Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Nhạc Sĩ Đặng Thế Phong Một Tài hoa bạc mệnh

Lê Hoàng Long


Trăm năm trong cõi người ta
Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau
(Nguyễn Du)
Suy từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, người tài hoa là người bạc mệnh, kẻ hồng nhan thường đa truân. Nhìn vào làng nhạc, nhạc sĩ Đặng Thế Phong là điển hình rõ nét nhất.

Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định. Ông là con trai Đặng Hiển Thế, thông phán Sơ? Trước ba. Nam Định. Thân phụ ông chẳng may mất sớm, gia đình túng thiểu, ông phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung (deuxième année primaire supérieure, nay là lớp bảy cấp hai phổ thông). Vướng vào cái nghiệp văn nghệ từ thủa còn nho? nên ông đã lên Hà Nội theo học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Ecole supérieure de Beanx Arts) với tư cách bàng thính viên (auditeur libre). Đặng Thế Phong đã thực sự lấy nghề nuôi nghiệp: thời gian theo học này, ông đã phải vẽ tranh cho báo Học Sinh (chủ báo là nhà văn Phạm Cao Củng) để có tiền ăn học. Trong một kỳ thi, ông đã vẽ một bức tranh cây cụt, không có một cành nào. Lúc nạp bài, giáo sư Tardieu, thầy dạy ông đã nói rằng có lẽ Đặng Thế Phong không thọ!

Ông đã phiêu du vào Sài Gòn rồi sang Nam Vang vào đầu năm 1941 và mở một lớp dạy nhạc tại kinh đô xứ Chùa Tháp cho đến mùa thu 1941 ông lại trở về Hà Nội.

Cũng giống như Mozart lúc sinh thời, Đặng Thế Phong là một nhạc sĩ rất nghèo, nên cuộc sống của ông chật vật. Ngoài tài làm nhạc, vẽ tranh, ông còn có giọng hát khá hay, tuy chưa được là Ténor nhưng cũng được khán giả hâm mộ. Lần đầu tiên ông lên sân khấu, hát bài Con Thuyền Không Bến tại rạp chiếu bóng Olympia (phố Hàng Da Hà Nội) vào năm 1940, được hoan nghênh nhiệt liệt. Đặng Thế Phong là một thiên tài, nhưng vẫn không có được cuộc sống sung túc giữa cố đô Thăng Long lúc bấy giờ vì nhạc và tranh dù có hay, có đẹp đến mấy chăng nữa cũng chẳng có mấy ai mua. Thời ấy, chính quyền bảo hộ Pháp có mở một phòng triến lãm tranh tại hội Khai Trí Tiến Đức, khu Bờ Hồ Hoàn Kiếm. Sau lễ khai mạc được ông Đốc Lý thành phố Hà Nội đến cắt băng, người ta thấy những người đến xem tranh phần rất lớn toàn là ông Tây, bà đầm, còn người Việt thì đúng là lơ thơ tơ liễu buông mành, nhìn kỹ thấy toàn là các quan ta, những công chức cao cấp, giới trí thức, thượng lưu chứ chẳng thấy một dân thường nào! Ngoài ra, thời bấy giờ chính quyền Pháp có tổ chức mở phòng triển lãm là bảo trợ cho các hoạ sĩ Pháp trưng bày tranh của mình còn hoạ sĩ Việt Nam thì số người lọt được vào, ta có thể đếm trên đầu ngón tay. Đến nhạc thì nếu có in, mỗi lần xuất bản cũng chỉ in nhiều nhất là 500 bản, dân chúng chưa yêu chuộng nhạc cải cách (tân nhạc) nên dù có thực tài thì cũng không thể có được một cuộc sống sung túc nếu nhờ vào sức lao động nghệ thuật!

Đặng Thế Phong phải chịu một cuộc sống khó khăn, chật vật trong "kiếp con tằm đến thác vẫn còn vương tơ" cho đến đầu năm 1942, ông từ giã cõi đời tại căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng Nam Định vì bệnh lao màng (tuberculose péritonique), hưởng dương 24 tuổi, tuổi son trẻ, đầy thơ mộng, sắp bước vào thời xây dựng sự nghiệp (tam thập nhi lập).

Cuộc đời của Đặng Thế Phong thật quá ngắn ngủi nhưng đời sống tinh thần của ông rất phong phú và thi vị. Nhờ thế mà tuy sáng tác chỉ có ba bài :

Con Thuyền Không Bến, Đêm Thu, Giọt Mưa Thu

Nhưng bài nào cũng trở thành vĩnh cửu, qua hơn nửa thế kỷ vẫn là những bài hay nhất của làng nhạc Việt Nam. Nhạc hứng chân thành đều phát xuất từ con tim, vì thế mà sáng tác của ông có hồn, đi vào lòng người và sống mãi ! Qua Đặng Thế Phong, ta chứng minh được văn nghệ tính phẩm chứ không tính lượng (quý hồ tinh bất quý hồ đa) . Con người làm văn nghệ viết được một câu để đời đã là khó, được một tác phẩm để đời là đáng mãn nguyện lắm rồi . Với âm nhạc, người chuyên sư? dụng một nhạc cụ cho thật điêu luyện được tôn kính hơn là người biết sử dụng nhiều thứ đàn, chẳng thế nào có được một thứ thật tuyệt hảo. Về sáng tác cũng vậy, làm cho nhiều, cố nặn cho lắm, thê? điệu nào cũng có bài thì dù viết cả ngàn bài chưa chắc đă có lấy một bài có giá trị nghệ thuật và vĩnh cửu! Chỉ sáng tác có ba bài thôi, Đặng Thế Phong đã sống mãi trong lòng mọi người, chắc chắn là hơn người có cả ba trăm bài mà chẳng có một bài nào để người ta nhớ ! ...........................................

Với nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, muốn thành công là phải có tài năng thiên phú chứ không thể nhờ vào thời gian, kiên nhẫn, sách vở, trường lớp hay bằng cấp mà đạt được! Vì thế chúng tôi dám tôn vinh Đặng Thế Phong là một thiên tài của làng nhạc Việt, thật không ngoa.

Cuộc đời Đặng Thế Phong đã có được một mối tình thật chung thủy tuyệt đẹp : Khi còn ở Nam Định, Đặng Thế Phong đã đem lòng yêu một thiếu nữ buôn bán ở Chợ Sắt, chợ duy nhất và lớn nhất của thành phố. Cô này không đẹp nhưng lại rất có duyên. Sau nhiều ngày đi chơi chợ, Đặng Thế Phong đã lọt vào mắt mỹ nhân. Cặp tình nhân trai tài, gái đảm đã dìu nhau vào cuộc tình thật trong sáng và cao thượng! Điều đáng ca ngợi là chàng nhạc sĩ tài hoa ho. Đặng không bao giờ đụng chạm đến đồng tiền của người yêu, dù cho người đẹp, tên Tuyết, nhiều lần khôn khéo bày tỏ lòng mình muốn giúp chàng. Những buổi chiều trời quang, mây tạnh hay gió mát, trăng thanh, hai người đều dìu nhau trên những con đường ngoại ô để tâm tình. Thời bấy giờ, nhiều thanh niên rất ngưỡng mô. Đặng Thế Phong, khi biết mối tình của cặp Phong - Tuyết, đều mến trọng và tôn kính là một cuộc tình lý tưởng!

Đặc biệt nhất là mấy cô gái phố Hàng Đồng, gia đình rất khá giả tỏ lòng yêu mến Đặng Thế Phong, nhưng ông vẫn một lòng yêu cô Tuyết, dù cô không đẹp bằng mấy cô kia . Có một hôm, mấy cô kia đang đứng nói chuyện với nhau thấy Đặng Thế Phong đi qua, với lối đi có vẻ vội vã. Thấy bóng ông, mấy cô ngưng bặt, rồi chẳng cô ai bảo cô nào, tất cả ánh mắt đều hướng về ông như dán chặt vào người ông vậy. Khi Đặng Thế Phong vừa bước tới ngang chỗ các cô thì một giọng nói đầy hờn dỗi pha thêm mai mỉa, được nói lớn lên, cố ý cho Đặng Thế Phong nghe thấy:

- Mấy chị đứng dịch ra, người ta đi vội kẻo trễ hẹn.


Đặng Thế Phong nghe rõ nhưng coi như điếc, cứ rảo bước như không có gì xảy ra. Đến nơi hẹn, gặp cô Tuyết đã đứng chờ, Đặng Thế Phong kể cho cô nghe vụ vừa bị chọc ghẹo. Cô Tuyết không nói gì mà chỉ tủm tỉm cười với ánh mắt nhìn người yêu thật là trìu mến. Về nhà, Đặng Thế Phong không nói ra với anh chị em mà thầm thì kể cho ông chú họ, cùng lứa tuổi, là ông Nguyễn Trường Thọ biết thôi . Ngoài ra, ông còn kể cho ông Thọ nghe chuyện cô Tuyết có một chàng thông phán trẻ, đẹp trai, có tiền, có địa vị, làm ơ? Tòa Đốc Lý thành phố theo đuổi, còn nhờ cả hai người mai mối nhưng cô nhất quyết khước từ , bất chấp cả lời dị nghị của mọi người, nhất là gia đình cố ý gán ghép.

Năm 1940, Đặng Thế Phong phải tạm xa cô Tuyết để lên Bắc Giang ít ngày. Ai đã đến Bắc Giang là biết thị xã này có con sông Thương, một con sông có hai dòng nước, bên đục, bên trong. Kẻ viết bài này, lúc bé học ơ? Bắc Giang, vào những ngày hè nóng bức, cùng bạn bè ra sông bơi. Đứng từ trên cầu ra tháp nước khá cao, nhìn thấy rõ hai dòng nước đục trong rõ rệt ! ở Bắc Giang, một buổi tối trăng sao vằng vặc, Đặng Thế Phong đã cùng bạn bè thuê thuyền cấm sào rồi cùng nhau chén chú, chén anh hàn huyên mọi chuyện. Đang lúc đang vui thì có người ra dưa cho Đặng Thế Phong một bao thư. Ông ngưng ngay chuyện trò và vào trong khoang, lấy bao diêm ra đốt lửa để coi thư và đây đúng là thư của cô Tuyết, từ thành Nam gửi lên cho ông. Đọc xong thư, ông có vẻ buồn và suy nghĩ. Bạn bè thắc mắc nên hỏi, được ông cho biết thư báo tin cô Tuyết nhuốm bệnh cả tuần rồi và nhớ ông lung lắm nên có lẽ ông phải về Nam Định gấp! Chính đêm này, lúc đêm sắp tàn, Đặng Thế Phong thao thức không sao chợp mắt được, đã ngồi dậy sáng tác được tác phẩm Con Thuyền Không Bến buồn não ruột:

Đêm nay thu sang cùng heo may
Đêm nay sương lam mờ chân mây
Thuyền ai lờ lững trôi xuôi giòng
Như nhớ thương ai trùng tơ lòng...
.. Lướt theo chiều gió
Một con thuyền theo trăng trong
Trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng
Biết đâu bờ bến?
Thuyền ơi thuyền trôi nơi nao
Trên con sông Thương nào ai biết nông sâu?...


Hai hôm sau Đặng Thế Phong từ giã bạn bè, rút ngắn thời gian để về Nam Định. Được tin Đặng Thế Phong đã về, cô Tuyết thấy bệnh thuyên giảm rất nhanh. Và tối hôm sau hai người hẹn gặp lại nhau. Lúc ấy miền Bắc đang vào Thu, gió heo may kéo về mang cái lạnh. Tối hôm ấy trăng lên muộn, trời tối gió nhẹ làm cho hai người thấy thích thú đi bên nhau đê? sưởi ấm lòng nhau sau bao ngày xa cách. Dìu nhau đến nơi cũ, Đặng Thế Phong ghé sát tai cô Tuyết, hát nhẹ nhàng, giọng rạt rào tình cảm như rót vào tai cô bài Con Thuyền Không Bến mà ông vừa sáng tác trong một đêm trắng trên sông Thương vì thương nhớ cô. Khi hát xong, Đặng Thế Phong phải lấy khăn tay ra nhẹ nhàng lau hai giòng lệ đang từ từ chảy xuống má cô với lòng xúc động không kém! Lúc ra về, Đặng Thế Phong nói: Làm được một bài nhạc nhờ em, nay về được hát cho em là người đầu tiên nghe, thế là anh sung sướng lắm rồi!

Cô Tuyết cũng đáp lại lòng tri kỷ: Là một người đàn bà tầm thường như em mà đã làm cho anh có được một bài hát thì với em đó là một vinh dự , một hạnh phúc thật cao sang, không phải ai ở trên đời cũng có được ! Tình anh trao cho em thật trọn vẹn, thật bất diệt, chắc chắn không bao giờ hình ảnh anh bị phai mờ trong tim trong óc em được, bây giờ và mãi mãi. Đến lúc ấy chi. Hằng mới ló mặt ra dịu dàng nhìn xuống trần thế và chứng giám hai người yêu nhau đang đứng sát bên nhau sau khi đã uống cạn lời nói của nhau. Sau hôm ấy, Đặng Thế Phong mới cho phổ biến rất hạn chế trong đám thanh niên tỉnh nhà bài Con Thuyền Không Bến, được mọi người yêu chuộng nên rất nhiều người biết đến.

Chính vì thế mà có một người ở Hà Nội mới mời Đặng Thế Phong lên Hà Nội để hát tại rạp chiếu bóng Olympia bài hát của mình. Trong buổi ấy, Đặng Thế Phong ra sân khấu hát Con Thuyền Không Bến đầy xúc động vì ngay ở hàng ghế đầu, cô Tuyết đã bỏ hẳn một ngày chợ để lên Hà Nội nghe người yêu hát bài làm vì mình và cho mình! Riêng với Đặng Thế Phong, ông xúc động là phải vì với số khán giả đông đảo không đáng ngại mà là trong lòng ông thầm nghĩ hát hôm nay rất cần và chỉ cần để một người nghe là đủ nên phải mang hết tài trí ra biểu diễn sao cho thành công ! Hát xong, khán giả vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.

Sau một thời gian ở Bắc Giang, ông nhuốm bệnh. Vì lúc đó bệnh lao là nan y nên ông dấu mọi người, ai biết đều sợ bị lây nhiễm không hiểu sao cô Tuyết biết được. Cô Tuyết rất tế nhị và khôn khéo hỏi Đặng Thế Phong:
- Sao dạo này em thấy anh gầy và xanh lắm, Anh có bệnh gì không mà em thấy sút lắm ! Anh đi nhà thương khám và thuốc men, cho khoẻ để mình còn tính đến tương lai!

Ông ậm ừ cho qua Từ đó cô Tuyết âm thầm tìm mọi cách để giúp người yêu trong lúc nhà nghèo bệnh trọng. Đặng Thế Phong cũng đến nhà thương để khám bệnh. Sau khi dò hỏi, biết bệnh của ông, cô Tuyết nhân quen với một số y sĩ (médecin indochinois) làm ở nhà thương, mua thuốc rồi nhờ ông ta nhận là thuốc của nhà thương, ông lấy cho Đặng Thế Phong.

Thuốc bệnh lao lúc ấy vừa hiếm lại vừa đắt, cô Tuyết không những không ngại tốn kém, mà còn thường xuyên gặp Phong để săn sóc một cách kín đáo, kể cả không sợ bị lây . Về phần Đặng Thế Phong thì ông không hề biết thuốc là của cô Tuyết mua cho mình.

Trong các cuộc tình cao đẹp của văn nghệ sĩ , có hai nữ lưu đáng để người đời ca tụng : cô Tuyết biết người yêu bị bệnh nan y, rất dễ lây, Mộng Cầm biết Hàn Mặc Tử bị bệnh phong cùi, vừa ghê sơ. vừa dễ lây thế mà hai ngườí đã có tình yêu chân thật, chung thủy, không những không sợ mà còn hết lòng chăm sóc, thuốc men cho đến ngày tử biệt ! Thật hiếm hoi và cao quý vô cùng !

Mùa xuân năm 1941, cô Tuyết cùng Phong từ Nam Định lên Hà Nội dể tiễn chân và tạm biệt Đặng Thế Phong vào Sài Gòn (rồi đi Nam Vang). Ở kinh đô xứ Chùa Tháp, ơ? Hòn Ngọc Viễn Đông một thời gian thấy cuộc sống cũng không được thoải mái như ý mong muốn, Đặng Thế Phong trở về Hà Nội . Về lần này, Đặng Thế Phong không về Nam Định mà thuê một căn gác hẹp tường cây, mái lá ở làng trồng hoa Ngọc Hà, vùng ngoại ô thành phố Hà Nội . Đặng Thế Phong ở chung với chú là ông Nguyễn Trường Thọ. Bệnh tình Đặng Thế Phong tái phát ngày một nặng vì người bị bệnh này phải mua thuốc men đầy đủ, phải nghỉ ngơi và ăn uống tẩm bô? tối đa mà những điều phải ắt có và đầy đủ này, với Đặng Thế Phong không thể có được. Chính vì thế mà không tuần nào là cô Tuyết không lên thăm và lo chữa bệnh cho Đặng Thế Phong.

Tháng Bảy mưa ngâu tầm tã, rả rích suốt ngày này sang ngày nọ, tháng này qua tháng khác, gió lạnh kéo về, nhà thì tường cây, mái lá, lạnh buốt lọt xương, cuộc sống kham khổ khiến bệnh tình Đặng Thế Phong ngày càng trầm trọng. Từng cơn ho làm rũ người, tiếp đến những cơn thổ huyết làm cho Đặng Thế Phong ngày một sút hẳn đi . Một mình trên giường bệnh, Đặng Thế Phong nhớ gia đình thì ít mà nhớ người yêu thì nhiều . Thân xác thì bệnh tật khó qua, tâm trí thì luôn luôn phải vật lộn với trăm ngàn ý nghĩ và hình ảnh cuộc tình tươi đẹp nên bệnh mỗi lúc một tăng. Còn đâu những cuộc hẹn hò thơ mộng, quên làm sao được những lời thủ thỉ ân tình và hy vọng gì ở những ước vọng được thành đôi chim nhạn tung trời mà bay, tất cả đã được Đặng Thế Phong ngày đêm day dứt , tiếc thương, muốn níu kéo lại thì cũng chẳng còn gì dể bám víu !

Đặng Thế Phong đã mang lấy nghiệp vào thân thì đời con tằm đến thác cũng còn vương tơ, tránh sao thoát khỏi cái lưới trời thưa mà khó lọt ấy ? Chính vì lẽ ấy mà Đặng Thế Phong đã thực sự thê? hiện được câu các cụ đã dạy cọp chết để da, người ta chết để tiếng, dù cuộc đời ông ngắn ngủi với 24 mùa lá rụng, một cuộc đời ngắn đến nổi đo chửa đầy gang!

Thế rồi, một hôm mưa rơi tầm tã, giọt mưa lộp bộp trên mái lá, thánh thót từng giọt xuống đường, Đặng Thế Phong buồn quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để có được một nhạc hứng lai láng, tràn trề khiến ông gượng ngồi dậy viết một hơi điệu nhạc buồn da diết, não nề. Ông viết xong bèn đặt tên cho sáng tác mới ấy là Vạn Cô? Sầu . Chập tối ông Thọ về có thêm dăm người bạn đến thăm, Đặng Thế Phong ôm đàn hát cho mọi người nghe . Nét mặt của mọi người nín thở nghe, đều buồn như muốn khóc. Nghe xong, ai nấy đều khen bài hát thật hay, xoáy vào tim vào óc nhưng cái tên bài bi thảm quá, nên sửa lại thì hơn. Chính vì thế mà Đặng Thế Phong, đổi tên là Giọt Mưa Thu . Có lẽ đây là cái điềm báo trước, là lời di chúc tạ từ nên Đặng Thế Phong lấy mưa ngâu, mùa mưa là giòng nước mắt tuôn chảy lênh láng của Chức Nữ với Ngưu Lang để ví cuộc tình Phong - Tuyết cũng phải cùng chung số phận phũ phàng giống vậy chăng ?

Đến một ngày cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi lưỡi hái của tử thần, Đặng Thế Phong mới ngỏ ý trở về Nam Định để được chết tại quê nhà và muốn ông Thọ dìu ông về. Về nhà, lần này cô Tuyết đích thân đến hàng ngày để chăm sóc, thuốc men cho Đặng Thế Phong, không ngại mệt mỏi và không sợ nguy hiểm đến bản thân mình. Những người quen biết đến thăm, thấy cảnh ấy đều mũi lòng và khâm phục lẫn mến thương cuộc tình cao quý, chung thủy của cặp Phong -Tuyết.

Không biết có phải là tại thần giao cách cảm hay không mà một hôm, nhạc sĩ Bùi Công Kỳ đột nhiên từ Hà Nội về Nam Định thăm Đặng Thế Phong lại vừa đúng lúc Đặng Thế Phong sắp lìa đời . Trên giường bệnh, phút lâm chung, không nói gì được với nhau, Bùi Công Kỳ ôm đàn hát cho Đặng Thế Phong nghe một lần chót bài Giọt Mưa Thu, Giọng hát Bùi Công Kỳ vừa dứt thì mọi người nhìn thấy Đặng Thế Phong mở cặp mắt nhìn như ngỏ lời chào vĩnh biệt rồi nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng.

Một vì sao Bắc Đẩu của làng nhạc Việt Nam, vừa ló dạng trên bầu trời đã vụt tắt gây niềm xúc động mãnh liệt và niềm thương tiếc vô bờ trong lòng mọi người ! Trong tang lễ, nam nữ thanh niên của thành Nam đã lũ lượt kéo nhau đi , chật cả phố phường đê? tiễn đưa Đặng nhạc sĩ đến nơi an nghỉ cuối cùng với rất nhiều cặp mắt rưng rưng lệ ! Cô Tuyết xin phép và được cả hai gia đình, mặc đại tang, đúng như một người vợ trong tang lễ chồng, thật là cảm động.

Năm 1960, tại Phú Nhuận, tôi được tiếp một thiếu phụ chưa hề quen biết. Sau lời chào hỏi, bà tự giới thiệu tên là Tuyết, người Nam Định, di cư vào Nam hiện ơ? Ban Mê Thuộc. Nhân lần vô tình đọc trên báo Tư. Do, thấy quảng cáo trước cuốn Nhạc sĩ danh tiếng hiện đại (tập II) của tôi sắp xuất bản, viết về năm nhạc sĩ trong đó có Đặng Thế Phong, nên bà về gặp tôi để xin tôi cho bà mượn hình của cố nhạc sĩ, chụp lại để về thờ. Trước kia, bà đã có nhưng lúc sắp di cư tấm ảnh đó bị thất lạc, kiếm mãi không sao thấy . Tôi vội lấy ảnh đưa ngay . Cậu cháu đi theo bà mang ngay ra tiệm hình ở đầu hẻm chụp gấp lấy ngay, xong trở vào gửi trả lại tôi . Trong lúc cậu cháu đi chụp hình, tôi có hỏi bà về chuyện tình tươi đẹp như bài thơ trong sáng như trăng mười sáu thì bà Tuyết xác nhận những điều tôi biết là đúng và còn bổ sung cho tôi thêm ít nhiều chi tiết . Bà cũng không quên nói lên điều thắc mắc là tại sao tôi biết rõ thế ? Tôi nói thật ngay là được ông chú Nguyễn Trường Thọ cho tôi mượn ảnh, kể rành rẽ cuộc đời ái tình của Đặng Thế Phong cho tôi nghe . Bà cười và nói :

- Chú Thọ tuy là chú nhưng cùng tuổi với anh Phong, nên hai người vừa là chú cháu vừa có tình bạn bè nên trong ggia đình chỉ có chú Thọ là được anh Phong tâm sự mà thôi . Thảo nào ông biết quá rõ, quá đúng và quá đủ ! sau lời cám ơn và trước khi ra về, bà Tuyết còn nói với tôi câu cuối cùng, đến nay đã 35 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ :

- Cho đến ngày hôm nay, và mãi mãi về sau, tôi tôn thờ anh Phong và đời tôi luôn luôn thương nhớ anh ấy với tất cả cái gì trân trọng nhất.

Viết ra những giòng trên đây, tôi xin được phép coi là nén hương lòng, suy tôn một bậc đàn anh khả kính và khả ái . Tuy anh đã ra người thiên cổ hơn nửa thế kỷ rồi nhưng những Con Thuyền Không Bến, Đêm Thu, Giọt Mưa Thu vẫn là những vì sao tinh tú sáng rực trên bầu trời ca nhạc. Thể xác anh có thê? trở về hư không nhưng tinh anh vẫn còn lại muôn đời với giang sơn gấm vóc này . Cuộc đời con người ta, sinh ký, tử quy đó là luật muôn đời của tạo hoá nhưng khi sống cho ra sống, lúc về được qua Khải Hoàn Môn, khi cất ba tiếng khóc chào đời, mọi người hân hoan cười mừng đón ta, khi nhoẻn miệng cười để lìa đời, mọi người thương tiếc khóc ta, thế mới thật là sống, mới đáng sống ! Anh đã vĩnh viễn ra đi nhưng tất cả những thế hệ hậu sinh, dù chưa được biết anh, khi hát những bài hát bất hủ của anh để lại, đều tưởng nhớ đến anh, một thiên tài mà ta có thể nói anh là một MOZART của Việt Nam, với tất cả tấm lòng kính mến trang trọng nhất !

Tôi cả tin rằng, dưới suối vàng. anh cũng có thể mỉm cười mãn nguyện. Hiển linh, anh về chứng giám và nhận cho nén tâm nhang này.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image


VŨ HOÀNG CHƯƠNG:
Nho sinh ngất ngưởng thời Tây học

- Tuy Vũ Hoàng Chương tài năng không hề thua sút những vì sao Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính... trên bầu trời Thơ Mới, nhưng ông lại ít được nhắc tới một cách đáng ngạc nhiên.

Có lẽ vì người ta đọc thơ ông không chỉ bằng “con mắt thơ”, mà còn bằng, và chủ yếu bằng con mắt của đạo đức, con mắt của lề thói, con mắt của đủ thứ cấm kị xã hội?

Có lẽ bởi thế mà vào cuối đời, cay đắng tổng kết cuộc đời mình, Vũ Hoàng Chương đã phải cất một tiếng than dài: “Ta đã làm chi đời ta” (tên tập hồi ký của ông)?

Người cũ trong thơ mới

Trong bài khái luận “Một thời đại trong thi ca” mở đầu tập “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã tạm chia Thơ Mới 1932 - 1941 thành ba dòng: dòng chịu ảnh hưởng Pháp, dòng chịu ảnh hưởng thơ Đường và dòng “có tính cách Việt Nam rõ rệt”.

Nhìn về đại thể, đó là cách chia tương đối hợp lý. Nhưng ở một đôi chỗ tiểu tiết, nhà phê bình tiền bối lại không khỏi khiến kẻ hậu bối viết bài này phải băn khoăn, việc xếp Vũ Hoàng Chương vào dòng Việt chẳng hạn.

Thơ của tác giả “Thơ say” liệu có gì chung với thơ của tác giả “Mười hai bến nước” (Nguyễn Bính, cũng được Hoài Thanh xếp vào dòng Việt)? Vì lý do gì lại không thể coi Vũ Hoàng Chương như một thi nhân thuộc dòng ảnh hưởng thơ Đường, trong khi dấu ấn của Đường thi trong thơ ông quá đậm nét?

Gạt những thắc mắc ấy sang một bên, ít nhất thì việc Hoài Thanh không xếp Vũ Hoàng Chương vào dòng thơ chịu ảnh hưởng Pháp cũng cho tôi can đảm để khẳng định cái cảm nhận ban đầu của mình: Vũ Hoàng Chương là một người cũ trong Thơ Mới.

“Vừa bước chân vào cửa, tôi đã trông thấy một gã nho sinh đang ngất ngưởng ngồi trên chiếc ghế bành đen bóng. Tôi ngỡ ngàng trước lối phục sức kỳ dị của Hắn: mình mặc áo gấm trần, đầu không khăn, chân mang guốc. Trông mặt Hắn có vẻ vừa kiêu hãnh, cao kỳ, vừa có vẻ thơ ngây, chất phác”.

Trên tạp chí “Văn” số 150, Dương Thiệu Mục đã phác họa chân dung Vũ Hoàng Chương bằng những nét như vậy từ ký ức của lần gặp mặt đầu tiên giữa hai người.

Hãy thử tưởng tượng xem: ở thời buổi mưa Âu gió Mỹ đầy trời, khi trang phục của người thanh niên có học sống nơi thành thị phổ biến là veston, mũ phớt, giày giôn, thì cái hình ảnh “mình mặc áo gấm trần, chân mang guốc” của Vũ Hoàng Chương há chẳng khiến người ta thấy ngỡ ngàng hay sao? Nó giống như dư ảnh của một thời xưa cũ còn lưu lại giữa đương thời vậy.

Thật khó tin nếu chúng ta chú ý tới sự kiện là Vũ Hoàng Chương từng tốt nghiệp trường Albert Sarraut, từng theo học đại học luật Hà Nội, rồi đại học toán, nghĩa là ông là người Tây học đến chân răng kẽ tóc!

Sự hiện diện của Vũ Hoàng Chương trong Thơ Mới cũng vậy. Không trình diện làng thơ bằng các thi phẩm mang hình thức toàn luật thi và tuyệt thi như Quách Tấn trong tập “Mùa cổ điển”, nhưng thơ của Vũ Hoàng Chương vẫn gợi lên nơi người đọc cái cảm giác xưa cũ, cái cảm giác được hít thở, được ngâm tẩm trong một bầu khí “đặc” Đông phương.

Cảm giác ấy nảy sinh từ nguồn thi liệu được ông sử dụng. Chúng tuyệt không vướng một chút dấu vết phương Tây. Nhưng, xin được nói ngay, chúng cũng khác xa với Nguyễn Bính: thi liệu trong thơ Nguyễn Bính chủ yếu lấy từ dân gian, mang màu sắc dân gian, có tính chất bình dị; còn thi liệu trong thơ Vũ Hoàng Chương lấy từ lịch sử và văn chương bác học Trung Hoa cổ điển, chúng được nhuộm bởi một gam màu cổ kính, sang trọng.

Nhà thơ của lạc loài, cô đơn

Trong bài “Phương xa”, Vũ Hoàng Chương đã viết, như một tuyên ngôn về tình thế tồn tại và căn bệnh tinh thần của thế hệ mình: “Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa/ Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh/ Bể vô tận xá gì phương hướng nữa/ Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh/ Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ/ Một đôi người u uất nỗi chơ vơ/ Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị/ Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ”.

Nếu điều đó không đúng với tất cả hoặc không đúng với số đông, chí ít, nó đúng với riêng ông. Vũ Hoàng Chương là người luôn sống với hiện tại trong cảm thức chơ vơ, lạc loài, cô đơn, bị ruồng bỏ, chia cắt.

Ông tồn tại ở đây, lúc này, nhưng luôn tin rằng bản thể chân thực của mình là ở trong một không gian khác, trong một thời gian khác. Và ông không ngừng băng qua giới hạn giữa “ở đây, lúc này” với “ở kia, lúc khác” để tìm kiếm cái bản thể ấy và hợp nhất với nó bằng tất cả các phương tiện có thể được: bằng Thơ, bằng Mơ, bằng Dục Tình, bằng Say (say rượu, say nàng tiên Nâu - đây chính là lý do khiến cho không ít phê bình gia đạo mạo đã coi Vũ Hoàng Chương như một điển hình của kiểu thi nhân trụy lạc).

Không khó để nhận thấy trong thơ Vũ Hoàng Chương hai loại “vương quốc” đối lập với “chốn lưu đày” (theo tên một tập truyện của nhà văn Pháp A.Camus: Vương quốc và chốn lưu đày). Loại vương quốc thứ nhất là Cõi tiên, là Thiên giới, ở đó bản thể chân thực của ông là Người tiên, việc ông có mặt tại chốn lưu đày được hình dung như chuyện tiên nhân bị biếm trích hoặc trót dại, sảy chân.

Bài “Tối tân hôn” trong tập “Thơ say” nói rõ điều này: “Do dự mãi, đêm nay rời xứ Mộng/ Ta chiều em, bỏ cánh lại cung Trăng/ Lén bước xuống thuyền mây chờ cửa động/ Vội vàng đi, quên giã biệt cô Hằng... Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải/ Chút thơ ngây còn lại cũng vừa chôn/ Khi tỉnh dậy bùn nhơ nơi hạ giới/ Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn”.

Bài “Động phòng hoa chúc” cũng vậy: “Lìa cõi Mộng, giong thuyền qua bến Tục/ Đoái hoài chi, băng tuyết sẽ vùi chôn/ Em khao khát dìu anh tìm hạnh phúc/ ở men nồng chăn ấm tối tân hôn... Thôi hết nhé, thỏa đi niềm rạo rực/ Từ cung trăng rơi ngã xuống trần gian/ Ta sắp uống bùn nhơ và sự thực/ Sẽ mai đây giầy xéo giấc mơ tàn”.

Vũ Hoàng Chương, một người cũ trong Thơ Mới, và chính vì cái cũ này mà ông đã tự khẳng định mình như một giọng thơ rất riêng trong dàn đồng ca Thơ Mới.

Trong thơ ca phương Đông, việc thi nhân tự coi mình là đấng trích tiên chí ít cũng đã thấy ở Lý Bạch (Trung Quốc) và Tản Đà (Việt Nam), nên Vũ Hoàng Chương không phải là một biệt lệ. Nhưng điều ấy liệu đã đủ để làm nên ở ông hình hài của một người cũ trong Thơ Mới?

Có lẽ phải tìm nó chủ yếu ở loại vương quốc thứ hai: đất nước Trung Hoa trong thời gian quá khứ miên viễn, trong bảng lảng khói sương của những điển tích văn chương đã làm nên niềm tự hào cho nền văn học đóng vai trò hạt nhân của vùng văn học chữ Hán.

Cái bản thể đích thực của Vũ Hoàng Chương, cái đích cho sự tìm kiếm không ngưng của ông nằm ở đó. Nó không phải là một nhân hình cụ thể. Phải chăng, nó chỉ là một ý niệm, ý niệm về thời quá vãng huy hoàng của một phương Đông ngủ quên khi trên bầu trời đang vần vũ những mưa Âu gió Mỹ?

Trong thơ Vũ Hoàng Chương, không ít bài diễn tả cái trạng thái tác giả xuất hồn xuyên thời gian trở về với “thuở trước”, với “nghìn thu”, với “vạn cổ”. Và khi ấy, lịch sử và văn chương cổ điển Trung Hoa đã trở thành nguồn thi liệu vô tận để ông múc lấy, lấp đầy cái thiếu hụt chống chếnh trong tâm cảm hiện tại của mình.

Đây là khoảng khắc khi ông viếng mộ một tình nương: “Ta chẳng biết, nhưng mà ai biết được/ Chân dừng lại hồn trôi vào thuở trước/ Tưởng chừng nghe thánh thót lệ người xưa/ Hán Minh Phi muôn dặm đất Thuyền Vu/ Tiếc cung điện Trường An còn nức nở/ Ai vụng tính để cung đàn lỡ dở/ Ai quên lời sai hẹn lúc chia tay/ Mắt mòn trông, ải Nhạn khói mây đầy” (Bạc tình).

Và đây, khi thi nhân cuồng nộ trong nỗi hận tình như một gã trai tuổi đôi mươi, bất kể nỗi hận tình ấy đã có quãng thời gian mười năm xoa dịu: “Men khói đêm nay sầu dựng mộ/ Bia đề tháng Sáu ghi Mười hai/ Tình ta, ta tiếc! Cuồng, ta khóc/ Tố của Hoàng, nay Tố của ai?/ Tay gõ vào bia mười ngón dập/ Mười năm theo máu hận trào rơi/ Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp/ Khúc Cổ bồn ca gõ hát chơi/ Kiều Thu hề, Tố em ơi/ Ta đương đốt lửa tơi bời Mái Tây/ Hàm ca nhịp gõ khói bay/ Hồ, xừ, xang, xế bàn tay điên cuồng” (Mười hai tháng sáu- thi phẩm có thể xếp vào hạng nhất trong thất tình thi Việt Nam tự cổ chí kim).

Và đây nữa, khi chập chờn mộng ảo trong hương nha phiến, ông đã mở lỏng khóa linh hồn để nghe thấy một “Hơi tàn Đông á”: “Đáy cốc bao la vạn vực sầu/ Ngai vàng Mông Cổ ngự đêm nâu/ Hãy nghe bão táp trong cô tịch/ Vó ngựa dân Hồi dẫm đất Âu/ Thuyền chiến nằm mơ cuộc viễn chinh/ Buồm neo rời rạc bến u minh/ Đâu đây quằn quại trong làn khói/ Lớp lớp uy nghi Vạn Lý thành”.

Nâng nỗi chán chường lên thành nghệ thuật

Là một thi nhân mang nặng căn cốt phương Đông, Vũ Hoàng Chương không thể không biết đến Lý Bạch, nhà thơ lớn của thi ca Trung Hoa thời Thịnh Đường.

Ông hâm mộ Lý Bạch, đã đành, ông còn từ huyền thoại họ Lý say rượu lao xuống sông vớt trăng: “Từ thuở chàng say ôm vũ trụ/ Thu trong bầu rượu một đêm trăng/ Nhảy xuống muôn trùng sông quạnh quẽ/ Đem theo chân hứng gửi cô Hằng” mà phác lên huyền thoại của chính mình: “Ngựa ơi, hãy nghỉ chân cuồng khấu/ Cho thỏa lòng ta nỗi khát khao/ Ta chẳng mò trăng như Lý Bạch/ Nhưng tìm thi hứng mất đêm nao/ Tình hoa thuở trước xô về đọng/ ở phiến gương vàng một tối nay/ Ta lặng buông thân trời lảo đảo/ Mơ hồ sông nước choáng men say” (Chân hứng).

Một sự tự ví, hay phải chăng nhà thơ Việt Nam đã nhận ra ở chính mình và bậc tiền bối Trung Hoa tính đồng dạng về mẫu hình nhân cách, tính trùng lặp về tần số của nhịp tim và sự gần gũi bất chấp khoảng cách thời gian?

Tương tự như vậy, Vũ Hoàng Chương bị ám ảnh không thôi bởi các danh tác của văn chương cổ điển Trung Hoa. Chúng như một quá vãng thân thuộc đối với ông, lại như một thế giới tồn tại song song với thế giới ông đang sống và cho phép ông xuất nhập tùy ý.

Ta có thể “đọc” thấy dấu vết của hàng loạt danh tác văn chương Trung Hoa cổ điển trong thơ Vũ Hoàng Chương. Nhưng đậm hơn cả, phải là “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị, khúc ca lãng mạn về cuộc gặp nơi Tầm Dương giang đầu giữa một ông quan bị biếm trích và một kỹ nữ ở buổi xế chiều của nghề hát xướng.

Vũ Hoàng Chương có ít nhất ba thi phẩm tạo được mạch liên thông với “Tỳ bà hành”, đó là “Đà giang”, “Nghe hát” và “Dựng”. Nếu ở hai bài thơ sau (có lẽ được sáng tác trong hoặc ngay sau hai cuộc đi hát.

Trong hồi ức của nhiều người cùng thời thì Vũ Hoàng Chương hay đi hát và rất sành âm luật) “ý Tầm Dương” chỉ nảy sinh với tác giả khi đào nương cất tiếng hát “Tỳ bà hành”, thì điều đó là không cần thiết ở bài “Đà giang”. “Cắm thuyền sông lạ một đêm thơ/ Trăng thượng tuần cao sáng ngập bờ/ Đâu đó Tầm Dương sầu lắng đợi/ Nghe hồn ly phụ khóc trên tơ”.

Không mượn tới bất cứ một sự “môi giới” nào hết, sầu Tầm Dương là mối sầu khởi phát tự trong lòng thi nhân, là sự chiêm nghiệm đến đáy của một kẻ “đồng hội đồng thuyền” với những người “bên lề” thuở trước.

Hay nói đúng hơn, sầu Tầm Dương chính là miền tâm cảm để thi nhân nhận ra mình qua bao lớp sóng thời gian từ quá khứ đến hiện tại. Vì thế mà Vũ Hoàng Chương mới có thể viết: “Cánh rượu thu gần vạn dặm khơi/ Nẻo say hư thực bóng muôn đời/ Ai đem xáo trộn sầu kim cổ/ Trăng nước Đà giang mộng Liêu trai” (Đà giang).

Tôi muốn dùng lại một nhận định của nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy để khép lại bài viết này: “Biến cái ác (hiểu theo nghĩa triết học) thành cái đẹp, Baudelaire đã tạo nên một tác phẩm có tính chất cách mạng: Những bông hoa của cái ác. Nâng nỗi chán chường lên thành nghệ thuật, đó là đóng góp, chí ít cũng ở Việt Nam, của Vũ Hoàng Chương, tính chất “suy đồi” (hiểu theo nghĩa nổi loạn) và hiện đại của thơ ông” (Mắt thơ, bài “Vũ Hoàng Chương, đào nguyên lạc lối”, trang 148. NXB Văn hóa thông tin, 2000).

Hoài Nam

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Đoàn Chuẩn - công tử Bạc Liêu đất Bắc

“Bản chất của Đoàn Chuẩn là một nghệ sĩ đa tình. Vì thế khó trách cha tôi tội quá đào hoa.
Thú ăn chơi của ông bây giờ hiếm người bì kịp” - nghệ sĩ guitar Hawaii Đoàn Đính đồng thời là Tổng thư ký
Liên đoàn Billiard - Snooker Hà Nội khắc họa chân dung cha mình qua kỷ niệm.

Tài tử Ngọc Bảo, người được coi là hát nhạc Đoàn Chuẩn quyến rũ nhất, người cùng thời với cha tôi thừa nhận:
“Tôi là tay chơi có hạng đất Bắc Kỳ, nhưng còn thua xa người lịch lãm, hào hoa Đoàn Chuẩn”.

Image
Ông bà Đoàn Chuẩn và cô con gái đầu lòng. Ảnh: Đ.Đ.
Đổi ôtô lấy một cây đàn

Cha tôi là con nhà tư sản đứng đầu hãng nước mắm Vạn Vân, một trong năm đặc sản của Hà Nội bấy giờ, nổi tiếng giàu có khắp đất Bắc. Thú ăn chơi của ông bây giờ hiếm người bì kịp. Nhà ông nội tôi có 6 chiếc ôtô để thay đổi. Ngày ấy, cả Việt Nam có hai chiếc Cadillac, cha tôi có một cái. Ông một ngày thay mấy bộ quần áo, giày đi khoảng chục đôi. Cuối tuần ông thường phóng ôtô về bãi biển đẹp nhất Hải Phòng để tắm. Trong khi tất cả các nhà tư sản để xe trên đường rồi đi bộ, thì cha tôi phi thẳng xuống bãi và thuê ô dù che xe. Bóng ô dù bao nhiêu tính diện tích trả tiền bấy nhiêu. Ăn uống của ông cũng rất cầu kỳ: Tôm vừa đánh ở biển lên, trong vòng 15 phút phải bóc nõn, quấn mỡ kho. Trong nhà, ông thuê thợ xây một phòng riêng thả đầy bóng bay lên trần, quả nào xì hơi bắt người nhà đi mua thả bù làm phòng tiếp bạn bè. Khách đến thoải mái uống rượu ngoại, ăn hoa quả.

Ngay cả việc tán gái của ông cũng ngông bậc nhất. Thời trai trẻ, cha tôi phải lòng một người đẹp có tiếng nhưng nàng đang được một anh chàng thế lực đeo đuổi. Ông nhờ thám tử theo dõi và biết được ngày anh chàng kia đến rủ người đẹp đi ngắm cảnh. Sáng hôm đó, khi tình địch vừa đánh xe ra trước cửa nhà, hai tài xế được cha tôi thuê từ trước lái hai chiếc ôtô nhanh chóng đỗ chặn hai đầu, rồi khóa xe nhanh chân biến ra xa. Sau khi vào nhà lấy đồ, anh chàng thế lực quay ra chiếc xe để lái đi đón nàng, thì ôi thôi, ôtô không nhúc nhích được. Đúng lúc đó, cha tôi mới lái chiếc xe riêng hạng sang đàng hoàng đến đón người đẹp đi chơi.

Tiêu tiền như nước là thế nhưng đầu óc ông thi sĩ lắm, chỉ dành cho việc viết nhạc chứ không dành cho việc kiếm tiền. Việc quản lý gia sản giao hết cho vợ. Tính tôi cũng giống cha, chơi ngông. Cha tôi từng đổi một chiếc ôtô lấy một cây đàn guitar Hawaii, còn tôi khi đi Mỹ đã bỏ ra 25 nghìn USD mua cây guitar Hawaii. Số tiền đủ để mua một chiếc ôtô trong khi bản thân tôi đi chiếc Dream mà nếu treo thêm một chiếc mũ bảo hiểm ở đầu xe sẽ có người đến trả 10 nghìn đồng để ra Bờ Hồ.
Image
Về già, gia cảnh sa sút nhưng vợ chồng Đoàn Chuẩn vẫn rất êm ấm thuận hòa. Ảnh: Đ.Đ.
Mỗi bài hát là một mối tình

Ngoài chuyện tình đậm chất quý tộc trên, cha tôi còn là nhân vật chính của một thiên tình sử lãng mạn. Hồi trẻ, ông thương thầm nhớ vụng một bóng hồng. Nhưng với chất công tử hào hoa bậc nhất, Đoàn Chuẩn không trực tiếp đến ngỏ lời, mà bày tỏ niềm yêu của mình bằng một bí kíp có một không hai. Hằng sáng, ông thuê người mua một bông hồng đỏ, mang đến nhà thiếu nữ đó tặng mà tuyệt đối không tiết lộ danh tính. Suốt gần 3 năm, khi bông hoa hồng thứ 1.000 được tặng, thì ông mới hiện ra trên ngưỡng cửa.

Ấy thế nhưng khi cha phải lòng mẹ tôi thì chẳng tốn cánh hoa và cuộc đón đưa nào. Mẹ tôi tên Xuyên, bằng tuổi và học cùng lớp cha tôi, đẹp nền nã và hay mặc áo dài tím. Bà là con gia đình gia giáo, bà ngoại tôi thường bán nụ vối trước cửa. Một hôm, có người đàn bà sang trọng đi xích lô đến cửa nhà ngoại mua nụ vối. Khác với mọi người chỉ mua một cân, vài lạng, bà ấy mua cả một xe. Mấy hôm sau, bà quay trở lại mang theo đồ ăn hỏi cho con trai. Bà ngoại mới ớ ra rằng, người đàn bà bữa trước đến mua nụ vối thực chất là để thăm dò gia cảnh cô gái sẽ trở thành vợ của người thừa kế hãng nước mắm Vạn Vân nổi tiếng. Mẹ tôi ngồi nghe lỏm người lớn nói chuyện với nhau mới biết người muốn cưới mình là anh bạn cùng lớp kín tiếng. Thế là sau khi ăn hỏi, cha mẹ tôi mới chính thức hẹn hò và trở thành vợ chồng năm 18 tuổi.

Cha tôi rất yêu mẹ nên bà cũng thường xuất hiện trong các sáng tác của ông với hình ảnh tà áo tím. Ai cũng biết bài hát Đường về Việt Bắc là Đoàn Chuẩn sáng tác dành tặng vợ với câu “Chiều nào áo tím nhiều quá lòng thấy nhớ người” khi lên thăm hai mẹ con ở chiến khu Việt Bắc. Khi ấy, ông đạp xe đạp, giữa đường vào nghỉ nhờ ở nhà một người dân tộc. Ăn xong bữa cơm thấy người ta thích cái xe đạp quá, cha tôi bèn tặng lại họ, ba lô cũng vất đi đâu rồi vác mỗi cây đàn đi tìm. Gặp vợ con, ông mừng mừng tủi tủi viết luôn bài Đường về Việt Bắc. Còn một bài nữa cũng có hình bóng mẹ tôi nhưng ít người để ý là Gửi người em gái miền Nam với hình ảnh: “Cành hoa tim tím bé xinh xinh đón xuân về”.

Tuy yêu vợ nhưng bản chất của Đoàn Chuẩn là một nghệ sĩ đa tình. Vì thế khó trách cha tôi tội quá đào hoa. May mắn mẹ tôi là người đàn bà tinh tế, hết lòng vì chồng con. Sinh thời mẹ tôi từng nói: “Ông lãng mạn, đa tình lắm. Có vậy ông mới viết được bài hát hay thế. Ông muốn ngang thì ngang, muốn dọc thì dọc, tôi chiều ông hết. Bổn phận của tôi là chăm chồng, nuôi con, lúc nào cũng an phận chịu đựng. Ông không biết đến sinh kế, gia đình, con cái... Đời ông phóng khoáng. Nghe nhạc ông lúc nào tôi cũng ngạc nhiên - sao ông tài thế? Mỗi bài hát là một mối tình đi qua đời ông”. Chính nhờ sự bao dung ấy của mẹ mà gia đình tôi được giữ trọn vẹn. Cha tôi yêu mẹ và sống với mẹ cả đời, nhưng chỉ viết cho bà hai bài hát, trong khi ông yêu một ca sĩ nổi danh xinh đẹp Hà thành lúc đó tên là Thanh Hằng và viết đến 6 bài hát tặng nàng. Mẹ tôi hay chuyện đang ở Hải Phòng lập tức đi ôtô lên Hà Nội. Ai cũng tưởng sẽ có cuộc đánh ghen lớn, nào ngờ mẹ tôi nhẹ nhàng đến gặp cô ấy hỏi: “Chị hỏi thật em, em có yêu anh Đoàn Chuẩn không?”. Thanh Hằng trả lời rằng có. Bà nói tiếp: “Em trót yêu anh Đoàn Chuẩn nhà chị thì em cố yêu nốt ba đứa con của anh ấy nhé”. Thế là Thanh Hằng tỉnh mộng trả mẹ tôi tất cả thư từ của hai người và xé những bài hát cha tôi tặng. Vì thế sau này cha tôi mới viết tác phẩm Bài ca bị xé.

Ngày nhỏ, tôi chưa bao giờ trách cha mình vì đa tình vì nghĩ biết đâu sau này mình cũng giống cha mình như thế. Cha tôi yêu mỗi cô sáng tác được một bài hát, chứ tôi yêu 10 cô cũng chẳng viết được bài nào.
Image
Nghệ sĩ guitar Hawaii Đoàn Đính - con trai nhạc sĩ Đoàn Chuẩn xúc động khi kể lại những câu chuyện về cha. Ảnh: Ngọc Trần.
Ân hận vì không nối nghiệp cha

Tôi thấy cha tôi là người tuyệt vời. Tôi yêu cha nên kể cả tật xấu tôi cũng muốn theo. Tật xấu của cha tôi là thích ăn ngon, thích các cô gái đẹp, hơi nóng nảy nhưng thường những người thiên hướng nghệ thuật mạnh thì ít khi giữ được cảm xúc bình tĩnh. Ông mê đàn Hawaii hơn mọi thứ trên đời. Ông mua những đĩa nhạc Hawai về nghe và quyết tâm sẽ đánh hay hơn đĩa. Có những đêm ông thức trắng nghe những bản nhạc trên đài và chép lại bằng cách tốc ký theo số, rồi sáng hôm sau mới chuyển qua nốt nhạc. Có lần cha tôi đến nhờ ông Lam Chấn - người Hoa dạy Guitar Hawaii xin theo học, ông Lam Chấn mới nói là anh đánh thử đàn cho thầy nghe. Sau khi cha tôi dạo thử một bản, ông Lam Chấn bảo: “Thế này thì thầy chẳng dạy được trò nữa, trò đánh hay hơn thầy rồi”. Cha tôi học ông được 5-7 buổi thì đành nghỉ.

Cha tôi có tất cả 6 người con, hai gái, bốn trai nhưng không bao giờ biết chúng tôi học lớp mấy, trường nào, thầy cô nào giảng dạy. Tuy thế ông rất quan tâm đến việc đào tạo âm nhạc cho chúng tôi. Có lần tôi học không được ông nhốt tôi vào phòng bắt đàn liên tục trong 6-7 tiếng bao giờ kỳ được thì thôi. Tôi giống cha ở tâm hồn khoáng đạt của những người chơi guitar Hawaii, nhưng không thể sáng tác được như cha. Đời con tôi thì chỉ chơi billiard. Tôi cho rằng bố tôi sẽ buồn lắm. Đó vẫn là điều ân hận của tôi vì con cháu không nối được nghiệp cha ông mình.

Vào ngày 29/10, đêm nhạc “Đoàn Chuẩn - Lá đổ muôn chiều” tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội với sự góp mặt của NSƯT Thanh Lam, NSƯT Đức Long, Tùng Dương, Khánh Linh, Thái Thùy Linh, Phương Anh… cùng sự tham gia biểu diễn của tập thể nghệ sĩ Nhà hát Ca múa Nhạc nhẹ Việt Nam. Xen kẽ giữa những ca khúc đặc sắc của ông như: Vàng phai mấy lá, Chuyển bến, Tà áo xanh, Ánh trăng mùa thu, Gửi gió cho mây ngàn bay, Chiếc lá cuối cùng… là những câu chuyện thú vị về Đoàn Chuẩn: huyền sử Đoàn Chuẩn - Từ Linh, các giai thoại về giai nhân, sự im lặng của ông trong suốt 31 năm không viết thêm ca khúc nào hay niềm đam mê và rèn luyện guitar Hawaii hơn nửa thế kỷ. Chương trình hy vọng khắc họa đầy đủ và rõ nét chân dung một nhạc sí tài danh đã có những đóng góp lớn cho nền tân nhạc Việt Nam.


Ngọc Trần ghi

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Hạnh Phúc Lang Thang
Tiếng hát : Hồ Hoàng Yến

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image


Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên:
Một đời cho tình ca
Người Việt Tây Bắc: Nhân dịp nhận giải Pioneer in Music vào ngày 16-10-09 tại Seattle, xin nhạc sĩ Ngô Thụy Miên cho độc giả và khán thính giả ái mộ anh một góc tâm sự. Vào cuối thập niên 1960 sang 1970, khi sáng tác những “ Tình khúc Ngô Thuỵ Miên”, mấy yếu tố tình cảm nào đã chi phối anh nhất?

Ngô Thụy Miên: Thập niên 1960- 1970 khi cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam đã bùng nổ một cách khốc liệt, tình yêu cuả những ngươì trẻ tuổi chúng tôi lúc bấy giờ chỉ là những vành khăn tang, những giọt nước mắt, những xót xa cuả một thời… Là một người sáng tác trẻ, tràn đầy sức sống cuả tuổi đôi mươi, yêu đời và yêu người, tôi có tham vọng là muốn mang lại cho thế hệ tuổi trẻ chúng tôi một niền tin, một niềm hy vọng mới cho tương lai khi con nguời sẽ thương yêu nhau, sẽ quên đi những mất mát, những hận thù đang xảy ra hàng ngày quanh mình. Qua những bàn tính ca trong sáng, lãng mạn và mộng mơ, tôi hy vọng mình đã mở ra đuợc một cánh cửa khác cho tuổi trẻ cuả thế hệ mình, và ở đó chỉ có tình yêu giữa người và người, tình yêu giữa người và cuộc sống, cũng như cuả thiên nhiên, của thời tiết, khí hậu.. Âm nhạc với tôi là một món quà cuả Thượng Đế, và cũng chính là tình yêu.

NVTB: Thời gian ấy, ở Miền Nam VN, Tình Khúc Ngô Thuỵ Miên được khán thính giả nồng nhiệt ủng hộ, những tình cảm thích thú nào từ họ đến với anh? và đã tạo được những ưu điểm nào cho sự nghiệp sáng tác cuả anh?

NTM: Tôi bắt đầu sáng tác từ năm 1963 lúc còn theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn. Năm 1965, tôi hoàn tất nhạc phẩm đầu tay “ Chiều Nay Không Có Em”. Bản tình ca thứ hai đã đượïc các đài phát thanh Sàigòn và Quân Đội cho phổ biến rất nhiều trong hai thập niên 1960- 1970 là ca khúc “ Muà Thu Cho Em”. Đây là bài hát đã mang tên tuổi cuả NTM đến với khán thính giả yêu tân nhạc tại Sàigòn, cũng như ở khắp các thành phố lớn. Từ lòng yêu nhạc, và tình yêu người, tôi đã tiếp tục sáng tác, và cùng với một số thân hữu đi trình diễn ở khắp các giảng đường đại học, các trung tâm văn hoá, và các hội quán văn nghệ Sàigòn để giới thiệu những sáng tác mới cuả mình. Năm 1974, sau khi một số các ca khúc cuả tôi đã được phổ biến rộng rãi, tôi đã cùng một số bạn hữu thực hiện cuốn băng Tình Ca NTM gồm 17 ca khúc, mà trung tâm Thuý Nga đã phát hành ở Sàigòn vào cuối năm 1974. Cuốn băng này được giới yêu nhạc nồng nhiệt ủng hộ; và sau đó tôi cũng cho in một số bản nhạc đang được ưa chuộng, như Mùa Thu Cho Em, Áo Luạ Hà Đông, Chiều Nay Không Có Em, Tuổi 13.. Tôi không bao giờ quên được những tình cảm thích thú từ những giới thưỏng ngoạn nhạc gửi đến một tác giả trẻ như tôi lúc bấy giờ, qua những chuơng trình nhạc yêu cầu, cũng như chính tôi đã chứng kiến một vị thiếu uý trong binh chủng Nhẩy Dù đã ghé vào mua bản nhạc Muà Thu Cho Em và cuốn băng tình ca NTM tại một kiosque trên đường Nguyễn Huệ,..hay trong đêm ra mắt cuốn băng tình ca NTM tại Hội Việt-Mỹ Sàigòn: Tôi đã thực sự xúc động giữa những tiếng vỗ tay, hoan hô nhiệt tình cuả khán thính giả. Từ lâu, tôi đã nhận biết rằng khán thính giả luôn đóng vai trò rất lớn, rất quan trọng trong sự tồn tại cuả một sáng tác phẩm, cuả tác giả sáng tác. Với tình cảm của giới thưởng ngoạn dành cho những sáng tác cuả mình, tôi cảm thấy hạnh phúc, vì những nỗi lòng mình muốn diễn tả ra qua âm nhạc đã được chia xẻ; và tôi đã là một đồng hành tuyệt vời cuả bao khán thính giả. Và dĩ nhiên đó cũng là một động lực thúc nay tôi tiếp tục con đường sáng tác tình ca, để có thể tiếp tục chia xẻ những tình cảm tâm tư riêng cuả mình đến người nghe.

NVTB: Theo anh, 34 năm hải ngoại, khuynh hướng sáng tác nhạc nói chung cuả thời trước 1975 tại Miền Nam VN có còn thịnh hành ở ngoài này?

NTM: Tôi đặt chân lên nuớc Mỹ năm 1980. Cũng đã gần 30 năm trôi qua, nhưng tôi vẫn là một người viết tình ca, như tôi đã sáng tác như thế, cuả những ngày tháng cũ (thập niên 1960- 70). Khuynh hướng sáng tác của tôi vẫn không có gì thay đổi. Tôi cảm thấy mình vẫn là “sứ giả cuả tình yêu”, vẫn muốn chia xẻ những tình cảm luôn luôn được uơm chín từ tâm tư riêng cuả một nguời đã yêu và sẽ yêu để đem đến với bất cứ một ai còn muốn lắng nghe tình ca Việt Nam. Cái khác là truớc 1975 khi còn ở Sàigòn với những thân yêu quanh mình, với những luạ là, mưa nắng hai muà, những quán hàng, những đường phố quen thuộc, từng nguời yêu buổi sáng, buổi chiều… đã cho tôi những cảm xúc để viết lên những tình khúc với ý nhạc nhẹ nhàng, trong sáng, những lời ca dịu dàng, đầy thơ tính. Còn bây giờ, ở hải ngoại, người ta thật vội vàng, xa lạ, bận rộn.. Những thành phố, nhà cửa thật to lớn, nhưng cũng thật là lạnh lẽo, cô đơn.. Tất cả những hoàn cảnh những tình cảm này cũng lại trao cho tôi những hứng khởi mới: Ngày tháng bên này đã và đang để lại trong tôi những nét muộn phiền rất riêng, rất độc đáo, và tôi ghi lại những lời ca “mệt mỏi buồn bã cuả cuộc sống tạm dung”..

NVTB: Là nhạc sĩ chuyên sáng tác các tình khúc qua 40 năm nay, anh nghĩ sao về mọi sinh hoạt của tình khúc nhạc Việt ở hải ngoại và ở trong nước?

NTM: Trong những năm tháng qua, tại hải ngoại chúng ta đang có nhiều người viết trẻ. Họ đã có đầy đủ khả năng, điều kiện sáng tác những tác phẩm tình ca giá trị. Nhưng họ cần được giúp đỡ nhiều hơn để phổ biến những tác phẩm mới đến khán thính giả. Ở hải ngoại chúng ta chỉ có vài, ba trung tâm video ca nhạc đang hoạt động mạnh; các trung tâm băng nhạc nhỏ thì có khá nhiều nhưng hoạt động rời rạc, hạn hẹp. Các trung tâm lớn thì chỉ muốn thâu lại những sáng tác cũ đã được khán thính giả đón nhận từ nhiều năm nay. Và nếu như vậy lấy đâu ra chỗ cho các người viết mới chen chân vào thị trường âm nhạc? Chưa kể đất nước người quá rộng lớn, vấn đề phát hành cũng là một trở ngại không nhỏ! Thực hiện cho mình một cuốn CD mà nếu không có các trung tâm lớn giúp phổ biến hay phát hành thì những tác phẩm này cũng không thể chấp cánh bay bổng trên nền trời âm nhạc Việt Nam được. Hiện nay các mạng lưới Internet đã có khá nhiều diễn đàn văn học nghệ thuật. Ở đây các người viết mới có thể gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm, học hỏi cùng nhau để có thể tiến bộ hơn trong lãnh vực sáng tác. Nhưng dù sao tất cả vẫn còn trong một hoàn cảnh, một môi trường hạn hẹp. Một vấn đề trở ngại lớn khác cho Tình Ca ở hải ngoại là giới trẻ lớn lên ở đây vẫn ít hoặc không nói, không nghe, không viết được tiếng Việt một cách thông thạo nên đã tìm đến âm nhạc Mỹ, và quên đi là mình cũng có những tình ca nhạc Việt tuyệt vời về cả nhạc thuật lẫn ca từ. Tôi nghĩ môi trường sinh hoạt tình ca ở hải ngoại sẽ có thể gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong những thập niên sắp tới, khi số lượng người nghe không còn bao nhiêu và số lượng người viết càng thêm ít ỏi!

Nói về môi sinh của tình khúc nhạc Việt ở trong nước ngày nay thì tôi không dám có ý kiến, vì không sống ở đó nên chỉ dựa trên tài liệu báo chí hoặc internet để phán đoán thôi. Tuy nhiên theo thiển ý riêng, tôi thấy với số lượng người nghe và người sáng tác trong nước đông hơn, nhưng phát triển theo chiều hướng nào thì tôi không biết. Trong những năm tháng qua, tại hải ngoại chúng ta đang có nhiều người viết trẻ. Họ đã có đầy đủ khả năng, điều kiện sáng tác những tác phẩm tình ca giá trị. Nhưng họ cần được giúp đỡ nhiều hơn để phổ biến những tác phẩm mới đến khán thính giả.

NVTB: Ngoài lãnh vực sáng tác các tình khúc anh còn có khuynh hướng sáng tác nào khác hiện giờ không?

NTM: Trong các khuynh hướng sáng tác, thông thường người ta nói nói Tình Ca (đôi lứa), Thân Phận, Quê Hương, Tuổi Thơ,… Từ những ngày đầu tiên sáng tác, tôi đã tự chọn cho mình con đường viết tình ca, vì thấy thích hợp với con người, với cá tính lãng mạn, đa cảm, đa sầu của mình, và cũng chỉ vì tình yêu mãi mãi vẫn là một đề tài muôn thuở cho người nghệ sĩ sáng tác.. một lần nào đó tôi đã có nói là: “chỉ xin được nhớ đến như một người viết tình ca không hơn, không kém”. Song trong môi trường xã hội hiện nay, tôi vẫn tiếp tục viết tình ca, vẫn tiếp tục chia xẻ những tình cảm, tâm tư riêng của mình qua những đổi thay, thăng trầm của cuộc sống nơi xứ người, và vẫn mong được gửi những tác phẩm của mình đến với tất cả những ai có lòng tiếp tục thưởng thức ca nhạc Việt Nam nói chung, và tình ca Ngô Thụy Miên nói riêng….

NVTB: Những ca khúc nào, cho đến nay, mang lại cho anh niềm vui, hãnh diện qua sự yêu mến của khán thính giả? hoặc đã chuyển đạt được nhiều nhất những thông điệp từ nội tâm của anh?

NTM: Cá nhân tôi vẫn yêu mến mấy ca khúc đặc biệt mà tôi đã hoàn tất nhạc trước khi đặt lời, bốn ca khúc này mang một chút âm hưởng nhạc cổ điển Tây Phương: Mắt Biếc, Từ Giọng Hát Em, Dốc Mơ, và Miên Khúc. Ngoài ra, hai ca khúc tôi nghĩ đã được nhắc đến nhiều nhất, đã chuyển đạt được gần như tất cả những điều tôi muốn chia xẻ với người về tình yêu, đó là Niệm Khúc Cuối, và Riêng Một Góc Trời. Niệm Khúc Cuối là ca khúc trong sáng lãng mạn, tôi viết từ năm 1971, có thể nói bài hát này đã được thu thanh, thu hình nhiều nhất trong các tác phẩm của tôi: “Tình ơi! Dù sao đi nữa, xin vẫn yêu em”Vâng, đó là điều duy nhất tôi muốn nói về tình yêu. Hãy cho, hãy chấp nhận và hãy tha thứ để tình yêu vĩnh viễn mãi là niềm tin và hy vọng của chúng ta. Bài hát thứ hai tôi viết ở hải ngoại năm 1996: “Riêng Một Góc Trời”:“Đời như sương khói, mơ hồ trong bóng tối.Em đã xa xôi, tôi vẫn chơi vơi, riêng một góc trời”.Nếu hạnh phúc là những kỷ niệm sáng nắng chiều mưa của một thời, là những tàng lá úa rơi buồn trong nỗi nhớ hay những nụ hôn, những giọt nước mắt lặng lẽ vẫn chìm sâu trong trí tưởng… thì “Riêng Một Góc Trời” đã là một người bạn đồng hành tuyệt vời cho những tâm hồn đã yêu, đang yêu và mãi sẽ còn yêu.

Khi Trung Tâm Thúy Nga phát hành cuốn “Video Tình Ca Ngô Thụy Miên” năm 1992, tôi nhận được nhiều điện thoại cùng những lời khuyến khích đến từ khán thính giả khắp nơi đã xem cuốn video này: Những lời cám ơn đều dành cho một sáng tác tôi viết ở SàiGòn sau năm 1975: “Em Còn Nhớ Mùa Xuân”, một ca khúc tôi viết trong một bối cảnh đặc biệt, kể lại những giao động một thời trên quê hương đất nước, và nói lên tâm sự của một người thanh niên giữa những mất mát đổi thay đang xảy ra quanh mình. Đây là ca khúc duy nhất tôi viết có mang chút bối cảnh xã hội, và cũng đã nói lên được những rung cảm của thanh niên thế hệ trẻ chúng tôi ngày tháng đó. Phải nói đây là một ca khúc đã mang lại cho tôi những niềm vui và hãnh diện đặc biệt trong cuộc đời sáng tác của mình.

NVTB: Anh còn có những cảm nhận nào khác, trong giai đoạn hiện thời về một ngõ mở mới cho những ca sĩ trình diễn các sáng tác của mình, ở thế hệ nối tiếp?

NTM: Dòng nhạc thính phòng đang gặp trở ngại, khó khăn về nhiều phương diện: Người nghe nhạc thính phòng đã ít lại càng ít hơn khi thế hệ người lớn tuổi đã ra đi, và thế hệ trẻ thì tìm niềm vui trong những dòng nhạc khác, hay nhạc ngoại quốc!

Nhạc sĩ -Một số anh em sáng tác cũ đã ra đi. Những người còn lại mệt mỏi với đời sống thường ngày, đã không còn đủ cảm hứng để tiếp tục viết nhạc. Lớp người viết mới thì không có điều kiện phổ biến sáng tác của mình. Thực hiện được một cuốn CD mà nếu không có sự giúp đỡ của các trung tâm thì những tác phẩm đó cũng sẽ dần vào quên lãng! Một ca khúc được sáng tác, nếu không được giới thiệu đến người nghe, không được khán thính giả chấp nhận thì cũng chỉ là một tờ giấy với những nốt nhạc, không hơn không kém! Người nhạc sĩ sẽ có thể là mất dần đi những cảm hứng sáng tác một khi những tác phẩm của mình bị chìm vào quên lãng theo ngày tháng.

Ca Sĩ - Lớp ca sĩ cũ trình bày nhạc thính phòng như Tuấn Ngọc, Lệ Thu, Khánh Ly, Khánh Hà, Ý Lan...vẫn được khán giả ái mộ, nhưng tất cả cũng còn một thời gian không lâu nữa là sẽ phải từ giã sân khấu. Và thế hệ hát nhạc thính phòng nối tiếp như Y Phương, Nguyên Khang, Diễm Liên, Trần Thái Hòa... hiện nay cũng đang được sự yêu mến và được sự ủng hộ nồng nhiệt của khán thính giả. Họ là những tiếng hát hiếm quý trong vườn âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại. Tuy nhiên, nhìn lại số lượng ca sĩ hát nhạc thính phòng còn quá ít, so với những ca sĩ hát nhạc trẻ hay nhạc quê hương…Về các chương trình ca nhạc, có thể nói các show thính phòng được tổ chức trong các cộng đồng Việt Nam khắùp các nơi trên thế giới vẫn rất ít so với các chương trình tạp lục. Khán thính giả của dòng nhạc thính phòng rất chọn lọc nên khi tổ chức, ban tổ chức thông thường chỉ mong được hòa vốn là coi như đã thành công! Các trung tâm băng nhạc thì cần đáp ứng với nhu cầu thưởng ngoạn của mọi tầng lớp khán thính giả, và sự góp mặt của dòng nhạc thính phòng thường chỉ còn là một hoặc hai tiết mục nhỏ trong chương trình.

Tôi vẫn nghĩ, tìm cho được con đường mới để các thế hệ ca sĩ nối tiếp có cơ hội duy trì, phát triển dòng nhạc Thính Phòng ở hải ngoại, không phải là một chuyện dễ làm! Vì ngày nào nhu cầu thưởng ngoạn của khán thính giả dòng nhạc thính phòng không phát triển, ngày nào các ca nhạc sĩ còn vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc trình diễn và phổ biến các tình khúc thì ngày đó dòng nhạc này sẽ vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

NVTB: Anh còn có ý kiến gì hơn về tình hình sáng tác của người Việt nói chung có những sự kiện hoặc thành quả nào đáng lưu ý ảnh hưởng đến kích thích những xúc cảm sáng tác hoặc làm chững lại rung cảm sáng tác của riêng Ngô Thụy Miên hoặc với Anh Bằng, Lam Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Đức Huy, Thiện Lý.. thành danh từ trước 1975 hoặc một số người viết mới tại xứ người?

NTM: Trong những năm tháng qua, tại hải ngoại cũng như trong nước đều có những tác giả trẻ, những sáng tác phẩm giá trị. Nhưng hầu hết các tác phẩm được giới thiệu và phổ biến rộng rãi vẫn chỉ là những ca khúc. Chúng ta không thể phủ nhận sự đóng góp quan trọng của ca khúc phổ thông vào vườn hoa âm nhạc Việt Nam, nhưng tôi vẫn kỳ vọng nhiều hơn nơi những nhạc sĩ trẻ bây giờ. Tôi nghĩ rằng họ đã có cơ hội thật đầy đủ, thật tốt đẹp để nghiên cứu, trau dồi, học hỏi những dòng nhạc mới lạ trên khắp thế giới qua những phương tiện như CDs, Internet, Concerts, Books mà những người viết nhạc chúng tôi 30, 40 năm trước không thể có. Họ là những người có thể làm mới lạ hơn cho âm nhạc Việt của chúng ta với kiến thức tổng hợp của hai nền âm nhạc Đông-Tây. Dĩ nhiên khi viết những tác phẩm này, họ cần phải có cơ hội và môi trường để phổ biến. Tôi hy vọng qua các concerts, hay các chương trình của các trung tâm video, họ sẽ được trang trọng dành cho ít nhất một tiết mục để giới thiệu, đưa giới thưởng ngoạn đến một cuộc hành trình mới vào âm nhạc Việt Nam của chúng ta ở thế kỷ thứ 21 này!

Nếu nói Âm Nhạc là một phương tiện tiêu biểu hiện được những tình cảm giao hòa giữa con người và con người, giữa con người và cuộc sống, giữa con người và thiên nhiên, thời tiết thì tôi cho rằng anh em sáng tác chúng tôi (trước 1975), cho dù là ở trên quê hương, với những tháng ngày, kỷ niệm thân yêu quanh mình hay đang bận rộn trên phần đất tạm dung này với những đổi thay, thăng trầm của cuộc sống, chúng tôi vẫn tiếp tục sáng tác, vẫn tiếp tục gửi đến đời, đến người những tác phẩm được viết từ trái tim còn tuổi trẻ như ngày nào (Riêng Một Góc Trời-1996). Và như vậy, tôi không nghĩ đây là một hiện tượng, khi một số nhạc sĩ chúng tôi vẫn có những tình khúc tuyệt vời (như Anh Bằng mới sáng tác: Anh Còn Yêu Em/thơ PTT, Đừng Xa Em/thơ BH (2009)) vẫn đang viết nhạc tình trong năm 2009) (như Đức Huy-Khóc Một Giòng Sông) mà khán thính giả trên toàn quốc đã hoặc sẽ chia xẻ với tác giả.

Từ ngày ra hải ngoại, tôi cũng như Anh Bằng, Lam Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Đức Huy.., vẫn tiếp tục cống hiến những ca khúc, tác phẩm bất hủ; và tôi hy vọng họ vẫn mãi là người bạn đồng hành bên cạnh những người đã yêu, đang yêu, và mãi sẽ còn yêu!

* Phạm Kim
(Người Việt Tây Bắc ) thực hiện 10-09

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Napoléon của Stanley Kubrick (Quỳnh Giao)

Quỳnh Giao

Image
Cuốn phim hay nhất về Napoléon là... cuốn sách

Vốn có tính khiêm nhường rất... khiêm nhường, khi còn sống, Hoàng Ðế Napoléon của Pháp đã từng nói rằng đời ta có thể là một cuốn tiểu thuyết hay. Nếu lại là người có trí tưởng tượng cũng phong phú như cuộc đời tình ái của ông, Napoléon đã có thể nói thêm, rằng đời ông sẽ là một cuốn phim hay. Vào thời kỳ mà ông đòi chinh phục cả Âu Châu, nhân loại mới chỉ viết sách hay diễn kịch thôi, chứ chưa phát minh ra điện ảnh.

Trong thế giới điện ảnh, Stanley Kubrick là đạo diễn cũng có chất ngoại khổ như ông hoàng đế ở đặc tính là cầu kỳ khó tính. Ông chú ý đến từng chi tiết tỉ mỉ và có thể đòi các diễn viên quay đi quay lại một cảnh tới trăm lần rồi mới vừa ý. Mà ý của ông thường là một sự kỳ diệu của điện ảnh. Thế thì khi đại đạo diễn mà được giới thiệu với đại hoàng đế thì nhân loại phải có phút bàng hoàng... Có khi là ngàn phút.

Ðáng lẽ là như vậy. Nhưng Stanley Kubrick mất đã 10 năm rồi và kết quả của cuộc hội ngộ ấy lại không đơm hoa kết trái, cho nên thiên hạ đành thòm thèm chờ đợi.

Tháng này, liều lĩnh lắm thì thiên hạ cố mua một cuốn sách vĩ đại về một nhân vật vĩ đại mà một đạo diễn vĩ đại không được quay thành phim vĩ đại. Cuốn sách vĩ đại vì quá lớn, nó dày 1,900 trang, và quá đắt vì trị giá 700 đô la. Nếu có đặt mua trước trên Amazon, và được rẻ hơn 20%, thì cũng thành 560 đồng! Nó là loại tác phẩm sưu tầm mà các nhà khá giả trưng trong phòng khách, hoặc là niềm ước mơ của người hâm mộ Stanley Kubrick.


Cuộc hạnh ngộ giữa đạo diễn và hoàng đế bắt đầu từ bốn chục năm trước.

Sau khi hoàn tất xong phim khoa học giả tưởng “2001: A Space Odyssey”, năm 1969 Stanley Kubrick đòi được giới thiệu với Napoléon một cách trực tiếp, qua những người có thẩm quyền là giới nghiên cứu lịch sử. Kubrick còn mua bản quyền của cuốn biên khảo về Napoléon, trả thù lao rất hậu cho tác giả để mời giáo sư sử học này làm cố vấn, rồi hành hạ ông bằng cả trăm câu hỏi tỉ mỉ.


Chỉ vì Kubrick dự tính sẽ quay một cuốn phim về cuộc đời Hoàng Ðế Napoléon.

Từ đấy, Kubrick đi tìm lấy Napoléon tại đảo Corse khi chú bé Bonaparte này mới lên bốn, để xem chú bé ăn mặc ra sao, ăn nói thế nào và kỹ lưỡng ghi lại từng chi tiết. Ông được Bộ Văn Hóa Pháp giới thiệu để cho người đi đến mọi nơi Napoléon đã đặt chân tới. Họ chụp hình, ghi chú tường tận hầu có thể dựng phim trường ngay tại hiện trường của lịch sử. Kubrick còn cho vẽ lại mọi loại y phục của thời đại Napoléon, một dự án không nhỏ. Lính Pháp ăn mặc phải khác lính Anh, lính Phổ, lính Nga. Ðại tướng hay đô đốc, hoàng hậu hay công nương, của phe này xứ kia, cũng phải có nét riêng và phải gần với sự thật.

Ðể chuẩn bị cho công trình ấy, Stanley Kubrick thu thập 17 ngàn tấm hình cổ, được chụp lại và lưu trữ bằng thẻ xuyên phiếu IBM, vì thời đó chúng ta chưa có điện toán như thời nay. Chỉ riêng bản phân cảnh kỹ thuật ông nguệch ngoạc bằng tay cũng đã dài tới 186 trang! Ngôi nhà của ông trở thành là một viện bảo tàng bỏ túi về Napoléon, có gom lại và đánh số thì cũng gần trăm thùng!

Như vị hoàng đế kia, Kubrick đã phái sứ giả qua tận xứ Romania để thuê một đạo quân. Một lực lượng phụ diễn gồm một vạn kỵ binh và bốn vạn bộ binh. Thì mới đủ cho trận Austerlitz và vụ rút chạy khỏi Moscow...

Trí não của ông là không gian rộng lớn của Âu Châu và cuộc đời ly kỳ của một “chú cai” từ đảo Corse bước lên thành hung thần của các nước Âu Châu khác. Một sân khấu vĩ đại với cả ngàn nhân vật trong nhiều trận đánh ngoài chiến trường, trong chính trường hay cả tình trường của ông hoàng đế đa tình.

Trong đầu, Stanley Kubrick trù tính sẽ quay mất 150 ngày để có được cuốn phim dài chừng ba tiếng. Những người cộng sự tất tả chạy theo ông thì tin rằng phải mười tiếng hay mười hai tiếng mới đủ. Chúng ta đã có thể có loại “phim bộ” về cuộc đời Napoléon dưới ống kính của Stanley Kubrick!

Trên một sân khấu huy hoàng như vậy, Stanley Kubrick cũng đã nghĩ tới các diễn viên như Jack Nicholson, Peter O'Toole, Alec Guiness, Charlotte Rampling, Jean Paul Belmondo... Người được ông dự tính mời đóng vai Hoàng Hậu Joséphine là Audrey Hepburn thì kín đáo từ chối vì nàng nghe nói rằng lần đầu mà anh hùng gặp kỳ nữ là ở trong một đêm trác táng tập thể! Nhưng không sao, người đẹp thì thời nào chẳng có.


Còn lại chỉ là việc dàn quân đánh trận.

Stanley Kubrick trù tính phải tốn vài chục triệu đô la, vào thời đó đã là kỷ lục tốn kém nhất, tính theo đời nay có lẽ là cả trăm triệu. Muốn “dựng lại một phim lịch sử đầu tiên có giá trị”, như ông nói không một chút khiêm tốn, thì phải có tầm nhìn cỡ Napoléon, và chịu rất nhiều phí tổn. Phim “Spartacus” nổi tiếng của ông thời xưa không thể nào sánh được. Thời điểm khởi sự sẽ ở khoảng 1970-1971...

Thế rồi một buổi chiều... hãng MGM bỗng giật mình tính lại. Thời buổi kinh tế khó khăn, lại vừa bị thua lỗ vì mấy cuốn phim trước... MGM bỏ dự án. Ôm một mối mơ, Stanley Kubrick đi qua United Artists và thất vọng thêm lần nữa. Cuốn phim vĩ đại nhất vẫn chỉ có trong mơ. Ông bèn tự an ủi với một tác phẩm khác “The Clockwork Orange”, cuốn phim thời đó đã gây chấn động và để lại một ấn tượng lạ cho những người yêu nhạc Beethoven. Sau đấy còn nhiều kiệt tác nữa...

Sau này rất lâu, đạo diễn Kubrick đã nhìn lại dự án một cách triết lý hơn khi phát biểu rằng “mọi dự tính đều nhét vào hòm cả.” Mọi cuộc chinh phục của Napoléon cũng thế, khi thi hài ông hoàng đế được người Anh nhét vào hòm. Nhưng nghệ thuật thì vẫn hy vọng tồn tại. Nghe nói rằng các tay phù thủy điện ảnh như Steven Spielberg, Ridley Scott hay Ang Lee có thể sẽ giúp hoàng đế hồi sinh. Chúng ta chờ mong mà biết đâu là sẽ thất vọng vì không phải là Napoléon của Stanley Kubrick.

Biết đâu chừng, nếu được xem tập sách đồ sộ về cuốn phim chưa bao giờ có về Napoléon, có lẽ chúng ta không kinh ngạc về cuộc đời của ông hoàng đế bằng tiến trình sáng tạo còn vĩ đại hơn trong bộ não của một thiên tài điện ảnh.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Chúng ta cùng một thuyền/trôi lần vào bóng tối (Du Tử Lê)

Image
Trương Trọng Trác, Trần Tam Tiệp, Nguyên Sa, Du Tử Lê (1975).

- Lake City,Georgia, Chủ Nhật, 31 Tháng Năm, 2009: Chẳng thể nhớ đã bao lâu, tôi không có được cho mình, một buổi sáng yên tĩnh, thanh nhàn thân/tâm như sáng nay.

Buổi sáng ngửa mặt hứng những lượng nắng mật ong, theo trái thông, rớt khô sân sau ngôi nhà Xuyên Trà. Gió mang theo mùi lá mục, hơi mốc, ẩm của những con suối bách bộ dưới rừng dương bên kia lộ. Ngôi thánh đường của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Atlanta (hàng xóm của bạn tôi), đóng cửa. Nguyên khu nhà đầu dốc, tuồng cũng êm ả trôi theo tiếng động cơ rù rì của đôi ba chiếc xe, đổ dốc về phi trường...

Trong lúc chờ T.Q.C. chúng tôi cùng hút thuốc. Tôi nói với X.T. về niềm hạnh phúc, mỗi ngày được sống, thêm. Thấy cây, cỏ, hớn hở. Thấy nắng, gió, khoan thai. Thấy thiên nhiên, căng bầu vú, cho vạn vật bú, mớn. Thấy bằng hữu mất, còn, cũ, mới, vẫn lênh đênh xao xuyến tìm nhau.

Tôi nói với X.T., chúng ta thật may mắn, khi còn đủ minh mẫn để nhớ không riêng người quen, gồm luôn kẻ lạ, mà, chúng ta còn nhớ một cách thân thiết, cận kề xiết bao, với những người đã mất.

Tôi nói với X.T., anh em quanh ta, thưa dần. Nhưng, ở thế giới bên kia, quây quần, ấm áp làm sao, số đông bằng hữu. X.T. đồng ý với tôi, đời sống không chỉ có hiện tại. Ðời sống còn có quá khứ. Nhờ những người đã chết mà, người sống đôi khi, thấy đời mình có ý nghĩa hơn!?!

Tôi muốn kể cho X.T. nghe, những ngày cuối cùng của tác giả trường ca “Hội Trùng Dương,” Hoài Bắc/Phạm Ðình Chương. Ông bảo, nhiều người khuyên ông, không nên mổ. Không nên cho dao kéo đụng vào cơ thể khi bệnh ung thư đã ở giai đoạn thứ ba. Nhưng tác giả “Ly Rượu Mừng” thở ra:

“...Kệ. Trước sau gì cũng chết. Sống được tới giờ này, cũng đã quá đủ rồi!”

Tôi muốn kể X.T. nghe, những ngày cuối cùng của tác giả “Ta thấy hình ta những miếu đền,” Mai Thảo. Những giấy phút cuối đời, ở bệnh viện Garden Grove, ông chỉ đòi cho ông, ly café sữa đá và, một điếu thuốc lá!...

Tôi muốn kể X.T. nghe, những cú điện thoại cuối, chót từ bệnh viện của tác giả “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm,” Nguyên Sa. Ông kể tôi nghe, cuối cùng, ông đã quyết định “trở lại đạo” - Những bài thơ trên giường bệnh - (Và,) sự hài lòng, từ những ngày đầu tỵ nạn quê người, chúng tôi đã có nhiều cơ hội gặp gỡ.

Tôi muốn nói với X.T., điều tôi chú ý, điều tôi trân trọng, không phải là sự kiện tác giả “Áo Lụa Hà Ðông” trở lại đạo mà, sự kiện ông đã ăn ở với thi ca, tận cùng hơi thở, cuối. Tôi nghe và, ghi nhớ lời ông, còn như một nhắn nhủ...

Tôi muốn kể X.T. nghe, vài tháng trước khi bất ngờ đi khuất, Ngọc Dũng, người họa sĩ lớn (với tôi), từ nhân cách tới tài năng, đã có với chúng tôi một buổi trưa ngồi bệt trên cỏ, chung quanh ngôi mộ tác giả “Căn Nhà Vùng Nước Mặn,” trong vườn Vĩnh Cửu, ở thành phố Westminster. Ông đốt cho Mai Thảo, nén hương và, điếu thuốc lá. Ông nói chuyện với bạn ông, như thể hai người đang ngồi với nhau trong căn phòng phía sau nhà hàng Song Long, “...Tụi tao ghé thăm mày. Mai tao và Lệ lại phải về lại Virginia. Cứ nằm yên đấy. Ít lâu nữa, tao sẽ lại thăm mày...”

Tôi muốn nói với X.T., tôi hiểu câu Ngọc Dũng nói với Mai Thảo, chỉ có nghĩa, mai mốt, khi ông về Ca Li, tôi sẽ lại là người chở Ngọc Dũng, đi thăm Mai Thảo. Tuyệt nhiên, chúng tôi (luôn cả T., Từ Công Phụng và Hiệp,) không hề nghĩ, dù chỉ một thoáng: Vài tháng sau, Ngọc Dũng, thành viên sáng lập Sáng Tạo, đã chọn gặp lại bạn, theo cách của ông.

Buổi sáng Atlanta, cùng với gió mang theo mùi lá mục, hơi mốc, ẩm của những con suối bách bộ dưới rừng dương bên kia lộ. Từ nơi vườn sau ngôi nhà X.T. ở Lake City, tôi biết tôi còn nhiều điều để kể... Thí dụ, cuộc đối thoại cuối cùng giữa tôi và Sĩ Phú, ít tuần, trước khi “Tiếng hát đằm thắm, ở được với mai sau,” sẽ “đi xa.” Ðó là những dặn dò bất ngờ:

“Bác sĩ bảo, tao chỉ còn ít tuần nữa. Có người đang gom một số bản nhạc tao đã hát trong cuộc đời ca hát của tao. Mày viết cho tao ít dòng. Mày nghĩ sao, thấy thế nào thì cứ viết ra như thế.”

Buông máy xuống, tôi nói với T., về sự tự trọng của Sĩ Phú, cũng giống như tiếng hát của ông, khó tìm thấy nơi người thứ hai.

Tôi cũng muốn kể cho X.T. nghe, bản chất kín đáo nhưng, chân tình của tác giả “Kinh khổ,” Trầm Tử Thiêng; khi ông rủ tôi ra nhà hàng Denny's trên đường Beach, chỉ để... “cưa đôi” bản quyền thu băng đầu tiên, ông nhận được từ một trung tâm băng nhạc.

Tôi muốn kể, nhiều thêm, bằng hữu khác. Những người đã “đi xa,” trên, dưới mười năm qua.

Buổi sáng ở Lake City, khi ngôi thánh đường của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Atlanta (hàng xóm của bạn tôi), đóng cửa. Nguyên khu nhà đầu dốc, tuồng cũng êm ả trôi theo tiếng động cơ rù rì của đôi ba chiếc xe, đổ dốc về phi trường...

Cuối cùng, tôi lại thấy, không cần thiết nữa, những điều kể trên. Bởi vì cùng với những trái thông rớt khô nơi vườn sau ngôi nhà X.T., cùng với những bước đi khoan thai của con suối cạn nước, tôi cảm nhận được sự hiện diện, đâu đây, của nhiều người đã khuất. Thỉnh thoảng, tôi vẫn thấy, dường trên từng tấc thịt da, ẩn sâu nơi mỗi rung động, thấp thoáng trong những ngôn ngữ tôi sử dụng, thậm chí, từng hơi thuốc tôi hút... có sự hiện diện của biết bao người thân, biết bao bằng hữu.

Tôi vẫn nghĩ không ai mất đi. Họ vẫn hiện diện. Cách của họ.

Cũng như tôi không thấy cần thiết phải nói với X.T. rằng, đêm trước, buổi tối, khi ngồi với nhau trên ban công của quán café ở thành phố Lake City, khi nghe X.T. kể về những năm lao tù của ông; trở về, lần đầu đầu tiên cháu Trà My thấy mặt cha và, từ nơi bị chỉ định cư trú, mỗi đêm ông đạp xe vượt qua nhiều chục cây số, để lén lút thăm vợ con ít tiếng. Rồi lại lén lút chia tay vợ con, trước khi trời rạng sáng. Tôi cũng không thấy cần thiết phải nói thêm một điều gì về chuyện kể, vợ ông từng nghĩ tới chuyện tự tử, khi không còn một chút hy vọng nào về sự sống sót của người chồng; nếu bà không có những đứa con còn quá nhỏ...

Tôi vẫn nghĩ, thảm kịch mặt nào đó, cũng đã giúp cho đời sống, thêm đáng sống.

Con người tồn tại được tới ngày hôm nay, có dễ cũng nhờ những tia hy vọng le lói dù, đôi khi, rất ảo!

Cầm lên ly café đã nguội, ngó mông hàng dương bên kia lộ, tôi buột miệng nói với bạn, “Hạnh phúc thật nhỏ nhoi. Nhỏ nhoi tới tội nghiệp.”

X.T. gật đầu, “đúng thế.”

Ông vào nhà. Trở ra, ông trao cell phone cho tôi.

Ðầu giây bên kia bất ngờ: Ðinh Cường. Càng bất ngờ hơn, khi Ðinh Cường cho tôi biết, ông đang ở xa. Bạn ông đã bước vào giai đoạn cuối. Giống Trương Trọng Trác cách đây mấy tháng...

Tôi trao máy lại cho X.T. Ông hỏi tôi:

“Tin xấu?

Tôi gật đầu:

“Tin xấu.”

Những điếu thuốc khác được đốt thêm.

Buổi sáng, thành phố Lake City vẫn gửi những dãi nắng mật ong theo những trái thông, rớt khô xuống sân sau nhà X.T. Ngôi thánh đường của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, Atlanta, vẫn đóng cửa. Khu nhà đầu dốc vẫn trôi theo tiếng động cơ rù rì của đôi ba chiếc xe, đổ dốc về phi trường... Nhưng buổi sáng, với tính khí bất thường của nó, đã thình lình, lấy đi khỏi chúng tôi chút hạnh phúc nhỏ nhoi.

“Nhỏ nhoi tới tội nghiệp.”

- Garden Grove, California, Thứ Hai 1 Tháng Sáu, 2009: Năm giờ chiều. Gió mang theo hơi nước (như phần dư thừa của một cơn mưa hay, rớt bão, đâu đó), đi ngang thân thể tôi. Nguyễn Ðình Thuần gọi. Báo tin, người bạn của Ðinh Cường đã mất!”

Tôi có lại cái bàng hoàng, như khi được tin Trương Trọng Trác qua đời. Ở cả hai trường hợp, tôi biết chắc chắn, ngày tôi mất họ, không xa. Nhưng, phải chăng sự biết trước (dù chắc chắn đến đâu), đôi khi, vẫn nghịch chiều xúc động?

Tôi bảo Thuần, Ðinh Cường mới nói với tôi sáng qua, ít gì cũng sẽ được đôi ba ngày nữa. Thuần quả quyết, “Không. Chính anh Ðinh Cường xác nhận với Thuần...”

Lần này, tôi không phải trả điện thoại lại cho ai. Chỉ có gió tiếp tục mang theo hơi nước (như phần dư thừa của một cơn mưa hay, rớt bão, đâu đó), đi ngang thân thể tôi.

Buổi chiều, sau đấy tôi nhận được điện thư của bạn tôi ở xa. Hỏi tôi có biết tin xấu? Thư ngắn. Rất ngắn. Chấm dứt bằng hai chữ “Tội nghiệp.”

Tôi không biết hai chữ “tội nghiệp” bạn tôi dành cho ai?

- Lucille, Garden Grove, Thứ Năm, 5 Tháng Sáu, 2009: Tôi nhận được điện thư của Ðinh Cường, báo tin đã trở lại Virginia. Tôi rời bàn máy. Ra sân. Tự cho phép mình hút một điếu thuốc mới. Trở vào. Tôi “reply” cho bạn, vắn tắt, “Mất hay còn, chưa hẳn khác nhau đâu. Bạn đồng ý?” Thay vì trả lời, Ðinh Cường gửi lại tôi hai câu thơ cũ: “Chúng ta cùng một thuyền/trôi lần vào bóng tối.”

Tôi hiểu, khác biệt giữa chúng ta, (bất cứ kẻ nào, cũng chỉ là hai chữ “đã” và “sẽ”! Nên, tôi nhìn những bằng hữu đã “đi xa” của tôi, như những tấm gương.

Tấm gương cống hiến và, lòng tử tế, khi còn sống.

Du Tử Lê

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Hồn tử sĩ gió ào ào thổi


Hồn tử sĩ gió ào ào thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu, tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt, nào sai gọi Hồn


Đoàn Thị Điểm



Có người bạn vong niên giới thiệu: "Nếu có đi nghỉ hè ở miền Nam nước Pháp thì nên đến Fréjus để xem Đài Tưởng Niệm những chiến sĩ đã ngã xuống trên chiến trường Đông Dương". Fréjus là một tỉnh nằm sát bờ biển Địa Trung Hải ở Đông Nam nước Pháp. Cứ ngỡ Đài Tưởng niệm là một cây trụ, một ngôi nhà xây cất kiểu đình chùa ở Việt Nam. Nhưng đây là cả một nghĩa trang rộng lớn. Chính xác, khu đất này rộng 23.403 mét vuông. Hơn hai mẫu đất mênh mông. Không khí trang nghiêm, đượm mùi linh thiêng của nhang khói. Gió biển thênh thang lồng lộng khiến không thể nào không nhớ đến câu thơ của bà Đoàn Thị Điểm trong trường tập Chinh Phụ Ngâm Khúc: "Hồn tử sĩ gió ào ào thổi"... Đài tử sĩ là một vòng tròn lớn nơi để hơn 27 ngàn bộ hài cốt các chiến sĩ đã bỏ mình trên những trận địa ác liệt của quê hương Việt Nam cách đây vừa tròn nửa thế kỷ. Nhìn lên bức tường ghi tên tuổi khoảng 34 ngàn chiến sĩ đã bỏ mình, có thể thấy được bên cạnh những người Pháp chính cống, có những người gốc Phi Châu và nhất là không ít tên tuổi Việt Nam, những người chiến sĩ thuộc Quân Đội Quốc Gia Việt Nam chiến đấu bên cạnh quân đội viễn chính Pháp.


Image


Nghĩa trang tử sĩ chiến trường Đông Dương tại Fréjus



Bất chợt gặp một ông già người Pháp. Thấy khách lặng người trước những tên tuổi Việt Nam, ông bắt chuyện và tự giới thiệu là một cựu quân nhân đã từng chiến đấu chống cộng sản ở Việt Nam. Ông còn tiết lộ, chính ông đã là một thành viên của phái đoàn Pháp thương thảo với chính quyền cộng sản Việt Nam về việc "hồi hương" hài cốt các tử sĩ về đây. Bằng một giọng bình thản, đôi khi cố giữ cho bình thản, ông đã cho khách biết những chi tiết ít ai được biết.

Cuộc chiến tranh Đông Dương bùng nổ vào ngày 19/12/1946 và đã kết thúc sau khi Hiệp Định Genève được ký kết vào lúc quá nửa đêm ngày 20 rạng 21/07/1954. Trong cuộc chiến tranh kéo dài hơn 7 năm, đã có 47.000 chiến binh trong quân đội Pháp bỏ mình trên chiến địa. Sự hiện diện của người Pháp đã thực sự chấm dứt vào ngày 14/09/1956 khi ngưòi lính Pháp cuối cùng đã lên tầu tại bến cảng Sài Gòn. Từ đó đến năm 1975, đã đưa được về Pháp 11.747 bộ hài cốt. Số còn lại đã được cải táng về nghĩa trang quân đội Pháp tại Tân Sơn Nhất và Vũng Tàu là hai nghĩa trang được xây dựng kiên cố từ năm 1959 đến năm 1964. Với sự chấp thuận của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, hai nghĩa trang này đã được coi như nơi an nghỉ vĩnh viễn cho các tử sĩ của quân đội viễn chính Pháp. Từ 1975 về sau, vấn đề các nghĩa trang này trở nên khó khăn. Thoạt đầu, tại miền Bắc, chính quyền cộng sản thỏa thuận tập trung hài cốt về nghĩa trang Ba Huyện. Pháp đã phải chi một ngân khoản quan trọng cho công việc cải táng này, phần để thuê mướn công nhân, phần trả cho chính quyền các cấp. Nhưng thế vẫn chưa yên. Nhiều vấn đề mới đã phát sinh. Vấn đề thứ nhất do chính quyền cộng sản Việt Nam có chính sách phá hủy những di tích của các chế độ cũ, khởi đầu là những nghĩa trang quân đội cũng như dân sự. Vấn đề thứ nhì là nghĩa trang này thường bị xâm phạm và mộ các tử sĩ thường xuyên bị đập phá, khó giữ lâu bền được. Năm 1980, Pháp đã có quyết định di cải toàn bộ hài cốt các tử sĩ về Pháp. Các cuộc thương thuyết giữa Pháp và cộng sản Hà Nội đã được khai diễn từ năm 1984 và kết thúc bằng một thỏa ước ký kết vào ngày 2/8/1986.

Pháp đã giao công việc di cải này cho Bộ Cựu Chiến Binh và Nạn Nhân Chiến Tranh với sự hỗ trợ của Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng. Công việc khai quật tại nghĩa trang Tân Sơn Nhất và Vũng Tầu kéo dài từ ngày 1/10/1986 đến ngày 21/10/1986. Công việc khai quật tại nghĩa trang Ba Huyện kéo dài từ ngày 24/5/1987 đến ngày 27/10/1987.



Image


Các ngăn hài cốt, nơi an nghỉ cuối cùng của các tử sĩ



Ngày 10/10/1988, ông Jacques Chirac, lúc đó là Thủ Tướng đã ra tận sân bay Charles De Gaulle để đón tiếp những cỗ quan tài đầu tiên được hồi hương từ Việt Nam và sau đó Tổng Thống Pháp, Francois Mitterrand đã tiến hành lễ nghi quân cách tuyên dương tại điện Invalides. 27.239 bộ hài cốt đã được đưa về Pháp trong đó có 3.630 bộ hài cốt dân sự đã được chính quyền Việt Nam chôn chung với các tử sĩ tại nghĩa trang Ba Huyện.

Kể đến đây, người cựu quân nhân Pháp bỗng đổi giọng trở nên đanh thép. Khách cũng thấy trong lòng dậy lên những đợt sóng cồn. Ông cho biết, chính quyền cộng sản Việt Nam đã ra giá là mỗi kilô hài cốt, Pháp phải trả cho họ 6 đô la Mỹ, ngoài những phí tổn khai quật, cải táng. Trong tiếng cười khẩy đầy khinh bỉ ông cho biết "Họ mang cả cân ra cân". Đến đây, khách hồi tưởng khi xưa bà nội đã từng cân xương hươu, nai, hổ, gấu, để nấu cao... mà lòng đầy phẫn nộ. Ông còn hóm hỉnh cho thêm chi tiết là trong Nam, mỗi bộ hài cốt họ tính 3 kilô, còn ngoài Bắc, họ tính 5 kilô ! 27.239 bộ xương, kể cả những bộ xương dân sự thành ra bao nhiêu cân ? Bao nhiêu tiền ? Ông còn thêm một chi tiết nữa. Đó là lúc đầu Pháp đề nghị đưa máy bay của Pháp từ Tân Đảo (Nouvelle Calédonie) ra Bắc để chở hài cốt vào Nam trước khi đưa về nước; nhưng chính quyền Hà Nội không chấp thuận và bắt buộc phải dùng máy bay của họ, chế tạo tại Liên Xô. Nghe đâu có 1 chiếc máy bay sau khi chở hài cốt vào Sài Gòn, lúc bay không trở ra đã đâm vào núi, cả phi hành đoàn mạng vong.




Image

Bức tường tưởng niệm ghi danh tử sĩ



Khách vừa thẹn vừa giận đã chia tay người lính già. Đi được mấy bước quay đầu trở lại: Người lính già đang lấy khăn lau chùi tên những người chiến binh Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Dường như ông muốn lau nước mắt cho người chiến hữu của mình.

Trần Đức Tường
Image

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image
Happy Halloween !!!

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

NHỮNG KHUÔN MẶT CỦA MỘT THỜI VÀNG SON QUÁ KHỨ

Image

Image

Post Reply