Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Đọc bộ hồi ký ‘Thời Đại Của Tôi’ của Giáo sư Vũ Quốc Thúc
Thursday, November 11, 2010

Phạm Xuân Đài
Trong năm 2010 này, nhà xuất bản Người Việt đã phát hành một lúc hai tác phẩm mang tên chung là Thời Đại Của Tôi của giáo sư Vũ Quốc Thúc, cuốn I có tên riêng là Nhìn Lại 100 Năm Lịch Sử, cuốn II là Đời Tôi Trải Qua Các Thời Biến.

Cuốn thứ nhất, Nhìn Lại 100 Năm Lịch Sử, dày hơn 400 trang hẳn nhiên là một cuốn sách về lịch sử, nhưng được tác giả khẳng định không phải là một thiên khảo luận về lịch sử Việt Nam, cũng không phải là một luận đề về chính trị hay xã hội học, mà chỉ là một bản tóm lược những điều mà tác giả thâu thái được trong khi cố gắng tìm hiểu về thời đại của mình. Không kể phần Phụ Lục, sách chia ra làm năm hồi: Hồi thứ nhất: Việt Nam dưới chế độ thuộc Pháp; hồi thứ hai: Việt Nam trong cuộc thế chiến 1939- 1945; hồi thứ ba: Việt Nam tranh đấu giành lại độc lập; hồi thứ tư: Việt Nam trong cảnh qua phân lãnh thổ; hồi thứ năm: Việt Nam tái thống nhất dưới chế độ Cộng sản. Trong mỗi hồi, tác giả chia ra từng giai đoạn hay từng vấn đề để xem xét riêng rẽ, trong mục đích, như tác giả khẳng định từ đầu, là để cố gắng tìm hiểu thời đại của mình. Đó là những đề tài tác giả khai triển lịch sử phần nào theo cái nhìn riêng, cốt để nhấn mạnh đặc tính của giai đoạn đó mà không bị bóp méo đi như một số tài liệu khác.
Image
Hai tập hồi ký của GS Vũ Quốc Thúc. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Nhìn chung, cuốn thứ nhất chính là cái khung thời gian và không gian cần thiết phải được giới thiệu trước để chuẩn bị cho cuốn sau trong đó tác giả kể những sự việc của đời mình qua từng giai đoạn. Đây là công việc phần nào mang đặc tính của một nhà giáo, rất sư phạm: đó là, trước khi kể chuyện đời mình, tác giả đã vẽ ra trước cho độc giả thấy cái bối cảnh rộng lớn làm nền cho cả tấn kịch đời của tác giả sẽ được kể trong cuốn II. Sự chuẩn bị đó rất cần thiết, có lẽ tác giả nhắm cho các thế hệ độc giả mai sau để hiểu được câu chuyện sẽ được kể trong từng giai đoạn lịch sử tương ứng với tất cả đặc điểm của nó.

Cuốn thứ hai với tên gọi Đời Tôi Trải Qua Các Thời Biến thì đích thực là một cuốn hồi ký. Về cái tên chung Thời Đại Của Tôi, theo tác giả là để xác định ranh giới cho cuốn sách, rằng đây là một cái gì “của tôi” chứ không phải là một cuốn lịch sử, đòi hỏi một quá trình làm việc rất khoa học và phiền toái của một sử gia. Trái lại tác giả chỉ chú trọng vào những phản ứng về mặt tâm lý và tinh thần mà các biến cố lịch sử gây ra trong tâm khảm của mình. Khoảng thời gian mà tác giả gọi là “Thời đại của tôi” để nhìn lại và suy ngẫm được ấn định là 90 năm, kể từ khi tác giả được sinh ra năm 1920 cho đến năm nay 2010, khi tác giả viết những dòng cuối cho cuốn sách này.

Cuốn sách cũng được chia làm năm hồi. Hồi thứ nhất: trước khi Thế chiến II (1939- 1945) bùng nổ; hồi thứ hai: từ tháng 9 năm 1939, tức thời điểm xảy ra cuộc thế giới chiến tranh thứ 2, cho tới cuộc đảo chánh ngày 9 tháng 3 năm 1945 ở Việt Nam, ngày Nhật đảo chánh Pháp; hồi thứ ba: từ 9 tháng 3, 1945 tới hiệp định Genève ngày 20.7.1954, chia đôi đất nước Việt Nam; hồi thứ tư: từ tháng 7.1954 tới 30.4.1975, Việt Nam tái thống nhất do sự xâm chiếm của chế độ Cộng sản Việt Nam; hồi thứ năm: Từ tháng 4, 1975 tới nay.

Đọc hết năm hồi này qua 700 trang sách, cảm tưởng đầu tiên của người đọc phải là ngạc nhiên về trí nhớ phi thường của tác giả. Ông bắt đầu viết thiên hồi ý này khá trễ, vào năm 1996 là lúc ông đã 76 tuổi, thế mà ông kể lại tường tận tỉ mỉ từ chuyện xa nhất như môi trường gia đình của ông từ ngày ông sinh ra, đến việc học hành, thi cử, ra đời làm việc, những biến cố trong đời..., không phải chỉ việc riêng của cá nhân ông, mà luôn luôn đầy những nối kết với xã hội, với môi trường thời đại, với vô số nhân vật đương thời. Đúng là những trang sách của ông đã tạo nên bức bích họa của thời đại ông, dù là thời ông còn nhỏ, hay thời kháng chiến của Việt Minh, lúc đi thi tiến sĩ và thạc sĩ bên Pháp, hoặc thời giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam, hay quãng đời sau 1975 đi tị nạn bên Pháp. Giai đoạn nào ông viết cũng đâu ra đấy, sự việc nào cũng đầy đủ đầu đuôi gốc ngọn, chuyện cá nhân và chuyện thời đại xen kẽ, đan kết nhau, bổ túc cho nhau để làm nên một bức tranh hoàn chỉnh.

Đây không phải là những trang hồi ký để đề cao cái ta của tác giả, không, người đọc tuyệt nhiên không nhận thấy điều ấy, mà càng đọc càng say sưa vì các chi tiết sống động của xã hội đương thời mang đầy sinh khí cho mọi câu chuyện được kể. Đọc ông, người ta thấy rõ cái tinh thần đại học được thể hiện ở từng trang: uyên bác, tôn trọng sự thật đến tối đa, cộng với tài kể chuyện duyên dáng mà thành thật, khiến cho người đọc dễ dàng cảm thấy một niềm tin cậy, khiến cái ông gọi là “thời đại của tôi” biến thành “thời đại của chúng ta” lúc nào không hay. Biến cái riêng của mình thành cái chung của mọi người, đó là sự lớn lao của cuốn hồi ký này. Lời kể của ông đã phản ảnh cả một thời đại trong đó cuộc đời ông đã trải qua, đó cũng là thời đại chứa đựng cuộc đời của hầu hết chúng ta hôm nay, đọc ông chúng ta sẽ đồng cảm với ông, và sẽ thầm cám ơn ông đã nói hộ cho chúng ta vô số điều mà ta không đủ điều kiện để biết hết.

Trước hết cuốn hồi ký này đã cống hiến cho người đọc rất nhiều tư liệu về văn hóa Việt Nam. Chỉ nội một chương đầu tiên, có tên là Môi Trường Gia Đình, chúng ta được biết nhiều điều về thành phố Nam Định từ cổ truyền cho đến khi thuộc Pháp, sự buôn bán làm ăn ở đó, cư dân và truyền thống văn học khoa cử của đất thành Nam v.v...; từ thông tin gia đình ông vốn trước kia họ Phạm, từ thế kỷ 17 đổi sang họ Vũ, chúng ta được đọc hầu như cả một thiên khảo cứu về việc đổi họ ở nước ta; từ một chi tiết “truyền thống thờ tổ tiên của gia đình tôi” chúng ta được biết buổi lễ học vỡ lòng cuốn Tam Tự Kinh của tác giả đã xảy ra như thế nào, tinh thần Nho giáo “quỷ thần kính nhi viễn chi” đã khiến thân phụ của tác giả thờ ơ đối với mọi tôn giáo khác mà chỉ coi việc thờ cùng tổ tiên là vô cùng hệ trọng ra sao. Với cung cách nghiên cứu đại học, hầu như bất cứ việc nhỏ nhặt nào cũng được tác giả trình bày đến tận nguyên ủy. Chỉ riêng về khía cạnh văn hóa, độc giả có thể học từ cuốn sách này vô số điều.

Giáo sư Vũ Quốc Thúc, là một nhà khoa bảng lớn của Việt Nam, ông đã đậu Tiến sĩ Luật và Thạc sĩ Đại học Kinh tế tại Pháp. Cuốn hồi ký đã cho thấy truyền thống học vấn sâu dày của tổ tiên đã ảnh hưởng đến sự thông minh, tính kiên trì nhẫn nại cùng ý chí học hỏi nơi ông lớn lao ra sao. Nhưng điều đáng phục nơi ông là khả năng “tri hành hợp nhất” mà ông đã thi thố với đời, đem kiến thức khoa bảng vào việc xây dựng cho đất nước Việt Nam. Chương 5, kể chuyện tác giả về dạy ở trường Luật Hà Nội năm 1951 là một chương đầy thú vị, cho thấy sự “quật khởi” của một trí thức trẻ Việt Nam trước tinh thần thực dân của những ông khoa bảng Pháp. Tác giả, với học vị, với tinh thần sòng phẳng trong Thỏa Hiệp Văn Hóa mới ký kết giữa Pháp và Việt Nam, đã cứng cỏi dẹp tan những lấn lướt cố hữu của người Pháp, từ việc giữ vững vị trí Giám Đốc trường Luật Hà Nội của mình đến việc tranh đấu về lương bổng bình đẳng giữa giáo sư người Pháp và người Việt.

Về sau, trong những năm đầu đầy khó khăn của chính quyền Ngô Đình Diệm ông đã thành công trong công tác thảo luận rất gay go với Pháp và hai nước Cam Bốt và Lào để giải tỏa các định chế cũ trong gần một thế kỷ cai trị của người Pháp ở Đông Dương, để thiết lập Viện Phát Hành tiền tệ, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Viện Hối Đoái cho Việt Nam. Hình ảnh của ông đúng là một con người “kinh bang tế thế” mà chúng ta vẫn nghe thấy trong văn chương, và ông hoàn toàn xứng đáng với lời của TT Ngô Đình Diệm ngợi khen ông là một người “thao lược”, sau khi ông thành công trong công tác khó khăn này.

Sau tháng 4, 1975, tác giả đã trải qua những ngày bất an, thậm chí có thời gian ngắn bị bắt giam vì dự tính vượt biên. Cộng sản tiếp thu trường Luật, và trường Luật bị đổi thành trường Kinh tế. Chế độ toàn trị không cần tinh thần luật pháp cho xã hội, vì tinh thần ấy dựa trên những ý niệm căn bản về con người như chủ quyền cá nhân, sự bình đẳng, công bằng v.v... Những nguyên lý có tính vĩnh cữu như thế đã tạo ra những đạo luật tồn tại hàng thế kỷ trước đây, nay hoàn toàn không có giá trị đối với đảng cộng sản. Luật của họ dựa trên những nguyên lý khác, chỉ do đảng đặt ra, họ chỉ cần đào tạo một lớp người để thi hành và giữ gìn luật của riêng họ, không cần có một trường luật với môn luật học dựa trên những đặc tính bền vững của con người và xã hội con người. Hai mươi năm trước giáo sư Nguyễn Mạnh Tường ở miền Bắc đã nhân danh luật pháp lên tiếng về việc đấu tố trong cải cách ruộng đất, đã bị đảng triệt hạ, trừng phạt một cách thê thảm. Và nay, khi cộng sản tiếp thu trường Luật ở Sài Gòn, việc đầu tiên là họ cho nghỉ việc bốn giáo sư, trong đó có giáo sư Vũ Quốc Thúc.

Tuy nghỉ việc nhưng vẫn phải theo Khóa Nghiên cứu lý luận Mác Lê nin, và trong khóa này giáo sư Vũ Quốc Thúc đã một lần đụng độ về lý luận với một giảng viên từ ngoài Bắc vào, một hành động thời đó được coi là dũng cảm không ai dám làm, được nhiều người trong giới xem là “bảo vệ danh dự của trí thức miền Nam”. Kể lại chuyện này, tác giả cũng ý thức được sự nguy hiểm khi để lộ ra bất cứ sự bất đồng ý kiến nào với một chế độ độc tài, và biết rằng để sống yên trong một chế độ như thế, con người phải nghĩ một đằng nhưng nói một nẻo.

Phải nhận rằng tác giả có một số mạng rất may mắn. Dù là phải trải qua đủ thứ chế độ trên đất nước Việt Nam, mà sau hết là chế độ cộng sản đầy tệ hại, nhưng cuối cùng ông cũng thoát ra để tới được nơi an toàn. Chỉ ba năm sau 1975 ông đã được cùng gia đình xuất cảnh sang Pháp, do lời thỉnh cầu của chính Thủ tướng Pháp thời đó với ông Phạm Văn Đồng khi ông này sang thăm nước Pháp với tư cách là Thủ tướng Việt Nam. Qua đến Pháp giáo sư Vũ Quốc Thúc đã được bổ nhiệm dạy môn Kinh tế ngay tại đại học Paris 12, làm đúng nghề sở trường của mình, không phải vất vả tìm kiếm việc làm khác. Qua thập niên 1980 ông lại bắt tay vào một số hoạt động để bênh vực cho thuyền nhân, và đặc biệt là cuộc vận động để vãn hồi Hiệp định Paris ký năm 1973, trong đó có sự tham gia của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và nhiều nhân vật của Việt Nam Cộng Hòa. Năm 2000 ông tham gia việc công bố Hiến chương 2000 tại Paris. Và những trang chót của cuốn sách này ông đã dành để nói về việc vận động cho Việt Nam được hưởng quy chế Trung lập theo quốc tế công pháp. Tác giả Vũ Quốc Thúc kết thúc cuốn sách vào tháng 6 năm 2010, khi ở tuổi 90.

Như tác giả đã cho biết từ đầu, gia đình ông chỉ thờ cúng ông bà chứ không theo tôn giáo nào. Lúc trẻ, khi đứng trước trước các khó khăn bất trắc, có khi ông đi coi bói. Ông đã kể lần đi coi bói tại Paris (và sau đó nhiều lần coi bói khác nữa) khi ông sang dự kỳ thi Thạc sĩ vào năm 1952, một bà đầm già tám mươi tuổi đã nhìn vào một quả cầu thủy tinh và mô tả cho ông những hình ảnh bà đã thấy trong quả cầu ấy. Bà ấy không khẳng định ông thi đậu hay rớt mà chỉ cho thấy hình ảnh của một buổi tiếp tân vui vẻ vào sau lễ Giáng Sinh năm ấy. Kết quả là ông đã thi đậu thạc sĩ và khi về đến Sài Gòn ông khoa trưởng trường Luật Khérian đã mở một buổi tiếp tân để chào mừng ông vào ngày đầu năm 1953, đúng như hình ảnh bà đầm mô tả. Ông đã trải qua nhiều trường hợp linh nghiệm trong bói toán, và ông suy ra rằng “quả thật trong đời có những yếu tố siêu hình chúng ta không thể xét đoán với con mắt trần tục (...) tuy nhiên có người nhìn được, Trời ban cho họ khả năng nhìn thấy những cái đó.”

Khuynh hướng dựa vào yếu tố siêu hình về sau đã trở nên mạnh hơn nơi tác giả khi nghịch cảnh trở nên quá nặng nề trong giai đoạn sống với cộng sản sau 1975: ông đã gần như dựa hẳn vào tôn giáo. Nhưng đó chưa phải là tín ngưỡng đích thực, mà chỉ là sự tìm kiếm, cầu xin một lối thoát giữa hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống: “Hằng ngày mặc dù không phải tín đồ Thiên Chúa Giáo, tôi đã đến nhà thờ Đức Bà. Tôi cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ xin Đức Mẹ run rủi cho gia đình tôi được thoát khỏi Việt Nam toàn vẹn.” Một lần nữa, tác giả lại “cầu được ước thấy”, rốt cuộc ông và gia đình đã được đi tị nạn bên Pháp. Từ việc tin vào bói toán, đến cầu xin một hình tượng tôn giáo để nhất thời tìm giải pháp cho những khó khăn của mình, những việc ấy chứng tỏ nơi tác giả có một tiềm năng tín ngưỡng, nhưng chỉ phát lộ ra dần dần từ thấp đến cao qua những lần dựa vào đó để mong tìm lối thoát cho những bế tắc cụ thể trong đời.
*
Cuốn hồi ký này đã cống hiến cho chúng ta hình ảnh một nhà trí thức luôn luôn tích cực với đất nước. Giáo sư Vũ Quốc Thúc là người học rộng, khoa bảng cao, điều đó ai cũng biết, nhưng ông xứng đáng với danh xưng là Trí Thức vì lúc nào ông cũng vận dụng hiểu biết của ông để làm những điều ích lợi cho quốc gia, lúc nào ông cũng dấn thân hết mình vào từng giai đoạn cụ thể của thời đại ông, không những đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của thời điểm đó, mà còn có khả năng nhìn vượt thời đại của mình để mưu cầu sự tốt đẹp cho một Việt Nam trong tương lai. Viết kể lại những hoạt động của đời ông là một việc cần thiết mà ông nên làm và đã làm, nhưng mặt khác, đọc kỹ những gì ông viết lại là điều cần thiết hơn đối với chúng ta hôm nay và cả con cháu của chúng ta mai sau nữa.

PXĐ
Tháng 11, 2010

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Bùn đỏ Nguyễn Tấn Dũng

Ngô Nhân Dụng
Trong tiếng Việt, mai mốt nếu quen dùng, sẽ có thứ bùn gọi tên là Bùn Ðỏ Nguyễn Tấn Dũng. Cũng giống một từ người Pháp đã đặt ra trong ngô ngữ của họ, Vespasienne. Danh từ này là do tên Vespasianus, một hoàng đế La Mã (từ năm 69 đến năm 79).

Vespasienne, nghĩa là chỗ đi tiểu công cộng. Hoàng đế Vespasianus đã có sáng kiến đặt những cái chum ở bên đường cho người qua lại lấy chỗ đi tiểu. Khi còn làm chức “aedile,” giống như cảnh sát trưởng đô thành ngày nay, ông đã bị Hoàng đế Caligula trừng phạt vì để cho kinh đô đế quốc, với hàng triệu dân vào thời đó, thiếu vệ sinh. Hình phạt được thi hành là lột chiếc áo khoác (toga) của ông ta, đem ngâm áo vào những xú uế ngập ngụa trên đường phố (sau đó có bắt ông ta mặc áo lại hay ngay không, sách không nói rõ)! Các sử gia kể đường phố La Mã 2000 năm trước rất nhơ nhớp, vì nhiều nhà đem thùng vệ sinh đổ ngay ra mặt đường. Nếu bây giờ quý du khách đi trên các con phố cổ thấy những tảng đá dọc theo đường, đó chính là để cho nhân dân có chỗ đặt chân tương đối sạch sẽ!

Các nhà nguyên ngữ học cho là sở dĩ tên tuổi Vespasianus được nhắc nhở đến bây giờ trong tiếng Pháp Vespasienne là vì ông còn buộc ai sử dụng cái chum của hoàng đế phải trả hai đồng xu, không kể dùng lâu hay mau! Và sau đó, còn có thể thêm sáng kiến kiếm tiền khi sai bán những thùng nước phế thải cho nông dân ngoại thành làm phân bón. Chính vì thế mà tên Hoàng đế Vespasianus đã lưu danh thiên cổ, nói cách khác là lưu xú vạn niên!

Bây giờ, ở Việt Nam khi nghe tin có cơn lũ bùn đỏ ở Hà Giang, người ta chợt nghĩ đến ông Nguyễn Tấn Dũng, đặt tên loại bùn này là Bùn Ðỏ Nguyễn Tấn Dũng. Trước đây, mọi người đã biết có bôxit trong các tầng đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng và Lạng Sơn. Ngày 5 tháng 11, một cơn lũ bùn đỏ tràn xuống xóm Nà Kéo, xã Duyệt Trung, thị xã Cao Bằng. Dân trở tay không kịp, nhiều nhà cửa, súc vật “bị bùn đỏ nuốt chửng” theo lời báo chí trong nước. Dọc hai bên bờ suối dài khoảng 2 km, toàn là bùn đỏ. Bộ máy thông tin của nhà nước xã hội chủ nghĩa giải thích nguyên nhân là đập chắn nước thải rửa quặng của xí nghiệp khai thác quặng sắt Nà Lũng bị vỡ nên gây ra tai nạn này. Nhưng dân bán tín bán nghi! Và ai cũng liên tưởng đến vụ bùn đỏ tràn ngập ở Hungary gần đây, do mỏ khai thác bô xít gây nên. Cái tên ông Dũng từ nay có thể được lưu danh hậu thế, không khác gì tên Vespasienne!

Có lẽ để cho dư luận bỏ qua chuyện Bùn Ðỏ, cho dân lãng quên luôn cả hai kiến nghị phản đối việc khai thác Bô xít ở Tây nguyên, cho nên nhà nước đã ra tay bắt Luật Sư Cù Huy Hà Vũ! Vừa đánh vào một luật sư của mạng lưới Bô xít, vừa đánh lạc hướng dư luận. Khi trong số những người ký tên vào bản kiến nghị do nhóm các giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, vân vân khởi xướng lại có tên nhiều vị tướng lãnh, học giả, kể cả những người đã từng phục vụ đảng suốt đời như các bà Nguyễn Thị Bình, Võ Thị Thắng, thì đảng cảm thấy nhột quá, ra tay bây giờ là đúng lúc.

Các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng đã quả quyết việc cho Trung Quốc khai thác Bô xít là chủ trương chiến lược của đảng Cộng Sản. Phải làm sao cho dư luận đừng ai nghĩ tới cái ung nhọt đó nữa, để các công ty Trung Quốc làm ăn. Công an trước đây đã ra tay gây nhiều vụ đánh lạc hướng dư luận, trong lúc vẫn đe dọa nhóm chủ trương mạng Bô Xít Việt Nam, nhưng chưa có hiệu quả. Bắt người làm blog “Cô Gái Ðồ Long,” một tờ báo mạng chuyên về xì căng đan có 23 triệu người vào đọc; nhưng cũng chẳng ai quên được vụ Bô xít. Bắt Luật Sư Lê Thị Công Nhân, nhưng lại thả ngay. Hạch tội Nguyễn Tấn Dũng ở Quốc Hội về vụ Vinashin làm biến mất 4, 5 tỷ Mỹ kim trong mấy năm “làm kinh tế,” cũng chưa đủ. Bây giờ, guồng máy công an đã bắt ông Cù Huy Hà Vũ, người nhận làm luật sư cho mạng Bô Xít Việt Nam. Một công đôi việc, vừa gây sôi nổi trong dư luận, vừa đe dọa thẳng vào mạng Bô Xít.

Luật Sư Cù Huy Hà Vũ đã nhiều lần cù nách đảng, cù vào nhiều huyệt “nhậy cảm” khác làm cho đảng luôn luôn bị nhột. Nhưng trong đảng cộng sản cái nách bên phải bị cù có khi cái nách bên trái nó lại cười khúc khích, cù vào chỗ khác thì cả hai cái nách đều khoái trí, có khi cái nách lại xúi cho họ Cù cứ tiếp tục cù vào cái bàn chân. Vì thế cho nên lâu nay ông Cù Huy Hà Vũ cứ tiếp tục cù mà vẫn còn được yên thân. Có người tin rằng ông đã được một nhóm bên trong đảng che chở, cho nên mới bạo mồm bạo miệng như vậy. Nhưng nhiều người biết Cù Huy Hà Vũ vốn là tay trên trời dưới đất không sợ ai cả, có lúc giận bố lạm chiếm miếng đất nhỏ cũng làm đơn kiện cả bố, can mãi mới thôi. Lại có người Hà Nội nói Cù Huy Hà Vũ tin rằng mình có chân mạng, thế nào cũng phải lãnh đạo dân Việt Nam, vì cái số như thế không thể tránh được. Rất có thể Cù Huy Hà Vũ chỉ là một người nóng và thẳng, không biết sợ ai cả, như Bác Sĩ Hà Thúc Nhân thời Việt Nam Cộng Hòa xưa kia. Hà Thúc Nhân từng tủ thủ trong bệnh viện, tuyên bố nếu không dẹp được tham nhũng thì tự sát; ông cũng từng ra trước Quốc Hội họp báo tố giác tham nhũng. Dân Việt Nam không thiếu những người khẳng khái, táo tợn như vậy.

Dù không biết có giả thuyết nào giải thích đúng hành vi của Cù Huy Hà Vũ, phải công nhận là ông làm được những việc rất đáng phục, luôn luôn thọc nách đảng.

Ðảng ra tay bắt Cù Huy Hà Vũ, nhưng vụ bắt bớ này lại được đạo diễn rất vụng về, ngớ ngẩn, có thể gọi là lố bịch!

Nửa đêm mùng 4 tháng 11, công an nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bắt Cù Huy Hà Vũ ở một khách sạn trong Sài Gòn, cùng với một phụ nữ, gán cho tội danh là “Quan hệ với gái mãi dâm.” Công an tung lên mạng lưới hình ảnh, trong đó có cả hình Cù Huy Hà Vũ cởi trần. Ðây là một tin giật gân, loại thông tin chuyên được các tờ báo của công an khai thác để câu khách bán báo.

Nhưng nhiều người đã nêu lên các điều đáng nghi ngờ. Những bức hình có vết ghép lại, không phải hình thật. Bức hình ông luật sư cởi trần đã được chụp từ nhiều tháng trước. Ðiều lố bịch nhất là không nước nào lại đem công an từ trên bộ xuống làm công việc khám khách sạn, bắt người mua bán dâm, một công việc thuộc thẩm quyền của Cảnh sát Kiểm Tục! Ông Cù Huy Hà Vũ không cần phải tự biện hộ, chính bà vợ ông cũng tin rằng ông vô tội! Phản ứng ngược: Bà Nguyễn Thị Dương Hà, một luật sư, tin rằng chính nhà nước cộng sản mới có tội! Bây giờ bà đã phản đồng, tố cáo công an và nhà nước đã xúc phạm cả ông lẫn gia đình bà.

Biết bị hố, nghiệp vụ loảng choảng không đâu vào đâu, guồng máy công an và tuyên truyền của đảng cộng sản bèn sửa sai ngay. Chế độ độc tài nào cũng vậy, phải dùng hai cánh tay: Ðàn áp và Dối trá. Họ rêu rao lên là mới đến khám nhà Cù Huy Hà Vũ và tìm ra chứng cớ ghép ông vào tội “tuyên truyền chống đảng và âm mưu lật đổ chính quyền, vi phạm điều 88 trong bộ luật hình sự!” Từ tội mua dâm chuyển sang tội âm mưu lật đổ chính quyền, nghe không khác gì thơ Bút Tre!

Nhiều người Việt Nam thấy thế rất buồn. Ðây là một bằng cớ cho thấy ngay cả bộ máy công an cũng bất lực thê thảm! Ðáng buồn, vì xưa nay công an là guồng máy chạy tốt nhất ở trong đảng Cộng Sản Việt Nam. Kỹ sư công chánh có thể xây cầu chưa xong đã sập. Bộ Giáo Dục có thể bất lực để cho trẻ em ở thôn quê thất học; đào tạo sinh viên ra trường đến hãng ngoại quốc nào người ta cũng phải huấn luyện lại. Hải quân có thể bất lực không bảo vệ được ngư phủ Việt Nam, để cho “tàu lạ” cướp thuyền, cướp máy móc và tôm cá, bắt cóc, đòi tiền chuộc! Cả guồng máy cai trị có thể bất lực để cho nước cống phềnh lên tràn ngập các thành phố Sài Gòn, Hà Nội; đêm đêm dân nằm ngủ nghe tiếng nước chảy dạt dào dưới gậm giường, người này lại đổ cho người kia! Tất cả các cơ quan cai trị có thể làm ăn bết bát, không đâu vào đâu cả; nhưng công an xưa nay vẫn là bộ máy chạy tốt nhất, không ai chê được. Châm ngôn của công an là “Ðảng còn, mình còn” có thể tin là họ làm được!

Bây giờ chính guồng máy có công suất tốt nhất đó lại làm ăn loạng choạng! Nhiều người rất thất vọng! Tại sao các chiến sĩ công an lại vụng tính như thế? Nếu đã tính bắt người để gán tội “tuyên truyền chống đảng và âm mưu lật đổ chính quyền, vi phạm điều 88 trong bộ luật hình sự nhà nước xã hội chủ nghĩa” thì cứ đến gõ cửa nhà người ta ở Hà Nội, đòi xét nhà rồi đem tài liệu do mình chế tạo ra nhét vào gậm giường, cứ theo đó mà kết tội cũng được. Tại sao còn đi theo đuôi vào tận Sài Gòn, rình mò ở khách sạn cứ như bọn du côn được các bà Hoạn Thư thuê mướn! Phá cửa xông vô phòng, lại còn bầy ra chuyện ghép hình mua bán dâm cũng ghép vội vã, tất cả thành công cốc! Ðể làm cái gì? Thật là khó hiểu!

Một cách giải thích giản dị, là thực sự công an nó như vậy, khả năng của nó không hơn gì các kỹ sư làm cột xi măng cốt tre cả! Xưa nay người ta cứ sợ công an, không phải vì họ giỏi, mà chỉ vì họ đông quá, lấy thịt đè người. Họ lại không phải theo một quy tắc luật pháp hay đạo đức nào cả, bất cứ hành động nào cũng sẵn sàng nhẫn tâm thi hành, miễn là “bảo vệ đảng!” Cả bộ máy đó chạy khi nào được trên chỉ huy thống nhất.

Nhưng khi ngay ở bên trong đảng, trên tận chóp bu, mà có cảnh đấm đá nhau tranh quyền trước ngày đại hội đảng, thì guồng máy đó không chạy được như trước nữa. Một ông bảo phải làm cái này “Vì đảng;” ông khác lại bảo làm cái khác. Bố ai biết đâu mà bảo vệ được các ông! Tệ nhất là guồng máy công an có thói quen nghe lệnh trực tiếp từ các cụ ở trên ban ra cho các bộ phận bên dưới. Không như thời Trần Quốc Hoàn, chỉ có một người nắm đầu tất cả, vừa lo dắt gái cho chủ tịch nước, vừa lo thủ tiêu gái khi không dùng tới nữa, tất cả được kín đáo thi hành trong ngoài không ai dám nói! Bây giờ phân công ra, có khi sinh loạn, nhất là trong thời đại Internet này.

Có thể trong thời gian qua, một bộ phận đang lo gài bẫy, bêu xấu những người lớn tiếng bất đồng ý kiến với đảng; bằng cách rình mò khách sạn, bất kẻ là ai. Trong khi đó một bộ phận khác đang chuẩn bị truy tố Cù Huy Hà Vũ vào một cái tội vi phạm điều 88, như đã dùng cho Nguyên Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân. Anh thứ nhất, thấy một cơ hội thì ra tay trước, bắt Cù Huy Hà Vũ ngay trong khách sạn, sợ mình chậm chân thằng khác nó tranh công! Anh thứ hai nhảy ngay vào để giành thành quả chiến thắng giương cao ngọn cờ điều 88! Thế là cả guồng máy đụng nhau, tất cả thành ra lùng bùng, đến độ bầy nhầy, không khác gì cảnh đường phố thành La Mã khi ông Vespasianus phụ trách quản lý vệ sinh công cộng!

Nhưng bộ phận truyền thông lề bên phải đã làm việc đắc lực, tung câu chuyện Cù Huy Hà Vũ bị bắt lên, lôi kéo dư luận chú ý. Ít nhất, khi dân chúng kháo nhau về câu chuyện xí căng đan hấp dẫn, họ quên chuyện Bô xít! Dù việc dàn dựng không thành công về kỹ thuật nhưng báo chí trong nước không dám phê phán, nay mai ông Cù Huy Hà Vũ bị đưa ra tòa về cả hai vụ, báo chí lề phải sẽ tường thuật hết! Nhờ tin tức sôi nổi quanh xì căng đan này mà mọi người quên đi mối đe dọa của Bùn đỏ Nguyễn Tấn Dũng. Quên đi cả mối quan hệ giữa mối nguy bùn đỏ với áp lực từ Bắc Kinh đang muốn xếp đặt Bộ Chính Trị mới trong kỳ đại hội sang năm! Khi các ông lớn trong Bộ Chính Trị mổ lẫn nhau thì ngư ông ở Bắc Kinh lại thấy sức ép của mình càng mạnh và có hiệu quả hơn! Dù việc bắt giữ Cù Huy Hà Vũ có luộm thuộm, ngớ ngẩn, bị thiên hạ chê cười, nhưng nếu sang năm Bắc Kinh xếp đặt được đúng người của họ vào cái ghế tổng bí thư, thì kể như công tác vẫn đạt thành quả cao! Khi đó, bùn đỏ có thể được đổi tên, không còn là Bùn Nguyễn Tấn Dũng nữa!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Người Bolsa và khách lỡ đường

Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - Cổng thương xá Phước Lộc Thọ sớm Thứ Bảy cuối tuần này vẫn đông đúc như bao Thứ Bảy khác.

Nhiều người đàn ông ngồi quanh các băng ghế trước cổng Phước Lộc Thọ rôm rả câu chuyện bốn biển năm châu bên ly cà phê, bên tờ nhật báo.

Nhiều người dân địa phương, nhiều khách thập phương qua lại, ra vào thương xá mua sắm, chụp hình.
Image

Lẫn trong những hình ảnh và âm thanh đời thường đó, là một người đàn ông trên dưới 40 ngồi lặng lẽ trên thanh gỗ phía trước cổng thương xá, cạnh bên là vài chiếc va ly hành lý cũ kỹ. Nét mặt người đàn ông pha trộn sự bồn chồn, mệt mỏi, lẫn âu lo. Trông như ông đang chờ đợi một điều gì.

Một người phụ nữ ngoài 60, mang dáng vẻ của người phụ nữ Nam bộ mộc mạc, chân chất, cắm cúi đi hướng vào bên trong khu thương xá nổi tiếng của người Việt. Bước ngang qua mặt người đàn ông, người phụ nữ nhẹ nhàng nhắc, “Ngó chừng đồ đạc cẩn thận, chú ơi!”

Người đàn ông gật đầu cám ơn.

* * *
Người phụ nữ tiếp tục đi.

Lát sau, người phụ nữ từ trong chợ đi ra, tay cầm túi đựng những hộp đồ ăn food-to-go.

Người đàn ông đang ngồi cùng đống hành lý trông thấy người phụ nữ đã “nhắc nhở” mình lúc nãy, ngập ngừng hỏi, “Dì ơi, làm ơn cho con hỏi, ở đây có chỗ nào bán thẻ điện thoại gọi về Việt Nam không? Con ở xa mới tới đây nên không biết chỗ.”

Hỏi chuyện qua lại, người đàn ông nói cho người phụ nữ biết anh từ Việt Nam mới sang được 3 tháng, ở Boston. Anh đến Little Saigon tìm việc làm chăm sóc cho một người bị liệt, mỗi tháng được trả $1,200 và bao ăn ở.

Tuy nhiên, mới làm được 8 ngày thì sáng nay anh bị chủ nhà đuổi vì “nói anh không biết làm.” Giờ anh ra đây ngồi và tìm cách gọi điện cho người quen, “nghe nói ở gần đây,” để họ đến đưa anh về ở đỡ rồi “từ từ tính tiếp.”

Nghe chuyện, người phụ nữ lấy điện thoại của bà đưa cho người đàn ông, “Nè, chú lấy điện thoại của tui gọi đi.”

Người đàn ông mừng rỡ, lấy quyển sổ tay có ghi số điện thoại, vừa bấm số, vừa nói, “Con cám ơn dì nhiều lắm. Dì tên gì vậy?”

“Tui tên Phúc. Chú gọi nói cho họ biết là chú đang ở Phước Lộc Thọ để họ biết chỗ đón.” Bà Phúc trả lời. “À, chú tên gì vậy?”

“Dạ, con tên Hưng,” người đàn ông 40 nói trong lúc chờ phía bên kia bắt máy.

Một người đàn ông khác, đội nón, đeo kính râm, đang ngồi uống cà phê gần đó bước đến. Qua giới thiệu thì đó là cháu của bà Phúc.

Bà Phúc kể nhanh chuyện anh Hưng cho người cháu nghe, xong lại hướng về anh Hưng, “Chú hỏi địa chỉ đi rồi nhờ anh này chở về cho.” Người cháu bà Phúc cũng gật đầu tỏ vẻ đồng ý.

Sau một vài lần bấm số, anh Hưng cũng nói chuyện được với người quen. Anh Hưng chuyển điện thoại sang cho người cháu bà Phúc, “Anh làm ơn nghe để người cô tôi chỉ đường giùm.”

Cháu bà Phúc sốt sắng trả lời phone, “OK, cho địa chỉ và chỉ đường đi, tôi chở anh này về giùm cho.”

Phía bên kia đọc địa chỉ, và chỉ đường đi. Nghe một hồi, người đàn ông đội nón kêu lên, “Ô, xa lắm, từ đây lên đó tới 5, 6 tiếng lận!”

Người quen của anh Hưng nhắc đi nhắc lại “ở đây xa lắm, đi 5, 6 tiếng lận,” rồi tắt máy. Cháu bà Phúc thử bấm số gọi lại nhưng phía bên kia không có người trả lời nữa.

Gương mặt người đàn ông tên Hưng lộ vẻ hoang mang.

Bà Phúc và người cháu dường như cũng áy náy cho tình cảnh của anh.

Tìm hiểu tiếp thì biết anh Hưng qua đây theo diện du lịch. Sẵn được sang Mỹ, anh Hưng muốn ở lại tìm công việc làm kiếm thêm ít tiền, “làm gì cũng được, đâu có nề hà gì đâu.” Công việc của anh Hưng là chăm sóc cho con trai của một bà cụ ngoài 80 tuổi. Người con trai này “bị liệt.” Tuy nhiên, “bà cụ khó quá, làm gì bà cũng không vừa ý.” Sau 8 ngày làm việc, sáng nay là ngày thứ 9, bà cụ đuổi việc anh và trả cho anh tiền công trong những ngày làm vừa qua là $40.

“Sao con làm 8 ngày mà bác trả con có $40 vậy?” Anh Hưng hỏi, và nhận được câu trả lời là “vì cậu làm không được việc.”

Không người thân thích, lạ nước lạ cái, anh Hưng chỉ còn biết kéo hết hành lý ra ngồi ở Phước Lộc Thọ và chờ gọi cho người bà con mong họ đến đón về cho tá túc đỡ trong khi tìm công việc khác.

Như một nét văn hóa của người Việt, thấy có chuyện lao xao, nhiều người bước tới nghe.

Người im lặng lắng nghe. Người bực bội lên tiếng, “Sao kỳ cục vậy! Không mướn nữa cũng phải trả đủ tiền cho người ta chứ!” Người lại đề nghị xem có cách nào giúp đỡ người đồng hương đang gặp khó khăn không.

Bà Phúc không biết đi từ lúc nào giờ trở lại với ổ bánh mì và ly cà phê sữa trên tay.

Bà đưa thức ăn cho anh Hưng, dặn dò, “Chú ăn bánh mì và uống cà phê đi. Ngồi đây đi, coi chừng đồ đạc cẩn thận. Rồi xem coi có ai có cách gì giúp không, chứ nhà bà con chú xa quá tụi tui không chạy tới được.”

Dường như đói, anh Hưng cắn ổ bánh mì không ăn một cách ngon lành.

Một người đàn ông đứng gần, nghe chuyện, lên tiếng, “Ði hỏi xem có tiệm ăn nào quanh đây cần người không, lương ít ít cũng được, nhưng người ta cho ăn, rồi kiếm đỡ chỗ nào nghỉ tạm cũng được.”

Bằng giọng người quê mộc mạc, bà Phúc nói, “Thiệt tình nghe tội nghiệp quá tui cũng muốn cho chú về nhà tui ở đỡ. Nhưng tui cũng chỉ shared phòng của người ta, giờ đưa thêm người về sợ họ không đồng ý.”

Câu chuyện râm ran.

Một người phụ nữ khác, tên H.N., đi ngang nghe chuyện, nói, “Thôi thì nhà tôi cho ‘shared’. Tôi cho anh về ở đỡ không lấy tiền, cho anh ăn cơm nước. Chờ khi nào anh tìm được việc rồi tính.”

Anh Hưng nhìn những người không thân thuộc bằng đôi mắt biết ơn.

Một người đàn ông gầy gầy, ngoài 60, từ chỗ những người uống cà phê đi nhanh tới, dúi vào tay anh Hưng tờ $10, nói nhỏ, “Cầm lấy.” Rồi ông quày quả bỏ đi, không cần nghe một lời “cám ơn.”

Thêm vài người nữa, cũng móc vội ít tiền cho “người lỡ đường.”

* * *

Cổng Phước Lộc Thọ vẫn tấp nập người qua lại, ra vô trong buổi sáng cuối tuần nắng chói chang.

Câu chuyện người đồng hương Việt Nam chân ướt chân ráo đến Mỹ gặp cảnh trớ trêu sẽ như bao câu chuyện khác nhanh chóng rơi vào quên lãng.

Còn lại chăng, có lẽ là những tình cảm giản dị, chân thật, không màu mè của người bình dân quanh Litte Saigon này đối với người gặp lúc khó khăn, đã trở thành một điều gì đó rất riêng, và rất đẹp.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Về lại nhà tù lớn

Xuyến Như, chuyển ngữ theo The Economist
Một lần nữa, Aung San Suu Kyi, lãnh tụ đối lập Miến được trả tự do trên lý thuyết. Ðợt quản thúc mới nhất vừa kết thúc hôm nay, 13 tháng 11, 2010, khi bà vừa mới được trả tự do tại Yangon lại bị bắt lại ngay vì bà dám tiếp xúc ngay với hàng nghìn người ủng hộ bà.
Image
Lãnh tụ Aung San Suu Kyi (giữa) vừa được chính quyền Myanmar trả tự do, ngày 16 tháng 11, 2010. (Hình: Soe Than Win/AFP/Getty Images)



Những lần trước, gọi là trả tự do thực ra cũng chỉ là nói mà chơi thôi. Nhà cầm quyền quân phiệt đã hết sức hạn chế hoạt động của bà nên chỉ xem như là họ trả bà về với nhà tù lớn thôi.

Lần này, bà Suu Kyi trở về trong một bối cảnh chính trị đã có phần thay đổi. Hôm 7 tháng 11, 2010 vừa rồi, lãnh đạo quân phiệt Miến tổ chức tuyển cử lần đầu sau 20 năm gián đoạn. Họ làm vậy chẳng phải là để giao quyền lại cho các chính khách dân sự đâu, mà thực ra chỉ là để cho đám quân phiệt tiếp tục giữ lại quyền lực. Thật thế, chính đảng của giới quân phiệt đã tuyên bố thắng lớn. Tuy nhiên, cuộc tuyển cử này ít ra cũng dè sẻn màu mè đa đảng trong một định chế toàn trị.

Câu hỏi đặt ra lúc này là bà Suu Kyi sẽ xoay sở thế nào trong bối cảnh chính trị mới này. Nếu dựa theo kinh nghiệm quá khứ thì có lẽ bà phải ứng xử như một chính khách. Theo lời luật sư của bà thì bà Suu Kyi sẽ không chấp nhận bất kỳ một hạn chế hoạt động nào trong thời gian tới. Bà đã hẹn với công chúng ủng hộ bà chiều nay rằng ngày mai, 14 tháng 11, 2010, bà sẽ có lời tuyên bố chính thức với đồng bào.

Tuy vậy, chính đảng Liên Ðoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ (National League for Democracy, NLD) nay đã chính thức bị giải thể, và giới quân phiệt trước nay không hề nhân nhượng với các hoạt động chính trị của bà. Họ rất căm giận vì bà có uy tín lớn với quốc tế - bà được giải Nobel Hòa Bình năm 1990 - nên đã ra sức trấn áp đối lập chính trị tại quốc nội, họ lo sợ rằng tiếng tăm của bà có thể đe dọa vị thế quyền lực của họ.

Ngay trước khi bà được trả tự do, hàng trăm người đã tụ tập gần nhà bà và quanh trụ sở của Liên Ðoàn Quốc Gia vì Dân Chủ (NLD) trước kia. Ðây là một sự kiện đáng chú ý trong hoàn cảnh giới quân phiệt cố tình muốn thủ tiêu hình ảnh bà trên hệ thống truyền thông đại chúng do chính họ kiểm soát.

Nhưng bà Suu Kyi là một khuôn mặt đặc biệt. Sự kiện bà là con gái của Aung San, người anh hùng giải phóng cho độc lập quốc gia Myanmar, là một lợi điểm. Kế đó là vẻ duyên dáng của bà đã thu hút khối lớn công chúng khi bà từ Anh Quốc trở về nước năm 1988 để chăm nom thân mẫu bị yếu mệt. Ngay cả trong thời gian bị quản thúc tại gia, uy thế của bà đã giúp cho Liên Ðoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ thắng cử vang dội trong cuộc tuyển cử năm 1990, nhưng kết quả bầu cử không được tôn trọng. Và sự kiên trì sắt đá của bà trong suốt thời gian hai thập niên bị trấn áp càng khiến bà được công chúng quý trọng thêm.

Tuy vậy, không phải là bà không bị phê phán đâu. Ðám quân phiệt xem ra quyết tâm giữ quyền lực, ngay cả sau khi đã tổ chức tròn trịa một cuộc tuyển cử giả hiệu để lập một chính phủ dân sự. Người ta trách bà là đã từ chối thỏa hiệp. Năm 1995, bà đã rút Liên Ðoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ ra khỏi “nghị hội quốc gia” để thảo ra Hiến Pháp mới. Cuối cùng thì, như đã đoán trước, đám quân phiệt đạt được toan tính ban đầu: họ tiếp tục nắm quyền lực. Cuộc trưng cầu ý dân gian lận tổ chức năm 2008 đã thông qua kết quả này.

Năm nay, bà Suu Kyi lại quyết định là liên đoàn tẩy chay cuộc tuyển cử. Ðiều này dẫn đến việc liên đoàn bị giải thể, rồi dẫn đến phân hóa, vì một nhóm tách ra để tham gia tuyển cử. Có thể là họ có nguyên tắc, nhưng cả hai lần tẩy chay hẳn nhiên là sai lầm. Nói cho đúng, cả hai lần tẩy chay kia có thể tạo nên phần nào tính chính đáng nhưng cũng không tránh khỏi bị loại trừ.

Ðây là lần thứ ba bà Suu Kyi được trả “tự do,” kể từ khi bà bị quản thúc năm 1989. Lần bà được trả tự do năm 1995 đã nhen chút hi vọng, khi giới quân phiệt cho phép thông tấn nước ngoài được gặp bà. Ðã có lúc tưởng chừng bà được phép hoạt động chính trị. (Lần này thì thông tấn nước ngoài bị cấm, như là họ bị cấm trong ngày tuyển cử vừa rồi, và các tòa đại sứ và tổng lãnh sự khá cực nhọc khi loại những kẻ thâm nhập dưới danh nghĩa “du khách”).

Giới quân phiệt chắc sẽ không cho bà đi lại thoải mái để gặp gỡ thành viên và những người cảm tình viên với liên đoàn. Năm 2000, bà đã bị giữ suốt 19 tháng. Mới được trả tự do vào tháng 12, 2002, bà lại bị bắt lại năm 2003 vì họ quy tội cho bà là đã can dự vào cuộc tàn sát khi đoàn xe bà đi cùng lại bị bọn đầu gấu do phe quân phiệt thuê tấn công. Họ lại còn kéo dài thêm hạn giam lỏng bà vào tháng 5 năm ngoái khi quy tội cho bà vốn chỉ là nạn nhân của một vụ đột nhập mà một người Mỹ hơi bất bình thường, bơi qua hồ gần nhà bà và bảo rằng ông đến thăm bà theo lệnh truyền của Thượng Ðế!

Lần giam giữ này hết hạn vào ngày 13 tháng 11. Giới quân phiệt vẫn tỏ ra kiên định với sự cứng rắn của họ khi họ thiết định luật lệ trán áp. Có lẽ vì thế mà cuộc tuyển cử vừa qua đã được sắp xếp một tuần trước ngày trả tự do cho bà, cho đến ngay lúc này đây giới tướng lĩnh quân phiệt cũng chưa thể lường trước được là bà sẽ tác động đến công luận ra sao.

Ðến đây, chúng tôi xin bày tỏ đôi ba ý kiến riêng. Chúng tôi đã hân hạnh được gặp bà vài lần vào những năm 1990, và vô cùng ngưỡng phục sự dũng cảm, vẻ nghiêm nghị và cả sự dí dỏm của bà. Người ta cứ vẽ ra hình ảnh của một Suu Kyi nguyên tắc nhưng cố chấp, chẳng biết nhân nhượng giới quân phiệt, quên rằng bà từng bị chính cánh đối lập chê trách. Lần bà được trả “tự do” năm 1995, lúc ấy ai ai cũng nghĩ tới thiện ý đối thoại và thỏa hiệp với những người vẫn còn mơ tưởng rằng với thành quả tuyển cử vang dội năm 1990 thì sẽ chẳng bao lâu có thể quét sạch bọn quân phiệt. Bà Suu Kyi thực sự vẫn bám chắc nguyên tắc của Gandhi. Bà dứt khoát loại trừ giải pháp bạo động mà một số người theo bà hi vọng bà sẽ lãnh đạo để tạo ra cuộc cách mạng đối đầu giữa quần chúng và giới quân phiệt.

“Nên nhớ rằng sự linh hoạt và sự nhu nhược là hoàn toàn khác hẳn nhau,” bà đã nói với The Economist như thế vào lúc đó. Một sợi thép mạnh được là nhờ nó linh hoạt, chiếc đũa thủy tinh xem ra cứng cỏi đấy nhưng có thể gãy dễ dàng. Trong ngần ấy năm, bọn quân phiệt đã làm đủ trò để mong bà trở thành chiếc que thủy tinh. Xem ra họ chưa thành công.

(Nguồn: Thông Luận)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Dân Chủ để phát triển kinh tế

Ngô Nhân Dụng

Trong cuộc du hành qua các nước Á Châu vừa qua, Tổng Thống Mỹ Barack Obama đã ca ngợi sự tiến bộ tại Ấn Ðộ và Indomesia. Ông nói rằng chính chế độ chính trị dân chủ ở các nước này đã giúp nền kinh tế của họ phát triển tốt đẹp.

Những lời tuyên bố của ông Obama chắc sẽ được người dân những nước kinh tế còn nghèo như Miến Ðiện, Bắc Hàn, Trung Quốc hay Việt Nam lắng nghe và suy nghĩ.

Nhưng đối với các nhà nghiên cứu chính trị và kinh tế thì mối liên hệ giữa chế độ Dân Chủ và sự phát triển kinh tế không có câu trả lời rõ ràng, vì các tác động hỗ tương rất phức tạp. Nhiều người tin rằng kinh tế có ảnh hưởng trên chính trị, cho nên khi kinh tế một nước phát triển cao thì thế nào xã hội cũng tiến tới chế độ dân chủ. Lý do vì một giới trung lưu sẽ thành hình, họ sẽ đòi sống tự do hơn. Theo lối nhìn này thì Phát triển Kinh tế là nhân, Dân chủ Tự do là quả. Tuy nhiên, ai cũng biết có những quốc gia ở vùng Trung Ðông đã đạt tới lợi tức theo đầu người hàng chục ngàn đô la một năm, mà dân vẫn sống trong cảnh độc tài chưa biết bao giờ được thay đổi. Cho nên hai hiện tượng Phát Triển và Dân Chủ không nhất thiết có tương quan nhân quả một chiều như nhiều người mong muốn.

Ý kiến của ông Obama đặt vấn đề theo chiều ngược lại, từ chính trị ảnh hưởng sang kinh tế, ông coi chế độ Dân Chủ làm hạt nhân mà kết quả là kinh tế phát triển. Ðây cũng là một đề tài đã được nhiều người khảo sát.

Từ lâu, các nhà nghiên cứu chính trị vẫn hỏi: “Liệu chế độ dân chủ tự do có giúp cho kinh tế phát triển hay không?” Câu hỏi này được đặt ra rõ rệt hơn khi so sánh: Thể chế Dân Chủ có giúp kinh tế lên nhanh hơn so với các chế độ độc tài hay không? Trả lời câu hỏi này còn phức tạp hơn nhiều so với mối tương quan từ kinh tế sang chính trị. Các nhà nghiên cứu dè dặt không dám kết luận về mối tương quan giữa chính trị và kinh tế như những định luật chắc chắn. Không thể nói ở đâu có hạt nhân dân chủ thì sẽ sinh kết quả là kinh tế phồn thịnh.

Cũng như mọi cuộc nghiên cứu xã hội, chúng ta biết đời sống con người rất phức tạp, cuộc sống xã hội gồm rất nhiều con người càng phức tạp hơn. Chúng ta khó tiên đoán phản ứng và hành động của hàng triệu người, như khi tiên đoán thời tiết - mặc dù việc đoán trước trời nắng hay mưa cũng còn khó khăn!

Vì lý do trên, những ý kiến của ông Obama được nêu lên như những lời ca ngợi và cổ võ cho chế độ dân chủ ở Ấn Ðộ và Indonesia sẽ bị các chế độ độc tài ở Á Châu bài bác. Họ sẽ biện hộ rằng giới nghiên cứu khoa học xã hội vẫn còn luôn luôn dè dặt không quả quyết những tương quan chắc chắn như lời ông Obama nói.

Tuy nhiên, chúng ta không thể coi sự dè dặt của các nhà nghiên cứu trong trường ốc là kim chỉ nam để hành động cho mọi người. Ðối với những người dân sống trong các chế độ độc tài thì câu hỏi thực tế lại khác hẳn với lối đặt vấn đề trừu tượng của các nhà nghiên cứu. Người dân các nước chậm tiến, nghèo và bị áp bức không cần đi tìm những tương quan nhân quả tổng quát, phổ biến, lúc nào cũng đúng như các định luật khoa học, mà những người ngoại cuộc có thể tìm tòi chỉ vì nhu cầu trí thức.

Ðối với một người dân ở Miến Ðiện, Bắc Hàn, hay ở Việt Nam, thì phải đặt những câu hỏi thực tế, cụ thể, chứ không nói chung chung nữa. Sống trong những quốc gia vừa nghèo, vừa mất tự do vì độc tài lại vừa bất bình vì tham nhũng, câu hỏi của người dân các nước đó là: Có cách nào cho tôi thoát khỏi cảnh nghèo khó và bất công này hay không? Ðặt câu hỏi rõ rệt là: “Thể chế Dân Chủ có giúp gì cho kinh tế quốc gia phát triển tốt đẹp hơn so với tình trạng hiện tại hay không?”

Khi đặt câu hỏi cụ thể như vậy, mọi người đỡ mất thời giờ tranh luận về những vấn đề trừu tượng, có thể trở thành viển vông. Ðiều người dân ở những nước độc tài lo lắng không phải chỉ là so sánh khả năng và hiệu quả phát triển kinh tế của các chế độ độc tài và dân chủ nói chung, ở khắp nơi. Hãy để công việc tìm tòi các quy luật có giá trị lâu dài và tổng quát cho các giáo sư đại học, phần lớn họ đang sống ở các nước đã giầu sẵn rồi. Người dân các nước đang nghèo nàn, chậm tiến chỉ quan tâm đến những câu hỏi về chính thân phận mình. Có những câu hỏi cụ thể bắt nguồn từ hoàn cảnh trước mắt:

Chế độ độc tài có tạo ra những chướng ngại ngăn cản sự phát triển kinh tế ở nước ta hay không?

Một chế độ tự do và dân chủ hơn liệu có khả năng giúp chúng ta vượt qua được các chướng ngại đó mà thoát khỏi tình trạng kinh tế trì trệ hiện nay hay không?

Ðể trả lời 2 câu hỏi này, phải phân tích quá trình phát triển kinh tế. Mọi nhà kinh tế đã đồng ý rằng có những yếu tố giúp cho kinh tế phát triển mạnh hơn, không phân biệt thể chế chính trị như thế nào. Một yếu tố quan trọng là một xã hội tôn trọng luật pháp, trong đó phải tôn trọng quyền sở hữu do luật pháp bảo đảm. Người ta chỉ làm việc hết sức khi tin rằng kết quả công việc mình làm mình sẽ được giữ và hưởng thụ. Do đó, một yếu tố quan trọng thứ nhì là trong xã hội không có những thế lực không cần làm việc cũng được hưởng, tức là tham nhũng. Khi có một khối người có quyền hành và sử dụng quyền để đòi hỏi và được hưởng những quyền lợi do công lao của người khác, thì sự phân bố tài người và sử dụng tài nguyên trong xã hội sẽ không đạt được hiệu quả tốt nhất. Yếu tố thứ ba là chính sách của những người cầm quyền có thích hợp với hoàn cảnh kinh tế của quốc gia, thúc đẩy mọi người gia tăng lợi tức hay không. Một yếu tố khác không thể thiếu được là nhân sự. Phải tạo khung cảnh xã hội và kinh tế làm sao để kích thích óc sáng tạo, trí mạo hiểm trong giới kinh doanh, và xây dựng một đội ngũ lao động có học vấn đủ để tiến vào nền kinh tế dựa trên khoa học và kỹ thuật. Không ai phủ nhận được tầm quan trọng của bốn yếu tố trên đây. Nếu không hội đủ ít nhất hai, ba trong số bốn điều kiện đó thì kinh tế rất khó phát triển bền vững.

Ðối với người dân những nước kinh tế còn nghèo nàn thì câu hỏi thiết thực là: Thể chế tự do dân chủ có giúp cho xã hội tăng cường và củng cố các yếu tố cần thiết đó hay không?

Giữa chế độ độc tài và tự do dân chủ thì thể chế nào giúp cho luật pháp được tôn trọng hơn, do đó tài sản người dân tạo ra được bảo vệ chắc chắn hơn? Không cần phải bàn luận về lý thuyết, chúng ta đều biết rằng trong chế độ độc tài mà người dân Việt Nam, Miến Ðiện, Bắc Hàn đang sống, luật pháp nằm trong tay những người nắm quyền, từ các ông bà cầm đầu Ðảng và chính phủ cho tới những người công an, cảnh sát đứng ở góc chợ hay đầu đường. Không cần phải suy nghĩ đắn đo, người ta có thể kết luận ngay được là bất cứ một hình thức tự do dân chủ nào cũng sẽ tạo ra những giới hạn trên người cầm quyền, và pháp luật sẽ được tôn trọng hơn.

Chế độ Dân Chủ đặt mọi người làm chính trị trong một cuộc chạy đua, phải cạnh tranh giành lá phiếu của dân. Khi đó, sẽ không có một nhóm người nào có thể khuynh loát tất cả mọi lực lượng khác trong xã hội để đặt họ bên trên luật pháp. Trong nhiều nước độc tài người ta cũng có thể đạt tới tình trạng luật pháp được tôn trọng, tuy nhiên điều đó không có gì bảo đảm. Dù độc tài hay dân chủ, chỉ khi nào người cầm quyền bị kiềm chế bởi những định chế hoặc thế lực xã hội và chính trị khác, thì họ mới nhất thiết tôn trọng luật pháp. Chắc chắn chế độ dân chủ tự do có khả năng hạn chế quyền hạn của những người cầm quyền hơn chế độ độc tài.

Bây giờ ai cũng phải công nhận nạn tham nhũng là một chướng ngại cho việc phát triển kinh tế. Các quan chức nhũng lạm không những ăn cướp tài sản của những người bị họ sách nhiễu, họ còn làm cho tất cả xã hội bị thiệt hại vì gây trở ngại những nhà kinh doanh có khả năng và lương thiện. Khi guồng máy nhà nước thiên vị một nhóm người này vì chịu hối lộ, chèn ép nhóm người khác, thì tài nguyên kinh tế quốc gia sẽ không được đặt vào tay những người có khả năng tạo ra nhiều của cải, nhiều công việc làm nhất. Xã hội tự do dân chủ có giúp giảm bớt nạn tham nhũng gây trở ngại cho nền kinh tế hay không? Chúng ta có thể tin chắc rằng khi các người làm chính trị bị bắt buộc phải cạnh tranh mới được đóng vai trò quyết định việc nước, thì chắc chắn xã hội sẽ bớt lạm quyền, bớt tham nhũng. Khi mới được phóng thích trong tuần trước, bà Aung San Suu Kyi đã tuyên bố rằng: “Quan trọng nhất là quyền tự do ngôn luận.” Một xã hội tôn trọng quyền tự do phát biểu là vũ khí tốt nhất để đặt ra những giới hạn trên quyền hành và giúp bài trừ tham nhũng.

Chính sách kinh tế của các chính quyền rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Khi so sánh chế độ độc tài và dân chủ, có thể nói chế độ nào cũng có khả năng đưa ra những chính sách hoặc tốt, hoặc xấu, ngang nhau. Nhưng chế độ dân chủ tự do có một ưu điểm, là nếu một chính quyền đưa ra những chính sách sai lầm, chính người dân sẽ sửa đổi bằng cách thay thế họ, qua các cuộc bầu cử. Ngược lại, một chế độ độc tài có thể duy trì những chính sách kinh tế tai hại suốt đời này sang đời khác, chỉ vì chính đồng đảng của họ được lợi với các chính sách đó,trong khi người dân không có phương tiện nào để thay đổi. Một thí dụ hiển nhiên là các nước độc tài thường duy trì các doanh nghiệp nhà nuớc rất lớn và chiếm độc quyền trong nhiều lãnh vực, mặc dù ai cũng biết các xí nghiệp này hiệu năng rất kém so với tư nhân.

Cuối cùng, đến yếu tố nhân sự. Nhiều nước độc tài cũng có thể xây dựng một nền giáo dục có hiệu quả, và cũng có thể tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho những người có óc sáng tạo và mạo hiểm. Nhưng điều này không có gì bảo đảm. Ngược lại, khi chế độ là tự do dân chủ thì người cầm quyền chịu áp lực của dân sẽ phải chú trọng tới việc giáo dục hơn, nhất là ở những nước có truyền thống trọng học vấn như ở Việt Nam. Mặt khác, tự do là một điều kiện thiết yếu của óc sáng tạo, trí mạo hiểm. Trong chế độ độc tài, người dân thiếu tự do cho nên óc sáng tạo khó phát triển, nhất là óc mạo hiểm, chấp nhận rủi ro của các nhà kinh doanh càng bị chính trị hạn chế.

Cuối cùng, phải nói thể chế chính trị không quan trọng bằng tình trạng xã hội có tôn trọng các quyền tự do hay không. Nếu theo thể chế dân chủ mà tự do vẫn bị hạn chế thì chưa đủ. Nhà kinh tế Ấn Ðộ Amartya Sen (giải Nobel Kinh Tế 1998) đã phân tích tương quan giữa chính trị và kinh tế, cho rằng chúng ta không nên đặt vấn đề như là mối tương quan giữa thể chế dân chủ và phát triển kinh tế; mà nên nhìn vào ảnh hưởng của tự do trên sự phát triển. Khi đặt vấn đề như vậy thì, Amartya Sen quả quyết: Càng tự do thì kinh tế càng dễ phát triển; và ngược lại, khi kinh tế tăng trưởng thì các quyền tự do trong xã hội cũng được tăng theo.

Lời phát biểu của Tổng Thống Obama tại Indonesia và Ấn Ðộ tạo cơ hội cho chúng ta suy nghĩ thêm về mối tương quan giữa dân chủ và phát triển. Chúng ta có thể kết luận là chế độ dân chủ tự do có khả năng giảm bớt tham nhũng, lãng phí, bất công xã hội. Ðó là những căn bệnh chắc chắn gây trở ngại khiến việc phát triển bị trì trệ. Ðối với người dân những nước như Việt Nam, Miến Ðiện, Bắc Hàn, thì vấn đề không phải là giữa dân chủ và phát triển phải lựa chọn lấy một, và chỉ một mà thôi. Ðó là một vấn đề giả mà các chế độ độc tài dùng làm hỏa mù gây hoang mang và che mắt dân chúng.

Hai mục tiêu đó, chúng ta phải đạt được cả hai. Phải thay đổi chính trị và kinh tế song hành và toàn diện. Không có cách lựa chọn nào khác.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Phải biết nhục nhã hôm nay, mới có vinh quang ngày mai

Ðỗ Văn Phúc
Có lần, một người bạn Mỹ, tưởng tôi là người Tàu, đã chào tôi bằng câu chào tiếng Tàu học lóm đâu đó. Tôi bỗng thấy bất mãn, lên tiếng đính chính: Tôi là người Việt Nam, Miền Nam Việt Nam!

Bốn chữ Miền Nam Việt Nam, tôi muốn nhấn mạnh rằng tôi là người Việt của một nước Việt Nam Cộng Hòa, chứ không dính dấp gì đến nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đương thời.

Dù rằng trong thời gian chiến tranh, bọn phản chiến, báo chí truyền thông khuynh tả tại Mỹ đã gán cho chế độ miền Nam những điều xấu xa nhất, chúng ta vẫn mang niềm tự hào của một dân tộc có văn hiến, có sức sống vươn lên và có khả năng thành đạt. Những năm sau chiến tranh, với sự trưởng thành của người Việt hải ngoại, và sự lộ diện bản chất của chế độ Cộng Sản Việt Nam; người Mỹ nói riêng và thế giới nói chung, đã thay đổi rất nhiều trong cách nhìn về chế độ Cộng Hòa trước đây và chế độ Cộng Sản hiện nay.

Do đó, khi Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt phát biểu rằng ông cảm thấy nhục nhã khi ra nước ngoài mà cầm trong tay tấm thông hành của nước CHXHCN; đó là ông đã can đảm nói lên tâm tư tình cảm chung của những người Việt biết tự trọng, có nhân cách.

Thế sự có lúc thăng, lúc trầm. Quốc gia có lúc thịnh, lúc suy. Thời hưng thịnh là thời có các vị minh quân, các nhà lãnh đạo các cấp có tài đức, biết chăm lo cho an sinh của toàn dân, phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng. Nhờ đó, bên ngoài thì yên, bên trong thì ấm. Thời suy vong là thời mà các cấp lãnh đạo u mê, ích kỷ, tham tàn chỉ lo phục vụ quyền lợi cá nhân bè đảng; mà người dân lại yếu hèn không dám phản kháng đấu tranh quyết liệt. Hậu quả là bị ngoại bang chèn ép, khinh khi; đất nước bị tụt hậu nghèo đói. Người công dân phải biết ý thức từng hoàn cảnh mà có những phản ứng thích nghi cũng như quyết tâm để phục hồi.

Ðã biết ngẩng cao đầu khi đất nước vinh quang; thì cũng biết cúi đầu nhục nhã khi đất nước suy vi. Cúi đầu nhục nhã không phải là chấp nhận nó, mà phải làm sao cho thoát nỗi nhục này.

Những thời kỳ nước ta bị Tàu, Pháp đô hộ, nhục nhã trăm điều. Nhưng cha ông ta đã thấm thía nỗi nhục mà chấp nhận chiến đấu hy sinh để đất nước thoát vòng nô lệ; phục hồi quyền độc lập tự quyết, vươn lên trong cộng đồng thế giới.

Trong bài Hịch Tướng Sĩ của Ðức Trần Hưng Ðạo, và Bình Ngô Ðại Cáo của quân sư Nguyễn Trãi, hai vị anh hùng đã nêu lên nỗi nhục nhã của quan dân Việt trước sự hống hách tàn bạo của sứ nhà Nguyên (Thế kỷ 13) và nhà Minh (Thế kỷ 15) để khích động tinh thần dân tộc trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ đánh đuổi quân Tàu xâm lăng.

Dưới sự cai trị của một tập đoàn gồm những con người kém cỏi về tri thức, khả năng; thấp kém về tư cách đạo đức, nước Việt mấy chục năm nay đã suy thoái một cách nghiêm trọng về mọi mặt. Trong tất cả các bảng xếp hạng về phát triển, văn minh, tự do dân chủ do các cơ quan quốc tế thực hiện, thì hai chữ Việt Nam lúc nào cũng đứng ở những vị trí áp chót của hơn 170 quốc gia.

Trong nước thì toàn những tin về tham nhũng, hối lộ, truy đồi về đạo đức, sa sút về giáo dục. Nhà nước Cộng Sản mấy chục năm qua chỉ biết đàn áp, cướp bóc và sa đọa. Quốc phòng thì yếu kém, chính trị thì độc tài, dựa dẫm vào quan thầy Trung Hoa, nên càng ngày càng bị bắt bí, mất đất, mất biển.

Khi các lãnh đạo nhà nước ra ngoại quốc, thì chỉ một luận điệu ăn xin rất hèn hạ. Ði đến đâu cũng thì bị đồng bào mình la ó, tẩy chay, lên án, xua đuổi.

Ngoài nước, qua các cơ quan truyền thông quốc tế, chỉ nghe đến hai chữ Việt Nam với những tin tức phóng sự đáng buồn - nói rõ hơn, ô nhục. Ngoại trừ những người Việt định cư tại hải ngoại, con dân từ trong nước Việt Nam đi ra ngoài thì bị nhà nước bán làm là lao nô, làm gái điếm, buôn lậu, trộm cắp, mánh mung. Ðã có những bản tin từ Malaysia về những đoàn du khách Việt Nam (mà hầu hết là cán bộ cộng sản hay vợ con họ) khi đến các siêu thị đã ăn cắp nhiều món hàng từ nhỏ đến lớn. Lao nô ở các nước hậu cộng sản thì mánh mung, đĩ điếm, băng đảng. Dân lao nô trốn ở lại qua các nước tư bản thì trồng, chế biến, mua bán ma túy ngay trong nhà. Phần lớn du học sinh là con cái cán bộ thì chỉ biết ăn chơi phung phí do có đồng tiền bóc lột mà cha anh họ tuồn qua.

Ngay chính người Việt hải ngoại cũng thấy xấu hổ lây.

Vậy trách chi người ngoại quốc có cái nhìn nghi ngờ, bất thiện (có thể nói là khinh khi) đối với những người đến nước họ bằng tấm thông hành của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Chỉ có những người cộng sản là không biết thấm thía nỗi nhục này, nên vẫn cứ vênh váo, khoác lác, phô trương. Giống như hình ảnh các cán binh Việt Cộng vào các thành phố miền Nam sau ngày 30 tháng 4, 1975. Chúng tôi không muốn nhắc ra đây chuyện đã xảy ra từ hơn ba mươi năm trước. Nhưng có lẽ không ai có thể quên được cái nhìn vừa thương hại vừa coi rẻ của nhân dân miền Nam trước các cán binh khoác lác, ngông nghênh, tự đắc của những người tự cho là “chiến thắng” mà thực chất thì quá thấp kém mọi mặt so với đồng bào miền Nam.

Không, người dân không xấu hổ, nhục nhã nếu chỉ vì nghèo đói, lạc hậu, kém tri thức. Vì đó là nỗi nhục của nhà cầm quyền, là hệ quả của chính sách phản động của họ. Không phải lỗi người dân.

Chỉ xấu khi không biết đó là nhục mà vẫn cứ huênh hoang. Ðây là trường hợp bọn cầm quyền.

Chỉ xấu khi biết đó là nhục mà cúi đầu chấp nhận, không một ý hướng phản kháng để đạt đến điều vinh. Ðây là trường hợp của những người dân thiếu ý thức dân tộc, thiếu lòng tự trọng.

Qua rất nhiều bài báo gửi ra từ trong nước hay các buổi tham luận trên các diễn đàn online; chúng tôi đã nghe rất nhiều thanh niên, trí thức Việt Nam trong nước đã tỏ ra vô cùng ray rứt trước hiện trạng nước nhà.

Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, một người Việt Nam yêu nước có lòng tự trọng lần đầu tiên đã chính thức nói ra sự thật trước mặt nhà cầm quyền cộng sản tại Hà Nội: “Tôi cảm thấy nhục nhã khi mang tấm hộ chiếu Việt Nam” (phải được hiểu là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam).

Nỗi nhục nhã này, hoàn toàn do tội lỗi của Hồ Chí Minh và tập đoàn đảng Cộng Sản Việt Nam.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Giải mật 2 tài Liệu của CIA :
1.Gia đình họ Ngô.

CIA and the House of Ngo: Covert Action in South Vietnam, 1954-1963 (CIA và Những Điệp Vụ Mật ở Miền Nam, 1954-1963) nói về những hoạt động bên trong để giúp đỡ chính phủ Ngô Đình Diệm, từ ngày ông Diệm về làm thủ tướng cho đến ngày tổng thống Diệm bị hạ sát trong cuộc cách mạng 1 tháng 11-1963.

Qua tài liệu này, lần đầu tiên chúng ta biết được, từ năm 1950 cho đến năm 1956, CIA có hai Sở tình báo ở Sài Gòn: một Sở CIA Saigon Station nằm dưới sự điều khiển thông thường từ bản doanh CIA ở Langley, Virginia; Sở kia, có tên là Saigon Military Mission, làm việc trực tiếp, và chỉ trả lời cho Giám Đốc Trung Ương Tình Báo.

Saigon Military Mission, theo Tài Liệu Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers) được giải mật trước đây, do đại tá Edward G. Lansdale chỉ huy. Lansdale đến Sài Gòn tháng 6-1954 với hai nhiệm vụ: huấn luyện những toán tình báo Việt Nam để gài lại ở miền Bắc trước ngày "di cư và tập kết" hết hạn; và, dùng mọi phương tiện ngầm (covert action) để giúp tân thủ tướng Ngô Đình Diệm.

Nay, theo tác giả Thomas L. Aherns, chính Giám Đốc CIA Allen Dulles chỉ định đại tá Lansdale cho điệp vụ ở Sài Gòn - và cũng ra lệnh Lansdale làm việc trực tiếp cho ông. Tác giả Ahern viết, CIA có mặt từ năm 1950 để giúp đỡ quân đội Pháp xâm nhập và thu thập tin tức tình báo. Nhưng từ cuối năm 1953, khi thấy tình hình quân sự nguy ngập của Pháp, Hoa Thịnh Đốn thay đổi nhiệm vụ của CIA Saigon Station: Liên lạc và thu thập tình báo những thành phần quốc gia để lập một chánh thể chống cộng trong trường hợp Hoa Kỳ thay thế Pháp. Cùng lúc Hoa Thịnh Đốn gởi thêm một toán CIA để lo về quân sự, Saigon Military Mission.

CIA and the House of Ngo tiết lộ một số chi tiết ly kỳ như, CIA liên lạc và làm thân với ông Ngô Đình Nhu từ năm 1951, rất lâu trước khi Hoa Kỳ liên lạc với ông Diệm. Đầu năm 1954, khi có tin Hoa Kỳ chuẩn bị đề nghị quốc trưởng Bảo Đại và chánh phủ Pháp giải nhiệm hoàng thân Bửu Lộc và thay bằng ông Diệm, thì ông Nhu là người đầu tiên CIA gặp để bàn về liên hệ của Hoa Kỳ đối với thủ tướng tương lai Ngô Đình Diệm.

Liên lạc Ngô Đình Nhu

Tháng 4-1954, một nữ nhân viên Mỹ làm việc ở CIA Saigon Station, thông thạo tiếng Pháp, quen biết và liên lạc thân thiện với Bà Ngô Đình Nhu. Từ nữ nhân viên Virginia Spence này, Sở CIA Saigon bắt được nhiều liên lạc với hầu hết những người thân trong gia đình, hoặc thân cận với Nhà Ngô.

Tháng 4-1954, CIA ở Hoa Thịnh Đốn gửi Paul Harwood sang làm cố vấn riêng cho ông Nhu. Tuy là nhân viên CIA, nhưng Harwood đóng vai một nhân viên Bộ Ngoại Giao, làm việc từ Tòa Đại Sứ. Trong hai năm, Hardwood cố vấn là làm việc với ông Nhu để xâm nhập và ảnh hưởng đường lối ngoại giao quân sự của nền đệ nhất VNCH với tổng thống Diệm. Paul Hardwood thân thiện với gia đình ông bà Nhu đến độ ông ta là người đỡ đầu cho Ngô Đình Lệ Thủy, ái nữ của ông bà Nhu.

Từ tài liệu này chúng ta cũng biết thêm, ông bà Nhu được đưa qua thăm viếng Mỹ trước tổng thống Diệm. Để lấy tình cảm và ảnh huởng với ông Nhu, đầu tháng 3-1957 ông bà Nhu được CIA mời qua thăm Hoa Thịnh Đốn. Tuy không có một chức vụ gì chánh thức với chính phủ nhưng ông Nhu được diện kiến tổng thống Dwight Eisenhower, hai Bộ Trưởng Ngoại Giao và Quốc Phòng, và Giám Đốc CIA Allen Dullles. Tài liệu cho biết, với tài ăn nói và sắc diện, bà Nhu gây được nhiều chú ý với các thẩm quyền Mỹ. ... "Bà Nhu là một ngôi sao trong dạ tiệc" do CIA khoản đãi. Hai tháng sau chuyến thăm viếng âm thầm của ông bà Nhu, đầu tháng 5-1957, tổng thống Diệm lên đường công du theo lời mời của chánh phủ Hoa Kỳ.

Trong cuộc tranh chấp - rồi sau đó là giao chiến - giữa chánh phủ Diệm và quân phiến loạn Bình Xuyên, CIA biết được hầu hết kế hoạch và khả năng của Bình Xuyên, nhờ một cận thần của Bảy Viễn đang làm việc cho CIA. Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, một đảng chính trị thành lập để hổ trợ chính phủ Diệm, nhận tài chính và cố vấn từ CIA. Nhưng đến đầu năm 1960 thì CIA cắt ngân khoản vì cơ cấu nhân sự không còn hữu hiệu trong công tác tuyên truyền. CIA đã than phiền nhiều lần về những hoạt động của Đảng Cần Lao và hành vi của ông Ngô Đình Cẩn. Nhưng mỗi lần CIA than phiền với ông Nhu về những hoạt động bí mật - đôi khi trái phép - của ông Cẩn, thì ông Nhu "đưa hai tay lên trời" với một thái độ buông xuôi vì ông không thể nào làm gì được.

Ở một tài liệu khác cho biết, khoảng giữa năm 1956, CIA nhận được nguồn tin cho biết ông Cẩn đang bàn kế hoạch để loại trừ Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành và Cố Vấn Ngô Đình Nhu ra khỏi vòng ảnh hưởng ở Dinh Tổng Thống. Qua nhiều trang, chúng ta đọc được sự bất lực của chính phủ Sài Gòn đối với "lãnh chúa" Ngô Đình Cẩn ở miền Trung.

Với hai Sở CIA ở Sài Gòn hoạt động độc lập nhau, báo cáo gửi về cho CIA ở Hoa Thịnh Đốn đôi khi trái ngược: Cố vấn Paul Hardwood thì báo cáo tốt, nhân nhượng cho ông Nhu và có ý chỉ trích ông Diệm; Edward Lansdale ngược lại: bảo vệ ông Diệm và nói xấu ông bà Nhu. Cuối năm 1956, sau khi Lansdale bị triệu hồi về Mỹ, Al Ulmer, Trưởng Vụ Viễn Đông CIA, ra lệnh giải tán những gì còn lại của Saigon Military Mission - và thái độ của Hoa Kỳ cũng bắt đầu thay đổi với chính phủ Ngô Đình Diệm.

Liên lạc đối lập

Đầu năm 1958 Hoa Kỳ cho phép CIA Saigon bắt liên lạc với các đảng chính trị đối lập. Tài liệu nói nhân viên của CIA mua chuộc và thành lập một lực lượng đối lập "ngay sau lưng ông Nhu," để trong trường hợp phải thay đổi cấp lãnh đạo mới. Cuộc đảo chánh 11 tháng 11-1960 là một "hăm dọa" của Hoa Kỳ đối với tổng thống Diệm: Nhân viên CIA có mặt ở tại bộ chỉ huy của đại tá Nguyễn Chánh Thi và kế bên ông Hoàng Cơ Thụy để giới hạn bước tiến của quân đảo chính - điệp viên Russ Miller khuyên đại tá Thi nên thượng lượng với ông Diệm, trong khi biết rõ quân ủng hộ chính phủ của đại tá Trần Thiện Khiêm đang trên đường từ Vùng IV về thủ đô tiếp cứu. Khi thấy thái độ trở mặt của CIA, lưới tình báo của ông Nhu cũng không hoàn toàn thụ động: Phó Sở CIA Saigon, Douglas Blaufarb, ngỡ ngàng khi ông khám phá ra người tài xế Việt Nam của ông không bị điếc như lúc được giới thiệu vào làm việc (do Trần Kim Tuyến giới thiệu); người tài xế không điếc mà còn thông thạo hai ngoại ngữ Anh và Pháp!

Tài liệu thú nhận vào năm sau cùng của Nhà Ngô, Hoa Kỳ có một phần lớn trách nhiệm trong kế hoạch hạ bệ tổng thống Diệm. Nhưng chính gia đình ông Diệm cũng hủy hoại, vì sự chia rẽ từ anh em trong nhà. Từ mùa xuân năm 1963 ông Nhu yêu cầu CIA đừng nói lại những gì ông và CIA trao đổi. Và qua nhiều lần nói chuyện với CIA, ông Nhu tuyên bố ông muốn thay tổng thống Diệm! Trong khi đó bà Nhu thì thường làm hùng làm hổ với tổng thống Diệm: trong cuộc bầu cử Hạ Viện năm 1963, bà Nhu muốn ủng hộ 30 ứng cử viên mà ba ta ưng ý. Ông Diệm không đồng ý, nhưng bà Nhu "cằn nhằn, to tiếng" cho đến khi tổng thống Diệm nhượng bộ. Bà Nhu cũng thắng thêm một lần nữa, khi đòi làm người chủ tọa và đọc diễn văn ngày Lễ Hai Bà Trưng - thay phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ như ông Diệm đã chỉ định. Riêng về ông Ngô Đình Cẩn: ông Cẩn từ chối không ủng hộ hay giúp ông Nhu về Chương Trình Ấp Chiến Lược ở Miền Trung.

Ngày Lễ Quốc Khánh Hoa Kỳ, 4 tháng 7-1963, lần đầu tiên tổng thống Diệm cho phép các tướng lĩnh VNCH tham dự tiệc ăn mừng do tòa đại sứ tổ chức. Sau tiệc rượu ở khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ, một vài tướng lĩnh VNCH và nhân viên CIA kéo nhau ra quán để uống nữa. Tại quán rượu, tướng Trần Văn Đôn nói với nhân viên CIA là các tướng muốn đảo chính tổng thống Diệm. Thảm kịch của Nhà Ngô bắt đầu từ đó.

2.Các tướng lĩnh miền Nam

Tài liệu thứ hai, CIA and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam (CIA và Các Tướng Lĩnh: Những Hỗ Trợ Ngầm Cho Chính Phủ Quân Sự Việt Nam Cộng Hòa), cũng tương đối "tối mật" so với những tài liệu được CIA công bố trước đây.

Tài liệu trong CIA & Generals bắt đầu sau cuộc đảo chính 1 tháng 11-1963. Những gì đến từ tài liệu cho thấy ngay sau đảo chính, như một tập thể, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không được hòa thuận; và, như những liên hệ cá nhân, các tướng đã nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau trước khi đảo chính.

Trước khi đảo chính, tướng Nguyễn Khánh đã nói xấu về hai tướng Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm với tổng thống Diệm và một số nhân viên CIA. Qua nhiều chi tiết, chúng ta thấy các tướng làm việc chung vì phải tựa vào nhau để mưu cầu lợi quyền lợi riêng, chứ không thật sự có chung một lý tưởng. Trước ngày tướng Khánh "chỉnh lý" tướng Minh và bốn tướng Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân, và Trần Văn Đôn, tướng Khánh thường xuyên rỉ tai với CIA về tin đồn những tướng nói trên sẽ theo Pháp để biến Việt Nam thành trung lập.

Tháng 2-1964 tướng Nguyễn Văn Thiệu đã đưa nhiều sĩ quan thuộc Đảng Đại Việt nằm vào những chức vụ quan trọng trong quân đội. Khi được hỏi để làm gì, tướng Thiệu trả lời để triệt hạ cộng sản và những thành phần thân cộng. Nhưng CIA có nguồn tin cho biết ông Thiệu sẽ dùng sĩ quan Đại Việt để đảo chính ông Khánh. Và chuyện xảy ra đúng như vậy. Tướng Khánh rất ngây thơ khi "hù" tướng Thiệu là Mỹ sẽ "chơi" ông. Nhưng, như chúng ta đã thấy, Mỹ chơi ông Khánh trước ông Thiệu!

Chân dung một số vị tướng

Những chi tiết được giải mật trong CIA & Generals: Trong các tướng VNCH, CIA kính trọng kiến thức của tướng Lê Văn Kim nhất. Trong một buổi thuyết trình về các kế hoạch "kín" đang thực hiện trên đất Bắc, trong khi mặt tướng Dương Văn Minh "ngớ" ra với những chi tiết tình báo quân sự, tướng Kim lấy được sự kính trọng của tình báo Hoa Kỳ với những câu hỏi rất chuyên nghiệp.

Tướng Nguyễn Đức Thắng được người Mỹ kính nể. Trong một báo cáo, Giám Đốc CIA Richard Helms đề nghị cho tướng Thắng cùng một lúc giữ hai Bộ Quốc Phòng và Xây Dựng Nông Thôn, với tất cả cơ cấu và cố vấn Hoa Kỳ "nằm dưới quyền thống thuộc của tướng Thắng."

Về tướng Nguyễn Ngọc Loan, mặc dù người Mỹ không thích tướng Loan vì sự thẳng thắn của ông, nhưng họ nhận định tướng Nguyễn Ngọc Loan là một người thật thà, can đảm, biết được ẩn ý của người Mỹ. Tướng Loan không sợ khi nói thật ý nghĩ của ông với tình báo Mỹ. Đầu năm 1967, khi biết được Hoa Kỳ đang đi sau lưng chính phủ VNCH, liên lạc với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, ông Loan nói với CIA là người Mỹ từ đây sẽ đi sau lưng người quốc gia ... và sau cùng người Mỹ sẽ bỏ đi, chỉ còn VNCH một mình đơn thân chống lại Bắc Việt.

Cuối năm 1966 Hoa Kỳ có ý định "bắt liên lạc" với một vài nhân sự của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Lý luận của CIA là họ muốn xâm nhập vào nội bộ để gây chia rẽ giữa cấp lãnh đạo MTGPMN và Hà Nội. Muốn lấy lòng tin của MTGPMN, CIA xin chính phủ VNCH phóng thích vài nhân sự quan trọng của MTGPMN đang bị Cảnh Sát Quốc Gia VNCH giam giữ, trong đó có vợ của Trần Bạch Đằng (bà Mai Thị Vàng) và Trần Bửu Kiếm (bà Phạm Thị Yến), và một số cán bộ giao liên.

Ban đầu VNCH phản đối, nhưng sau cùng vì áp lực cũng phải cộng tác với Hoa Kỳ trong kế hoạch liên lạc với MTGPNM. Từ tháng 2-1967 cho đến tháng -1968, VNCH thả bà Vàng và bà Yến, cộng thêm 10 cán bộ giao liên phía bên kia. Đổi lại, phía MTGPMN chỉ thả ba tù binh Hoa Kỳ. Nhưng từ đó VNCH - nhất là tướng Nguyễn Ngọc Loan - thấy Hoa Kỳ sẵn sàng "xé lẻ" nếu tình thế phù hợp với đường lối ngoại giao của họ.

Qua các tài liệu giải mật sau này, chúng ta thấy CIA có một hồ sơ rất chi tiết về nhân sự và cơ cấu của MTGPMN. Thêm vào đó, CIA cũng có luôn những báo cáo của Chánh Phủ Lâm Thời Miền Nam Việt Nam (là hậu thân của MTGPMN từ tháng 6-1969) gởi về cho Trung Uơng Cục Miền Nam, cập nhật những diễn tiến ở Hội Đàm Paris 1968-1973.

3.Nội bộ VNCH

CIA xâm nhập sâu vào cơ cấu hành chính và nhân sự của VNCH trong khoảng 1967-1975, nhất là sau cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng Hòa (1967). Vì kết quả bầu cử phải được Hạ Viện VNCH chứng nhận hợp pháp - nhất là một cuộc bầu cử mà hai ứng viên cùng chung liên danh (Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ), đã cấu xé nhau trước khi ngồi lại với nhau, và hầu hết liên danh thất cử nào cũng phản đối kết quả - Hoa Kỳ chỉ thị cho CIA phải tìm mọi cách bảo đảm Hạ Viện sẽ chứng nhận kết qủa bầu cử. Hạ viện bỏ phiếu thuận 58 trên 43, xác nhận liên danh Thiệu-Kỳ đắc cử.

Tài liệu trong CIA & Generals nói tình báo Mỹ đã khuynh đảo một số dân biểu trong hai bầu cử tổng thống 1967 và 1971 (và bầu cử Quốc hội của năm 1970). CIA mua chuộc được 10 dân biểu, "nhưng muốn có thêm 10 tiếng nói" ủng hộ nữa, để chắc ăn về những dự luật đang nghị luận! Tài liệu cho biết CIA đã tốn bao nhiêu tiền để thành lập hay giúp đỡ các đảng phái chính trị với hy vọng các lực lượng này sẽ ủng hộ và xây dựng một thế lực phía sau tổng thống Thiệu. Đảng Mặt Trận Cứu Nguy Dân Tộc, (của thượng nghị sĩ Trần Văn Đôn) được CIA tài trợ với hy vọng trên. Nhưng khi biết được người đứng ra tổ chức là Đặng Đức Khôi - một thân tín của ông Kỳ - ông Thiệu từ chối ủng hộ. Để có một tổ chức riêng, ông Thiệu cho ra đời Lực Lượng Dân Chủ.

Sau Đảng Dân Chủ, CIA tài trợ một lực lượng chính trị khác, có tên Đảng Liên Minh Cách Mạng Xã Hội, với hy vọng gom lại tất cả lực lượng chính trị thành một mặt trận chung, dưới sự lãnh đạo chung của tổng thống Thiệu và phó tổng thống Kỳ. Nhưng vấn đề là hai ông Thiệu, Kỳ không còn muốn xuất hiện chung với nhau ngoài công cộng! Sau cùng, với sự nài nỉ của người Mỹ, và vì lợi ích quốc gia, Khối Liên Minh được khai mạc ngày 4 tháng 7-1968, với sự chủ tọa của hai ông Thiệu và Kỳ.

Khối Liên Minh tập họp hơn 25 đảng phái chính trị lớn nhỏ ở Miền Nam. CIA tài trợ Đảng này cho đến cuối năm 1969. Tuy nghe theo lời cố vấn của Hoa Kỳ, nhưng tổng thống Thiệu lúc nào cũng nghi ngờ dụng ý của người Mỹ. Ông nói với nhân viên CIA là không những VNCH phải đương đầu với sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt vào Nam, mà còn phải đương đầu với sự xâm nhập của CIA vào nhân sự của chính phủ!

Những tiết lộ khác trong CIA & Generals: Tình báo của MACV biết rõ ngày giờ Bắc Việt sẽ tấn công qua vùng Phi Quân Sự trong trận tổng công kích Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, nhưng Hoa Kỳ không thông báo cho VNCH, hay tấn công vào các đơn vị Bắc Việt đang tập trung quân. Ngược lại, thái độ của đại tướng Creighton Abrams và đại sứ Bunker rất lạc quan, hai ông tuyên bố - trong cao điểm của cuộc tấn công - là Bắc Việt sẽ mất hết quân sau trận tổng tấn công. Những chi tiết này làm người đọc không khỏi thắc mắc, là có phải Hoa Kỳ đã cố ý để cho cuộc tấn công xảy ra? Chi tiết này làm cho đọc giả nhớ lại câu đối thọai của tổng thống Richard Nixon với Henry Kissinger là "... sau trận này, hai bên phải có một bên hết quân."

Từ tháng 8-1972, để chuẩn bị cho những thương lượng sau cùng của Kissinger và Lê Đức Thọ ở Paris, CIA được lệnh phải làm hao mòn sức chống đối của tổng thống Thiệu về một số điều khoản trong bản hiệp định (một trong những điều khoản ông Thiệu cực lực phản đối, là Hoa Kỳ đồng ý cho Bắc Việt để lại quân ở Miền Nam, Lào, Cam Bốt). Một số tài liệu giải mật ở giai đoạn này (tháng 8 1972 cho đến lúc ký Hiệp Định Paris, tháng 1-1972) cho thấy CIA có điệp viên nằm trong Trung Ương Cục, qua những tin tức họ nhận được về cuộc nói chuyện giữa Lê Đức Thọ và Kissinger.

Tuy là tài liệu được giải mật, nhưng một số lớn chi tiết, tên tuổi của những điệp viên, điềm chỉ viên trong sách vẫn còn bị kiểm duyệt. Nhưng nếu độc giả gom những chi tiết trong CIA & Ngo, trong CIA & Generals, và so sánh với một số tài liệu đã được giải mật từ Bộ Ngoại Giao (Foreign Relations of the United States, Vietnam), đọc giả có thể suy luận ai là ai nằm dưới những lằn đen kiểm duyêt

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image
Trung Quốc đồng ý cấp vé 1 chiều cho Lưu Hiểu Ba



Có nhiều khả năng vào ngày 10 tháng 12 tới tại Oslo sẽ không diễn ra lễ trao giải Nobel Hòa Bình năm nay – Ủy ban Nobel cảnh báo. Trung Quốc đã đề nghị cấp cho ông Lưu Hiểu Ba vé máy bay một chiều tới Oslo, nhưng nhà bất đồng chính kiến đã từ chối. Việc không trao giải thưởng Nobel Hòa Bình năm nay sẽ trở thành trường hợp đầu tiên trong lịch sử của giải Nobel.

Ngay cả trong năm 1935, khi Hitler không cho tù nhân Carl von Ossietzki tới Oslo, luật sư của ông đã đứng ra thay thế.

Theo các quy tắc được thắt chặt sau trường hợp của Ossietzki, người nhận thay chỉ có thể là thành viên trong gia đình của người được trao giải. Năm 1983, Lech Walesa, Thủ lĩnh Công đòan Đoàn kết Ba Lan sợ rằng nếu ông qua Oslo thì sẽ không được trở lại Ba Lan, nên vợ ông, bà Danuta, đã nhận thay. Tương tự trước đó vào năm 1975 đối với nhà văn nước Nga Andrei Sakharov. Ông cũng sợ rằng sẽ không thể trở về Liên Xô, nên vợ của ông đã đi. Giải thưởng Nobel của nhà dân chủ Miến Điện, bà Aung San Suu Kyi, đã được các con của bà nhận thay vào năm 1991.

Thư ký của Ủy ban Nobel, ông Geir Lundestad, cũng nói thêm rằng, Ủy ban Nobel Na Uy không có thói quen mời hoặc khuyến khích sự xuất hiện của những người đã được trao giải từ các năm trước. Nhưng nếu muốn tham gia buổi lễ này, họ có thể đến mà không cần có lời mời. Chính vì thế sáng kiến để Lech Walesa nhận thay sẽ không được thực hiện.

Trong trường hợp của Lưu Hiểu Ba, người đang chịu án 11 năm tù vì tội “âm mưu lật đổ chính quyền”, tác giả của Hiến chương 08 kêu gọi nhà chức trách Bắc Kinh cho dân chủ hóa Trung Quốc, không có ai đi đến Oslo. Vợ ông đang bị quản thúc tại gia và sẽ không được phép xuất ngoại. Hai người anh em của ông Lưu Hiểu Ba cũng chịu sự giám sát của cảnh sát và họ cũng sẽ không được ra khỏi biên giới.

Buổi lễ sẽ như thế nào khi không có nhân vật chính? Ông Geir Lundestad trả lời: “Sẽ tuyệt vời và xứng đáng!”.

Ông Lundestad cho biết trong ngày 10 tháng 12 khoảng một nghìn khách mời sẽ có mặt tại sảnh đường thành phố Oslo. Nữ diễn viên Na Uy nổi tiếng Liv Ullman sẽ đọc một bài luận ngắn của người đoạt Giải thưởng Nobel, một trong những bài cuối cùng mà ông Lưu Hiểu Ba đã viết về tự do, dân chủ. Nhưng nếu không một ai trong gia đình ông Lưu Hiểu Ba có thể tới, nghi lễ sẽ buộc phải bỏ 2 hay 3 phút dành cho việc trao huy chương và bằng chứng nhận.

Về mặt lý thuyết, mọi thứ vẫn mở cho đến phút cuối cùng. Ngay cả nếu một giờ trước khi buổi lễ tại Oslo cử hành, người được ủy quyền có mặt tại Oslo, Uỷ ban vẫn sẵn sàng để trao giải. Thế nhưng có lẽ chỉ còn là đề nghị – bạn bè của ông Lưu HIểu Ba yêu cầu Ủy ban cho đặt một cái ghế trống trên bục.

Trung Quốc đang hết sức cố gắng làm suy yếu các nghi lễ quan trọng nhất của buổi lễ trao giải và đe dọa trả đũa thương mại đối với quốc gia nào có đại diện tham dự buổi lễ tại Oslo.

Được biết, Bắc Kinh đã hăm dọa ít nhất sáu nước, bao gồm Nga, Kazakhstan, Cuba, Morocco, Iraq và Indonesia. Tuy nhiên Moscow giải thích rằng, việc đại sứ của họ không có mặt ở Oslo trong thời gian diễn ra buổi lễ không phải vì sức ép của Trung Quốc mà do lịch công vụ có sự trùng hợp. Trong khi đó, ông Lundestad nói rằng, các nước này đã không cung cấp cho Ủy ban lý do về quyết định của mình. Ông nói thêm rằng Trung Quốc đang thực thi một chiến dịch chưa từng có nhằm mục đích phá hoại sự tham gia của các đại sứ trong buổi lễ. – “Tôi chưa thấy một ví dụ nào khác về một quốc gia tìm cách ngăn cản đại sứ của các nước khác không tham gia buổi lễ” – Lundestad nhấn mạnh.

Đại sứ quán Trung Quốc ở Na Uy thậm chí còn gửi thư cho đại sứ quán khác, yêu cầu họ tẩy chay buổi lễ.

Ủy ban cho biết có 16 quốc gia ngần ngại cử đại sứ tới và con số vắng mặt có thể sẽ nhiều hơn. Người ta cũng đồn về Brazil và Hàn Quốc. Nhật Bản đang do dự vì Trung Quốc gây áp lực lớn. Cho đến nay 36 quốc gia của Tây Âu đã xác nhận sự có mặt của mình trong buổi lễ.

Thứ Sáu tuần trước, Đại sứ quán Đức tại Oslo nhận được cảnh báo bằng lời nói từ các nhà ngoại giao Trung Quốc. Nhưng phát ngôn viên của Thủ tướng Đức, bà Angela Merkel, tuyên bố rằng, chính phủ Đức có truyền thống hàng năm cử đại biểu tham dự lễ trao giải Nobel và thấy không có lý do gì trong năm nay lại bỏ đi một thực tế lâu đời”.

Giải Nobel Hòa bình dành cho nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba đã thực sự làm Trung Nam Hải cực kỳ khó chịu. Thậm chí một tờ báo nhà nước “Global Times” đã đề xuất thành lập “Giải thưởng Khổng Tử” như là để cạnh tranh với giải Nobel. – “Đây sẽ là cơ hội tốt nhất cho thế giới thấy được quan điểm của Trung Quốc trong vấn đề hòa bình và nhân quyền” – Tờ báo viết.

Đồng thời Bắc Kinh đang tìm kiếm cách tống khứ người được trao giải thưởng Nobel. Tờ báo “The London Daily Telegraph” dẫn nguồn tin từ chính phủ của Trung Quốc, viết rằng, ông Lưu Hiểu Ba sẽ được trả tự do từ ngay lập tức nếu ông đồng ý bị trục xuất. Thế nhưng ông Lưu Hiểu Ba đã từ chối.

Lê Diễn Đức

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Khi người ta gọi bác của tôi, ba tôi và anh tôi là 'giặc'!

Dang Binh Diem Chi
(Nguồn: Facebook)

Trước giờ vẫn nghe câu “Thắng làm vua, thua làm giặc” và “Kẻ thắng viết nên lịch sử,” nhưng chưa từng thấm thía nó như lúc này!

Image
Tượng “Tiếc Thương” trước cổng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, bị cho nổ tan sau 1975.



Ngày còn cắp sách đến trường, mỗi thứ hai đứng chào dưới cờ tổ quốc, gào lên cùng lũ bạn “àcờ in máu chiến thắng” mà không biết rằng lá cờ ấy cũng có thấm máu của người thân mình, những dòng máu bị rẻ khinh, không được thừa nhận!

Khi người ta cố nhồi nhét hình ảnh về một đấng lãnh tụ vĩ đại, toàn năng vào đầu óc non trẻ của tôi, tôi đã không kháng cự, chỉ đôi lúc tự hỏi một cách lén lút: “Thật là có con người như thánh sống thế ư?” Bởi vì đôi khi những gì họ nói trước sau bất nhất. Họ chẳng bảo: “Không có gì tuyệt đối và toàn vẹn” đấy sao? Hay có ngoại lệ?

Ngày đó ngây thơ đến mức nằm trong phòng đọc bài học lịch sử oang oang, không ngừng mắng chửi “ngụy,” “tay sai,” mà không nhớ rằng ba mình từng khoác áo lính của Việt Nam Cộng Hòa!

Khi người ta dạy cho tôi phỉ báng những người lính “ngụy,” coi khinh họ như nhưng kẻ không có lương tâm, những kẻ bán rẻ tổ quốc, những con người máu lạnh, giết người không gớm tay.

Thì tôi, đã thấy những người lính sa cơ ấy rất hiền lành, là những người cha, người chồng mẫu mực, những người nông dân không ngại vất vả ngoài đồng.

Thì tôi, thấy trong ánh mắt họ một nỗi đau bất lực vì không bảo vệ được tổ quốc của mình!

Thì tôi, thấy họ loay hoay tìm cho gia đình mình một con đường tươi sáng khác để đi. Họ không ngồi đó và khóc cho một quá khứ tươi đẹp đã mất, đã bị cướp mất!

Tôi đã thấy họ dạy con họ yêu tổ quốc, yêu cội nguồn, và trân trọng tình thân! (xin đừng đánh đồng như cái cách người ta đang giả vờ tự lừa dối nhau, tổ quốc không bao giờ nên hiểu là “người chiến thắng,” và “người chiến thắng” cũng không phải là tổ quốc, nếu như hôm nay tôi nói tôi chẳng có chút cảm tình nào đối với “người chiến thắng” thì không có nghĩa là tôi không yêu đất nước của tôi.)

Tôi đã thấy họ tìm được một cuộc sống tốt đẹp hơn nơi đất khách, nhưng cái nhìn của họ vẫn hướng về nơi này một cách khắc khoải. Bởi lẽ, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp họ đã bị đẩy đi xa quá xa nơi họ được sinh ra và lớn lên, nơi còn có những người thân còn ở lại! Họ có thể trở về, nhưng họ sẽ không trở về, tôi biết thế, không phải vì họ chê cố hương nghèo khó!

Khi người ta nói họ là những kẻ “vong quốc,” tôi sẽ lắc đầu bảo rằng không phải, họ là những người “vọng quốc” (luôn luôn hoài vọng về tổ quốc của mình).

Khi người ta bảo rằng họ ở bên kia bờ biển đang tìm mọi cách phá hoại an ninh quốc gia, thì tôi lại tin rằng, họ đã bày tỏ một nỗi thất vọng khôn xiết về cách “trị quốc” của “kẻ thắng,” họ đang bày tỏ niềm xót thương với những số phận đang ngày ngày tìm đến nhau trong niềm an ủi và hi vọng, dù là nhỏ nhoi. Họ đang cất lên tiếng nói giúp những những người mà họ nghĩ rằng “thấp cổ bé họng.”

Không có triều đại nào vĩnh viễn, thì sao cứ mãi lừa mị nhau về cái gọi là “muôn năm”?

Khi người ta gọi bác tôi, ba tôi và anh tôi là “giặc” thì tôi vẫn cứ tự hào về họ, những người đàn ông Việt Nam đúng nghĩa!

Khi người ta gọi họ là “ngụy” thì tôi vẫn vô cùng kính trọng và yêu thương họ!

Bản chất không nằm ở tên gọi và lịch sử cũng không thuộc về kẻ chiến thắng!

Tôi sẽ ngẩng cao đầu vì là cháu, con và em của họ!

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Thư gởi bạn ta -
QUÂN TỬ TÀU
(Bùi Bảo Trúc)

Bạn ta,

Hán-Việt Từ Điển của Đào Duy Anh định nghĩa quân tử là người tài đức xuất chúng, người phẩm hạnh ngay thẳng, người có nhân cách hoàn toàn, theo Khổng giáo. Trong khi đó, Từ Điển Tiếng Việt của Trung Tâm Từ Điển Ngôn Ngữ của Hà Nội thì giải thích danh từ quân tử là người có tài, có đức trong thời phong kiến cổ đại ở Trung Quốc.

Nhưng danh từ quân tử Tàu thì không có từ điển nào ghi.

Quân tử Tàu là chữ của Miền Nam. Miền Bắc, trong sự tôn kính dành cho nước của Mao Trạch Đông, không thể có danh từ đó. Tàu là danh từ thiếu tôn kính mà nhà nước hết sức tránh để khỏi làm mất lòng người đồng chí phương Bắc, đến độ cuốn Người Đàn Bà Tàu (tức là bản dịch cuốn Đài Gương) của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, khi được in lại, tựa đề cũng phải sửa thành Người Đàn Bà Trung Quốc.

Nhưng ở miền Nam thì chữ Tàu được dùng thả cửa, cho cả những ý xấu cũng như ý tốt. Cơm Tàu, ghẻ Tàu, phim Tàu , đàn bà Tàu, phố Tàu... và quân tử Tàu.

Quân tử Tàu hơi khác với những định nghĩa của quân tử thường tìm thấy trong các từ điển.

Quân tử Tàu cũng có nghĩa là quân tử, cũng tử tế, ngay thẳng, cũng tốt bụng nhưng hơi ngu một chút, ngu trong ý nghĩa tốt đẹp nhất của nó.

Không đánh người ngã ngựa là quân tử. Không đánh mà còn giúp cho nó leo lên ngựa, lại dúi cho nó vài chục để nó đi đường ghé tiệm ăn cơm Tàu cho bõ những ngày cơ cực sau khi nó đối xử với mình không ra gì, là quân tử Tàu.

Như thế, quân tử Tàu là người tốt, quá tốt đến độ hơi ngu một chút là khác. Nhưng quân tử Tàu vẫn là người tốt. Trong đời chúng ta chắc chắn đã gặp bao nhiêu người như thế, thứ người có lối hành xử không thông thường, kiểu như vừa bước ra khỏi một pho truyện Tàu nào, không Tam Quốc thì Đông Chu, không Đông Chu thì cũng trong bộ Cổ Học Tinh Hoa. Có lẽ vì thế, để dễ hiểu, và để phân biệt với các liại quân tử khác, chúng ta có chữ quân tử Tàu.

Nhưng đã đến lúc phải cho danh từ này về hưu, xếp nó vào những chữ cổ, không dùng nữa, vì một số lý do.

Thứ nhất, người Trung Quốc không bao giờ có những chữ tương đương nào với ý nghĩa tốt đẹp dành cho chúng ta, người Việt. Vậy thì tại sao phải tiếp tục tử tế với người Trung Quốc, dùng danh từ quân tử Tàu, trong đó, chữ Tàu mang toàn những hình ảnh tốt đẹp trong khi họ có bao giờ tử tế với chúng ta đâu. Nước Anh và nước Pháp chơi nhau đến nơi đến chốn. Cái bao cao su ngừa thai, phòng bệnh người Pháp gọi là capote anglaise thì người Anh gọi là French letter. Không nhường nhau một ly. Ông bỏ nước Anh của chúng tôi xuống dưới đó, thì chúng tôi cũng bỏ nước Pháp của các ông xuống ngay.

Thứ hai, người quân tử ở nước Tàu nay không còn nữa. Mà đó là khẳng định của ông Bá Dương, tác giả cuốn Người Trung Quốc Xấu Xí, một nhà báo ở Đài Loan. Người Trung Quốc qua cái nhìn của ông Bá Dương, là một dân tộc hay đấu đá nhau, tính tình nhỏ nhen, bần tiện, ăn ở dơ dáy, nói năng thô tục, bất lịch sự không thể nói hết. Ông kể chuyện một số du khách Trung Quốc sang thăm Hoa Kỳ đã vô cùng kinh ngạc trước lối sống lịch sự của người Mỹ, luôn miệng xin lỗi, cám ơn, nhường nhau đi trước ở cửa ra vào, ngoài đường phố...

Người Trung Quốc thì không thế. Nhưng có lẽ Trung Quốc đang tìm cách thay đổi những hình ảnh không tốt bằng cách sửa mình cho văn minh hơn. Họ đang cố bỏ thói xấu khạc nhổ của 2/3 tổng số dân Hoa Lục bằng cách phạt mỗi cú nhổ một số tiền tương đương với 6 Mỹ Kim và phải cúi xuống lau ngay cho sạch chỗ vừa nhổ xuống. Điều này là điều cần thiết, vì nếu không. 2/3 của dân số 1 tỷ 300 triệu người cùng đứng lên, nhổ xuống một cái thì sẽ có nhiều người chết đuối nếu không biết bơi để thoát ra bãi đờm và nước bọt đó.

Xong chuyện khạc nhổ, bây giờ qua chyện xin lỗi. Ông Giang Trạch Dân hồi ấy đi công du mấy nước về liền (nín khạc nhổ một lúc) ra trước cuộc họp báo nói rằng ông đi đâu cũng thấy mọi người lịch sự, ông nghĩ đó là bài học tốt. Mọi người nên xin lỗi nhau nhiều hơn. Và nước Mỹ, theo ông Giang Trạch Dân, nên đi bước đầu là xin lỗi Trung Quốc về vụ chiếc phi cơ trinh sát của hải quân Mỹ làm rơi chiếc phản lực cơ F-8 làm thiệt mạng một hoa tiêu của không lực Trung Quốc. Chừng nào cái cột đèn xin lỗi đã gây ra tai nạn cho người lái chiếc xe húc vào cột đèn thì người Mỹ mới cần xin lỗi Trung Quốc.

Post Reply