Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Trong ta luôn có nhau

Những con cừu ngoan ngoãn đi theo đúng lề đã vạch

* Blog Vũ Ðông Hà
(Trích vudongha.wordpress.com)
Các bạn thân mến,

Mỗi công dân đúng ra đều có quyền và bổn phận biết rõ những gì đang xảy ra ngay trên đất nước của mình. Chúng ta có quyền và trách nhiệm tìm hiểu, ủng hộ hay phê bình hoặc góp ý cho mọi vấn đề liên quan đến vận mạng của dân tộc.
Image
Blogger Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải. (Hình: Blog Ðiếu Cày)



Tuy nhiên trên đất nước này tất cả những quyền và bổn phận đó đã phải đối diện với những cấm đoán và đe dọa:

Hàng loạt trang blog, web bị phá hoại.

Những hộp thư riêng của công dân Việt Nam bị đánh cắp.

Nhiều cá nhân bị công an đội lốt tin tặc tạo dựng dữ kiện và bôi nhọ đời tư.

Vào thế kỷ 21 này, vẫn còn một tập đoàn thiểu số muốn giữ đất nước Việt Nam trong màn đêm đen tối của bưng bít và thông tin một chiều. Ðể thực hiện mục tiêu đó, họ phải sử dụng đến những hành vi của những kẻ mà thế giới gọi là Tin Tặc.

Khi tất cả những biện pháp của Tin Tặc thất bại, khi mà trang blog này bị đánh sập thì nhiều trang blog khác mọc lên, khi mà một người bị bịt miệng thì nhiều người khác cất cao tiếng nói... những kẻ thủ ác xoay qua trò khủng bố:

Ra lệnh bắt giam khẩn cấp blogger Anhbasg.

Tiếp tục cầm tù blogger Ðiếu Cày với một tội danh mới vừa được dàn dựng - Một người đang ở trong tù mà lại bị kết tội “tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCNVN”.

Sự việc này chứng minh một thực tế bi thảm - ở đất nước chúng ta hiện nay, tự do của mỗi người là một con cá nằm trên thớt. Những kẻ nắm quyền lực muốn bằm muốn chém bất cứ lúc nào, đối với bất kỳ ai, bất chấp mọi quy định pháp luật, quy ước phổ quát hay tiêu chuẩn tối thiểu về lương tâm và đạo đức con người.

Sự việc này cũng chứng minh rằng - mọi kêu gọi sự tôn trọng công lý, nhân quyền từ đảng và nhà nước để trả tự do cho blogger Ðiếu Cày và Anhbasg đều vô nghĩa.

Quan trọng hơn cả là - đối tượng chính mà đảng và nhà nước nhắm tới trong việc bắt giam Anhbasg và tiếp tục cầm tù anh Ðiếu Cày chính là cả cộng đồng blogger:

Họ muốn mỗi người chúng ta vì sợ hãi để rồi sẽ rụt rè khi đăng tải một bản tin, đắn đo khi viết một bài viết, và cuối cùng chấp nhận chỉ cho phép mình nói lên những gì nằm trong cái vòng tròn mà đảng cho phép.

Họ muốn chúng ta trở về vị trí của những con cừu ngoan ngoãn đi theo đúng lề mà họ đã vạch ra.

Họ muốn chúng ta im lặng trước mọi tệ nạn xã hội, chính trị đang xảy ra cùng khắp trên đất nước mà thủ phạm chính là lãnh đạo lẫn cán bộ đảng viên các cấp; đồng thời chấp nhận mọi thông tin, giải thích của họ về tình trạng này. Và khi chúng ta im lặng, khi chúng ta chấp nhận luồng thông tin một chiều thì gần 90 triệu người dân sẽ im lặng và chấp nhận. Vì không còn chọn lựa nào khác. Ðó là điều họ mong muốn.

Các bạn thân mến,

Hãy cho tôi cùng với bạn đừng để những kẻ đang muốn bịt mồm bịt miệng nhân dân đạt được mục tiêu đó.

Hãy cho tôi nắm tay bạn để hỗ trợ cho hai người bạn blogger thân yêu của chúng ta bằng cách tiếp tục chí hướng và lý tưởng của họ.

Thành công lớn nhất mà những người bạn chấp nhận lao tù mong mỏi là sự lớn mạnh của cộng đồng blogger, của sức mạnh thông tin trung thực, góp phần vào con đường phục hưng đất nước.

Hãy cùng nhau gửi đến họ những thông tin gấp đôi số lượng ngày hôm qua của chúng ta. Hãy gửi đến họ những bài viết gấp đôi số lượng tuần trước của chúng ta. Hãy mời gọi bạn bè gia nhập đạo quân blogger - mỗi người là một chiến sỹ thông tin - gấp nhiều lần so với năm trước của chúng ta.

Thẳng tiến, không cúi đầu, không nhượng bước với trái tim nóng, cái đầu nguội và tấm lòng thiết tha với đất nước là thái độ trả lời của chúng ta với những kẻ thủ ác.

Xin gửi đến các bạn lời của người bạn blogger thân quý, ngày hôm qua còn bên cạnh chúng ta, ngày hôm nay đã ngồi trong tù ngục:

Quyền được nói, được tự do tư tưởng, chia sẻ và truyền bá tư tưởng là quyền tự nhiên không cần phải chứng minh và cũng không cần ai ban phát.

Blog là nơi mà bất cứ ai cũng có thể thực hành quyền được nói, quyền được mở miệng.

Blogger Việt Nam đã và đang làm được nhiều điều cho đất nước, họ vẫn bàn bạc, thảo luận, họp hành và nghị sự về bất cứ vấn đề trọng đại nào của đất nước. Họ là nghị viện nhân dân đích thực bởi họ đang nói lên tiếng nói của người dân.

Ðã đến lúc chọn một ngày kỷ niệm cho sự ra đời và lớn mạnh của phong trào Blogger Việt Nam.

Nhiều blogger đã hưởng ứng chọn ngày 19 tháng 10 làm ngày Blogger Việt Nam. Ngày này không còn là ngày blogger Ðiếu Cày ra khỏi tù. Ngày này còn là ngày blogger Anhbasg vào tù. Ngày này còn là ngày mà mỗi chúng ta ngẩng mặt tuyên bố với những kẻ thủ ác rằng:

Những blogger Việt Nam sẽ tiếp tục lừng lững tiếp tục tiến bước.

Một trang blog bị đánh sập hàng ngàn trang blog khác mọc lên.

Một blogger bị bỏ tù, hàng ngàn blogger khác sẽ tiếp nối...

Cho đến ngày hoa Tự Do nở rộ trên đất nước thân yêu này.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Chiến tranh dưới ngòi bút Thảo Trường
Tác giả: Nguyễn Lệ Uyên


Chiến tranh hả?
Chiến tranh là cái c. chó gì.
(Thảo Trường)

Thảo Trường vĩnh biệt chúng ta ở tuổi 74 với 14 tác phẩm xuất bản tại Việt Nam và 8 ở Hoa Kỳ. Không phải với số lượng tác phẩm như vậy, hay việc ông bị tù đày 17 năm (không có bản án), từ Nam ra Bắc khiến tên tuổi Thảo Trường nổi tiếng trên văn đàn, mà hơn hết, ngay từ những tác phẩm đầu tay và cách ông chọn lựa thái độ và trách nhiệm của người cầm bút trước cuộc chiến tranh tương tàn đã làm cho những người trong và ngoài cuộc chú ý rồi. Khởi đầu là những truyện ngắn đầu tay đăng trên tạp chí Sáng Tạo (“Hương gió lướt đi”, “Làm quen”…) đầu thập niên 60, sau đó tiếp tục là tập truyện Thử lửa, nhưng phải đến Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp, Cánh đồng đã mất, Chạy trốn… thì cái tên Thảo Trường mới khẳng định được vị trí của ông trên văn đàn miền Nam, nhưng đồng thời cũng gây nhiều dư luận đa chiều. Nói đa chiều bởi độc giả cứ nghĩ ông có truyện khởi đăng từ Sáng Tạo, có nghĩa ông ở trong nhóm Sáng Tạo, mà Sáng Tạo, nói theo cách nói Mai Thảo thì ở đó là mảnh đất mở đầu, khai phá cho “một nền nghệ thuật mới” và rồi hô hào, khoa trương: “Chất nổ ném vào, cờ phất. Xuống núi, xuống đường. Ra biển, ra khơi. Và cuộc cách mạng tất yếu và biện chứng của văn chương đã bắt đầu…” (Mai Thảo, “Đứng về phía cái mới”). Cái “đã bắt đầu” kia, thật ra phương Tây đã bắt đầu từ rất lâu rồi! Nếu cố tình sắp xếp cho ông khuynh hướng ấy, thì có vẻ như đẩy ông trở thành một người cô đơn giữa những Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp… bởi ngôn ngữ văn chương của ông không mang tính đặc thù của dòng văn học này; thứ đến cách chọn lựa đề tài, xây dựng các nhân vật chưa hề thấy sự buồn nôn, mệt mỏi, chán chường muốn phá vỡ đập nát tất cả những gì đang có trước mặt, như là một mệnh đề khởi đầu cho cuộc cách mạng cho đời sống xã hội và văn chương, tức đứng về phía cái mới.

Sự xuất hiện của Thảo Trường bằng truyện ngắn đầu tay trên Sáng Tạo chỉ là con đò giúp ông qua sông, đến với văn học miền Nam. Vì sau này, khi bút lực của ông đến độ chín muồi, chúng ta lại thấy truyện của ông đăng tải trên các tạp chí xếp vào loại dấn thân, thậm chí là đối lập, như Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày… Sau này Cao Huy Khanh trong loạt bài Sơ thảo văn học miền Nam, ông xếp Thảo Trường vào khuynh hướng những nhà văn dấn thân. Rất tiếc tập Sơ thảo này vừa lên khuôn chưa kịp in thì miền Nam bị ngã gục, khuôn chì bị vứt xó, sách báo bị tịch thu sạch sẽ…

*

Khi nghe tin ông từ trần, một chút bàng hoàng lẫn xót xa cho thân phận những người cầm bút trước năm 75 với đầy dẫy những khổ lụy trong đời sống văn học không trọn vẹn.

Và lúc này, khi nhóm chủ trương Thư Quán Bản Thảo thực hiện số báo tưởng niệm ông, chúng tôi phải lục tung những thùng sách báo cũ may mắn còn giữ được. Nhưng hỡi ơi, sự giữ gìn ấy cũng không thật đầy đủ, bởi sau ngày đen tối kia, sách báo đều bị tịch thu. Tịch thu và mang đi đốt, nhóm lửa! Những Thử lửa, Cát, Vuốt mắt, Người khách lạ trên quê hương, Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp… trong tủ sách gia đình cũng chung số phận hẩm hiu đó, để lúc này, ngồi viết về ông, chỉ còn duy nhất tập Cánh đồng đã mất do nguyệt san Tân Văn số 34 xuất bản tháng 2 năm 1971, nhưng bìa đã mất, chỉ còn lại phần ruột. Đó là sự may mắn cuối cùng. Thôi thì xin ông, dưới suối vàng hay trên thiên đàng, hãy tha thứ cho kẻ hậu sinh, khi trong tay chỉ có: Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp (tải trên mạng) và Cánh đồng đã mất. Đọc và ngẫm nghĩ những gì ông đã viết trong đó như để thắp một nén nhang thương tiếc ông, như lúc sinh thời ông đã từng.

Bối cảnh trong Cánh đồng đã mất là một vùng đất hoang với cỏ cây, lau lách và bông dại, trước kia được sử dụng làm bãi tập bắn. Còn lúc này khi nhân vật Hoán quay lại, sự hoang dã đã biến mất, thay vào đó là khu căn cứ quân sự phòng thủ của một đơn vị bộ binh. Với khoảng không gian này, Thảo Trường dẫn người đọc đến gần với chiến tranh hơn và chỉ có thể nhìn thấy từ một phía, trong cái nhìn thuần nhất và cách suy nghĩ của Hoán, của ông quân nhân già và đẩy ra xa chút nữa là khu vực oanh kích tự do với những hố bom to nhỏ đầy nước và nhiều cá, trở thành nguồn sống cho đám dân chạy giặc bên kia sông.

Nếu như chỉ đọc lướt, đọc để giải trí thì Cánh đồng đã mất “không có gì hấp dẫn” do kết cấu câu chuyện, đặc biệt là những mẩu đối thoại cố tình kéo dài để khắc họa, hoặc dẫn giải những suy nghĩ, những tâm trạng nhân vật, hoặc đưa đẩy để giải thích dẫn dắt câu chuyện. Nhưng nếu ta loại bỏ tính thị hiếu giải trí, thì Cánh đồng đã mất phần nào phơi bày được một góc nhỏ bộ mặt thật của cuộc chiến rất nhếch nhác này. Sự nhếch nhác đầu tiên mà Thảo Trường đưa ra là giữa con người và con người, đồng bào anh em với nhau nhưng không thể tin nhau: “Vui mà không dám vui trọn vẹn. Nói năng tiếp xúc với nhau mà lúc nào cũng phải giữ thế thủ, lúc nào cũng phải đề phòng. Trong hoàn cảnh này, chúng ta không còn được sống cái đời sống cởi mở như hồi xưa, chúng ta không còn dám tin vào niềm tin cũ… Đời sống chúng ta đã bị chi phối bởi vật chất và nhất là đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc chiến tranh xảo trá này… Trong hoàn cảnh hiện nay nhìn đâu chúng ta cũng thấy địch. Địch như bủa vây chung quanh ta, địch đôi khi luẩn quất ngay trong chính ta.” (Cánh đồng đã mất, trg 26).

Sự bình yên đã bị vỡ bung. Tất cả đã bị xới tung lên đến nỗi khi ngồi với một cô gái trong hội quán của căn cứ, Hoán cũng tự đặt ra những giả định, những nghi ngờ, gọi là cần thiết “để phòng thủ” trong lúc chuyện trò tâm sự, bởi kẻ ngồi trước mặt là một người hoàn toàn xa lạ để Hoán có thể liên tiếp đặt ra những câu hỏi không có lối ra. Điều gì đã khiến nỗi hoài nghi kia ngày cứ một lớn dần trong đầu óc Hoán, đến nỗi người bạn của anh gọi đó là sự “bệnh hoạn”? Nếu như kẻ địch không phải là người anh em với nhau, cùng dòng máu, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán… thì hẳn sẽ không dẫn đến cách hành xử từ những suy nghĩ được gọi tên là “bệnh hoạn”. Khốn nỗi, kẻ địch lại chính là đồng bào ta, anh em ta, khởi đi từ trăm trứng và phải chịu hệ quả bi thảm khi năm mươi con lên núi, năm mươi con xuống biển, chia cắt tình cảm ruột thịt một cách dứt khoát từ một bào thai. Cái huyền sử “khốn nạn” đó như một mệnh đề tiên thiên của máu me chảy hoài hoài trên đất nước này từ ngày lập quốc. Số năm tháng anh em trong nhà đánh nhau đến vỡ đầu cũng gần bằng với khoảng thời gian chung lưng lại đánh đuổi ngoại xâm: “Làm sao chúng ta có thể phân biệt được ai là ai. Sự bi đát là ở chỗ đó. Vậy mà chúng ta vẫn phải đối xử với nhau. Biết rồi có ngày chúng ta sẽ như chó với mèo.” (Sđd, trg 29).

Nhân vật Hoán cũng chỉ là một thanh niên bình thường như bao thanh niên khác cùng thế hệ. Anh sinh ra và lớn lên trên mảnh đất đầy sóng gió này, trong giai đoạn bắt buộc phải lên đường cầm súng “bảo vệ đất nước” và bên kia thì cũng vậy, với một chủ đích rõ rệt đánh đuổi ngoại xâm, thống nhất đất nước dưới sự điều khiển của “ngoại bang” đứng từ đằng xa. Làm thế nào để giải quyết cuộc chiến nhục nhằn này, và theo Hoán: “Bên này phải nêu rõ lên cái tính chất của cuộc chiến từ năm 1954 đến năm 1960 và tiếp tục đến bây giờ. Phải phân định rõ ràng ra được cái tình trạng đó, cái giới hạn đó. Phải nêu rõ cái chiến thắng mà bên này muốn đạt được là duy trì tình trạng phân định trước kia giữa hai bên. Và hai bên phải cố duy trì được cái tính cách dân tộc trong phe mình, tránh khỏi sự chi phối của ngoại bang, phát triển cái xã hội trong phần kiểm soát của mình để tiến tới thống nhất đất nước.” (Sđd, trg 17, 18 ). Khốn thay, cái ý tưởng rất nhân bản của Hoán để giải quyết cuộc chiến nhì nhằng, vì quyền lợi cá nhân, quyền bính nên chẳng ai muốn ngồi lại trên căn bản dân tộc, nhân bản. Và vì vậy, thế hệ anh ở hai đầu lằn ranh lại tiếp tục cầm súng “ngoại bang” sống chết bắn vào nhau. Mà không phải chỉ có thế hệ Hoán không thôi, đến cả ông già trong căn cứ đã từng tham gia trận Điện Biên Phủ, nay vẫn phải tiếp tục cầm súng như một bổn phận và trách nhiệm, đến nỗi khi nghe Hoán buột miệng triết lý về chiến tranh: “Cuộc chiến tranh này khó lắm. Không bình tĩnh kiên trì là thua ạ. Cụ có thấy là cuộc chiến ở nước ta đặc biệt không?”, thì ông quân nhân già liền đập lại: “Tao đánh giặc cả mấy chục năm nay cũng chưa dám bàn tới, chú mày mới thử có vài ly rượu đã dám vơ cả vào mình. Chiến tranh hả. Chiến tranh là cái c. chó gì.” (Sđd, trg 71).

Thế hệ trước thì già nua mệt mỏi. Thế hệ sau thì chán nản, bất lực, không còn tin vào bất cứ điều gì, ngay cả thứ “ngoại bang” tận tụy mang xương thịt tiền bạc khí tài đến cũng là của giả nhân giả nghĩa. Nhân vật Hoán của Thảo Trường đã nhổ toẹt vào sự giúp đỡ bỉ ổi đó: “Bộ cứ của Mỹ là không giả sao. Mẹ cóc! Ông có vẻ tin tưởng vào mấy thằng cha đó hơi nhiều. Ông có biết không, Mỹ nó làm được… người giả nữa là rượu (…)Tụi nó văn minh lắm. Nó có thể chế ra được bất cứ cái gì. Nó có thể chế ra người máy, vệ tinh, phi thuyền, mà nó lại còn có thể chế ra tự do, dân chủ, độc lập. Nó chế ra được hết. Nó có thể chế ra được nó nữa. Hà hà, ông già thấy kinh chưa. Ông đừng có tin ở tụi nó kỹ quá, có ngày nó chế ra được ông đấy.” (Sđd, trg 72, 73).

Không rõ, khi để nhân vật của mình thốt ra những câu nói trên với một ông già đã trải qua 2 cuộc chiến tranh đẫm máu, có phải là một thông điệp của cả thế hệ phải gánh chịu những tai ách (nhân tai) gửi đến những kẻ cầm đầu hay chăng?

Trong Cánh đồng đã mất, Thảo Trường đã phác họa chân dung hai thế hệ cùng bước vào nơi chốn không lành lặn, bình yên. Tuổi trẻ thì sôi nổi, hối hả và hoài nghi, còn tuổi già như ông sĩ quan già trong căn cứ này trở thành nhân vật chai lì, cô đơn qua thời gian: “Rượu đã không còn có thể làm cho ông nôn mửa. Đàn bà cũng không còn có thể làm cho ông kêu lên rên rỉ kể cả cái giây phút chuyển sang. Ông bị cằn cỗi? Nhiều lần ông đã tự hỏi như vậy. Tuổi trẻ đã mất. Nhưng liệu tâm hồn ông đã mất mát hết chưa?”. Ông không thể tham gia với đám trẻ trong hội quán qua những bước nhảy nhanh chậm trên sàn, không còn cái háo hức, rực lửa của tuổi trẻ để ôm chặt người bạn nhảy trong vòng tay. Tất cả như đã biến mất khỏi cuộc đời, y như cánh đồng trước kia mênh mông màu xanh cỏ phủ tràn cùng những bông hoa dại rung rinh trước những cơn gió phất qua, nay đã biến mất. Mùi thơm của hoa cỏ đất trời đã biến dạng. Cánh đồng của sự bình yên đã méo mó, của hoa thơm, cỏ mượt xanh đã chìm lấp bên dưới những giao thông hào, vòng rào kẽm gai, như ông sĩ quan già đã bị lấy mất tuổi thanhh xuân của chính mình, như tuổi trẻ của Hoán bất chợt đổi thay về số phận và khung cảnh: “Tôi đã… thơ thẩn trong những bụi cây lùm cỏ, tôi đã có lần thấy những bông hoa dại trên những lùm cỏ đó. Tôi đã nhìn ngắm bông hoa dại, đã ngắt nó cài lên nón. Đó là ngày xưa.” (trg 41).

Sự biến mất kia đâu chỉ mình ông già, người bạn, Hoán, hay Hoa, Tâm… những nhân vật trong truyện phải gánh chịu, mà hình như, mà chắc chắn như cho cả mọi chúng ta, khi mà cuộc sống bị xua đuổi đi sang một ngóc ngách khác, khi mà tất cả phải thụt lùi, chạy trốn khỏi những phát đạn nổ dã man trên khắp phần đất này. Thảo Trường đã vẽ nên sự phi lý ấy qua cảnh những người dân quì mọp xuống đất vái lạy chiếc trực thăng đang vòng vòng trên cao bằng những phát đạn nổ quanh họ: “Đạn đại liên trên máy bay tuôn xuống làm thành một vòng tròn xung quanh đám người. Những viên đạn cầy xuống ruộng nước bắn tung tóe. Đoàn người bên dưới sợ hãi, có người quì xuống bùn chắp tay lạy lên máy bay lia lịa. Mấy người Mỹ chỉ trỏ cười hô hố… Cuộc bắn dọa thật vô cùng dã man.” (trg 92). Đó là vùng đất bị khoanh tròn, là vùng oanh kích tự do, là nơi mà các phi vụ oanh kích ở những nơi khác chưa kịp ném hết bom, các phi công lượn đến và trút xuống những quả bom còn lại để đáp xuống phi trường an toàn. Đó là vùng đất chết. Là nơi mà người dân bị xua đuổi ra khỏi làng để cách ly với VC, đồng thời những hố bom đó, tiêu biểu cho sự chết chóc lại là nơi đang nuôi sống họ: “Cá nhiều lắm. Ở các hố bom của các ông đó. Các hố bom lớn lắm. Lớn bằng cái ao lận. Nước đọng lâu ngày có rất nhiều cá. Chúng tôi đi tát nước bắt cá ở các hố trong vùng này.” (trg 97). Cái chiến tuyến giữa ta và địch không rạch ròi, không có ranh giới nhất định. Ngày là của bên này và đêm là của bên kia. Hôm nay là đất của phe địch và mai kia lại thuộc về phe ta. Cảnh lộn xộn vất vưởng này cứ lặp đi lặp lại đến nỗi những kẻ nhân danh tự do dân chủ, mang cả tiền của máu xương đến “viện trợ” có lúc cũng phát khùng: “Người nước ông không tôn trọng thông cáo gì cả. Khu này đã có lệnh cấm từ lâu. Lệnh cấm đã được phổ biến rộng rãi. Họ không tôn trọng quân lệnh. Người nước anh chỉ làm khó cho quân đội. Người nước anh không có kỷ luật.” (trg 94). Còn người trong cuộc là Hoán khi nhìn thấy cảnh này cũng đâm ra cáu tức không kém: “Đ.m. các anh, đang nói mà các anh bắn như vậy hỏi còn làm c. gì nữa.” (tr 95). Chỉ với một khoảnh khắc nhỏ ở một vùng đất nhỏ không tên tuổi, Thảo Trường đã đẩy lên tính cách bi hài của cuộc chiến bẩn thỉu này rồi, chỉ vì lãnh tụ của hai bên mượn tay ngoại bang dưới hình thức này hay hình thức khác, để phang vào đầu nhau cho đến khi nào giành được phần thắng về mình, cái mà họ kêu là chính nghĩa!? Sự bi thảm của cả dân tộc trong giai đoạn này, được ông gói gọn trong lời thoại của chị đàn bà: “Sống! Ai lại không muốn sống hả ông? Nhưng sống thì phải ăn chứ. Ruộng vườn tan hoang cả rồi, chúng tôi phải đi bắt cá. Bắt cá về bán mua gạo mà ăn. Ông có biết thế không?” (trg 99). Hẳn nhiên nhân vật Hoán hiểu, hiểu rất rõ nhưng đành bất lực, bởi quyền hạn không nằm trong tay anh. Nhưng giả thử có nằm trong tay thì chắc Hoán cũng không thể làm được gì tốt đẹp cho nhân dân của anh đang bị mỗi phe phía xỏ dây mũi dắt chạy như trâu bò. Nhắm mắt lao tới như lũ điên loạn!

Sự bất lực của tuổi trẻ, hoài vọng và mơ ước không thành, được Thảo Trường khép lại bằng cảnh Hoán đón chiếc xe ngựa trở ra thị trấn: “Hoán nhìn ông già và nhìn con ngựa. Cả hai đều cũ kỹ già nua như nhau. Con ngựa ỉa xuống đường mấy cục cứt úa vàng. Hoán thấy rõ bụng nó phải thót lại, hai chân sau hơi khuỵu xuống trong một động tác thật mệt nhọc.

Đoàn xe nhà binh vẫn chạy qua vẫn chưa hết.” (trg 125)

Truyện chấm dứt ở đó. Chấm dứt với nỗi mệt nhoài đầy đau khổ, thất vọng một cách thản nhiên!

*

Nhưng đến Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp thì khác: Thảo Trường đã công khai bày tỏ thái độ của mình cho cả hai phe tham chiến với lối văn kể chuyện rất bình thản, dung dị mà đau mà thấm đẫm chất nhân văn qua từng nhân vật, phơi bày bộ mặt thật của chiến tranh một cách gớm ghiếc. Con kinh nhỏ, thẳng tắp ở một quận lỵ nhỏ heo hút là khởi đầu câu chuyện được nhà văn mô tả: “nó èo ọt như một chiếc que đan”. Nhưng đọc đến cuối truyện thì con kinh đó lại giống như lưỡi gươm bén nhọn, xiên chết không chút xót thương đối với người dân vô tội, mà chị Tư như một biểu tượng cho cả dân tộc, cho hai đầu đất nước! (Nhiều lần tôi đã lặp đi lặp lại biểu tượng này trong các bài viết về những nhân vật nữ của Thế Uyên, Lữ Quỳnh, Y Uyên, Khuất Đẩu…)

Với những người đàn bà như chị Tư, hẳn không ai muốn xa lìa mái ấm gia đình niềm hạnh phúc bên chồng con. Khốn nỗi, dù có muốn hay không cũng không do chị chọn lựa. Sự chọ lựa là do kẻ khác, tập đoàn súng đạn khác, vượt ra khỏi ý thức và hành động của những người dân bình thường. Và đó cũng là nguyên nhân chính đẩy chị đi hết những bi thảm này đến những bi thảm khác, một cách nhục nhã. Hôm nay chị bị trùm lên lớp áo màu đỏ, ngày mai lại bị lột ra xỏ vào thân xác chị lớp màu sơn khác, quay mòng mòng như một con rối: “Chị Tư biết đến những tiếng: Tự Do, Dân Chủ, Ðộc Lập, Hạnh Phúc, Căm Thù, Ðả Ðảo… và nhiều tiếng nữa từ đó”. Và sau đó: “Chị đi làm ấp chiến lược, chị học tập chính trị “tam túc”, “tam giác” trong vòng đai kẽm gai và bờ đất”. Con rối nhân dân là chị Tư giờ bỗng dưng trở thành con người “toàn diện” tiêu biểu cho họng súng của hai phía, cứ đều đều khạc ra lửa: “Chị Tư lúc này đã trở nên một người biết tới hai chủ nghĩa: cộng sản và nhân vị. Chị có thể nói rất trôi chảy về những chủ nghĩa đó vì chị đã được nghe quá nhiều lần”.

Nỗi uẩn nhục của chị Tư càng ngày càng dày thêm lên, cao hơn lên cho tới khi đạt đến đỉnh điểm của khoái cảm lẫn nhục nhã, ê chề, đau đớn: “Thời gian này chị Tư quên đi mất hình ảnh anh Tư, vì chị Tư đã được sống lại những cảm giác khoái lạc đến hỗn độn với anh binh sĩ truyền tin và “chú” em trai cán bộ. Chị dãy dụa trong những niềm hoan lạc tràn ngập đó. Cuối cùng, đến một hôm, cái thai trong bụng chị máy động. Cái máy động thứ nhất làm chị bàng hoàng. Chị tự hỏi “nó” là của ai? Của anh cán bộ hay anh binh sĩ truyền tin? Chị thẫn thờ cả người và chị muốn rời ngay cái chốn đó. Chị tự hỏi của ai? Chị muốn biết của ai? Cái thai của ai cũng được nhưng chị phải biết chắc là của người nào. Lúc này chị lại nghĩ tới anh Tư dữ dội. Và chị Tư bỏ dở công tác binh vận. Chị trở về căn nhà xiêu vẹo ở ven bờ kinh. Chị khóc ròng vì không biết cái thai của ai”.

Những giọt nước mắt của chi Tư, đồng thời cũng là tỉ tỉ giọt nước mắt của phụ nữ hai miền trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, phải cắn răng chịu đựng, chỉ vì đó là nhiệm vụ thiêng liêng được giao phó và phải hoàn thành. Và, vô hình chung, thân xác người phụ nữ trong tình cảnh này biến thành những trao đổi cho mưu đồ độc ác nhất, trở thành một phương tiện cho cái mục tiêu nhớp nhúa họ muốn đạt tới!

Những giọt nước mắt đó nói theo giọng văn học hiện thực xã hội là mang tính tố cáo. Tôi nghĩ, khi Thảo Trường cho những giọt nước mắt chảy ròng ròng, ông không hề đi theo khuynh hướng dòng văn học kia là kêu gào, tố cáo… mà hơn hết là phơi bày cái đằng sau nó (những giọt nước mắt), phơi bày bộ mặt thật của cuộc chiến tranh bẩn thỉu đến buồn mửa này!

Thân xác chị Tư hành động theo “lệnh”, nhưng có lúc chị cũng cảm thấy “chị quằn quại khoái lạc” khi ở bên dưới hai người đàn ông là hình bóng của hai kẻ thù đang đối đầu nhau. Lý giải cho những nhục cảm kia, hẳn chúng ta cũng cảm thông với thân phận của những chinh phụ thời đại. Đó là lẽ thường tình. Nhưng điều không bình thường ở đây là ước muốn nhỏ nhoi của người phụ nữ là muốn biết ai là người cha của cái bào thai kia, như một niềm hạnh phúc mong manh đã bị đánh mất từ mười năm về trước, chỉ còn lại là những hình bóng bảng lảng xa gần của người chồng vằng mặt, với những rung động thoi thóp chợt hiện chợt biến, không có hình dạng rõ ràng. Nhưng, ước mơ có thật, rất gần đó đã bị từ chối, bị xổ toẹt một cách phũ phàng: “Một hôm chị hỏi anh cán bộ cái thai trong bụng chị là con của ai, anh ta bảo là con của Ðảng”, rồi buộc chị phải lao tới, làm cái nhiệm vụ thi đua rất thiêng liêng kia là vác chiếc bụng chửa ì ạch leo lên cao treo khẩu hiệu, gài lựu đạn. Có vẻ như ở thời điểm này chị hài lòng về công việc được giao phó cho mình và đã hoàn thành, nhưng điều chị chưa hài lòng là tại sao anh du kích lại không thừa nhận cái bào thai trong bụng chị ở một cấp thấp, đồng đẳng với người đàn bà có mang, mà lại đẩy lên cao hơn với một hình tượng vô hình, không đầu, không chân tay, không hình hài? Nó là cái rỗng không to lớn không thể hình dung, nhưng đồng thời là cái nhỏ bé nhất, như một bóng ma lợn cọn lớp không khí bao quanh người! Chị đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng rất uất ức bởi không thể nhận dạng rõ ràng bộ mặt thằng cha rất trừu tượng của cái bào thai dần hồi ngọ ngoạy trong bụng. Chị hài lòng về công việc của mình vừa xong, nhưng không hài lòng về bộ mặt trống không kia, khiến chị nổi khùng: “Chị Tư ứa nước mắt nhìn tấm bảng, nhìn anh ta, rồi chị dắt anh ta vào giường. Chị Tư đè ngửa anh cán bộ xuống rồi chị khóc nấc lên thành tiếng: “Tôi đây, tôi là của anh, nhà của tôi là của anh, cái bào thai này cũng là của anh. Nó phải là của anh!” Anh cán bộ ú ớ dưới ngực chị: “Nó là của Ðảng! Tất cả là của Ðảng!”.

Câu chuyện người đàn bà tên chị Tư được Thảo Trường đẩy lên thành cao trào như trên sân khấu kịch, khi người sĩ quan chỉ huy đơn vị hành quân đến vùng đất có con kinh thẳng tắp “èo ọt như chiếc que đan”. Nhà cửa vườn tược có đấy, những khẩu hiệu và lựu đạn cài trên cây có đấy. Và có đấy người đàn bà bắt đầu phải gánh chịu mọi hậu quả từ cái từ trừu tượng kia để lại. Chị phải đối mặt với kẻ thù của cái từ trừu tượng đó. Còn lại, những người bị chị “đè ngửa” thì biến mất, trốn khỏi nỗi sợ hãi to lớn trong chị. Người sĩ quan chỉ huy vừa là hung thần với chị trong buổi đối mặt ban đầu, nhưng lại trở thành ân nhân cứu sống mẹ con chị sau tai nạn bất ngờ do nỗi sợ hãi ùa tới. Người sĩ quan này cũng không tốt đẹp gì trong đời sống, vì chính miệng anh ta nói lên: “Lúc trở về căn nhà chị Tư, người sĩ quan lại sờ trán chị Tư, sờ trán đứa nhỏ và nói với mẹ con chị rằng có lẽ anh ta cũng đã có nhiều con nhưng không biết chúng ở đâu và chưa hề khai sinh cho đứa nào. Bèn khai sinh cho đứa nhỏ này mang dòng họ của mình”. Điều gì khiến người sĩ quan hành hạ chị buổi đầu, đã trở nên nhân ái hơn khi nhìn chính tay anh ta đỡ đẻ, chăm sóc mẹ con chị Tư? Lòng nhân ái chăng? Đạo đức truyền thống chăng? Hay tình máu mủ đồng bào trong cảnh ngộ khốn cùng khiến anh ta cảm động, thay đổi thái độ hành xử? Rất có thể là tất cả, mà cũng có thể là không chút nào. Duy nhất lay động tâm hồn anh ta, bản chất người trong anh ta trỗi dậy khi thấy hình hài bé nhỏ vẫn khỏe mạnh, nằm bên chị đàn bà chịu nhiều đau khổ.

Và chính đoạn cuối của truyện mới thật sự là thông điệp gửi tới, không phải cho cậu bé được mang dòng họ anh, mà cho tất cả, cho hai phía đối đầu trong cuộc chiến tanh tưởi này: “NHẮN TIN: Nhắn cậu nhỏ mang dòng họ cùng với tôi, hai mươi năm nữa, cậu khôn lớn (lời Nhắn Tin này chỉ gửi đến cậu khi cậu đã trên hai mươi tuổi), lúc đó tôi không biết cậu sống trong hoàn cảnh nào, trong một xã hội nào. Cậu cho tôi xin cậu một điều là, trước khi cậu hành động, trước khi tranh đấu, trước khi cách mạng, trước khi biểu tình, trước khi đảo chánh, trước khi lật đổ, trước khi hành quân, trước khi thuyết pháp, trước khi cầu nguyện, trước khi hội thảo, trước khi thụt két, trước khi hành lạc, trước khi đập phá, trước khi hy sinh… nghĩa là trước khi quyết định làm một việc gì, xin cậu… chỉ xin cậu hãy nghĩ đến người đàn bà mang thai khốn khổ, hãy nghĩ tới những người mẹ bị rất nhiều chủ nghĩa với những danh từ hoa mỹ hành hạ. Xin cậu hãy nghĩ tới cái hình ảnh đó, tôi cầu xin cậu như thế, vì tôi chính là tên sĩ quan đã hành hạ mẹ cậu, đã đỡ đẻ cho mẹ cậu sau khi các đồng đội của tôi chết vì những thứ khẩu hiệu như cái khẩu hiệu “Ðả Ðảo Ðế Quốc Mỹ” ấy”.

Có lẽ, đây là truyện viết về chiến tranh hay nhất của Thảo Trường, tôi nghĩ vậy. Cảm ơn ông và mong mấy dòng ngắn ngủi trong thông điệp ông gửi đi sẽ lay động được những cái đầu khô khốc, đầy máu lửa. Và như vậy ông đã nhìn thấy sự thành công của mình từ thế giới bên kia. Và sau hết, tôi mới hiểu tại sao ông, dù không bị chính quyền miền Nam thời đó làm tình làm tội, nhưng có cái nhìn kém thân thiện về ngòi bút của ông, cũng như tại sao ông lại phải chịu tù đày 17 năm dài từ Nam ra Bắc. Bởi vì ông, Thảo Trường là một nhà văn trung thực!

Nguồn: Thư quán Bản thảo số 44

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Dân Biểu Cao Quang Ánh Được Biểu Dương Là Chính Trị Gia Tốt


Chương trình The Good Men Project hàng năm tuyển chọn những người Mỹ gương mẫu. Trung tuần tháng 10, chương trình này công bố danh sách 10 chính trị gia tốt, The Top Ten Good Men Politicians. Mặc dù mới chỉ tham chính chưa đầy 2 năm, DB Ánh đã được bình bầu vào hạng tư trong danh sách này. “DB Ánh là người làm việc cần mẫn để phục vụ, lại có đức độ.

Tôi rất vui khi một người Việt được công nhận là có tài và có đức,” Ts. Nguyễn Đình Thắng phát biểu.
Khi còn là thanh niên, Ông Cao Quang Ánh tình nguyện với BPSOS dưới sự hướng dẫn của Ts. Thắng.

Tiêu chuẩn tuyển chọn vào danh sách 10 chính trị gia tốt là:



- Sự chân chính và lương thiện tư duy.

- Sự tương kính dành cho đối thủ chính trị, lòng tôn trọng cử tri, và tinh thần phát huy sự trong suốt và cởi mở trong chính quyền.

- Có ý tưởng thu hút và có khả năng và viễn kiến để biến ý tưởng thành hnàh động.

- Có tầm nhìn vượt qua thời hạn của nhiệm kỳ dân cử và có can đảm để thiết lập nền móng cho tương lai lâu dài của Hoa Kỳ, dù có thể phải có quyết định không được lòng quần chúng.

- Có tinh thần hợp tác với những người đối lập chính kiến để đạt thành quả.

- Không sợ đối đầu với giới lãnh đạo của đảng khi giới lãnh đạo đặt tinh thần đảng phái lên trên quyền lợi tối thượng của đất nước.

- Quan trọng nhất là không bậy bạ.

Dưới đây là phần mô tả về DB Cao Quang Ánh, giải thích lý do Ông được tuyển chọn là một trong 10 khuôn mặt gương mẫu cho các chính khách Hoa Kỳ.

Trong tiếng Việt, "Cao" có nghĩa là "cao lớn." Với chiều cao 5’2”, người dân biểu Đảng Cộng Hòa có lẽ không lột tả được tên của mình, nhưng ông đã tìm được cách để đứng riêng biệt khỏi đám đông.

Một cựu sinh viên chủng viện, Ông Cao lấy bằng luật tại Đại học Loyola ở New Orleans, thành phố nơi ông đang sống với vợ và hai con gái.

Trong năm 2008, ông ra tranh cử ghế Dân Biểu Hạ Viện New Orleans đối đầu với William Jefferson, một đương nhiệm gốc da màu đã chín nhiệm kỳ tại một địa hạt đa số là Dân chủ và người Mỹ gốc châu Phi. Vì cuộc vận động tranh cử của Tổng Thống Obama diễn ra song song, lúc đó ông Cao trông như đã chẳng có một cơ hội nào để thắng.

May mắn cho ông Cao, ông Jefferson đã bị truy tố về tội hối lộ và thông đồng. Và, nhờ có cơn bão cuối mùa, cuộc bầu cử được dời lại đến tháng 12. Cử tri đi bầu giảm đi đáng kể, và ông Cao thắng. (Ông được mệnh danh là "dân biểu tình cờ.")

Những cái tít "Ông Cao đến Washington" nhan nhản khắp mọi nơi. Trong những phỏng vấn sau cuộc bầu cử, Ông Cao, một người di dân từ Việt Nam khi lên tám, thừa nhận ông đã không bao giờ nghe nói về chính sách cắt giảm thuế trong thời của ông Bush hoặc về hệ thống ủy ban của Hạ viện. Nhưng kể từ đó, ông làm sáng tỏ vị trí của mình.

"Trên DC, Ông làm việc chăm chỉ để đại diện cho cử tri của mình, có nghĩa là Ông biểu quyết với đảng Dân chủ," ông Thomas Langston, một giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Tulane phát biểu. "Nếu Ông không là một người bảo thủ sâu xa trong các vấn đề xã hội, ông có thể đổi đảng và có thể giữ được chức vụ của mình. Trớ trêu thay, điều đó sẽ làm cho ông ta có vẻ ít dũng cảm hơn và ít nổi bật. "

Ông Cao có tỷ số biểu quyết 69 phần trăm ủng hộ các dự luật của phe Obama -- nhiều hơn bất kỳ Dân biểu Đảng Cộng Hòa nào. Ông là đảng viên Cộng Hòa duy nhất đã hỗ trợ dự luật chăm sóc sức khỏe của Hạ Viện. Trong số những dân biểu Cộng Hòa, chỉ có Ron Paul và John McHugh biểu quyết theo với đảng Cộng Hòa ít hơn.

Danh tiếng là một Maverick của Ông như được củng cố khi ông lên tiếng phản đối vụ tràn dầu BP, và đã nói với Lamar McKay, Chủ Tịch của BP, "Trong thời samurai, chúng tôi sẽ đưa cho ông một con dao và yêu cầu ông tự mổ bụng ."

Những nỗ lực chính của ông là các vấn đề hậu-Katrina. Ông đã tổ chức lại cơ quan FEMA địa phương và giới thiệu một dự luật cho các ngành phục vụ công cộng của tư nhân được nhận tài trợ của liên bang sau tai ương thiên nhiên, mà sẽ bảo vệ người tiêu dùng không phải chịu giá cả tăng vọt. Ông cũng kêu gọi FEMA tha nợ tiền vay tai ương cho New Orleans sau bão.

"Cao là người trung thực, thông minh, và chăm chỉ," ông Langston nói. "Ông ấy còn là một chàng trai với một trái tim lớn, người đã đi vào ngành luật pháp để giúp mọi người thay vì chỉ để kiếm sống."

Trong dự kiến sẽ qua một vòng bầu cử gay go cho Đảng Dân Chủ, ông Cao có lẽ là đảng viên Cộng Hòa bấp bênh nhất. Đối đầu với Cedric Richmond, một người Mỹ gốc Phi Đảng Dân Chủ cực kỳ được ưa chuộng, việc tái cử của Ông hầu như là không tưởng cũng như cuộc bầu cử mà đã đưa Ông vào trong Quốc hội lần đầu.

Mặt-đối-mặt với Ánh Cao

Hỏi: Một người có thể vừa là một người đàn ông tốt và là một chính trị gia tốt (tức là, hiệu quả)?

CQA: Có, một người có thể được cả hai, nhưng trong thời buổi của chính trị thiên đảng phái này thì nó khó. Khi ta nói về một người đàn ông "tốt", có một vài điểm tôi nghĩ đến: a) trung thực, b) từ bi, và c) quả quyết.

Trong suốt lịch sử, chúng ta đã thấy nhiều người "tốt" có những đặc điểm này: Mẹ Teresa, Mahatma Gandhi, Martin Luther King, và Abraham Lincoln. Những đặc điểm này, khi kết hợp với khả năng lắng nghe phía bên kia và cởi mở cho ý kiến của người khác, để thỏa hiệp trừ khi liên quan đến nguyên tắc đạo đức cốt lõi, để làm việc với các đồng nghiệp, và để truyền thông giúp công chúng hiểu vị trí của một người, sẽ giúp làm cho một người đàn ông vừa "tốt" vừa là một chính trị gia có hiệu quả.

Hỏi: Nếu ông đang làm một danh sách các chính trị gia mà ông kính trọng cả hai sự chính trực và sự tận tâm của họ cho những ý tưởng mà họ tin vào, ai là người- không phải cùng trong đảng, chắc chắn sẽ được ông đưa vào danh sách? Và tại sao?

CQA: Một chính trị gia mà tôi chắc chắn sẽ đưa vào danh sách của những người tôi tôn trọng cả hai sự chính trực và sự tận tâm là đồng nghiệp Hạ Viện của tôi, ông Dan Lipinski, thuộc Đảng Dân Chủ của bang Illinois. Sự chính trực của Dân Biểu Lipinski đã được thử thách trong cuộc tranh luận về cải cách y tế. Ông đã chịu áp lực rất lớn của Đảng Dân Chủ để biểu quyết ủng hộ dự luật thông qua Thượng Viện, và mặc dù ông tin tưởng mạnh mẽ rằng cải cách là cần thiết để giảm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe và thực hiện bảo hiểm chi phí hợp lý và dễ tiếp cận cho các cá nhân và gia đình, ông đã có e ngại nghiêm trọng về phiên bản của dự luật đến với chúng tôi từ Thượng Viện.

Ông đặc biệt quan tâm về sự thiếu bảo vệ chống lại mở rộng tài trợ liên bang cho phá thai, điều mà ông phản đối trên cơ sở đạo đức. Cuối cùng, Dân Biểu Lipinski đã giữ đúng với lương tâm của mình, chống lại áp lực đảng phái, và đã bỏ phiếu chống Patient Protection and Affordable Care Act. Tôi ngưỡng mộ và tôn trọng sự can đảm chính trị của ông.

Hỏi: Ông là người Mỹ gốc Việt đầu tiên phục vụ trong Quốc Hội Hoa Kỳ, cũng là người đầu tiên trong Đảng Cộng Hòa để phục vụ trong địa hạt của ông từ năm 1890. Những kinh nghiệm đó dạy ông điều gì về sự hội nhập?

CQA: Là dân biểu người Mỹ gốc Việt đầu tiên và là người của đảng Cộng hòa đầu tiên phục vụ trong Địa Hạt 2 của Bang Louisiana kể từ sau Tái Thiết không liên quan nhiều đến khả năng được chấp nhận của tôi với các đồng nghiệp cũng như các cử tri của tôi. Tôi nghĩ rằng các nguyên tắc căn bản làm nền tảng cho một người đạo đức, kết hợp với khả năng thân thiện và làm việc với những người khác, đã giúp tôi thích ứng cả trên Quốc Hội và trong Địa Hạt. Và ngoài đạo đức và lòng thân thiện, còn có yếu tố của hy vọng. Nó kết hợp tất cả chúng ta và cho phép chúng ta bảo bọc nhau như những cá nhân tham gia vào sự theo đuổi chung cho cuộc sống, tự do, và hạnh phúc.

Hỏi: Chúng tôi tin rằng một người đàn ông tốt sẵn sàng nhận những sai lầm của mình. Xin cho chúng tôi về một lần khi ông đã không đạt được "sự tốt", trong định nghĩa của ông.

CQA: Bởi vì các nhu cầu của công việc này và số lượng thời gian mà nó đòi hỏi, thực rất khó cho tôi để làm người chồng và người cha tốt nhất cho hai con gái của tôi. Trước đây, tôi có thời giờ nhiều tại gia đình hơn với vợ con tôi để làm bài tập với con gái của tôi, để đưa chúng đến công viên, và được có mặt với chúng trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Điều đó không được nữa, đó là một thất vọng cho tôi, nhưng cũng khiến tôi phải khiêm nhường, vì tôi biết rằng tôi có những hạn chế và phải dựa vào sự giúp đỡ của người khác, cũng như đức tin của tôi, để bảo đảm và hy vọng tất cả sẽ trở nên tốt đẹp.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Một Ngày Với Đô Đốc Chung Tấn Cang
Cuối tháng 4 năm 1975, Sàigòn trong cơn hốt hoảng. Tổng Thống Thiệu từ chức, giao quyền cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Cụ Hương, dưới nhiều áp lực, phải nhường quyền lại cho Đại Tướng Dương Văn Minh, với hy vọng có một giải pháp ôn hòa trước sự tiến quân ồ ạt của Cộng quân. Nhưng hy vọng mỗi lúc mỗi mỏng manh.

Sàigòn khi nào bị tràn ngập? Ngưng chiến được chăng? Chánh Phủ lui xuống Vùng IV để dễ cầm cự? Và lui binh cách nào...? Các câu hỏi cứ đan quấn vào nhau, mỗi lúc mỗi thêm rắc rối. Giữa lúc khó khăn ấy, Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang, sau nhiều năm biệt phái đảm nhiệm các trách vụ ngoài Hải Quân, đã trở lại Hải Quân, quân chủng mà ông đã xuất thân với đầy ưu tư gắn bó. Nhưng chẳng được bao lâu, thời cuộc tính bằng ngày, và quanh Sàigòn Cộng quân đã có mặt.

Thủy trình huyết mạch, hơi thở của Sàigòn trong bao lâu là con sông Lòng Tàu và Soai Rạp phải được giữ vững. Và đó còn là con đường cuối cùng của đoàn tàu của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa rời Sàigòn, đem theo hầu như tất cả chiến hạm khiển dụng với hơn 27.000 quân nhân và đồng bào. Ra đi đúng lúc, không sớm, trước khi quá muộn. Ra đi nghiêm túc và an toàn. Đó là cuộc lui binh đẹp đẽ, đầy kỷ luật Sau 25 năm, dù có ác ý đến đâu, chưa ai có thể chỉ trích được, nếu không nói là đây những lời khen ngợi người điều động toàn thể hạm đội, từ lúc manh nha kế hoạch, cho đến khi trao các chiến hạm lại cho Hải Quân Hoa Kỳ, là Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang.

Sau gần 25 năm im tiếng, lần đầu tiên ông đã dành cho người viết một cuộc mạn đàm gần cả một ngày. Ông đã về hưu, mắt yếu, không đọc được nhiều, nhưng trí nhớ còn tốt. Bên ly rượu chát như một thời phong lưu đầy quyền uy của một vị Đô Đốc Hải Quân. Ông chậm rãi kể về cuộc lui binh ấy và cả về cuộc đời ông.

Được hỏi, ai là người có công nhất trong kế hoạch này, ông cười và đáp, "Tất cả mọi người như anh biết, sức mạnh của Hải Quân là sức mạnh tập thể. Trên con tàu không phải một mình ông Hạm Trưởng làm được mọi việc, mà là sự hợp lực hài hòa, khéo léo của tất cả mọi người. Tàu tách bến mà anh thủy thủ làm giây không buông giây đúng lúc thì con tàu làm sao ra được.

Chuyến đi nói trên là công lao của tất cả anh em Hải Quân thuộc mọi cấp bậc. Và cũng là truyền thống tột đẹp của Hải Quân mình." Một cách cụ thể, ai là người thảo kế hoạch, lo thi hành kế hoạch, ông đáp "Khi đất nước đã đến lúc phải tính chuyện đi hay ở, người giúp tôi soạn thảo kế hoạch là ông Chí (Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí), Tư Lệnh Hành Quân Biển, ông Sơn (Nguyễn Xuân Sơn, Đại Tá Tư Lệnh Hạm Đội) ông Kiểm (Đại Tá Đỗ Kiểm, Đại Tá Tham Mưu Phó Hành Quân) ông Luân (Đại Tá Chi Huy Trưởng Tiếp Vận) và ông Khuê (Đại Tá Phạm Mạnh Khuê, Tham Mưu Phó Hành Quân Biển).

Đó là lúc sửa soạn." Ông ngừng một chút và tiếp "Đâu như hôm 26/4/75, tôi có họp Bộ Tham Mưu lại, nói rõ ý định là phải ra khỏi Sàigòn. Mà đi là cùng đi tất cả. Ra khỏi Sài-gòn, giữ lấy toàn thể lực lượng rồi sẽ tính sau. Bây giờ các tàu bè phải lấy đầy dầu nước, tiếp liệu càng nhiều càng tốt....Ông Luân có hỏi, thế phiếu phát thế nào. Tôi cười, đến giờ này mà còn phiếu gì nữa. Ai mang được bao nhiêu cứ ra sức mà mang."

Sự ra đi cuả đoàn tầu có tính cách chiến lược, vậy trước khi có quyết định này, Đô Đốc có được chỉ thị cuả Tổng Thống hay chính phủ không? Đô Đốc Cang đáp:" Giưã lúc mà tình hình quân sự và chính trị rối loạn như thế, ông Dương Văn Minh không có một quyết định gì. Tôi có gặp ông, hỏi, ông chỉ đáp:" Tuỳ các anh..." Vì thế tôi đã chỉ thị bằng miệng cho Đại Tá Sơn, Tư Lệnh Hạm Đội để sẵng sàng đem Hạm Đội ra biển. Và một cách cụ thể, tôi đã đặc biệt nhắc ông Sơn phải dành 2 chiếc Dương Vận Hạm với tất cả các phương tiện truyền tin và tiếp liệu, một chiếc dành cho chính phủ khi phải rời Sài Gòn bằng đường thuỷ, chiếc kia dành cho Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Với loại chiến hạm này có bãi đáp cho hai trực thăng."

Nhưng rồi Tổng Thống Minh không xử dụng. Đô Đốc Cang đáp:" Trước khi đoàn tầu ra đi, tôi có cho Đô Đốc Diệp Quang Thuỷ,Tham Mưu Trưởng lên gặp ông Minh. Ông vẫn không có quyết định nào khác, chỉ nói:" Thôi các anh đi đi.."

Như thế Tổng Thống Minh muốn rời Sài Gòn bằng đường thuỷ rất dễ dàng. Đô Đốc Cang tiếp:" Đúng thế, đó là một quyết định can đảm và đầy trách nhiệm. Đúng hay sai lại là vấn đề khác.

Còn ở ngoài biển, ai là người đắc lực nhất? Đô Đốc Cang lại cười và nói: "Nhiều người kể công mình lắm. Sai cả. Người giúp tôi nhiều nhất, đắc lực nhất, ngày đêm lo cho đoàn tàu là ông Hùng (Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng). Nếu phải nói lời cám ơn, hay tưởng thưởng thì chỉ có ông Hùng." Ông lại cười và tiếp: "Mới đây có người nói là ông Richard Armitage lo cho đoàn tàu. Sai. Ông ta chi là một vị sĩ quan liên lạc, giữa Hải Quân Mỹ và đoàn tàu của Hải Quân Việt Nam không hơn không kém. Khi đoàn tàu vào hải phận Phi Luật Tân, Chánh phủ Phi không cho vào, vì đoàn tàu còn treo cơ Việt Nam Cộng Hòa. Chính tôi đã đề nghị, trảlại tàu chiến của Mỹ cho Mỹ, theo tinh thần tài liệu viện trợ MAP (Military Aid Program), vì tàu của Mỹ giao cho Việt Nam Cộng Hòa sử dụng, khi không sử dụng nữa thì phải trao lại cho Mỹ, và đoàn tàu vào Subic, là căn cứ của Mỹ, chứ có vào đất Phi đâu". Vẫn cười , ông tiếp "Ông Armitage yêu cầu đoàn tàu đi thẳng đến Guam. Tôi bảo, không được. Gần 30 ngàn người trên tàu, bao nhiêu vấn đề. Mà dù có đi Guam cũng phải vào Subic để tiêp tế đã chứ... Thế là đoàn tàu vào Subic, căn cứ của Mỹ, mình giao tàu lại cho Mỹ. Trước đó mình đã tổ chức làm lễ hạ quốc kỳ Việt NamCH rất long trọng và cảm động"

Khi đoàn tàu rời khỏi Sàigòn, đã ở ngoài biển, mà Tổng Thống Dương Văn Minh không đầu hàng thì sao !" Ông đáp: "Thì ít nhất ta vẫn giữ được toàn lực lượng của Hải Quân mình. Khi ấy, nếu thời cuộc thuận tiện ta lại quay trở lại, vào Cần Thơ chẳn hạn. — đó vấn đề tiếp liệu còn đầy đủ. Dầu nhớt và đạn dược còn nhiều. Nhưng Sàigòn, hôm đó ấy là ngày 29/4/1975, đoàn tàu phải ra cái đã. Ra trước khi tụi nó tiến sát vào bờ sông Soai Rạp, Lòng Tàu. Và như chúng ta thấy, hôm sau 30/4/1975, khi chúng ta ở ngoài khơi an toàn rồi, ông Minh tuyên bố đầu hàng. Lúc ấy có một số tàu rời Saigòn, một số bi bắn. Chiếc tàu nào có ông nhà báo Chu Tử, bị đại bác của xe tăng Việt Cộng bắn đó.... Chậm mấy tiếng là hỏng hết."

Còn Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh? Đô Đốc Cang lại cười và nói: "Ông Minh lo về liên lạc, nên các chiến hạm chỉ nghe thấy tiếng ông ấy. Nhưng trên thực tế, từ lúc tàu ra đi, cho đến khi giao tàu cho Mỹ, trên đường đi chúng ta đều tiếp cứu các ghe xuồng của đồng bào vượt biển hệ thống chỉ huy do tôi điều khiển vẫn rất nghiêm chỉnh. Tuy đất nước đã lọt vào tay Cộng Sản, nhưng đoàn tàu vẫn còn trương cờ Việt Nam Cộng Hòa, và phải nói là trên tất cả các chiến hạm, kỷ luật vẫn được duy trì, không hề có sự rối loạn nào. Đó là công lao của tất cả mọi người, thuộc mọi cấp bậc. Tôi hãnh diện về tinh thần ấy, và cám ơn tất cả anh em."

Được hỏi lý do thành lập Lực Lượng Đặc Nhiệm 99, ông cười rồi thong thả đáp:" Từ xưa đến nay, trong nghệ thuật chiến tranh, tiến đã khó, lùi lại càng bội phần khó hơn. Trong lúc lui, lực lượng hậu vệ là quan trọng nhất. Lát nưã đây, anh tiếp xúc với Đại Tá Dõng, Tư Lệnh Lực Lượng này để nắm vững mục đích về việc thành lập LLĐN 99, nhất là sự hữu hiệu cuả nó trong việc bảo vệ Sài gòn, nhất là thuỷ lộ huyết mạch Lòng Tào và Soài Rạp."

Trở lại với vấn đề bảo vệ bờ biển Việt Nam, chuyện xâm nhập,được nhắc lại về con tàu của Việt Công vào Vũng Rô ngày 19/2/1965, trong tài liệu của Việt Cộng, đây là thứ 23 con tàu này đã xâm nhập vào ờ biển miền Nam. Điều quan trọng là, ngoài việc tàu họ xâm nhập, họ còn có đơn vị bến bốc dỡ hàng, và di chuyển đi ngay, có nghĩa là họ nắm được dân, Đô Đốc Cang, cười và hỏi lại: " Anh đi tàu, các anh khám xét các ghe thuyền trên biển, các anh khám xét giấy tờ của họ, các anh có biết giấy đó thật hay giả, người cấp là ai..." Ông nhấp một hớp rượu vang nhỏ, rồi tiếp: "Đó là vấn đề. Lẽ ra tại các đơn vị quanh bờ biển, bờ sông, phải do Hải Quân cai quản... Đó là vấn đề, và ai họ giao cho mình. Tế nhị lắm. Cái khó là ở đó.

Rộng hơn nưã, được hỏi tại sao Miền Nam mất về tay Cộng Sản? Ông đáp: "Trước hết, ta không nắm được tiếp vận. Mỹ họ nắm, khi họ buông là ta nguy. Hơn nữa ta không có chiến lược lâu dài các chánh phủ thay nhau như cơm bưã, nhất sau vụ Đệ I Cộng Hòa bị lật đổ. Cuộc chiến của chúng ta lại chỉ là tự vệ. Cộng Sản nó tấn công đơn vị mình. mình giữ được kể là đã thắng, thì cái thua đã có từ căn bản". Rồi ông lại hỏi ngược lại người viết; " Chúng ta như anh với tôi, đều yêu nước cả.

Ta đâu có ưa gì thằng Tây. Tại sao ta lại chiến đấu bên cạnh Tây đánh Việt Minh." Người viết ngồi im, ông tiếp: "Tầu hay Tây đều là người ngoài, lâu hay mau, như thứ bệnh ngoài da, từ từ ta sẽ tìm cách trừ đi được. Còn cái anh Cộng Sản, lại là thứ Cộng Sản Việt Nam, đó là một thứ bệnh từ trong máu, phải lo chữa trước. Bệnh Cộng Sản nó thấm vào máu, nguy hiểm lắm. Đó là cái lý mà ta ở bên cạnh Tây đánh Cộng Sản" Vẫn ly rượu nho trên tay, ông tiếp: "Tôi sinh năm 1926 tại Gia Định.

Lúc mới lớn, tôi rất ghét Tây. Tôi đã định ra bưng theo kháng chiến rồi đó chứ. Nhìn thằng Tây nghinh ngang trên đất nước mình, tôi bực lắm. Giữa lúc ấy tôi có hai ông cậu, là hai vị linh mục, đi theo kháng chiến bị Tây bắt, nhốt ở bót Catinat. Sau được thả ra, gặp tôi, tôi tỏ ý muốn ra bưng, hai ông cậu tôi giận lắm, mắng rằng, mày có ngu không. Ra đó ai tin mày, mày bị lợi dụng rồi mất xác thôi...Rồi thời cuộc đưa đẩy, tôi đã là sĩ quan hàng hải, lúc thành lập Hải Quân, tôi vào Hải Quân.

Bản thân tôi, tôi không ưa nếp sống Quân Đội. Nhưng bà cụ thân sinh tôi lại khác, cụ nói, đã là quân nhân con không được hèn. Chết thì chết, không bao giờ hàng cả. Con chết ở đâu má đến đó lấy xác con về. Không bao giờ hèn nhát hàng giặc." Vẫn cười, ông tiếp: "Nếu tôi còn làm Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, có lẽ tôi sẽ ở lại chống tụi nó cho tới chết...." Người viết bàng hoàng như vừa nghe qua câu chuyện cũ trong Cổ Học Tinh Hoa. Đợi cho sự bàng hoàng lắng lại, một câu hỏi khác được nêu lên là "Với tư cách là một vị sĩ quan cấp Đô Đốc, trong những ngày đầu tại Mỹ, Đô Đốc có gặp những khó khăn, những phiền lụy gì không?"

Ông dơ tay như cản câu tôi nói và trả lời ngay: "Bảo rằng cực ư. Lúc ở bên nhà đi hành quân nguy hiểm, đói khát, thiếu thốn bao nhiêu. Giờ đi làm, cũng chỉ vừa sức, và đầy đủ phương tiên an toàn, vừa sẵn có thuốc men khi đau yếu, có gì là khổ. Bảo là nhục ư. Nếu ở lại bên nhà, dưới sự hành hạ của Việt Cộng, cái nào nhục hơn..."

Nói về những vui, buồn trong đời quân ngũ, ông chậm rãi: "Cái vui và cái buồn đi đôi với nhau. Lúc mới ra trường, ông Chơn (Đô Đốc Trần Văn Chơn) đổi xuống chiếc LCM, tôi đổi xuống 2 chiếc LCVP, và nằm chung với anh em đoàn viên. 5 cái giường vải tháo ra. Lau sàn gỗ cho sạch, thầy trò nằm chung bên nhau. Anh em vui buồn có nhau. Khi đeo tới lon Thiếu Tá rồi, xa lính. Công việc lúc này chỉ còn có cái bàn và cái ghế, mất vui." Ông lại nhấp một hớp rượu nhỏ và tiếp: "Năm 58, ở Trà Vinh, lúc thành lập Gian Đoàn 23 Xung Phong, sinh hoạt với anh em đoàn viên, tôi còn nhớ anh Lạc, Hạ sĩ cơ khí. Anh Lạc có một cô bồ bán dừa tươi ở bên kia sông. Mỗi buổi trưa anh ta lội qua bên kia sông tán cô bồ, khi về lại mang cho tôi một tái dừa tươi. Dễ thương lắm. Rồi đi hành quân tại Sa Đéc, anh ta chết. Bị mìn." Nói tới đó nét mặt ông đổi khác, chìm lắng, bâng khuâng.

Suốt bưã, ông hầu như chẳng ăn bao nhiêu chỉ nhấm nhấp ly rượu chát. Giọng nói ông như mỗi lúc mỗi thêm hưng phấn và thấp thoáng sự bồi hồi. Ông nói: " Lính tráng lương lậu đâu có bao nhiêu mà mỗi lần vi phạm kỷ luật bị trừ lương, ghi điểm rồi làm sao lên lon. Do đó, thấy tôi chỉ nhốt mà không ghi vào quân bạ. Đứa nào nặng lắm, tôi đưa ra hỏi:" Thay vì 8 ngày tù, giờ mầy chịu tám hèo được không? Lính tráng như hiểu được lòng tôi, nên bị đánh mà vẫn vui." Hớp một hớp rượu nữa, định nói thì phu nhân cuả ông, tóc đã bạc, vẻ mặt thật phúc hậu, nhắc:" Ông ăn đi chớ." Rồi bà quay sang nói với chúng tôi: "Hôm nay ông ấy vui lắm đấy. Ít khi ông nói nhiều thế." Đô Đốc Cang lại tiếp: "Lúc ấy, nhằm năm đầu thành lập Hải Quân ấy mà, quanh tôi nhiều anh em đoàn viên là người Bắc. Vui lắm. Có lần đi hành quân tại Đồng Tháp Mười, tàu vừa nhô ra khỏi đầu con kinh, anh đoàn viên gốc Bắc Kỳ kêu lên:" Úi chà..." Tôi hỏi gì thế chú. Anh ta chỉ ra cánh đồng trước mặt và nói:" Mênh mông như bể..."

Cuộc mạn đàm tới đây coi như tạm đủ. Đã 4 giờ 30 chiều. Chúng tôi gồm anh Trần Chấn Hải, Tổng Hội Trưởng Hải Quân và anh Thân, một cựu đoàn viên thâm niên Hải Quân, định cáo từ ra về. Ông nghiêm mặt và nói: "Từ sáng đến giờ, tôi trả lời cuộc phỏng vấn cuả....các ông nhà báo. Bây giờ là lệnh. Các anh hãy ở lại ăn bữa cơm nữa, rồi muốn hỏi thêm cái gì cứ hỏi? Các vị phu nhân của Đô Đốc Cang và Đại Tá Dõng cũng hùa theo "Đây là đất núi, có ai thèm ở lại chơi đâu...", nên chúng tôi đành phải ngồi lại, ăn một bữa cơm chiều nữa. Trong khi chờ cơm, cuộc mạn đàm mỗi lúc mỗi thêm vui, đầy thân mật. Đại Tá Dõng chủ nhà nhướng mắt nhắc tôi. "Hỏi đại đi, hỏi gì cứ hỏi...". Đô Đốc Cang, vẫn xoay xoay ly rượu vang trước mặt, liên tục kể thêm về những phiền lụy, những hiểu lầm giữa anh em Hải Quân với nhau, ông cười luôn miệng và nói "Tôi đã ngoài 70 rồi. Tụi trẻ cũng đã học hành xong, công việc êm ả. Tôi đã làm xong việc đời. Tôi chỉ còn chờ hai việc: Vào nhà thương và theo về với Chúa". Chúng tôi ngồi nghe bỗng thấy quanh quất đâu đây như một lời từ giã. Đô Đốc Cang tiếp: "Nghĩ lại chuyện đời thật như mặt trời chiều. Tôi không giận ai. Tôi còn mừng là đã có những quyết định đúng lúc, tránh những điều đáng tiếc..." Ông tiếp tục nói, nhưng lại dặn: "Thôi, viết lại các phần trên thôi nhé. Phần vừa nói, để đến khi tôi về với Chúa, lúc ấy các anh có muốn viết thì viết."

Cơm tôi xong, trời đã tối. Khí núi đã có phần hơi se lạnh. Ông bà Đô Đốc Cang và ông bà Đại Tá Dõng đều ra ngoài cửa bắt tay từ giã chúng tôi. Ông Dõng nói: "Đất núi, mấy khi có khách vui như hôm nay." Xe chuyển bánh. Qua kính xe, tôi thấy Đô Đốc Cang đội cái nón đi biển do anh Hải tặng. Khuôn mặt ông chìm vào bóng tối, chỉ thấy cái huy hiệu trên nón sáng loáng hiện rõ cái neo nằm giữa hai hàng lá lúa vàng tươi.

Phan Lạc Tiếp, ghi

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

TỪ CUỘC BẦU CỬ SÔI ĐỘNG HÀO HỨNG MỸ
TỚI CUỘC BẦU BÁN ‘GIẢ CẦY’ VIỆT CỘNG


LÝ ĐẠI NGUYÊN
Cuộc bầu cử giữa kỳ tổng thống Mỹ, chọn ra 435 dân biểu của toàn thể Hạviện, với 37 thượng nghị sĩ của Thượngviện trong số 100 ghế và các thống đốc tiểu bang, vào ngày 02/11/2010 đang là điểm cực nóng tại chính trường Mỹ. Hiện nay chính quyền của đảng Dânchủ của tổng thống Obama đang kiểm soát cả 2 viện Quốchội. Có nghĩa là cử tri Mỹ đã trao rộng quyền cho ông Obama và đảng Dânchủ trong 2 năm để thực hiện cuộc “Thay Đổi” như ông đã hứa trong khi tranh cử. Thực tế cuộc đại thay đổi này chỉ diễn ra ở mầu da. Từ các vị ‘tổng thống da trắng’ thành một vị ‘tổng thống da đen’, rồi được cả thế giới loài người hân hoan ca tụng nước Mỹ và hy vọng thật nhiều vào vị thổng thống da màu trẻ tuổi có tài hùng biện này. Nhưng cuộc khủng hoảng tài chánh Mỹ và toàn cầu đã cuốn tổng thống Dânchủ Obama vào vết mòn kích thích tài chánh của tổng thống Cộnghòa Bush. Tháng 10/2008 tổng thống Bush được Quốchội do đảng Dânchủ làm chù chi cho 700 tỷ USD, và tháng 02/2009 chi tiếp cho ông Obama 787 tỷ USD để cứu các đại công ty và nền kinh tế Mỹ. Tuy giải pháp này cần để hồi sinh nền kinh tế tư bản Mỹ, nhưng nạn thất nghiệp vẫn còn quá cao, mà chính quyền của tổng thống Obama và đảng Dânchủ vẫn bó tay, khiến cho giới lao động và thanh niên trước kia hết mình ủng hộ ông Obama, nay thất vọng về ông và đảng Dânchủ của ông. Nếu ông Obama thực sự có tinh thần xã hội nhân ái, sao không chú tâm vào việc tạo ra các chương trình nâng đỡ xí nghiệp vừa và nhỏ, các thương vụ vừa và nhỏ…nhằm giảm bớt nạn thất nghiệp? Bởi vậy cuộc bầu cử này theo thăm dò dư luận và các chuyên gia chính trị thì đảng Cộnghòa đang ở thế thượng phong.

Với giới hiểu biết, thì ông Obama đã để mất nhiều thì giờ về lý tưởng thực hiện cho bằng được cuộc cải cách ‘Bảo Hiểm Y Tế Toàn Dân’ kiểu ‘Xã Hội Chủ Nghĩa’ nửa vời. Vi phạm vào nguyên tắc ‘Tôn Trọng Quyền Tự Do Cá Nhân’ của truyền thống xã hội Mỹ và Hiến Pháp Hiệp Chúng Quốc. Đích ra nếu muốn làm tốt chương trình y tế ở một xã hội tự do thì chỉ cần chính phủ tài trợ, mở rộng những chương trình Y Tế Cộng Đồng Miễn Phí cho giới nghèo không có bảo hiểm. Và tìm biện pháp hữu hiệu hạ giảm hợp lý các dịch vụ y tế ở các bệnh viện là phước đức cho toàn dân rồi. Đâu phải buộc mọi người phải có bảo hiểm, như bảo hiểm xe hơi và các vật dụng khác. Chính vì vậy, nếu cuộc bầu cử này mà đảng Dânchủ không còn giữ được đa số tại Quốc hội Mỹ thì chương trình bảo hiểm y tế của tổng thống Obama sẽ có khả năng bị thay đổi. Hai năm công lao trở thành công cốc. Thế cho nên ông Obama và các chính trị gia của đảng Dân chủ đã chạy đua hết công lực, mà đảng Cộnghòa cũng chẳng vừa. Số tiền mà 2 đảng đổ vào cuộc vận động, phía Dân chủ đã lên tới 200 triệu USD, phía Cônghòa tốn 137 triệu USD để giành lấy 39 ghế tại Hạviện và 10 ghế tại Thượngviện từ tay Dânchủ. Thế nên cuộc bầu cử tại Mỹ hiện nay rất sôi động, hào hứng. Nhất là phía Cộnghòa còn được phong trào Tea Party nhập cuộc, với khuôn mặt rực rỡ của Sarah Palin hăng say khuấy động.

Theo thông lệ bỏ phiếu của cử tri Mỹ, thì họ luôn luôn muốn quân bằng quyền lực giữa 2 chính đảng Dân Chủ và Cộng Hòa. Nến đảng Dân Chủ đã nắm Hành Pháp thì cử tri Mỹ có khuynh hướng bầu cho đảng Cộng Hòa nắm Lập Pháp để hai bên kiểm soát lẫn nhau. Nếu vấn đề thuộc về chiến lược quốc gia thì 2 đảng phải dẹp bỏ đảng tính để tìm ra chung một chính sách quốc gia, nên được gọi đây là chính sách lưỡng đảng. Nhưng nếu là chính sách riêng của một đảng thì Tổng Thống phải có đa số Quốc Hội trong tay. Hiện nay quân Mỹ hết còn chiến tranh ở Iraq, chiến tranh tại Afghanistan đã dần dần trao về tay người bản xứ giải quyết. Dù Iran vẫn là mối đe dọa tiềm ẩn, nhưng vòng đai phòng thủ đã được cài đặc. Xung đột Do Thái và Palestine vẫn còn đó, nhưng không bên nào dám phát động chiến tranh. Chiến luợc toàn cầu của Hoakỳ đã chuyển sang Á châu. Trungcộng là một mối họa cho toàn vùng, nhưng chưa phải là đối thủ ngang tầm với Hoakỳ, mà chỉ là thế áp lực để cho các nước Châu Á - Thái Bình Dương gắn kết khắp mặt với Mỹ, cùng ngăn Bành Trướng TrungCộng. Còn việc buộc Trungcộng quốc tế hóa Biển Đông, phải từ bỏ nhận chủ quyền tại Hoàngsa và Trườngsa, nhằm sống hài hòa với toàn vùng thì còn để đó. Chính vì vậy mà nước Mỹ giờ này chưa cần tạo ra một chính quyền mạnh, nắm cả hành pháp, lập pháp như thời tổng thống Bush phát động chiến tranh Afghanistan và Iraq. Nên đảng Cônghòa sẽ được cử tri Mỹ cho nắm Quốc Hội.

Riềng về phía người Mỹ gốc Việt thì năm nay có đến 18 người tham gia tranh cử ở 2 ghế Dân Biểu Liên Bang, và nhiều chức vụ điạ phương. Đây là điểm khích lệ đối với người Việt tỵ nạn cộng sản. Chính vì ‘tỵ nạn cộng sản’ mà cử tri Mỹ gốc Việt luôn đề phòng bọn ma quỷ Việtcộng cài người vào các chức vụ dân cử do chính lá phiếu của người Việt bầu lên. Thực ra những người Việt tranh cử kỳ này đa số là lớp trẻ lớn lên tại xứ Mỹ. Họ có thể không còn quan tâm tha thiết mấy về số phận của Dân Tộc Khốn Khổ Việt Nam, nhưng họ không thể là cán bộ Việtcộng thuần thành. Bởi vậy khi được cử tri người Việt tín nhiệm, họ sẽ hiểu được nỗi niềm của cha mẹ, ông bà, anh chị em mình là những người chống cộng quyết liệt. Chỉ trừ trường hợp chính bản thân họ, hoặc gia đình họ đang làm ăn với Việtcộng, hay là có giao thiệp về tài chánh với Việtcộng thì họ khó thoát khỏi sự ‘dùng đồng tiền liền khúc ruột’ để sai khiến họ chọc phá cộng đồng khi Việtcộng cần đánh lạc hướng của người Việt hải ngoại. Còn bảo rằng họ dùng quyền lực để làm hại đồng bào thì đừng có hòng, vì đây là nước Mỹ, là luật pháp của Mỹ. Thế nên việc người Việt bầu cho người Việt, tuy thận trọng, mà nên làm, cần làm để mở đường cho con em mình gia nhập dòng chính trị Mỹ, rất cần cho tương lai Việtnam Dân Chủ Tự Do.

Nhìn về trong nước hiện nay, đảng cộng sản Việtnam đang chuẩn bị cho đại hội XI. Họ hô hào áp dụng một cuộc ‘dân chủ hóa’ nội bộ đảng, qua các cuộc bầu cử đảng ủy địa phương. Nhưng kết quả thì những tay đại tham ô như Lê Thanh Hải vẫn được bầu vào chức Bí Thứ Thành Ủy Hồ Chí Minh. Tay đại gian hùng Nguyễn Bá Thanh vẫn là Bí Thứ Thành Ủy Đànẵng. Tay bị kỷ luật về thi cử, Đào Ngọc Dung được bầu vào Bí thư Tỉnh Ủy Yên Bái. Tay lãnh chúa Kinh Bắc là Nguyễn Công Ngọ tái đắc cử Tỉnh Ủy Bắcninh…tóm lại ‘bọn cướp thì vẫn bầu cho kẻ cướp’. Xin đừng có hy vọng gì vào các cuộc ‘bầu cử giả cầy’ này của Việtcộng! Hiện nay nhiều yêu cầu là chức Tổng Bí Thư phải do Đại Biểu Đại Hội bầu trực tiếp và kín, mà ít nhất là phải có 2 ứng viên để đại biểu chọn lựa. Nhưng 2 ứng viên này vẫn lại do Trung Ương Đảng khóa trước lựa sẵn, thì ‘lọt sàng xuống nia’.Trungcộng vẫn dư sức nắm cả 2. Nếu muốn không để trở thành cuộc bầu cử dân chủ ‘giả cầy’ thì phải cho Đại Hội bỏ phiếu kín nhiều vòng. Từ chính Đại Hội cử ra 2 người nhiều phiếu nhất, sau đó tiến hành bầu cử chính thức giữa 2 ứng cử viên, trước khi Đại Hội nghe họ thuyết trình về đường lối lãnh đạo đảng và nhà nước. Thử chơi trò chơi dân chủ lớn này xem nào!?

Little Saigon ngày 26/10/2010.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Human Rights Watch kêu gọi trả tự do cho blogger

LTS. Dưới đây là thông cáo báo chí của tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch về việc nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp, bắt bớ một loạt blogger, kể cả kéo dài hạn tù của blogger Ðiếu Cày.

Thông cáo báo chí của tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch

*Về việc kêu gọi nhà đương cục Việt Nam trả tự do cho các blogger và những người chỉ trích chính phủ một cách ôn hòa

*Thêm một đợt bắt giữ mới trước thềm đại hội Ðảng

(New York, 23 tháng 10, 2010) - Việt Nam cần hủy bỏ ngay lập tức mọi cáo buộc mà họ đã áp đặt đối với những người chỉ trích chính phủ một cách ôn hòa trên mạng Internet như Nguyễn Văn Hải, có bút danh Ðiếu Cày và Phan Thanh Hải, bút danh Anhbasg, và trả tự do ngay lập tức cho họ, Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền Human Rights Watch nói hôm nay.

Theo Human Rights Watch thì việc truy tố mang màu sắc chính trị đối với những người chỉ trích chính phủ và các blogger độc lập là Việt Nam đã vi phạm các quyền công dân được bảo đảm theo luật pháp quốc tế, và chính nhà nước Việt Nam cũng đã tô đậm thêm vết đen về thành tích nhân quyền của quốc gia này.

Vào ngày 20 tháng 10 năm 2010, ngày mãn hạn tù 30 tháng của Blogger Ðiếu Cày theo bản án ngụy tạo với tội danh “trốn thuế,” giới chức công an đã từ chối trả tự do cho ông.

Công an Việt Nam cho biết họ tiếp tục giam giữ ông để điều tra về cáo buộc mới rằng ông vi phạm điều 88 của Bộ Luật Hình Sự vì đã “Tuyên truyền chống nhà nước Cộng Sản Việt Nam.” Vợ cũ của ông Ðiếu Cày, bà Dương Thị Tân, đã bị công an thành phố Hồ Chí Minh tạm giữ và thẩm vấn khi bà chuẩn bị đi đón ông ra tù; nhà riêng của bà cũng bị chính quyền khám xét.

“Chính quyền Việt Nam thật vô liêm sĩ khi ngụy tạo các cáo buộc và biện minh cho việc giam giữ những người lên tiếng chỉ trích chính phủ một cách ôn hòa như Ðiếu Cày,” ông Phil Robertson, phó giám đốc phụ trách Châu Á của Human Rights Watch phát biểu.

“Ðợt truy quét trước Ðại Hội Ðảng đang vào cao điểm, và những người lên tiếng chỉ trích chính phủ đang bị đặt trong tầm ngắm.”

Nhà báo tự Do Ðiếu Cày là người sáng lập Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, một nhóm xã hội độc lập. Ða số đều nhìn nhận tội danh về thuế chỉ là cái cớ mà chính quyền cộng sản Việt Nam vu cáo cho bị hại để dập tắt tiếng nói của Ðiếu Cày phê phán chính phủ và chính sách đối ngoại của họ với Trung Quốc.

Ngày 18 tháng 10, công an thành phố Hồ Chí Minh cũng bắt giữ nhà báo tự do Phan Thanh Hải, một thành viên khác của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do. Hai thành viên khác là blogger Tạ Phong Tần và Uyên Vũ cũng đều bị công an theo dõi công khai và chặt chẽ tại tư gia. Công an cũng tạm giữ nhà hoạt động dân chủ Ðỗ Nam Hải trong một thời gian ngắn vào ngày 19 tháng 10.

“Ở một quốc gia, nơi nhà nước kiểm soát tất cả mọi phương tiện truyền thông truyền thống, blogger độc lập xuất hiện như những nguồn cung cấp tin tức, thông tin và bình luận xã hội quan trọng,” ông Robertson cho biết.

“Chính phủ lẽ ra phải ghi nhận vai trò xã hội then chốt mà các blogger độc lập đang đảm nhận, thay vì sách nhiễu và bỏ tù họ.”

Các biện pháp đàn áp blogger trùng hợp với đợt bắt giữ tùy tiện trong thời gian gần đây là chỉ dấu cho thấy phần nào nỗ lực của chính quyền nhằm dập tắt những tiếng nói đối lập, những lời chỉ trích trước khi khai mạc Ðại Hội Ðảng Cộng Sản Việt Nam vào tháng 1 năm 2011. Các đảng chính trị đối lập và truyền thông độc lập bị cấm hoạt động ở Việt Nam. Các tổ chức tôn giáo, các tổ chức công đoàn nghiệp đoàn đều bị đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền.

Ngày 13 tháng 8, công an cũng bắt giữ Giáo Sư Phạm Minh Hoàng, bút danh Phan Kiến Quốc, đang giảng dạy tại Ðại Học Bách khoa Thành Phố Hồ Chí Minh, là cộng tác viên của một trang mạng lên tiếng phản đối việc Trung Quốc vận hành các mỏ khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Công an cáo buộc ông làm việc cho Việt Tân - một đảng đối lập ở hải ngoại, và tham gia các buổi họp bàn về phương pháp đấu tranh bất bạo động. Những vụ bắt bớ khác được cho là có liên quan tới Việt Tân trong những tháng gần đây gồm có: Mục Sư Dương Kim Khải, quản nhiệm Hội Thánh Mennonite Chuồng Bò bị bắt vào ngày 10 tháng 8 tại thành phố Hồ Chí Minh; và hai người khiếu nại đất, bà Trần Thị Thúy, bị bắt ngày 10 tháng 8 ở Ðồng Tháp, và ông Nguyễn Thành Tâm bị bắt ngày 18 tháng 7 tại Bến Tre.

Ba nhà hoạt động bảo vệ quyền lợi người lao động - Ðoàn Huy Chương, Ðỗ Thị Minh Hạnh và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng - đã có lịch ra tòa xét xử vào ngày 26 tháng 10 tại tỉnh Trà Vinh với tội danh “phá rối trật tự trị an.”

Cả ba nhà hoạt động này đều bị bắt vào tháng 2 vì phân phát tờ rơi với nội dung chống chính phủ và giúp người lao động tổ chức đình công đòi tăng lương. Cũng có lịch phải hầu tòa trong tuần tới là sáu giáo dân thuộc giáo xứ Cồn Dầu ở thành phố Ðà Nẵng. Họ bị bắt vào tháng 5 vừa qua, khi công an cưỡng phá một đám tang của một cụ bà là giáo dân thuộc giáo xứ này trên đường đến an nghỉ tại đất đang tranh chấp.

Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 17 Hiệp Hội các Quốc gia Ðông Nam Á (ASEAN) sẽ nhóm họp vào ngày 28 tháng 10 tới đây tại Hà Nội sẽ là một cơ hội bằng vàng cho các nguyên thủ quốc gia ASEAN và các chính phủ khác bày tỏ quan ngại về việc đàn áp những người lên tiếng chỉ trích chính phủ, theo Human Rights Watch.

“Các bên tham gia Hội nghị thượng đỉnh ASEAN cần chất vấn nước chủ nhà Việt Nam xem họ nghĩ khẩu hiệu ‘Một ASEAN Vì Con Người’ thực chất có ý nghĩa như thế nào đối với một blogger Việt Nam đang ở trong tù,” ông Robertson nói.

“ASEAN cần yêu cầu Việt Nam thả ngay lập tức những tù nhân nói trên và tôn trọng các nguyên tắc về nhân quyền trong Hiến chương ASEAN.”

Ðể biết thêm tin tức liên quan tới Việt Nam của Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền, xin xem trang web: http://www.hrw.org/en/asia/vietnam

Ðể biết thêm thông tin, xin liên lạc:

Ở Bangkok, Phil Robertson (bằng tiếng Anh, tiếng Thái): Xin liên lạc qua điện thoại di động số +66-85-060-8406.

Ở Washington DC, Sophie Richardson (bằng tiếng Anh, tiếng Hoa Phổ thông): Xin liên lạc qua điện thoại di động số+1-202-612-4341 hoặc +1-917-721-7473

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Dưới chế độ thực dân Pháp, Việt Nam đã từng có tự do báo chí
Friday, October 29, 2010

Phạm Quế Dương

Gần đây dư luận khá sôi động về việc Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo liên tiếp đưa ra những phát biểu hô hào cho dân chủ,
tự do và kêu gọi giới lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Trung Quốc nhanh chóng tiến hành cải cách chính trị.

Image
Bìa báo Nam Phong Tạp Chí năm 1971. (Hình:Langtucodoc/Wikimedia/Public Domain)


Trong cuộc trả lời phỏng vấn gần đây của đài CNN, Thủ Tướng Ôn Gia Bảo khẳng định rằng tự do ngôn luận là một quyền không thể thiếu ở tất cả mọi nước, bất kể là nước đang phát triển hay đã phát triển, nước nghèo hay nước giàu.

Trong giới học giả Trung Quốc cũng có nhiều người phát biểu, viết bài và viết kiến nghị tập thể ủng hộ ý kiến của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo. Có người còn nói rằng: “Ôn Gia Bảo muốn trở thành Mikhail Gocbachev chăng?”

Sự thật thì vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn còn bị ngăn cấm. Song dưới thời thống trị của thực dân Pháp, ở nước ta đã có thời kỳ tự do báo chí. Báo của Ðảng Cộng Sản Việt Nam lúc đó gọi là Ðảng Cộng Sản Ðông Dương ở cả Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ đều đã từng xuất hiện. Tên các tờ báo đó là: Ðọc, Le Peuple, Tin Tức, Dân Tiến, Dân Muốn, Ðời Nay, Ðiện Tín... Ðấy là những thông tin rút ra từ tờ báo Dân Chúng của Ðảng Cộng Sản Việt Nam xuất bản ở Sài Gòn, lúc đầu ra tuần hai số, sau ra hàng ngày. Trụ sở của báo ghi công khai ở số nhà 51-E Clorel Gimaud - Saigon, nay là phố Phạm Ngũ Lão.

Xin gửi lại độc giả bài: “Từ đây nhân dân Ðông Dương được hưởng hoàn toàn tự do báo chí” đăng trên số 15, ngày 10 tháng 9 năm 1938 của báo Dân Chúng:

“Từ đây nhân dân Ðông Dương được hưởng hoàn toàn tự do báo chí.”

“[...]Sức tranh đấu oanh liệt hàng bao nhiêu năm của dân chúng xứ này hiệp với sức tranh đấu ủng hộ của bình dân Pháp đã đem đến cho nhân dân Ðông Dương sự tự do báo chí, một điều trong các quyền tự do dân chủ mà chúng tôi, là những người cộng sản, nhiệt liệt bênh vực và luôn luôn đi tiên phong trong sự chiến đấu để thực hiện những nguyện vọng thiết tha ấy.[...]

“Căn cứ vào sức tranh đấu của nhân dân Ðông Dương , sức ủng hộ của bình dân Pháp , dựa vào lời quyết nghị của Tòa Thượng Thẩm Paris về vụ Dân-Quyền ngày 22 juillet 1938, chúng tôi đã cho xuất bản tờ Dân-Chúng, một tên lính tiên phong cho sự tự do báo chí, không phải xin phép trước. Toàn thể dân chúng xứ này đều hoan nghênh.

“Hơn một tháng sau, Quan Bảo Hộ ở Pháp ngày 6 tháng 9, 1938 ấn hành đạo sắc lịnh 30 tháng 8, 1938 bãi bỏ những điều khoản 2, 4 của sắc lịnh 30 tháng 12, 1898 về chế độ báo chí ở Ðông Dương, nhìn nhận chánh thức sự tự do xuất bản báo chí quốc âm.

“Nhân dân Ðông Dương!

“Chúng ta được thêm một khí cụ để mạnh mẽ tiến bước đến sự thi hành triệt để các quyền tự do dân chủ khác. Tiến lên.”

(Nguồn: Thông Luận 2010)

Phạm Quế Dương
37 Lý Nam Ðế
Ðiện thoại: # 84-4-62 700 002

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image

"Trả Ta Sông Núi"


Ít người Việt miền Nam không biết đến ông Phạm Văn Liễu vì tên ông cứ trôi nổi với thời gian từ khi Thiếu tá Liễu tham gia cuộc đảo chính không thành chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm ngày 11-11-1960.

Bây giờ ở tuổi 75, ông viết hồi ký "Trả Ta Sông Núi", đã in được 2 trong số 3 tập, kể lại đời mình từ khi thanh niên Phạm Văn Liễu đi kháng chiến chống Tây rồi lưu lạc sang Tầu (1946 - 1949) với ẩn danh "Cách mạng" Trần Sơn Nam trước khi trở về Việt Nam tiếp tục cầm quân đánh nhau với Việt Minh.

Đi cùng quân lính vào miền Nam sau Hiệp định Geneve 1954 chia đôi đất nước, người sỹ quan trưởng thành Phạm Văn Liễu tiếp tục chỉ huy quân đội chống lại quân Cộng sản. Năm 1955 ông là người đã thành lập Binh chủng Thủy quân Lục chiến của quân đội Việt Nam Cộng Hòa và là cấp Chỉ huy thứ hai của binh chủng này.

Đến tháng 11-1960, người từng xưng ""Thưa Tổng thống, Tôi người Bắc" với Tổng thống Ngô Đình Diệm để bị "từ chối bắt tay" vào thời các Sỹ quan Quân đội hay các chính khách, cấp chỉ huy dân chính phải "Bẩm Cụ, Thưa con", ông Liễu tham gia cuộc đảo chính trong nhóm Trung tá Vương Văn Đông và Đại tá Nguyễn Chánh Thi. Cuộc đảo chính bất thành khiến ông phải lưu vong qua Cao Miên.

Sau cuộc đảo chính lần hai chống chính phủ Ngô Đình Diệm thành công của nhóm Sỹ quan do tướng Dương Văn Minh cầm đầu năm 1963, ông Liễu giã từ cuộc đời lưu vong bên xứ Chùa Tháp trở về Quân đội tiếp tục cầm quân đánh nhau với Cộng sản hoặc đào tạo Quân đội.

Thời chính phủ Phan Quy Quát ông được mời giữ chức Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia từ 1965 đến tháng 5/1966.

Nhưng cuộc đời binh nghiệp và chính trị của "chuyên viên đảo chính" Phạm Văn Liễu , như nhiều người đã gọi ông hay như ông nhìn nhận "đã tham gia nhiều cuộc đảo chính và phản đảo chính", được coi như "bế mạc" từ năm 1969, khi Tổng thống (Trung tướng ) Nguyễn Văn Thiệu, sau thời gian củng cố quyền hành, bổ nhiệm ông giữ chức "ngồi chơi xơi nước" Chỉ huy Trưởng căn cứ huấn luyện Đồng Tâm ở vùng Cửu Long.

Tại đây, có lần ông Liễu bị "ai đó" đầu độc bằng thuốc bỏ vào một bát chè, nhưng thoát chết sau một thời gian dài chữa trị. Ông Liễu nói ông không thể gán cho ai làm việc đó vì ông không nắm trong tay bằng chứng cụ thể nhưng vào lúc bấy giờ, với tính tình bộc trực, ưa nói ngay, nói thẳng và nói thật dù mất lòng của ông Liễu, ai cũng nghi đó là một cuộc "đầu độc" có lý do của những người không ưa hay sợ ông.

Ông Liễu như cá sống trên khô như chim bị nhốt vào lồng không còn toan tính gì được nữa. Vì vậy mà ông đã coi Tổng thống Thịêu là "người có tài củng cố quyền hành chứ không có tài đánh giặc."

Tổng thống Thiệu đã có lần muốn ông đi làm Tỉnh trưởng cho "khuất mắt" nhưng ông Liễu từ chối vì, theo lời ông: "Tôi biết ông Thịêu muốn hủ hoá tôi, đưa tôi vào con đường tham nhũng để bêu xấu tôi."

Và theo lời Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng (Đại học George Mason) thì ông Liễu cũng từ chối lên cấp Tướng,nếu chỉ để "ngồi mát ăn bát vàng" chẳng có quyền hành gì cả. Ông Liễu , vẫn theo Giáo sư Hùng, chỉ muốn làm Tư lệnh Thủy quân Lục Chiến hay Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh là hai đơn vị có thể làm đảo chính nên ông Thịêu không bao giờ đồng ý !

Sau ngày quân Cộng sản miền Bắc chiếm Sài Gòn ngày 30-4-1975, mái đầu "đen - bạc" Phạm Văn Liễu lưu vong lần thứ ba sang Hoa Kỳ để rồi lại rơi vào hệ lụy "kháng chiến không đi tới đâu" với "Mặt trận Quốc gia thống nhất Giải phóng Việt Nam" hay còn được gọi là "Mặt trận Hoàng Cơ Minh", từ năm 1980 .

Giấc mộng làm cách mạng của ông cựu Đại tá Phạm Văn Liễu một lần nữa không thành. Mặt trận Hoàng Cơ Minh Minh mà ông đã góp công xây dựng và lãnh đạo dưới tên "kháng chiến" Trần Trung Sơn từ những ngày còn trong trứng nước đã vỡ ra làm hai mảnh sau thời gian cơm không lành mà canh cũng chẳng ngọt giữa ông và Đề đốc Hoàng Cơ Minh và anh em nhà tướng Minh. Sự bất đồng đưa đến đổ vỡ giữa họ tập trung vào guồng máy được gọi là "tổ chức kinh tài" cho Mặt trận do anh em nhà họ Hoàng và các cộng sự viên thân tín của tướng Minh điều hành.

Những người ly khai quây quần với ông Liễu có cả Cựu Đại tá Cảnh sát Trần Minh Công đã tìm cách lấy lại uy tín "kháng chiến" sau khi Mặt trận tan hàng rã cánh năm 1983 với nhiều tai tiếng "tiền bạc lem nhem" và "kháng chiến bên ngoài Việt Nam". Nhưng ông Liễu cũng đã "sức cùng lực kiệt" không đi thêm được bước nào nữa.

Phe theo Đề đốc Minh tiếp tục con đường được gọi là "dấn thân" nhưng họ cũng đã bị đứt gánh giữa đường, trên đường xâm nhập vào Việt Nam, theo ngả miền Nam nước Lào. Tướng Minh bị thiệt mạng. Một số người khác bị mất tích hay bị bắt trong cuộc đụng độ với quân Cộng sản Lào và Việt Nam ngày 28-8-1987, theo tin của Mặt trận phổ biến ngày 28-7-2001. Sự "giấu tin" tướng Minh tử trận trong suốt 14 năm từ 1987 đến 2001 vẫn chưa được giới Lãnh đạo còn lại của tổ chức giải đáp minh bạch.

Tuy nhiên sự đổ vỡ của phong trào kháng chiến đã làm cho ông Liễu ray rứt khá nhiều vì có nhiều người đã vì tin ông mà ủng hộ hay đi về "khu kháng chiến" với Mặt trận. Mái tóc hoa râm của ông vì vậy mà đã bạc đi nhanh hơn thời gian từ dạo ấy.

Sự "bạc trắng tay không " bây giờ, 20 năm sau, đã mon men xói mòn cuộc đời thất bại nhiều hơn thành công của một Phạm Văn Liễu, chỉ mới biết khóc với thật lòng mình một lần trong đời, theo lời ông kể, là khi ông đứng trước quan tài vợ mình. Bà Liễu ra đi ngày 29-2-1992 để lại cho ông 7 người con vào năm Bà mới 54 tuổi.

Hình ảnh một Sỹ quan oai phong, hùng tráng trong bộ quân phục Thủy quân Lục chiến năm nào của ông Liễu không còn nữa. Nó cũng mất đi hình ảnh thiêng liêng của một chiến sỹ "kháng chiến áo nâu, mũ vải rộng vành và khăn rằn ri quàng cổ " của Phạm Văn Liễu khi ông còn đứng trước đám đông người Việt tị nạn chăm chú nghe ông nói chuyện kháng chiến giải phóng quê hương khỏi ách cai trị của Cộng sản Việt Nam vào những năm 1981 - 1982.

Ngày nay, sau "những cơn đau tinh thần vẫn còn ray rứt của cuộc đời binh nghiệp và chính trị" và sau nhiều cơn bạo bệnh thể xác , ông Liễu không còn đi lại bình thường được nữa. Người bạn gần gũi và thân thiết nhất bây giờ của ông không phải là hàng hà sa số bạn hữu ở khắp bốn phương trời thế giới mà là "chiếc xe lăn" vô tri vô giác ngày đêm đang gắn bó với ông!

Nhưng giọng nói của "ông già 75 tuổi" Phạm Văn Liễu bây giờ vẫn còn là của Đại tá Phạm Văn Liễu trên 40 tuổi khi xưa đứng trước hàng quân hay mỗi khi nói chuyện với các Sỹ quan và nhân viên ngành Cảnh sát VNCH. Giọng ông tuy không còn hùng dũng, sang sảng như ngày còn nắm binh quyền nhưng bộ óc minh mẫn và lối nói chuyện hấp dẫn của Tác giả "Trả Ta Sông Núi" vẫn còn đấy.

Ông Liễu đã chứng minh điều này trong buổi ra mắt hai tập Hồi ký của mình ở Trường Lụât, Đại học George Mason hôm 5-10 vừa qua. Mặc dù phải bó thân trong chiếc xe lăn chật hẹp nhưng ông đã nói không ngơi nghỉ hơn một tiếng đồng hồ và còn muốn nói nhiều nữa về những diễn biến lịch sử xung quanh lý do tại sao ông viết hồi ký và trả lời những câu hỏi của cử tọa.

Ông Liễu bảo ông viết hồi ký không phải để khoe tên tuổi hay đề cao cá nhân mà để "Viết lại những lỗi lầm đời mình dài theo dòng lịch sử quốc dân làm món quà cho những người bạn trẻ."

Ông viết trong lời mở đầu Tập I:" Cổ nhân dạy: Dẵm lên sương sớm, nhớ tới muà Đông. Biết đâu, những kinh nghịêm máu và nước mắt đời tôi chẳng giúp vài ba bạn trẻ hằng tâm với đất nước nào đó tránh được những vết xe đổ của người đi trước? Đó là tâm nguỵên duy nhất của người viết."

Ông Liễu có được mãn nguyện hay không thì chỉ có thời gian mới trả lời được. Nhưng những vinh nhục của người lính chiến đấu và người lính cách mạng Phạm Văn Liễu từ năm 1945 cho đến bây giờ vẫn còn nguyên đó. Nó bám lấy ông như hình với bóng để cùng lớn lên với những vết nhăn trên khuôn mặt khắc khổ của một người lính dường như chưa bao giờ biết mỏi mệt.

Ông tự ví mình là người "lúc nào cũng chỉ biết đội trời" nhưng ông đã "vá" được gì chưa thì tôi thiết tưởng Tác giả "Trả Ta Sông Núi" là người biết rõ mình hơn ai hết.

Ông Phạm Văn Liễu có muốn quên đi những vinh nhục của đời mình cũng chẳng dễ gì vì ông là một nhân vật lịch sử. -/-

Phạm Trần (10-03)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chớ Tưởng Rằng: bên trong Trung Quốc đang yên ổn !


Với tiêu đề trên, chuyên mục phân tích của tờ “Thời báo Tài chính” (Anh) số ra mới đây đăng bài viết của tác giả Geoff Dyer, Trưởng đại diện của báo tại Bắc Kinh, nhận định về những thách thức đối nội và đối ngoại mà giới lãnh đạo Trung Quốc đang phải đối mặt và cách nhìn nhận của Trung Quốc về những thách thức này. Dưới đây là nội dung bài viết:

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể được thứ lỗi cho cảm giác hơi hiếu chiến vào thời điểm này. Họ đang phải quay cuồng từ việc trao Giải Nobel Hòa bình cho nhà bất đồng chính kiến đang bị tù đày Lưu Hiểu Ba. Chính sách tỷ giá của họ đang bị các quốc gia giàu có hơn công kích, mà mới đây nhất là Nhật Bản. Và Bắc Kinh cũng đang tự cảm thấy chịu thêm những sức ép mới về tuyên bố chủ quyền của mình tại Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) vốn đã tạo ra những bất ổn tại một số láng giềng châu Á của mình.

Thực tế, cùng một lúc, Trung Quốc đang bị thách thức trong các lĩnh vực trọng tâm của chính sách đối ngoại, chiến lược kinh tế và hệ thống chính trị nội bộ của mình. Điều này xảy ra trong bối cảnh các quan chức Đảng Cộng sản Trung Quốc tập trung tại kỳ họp hàng năm mà tại đó họ phải thông qua các đường lối trong kế hoạch 5 năm tới và giải quyết những vấn đề đặt ra liên quan tới việc chuyển giao thế hệ lãnh đạo kế cận trong hai năm tới. Sự phổ biến của các xung đột khó có khả năng dẫn tới thất bại trong các mối quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, nó cho thấy uy lực của Trung Quốc trong những năm gần đây đã gây ấn tượng sâu sắc tới mức mà các chính phủ trên khắp thế giới, và kể cả bản thân Bắc Kinh, đang phải nỗ lực điều chỉnh.

Đối với giới lãnh đạo Bắc Kinh, căng thẳng đôi khi có vẻ như bắt nguồn từ sự không hài lòng của thế giới phát triển đang bị thoái chí bởi cuộc khủng hoảng tài chính. Vì thế, tại nhiều nước khác nhau, tình hình cũng có vẻ khác nhau – giống như một sự tập hợp của việc cẩn trọng trong nước với sự quá tự tin về ngoại giao đã mang lại những toan tính sai lầm về Bắc Kinh. David Shambaugh, chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc tại Đại học George Washington (Mỹ) nhận định: “Mẫu số chung trong tất cả những tranh cãi mà Trung Quốc đang có với phần còn lại của thế giới chính là chủ nghĩa quốc gia của Trung Quốc kết hợp với cảm giác bất an của Đảng Cộng sản. Hiện cũng có một sự quyết đoán ngày càng gia tăng xuất phát từ cảm giác mạnh mẽ hơn, quyền lực hơn của Trung Quốc”.

Xét trường hợp Giải Nobel Hòa bình của ông Lưu Hiểu Ba. Khi nhà chỉ trích này cùng một nhóm bạn chuẩn bị xuất bản Hiến chương 08 – một tuyên bố ủng hộ dân chủ – cách đây 2 năm, họ cho rằng sẽ phải nhận những hậu quả từ nhà cầm quyền nhưng đã không có gì giống như vậy diễn ra. Chỉ cho tới khi ông Lưu bị bắt vài ngày trước khi công bố bản Hiến chương thì khi đó người ta mới vỡ lẽ ra ông Lưu bị tuyên án tù tới 11 năm vì tội cố gắng lật đổ nhà nước. Thậm chí, một số quan chức chính phủ còn ngạc nhiên vì độ dài thời gian của hình phạt đối với ông Lưu. Ông Lưu thuộc về thế hệ các nhà hoạt động ủng hộ dân chủ đã từng liên quan tới các vụ biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn năm 1989. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng mạnh đã làm lu mờ những bất đồng chính trị, các nhà hoạt động này những năm gần đây đã không thể có được sự ủng hộ rộng khắp của công chúng với những quan điểm của mình.

Tuy nhiên, chính vì việc giam giữ ông Lưu khá dài nên các nhà cầm quyền Trung Quốc đã tạo ra một nguy cơ là ông Lưu sẽ trở thành một biểu tượng cho những người ủng hộ dân chủ, đặc biệt khi giờ đây Giải Nobel Hòa bình đã tạo ra một sự tò mò rất lớn đối với giới trẻ, giới học thức Trung Quốc về Hiến chương 08. Chuyên gia Bo Zhiyue thuộc Đại học Quốc gia Xinhgapo cho rằng với việc Đảng Cộng sản vẫn đang nắm quyền lực thì phản ứng của Bắc Kinh đối với việc đưa ra tuyên ngôn dân chủ là hơi thái quá. Ông Bo Zhiyue nói: “Họ lo sợ rằng Lưu Hiểu Ba sẽ tập hợp một lực lượng quần chúng đông đảo phái sau Hiến chương 08. Vì thế, nếu Lưu Hiểu Ba bị giam giữ càng lâu thì vốn chính trị ông ta tích lũy sẽ được càng lớn và ông ta sẽ có cơ hội lớn hơn để trở thành một biểu tượng của dân chủ”.

Tương tự như vậy, những căng thẳng ngoại giao mới đây tại các vùng biển xung quanh Trung Quốc xét ở một góc độ nào đó cũng chính là do nước này tự gây ra. Vấn đề này trở nên nóng hổi khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates phát biểu trong chuyến công du tới Việt Nam rằng Oasinhtơn có lợi ích mạnh mẽ trong vấn đề an ninh hàng hải tại châu Á. Ông Robert Gates cũng hoàn toàn phản đối quan điểm của Trung Quốc rằng việc các tranh chấp lãnh thổ trong 2 năm qua cần phải được giải quyết thông qua đối thoại song phương với các nước láng giềng. Giới lãnh đạo Trung Quốc hết sức giận dữ trước sự can thiệp của Oasinhtơn vào khu vực mà Trung Quốc coi là sân sau của mình nhưng trên thực tế các hành động của Trung Quốc đã giúp cho Mỹ dễ dàng hơn trong việc can dự vào khu vực này.

Hiện nay, nhiều chính phủ tại khu vực Đông Nam Á đã được cảnh báo về cái mà họ cho là cách theo đuổi hiếu chiến của Trung Quốc đối với tuyên bố chủ quyền tại các quần đảo ở Biển Đông. Nhật Bản hiện vẫn đang “chóng mặt” với xung đột mới đây liên quan tới việc bắt giữ các ngư dân của Trung Quốc ở gần khu vực quần đảo tranh chấp tại Biển Hoa Đông. Giáo sư Shambaugh nhận định: “Trong vòng 12 tháng qua, Trung Quốc đã hủy hoại tất cả những gì mà họ đã đạt được trong 12 năm xung quanh khi vực ngoại giao biên của mình khi xét về các mối quan hệ ngoại giao”. Các quốc gia như Việt Nam và Xinhgapo đã và đang vận động để có sự can dự lớn hơn về hải quân của Mỹ tại khu vực, trong khi sự ủng hộ tại Tôkyô đối với quan điểm liên minh gần gũi hơn với Bắc Kinh – vấn đề nổi lên sau sự thay đổi trong chính phủ năm ngoái – cũng đã lụi tàn.

Vấn đề cũng tương tự trong lĩnh vực tiền tệ và một số người cho rằng giới lãnh đạo Trung Quốc lẽ ra đã có thể giải quyết vấn đề một cách tốt hơn. Dưới sức ép từ Oasinhtơn, nước đang lo ngại về sự thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc, Bắc Kinh đã từ bỏ việc ghìm giá đồng nhân dân tệ (NDT) của mình hồi tháng 6 – nhưng chỉ cho phép đồng NDT tăng giá 0,5% so với đồng USD trong 2 tháng sau đó. Một nhà ngoại giao châu Âu tại Bắc Kinh nhận định: “Họ rất chậm chạp trong việc nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề này trong nền chính trị Mỹ. Nếu như họ để cho đồng NDT tăng giá khoảng 2-3% trong tháng đầu tiên thì các nhà xuất khẩu cũng không bị ảnh hưởng nhiều và cuộc tranh cãi cũng không diễn ra một cách gay gắt như hiện nay”. Sau những áp lực liên tục từ phía Oasinhtơn, đồng NDT đã tăng giá tổng thế là 2,5% kể từ tháng 6/2010.

Tuy nhiên, nếu nhìn từ Trung Quốc, một loạt những tranh cãi gần đây với các nước có một đặc điểm hoàn toàn khác. Đó không chỉ là việc phương tiện truyền thông chính thức của nhà nước đưa tin rằng Giải Nobel chỉ là một hành động cố ý “làm bẽ mặt” Trung Quốc có tính toán từ trước. Một số người dân thường cảm thấy rằng những thành tựu gần đây của đất nước đã không được nước ngoài thừa nhận một cách đầy đủ, và rằng một số chính phủ nước ngoài sẽ vui mừng khi làm chậm quá trình nổi lên của Trung Quốc. Đối với đồng NDT, nhiều khi nhà kinh tế và các quan chức Trung Quốc tin rằng việc nâng giá đồng NDT một cách từ từ nhằm kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tiêu dùng là một lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, cũng tồn tại một quan điểm phổ biến là các nhà chỉ trích chính sách tiền tệ tại Quốc hội Mỹ không sẵn lòng giải quyết vấn đề mà Bắc Kinh coi là nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng tài chính và bất cân bằng toàn cầu – đó là việc quản lý yếu kém trong ngành tài chính và nền kinh tế Mỹ.

Về chính sách đối ngoại, các quan chức Trung Quốc cho rằng chính Oasinhtơn chứ không phải Bắc Kinh là nước gây hấn ở Biển Đông. Tướng Quan Hữu Phi trong một cuộc trả lời phỏng vấn nói: “Tình hình an ninh tại Biển Đông rất ổn định. Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng có một số quốc gia không tuyên bố chủ quyền đang cố gắng đóng một vai trò lớn hơn tại đây. Tại sao lại vậy? Chúng tôi không thể hiểu nổi!”. Nhìn một cách bao quát hơn, một số chuyên gia chính sách đối ngoại tin rằng vòng va chạm mới được bắt nguồn từ sự miễn cưỡng của Mỹ trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chuyên gia Jin Canrong tại Đại học Nhân dân ở Bắc Kinh nói: “Nếu Mỹ đối xử với Trung Quốc một cách công bằng thì Mỹ sẽ có thể giao thiệp với một nước Trung Quốc đang lên và đối xử như một đối tác. Nếu không, Mỹ sẽ phải giao thiệp với một Trung Quốc giận dữ hơn, và điều này không có lợi cho Mỹ”.

Một điều tình cờ là các kế hoạch cải cách của Trung Quốc có thể sẽ giúp giải quyết những căng thẳng vốn nằm ở tận gốc rễ trong một só xung đột này. Kế hoạch 5 năm tới, dự kiến công bố đầu năm 2011, được hy vọng là sẽ đem lại một bước thúc đẩy mới đối với việc tái cân bằng kinh tế của Trung Quốc – chuyển từ kinh tế nội địa sang các khu vực duyên hải giàu có, giảm hố ngăn cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa nông thôn. Một chiến lược như vậy sẽ giúp tăng cường nhu cầu của người tiêu dùng và giảm một số nguyên nhân về mặt cấu trúc của thặng dư thương mại lớn trong những năm qua. Đồng thời, Thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng đã tuyên bố gần đây rằng đã đến lúc cần thiết phải thúc đẩy cải tổ chính trị. Ông Ôn Gia Bảo phát biểu với CNN rằng “khao khát dân chủ và tự do là không thể cưỡng lại được”. Giải Nobel Hòa bình được trao cho ông Lưu Hiểu Ba cũng là nhằm gây áp lực để Bắc Kinh thúc đẩy các công cuộc cải tổ như vậy. Một nhóm các quan chức cao cấp đã nghỉ hưu cũng gia tăng thêm áp lực khi công bố một lá thư kêu gọi chấm dứt việc kiểm duyệt truyền thông đại chúng.

Tuy nhiên, những nỗ lực đó thành công tới đâu vẫn là điều chưa rõ ràng. Thậm chí nếu như ông Ôn Gia Bảo thực sự đặt toàn bộ sức lực của mình vào công cuộc cải tổ chính trị – vốn đang gây ra những xung đột – thì ông sẽ phải đối mặt với một sự phản đối mạnh mẽ từ các nhà lãnh đạo cao cấp khác. Trong khi đó, nhiều ưu tiên khác trong kế hoạch 5 năm tới, chẳng hạn như cải cách hệ thống đăng ký lưu trú cho công nhân tại vùng ngoại ô, dù đã được thúc đẩy rộng khắp trong những năm gần đây nhưng tới nay vẫn chưa mang lại nhiều kết quả. Các ý tưởng thường được thảo luận rộng rãi nhưng ý chí chính trị để thúc đẩy nó thì lại không đủ. Khi cuộc chạy đua cho việc chuyển giao lãnh đạo vào năm 2012-2013 ngày càng tăng tốc, sự cám dỗ sẽ dành cho những nhà lãnh đạo biết hoãn lại những cải cách khó khăn và xuất hiện một cách cứng rắn trước sức ép từ bên ngoài. Nếu điều này xảy ra, làn sóng những tranh chấp quốc tế giống như trong thời gian vừa qua sẽ không phải là làn sóng cuối cùng./.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Lỡ Một Chuyến Tàu
Tưởng Năng Tiến
Cả dân tộc bước ra biển lớn.
(Nguyễn Tấn Dũng)

Tôi rất ngại chuyện đánh răng, rửa mặt. Tắm, gội, giặt giũ – tất nhiên – cũng không lấy gì làm hào hứng lắm. Kẻ xấu miệng nói như vậy là ăn dơ, ở bẩn, người biết chuyện thì giải thích rằng tại tôi không phải mạng Thủy nên sợ nước. Riêng tôi, đôi lúc, lại trộm nghĩ rằng đây là nỗi sợ chung củaquốc dân đồng bào chứ chả riêng ai. Coi:

Tắm thì ra sông, ra ao. Người già không thể bơi lội được thì ở nhà, lấy nước ở bể nước mà con cháu gánh về, dội ít gáo… Rửa mặt thì có khăn cũng được, không thì dùng bàn tay mà rửa, rồi vuốt một cái. Rửa chân thì rửa bùn đất ở ao hay nước cạnh bếp, đợi một lát cho khô khi bước lên giường thì ngồi buông thõng chân xuống, xoa vào nhau cho hết bụi cát, là rửa chân cạn. Đánh răng là chuyện không thấy ai nói đến. (Lê Văn Siêu. Truyền thống dân tộc. Trang 127& 128).

Khỏi đánh răng luôn, cho nó đỡ phiền, là chuyện cũng… bình thường thôi nhưng rửa chân bằng cách “xoa xoa vào nhau cho hết bụi cát” thì quả là vô cùng giản tiện. Những bộ tộc sống trong vùng sa mạc Sahara (như Tubu, Nubians, Zaghawa, Kanuri, Peul hay Fulani, Hausa và Songhai) nếu biết được tục lệ “rửa chân cạn” lạ lùng và độc đáo này – chắc chắc – sẽ đều phải thích thú gật gù tán thưởng, và chân thành tỏ lòng ngưỡng mộ. Nhiều ông, nhiều bà dám còn ước mơ (qua đêm) bỗng biến luôn được thành người Việt – cho nó khoẻ!

Đó là mới nói (sơ) về sự e dè trong “truyền thống dân tộc” đối với nước ở ly, ở lu, ở gáo, ở chậu, ở khạp, ở ao, hay ở giếng – cạnh nhà. Đối với nước ở thác, ở ghềnh, ở sông, ở suối, ở hồ, ở biển… thì người Việt còn ngần ngại hơn nhiều:

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm!

Nghe mà thất kinh. Dù chưa bao giờ qua cửa Thần Phù, và dù không phải là thầy bói, tôi vẫn đoán chắc rằng ghe thuyền mà “lênh đênh” ngang đây thì nhang khói bốc lên (chu cha) dám tới… thấu trời xanh!

“Chỗ này chắc tà ma dữ lắm à nha?”

“Làm gì có, cha nội. Cửa Thần Phù – thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình – là chỗ sông Chính Đại đổ ra vịnh Bắc Bộ. Chưa bao giờ nghe ai nói tới ma qủi hoặc thủy quái gì hết trơn hết trọi.”

“Vậy cớ chi mà phải hương khói (mịt mù) như vậy?”

“Chắc tại thấp thoáng thấy biển nên lật đật nhang đèn cầu cạnh, van nài, xin xỏ, lễ bái, khấn vái (tùm lum) cho nó chắc ăn – vậy thôi. Có kiêng có lành chớ bộ.”

“Ôi, mà đó là chuyện hồi xa lắc xa lơ kìa. Đến cuối đời Lê, cửa sông Thần Phù đã bị bồi lấp và trở thành đất liền. Tuy vẫn còn bị ‘ám ảnh’ bởi hai câu ca dao vừa dẫn nhưng thái độ của mọi người, đối với nước nôi, chắc cũng đã khác (xưa) nhiều rồi – đúng không?”

“Không dám khác đâu. Nghe thử hai câu ca dao (tân thời) này là biết liền hà:

Mấy ngàn cây số biển xanh
Mà sao thiếu muối cho canh hàng ngày!

Và nếu ai không tin tưởng vào giá trị của văn học truyền khẩu, muốn có chứng cớ “bác học” hơn, xin hãy nghe nhận xét sau đây của ông Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (“đương đại”) Dương Trung Quốc:

Chợt nghĩ lại mà giật mình, với một quốc gia nằm trải dài trên biển cả, ngay trên một tuyến đường hàng hải truyền thống nối từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, mà dấu tích của những con tàu đắm và các cuộc khai quật khảo cổ học đáy biển gần đây là một minh chứng, mà dường như dân tộc ta đã từng là một dân tộc… sợ biển.
…

Đến mức mà một quốc gia có bờ biển dài rộng với tất cả các đô thị lớn đều nằm dọc kề bờ biển mà sau ngày thống nhất (1976) chúng ta cố đưa vào vận hành một con tàu khách hiện đại nối Hải Phòng với Thành phố HCM mà chẳng bao lâu sau, mọi người lại lội lên bờ mà đi ô tô, tàu hỏa hay sang hơn là máy bay…”

Như thế (nếu nói nói theo Khoa Tử Vi Tập Thể) dân tộc Việt thuộc mạng Mộc, mạng Kim, mạng Hoả, hay mạng Thổ (tả)… gì đó – chứ dứt khoát không phải là mạng Thủy. Vận mạng này, đã có lúc (suýt) được thay đổi bởi mệnh lệnh của một vị lãnh đạo đất nước – khi ngài nghiêm giọng hô to:

“Cả dân tộc hãy bước ra biển lớn!”

Nói thiệt: nghe mà (mừng) muốn rớt nước mắt luôn.

Ở xứ sở này, cách đây chưa lâu, hễ lò dò ra biển là bị bắn bỏ tức thì. Nếu không lãnh đạn thì cũng lãnh tù. Còn nếu may mắn mà bỏ (được) của chạy lấy người thì sẽ bị Đảng và Nhà nước ném theo (tới tấp) những lời chửi rủa tàn tệ và thô tục: đồ thành phần cặn bã, đĩ điếm, trộm cướp, ôm chân đế quốc, chạy theo bơ thừa sữa cặn, trây lười lao động, phản bộ tổ quốc…

Nay, tự nhiên, dân chúng (lại) được Thủ tướng cho phép “bước ra biển lớn”. Như vậy, kể như, là được giải phóng (thiệt) rồi. Từ đây, theo dự kiến, toàn dân sẽ được tự do di chuyển cứ y như ở xứ Angola và xứ Bồ Đào – nơi mà mọi người đều được “đi vào đi ra” (hoàn toàn) thoải mái. Miễn có cái vụ săn đuổi, giết hại, bắt bớ, giam cầm, đầy ải, hay vu cáo và rủa xả… tùm lum – như hồi đó nữa.

Thiệt là quá đã, má ơi!
Ông Nguyễn Tấn Dũng, rõ ràng, đã đáp ứng được sự khát khao (bị đè nén hơn nửa thế kỷ nay) của cả dân tộc Việt. Nói tình ngay, ai mà không ước ao được nhìn thấy xem cuộc sống của nhân loại (thật sự) ra sao – bên ngoài bức màn sắt. Do đó, diễn đàn Vươn ra biển lớn được hưởng ứng nồng nhiệt chưa từng thấy:

Kể từ ngày 13-12-2006, khi Tuổi Trẻ bắt đầu diễn đàn ‘Vươn ra biển lớn’ từ bài viết khởi động của nhà sử học Dương Trung Quốc (‘Đừng bỏ qua cơ hội lớn’), đến nay diễn đàn đã đăng liên tục 43 số báo, với trên 60 bài viết trong số trên 500 bài viết nhận được từ bạn đọc. Không chỉ bạn đọc ở mọi miền đất nước với mọi giới, mọi lứa tuổi, điều bất ngờ là diễn đàn nhận được rất nhiều email của bạn đọc đang sinh sống, học tập, làm việc ở nước ngoài mà lúc nào tấm lòng cũng hướng về Tổ quốc mình.”

Ngoài những bài viết đã được chọn đăng trên Tuổi Trẻ mà ở đó các tác giả đã thể hiện trăn trở và tâm huyết với nước nhà trước vận hội mới, những bài viết chưa được chọn đăng cũng bày tỏ nhiều quay quắt, băn khoăn cùng với những hiến kế táo bạo trong nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, giáo dục, nhân lực đến cải cách hành chính, hợp tác quốc tế… với mục tiêu duy nhất: mỗi người là một tay chèo, quyết đưa con tàu đất nước ra biển lớn…

Con tầu đất nước, tiếc thay, “chưa rời bến được bao xa… đã chìm xuống biển” – theo như cách nói chua chát và ví von (Từ Titanic tới Vinashin – những cơn ác mộng kinh hoàng đến những cú lừa thế kỷ) của tác giả Nguyễn Trung:

Ngày 15 tháng 5 năm 2006, Vinashin khởi hành chuyến đi đầu tiên từ Văn phòng của Thủ tướng với quyết định 103/QĐ- TTg và cái đích đến là 10% thị phần đóng tàu biển của thế giới… Sau bốn năm hành trình và chưa rời bến được bao xa thì Vinashin đã chìm xuống biển sâu… dù vụ đắm tàu Vinashin không cướp đi những mạng người, nhưng cơn ác mộng của nó gây ra không phải là nhỏ. Hàng chục ngàn người mất việc. Nhiều công ty bị đẩy đến bờ vực phá sản hay chìm ngập trong nợ nần vì hùn hạp làm ăn với Vinashin, vì nhận thầu của Vinashin. Nhiều gia đình, mà trong có nhiều người về hưu, thương bệnh binh lâm vào sự khó khăn túng quẫn vì đã lỡ cho Vinashin vay mà không đòi được tiền.

Dư luận, trong cũng như ngoài nước – xem ra – đều có vẻ đồng thuận với nhận xét khắt khe, thượng dẫn. Theo phân tích của blogger Đào Tuấn, Vinashin chỉ là một cái bánh vẽ. Còn theo tuần báo Trẻ – phát hành từ Dallas, Texas – cái gọi là Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, thiệt ra, đúng là một “cái máy rửa tiền”.

Sự thực, hy vọng, không đến nỗi tàn nhẫn và phũ phàng đến thế. Ai lại có thể nhẫn tâm đem buôn lòng tin, và niềm hy vọng, của cả một dân tộc (vốn đã khốn cùng) như vậy chớ? Dù vậy, khó ai mà chối cãi được rằng đất nước lại vừa lỡ thêm một chuyến tầu (đời) nữa!

Ông Thủ tướng không tái xuất hiện để giải thích về chuyện lỡ tầu, và số tiền phải trả cho cái cái vé (đã lỡ mua) mắc tới mấy tỉ Mỹ kim này. Chỉ thấy một ông Phó Thủ tướng bước ra sân khấu, và hứa (đại) rằng: “Quyết tâm năm 2015 sẽ có một Vinashin mới.”

Ổng còn long trọng tuyên bố rằng đích thân “sẽ phụ trách Ban Chỉ đạo thực hiện việc tái cơ cấu toàn diện Vanishin. Ban này còn có sự tham gia của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và gồm một số Bộ trưởng, cùng với lãnh đạo một số Ban của Đảng.”

Ý, trời đất, qủi thần ơi! Ông Nguyễn Sinh Hùng nói chuyện nghe (sao) giống như một người mới từ trên Trời rớt xuống quá hà. Coi: chớ trước nay Vinashin có hoạt động mình ên bao giờ? Đâu khi nào mà không có sự tham gia và chỉ đạo của Đảng bộ (Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam) mà ông Phạm Thanh Bình là Bí thư Đảng uỷ chớ ai.

Chuyện đổi mới Vinashin cũng đâu phải mới mẻ gì. Theo Tạp chí Xây Dựng Đảng – nó đã được “đổi mới, sắp xếp lại tổ chức và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp” từ hồi đầu năm 2007 lận:

Từ đó đã phát huy vai trò của Đảng ủy Vinashin trong việc chỉ đạo các tổ chức đảng trực thuộc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nghị quyết và các văn bản chỉ đạo của Ngành, lãnh đạo đơn vị thực hiện nhiệm vụ sản xuất-kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật thực hiện Đề án phát triển Ngành Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực và mở rộng thị trường… Tổ chức đảng ở các đơn vị thành viên từ chỗ có 35 TCCSĐ (khi thành lập Đảng bộ Vinashin), đến cuối năm 2006 đã phát triển thành 68 TCCSĐ với hơn 3.200 đảng viên. Các tổ chức đảng phát huy vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của Đảng ủy Vinashin nhất là những chủ trương, chính sách về đổi mới, sắp xếp lại tổ chức và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Năm năm sau, ông Phó Thủ tướng lại nhắc (lại) “chủ trương, chính sách về đổi mới, sắp xếp lại tổ chức và nâng cao hiệu quả”của Vinashin, và hứa hẹn rằng năm năm sau nữa – năm 2015 – sẽ có… một Vinashin mới!

Chèng ơi! Sao cứ “năm năm” hoài vậy, cha nội?

Thì cũng hỏi cho nó ra lẽ vậy thôi, chớ mạng tui kỵ nước (thấy rõ) đâu có mặn mà ham hố gì chuyện xuống tầu, vươn ra biển lớn. Còn cả dân tộc Việt thì không biết là mạng Kim, mạng Hoả, hay mạng Thổ (tả) gì đó mà cứ bị cái đám đầu trộm đuôi cướp móc túi và xí gạt hoài à!

Tưởng Năng Tiến

Post Reply