Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
CarteNoire
Posts: 374
Joined: Mon Sep 21, 2009 11:58 pm

Post by CarteNoire »

Image

Ngày Hiền Mẫu 9 tháng 5

Thương Nguyên
Nhập gia tùy tục, người Việt Nam định cư tại Mỹ năm nay sẽ cùng toàn thể Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ mừng Ngày Hiền Mẫu (Mother's Day) vào ngày 9 tháng 5, tức là ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5, năm 2010. Nhân ngày truyền thống này của các bà mẹ trên quê hương mới và cũng nhân mùa tưởng niệm ngày 30 tháng 4 hằng năm, Trang Phụ Nữ hân hạnh giới thiệu đến chị em phụ nữ đoạn văn sau đây của Thương Nguyên viết về gương hy sinh không bờ bến của những bà mẹ Việt Nam sau khi miền Nam tự do rơi vào tay cộng sản hồi năm 1975. Ðoạn văn này được trích từ bài viết nhan đề “Ngày Hiền Mẫu” của tác giả đăng trên Mạch Sống Online.

Rồi biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến, ngày miền Nam Việt Nam bị cưỡng chiếm. Mẹ chưa hết nỗi mừng vui chờ ngày đất nước hết cơn binh lửa thì đã cảm nhận thảm họa bao trùm xuống toàn cõi quê hương. Ðau khổ, đói lạnh, đè nén, áp bức khắp nơi. Các con của Mẹ cũng chịu cảnh lao tù như bao nhiêu bạn bè trong binh nghiệp. Mẹ mang nặng nỗi nhớ thương những đứa con bị lưu đày biệt xứ. Tuy tuổi đã già, nhưng Mẹ đã phải tiếp tục ngược xuôi trong cuộc đổi đời, tìm đường sinh kế để nuôi các con trong tù cải tạo. Mẹ lặn lội đường rừng đến trại tù thăm con.

Trong những phút giây ngắn ngủi ở khu thăm nuôi, mẹ khóc thương cho đời con lao đao và kể lể những nỗi nhớ thương mỏi mòn của mẹ.

Lòng mẹ ngàn năm vẫn dạt dào
Chua xót thân già đời lận đận
Ngậm ngùi phận trẻ kiếp lao đao

(Nguyễn Vô Cùng)

Nhìn thân thể các con bị đọa đầy, tim Mẹ nát tan. Mẹ cầm lấy tay con nghẹn ngào, như muốn ôm trọn những đau thương thay thế cho con. Rồi mỗi lần nghe tin có những tù nhân nào được tha về, Mẹ cũng đến để muốn hỏi thăm tin tức về các con của Mẹ.

Tay mẹ hiền cầm lấy tay con...
Như muốn chuyền hơi ấm tình thương

(Kha Lăng Ða)

Những khổ cực nghiệt ngã đã làm oằn lưng mẹ, làm khô héo đôi tay gầy guộc, tô đậm trên trán, trên đôi gò má của Mẹ nhiều vết nhăn nheo. Những tàn phai của thời gian được ghi dấu trên mái tóc bạc phơ.

Ngày Ðông mưa nhỏ hàng hiên
Mẹ mang thùng hứng cho quên nỗi sầu

(Hoàng Minh Hùng)

Khi các con được ra tù thì thể xác đã nên tiều tụy, tinh thần suy nhược, và đời sống bất ổn, Mẹ tiếp tục đỡ nâng bằng cách vay mượn tiền và bán hết đồ đạc trong nhà, gom góp cho các con bí mật vượt biên...

Hình ảnh người Mẹ ốm yếu đứng bất động ở một góc bến xe, nhìn theo chiếc xe đò cũ kỹ đưa các con đi mà bà rưng rưng nước mắt. Mẹ âm thầm nghẹn ngào chắp tay nguyện cầu cho các con của Mẹ được thành công đến bến bờ tự do.

Khi cảnh đời biển thẳm hóa nương dâu
Mẹ tiễn con đi, mắt chan chứa lệ sầu
Máu mùa Hạ còn vương đọng cành phượng vĩ

(Kha Lăng Ða)

Trời cao có mắt: Các con của Mẹ được đến bến bờ tự do an toàn. Mẹ mừng rỡ khi nhận được bức điện tín đầu tiên báo tin các con đã định cư an toàn trên xứ người. Lá thư hồi âm nào Mẹ cũng viết thật dài. Mẹ khuyến khích các con cố gắng làm lại cuộc đời và dạy dỗ cho con cái phải biết sống theo đạo lý, và đừng bao giờ quên quê hương, nguồn cội của mình.

Những buổi chiều khi hoàng hôn buông xuống, Mẹ nhớ đến các con, Mẹ gọi tên từng đứa. Mẹ nhớ những ngày khi các con còn nhỏ dại, một mình Mẹ thay Cha đơn côi nuôi con khôn lớn. Nhớ ngày nào đứa con út còn theo chân Mẹ đến trường, mà bây giờ tất cả đã khôn lớn, mỗi đứa một nơi. Giờ đây Mẹ vẫn tiếp tục hiu quạnh một mình trong căn nhà xưa. Có còn nỗi đau nào hơn nữa hay không?

Chắt chiu cùng năm tháng
Mẹ tần tảo ngược xuôi
Nuôi con ngày khôn lớn
Mỗi đứa một phương trời
Nay tuổi già vóc hạc
Thui thủi bóng vào ra
Muộn phiền vai mẹ gánh
Liêu xiêu buổi chiều tà

(Vương Ðức Lệ)

Các con của Mẹ giờ đây đã có một cuộc sống ổn định ở nước ngoài, và không ngừng gởi về cho Mẹ đủ loại thuốc bổ dưỡng. Nhưng căn bịnh do tuổi già của Mẹ bắt đầu nhen nhúm. Mấy thứ thuốc bổ dưỡng đó không làm Mẹ khỏe hơn. Thân thể Mẹ từ từ lụn xuống. Lưng Mẹ vì xương quá yếu nay oằn xuống, còng lại, Mẹ không còn sức lực để đứng thẳng người được nữa. Giờ Mẹ chỉ mong gặp lại mấy đứa con của Mẹ trước khi qui tiên.

Rồi một ngày những đứa con thân yêu của Mẹ bất chợt về quê thăm Mẹ. Mẹ hỏi “đứa nào đây,” con của Mẹ suýt hét lên vì mới biết là mắt Mẹ đã mù. Con nghẹn ngào khóc nức nở vì tấm lòng hy sinh trời biển của Mẹ. Mẹ sợ những đứa con của Mẹ làm lụng vất vả khổ sở nơi xứ người nên Mẹ không than van, không xin thuốc hay xin tiền con để chữa trị.

Mẹ đưa hai tay sờ lên đầu từng đứa con rồi mấy đứa cháu. Ôi, tình mẫu tử thiêng liêng...

Qua bao biến đổi của cuộc đời, tình mẫu tử vẫn là một hằng số cố định. Niềm vui của Mẹ vẫn là muốn được nhìn thấy con cái thành đạt trong cuộc sống. Ngày nay nhìn những thành công vượt bực của người Việt hải ngoại chỉ trong vòng hơn ba thập niên qua, những thành tích huy hoàng của giới trẻ Việt Nam tại các trường đại học, các ngành nghề cao cấp trong xã hội như Y, Nha, Dược, Bộ Trưởng Y Tế, các Luật Sư, Kỹ Sư, Giáo Sư, Dân Biểu Hoa Kỳ, Phi Hành Gia Hoa Kỳ, các nam nữ Sĩ Quan Không Quân, Hải Quân, Cảnh Sát Trưởng Hoa Kỳ, các Ðại Thương Gia, nam nữ Phóng Viên chiến trường, Nhạc Sĩ, Nghệ Sĩ, và còn nhiều nữa.... Tất cả những thành công này là hoa trái từ những công lao và hy sinh của người Mẹ Việt Nam, những tấm gương sáng cho muôn thế hệ Việt.

Xin được tôn vinh những tấm lòng quá nhân ái, cao đẹp của những người Mẹ Việt Nam, của những người phụ nữ đã phải trầm luân cùng thân phận của đất nước. Tất cả những công lao và hy sinh của những người Mẹ đều có giá trị, đều biểu hiệu một tình thương, đều mang ý nghĩa của một sự cho đi phần nào của chính mình. Thật không dễ tìm phụ nữ của một dân tộc nào trên thế giới có sức chịu đựng và nhẫn nhục như phụ nữ Việt Nam. Xin được ghi xuống đây lòng tri ân muôn đời đối với những người Mẹ Việt Nam.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Bài phỏng vấn Bs. Phạm Hồng Sơn của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ
http://www1.voanews.com/vietnamese/news ... 55624.html
VOA Tiếng Việt Cập nhật Thứ Năm, 06 tháng 5 2010

Rối loạn ở Thái Lan và Phong trào Dân chủ ở Việt Nam

Trong thời gian gần đây, giữa lúc những vụ xuống đường biểu tình của phe Áo Ðỏ ở Bangkok gây ra những vụ xáo trộn lớn cho xã hội Thái Lan, một số người đã nhấn mạnh tới “tình hình chính trị ổn định” của Việt Nam với ngụ ý cho rằng “tranh đấu cho dân chủ có thể dẫn tới hỗn loạn.” Ðể tìm hiểu quan điểm của giới tranh đấu dân chủ Việt Nam về vấn đề này, Ban Việt ngữ VOA đã tiếp xúc với Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, người từng bị chính quyền Việt Nam cầm tù nhiều năm vì đã dịch và phổ biến trên internet bài viết “Thế nào là Dân chủ?” được đăng trên trang nhà của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Mời quí thính giả/độc giả theo dõi cuộc phỏng vấn do Duy Ái thực hiện sau đây. Duy Ái | Washington D.C Thứ Năm, 06 tháng 5 2010 .



VOA: Hồi gần đây, trước tình hình hỗn loạn ở Thái Lan, một số người nói rằng đây là một diễn tiến bất lợi cho các phong trào dân chủ trên thế giới, đặc biệt là phong trào dân chủ Việt Nam, vì dân chúng có thể sẽ bớt ủng hộ cho phong trào vì không muốn thấy tình trạng rối loạn xảy ra. Là một người từng bị cầm tù và không ngớt bị sách nhiễu vì những hoạt động cổ xướng cho dân chủ Việt Nam, ông nghĩ sao về nhận định vừa kể?



Phạm Hồng Sơn: Để trả lời câu hỏi này của VOA, trước tiên tôi xin được nói sơ qua về nội dung của hai chữ “Dân chủ”.

Thứ nhất, trải qua lịch sử loài người tính từ thời Hy lạp cổ đại (trước CN khoảng 600 năm) đến nay, khái niệm “Dân chủ” trong khoa học chính trị ngày nay không chỉ bó hẹp trong một số cách hiểu rất đơn giản và thiếu hụt là xã hội có đa đảng hay có tổ chức các cuộc bầu cử có cạnh tranh. Mặc dù trong giới khoa học chính trị hiện nay vẫn chưa thống nhất được một bộ tiêu chuẩn cho “dân chủ”, nhưng các bộ tiêu chuẩn cho “dân chủ” hiện có thường xoay quanh năm vấn đề sau đây: 1. Các cơ quan truyền thông độc lập (không bị kiểm soát hoặc không phụ thuộc chính quyền) 2. Đời sống dân sự và các hội đoàn dân sự độc lập (không bị kiểm soát hoặc không phụ thuộc chính quyền) 3. Các tự do cơ bản của con người (nhân quyền) được thực thi. 4. Có cạnh tranh chính trị để chọn ra những người quản lý, lãnh đạo quốc gia. 5. Hệ thống quyền lực nhà nước có ba nhánh độc lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp).

Thứ hai, vì “dân chủ” được xác định bởi môt tập hợp các tiêu chuẩn, do đó các quốc gia khác nhau có thể ở những mức độ “dân chủ” khác nhau. Theo tổ chức nghiên cứu chính trị độc lập Economist Intelligence Unit thì có 4 mức độ dân chủ là: “dân chủ đầy đủ” (full democracy), “dân chủ thiếu hụt” (flawed democracy), “phi dân chủ” (nghĩa là độc tài, độc đoán, authoritarian) và một mức trung gian gọi là “chế độ hỗn hợp” (hybrid regime).



VOA: Thưa ông, dựa vào những tiêu chuẩn đó chúng ta có thể đánh giá ra sao về mức độ dân chủ ở Thái Lan?

Phạm Hồng Sơn :

Theo một xếp hạng năm 2009 về dân chủ của tổ chức Freedom House hoặc năm 2008 của Economist Intelligence Unit thì Thái Lan chỉ được đứng giữa trong nhóm các quốc gia “dân chủ thiếu hụt” (flawed democracy) hay còn gọi là nhóm “tự do một phần” (partly free).

Nhìn vào các bảng xếp hạng vừa kể, chúng ta chỉ thấy bạo loạn xảy ra ở các quốc gia “dân chủ thiếu hụt”, “độc tài” hoặc “hỗn hợp”. Ngoài ra, ta có thể thấy trong các quốc gia “dân chủ đầy đủ” cũng có những bất đồng chính trị, thậm chí khủng hoảng chính trị (như đang xảy ra ở Bỉ) hoặc có những cuộc biểu tình lớn phản đối chính phủ (như mới diễn ra ở Hy lạp) nhưng tất cả những khủng hoảng, phản kháng đó đều được giữ trong khuôn khổ ôn hòa và trật tự, những xô xát hay thậm chí thương vong (nếu có) đều ở mức thấp và trong tầm kiểm soát. Nhìn vào các nước “dân chủ đầy đủ”, thậm chí cả một số nước “dân chủ thiếu hụt” (có điểm số cao) như Đài Loan, Israel, Hungary, chúng ta cũng thấy “dân chủ” (đầy đủ) không chỉ giúp xã hội loại bỏ việc sử dụng bạo lực trong giải quyết các bất đồng mà còn là điều kiện để có một môi trường sống (thiên nhiên và xã hội) lành mạnh, một cuộc sống an toàn cho người dân. Trong bảng xếp hạng của Economist Intelligence Unit thì Thụy Điển là quốc gia đứng đầu bảng trong nhóm “dân chủ đầy đủ” và Bắc Triều tiên đứng cuối bảng trong nhóm “phi dân chủ” (độc tài), điều này có thể đi đến một kết luận là nếu chỉ căn cứ vào “bạo loạn” thì một quốc gia không có bạo loạn thì chỉ có thể là quốc gia đó rất tự do (dân chủ đầy đủ) hoặc rất mất tự do (như khi một con người đã bị trói chặt cả chân tay thì làm sao còn khả năng để va chạm với người khác).

Do vậy, nếu chỉ đơn thuần nhìn vào những hỗn loạn đang xảy ra ở Thái Lan, nhiều người sẽ cảm thấy phân vân với hai chữ “dân chủ” hoặc giảm nhiệt tình ủng hộ “dân chủ hóa”. Đặc biệt là đối với người dân Việt Nam- những người đã phải chịu đau khổ rất nhiều trong các cuộc xung đột với nhau và với các lực lượng nước ngoài thì tình trạng hỗn loạn, thương vong như đã xảy ra gần đây tại Thái Lan dễ làm cho người dân e sợ, cũng là điều dễ hiểu. Nhưng, nếu chúng ta tìm hiểu kỹ hơn về tình hình Thái Lan và hiểu đúng và đầy đủ về Dân chủ, chúng ta sẽ thấy nhu cầu “dân chủ hóa” vẫn là một nhu cầu cấp thiết ở cả tầm thế giới và quốc gia. Kinh nghiệm ở nhiều quốc gia như Thụy điển, Na uy trong thế kỷ 19 hoặc Cộng hòa Séc ngay gần đây đều cho thấy các rối loạn, bạo lực là những điều có thể loại bỏ được hoàn toàn hoặc có thể kiểm soát ở mức chấp nhận được trong quá trình dân chủ hóa.

Cuối cùng, tôi xin được nhấn mạnh lại rằng “dân chủ hóa” không phải chỉ là việc đơn giản chấp nhận “đa đảng” hay tổ chức các cuộc “bầu cử có cạnh tranh”, cũng như xây dựng một nền kinh tế thị trường không phải chỉ là việc chấp nhận nền kinh tế đa thành phần theo kiểu hoang dã cách đây mấy trăm năm để chỉ có lợi cho một bộ phận những người có quyền thế và vô lương tâm. Và “dân chủ hóa” theo một lộ trình (nhiều bước) rõ ràng và khoa học khác hoàn toàn với việc lảng tránh, trì hoãn, đối phó hay bóp méo, giấu giếm nội dung đích thực của dân chủ để kéo dài tình trạng phi dân chủ và/hoặc để dọa dẫm người dân.



VOA: Giáo sư Michael Montesano là một chuyên gia về chính trị Thái Lan đang làm việc ở Viện Quốc tế Sự vụ Singapore (SIIA). Trong cuộc phỏng vấn mới đây (27-04-2010) dành cho VOA, ông Montesano nói rằng "các nước trong khu vực cần xem xét tới gốc rễ của vụ khủng hoảng Thái Lan và tự đặt câu hỏi là kinh tế và xã hội của đất nước mình có hay không có những nguyên do có thể đưa tới một vụ khủng hoảng tương tự." Ông có ý kiến gì về đề nghị của ông Montesano, và theo ông, Việt Nam cần làm gì để tránh được tình trạng xáo trộn hay khủng hoảng chính trị?

Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, người từng bị chính quyền Việt Nam cầm tù nhiều năm vì đã dịch và phổ biến trên internet bài viết “Thế nào là Dân chủ?” được đăng trên trang web của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ

Phạm Hồng Sơn : Vâng, tôi hoàn toàn chia sẻ với gợi ý của ông Montesano và thực tế là nhiều người Việt Nam cũng rất chú tâm tới tình hình Thái Lan theo hướng tìm hiểu để áp dụng điều tốt hoặc phòng tránh cái xấu.

Nếu nhìn ở bề ngoài, thì nhiều người có thể lo ngại cho Thái Lan hơn Việt Nam. Nhưng nếu nhìn kỹ vào lịch sử và xã hội hiện nay của hai quốc gia thì vấn đề không đơn giản như thế.

Lịch sử của Thái Lan từ thế kỷ XIX cho đến nay khá phẳng lặng, không phải chịu các cuộc xung đột bạo lực lớn và kéo dài như Việt Nam. Cuộc khủng hoảng hiện nay cũng chỉ thể hiện sự bế tắc trong việc giải quyết xung đột quyền lợi giữa hai thành phần chính trong xã hội Thái Lan hiện nay là thành phần thị dân trung lưu gắn bó với Hoàng gia và bên kia là nông dân và các thành phần dân nghèo. Cuộc khủng hoảng hiện nay chính là sự bùng nổ của mối mâu thuẫn đã âm ỉ từ lâu giữa hai thành phần vừa kể trong xã hội Thái Lan, khi tiếng nói và quyền lợi của nông dân và dân nghèo chưa bao giờ được ưu tiên hàng đầu trong chính sách quốc gia cho đến khi ông Thaksin lên nắm quyền vào năm 2001.

Lịch sử của Việt Nam từ thế kỷ XIX cho đến nay, ngược lại, đã phải liên tục trải qua nhiều cuộc chiến tranh lớn nhỏ kéo dài hàng chục năm với các tổn thất hàng triệu sinh mạng, do đó tâm lý nói chung của người dân là rất e sợ xung đột, bạo lực. Tuy nhiên xã hội Việt Nam hiện nay lại đang chứa rất nhiều mâu thuẫn lớn, nhỏ đan xen nhau và đặc biệt hơn Thái Lan là Việt Nam còn đang có một yếu tố hết sức nguy hiểm là chủ quyền đất nước đang bị đe dọa.


VOA: Xin ông vui lòng giải thích rõ hơn về những mâu thuẫn đó.

Phạm Hồng Sơn :

Theo tôi, có năm mâu thuẫn lớn đang tồn tại trong xã hội Việt Nam hiện nay:

Mâu thuẫn giữa chính trị và kinh tế:

Từ năm 1986, đặc biệt từ khi Việt nam có Luật Doanh nghiệp (năm 2000), nền kinh tế Việt nam thực chất đã chuyển từ nền kinh tế hoàn toàn do nhà nước độc quyền sang nền kinh tế thừa nhận quyền tự do kinh doanh của mọi người dân (kể cả đảng viên cộng sản) hay còn gọi là kinh tế thị trường. Nhưng hệ thống quyền lực nhà nước (nền chính trị) của Việt nam, từ năm 1986 đến nay, về cơ bản, vẫn không thay đổi, vẫn giữ nguyên tính chất độc quyền (của một nhóm người) với khả năng can thiệp tùy tiện vào mọi vấn đề của xã hội.. Lịch sử đã cho thấy một hệ thống chính trị độc đoán, phi dân chủ chỉ thuận lợi cho nền kinh tế thị trường kiểu hoang dã (cá lớn nuốt cá bé, vô pháp luật, vô trách nhiệm như thời Karl Marx còn sống). Đây là mâu thuẫn cơ bản nhất và là nguyên nhân sinh ra rất nhiều mâu thuẫn khác trong xã hội Việt Nam hiện nay. Mâu thuẫn này đang hiển hiện ra ngoài bằng nhiều vấn nạn như: thu nhập trung bình tăng nhưng chất lượng sống giảm (chất lượng tăng trưởng GDP thấp), khu vực doanh nghiệp nhà nước đang trở thành gánh nặng cho nền kinh tế (dù được hưởng nhiều ưu đãi hơn khu vực phi nhà nước), hiệu quả đầu tư vốn kém, tham nhũng gia tăng, hố phân cách giàu nghèo đang bị khoét sâu…

Mâu thuẫn giữa tuyên truyền của đảng cầm quyền độc nhất (Đảng Cộng sản Việt nam) với thực tế cuộc sống.

Hầu như tất cả những gì mà Đảng Cộng sản đang tuyên truyền hiện nay đều trái với thực tế. Ví dụ Đảng Cộng sản luôn tuyên truyền đảng viên cộng sản là những thành phần ưu tú của đất nước cả về trí tuệ và đạo đức, nhưng các vụ án tham nhũng lớn nhất hay các vụ án xâm phạm đạo đức đồi bại nhất đã bị phát hiện đều có các đảng viên cộng sản là thủ phạm chính hoặc đồng phạm; Đảng Cộng sản vẫn kêu gọi nhân dân đi theo Chủ nghĩa Marx-Lenin nhưng đời sống kinh tế của đảng viên cộng sản và chính sách kinh tế của Đảng đều trái ngược với nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Marx-Lenin.

Mâu thuẫn giữa một bộ phận nhỏ đảng viên cộng sản (có quyền) với đại bộ phận dân chúng ngoài Đảng Cộng sản.

Sự phân biệt đối xử hết sức vô lý giữa người là đảng viên cộng sản và người không phải là đảng viên cộng sản. Người không phải là đảng viên cộng sản thì dù tài giỏi đến mấy cũng không thể trở thành lãnh đạo trong các cơ quan công quyền. Còn nếu chấp nhận để trở thành đảng viên cộng sản thì cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận bị mất nhân cách (dù chỉ là tạm thời). Đảng viên cộng sản luôn được hưởng các đặc quyền, ưu đãi hơn những người ngoài Đảng, ngay cả khi cùng phạm một tội giống nhau.

Mâu thuẫn giữa khát khao tự do của giới trí thức và giới trẻ với sự hà khắc của thể chế chính trị.

Sau hơn hai thập niên mở cửa với thế giới, các giá trị văn minh của nhân loại như dân chủ, nhân quyền đang mỗi ngày thấm sâu vào nhận thức của giới trí thức và nhiều bộ phận dân chúng trong xã hội, hình thành một khát khao ngày càng lớn về nhân phẩm, về tự do cá nhân và tự do xã hội. Tuy nhiên khát khao tự do đó đang vấp phải sự dồn ép của thể chế chính trị độc đảng, phi dân chủ.

Mâu thuẫn giữa ngọn cờ truyền thống “độc lập, tự do” của Đảng Cộng sản với thái độ hiện nay của Đảng Cộng sản trước sự xâm lấn của Trung Quốc.

Thái độ nhún nhường trước các hành vi xâm lấn chủ quyền Việt nam của Trung Quốc và hành động cấm đoán, trấn áp những biểu hiện yêu nước của người dân đang xúc phạm ghê gớm đến tinh thần dân tộc, gây thất vọng lớn và bất mãn không chỉ đối với toàn thể nhân dân mà còn gây đau đớn cho đại bộ phận đảng viên cộng sản, đặc biệt những lão thành Cách mạng. Xã hội đang ngày càng xuất hiện nhiều đảng viên cộng sản thức tỉnh, kiên quyết đấu tranh để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền dân tộc như Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Nhà thơ Bùi Minh Quốc, Nhà báo Tống Văn Công, Nhà văn Phạm Đình Trọng, Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy, Trung tá Vũ Minh Trí...

Cùng với tình trạng xuống cấp trầm trọng trong hầu khắp các lĩnh vực xã hội như giáo dục, y tế, thực thi pháp luật và sự thiếu vắng hoàn toàn các phương tiện chính thống để người dân bày tỏ nỗi oan khuất, bức xúc, có thể nói xã hội Việt Nam đang âm thầm chất chứa rất nhiều mâu thuẫn, đan xen nhau ở nhiều tầng, nhiều lớp.



VOA: Triển vọng của việc giải quyết mâu thuẫn ở Việt nam và ở Thái Lan có gì khác nhau không, thưa ông?

Phạm Hồng Sơn :

Nếu coi những biểu hiện của Thái Lan hiện nay là hậu quả của phái hữu (phái bảo hoàng, giới tướng lãnh và các nhà tài phiệt thân hoàng gia) còn bảo thủ, đã không nhìn ra hoặc không đáp ứng kịp thời yêu cầu tiếp tục hoàn thiện nền dân chủ và bình đẳng xã hội, vẫn cố ỷ vào tâm lý sùng kính Vua Bhumibol Adulyadej của xã hội Thái Lan để duy trì những đặc quyền do nền dân chủ thiếu hụt đem lại, thì Việt Nam, phái tả cực đoan đang cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam hầu như không đáp ứng chút nào đối với nhu cầu dân chủ hóa đang ngày càng nóng bỏng tại Việt Nam, họ vẫn cố lợi dụng tâm lý chán chiến tranh, muốn hòa bình, ổn định đời sống của đại bộ phận người dân để duy trì những đặc quyền do chế độc đảng phi dân chủ mang lại, bất chấp cả việc Tổ quốc bị xúc phạm, chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị cướp đoạt.

Bất kỳ xã hội nào cũng có mâu thuẫn, nhưng điều đáng nói ở Thái Lan hiện nay là cách thức giải quyết mâu thuẫn để cân bằng lợi ích giữa các thành phần trong xã hội đang có xu hướng bạo lực hóa nặng hơn (vì các tiêu chuẩn dân chủ còn thiếu hoặc bị phá vỡ). Trong khi đó những mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam lại đang bị tích tụ và dồn nén, bị trấn áp hoàn toàn (vì chưa đạt được một tiêu chuẩn dân chủ cơ bản nào).

Về lý thuyết, khi nghiên cứu các cuộc khủng hoảng (dù là chính trị, kinh tế, tài chính hay môi trường), người ta luôn thấy đằng sau các cuộc khủng hoảng (khi đã nổ ra) đều đã âm ỉ một nhu cầu thay đổi có tính nền tảng và nguyên nhân khiến khủng hoảng nổ ra (không ngăn chặn được khủng hoảng) là do con người đã không nhận biết hoặc không đáp ứng kịp cho nhu cầu thay đổi đó. Nói cách khác, trước khi một khủng hoảng xảy ra thường vẫn luôn có nhiều người và nhiều người có ảnh hưởng (về chuyên môn hoặc quyền lực) khẳng định rằng sẽ không có khủng hoảng. Chính yếu tố này qui định một đặc tính bất biến của khủng hoảng là tính bất ngờ. Vì vậy sẽ là không đơn giản khi thuyết phục những người có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam về những việc phải làm để tránh tình trạng khủng hoảng chính trị, xã hội có thể xảy ra.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào Thái Lan hiện nay, vẫn có một hy vọng cho cuộc khủng hoảng đang diễn tiến là, vì các bức xúc giữa các bên tại Thái Lan vẫn được thể hiện, không bị trấn áp hoàn toàn, nếu xu hướng căng thẳng bạo lực tiếp tục gia tăng thì cũng chỉ đến một mức độ là có thể được giải tỏa hoặc nhanh chóng bị kìm chế. Trong khi tại Việt nam, cho dù hiện tại xã hội vẫn tỏ ra im lặng, nhưng không ai có thể hình dung được hậu quả khôn lường một khi các mâu thuẫn nhiều tầng, nhiều lớp bị dồn nén, chất chứa lâu ngày đến mức phải tự bung ra. Tình trạng Thái Lan và Việt Nam hiện nay cũng có thể ví như hai chiếc nồi hơi đang bị đun nóng, một chiếc thì có van an toàn (soupape de sûreté), còn chiếc kia không có hoặc chiếc van đã bị bịt kín.
Nhưng chính tình trạng xã hội Việt Nam hiện nay cũng là cơ hội cho những lãnh đạo, những đảng viên cộng sản thật sự còn có tấm lòng vì dân, vì nước thể hiện được bản lĩnh của mình, quyết tâm ngăn chặn khủng hoảng, chuyển hướng đất nước đi theo con đường dân chủ đích thực. Chỉ có dân chủ hóa mới có thể cứu nguy được đất nước khỏi những hiểm họa hiện nay, may ra còn vớt vát được phần nào những gì đã mất và đang tiếp tục mất vào tay Trung Quốc. Mọi biện pháp có tính đối phó, hình thức hay xoa dịu láu cá không thể giải quyết được vấn đề, chỉ khiến lòng dân thêm chán ngán và giúp kẻ xâm lược thêm táo tợn. Tâm lý chán ghét chiến tranh và e sợ bạo lực của đại bộ phận dân chúng sẽ là một yếu tố thuận lợi cho sự đồng thuận tiến tới những giải pháp ôn hòa, thỏa hiệp từng bước của lộ trình dân chủ hóa đích thực. Có thể nói ý thức độc lập, bảo vệ chủ quyền trước mối họa từ Trung Quốc và nhu cầu dân chủ hóa xã hội Việt Nam đang trở thành hòn đá thử vàng đối với các đảng viên cộng sản: đi với dân tộc thì còn có cơ hội tồn tại, không bị hậu thế nguyền rủa; vì lợi ích của cá nhân hay đảng phái mà phản bội dân tộc thì kết quả cuối cùng sẽ rất thê thảm. Tấm gương tày liếp của Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống là những bài học lịch sử, đến nay, vẫn còn nguyên giá trị.



VOA: Xin cám ơn Bác sĩ Phạm Hồng Sơn.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

TGM Phó Nguyễn Văn Nhơn Được Đón Tiếp Căng Thẳng...
Image
Biểu ngữ tôn vinh Đức cha Ngô Quang Kiệt.(Photo: VietCatholic News)
Nhiều Biểu Ngữ Giáo Dân Cầm Tới Bị Tịch Thu ở Cổng Nhà Thờ...
Trong khi Tổng Giáo Phận Hà Nội đón chào Tổng giám mục phó Nguyễn Văn Nhơn, nhiều giáo dân Hà Nội vẫn bày tỏ lòng trung thành với TGM Ngô Quang Kiệt, theo tin của đài RFI hôm Thứ Sáu.

Bản tin RFI viết:
“Ngày 7/5, thánh lễ đón chào Đức tân Tổng giám mục phó Tổng giáo phận Hà Nội Nguyễn Văn Nhơn đã được cử hành tại Nhà thờ Chính tòa Hà Nội với sự tham dự của rất đông giáo dân, trong đó nhiều người mang biểu ngữ tôn vinh Đức cha Ngô Quang Kiệt.

Đức cha Nguyễn Văn Nhơn, đương kim chủ tịch Hội đồng giám mục Việt Nam, đã được Tòa thánh ra quyết định ngày 22/4 bổ nhiệm làm Tổng giám mục phó với quyền kế vị Đức Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt, mà hiện sức khoẻ rất kém. Việc bổ nhiệm này đã gây ra nhiều tranh cãi, vì có dư luận cho rằng, Vatican và Hội đồng giám mục Việt Nam đã nhượng bộ trước sức ép của chính quyền Việt Nam, vẫn muốn loại bỏ Đức cha Ngô Quang Kiệt, người đã dám lên tiếng đòi công lý và sự thật trong các vụ tranh chấp đất đai giữa Giáo hội với Nhà nước.

Mặc dù Tòa Tổng giám mục Hà Nội đã kêu gọi là không nên « mang những gì không cần thiết cho thánh lễ và tránh thái độ, cử chỉ, lời nói ảnh hưởng đến bầu khí thánh thiêng của thánh lễ », nhưng rất nhiều giáo dân đã mang các biểu ngữ với những khẩu hiệu và hình ảnh tôn vinh Đức Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt...”

Bản tin của thông tấn VietCatholic News hôm 7-5-2010 cho biết thêm các chi tiết:
“...Trong lời giới thiệu Đức Cha Tân Tổng Giám Mục Phó, Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt ghi nhận những băn khoăn của anh chị em giáo dân trước quyết định bổ nhiệm Đức Cha Phêrô.
“Trong quá khứ giáo hội Miền Bắc đã chịu quá nhiều quá nhiều đau khổ, tổng giáo phận Hà Nội đã chịu nhiều thiệt thòi về phương diện con người. Sau khi đã trải qua quá nhiều đau khổ thì cảnh giác là điều tự nhiên và cần thiết.”

Tuy nhiên, Đức Tổng Giám Mục Giuse trấn an anh chị em giáo dân rằng về phương diện Giáo Hội, khi nhận một giáo phận, vị giám mục sẽ coi giáo phận mới là quê hương và gia đình của mình. “Vui buồn của anh chị em là vui buồn của ngài. Nguyện vọng của anh chị em là nguyện vọng của ngài. Từ nay ngài không chỉ đồng cảm hay đồng hành với anh chị em, nhưng sẽ đồng sinh, đồng tử với anh chị em, với giáo phận”.

Đặc biệt, thông tấn Nữ Vương Công Lý qua lời phóng viên Thanh Tâm đã ghi nhận tình hình phải đi cửa hông và không khí “căng thẳng... mọi phía không ai thấy có được một nụ cười rạng rỡ, như thường thấy trong các thánh lễ nhận chức và truyền chức.”

Bản tin này trích:
“Hà Nội- Sáng 7/5 tại nhà thờ Chính Tòa đã diễn ra thánh lễ ra mắt của Đức TGM Phó TGP Hà Nội Phêrô Nguyễn Văn Nhơn.
Tham dự, về phía các đức giám mục, có các đức giám mục của các giáo phận Buôn Mệ Thuật, Thanh Hóa, Phát Diệm, Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Lạng Sơn và Hà Nội.
Các linh mục có khoảng 150, phần lớn thuộc linh mục Đoàn Hà Nội, một số đến từ Bắc Ninh, Hưng Hóa và Đà Lạt.
Đông đảo giáo dân, chủng sinh và nam nữ tu đã về tham dự. Số người ước lượng khoảng 1500 người, trong đó phần lớn là giáo dân đến từ các giáo xứ xa Hà Nội.

Thánh lễ diễn ra trong bầu khí căng thẳng. Gương mặt giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân mọi phía không ai thấy có được một nụ cười rạng rỡ, như thường thấy trong các thánh lễ nhận chức và truyền chức.
Đông đảo giáo dân đã tập trung ở quảng trường trước nhà thờ và giăng khá nhiều biểu ngữ ủng hộ và cổ vũ Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt.
Ban Trật tự nhà thờ và các thầy chủng sinh đã phải vất vả để ngăn dòng người mang biểu ngữ vào trong nhà thờ. Các thầy cũng đã thu được khá nhiều biểu ngữ ủng hộ Đức Tổng Kiệt. Nhiều giáo dân mất biểu ngữ đã lớn tiếng phản đối các thầy chủng sinh.

Đoàn đồng tế bắt đầu rước sớm hơn 30 phút so với dự tính là 10 h. Đoàn đồng tế tiến vào nhà thờ bằng cửa phụ, bên hông nhà thờ thay vì cửa chính như những lần khác. Kết lễ, đoàn rước Đức Tổng Giám Mục Phó cũng đi về Tòa Giám Mục như vậy...”
Cuối thánh lễ, tình hình cũng căng thẳng, theo trang web Nữ Vương Công Lý:
“...Kết lễ, trên đường rước, một số giáo dân muốn tiếp cận Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt để được bắt tay ngài như mọi cuộc rước trong các thánh lễ khác, nhưng đã bị Ban Trật tự ngăn lại.
Có nhiều người mang biểu ngữ và hình ảnh Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã đứng trên lối đi từ nhà thờ Chính Tòa qua Chủng viện sang Tòa Giám Mục. Dòng người này đã bị chặn lại ở cổng phân cách giữa Tòa Tổng Giám Mục và nhà thờ Chính Tòa...”

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Hình Ảnh Lễ Phong Chức Phó Tổng Giám Mục Hà Nội

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Xin chúng ta cùng xem video
" Đứng Lên Vì Việt Nam "


Image

Click vào tên đề tài " Đứng Lên Vì Việt Nam ' bên dưới
Đứng Lên Vì Việt Nam

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Sự thay đổi chiến lược của Mỹ ở Thái Bình Dương
đối với hải quân Trung Quốc
Từ trước đến nay, Mỹ vốn tự hào là có lực lượng Hải quân hùng mạnh nhất thế giới. Đặc biệt, lực lượng Hải quân Mỹ luôn được coi là có khả năng khống chế toàn bộ biển Thái Bình Dương cho dù họ mới chỉ sử dụng có 40% lực lượng hiện có.
Image
Tiềm thủy đỉnh của hải quân Trung Quốc
Thế nhưng, bước sang năm 2005 thì tình hình đã khác trước rất nhiều, người Mỹ bắt đầu phải quan ngại đến một đối thủ tiềm táng, đó chính là lực lượng tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc.

Hạm đội tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc

Từ sau năm 1960, lực lượng Hải quân Trung Quốc đã có một hạm đội tàu ngầm với khoảng hơn 70 chiếc, chạy bằng động cơ diesel và chủ yếu được chế tạo theo kiểu tàu ngầm thế hệ Romeo của Liên Xô. Mặc dù, xét về số lượng thì Hải quân Trung Quốc đứng thứ ba trên thế giới nhưng hạm đội của nước này vẫn không được đánh giá là mạnh.

Trong những năm tgừ 1992 đến 1996, Trung Quốc đã quyết tâm thực hiện bằng được kế hoạch thay thế các tàu ngầm cũ bằng những lớp tàu ngầm mới do nước này tự chế tạo. 20 chiếc tàu ngầm thế hệ mới thuộc lớp Ming đã thay thế 20 chiếc tàu lớp Romeo. Lớp tàu ngầm Ming của Trung Quốc có khả năng chống tàu vận tải và rải các thủy lôi điều khiển bằng điện từ. Lớp tàu này còn được trang bị hệ thống siêu âm và các chân vịt được thiết kế theo tiêu chí không tạo âm thanh khi hoạt động.

Tiếp đó, Trung Quốc bắt đầu chế tạo thêm một thế hệ tàu ngầm khác, đó là các tàu ngầm lớp Song. Thế hệ tàu ngầm này được ứng dụng công nghệ tạo áp lực đẩy không tiếng động đặc biệt và đã bắt đầu được trang bị các hỏa tiển loại "hạm - đối - hạm". Theo các chuyên gia kỹ thuật của Mỹ thì những chiếc tàu ngầm này có khả năng hoạt động sâu dưới mặt nước trong nhiều tuần liền mà không gây ra bất cứ tiếng động nào dù là nhỏ nhất. Chính vì thế, ngay từ năm 2002, việc Trung Quốc biên chế 7 tàu ngầm thế hệ này cho Hạm đội Bắc Hải đã khiến cho các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ bắt đầu cảm thấy băn khoăn.

Trong năm 2003, Trung Quốc còn cho hạ thuỷ 13 tàu ngầm thuộc các lớp khác nhau trong đó có 2 chiếc chạy bằng năng lượng hạt nhân được chế tạo theo lớp Yuan. Đây là thế hệ tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân được thiết kế hoàn chỉnh nahát theo mô phỏng của hai lớp tàu là lớp Song của Trung Quốc và lớp Kilo của Nga. Tuy vậy, cho tới nay, đối với các thế hệ tàu ngầm nguyên tử chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc thì lớp tàu ngầm tấn công Han vẫn được coi là hiện đại nhất.

Mỹ điều chỉnh lại lực lượng quân đội ở Thái Bình Dương

Theo Washington Post thì lực lượng phản gián chống ngầm thuộc Hạm đội 7 của Mỹ là cơ quan đầu tiên nắm được hoạt động di chuyển của tàu ngầm 406 của Trung Quốc ngay từ khi nó rời căn cứ. Trong thời gian chiếc tàu này hoạt động, các máy bay trinh sát, vệ tinh viễn thám và các tàu săn ngầm của Hạm đội 7 đã liên tục theo dõi, giám sát.

Tuy nhiên, người Mỹ vẫn cảm thấy bất an bởi họ đã quá quen với tình huống không có đối thủ, còn giờ đây, họ cho là đang bị đe doạ tại chính các căn cứ quân sự lớn nhất của mình ở Thái Bình Dương.

Trước sự phát triển của tàu ngầm Trung Quốc, tháng 12/2004, Bộ Quốc phòng Mỹ đã tiến hành kế hoạch điều chỉnh lực lượng quân đội của mình tại khu vực Thái Bình Dương. Theo đó, Mỹ bổ sung một tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân USS Houston đến căn cứ Guam nâng tổng số tàu ngầm hạt nhân của Mỹ tại căn cứ này lên 3 chiếc. Đó là các tàu USS San Francisco, USS City of Corpus Christi và USS Houston. Chỉ một tháng sau, tàu USS San Francisco đã bị gặp nạn tại khu vực phía Nam đảo Guam khiến cho 31 trên tổng số 135 thuỷ thủ đoàn bị thương nặng.

Theo báo cáo Pacific Daily News thì trong thời gian tới, Hải quân Mỹ sẽ tiếp tục thực hiện kế hoạch tái bố trí lực lượng và tăng cường thêm ít nhất khoảng 8 tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân tới căn cứ Guam. Không những thế, Tư lệnh Không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, tướng William J.Gegger còn cho biết, lực lượng không quân Mỹ sẽ phải tăng cường các máy bay chiến đấu, phi cơ phóng pháo và máy bay săn ngầm đến căn cứ không quân Anderson trên đảo Guam. Thêm vào đó, trong báo cáo tài chính của Bộ Quốc phòng Mỹ cũng đã khẳng định rằng, trong thời gian từ 5 đến 10 năm nữa, Mỹ sẽ tăn cường từ 2 đến 5 tỉ USD cho việc nâng cấp các cơ sở hạ tầng tại căn cứ Guam. Đồng thời, với các hoạt động này, một trung tâm trinh sát chống ngầm từ xa cũng đang được Bộ Quốc phòng Mỹ vội vã cho xây dựng tại căn cứ quân sự ở San Diego với nhiệm vụ nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu cũng như khả năng tác chiến chống ngầm.

(Theo báo An ninh thế giới)

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

NHÂN NGÀY “LỄ MẸ”,
NGHĨ GÌ VỀ NHỮNG BÀ MẸ CÔ ĐƠN?


Chu Tất Tiến

Trong giờ lễ Chủ Nhật, nhằm ngày Lễ Mẹ, tại nhà thờ Saint Columban, linh mục T. đã làm nhiều người nghe phải nhỏ lệ khi ông kể một câu chuyện về một người Mẹ đã nuôi cả mười đứa con thành công về tài chánh, đứa Bác Sĩ, đứa Kỹ Sư, Dược Sĩ, nhưng rồi cả mười đứa con ấy, không nuôi nổi một bà Mẹ già. Đứa nào cũng có lý do để từ chối không muốn ở với Mẹ. Linh mục T. cũng kể lại lúc ông còn ở Chicago, có một lần trong thời tiết lạnh giá, đến thăm một bà Mẹ, thấy căn nhà rộng mông mênh, không có ai, vì hai vợ chồng đứa con đi làm cả. Điều ông quan tâm là thấy trong nhà rất lạnh, bà Mẹ phải mặc hai áo nhưng vẫn lạnh cóng. Ông có hỏi bà mẹ tại sao không mở máy sưởi, thì bà Mẹ cho biết là không dám mở vì sợ khi con đi làm về, sẽ càm ràm là “tốn tiền điện quá!” Những đứa con sang trọng kia, có thể chờ đến ngày Lễ Mẹ, thì đưa mẹ ra ăn tô phở, hoặc gọi điện thoại về nhà, nói: “I love you, mom!” Thế là đủ bổn phận của một đứa con thành công ở Mỹ đối với người mẹ yêu dấu của mình.

Những Bà Mẹ ở đây là hiện thân của Mẹ Việt Nam đau khổ, đã hy sinh cả cuộc đời cho con cái, nhưng khi con cái phụ rẫy, bỏ bê, cũng im lặng chấp nhận cho đến hết cuộc đời.

Có biết bao nhiêu trường hợp như thế trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại? Biết bao nhiêu bà mẹ âm thầm, lặng lẽ chịu đựng tất cả những đau khổ từ khi lấy chồng, sinh con, rồi ráng nuôi dậy con nên người, sau đó lại chấp nhận những đứa con bất hiếu như một định mệnh mà không hề thốt lời than vãn?

Một bà mẹ đã dành dụm bao năm buôn gánh bán bưng để cho con vượt biên một mình, sau đó, khi qua đến Mỹ, thằng con sợ vợ quá, không dám để mẹ ngủ trong phòng, mà bảo mẹ phải ngủ dưới đất trong phòng khách. Một lần, con chó xù của hai vợ chồng đứng đái ngay vào đầu mẹ. Bà mẹ kêu lên, thì đứa con dâu cười ha hả trong khi thằng chồng đứng yên, chẳng dám nói gì.

Bà mẹ khác, không được ở chung với con trai, phải thuê một phòng của người bạn, vì sức khoẻ yếu, lúc nào cũng lo là chết không có ai chôn. Khi nghe nói về bảo hiểm nhân thọ, bà có năn nỉ thằng con trai đứng tên mua giùm, để bà bớt chút tiền già và đóng hàng tháng để mai sau, con có tiền lo hậu sự cho bà, nhưng đứa con dâu nhất định không chịu, cho rằng “tốn tiền vô ích, chết thì thiêu, liệng tro xuống biển là xong, chôn làm quái gì cho mất thời giờ đi chăm sóc.” Bà cụ uất quá, phát bệnh và qua đời. Không biết rồi bà có được chôn cất đàng hoàng theo ý muốn, hay lại bị cô con dâu vứt tro ra biển.

Không thiếu những bà mẹ khi đến thăm con trai, phải ngồi nhìn vợ chồng chúng nó ăn uống ríu rít với nhau, vì con dâu không chịu dọn thêm một chén cơm mời mẹ. Một bà mẹ nhớ con nhớ cháu quá, đến thăm con, nhưng sợ con dâu sẽ nhiếc móc thằng chồng, nên vừa vào tới cửa đã vội thanh minh: “Mẹ không ăn cơm đâu! Mẹ vừa ăn phở xong, còn no đầy bụng. Mẹ chỉ đến cho thằng cháu nội món quà thôi!”

Không thiếu những bà mẹ vì lỡ đánh đổ một chút nước trên thảm mà bị con nhiếc móc tơi bời. “Trời đất ơi! Cái thảm của người ta cả vài ngàn bạc mà đánh đổ đánh tháo ra thế thì có chết không?” Có bà mẹ bị bệnh ung thư, biết là sắp chết, mong được con gái đưa về Việt Nam, nhưng con đổ thừa cho chồng không cho phép về, rồi biến mất tăm, sợ trách nhiệm. Mẹ phải nhờ người đưa ra phi trường, nhờ người dưng đi cùng chuyến bay chăm sóc cho đến khi về tới nhà. Từ lúc đó đến lúc mẹ mất, cả con gái lẫn con rể, cháu chắt cũng chẳng hề gọi điện thoại hỏi thăm một lần.

Một bà mẹ già trên 70 tuổi rồi, có thằng con trai thành công lẫy lừng, bốn năm căn nhà cho thuê, nhưng bà mẹ phải lụm cụm đi giữ trẻ, nói đúng ra là đi ở đợ vì phải lau nhà, rửa chén, nấu cơm, để có tiền tiêu vặt và để gộp với tiền già, đưa cả cho.. con trai, một thanh niên ham vui, nhẩy nhót tung trời, hai, ba bà vợ. Mỗi khi gặp bà con, chưa cần hỏi, bà đã thanh minh: “Ấy, tôi ngồi không cũng chả biết làm gì, thôi thì đi làm cho nó qua ngày, kẻo ở nhà rộng quá, một mình buồn lắm!”

Trong một cuộc hội thoại, một bà mẹ đã khóc nức nở vì chỉ đứa con gái phụ rẫy, bỏ bà một mình cô đơn. Bà chỉ có một đứa con gái duy nhất, chổng chết trong trại cải tạo. Trong bao nhiêu năm, bà đã gồng gánh nuôi con, rồi cùng vượt biên với con, tưởng mang hạnh phúc cho hai mẹ con, ai ngờ cô con chờ đúng 18 tuổi là lẳng lặng sắp vali ra đi. Nước mắt bà đã chẩy cho chồng, nay lại chẩy hết cho con.

Tại những nhà dưỡng lão gần trung tâm Thủ Đô Tị Nạn, có biết bao nhiêu bà mẹ ngày đêm ngóng con đến thăm nhưng vẫn biệt vô âm tín. Một bà cụ suốt ba năm dài, không bao giờ chịu bước xuống giường, vì biết rằng chẳng bao giờ có đứa con nào đến thăm. Bà đã lẳng lặng nằm suốt ngày trên giường như một sự trừng phạt chính mình vì đã thương yêu con cái quá sức để đến tình trạng bị bỏ bê như hiện tại. Sau ba năm, bà mất vì các vết lở, vì nỗi u uất, mà những người chăm sóc bà vẫn không biết gia cảnh bà như thế nào, vì bà không hề nhắc đến. Có điều chắc chắn là khi bà còn là một thiếu nữ, bà phải là một mẫu người làm cho nhiều người theo đuổi, quyến luyến, tôn sùng. Chắc chắn bà đã trải qua bao năm tháng thật tươi đẹp, vì cho đến khi mất, khuôn mặt bà, những ngón tay bà, và dáng dấp bà vẫn khoan thai, dịu dàng, pha một chút quý phái. Nhưng tất cả những bí ẩn đó đã được bà mang xuống mồ một cách trầm lặng.

Một buổi chiều tháng 5, tại một tiệm phở Việt Nam, một mẹ già đứng tần ngần bên cánh cửa. Khi được mời vào, mẹ cho biết mẹ không đói, nhưng chỉ muốn đứng nhìn những khuôn mặt vui vẻ, để nhớ đến con mình, đứa con đã bỏ bà đi tiểu bang khác, để mẹ ở với đứa cháu là một tên nghiện rượu, đã hăm doạ đánh mẹ hoài. Hắn đã lấy hết tiền trợ cấp của mẹ, lại còn xua đuổi mẹ như cùi hủi. Hôm nay, hắn lái xe chở mẹ đến đầu chợ, đẩy mẹ xuống và bảo mẹ cút đi! Mẹ biết đi đâu bây giờ?

Trong một căn phòng điều trị tại bệnh viện Ung Thư, một bà cụ đã gào lên nức nở khi người bệnh nằm bên được chuyển đi nơi khác. “Bà ơi! Bà bỏ tôi sao? Bà ơi! Đừng đi! Đừng bỏ tôi nằm một mình! Tôi sợ lắm, bà ơi!” Những tiếng kêu, tiếng khóc nấc nghẹn đó lặp đi lặp lại làm người bệnh sắp chuyển đi cũng khóc theo. Người y tá cũng khóc lặng lẽ. Anh con trai của người sắp đi xa, không cầm được giọt lệ, cũng đứng nức nở. Cả căn phòng như ngập nước mắt. Mầu trắng của những tấm trải giường, mầu trắng của tấm áo cánh của bà cụ như những tấm khăn liệm, tự nhiên sáng lên, buồn bã. Bà cụ nằm lại đó đã không có đứa con nào ở gần đây. Chúng đã mỗi đứa mỗi nơi, như những cánh chim không bao giờ trở lại.

Trên đại lộ Bolsa, thỉnh thoảng người ta thấy một bà mẹ già, đẩy chiếc xe chợ trên chứa đầy đồ linh tinh. Mẹ chỉ có một cái nón lá để che nắng che mưa. Khuôn mặt khắc khổ của mẹ như những đường rãnh bùn lầy nước đọng, đâu đó ở chợ Cầu Ông Lãnh, Thủ Thiêm, gần bến Ninh Kiều, Bắc Mỹ Thuận hay ở gần cầu Tràng Tiền, Chợ Đông Ba? Mẹ đi về đâu, hỡi Mẹ? Những đứa con của mẹ giờ chắc đang vui vầy trong nhà hàng nào đó, đón mừng ngày Lễ Mẹ, “Happy Mother Day!”

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

DỰ TIỆC CƯỚI


Hình như là khi về già, chúng ta thay đổi nhiều thói quen và sống càng đơn giản càng hay. Nhưng ngược lại, thì các buổi tiệc tùng ngày nay lại càng nhiều tiết mục và phức tạp hơn.
Còn nhớ lúc còn trẻ, được đi dự đám cưới bạn bè là dịp vui. Bạn gái chúng ta thường lợi dụng dịp này để sắm áo quần mới. Nhiều cô bạn của người viết còn phải đi “làm đầu” ở hiệu trước khi đi ăn cưới. Thời thập niên 60 là kiển uốn lọn (boucles anglaises), và thập niên 70 là kiểu đầu tổ chim, đánh rối cao và tròn như cái nồi úp... Trong khi đó các đức lang quân thì than trời như bọng vì phải “đóng bộ” giữa thời tiết nóng bức của Sài Gòn!

Tiệc cưới ngày xưa thường đãi ăn nhà hàng Tầu, cô dâu chú rể mặc áo cưới, và không đổi áo suốt tiệc như ngày nay. Nhiều đám cưới nhà giầu, sang trọng hơn thì được tổ chức ở nhà hàng Tây như Continental, Majestic, hay Cercle Sportif, thực đơn là cơm Tây và văn nghệ là khiêu vũ. Ðám cưới của các cặp bình dân có khi được tổ chức nơi tương đối ít tốn kém, như câu lạc bộ Sĩ Quan tại An Ðông hay một quán Bò Bảy Món thì cũng đậm đà lắm rồi...

Quà cưới thì đúng là tùy hỷ - thời ấy mà đã thực dụng như người Mỹ mà mình biết sau này. Chỉ vì phần nhiều là vật dụng dùng trong nhà. Sau đám cưới, cô dâu chú rể có khi được mừng đến mười bộ ly, mười mấy đèn để bàn table nuit, và hai chục chai eau de cologne! Xài cả đời không hết! Thời ấy ít có màn đưa phong bì. Các bậc trưởng thượng muốn tặng hiện kim xứng đáng cho con cháu thì thường đưa phong bao từ trước, hoặc vào lúc cử hành hôn lễ buổi sáng, trong vòng gia tộc với nhau.

Ngày nay, trong tiệc cưới thì cô dâu phải thay áo ít nhất hai lần, theo lối tân cổ giao duyên. Cả mẹ chồng, mẹ vợ cũng đều thay đổi áo. Cứ lấp lánh như cây Noel. Tiệc cưới ngày xưa cũng ít có ban nhạc ca sĩ giúp vui. Ngày nay, phần lớn tiệc cưới có ban nhạc, ca sĩ của ban nhạc và nhất là có M.C. điều khiển chương trình. Người điều khiển này là tay hoạt náo cho tiệc cưới thêm vui vẻ, nhưng nếu không may thì đấy là cực hình vì quan viên hai họ sẽ sượng sùng vì những câu đùa cợt được nghe thấy rất nhiều lần trong các đám cưới khác. Ðôi khi người ta còn mời cả ông chánh án lên làm lễ cho đôi trẻ để thêm phần long trọng.

Ði ăn cưới, dù trong thiệp mời có đề là sáu giờ chiều khai tiệc, quý vị đừng chờ đợi được mở đầu vào lúc bảy giờ! Có lẽ ít nhất là tám giờ mới được cầm đũa. Nhiều người muốn cho chắc ăn đã ăn cơm nhà trước khi đi ăn cưới. Mỗi khi nói đến điều này, thì người Việt mình rất đắc ý cho rằng đó mới là “dân tộc tính” mà dù bị nhắc nhở mãi ta vẫn chưa bỏ được!

Buổi tiệc thường kéo dài cỡ bốn tiếng với rất nhiều tiết mục.
Mở đầu là ra mắt hai họ, và hai bên cha mẹ cô dâu chú rể có đôi lời chào mừng quan khách và vài lời giáo huấn cho dâu rể. Sau đó mới là phần ẩm thực và ban nhạc và ca sĩ giúp vui với bài hát vui tươi dí dỏm dành cho đám cưới. Phần lớn các ca khúc như “Mộng Dưới Hoa,” “Vì Ðó Là Em,” “Yêu Nhau Dài Lâu,” “Ngẫu Hứng Lý Qua Cầu”... được mang ra trình bày. Trong đám cưới, không ai hại nhau mà hát “Sang Ngang,” “Tà Áo Cưới” hay “Tan Tác,” “Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà,” “Ðồi Thông Hai Mộ” cả! Vì thế danh mục bài hát trong đám cưới cũng khá giới hạn.

Ðôi khi có một ông chú bác của cô dâu chú rể lên ngâm bài thơ do chính mình sáng tác để tặng hai cháu và quan khách. Mọi người đều xuề xòa vỗ tay và nhớ đến câu nói của Andy Warhol: “người ta ai ai cũng có 15 giây nổi tiếng trong đời.” Các ngài thi sĩ tay ngang ấy thì không chịu 15 giây nên đôi khi ta gặp bài thơ rất dài với niêm vận có thể làm cụ Dương Quảng Hàm cau mặt!

Nếu quý vị không là ca sĩ chuyên nghiệp thì có thể không hiểu được nỗi khổ của nghệ sĩ, nhất là ca sĩ. Khi có mời ban nhạc và ca sĩ riêng thì phần văn nghệ coi như đã đầy đủ trọn gói rồi. Họ chọn bài vở cẩn thận và tập dượt với nhau từ trước. Nếu có người “lạ” lên hát, không biết bài, biết “ton,” cũng không chuẩn bị, thì cố nhiên không hay rồi.

Người viết thường hay “bị” những lời mời vu vơ, kiểu “chốc nữa lên giúp vui một bài nhe,” hoặc “chắc là chị phải lên hát ‘tặng’ các cháu một bài mừng chúng nó chứ!” Ðôi khi mình nghĩ thầm không biết các cháu có nghe nhạc Việt không, vì vừa mới thấy chúng nó “đàm thoại” với nhau bằng tiếng Mỹ ngon lành! Quý vị làm nghề bác sĩ, luật sư chẳng bao giờ bị mời “khám” hay “cãi” để giúp vui cả. Oan ơi là oan.

Thường thường, chúng tôi cứ xin trước với bạn bè là sẽ không “lên” hát, nếu bị như thế, sẽ không đến dự tiệc cưới được. Trường hợp ngoại lệ là đám cưới của chính gia đình nghệ sĩ thì khác. Ðám cưới con chị Mai Hương chẳng hạn, thì lên hát với mẹ của cô dâu thì hợp thời quá đi chứ! Hay trong đám cưới của Tuấn Ngọc với Thái Thảo thì mọi người lên hát với cô dâu và chú rể om sòm trời đất. Quan khách ngồi ở dưới toàn là bạn bè quen biết cả nên không khí thật là tự nhiên.

Nhiều hôm đi dự tiệc cưới về bỗng mình bị khản cổ. Hóa ra vì lúc ngồi ăn tiệc, nói chuyện với người bên cạnh phải “hét” để át tiếng nhạc. Nếu không hét, nói thầm vào tai lại mang tiếng bất lịch sự, hoặc tệ hơn nữa nếu vị ngồi bên là nam giới có khi bị “ghen” oan uổng và mang tiếng lẳng lơ! Có người nói đùa, rằng hình như ban nhạc trong tiệc cưới được trả tiền theo độ “decibel,” trống kèn đàn địch càng ồn càng hay!

Thỉnh thoảng dự một đám cưới chỉ có chục bàn, không có văn nghệ và chẳng có M.C., như đám cưới của người bạn lâu năm là Kỳ Hùng thì người viết thấy không khí vui vẻ thân mật vô cùng. Hay là mình già rồi, nên không còn hợp với sự ồn ào náo nhiệt?...


Quỳnh Giao







_



__,_._,___

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tiếng Gào Trong Đêm

Nguyễn Thị Ngọc Nhung
Dưới đây là một truyện ngắn giá trị của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Nhung, mô tả những diễn biến rùng rợn của một chuyến vượt biên, trong đó tác giả là nạn nhân. Truyện được viết dưới dạng tự thuật, nên lôi cuốn từ đầu đến cuối, khiến người đọc vô cùng hồi hộp, như được sống lại những kỷ niệm hãi hùng của ngày xưa… vượt biên.



Ghe chòng chành giữa dòng nước, tôi sợ hãi ngồi bám chặt mạn thuyền, mắt láo liên nhìn trời đêm sáng lờ mờ ánh trăng mười chín. Chúng tôi ngồi dồn đống trong khoang thuyền. Hai tên đàn ông to người chèo ghe gõ nhẹ trên mui báo hiệu đã đến nơi tạm an toàn, chúng tôi có thể cử động đôi chút. Người chèo mũi vén tấm lá che mui nhìn vào.

“Bây giờ mình phải đi bộ một khoảng, tui dẫn hai người một lần. Chia ra để khỏi lộ. Mấy người khác cứ ngồi đợi đến phiên, nhớ đừng nói chuyện lớn tiếng.”

Hắn dẫn hai người đàn bà ngồi sát cửa mui đi trước. Cả đám ngồi đợi ẩn nhẫn. Tim tôi chưa hết hồi hộp đập thình thịch thể như bất cứ người nào ngồi gần cũng đều có thể nghe được nhịp ấy. Phong nắm tay tôi. Tay Phong đẫm mồ hôi và lạnh. Tôi phải ngồi bệt và khom lưng, hai đầu gối co đụng cằm, gọn lỏn trong lòng Phong. Khoang ghe quá chật cho mười người ngồi lèn nhau, phía ngoài còn tấn mấy buồng chuối mùi nhựa nồng chát. Bên trái tôi, cha mẹ Phong dúi sát nhau. Một bé trai độ bốn, năm tuổi, bị uống thuốc ngủ, nằm im lìm trong lòng cha nó. Bà vợ ngồi kế bên, chân trái đạp chân tôi nhưng hình như bà không biết và tôi cũng không thể dời chân đi nơi khác. Đành chịu. Người con gái ngồi kế có lẽ là em gái bà, mặc bà ba đen như gái quê, mặt từa tựa nét.

Khí trời đêm hơi lạnh nhưng bên trong khoang, nóng hầm hơi người. Hình như cái nóng hậm hực ấy tăng gấp bội vì trộn lẫn với nỗi căng thẳng bập bùng ngập ngụa không gian. Tôi lén nhìn đồng hồ giấu trong ngực áo. Khoảng 2g15 sáng. Tôi thì thầm nơi tai Phong “Hơn hai giờ sáng rồi anh.” Phong gật nhẹ đầu. Người đàn ông chèo lái ngồi im như pho tượng. Đôi khi ánh mắt của hắn lấp lánh nhẹ dưới ánh trăng khi chớp. Cái mũi dài mang nét khoằm khiến mặt hắn lộ đầy vẻ gian ác nhưng nụ cười nở rộng với hàm răng thưa làm giảm bớt ấn tượng xấu nơi người đối diện. Hắn mặc áo bà ba đen, tay áo xắn quá cùi chỏ.

Người đàn ông đưa hai người đàn bà lội bộ băng qua hàng cây thấp trở lại. Hơi thở của hắn nóng hôi hổi phà ngay mặt tôi khi thò đầu vào khoang kêu người đàn ông ẵm đứa con ngủ mê mệt. Người chồng bò ra đằng lái, vác đứa bé trên vai như vác bị gạo mò mẫm bước lên bờ. Vấp phải vật gì trên bờ đất, ông chúi nhủi suýt té, tay cố giữ thằng bé, người lảo đảo bước quàng xiên lòm khòm rồi mới đứng thẳng lên được.
Tên đàn ông dẫn đường mặc áo sơ mi màu nâu đen, quần tây nhàu nát ống nhỏ túm hơi ngắn trên mắt cá, có chỗ sờn, đôi dép mỏng. Hắn ta tương đối trông được hơn người ngồi lái. Với nước da tái, môi thâm vì thuốc lá nhưng lại vẽ nên một nụ cười thật đẹp với lúm đồng tiền bên trái, kẽ răng đóng nhựa thuốc. Đôi mắt mí to với hàng mi rậm, duy có ánh mắt của hắn là không thẳng thắn, còn ngoài ra hắn dễ dàng lấy cảm tình của người xa lạ với giọng nói trầm và chậm.

Tôi và Phong chưa bao giờ gặp hai người đàn ông này. Chuyến đi này chúng tôi qua trung gian bởi người bạn thân giới thiệu. Người bạn đó đã đến Mã Lai an toàn, chính vì vậy mà tôi và Phong mới tin tưởng nơi người trung gian này. Hơn nữa, chuyến đi có cả gia đình người thân gì đó của người trung gian cùng đi, như vậy thì không có gì để chúng tôi lo ngại. Thường là chắc ăn, người trung gian mới dẫn gia đình đi sau khi đã mối lái nhiều lần có vàng có tiền làm của hoặc manh mối bắt đầu bị lộ. Ba mẹ Phong và tôi phải xuống Cần Thơ, giả đi thăm bà con. Tôi mặc hai bộ đồ trên người, giấu theo ít vàng và nữ trang. Phong mặc quần áo nhăn nhíu không ủi. Mẹ Phong thì mặc bà ba quần thâm. Ba Phong thì vận đồ rách, vá chùm vá đụp mấy chỗ, chân mang dép rách quai cột nối bằng cọng kẽm. Tất nhiên là không dễ gì qua mắt người miệt quê đó nhưng hình như họ cảm thông (hay tội nghiệp) trước sự trá hình không mấy chỉnh nên tôi thường bắt gặp ánh mắt ái ngại nhìn mà không dám hỏi vài lần suốt đường đi.

Đến nơi, cả bốn được dẫn đến một căn nhà nằm dựa mé sông chờ đến tối mới xuống ghe nhỏ theo sông ra cửa biển nơi có ghe lớn đợi sẵn. Trong nhà có độ hơn mười người khác đợi sẵn khi chúng tôi đến rồi chia nhóm theo ghe. Tôi dặn Phong tìm cách đi chung với người trung gian, bảo đảm hơn. Phong gật nhưng gia đình người đó cả thảy là tám, thêm hai người thì vừa đủ cho một chuyến. Nhưng tôi lẫn Phong đều không muốn đi tẻ riêng thành ra đành phải chờ chuyến chót, mười người, hơn mười giờ tối.

Thoạt đầu, ngồi chen chúc trong khoang, tôi muốn ngộp thở với hơi người và mùi bùn non lẫn mùi nước đọng hôi hám nơi đáy ghe. Hai người chèo bắt chúng tôi khom lưng gần như nằm mọp xuống, tấn bên ngoài dằn bên trên, mấy buồng chuối xanh ngắt sau khi đậy bao bố tời dơ bẩn lên đầu mọi người. Đường đi may mắn yên tĩnh không có chuyện gì xảy ra tuy rất chậm và kéo dài như không bao giờ đến nơi.

Người đàn ông dẫn đường trở lại, kêu bà vợ và cô em gái của bà cùng đi. Tôi chợt ngửi phải mùi nồng tanh tưởi nơi áo hắn khi hắn nghiêng người khều vai bà vợ. Bỗng dưng tôi nghe lợm giọng không hiểu tại sao. Cái mùi thật lạ lùng. Bóng tối trong khoang không cho phép tôi nhìn rõ mặt hắn. Mùi tanh đến lạ. Hơi thở của hắn cũng nặng nề hơn. Tôi thì thào với Phong sau khi hắn đã đi.

“Anh có nghe mùi gì không?”
“Không. Mùi gì?”
“Có mùi tanh tanh kỳ lắm… ”
Phong bâng quơ qua chuyện.
“Mùi bùn đó mà.”

Cũng khá lâu người đàn ông dẫn đường mới trở lại. Có thể hắn đi không lâu lắm nhưng khi chờ đợi thì năm ba phút dễ biến thành năm ba giờ. Chỉ còn bốn người trong khoang. Hai tên đàn ông bàn tính nho nhỏ trên bờ. Tôi bỗng nghe gai ốc nổi đầy người. Tôi nắm chặt tay Phong. Mồ hôi tươm ướt lưng. Người đàn ông đẹp trai kêu chúng tôi ra khỏi khoang. Hắn nói, giọng khoan thai.

“Bây giờ tui dẫn ông bà đi, hai người một. Để khỏi mất thì giờ, hai người đi với anh Ban, hai người đi với tui. Tụi tui đi hai đường nhưng đường nào cũng dẫn tới chỗ ghe lớn. Đi đông nhiều tiếng động dễ bị lộ. “

Rồi không đợi phản ứng của người nào hết, hắn hất hàm người mũi khoằm tên Ban, đẩy cha mẹ Phong về phía đó. Quay nhìn hai đứa tôi, hắn cười, hàm răng lởn nhởn dưới ánh trăng, bóng đen lúm đồng tiền nổi rõ trên má, rồi hắn quay lui bắt đầu đi về phía rừng cây thấp. Phong nắm tay tôi đi theo hắn. Rừng cây tối mờ dù là rừng thưa, bóng lá đen ngòm trên đường lồi lõm. Tôi vấp té loạng choạng nhiều lần, đi chậm hẳn lại.

Chợt một nhánh cây đập vào mặt đau điếng, tôi khựng lại, giằng tay khỏi tay Phong rồi đỡ nhánh cây cúi người lom khom. Bỗng dưng, tôi nghe thấy… không chắc mình nghe đúng, nhưng tứ chi chai cứng. Thứ âm thanh nhọn như tiếng mèo gào giữa khuya. Tim tôi đập nhịp cuồng. Tôi quờ quạng tìm tay Phong. Chàng đứng sát tôi, chợt tôi cảm thấy cả người mệt mỏi và thỏng dài. Người đàn ông dẫn đường quay nhìn hai đứa tôi. Bóng tối mờ nhưng tôi vẫn thấy được ánh mắt kỳ lạ của hắn. Bỗng nhiên nỗi sợ hãi ùa tới tràn ngập người tôi với sự im lặng kỳ lạ của người dẫn đường không thúc hối khi thấy chúng tôi khựng lại. Hắn không hề kêu chúng tôi nhanh bước. Thời gian đứng khựng và cả ba đứng im như chờ đợi phản ứng của nhau. Chợt Phong kéo ngược tay tôi chạy trở lại hướng vừa rời đi lúc nãy. Tôi chạy cuống cuồng theo tay kéo mù loà. Rừng cây như mê hồn trận, chúng tôi chạy bất kể mọi thứ.

Rồi cả hai cũng trở lại được bờ sông nơi ghe cặp bến. Người đàn ông tên Ban đang cúi khom lục lọi chi nơi bóng đen nằm im bên chân hắn. Tôi đứng sựng kêu không ra tiếng. Miệng lưỡi dính thành một khối nghèn nghẹn. Bóng đen dưới chân hắn là mẹ Phong, nửa trên loã thể, tư thế co quắp, mặt úp xuống bùn. Ban hình như cũng không ngờ sự có mặt của tôi và Phong. Hắn đờ người, tay còn cầm sợi dây chuyền vàng lòng thòng. Trong khoảnh khắc chúng tôi nhìn hắn, nhìn cái búa bửa củi vất bên chân. Tôi không thấy máu vì bóng đêm làm nhoè bẩn mọi thứ. Nỗi sợ hãi dâng lấp trí óc. Ý nghĩ lướt thật nhanh trong đầu. Tôi đã hiểu tại sao chúng muốn dẫn từng hai người một. Tôi sực nhớ đến người dẫn đường. Đầu óc hoảng sợ nhưng vẫn còn sáng suốt để nghe rõ tiếng chân chạy đuổi và tiếng la của hắn đâu đó “Ê Ban, coi chừng tụi nó chạy. Ban! Ban! Tụi nó chạy rồi!” Phong vụt chạy về chỗ neo ghe. Tôi chạy theo tay níu của Phong đến sát mé nước, chân vấp vật gì. Tôi ré lên như đạp phải giòi. Nhìn xuống, ba Phong nằm nửa người vùi dưới nước. Phong khựng lại vì tiếng la của tôi rồi đẩy tôi ra sông. Tôi sặc sục, nước mới ngang ngực. Phong hét vào tai tôi.

“Lội mau lên, lội ra giữa sông.”

Tôi bơi hối hả, tay chân nặng chình chịch vì hai bộ đồ ướt nước. Tôi quay cuồng tứ phía, không rõ mình bơi về hướng nào mới đúng. Tiếng người la hét sau lưng nghe chói tai đến độ hãi hùng. Một tràng đạn bắn vãi quanh tôi và Phong. Chàng đè đầu tôi ngụp xuống nước. Không mấy lâu, tôi ngộp thở hất tay Phong trồi lên hớp không khí. Súng nổ liên hồi như sát mang tai. Tôi luýnh quýnh đập tay chân loạn xạ, chưa đầy mấy phút đã mệt lả. Tôi càng ráng trồi lên chừng nào thì lại càng chìm xuống nhanh chừng nấy. Tôi lặn hụp lên xuống như người sắp chết đuối. Có lẽ nhờ vậy mà tôi tránh được đạn bắn xối xả chung quanh. Phong khi lặn kéo tôi hụp xuống, khi nổi đẩy tôi trùi tới. Tôi bơi tới tấp với cảm tưởng mình nổi ì một chỗ. Đầu óc tôi rối loạn nhưng hình như vẫn tỉnh táo, rất tỉnh táo để thấy ánh trăng mờ trên cao, cây cối đứng im nơi bờ, bóng nước lấp lánh quanh mình, hơi thở hào hễn, cơn mệt muốn đứt hơi và mấy bóng đen trên bờ với loạt đạn dữ dội. Tôi bơi như máy, hơi thở dần ngắn với nước tuôn vào mũi mồm sặc sục. Biết mình không đủ sức, tôi thả ngửa để Phong vịn vai đẩy đi. Hình như chúng tôi đã ra được giữa sông. Tôi nhìn vào bờ, chỉ thấy dạng cái ghe, hai bóng đen tàn ác nhoè lẫn trong bóng đêm nhưng ánh lửa nháng với tiếng nổ vẫn hiện hữu. Tôi đạp chân phụ sức với Phong, mắt nhìn thẳng lên lòng đêm có trăng sao đầy đủ. Trời đất có đó nhưng hình như bịt tai im lặng trước hành động dã man. Tôi nhẩm cầu những đấng tối cao mà tôi có thể nghĩ đến trong nhịp tim hỗn loạn.

Tiếng súng bỗng im. Sự im lặng hãi hùng đè chụp lấy tôi. Tiếng đập nước vùng vẫy của chúng tôi bỗng trở thành tiếng động duy nhất rõ mồn một trong đêm. Tôi lật sấp người lại tiếp tục bơi, bờ bên kia vẫn còn xa thăm thẳm. Có bơi mới thấy con sông không nhỏ như tôi tưởng khi còn ngồi trên ghe. Phong nhìn lại rồi nói qua hơi thở đứt quãng.

“Tụi nó chèo theo… bơi lẹ… lên em… May ra mình… thoát.”

Câu nói của Phong lại được đệm bằng tiếng súng nhưng rời rạc hơn lúc nãy. Tôi muốn bịt tai để đừng nghe thứ âm thanh dữ dằn chở đầy gai nhọn đâm thẳng tim óc. Tôi nhìn lui, không hiểu sao trong lúc bấn loạn, trí óc vẫn tiếp tục có lúc minh mẫn để thấu suốt những thứ không dính dáng gì hết, quanh mình. Chiếc ghe trôi lừ lừ ra giữa sông thật nhanh. Lửa đỏ loé quanh. Tôi nghe được tiếng giầm quậy nước lẫn với tiếng súng mỗi lúc thưa hơn. Tiếng lủm chủm của đạn rơi không còn nghe gần đâu đây nữa mà vạt xa xa về phía bờ bên phải. Phong kề tai thì thào.

“Tụi nó không thấy mình. Em bơi nhẹ dưới nước trôi lần vào bờ, đừng gây tiếng động mạnh. Khi tụi nó bắn thì mình bơi nhanh hơn một chút.”

Đám lục bình nhẩn nha trôi đâu đó làm hai tên đàn ông lầm lẫn. Chúng la hét lẫn nhau.

“Mày bắn lục bình không hà, Ban! Ê. Đụ mẹ, tụi nó trôi hướng này sao mày cứ bắn hướng đó hoài vậy? Đụ mẹ, giết có hai đứa mà cũng không xong, biết làm gì ăn đây mậy?”

“Câm cái miệng của mày lại. Đứa nào để xẩy? Hả? Mẹ cha nó, tao bắn đúng chỗ, chắc tụi nó chìm rồi. Không tin thì thôi. Đụ má, bỏ cho rồi. Sống chết kệ mẹ tụi nó. Về cho xong, trời gần sáng rồi, làm cả đêm, mệt chết mẹ!”

Mọi thứ vụt im. Không có tiếng chèo lẫn tiếng chửi thề. Tay Phong nắm cứng vai tôi trong khoảnh khắc rồi buông. Tôi chúi đầu sát mặt nước, tay chân cố khuẫy thật nhẹ nhưng vẫn mang cảm tưởng nặng chịt lào xào khuyấy nước. Im lặng nặng như tấm màn sũng nước phủ đè lên tâm trí. Tim tôi đập rối rít, mạch máu nhảy theo nhịp tim hào hễn, tai tôi nghe được tiếng bình bịch của tim mình tưởng như ai cũng đều nghe ra. Chợt có người dúi chân tôi xuống. Tôi hơi giật mình khi chân đạp phải lớp sình mềm. Phong đứng, mặt ngửa chừa mũi thở, cả đầu dìm gần hết dưới nước. Tôi bắt chước Phong, đỡ mệt vì chân chạm đáy sông nhưng phải đổi chân chống vì lớp sình mềm khiến chân chuồi nghiêng không vững. Được một lát, tôi ngẩng nhìn vừa lúc bóng đen nơi ghe lên tiếng.

“Đằng kia kìa. Đó. Đụ… tụi nó vừa hụp xuống. Chỗ này nè. Mày bắn chỗ đó coi.”

Phong nắm tay tôi kéo hụp xuống nước. Nghe được câu nói của người trên ghe nên tôi kịp chuẩn bị để hít một hơi không đến nỗi chịu ngộp lâu. Đạn bắn tung toé sát nơi tôi đứng. Phong dò dẫm bước đi dưới nước. Tôi bước theo mò mẫm, chân đạp sình loạng choạng nhằm nơi trũng sâu làm tôi hốt hoảng bíu chặt tay Phong. Miệng há ra bất ngờ khiến nước ùa vào mồm, tôi ngột ngạt trồi đầu lên thở. Trước mặt, đám lục bình kẹt nhánh cây chết dồn đống bên bờ. Tôi truồi sâu vào đám lá, chỗ nước cạn ngang bụng nên ngồi chồm hỗm dưới nước. Bóng ghe đi ngang thật rõ. Tiếng nói chuyện vang vang.

“Kệ mẹ tụi nó, về cho rồi. Mày cất đồ chưa?”

Giọng trầm khoan thai trả lời như không bị ảnh hưởng chi hết với hỗn loạn máu me vừa rồi.

“Rồi, hỏi hoài! Xét hết mấy cái thây rồi. Trừ khi nào họ nuốt vô bụng thì tao chịu chớ… Ờ, hay là mình quay lại mổ mấy cái thây đàn bà. Tụi nó có khi nuốt hột xoàn…”

Giọng kia bẳn gắt hơn. “Sao hồi nãy hổng nói? Mẹ nó. Xì. Đụ má, gì cũng mày. Đợi xong rồi mới nói. Xẩy hết hai đứa… Gần sáng rồi, mổ miết gì nữa. Đụ má.”
Tiếng nói nhỏ dần theo dạng ghe loãng dần trong đêm tối. Phong đứng dậy, lần mò trượt lên trượt xuống với lớp sình nơi bờ rồi mò lên bờ đất. Tôi đạp sình nhão nhoẹt len chảy qua mấy kẽ chân, theo Phong lên chỗ có đất cứng. Bờ đất đầy rễ chằng chịt của thân cây chết, không rõ cây gì. Tôi lại vấp chân đau điếng nhưng cơn đau không đủ nồng độ để tôi nhận biết lâu hơn. Ngồi bệt xuống, tôi lần mò ngực áo tìm đồng hồ. Ánh lân tinh mờ ảo. 4g20 sáng. Tôi nói với Phong, hơi khựng lại khi nhận ra mình lạc giọng.

“Gần bốn rưỡi rồi anh. Giờ tính sao đây?”

Phong cởi áo vắt nước không trả lời. Tôi cởi bớt một bộ đồ bên ngoài cố vắt cho ráo rồi phơi đại trên mấy nhánh cây gần đó. Hơi lạnh thấm qua lần áo ướt còn lại trên người khiến tôi nổi ốc. Cả người tôi run từng cơn theo phản xạ cơ thể. Tôi ngồi bó gối, hai tay ôm chân co ro. Phong choàng tay qua vai tôi cho ấm. Hai đứa chúi vào nhau. Trí óc tôi dần dần tỉnh và tôi cố tránh không nghĩ đến những gì vừa xảy ra.

Rừng cây thưa thớt không một bóng nhà hay bóng đèn. Sao thật sáng và thật nhiều. Tiếng ếch nhái ễnh ương đâu đó nổi lên thật bình yên như không có chuyện gì xảy ra. Nước mắt tôi rơi chầm chậm nhiểu trên tay mới hay. Cơn sợ hãi lắng xuống, giờ chỉ còn lạc lõng khốn cùng sau cơn bão tàn khốc. Tôi mang cảm tưởng vừa rỗng không vừa đầy ắp đến độ muốn nôn. Không biết tôi nên nói gì, làm gì. Sau con giông tàn bạo, sực thấy mình không là gì cả, tay chân dư thừa, đầu óc đầy rẫy những hình ảnh chết chóc và cảm tưởng mình rất mỏng manh dễ bị xúc phạm thì lấp đầy cả người.

Giọt nước mắt đầu rơi xuống, khơi dậy trùng dương trong tôi. Tôi khóc ngon lành như chưa bao giờ được khóc. Trí óc lần mò trở lại xác người vấp phải nơi mé nước, sợi dây chuyền vàng đong đưa nơi tay gã đàn ông cúi mình trên cái xác trần. Hoá ra, tim tôi hụt nhịp, những người chung ghe đã chết. Tôi nhớ đứa bé trai ngủ mê vì thuốc. Cô gái trẻ thì thầm với tôi “Bồ em ở Texas. Ảnh hứa sẽ đón khi em tới đảo. Mấy năm rồi em chỉ đợi có dịp này. Tưởng sẽ không bao giờ gặp rồi chứ. ” Giọng cười khẽ vui sướng đầy hy vọng của cô. Giờ thì thật là không bao giờ gặp. Tôi gục đầu ủ rũ với nước mắt. Phong ngồi im lặng lẽ. Chúng tôi đã gặp phải lũ cướp cạn tàn ác. Lũ cướp cùng màu da cùng tiếng nói với mình. Tôi thường nghe nói đến hải tặc Thái lan nhưng chưa nghe nói đến lũ cướp cùng màu da tiếng nói với mình. Giờ thì tôi hiểu, nạn nhân chết cả, lấy ai kể lại câu chuyện thương tâm nơi bờ sông vắng. Biết bao bờ sông vắng đã chứng kiến những cảnh tượng tương tự? Tôi lau nước mắt trên tay áo còn ẩm ướt, nằm lăn ra đất. Phong nằm theo, gối đầu tôi lên tay chàng. Tôi sờ soạng mặt Phong trong đêm tối mờ, ngón tay tôi ướt khi lướt ngang mắt. Tôi vùi mình trong lòng Phong, cảm kích và đau đớn vô vàn.


* * *

Bà ngoại Phong mất khoảng sau hai giờ sáng cùng ngày hôm ấy. Dì Sáu cho chúng tôi hay mấy ngày sau, khi hai đứa mò về đến nhà. Bà mất cùng ngày chúng tôi bị nạn. Lúc hai giờ, bà còn đòi dì Sáu rót cho tách trà. Sau đó, dì Sáu về giường của mình. Đến sáng thì bà đã chết cứng, hai chân thò ra ngoài như sửa soạn xuống giường, tay phải níu chặt thành giường, mắt mở hé.
Phong ngồi ôm đầu nghĩ ngợi. Chập sau Phong hỏi.

“Dì có chắc là sau hai giờ không?”
“Chắc. Dì cho ngoại uống nửa tách trà. Lúc để tách xuống bàn sực thấy đồng hồ gần hai giờ chớ dì có tính coi giờ đâu mà nhớ.”

Dì Sáu là em út của mẹ Phong. Dì lớn tuổi nhưng không con. Chồng dì còn ở trại học tập nên dì không đi với chúng tôi, vả lại không ai trông nom bà ngoại, đã hơn bảy mươi lăm già yếu nhiều bệnh tật. Dì giống mẹ Phong nhiều nét nhưng khô khan cằn cỗi hơn. Mặt dì sưng húp vì khóc nhiều.

Lúc mở cửa thấy hai đứa tôi, dì oà khóc như trẻ nhỏ. Thấy trở về, hiểu ngay là không thoát, phần mới chôn mẹ một mình nên dì tủi thân. Đến khi biết cha mẹ Phong tử nạn, dì khóc thảm thiết hơn. Phong chỉ ngồi yên nhìn tôi và dì Sáu, mặt chàng chai cứng với giận dữ và oán hờn.

Tối hôm đó, Phong ngồi nơi giường ngoại, vụt nói một câu lạ.

“Mình thoát được là nhờ ngoại!”

Tôi nhìn Phong không hiểu. Dì Sáu hỏi.

“Sao? Con nói sao?”

Phong chậm rãi kể, mắt nhìn mông lung.

“Lúc Ngà giật tay con đứng lại, tự nhiên con thấy bà ngoại. Thấy như thế nào thì con không biết, chỉ biết là thấy mà trong người không hề thắc mắc tại sao. Bà ngoại xua xua tay nói. Chạy đi con, lội qua bên kia sông. Lẹ lên. Chạy đi con! Con nghe rõ ràng giọng thúc hối nóng lòng của Ngoại. Con đang hoang mang chưa biết làm gì thì lại nghe bà nói. Mẹ mày chết rồi. Chạy mau lên con ơi. Rồi như có gì ám, con lôi tay Ngà chạy về phía bờ sông theo lời Ngoại. ”

Tôi nghe lạnh nơi sống lưng. Tôi đã không kéo tay Phong đứng lại vô cớ, rõ ràng có nhánh cây đập nơi mặt đau như trời giáng nên tôi đứng lại không suy nghĩ. Khi mặt trời lên, Phong nhìn và không thấy vết bầm hay trầy trụa nào trên mặt tôi cả. Điều này khiến tôi ngạc nhiên vì cái đau xé da thịt kia không thể nào không để lại dấu vết trên mặt. Còn tiếng gào, thứ tiếng đau đớn của một con thú bị nạn. Thứ âm thanh chỉ có thể tạo được bởi cơn đau tận cùng xương tuỷ. Phong đã không nghe tiếng gào nào hết khi giật tay tôi quay lui chạy ngược về hướng cũ. Không dám suy tưởng nhiều hơn, tôi chỉ giản dị cho rằng mẹ Phong đã tìm cách cứu chúng tôi bằng tiếng gào mà bà đã không kịp thoát thành tiếng. Tôi đã nghe được thứ âm thanh xé rách màn đêm chọc thẳng óc mình, đã ngửi được mùi máu trên áo kẻ giết người. Nếu không có nhánh cây quật mặt, tôi đã không dừng lại và đã tiếp tục ngoan ngoãn đi theo tên dẫn đường gian ác. Nếu không có tiếng gào, có lẽ tôi vẫn tiếp tục đi không chút ngờ vực. Tiếng gào và cái đau của nhánh cây quật mặt, cả hai đều thật, thật như nỗi hãi hùng của cuộc thảm sát ghê rợn nơi bờ sông vắng. Tôi đã cảm thấy được tất cả mọi thứ bằng mọi giác quan trên người. Có thể, nhánh cây làm tôi đau nhưng không để lại dấu vết, nhưng còn tiếng gào, tôi phải giải thích làm sao khi Phong không hề nghe có tiếng gào nào hết. Hai đứa tôi đã được báo động cùng một lúc bằng hai hình thức khác nhau. Và nhờ hành động vụt chạy bất thần khiến tên dẫn đường không kịp trở tay. Nếu không, nếu không… tôi vẫn thường tự hỏi, nếu không, nếu không, chuyện gì sẽ xảy ra và tôi sẽ làm gì nếu gã đàn ông không gờm tay với mình giả như tôi và Phong cùng rơi vào tình trạng sống chết dưới tay hắn? Đây là nỗi ám ảnh không biết đến khi nào tôi mới được quên dù đã yên ổn xứ người nhiều năm sau đó.

Nguyễn Thị Ngọc Nhung

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

BỨC HÌNH: TÂM SỰ CỦA MỘT CỰU SINH VIÊN DU HỌC Ở TÂN TÂY LAN

Image
Sinh Viên VNCH du học tại Paris Biểu tình 27/4/1975

Bức hình ! Chỉ là một bức hình đen trắng ! Do người bạn bên Âu châu gởi qua cho xem. Nhưng nó đã đeo đuổi trong đầu óc tôi từ sáng đến giờ.

Bức hình chụp cách đây đã lâu lắm rồi. Ba mươi lăm năm về trước. Mà lại không phải là nguyên bản, chỉ “ …được một anh bạn tốt nghiệp KTS tại Pháp trước 75 scan lại từ một tờ báo Pháp mà anh đã cất giữ từ ngày đó, mãi đến hôm nay P.. mới tìm thấy lại xin chia sẻ cùng các ACE …. xa gần.”

Nhưng anh bạn ắt hẳn đã vô cùng trân quý tấm ảnh vì trông vẫn còn rất rõ. Rõ từng hàng chữ trắng và to trên biểu ngữ màu đen “HONNEUR À NOS SOLDATS MORTS POUR LA LIBERTE’”, hay “ GRANDE JOURNÉE DE DEUIL” đã đành. Mà còn rõ nét mặt của từng thanh niên, nam nữ trong đoàn biểu tình hôm đó.

U buồn ! Hoang mang ! Uất hận ! Nhưng không kém phần cương quyết. Nói lên cho người dân Ba Lê, và cho cả thế giới, biết lập trường chính trị của các bạn không hề suy xuyển.

Nhìn những khuôn mặt của các bạn sinh viên Quốc gia trên dưới đôi mươi ở Pháp thời bấy giờ, bỗng dưng tôi trông thấy lại chính mình và những người bạn của mình 35 năm về trước ở Christchurch, Tân Tây Lan. Ừ phải rồi ! BST cũng với cặp kính cận như anh ôm bình nhang đi đầu. TĐN cũng có dáng cao ròm như anh đi phía bên trái. Chị BC cũng có mái tóc dài và thường mặc quần jeans như cô bạn mang lá Đại kỳ VNCH.

Chúng tôi cũng đã trãi qua những ngày đêm khắc khoải của tháng Tư năm đó. Bỏ học. Bỏ giảng đường. Ngày thì ôm cái radio đón nghe tin tức. Tối đến, xem trên TiVi hình ảnh của đồng bào lánh nạn từ Cao nguyên xuống miền Trung, rồi dần dần phải di tản về Xuân Lộc, Long Khánh.

Trong phòng khách của BST có 1 bản đồ Việt Nam thật lớn treo trên vách. Trên đó anh em cắm những cây kim gút có đầu màu vàng lên những địa danh bên ta còn giữ được, và những cây kim màu đỏ đánh dấu những nơi đã rơi vào tay giặc.

Để từ giữa tháng Ba, tim mỗi ngày một thắt lại, lòng mỗi ngày một chùn xuống. Vì kim màu đỏ càng lúc càng lấn át những cây kim màu vàng.

Một tuần lễ của Xuân Lộc kiên cường là một tuần lễ của niềm hy vọng cuối cùng đối với chúng tôi, như một cái phao cho người rơi xuống biển giữa sóng trùng vây bủa

Cái khổ là nguy hiểm cận kề nhưng không làm gì được. Ai cũng cố gắng gọi điện thoại về bên nhà để hỏi thăm tin tức của gia đình. Nhưng thời đó đã làm gì có direct link như bây giờ. Muốn gọi ra nước ngoài phải qua 2 Tổng Đài, một ở NZ và một ở VN, đó là chưa kể đến chuyện phải làm cái hẹn trước.

Bất lực ! Tuyệt vọng ! Đến mức nảy sinh những ý định ngông cuồng. Không phải chỉ từ chúng tôi. Ngay cả một anh bạn Tân Tây Lan, vốn đã từng sang dạy Anh văn ở đại học Văn Khoa Sàigòn vào năm 73 và có 1 cô bạn gái bên đó. Một đêm, anh nói với chúng tôi “Tao sẽ sang Thái Lan, hijack một chiếc máy bay, hẹn với L. ra Tân Sơn Nhất ngồi chờ, ngày đó, giờ đó, tao sẽ đáp xuống và bốc cô nàng đi!”.

Nghe sao giống kiểu người hùng Lý Tống quá, phải không ?

Nhưng bực bội nhứt là mỗi đêm phải nghe những tiếng rè rè từ máy phát thanh của đám “phản thùng” ở căn flat kế bên. Chúng cố gắng bắt các đài Hà Nội, đài Bắc Kinh trên các làn sóng ngắn để nghe “những bản tin chiến thắng” (sic !) và cố tình vặn âm thanh thật lớn để lọt vào tai chúng tôi. Hơn một lần, đã suýt có ẩu đả xảy ra cũng vì chuyện này.

Thật sự, tôi cũng không ngờ đám “30 tháng 4” đó trở cờ một cách nhanh chóng như vậy. Mới 1, 2 tháng trước, chúng còn khúm núm trước các vị làm việc trong Tòa Đại sứ VNCH để xin được gia hạn ở lại học tiếp. Thế mà bây giờ, Sàigòn chưa mất mà chúng đã vuốt mặt, in ra những tờ báo bằng roneo để phỉ báng những người này bằng những ngôn từ xảo trá, hạ tiện nhứt. Trí thức gì lạ vậy ? Tự trọng của chúng ở đâu ? Sĩ diện của chúng có còn hay không ? Không cần phải nói thêm là chúng tôi tuyệt giao với bọn đó kể từ ngày lằn ranh đã rõ rệt phân chia.

… Hôm nay, nhận được tấm hình, tự dưng nhìn thấy lại mình, nhìn thấy lại bạn bè của mình 35 năm về trước. Ai nấy tóc cũng đã hai màu muối tiêu. Có người đã có cháu nội, ngoại.

Nhưng các bạn vẫn chưa ngừng nghỉ. Các anh LQL, NH, NVB vẫn tiếp tục lên tiếng về Hoàng Sa, Trường Sa với sự tiếp tay của ĐGT. Anh PPL là tiếng nói hàng đầu về các vấn đề thuộc khu vực sông Cửu Long. Và xin đừng chọc giận chị DVT với mấy chuyện “hòa hợp, hòa giải".

Tôi cảm ơn các anh, các chị, các bạn. Nhưng tôi nghĩ các bạn tôi, cũng như tôi, với tấm hình mang đến những ký ức năm xưa, tất cả đều thầm cảm tạ hồn thiêng sông núi đã hướng dẫn chúng tôi đi đúng theo con đường của chính nghĩa Quốc gia. Đi theo anh Trần văn Bá. Đi cùng anh Phan văn Hưng, chị Nam Dao. Và nhiều anh chị em khác nữa !

Hôm trước. Hôm nay. Và mãi mãi !!!

HƯNG VIỆT (Brisbane)

Post Reply