Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Vạn Lý Ðộc Hành!

Nguyễn Xuân Nghĩa
Có mặt thì phải đặt tên là khủng bố!

Cuối cùng thì chính quyền Hoa Kỳ công nhận Faisal Shahzad là một tên khủng bố. Mà cũng chẳng là tay đặc công đơn lẻ theo kiểu “vạn lý độc hành,” một thứ “lone wolf.” Faisal Shahzad có liên hệ đến lực lượng khủng bố Taliban tại Pakistan và có thể đã được Taliban yểm trợ về tài chánh.

Ngày Chủ Nhật, mùng 9 tháng 5, Tổng Trưởng Tư Pháp Eric H. Holder Jr. xác nhận với truyền thông như vậy. Cố vấn về Chống Khủng Bố tại Phủ Tổng Thống là ông John Brennan còn cho biết thêm là Shahzad hoạt động cho nhóm Tehrik-e-Taliban (gọi tắt là TPP), một lực lượng khủng bố đồng hành và hầu như không tách rời khỏi nhóm Al-Qaeda.

Những xác nhận trên đây không là chuyện nhỏ. Nhìn từ bên ngoài, người ta phải thấy chột dạ.

Tối mùng 1 tháng 5, Faisal Shahzad dùng một xe hơi chất đầy chất nổ nhằm đánh bom khu vực Times Square của thành phố New York vào giờ cao điểm để giết người tối đa. Việc không thành nên không ai bị thiệt mạng. Hơn 53 giờ sau thì tên khủng bố non tay này bị bắt khi lên máy bay tại phi trường New York tính đào thoát qua Dubai ở Trung Ðông. Trước tòa án, nghi can xác nhận tội trạng nhưng khai là tự ý một mình chứ không liên hệ gì tới các nhóm khủng bố ở ngoài nước Mỹ. Cuộc điều tra sơ khởi cho thấy là y khai gian.

Nước Mỹ hú vía vì gặp một tay mơ, nhưng sự may mắn ấy có khi không tái diễn.

***
Trước hết, quả là hung thủ không thiếu ý chí giết người tối đa. Trong chiếc SUV loại Pathfinder được đậu tại đường 45 gần quảng trường Time Square, Faisal Shahzad đã gài ba loại chất nổ nhằm phá hủy cả một khu vực rộng lớn đang có đầy người.

Theo thông tin của Bộ Tư Pháp, một thùng sắt để phía sau xe có chứa hơn một tạ (113 kg) phân bón gốc urea. Nếu trộn với “acid nitric,” phân bón sẽ thành “urea nitrate,” chất nổ được sử dụng trong vụ tấn công World Trade Center năm 1993. “Mục đích yêu cầu” của hung thủ là làm xe hơi nổ tan tành giữa chốn đông người. May là chuyện pha chế ấy không thành!

Trong xe còn trữ hai bình gần hai chục lít xăng, chung quanh chất đầy pháo bông. May là pháo nổ lại không làm vỡ bình xăng khiến xăng bốc cháy hoặc kích hỏa chất “urea nitrate.” Xăng cháy thì quả là ngoạn mục nhưng chức năng giết người thuộc về “urea nitrate.” Như chưa đủ chắc, hung thủ còn để ba bình ga loại propane, mỗi bình 75 lít. May là Faisal Shahzad lại không mở bình ga, có lẽ vì muốn dùng áp suất rất cao trong bình gây ra một vụ nổ lớn. Dùng bình ga làm bom thủ công nghệ - improvised explosive devices - là trò khủng bố đã phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới.

Hoa Kỳ gặp may vì hung thủ cố ý dùng cả ba loại chất nổ (urea, xăng và ga lỏng) mà chỉ không biết cách pha chế và kích hỏa. Ráp bom là một nghề, cho nổ lại là một nghề khác và Faisal Shahzad chưa được huấn luyện tới nơi tới chốn. Một nguyên nhân khác là y có tham vọng cao hơn khả năng, muốn tạo ra sự ngoạn mục cho thiên hạ biết tiếng bằng cách sử dụng phương pháp cầu kỳ quá sức mình.

Năm ngoái, một lãnh tụ khủng bố của Al-Qaeda trong Vịnh Á Rập (AQAP - Al-Qaeda in the Arabian Peninsula) là Nasir al-Wagayshi đã căn dặn các tay khủng bố tự phát ở cấp cơ sở là “chỉ nên dùng phương pháp tấn công đơn giản thôi!” Nghe chừng Faisal Shahzad chưa nghe ra... có khi vì y là con một cựu thiếu tá người Pakistan, đã học hành tử tế và thành công tại Mỹ nên muốn chơi trội!

Nhưng, việc hung thủ đã có thể gom góp ngần ấy phương tiện giết người “ngay trong đất địch” khiến chúng ta phải lạnh mình!

***

Sau vụ 9-11, các nhóm khủng bố chuyên nghiệp xưng danh “Thánh chiến” thấy là rất khó tấn công vào lãnh thổ Hoa Kỳ.

Sau khi được huấn luyện nhuần nhuyễn, các đặc công có tay nghề cao nhất thì khó đột nhập vào Mỹ. Quân khủng bố đành tìm “dân nội địa,” người Hồi Giáo sinh sống tại Mỹ và đã thụ đắc quốc tịch Mỹ, rồi đưa ra ngoài tập huấn để trở về ra đòn.

Thí dụ như tháng 9 năm ngoái, “công dân Mỹ” Najubullah Zazi bị bắt như vậy sau khi qua học tập trong một căn cứ của Al-Qaeda tại Pakistan năm 2008. Chính là hệ thống nghe lén của tình báo Mỹ phát giác hành tung của Zazi và theo dõi để kịp thời tóm cổ khi hắn mua một lượng rất lớn hai chất “hydrogen peroxide” và “acetone” để pha chế chất nổ “triacetone triperoxide” rất dễ bốc. Hành tung mua sắm loại hóa chất này khiến nhà chức trách kịp nhảy vào cuộc. Nghĩa là các nghi can đều có được khủng bố al-Qaeda hay Taliban huấn luyện, nhưng chưa tới trình độ.

Một trường hợp khác lại đáng chú ý hơn. Ðó là thiếu tá Bộ Binh Hoa Kỳ Nidal Hasan. Tháng 11 năm ngoái, anh ta nổ súng giết chết 13 người trong trại lính Fort Hood ở Texas. Thay vì chạy ra nước ngoài để thụ huấn một khóa học về khủng bố, Nidal Hasan dùng ngay kiến thức quân sự của mình thi hành việc giết người để làm sáng danh Thượng đế Allah của mình, theo kiểu tàn ác của mình. Hung thủ nhắm vào phương pháp đơn giản hơn là chế bom, và đạt kết quả hơn hẳn Faisal Shahzad! Nói cách khác, lời khuyên của trùm khủng bố AQAP là al-Wahayshi đã có công hiệu trong cộng đồng Hồi Giáo cực đoan tại Mỹ.

Vấn đề là vì sao người ta vẫn còn gặp hiện tượng kỳ lạ này?

***

Lãnh đạo lực lượng khủng bố chiến lược như al-Qaeda hay Taliban thật ra đang bị tê liệt và không thể tung hoành tại Hoa Kỳ với một thành tích ghê gớm như vụ 9-11 năm 2001. Nhưng, trong thế giới Hồi Giáo, ta vẫn thấy xuất hiện phản ứng “khủng bố tự phát” của các nhóm Al-Qaeda “địa phương” (như AQAP) hay nội địa, hoặc các tay khủng bố đơn lẻ kiểu “Vạn lý Ðộc hành.” Thành phần này không có trình độ nghiệp vụ cao như 19 hung thủ của vụ 9-11 và cần được huấn luyện thêm. Nếu được kết nạp từ Hoa Kỳ và chạy ra ngoài học nghề giết người - như trường hợp Faisal Shahzad - thì may ra nhà chức trách Mỹ có thể theo dõi và bắt được. May ra thôi, nếu Quốc Hội không ngăn cấm chuyện nghe lén này.

Chứ thực tế thì nhà chức trách Hoa Kỳ đã bị tuột tay và nước Mỹ gặp may nên tránh được hai vụ tàn sát trên chuyến bay vào Detroit trong ngày Giáng Sinh và tại Times Square vào hôm mùng Một vừa qua. Trong cả hai vụ, chính là thường dân đã phát giác và ngăn được tai họa. Và Faisal Shahzad còn thoát khỏi mạng lưới an ninh cho tới khi lên máy bay - cũng tại New York - để trốn qua Trung Ðông. Các cơ quan an ninh Mỹ có trách nhiệm lớn khi để xảy ra những vụ như vậy.

Faisal Shahzad có bị theo dõi, đã đưa vợ con ra ngoài sau khi qua 5 tháng học nghề khủng bố rồi quay trở lại Mỹ thi thố tài năng. May là tay nghề chưa khá nên thành tích chưa trọn vẹn. Nếu hắn gặp may thì dân Mỹ đã lãnh họa! Dù sao, phải lấy công tâm mà nói rằng việc theo dõi, nghe lén và điều tra một số nhân vật khả nghi như vậy không là đơn giản, dễ làm. Và nếu thiếu tế nhị thì cơ quan công quyền còn mang tiếng là kỳ thị dân Trung Ðông, Á Rập hay người Hồi Giáo.

Chuyện đáng nói hơn thế là chính quyền Barack Obama đã gián tiếp quy tội cho vị tiền nhiệm là có chánh sách quá khe khắt nhuốm mùi thù nghịch với Hồi Giáo nên càng khuyến khích khủng bố. Sau khi nhậm chức, ông Obama lập tức đòi đóng cửa trại tù Guantanamno rồi đi vái tứ phương, đọc diễn văn đầy tính chất hòa giải tại các nước Hồi Giáo và tránh dùng đến chữ “khủng bố” - một “tai họa nhân tạo”! Kết quả thì ông chẳng thuyết phục được các phần tử quá khích và khủng bố Hồi Giáo vẫn kết nạp thêm người, kể cả những kẻ ăn học tử tế ngay trong xã hội Mỹ. Ngoài Faisal Shahzad hiển nhiên là còn nhiều tay khác, hiện đang học kinh nghiệm thất bại tại Times Square để trau giồi nghiệp vụ.

Các hung thủ còn mai phục và nhắm vào các mục tiêu “mềm,” thuộc về dân sự, rất khó phòng thủ và bảo vệ. Nhiều “vạn lý độc hành” mà cùng ra tay thì ta vẫn có một phong trào... Nước Mỹ sẽ chẳng mãi mãi gặp may và một tai họa khác vẫn có thể xảy ra.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Thư gởi Ông Db Cao Quang Ánh Và Ông Nguyễn Thanh Sơn

Của Một Người Canada Gốc Việt PHẠM VĂN LÊ .



Việt Báo

Tôi đã đọc thơ từ chối của Dân Biểu Cao Quang Ánh (DB-CQA) gởi cho ông Nguyễn Thanh Sơn (NTS) về đề nghị đối thoại ‘cởi mở và thẳng thắn’ từ chính phủ cộng sản Việt Nam muốn ‘gặp gỡ, tiếp xúc với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ và Canada, trong đó có cả các cá nhân, tổ chức còn thiếu thông tin đúng đắn về Việt Nam và vẫn còn mang tư tưởng hận thù cùng những lời nói, việc làm chống lại nhà nước Việt Nam’.

Vì cuộc đối thoại mà ông NTS mong muốn sẽ không thực hiện được nên tôi muốn nêu lên ý kiến của mình - một công dân Canada gốc Việt - cùng với hai Ông.

1- Ý kiến với Ông Dân Biểu Cao Quang Ánh

Trước khi từ chối đề nghị của ông NTS, tôi thiết nghĩ nên cần cứu xét xem các điều kiện cũng như thiện chí ắt có và đủ do 2 bên đưa ra cho cuộc đối thoại có được đáp ứng đầy đủ hay không chẳng hạn như ...

a/- Phía ông NTS muốn có cuộc đối thoại với 'các cá nhân, tổ chức' của người Việt tại Hoa Kỳ còn thiếu thông tin đúng đắn về chính quyền và Đảng cộng sản Việt Nam (DCSVN) thì song song đó chính phủ cộng sản trong nước cần phải tổ chức một cuộc đối thoại giống như vậy với những 'cá nhân, tổ chức' trong nước có quan điểm khác biệt với Chính quyền và Đảng CSVN.

b/- Nếu cuộc đối thoại giữa chính quyền và Đảng cộng sản VN với những 'cá nhân, tổ chức' nêu trên được tổ chức công khai tại Quốc hội VN có sự tham dự tự do của giới báo chí VN và ngoại quốc, đại diện các Sứ quán ngoại giao cũng như các tổ chức không chính phủ -NGO- tại VN cũng như bất cứ 'cá nhân, tổ chức' của người Việt tại Hoa Kỳ & Canada muốn tham dự thì cũng sẽ được thực hiện một cách tương đồng tại Hoa Kỳ hoặc Canada.

c/- Vì bên ông NTS chủ động đề xuất ý kiến việc đối thoại trước nên phía ông NTS cần thể hiện thiện chí và sự thành thật của mình bằng cách chủ động thực hiện trước các nội dung nêu trong mục a và b cho đúng nguyên tắc.

2- Ý kiến với ông Nguyễn thanh Sơn

a/- Ông là Thứ trưởng ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chũ nghĩa Việt nam (CHXHCNVN) dĩ nhiên ông dưới quyền của ông Ngoại trưởng , Chủ tịch nước và Thủ tướng. Tôi rất lấy làm tiếc là trong các lần đến Mỹ trước đây của ông Thủ tướng Phan văn Khải, ông Chủ tịch nước Nguyễn minh Triết hay ông Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng cũng như Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm, Phạm gia Khiêm ... đó là những dịp rất tốt để các cấp trên của ông có cơ hội thực hiện điều mà ông vừa đề nghị với DB-CQA nhưng các ông ấy đã không làm, thứ nữa ông Đại sứ nước CHXHCNVN dưới quyền ông đã có mặt tại Thủ đô Hoa thịnh Đốn trong nhiều năm qua đã có rất nhiều cơ hội làm các điều ông mong muốn nhứt là vào các dịp Lễ hội lớn như Tết truyền thống của dân tộc do Cộng Đồng Người Việt tại thủ đô tổ chức hàng năm nhưng đã không thấy các ông tham dự. Các sự kiện nầy làm cho tôi cảm thấy hoài nghi về đề nghị của ông với DB-CQA và cần có sự giải thích thỏa đáng.

b/- Cộng Đồng Người Việt tại Hoa Kỳ cũng như Canada đại đa số rời bỏ quê hương vì họ không chấp nhận Chủ nghĩa cộng sản cũng như không chấp nhận chịu sự thống trị của Đảng công sản VN mà ông đang là thành viên. Rất nhiều 'cá nhân, tổ chức' yêu nước đã kiên trì liên tục tranh đấu bằng nhiều cách để chuyển hóa chế độ cộng sản trong nước thay bằng một chế độ Dân chủ Tự do cho nên giữa Đảng cộng sản trong nước và Cộng Đồng Người Việt tại Hoa Kỳ cũng như Canada là 2 thế lực đối kháng với nhau. Điều nầy rất rõ ràng, hiển nhiên và là một thực tế khách quan chứ không phải là việc thiếu thông tin.

Thứ nữa Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Hoa Kỳ cũng như Canada đang thừa hưởng đầy đủ các quyền Tự do giành cho con người, có một đời sống tốt đẹp và mong muốn đồng bào mình trong nước cũng có được một đời sống tốt đẹp như vậy cho nên việc chống lại Đảng CS trong nước không phải để phục thù hay dựng lại xã hội cũ mà là nhằm xây dựng một chế độ Dân chủ chân chánh trong đó mọi người dân đều được hưởng các quyền Tự do căn bản của con người, được đối xử theo đúng đạo công bằng, được hưởng kết quả công việc mình làm, được bảo vệ chống lại mọi sự áp bức bất công, được nâng đở để phát triển các khả năng của mình và được sống một cuộc đời an ninh thoải mái. Nó vừa là một trách nhiệm vừa là nghĩa vụ của mọi người Việt Nam chơn chính dù đang sống ở bất cứ nơi nào, đó lại càng không phải là tư tưởng hận thù mà ngược lại chính đó là hành động cao cả nhằm loại trừ Đảng CS dùng hận thù giai cấp làm nền tảng tư tưởng và hành động, đó là chũ nghĩa cộng sản, một chũ nghĩa du nhập từ bên ngoài vừa phi dân tộc vừa tương phản với truyền thống nhân bản cổ truyền do ông cha để lại.

c/- Do ông Hồ chí Minh (HCM) tham gia vào khối CS quốc tế và mang sứ mạng du nhập chủ nghĩa CS vào VN. Sau khi được khối CS gồm Liên Xô và Trung hoa cộng sản tận lực giúp mọi phương tiện, ông HCM và DCSVN dùng chiêu bài đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập để ngụy trang cho mục tiêu bành trướng của quốc tế CS đã biến miền bắc VN trở thành tiền đồn của phe CS tại Đông nam Á mà hệ quả tất yếu đã đưa đến cuộc đụng đầu vô cùng thảm khốc tại VN giữa khối Cộng sản và Tự do đưa đẩy đất nước rơi vào chiến tranh tàn khốc, nghèo đói, lạc hậu và khốn cùng. Hàng triệu con dân Việt 2 miền đã bị chết, hàng triệu khác phải rời bỏ quê hương.

d/- Thiết nghĩ với các sự thật lịch sử cùng thực tế hiện tại cho thấy đề nghị của Chính quyền và Đảng cộng sản VN muốn đối thoại với 'các cá nhân, tổ chức' của người Việt tại Hoa Kỳ hay Canada còn thiếu thông tin đúng đắn về chính quyền cộng sản Việt Nam ... thực sự không có cơ sở nhưng chỉ khi nào Đảng cộng sản đang thống trị ở trong nước bị loại khỏi quyền hành và bị đào thải như các Đảng CS ở Đông Âu, người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, bỏ qua những dị biệt quá khứ, sẽ thực sự hòa hợp, hòa giải để cùng bắt tay vào việc xây dựng đất nước.


Kính chào,

Phạm Văn Lê- Canada




__.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Image
Image
Image

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

HAI ÐÓA HỒNG TƯƠI
Ngày trước, Ðức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Ðiền đã ra đi về nhà Cha với danh nghĩa TỬ VÌ ÐẠO, ngày hôm nay, Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt rời chức vụ Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Hà Nội với danh nghĩa gì, chúng ta rất khó có một định nghĩa chính xác.

Ðức Tổng Giám Mục Philipphê đã bị Việt Cộng đầu độc để bứng đi một kẻ chống đối, một thế lực mà chúng không thể nào lay chuyển, một sức mạnh mà Việt Cộng cho là nguy hiểm dù chỉ với 2 bàn tay không, và những lời đanh thép binh vực Chân Lý và Sự Thật. Sau mười mấy giờ vật lộn với tác dụng của độc dược, Ngài đã trút hơi thở cuối cùng, chấm dứt cuộc sống ở trần thế, Ngài đã được vào nước Thiên Chúa vĩnh hằng. Mặc cho những kẻ tránh né sự thật, ghép cho Ðức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Ðiền một sự oan ức: đã có thời gian hợp tác với Việt Cộng, để hồ sơ phong thánh của Ngài không bao giờ được mở, hay ít ra là trong thời gian Việt Cộng còn cai trị Việt nam. Nhưng trước mặt Thiên Chúa là cha sự công bình và chân lý, Ðức Tổng Giám Mục Philipphê là một đóa hồng tươi thắm với máu tử đạo của Ngài, bởi sự can trường đem ánh sáng Phúc âm chiếu tỏa giữa bầy quỷ dữ vô thần.

Vài ngày nữa, Ðức Tổng Giám Mục Giu Se Ngô Quang Kiệt cũng sẽ ra đi khỏi Hà Nội trong sự reo mừng chiến thắng của Việt Cộng và những kẻ tay sai của chúng. Ðức Tổng Giám Mục Giu se rời khỏi chức vụ Tổng Giám Mục Hà Nội với tư cách gì? Một sự cách chức? Một sự hy sinh để cho “giáo hội Công giáo Việt Nam được thăng hoa về đàng vật chất”? Hay một sự sai lầm nghiêm trọng, phá nát lòng tin của giáo dân và giáo sĩ đối với Bề Trên? Hay là một sự chiến thắng của Satan, kẻ thù của Giáo Hội.

Một Tổng Giám Mục rời khỏi chức vụ mình mà không được trao phó cho một chức vụ, một nhiệm vụ tương tự, cũng như một viên chức chính quyền rời khỏi nhiệm vụ mà không được trao phó cho một nhiệm vụ mới tương đương, thì dù muốn, dù không cũng phải gọi đó là một SỰ CÁCH CHỨC, không thể có ngôn từ nào thích đáng hơn. Nhưng, viên chức hành chánh nào, trừ những sự lắc léo trong chế độ Cộng Sản, đều được cho biết lý do trên giấy trắng mực đen. Riêng trường hợp bị cách chức của Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt chắc chắn không được Vatican nêu rõ lý do cho sự cách chức Ngài hay một lý do “lạc đề”. Người ta dự đoán trong sắc lệnh cất chức Ngài, Vatican có thể ghi mấy chữ: vì lý do sức khỏe, vì chấp thuận đơn xin nghỉ hưu, hay một lý do nào khác, nhưng với bất cứ lý do nào của Vatican đưa ra, cũng không đánh đổ được hai chữ “cách chức” phũ phàng mà hàng triệu giáo sĩ và giáo dân, có thể có một vài giám mục nữa tin chắc như thế, hàng triệu triệu con tim Việt Nam ngoài Công giáo cũng tin như thế, vì đó là sự thật.

Các nhà viết sử của Tổng Giáo Phận Hà Nội sau này nói riêng, Giáo Hội Việt Nam nói chung, rất khó mà ghi lý do rời khỏi chức vụ của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt. Xin đừng ghi rằng “vì lý do sức khỏe” vì vừa đến Vatican thì Ngài được đưa ngay vào bệnh viện, công cuộc “chữa trị” dự trù 2 tháng, nhưng các bác sĩ của Vatican đã tuyên bố “ngài đã không có bệnh gì” và cụ thể là Ngài rời “bệnh viện” và về Việt Nam trước một tháng. Xin đừng ghi rằng “vì Ngài chống đối chính quyền lúc bấy giờ”. Vì ghi như vậy, tuy đúng sự thật, dù chỉ đúng một nửa, cũng là một sự sỉ nhục Công Lý và Sự Thật. Vì “chính quyền lúc bấy giờ” là một bọn vô thần, một bọn tham quan ô nhục, một bọn phản quốc, nô lệ cho ngoại bang, nhất là một bọn tiêu diệt tôn giáo thì với tư cách một Kitô hữu, một công dân Việt nam ai cũng có bổn phận chống đối và lật đổ chế độ độc tài đó. Chống đối những kẻ như vậy mà bị cách chức, hay nói văn hoa là “rời khỏi chức vụ” là một sự sỉ nhục Chân Lý và Sự Thật. Dù Ðức TGM Ngô Quang Kiệt bị cách chức hay rời khỏi chức vụ vì chống đối bọn người nói trên thì sự hiện diện của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam để làm gì?

Tại sao “vì chống đối chính quyền thời bấy giờ” chỉ nói lên một nửa sự thật? Vì Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt không chống đối “chính quyền” bằng bạo lực, bằng hận thù, bằng những phương tiện của con người, mà bằng phương tiện của Thiên Chúa: cầu nguyện. Một Tổng Giám Mục vì lý do dạy bảo con chiên cầu nguyện mà bị cách chức thì các giám mục khác dạy con chiên điều gì? Hỏi tức là trả lời. Sự việc Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt dạy bảo con chiên phải cầu nguyện được đánh dấu bằng lời nói đanh thép của Ngài: “Ai vì cầu nguyện mà bị đi ở tù, tôi sẽ ở tù thay”. Cũng không thể ghi rằng “vì Ngài không hòa đồng với các giám mục khác”, hoặc vì Ngài “không hòa giải, hòa hợp với chính quyền đương nhiệm”. Vì người đời sau sẽ đánh dấu hỏi các giám mục khác hòa đồng với nhau những “chuyện” gì? Im lặng trước những tệ đoan xã hội như phá thai, như bóc lột, tham nhũng, mãi dâm, bán đất, bán biển cho ngoại bang đổi lấy sự sự cai trị đất nước của “chính quyền đương nhiệm”? Thế thì nhiệm vụ của đạo Công Giáo ở giữa trần gian này là gì? Là mưu cầu tiền bạc để tạo nên những lâu đài tráng lệ, những đền thờ nguy nga “ Nam thiên nhất trụ” trên một đất nước nghèo nàn?

Bài xã luận của Việtcatholic Network ngày 11.5.2010 đã viết rằng: “ÐTGM Ngô Quang Kiệt sẽ đi vào lịch sử như một chứng nhân anh dũng cho giá trị Kitô Giáo”. Thế thì Vatican và Hội Ðồng Giám Mục Công giáo Việt Nam “chứng nhân” cho cái gì trong thời Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt chăn dắt đoàn chiên Thiên Chúa ở Hà Nội và Việt Nam? Hay nói cách khác là các ngài không coi trọng hay chống đối “giá trị Kitô Giáo”. Việt Catholic ca ngợi Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt hay sỉ nhục Vatican và Hội Ðồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam ? Ðây là đầu đề của một bài xã luận được ký tên bên dưới là Vietcatholic Network chứ không phải của tác giả nào khác, cũng không có lời minh xác của tòa soạn. Với cái tựa đề như vậy mà Vietcatholic Network lại có đoạn viết rằng: “Tuy nhiên, những kẻ đạo diễn gây ra bi kịch này sẽ hớn hở vui mừng biết bao nếu chúng ta chán nản buông xuôi, nếu chúng ta đánh mất đi tình hiệp nhất khi buông mình tuôn ra những lời lẽ nặng nề chỉ trích lẫn nhau”. Còn lời lẽ nào nặng hơn khi một chứng nhân anh dũng cho giá trị Kitô Giáo lại bị Bề trên và anh em mình “cách chức”. Còn gì đau khổ hơn cho TGM NguyênễVăn Nhơn, vị thay thế cho “chứng nhân anh dũng cho giá trị Kitô Giáo” khi ngài đọc được bài xã luận này? Thế thì thân phận và nhiệm vụ của vị thay thế Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt sẽ là kẻ không làm chứng cho các giá trị Kitô Giáo? Người ta không trách Vietcatholic có đầu đề bài xã luận “tuôn ra những lời lẽ nặng nề chỉ trích” nhưng chỉ trích ai? “Chỉ trích lẫn nhau” thì không đúng, mà chúng ta phải chỉ trích những sự sai trái, đi ngược lại với giá trị Kitô Giáo. Nói cách khác, chúng ta phải nói lên sự thật, binh vực giá trị Kitô Giáo tức là Chân Lý và Sự Thật.

Một lời nói sai của Ðức Vua hay của một bề trên với một lời nói đúng của một kẻ khố rách áo ôm, chúng ta phải nói lên sự thật ai đúng, ai sai, hay là chúng ta phải nhìn vào bộ áo vua chúa của người nói, địa vị kẻ nói để chấp nhận chính họ mới là kẻ nói đúng, còn kẻ khố rách áo ôm phải luôn luôn bị cho là sai?. Trước bạo lực của Việt Cộng, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đã phải chấp nhận cho chúng là đúng, còn Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt bị cho là sai. Ðừng nói rằng quyền quyết định là quyền của Ðức Giáo Hoàng chứ không phải Hội Ðồng Giám Mục Việt nam. Ðừng chối bỏ trách nhiệm thay cho các ngài. Ðức Giáo Hoàng chỉ có ơn BẤT KHẢ NGỘ khi tuyên bố tín điều, Ngài không phải người thần thông quảng đại biết được những gì xảy ra tại Việt Nam mà không đọc những tờ trình của các cấp trong giáo hội địa phương. Vụ Tòa Khâm Sứ cũ và Thái Hà, Vatican dù có cử phái bộ điều tra qua Việt Nam cũng phải hỏi ý kiến của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam trước khi trình lên Ðức Giáo Hoàng quyết định. Nguyên tắc hành chánh buộc Vatican phải hỏi ý kiến của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam về “một người anh em” của họ trước khi quyết định nâng người anh em này lên một cấp bực cao hơn, chứ đừng nói hạ người này xuống một vị thế không có cấp bực nào!

Bổn phận tất cả mọi người là phải nói lên sự thật. Vì chỉ có sự thật mới cứu được chúng ta. Sự thật là Thiên Chúa.

Nếu cái chết của Ðức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Ðiền trở thành một đóa hồng tươi của Giáo Hội Công Giáo Việt nam dâng lên Thiên Chúa, thì sự “ra đi” của Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt là một đóa hồng tươi khác dâng lên Thiên Chúa, vì Ngài đã là nhân chứng anh dũng cho giá trị Kitô Giáo. Chúng ta hãy cầu nguyện - lại cầu nguyện - cho Ngài trong những năm tháng còn lại của cuộc đời an vui thanh thản, chấp nhận cuộc sống hiện tại, như quan niệm của Thánh nữ Têrêxa Hài Ðồng Giê Su, Ngài như một trái banh của Chúa Giê Su, nếu được Chúa dùng đến, hay vứt vào xó xỉnh nào thì trái banh vẫn luôn là của Chúa.

Ðức TGM Ngô Quang Kiệt đã là “chứng nhân anh dũng cho giá trị Kitô Giáo”, vậy thì trách nhiệm của những ai đã đẩy ngài ra khỏi Hà Nội là gì? Là một Kitô hữu, chúng ta phải nói lên sự thật để hãnh diện rằng chúng ta không nói láo. Nói lên sự thật để lay chuyển những trái tim sắt đá, im lặng trước những bất công, bóc lột mà bổn phận của họ phải cảnh giác bạo quyền, phải binh vực nạn nhân. Là một công dân Việt Nam, chúng ta phải nói lên sự thật cũng với mục đích cảnh tỉnh những ai đang về hùa với kẻ bán nước buôn dân, nhất là trước nạn diệt vong của dân tộc do “nước lạ”, “nước ngoài” tức là Trung Cộng đem lại, với sự hỗ trợ đắc lực của “chính quyền đương nhiệm”, đừng để hàng giám mục Việt Nam nằm trong danh sách những đồng lõa hay tòng phạm trong thảm trạng diệt vong của đất nước và dân tộc.

Kính xin Ðức Tổng Giám Mục Philippê Nguyễn Kim Ðiền trên thiên đàng cầu nguyện cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đi theo con đường “chứng nhân anh dũng của giá trị Kitô Giáo”. Kính xin Ðức Tổng Giám Mục Giu Se Ngô Quang Kiệt tiếp tục cầu nguyện và là “chứng nhân anh dũng của giá trị Kitô Giáo” trong thời gian còn lại của cuộc đời tận hiến.

Xin dâng hai đóa hồng tươi của Giáo Hội Việt nam lên Thiên Chúa để tùy Ngài xử dụng. Xin Mẹ Maria, Mẹ La Vang của Việt Nam cho con cái Thiên Chúa luôn là sự sáng của thế gian, cầu bàu cho Giáo Hội Việt Nam xứng đáng là chứng nhân của con Mẹ, cho nước Việt Nam chúng con mau thoát ách Cộng Sản.

Lê Văn Ấn

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

ĐTGM Ngô Quang Kiệt
sẽ đi vào lịch sử như một chứng nhân anh dũng
cho các giá trị Kitô Giáo
Quý vị độc giả rất thân mến,

VietCatholic đã nhận được một tin rất buồn: Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt của tổng giáo phận Hà Nội sẽ không còn giữ chức vụ chủ chăn của tổng giáo phận trong vài ngày tới đây. Tin này sẽ được chính thức công bố trong những ngày sắp tới.

Dưới con mắt người đời, nhất là những kẻ mà cuối tuần này sẽ mở yến tiệc hân hoan mừng “chiến thắng” tại Hà Nội thì niềm hy vọng vừa le lói cho công lý, hòa bình, tự do, nhân quyền không chỉ cho Giáo Hội Việt Nam mà cả dân tộc chúng ta đã vụt tắt.

Đứng trước một trang sử đau thương của Giáo Hội Việt Nam, chúng tôi mời gọi anh chị em hãy dành những phút giây này để suy tư về cái chết của Chúa Giêsu trên Thánh Giá hơn 2000 năm trước đây.

Dưới mắt những người đương thời, Ngài đã thua trắng tay. Đấng mà cả triều thần thiên quốc phải cúi đầu thờ lạy đã chết nhục nhã trên Thánh Giá như một tên trộm cướp, sau khi đã bị những môn đệ của mình, những người đã tận mắt chứng kiến những phép lạ Ngài làm, phản bội, chối bỏ và chạy trốn.

Nhưng sau cái chết thê thảm và nhục nhã ấy là vinh quang Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô, là ơn Cứu Độ tuôn tràn trên chúng ta, là một Giáo Hội mạnh dạn rao truyền Chân Lý mà theo dòng lịch sử đã có không biết bao nhiêu con người anh dũng minh chứng cho đức tin ấy bằng mọi giá, kể cả mạng sống của mình.

Kính thưa quý cha và anh chị em,

Trước sự kiện đang xẩy ra tại tổng giáo phận Hà Nội, dù chúng ta không hiểu được hết những khía cạnh nội bộ trong Giáo Hội về sự thuyên chuyển đang xẩy ra, nhưng đau thương, thất vọng, bất mãn và nuối tiếc là có thật. Từ đó, chúng ta cũng cảm nghiệm được những cách hành xử vì thiếu minh mạch, thiếu sự cởi mở, không biết lắng nghe, không thông tin đầy đủ từ những người có trách nhiệm đã tạo ra sự phân hóa và làm mất đi niềm tin tưởng lẫn nhau như thế nào. Chúng ta đau đớn là điều dễ hiểu, chúng ta chán nản là lẽ đương nhiên.

Tuy nhiên, những kẻ đạo diễn gây ra bi kịch này sẽ hớn hở vui mừng biết bao nếu chúng ta chán nản buông xuôi, nếu chúng ta đánh mất đi tình hiệp nhất khi buông mình tuôn ra những lời lẽ nặng nề chỉ trích lẫn nhau.

Sau hơn 70 năm sống dưới nanh vuốt của một chế độ vô thần không ngừng tìm cách tiêu diệt Giáo Hội Công Giáo, Giáo Hội Việt Nam nói chung, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cùng tuyệt đại đa số hàng giáo sĩ, linh mục, tu sĩ nói riêng đã không ngừng cố gắng trung tín với Tin Mừng Cứu Độ, sống thánh thiện và làm chứng cho đức tin. Nhưng chắc chắn cũng có những người lúc này lúc khác yếu đuối và phản bội. Nhưng mà, cần thiết phải chỉ ra rằng nguyên nhân sâu xa nhất, thủ phạm đích thực nhất của tất cả những tội lỗi và bất toàn ấy là chính cái chế độ độc tài dã man, phi nhân đang thống trị quê hương chúng ta với tất cả những thủ đoạn, bất nhân và tàn ác của nó.

Chúng ta đang đứng trước một Giáo Hội Việt Nam có nguy cơ bị suy yếu vì phân rẽ, các chủ chăn bị nặng lời chỉ trích vì thái độ im lặng hay thiếu lập trường trước những bất công và sự chà đạp trắng trợn nhân quyền của con cái mình. Lần đầu tiên chúng ta thấy con cái trong Giáo Hội đánh vào chính Giáo Hội của mình. Hiện trạng này chưa từng có trong Giáo Hội Việt Nam trong suốt dòng lịch sử.

Đứng trước hiện trạng đó, chúng tôi muốn cảnh giác anh chị em trước những mưu toan hướng mũi dùi chỉ trích của chúng ta vào những nạn nhân của chế độ hơn là chính cái chế độ đã tạo ra biết bao đau thương và oan trái cho dân tộc và đất nước chúng ta.

Thật vậy, nếu chúng ta chỉ tập chú vào những lời chỉ trích lẫn nhau, đánh không đúng mục tiêu, thì cái chế độ đã làm cho dân tộc chúng ta điêu linh gần một thế kỷ nay vẫn sẽ tiếp tục ngất ngưởng trên quyền lực và sử dụng quyền lực phi pháp mà chúng đã cướp lấy của chúng ta để bán đứng đất nước, đẩy đưa dân tộc chúng ta vào một tương lai đen tối và bất định.

Hơn thế nữa, thiết nghĩ tất cả chúng ta cùng ở trong con thuyền Giáo Hội, cùng có trách nhiệm chung với nhau, cùng chia sẻ một lịch sử và cùng gánh chịu những gian lao thử thách nên những thiếu sót, kể cả những phản bội, nếu có, của một số vị chủ chăn và của một số con cái trong Giáo Hội không phải là lý do tất yếu để chúng ta phơi bày mọi sự và tấn công với ngụy biện là muốn canh tân Giáo Hội.

Chúa Thánh Thần là nguồn sống và là sức mạnh canh tân Giáo Hội, nhưng Ngài đâu có phơi bày tội lỗi của từng cá nhân để gây ấn tượng và lôi kéo.

Chúng tôi mời gọi anh chị em hãy dành những phút giây này để hiệp thông trong lòng tin, cậy, mến. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa luôn yêu thương quan phòng hướng dẫn, canh tân Giáo Hội trong dòng lịch sử vượt qua mọi gian nan thử thách. Chúng ta hằng vững lòng cậy trông, vì Chúa Giêsu Đấng sáng lập Giáo Hội luôn là thuyền trưởng chèo lái con thuyền Giáo Hội và Chúa Thánh Thần hằng thánh hóa Giáo Hội. Chúng ta nguyện một lòng yêu mến mẹ Giáo Hội Việt Nam đã sinh và dưỡng dục chúng ta bằng dòng sữa ân thánh, bằng lòng trung trinh son sắt của hàng trăm ngàn các Thánh Tử Đạo tiền nhân anh dũng… Quả thực, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã được khai sinh, trưởng thành và phát triển trong gian lao thử thách và máu đào tử đạo.

Kính thưa quý cha và anh chị em,

Trước mắt, những kẻ hân hoan mừng rỡ là nhà cầm quyền Hà Nội, Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt là kẻ thua cuộc. Chúng đã loại bỏ được ngài ra khỏi thủ đô Hà Nội, đã dùng mọi mưu sâu chước độc để dập tắt phong trào tranh đấu cho công lý và hòa bình, cho tự do tôn giáo và nhân quyền đã được ngài khởi xướng.

Nhưng chúng tôi, và có lẽ cả quý cha và anh chị em nữa, có thể khẳng định một điều mà không hề sợ bị sai lầm rằng Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt sẽ đi vào lịch sử của Giáo Hội và dân tộc Việt Nam như một chứng nhân can trường cho đức tin, cho những giá trị Kitô Giáo tiêu biểu là tự do, nhân quyền và công lý. Chúng ta tin chắc rằng: tinh thần Ngô Quang Kiệt dấn thân cho công lý và hoà bình vẫn như ngọn hải đăng rực chiếu trong tâm hồn mỗi người chúng ta, mời gọi tất cả chúng ta cùng lên đường, mời gọi chúng ta không buông tay lái tay chèo, cùng quyết tâm xua tan bóng tối gian tà.

Ở những nước văn minh, nơi tự do tôn giáo là nhân quyền căn bản của con người, chứ không phải là một thứ ân huệ xin cho thì việc bổ nhiệm và thuyên chuyển các chức sắc là chuyện nội bộ của các tôn giáo, nhà nước không can thiệp. Nhưng ở nước ta, nhà nước cộng sản lại đặt thành vấn đề “chủ quyền quốc gia” đối với việc này, trong khi chính cái nhà nước ấy không dám đặt vấn đề chủ quyền đối với cơ man những đảo lớn, đảo nhỏ và hàng trăm ngàn km vuông lãnh thổ của tổ quốc.

Cái “chiến thắng” này của nhà cầm quyền Hà Nội thực tế chỉ phơi bày cho thế giới thực chất của tình trạng tự do tôn giáo ở Việt Nam. Cách thức hành động “bán khai” đối với tôn giáo của chế độ bất nhân này chỉ làm trò cười cho công luận quốc tế.

Kính thưa quý cha và anh chị em,

Đối đầu với một chế độ dã man và tàn bạo như chế độ Hà Nội hiện nay, một chiến thắng dễ dàng và nhanh chóng cho tự do, công lý, và nhân quyền là điều bất khả thi. Những hy sinh và mất mát là điều có thể hiểu được. Vấn đề là chúng ta cần phải học từ những hy sinh và mất mát này và coi đó là những bài học cần thiết. Trong những bài học đó, bài học có ý nghĩa sâu sắc nhất đối với Giáo Hội và dân tộc Việt Nam là sự đoàn kết, sự hiệp thông đích thật, sự đối thoại nội bộ và tình hiệp nhất thương yêu nhau.

Trong phiên tòa ngày 8/12/2009 tại Hà Nội, nếu chỉ có tám anh chị em Thái Hà ra trước tòa, chứ không phải là hàng hàng lớp lớp anh chị em giáo dân cùng kéo nhau ra trước toà đình thì chắc chắn rằng chế độ dã man này đã đưa ra một bản án rất nặng nề và tàn bạo.

Chúng ta cần phải giữ và nhân rộng ra tinh thần của anh chị em giáo dân Hà Nội: yêu thương, hiệp nhất, đoàn kết với nhau và kiên tâm cầu nguyện.

Chúng ta cũng phải tự sám hối nhìn nhận những thiếu sót, bất toàn của mình. Bao nhiêu những cuộc biểu tình, bao nhiêu những thỉnh nguyện thư gởi chính phủ các nước chúng ta có tham gia đầy đủ? Chúng ta có mạnh dạn nói to hơn nữa cho thế giới thấy bộ mặt thật của chế độ phi nhân này? Biết bao nhiêu chia rẽ trong các tổ chức đạo đời ở trong nước hay ngoài hải ngoại, khiến cho cuộc tranh đấu cho chính nghĩa và công lý bị suy yếu và bị tan hàng rã đám!

Ánh sáng Phục Sinh đã không chiếu tỏa trên những ký lục và biệt phái cao ngạo chỉ biết lên án người khác mà không nhìn thấy những tội lỗi và bất toàn của mình. Nhưng ánh sáng Phục Sinh đã chiếu tỏa trên những người biết đấm ngực ăn năn trên đồi Golgotha năm xưa.

Biến cố đau thương này cần phải vực dậy nơi chúng ta một ý chí canh tân, một lòng yêu mến Giáo Hội thiết tha, một sự hiệp thông và kính trọng lẫn nhau trong mọi thành phần Giáo Hội, một lòng yêu nước mãnh liệt và thiết tha trước vận mệnh của dân tộc nếu chúng ta muốn nhìn thấy đất nước, dân tộc và Giáo Hội chúng ta có một tương lai tươi sáng hơn.

VietCatholic Network

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Mở miệng đã run như cầy sấy

Phạm Trần

Quân đội của một nước có nhiệm vụ cao cả và trách nhiệm nhất là bảo vệ đất nước không bị mất vào tay quân thù, nhất là giặc ngoại xâm. Do đó, những người chỉ huy quân đội này phải một lòng một dạ trung thành với Tổ quốc và chung thủy với nhân dân.

Những nguyên tắc cơ bản này xem ra không thấy gắn bó với một số cấp chỉ huy lãnh đạo rường cột của Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam, nhất là đối với Trung Quốc thì họ lại tỏ ra khiếp nhược và ươn hèn ra mặt.

Tỷ dụ như Phùng Quang Thanh, đại tướng bộ trưởng Quốc Phòng đã thốt ra những lời về Trung Quốc khiến người nghe chói tai.

Thanh nói, “Quan hệ với Trung Quốc hiện nay có thể nói là rất tốt, trên tinh thần đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện, trên tinh thần 16 chữ và 4 tốt. Chúng ta là láng giềng hữu nghị, là đồng chí, anh em. (“láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.”)

Bây giờ gay gắt nhất là vấn đề trên Biển Ðông thôi. Hai bên còn có những tranh chấp, đều cam kết là giữ ổn định, không để vì tranh chấp đó ảnh hưởng đến quan hệ hai nước, làm mất ổn định. Chúng ta phải đàm phán hòa bình theo tinh thần dễ trước, khó sau.

Những cái khó trước đây như biên giới trên bộ, vấn đề Vịnh Bắc Bộ chúng ta cũng đã giải quyết được bằng đàm phán hòa bình mà hai bên cùng có lợi, bây giờ trở thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, phát triển kinh tế rất tốt.

Vấn đề Biển Ðông cũng cần đàm phán hòa bình để từng bước giải quyết, và phải hết sức kiềm chế, không để các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng, kích động để chia rẽ quan hệ hai nước Việt-Trung, không để chia rẽ giữa Ðảng, Nhà nước ta với quần chúng nhân dân. Ðiều đó rất quan trọng.” (Tường thuật của Phương Loan, VietNamNET)

Thanh đã nói với các nhà báo như thế bên lề hội nghị các Bộ Trưởng Quốc Phòng khối Hiệp Hội Các Nước Ðông Nam Á (ASEAN) diễn ra tại Hà Nội ngày 11 tháng 5 (2010).

Nhưng nếu so với những hành động của Trung Quốc như đang thao dượt quân đội để chuẩn bị tấn công chiếm các đảo còn lại của Việt Nam ở Biển Ðông; bắt và đánh đập ngư dân Việt đánh cá trong vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam; ngang ngược tự khoanh vùng biển chiếm đến 80 phần trăm Biển Ðông để gọi đó là “vùng đặc quyền kinh tế” của mình thì làm sao mà Thanh lại coi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa “rất tốt” là “tốt” ở chỗ nào?

Ngoài ra, Thanh còn nhu nhược nói như cúi rạp mình xuống trước quân xâm lược hung hăng khi khuyên hãy cẩn trọng khi đàm phán với Tàu về Biển Ðông như “phải hết sức kiềm chế, không để các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng, kích động để chia rẽ quan hệ hai nước Việt-Trung.”

Nhưng “thế lực thù địch bên ngoài” là thế lực nào hay Thanh đã bịa đặt ra như đảng Cộng Sản Việt Nam đã tự vẽ ra cái gọi là “diễn biến hòa bình” để che đậy sự yếu kém, thiếu tự tin vào sức mạnh của dân tộc mà cúi đầu thủ phục trước nanh vuốt của kẻ thù Phương Bắc chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thôn tín Việt Nam?

Phùng Quang Thanh còn được báo trong nước ghi lời tuyên bố rằng, “Với vai trò chủ tịch trong năm 2010, Việt Nam đề xuất vấn đề an ninh trong khu vực quan trọng nhất là phải giữ được môi trường hòa bình. Với vấn đề tranh chấp chủ quyền ở các khu vực biển, đảo trên biển Ðông cần thực hiện đầy đủ DOC (cam kết giữa Trung Quốc với các nước Ðông Nam Á về Biển Ðông ký năm 2002 tại Nam Vang, Cao Miên), tức là giữ nguyên hiện trạng, không mở rộng tranh chấp lấn chiếm; đàm phán hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế; cam kết không được dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp. Mất ổn định khu vực thì sẽ ảnh hưởng đến cả thế giới vì ở đây có tuyến đường hàng hải mậu dịch đứng thứ nhì thế giới, mỗi ngày có 150-200 tàu bè lớn qua lại.”

Trong thực tế, Bắc Kinh đã không tuân thủ những điều họ đã ký kết. Từ đó đến nay, Hải Quân Trung Quốc đã coi vùng Biển Ðông như cái ao nhà của họ. Họ đã và đang thao dượt quân sự, tập tấn công, xây dựng thêm các bãi tác chiến, bến cảng, sân bay và tuần tra và thăm dò tài nguyên dưới biển. Họ còn ngang nhiên cấm đánh cá trong mùa cá cao điểm nhất từ tháng 6 đến tháng 8 mỗi năm, nhưng lại gia tăng tầu chiến đến vùng biển của Việt Nam để hộ tống hàng ngàn thuyền đánh cá của Tàu hoạt dộng đánh bắt tự do từ Hoàng Sa xuống Trường Sa.

Ngoài Phùng Quang Thanh, người phụ tá của Thanh là Nguyễn Chí Vịnh, trung tướng, thứ trưởng Quốc Phòng cũng huênh hoang vừa nói vừa run với báo chí trong nước bên lề Hội Nghị Các Bộ Trưởng Quốc Phòng ASEAN ngày 11 tháng 5, 2010: “Tình hình ở Biển Ðông ngày càng được chú ý, song giải quyết vấn đề Biển Ðông chỉ có thể bằng giải pháp hòa bình, như một yêu cầu khách quan và không nước nào có lợi nếu sử dụng sức mạnh quân sự ở Biển Ðông... Giải quyết vấn đề Biển Ðông bằng giải pháp hòa bình không phải từ thiện chí mà là từ nhu cầu, yêu cầu khách quan của tất cả các nước. Không một nước nào có lợi khi sử dụng sức mạnh quân sự ở Biển Ðông.” (VietNamNet)

Vấn đề là từ 3 năm trở lại đây, chưa có khi nào Trung Quốc muốn nói chuyện bằng “thiện chí” với Việt Nam. Ngược lại, xuyên qua những bài báo chính thức của đảng Cộng Sản Trung Hoa và qua các cuộc tiếp xúc giữa các viên chức lãnh đạo hai nước thì đằng sau những câu nói ngọt ngào đầu môi chót lưỡi đậm tình đồng chí là những hành động đe dọa công khai.

Tỷ dụ như trong trong buổi làm việc với ông Lê Quang Bình - Ðại biểu Quốc Hội, kiêm Chủ nhiệm Ủy Ban Quốc Phòng của Việt Nam tại lầu Bát Nhất ngày 29 tháng 4, 2010, ông Sun Jian Guo - trung tướng Hải Quân, phó tổng tham mưu trưởng Quân Ðội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc đã cho biết những lập trường cụ thể của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Ðông như thế này: “Vấn đề tranh chấp trên Biển Ðông là vấn đề lớn nhất mà hai nước còn nhiều điều chưa có sự thống nhất và tồn tại mâu thuẫn. Trung Quốc kịch liệt phản đối việc đưa vấn đề này ngày càng trở nên ‘quá nóng,’ phản đối việc đưa vấn đề này thành sự kiện ‘quốc tế hóa,’ đồng thời cũng phản đối việc các nước khác tham gia vào vấn đề này. Theo đó hai nước Việt-Trung nên bình tĩnh, thận trọng và song phương giải quyết vấn đề này, qua đó không làm tổn hại đến mối quan hệ hai nước.” (Theo báo điện tử Chinanews do VIT-Vietnam Information Treasure- dịch đăng lại )

Cũng nên biết từ 2 năm qua, Việt Nam đã tổ chức một số cuộc thảo luận quốc tế và quốc nội ngay tại Hà Nội và Sài Gòn để bàn về vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa. Một số nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã đến Hoa Kỳ tham gia vào ít cuộc hội thảo ở Nữu Ước và Philadelphia (Pennsylvania) về Biển Ðông và chính sách của Trung Hoa tại vùng biển quan trọng này.

Ngoài ra Việt Nam cũng muốn Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á cùng với Việt Nam lập thành một khối đoàn kết và thống nhất để nói chuyện với Trung Hoa về cuộc xung đột chủ quyền ở Biển Ðông. Nhưng Trung Hoa quyết liệt chống lại các kế hoạch của Việt Nam.

Lập trường của Bắc Kinh là chỉ muốn nói chuyện “tay đôi” với Việt Nam và chống lại bất cứ một nỗ lực nào muốn “quốc tế hóa” chuyện Biển Ðông.

Cũng oái oăm cho Việt Nam là một số nước trong khối ASEAN không mặn mà với đề nghị của Việt Nam vì họ có những quyền lợi riêng với Trung Quốc nên Việt Nam tiếp tục trong tình trạng cô đơn trong cố gắng đàm phán với Bắc Kinh để lấy lại quần đảo Hoàng Sa đã bị Tàu đánh chiếm từ tay Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa tháng 1, 1974, cũng như phía CSVN đã mất 8 hòn đảo trong số trên 100 hòn đảo của quần đảo Trường Sa sau trận hải chiến với quân Trung Hoa năm 1988.

Ngoài ra, theo chuyên gia về Trung Hoa, ông Dương Danh Y ở trong nước thì hai trang báo điện tử của tờ Nhân Dân và Hoàn Cầu thời báo Trung Quốc ngày 29 tháng 4, 2010 đã viết bài công khai đe dọa xâm lăng các đảo còn lại của VN trên Biển Ðông.

Xin trích một đoạn trong bài của Ông Dương Danh Y đăng trên báo điện tử Bauxite Việt Nam của các nhà trí thức trong nước: “Hiện nay tình hình Biển Ðông ngày càng phức tạp nghiêm trọng. Về kinh tế một số quốc gia không ngừng tăng nhanh tiến hành khai thác kiểu ăn cướp tài nguyên Biển Ðông của chúng ta (Trung Quốc); về quân sự hải quân một số quốc gia xung quanh Biển Ðông không ngừng mua sắm hạm tàu và máy bay tác chiến có tính năng tiên tiến; về chính trị, có quốc gia có ý đồ đẩy tranh chấp Biển Ðông thành quốc tế hóa và liên minh hóa.

Ngoài ra nước Mỹ dưới sự giúp đỡ của các nước đồng minh như Singapore và Philippine đã tăng cường sự tồn tại quân sự tại Biển Ðông, đồng thời có kế hoạch trở lại vịnh Cam Ranh, nhằm tiến tới sát đường giáp ranh cận hải của ta. Vì thế vấn đề tranh chấp chủ quyền của các đảo và lãnh hải của Trung Quốc kéo dài đã lâu không giải quyết đang trở thành sự thách thức song trùng đối với an ninh kinh tế và an ninh quốc phòng nước ta. Giải quyết hoàn cảnh khó khăn của Biển Ðông phải có suy nghĩ mới và biện pháp mới, càng cần phải quán triệt vào hành động cụ thể.

Một là chế định chiến lược khai thác tài nguyên Biển Ðông, khuyến khích doanh nghiệp Trung Quốc tiến hành lợi dụng và khai thác tài nguyên dầu khí và tài nguyên nghề cá tại Biển Ðông. Phải từ độ cao chiến lược an ninh kinh tế và phát triển lâu dài của quốc gia để nhìn nhận tỉ mỉ vai trò quan trọng của tài nguyên Biển Ðông đối với việc xây dựng kinh tế nước ta, qui hoạch thống nhất chiến lược phát triển, mục tiêu phát triển và các bước đi phát triển đối với tài nguyên dầu khí và tài nguyên nghề cá Biển Ðông, chế định cương yếu thực thi tỉ mỉ, thiết thực, cung cấp sự ủng hộ vững chắc về tài chính và thu thuế cho các doanh nghiệp tham gia khai thác tài nguyên Biển Ðông. Ðồng thời quốc gia phải vì các xí nghiệp tham gia khai thác tài nguyên Biển Ðông hình thành cơ chế liên động đối với các cơ cấu chức năng như an ninh môi trường sản xuất, biên phòng, hải tặc, ngư chính, quân đội, v.v... có thể xử trí kịp thời có hiệu quả các loại sự kiện xung đột, bảo vệ nhân viên, thiết bị và tài sản tham gia khai thác tài nguyên Biển Ðông không bị xâm hại phi pháp.”

Khi nói đến các biện pháp quân sự nếu cần, hai báo này viết: “Tăng cường sự tồn tại quân sự tại các đảo, bãi ở Biển Ðông, để chuẩn bị tốt đấu tranh quân sự cho việc giải quyết về căn bản, cảnh khó ở Biển Ðông. Biển Ðông vừa là con đường vận chuyển quan trọng năng lượng và mậu dịch trên biển của nước ta, vừa là chiếc cửa để hải quân nước ta đi ra Ấn Ðộ dương, liên quan tới lợi ích hạt nhân của nước ta, vì thế việc thu hồi các đảo bãi và lãnh hải bị các nước khác xâm chiếm không thể không có thời gian biểu.”

Như thế thì còn gì rõ hơn về âm mưu nham hiểm của người phương Bắc đối với chủ quyền lãnh thổ và tài nguyên của Việt Nam?

Thế mà cả Phùng Quang Thanh và Nguyễn Chí Vịnh vẫn chưa hiểu hay cố tình chưa biết để đưa ra những lời nói theo phong cách quỳ gối, cúi đầu, bái phục trước gót giầy của các quan Thái Thú bá quyền Trung Quốc?

Vì vậy mới hay làm người lãnh đạo mà biết nhịn nhục để phục thù thì khó mà làm tôi tớ thì dễ quá.

Phạm Trần
(Tháng 5, 2010)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

ĐẠO ĐỂ LÀM GÌ ?
Lm Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh
Chuyện lạ đời chưa từng xảy ra Hình như cho đến nay, chưa hề có một cuộc lễ nào của Công Giáo, mà Ban Tổ Chức phải ra thông cáo thận trọng dặn dò các tín hữu đi tham dự thánh lễ : “đừng mang theo những gì không cần thiết”, như trường hợp lễ nhậm chức Phó Tổng Giám Mục Hà Nội của Đức Cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn ngày 07-05-2010 vừa qua. Nay thì Ban Tổ Chức có thể thở phào nhẹ nhõm, vì đã không có gì đáng tiếc xảy ra. Ta hãy thử xem có thể học được gì từ buổi lễ khác thường này.

Chiên chứ không phải cừu Sở dĩ đã không có gì đáng tiếc xảy ra vì giáo dân Việt Nam vốn có tinh thần kỷ luật rất cao. Ngay cả lúc xảy ra những vụ dầu sôi lửa bỏng như Thái Hà hay Tam Toà, họ vẫn biết tự chế. Nhưng cái mới, cái lạ là ngày nay giáo dân, tuy là những con chiên, nhưng không còn chấp nhận là những con cừu, ai nói gì cũng nghe, ai bảo sao cũng được. Cứ đọc bao nhiêu bài viết trên mạng trong thời gian vừa qua thì thấy rõ. Những khi cần, và có dịp để bày tỏ ý kiến, giáo dân không còn sợ nữa. Và họ có dư thừa sáng kiến để bày tỏ nguyện vọng của mình, tình cảm của mình. Lễ nhậm chức Giám mục Phát Diệm của Đức Cha Nguyễn Năng đã là một ví dụ. Nay đến lễ nhậm chức Phó Tổng Giám Mục Hà Nội của Đức Cha Nhơn. Trước mặt tiền nhà thờ chính toà Hà Nội, ta thấy một biểu ngữ nền đỏ chữ vàng Hân hoan chào mừng Đức Tân TGM Phó Phêrô. Biểu ngữ này chắc chắn là của Ban Tổ Chức. Nhưng tội nghiệp cho cái biểu ngữ đó : nó mới lẻ loi làm sao, đơn độc làm sao, giữa một rừng biểu ngữ nền vàng chữ đỏ :

– Tôn vinh Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt
– Chúng con yêu mến Đức Tổng Giu-se
– Chúng con đồng hành với Đức Tổng Giu-se
– Đức Tổng Ngô Quang Kiệt mới là người chủ chăn đích thực
– Đức Cha Giu-se Ngô Quang Kiệt mãi mãi là Tổng Giám Mục của chúng con
– Tinh thần Ngô Quang Kiệt bất diệt, v.v…


Được biết là trước lễ nhậm chức này, đã có một thỉnh nguyện thư với trên 15 000 chữ ký (nếu có thời gian và điều kiện để gom chữ ký, chắc con số này sẽ tăng lên rất nhiều lần). Nội dung thư này là xin Đức Giáo Hoàng đừng chấp nhận đơn xin từ chức của Đức Cha Ngô Quang Kiệt, nhưng tiếp tục giữ ngài lại trong chức vụ Tổng Giám Mục Hà Nội. Nghe đâu có vị quan chức người Việt bên Vatican nghe biết sự việc, đã vội bắn tiếng : làm như thế là chống đối Toà Thánh ! Đúng là trò nhát con nít, vì bày tỏ nguyện vọng và chống đối là hai việc khác nhau. Và những con người nặng óc giáo sĩ trị, thì chỉ muốn giáo dân mãi mãi là những trẻ vị thành niên, và rất sợ những tín hữu trưởng thành. Nhưng điều đáng ngạc nhiên, mà lại rất đáng mừng, là hôm nay giáo dân, rõ ràng nhất là tại Hà Nội, không chỉ biết vâng lời, nghĩa là tuân lệnh, nhưng còn biết đối thoại, biết bày tỏ ý kiến của mình, biết đề đạt nguyện vọng của mình.


Trên bậc thang quyền bính, thì giám mục, đến linh mục, rồi mới đến giáo dân. Nhưng những gì ta chứng kiến trong cuộc lễ hôm nay cho ta hiểu tại sao Đức Cha Lê Đắc Trọng, về cuối đời, lại nhận định : giáo dân hơn linh mục, linh mục hơn giám mục. Giá mà nhận định này cũng là nhận định nếu không phải của mọi giám mục, thì cũng là một số nhiều nhiều, và nhận định đó được đưa ra sơm sớm trước khi gần nhắm mắt, thì phúc cho Giáo Hội biết chừng nào !
Dấu ấn Ngô Quang Kiệt Câu hỏi đặt ra là do đâu mà Đức Tổng Kiệt lại được giáo dân ngưỡng mộ, kính yêu đến như vậy. Ngài không thuộc hàng khoa bảng, bằng cấp cùng mình, không phải là người có tài hùng biện để thu hút, mê hoặc người nghe. Năm năm làm Tổng Giám Mục Hà Nội là thời gian quá ngắn để đáng được lưu danh bằng cách đặt tên mình cho một công trình kiến trúc như hội trường tại một Trung Tâm Mục Vụ. Thế nhưng cứ nhìn rừng biểu ngữ được giương cao, nhìn những tấm hình của ngài được các tín hữu ôm trước ngực một cách vừa kính cẩn, vừa trìu mến, ta có thể hiểu được dấu ấn Đức Tổng Kiệt để lại trong óc, trong tim người giáo dân Hà Nội sâu đậm đến mức nào. Có lẽ tấm biểu ngữ “Tinh thần Ngô Quang Kiệt bất diệt” đã gói ghém mọi lý do của lòng cảm phục sâu sắc và yêu mến thiết tha mà giáo dân Hà Nội dành cho ngài. Tinh thần Đức Tổng Kiệt được thể hiện qua cách ngài làm mục vụ : không quản ngại đến chia sẻ với người dân khi họ gặp khó khăn thử thách, chẳng hạn lúc xảy ra thiên tai, đến thăm viếng ủi an khi họ bị đập đánh, bị thương tật, mạnh dạn tuyên bố sẵn sàng thay thế cho ai vì nghe lời ngài kêu gọi cầu nguyện mà phải đi tù.

Liều chết vì đoàn chiên Nhưng có lẽ quan trọng nhất là Đức Tổng Kiệt đã dám đứng về phía người nghèo, người bị lường gạt, bị bóc lột, bị áp bức, để dõng dạc tuyên bố trước bạo quyền : Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải là ân huệ xin-cho. Tìm ra được một gương mặt quả cảm trong hàng ngũ lãnh đạo hôm nay là chuyện quá hiếm. Ngài không ngoảnh mặt lên trời mà nói sảng, không dừng lại nơi những lý thuyết cao xa, những nguyên tắc trừu tượng. Khi mục tử bất chấp hiểm nguy cho tính mạng, can đảm đứng ra bênh vực đoàn chiên, thì lòng kính trọng và ưu ái được dành cho ngài chẳng có gì khó hiểu. Mục tử không phải là kẻ chăn thuê, chính Đức Giê-su đã từng cảnh báo (Ga 10,12). Đức Tổng Kiệt đã thể hiện lời giáo huấn của Chúa Giê-su : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Nay ngài ra đi, nhưng tinh thần của ngài sẽ tồn tại mãi.

Lời người ra đi Trong buổi lễ nhậm chức, Đức Tổng Kiệt là người giới thiệu Tân Tổng Giám Mục Phó. Nghe giọng nói đĩnh đạc, đanh thép của Đức Tổng Kiệt, ta không thể nghĩ đó là giọng nói của một người mệt mỏi vì mất ngủ triền miên. Lời giới thiệu của ngài ngắn gọn, nhưng đầy đủ những điều cần nói, và nói rất hay. Một áng văn tuyệt vời ! Quá nhiều thiệt thòi và quá nhiều đau khổ, đó là nhận định của ngài về Tổng Giáo Phận Hà Nội. Tuy là gốc Bắc, nhưng ngài sinh trưởng ở miền Nam . Ra làm giám mục Lạng Sơn, rồi về Hà Nội, ngài có điều kiện để so sánh xã hội và nhất là Giáo Hội ở hai miền Nam Bắc. Nếu hỏi : Quá nhiều thiệt thòi, quá nhiều đau khổ do đâu, thì câu trả lời là quá rõ : là vì miền Bắc hơn miền Nam 30 năm xã hội chủ nghĩa (từ 1945 đến 1975). Đứa con trong gia đình chịu thua thiệt thì cha mẹ phải thương hơn, phải quan tâm chăm sóc hơn. Như thế nào ? Thì đây câu trả lời : “Từ nay ngài (Đức Tân Tổng Giám Mục Phó) không chỉ đồng cảm hay đồng hành với anh chị em nhưng sẽ đồng sinh đồng tử với anh chị em, với giáo phận. Đây không phải là một kiểu nói bóng bảy của một người làm văn, mà là xác tín sâu xa, hơn thế nữa là kinh nghiệm xương máu của người mục tử sắp phải chia tay với đoàn chiên, và cũng là một lời cầu chúc, một lời nhắn gửi, nếu không nói là một lời trối trăng cho người đến thay thế.

“Chàng rể” mới Chiếc nhẫn của giám mục biểu trưng sự gắn bó keo sơn của giám mục với giáo phận của mình, cũng như chiếc nhẫn cưới của cô dâu hay chàng rể. Trong Thánh lễ nhậm chức ngày 7 tháng 5, trông dáng dấp “chàng rể” 72 tuổi, bước chân nặng nề, vẻ mặt căng thẳng, mắt nhìn xuống đất, ta không thấy được vẻ tự tin của người chủ đi về nhà mình. Đọc bài chia sẻ của ngài, ta có cảm tưởng ngài đang đi dây : cố gắng thế nào cho khỏi ngã, khỏi té : một bài chia sẻ Lời Chúa mang tính kinh điển có thể áp dụng cho bất cứ dịp lễ nào. Trong hoàn cảnh khó khăn tế nhị hôm nay, ta không thể đòi hỏi ngài nhiều hơn nữa. Trước cũng như sau Thánh Lễ, nhìn ngài bước đi lầm lũi, trông thật cô đơn. Giá mà kỳ đại hội các giám mục tại Xuân Lộc tháng 10 năm 2008 mà các thành viên trong Hội Đồng, đứng đầu là Đức Cha Chủ Tịch, nghĩ đến giám mục cô đơn Ngô Quang Kiệt, thì ngày hôm nay, Đức Tân Phó Tổng Giám Mục Hà Nội đã không phải cô đơn như thế. Nhưng dù sao thì sự cũng đã rồi !

Người chịu lắng nghe để rút kinh nghiệm Bài diễn văn thứ ba của buổi lễ là của Đức Cha Nguyễn Chí Linh, giám mục giáo phận Thanh Hoá, Phó Chủ Tịch HĐGM/VN. Bài của Đức Cha Linh vừa tạo được sự ngạc nhiên và thích thú, vừa khơi lên niềm hy vọng giữa lúc bao người đang hồi hộp lo âu, băn khoăn tự hỏi : mai này, khi HĐGM/VN và ngay cả Toà Thánh Vatican đã mất nhiều uy tín, trong tình trạng yếu kém vì chia rẽ, lãnh đạo chịu khuất phục kẻ thù, liệu Giáo Hội sẽ đi về đâu ? Bài của Đức Cha Linh không có vẻ gì là lên tiếng cũng như không lên tiếng. Ngài không né tránh, nhưng dám nhìn thẳng vào vấn đề. Đức Cha đã quan tâm theo dõi thời cuộc, không coi thường truyền thông, biết lắng nghe cả những tiếng nói ngược chiều, không vội vàng kết án, nhưng nhìn nhận vai trò tích cực và thiện chí xây dựng ngay cả những người dám phê bình chỉ trích. Ngài nói : “Điểm tích cực đầu tiên là mọi thành phần Dân Chúa đã có cơ hội nói lên nguyện vọng của mình một cách chân thành, đồng thời cũng có kinh nghiệm sâu sắc hơn về vai trò và sứ mệnh của các phương tiện truyền thông thời hiện đại. Kỷ niệm 50 năm thành lập, Hàng Giáo phẩm Việt Nam bước vào một giai đoạn mới qua đó, các bậc chủ chăn được lắng nghe tiếng nói cộng đồng Dân Chúa cách phong phú và cụ thể hơn, đồng thời cũng học được bài học biện phân cách bình tĩnh hơn đối với những thông tin mỗi lúc một đa dạng, đa chiều và phức tạp hơn. Điểm tích cực thứ hai là dù khác biệt, thậm chí có khi là đối lập, nhưng tất cả mọi quan điểm đều có một mẫu số chung là lòng yêu mến Giáo Hội. Suy nghĩ và cách biểu hiện khác nhau, nhưng lòng yêu mến vẫn là một. Trong bối cảnh và tinh thần Năm Thánh 2010, chúng ta hãy xem đây là cơ hội sống tình hiệp thông cách đặc biệt hơn : chúng ta cần phải can đảm hơn khi đối diện với các dị biệt, chúng ta cần phải mổ xẻ chuyện Giáo Hội cách rốt ráo hơn, công khai hơn, nhưng đồng thời trải nghiệm được cái giá phải trả để bảo vệ tình huynh đệ trong đại gia đình Giáo Hội.” Bản thân tôi, và chắc nhiều người khác cũng vậy, nghe bài diễn văn này xong, cảm thấy phấn khởi.

Nhưng rồi tôi lại tự hỏi : liệu Đức Cha Phó Chủ Tịch HĐGM/VN có phản ánh quan điểm của HĐGM/VN vào thời điểm này sau khi đã rút tỉa kinh nghiệm từ nhiều bài học đắt giá, hay đây chỉ là quan điểm của cá nhân ngài ? Liệu suy nghĩ này sẽ tồn tại được bao lâu, có sẽ được thể hiện qua những việc làm cụ thể, hay rồi khi cuộc lễ đã tàn thì đâu lại vào đó ? Tâm trạng hoài nghi của tôi chẳng phải không có cơ sở, vì cách đây đúng một năm Đức Cha Nguyễn Văn Khảm đã có một bài viết mang tựa đề “Quan điểm Công Giáo về trách nhiệm của Giáo Hội trước các vấn đề xã hội” trong đó có những lời khẳng định rất mạnh mẽ, tỷ dụ như : “Các vấn đề chính trị và xã hội liên quan đến khía cạnh đạo đức là trách nhiệm đặc thù của Giáo Hội, chẳng hạn chiến tranh, tham nhũng, phá thai, gian dối…”. Thế nhưng một năm đã trôi qua, bài viết của Đức Cha Khảm chỉ nằm trên giấy.


Trở lại với bài diễn văn của Đức Cha Phó Chủ Tịch HĐGM/VN, ta chỉ có thể cầu mong cho thiện ý của ngài, cách nhìn, cách đánh giá tích cực của ngài thực sự phản ánh một thay đổi, tuy muộn màng, của hàng giáo phẩm Việt Nam đối với truyền thông, đối với công luận, để nhìn nhận vox populi, vox Dei, ý dân là ý Trời. Chỉ có vậy mới có thể mong rằng từ cuộc khủng hoảng trầm trọng hiện nay, Giáo Hội Việt Nam có thể vươn mình đứng dậy, khởi đầu bằng việc sám hối.

Tin giờ chót Tôi viết bài này khi Đức Tổng Kiệt đang trong máy bay rời khỏi Việt Nam . Là chứng nhân của Chúa Ki-tô, chứng nhân của sự thật, của công lý, cây tùng cây bách Ngô Quang Kiệt không chỉ bị đốn ngã, bị trốc gốc, mà còn phải bứng đi cho khỏi nước Việt Nam, cho khuất mắt nhà cầm quyền Hà Nội. Cây phải đốn vì cây bị bệnh, nhưng đó chỉ là cái cớ. Điều đáng nói là cây bị đốn cách hợp pháp, với phép lành của Toà Thánh Vatican, và ít nhất là với sự đồng tình của HĐGM/VN. Nhà cầm quyền Việt Nam có thể an lòng : từ nay sẽ không có giám mục nào đứng ra kêu gọi cầu nguyện như Đức Tổng Kiệt nữa. Và có xảy ra điều gì thì cũng sẽ là chuyện địa phương thôi. Nguyên tắc đã có sẵn rồi.

Kết luận Những diễn biến vừa qua cho thấy rằng : Chuyện bắt đạo kiểu xưa đã qua rồi. Đức Tổng Kiệt rời Hà Nội để một vị khác đến, không đơn thuần chỉ là chuyện thay đổi nhân sự. Nay thì không ai “bắt đạo” đâu. Nhưng đạo muốn tồn tại thì phải “biết điều” ! Sẽ có những cuộc lễ linh đình trọng thể, với đầy đủ trống phách, với các tư tế mũ cao áo rộng, sẽ có những cơ sở hoành tráng nếu có tiền (nghe đâu Trung Tâm Hành Hương La Vang dự kiến tốn đến 25 triệu Mỹ Kim trên miền đất “chó ăn đá gà ăn sỏi”). Miễn là đạo đừng ra khỏi nhà thờ, đừng đụng chạm gì đến chế độ độc tài, bất nhân, mặc cho xã hội hoàn toàn băng hoại, dân nghèo bị nghiền nát, trong khi một nhóm tư bản đỏ tự do tung hoành, mặc cho dân tộc ngày càng chui đầu vào vòng nô lệ giặc Tàu, nợ nần quốc gia cứ cao như núi, vì người đi vay biết chắc : người trả sẽ không phải là mình… Trong một xã hội như thế mà người có đạo chỉ vòng tay ngậm miệng đứng nhìn, thì câu hỏi đặt ra là : đạo để làm gì ?

Sài-gòn, ngày 13 tháng 05 năm 2010
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm
pascaltinh@gmail. com

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Lời khoe khoang & thú nhận của tướng công an Vũ Hải Triều

Image
Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh Bộ công an
Trung tướng Vũ Hải Triều
khoe đã phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân
Hà Nội, ngày 10.5.2010

Thân gửi các anh chị,

Lâu lắm không có thư gửi các anh chị : tôi bị "chiếu tướng" chặt chẽ ; thư từ email có vẻ được người ta đọc trộm khá kỹ. Thư này không dám gửi thẳng, mà viết vào USB rồi nhờ người bạn đi Sing chuyển cho các anh chị.

Thời buổi internet, truyền tin theo vận tốc ánh sáng, mà bây giờ phải qua những trạm trung chuyển, quả thật là mỉa mai. Hôm nọ, mấy anh em bạn bè họp mặt ở Sài Gòn, nhắc lại cuối thập niên 1950, thư từ trao đổi giữa Hà Nội và Sài Gòn phải gửi qua người quen ở Paris. 50 năm, để rồi vẫn thế a ?

Thư này chủ yếu cũng nói về internet. Các anh chị biết, cách đây mấy ngày có một Hội nghị báo chí toàn quốc rất hoành tráng (xem VnExpress chẳng hạn). Hàng trăm nhà báo, tổng biên tập, phó tổng biên tập, đại diện cho "178 báo và 528 tạp chí, 67 đài phát thanh - truyền hình, 21 báo điện tử, 160 trang điện tử của các cơ quan báo in và hàng ngàn trang tin điện tử, trên 17.000 nhà báo được cấp thẻ" để nghe các ông Trương Tấn Sang, Tô Huy Rứa, Nguyễn Bắc Son, Đồ Quý Doãn... giảng đạo, mẳng mỏ, huýt còi cảnh cáo mấy tờ "đi lấn sang lề trái". Tổng biên tập một tờ báo mạng lớn đã phải khấu đầu tự phê, phản tỉnh, không hiểu là thành khẩn như Câu Tiễn hay hơn.


Lời rao giảng của các vị quan chức kể trên, các tờ báo lề phải đã trích dẫn theo đúng version của Thông tấn xã Việt Nam rồi. Lời phát biểu mà các báo này không nói tới, và đang được các nhà báo truyền miệng từ bắc chí nam là bài nói của một trung tướng công an, ông Vũ Hải Triều, tục gọi là "Triều tóc bạc", Tổng cục phó Tổng cục an ninh.


Trung tướng Triều tóc bạc đã tự hào khoe thành tích : trong mấy tháng qua, bộ phận kĩ thuật của "ta" đã "phá sập 300 báo mạng và blog cá nhân xấu". Như vậy là các anh Huệ Chi, Phạm Toàn, Huy Đức khỏi thắc mắc, mất công đi tìm bọn "du côn mạng" nào đã cướp hộp thư điện tử (Huệ Chi, Huy Đức) và phá sập các mạng Bauxite, blog Osin, Dòng Chúa Cứu Thế, X-cafe, Dân Luận, Talawas... cũng chẳng phải chứng minh rằng các cuộc đánh phá đều xuất phát từ những "thuê bao" của Viettel (công ti viễn thông của Quân đội) nữa nhé.

Lời khoe khoang thành tích của ông Triều thực ra cũng là một lời thú nhận chua cay : thay đổi một loạt tổng biên tập, huýt còi cấm báo chí nhà nước ra khỏi "lề phải", không đủ, bắt một loạt nhà báo mạng tự do, không đủ, dựng tường lửa để ngăn chận người trong nước truy nạp những nguồn tin "trái tai" Ban tuyên giáo và Bộ 4T không đủ, bây giờ người ra phải dùng đến phương pháp "cướp ngày" trên mạng. Có điều ông Triều quên rằng ông đã thú nhận mình vi phạm pháp luật quốc tế trước mấy trăm chứng nhân. Henry Kissinger và mấy tên tướng Argentina có thời không dám đi máy bay qua mấy nước có lệnh truy nã họ vì những vụ tàn sát ở Chile và Argentina. Bao giờ WTO và Interpol mới có lệnh truy nã "Trieu Vu Hai" ?

Trong khi chờ đợi, báo chí Nhà nước được nhắc nhở nghiêm nghị : Trung Quốc là đối tác 16 chữ vàng, báo nào đụng tới mối tình hữu nghị và sự hợp tác toàn diện, lâu dài, sẽ bị trừng trị khắt khe.


Biển Đông dậy sóng, kinh tế bên bờ vực thẳm, Nhà nước và các đại gia (từ các tập đoàn Vinashin đến các đại gia tư nhân như Hoàng Anh Gia Lai) đều nợ như chúa chổm... không sao cả, tất cả đều thứ yếu. Quan trọng là ai sẽ lên làm tổng bí thư, tổng bí thư kiêm chủ tịch nước, hay tổng bí thư kiêm thủ tướng (anh Ba Dũng sáng tạo mà) trong Đại hội tới ?

N. S. P.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO
Tôn sư trọng đạo! truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam. Truyền thống mà ông cha ta đã dạy từ bao đời nay. ... lưu truyền hàng nghìn năm qua . Tinh thần đó luôn luôn có trong xã hội Việt Nam.

Dân Việt Nam có tính hiếu học và rất biết ơn người có công dạy dỗ mình. Dù chỉ học một chữ hay nữa chữ cũng mang ơn người dạy. "Nhứt tự vi sư, bán tự vi sư" người xưa thường nói. Mang ơn thầy là bổn phận của người học bởi "không thầy đố mầy làm nên". Nhưng bổn phận này không phải chỉ là sản phẩm của lý trí thuần túy mà còn xuất phát từ một tấm lòng, một tình cảm thật sâu xa bền bĩ: sự thương mến kính trọng thầy. Bởi người làm thầy phải là người biết thương mến, lo lắng cho học trò mình, biết cách dạy dỗ, hướng dẫn cho học trò mình phát triển, tiến bộ, trỡ nên người tốt ở trên đời. Thầy có sứ mạng cao cả của thầy, phải ý thức được sứ mạng cao cả đó, để làm hết phận sự của thầy, làm cho thế hệ trẻ nên người. Có vậy học trò và người đời mới thương mến kính trọng thầy. Tinh thần tôn sư nói lên lòng tôn kính người thầy. Tinh thần đó luôn luôn có trong xã hội Việt Nam. Nó bao gồm sự kính trọng, lòng biết ơn và lòng thương mến của người học trò đối với thầy. Tinh thần đó bây giờ vẫn tồn tại ở nhiều người, nhưng không sâu đậm bằng ở các người xưa. Càng đi ngược về xưa chừng nào thì tinh thần đó càng sâu xa đậm đà chừng nấy. Trọng đạo là đánh giá thật cao đạo lý của thánh hiền xem như mẫu mực để người đời noi theo. Đạo lý đây là luân lý đạo đức và thánh hiền không ai khác hơn là Không Tử mà người Á Đông thường tôn sùng như bậc thánh nhân. Khổng Tử cũng là người đầu tiên làm nghề dạy học. Ngài cũng là vị thầy cao cả nhất trong xã hội Á Đông. Người đi dạy cũng như người đi học từ xưa luôn luôn xem Ngài là bậc "vạn thế sư biểu" tức là ông thầy tiêu biểu của muôn đời.

Khổng Tử ra đời năm 551 trước Tây lịch. Ngài là người nước Lỗ nay thuộc vùng Sơn Đông ở phía Bắc nước Trung Hoa. Lúc mới lên ba tuổi, Khổng Tử phải chịu cảnh mồ côi cha. Đến 19 tuổi, Không Tử lập gia đình và bắt đầu đi làm việc với chức vụ khiêm nhường là "ủy lại", là chức coi việc thóc lúa trong kho. Sau đó được đổi sang việc coi nuôi bò trong việc tế lễ. Thiên tư dạy học của Ngài bắt đầu xuất hiện khi Ngài nhận dạy riêng cho con trai của Lỗ Hầu. Lúc này Ngài mới 22 tuổi. Khổng Tử rất thích nghiên cứu học hỏi về những gì liên quan đến lễ nghi, văn hóa, lịch sử nước Tàu. Khoảng 29 tuổi Khổng Tử nhờ con của Lỗ Hầu giúp cho phương tiện để đi đến Lạc Ấp (kinh sư nhà Chu) để học hỏi. Ở đây có nhà Minh đường do triều đình thiết lập để chứa các luật lệ, thu tập những bảo vật cùng những di tích của các bậc thánh hiền đời trước (xem như văn khố và viện bảo tàng hồi đó). Ở đây Khổng Tử có cơ hội khảo cứu tường tận các nghi thức tế lễ, các thể chế nơi miếu đường và các nơi giao tế.

Sau đó Khổng Tử trỡ về nước Lỗ chánh thức đi vào cuộc đời dạy học. Chỉ trong thời gian ngắn tiếng tăm của Ngài được đồn đãi khắp nơi. Học trò theo học càng ngày càng đông. Năm 517 trước Tây Lịch, lúc này Ngài đã được 35 tuổi, nước Lỗ trãi qua một cuộc loạn ly, Không Tử phải tản cư qua nước Tề, sống ở đây một thời gian hơn năm năm. Mãi đến năm 511 trước Tây Lịch Ngài mới trỡ về nước Lỗ san định sách vở, và tiếp tục dạy học. Học trò của Ngài đến từ nhiều nơi trên khắp cả nước Tàu. Một hôm, theo lời mời của vua nước Lỗ, Ngài xuất chính, giử chức Trung Đô Tể, tức kinh thành Phủ Doản (như Đô trưởng). Ít lâu sau thăng lên chức Đại Tư Khấu (như tổng trưởng tư pháp) và sau cùng Nhiếp Chính Sự (như Thủ Tướng chính phủ). Ngài không mấy thành công trên chính trường vì chính sách cai trị của Ngài quá thiên về đạo đức (vương đạo). Lối cai trị đạo đức của Ngài chỉ có lợi cho dân mà không có lợi (vật chất) cho kẻ cầm quyền, nó không thỏa mãn được lòng tham lam, ham muốn bá quyền của các vua chúa. Ngài chỉ làm quan thời gian ngắn, rồi cùng các đệ tử đi chu du thiên hạ suốt mười mấy năm trời nhưng không tìm được nơi để thi hành vương đạo của Ngài nữa. Ngài trỡ về nước Lỗ lúc 68 tuổi, sống những ngày còn lại nơi quê nhà. Ngài mất năm 474 trước Tây Lịch, thọ 73 tuổi.

Ngài mất đi khiến học trò vô cùng thương tiếc. Ai cũng để tang 3 năm. Hơn 100 đệ tử làm nhà ở gần mộ Khổng Tử để ở đó cho đến ngày mãn tang. Riêng Tử Cống thì đã ở đây hơn 6 năm. Thuật lại cuộc đời Khổng Tử, Tư Mã Thiên viết: "Tôi đọc sách họ Không, tưởng tượng như trông thấy cách làm người của Thầy. Sang nước Lỗ xem nhà thờ Không Tử với nào xe, nào áo, nào đồ thờ , nào các học trò thời thường đến đó tập lễ, tôi bồi hồi ở lại không về được. Nhiều vua chúa và những người tài giỏi khi sống rất vẻ vang nhưng khi chết rồi là hết , chẳng còn gì để lại cho đời sau. Thầy Không Tử thì áo vải đạm bạc vậy mà khi mất đi rồi lời dạy của thầy truyền hơn 10 đời mà học giả vẫn còn tôn trọng. Từ thiên tử đến vương thần ở nơi xứ Trung Quốc này, hể nói đến Sấm kinh đều phải lấy thầy làm đích. Thật đáng là bậc chí thánh vậy."

Khổng Tử là một nhà giáo dục chân chính, một bậc thầy vĩ đại không phải chỉ riêng của Trung Hoa mà còn của cả thế giới loài người. Nhờ Khổng Tử địa vị của ông thầy được người đời xưa nâng cao, hơn cả địa vị của ông cha, chỉ đứng sau địa vị của ông vua. Câu "Quân, Sư, Phụ" cho biết sau ông vua là đến ông thầy rồi sau ông thấy mới đến ông cha. Người làm cha cũng có công dưỡng dục, dạy dỗ con cái, nhưng trong xã hội người dạy con mình nhiều nhất, người có công vun xới vườn kiến thúc và đạo đức của con mình, chính là ông thầy của nó. Làm cho một người non dại trỡ thành một người trưởng thành có kiến thức, có đạo đức, có khả năng, có đời sống xứng đáng với ý nghĩa cao đẹp của con người, đó là công lao to lớn của ông thầy, của người biết mang trong người cái trọng trách "hối nhân bất quyện" (dạy người không biết mệt). Khổng Tử là người ý thức rõ cái sứ mạng, cái thiên chức cao quý đó của một lương sư. Hậu thế tôn sùng Ngài như bậc thầy của muôn đời, bậc "Vạn Thế Sư Biểu" bởi chủ trương, đường lối, mục tiêu, phương pháp giáo dục của Ngài chứa đựng nhiều giá trị mà người đời sau phải công nhận, đề cao và học hỏi.

Quan trọng nhất là "đạo"(tức con đường hay hướng đi) của Ngài. Ở đây ta cứ hiểu là đạo Nho hay đạo Khổng, bao gồm những tư tưởng hay triết lý căn bản mà Đức Khổng Tử đã tổng hợp và phát huy để dẫn dắt con người đi đến nơi toàn thiện (bằng cách tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ). Đạo của Ngài là đạo của người quân tử, đạo của bậc đại nhân (đại học chi đạo), lấy chữ nhân làm đầu, xem con người và xã hội là cứu cánh. Từ mấy trăm năm trước Tây Lịch cho đến những ngày gần đây đạo của Ngài vẫn được mạnh mẽ lưu truyền trong các xã hội Á Đông. Ở đâu còn có sự giáo dục chân chính, còn có những người tận tâm dạy dỗ (những lương sư), còn có những người muốn học thật sự để nên người thì ở đó lòng tôn sư trọng đạo vẫn còn được duy trì.

Ngày nay trước sự bành trướng của duy vật vô thần chủ nghĩa, tính "linh ư vạn vật" của con người bị phủ nhận, giáo dục trỡ thành chợ buôn bán, phẩm chất tụt hậu, thầy không còn đủ điều kiện để làm thầy, học trò không còn cơ hội để học làm người, đạo đức suy đồi, xã hội trụy lạc đổ vỡ, lòng người hoang mang, tinh thần tôn sư trọng đạo hơn bao giờ hết, cần phải được phục hồi, truyền thống tốt đẹp đã có cần được chấn hưng để những thế hệ sau này còn có cơ xây dựng lại tinh thần nhân bản, dân tộc.

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Đức Giám Mục Ba Lan:
Chúng ta phải nói to lên Giáo Hội đang bị bách hại tại Việt Nam


Image
Đức Cha Tarnowski Wiktor Skworc
“Tình hình của Giáo Hội tại Việt Nam rất giống với tình hình Giáo Hội Ba Lan chúng ta trong hai thập niên 60 và 70, khi đó nhà cầm quyền cộng sản đàn áp thẳng tay người Công Giáo chúng ta,” Đức Cha Tarnowski Wiktor Skworc, chủ tịch Ủy Ban Truyền Giáo của Hội Đồng Giám Mục Ba Lan đã trả lời như trên trong cuộc phỏng vấn dành cho báo chí và các đài truyền thanh, truyền hình trong khuôn khổ ngày Hiệp Thông, Liên Đới và Cầu Nguyện cho Giáo Hội tại Việt Nam.

“Đáng tiếc là giờ đây chúng ta thấy những gì đã diễn ra ở Ba Lan lại được tái diễn tại Việt Nam," Đức Cha Skworc than phiền.

Ngài nhấn mạnh "Nhà cầm quyền bất cứ ở đâu, kể cả nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, cũng không thể cứ mãi bất chấp dư luận. Thành ra, chúng ta phải nói to lên cho mọi người nghe là Giáo Hội đang bị bách hại tại Việt Nam, và chúng ta không thể câm nín nhượng bộ được.”

Ngày Hiệp Thông, Liên Đới và Cầu Nguyện cho Giáo Hội tại Việt Nam là sáng kiến của Ủy Ban Truyền Giáo trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Ba Lan và Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Ba Lan. Trong ngày 4/2, nhiều buổi cầu nguyện cho Giáo Hội Việt Nam đã diễn ra trong cả nước Ba Lan. Cả các dòng nữ Chiêm Niệm cũng tham gia cầu nguyện cho Giáo Hội Việt Nam.

Trong khi đó, các báo chí Ba Lan như tờ Gazeta Wyborcza có những bài sưu khảo rất công phu về tình trạng của Giáo Hội Việt Nam trong suốt 350 năm qua, và đặc biệt những năm gần đây khi Giáo Hội phải đương đầu với những vụ như Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Vĩnh Long, Loan Lý, Long Xuyên, Bầu Sen, Cồn Dầu, Đồng Chiêm...

Nguyễn Việt Nam

Post Reply