Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Thư Bồ Nhí Gửi Vợ



Thưa bà,

Dù chúng ta có vô cùng xung khắc, chúng ta vẫn phải nhất trí một điểm: chồng bà là đàn ông. Mà đàn ông thì sao? Ðàn ông thì ham thích nhiều thứ. Ham thích đến mãnh liệt. Và, bà đừng dấu em, bà hãy công nhận rằng , phụ nữ chúng ta yêu đàn ông vì họ ham thích và biết cách thực hiện nó (Chúng ta cũng ham thích nhưng thực hiện chủ yếu bằng cách mua nó). Ông thì thích máy móc, ông thi thích kiến trúc, ông thích vật lý và hóa học, ông dại hơn một chút thích thơ văn. Toàn những ham thích có lợi cho xã hội.

Nhưng đàn ông không chỉ ham thích một thứ. Nếu gà chỉ thích giun, bò chỉ thích cỏ tươi hay thỏ chỉ thích củ cải thì đàn ông lại thích đa dạng. Chuyện ấy trong đá bóng , trong ẩm thực, trong bia bọt không sao, nhưng trong vấn đề phụ nữ, tính đa dạng của nó làm cuộc sống thêm rắc rối.

Bà thân mến,

Em tin rằng, bà có rất nhiều ưu điểm. Sở dĩ em quen với ông là do ông ấy thông minh (chứ không phải chỉ có tiền như thiên hạ vẫn đồn). Và, một người thông minh không khi nào chọn vợ quá kém. Thậm chí, bà không quá kém, bà còn rất nổi bật ở nhiều phương diện.

Theo như ông tiết lộ một cách đầy thành kính, bà nấu ăn ngon, bà rửa bát sạch, bà lau nhà bóng và bà đi chợ rẻ. Bà còn đối xử tốt với chó, mèo …. Em xin thú thực , tất cả các phương diện đó, em đều thua bà. Khi em nấu món canh, ai cũng nghĩ là món xào. Khi em rửa bát, tốt nhất lúc dùng nên rửa lại. Khi em lau nhà hay quét nhà, em để cái đống rác chỗ nọ chỗ kia. Chợ duy nhất em đi là chợ mỹ phẩm. Còn chó mèo, em chỉ nuôi chúng trong tranh.

Nhưng ông vẫn thích em. Tiện đây xin tiết lộ: thời gian thích không hề ngắn, cường độ thích không hề yếu và chi phí thích không hề thấp. Bà kinh ngạc. Bà không tin ư? Bà nhớ rõ ông vẫn về nhà, vẫn ăn cơm tối, vẫn lịch sự với bà v.v.. Bà cảm giác chả có khe hở nào để em lọt vô cái pháo đài do bà xây dựng, canh gác và tuần tra.

Bà nhầm.

Em xin phép không đi vào chi tiết. Em chỉ nói một cách văn học rằng, không có gì ngăn cản được con tim. Nhất là một con tim già lao về một con tim trẻ. Như trên đã nói, em thua bà về một tỷ thứ.

Ðúng một tỷ thứ, chả bớt phần nào. Nhưng, em lại hơn bà hai tỷ.

Bà sẽ gầm lên. Bà sẽ quát: hơn ở chỗ nào?

Thưa bà, những thứ em hơn lại vô cùng vớ vẩn. Em thành thật tin thế. Nhưng đàn ông, tiếc thay, lại không tin.

Em biết chớp chớp mắt. Em biết ngồi gần ông mà lại vẹo người. Em biết đánh vào lưng ông, hay đánh ở chỗ thấp hơn, vừa đánh vừa cong môi nhìn đi chỗ khác. Em biết hét lên khi thấy con sâu và ù té chạy khi gặp con thằn lằn.

Cái gì em cũng ngạc nhiên và nhờ ông giải thích. Em tin ông là vô địch về trí thức, về thể thao, và luôn thể hiện lòng tin ấy ra mồm. Mỗi lời nói của ông, với em, đều là chân lý. Em khâm phục khi ông uống bia. Em kiêu hãnh lúc ông châm thuốc lá. Em ngồi nép mình khi ông tụ tập. Em lo lắng nhưng chẳng bao giờ tra hỏi lúc ông đi khuya. Và, quan trọng nhất, thưa bà, da em trắng, eo em nhỏ, môi em đỏ và chân em chả khác chân dài. Em mặc váy hồng, em thắt nơ xanh và em dùng dầu thơm của Pháp. Nước Pháp, chắc bà cũng biết, vô địch về các loại dầu thơm.

Khi ở bên ông, em không ngốc và không tham lam như các phim truyền hình quay vội vàng mà bà vẫn xem đâu ạ. Chúng em không hề bàn về tiền bạc. Hai người đều mơ tới ánh trăng, tới những khát vọng chưa thực hiện và đều thích nhìn sao trên trời. Hai người có thể xung đột vì một bài thơ, giận dỗi vì một bức tranh và bỏ ra về vì một bông hoa bày không đúng cách ( trong khi ông và bà giận dỗi vì một mâm cơm, cãi nhau vì hoá đơn tiền điện và ra khòi nhà vì chậu quần áo chưa phơi).

Thưa bà,

Ðấy, em tới ông, ông tới em là như thế đấy. Nó thanh cao thì em không dám nói, nhưng nó cũng chẳng phàm tục như sách vụ án viết đâu. Em xin bà hãy mừng vì điều đó.

Tuy ông phạm tội nhưng tội ấy còn sang. Bà hãy tự an ủi như thế. Tại sao em viết thư này? Tại vì em xin trả lại ông cho bà. Chúng em nhất trí cái gì đẹp thì phải ngắn và chúng em đã ngắn đủ dài. Toàn bộ sự tinh tế của tình yêu nằm ở chỗ này, và bà không biết được.

Xin bà hãy dang tay đón ông về. Em lấy danh dự thề rắng, ông không sứt mẻ quá nhiều, đơn giản vì ông có còn nhiều đâu mà sứt mẻ. bà hãy coi ông như vừa sau chuyến du lịch mạo hiểm trở lại nhà. Cần chở che và sẵn sàng che chở.

Em đi đây. Cuộc sống là khám phá và em thích khám phá nhiều nơi. Bà đừng trách em. Bà cũng đừng tự trách mình. Khi em bằng tuổi bà, em cũng chả hơn gì bà đâu.

Chúc bà vui khoẻ.

===============================
Thư của bà vợ gửi cho bồ nhí!



Thưa cô,

Tôi đã đọc thư của cô một cách bình tĩnh. Đúng như cô đã nói, ở tuổi tôi và ở địa vị của tôi, sự bình tĩnh luôn luôn có thừa.

Này cô,

Việc chồng có bồ nhí khiến tôi ngạc nhiên. Đó là cảm giác đầu tiên, và thành thật với cô, nó hơn cả cảm giác căm phẫn.

Vì sao vậy?

Thưa cô, vì tôi tin chắc rằng lão ( hãy gọi sự vật với đúng tên và đúng tuổi của chúng cô nhỉ) đã đuối sức rồi, nói một cách chắc chắn, một cách không có gì phải bàn cãi cả.

Khi viết thư cho tôi, cô có vẻ tự đắc pha chút hả hê. Cô cảm thấy mình giật được từ tay bà khác một mỏ vàng, và mình có những phẩm chất rất khác thường nên mới gặp may như thế.

Cô nhầm thảm hại quá, cô ơi!

Quả thật lão là một cái mỏ. Hay nói chính xác hơn, đã từng là mỏ. Điều ấy cách đây ba mươi năm về trước, cả thành phố đều phải công nhận chứ đâu cần phải một cô gái có trí tuệ siêu việt gì.

Nhưng trên, trong và dưới cái mỏ ấy, tôi đã đào, đã cuốc, đã đẽo, đã nổ mìn, khai thác rầm rộ, quy mô mấy chục năm.

Và giờ đây, mỏ chỉ còn khung, còn lai sự hoang tàn. Chỉ có đôi mắt ngốc của cô, chỉ có cặp môi dại của cô và chỉ có tí não khờ của cô mới không nhận ra điều đó.

Cô vớ được lão, khi tôi trong một chừng mực nào đó, đã mặc cho lão tự do. Cho lão có cảm giác sổng chuồng. Đàn ông sống bằng ảo tưởng cô ạ, và nuôi dưỡng cái ảo tưởng đó một cách khéo léo là nhiệm vụ của phụ nữ chúng ta.

Tôi không vui gì khi lão có bồ. Nhưng chớ nói rằng tôi quá hoảng sợ vì điều đó. Tôi quá hiểu đứa khác sẽ được bao nhiêu trong khi mình đã vớ bao nhiêu. Phần của cô, hỡi ôi, thật là thảm hại.

Cô khéo là ngây thơ và nhí nhảnh. Cô té xỉu khi gặp thằn lằn và ngã lăn ra khi gặp tắc kè. Dạ thưa cô, khi bằng tuổi cô, tôi cũng ngây thơ như thế. Nhưng lúc này, gặp hai của đấy, tôi chỉ đập một cái cho bẹp dí là xong.

Rồi cô khoe là cô biết chợp mắt, biết ngả đầu và biết cười he hé nghiêng nghiêng. Ôi dào, những trò đó ngày xưa tôi làm mãi. Và bây giờ vẫn có thể làm, thậm chí còn làm hay hơn cô ấy chứ. Nhưng vì mục đích gì, gặt hái gì khi mọi thức đã no nê? Cô nhìn lão trong quán cà phê hạng sang. Trong com-lê và cà vạt đắt tiền. Còn tôi có khá nhiều dịp (nhiều hơn cả cần thiết) nhìn lão trong quần đùi rộng, trong áo may ô chả hiểu là màu gì.

Và tôi cam đoan rằng, cái tôi nhìn mới là cái thật. Cái cô nhìn là giả. Cô thừa biết thế, chẳng qua cô đang tự dối mình. Cô chê tôi chỉ biết rửa bát, nấu cơm. Cô thương tôi vì tôi chỉ chăm chăm lo cái nhà sạch bóng. Nhưng tôi lại thích vậy. Vì đấy là nhà tôi và lão chỉ có nửa phần. Còn lão có bóng hay không, có sạch hay không, lão phải tự lo. Tôi còn bận lo cho bản thân mình.

Tôi không chúi mũi vô bếp như cô tưởng và như lão tưởng chút nào. Tôi say mê đánh bài. Tôi nghiện làm đầu và giũa móng tay. Tôi ham thích "tám" và hăng hái đi chùa. Tôi khoác áo lụa mỡ gà, khoác vòng cẩm thạch và tôi sắm đủ cho mình ( bằng tiền lão, dĩ nhiên!).

Còn việc cô ngắm trăng cùng chàng, đọc thơ cùng chàng hay đốt nến cùng chàng thì xin cô hãy cứ tự nhiên. Những thứ vớ vẩn và phù du đó ngày xưa tôi cũng nghĩ là ghê gớm lăm. Nhưng tôi nhanh chóng phát hiện ra chúng suốt đời loanh quanh như thế, và chả có lợi ích gì. Chúng chỉ như hạt tiêu rắc vô bát phở, không hề bổ béo, chỉ khiến nó dậy mùi. Mà mùi thì tôi đã chán. Chán không phải do tâm hồn tôi cằn cỗi, mà là do đã quá đủ rồi!

Cuối thư cô cho biết đã chuồn ra khỏi lão, hoặc lão đã chuồn ra khỏi cô. Tôi chả hiểu ai thoát được ai. Nhưng chắc chắn là tôi suýt thoát. Tiếc quá. Giá mà lão đi với cô, giá như lão ảo tưởng về sức mình thì tôi đã có cơ hội tuyệt vời để lại được tung tăng.

Tôi tin chắc mình tung tăng chả khi nào muộn, khi mình kiêu hãnh, mình không nghèo khó và mình có sự mặn mà.Những thứ đó cô còn lâu mới đạt tới, cô bé đáng thương oi!

Cô yên tâm. Tôi sẽ đón lão về. cáo chết còn quay đầu về núi, trong khi lão chả phải là cáo, lão là người. Tôi cũng chả giày vò, chả đay nghiến chi đâu. Tôi không phải hàng tôm hàng cá. Tôi chỉ cười khẩy mà thôi. Một nụ cười mà đã làm lão nhớ đến cả chục năm.

Chúc cô may mắn trên con đường chinh phục các lão khác. Thế gian này chả thiếu những ông già handicap.

Cô cứ việc xông lên.

Chào cô.







3G McKeno siu-tìm trên Internet
band4 3G McKeno

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

ĐÔI BỜ SINH TỬ

Có thể một ngày em đến với anh,
Không mang theo lời yên vui hò hẹn,
Là ngày ấy anh lìa đời nhắm mắt,
Chưa kịp gĩa từ cho chuyến đi xa.

Góc vườn nhà anh vẫn nở bụi hoa,
Chim vẫn hót líu lo chào buổi sáng,
Họ vừa thức dậy, những người hàng xóm,
Đâu biết anh đi không trở về nhà.

Cuộc sống này ngắn ngủi một giấc mơ,
Ta vẫn đứng giữa đôi bờ sinh tử,
Kiếp người buồn vui, điều lành điều dữ,
Khỏang cách vô hình vẫn ở quanh đây.

Có thể một ngày em sẽ buông tay,
Không viết nổi một câu thơ tình tự,
Em chập chờn giữa đôi bờ sinh tử,
Gọi tên anh trong lúc tỉnh lúc mê.

Anh đến thăm em với nắng ngoài kia,
Nắng vẫn thế sao bỗng thành xa lạ?
Bến bờ này giấc mộng đời tàn tạ,
Bến bờ kia đang chờ đợi em về.

Cửa sổ nhà em gío vẫn tràn trề,
Chắc không nhớ em từng ngồi ở đó?
Ngày em vui tâm hồn em rộng mở,
Ngày em buồn cửa khép lại âm u.

Con đường nhà em người vẫn đi qua,
Lá vẫn rụng như không hề hay biết,
Có một người sẽ ra đi biền biệt,
Con đường này sẽ thiếu bước chân em.

Một kiếp người như ngọn cỏ mong manh,
Mặt trời lặn khi chiều tà nghiêng bóng,
Ngày sắp hết, một ngày ta đã sống,
Biết mai này còn gặp lại nhau không?

Nguyễn Thị Thanh Dương

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

THÁNG NĂM NGÀY CỦA MẸ


Tháng năm dương lịch là ngày giổ của mẹ và năm nào cũng vậy, cứ đến ngày này ở Phan Thiết, cả gia đình xa gần tụ họp về căn nhà cũ, để cùng ôn lại quảng đời cơ cực của mẹ mà khóc. Riêng tôi, người lính già biệt xứ, không nhà, mất nước, từ lâu chỉ còn biết rửa mặt bằng lệ mặn, để thay cho lòng hối hận của một đứa con, cứ coi như là bất hiếu vì suốt bao chục năm qua, đã vì đời mà bỏ mẹ ở chốn quê nghèo.
Cha mất sớm trong cơn binh lửa từ năm 1955, mẹ ở vậy thủ tiết nuôi con khi tuổi vẫn còn xuân thắm. Bầy con mấy đứa, lớn lên trong cảnh đói nghèo lết lê khắp phố phường , cồn bãi của chốn biển bạc rừng tiền.

Mẹ tự mình gồng gánh hết trách nhiệm một đời, thay chồng nuôi con, đứa nào cũng được ăn học tới chốn, qua đôi tay trìu mến đùm bọc của mẹ hiền.

‘ Trong tim , ai cũng có một dòng sông .. ’ ’ tiếng ca và lời nhạc của ai đó nghe thật thảm buồn, đã đưa ta sống lại những ngày thơ ấu, cực khổ nhưng êm đềm với vô vàn kỷ niệm, theo con nước lớn ròng, giữa đôi bờ Mường Giang lao xao sóng vổ. Tôi được sinh và lớn lên ở bên bờ con sông quê hương đó, với tôi nó chẳng những là dòng sông tươi mát của tuổi thơ, mà còn là dòng sữa mẹ ngào ngọt nuôi con một đời :

mỗi chiều khi nắng tắt ngoài hiên,
con lại bâng khuâng nhớ mẹ hiền
có lẽ giờ người đang tựa cữa
đợi thằng con chịu kiếp truân chuyên
con đã ra đi cuối nẻo đời
ngày về thăm thẳm bước mù khơi
Phan Thiết còn đó, mẹ còn đó
Con nhớ từng đêm, với rả rời
Con nhớ không nguôi dáng mẹ hiền,
Cho con lạc thú tuổi hoa niên
Mẹ là dòng suối đầy trong mát
Ðã giúp cho con tẩy lụy phiền
Mẹ như trăng sáng giữa khung trời
Soi lối con đi tránh lạc loài
Con vẫn thèm nghe lời mẹ dạy
Vẫn cần có mẹ lúc đơn côi
Mẹ ơi, giờ mẹ ở phương nào?
Bên gối con đang khóc nghẹn ngào
Thương mẹ tuổi già nua chiết bóng
Héo mòn, qua tháng đợi, ngày đau..

( Nhớ Mẹ).


Giờ đây Mẹ đã ngủ yên trên quê hương yêu dấu, mặc cho dòng đời và dòng sông ròng lớn đổi thay. Nhưng với tôi con sông cũng như lòng mẹ, một đời đã hy sinh tần tảo vì con, làm sao quên được.

Quê người, tháng tư âm lịch mùa xuân còn chớm với những giọt mưa phùn lất phất, dù trời chỉ thoáng một chút heo mây nhè nhẹ. Ven đường những cánh phượng vỹ đầu mùa, đã thấy chớm màu hoa rực rỡ nhưng vẫn không làm nở hoa trên đôi bờ vai khô héo của đời.

Mưa ấy nước mắt ấy, ngoài những giọt mưa tình ái, còn là biển lệ trời thương của các trang hiếu tử, mà câu chuyện của Bồ Tát Mục Kiền Liên , xuống tận âm ty để tìm mẹ là Thanh Ðề đang chịu cực hình vì tội buôn Thần bán Phật, khi còn sanh tiền. Nhờ tình mẫu tử thiên thu bất diệt, đã cảm động đến Phật Trời, nên cuối cùng Mẹ được tha thứ mọi tội lỗi để sám hối ăn năn :

‘ Mục Liên dù đã hóa thân
Vì thương từ mẫu, muôn phần họa tai.. ’ ’ ’ ’


. Thật vậy, ngoại trừ đất đá và kẻ vô tri, còn vạn vật từ con người , muông thú cho tới cỏ cây, đều do MẸ cưu mang và sanh thành. Cho nên nơi tâm tư của tất cả mọi người, trong tiềm thức siêu thế, mơ hồ hay hiện thực , hình ảnh Mẹ luôn vẫn trang đài, diễm tuyệt, đáng để ta tôn thờ và trìu mến, dù rằng ‘ công cha như núi Thái Sơn ‘ còn mẹ hiền, chỉ như ‘ chuối ba hương, xôi nếp một và đường mía lau ‘.

Nên người đời ai cũng cần có mẹ, dù là trẻ thơ hay người trưởng thành. Những đứa trẻ mồ côi, cho dù có được người thân còn lại nuông chiều , nuôi dưỡng tử tế cho mấy, lớn lên cũng cảm thấy tâm hồn mòn héo, khô cằn. Bởi vậy, người đời đã viết :’ mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi me lót lá mà nằm ‘.Riêng người lớn tuổi, khi mất mẹ, cảm thấy chơi vơi như mất điểm tựa, nên cũng cô đơn lạc lõng như trẻ mồ côi. Tóm lại mẹ là nguồn gốc của mọi tình cảm yêu thương trên đời, cho ta biết thế nào là ngọt bùi ấm lạnh và nguồn thương yêu cao cả của kiếp nhân sinh. Tình mẹ bao la đã biến nữ hầu tước De Sévigné, một phụ nữ tầm thường, trở thành một nhà văn nữ nổi tiếng của Pháp, cách đây 300 năm, qua những bức thư bất hủ viết cho mẹ. Tình mẫu tử bao la trùng hằng miên viễn, đã theo thời gian trở thành nguồn cảm hứng vô tận, như con thuyền bát nhã, đưa con người trần tục , đến gần các đấng từ mẫu, trong mọi tôn giáo lớn của hoàn cầu.

Trong dòng lịch sử Hồng Lạc, chúng ta có Mẹ Âu Cơ , quốc mẫu của dân tộc Việt và được nối tiếp bởi một trái tim từ mẫu thời cận sử : Thái Hậu Từ Dũ, một trái tim nhân từ của các bà mẹ Việt Nam :

‘ Gió Ðộng Ðình mẹ ru con ngủ
trăng Tiền Ðường ấp ủ năm canh
.. bống bồng bông, bống bồng bông
võng đào mẹ bế con rồng cháu tiên ..( ca dao )


Riêng trong tín ngưỡng bình dân , ta có Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở miền bắc và Mẫu Thiên Y A Na, dù phát nguồn từ Chiêm quốc, nhưng từ thế kỷ XVI trở về sau, đã được người Việt phụng thờ , mà Hội Ðiện Hòn Chén hay lễ Viá Mẹ hằng năm vào rằm tháng bảy tại Thừa Thiên, là một minh chứng . Ngoài ra, còn có Ðức Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát của Phật Giáo và Ðức Me Ðồng Trinh Maria trong Ky Tô Giáo..

Hằng năm, tại các nước Âu Mỹ đều cử hành long trọng ngày ‘ Nhớ Ơn Mẹ (The Mother’s Day)’ vào tháng năm dương lịch. Riêng các nước Ðông Nam Á theo Phật Giáo, vào ngày rằm tháng bảy âm lịch, đều cử hành long trọng Hội Vu Lan Bồn. Cả hai lễ hội trên, tuy hình thức có khác biệt nhưng vẫn chung nội dung với ý nghĩa ‘ VINH DANH CÔNG ƠN SINH THÀNH DƯỠNG DỤC CỦA TỪ MẪU ‘.Ðây là một ngày lễ lớn và cũng là dịp để con cái tu nhơn tích đức, làm việc từ thiện trả ơn , báo hiếu cho cha mẹ mình, dù còn sống hay đã qua đời.

1- Ý NGHĨA CỦA MẸ TRONG NGÀY MOTHER’ S DAY:

Trong kho tàng văn chương của dân tộc Việt, ta thấy còn lưu lại rất nhiều bài hát ru, đọc lên thấy âm điệu rất là khoan thai, nhịp nhàng và nghệ thuật. Về nội dung, hầu hết các bài hát ru trên, được xem như là lời của Mẹ hiền đang vỗ về tâm hồn con thơ, nên rất gần gũi với mọi bà mẹ ở ngoài đời :

‘ Gió mùa xuân, mẹ bâng khuâng hỏi
hoa trên đồi, hoa trên đồi
sớm tối còn hương
Có phải chàng Trương, gốc miền Nam Xương..
xa vắng xóm làng vì đang ở chiến trường
hãy nín nín đi con, hãy ngủ ngủ cho ngoan.. ’ ’ ’ ’


Nói chung lời mẹ ru con, đượ= c đánh giá như một thứ âm nhạc nghệ thuật khởi đầu và cuối cùng của đời người. Mẹ chính là người ca sĩ đầu tiên đối với con mình, bằng cả một tấm lòng, qua tiếng ru và nhịp võng, tạo ra cả nguồn hạnh phúc trời biển đối với tâm hồn trẻ thơ, với tình thương yêu dịu hiền, chứa đầy những khái niệm đạo đức nhân nghĩa, như môt khúc dạo đầu, đưa con thơ vào nẽo đời hạnh phúc.

Nay lớn lên sống lang thang khắp mọi miền đất nước, tình cờ có những đêm khuya, đi qua những phố phường xa lạ, ngập đầy xe cộ và đèn trăng, bổng dưng thấy thèm nghe lại tiếng khóc của trẻ thơ và lời ru của mẹ.

Ngày nay từ Âu sang Á và gần như ở đâu, cũng có những tượng đài , thơ văn, bài hát, tuồng kịch .. để ca tụng công đức biển trời của người mẹ, mênh mông tám hướng như biển Thái Bình. Bởi Mẹ là nguồn ngọn của mọi tình thương trên cõi đời này . Mẹ cũng là một hình ảnh tuyệt diệu , diễm hằng, muôn trùng ngời sáng, không bao giờ có thể thay thế được. Ôi sung sướng thay cho những ai còn Mẹ và cũng tủi xót cho những người mất mẹ nửa đời, mỗi khi tưởng nhớ, chỉ còn lặng lẽ ước ao ngóng về xóm nhỏ, nơi nhũng bờ bụi khóm tre, ngàn năm lau lách xạc xào. Con đã bước qua hết hai phần đời, để được thắm thía rằng , chỉ có một nguồn suối tình thương mang tên Mẹ, là vĩnh cửu không bao giờ khô chảy.

Ôi cảm động biết bao, khi nhớ lại đoản văn đã học thời niên thiếu ‘ Tôi đi học ‘ của Thanh Tịnh ‘ Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi, dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp.. ’ ’ hay nổi nhớ mẹ của Lưu trọng Lư ‘ Tôi nhớ me tôi thuở thiếu thời, lúc người còn sống tôi lên mười, mỗi lần nắng mới reo ngoài nội, Áo đỏ người đưa trước dậu phơi.. ’ ’ hay giai thoại của Hồng Hà Nữ Sĩ Ðoàn Thị Ðiểm, trước sự hỗn láo của tên sứ Tàu, đã lấy Me Việt Nam , làm đề tài , khi bà ứng khẩu một câu đối trả đũa giặc :
‘ Nam canh nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh
( một tấc đất ở nước Nam, không biết bao nhiêu người cầy )
= ; ‘ Bắc quốc đại trượng phu, giai do thử đồ xuất
( những người anh hùng bên Tàu, cũng từ chỗ đó mà ra)

Câu đối vừa thanh lại vừa tục, hàm ý rằng dù là ai chăng nửa, thì cũng do Mẹ sinh thành, không có người, thì chẳng bao giờ có con. Chẵng vậy mà nhà văn Pháp Edmon de Amacid, đã viết trong ‘Tâm Hồn Cao Thượng’, Hà mai Anh dịch rằng :’ Người Mẹ sẵn lòng , đem một năm hạnh phúc của mình, để đổi một giờ đau đớn cho con. Người Mẹ cũng sẵn sàng hy sinh cả tính mệnh , để cứu sống con mình. Con ơi, suốt đời con , sẽ có những ngày buồn rầu đau thương, và cũng là chuỗi ngày sầu thảm nhất : Ðó là ngày con mất mẹ ‘.

Giờ mới hiểu tại sao, có những đứa con, do hoàn cảnh mà phải tha phương , biệt xứ, lưu lạc quê người, lại là những kẻ khao khat tình mẫu tử, nhung nhớ kỷ niệm, dù rằng đó chỉ là những hình ảnh đơn sơ mộc mạc nơi chốn quê nghèo :

‘ Chiều chiều ra đứng ngõ saui
trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều
Mẹ ơi đừng đánh con đau
Ðể con bắt ốc hái rau mẹ nhờ
Ghe bầu trở lại về đông
Con gái theo chồng, bỏ mẹ ai nuôi ?


Ðó là những câu ca dao hay nhất từ trước đến nay, đọc từ đầu đến cuối không tìm thấy một chữ nào thần bí hay cầu kỳ nhưng trong ý nghĩa và mùi vị, thì đượm thắm nồng nàn , khiến cho người ta phải đau khi nhớ và không cầm nổi nước mắt thương tủi khi thực sự �= �ối mặt với sầu buồn. Cũng cùng trong cái hình ảnh trên, người buồn hồn lại thêm buồn, khi nhà ai bên ngõ, bỗng dưng vô tình có tiếng gọi con, trong khi lưng trời, chiều tàn, đàn chim về tổ, ríu rít gọi nhau, làm cho nổi nhớ quay quắt không ngừng, khiến cho đứa con lạc bầy, bừng bừng nhớ mẹ, rưng rưng hồi tưởng những lúc nói láo tránh đòn, khi về nhà trễ vì ham chơi với bạn sau khi tan trường.

Rồi thì lưu lạc mười phương, cơ hàn đói lạnh, gian truân tù ngục, hận hờn thương tủi, chỉ một mình con gánh chịu, chính là lúc nước mắt lưng tròng , bâng quơ tưởng tiếc, cái thời ngồi chờ mẹ về , để có những món quà của buổi chợ quê, mà mẹ luôn dành sẵn :

‘ cơm người khổ lắm mẹ ơi
không như cơm mẹ, chỉ ngồi xuống ăn ‘.


2-NHỮNG GƯƠNG HIẾU TỬ XƯA NAY ÐƯỢC ÐỜI XƯNG TỤNG :

Mẹ là nguồn ngọn của mọi tình thương trên cõi đời, nên rất phù hợp với chân lý của mọi tín ngưỡng, đều lấy nhân hiếu làm căn bản xử thế và hành đạo. Bởi thế con người, trong lúc gặp hoạn nạn đau khổ, thì thường than thầm hay gào to :’ Mẹ ơi con khổ quá’ , đồng thời với lời cầu khẩn các đấng thần linh giúp đỡ. Do trên , từ trước tới nay, tự đông sang tây, đã có mẹ hiền thì cũng không thiếu gì những gương hiếu tử, đáng làm gương cho hậu thế soi chung muôn đời. Những câu chuyện kể sau dây, chỉ là những chiếc lá lẻ loi trong rừng thơ, nhạc, truyện, ký.. mà nhân thế kim cổ đã sáng tạo, để vinh danh những trang hiếu tử ngời sáng muôn đời .

+ GƯƠNG HIẾU TỬ :

Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí, có viết về Nguyễn Văn Liễu, người Phan Thiết, thuộc phủ Bình Thuận. Năm lên 8 tuổi, mồ côi cha, ông thờ mẹ rất có hiếu. Khi mẹ chết, làm lều bên mộ me tới ba năm, người đương thời ai cũng xưng tụng. Năm Minh Mạng thứ 8, vua nghe tiếng, biểu dương là trang hiếu tử.

+ MẸ TÔI CHẾT LÀ HẾT :

Joseph Sadese sinh năm 1935 tại Toulouse (Pháp). Năm 1956 cha bị thất nghiệp, ông phải tình nguyện đăng lính, để có tiền giúp đở gia đình. Sau đó lại chuyển sang binh đoàn lính đánh thuê Lê Dương, để lấy trước tiền tử tuất, gởi về nhà lo thuốc thang cho mẹ bị bệnh nặng, cũng như giúp đỡ các em kiếm sống.Tại Algerie, trong một trận kịch chiến, ông bị thương nặng phải cưa một chân nhưng vẫn xin ở lại trong quân ngủ, để có đủ tiền lo cho mẹ già, em dại. Nhưng rồi năm sau, nhận được điện tín, báo tin mẹ già đã qua đời, , bèn tức tốc trở lại quê, thì người nhà đã chôn mẹ. Ông vội chạy ra nghĩa trang, ôm mồ mẹ than khóc thảm thiết và nói :’ mẹ ơi, con đi lính là để lo cho mẹ, nay mẹ không còn, thế là hết ‘.

+ VÌ MẸ TẬN TRUNG BÁO QUỐC :

Nhạc Phi (1103-1142) là một danh tướng, đồng thời cũng là= một vị anh hùng của Trung Hoa. Ông sống vào thời Nam Tống, tự là Bằng Cử, người Huyện Thang Âm, tỉnh Hà Nam. Nhà nghèo nhưng học hành chăm chỉ , lại được từ mẫu giáo dục từ thuở nhỏ , nên tài đức vẹn toàn. Trước khi trở thành đại tướng nắm giữ binh quyền cả nước, mẹ ông đã khắc vào vai con bốn chữ : ‘ Tận Trung Báo Quốc ‘ . Do trên suốt đời Nhạc Phi chỉ biết vì dân vì nước và cuối cùng đã bị tên Hán gian Tần Cối, tư thông với giặc Kim, hãm hại, vu cáo, chết trong ngục, lúc mới 39 tuổi, dù biết nhưng vẫn cam chịu. Người Trung Hoa luôn lấy Nhạc Phi làm gương , đời đời kính nhớ người con chí hiếu, cũng là một vị anh hùng dân tộc, một bậc sĩ phu dũng liệt trung thần.

+ CHỈ CẦN MẸ SỐNG THÊM VÀI TUỔI, LÀ CON ÐÃ MÃN NGUYỆN RỒI :

Thẩm Lục Hưng người Tân Trịnh, Duyên Châu, sống vào đời Vua Tống Huy Tôn (1174-1189), Trung Quốc. Ông mồ côi cha từ thuở nhỏ nhưng được mẹ hết lòng nuôi nấng và dạy dỗ nên người, cho ông ăn học thành tài. Năm 25 tuổi, Thẩm Hưng thi đổ, được bổ Tri Huyện . Trong vùng có một hào phú, đem tặng ông 30 lượng vàng, để xin khẩn hoang vùng đất còn trống ven huyện . Người này còn thuyết phục ông, nên bắt chước cac quan tiền nhiệm, phải biết tham nhũng, hối lộ, để trở thành giàu có, sống sung sướng nhưng bị ông từ chối và nghiêm phạt.

Mười năm sau, thân mẫu ông tuổi già nên bị bệnh nặng . Lúc đó có một hào phú mang đến tặng ông một túi nhân sâm cực quý, để xin quan huyện giúp cho con trai mình thi đổ trong kỳ thi sắp tới. Thẩm Hưng vui vẻ nhận lời và nói :’ Mẹ tôi đang lúc đau nặng, nhờ túi sâm này , hy vọng sống thêm được vài năm nửa.’ Thế là từ đó cho đến ngày thi, thay vì gửi gấm , quan Huyện thu xếp thời giờ riêng, đích thân dạy kèm cậu con trai ông phú hộ. Nhờ đó, em được thi đổ, còn mẹ ông uống nhân sam quý, nên sống thêm được vài năm nửa, mới qua đời. Ðây là tấm gương cao quý, mà người Trung Hoa xưa nay thường lấy đó để dạy dỗ con cái mình.

+ NGÔ MẠNH TÔNG NẰM VÁN KHÓC MĂNG :

Tác phẩm Nhị Thập Tứ Hiếu của Tàu, được Lý văn Phức diễn nôm, thuật lại gương hiếu tử của 24 người con Trung Quốc, đời đời được mọi người lấy đó làm gương , trau dồi đức hạnh. Trong các câu chuyện trên, theo mọi người, chuyện Ngô Mạnh Tông, nằm ván khóc măng là cảm động nhất. Ông mồ côi từ thuở nhỏ nhưng ở với mẹ rất có hiếu. Năm nọ mẹ bệnh nặng lại thèm ăn chén canh măng. Lúc đó trời vào đông, có mưa tuyết dầm dề, vạn vật kể cả con người đều như muốn chết cóng dưới cái lạnh kinh hồn của �= �ất trời., thì tìm đâu để mẹ có măng ăn trong lúc đó. Có lẽ tấm lòng hiếu tử đã cảm động tới Trời Phật, , nên trong cảnh mưa tuyết dầm dề, bổng mọc lên một mụn măng nõn nường ngon tuyệt. Mẹ già nhờ ăn được chén canh măng nên khỏi bệnh :

‘ Giữa bình địa, phút giây bổng nứt
mấy rò măng, mât đất nõn xanh
Ðem về nấu được bửa canh
Ăn rồi bệnh mẹ, lại lành như xưa
Cho hay hiếu động cao dày
Tình sâu nên khóc, cỏ cây cũng tình .. ’ ’ ’ ’


Trong kho tàng văn chương bình dân của VN, cũng có nhiều thơ văn đề cao lòng hiếu thảo của con đối với mẹ như Pham Công-Cúc Hoa, Lục Văn Tiên, Thoại Khanh Châu Tuấn, Trần Minh khố chuối.. nhưng cảm động nhất là đời thực của Vua Tự Ðức, đối với mẹ ruột của mình là Ðức Từ Dũ, Hoàng Thái Hậu, sinh quán tại tỉnh Gò Công (Nam Phần) .

3-TÌNH MẪU TỬ TRONG THẾ GIỚI ÐỘNG VẬT :
Gần 40 năm về trước , nhà sinh vật học được giải Nobel năm 1973 là Konred Lorenz , chuyên nghiên cứu về sự tiến hóa của loài vật, đã cùng với nữ bác sĩ thú y là Marie Claun Bonsel, chuyên theo dõi đời sống của muôn thú. Qua nhiều năm thu nhặt, kết quả hai người đã tuyên bố :’ Dù con người có nghĩ thế nào chăng nửa, hoặc sự việc xảy ra do bản năng, thì chắc chắn muôn vật sẽ không còn tồn tại, nếu chúng không có tình mẫu tử .’

Do trên ta đã thấy, trong bất cứ loài thú nào, ở vào giai đoạn cực kỳ nguy hiểm , thì thú mẹ luôn lấy thân mình bảo vệ cho con cái, dù biết là mình sẽ chết. Tuy nhiên có sự khác biệt giữa con người và muông thú, đó là con vật mẹ sẽ không thấy có lỗi , khi bỏ rơi con cái hay giành lấy thức ăn để sinh tồn , mặc kệ con cái có bị chết đói cũng không màng tới. Cũng do đặc tính này mà các nhà nghiên cứu đã kết luận, thú vật chỉ có bản năng tình mẫu tử, chứ không hề có tình yêu tình mẫu tử như con người. Nhưng dù thế nào chăng nũa , ta cũng phải khâm phục chúng, trong khi đối xử với con cái , hết sức dịu dàng, trìu mến , giữa một thế giới vạn vật luôn thù nghịch, đầy hiểm họa, phải giết tróc lẫn nhau để sinh tồn.

Ðối với các loài thú hoang dã, khi thú con dứt sửa, bị đuổi đi để tự sinh tồn. Ðây cũng là tập quán , lẽ sinh tồn của rừng xanh. Với loài khỉ đột, khỉ cái do mỗi lần sinh đẻ chỉ độc nhất một con, cho nên chăm sóc con mình rất chu đáo, cẩn thận. Riêng khỉ đực thì dửng dưng vô trách nhiệm, vì loài khỉ theo chế độ đa thê. Loài báo bờm khi sinh con, báo con không có lông và mở mắt được trong 15 ngày, nên báo mẹ phải chăm sóc và bảo vệ con nhỏ , đồng thời bỏ đàn tìm một nơi vắng vẻ để nuôi con, vì báo cha sẽ ăn thịt báo con khi đói.

Nhưng vĩ đại nhất vẫn là tình yêu con cái, nơi loài chim cánh cụt , chúa tể của miền băng tuyết Nam Cực, một địa danh lạnh nhất hoàn cầu. Ðể chim con ra đời và sinh tồn, chim cha và chim mẹ phải thay phiên đứng giữa băng giá lạnh lẽo , suốt thời gian bốn tháng rưởi, dùng bản thân mình để ấp trứng . Riêng loài Vượn Châu Á, một loài thú được con người ca tụng nhất, vì tình mẫu tử thiêng liêng bất diệt, yêu thương con cái hết mực, nên lúc nào cũng sẵn sàng lấy thân mình , để che chở con cái khi hiểm nguy. Cũng do tình mẫu tử thiêng liên, nên các ác thú như cọp, sư tử, rắn hổ mang mẹ, sẽ trở nên hung dữ dị thường, để bảo vệ con khi chúng sinh nở. Ðặc biệt nhất nơi loài gấu, vì sợ gấu cha ăn thịt, nên gấu mẹ lúc nào cũng cõng con nhỏ trên lưng khi chúng mới ra đời. Do tình thiêng đó, nên tục ngữ mới có câu : ‘ Hùm dữ còn không nở ăn thịt con ‘.

Tháng năm dương lịch, tiết trời Hạ Uy Di như đã chuyển sang hè, sắc nắng gió biển và những cơn mưa phùn b= ất chợt se mát, đã gợi nhớ những kỷ niệm quê hương của một thời xưa xa nồng thắm. Ở đây, mỗi lần nhớ mẹ, đứa con xa nhà lãng du khổ hận, chỉ còn ước ao lặng lẽ, khóc cưới mê tỉnh như đangợ bước vội lên con thuyền viễn xứ mộng mơ, để nhắm mắt mừng vui tủi tủi khi thấy con đang quỳ bên gối mẹ năm nào.

Mưa muôn đời, ở đâu cũng đầm đìa não nuột, làm cho người lữ khách chỉ còn biết cắn răng âm thầm nuốt lệ ? sung sướng biết bao cho những ai còn mẹ để tôn vinh trìu mến, chỉ riêng có con với mẹ, thì ngàn đời xa biệt, nên đêm nay đứa con viễn xứ đã chạy theo mưa, mà gào to :’ mẹ ơi, con của me đã về ‘

‘ Mẹ dỗ con, con ơi đừng khóc
mẹ ru con, con ơi ngủ đi
mẽ cõng con trên tấm lưng gầy
bươm bướm bay, bay vờn theo mãi
bươm bướm bay, bay vào giấc ngủ
đậu trên mũi, mùi chuối chín cây
con bươm bướm lại cất cánh bay
đậu trên mũi, mùi thơm mía ngọt.. ’ ’ ’ ’


Một đời từng lê gót sông hồ, nếm đủ vị đời hờn hận, nay mới biết, thì ra trong kiếp nhân sinh, không có bài hát nào hay hơn bài hát của mẹ bên nôi con thơ, dù rằng chẳng mấy ai còn nhớ tiếng ru của mẹ.
Lớn lên bỏ xứ mà đi và đi mãi, chỉ riêng mẹ ở lại với dòng sông con nước rồi ngả gục, mà con vẫn chưa về

vừa mãn tù xong, năm bảy chín
con về lạy Mẹ để ra đi
nát lòng nhìn Mẹ giờ ly biệt
mà cứ ngỡ rằng phút biệt ly
Mẹ hãy coi như con đã chết
Từ khi bỏ học khoác chinh y
Tan hàng, lại vướng đời tù ngục
Nửa kiếp lang thang khắp xứ người
Mẹ khóc làm con, thêm não nuột
Từ nay con thành kẻ không nhà
Ngày xưa đời lính, còn đồng đội
Giờ sống bơ vơ nơi xứ xa
Mẹ hỏi làm chi ngày trở lại
Ðể con tức tủi, khóc thương đau
Bao nhiêu năm buồn, nằm thao thức
Chỉ gặp mẹ hiền giữa chiêm bao
( Con đi )


Nhưng nay thì :

Thơ nhà đến, như muôn ngàn nhát kiếm
Khiến cho ta thêm tan nát cuộc đời
Niềm nhớ mẹ theo thời gian tắc lịm
Nay tuôn về như sóng cuộn mưa rơi
Ta muốn cào cho trái tim vở nát
Muốn gào to cho sụp đổ tinh cầu
Muốn tự hủy cho xong đời đọa lạc
Sống một đời, mang trọn kiếp thương đau

Còn chi nữa hỡi niềm vui nhân thế?
Khóc cũng không dẹp nổi vạn thành sầu
Mẹ đã mất, nay còn ai kể lễ
Mẹ không còn, hết hẹn, hứa xuân sau

Ta ở đây ăn năn ngàn hối tiếc
Cùng men cay, chia sớt những tủi hờn
Nuôi ảo vọng, ngày đoàn viên sẽ tới
Quỳ bên mồ, cho mẹ bớt cô đơn..
(mẹ mất rồi, còn đâu mà hẹn hứa)



Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng Năm Ngày Từ Mẫu 2009

Mường Giang

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Mother's Day Nhớ Mẹ
Ngày mai là ngày lễ Mẹ, tôi xem bài của người bạn văn Trần Trung Đạo trong ý nghĩ tán đồng và tâm tư rung động qua dòng văn của anh. Tôi nghe kể anh không may mắn như nhiều người. Me. anh mất khi anh còn tấm bé. Vì thế nên khi anh mô tả sự bao la của tình mẹ trong nỗi niềm cần thiết một bóng hình người mẹ đi bên cạnh cuộc đời. Anh dẫn nhập bài viết bằng câu ngạn ngữ ví hình ảnh người mẹ như sau:

"Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe “thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất vẫn là trái tim người mẹ” Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển Thái Bình bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn nhưng không sao có thể so sánh được với tấm lòng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi vì ngôn ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.

Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyết đối của tinh thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc.

Mẹ là người mang ta đến cuộc đời, và cũng là nơi ta trở về. Người đàn bà chân mang đôi dép ngược, khoát chiếc mền rách, như trong một câu chuyện thiền mà chúng ta có thể đã từng nghe kể, dù bao mùa mưa nắng vẫn không than van, không oán trách, vẫn chờ đơi ngày về của đứa con mãi mê trên đường đi tìm chân lý. Nếu chân lý mà chàng trai trẻ kia đi tìm là tình thương và sự thật thì chân lý sẽ không ở đâu xa mà trái lại vô cùng gần gủi. Trong tấm thân gầy yếu nhỏ nhoi của người mẹ chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, tình yêu, sự thật và lòng vị tha sâu thẳm."

Mọi người nói chung dễ dàng đồng thuận một kỳ quan vĩ đại nhất của thiên vẫn là người hiền mẫu, như Trần Trung Đạo viết dáng mẹ hiền dù có nhỏ bé, gầy guộc, nhưng lòng của mẹ thương cvon cái chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, tình yêu, sự thật và lòng vị tha sâu thẳm.

Trần Trung Đạo là một nhà văn, anh chọn viết về những đề tài thuộc khuynh huớng xã hội và nhân bản. Anh còn là một nhà thơ. Tôi còn nhớ bài thơ gây nhiều xúc động là "Đứa bé và viên sỏi", về chuyện vượt biên buồn thảm, cha mẹ mất, cháu bơ vơ, nhạc được nhạc sĩ Phan Văn Hưng phổ nhạc. Bài thơ khác của Đạo được giới văn học chú ý là "Đổi Cả Thiên Thu Lấy Tiếng Mẹ Cười", được nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ nhạc. Lời thơ sâu sắc thắm đượm tình mẹ, trích dẫn:

"Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Ðốt lửa cho đời tan khói sương"

Rồi cuối bài, anh cho 2 câu kết như một câu nói bất hủ trong văn chương hay đời sống:

"Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười."

Trích bài "Happy Mother's Day 2009: Mẹ và Quê Hương", rồi Đạo tâm sự thêm:

"Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

« Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.”

Bài thơ đơn giản và dể hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống 8 năm.

Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội."

Bạn bè của Đạo biết bà mẹ Hòa Hưng là mẹ nuôi, nhưng trong cái tâm đạo của người con, Đạo rất qúy bà như mẹ ruột.

"Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.

Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía Nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.

Tôi kính yêu mẹ. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.

Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.

Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm."

Nói về hình ảnh mẹ, điển hình qua âm nhạc, nhạc sĩ Y Vân sáng tác cho mẹ mình bài ca bất tử mà đời sống và văn học biết ơn cho tác phẩm thật tuyệt vời này:

"Lòng Mẹ chan chứa trên bao xóm làng gần xa.
Tình Mẹ dâng tới trăng ngàn đứng lặng để nghe,
Lời ru xao xuyến núi đồi suối rừng rặng tre.
Sóng ven Thái Bình im lìm khi tiếng Mẹ ru.

Một lòng nuôi nấng vỗ về những ngày còn thơ.
Một tình thương mến êm như tiếng đàn lời ca.
Mẹ hiền sớm tối khuyên nhủ bao lời mặn mà.
Khắc ghi bên lòng con trẻ muôn bước đường xa.

Thương con Mẹ hát câu êm đềm,
Ru lòng thơ ấu quản gì khi thức trắng đêm.
Bao năm nước mắt như suối nguồn.
Chảy vào tim con mái tóc trót đành đẫm sương.

Dù ai xa vắng trên đường sớm chiều về đâu.
Dù khi mưa gió tháng ngày trong đời bể dâu.
Dù cho phai nắng nhưng lòng thương chẳng lạt mầu.
Vẫn mong quay về vui vầy dưới bóng mẹ yêu"

(Lòng Mẹ)

Tôi có cô bạn khi theo chồng sang định cư tại Paris , Hải Yến xúc động mỗi khi cô ca đoạn cuối của bài hát này vì câu hát nói về ước muốn gặp mẹ, nhớ mẹ từ xa: “Vẫn mong quay về vui vầy dưới bóng mẹ yêu".

Một bài ca khác tôi muồn nói đến là bài Khóc Mẹ Đêm Mưa của nhạc sĩ Anh Bằng, mà nội dung nhớ người mẹ đã quá vãng với lời nhạc thật xót xa như sau:

"Có những lần con khóc giữa đêm mưa
Khi hình mẹ hiện về năm khói lửa
Giặc đêm đêm về quê ta vây khốn
Bắt cha đi mẹ khóc suốt đêm buồn

Ôi thương mẹ vất vả sống nuôi con
Đi vội về sợ con thơ ngóng chờ
Nhưng mẹ đi không bao giờ về nữa
Ngã trên đường tức tưởi chết trong mưa

Mẹ ơi mẹ ơi tan chiêm bao nước mắt thành dòng
Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng
Mẹ ơi mẹ ơi có nghe chăng lời con vang vọng
Tới mộ phần trên vuông đất quê hương

Con lang thang giữa đời quạnh hiu quá
Đâu cũng sống nhưng không đâu là nhà
Còn quê mẹ xa nửa vòng thế giới
Con không về từ ngày mẹ ra đi

Đêm tha hương con gục đầu tưởng nhớ
Trên đời này mẹ con không gặp nữa
Trên đời này không bao giờ gặp nữa
Mẹ ơi mẹ con khóc giữa đêm mưa"

Nhạc sĩ Anh Bằng tâm sự với tôi khi ông tiễn đưa mẹ của một người bạn trẻ, bạn ông thương, khóc mẹ như mưa. Tối về khi cơn mưa đến bên ngoài, ông dâng nguồn thơ ý nhạc từ sự kiện người mẹ của người bạn qua đời, ông nhớ đến thân mẫu của mình trong ray rứt nhớ thương, để rồi bài hát này đóng góp tích cực vào kho tàng những bài ca về mẹ. Trở lại với Trần Trung Đạo, anh sáng tác bài thơ "Đổi Cả Thiên Thu Lấy Tiếng Mẹ Cười" vào một đêm mưa nhớ mẹ Hòa Hưng. Trong đoạn văn khác anh tâm sự về mẹ ruột ở làng Mã Châu, anh nhớ đến ngôi mộ chôn cất mẹ trong hoang phế, khi ấy anh còn bé lắm với bao suy tư về cuộc đời và về thân phận của mình, tôi hiểu tư tưởng và lòng anh lắm. Bài viết này tôi xin gửi đến Trần Trung Đạo, Anh Bằng, Võ Tá Hân, Hải Yến, Thụy Trinh, Bạch Hạc, Vân Khanh, Mỹ Hạnh, Vương Hà, Mai Ngọc Lý, Khánh Trang, cũng như Quỳnh Giao và Thúy Anh,... nhiều nguời bạn mà tôi có dịp trao đổi ý tưởng về mẹ.

Hãy nghe tiếp lời của Trần Trung Đạo:

"Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuổi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.

Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra."

Đại thi hào Nga Aleksandr Sergeyevich Pushkin là người có những đóng góp to lớn trong việc phát triển ngôn ngữ văn học Nga hiện đại và toàn châu Âu. Ông mất khi mới 37 tuổi nhưng đã để lại nhiều kiệt tác như "Evgeny Onegin", "Con gái viên đại úy", "Con đầm pích", "Boris Godunov",... Ông được coi là biểu tượng của dòng văn học lãng mạn và tả chân của nước Nga và châu Âu thế kỷ 19. Pushkin làm thơ gửi mẹ nuôi mà ông thương, kính trọng như nhũ mẫu của mình:

"Mẹ thân thiết trong những ngày cơ cực
Nguồn mến thương nâng bước đời con!
Rừng thông thăm thẳm cô đơn
Ngóng con ngày tháng mỏi mòn mẹ trông
Trong phòng khách bên song cửa sổ
Như người canh, thương nhớ mênh mang
Tay già lần mũi kim đan,
Như đang đếm bước thời gian chậm buồn
Mẹ thẫn thờ nhìn đường thăm thẳm
Lối cổng vào bỏ vắng từ lâu
Buồn thương, linh cảm, lo âu
Lại càng chất nặng thắt đau ngực già..."

(Gửi mẹ nuôi - Thúy Toàn dịch từ Nga ngữ)

Từ Aleksandr Sergeyevich Pushkin đến Trần Trung Đạo đều có mẫu số chung, dù dưỡng mẫu hay nhũ mẫu, hai thơ đã dành những tâm tư trang trọng nhất cho 2 mẫu người mẹ trong văn học, thực vậy từ Âu sang Á, sự xúc cảm về mẹ cho văn chương mẹ mãi mãi thăng hoa.

"Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.

Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.

Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam . Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.

Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam . Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nổi, dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.

Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẻ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình. Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam . Mỗi người Việt Nam , hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình."

Tôi xin dùng kết luận của Trần Trung Đạo để chấm bài viết "Mother's Day Nhớ Mẹ" này vì chính lời văn và thơ của anh tạo cho tôi nguồn suy tư về Trần Trung Đạo và Alexander Pushkin chia sẻ những ẩn ý về Mẹ trong văn học:

"Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng. Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại. Trần Trung Đạo".

Happy Mother’s Day! May 2009.
Hoàng Nam Trần Việt Hải

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Cô gái đi xe buýt
Đã một năm kể từ khi Susan bị mù vì một chẩn đoán sai của bác sĩ, cô đột ngột bị ném vào thế giới của bóng tối, tức giận, tuyệt vọng và mặc cảm. Và tất cả những gì đủ để cô còn bám víu vào cuộc sống là vì bạn trai cô – Mark.

Mark là một sĩ quan quân đội. Anh rất yêu Susan, đã nhìn thấy cô tuyệt vọng đến mức nào, anh quyết định giúp Susan lấy lại được sức mạnh và tự lập.

Đầu tiên, anh tìm cho cô một công việc dành cho người khiếm thị. Nhưng làm sao cô đến chỗ làm việc được đây? Mark đề nghị đưa cô đến chỗ làm hằng ngày, dù hai người ở hai đầu thành phố. Tuy nhiên sau đó, Mark nhận ra rằng đó không phải là giải pháp. Susan sẽ phải tự mình đi xe buýt, tự đến chỗ làm – đó mới là cách đúng. Nhưng Susan rất nhạy cảm, cô ấy sẽ phản ứng thế nào?

Đúng như với Mark nghĩ, Susan hết sức hốt hoảng khi nghe tới việc mình phải tự đi xe buýt. "Em không thấy đường mà"- Cô phản ứng bằng giọng cay đắng – "Làm sao em biết em sẽ đi đến đâu? Anh bỏ rơi em phải không?"

Mark rất đau lòng khi nghe những lời đó, nhưng anh biết phải làm gì. Anh hứa sẽ cùng cô đi xe buýt mỗi sáng và mỗi chiều, bao lâu cũng được, cho đến bao giờ cô quen với việc đi xe buýt.

Trong hai tuần liền, Mark trong bộ đồng phục quân đội, đi theo Susan đến nơi làm việc. Anh dạy cô làm sao để sử dụng các giác quan khác, nhất là thính giác, để biết mình đang ở đâu và làm sao để quen với môi trường mới. Anh cũng giúp cô làm quen với những người lái xe buýt, nhờ họ để mắt đến cô, giữ cho cô một chỗ ngồi hằng ngày...

Cuối cùng, Susan nói cô có thể tự đi được.

Sáng thứ hai, lần đầu tiên, họ đi theo hai hướng khác nhau.

Thứ ba, thứ tư, thứ năm... Mỗi ngày Susan đều tự đi xe buýt đến chỗ làm và đón xe buýt đi về. Susan cảm thất rất vui vì cô vẫn tự mình làm được mọi việc.

Thứ hai của 5 tuần sau đó, Susan đón xe buýt đi làm như mọi khi. Khi cô đang đóng tiền mua vé tháng cho người lái xe, bỗng anh lái xe nói: "Tôi thật ghen tỵ với cô đấy nhé!".

Susan không biết có phải anh ta nói với mình không. Nhưng nói cho cùng, có ai mà lại đi ghen với một cô gái mù đang đấu tranh để mà sống chứ? Cô hỏi:

- Sao anh lại ghen với tôi được?

- Vì cô được quan tâm và bảo vệ. Cô quả là hạnh phúc!

- Tôi được bao vệ? Anh nói thế tức là sao?

- Suốt mấy tuần qua, sáng nào tôi cũng thấy một chàng trai mặc đồng phục quân đội lái xe theo, rồi đứng bên kia đường nhìn cô xuống xe. Anh ta nhìn theo đến khi cô đi qua đường an toàn, đi vào nơi cô làm việc và vẫy tay chào cô rồi mới lái xe đi. Cô quả là một người may mắn!

Susan khóc. Vì cô không nhìn thấy Mark nhưng cô cảm thấy Mark ở bên cạnh. Cô là người may mắn vì cô đã nhận được một món quà mà cô không cần phải nhìn thấy tận mắt để tin: món quà của tình yêu có thể mang ánh sáng đến những nơi nhiều bóng tối nhất.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Những bài thơ về Mẹ
Ngày của Mẹ hay Mother's Day năm nay rơi vào Chủ Nhật 10 tháng 5. Mỗi người trong chúng ta không ai là không có mẹ. Tình thương của bà dành cho chúng ta mỗi người mỗi khác nhưng cái chung mà tất cả chúng ta đều thừa hưởng được từ bà là những hy sinh vô bờ bến để nuôi con khôn lớn.


Bất kể ở đâu, bất kể hoàn cảnh nào thì tình yêu ấy cũng không bao giờ thay đổi. Chương trình VHNT kỳ này mời quý thính giả chia sẻ những bài thơ về Mẹ do Mặc Lâm tuyển chọn và trình bày với sự góp giọng đọc thơ của anh chị trong ban Việt Ngữ và đặc biệt nữ nghệ sỹ Bạch Yến từ Pháp quốc với giọng ru ba miền...

Có thể nói nhạc phẩm Lòng Mẹ của Y Vân được người Việt biết và thương yêu hơn bất cứ bài hát nào. Tác phẩm Lòng Mẹ năm nay vừa tròn 50 năm ngày ra đời nhưng sức thu hút của nó vẫn như những ngày đầu ra mắt.

Cứ mỗi lần nghe nhạc phẩm này do bất cứ ai hát lên thì người Việt dù ở chân trời góc bể nào cũng dấy lên một niềm xao xuyến khó tả. Bài hát như thay thế người mẹ ầu ơ con trong đêm hè oi bức.

Trong tận cùng của cảm xúc, người nghe thấy được hình bóng của mẹ mình và hình như những lời hát thăng hoa trở thành chính tiếng mẹ hiền ủi an bên cạnh.

Những sáng tác về tình mẫu tử trong kho tàng văn chương nghệ thuật Việt Nam có lẽ bắt nguồn từ những bài hát ru của người mẹ cả ba miền Nam Trung Bắc. Những đứa trẻ được nuôi dưỡng từ tiếng ầu ơ dịu ngọt này đã thai nghén những bài thơ viết về mẹ sau khi trưởng thành và nhanh chóng được người đời chia sẻ.

Bắt đầu biết thương nhớ mẹ từ sớm, từ khi mới chập chững những bước đầu tiên thế nhưng để trọn vẹn cảm nhận được tình mẹ thì phải đợi đến khi khôn lớn.

Người sinh viên nghèo xa nhà đi học ở thành phố bỗng một hôm thấy nhớ mẹ đến nao lòng. Anh như con trẻ, cảm thấy mẹ mình là một nguồn sức mạnh chở che mà anh không thể tìm nơi đâu khác. Lúc này là lúc mà người ta tự hỏi lòng: Mẹ ơi có nhớ con không?

Lâu nay con trọ học xa nhà
Sống tự lập thiếu thốn nhiều mẹ ạ!
Nhưng một thứ con thiếu nhiều hơn cả
Là vòng tay mẹ âu yếm sớm chiều.
Thiếu một chút muối, mì chính, hạt tiêu
Con có thể chạy vay phòng khác
Nhưng mẹ ơi! Tình mặn nồng ấm áp
Của mẹ hiền nào con biết vay ai??!!

Từ khi nuôi con khôn lớn cho đến khi gả chồng không biết bao nhiêu là cực nhọc. Con về nhà khác cũng mang theo nước mắt mẹ hiền mặc dù ngoài mặt bà vẫn gượng cười cho trọn ngày vui của con. Nhà thơ Nguyễn Bính vẽ lại cảnh tượng bà mẹ đưa con về nhà chồng:

Đưa con ra đến cửa buồng thôi
Mẹ phải xa con, khổ mấy mươi!
Con ạ! đêm nay mình mẹ khóc
Đêm đêm mình mẹ lại đưa thoi.

Nhà thơ Xuân Quỳnh viết về người mẹ của chồng mình mà khi đọc lên sức lôi cuốn của những câu thơ của bà khiến người ta không thể không tự hỏi: phải chăng Xuân Quỳnh đang nhắc cho chúng ta về một người mẹ hiền mà đã quá lâu chúng ta quên bẵng?

Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi
Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong
Ngày xưa má mẹ cũng hồng
Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau
Bây giờ tóc mẹ trắng phau
Để cho mái tóc trên đầu anh đen

Hình ảnh nghèo khó của làng quê Việt Nam với những mái tranh nghèo và những gia đình đôi khi neo đơn đến tội nghiệp đã đi vào văn chương Việt Nam với khả năng gây xao động lòng người. Trong những mái tranh nghèo ấy tình mẹ lại càng tỏa sáng biết bao nhiêu với những thân cò lặn lội.
Người con ao ước mua cho mẹ mình những miếng trầu thơm cay và cứ mỗi khi đi ngang hàng trầu thì niềm ao ước ấy lại càng mãnh liệt. Đến khi có thể mua miếng trầu cho mẹ thì bà đâu còn nữa. Người con gái cũng là nhà thơ Nguyễn Thị Mai kể lại trong nước mắt.

Mẹ ơi?
Thơm cay một miếng trầu xưa
Mà con phải bớt tiền mua vì nghèo
Bây giờ đã bớt gieo neo
Lại không còn mẹ mà chiều. Khổ không?

Từ ngày đưa mẹ ra đồng
Qua hàng trầu vỏ con không dám vào

Có một điểm chung của những bà mẹ Việt Nam là sự khó nhọc nuôi con cùng những hy sinh vô bờ đã khiến bà trở thành biểu tượng của điều thiêng liêng mà chúng ta ai cũng có một.

Thương nhiều lắm dáng mẹ lom khom
Cúi trên ruộng đồng chiều đông buốt giá,
Nặng gánh rau chợ tàn chiều muộn,
Chắt chiu tiền nhàu nát gửi con xa.
Tim thổn thức, nước mắt cứ trào ra
Khi cầm trên tay tờ bạc nhàu cũ nát

và hình ảnh người mẹ của nhà thơ Thanh Vân cho thấy sự vất vả của bà trên cánh đồng như thế nào:

Mẹ tôi bước xuống đồng sâu
Ngọn cỏ ngóc đầu sắc tựa mũi chông
Mẹ tôi ngã quỵ xuống đồng
Cây lúa đòng đòng đỡ mẹ đứng lên

Nhà thơ Vương Trọng khi đến tuổi 70 khi nằm chiêm bao thấy lại mẹ mình với những câu thơ chạnh lòng:

Đã có lần con khóc giữa chiêm bao
Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó
Đồng sau lụt đường đê sụt lở,
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
Anh em con chịu đói suốt ngày tròn,
Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa.
Có gì nấu đâu mà nhóm lửa
Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về.

Hình ảnh của mẹ hiền ăn sâu vào tiềm thức của người con xa quê như một vết thương không bao giờ lành. Thao thức nhớ mẹ là tình cảnh chung và nhà thơ Hoàng Phố, sống cách Việt Nam nửa vòng trái đất mượn bạn mình đến nhà để thăm bà trong khi heo hút:

Mày có đi làm ghé chơi thăm má
mua một tô mì cho má giùm tao
nhớ thêm bột nêm vào trong hoành thánh
tánh má từ xưa vẫn thích ngọt ngào

nếu mà hỏi mày làm ăn có khá
cũng ráng mà cười nói được nghe chưa
tính má hay buồn nghe ai thất bại
bốn chục năm rồi má vẫn như xưa

Khi mày ra về cũng nên hẹn lại
sẽ đến thăm khi rảnh rỗi việc nhà
má như trẻ thơ thích ngồi nói mãi
những chuyện ngày xưa hồi còn có ba

Ừ mà tao quên mày đốt cho ba
một nén nhang thơm cho má mát lòng
bởi tao đi rồi là hai hình bóng
nay đã mất tăm vừa con vừa chồng...

Nhà thơ Trần Trung Đạo hạnh phúc hơn khi còn nghe ra giọng nói yêu dấu của mẹ mình:

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

và rồi nhà thơ thở dài với những cách trở mà ông không hy vọng gì san lấp được. Ông chỉ còn niềm mơ ước duy nhất nhưng chừng như niềm mơ ước này cũng chỉ là thiên thu mà thôi...

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Những chiếc bông hồng tượng trưng cho những người còn mẹ là một phong tục đẹp của người Nhật và đi sâu vào lòng chúng ta từ nhiều năm qua. Khi cánh hoa hồng biến thành màu trắng thì nỗi bất hạnh cũng ập xuống cuộc đời. Nhà thơ Trần Kiêu Bạc trở về nhà thẩn thờ sau khi chôn cất mẹ:

Khi nắm đất sau cùng lắp kín mộ sâu
Con trở về nhà một mình trống vắng
Trên ngực con nở đóa hoa hồng trắng
Quỳ trước bàn thờ cam phận mồ côi

Với nhà thơ Thu Nguyệt thì niềm đau có khác nhưng hoa cà na từ đây dưới mắt nhà thơ đã chớm mang một màu tang chế:

Ngày mẹ mất bông cà na rụng trắng
Hoa như mưa nhòe nhoẹt rối tơi bời
Trong nắm đất con lấp từ biệt mẹ
Có rất nhiều những cánh hoa rơi.

Hoa cũng như đời mẹ, mẹ ơi!
Nở lặng lẽ và rơi lặng lẽ
Cô đơn nào hơn những người mẹ trẻ
Con chưa đủ lớn khôn để chia sẻ vui buồn.

Giọng ru buồn len lén hoàng hôn
Ba mươi năm sau đời con mới hiểu
Nỗi cô đơn mẹ âm thầm gánh chịu
Nhiều như bông cỏ dại quê mình.

Nhà thơ Vương Trọng cho chúng ta những khúc hát đẫm nước mắt như trong giấc mơ mà nhà thơ trải qua:

Con lang thang vất vưởng giữa đời thường,
Đâu cũng sống không đâu thành quê được.
Còn quê mẹ cuối chân trời tít tắp,
Con ít về từ ngày mẹ ra đi.
Đêm tha hương con tìm lại những gì
Với đời thực chẳng bao giờ gặp nữa.
Mong hình mẹ lại hiện về giấc ngủ
Dù thêm lần con khóc giữa chiêm bao.

Người mẹ trong tâm thức Việt Nam vẫn luôn sáng lên niềm hy vọng tuyệt đối. Là chỗ nương thân, là bóng mát, là đại dương, hay là gì chăng nữa vẫn không nói hết được tình yêu của bà đối với con thơ. Ngày Mother's Day, nghĩ về mẹ một chút cũng là diễm phúc vì con biết con đã và đang từng có mẹ...

Mặc Lâm, phóng viên đài RFA
2009-05-09

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Uống rượu để nhận 10.000 USD mỗi tháng

Một nhà máy tại Mỹ đang tìm kiếm người đảm nhận một công việc đáng mơ ước:
nếm rượu nho và viết blog để chia sẻ cảm nhận của bản thân. Mức lương tháng của công việc này là 10.000 USD.


Image
Người dân Mỹ xếp hàng tại nhà máy sản xuất rượu vang Murphy-Goode để đăng ký dự tuyển công việc nếm rượu. Ảnh: Telegraph.
Nhà máy rượu vang Murphy-Goode tại Sonoma, bang California, Mỹ cho biết, các ứng cử viên cần phải chứng tỏ rằng họ sẵn sàng học các bí quyết chế tạo rượu vang nho hoàn hảo, đồng thời chia sẻ toàn bộ trải nghiệm trên các mạng xã hội (như Twitter và Facebook) để thu hút sự chú ý của người dân trên toàn thế giới đối với rượu nho địa phương. Người thắng cuộc sẽ được ở trong một căn hộ đầy đủ tiện nghi.

Bản mô tả công việc còn đề cập tới nhiều trách nhiệm khác: “Trong quá trình đảm nhận công việc, người được chọn sẽ phải tìm hiểu nghề trồng nho, quá trình sản xuất rượu, các loại rượu nho của nhà máy Murphy-Goode nói riêng và hạt Sonoma nói chung. Anh ấy hoặc cô ấy sẽ quảng bá trải nghiệm của bản thân thông qua các phương tiện truyền thông như blog, video, mạng xã hội, báo giấy, truyền hình, báo điện tử”.

Những người muốn đảm nhận công việc trên phải điền vào mẫu đơn xin việc trên trang AReallyGoodeJob.com và tự sản xuất một đoạn video có thời lượng 60 giây để thể hiện những khả năng đặc biệt của họ. Thời hạn chót để đăng ký tham gia là ngày 5/6.

Minh Long (theo Telegraph)

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam

Ðỗ Thái Nhiên
Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam, vừa mới được khánh thành, nằm bên trong khuôn viên nghĩa trang Westminster ở Quận Orange, Nam California.

Ðứng bên trong khuôn viên vừa kể, quay lưng lại với đường Bolsa, khách viếng tượng đài sẽ thấy một bãi cỏ xanh và rộng. Kế đến là lư hương đồng đen. Ðàng sau lư hương là kiến trúc trọng tâm của tượng đài. Kiến trúc này bao gồm một hồ nước hình quả trám, lớn bằng chiếc thuyền vượt biên. Chung quanh hồ nước là những tảng đá màu trắng ngà, mặt mài bằng, diện tích non một thước vuông. Trên mỗi tảng đá, danh vị của thuyền nhân tử nạn được ghi bằng mực đen, nét khắc sâu và sắc. Tại một tảng đá bên hông tượng đài, gần trung tâm mặt đá, tình cờ tôi bắt gặp phương danh “Tô Lai Chánh”. Anh này là bạn rất thân của tôi tại trường Luật Saigon từ 1963. Hồi bấy giờ, Tô Lai Chánh là chủ tịch Ban Ðại Diện Sinh Viên Luật Khoa Saigon. Khi nhập ngũ, Tô Lai Chánh trở thành chánh án công tố của Tòa Án Quân Sự Nha Trang. Giữa năm 1985, Tô Lai Chánh từ trại tù “cải tạo” về. Tôi từ khám Chí Hòa ra. Hai chúng tôi gặp nhau tại một quán cóc bên đường Trần Quang Khải, gần Cầu Bông. Sau đó tôi mất liên lạc với Chánh. Tôi có hơn hai thập niên đi tìm tông tích người ban họ Tô nhưng tuyệt vô âm tín. Mãi cho tới sáng 25/04/09 tôi mới gặp lai Tô Lai Chánh trên phiến đá này, bên hông Tượng Ðài Thuyền Nhân. Ðây là tin tức ngắn nhất, bất ngờ nhất, chính xác nhất, bàng hoàng và xoáy tim óc nhất. Nhìn không chớp mắt vào danh vị Tô Lai Chánh, tôi thấp thoáng thấy đôi mắt to và đen của anh chủ tịch Sinh Viên Luật Khoa Saigon vài thập niên về trước...

Bây giờ hãy trở lại với cấu trúc của Tượng Ðài Thuyền Nhân. Ở giữa hồ nước mang hình dáng chiếc thuyền như đã nói ở trên là một tảng đá lớn, biểu tượng cho đảo tị nạn. Bên trên tảng đá kia là hình tượng một gia đình gồm năm người: bà cụ già, cặp vợ chồng trẻ và một cháu bé khoảng dưới một tuổi. Người phụ nữ gần ngã sấp nhưng vẫn cố vươn mình lên cao, tay trái ôm cháu bé mắt nhắm nghiền, tay phải đưa ra phía trước như một cầu cứu... Cạnh đó là chiếc nón lá của phụ nữ Việt Nam và chai sữa dành cho trẻ em nằm lăn lóc trên mặt đất. Tiếp sau là hình tượng người thanh niên, tóc tai rũ rượi đang dìu bà lão đi tới... Toàn cảnh tượng đài là bức tranh ghi nhận: ba thế hệ Việt Nam chịu chung một tai họa. Thế hệ thứ nhất là bà cụ mà người chồng có thể đang bị khổ sai ở trại tù cải tạo nào đó. Thế hệ thứ hai là cặp vợ chồng trẻ. Thế hệ thứ ba là cháu bé với đôi mắt nghiền trước một tương lai mịt mù mây xám... Trong ngôn ngữ của biểu tượng: ba thế hệ là nhiều thế hệ, là toàn bộ dòng sống của dân tộc. Bảo là một tai họa nhưng đây là loại tai họa có chọn lựa. Trên bước đường vượt biên có một ngàn lẽ một tai họa khác nhau, tai họa nào cũng khủng khiếp, cũng vượt ra ngoài trí tưởng tượng của loài người. Trong phạm vi của một bài bình luận ngắn, bài viết này xin trình bày một tai họa điển hình. Hồ sơ của tai họa này được tìm thấy trong văn khố của cơ quan Cao Ủy Tị Nạn của Liên Hiệp Quốc năm 1979. Diễn tiến của sự việc được trình bày như sau:

“Anh Huỳnh Văn Trân, 34 tuổi, ngồi trên 1 băng ghế gỗ ở trại tị nạn Songkhla ở một bờ biển cực nam của Thái Lan, thuật lại câu chuyện của mình lần thứ ba. Anh ra đi trên một chiếc tàu gồm 62 người: đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Họ may mắn gặp thời tiết và gió thuận lợi, không bị rắc rối gì với máy tàu. Vào ngày thứ 5 trên biển, một chiếc tàu mã lực lớn dài 15 mét đến cặp sát mạn tàu anh. Có 12 người đàn ông trên thuyền, tất cả đều trang bị vũ khí đầy đủ. Trước hết, chúng ra lệnh cho hai người trong số phụ nữ sang tàu chúng. Một trong hai người này là vợ anh Huỳnh Văn Trân. Cô này bị ghì chặt xuống, súng trường kê sát thái dương, và bị ra lệnh không được kêu la. Cô bị bọn chúng cưỡng hiếp.

Bọn hải tặc sau đó nhảy qua tàu tị nạn, cướp đi mọi thứ có giá trị, bắn một người đàn ông còn do dự khi chúng cướp. Sau đó chúng tăng tốc độ phóng đi với các món của cải chiếm được, nhưng thình lình quay ngoắt lại. Vẫn giữ nguyên tốc độ tối đa, chúng nhắm thẳng vào tàu tị nạn và đâm mạnh. Chiếc tàu hải tặc đã lập đi lập lại hành động này trong khi nhóm người tị nạn đang hốt hoảng ngoi ngóp giữa biển khơi. Bọn cướp biển cố ý lái tàu cán qua vô số chiếc đầu đang nhấp nhô, có lẽ vì không muốn để sót lại nhân chứng nào. Khi vợ anh Trân còn đang chới với trên mặt nước, với đứa con trai mới lên 3 đang níu chặt cổ mẹ, cả hai đã bị tàu cán qua và chết đuối, 10 người trong số họ sống sót, sau đó được vớt lên và đưa tới Songkhla, Thái Lan.”

(Hết lời dẫn)

Tai họa kể trên cùng hàng vạn tai họa khác cho thấy thuyền nhân bị giết chết trong những tình huống vô cùng tàn ác nhưng cũng vô cùng bi tráng. Bi tráng bởi lẽ: không phải những người chuẩn bị vượt biên không biết tất cả những hung hiểm trên sông, trên biển. Thế nhưng thuyền nhân vẫn quyết tâm vượt biên, quyết tâm bước vào con đường chỉ có thể chọn lấy một trong hai giải pháp: “Tự do hay là chết”. Con người có nhiều phương cách để diễn đạt tư tưởng. Con người có thể nói bằng ngôn ngữ bình thường, có thể nói bằng quả đấm, bằng tiếng thở dài, bằng cái nhíu mày, cau mặt... Trong tất cả những kiểu nói và cách nói kia, tiếng nói của im lặng là tiếng nói của tận cùng lạnh lùng và quyết liệt. Im lặng chôn dầu vượt biển, im lặng đút hối lộ cho công an, im lặng qua mặt các toán tuần duyên CSVN, im lặng đối mặt với hải tặc, im lặng viết tên của chính mình trên phiến đá ở Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam. Tất cả các im lặng vừa diễn tả chỉ dễ nói lên một điều: Chúng tôi là con người Việt Nam, Chúng tôi không thể sống không có tự do. Chúng tôi sẵn sàng mang sinh mạng của mình để đổi lấy tự do. Ðiều kỳ lạ là thuyền nhân Việt Nam đi vào cõi chết nhưng vẫn nheo mắt nhìn đời với miệng cười ngạo nghễ. Thông thường mỗi thuyền nhân trước giờ vượt biên đều thấy trước ba con đường: nếu vượt biên thoát thì đương sự sẽ làm việc kiếm tiền trợ giúp gia đình. Nếu bị bắt thì gia đình phải đi thăm nuôi. Nếu gặp tai họa giữa biển cả thì an giấc ngàn thu dưới đáy biển. Chúng ta hãy nghe một thuyền- nhân- trẻ từ giã mẹ già trước giờ vượt biên. Từ giã rằng:

“Một là con nuôi Má,

Hai là Má nuôi con,

Ba là con nuôi cá.”

Rõ ràng lời giã từ rất đắng cay nhưng vẫn không thiếu phần hài hước. Chính tính hài hước trong hỏa ngục mới diễn tả trọn vẹn niềm thống hận của thuyền nhân. Trong niềm thống hận kia thuyền nhân gói ghém hai ước mơ:

Ước mơ một: Vượt biên vừa để phản kháng CSVN độc tài, phản nhân tính vừa để tìm lại cho gia đình, cho bản thân một đời sống đầy đủ tự do và dân chủ. Ðồng thời, giúp cho các thế hệ tương lai được giáo dục và đào tạo thành con người.

Ước mơ hai: từ giã đất tạm dung, quay trở về quê cũ, quyết tâm xây dựng lại một Việt Nam tự do dân chủ. Triệt để loại bỏ mọi bùa phép dân chủ ngụy trá của CSVN.

Thật là đau đớn, mỗi người hai ước mơ, hàng triệu ước mơ đã bị vùi sâu dưới đáy biển. Với thời gian, ước mơ của thuyền nhân từ lòng biển đã vang vọng về với dương thế làm xao xuyến hàng triệu triệu quả tim Việt Nam. Cuối con đường xao xuyến là Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam. Tưởng niệm không chỉ là hương khói với hoa tươi. Tưởng niệm phải biểu hiện bằng quyết tâm biến ước mơ của thuyền nhân thành hành động cụ thể. Hành động cụ thể đó chính là đào thải chế độ Hà Nội ra khỏi vị trí cầm quyền, buộc chế độ này phải trả lời trước công lý về vô số tội ác tham ô, độc tài và bán nước

Ðỗ Thái Nhiên

(www.vietvusa.com)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Ngộ nghĩnh Chú Tiểu mới vào Chùa


Một nhóm 9 Chú Tiểu đáng yêu vừa được chọn xuống tóc tại ngôi đền Jogye ở Seoul (Hàn Quốc) cuối tuần rồi để chuẩn bị cho đại lễ Phật Đản vào ngày 2 May 2009 tới đây.
9 Chú Tiểu này chỉ trải nghiệm đời tu hành trong 18 ngày ngắn ngủi. Sau khi xuống tóc, cả nhóm cùng tham gia một nghi lễ có sự chứng kiến của các bậc phụ huynh.
Nhưng dẫu còn tóc hay hết tóc, 9 Chú này vẫn giữ nguyên nét thơ ngây con trẻ.
Image

Chú Tiểu tập sự Myo Sung tỏ ra rất nghiêm túc

Image


Nhưng cũng có Chú ngáp quên cả che miệng

Image


Thậm chí Chú Tiểu tập sự Dam Jung mơ màng ngủ gật
ngay sau lễ xuống tóc.

Image


Còn hai Chú Tiểu này có vẻ rất lạ lẫm với mái đầu không tóc
của mình nên liên tục đưa tay... rờ đầu.

Image

Image

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Thiền ( Sự yên lặng của Đức Phật )

Trích trong " Thiền Học Việt Nam "
của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục
Triết lý Thiền là gì, có phải là giáo lý của Phật không, hay là sản phẩm của Trung Hoa? Nhiều học giả ngày nay cho Thiền là kết quả của sự gặp gở phối hợp giữa Phật Giáo Ấn Độ với Đạo giáo Trung Hoa. Nhưng thực ra Thiền chẳng phải một triết học hệ thống hay là một tôn giáo nghi thức mà là một khoa học thực nghiệm về tâm lý sinh lý, hay đúng hơn một kỹ thuật tu luyện sinh lý tâm lý có tính cách pháp thuật của nhân loại cổ sơ mà Ấn Độ cổ truyền đã sớm qui định vào khoa Yoga ngụ ý tìm tòi nhân thân với Tuyệt đối. Chữ Thiền ở Hán Việt là phiên âm chữ Phạn(Sanscrit). Dhyana nghĩa đen là định niệm, chỉ vào giai đoạn tu luyện thứ 7 trong 8 giai đoạn căn bản của Yoga trong Bà La Môn giáo là :

1. Yama ( không thóa mạ, không tham vọng, trong sạch, chân thật, không tội lổi ).
2. Niyama ( thân thể sạch sẽ )
3. Asana ( ngồi tập : đầu, vai, vế ngay ngắn để xương sống thoải mái )
4. Pramayama ( điều ngự hơi thở để kiểm soát sinh lực )
5. Pratyahara ( tinh thần nội hướng, phản tỉnh thân thể để tìm hiểu vật thể ).
6. Dharama ( tập trung tinh thần vào một đề tài )
7. Dhyana ( định niệm ).
8. Samadhi ( giác ngộ, mục đích của công phu tu luyện trên ).

Và Đạo sĩ Bà La Môn giáo giải thích khoa Yoga cổ truyền ấy như sau :
"Khoa Yoga là một khoa học như các khoa học khác ở trên thế giới. Nó là một khoa phân tích tinh thần, thu lượm sự kiện của thế giới siêu cảm giác để xây dựng thế giới tâm linh. Tất cả đại sư phụ tâm linh trứ danh trên thế giới đều đã nói:" Ta thấy và ta biết!" Chúa Jesus, Thánh Paul và Thánh Jean đều tuyên bố tri giác cụ thể về chân lý tâm linh của các Ngài dạy. Cái tri giác ấy có thể thực hiện bằng Yoga. Chẳng phải ký ức hay ý thức có thể giới hạn đời sống hiện sinh, còn có một trạng thái siêu thức nữa. Cả siêu thức lẫn tiềm thức đều là trạng thái không cảm giác thấy, nhưng có điểm khác nhau lớn này là sự khác nhau giữa sự ngu và sự biết ".

" Tập trung tinh thần là nguồn của tất cả tri thức. Khoa Yoga dạy chúng ta làm chủ thân thể. Yoga nghĩa là nối, tức là nối linh hồn người ta với linh hồn tối cao. Tinh thần hành động bên trong và dưới
ý thức. Cái mà chúng ta gọi là ý thức thì chỉ là một nấc trên cầu thang vô hạn của bản tính thiên nhiên của chúng ta " " Cái Ta của chúng ta chỉ bao phủ đúng được một mẩu nhỏ ý thức và một khoảng lớn vô ý thức, còn bên trên và phần nhiều nó không biết được ấy là bình diện siêu thức ".
"Chỉ Thượng Đế là mục đích của chúng ta, không đạt được thì diệt vong ".(Raja Yoga-Vivekananda)

Trên đây Dhyana của khoa Yoga là trạng thái định niệm vào Thượng Đế(God) coi như mục đích tối cao để thực hiện, còn Dhyana hay Thiền ở Phật giáo không phải nhằm nối cá nhân với Thượng Đế, mà là để thấy Tự Tính hay Kiến Tính, thấy Tự Ngã (Self), thực hiện Tâm Bồ Đề(Bodhi Nếu chúng ta hiểu rằng Thượng Đế nói trong khoa Yoga của Bà La Môn giáo" không tha thiết đến nghi lễ, đến sùng bái, cũng không chú ý đến đức tin nào vào " ân điển " của mình, mà bản thể tự nhiên hợp tác với Tự Tính muốn khai phóng bằng khoa Yoga ",(Patanjali et le Yoga )thì sự nối tinh thần cá nhân với Thượng Đế, và thực hiện Tâm Bồ Đề để thấy " Tự Tính " tưởng không có chi khác nhau cả. Sứ mệnh của Phật kêu gọi chúng sinh đau khổ vì trầm luân trong vòng luân hồi sinh tử. Đối với Phật Thích Ca cũng như đối với tất cả truyền thống Yoga ở Ấn Độ, thì sự cứu khổ chỉ có thể có được là do sức tự cứu, thể hiện chân lý một cách cụ thể. Đấy không phải vấn đề lý thuyết hay trốn tránh vào con đường khổ hạnh nào, mà phải thấu hiểu đồng thời thực nghiệm chân lý.

Đối với Phật Thích Ca người ta chỉ có thể tự cứu bằng cách đạt tới Niết Bàn, nghĩa là vượt khỏi bình diện kinh nghiệm của nhân loại phàm tục và thâu hóa lấy bình diện vô điều kiện, không hệ lụy. Nhưng Phật không hay đề cập đến cái trạng thái vô điều kiện ấy, sợ làm xuyên tạc đi. Bởi thế mà Ngài phản đối tín đồ Bà La Môn gíáo vì họ thuyết nhiều về cái " Bất khả tư nghị " và vì họ đòi định nghĩa tự Tính(soi). Đối với Phật thì " chủ trương Tự Ngã(Atman) có thật, thường tồn là quan điểm sai lầm.

Chủ trương Tự Ngã(Atman) không có cũng sai lầm ". Nhưng nếu chúng ta đọc chổ Ngài nói về kẻ giải thoát vào Niết Bàn, chúng ta thấy giống hệt với hạng" Jivanmukta" = "giải thoát khi còn đang sống" trong khoa Yoga của Bà La Môn giáo :

"Kẻ nào có hạnh phúc bên trong, tâm hồn thảnh thơi yên tỉnh và ánh sáng tâm linh, kẻ ấy là Đạo Sĩ Yaga, trở nên Phạm Thiên, Đại Ngã( Brahman) và đạt tới điểm mà linh hồn cá nhân hòa vào trong Đại Hồn( Brahman) ".(Bhagavad-Gita) Như thế đủ thấy Phật đã nối tiếp truyền thống khổ hạnh thần bí(asceti-comystique)Ấn Độ như thế nào. Ngài tin vào sự giải thoát tại đời sống này nhưng từ chối tất cả định nghĩa về sự giải thoát .

Louis de la Vallée Poussin viết :

"Nếu Bouddha từ chối không giải thích về hạng Giải thoát, không phải vì bậc Thánh, dù đang sống không có thực mà là vì người ta không thể nói được gì xác thiết về bậc Giải thoát ".

Tất cả điều người ta có thể nói về hạng người giải thoát sống, chính giác là họ không thuộc về thế giới này nữa.

" Như Lai(Tathagata) không thể gọi là vật chất, cảm giác, ý niệm,ý chí, tri thức. Như Lai thâm thúy, vô lượng, thâm thúy như đại dương. Người ta không thể bảo Như Lai có, hay không có, vừa có, vừa không, không phải có, không phải không ".

Đấy chính là luận điệu bí truyền(mystique) và thần học phủ định, không,không( neti! neti!) của Áo Nghĩa Thư(Upanisads). Và chính cái luận điệu vừa có, vừa không, vừa không có, vừa không phải không có ấy, là luận điệu để nói về cái thực tại tối cao của Tâm Ấn hay sự kiện trực giác của chư Phật. Khi Phật sắp vào Niết Bàn, e rằng người đời mắc vào lầm lổi và khiên trệ, nên có bảo Văn Thù : Ta giòng dã 49 năm chưa từng thuyết một chữ nào. Lại bảo ta có thuyết gì chăng ? Nhân tiện tay cầm cành hoa giơ lên, mọi người đều không hiểu. Chỉ có Ca Diếp(Mahakasiapa)tôn giả nhách miệng mỉm cười. Phật biết ông hội ý tâm hợp mới đem Chánh Pháp Nhãn Tạng truyền cho. Đấy là Tổ thứ nhất.

Vì thế mới gọi là " Tâm tông truyền riêng ngoài giáo lý - Giáo ngoại biệt truyền chi tâm tông dã ".

Chính đấy là sự " yên lặng hùng biện " của Đức Phật Thích Ca. Và sự yên lặng ấy đưa đến triết học Trung Quán Luận ( Madhyamika ) của Long Thọ Bồ Tát ( Nagarjuna ) thế kỷ thứ 2 để dẫn đến Thiền học ở Á Đông.

Qua sự yên lặng của Đức Phật với cành hoa giơ lên mà Ca Diếp Tôn Giả hội ý cả một chân lý tối cao, thì chân lý ấy là gì ? Cử chỉ của Phật ngụ một số vấn đề mà Ngài đã tuyên bố ở các trường khác hợp là " Bất khả tư nghị "( avyakrta ). Những vấn đề ấy là những vấn đề siêu hình có liên quan đến thế giới hiện tượng, đến đời sống tinh thần và vật chất nhân loại. Đấy là một số vấn đề không có giải đáp được thu vào
bốn loại :

1. Thế giới có mãi, không có mãi, vừa có, vừa không, hay là vừa chẳng có chẳng không ?
2. Thế giới hữu hạn ở không gian hay vô hạn, vừa hữu hạn, vừa vô hạn, vừa không hữu hạn, vừa không vô hạn ?
3. Như Lai ( Tathagata ) bất diệt hay diệt, hay vừa bất diệt vừa diệt, vừa không bất diệt vừa không diệt ?
4. Linh hồn đồng nhất với thân thể, hay khác với thân thể ?
Những vấn đề trên đây do một đạo sĩ Bà La Môn giáo cật vấn Phật, Phật
chỉ trả lời :
"Chủ trương thế giới có vĩnh cửu, hay bất cứ một quan điểm nào, ấy là một rừng rậm chằng chịt, một chuỗi ý kiến đầy đau khổ, thất vọng, lo âu, nguy nan và điều ấy không đưa đến thái độ chống đối, trừ diệt tham dục, ngưng nghỉ yên tĩnh, hiểu biết tối cao, giác ngộ, Niết Bàn".(Văn kiện nguyên thủy của Phật giáo- Ed. J.THomas- Adyar-Paris 1949)

Như vậy ý nghĩa chân chính về sự yên lặng của Đức Phật không cho phép
ta hiểu là " bất khả tri luận " ( agnosticisme ) như thông thường người ta vẫn lầm tưởng vì bất khả tri luận là một thái độ tuyệt vọng và hoài nghi.

Phật có thái độ tích cực để giải đáp các vấn đề siêu hình bằng cách phản đối tất cả quan điểm siêu hình suy luận danh lý để phản tỉnh nội quan, thực nghiệm trạng thái thức siêu việt, và phản đối cách thức độc đoán của lý trí.

Đấy là thái độ phê phán lý trí, lấy phê phán làm triết học vậy.
Cái trạng thái thực nghiệm siêu ý thức cảm nghĩ ấy không phải hư vô luận ( Nihilisme ). Phật tin có thật tại của Niết Bàn coi như tuyệt đối. Ngài chỉ không cho phép ta bàn luận về đặc tính Tuyệt đối Niết Bàn ấy và khoác vào đấy những danh từ ý niệm thuộc thế giới tương đối của nhân duyên phác nghiệm như có, không v.v... Sự yên lặng của Phật chỉ nên hiểu là cái ý thức về bản thể bất khả tư nghị của thực tại tuyệt đối thì không lệ thuộc vào điều kiện thời gian, không gian, nhân quả ví như vật tự thân ( chose en soi ) của Triết gia Kant vậy.

Triết gia Ấn, Radhakrishnan giải thích sự yên lặng của Đức Phật như sau :

" Phật từ chối mô tả Tuyệt đối, vì làm thế phải bước ra ngoài thế giới tương đối mà Phật là người đầu tiên chống đối với kẻ khác về sự chính xác của nó. Tuyệt đối không phải vấn đề quan sát phô phác. Thế giới kinh nghiệm không biểu lộ Tuyệt đối ở chổ nào trong giới hạn của nó cả. Kinh Ưu bà ni tát ( Upanisads ) cũng nhận như thế và cảnh cáo chúng ta không được áp dụng những phạm trù của thế giới hiện tượng vào thực tại tối cao. Nhà tiên tri ở Ưu bà ni tát khi phải mô tả bản tính của Tuyệt đối giữ thái độ yên lặng và nếu hỏi gặng thì Ngài càng giữ yên lặng để kết cục tuyên bố: " Tự Ngã(Atman)là yên lặng "...Upanisads xác nhận và Phật đồng tình rằng chúng ta không thể đạt được sự chính xác trên lý thuyết về các vấn đề cùng tột, và những kẻ giảng dạy đã đạt được là bọn vu khoát muốn thống trị người bình dân. Khi Phật đả phá chủ nghĩa độc đoán của tiền nhân không lẽ Ngài lại muốn thay thế vào đấy chủ nghĩa độc đoán của mình. Như thế chỉ gây tranh biện làm cản trở tiến bộ tâm linh. Phật tuyên bố Ngài không bộc lộ chân lý Ngài biết không phải chỉ vì nó không giúp ích gì cho cho kẻ tìm giải thoát, nhưng cũng vì người ta chủ trương quan điểm khác nhau. Thời ấy biện thuyết suông đã trở nên một bệnh hoạn tinh thần. Đối với Phật, tư tưởng gia Ấn Độ giáo có vẻ lãnh đạm với nhu cầu thâm trầm của đời sống, ai nấy chỉ lo tranh biện đến điểm tột cùng của tư tưởng. bởi vậy mà Đức Phật khuyên đệ tử rút lui khỏi cuộc tranh biện hệ thống tư tưởng để chú ý vào tôn giáo coi như đời sống và đường lối dẫn đến chân lý. Chân lý sẽ tự khai triển tại nơi ta, chừng nào chúng ta tự giải thoát khỏi những thành kiến cố chấp khiến thực tại tự phản chiếu tại ta và biến đổi bản thân chúng ta. Chân lý phải tìm ở đời sống, không phải vấn đề biện thuyết bác học mà là một thiết yếu tâm linh. Thấy rõ giới hạn của lý trí trong sự tìm tòi thực tại, Đức Phật không nghĩ rằng bổn phận của mình là thỏa mãn khát vọng siêu hình, tuy rằng Ngài đã có sẵn quan điểm về vấn đề siêu hình ." ( Indian Philosophy t.I.P.638-4 )

Xem thế thì biết " bất khả tư nghị "về Tuyệt đối đã là quan điểm chung cho cả Upanisad lẫn Buddha. Cả hai bên điều có luận điệu phủ định ( négation )về Tuyệt đối. Chổ khác nhau ở các nhà tiên tri thời Veda là không để ý đến quan điểm triết học về thực tại mà chỉ trực giác thẳng vào Brahman hay Đại Ngã. Họ không ý thức được như Đức Phật về chổ mâu thuẩn nội tại của lý trí. Bởi thế Phật phải đối phó với nhiều hệ thống suy luận đương thời, cho nên đã lấy sự từ chối lý thuyết làm phương tiện đi đến tri thức phi danh lý về Tuyệt đối. Cái ý thức về sự mâu thuẩn nội tại của lý trí và sự cố gắng tìm giải quyết bằng cách vượt lên một bình diện cao hơn lý trí là biện chứng. Và biện chứng pháp là con đường Trung Quán vậy. Upanisad chỉ có luận điệu là biết cái Tự Tính ( le soi ), cái Tự Ngã (atman)thì biết được tất cả và là phương tiện độc nhất để giải thoát. Hệ lụy là vô minh về Tự Tính.

Buddha lại chủ trương Tự Tính, Tự Ngã là điều vô minh, mê vọng đầu tiên của chúng ta. Giác ngộ hay là ý thức về bản tính của đau khổ và nguyên nhân của đau khổ, đấy là biết làm cho con người ta được tự do giải thoát.

Biết của Phật là tự ý thức, là giác ngộ về quá trình diễn biến của thế giới tức là định luật nhân duyên ( pratityasamutpada ) và vượt lên Tuyệt đối vô điều kiện. Tự do là hiểu biết lẽ tất yếu, cho nên vô chấp là giải thoát, chấp là vô minh.

Nguyễn Đăng Thục

Post Reply