhãn về nhà lấy dao cắt khoanh, móc bỏ ruột, còn lại cái vỏ đen huyền bóng lưởng làm nhẫn đeo vào ngón tay của bồ nó. Nó đã phải lựa những hột nhãn thật to để chiếc nhẫn đủ rộng cho vừa ngón tay...


... Lật bật rồi hai đứa cũng học hết lớp nhì. Ðến đây, Út Cón sang qua học trường Tàu vừa mới mở ở xóm chùa Cao Ðài trên lộ cái. Còn lại một mình, Tư Ù ráng kéo hết năm lớp nhứt rồi nghỉ học luôn, ở nhà giúp việc nhà và tập tành bán cá với mẹ. Lúc này, con Tư bắt đầu trổ mã. Da dẻ mơn mởn, má hồng hồng, mắt trong vắt, tóc đen mướt thả dài đến ngang lưng, và giọng nói thật là lảnh lót. Thân hình có thay đổi, có trở thành con gái , nhưng vẫn... tròn trịa nặng cân.


Út Cón cũng nhổ giò, cao lêu khêu, nói tiếng trống tiếng mái. Tuy hai đứa không còn học chung, nhưng vẫn qua lại gặp nhau thường và vẫn gọi nhau bằng bồ . Tiếng bồ từ thuở bé bây giờ không còn nét vô tư nữa, nhứt là tiếng bồ của Tư Ù gọi Út Cón. Nó có cái gì... khác khác. Một cái gì nhẹ nhẹ. Một cái gì mà chỉ có con gái gọi người con trai mình thích mới gọi được như vậy thôi !


Bây giờ Út Cón đi học bằng xe đạp. Sáng nào, nó cũng đảo một vòng xuống bờ sông để đạp ngược trở lên ở dãy phố bên kia, bởi vì sân xi măng đã đầy bạn hàng. Và sáng nào vào giờ đó con Tư cũng quét nhà vừa ra đến cửa để chào Út Cón: Ði học hả bồ ? . Thằng con trai vừa Ừa vừa nhấn mạnh lên bàn đạp làm tiếng Ừa như bị kéo dài ra, giống như cái nhìn của con Tư đang kéo dài theo sau lưng bồ nó.


Lâu lâu, tụi nó rủ nhau đào trùng đi câu ở bến gỗ thầy Cai, và luôn luôn đi chung với mấy đứa nữa. Chỉ có hẹn nhau lên chùa là tụi nó đi riêng. Làm như khu vườn sau chùa là một thế giới khác, một thế giới mà tụi nó đã xí từ hồi còn học lớp chót. Ở đó có mấy gốc nhãn mấy gốc sung gốc mít và vô số ổi, vây quanh bởi một hàng rào tre tươi. Trẻ con trong làng đều biết khu vườn đó nhưng chúng không vào được vì phải bước hẳn vào ngôi tam bảo mới có ngõ để đi qua đó, mà ông thầy cả thì khó tánh không cho trẻ con vào chùa sợ mất nét tôn nghiêm. Ông thầy này là bà con bạn dì với má con Tư, nhờ vậy mà Tư Ù Út Cón được ra vào vườn thông thả. Dĩ nhiên, chúng nó chẳng bao giờ dám lớn tiếng làm ồn. Ngoài ra, khi gặp dịp, hai đứa cũng biết phụ thầy hay mấy chú tiểu làm những chuyện lặt vặt như quét dọn bàn Phật, chưng bông,nấu nước. Thành ra trong chùa coi tụi nó như... người nhà ! Lâu rồi thành quen, chẳng ai để ý rằng hai đứa nhỏ đã bắt đầu lớn...


Những lúc lên chùa sau này không còn ý nghĩa ngây thơ đi ăn cắp nhãn như hồi còn lớp năm lớp tư . Lên chùa bây giờ giống như đi về nhà của tụi nó hay đi về cái ổ của tụi nó . Cái khu vườn sau mà tụi nó thuộc từng gốc cây bờ cỏ, thuộc từng lối đi quanh quẹo để tránh hòn non bộ, tránh mấy chậu kiểng, tránh mấy cái đôn bằng sành... Ở đó, chia nhau mấy trái ổi chua, mấy trái dái mít chát... để chấm muối ớt mang theo từ nhà, vừa ăn vừa hít hà vì cay chảy nước mắt, vậy mà sao thấy ngon, thấy vui. Chẳng nói chuyện gì nhiều, vậy mà sao thấy đầy thấy đủ. Ở đó, chỉ có hai đứa...

Image

... Mấy năm sau, Út Cón nghỉ học, ở nhà làm thợ bạc. Mấy năm sau, Tư Ù đi lên đi xuống Sài Gòn Chợ Lớn bổ hàng về phân phối lại bạn hàng trong chợ, để bà già bán cá một mình. Mấy đứa khác trong gia đình đã xuống ở hẳn nhà người dì ở Sài Gòn để đi học. Út Cón bây giờ bảnh trai ra, người dong dỏng cao, mặt mũi khôi ngô trắng trẻo. Tư Ù thì thân thể đẫy đà, chỉ đẹp gái ở giọng nói nước da và mái tóc! Vẫn hay cười, dễ ngủ và vẫn lanh lẹ tay bằng miệng, miệng bằng tay . Hai người vẫn qua lại với nhau như thuở nhỏ. Vẫn gọi nhau bằng bồ , tiếng bồ bây giờ thật đậm đà tình bạn mà cả hai chỉ dành riêng cho nhau. Lâu lâu, thấy quần áo gì lạ lạ mới mẻ ở Sài Gòn Chợ Lớn, Tư Ù mua về tặng Út Cón bận chơi để lấy le với bạn bè . Ðể trả lại, Út Cón âm thầm vẽ kiểu chạm trổ một chiếc nhẫn bạc. Mấy hôm sau gọi Tư Ù qua tiệm nói: Bồ cho tôi nhiều thứ quá. Bữa nay, tới phiên tôi cho bồ cái này . Rồi cầm bàn tay Tư Ù lên xỏ chiếc nhẫn vào ngón áp út. Xong, nghiêng bàn tay qua lại để nhìn: Tôi nhắm chừng vậy mà cũng vừa ghê. Hồi nhỏ, tôi hay làm vòng hột nhãn cho bồ, bồ còn nhớ không? . Tư Ù xúc động đến không nói được một lời. Út Cón vẫn cầm bàn tay nghiêng qua nghiêng lại để nhìn, theo thói quen thợ bạc: Bây giờ có muốn làm vòng hột nhãn cũng không kiếm đâu ra hột to để cho vừa với bàn tay tổ nái này ! . Tư Ù rút nhanh tay về đánh lên vai Út Cón cái bốp, nói: Quỉ . Rồi cả hai cười vang tự nhiên, làm như thuở ấu thời hãy còn nguyên vẹn đó. Và có lẽ trong thâm tâm mỗi người đều cũng muốn như vậy. Ðể đừng có gì thay đổi.


... Vậy rồi Út Cón đi cưới con Doành, con gái út của ông bang Ky. Ðám hỏi và đám cưới làm cùng một lúc theo lời yêu cầu của đàng gái vì ông bang Ky phải về Tàu gấp sau đó. Hay tin đám cưới, Tư Ù bỗng chết điếng trong lòng, đang ngồi trên bộ ván gõ mà tưởng chừng như chìm sâu dưới nước. Nằm dài xuống bộ ván, Tư Ù lấy khăn lông úp lên mặt để nước mắt thú nhận tình yêu giấu kín từ bao nhiêu năm...


Thời gian sau, Tư Ù lấy tài xế Cước lái xe Thiên Thành chạy lên chạy xuống Sài Gòn... Chuyện này cả làng đều hay. Bà già chửi tắt bếp . Tư Ù đổ lì chịu trận, và hay vừa cười vừa giải thích: Ði bổ hàng riết rồi dính luôn, gỡ không ra ! Chắc tại cái số... . Rồi tài xế Cước dọn về ở chung trong nhà như hai vợ chồng. Bà già mới đầu buồn lắm, nhưng lần hồi quen đi, nên cũng chẳng có lời qua tiếng lại. Bên tiệm vàng Út Cón cũng buồn lắm, thương cho người bạn gái chẳng gặp duyên may, làm cho hàng xóm dị nghị mà mình thì không biết giúp cách nào hết. Có hôm Út Cón ngừng tay, nhìn ngang tủ kiếng sang nhà bên kia, thấy thấp thoáng bóng Tư Ù mà có cảm giác như hình ảnh đó mỗi ngày một xa lần mà mình thì vẫn ngồi đây bất động, chẳng một với tay, chẳng một vẫy tay... Chẳng bằng hồi đó, cái hồi mà còn đi chơi chung với nhau, hai đứa cùng ngồi trên nhánh ổi, chỉ một cái nghiêng người của Tư Ù mà mình đã đưa tay chụp lấy nó vì sợ nó té làm nó cười lên hăng hắc. Chẳng bằng hồi đó... Chẳng bằng hồi đó... Út Cón thở dài quay về với công việc mà nghe lòng se lại. Chụp hộp quẹt máy đốt đầu cây đèn khò, chân đạp cái bơm gió, Út Cón điều chỉnh ngọn lửa đèn khò mà trong đầu hiện về biết bao nhiêu kỷ niệm. Ðể rồi tiếp tục so sánh cái hồi đó với cái bây giờ . So sánh để vừa tiếc nuối vừa ân hận. Bỗng Út Cón thốt lên nho nhỏ, giọng như tự trách mình: Vậy mà gọi nhau bằng bồ cái nỗi gì ?... . Y¨ nghĩ đó làm Út Cón muốn chảy nước mắt. Vội vã cầm đèn khò đưa ngọn lửa tạt qua tạt lại trên cục vàng nhỏ như hột bắp nằm gọn trong lòng khuôn. Ðể đừng nghĩ gì nữa. Vậy mà vẫn nghĩ rằng mình đang muốn đốt cho chảy ra để làm tinh khiết lại một cái gì cũng quí như cục vàng nằm ngay trước mặt...


Ăn ở với tài xế Cước không bao lâu Tư Ù mang bầu rồi sanh con trai. Bà già cưng như trứng mỏng. Vậy mà tài xế Cước kiếm chuyện gây gổ mấy lần rồi xách gói ra đi . Ra đi khơi khơi dễ dàng làm như chuyện đầu ấp tay gối, đứa con hòn máu chẳng có giá trị gì hơn chuyện quá giang xe đò của người hành khách ! Cũng chẳng thấy Tư Ù buồn. Có ai hỏi thì trả lời: Thằng chả nói nhà tôi tanh cá quá, thằng chả chịu không nổi . Nói rồi Tư Ù cười lên ha hả. Có ai trách thì tự an ủi: Ôi !... Thằng chả lái xe đò quen rồi. Tấp vô bến này một chút rồi đi, rồi tấp vô bến khác. Hơi đâu mà trách? Chớ như tôi đây ú na ú nần xấu xa xấu xí có thằng đàn ông nào thèm rớ. Vậy mà thằng chả chiếu cố hết mấy năm, coi thấy bạc nghĩa vậy chớ vẫn còn có tình. Còn phiền trách nhau chi ? . Từ ngày tài xế Cước bỏ đi, vợ chồng Út Cón vẫn chưa có con hay qua lại nhà Tư Ù ẵm bồng nựng nịu thằng nhỏ và lâu lâu mượn nó về tiệm vàng chơi cả buổi, gọi là để lấy hên . Thật ra, đó chỉ là một cái cớ để Út Cón nối lại sợi dây tình cảm bị gián đoạn từ ngày có mặt tài xế Cước và để tiếng bồ vẫn là tiếng nói từ trong lòng của hai người. Vợ Út Cón cũng mến Tư Ù ở tánh bộc trực nên thường tới lui chị chị em em như đã quen thân nhau từ trước. Tư Ù chẳng những không thấy ganh ghét vợ Út Cón mà còn thấy con nhỏ thiệt dễ thương, nết na đằm thắm, lo cho chồng từng tí từng ly... . Ðối với Tư Ù, mọi sự đều dễ dàng: Không thành duyên nợ thì thôi, tình thương mình để vào lòng chớ làm khó khăn rắc rối nhau chi cho chúng ghét . Còn về chữ tình , quan niệm của Tư Ù cũng rất là đôn hậu rõ rệt: Hể mình thương ai thì mình muốn người đó sung sướng hạnh phúc. Người đó vui, mình vui. Người đó buồn, mình buồn. Chớ còn nói thương người ta mà cứ đeo theo làm khổ người ta, thì đâu phải gọi là thương ! . Có lẽ nhờ nghĩ như vậy mà tiếng bồ của Tư Ù gọi Út Cón lúc nào cũng thấy trong veo mát rượi như giọt sương trên tàu lá buổi sáng...
Mặc dù tâm sự đã gói ghém kỹ để trong lòng, lâu lâu Tư Ù vẫn thấy thèm được nói lên tiếng nói của con tim . Ðó là những buổi trưa rỗi rảnh, nằm một mình trên võng đong đưa, ngẵm nghĩ viễn vong để cuối cùng lại trở về hoàn cảnh của hai người. Không kềm được trào lòng, Tư Ù ngân nga một câu vọng cổ: Anh Hai ôi... Cái mối tình của em đối với anh... nó tợ như trời cao biển rộng&&...ư&.&&&..sông... à.&..dài... .


Xuống hò thật ngọt, và nghe như nỗi niềm trắc ẩn cũng theo chữ dài mà tuôn ra nhè nhẹ. Mấy tiếng Anh Hai ôi... được vô một cách tình tứ. Sợ thiên hạ biết, chớ nếu dám vô bằng Anh Út ôi... chắc phải mùi hơn nhiều... Và chỉ có như vậy thôi, và chỉ cần có như vậy thôi, Tư Ù cũng đã thấy nhẹ, thấy thỏa mãn, thấy như đã nói hết những gì mình muốn nói!

* * *


Khi chị Tư nối nghiệp bà già, chợ cá hãy còn nhóm mỗi sáng trên sân xi măng. Hồi đó thằng con trai đã lớn, đang đi quân dịch, và vợ chồng chú Út cũng đã có hai cô con gái. Người trong làng kêu Tư Ù bằng chị Tư , nhưng lại gọi Út Cón bằng chú Út . Có lẽ tại cái gốc Tàu. Bởi vì họ đã có thói quen gọi người Tàu bằng chú chú chệt và vẫn gọi tiếp tục như vậy cho dù chú chệt đó lần hồi đã già bảy tám mươi tuổi. (Thành ra trong tiệm vàng đã có chú Phấn , bây giờ tấn lên có chú Út Cón . Hai cha con đều được gọi bằng chú , ngang nhau !)


Mỗi sáng chị Tư dọn hàng ra chợ, ngay trước nhà, nên cũng tiện và nhanh. Hàng cá của chị gồm có hai thau nhôm thật to đầy cá, nước trong veo, mộït tấm thớt gỗ dầy, hơi trũng xuống ở phần giữa vì đã được sử dụng lâu năm, một con dao yếm để đánh vảy mổ bụng cá, một con dao phay để chặt khúc cá, một cái thau nhôm nhỏ để bắt cá cho khách hàng coi và một cái cân xách. Ðặc biệt trong chợ cá, chỉ có chị Tư là không có cái chài vồ. Dụng cụ này bằng gỗ, thường được dùng để đập lên sóng dao phay khi muốn chặt con cá to ra từng khứa và nhứt là khi cần bổ hai cái đầu cá để đừng bị dập và để mỗi miếng coi cho nó ngon . Khách hàng không ưa những khúc cá bầy nhầy , cho nên hàng cá nào cũng phải có dao bén ngót, và khi rả con cá cở bằng bắp chân trở lên, phải biết dùng dao yếm để khứa và dao phay với cái chài vồ để xả . Vậy mà chị Tư không cần tới cây chài vồ. Bởi vì chị mạnh tay lắm và chị nhắm đâu là chặt đúng ngay đó, không xê xích một ly . Khách hàng ai cũng phục chị Tư ở chỗ đó. Họ nói: Con Tư nó múa dao như Sơn Ðông. Mình chỉ ở đâu là nó phụp ở đó, ngay bon ngọt xớt... Chớ không phải như mấy con mẹ kia, cầm chài vồ đập bom bớp nghe mà phát nhức đầu .


Dọn hàng xong, chị ngồi lên cái hộp gỗ cao bằng hai viên gạch có cái hộc như hộc tủ. Chị kéo hộc ra để tiền lẻ vào đó, rồi bắt đầu chào hỏi bạn hàng cá và rau cải. Trong làng, và nhứt là trong chợ, phần đông đều quen biết nhau hết, nên câu chuyện trao qua trao lại dễ dãng thoải mái. Ðó là giờ thông tin của các bạn hàng trong khi người đi chợ còn rải rác lưa thưa. A... để nói này nghe, đừng nói ai hết nghen ! Con gái của dì Năm Ðôi có bầu với thầy giáo Thái. Họ giấu dữ lắm đó ... Chèn ơi! Tội nghiệp con nhỏ hôn ! ... Thầy bà gì mà ác nhơn. Vợ con cả đống cả lèng rồi mà còn dê con nhỏ làm chi cho nó khổ ... Nè ! Nghe nói ông Xả Bảy mới rinh về một con vợ bé. Không biết phải hôn ? ... Ðâu nà ! Cháu gái của ổng đó. Ðừng nói bậy ổng cào nhà bây giờ ... Ờ... Con mẹ Sáu bánh lọt sao hổm rày đâu mất hổng thấy há ? ... vv. Trong lúc bạn hàng vải, hay bạn hàng xén, đều có nhà hay cửa tiệm nằm vây quanh chợ nhà lồng nghĩa là qui tụ lại một chỗ thì những người bán cá lại có nhà ở rải rác trong mấy xóm xa chợ như xóm Giếng, xóm Chùa, xóm Lò Gạch, xóm Nhà Máy... Thành ra bạn hàng cá có tai mắt ở khắp nơi. Cho nên họ là giới biết nhiều tin tức trong làng nhứt. Và họ thông tin ăn bứt Phòng Thông Tin !


Khi chợ đã bắt đầu đông, bắt đầu ồn ào, thì mạnh ai nấy rao hàng mời khách. Chị Tư cầm cái cán cân nhắc lên để xuống đều đặn làm cho ba sợi xích sắt rơi nhịp nhàng vào cái dĩa cân, kêu rèn rẹt rèn rẹt, miệng mời tía lia: Cá cô Hai... Cá dì Tám . Chị nhớ từng sở thích của khách hàng, như Dì Sáu Lộc ưa cá trê vàng, còn cô Năm Ngự lại không ăn được cá không có vảy. Chị Hai Bia thì hay ăn đầu cá lóc, mà coi chừng, phải có đủ đùm ruột và gan mật còn nguyên chỉ mới chịu... . Lâu lâu, chị Tư thọc tay vào thau vuốt ve mấy con cá giống như vuốt ve con mèo con chó ! Vậy mà chẳng có con cá nào chém bàn tay của chỉ hết! Và khi mà chị Tư muốn bắt con nào là chị luồng thật nhanh ngón tay cái và ngón tay trỏ vào hai mang cá, nhấc bổng ra khỏi nước. Mấy con cá lốc bằng bắp đùi, chị cũng chỉ bắt có một tay. Mạnh như vậy nên bạn hàng cá ai cũng nể mặt, dù xưa nay họ nổi tiếng là giới thô lỗ hỗn ẩu.


Một hôm, chợ vừa nhóm, chị Tư mặt hầm hầm, cầm con dao phay chém xuống thớt nghe cái cốp rồi chỉ mũi dao về phía một bạn hàng cá ngồi cách xa mấy thước phía đối diện, giọng lanh lảnh:
- Lia ! Tao nghe nói mầy đang rêu rao vụ gì đó phải không?
Tiếng không được nhịp bằng tiếng dao chém xuống thớt. Cô gái tên Lia vừa sang nước cá vừa trả lời:
- Chuyện gì đâu ai biết !
Chị Tư vẫn nhịp dao xuống thớt:
- Vậy chớ đứa nào đi nói cùng đồng là thằng cha Út Cón gian lận, bán vàng giả mà la vàng thiệt ? Hả ? Hả ?
Bỗng con Lia đứng sọc lên, tay chống nạnh, mặt gân gân:
- Ờ ! Tôi nói đó ! Rồi có sao không ?
Chị Tư cũng đứng lên, tay vẫn cầm dao phay điểm điểm:
- Có, chớ sao không ! Tao hỏi mầy vậy chớ Út Cón có lường gạt mầy không ? Mầy nói cho bà con nghe coi !
Con Lia khựng một chút rồi cũng gân gân:
- Thì thằng chả làm đồ giả tôi nói làm đồ giả. Mắc mớ gì chị mà chị xía vô ?
Chị Tư nổi nóng, la lớn:
- Mắc mớ chớ sao không mắc mớ ! Út Cón là bạn của tao, tao không muốn ai nói xấu thằng chả hết. Nếu mầy có bằng cớ thì trưng ra cho bà con coi, rồi đem lên hội đồng xã mà thưa thằng chả. Chớ còn không có gì hết mà cứ đi rêu rao nói xấu người ta là tự mày muốn sanh chuyện chớ ai vô đây ?
Thấy quá căng, mấy bà bán cá vội vã xúm lại can gián, mỗi người vài câu, ồn ào hỗn tạp. Trước khi ngồi xuống, chị Tư còn bồi thêm một câu, gọi là để dằn mặt :
- Nè ! Tao nói cho mầy biết. Mầy mà còn kiếm chuyện nữa thì con dao này nó không tha mầy đâu ! Cái thứ ăn ở bất nhơn thất đức không chém cũng uổng...
Con Lia vừa sợ, vừa đuối lý, làm thinh ngồi xuống nhưng trong lòng thề sẽ có ngày nó rửa nhục . Nghe lộn xộn, chú Út Cón từ sau nhà bước ra trước cửa tiệm để nhìn. Lúc đó, cuộc cãi vã cũng vừa chấm dứt. Thiên hạ đi chợ đã bắt đầu đông. Thành ra chú không biết rằng bồ của chú vừa mới binh chú.

* * *

Về sau chợ cá nhóm trên sàn gỗ xây chờm ra sông. Chị Tư mỗi lần dọn hàng phải đi xa hơn một chút. Chị vẫn to thuyền lớn bánh , vẫn hay cười, dễ ngủ, mặc dù thằng con duy nhứt của chị đã chết trận ở ngoài Kontum. Chị nói: Sống chết tại số. Có khóc mấy, nó cũng không sống lại được ! . Trên bàn thờ, cạnh hình ông bà già, chị để hình thằng con mặc quân phục, ngực đeo huy chương. Chị thích cái ảnh đó lắm bởi vì chị thấy nó giống kép Hùng Cường !


Trưa trưa, chị vẫn nằm đong đưa trên võng. Chị thích nằm võng bởi vì nó mát lưng. Cái võng của chị được thắt bằng sợi cây gai đập tơi ra rồi tết lại mịn màng, thân tau vừa to vừa dẹp lại không có gút thành ra nằm êm và không cấn làm ngứa lưng như võng lưới. Chị cũng chê võng nhà binh, tuy nằm êm nhưng khi trở mình nó lại kêu sột soạt !
Và lâu lâu, chị vẫn ngân nga câu vọng cổ của chị để thấy cuộc đời này hãy còn cái gì để nói ...

* * *

Biến cố tháng tư 1975...
Cả làng treo cờ đỏ. Khắp nơi căng biểu ngữ đỏ. Tất cả bảng hiệu đều được sơn lại bằng màu đỏ. Coi hực hỡ như ngày xưa làng xã làm đám cúng ở miễu ông Tà !
Loa được bắt trên cành cây đầu cột, ngã tư ngã ba, phát thanh nghe rồ rồ như có tiếng máy xe đò Thiên Thành nằm trong đó ! Không có phát thanh cải lương nên nghe riết cũng nhàm. Rồi mạnh loa loa nói, mạnh người người nói.
Bây giờ người ta không còn thời giờ rảnh nữa. Hội họp, học tập, hoạt động đoàn thể liên miên, chưa kể đi lao động đều đặn...


Chợ cá vẫn họp buổi sáng. Giờ thông tin cố hữu của bạn hàng cá cũng thấy được tiếp tục nhưng có thâu ngắn lại và nhứt là bây giờ thấy nói nhỏ chuyền cho nhau nghe, chớ không bô bô như hồi trước. Cho nên người ta biết là con Lia bây giờ theo tụi cách mạng dữ lắm. Nó nghỉ bán cá để tổ chức phụ nữ này phụ nữ nọ gì đó và hay tới lui với thằng cha Bắc kỳ công an ở nhà thầy giáo Thái (nhà này cách mạng tịch thâu vì thầy giáo và gia đình đã bỏ chạy mấy ngày cuối tháng tư bảy mươi lăm). Và họ nói: Con nhỏ lúc này lên chưn lắm, bà con! Thấy có đội nón cối nữa! .


Một hôm vào xế chiều, tên công an dựng xe đạp trước nhà chị Tư, nhìn quanh rồi bước vào nhà. Trong nhà lu khạp chứa cá đứng dài dài từ nửa nhà trên chạy tuốt ra phía sau. Nhà không có vách ngăn nên nhìn thấy trống bốc xuống bếp. Chị Tư đang lúi húi nhúm lửa ở đó, thấy khách vội chạy lên. Chị khoác vội cái áo bà ba, cầm chổi lông gà quét nhanh mặt ván gõ, rồi mời:
- Mời anh ngồi. Có chuyện gì không ?
Tên công an ghé đít bên mép ván, nhìn quanh:
- Chị ở có một mình à ?
Chị Tư cũng nhìn quanh:
- Thì anh thấy đó. Còn ai nữa đâu ?
Rồi như sực nhớ ra, chị tiếp:
- À ! Còn... ông Táo. Nhưng ổng không nằm trong hộ khẩu, ổng nằm trong bếp !
Rồi chị cười tự nhiên thích thú với hình ảnh hài hước đó. Tên công an làm thinh. Dưới bếp, lửa nhúm khi nãy không bắt , làm khói lên um tùm. Chị Tư xin lỗi rồi chạy xuống bếp vùi nhanh mấy cây củi xuống tro. Xong, trở lên, vừa đi vừa nói:
- Lúc sau này dầu hôi bị hạn chế, mỗi hộ chỉ mua được có một xị để dành thắp đèn thành ra không dùng lò dầu hôi. Phải chụm bằng củi, khói thôi là khói ! .
Tên công an cũng nói đẩy đưa:
- Ðấy là buổi đầu thôi chị ạ ! Tại vì khâu phân phối vật tư chưa hoàn tất mạng lưới đấy chứ. Rồi chị xem. Vài hôm nữa xăng dầu sẽ được đưa về đây cả khối !
Chị Tư vừa cười vừa nói:
- Gì thì tôi không biết. Chớ hôm rồi bà Tám Liệt Sĩ... xin lỗi anh, trong làng bây giờ kêu bà Tám Tiếu là bà Tám Liệt Sĩ, chớ không phải tôi đặt ra như vậy đâu.
Tên công an gật gật đầu:
- Tôi biết. Gia đình bà má đó theo cách mạng từ thời bốn mươi nhăm. Sau này đều hy sinh cả. Giải phóng rồi ít lâu sau chính tôi đã đưa bà má lên tỉnh để lảnh bằng liệt sĩ và huân chương...
Chị Tư gật đầu tiếp:
- Phải rồi. Ðúng là bà đó. Hôm rồi, sau khi mua phần dầu hôi của bả, bả đưa xị dầu hôi lên cao, vừa đi dọc theo cái đuôi đồng bào đang đợi tới phiên mình, vừa nói...
Chị Tư đưa bàn tay trái lên trên không, ngón cái và ngón trỏ ra bộ kẹp cổ chai xị tưởng tượng, cất giọng the thé nhái bà Tám Liệt Sĩ:
- Nè... Ðồng bào coi đây nè ! Cái này là dầu hôi nghe không. Dầu hôi của Nhà Nước ta bán cho nhân dân. Quí lắm đó ! Không phải để thắp đèn. Mà để nhỏ vô con mắt cho nó sáng ra, nghe chưa ?
Nói xong, chị Tư cười thích thú. Tên công an chỉ nhếch mép. Không biết anh ta ráng kềm cái cười đang muốn bật ra hay anh ta đang cố tạo một nét cười để chứng tỏ rằng mình cũng biết thưởng thức khía cạnh trào phúng ý nhị của câu chuyện ? Anh ta bước lại bàn thờ, nhìn mấy tấm ảnh, hất hàm hỏi:
- Ai thế ?
Chị Tư trở ngược cây chổi lông gà chỉ từng tấm ảnh:
- Ðây là ông già tôi, hồi ổng còn trẻ. Chớ ổng chết hồi ổng trên sáu mươi lận. Ðây là bà già, chụp hình xòe đủ mười ngón tay !
Chị ngừng ở đó để cười rồi mới tiếp:
- Còn đây là thằng con tôi, liệt sĩ ở Kontum !
Tên công an cãi:
- Chị dùng từ sai. Lính ngụy không thể nào là liệt sĩ cả. Bị giết thì cứ nói là bị giết. Phải cho rõ ràng ở điểm đó.
Chị Tư ngạc nhiên:
- Coi ! Ði dánh giặc rồi chết ngoài mặt trận, mấy anh không gọi là liệt sĩ thì gọi là khỉ gì ?
Anh ta giải thích:
- Chị không hiểu. Giữa ta với ngụy khác nhau chứ. Ta, vì nhân dân vì Tổ quốc mà hy sinh, thế mới gọi là liệt sĩ. Còn ngụy là lính đánh thuê cho đế quốc Mỹ...
Chị Tư đưa một tay lên chận lại:
- À ! À ! Ðến đây tôi xin lỗi anh. Chính anh mới không hiểu gì hết. Thằng con tôi chưa hề đánh thuê chém mướn. Nó đi quân dịch thì giống như ngoài đó mấy anh gọi là đi nghĩa vụ gì gì đó. Nó cũng vì đồng bào của nó, vì xứ sở của nó mà hy sinh, chớ nó có đánh giặc để giữ gìn đất đai xứ Mỹ bao giờ ?
Trong lúc tên công an chưa kịp mở miệng thì chị Tư đã nói tiếp, tay cầm cây chổi lông gà trở ngược quơ qua quơ lại trên không, để vẽ cho câu nói:
- Ngoài đó đánh vô thì trong này phải đánh ra chớ bộ ngu dại gì mà đứng làm thinh đưa đầu cho thiên hạ đập ? Phải không? Như vậy gọi là đánh thuê chém mướn à ?
Thấy tình hình sắp đi vào ngõ bí và con mụ hàng tôm hàng cá này cũng không phải tay vừa, tên công an đâm đại một câu:
- Chắc là con chị phải ác ôn lắm nên mới có đến hai huân chương.
Chị Tư cười ha hả:
- Nếu nói như anh vậy thì mấy đồng chí cao cấp của anh phải ác ôn gấp mấy chục lần thằng con tôi. Bởi vì người nào người nấy chụp hình thấy đeo một ngực mề đai !
Rồi sực nhớ ra, chị Tư hỏi:
- À ! Chút xíu nữa quên mất. Anh muốn gặp tôi có chuyện gì không ?
Tên công an như nắm được cái phao, vội vã đổi giọng ra chiều thân mật:
- Chuyện này xin chị giữ kín cho. Người ta nói với tôi rằng Út Cón còn giấu vàng, không kê khai hết trong kỳ kiểm kê vừa rồi. Tôi cũng nghi như vậy bởi vì thấy anh ta... thế nào ấy.
Chị Tư nghiêm nghị:
- Chuyện này... Anh là chánh quyền, anh phải đi hỏi ảnh chớ sao lại hỏi tôi ?
Tên công an thấp giọng:
- Người ta nói với tôi rằng chị thân với Út Cón lắm. Tôi muốn nhờ chị nói với anh ấy một tiếng để anh ấy mang nạp cho Nhà Nước số vàng còn cất giấu. Tôi sẽ giữ kín chuyện này và sẽ không báo cáo lên cấp trên. Tôi muốn giải quyết như trong gia đình thôi. Chị hiểu không ?
Suy nghĩ một lúc, chị Tư trả lời:
- Thiệt tình với anh: tôi với Út Cón là bạn nhưng tôi chưa hề biết chuyện làm ăn trong nhà của ảnh ra làm sao hết. Và cũng không bao giờ chen vô. Nhưng tôi nhứt quyết với anh là Út Cón xưa nay không có gian xảo. Bà con ở đây ai cũng biết hết. Tánh ảnh lại hiền khô và... hơi nhát nữa. Chắc không dám làm chuyện động trời như anh nói đâu.
Chị Tư mỉm cười, nhớ lại hồi nhỏ lần đầu rủ Út Cón vào vườn sau chùa " ăn cáp nhãn", Út Cón khoát khoát tay từ chối mà mặt mày xanh dờn làm như đã bị bắt tại trận. Vậy mà đã mấy mươi năm... Tên công an đưa tay xem đồng hồ, rồi vừa bước ra cửa vừa nói:
- Tôi về đây. Xin chị giúp tôi và nhớ giữ kín chuyện này nhá.
Chị Tư làm thinh, nhìn theo tên công an, rồi sẵn đó nhìn sang nhà bên kia. Bên kia, chắc vừa ăn gì xong nên thấy chú Út đứng xỉa răng trước cửa tiệm.
Ðợi tên công an đạp xe đi một lúc, chị Tư mới bước ra ngoài cửa ngoắc chú Út. Chú đủng đỉnh đi qua tay vẫn tiếp tục xỉa răng. Vào nhà, chú hỏi:
- Chuyện gì vậy bồ?
Chị Tư thấp giọng:
- Thằng cha công an nó nghi bồ còn giấu vàng đó.
Chú Út cười như mếu:
- Giấu khỉ gì. Hồi kiểm kê, họ nói nghe ngon lắm: cứ kê khai đầy đủ để làm tài liệu thống kê trong mỗi ngành nghề, chớ còn của ai nấy giữ để tiếp tục hành nghề như cũ, không có gì thay đổi. Vậy rồi... hốt hết của người ta ! Không còn tới một chỉ để làm thuốc, lấy gì mà giấu ?


Chị Tư suy nghĩ một lúc mới nói:
- Chắc có đứa nào đâm thọc gì đây. Gặp bọn này là thứ đa nghi nên dễ tin lắm. Bồ cũng nên coi chừng đó nghe ! Thời bây giờ không biết ai là ai hết. Thôi ! Bồ về đi, kẻo tụi nó thấy, tụi nó nghi bồ qua... gởi vàng cho tôi giấu thì oan tôi lắm, nghe bồ.
Nói xong, cười hăng hắc làm chú Út đang rầu thúi ruột cũng bật cười theo. Làm như chẳng có gì phải quan tâm hết.


Tuần lễ sau, vào quá ngọ sau khi tan chợ, công an đưa bộ đội tới xét nhà chú Út Cón. Xét kỹ đến nỗi giường chiếu tủ bàn cà ràng ông Táo, quần áo sách vở gì gì cũng lôi tung ra. Họ còn bắt thang trèo lên nóc lật một số ngói trong lúc dưới đất một tốp khác cầm búa gõ từng viên gạch, từng mảng tường. Thậm chí còn cạy mấy chục viên gạch và đào quật lên mấy thước đường cống.


Bên ngoài hàng xóm bu lại coi thật đông, kẻ nói vô người nói ra ồn ào không thua gì trận chiến ở bên trong. Chị Tư can thiệp mấy lần với tên công an nhưng anh ta làm như không biết chị Tư là ai . Mặt lạnh như tiền, anh ta chỉ huy cuộc khám xét giống như đang bươi một đống rác. Cuối cùng, không tìm thấy gì hết, mặt anh ta còn lạnh... hơn tiền. Anh ta ra lịnh bắt chú Út dẫn đi, để lại người nhà thím Út và hai con gái gào khóc như đám ma và để lại căn nhà bây giờ thật sự giống như một đống rác !

* * *

Chú Út bị giam trên tỉnh. Ở đâu, người nhà không được biết. Chỉ biết tin tức qua tên công an lúc này tới lui thường xuyên nhà thím Út, gọi là đến thăm viếng an ủi gia đình và giải thích đường lối chủ trương rõ rệt sáng suốt của Ðảng và nhà Nước . Lâu lâu, thấy anh ta dẫn tới một vài anh bộ đội, ngồi lê la nói chuyện. Chị Tư để ý nhiều lần như vậy nên phân vân tự hỏi: Không biết cái thằng Trời đánh này nó muốn cái gì ? Nhà tinh là đàn bà con gái không... .


Người ta bắt đầu xì xào bàn tán...
... Chiều hôm đó, tắm xong, chị Tư vừa chải tóc vừa bước lên nhà trên. Chợt nhìn thấy thiên hạ bu đông ở nhà chú Út và có tiếng khóc than trong đó. Chị bước ra cửa thì vừa gặp bà Năm Chia. Vội hỏi:
- Chuyện gì ở bển vậy thím Năm ?
Bà Năm Chia nhìn chị Tư với cặp mắt đỏ hoe, nói bằng một giọng trống rỗng:
- Thằng Út chết rồi !
Chị Tư nghe choáng váng mày mặt, trời đất bỗng tối sầm lại. Chị tì người vào khuôn cửa, cái lược sừng rơi xuống đất. Mắt mở to, ráo hoảnh. Miệng há ra để thở, nhịp thở dồn dập như muốn bứt hơi. Làm như bên trong con người chị chẳng còn gì hết, chẳng giữ được gì hết. Và cũng không còn cảm giác gì hết...


Một lúc lâu sau, chị lảo đảo bước vào trong nhà, lần theo mép bộ ván mà đi, lần theo lu khạp mà đi, lần theo vách mà đi. Trong đầu loáng thoáng ý nghĩ phải tới một nơi nào đó kín đáo hơn là ngoài cửa, kín đáo hơn là trong nhà. Một nơi nào đó chẳng còn ai hết. Một nơi nào đó chẳng có gì hết. Một nơi nào đó chỉ có một mình mình. Một cái kẹt. Một cái hốc. Không biết để làm gì. Chỉ thấy cần làm như vậy, cần được như vậy. Chẳng có gì rõ rệt hết. Lơ mơ lơ mơ...


Cuối cùng, chị bước vào nhà tắm đóng cửa lại. Gài then xông, chị chỉ còn đủ sức dán lưng vào tường và cảm thấy hai chân mềm như bún. Thân chị tuột lần xuống đến khi đụng mặt gạch còn ướt nước tắm khi nãy. Chị ngồi bẹp ở đó mà nghe trong người có cái gì đang dồn căng lên cổ họng từng cơn làm chị đau thắt. Chị cố nuốt xuống, nhưng càng nuốt, cái gì đó càng dồn mạnh lên. Ðể rồi, chịu không nổi nữa, chị nấc lên mấy tiếng, gục đầu xuống mà nghe nước mắt tuôn ra như suối...
Lâu thật lâu sau, chị Tư đứng lên, vẫn để nguyên quần áo thọc gáo vào lu múc nước xối ào ào. Nước mát lạnh làm cho chị tĩnh hẳn. Chị lau mình thật chậm rãi, thay đồ cũng thật chậm rãi. Làm như để có thời gian lấy một quyết định. Xong chị qua nhà thím Út Cón.
Vừa thấy chị Tư bước vào, thím Út òa lên khóc:
- Tụi nó giết anh Út rồi, chị Tư ơi...
Chị Tư bước lại ôm thân hình mảnh khảnh của thím Út, tay vuốt vuốt lưng như đang dỗ về người em gái. Hai đứa con chú Út từ nhà sau chạy ra, vừa khóc vừa xà vào người chị:
- Cô Tư ơi...
Chị dang tay ôm hết ba mẹ con, ôm hết những gì còn lại của Út Cón. Không còn nước mắt để khóc nhưng còn đủ tĩnh táo để nhận thấy rằng từ đây, mình phải thay Út Cón để bảo vệ gia đình này mặc dù không ai gởi gắm hết.


Nửa khuya đêm đó, chị Tư trở dậy. Trong bóng tối, chị mò mẫm khoác áo bà ba đen máng sẵn trên cây cột từ đầu hôm, cập nách con dao phay quấn trong cái bao bố nhỏ đặt sẵn cạnh chân bộ ván gõ, bước ra đóng nhẹ cửa lại. Bên ngoài, trời đầy sao. Gió sông nhè nhẹ mát rượi. Chị bước đi tự nhiên, chẳng chậm rãi chẳng gấp rút. Giống như đi công chuyện bình thường. Ngoài đường, vắng teo. Mấy con chó hoang ngủ dưới dãy thớt thịt trong nhà lồng chợ ngóc đầu lên nhìn, sủa vu vơ mấy tiếng rồi lại nằm xuống. Chẳng có gì phải bận tâm.


Nhà thầy giáo Thái nằm xéo xéo trường tiểu học, Ðiểm đặc biệt ở đây là nhà bếp và sàn nước nằm ngay sân trước bởi vì ở đó có cái giếng. Thành ra hồi xưa vào giờ ra chơi, học trò hay chạy qua đó uống nước. Lâu lâu còn được thím giáo cho mấy cái bánh men vì thím làm bánh men bánh kẹp để bỏ mối ở xóm dưới đầu trên... Từ ngày công an dọn về đó, chẳng thấy đứa nào chạy qua hết.


Chị Tư bước vào hàng ba, thấy trong nhà có ánh đèn. Nghĩ: Chắc thằng Trời đánh đó đang làm báo cáo. Không biết nó đang muốn hại ai nữa đây ? . Chị đưa tay gõ cửa. Có tiếng người hỏi:
- Ai đấy ?
Chị Tư trả lời như không trả lời:
- Tôi !
Nghe giọng đàn bà, tên công an yên chí:
- Chờ tí !
Có tiếng khóa lọc cọc rồi cánh cửa mở ra. A¨nh đèn dầu từ bên trong hắt lên người chị Tư, tuy không sáng lắm nhưng vẫn thấy rõ nét trầm tĩnh tự nhiên trên gương mặt tròn trịa. Ở đó vừa hiện lên một nụ cười mà tên công an giàu tưởng tượng cho là đầy nhiệt tình cách mạng . Anh ta bước ra đảo mắt nhìn quanh rồi mới mời:
- Vào đi !
Tiếng đi vừa dứt là chị Tư đã bổ con dao phay vào ngay giữa đầu, nhanh gọn và chính xác như chị bổ cái đầu cá. Xong, chị bước vào thổi tắt cây đèn dầu rồi ra sàn nước rửa ráy tay chân mình mẫy và con dao. Trước khi ra về chị nhìn lại hàng ba: trong bóng tối chị vẫn thấy được thằng Trời đánh nằm một đống, không nhúc nhích.


Hôm sau, cả làng đều biết tin tên công an bị chém. Vậy là bàn tán xôn xao... Nhờ mấy con chó bu lại giành giựt ở hàng ba nhà thầy giáo Thái người ta mới để ý. Chớ không thì cầu tới trưa trờ mới hay ... Thiên hạ đồn tại thằng chả lấy vợ người ta ... Ông Sáu Lịch dạy võ ở xóm Lò Heo quả quyết rằng thằng cha nào chém nhứt định phải có nghề. Chớ người thường thì sức mấy mà chém ngọt như vậy ... Ai mà giỏi vậy không biết ? ... Còn gan nữa chớ ! Chém cách mạng mà... . Có người vốn đã thù ghét sẵn trong lòng, buột miệng nói: Chớ phải là tôi, tôi chặt cha nó ra làm ba khúc cho nó đáng ! ...


Trong làng, chỉ có một người biết ai đã chém tên công an. Người đó là con Lia bán cá hồi trước cách mạng . Nhưng nó đã bỏ làng trốn mất ngay ngày hôm đó, bỏ lại mấy bộ đồ màu cỏ úa và cái nón cối. Chánh quyền nghi ngay cho nó. Vậy rồi họp hành liên miên để xem có phát hiện gì thêm không bởi vì tên phản động ác ôn do ngụy cài vào hàng ngủ của ta từ ngày cách mạng thành công, nhất định phải để lại nhiều dấu vết hay bè lũ của nó, ta cần phải nâng cao cảnh giác! .


Trưa đó, nằm đong đưa trên võng, chị Tư suy nghĩ viễn vong rồi đưa bàn tay trái lên nhìn chiếc nhẫn bạc của Út Cón chạm trổ cho hồi đó, thuở Út Cón chưa vợ, thuở hai người còn thật bồ với nhau... Chị bồi hồi nhận thấy tiếng bồ quen thuộc, từ nay sẽ không còn dùng tới nữa. Tiếng bồ gọi nhau thuở nhỏ. Tiếng bồ nhè nhẹ êm êm của tuổi dậy thì. Tiếng bồ mang mểng yêu thương giấu kín, về sau, khi chẳng thành duyên chẳng thành nợ. Và tiếng bồ già dặn, đậm đà của bây giờ, mới đây, trước khi Út Cón bị bắt. Tiếng bồ của mấy chục năm đó, còn ai để mà gọi, từ nay ? Chị bỗng thèm hát lại câu vọng cổ. Lần này, chị vô Bồ ơi... . Tiếng ơi bị ngẹn ngang. Chị ngừng ở đó một lúc để kềm xúc động. Rồi chị bắt trở lại, nhanh nhanh dồn dập chớ không ngân nga sợ trào lòng cắt đôi câu hát: Bồ ơi ! Cái mối tình của em đối với bồ... nó tợ như trời cao biển rộng&...ư...sông...à ...dài . Tiếng dài không còn ngọt như xưa. Tiếng dài bị đứt khoảng. Giống như khúc đuôi còn nằm kẹt đâu trong lòng. Chị vói tay lên đầu võng rút cái khăn lông đắp vội lên mặt, bởi vì chị vừa nghe mí mắt mình mọng nước !
Từ đó chị Tư Ù thôi ca vọng cổ.


Tiểu Tử

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Barbra Streisand: Tiếng hát bất hủ

Oanh Thơ
]


Với giọng hát đặc biệt truyền cảm, Barbra Streisand, 67 tuổi, vẫn còn giữ ngôi vị nữ hoàng trong giới nghệ sĩ ở Hoa Kỳ vì số 70 triệu dĩa nhạc được bán ra trên khắp thế giới trong vòng 4 thập niên qua.

Với 50 dĩa nhạc vàng (Gold Albums) - có nghĩa là được xếp loại nổi tiếng nhất - Barbra Streisand qua mặt cả ban nhạc The Beattles và The Rolling Stone và chỉ đứng sau Elvis Presley mà thôi.

Bà không những chỉ là một ca sĩ, mà còn là một nghệ sĩ đa tài duy nhất, nhận được đủ mọi loại giải thưởng cao quí và nổi tiếng từ lãnh vực điện ảnh với 2 giải Oscars, 1 giải Lifetime Achievement Award và 10 giải Golden Globes, đến truyền hình như một giải CableAce Award, và âm nhạc như một giải Tony, 5 giải Emmy, 10 giải Grammys.

Chúng ta thử tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Barbra Streisand với những trở ngại và thành công mà bà đạt được từ khi làm quen với đời nghệ sĩ.

Barbra Streisand sinh ngày 24 tháng 4 năm 1942 ở Williamburg, Brooklyn. Cha của bà là một giáo sư Anh ngữ, mất sớm vì bị bệnh khi Barbara mới 15 tháng. Mẹ bà làm thư ký cho sở giáo dục của thành phố NewYork để nuôi bà và người anh tên Sheldon. Mẹ Barbra lập gia đình lại vào cuối thập niên 1940 và bà có một người em gái cùng mẹ, khác cha tên là Rosalind, sinh năm 1952.

Barbra kể lại là đã trải qua một tuổi thơ buồn bã. Bà là một người hay mắc cỡ và thường bị các đứa trẻ cùng tuổi tránh xa và chọc ghẹo vì cái mũi quá dài và không thẳng thớm của mình. Bà cũng không nhận được sự hỗ trợ của mẹ bà khi bày tỏ mơ ước muốn theo đuổi bước đường trình diễn và ca hát vì Mẹ bà nghĩ rằng Barbara không có nhan sắc để thu hút khán giả.

Khi còn nhỏ bà bắt đầu tham dự những buổi hợp ca ở trường học và tại nhà thờ. Vào năm 15 tuổi, bà gặp ông bà Anita và Alan Miller ở Cherrylane Theater, và thương lượng được giữ con cho cặp vợ chồng này với điều kiện họ miễn học phí cho bà theo học trường diễn xuất ở NewYork của Alan Miller .

Barbra Streisand xếp hạng thứ bốn khi tốt nghiệp trung học lúc 16 tuổi từ trường Erasmus Hall Highschool, nơi bà đã gặp Neil Diamond, một người bạn cùng trường mà sau này cũng là một nam ca sĩ nổi tiếng, đã hát chung với Barbra bài hát lãng mạn “You don't bring me flowers anymore”.

Bà chưa bao giờ ghi tên vào đại học và dọn đi NewYork ngay sau khi tốt nghiệp trung học. Ở đó, bà làm việc tại văn phòng tư nhân và tiếp tục theo học các lớp diễn xuất. Bà từng thuê apartment ở chung với bạn bè và gặp người chồng thứ nhất của bà là diễn viên Elliot Gould, người bà lập gia đình trong vòng 8 năm và có một cậu con trai duy nhất tên Jason.

Với sự cổ động của bạn bè, Barbra dự cuộc thi hát tại một phòng trà địa phương mặc dù trước đó bà chưa bao giờ học hát. Thành công trong cuộc thi tài này, giọng hát Soprano của Barbra Streisand bắt đầu được nhiều khán giả ái mộ tại các hộp đêm như Bon Soir và Blue Angel.

Mặc dù ca hát tại các phòng trà như thế nhưng Barbra thú nhận yếu điểm của bà là rất run sợ khi xuất hiện trên sân khấu. Trong suốt 3 thập niên liên tiếp, Barbra đã từ chối “hát sống” (live show) và chú tâm vào việc trình diễn trên sân khấu Broadway mà thôi.

Vào năm 1962, bà đoạt giải NewYork Drama Critics Award cho vở nhạc kịch “I Can Get It For You Wholesale.” Cũng trong năm này, bà ký hợp đồng với hãng Columbia Records để thu dĩa nhạc đầu tiên “The Barbra Streisand Album”, phát hành năm 1963. Dĩa nhạc này được xếp vào 1 trong 10 dĩa nhạc thịnh hành nhất và nhận được hai giải Grammy Awards bao gồm luôn giải dĩa nhạc hay nhất trong năm -Album of the Year.

Vào năm 1965, Barbra quay sang hoạt đông trong lãnh vực truyền hình với chương trình: “My name is Barbra”. Show này đã đem về cho Barbra cả thảy 5 giải Emmy Awards và đã khiến đài CBS ký hợp đồng 10 năm với bà để điều hành các show truyền hình khác nữa của đài.

Năm 1968, Barbra Steisand xuất hiện trong cuốn phim “Funny Girl,” lấy từ nhạc kịch trên Broadway mà bà từng đóng vai chính. Cuốn phim ca nhạc này đã đem về cho Barbra giải Golden Globe Award và bà được bầu làm “Tài tử nổi tiếng nhất của năm đó”.

Sau khi xuất hiện trong một số phim hài hước, vào năm 1972, Barbra thành lập công ty sản xuất phim do bà làm chủ “Barwood Film”, ra đời vào thời gian mà nữ giới đang bành trướng hoạt động của mình trong nhiều lãnh vực trước kia chỉ có nam giới độc quyền sinh hoạt.

Năm 1970, cuốn phim “The Way We Were” đóng chung với nam tài tử Robert Redford, đã khiến bài hát mang cùng tên do Barbra hát một mình trở nên nổi tiếng cho mãi về sau này.

Năm 1976, cuốn phim “The Star is Born” do Barnwood phim sản xuất nhận được 6 giải Golden Globe Awards và “Evergreen” trong cuốn phim này là bản nhạc được ưa chuông thứ hai của Barbra. Từ đó trở đi, bất cứ dĩa nhạc nào của Barbra cũng bán từ 1 triệu cuốn trở lên, như dĩa nhạc có bài “You don't bring me flowers anymore” hát chung với Neil Diamond vào cuối thập niên 1970.

Năm 1980, album có tên “Guilty' được viết bởi nhạc sĩ và nhà sản xuất Barry Gibbs với giọng hát của Barbra đã bán chạy như tôm tươi.

Mặc dù Barbra đã đọc truyện ngắn “Yelti, The Yeshiva Boy” của Bashevis Singer vào năm 1968 nhưng mãi đến 15 năm sau bà mới có cơ hội đem câu chuyện này dựng hành phim. Cuốn phim do Barbra làm đạo diễn này nhận được giải Golden Globe Award về Ðạo diễn và nhà Sản xuất xuất sắc nhất. Chính đạo diễn Steven Spieberg, người đạo diễn những phim như ET và The Jurassic Park... cũng khen “Yelti” là cuốn phim độc đáo và đặc sắc.

Năm 1991, sau khi đạo diễn phim “Prince of Tides”, Barbara được đề nghị 7 giải Academy Awards cho vai trò đạo diễn, khiến bà trở thành người phụ nữ thứ ba trong lãnh vực nghệ thuật thứ 7 nhận được danh dự này.

Sau 27 năm vắng mặt trên sân khấu, vào năm 1994, Barbra trở lại với môi trường ca nhạc. Những buổi trình diễn của bà thu được hàng chục triệu Mỹ kim và Barbra đã được xem là một nghệ sĩ có tấm lòng quảng đại trong việc cống hiến những số tiền hàng triệu mỹ kim cho nhiều tổ chức nhân đạo và bác ái như AIDS Organization, Women and Children In Jeopardy, Jewish/Arab Relation.

Về quan điểm chính trị, Barbra Streisand là người ủng hộ đảng Dân Chủ một cách mạnh mẽ và sử dụng tài năng cũng như tiếng tăm của mình để hỗ trợ cho nhiều ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Dân Chủ như Bill Clinton, Al Gore và Barrack Obama. Bà cho rằng đảng Dân Chủ lo lắng và tranh đấu cho quyền lợi của giới trung lưu và lợi tức thấp hơn là đảng Cộng Hòa.

Năm 2000, Barbra thu thanh và phát hành CD và DVD “Timeless: Live In Concert” từ một buổi trình diễn ở Las Vegas. Vé tham dự buổi trình diễn ấy có giá từ $50 đến $1.500 và đã được bán hết trong vòng 1 tiếng đồng hồ.

Từ đó đến nay, bà tiếp tục phát hành dĩa nhạc, trình diễn trên sân khấu, và cũng xuất hiện một lần trong phim vui nhộn “Meet The Flocks” vào năm 2006.

Barbra Streisand lập gia đình lần thứ hai với nam tài tử James Brolin vào ngày 1 tháng 7 năm 1998. Sau đám cưới, Barbra thu dĩa nhạc gồm những bài hát về tình yêu có tên “A Love Like Ours” và “If You Ever Leave Me”. (OT)

(Tổng hợp nhiều bài viết trên Internet)

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Giá quá đắt cho nữ ca sĩ Hàn Quốc
sau 20 lần phẫu thuật thẩm mỹ

Năm nay 47 tuổi và trải qua gần hai chục lần phẫu thuật thẩm mỹ gương mặt, nữ ca sĩ Han Mi Ok quyết định dừng tay. Han thổ lộ, cô “nghiện” phẫu thuật thẩm mỹ và không bao giờ thấy hài lòng với gương mặt của bản thân.

Han Mi Ok từng có gương mặt hết sức bình thường, thậm chí là ưa nhìn trước khi quyết định “dấn thân” vào việc phẫu thuật thẩm mỹ. Han Min Ok từng là thần tượng của giới trẻ Hàn Quốc trong những năm 80 của thập kỷ trước với phong cách trình diễn lôi cuốn và “GU” thời trang tuyệt vời. Cô từng biểu diễn tại Nhật Bản. Không hài lòng với cái cằm của mình, Han quyết định tiêm silicon để khiến nó đầy đặn hơn. Ca phẫu thuật này được thực hiện tại Nhật Bản khi Han Min Ok mới 28 tuổi.

Han Min Ok phát biểu: “Tôi không thể chịu đựng nổi những người xinh đẹp hơn mình. Tôi ghen tị với họ. Tôi muốn mình có một vẻ đẹp hoàn hảo”. Ngay cả khi gương mặt của cô biến dạng rất nhiều, sưng vù và không thể nhận Ra các nét, Han vẫn tin là mình xinh đẹp.

Năm 1998, Han Min Ok trở về Hàn Quốc và khiến cả gia đình “bàng hoàng”, họ không thể nhận Ra cô. Cả gia đình thuyết phục cô đi phẫu thuật lấy bớt silicon Ra nhưng Han Min Ok không chấp nhận. Nữ ca sĩ xứ Hàn quyết định tiến hành ca phẫu thuật thứ hai và rồi thêm nhiều lần khác…



Han Min Ok trước khi phẫu thuật thẩm mỹ.

Tháng 11/2004, đài truyền hình SBS tìm thấy Han Min Ok, lúc này đã rất yếu và suy sụp, do hậu quả của nhiều lần phẫu thuật. Đặc biệt, đầu của Han Min Ok to gấp nhiều lần khiến cô gặp khó khăn trong việc di chuyển.

Năm 2004, nữ ca sĩ này xuất hiện trên truyền hình và thực sự khiến khán giả kinh hoàng. Lúc này, Han Min Ok đã trở thành một người thất nghiệp, chán nản và gương mặt thì đã biến dạng rất nhiều. Đầu của cô to gấp 3 lần kích thước bình thường do tác động của lượng dầu và các hóa chất phẫu thuật dưới DA.

Han Min Ok tâm sự: “Tôi không thích nhìn vào trong gương. Tôi ghét gương mặt mình. Tôi cảm thấy rất khốn khổ”. Han Min Ok khi này cũng trở nên nghèo khổ. Tài khoản trong ngân hàng của cô còn đúng 2 USD. Han Min Ok đã sống trong bóng tối suốt 6 tháng vì bị cắt điện do không thanh toán hóa đơn tiền điện.



Han Min Ok trước khi phẫu thuật loại bỏ các hóa chất dưới DA, năm 2005.

Bác sĩ còn chuẩn đoán, Han Mi Ok đã mắc bệnh tâm thần phân liệt. Ngay lập tức, một làn sóng quyên góp được phát động, nhằm giúp đỡ Han Mi Ok phẫu thuật để có được gương mặt bình thường như trước đây. Kết quả của cuộc vận động quyên góp là số tiền 27 triệu won. Sau 5 năm và khoảng 15 lần phẫu thuật, đầu của Han Min Ok đã trở lại kích thước bình thường, song, gương mặt Han Min Ok vẫn không thể trở lại như trước đây.

Chủ tịch bệnh viện Kangbuk Samsung, giáo sư Chang Choong Hyun, là người đã tiến hành 15 lần phẫu thuật thẩm mỹ cho nữ ca sĩ Han Min Ok. Giáo sư Chang phát biểu: “Theo tôi, cô Han cần phải phẫu thuật thẩm mỹ thêm nữa, nhưng cô ấy đã yêu cầu dừng lại vì cô ấy rất hài lòng với gương mặt hiện tại”.



Han Min Ok hài lòng với gương mặt hiện tại của mình.

Giáo sư Chang cho biết, hiện tại Han Min Ok vẫn sống một mình, gần nhà của những người thân. Mẹ của Han Min Ok đã qua đời từ năm 2005, sau ca phẫu thuật đầu tiên của con gái. Bà rất vui khi biết tin Han Min Ok chấp nhận phẫu thuật loại bỏ những hóa chất được bơm vào gương mặt cô suốt một thời gian dài.

Giáo sư Chang kể lại: “Năm ngoái, chúng tôi đã có bữa tiệc chia tay với Han Min Ok và cô ấy đã hát rất nhiều. Cô Han hát rất hay”. Cách đây hai tháng, Han Min Ok đã xuất hiện trong một show truyền hình của Nhật Bản. Han Min Ok tâm sự: “Tôi rất buồn vì đã phẫu thuật thẩm mỹ quá nhiều trước đây. Tôi thực sự rất tiếc. Giờ đây, tôi thấy vui và hạnh phúc vì tôi có thể trở lại cuộc sống bình thường”.


Han Min Ok: "Tôi thấy ân hận vì trước đây phẫu thuật quá nhiều".
band4 3G McKeno

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Nhật kí cuộc chiến giành độc lập lần thứ 3
Tác giả: Đoàn Hưng Quốc




Chuỗi sự kiện dưới đây chỉ là giả tưởng; nhưng dựa trên các biến cố lịch sử thời hiện đại thôi cũng có thể nhận ra có khi điều tưởng như không thật mà đã hiện thực! Hồng Quân xâm lấn A-Phú-Hãn vào năm 1979 để dựng nên một nhà nước thân Nga Xô; không ngờ quân đội bị sa lầy dẫn đến sự sụp đổ của toàn khối Xô Viết 22 năm sau đó.

Tương quan giữa hai đảng cộng sản Việt-Hoa là môi hở răng lạnh (cho dù răng có cắn môi đau!). Bắc Kinh phải bảo vệ nhà cầm quyền Hà Nội vì quyền lợi và sự sống còn của chính mình. Chỉ một bước tính sai lầm tại Việt Nam có thể dẫn đến hậu quả không lường cho đảng cộng sản Trung Quốc

Ngày N-5: những cuộc biểu tình bùng nổ tại Huế, Sài Gòn, Hà Nội và ngày càng được đông đảo thanh niên sinh viên và đồng bào tham dự để phản đối việc Trung Quốc đem dân công sang định cư và khai thác mỏ bô xít vùng Tây Nguyên, và thái độ hèn nhát của nhà cầm quyền Hà Nội không dám phản đối khi Bắc Kinh cho tàu chiến và tàu đánh cá tiến vào lãnh hải xung quanh hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Ngày N-2: công an nổ súng vào đoàn người biểu tình, đe doạ và ngăn chận không cho phong trào chống đối lan tràn ra các tỉnh thành. Hàng trăm sinh viên học sinh thiệt mạng, hàng ngàn người bị bắt mang vào các trại tập trung.

Ngày N: Quân Đội Nhân Dân bất ngờ thực hiện một cuộc đảo chánh lật độ nhà cầm quyền Hà Nội; ban hành lệnh thiết quân luật, thành hình một chính quyền quân sự lâm thời với mục tiêu tổ chức một cuộc tổng tuyển cử tự do, đa đảng trong vòng 6 tháng.

Ngày N+3: đảng cộng sản Trung Quốc hốt hoảng vì sợ làn sóng chống chính quyền lan tràn từ vùng biên giới phía Nam. Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh lên tiếng cảnh cáo và đòi hỏi “tái lập trật tự tại Việt Nam”, và kêu gọi quốc tế chỉ công nhận “chính quyền dân cử và hợp pháp” (vừa bị lật đổ)

Ngày N+7: Bắc Kinh bất ngờ tung quân đội vào Việt Nam với mục tiêu “giúp chính quyền Việt Nam tái lập trật tự”. Hơn 500 ngàn quân tràn qua biên giới phương Bắc; hạm đội Nam Hải và thuỷ quân lục chiến tấn công chiếm đóng các cảng Vủng Tàu, Cam Ranh và Hải Phòng; 5 ngàn dân công các mỏ bô xít lập lô cốt ngăn chận lưu thông trên Quốc Lộ 1.

Ngày N+15: Hà Nội thất thủ; lính Trung Quốc tiến đến vòng đai của hai thành phố Nha Trang và Sài Gòn.

Ngày N+16: bộ ba Mạnh-Triết-Dũng lên đài truyên hình tuyên bố lực lượng cách mạng phản động đã bị dẹp tan. Nhà cầm quyền xã hội chủ nghĩa được tái lập và hứa hẹn sẽ tiếp tục chính sách ngoại giao thắm thiết với Bắc Kinh. Trong khi đó, hơn 2 triệu quân Trung Quốc đổ tràn từ Bắc xuống Nam.

Ngày N+17: chính phủ kháng chiến được thành hình từ rặng Trường Sơn kêu gọi toàn dân khởi nghĩa chống Trung Quốc lần thứ 3; kêu gọi các nước yêu chuộng tự do dân chủ yểm trợ cuộc đấu tranh của dân tộc. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Âu Châu, Ấn Độ và cac nước Đông-Nam-Á (ngoại trừ Miến Điện) tuyên bố công nhận chính quyền lưu vong và sẵn sàng tiếp trợ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.

Ngày N+1218: Trung Quốc bị cô lập về chính trị; quân đội hao mòn vì không tiêu diệt được nghĩa quân; kinh tế suy sụp vì các chi phí quốc phòng chông chất. Bắc Kinh quyết định rút quân; bộ ba Mạnh-Triết-Dũng và gia đình được chở sang Thượng Hải sống lưu vong.

…

Ngày N+1219: sau hơn 3 năm kháng chiến và 4 trăm ngàn dân quân thiệt mạng, nước Việt giành lại độc lập tự do. Chính phủ kháng chiến tiến về Hà Nội, tuyên bố thành hình nhà nước Đại Đoàn Kết kết hợp toàn dân trong và ngoài nước, sẳng sàng hợp tác với mọi quốc gia (kể cả Trung Quốc) trên căn bản phát triễn hoà bình, thịnh vượng và tôn trọng các quyền lợi lẫn nhau.

Ngày N+X: cuộc cách mạng nhung xảy ra tại Trung Quốc là hậu quả của nhà cầm quyền cộng sản suy yếu từ khi rút quân khỏi Việt Nam, và dẫn đến sự thành hình của một thể chế dân chủ và đa đảng.

Đoàn Hưng Quốc

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Những đôi mắt học trò

Phan

Tờ báo An Độ căn cứ vô… cà ri rồi đưa ra nhận định: “Mười đôi mắt đẹp nhất thế giới”. Trang DHM của xứ cà ri nị nhất định như thế. Họ viết trên giấy trắng mực đen chắc như đinh đóng cột: “Bất cứ ai đối diện với các mỹ nhân như Aishwarya Rai, Angelina Jolie hay Elizabeth Taylor cũng bị ánh mắt của họ hút hồn, (chết chìm) trong cái nhìn mê hoặc.” Aishwarya Rai từng được tạp chí Time bình chọn là 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới. Cô cũng lọt sâu vào danh sách những người đẹp nhất thế giới với đôi mắt gom về mọi danh hiệu. Angelina Jolie với đôi môi tử tế, ánh mắt hút hồn hết tên nọ đến tên kia lao vào như thiêu thân. Ca sĩ Lynda Carter từng được trao giải TV Land Award cho vai diễn siêu nhân trong show truyền hình nổi tiếng Wonder Woman năm 2004. Đôi mắt biết nói của cô đã đem về lợi nhuận kết xù cho hãng phim vì khán giả bị thôi miên trong đôi mắt ấy. Đôi mắt tím biếc của Elizabeth Taylor quyến rũ bất cứ người nào đối diện. Đôi mắt nai ngơ ngác, ngây thơ của Audrey Herpburn. Đôi mắt Afghanistan Sharbat Gula đã tốn không biết bao giấy mực của báo chí. Cô gái mồ côi này lọt vào ống kính của phóng viên chiến trường Steve McCurry khi ở trại tị nạn Pakistan năm 1984. Dư luận xôn xao, phóng viên tìm kiếm đến năm 2002 người ta mới tìm ra danh tính của cô. MC người Italy Giada De Laurentii có ánh mắt trìu mến và được khán giả ái mộ trong chương trình Everyday Italian. Cô gái trẻ Kristin Kreuk có đôi mắt đẹp hút hồn khi vào Lana Lang trong "Thị trấn Smallville". Sophia Loren có đôi mắt khiêu khích và gợi cảm. Charlize Theron có đôi mắt trong sáng, thông minh…

Trời ơi! Những đôi mắt mang hình viên đạn này chiếu tia ngay đơ tới đâu thì mày râu cúm heo tới đó. Đôi mắt là cửa sổ của linh hồn! Vậy cửa cái ở đâu? Linh hồn những đôi mắt đẹp không có lối ra-vào nên để lọt được vào những đôi mắt ấy… người ta phải trèo thôi. Mà trèo cao té đau mới lắm kẻ mộng du; lắm người lừng khừng lửng khửng từ khi bị té cửa sổ linh hồn những giai nhân.

Hôm qua, tôi đọc xong, xem xong 10 đôi mắt làm nghiêng trái đất. Đến giờ vác máy ảnh vô trường Richland College để ghi hình phóng sự cho buổi lễ hội văn hóa các dân tộc của sinh viên. Nhìn qua ống kính máy ảnh có thể chụp từ xa để nhân ảnh tự nhiên trong tác phẩm của mình.
Ô kìa! Đôi mắt châu Phi của cô sinh viên Kenya cao lêu khêu như cây cần cẩu đang xây dựng thêm một building cho nhà trường. Đôi mắt phân minh hai màu đen-trắng, to và sáng lắm. Có thể nhà tạo mẫu nào đó cũng đang nhìn ngắm đôi chân dài và ước lượng sức hút trên sàn catwark; người hoạ sĩ trong đám đông đang thu hình vô trí nhớ để về vẽ lại đôi mắt hoang dã thơ ngây ấy chăng? Người nhiếp ảnh tham lam thu hình đôi chân tuyệc mỹ mà còn chờ khoảnh khắc đôi mắt… cười, mới bấm máy. Những toan tính nghề nghiệp, những ước mơ đời thường tan biến đi khi nghe cô ấy nói: “Xin cảm ơn mọi người đã nghe tôi nói. Tôi, bạn tôi, chúng tôi đến từ các nước châu Phi. Cảm ơn mọi người đã đến tham dự lễ hội này. Và cầu chúc cho mọi người hạnh phúc…” Tiếng vỗ tay vang xa lên vòm cây xanh lá xuân về, vang đến tai những người không phải người bản xứ đang phiêu diêu thả hồn về quê quán, bạn bè và một thời tuổi trẻ. Thì ra tôi cũng chưa bấm máy để ghi hình đôi mắt và đôi chân vì lời nói dõng dạc xác định quê quán mình, dân tộc mình trước thế giới của một cô gái trẻ có sức hút hơn đôi mắt và đôi chân. Điều đẹp đẽ hơn những gì thấy được là niềm tự hào dân tộc.

Ria ống kính đi săn ảnh, tôi gặp đôi mắt người Trung Á gắn trên gương mặt thiên thần của cô sinh viên đang nhai nhỏ nhẹ chút khoai tây nghiền mà bạn bè tiếp tế vì cô mặc đồng phục với những người trong đội trình diễn y phục dân tộc và ca múa gì đó. Đôi mắt không giống 10 đôi mắt tôi vừa xem ở nhà, trên internet, những đôi mắt bạc triệu đô la. Đôi mắt cô sinh viên nhỏ bé người trung Á mang nét đẹp thảo nguyên, nồng nàn vẻ nhiệt tâm, trong sáng, bất vụ lợi… chỉ có thể gọi là đôi mắt học trò.
Ria ống kính qua hình ảnh thân thương hơn nữa là cô sinh viên Tây Tạng gầy gầy, da trắng như sữa cừu, mặt hiền như Đạt Lai. Chỉ có cái nón kết của con trai trên đầu cô là nghịch ngợm, lưỡi trai rách một góc, những chữ thêu rất bụi thời gian, hình như chữ Chicago với số 81 gì đó. Đôi tay xé từng xớ gà chiên nhấm nháp như sợ hết mà từng miếng đưa lên miệng, đôi mắt mí lót thông minh rạng ngời, đôi mắt biết cười thưởng thức gà thơm. Trong 10 đôi mắt sáng nay tôi coi ở nhà, không có đôi mắt nào dễ thương hơn được. Đôi mắt học trò.

Đôi mắt Iran rạng rỡ niềm vui trong màu cờ sắc áo, tay còn cầm bảng Iran một cách trịnh trọng và kiêu hãnh. Đôi mắt làm thay đổi quan niệm về Iran trên trường quốc tế vì hình ảnh đất nước này người ta chỉ thường thấy qua đôi mắt tổng thống cực đoan - Mahmoud Ahmadinejad. Trong đôi mắt tự hào dân tộc kia là một Iran cổ tích, huyền bí, chất chứa bao nhiêu lịch sử và cả nền văn minh xưa cũ… đôi mắt không phóng xạ và những tham vọng hạt nhân… đôi mắt có thể làm thay đổi cái nhìn của thế giới về đất nước và dân tộc Iran. Đôi mắt học trò.

Đôi mắt cô sinh viên Lebanon, xin được chụp tấm ảnh với bạn trai đồng hương của mình vì anh ta đang khoác trên người lá cờ tổ quốc Lebanon. Đẹp thật đẹp một đôi mắt kiêu hãnh, sáng trong, gắn trên gương mặt hiền hoà và nụ cười thân thiện. Đôi mắt chưa vướng bụi thời gian, tham vọng con người. Những toan tính phía trước có lẽ là tình yêu - cuộc sống chứ không phải chiến tranh hay khói lửa ngút ngàn như quê hương cũ.

Đôi mắt An độ bị chia cái nhìn với chấm đỏ giữa trán làm cho hoa nắng dở dang, không tập trung được hai màu đen-trắng sắc vàng. Những đôi mắt Hồi giáo khó đoán trong khăn trùm, trên những khuôn mặt đẹp - hai hồ bí ẩn như kinh Koral. Ơ đó có sự nhẫn nhục của sa mạc và những cơn bão cát. Đôi mắt USA ngồi một mình ngoài xa đám đông đầy toan tính mai sau, cái đẹp lạnh lùng của nguốn gốc Ang-lê 300 năm trước xanh biếc. Vẻ đẹp quyền lực trong đôi mắt học trò.

Tôi đi tìm đôi mắt 30 tháng 04 của tôi, những đôi mắt trên xa lộ kinh hoàng; những đôi mắt thuyền nhân vượt biển; những đôi mắt bơ vơ trên xứ người… đã là quá khứ. Đôi mắt của những thế hệ Việt Nam trên quê hương thứ 2 không còn những đường gân máu đỏ vì mất ngủ hay u buồn. Những đôi mắt vô tư tìm ẩn vì những nụ cười không thấy tổ quốc. Chỉ có những vạt áo dài để nhận biết sự hiện diện của một dân tộc vùng đông nam Á - đó là Việt Nam. Số lượng sinh viên Việt Nam ở Richland College hơi đông so với những dân tộc khác nên màn trình diễn áo dài khá ấn tượng với sắc màu và sự thướt tha của một loại quốc phục trên trường quốc tế. Thật tự hào với những chiếc áo dài Việt Nam ở Richland College vì may mặc đúng truyền thống chứ không phải những chiếc áo dài thể hiện những sáng kiến kinh ngạc của giới tạo mẫu áo dài ít tỉnh bây giờ!

Màn biểu diễn nhảy sạp với những ống tre dài thật hào hứng, thu hút sự tham gia của những người bạn khác màu da tiếng nói làm cho tiếng cười và những ống kính thu hình làm việc quên thôi. Những cô sinh viên Việt Nam bỏ guốc, giở ống quần cao lên cho khỏi vướng và nhảy trong tiếng hoan hô vang đến những sân trường xưa cũ ở quê nhà… không tìm ra đôi mắt trên những gương mặt cười, đôi mắt của một ngàn năm đô hộ giặc Tàu - ti hí China. Chỉ có những hàm răng chuột đều như trái bắp, những bờ vai thon gọn và những mái tóc chưa có tiền để nhuộm vàng hoe.

Những đôi mắt học trò biết cười khi đời chưa vương vấn danh vọng phù hoa, những khổ lụy đời thường như những đôi mắt bên ngoài khuôn viên đại học; những đôi mắt Hollywood… Những đôi mắt đại diện cho những hãng mỹ phẩm lừng danh thế giới. Những đôi mắt học trò nhớ nhớ thương thương mà ai cũng cất trong lòng, có dịp đem ra so ngắm, vẫn đẹp vượt thời gian.

Phan

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

NGƯỜI TÙ GIÀ KỂ CHUYỆN

Anh chị em ơi
Năm nay tôi gần bảy chục
Bị tù vì yêu tự do
Tự do
Tự do
Tự do
Nhắc mãi trở thành nhàm chán
Nhưng lòng vẫn muốn hô to
Tự do
Tự do
Tự do
Anh chị em ơi
Ðừng hỏi vì sao tôi gầy
Ðôi mắt vẫn là cửa sổ
Mở ra một hồn đắng cay
Cơm ăn mỗi bữa đếm từng hạt
Mộng lớn đêm nào cũng gối tay
Không có ăn thì người ta ngắc ngoải
Không có không khí người ta chết ngay
Không có tự do người ta vẫn sống
Nhưng đời ngựa kéo trâu cầy
Tôi không phải là con tắc kè đổi sắc
Ở gần cây lá thì xanh
Bò trên mặt đất lại đỏ
Giống y như cỏ đuôi chó
Gió chiều nào ngả theo chiều ấy
Còng lưng uốn lưỡi
Sao cho người gật đầu khen ngoan
Tôi cũng chẳng phải là giò lan
Chịu dãi dầu gió sương để thơm ngát hương
Tôi chỉ là người thích ăn cơm
Tôi chỉ là người thích mặc áo
Cơm áo do mình làm ra
Không quỳ không lạy người ta
Ðể áo cơm mình no ấm
Hạnh phúc không phải là người
Cúi hôn chân người
Ðể được một chút cơm thừa canh cặn
Tôi chỉ muốn làm một ông già
Muốn ho lúc nào thì ho
Tôi không muốn được ăn no
Mà thấy người ta mình chẳng dám ho
Tự do
Tự do
Tự do
Anh chị em ơi
Không hiểu vì sao
Tự nhiên tôi muốn sống
Sống cho ra sống
Còn bây giờ chỉ là tồn tại
Sống mà như chết chưa chôn mỗi ngày
Tuổi già sức yếu
Run chân tay
Ði đứng không ngay
Nhưng tôi hiểu thế nào là sự thẳng thắn
Tự do
Tự do
Tự do
Cái quyền không ai có quyền chiếm đoạt
Cần hơn cả hơi thở
Cần hơn cả hột cơm
Nếu không
Tôi chỉ là con vật
Anh chị em ơi
Tôi xin nói thật
Ðâu phải vì già quá mà tôi không sợ chết
Bất cần đời
Tôi thương nhà tôi lắm
Nước mắt chỉ muốn rơi
Tôi yêu căn phòng
Ở đấy
Nhà tôi thường nằm khóc
Rồi những tiếng khóc khác vang lên
Tiếng khóc giận hờn của người đàn bà
Ðành yên lặng
Nhường chỗ cho con cháu khóc
Khóc chào đời
Khóc nhớ người
Thương Chúa bị đóng đinh vì người
Anh chị em ơi
Tôi không đủ chữ nghĩa
Nên thư nào gửi nhà tôi cũng ngắn
Mình cứ tin tôi
Nơi nào có thể đứng được thì không ngồi
Nơi nào có thể đi được thì không đứng
Hãy đứng dậy anh chị em ơi
Làm việc tốt không bao giờ muộn cả
Hãy bay đi về phía mặt trời
Bằng trái tim ta rực lửa
Vấn đề không phải là can đảm
Mà vì mục đích làm cho ta can đảm
Nếu mục đích không xứng đáng
Thì sự can đảm chỉ làm cho người ta kinh ngạc
Thay vì khâm phục
Anh chị em ơi
Làm sao chúng ta có thể trả lời cho con cháu
Ngày mai
Về một câu hỏi rất giản dị
Sống để làm gì?
Nếu chính chúng ta hôm nay
Không biết làm gì để sống
Tôi với họ như hai kẻ đấu súng
Sau khi bắn trượt
Tôi không thể quay lại van xin kẻ thù
Cái đất nước mà người ta không hiểu
Cứ cúi đầu nhắm mắt tuân theo
Là đất nước tồi
Ðất nước chúng ta vốn là một chiếc nôi
Nơi mà mọi lòng hòa thuận đều vui sống
Tại sao hôm nay chúng ta không được sống
Khóc hay cười
Câm hay nói
Ðều theo lệnh một người
Anh chị em ơi
Im lặng lâu dần hóa ra ngu
Gần bảy chục năm nay tôi đã im lặng
Tưởng im lặng là khinh bỉ
Có biết đâu vì sợ hãi nên câm
Vì cầu an tôi đã xoay lưng lại sự thật
Làm ra vẻ đạo đức khinh đời
Giữa lúc người ta cố tình gieo sương mù vào
Trí tuệ con người
Ðang bị cảnh túng thiếu cô đơn đè nén
Trùm lên đầu con người những mắt xích
Của sự dốt nát
Sống bằng sợ hãi
Ðể phục tùng tội ác
Anh chị em ơi
Có đêm anh bạn kể chuyện
Nói về ông Ma-ki-a-ven, a - viết gì đó
Bảo: Khi người ta chặt đầu người
Cái đầu còn quay lại cám ơn mãi không thôi
Thế mới là làm chính trị
Tôi ít học quá nên không kịp suy nghĩ
Lòng bỗng đau như người cha nghe tin con gái
Phải làm đĩ để nuôi em
Ðã có bao nhiêu người như thế nhỉ?
Cám ơn ma quỷ đời đời
Có thể không bao giờ tôi mở
Nhưng căn phòng của tôi phải có cửa sổ
Có thể tôi không dùng đến
Nhưng đời tôi phải có tự do
Tự do
Tự do
Tự do
Hãy bắt đầu bằng việc
Không để ai suy nghĩ giùm mình
Anh chị em ơi
Xin nghe tôi một điều nữa thôi
Chúng ta bực mình khi thấy người khác
Lục lọi đồ đạc của mình
Có lý nào chúng ta lại làm thinh
Khi người ta lục lọi một thứ
Quý hơn cả đồ đạc
Quý hơn cả tự do
Ðó là tâm hồn con người!
Tự do
Tự do
Tự do
Tại sao tôi lại khóc
Có phải vì củ sắn nướng chiều nay
Chưa kịp chín
Mà lòng đói quá cứ bâng khuâng
Hay nỗi nhớ thương bạn bè
Ðã làm khổ tôi cả buổi chiều nay
Khi đi qua vũng lội
Thấy bóng tóc mình mây trắng bay
Phải nói cho con cháu biết
Phải nói cho con cháu hay
Tự do hay là chết
Chết hay là tự do

NGUYỄN HỮU NHẬT

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Tuổi Trẻ Việt Nam

Lê Nguyễn Huy Trần
Nhiều người cứ trách rằng thế hệ trẻ Việt Nam thời nay có lối sống buông thả về đạo đức, tư cách, và nhân phẩm. Tôi không phủ định cách nhận xét ấy vì chính bản thân tôi cũng thấy buồn khi những phong tục tập quán và giá trị con Rồng cháu Tiên được xem là niềm tự hào dân tộc ngày càng bị mai một dần, thay vào đó là một nền văn hóa thực dụng.

Tuy nhiên, tôi cũng muốn đưa ra một số nguyên nhân và luận điểm dẫn đến vấn nạn thiếu ý thức của thanh thiếu niên Việt Nam trong nước qua cái nhìn hạn hẹp của chính tôi. Tâm nguyện của tôi qua bài viết này không phải để bào chữa cho cái nhìn lãnh đạm của tuổi trẻ về hiện tình đất nước mà là mong tìm thấy sự đồng cảm từ các bậc cha ông lão thành, đồng thời có thể giúp các bản trẻ thấu hiểu được sự việc để biết mình cần phải làm gì cho đất nước ngày hôm nay.

Quan hệ nhà nước – xã hội – gia đình đóng một vai trò quan trọng đến cách suy nghĩ và nhận thức của giới trẻ. Một đất nước văn minh sẽ khai thông được tư tuởng và sức sáng tạo trong con người. Nhưng ngược lại, nếu các bạn trẻ được giáo dục và đào tạo dưới một bộ máy “độc quyền, độc Đảng” như Việt Nam hiện nay thì quả thực rất khó có thể tự giác học hỏi những điều mới lạ và hữu hiệu để góp phần xây dựng Tổ quốc.

Một chính quyền bạo lực với các ban lãnh đạo thi nhau tham nhũng, đàn áp người dân vô tội, không cho họ lấy một cơ hội “hé răng” than trách nửa lời. Một nhà nước thối nát tận gốc rễ: tự do ngôn luận không có, tự do báo chí không tồn tại, phi dân chủ, vô tôn giáo, và mất nhân quyền. Một xã hội bất công bao gồm các tầng lớp được phân hóa rõ rệt khi có người thì “giàu nứt vách đổ tưởng”, còn người nghèo tận cùng thì chỉ biết nằm chờ chết. Vậy làm sao gọi là nước “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa” và rồi đặt hết trách nhiệm lên vai của thanh thiếu niên Việt Nam cho một đất nước phát triển trong khi lớp trẻ này sinh ra sau ngày nhà nước bại hoại ấy được thành lập.

Bây giờ con người đang sống trong thế kỷ hai mươi mốt – thời đại mà nền kinh tế của một nước là yếu tố chính quyết định sức mạnh và sự phồn vinh của nước ấy đối với những nước khác trên thế giới. Cho nên nhu cầu của con người cũng vì thế mà tăng lên. Ai ai cũng muốn có một cuộc sống đầy đủ về mọi mặt: vật chất lẫn tinh thần, và luôn mang trong người những tham vọng đạt chức danh ông này hay bà nọ để đời. Thế hệ trẻ Việt Nam đang sống trong thị trường thời mở cửa thì càng bị lôi cuốn với ý nghĩ: một người thật sự thành công chỉ khi nào có địa vị vững vàng trong xã hội. Họ chỉ nhìn vào hình ảnh những người đi trước đã bất chấp mọi thủ đoạn hèn hạ để tiến thân mà không hề hay biết rằng chính họ đang biến bản thân mình trở thành những con người thiếu đạo nghĩa khi nối gót theo các vị tiền bối ấy. Về mối liên hệ với gia đình, giới trẻ cũng không tìm được tiếng nói đồng thuận từ người thân vì khoảng cách giữa cha mẹ và con cái ngày càng bị nới rộng. Hầu hết các bậc phụ huynh cứ mãi lăn lộn kiếm tiền ngoài xã hội mà quên mất nhiệm vụ cao cả của một người cha, người mẹ. Điều tôi muốn nói ở đây là họ vẫn dành tình thương cho con cái, luôn mong muốn con mình trở thành một người có ích cho xã hội; thế nhưng, do cuộc sống bận rộn hay vì những ngăn cách khác, họ lại thiếu quan tâm đến ý thích, ước mơ cũng như thiếu chia sẻ về thắc mắc của con cái. Đó là một thiếu sót lớn ở cái xã hội mất luân lý này.

Chỉ có cha mẹ mới là tác nhân đắc lực trực tiếp giúp trẻ hoàn thiện tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức. Nếu như thế hệ 8X, 9X chỉ biết đến trường để bị đầu độc tư tưởng “Bác Hồ là vị cha già dân tộc” hay “Hồ Chí Minh - Người sáng lập và rèn luyện Đảng” ngay từ thuở nhỏ thì làm sao dễ dàng xóa bỏ được những vết mực dơ đã gieo vào nhiều đầu óc non nớt như trang giấy trắng tinh kia. Có ai chỉ cho họ dám lên tiếng chống đối Đảng khi thấy đường lối của Đảng là sai? Có ai nói cho họ nghe những sự thật trong quá khứ mà Đảng và nhà nước đã cố tình giấu nhẹm hơn ba thập niên qua? Có ai dạy cho họ phải biết bảo vệ những người dân lành đang bị áp bức bởi công an là kẻ đại diện cho pháp luật? Có ai khuyên nhủ họ cần nhận biết và cảnh tỉnh vận mệnh đất nước đang “ngàn cân treo sợi tóc”? Các bạn trẻ không thể tự tìm hiểu những điều cần phải biết trong khi thông tin truyền thông đại chúng bị gò bó trong khuôn khổ Đảng nói dân nghe. Dù có một số ít hiểu rõ hiện trạng đất nước thì họ cũng không dám để lộ ra tư tưởng mà theo Đảng gọi là “phản động” cho người khác thấy bởi họ sợ liên luỵ đến gia đình và người thân. Họ không can đảm trao đổi cách nghĩ của mình về các vấn đề xã hội “nhạy cảm” với bạn bè đồng trang lứa vì nó như một đề tài xa lạ trong cuộc sống hằng ngày của sinh viên.

Hôm trước, tôi có dịp trò chuyện với một vài người bạn trong nước để hiểu xem các bạn ấy có nhận định gì về tình hình xã hội hiện nay trên đất nước Việt Nam. Có người cho rằng dân Việt Nam nhìn chung là “thụ động và sống lệ thuộc”. Ai cũng chỉ biết “vâng lời” theo nề nếp Đảng Cộng Sản đặt ra để được yên thân. Vì thế nếu có kẻ tìm cách bức ra khỏi lối sống ấy thì được xem là “sâu” tuy “sâu chưa chắc đã hại”. Tôi thấy nếu đã gọi là sâu bọ thì cần phải được loại bỏ nhưng có đáng không khi những người đó không muốn tương lai bị lệ thuộc theo cách sắp xếp của nhà cầm quyền Cộng Sản. Người khác thì nghĩ “ai cũng làm việc vì bản thân” và khó thay đổi được thực trạng này thì làm sao ý thức đoàn kết dân tộc được đề cao. Vài người còn lại không mấy quan tâm đến hiện tình đau thương của đất nước, con người Việt Nam mà chỉ chú ý “nền kinh tế vừa lạm phát, vừa đình trệ” có ảnh hưởng thế nào đến công ăn việc làm. Qua mấy cuộc nói chuyện ngắn ngủi ấy, tôi cảm thấy rằng xã hội Việt Nam đang nuôi dưỡng thanh thiếu niên trở thành những người công dân chấp nhận sống dưới bóng đen Cộng Sản bởi họ tuyệt đối tin vào luồng thông tin phi thực tế của bộ chính trị đảng hay tiếp nhận các phim ảnh thiếu tính giáo dục được đưa từ ngoài vào.

Khi đất nước Việt Nam mở cửa và hội nhập với những nước khác thì cũng chính là lúc tệ nạn xã hội gia tăng. Ngoài học hỏi những điểm tốt từ các nước bạn, giới trẻ cũng không tránh khỏi ảnh hưởng xấu như bạo lực trong học đường, bất mãn và phản kháng thầy cô, quan hệ bạn bè cởi mở đến mức khó chấp nhận, v.v… Bên cạnh đó, cách mạng công nghệ kỹ thuật cũng được áp dụng rộng rãi nhưng thiếu kiểm soát làm nhiều bạn trẻ bỏ quá nhiều thời gian vào việc truy cập bậy bạ trên internet hay mê muội game online đến nỗi vô tình quên đi cuộc sống thực tại, quên đi việc học hành, quên đi nghĩa vụ một người chủ tương lai của đất nước. Mấy năm trước nhà nước cho thi hành chính sách xoá nạn mù chữ và tôi không thất vọng khi thấy số lượng sinh viên Đại học tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Theo Tổng cục Thống kê, chỉ khoảng hai trăm ngàn sinh viên học Đại học vào năm 1990, nhưng đến năm 2005 thì con số đã chiếm đến hơn một triệu tư. Thế nhưng nhà nước lại không tích cực giải quyết nạn thất nghiệp lan tràn trên khắp mọi miền nên nhiều sinh viên ra trường không kiếm được việc làm phù hợp với bằng cấp của mình.

Nếu tuổi trẻ Việt Nam đang bước vào giai đoạn tự lập như một người lớn thực thụ mà không kiếm nổi một bữa “cơm lành, canh ngọt” thì thử hỏi sức lực đâu mà nghĩ đến vận nguy nước nhà. Họ sẽ chán nản và phó mặc cho số phận đưa đẩy. Cuộc đời lại lắm trớ trêu khi nhiều kẻ vô học được gắn mác “con ông cháu cha” lại phè phởn với những cuộc ăn chơi trác táng, lại ngạo nghễ trên nỗi đau nhân loại. Đấy là những thành phần làm ô uế một tập thể chung khiến mọi người có cái nhìn thiếu thiện cảm về tuổi trẻ Việt Nam. Nhiều người cho rằng tôi đang bênh vực cho thế hệ thanh thiếu niên theo luận điệu cố hữu mà ai cũng biết. Vậy có ai thực sự thông cảm với những gì thế hệ “mắt không thấy, tai không nghe” này phải gánh chịu từ bao biến cố ngày xưa? Tôi hi vọng người lớn hãy yêu thương và dìu dắt chúng tôi, vạch ra những sai sót và thiếu bản chất sự thật chứ đừng vội trách chúng tôi không xứng đáng là lực lượng thay đổi tương lai đất nước. Nếu giới trẻ được sự hướng dẫn tận tình của những bậc trưởng bối thì tôi tin rằng các bạn ấy sẽ tích cực tiếp thu những lời dạy bổ ích đó.

Tôi đã từng nằm trong hoàn cảnh tù túng dưới bộ máy chính quyền ĐCSVN nên tôi cảm nhận được nỗi bức xúc và sự nặng nề của nhiều người phải cam chịu sống im lặng từng ngày. Thật lòng tôi rất muốn gởi tâm tình của một người con yêu nước đến các bạn trẻ Việt Nam, những người chưa thấy rõ bộ mặt đê hèn và trơ tráo của Đảng ta. Tôi biết nhiều bạn trẻ cũng đang cố gắng chèo lái con thuyền của mình trên đại dương đầy sóng gió cạnh tranh, đầy khó khăn cản trở để hướng đến một chân trời mới. Ai cũng có khát vọng và ấp ủ những hoài bão riêng. Lúc còn ngồi trên chiếc ghế nhà trường, nếu các bạn chỉ biết quyết tâm học thật giỏi mà không màng đến thế sự thì cũng giống như tôi trước kia vậy. Đến khi bước chân vào đời, các bạn bắt đầu nhận ra sự chèn ép bất công trong lòng xã hội. Có khi nào các bạn tự hỏi những điều oái oăm ấy là do đâu? Các bạn sẽ không tìm được câu trả lời thích đáng nếu các bạn chưa bao giờ biết đến hàng ngàn nỗi đau chua xót xảy ra với đồng bào Việt Nam trong thời gian gần đây. Tôi ghê tởm cái cách nhồi sọ tinh vi thuyết Chủ Nghĩa Cộng Sản và cách che giấu ma mãnh của Đảng đã làm các bạn không thể hiểu rõ thực trạng màn trời chiếu đất của nước nhà trong lúc này. Các bạn không học về biến cố thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế (1968) được xem là nỗi kinh hoàng truyền kiếp bởi vụ giết người hàng loạt, chôn sống tập thể của quân đội Bắc Việt còn tàn độc hơn thời Hít-le.

Các bạn không được nghe kể về sự xâm lăng của Trung Cộng khi đánh chiếm đảo Hoàng Sa năm 1974 hay chiến tranh biên giới Việt – Trung vào năm 1979 đã hi sinh biết bao nhiêu chiến sĩ hải quân. Các bạn không được biết chuyện nhà cầm quyền Hà Nội toan phá bỏ những mộ bia của các thuyền nhân năm xưa đi vượt biên tỵ nạn trên đảo Pulau Galang, Nam Dương hay ở một số nơi khác chỉ vì họ muốn che đậy tội lỗi đối với những linh hồn không được siêu thoát sau cuộc chiến. Các bạn không thấy được chính quyền Cộng Sản thẳng tay đàn áp và bỏ tù những nhà đấu tranh dân chủ như LM Nguyễn Văn Lý, LS Nguyễn Văn Đài, LS Lê Thị Công Nhân, v.v… chỉ vì họ dám đứng lên tranh đấu đòi nhân quyền. Các bạn không ngờ đến việc ĐCSVN đang chứa chấp bọn bá quyền xâm lược Tàu dưới chiêu bài hợp tác khai thác quặng nhôm với Trung Quốc trên vùng Tây Nguyên. Đã có rất nhiều bài viết phân tích về mối nguy hại nghiêm trọng cho môi trường nếu kế hoạch bauxite này được đưa vào hoạt động. Nó không đơn giản chỉ tác hại về kinh tế mà còn cả phương diện xã hội, đời sống, và chính trị khi sự diệt vong của một đất nước đang ở mức báo động. Nhiều dư luận đã lên tiếng phản đối dự án ngu ngốc này của ĐCS nhưng thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn phớt lờ tất cả để tiếp tục nối giáo cho giặc. Thật ra, các nhà lãnh đạo nước CHXHCNVN chỉ là bọn bù nhìn đang bị quản thúc dưới tay đàn anh Trung Cộng. Các bạn là những người sáng suốt phải nhìn thấu được điều này và cần biết nên làm gì để hoàn thành sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc.

Đảng cầm quyền Việt Nam đang bóp chết mọi hi vọng và ước mơ của thế hệ chúng ta khi dập tắt những cuộc HSSV biểu tình chống sự xâm lấn của giặc Tàu. Thành phần buôn dân bán nước này cần phải được triệt hạ trước khi chúng dâng hiến toàn bộ giang sơn Việt Nam cho bọn bành trướng Trung Cộng. Tình thế nguy ngập của nước nhà không cho phép tuổi trẻ Việt Nam ngồi yên chịu đựng cái nhục quốc thể. Bây giờ là thời điểm để mỗi người chúng ta góp một bàn tay đấu tranh cho quê hương thoát khỏi ách nô lệ ngoại bang. Bọn xâm lược Tàu Cộng đã không cho chúng ta quyền tự trị trên mảnh đất Việt Nam thân yêu. Vì thế chúng ta không thể dễ dàng khuất phục cho bọn chúng cai trị dân tộc Việt Nam ta – một dân tộc ngàn đời hiển danh quật cường. Các bạn đừng phí phạm thời gian cho các cuộc tụ tập vui chơi vô bổ mà hãy dành giây phút vàng bạc đó để tìm hiểu sự thật về tất cả tội ác của chế độ Cộng Sản đã gây ra, về những uẩn khúc lịch sử đang chờ các bạn làm sáng tỏ.

Hãy mạnh dạn nói lên những suy nghĩ và ước nguyện của các bạn cho một tương lai nước Việt giàu mạnh. Hãy chia sẽ những tâm tư và trăn trở của các bạn với những bạn trẻ khác để ý thức dân tộc được nâng cao. Hãy chấm dứt sự si mê ngu muội mà Đảng CSVN đang cố tình nhồi nhét vào não bộ các bạn. Chúng ta biết tìm tòi và học hỏi để hướng đến chân – thiện – mỹ chứ không nên chịu sự sai khiến của đám lãnh đạo nhà nước ngu si và bảo thủ. Các bạn không thể tự chủ trên một đất nước không có dân chủ. Các bạn không thể tồn tại trong một xã hội không có công bằng. Đất nước Việt Nam đang cần các bạn. Một mình tôi không thể làm gì, một nhóm người lẻ tẻ cũng không đủ khả năng giải cứu non sông, nhưng cùng với toàn dân Việt Nam trên khắp năm châu bốn bể, chúng ta sẽ xây dựng lại một quê hương tự do, ấm no và thanh bình.

Hỡi tuổi trẻ Việt Nam, chúng ta hãy cùng nhau đứng dậy!

Lê Nguyễn Huy Trần

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Thơ Gởi Một Kẻ Chế Giễu 30 Tháng 4
Phan Nhiên Hạo



Mi chưa giết người
và nên cảm ơn số phận về điều đó
đừng cười nhạo tướng Loan
viên đạn của ông có hai đầu
giết lập tức VC và giết dần ông mấy mươi năm
còn mi là tay đào ngũ


Mi không mất cha
và nên cảm ơn số phận về điều đó
tuổi thơ tao như cây gai
mọc trên bàn tay rướm máu của mẹ
tưới bằng nước mắt


Mi chưa phải đói
và nên cảm ơn số phận về điều đó
tao đã từng sống chỉ để mơ
một chiếc bánh kem, thiên đàng không có thực
hạnh phúc là được ngậm cục đường
dù phải sâu răng

tao buồn nôn khi thấy mi làm trò sắp đặt
nghệ thuật với các loại thực phẩm


Mi chưa từng bị còng
và nên cảm ơn số phận về điều đó
tao chưa từng bị còng
nhưng những người tao kính phục đã bị trói
vào năm 1975
điều này khiến tao không thể ngồi im
xem mi biểu diễn trò lắc vòng chính trị


Mi chưa từng bị đe dọa
không phải vì mi can đảm
mà vì mi đã nhanh chân bốc hơi
trước khi nồi nước sôi đến độ
mi nên cảm ơn số phận về điều đó
nhưng đừng chế giễu
30 tháng 4
thật ra mi có hiểu uất ức là gì đâu
cuộc đời của mi chỉ là một dương vật cận thị
may mà có kính để đeo.


Mi chưa từng chùi cầu
không phải vì mi sang giàu còn thiên hạ chậm lụt
mà vì mi làm nghề đầu cơ
trong cơn tháo dạ của lịch sử
chuyện này thì tùy mi quyết định
có nên cảm ơn số phận hay không

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Lịch sử thời đại tường thuật bởi một người lưu vong
Phan Nhiên Hạo

tặng Loan


1. Thời đại cục súc 1975

Bọn họ từng nói gì
làm sao chúng ta nhớ hết
toàn dối trá, lật ngang, thùng rác ngập khẩu hiệu
mặt trăng thủng đạn, hồn ma mất dép
mưa suốt đêm trên mộ, mưa không rửa sạch hận thù
những tờ báo ngợi ca dùng làm giấy đi cầu
thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy,
chủ nhật số đặc biệt đít dính màu


chúng ta lớn lên bơ vơ buồn khổ
cha chết mất thây, thân thủng mấy lỗ đạn?
câu hỏi chảy máu suốt đời, không đọng lại thành tiết canh
buổi chiều trên động cát
ông nội chúng ta bỏ xứ ra đi chết vùi thây chốn này
cát trắng loá, gió không khoan nhượng
trời không mây, mắt trẻ đầy mây
con giông chui xuống đất trốn vào địa ngục
người ăn cá nhưng đây là thời cá ăn người
trên biển cả cùng lúc chúng ta hiến mình cho tự do và thần chết
chúng ta đã mất hết
cả tinh trùng trong bìu dái xạm khô
chúng ta bị triệt sản tinh thần và giết dân bằng nền y học
Niệu Liệu Pháp


chúng ta nói cùng thứ tiếng với họ
nhưng họ trả lời bằng ngôn ngữ âm binh
những âm binh đốt sách, vơ vét, phùng mang,
đeo AK, khạc nhổ, chồm hổm, sốt rét
âm nhạc trở nên nhọn như tên
mỗi ngày bắn ra từ loa sắt
xuống những mái nhà, đường phố, cỏ cây, đồng ruộng, đình chùa, bữa ăn, giấc ngủ,
khoảnh khắc yêu nhau vợ chồng ọp ẹp,
giây phút linh thiêng kẻ sắp lìa đời
đây là thời để tưởng nhớ những chiếc radio,
và thi ca. A, một cục sắt, chỉ dùng làm lựu đạn
miệng vừa ngâm, hồn đã nổ tan tành
đây là thời để tưởng nhớ những bô nhựa tuổi thơ
khi chúng ta được ăn no và bài tiết
với giấy vệ sinh mềm
khi ở trường chúng ta đổ mực lên áo nhau
nhưng không phải suy tôn những kẻ làm đổ máu
ai đã cướp chiếc radio
ai đã cướp chiếc bô
ai đã cướp đồng hồ
nhai những chiếc kim, phun ra mười hai con số
ngày tháng nào cũng nhểu nhảo nước bọt
cả dân tộc đói ăn


“thưa cô, anh Ba, người đầu bếp thiên tài
đã bôn ba mang về cho đất nước cái nồi thủng
giờ đây nhiệm vụ của chúng em là làm trò ảo thuật
biến sỏi đá thành cơm”


đây là thời chủ nhân ăn mày ăn nhặt
trong khi đầy tớ nhân dân ăn ngập mặt, ngập mũi
ăn hớt, ăn bẩn, ăn tục, ăn lận, ăn chặn, ăn cướp, ăn gian, ăn tham, ăn lường, ăn bịp, ăn suông, ăn ké, ăn chia, ăn sống, ăn lạnh, ăn nóng, ăn theo, ăn chực, ăn vạ, ăn lẻ, ăn sỉ,
ăn tất tần tật
chỉ trừ ăn năn
ăn không sợ ngày trả miếng


đây là thời của xe than
đây là thời của tàng tàng
đây là thời người sống ở nghĩa trang
và người chết ngồi ở nhà hàng
đây là thời của tan hoang ô nhục
một thời đại cục súc


chúng ta sống còn nhờ vào những củ khoai
và ước mơ một ngày kia sẽ có súng để giết người
phải, chúng ta đã nói về giết người tuổi lên mười,
về bom nguyên tử, thuật độn thổ, phép tàng hình
làm thế nào để thiến bọn lợn và thoát
nhưng thường chúng ta mơ một buổi sáng
thức dậy thấy cha đã trở về
cái chết người chiến binh đẹp như ngọn đồi trong sa mạc,
bông hoa khô, tiếng mõ chiều,
nhưng cái chết để lại những đứa trẻ bơ vơ
kêu tên cha trên đồng vắng
kêu tên mẹ trên bờ đê
khóc tuổi thơ bầm dập sân ga
lỡ chuyến tàu Thống Nhất
ôi thống nhất, lần đầu tiên biết dép lốp
những con bọ râu mềm mềm bẩn thỉu
sinh sôi nảy nở khắp xóm làng


cô chú ta đi đào mương
được thưởng con cá ươn
ngồi gặm xương trong cuộc họp phường
cuộc đời bị bể gương
dở thầy, dở thợ, dở cu li, mãi rồi cũng thường
người ta sống lần hồi với những vết thương
mỗi ngày giở ra băng lại bằng giẻ rách
không lành, không lành, không lành
penicillin bột mì và thuốc đỏ dối trá
làm thế nào diệt được vi trùng thật


chúng ta sống qua những thời khắc bị đầu độc
đến nỗi tình thương cũng gây dị ứng buồn nôn
và phẩm hạnh là trò bí nhiệm
chỉ diễn ra len lén ở nhà thờ
con người mất sức đề kháng, hoài nghi, tra vấn,
con người không đốt lửa, chỉ phều phào
“con người, một sinh vật
hai chân
không lông”
đầy sợ hãi
Nguyễn Tuân nói: “tôi còn sống đến hôm nay
nhờ biết sợ”. Con chuột nói: “tôi ăn no vì
biết tôn kính mèo”. Đặng Tiểu Bình nói:
“mèo đen mèo trắng, no problem, miễn bắt được chuột”
thôi đi các người, những vĩ nhân đậu luộc
sự thông thái của các người khiến não tôi bị bệnh trĩ


chúng ta ngủ trong mùng nhưng mùng đầy muỗi
chúng ta ở trong nhà nhưng nhà đầy bọ
chúng ta ở trong hoà hoãn của ao tù
chúng ta yêu nước nhưng yêu nước đã bị độc quyền
thương hiệu ăn khách này chỉ dành cho Đảng
những tên chuyên chia thịt ở đình làng
và một bọn lao nô tư tưởng


đất nước bụng trương
văn hoá sán lãi
con người nhai đồng loại rau ráu
Cửu Long Giang không rửa hết tưởi tanh
một thời đại bùn lầy
muốn làm người chúng ta
phải
ra
đi.



2. Thời đại ngoại vi


Hoang mang và phấn khích
chúng ta đặt chân lên đất lạ
không khí lạ, nhà cửa lạ, tiếng nói lạ,
cầu tiêu lạ, người ta lạ,
mình là người lạ
làm thế nào để tái tạo
một thế giới đã mòn
ở trục khô dầu rên rỉ


chúng ta ăn mặc chải chuốt nhưng đứng ngồi lố nhố
thói quen những con còng châu thổ
hút bụi suốt đêm trong toà nhà chọc trời
biển Seattle ngoài kia đen, lạnh cóng
ở California đứng máy suốt ngày tay chân rời rã
dây chuyền chạy quá nhanh, chúng ta đến từ xứ sở chậm
trái tim người di cư lỗi nhịp
trong sương mù San Francisco đợi xe bus
chúng ta lo sợ một lần nữa bị bỏ quên
ở Arkansa mùa đông hai mươi lăm độ dưới không
chúng ta cắt thịt bò trong những nhà máy lạnh
đôi khi cắt luôn ngón tay đeo nhẫn cưới
trên những tàu đánh cá Alaska
chúng ta ngủ vật vờ như sứa sau mười sáu giờ làm việc
trở về đất liền tiêu một phần ba tiền kiếm được
vào nhà thổ Đại Hàn
một phần ba gởi về gia đình ở Việt Nam
một phần ba trả tiền thuê phòng và mua thuốc lá
chúng ta, những người hút thuốc lá
vô địch Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ


chúng ta học ngôn ngữ mới
và nói về nó bằng ngôn ngữ cũ
phát âm thật khó khăn
như người nửa lưỡi
thường bị tảng lờ
tuy vậy, không ai bịt miệng mình
bằng băng keo, băng rôn, băng đạn, băng đảng, băng vệ sinh
chúng ta học lắng nghe
trong lặng im nước mắt
chiều kẹt xe freeway, CD lậu, ai hát:
“Bonjour, Vietnam”


đây là nơi chúng ta thấy thế giới lần đầu
những đất nước khác nhau, những sa mạc khác nhau, những cánh rừng khác nhau, những thành phố khác nhau, những nông trại khác nhau, những mái nhà khác nhau, những áo quần khác nhau, những thức ăn khác nhau, những ngôi mộ khác nhau, những con đường dẫn đến các mục đích khác nhau, thờ phượng linh thiêng hay giễu cợt,
những âm mao khác màu


chúng ta những thuyền nhân, cựu sĩ quan, vợ goá, con mồ côi
bị săn đuổi trên quê hương, đẩy vào bụi rậm
hãm hiếp nhân quyền và chửa hoang ký ức
nơi đất cũ chúng ta không có lợi tức nào ngoài bán máu
nơi đất mới tài sản duy nhất của chúng ta là hy vọng
chúng ta trải qua nhiều giờ khắc suy nghĩ về số phận
vặn đồng hồ báo thức, nhìn ngắm bức ảnh cũ, rồi đi ngủ
bao giờ cũng nhét cuốn từ điển dưới gối
phòng trường hợp gặp người lạ trong giấc mơ


lao lực lao lực lao lực
nhưng chúng ta cũng có những giờ phút ngơi nghỉ dịu dàng
dưới vòm lá tháng Tư khu vườn đầy tiếng chim không bị săn đuổi
đồng cỏ tận chân trời
xa lộ tự do
chúng ta lái xe qua đại lục mênh mông
bay đến những thành phố Á, Âu dần trở nên quen thuộc
hơn Bạc Liêu, Châu Đốc,
hơn Thanh Hoá, Ninh Bình,
hơn Hà Nội một nghìn năm xa cách


nhìn con cái mình lớn lên
chúng ta bồi hồi tương lai giống Tiên Rồng khỏe mạnh
nở trứng ở xứ người
và ngậm ngùi một quê hương đã mất
những con đường đã mất, xe đạp xanh đã mất
mùa hè hoa phượng đỏ Kontum đã mất
sông đã mất rồi biển sẽ mất
xứ sở này không phải thiên đường
đây chỉ là nơi con người không
hối
tiếc
đã
sinh
ra



ngoài trời tuyết rơi
chúng ta ngồi những đêm cô độc
rì rầm ngoài kia xe cứ cỡi lên đường
ngày mai đến qua nhanh
công lý bắt đầu bạc tóc
lịch sử không chạy, lịch sử không đi, lịch sử lết lê què quặt
chúng ta muốn lịch sử tiến lên, động tình, sinh sản
nhưng lòng người bại liệt, ý chí khô nước nhờn
Viagra nè cố lên cố lên
Việt Nam ơi


chúng ta ở đây bình nhật, bình thường
nhưng không phải lúc nào cũng bình yên
áo lính sờn cũ (mua chợ trời Mỹ)
người đàn ông làm vài ngụm rượu từ chiếc bình toong thời chiến
ngồi hàng giờ nhìn những đám mây
không kịp về phương Đông trước khi ngày tắt nắng
ông từng bị giam trong lòng đất
khẩu phần mỗi ngày một trăm hai mươi bảy hạt ngô
bao giờ cũng dành một hạt
dùng đếm thời gian
thời gian bóng tối
có mùi trứng ung
con người là sinh vật duy nhất biết cách giữ ký ức không vữa nát


sinh ra để sống dưới mặt trời
đôi khi chúng ta bị lùa vào ô nhục
bởi lũ đồng cô bóng cậu mang vũ khí
cơn điên tập thể này phải mấy mươi năm nữa mới thăng


áo choàng dài, mùa đông Illinois đằng đẵng
đây là nơi chúng ta sẽ yên nghỉ sau cùng
trong nghĩa trang tuyết trắng
cạnh bạn bè khác tộc
(chúng ta học từ họ lòng yêu đời, sự trầm tĩnh trước cái chết)
nơi đây không cần kẻ khóc mướn
bọn ăn thịt thây ma đã bị nha sĩ bẻ răng


chúng ta đến xứ sở này xa lạ
ra đi chưa hết lạ
nhưng không bao giờ thôi yêu mến
mặt hồ đại lượng
căn nhà chở che hạnh phúc
lối mòn nhỏ ven rừng con ta bước tiên khởi tự do
đây là nói chúng ta hàn gắn mình
như thợ giày khâu vết thương há miệng
sau đường dài ngập máu
sau đường dài ngập phân
sau chợ chiều cân xác chết chiến tranh
một triệu tiếng chuông không mua hết oan hồn
đây là nơi chúng ta sống đàng hoàng
và chết vào buổi chiều có cánh
bay về một xứ sở đã xa


địa lý của chúng ta ở giữa những kinh tuyến của u hoài và triển vọng
lịch sử của chúng ta như mặt trống
đau đớn và âm vang
không bao giờ im lặng
không bao giờ sơn phết
không bao giờ lãng quên.

March-July 2007

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Obama và hơn thế nữa…

Tác giả: Đào Hiếu

Sân khấu chính trị Mỹ đang quay cuồng trong điệu rock man rợ, chợt im tiếng. Có một người da đen mảnh khảnh bước lên bục diễn với cây kèn trompette. Và điệu Blue trầm lắng vang lên. Đó là Obama. Nhưng chàng không chỉ đến với điệu Blue, chàng mang cả một thế giới mới lạ được phối màu trầm của contrebasse, kèn gỗ và chất giọng khàn đục của Louis Armstrong xập xình lắc lư…Chàng mang lại sự hòa dịu, êm ái. Điệu Blue của chàng đã làm nhiều người khóc, có cả những người da trắng.

Obama là một người hùng biện, dễ mến và có chiến lược tranh cử hợp lý. Ông là sự chọn lựa của nhân dân Hoa Kỳ nhưng trước hết ông là sự chọn lựa của các thế lực tài phiệt Mỹ. Sự đắc cử của Obama đồng nghĩa với sự thay đổi chiến lược toàn cầu của các tập đoàn kinh tế ấy.
Bọn họ đã lắp Obama trên cánh cung và bắn đi. Obama là chiếc nỏ thần của Thục An Dương Vương. Cái mũi tên màu sô-cô-la hiền hòa ấy một lúc đã bắn trúng nhiều con chim: sự hiếu chiến, sự phân biệt chủng tộc, chiến tranh Iraq, Hồi giáo, lá chắn tên lửa…

Obama là điều kỳ diệu nhất trong lịch sử nước Mỹ. Là chọn lựa đẹp nhất, khôn ngoan nhất của giới tài phiệt Hoa Kỳ.
Obama sẽ làm được những gì, điều đó thời gian sẽ trả lời, nhưng trước hết Obama đã thay đổi được hình ảnh nước Mỹ trong con mắt của thế giới. Đó là điều trước đây chưa ai làm được.


Sự có mặt của Obama tại Nhà Trắng còn có ý nghĩa rất lớn rằng: kể cả kẻ ngạo mạn nhất, hung hăng nhất, giàu mạnh nhất như Mỹ rốt cuộc cũng phải xét lại mình, phải tìm cách thay đổi. Cái đó Marx gọi là “biện chứng”. Nhưng tiếc thay những người tự nhận là marxiste như đảng cộng sản Việt Nam, như đám cầm quyền “ăn vạ” ở Bắc Triều Tiên hiện nay, như các nhà lãnh đạo còm cõi quá đát ở Cu Ba… lại không hiểu cái phép biện chứng ấy. Đúng ra là họ rất sợ sức mạnh của quy luật biện chứng và tìm mọi cách để ngăn cản sự phát triển của quy luật ấy. Thực chất, nói theo ngôn ngữ Mác-xít, họ là những kẻ phản động.

Họ ít học, lại hẹp hòi, tiểu nhân, độc ác. Miệng họ nói “hòa giải, hòa hợp dân tộc” nhưng tay họ cầm súng dí vào lưng, cầm còng số 8 khóa vào tay, cầm dây thòng lọng tròng vào cổ những người Việt Nam đã bại trận, đã bị tước vũ khí, đã bị lột sạch, trần trụi…

Họ không có kiến thức và lòng nhân ái để hiểu rằng tháng 4 năm 1994 khi Nelson Mandela, người bị giam giữ hơn hai thập niên trong nhà tù, lên làm tổng thống Nam Phi đã không tìm cách trả thù những kẻ đã đàn áp nòi giống mình suốt 300 năm. Ở Nam Phi lúc ấy chẳng những đã không có “học tập cải tạo”, không có dí súng vào lưng, treo cổ hay đày đoạ đối phương trong lao dịch như ở Việt Nam mà chính quyền của Mandela gần như giữ nguyên trạng bộ máy hành chính và cả bộ máy cảnh sát. Các đảng phái chính trị vẫn hoạt động tự do bình thường. Tất nhiên vẫn có những phiên tòa xử các tội phạm phân biệt chủng tộc trong chế độ Apartheid nhưng không kể đến màu da, đảng phái, cũ mới. Các chánh án và luật sư phần lớn là người da trắng từng hành nghề trong chế độ cũ vì họ có kiến thức và hiểu biết luật pháp.

“Khi ông Mandela rút khỏi chính trường, nhiều người lo ngại sẽ có phân biệt chủng tộc ngược của người da mầu. Nhưng Thabo Mbeky, người kế tục sự nghiêp của Mandela vẫn tiếp tục chính sách hòa giải dân tộc, và về nhiều mặt, nhất là kinh tế, còn rộng mở hơn ngừời tiền nhiệm.” (trích bài ‘Nhìn Nam Phi ngẫm đến Việt Nam’ của Oldmovie 13)

Mùa đông năm 1997, tôi có dịp sang Đức, ngụ tại Potsdam. Buổi sáng tôi gặp một ông già người Đức ngồi ăn phở tại quán của người bạn tôi. Với vốn liếng tiếng Anh không lấy gì làm lưu loát lắm ông khoe ông là đại tá phi công của chính quyền Đông Đức cũ. Tôi hỏi:
-Thế khi nước Đức thống nhất bác có phải đi học tập cải tạo không?
Ông già tỏ vẻ ngạc nhiên và nói rằng chẳng những không có “cải tạo” mà ông còn được chính quyền mới trả lương hưu nữa.

Nhưng ngoạn mục nhất là sự xuất hiện của nữ thủ tướng Angela Merkel. Bà sinh ở Đông Đức, từng là sinh viên của trường đại học Leipzig, đậu tiến sĩ vật lý năm 1986, từng là đại biểu quốc hội của chính quyền cộng sản Đông Đức. Thế mà khi nước Đức thống nhất bà lại được thủ tướng Helmut Kohl bổ nhiệm làm bộ trưởng phụ trách về phụ nữ và thanh thiếu niên.
Ngày 23/11/2005 bà đắc cử chức Thủ tướng Chính phủ Đức. Sự đắc cử của bà Angela Merkel cũng ngoạn mục không kém gì thắng lợi của Obama.
Rõ ràng là những người cầm quyền ở Âu Mỹ (và cả Nam Phi) dù bị mang tiếng là thực dân, đế quốc… nhưng khi cần cao thượng họ là những người cao thượng, khi cần nhân ái họ là những người nhân ái, khi cần lẽ phải họ là những người rất tôn trọng lẽ phải. Còn Việt Nam chúng ta, suốt trong chiều dài lịch sử từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, Tây Sơn… chỉ thấy trả thù, trả thù, trả thù, chỉ thấy những trò hèn hạ như tứ mã phanh thây, đào mồ cuốc mả cho lính đái vào đầu lâu, tru di tam tộc, cửu tộc, chém ngang lưng, chôn sống tập thể, đấu tố, thủ tiêu, ám sát…

Đó là lỗi của ai vậy? Có phải tại cái “gen” của nói giống Lạc Hồng? Xin thưa, không phải đâu. Bởi vì Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Pôl Pôt, Hitler, Staline…đều thế cả. Đó là lỗi của bọn cầm quyền. Nếu chúng dã man hoặc theo những học thuyết dã man, chúng sẽ đẩy cả dân tộc vào sự man rợ.
Nhân dân không có lỗi gì cả.

Sự xuất hiện của Angela Merkel, Barack Obama, Nelson Mandela, Thabo Mbeky… là thành quả của sự hối lỗi, sự điều chỉnh, sự xét lại của Quyền Lực tại các nước ấy.
Hãy vứt những cái đầu tủn mủn vào đống phế liệu của lịch sử. Việt Nam cũng đang cần một sự hối lỗi, một sự điều chỉnh, một sự thức tỉnh như thế.

ĐÀO HIẾU

Post Reply