Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Niềm tin vào con người Việt
Tác giả: Alan Phan
Trong dòng đời, đối diện những thử thách khó khăn, chính con người "lì" như tôi cũng nhiều lúc muốn buông thả. Nhưng nhìn những tấm gương như chị Gấm, tôi thấy mình không có quyền bỏ cuộc.
Năm 1983, trong một dịp về thăm nhà ở California, tôi đang loay hoay sửa lại hệ thống tưới nước cho khu vườn trước nhà, áo quần mặt mày lem luốc như một anh lao công Mỹ chính hiệu; thì một người phụ nữ lạ mặt xuất hiện ngoài cổng, cao tiếng, "Ông Tổng; Ông Tổng". Đã lâu lắm tôi mới nghe lại danh từ này.
Ngạc nhiên, tôi ra mở cửa mời khách vào nhà. Chị giải thích, "Con là nhân viên cắt thịt của nhà máy Dona Foods ở Biên Hòa ngày xưa. Chắc ông không nhớ?" Tôi lắc đầu. Nhà máy có hơn 3.000 nhân viên, ngoài các cán bộ trong ban quản lý, tôi thực sự không biết ai. Chị đưa ra tấm thẻ ID cũ của công ty, đã bạc màu, nhưng vẫn còn nhận rõ tên Dương Thị Gấm, với tấm hình đen trắng ngày xưa rất quê mùa, có cả tên và chức vụ của anh quản lý trong khu vực sản xuất.
Chị tiếp tục kể, "Sau khi chính quyền tiếp thu, con làm thêm 4 tháng rồi bị cho nghỉ vì nhà máy không đủ nguyên liệu để điều hành. Con lên thành phố làm ô sin cho một gia đình vừa ở ngoài Bắc vô. Sau 1 năm, ông chủ được thăng chức điều về Hà Nội. Vì con làm việc tốt, ông đem con đi luôn và con ở ngoài đó đến 2 năm. Trong thời gian làm thuê, có ông nhân viên ngoại giao người Đức cạnh nhà. Ông ta lớn tuổi, nhưng ngỏ ý muốn cưới con và đem về Đức khi mãn nhiệm. Muốn giúp gia đình nên con đồng ý, dù con chỉ mới 22 tuổi trong khi ông ta đã hơn 60." Tôi nhìn chị kỹ hơn. Năm 1975, chị mới 19, thì năm nay, có lẽ chị chỉ mới 27, nhưng xem chị già và phong trần nhiều. Chị thuộc loại đàn bà xấu, dưới trung bình, lại thêm đôi chân bị khập khễnh. Có lẽ những bệnh tật, bất hạnh và mặc cảm đã làm chị già trước tuổi?
"Con theo chồng về Đức được 3 năm thì phải bỏ trốn, rồi ly hôn, vì ông này mỗi lần say rượu là đánh đập con tàn nhẫn. Con phải vào nhà thương cả chục lần mỗi năm. Không có tiền bạc hay của cải, làm bồi bàn khổ cực, nên con nghe lời rủ rê của bạn bè chạy qua Mỹ tìm đường sống. Con đến Los Angeles được 6 tháng nay." Đại khái, chị đang làm nhân viên thoa bóp (masseuse) cho một tiệm trên San Bernadino. Thu nhập cũng tạm đủ sống, nhưng có cơ hội, người chủ muốn sang tiệm, nên chị tìm cách mua lại.
Một góc khu chợ của người Việt tại Đông Âu.
"Con dành dụm được hơn 12 ngàn đô la, nhưng còn thiếu 5 ngàn nữa. Nghe tin ông Tổng ở đây, con hy vọng ông giúp cho con số tiền này để con có cơ hội vươn lên".
Tôi đính chính với chị, tôi đã hết là ông Tổng, hiện nay chỉ là một nhân viên xoàng của một ngân hàng nhỏ ở Wal Street, sống đời trung lưu bình dị như triệu người Mỹ khác. Nhưng may cho chị là hôm ấy, gần ngày Giáng Sinh, tôi thấy rộng lượng và nhất là vừa nhận được tấm chi phiếu khá lớn của ngân hàng cho tiền thưởng cuối năm. Tôi cho chị mượn 5 ngàn và thực sự, không nghĩ rằng mình sẽ thấy lại số tiền này, như nhiều trường hợp vẫn luôn xảy ra với bà con bạn bè.
Nhưng chỉ 6 tháng sau, chị lại tìm đến nhà trả lại số tiền 5 ngàn và còn muốn đưa thêm 3 ngàn tiền lãi. Tôi không có nhà, vợ tôi chỉ nhận lại 5 ngàn không lấy lãi và chúng tôi đều đồng ý là số tiến 5 ngàn khứ hồi này quả là chuyện thần thoại của Hollywood. Chị còn khoe với vợ tôi là đã mua thêm 1 tiệm massage khác.
Bẵng đi 5 năm, tôi không gặp lại chị và cũng không liên lạc gì. Tình cờ, tôi và bạn bè vào một quán ăn khá sang trọng ở Bolsa (quận Cam) và người chủ tiệm đứng đón tiếp chúng tôi là chị Gấm ngày nào. Chị huyên thuyên câu chuyện, "Làm massage có tiền nhưng nhức đầu với nhân viên, khách hàng và cơ quan công lực, nên con bán hết 5 tiệm và quay ra kinh doanh nhà hàng. Ngoài tiệm này, con còn 2 tiệm nữa ở khu phố Tàu và khu đại học UCLA." Chị cũng khác hẳn lúc xưa. Áo quần thời trang bảnh bao, ăn nói lịch thiệp hơn, cư xử đúng như một bà chủ, và chiếc xe Mercedes đời mới đậu ngay cạnh cửa nói lên sự "thành công" của chị.
Sau bữa ăn miễn phí, tôi cũng không liên lạc gì với chị, vì công việc làm ăn của tôi lúc này đem tôi đi khắp thế giới, không mấy khi về lại California. Cho đến năm 1997, khi tôi đi dự một hội thảo và triển lãm về ngành ngân hàng ở Chicago, chị lại xuất hiện. Tôi đang nghiêm túc ngồi trên bàn làm phối hợp viên (moderator), còn chị thì tươi cười chào tôi trong bộ âu phục của một nhân viên cao cấp (executive), với một thẻ bài đeo trên người có tên rất Mỹ là Christina Spencer. Trong bữa ăn chiều sau hội thảo, chị đưa tấm hình chồng chị và đứa con đã lên 3, rồi tiếp tục, "Trong khi kinh doanh, con đi học thêm vào buổi tối và cuối tuần, cuối cùng cũng lấy được mảnh bằng Cử nhân (Bachelor) về Tài chính (Finance). Sau đó con đi làm cho Wells Fargo (ngân hàng lớn ở California), gặp chồng con là Phó Giám Đốc R&D cho Xerox nên đời sống hai đứa cũng tốt đẹp. Chúng con đang sống ở Palo Alto (một khu giàu của Bắc California cạnh đại học Stanford)". Một nhân công nghèo hèn, thất học với một nhan sắc kém cỏi, lại gặp nhiều gian truân, chị đã lên tới đỉnh sung túc của một xã hội có sự cạnh tranh khắc nghiệt giữa nhiều loại dân tứ xứ. Tôi nhìn lại chị thêm lần nữa, một biểu tượng đáng khâm phục cho ý chí cầu tiến và sự hy sinh vô bờ để đạt đến giấc mộng của mình.
Dĩ nhiên là chị không nói ra, nhưng tôi tin là trong cuộc hành trình 22 năm vừa qua của chị, đã không thiếu những tình huống hiểm nghèo, cay đắng và tuyệt vọng chị phải đối diện. Sức mạnh nội tại nào đã giúp chị vượt qua và bay cao mới thực sự là "cú đấm thép" mà cộng động chúng ta hay bàn luận.
Không thiếu những trường hợp như chị trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Rời quê hương với hai bàn tay trắng, thiếu sót mọi kiến thức, kinh nghiệm và quan hệ trên xứ người, những người Việt như chị đã vượt lên mọi rào cản, trở ngại để dành cho mình một chỗ đứng dưới ánh mặt trời (a place in the sun).
Tôi cũng còn nhớ một buổi sáng mùa đông nào, khoảng 1990, mấy người bạn đưa tôi đi thăm Chợ Vòm ở Moscow nơi phần lớn người Việt tụ tập mua hàng sỉ để đem về các tỉnh thành xa xôi ở Nga để bán lẻ lại. Tôi đã ái ngại nhìn những thùng đồ nặng trĩu trên đôi vai gầy yếu mỏng manh của vài thiếu nữ Việt Nam, quẩy gánh đi đến các trạm xe lửa, để tải hàng về những nơi như Siberia, Kazakhstan...chỉ nghe tên là đã lạnh run người. Họ là những biểu tượng đẹp nhất của tinh thần và sức sống Việt.
Dĩ nhiên là tôi cũng đã từng gặp những người Việt "xấu xí" trên các nẻo đường thế giới. Những anh chị dốt nát nhờ chút quyền lực, có chút tiền, ra nước ngoài coi trời bằng vung, hành xử với tất cả ấu trĩ của một bậc "đại quê mùa". Hay những cậu ấm cô chiêu, nhờ tiền rừng bạc biển của cha mẹ cung cấp, ăn chơi đua đòi, nhiễm mọi thói hư tật xấu của bọn sinh viên hoang đàng. Nhưng các người này chỉ là thiếu số giữa một đám đông người Việt thầm lặng, kiên nhẫn, cần cù xây dựng cho mình một tương lai xứng đáng với mọi lời vinh danh cao cả nhất.
Một góc chợ của người việt tại Đông Âu.
Khi nói về sự hãnh diện của dân tộc, tôi nghĩ phần lớn những người Việt tha phương không cho hình ảnh các đại gia với máy bay riêng hay xe siêu sang là sự tiến bộ của xã hội. Hay các chân dài với đủ nhãn hiệu "hoa hậu", "siêu sao" là biểu tượng của thành công. Hay vài trận bóng đá với các nước láng giềng hoặc những xếp hạng rất vô nghĩa của các nhóm truyền thống quốc tế.
Vả lại, ở lâu trên xứ người, chúng tôi đã chứng kiến những sự giàu sang hay tiếng tăm cả triệu lần các nhân vật hay sự kiện này.
Niềm hãnh diện thực sự của chúng tôi là những Dương Thị Gấm, những cô gái buôn hàng lẻ ở Moscow, những em trẻ đứng đầu bảng ở các trường trung học, những khoa học gia đồng hành cùng các nhân tài thế giới ở rất nhiều viện nghiên cứu, những doanh nhân cạnh tranh ngang ngửa trên sân chơi bằng phẳng của các nền kinh tế tân tiến... Những người Việt đó là động lực khiến chúng tôi phải gắng đi thêm bước nữa trong những giờ phút đen tối khó khăn nhất, phải vượt qua cái kỹ năng hạn hẹp của mình để tỏa sáng.
Trong dòng đời, đối diện những thử thách khó khăn, chính con người "lỳ" như tôi cũng nhiều lúc muốn buông thả. Muốn quay về một góc tối nào đó, an phận với cuộc sống an nhàn, cho qua kiếp người dâu bể. Nhưng nhìn những tấm gương như chị Gấm, tôi thấy mình không có quyền bỏ cuộc. Tôi tự nhủ mình đã quá may mắn, được nuôi dưỡng trong một môi trường lành mạnh, phong lưu, với đủ lợi thế cạnh tranh. Sự thất bại của mình sẽ là một vết nhơ gấp đôi những con người Việt kém may mắn khác. Do đó, mình phải vươn vai đứng dậy để tiếp tục, vì đây là bổn phận và danh dự của mình trước những người bạn đồng hành.
Trước bối cảnh khó khăn hiện tại của kinh tế thế giới, và dự đoán là tình hình sẽ tệ hại hơn (theo nhận định chủ quan của tôi), tôi muốn nói với các doanh nhân trẻ và nhỏ của Việt Nam, trong hay ngoài nước, là nếu những con người như chị Gấm đã làm được, chúng ta cũng sẽ làm được. Điều thú vị nhất là lần ăn tối ở Chicago với chị Gấm, tôi bốc được một lời khuyên trong chiếc bánh may mắn (gọi là fortune cookies mà các nhà hàng Tàu ở Mỹ thường mời khách free. Bánh kèm bên trong một lời bói toán hay một câu nói của doanh nhân). Tôi còn giữ tờ giấy này, "Thua cuộc chỉ là một tình trạng tạm thời. Bỏ cuộc biến nó thành một sự kiện thường trực". (Being defeated is often a temporary condition. Giving up is what makes it permanent-- Marlene vos Savant). Chúng ta không tiên đoán về tương lai, chúng ta đang tạo dựng nó hàng ngày.
Tác giả: Alan Phan
Trong dòng đời, đối diện những thử thách khó khăn, chính con người "lì" như tôi cũng nhiều lúc muốn buông thả. Nhưng nhìn những tấm gương như chị Gấm, tôi thấy mình không có quyền bỏ cuộc.
Năm 1983, trong một dịp về thăm nhà ở California, tôi đang loay hoay sửa lại hệ thống tưới nước cho khu vườn trước nhà, áo quần mặt mày lem luốc như một anh lao công Mỹ chính hiệu; thì một người phụ nữ lạ mặt xuất hiện ngoài cổng, cao tiếng, "Ông Tổng; Ông Tổng". Đã lâu lắm tôi mới nghe lại danh từ này.
Ngạc nhiên, tôi ra mở cửa mời khách vào nhà. Chị giải thích, "Con là nhân viên cắt thịt của nhà máy Dona Foods ở Biên Hòa ngày xưa. Chắc ông không nhớ?" Tôi lắc đầu. Nhà máy có hơn 3.000 nhân viên, ngoài các cán bộ trong ban quản lý, tôi thực sự không biết ai. Chị đưa ra tấm thẻ ID cũ của công ty, đã bạc màu, nhưng vẫn còn nhận rõ tên Dương Thị Gấm, với tấm hình đen trắng ngày xưa rất quê mùa, có cả tên và chức vụ của anh quản lý trong khu vực sản xuất.
Chị tiếp tục kể, "Sau khi chính quyền tiếp thu, con làm thêm 4 tháng rồi bị cho nghỉ vì nhà máy không đủ nguyên liệu để điều hành. Con lên thành phố làm ô sin cho một gia đình vừa ở ngoài Bắc vô. Sau 1 năm, ông chủ được thăng chức điều về Hà Nội. Vì con làm việc tốt, ông đem con đi luôn và con ở ngoài đó đến 2 năm. Trong thời gian làm thuê, có ông nhân viên ngoại giao người Đức cạnh nhà. Ông ta lớn tuổi, nhưng ngỏ ý muốn cưới con và đem về Đức khi mãn nhiệm. Muốn giúp gia đình nên con đồng ý, dù con chỉ mới 22 tuổi trong khi ông ta đã hơn 60." Tôi nhìn chị kỹ hơn. Năm 1975, chị mới 19, thì năm nay, có lẽ chị chỉ mới 27, nhưng xem chị già và phong trần nhiều. Chị thuộc loại đàn bà xấu, dưới trung bình, lại thêm đôi chân bị khập khễnh. Có lẽ những bệnh tật, bất hạnh và mặc cảm đã làm chị già trước tuổi?
"Con theo chồng về Đức được 3 năm thì phải bỏ trốn, rồi ly hôn, vì ông này mỗi lần say rượu là đánh đập con tàn nhẫn. Con phải vào nhà thương cả chục lần mỗi năm. Không có tiền bạc hay của cải, làm bồi bàn khổ cực, nên con nghe lời rủ rê của bạn bè chạy qua Mỹ tìm đường sống. Con đến Los Angeles được 6 tháng nay." Đại khái, chị đang làm nhân viên thoa bóp (masseuse) cho một tiệm trên San Bernadino. Thu nhập cũng tạm đủ sống, nhưng có cơ hội, người chủ muốn sang tiệm, nên chị tìm cách mua lại.
Một góc khu chợ của người Việt tại Đông Âu.
"Con dành dụm được hơn 12 ngàn đô la, nhưng còn thiếu 5 ngàn nữa. Nghe tin ông Tổng ở đây, con hy vọng ông giúp cho con số tiền này để con có cơ hội vươn lên".
Tôi đính chính với chị, tôi đã hết là ông Tổng, hiện nay chỉ là một nhân viên xoàng của một ngân hàng nhỏ ở Wal Street, sống đời trung lưu bình dị như triệu người Mỹ khác. Nhưng may cho chị là hôm ấy, gần ngày Giáng Sinh, tôi thấy rộng lượng và nhất là vừa nhận được tấm chi phiếu khá lớn của ngân hàng cho tiền thưởng cuối năm. Tôi cho chị mượn 5 ngàn và thực sự, không nghĩ rằng mình sẽ thấy lại số tiền này, như nhiều trường hợp vẫn luôn xảy ra với bà con bạn bè.
Nhưng chỉ 6 tháng sau, chị lại tìm đến nhà trả lại số tiền 5 ngàn và còn muốn đưa thêm 3 ngàn tiền lãi. Tôi không có nhà, vợ tôi chỉ nhận lại 5 ngàn không lấy lãi và chúng tôi đều đồng ý là số tiến 5 ngàn khứ hồi này quả là chuyện thần thoại của Hollywood. Chị còn khoe với vợ tôi là đã mua thêm 1 tiệm massage khác.
Bẵng đi 5 năm, tôi không gặp lại chị và cũng không liên lạc gì. Tình cờ, tôi và bạn bè vào một quán ăn khá sang trọng ở Bolsa (quận Cam) và người chủ tiệm đứng đón tiếp chúng tôi là chị Gấm ngày nào. Chị huyên thuyên câu chuyện, "Làm massage có tiền nhưng nhức đầu với nhân viên, khách hàng và cơ quan công lực, nên con bán hết 5 tiệm và quay ra kinh doanh nhà hàng. Ngoài tiệm này, con còn 2 tiệm nữa ở khu phố Tàu và khu đại học UCLA." Chị cũng khác hẳn lúc xưa. Áo quần thời trang bảnh bao, ăn nói lịch thiệp hơn, cư xử đúng như một bà chủ, và chiếc xe Mercedes đời mới đậu ngay cạnh cửa nói lên sự "thành công" của chị.
Sau bữa ăn miễn phí, tôi cũng không liên lạc gì với chị, vì công việc làm ăn của tôi lúc này đem tôi đi khắp thế giới, không mấy khi về lại California. Cho đến năm 1997, khi tôi đi dự một hội thảo và triển lãm về ngành ngân hàng ở Chicago, chị lại xuất hiện. Tôi đang nghiêm túc ngồi trên bàn làm phối hợp viên (moderator), còn chị thì tươi cười chào tôi trong bộ âu phục của một nhân viên cao cấp (executive), với một thẻ bài đeo trên người có tên rất Mỹ là Christina Spencer. Trong bữa ăn chiều sau hội thảo, chị đưa tấm hình chồng chị và đứa con đã lên 3, rồi tiếp tục, "Trong khi kinh doanh, con đi học thêm vào buổi tối và cuối tuần, cuối cùng cũng lấy được mảnh bằng Cử nhân (Bachelor) về Tài chính (Finance). Sau đó con đi làm cho Wells Fargo (ngân hàng lớn ở California), gặp chồng con là Phó Giám Đốc R&D cho Xerox nên đời sống hai đứa cũng tốt đẹp. Chúng con đang sống ở Palo Alto (một khu giàu của Bắc California cạnh đại học Stanford)". Một nhân công nghèo hèn, thất học với một nhan sắc kém cỏi, lại gặp nhiều gian truân, chị đã lên tới đỉnh sung túc của một xã hội có sự cạnh tranh khắc nghiệt giữa nhiều loại dân tứ xứ. Tôi nhìn lại chị thêm lần nữa, một biểu tượng đáng khâm phục cho ý chí cầu tiến và sự hy sinh vô bờ để đạt đến giấc mộng của mình.
Dĩ nhiên là chị không nói ra, nhưng tôi tin là trong cuộc hành trình 22 năm vừa qua của chị, đã không thiếu những tình huống hiểm nghèo, cay đắng và tuyệt vọng chị phải đối diện. Sức mạnh nội tại nào đã giúp chị vượt qua và bay cao mới thực sự là "cú đấm thép" mà cộng động chúng ta hay bàn luận.
Không thiếu những trường hợp như chị trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Rời quê hương với hai bàn tay trắng, thiếu sót mọi kiến thức, kinh nghiệm và quan hệ trên xứ người, những người Việt như chị đã vượt lên mọi rào cản, trở ngại để dành cho mình một chỗ đứng dưới ánh mặt trời (a place in the sun).
Tôi cũng còn nhớ một buổi sáng mùa đông nào, khoảng 1990, mấy người bạn đưa tôi đi thăm Chợ Vòm ở Moscow nơi phần lớn người Việt tụ tập mua hàng sỉ để đem về các tỉnh thành xa xôi ở Nga để bán lẻ lại. Tôi đã ái ngại nhìn những thùng đồ nặng trĩu trên đôi vai gầy yếu mỏng manh của vài thiếu nữ Việt Nam, quẩy gánh đi đến các trạm xe lửa, để tải hàng về những nơi như Siberia, Kazakhstan...chỉ nghe tên là đã lạnh run người. Họ là những biểu tượng đẹp nhất của tinh thần và sức sống Việt.
Dĩ nhiên là tôi cũng đã từng gặp những người Việt "xấu xí" trên các nẻo đường thế giới. Những anh chị dốt nát nhờ chút quyền lực, có chút tiền, ra nước ngoài coi trời bằng vung, hành xử với tất cả ấu trĩ của một bậc "đại quê mùa". Hay những cậu ấm cô chiêu, nhờ tiền rừng bạc biển của cha mẹ cung cấp, ăn chơi đua đòi, nhiễm mọi thói hư tật xấu của bọn sinh viên hoang đàng. Nhưng các người này chỉ là thiếu số giữa một đám đông người Việt thầm lặng, kiên nhẫn, cần cù xây dựng cho mình một tương lai xứng đáng với mọi lời vinh danh cao cả nhất.
Một góc chợ của người việt tại Đông Âu.
Khi nói về sự hãnh diện của dân tộc, tôi nghĩ phần lớn những người Việt tha phương không cho hình ảnh các đại gia với máy bay riêng hay xe siêu sang là sự tiến bộ của xã hội. Hay các chân dài với đủ nhãn hiệu "hoa hậu", "siêu sao" là biểu tượng của thành công. Hay vài trận bóng đá với các nước láng giềng hoặc những xếp hạng rất vô nghĩa của các nhóm truyền thống quốc tế.
Vả lại, ở lâu trên xứ người, chúng tôi đã chứng kiến những sự giàu sang hay tiếng tăm cả triệu lần các nhân vật hay sự kiện này.
Niềm hãnh diện thực sự của chúng tôi là những Dương Thị Gấm, những cô gái buôn hàng lẻ ở Moscow, những em trẻ đứng đầu bảng ở các trường trung học, những khoa học gia đồng hành cùng các nhân tài thế giới ở rất nhiều viện nghiên cứu, những doanh nhân cạnh tranh ngang ngửa trên sân chơi bằng phẳng của các nền kinh tế tân tiến... Những người Việt đó là động lực khiến chúng tôi phải gắng đi thêm bước nữa trong những giờ phút đen tối khó khăn nhất, phải vượt qua cái kỹ năng hạn hẹp của mình để tỏa sáng.
Trong dòng đời, đối diện những thử thách khó khăn, chính con người "lỳ" như tôi cũng nhiều lúc muốn buông thả. Muốn quay về một góc tối nào đó, an phận với cuộc sống an nhàn, cho qua kiếp người dâu bể. Nhưng nhìn những tấm gương như chị Gấm, tôi thấy mình không có quyền bỏ cuộc. Tôi tự nhủ mình đã quá may mắn, được nuôi dưỡng trong một môi trường lành mạnh, phong lưu, với đủ lợi thế cạnh tranh. Sự thất bại của mình sẽ là một vết nhơ gấp đôi những con người Việt kém may mắn khác. Do đó, mình phải vươn vai đứng dậy để tiếp tục, vì đây là bổn phận và danh dự của mình trước những người bạn đồng hành.
Trước bối cảnh khó khăn hiện tại của kinh tế thế giới, và dự đoán là tình hình sẽ tệ hại hơn (theo nhận định chủ quan của tôi), tôi muốn nói với các doanh nhân trẻ và nhỏ của Việt Nam, trong hay ngoài nước, là nếu những con người như chị Gấm đã làm được, chúng ta cũng sẽ làm được. Điều thú vị nhất là lần ăn tối ở Chicago với chị Gấm, tôi bốc được một lời khuyên trong chiếc bánh may mắn (gọi là fortune cookies mà các nhà hàng Tàu ở Mỹ thường mời khách free. Bánh kèm bên trong một lời bói toán hay một câu nói của doanh nhân). Tôi còn giữ tờ giấy này, "Thua cuộc chỉ là một tình trạng tạm thời. Bỏ cuộc biến nó thành một sự kiện thường trực". (Being defeated is often a temporary condition. Giving up is what makes it permanent-- Marlene vos Savant). Chúng ta không tiên đoán về tương lai, chúng ta đang tạo dựng nó hàng ngày.
“Bẩy chú lùn” trong BCT bí mật mặc cả với nhau,
cuối cùng cũng đã ngã ngũ.
Sunday, 12 December 2010
Người phát ngôn Bộ ngoại giao Nguyễn Thị Phương Nga, ngày 10/12 đã công bố : “Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng sẽ diễn ra vào nửa đầu tháng 1 tới” và “trong tuần tới, hội nghị ban chấp hành Trung ương đảng lần cuối sẽ họp tại Hà Nội”.
Như vậy là mọi việc coi như đã xong. Chuyện khó khăn nhất là chuyện nhân sự của Đại hội, cuối cùng đã được giải quyết. Ai sẽ là Tổng bí thư, ai là Chủ tịch nước, ai là Thủ tướng Chính phủ và ai là Chủ tịch Quốc Hội, vẫn như từ xưa đến nay, do “bẩy chú lùn” trong Bộ Chính trị bí mật mặc cả với nhau, cuối cùng cũng đã ngã ngũ.
Còn lại, việc đưa ra cho Hội nghị Trung ương và Đại hội đại biểu XI chỉ là việc hoàn tất thủ tục.
Khác nhiều lần trước, lần này có vẻ như “bí mật” đã được giữ tuyệt đối cho đến phút cuối. Người ta chỉ có thể mò mẫm phán đoán.
Ngày 20/11 có tin nhóm “bẩy người” họp kín quyết định chỉ danh Tổng bí thư. Không có tên Nguyễn Tấn Dũng, đương nhiên, vì Trung Nam Hải trừng phạt việc “đa phương hóa biển Đông” và sự “trở lại của người Mỹ”. Mặc dù vậy, cuộc mặc cả giữa bốn “người lùn” còn lại là Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng, Hồ Đức Việt và Phùng Quang Thanh có vẻ không ít khó khăn.
Ngày 22/11 Bí thư Tỉnh ủy Vân Nam Bạch Ân Bồi thăm Việt Nam và chúc “Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam sẽ thành công tốt đẹp”.
Ngày 27/11 Phó Tổng tham mưu trưởng Trung Quốc Mã Hiểu Thiên đến Việt nam vì Hội nghị Đối thoại chiến lược quốc phòng. Nguyễn Chí Vịnh đại diện Bộ Quốc phòng. Trương Tấn Sang đại diện cao nhất của Đảng cộng sản Việt Nam. Ai cũng biết, quy chế Đảng cộng sản Việt Nam, cũng giống Trung quốc, Tổng Bí thư Đảng bao giờ cũng kiêm chức Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương.
Có tin cho rằng Trương Tấn Sang đã được chọn cho vị trí Tổng Bí thư và cũng đã được Trung Nam Hải chấp thuận.
Diễn biến tiếp, theo trật tự lôgic, “ông Tổng” tương lai sẽ bắt đầu dạo những khúc nhạc với tư cách “ông Trùm”, và người ta phải hiểu đó là tuyên ngôn của “triều đại mới”.
Có vẻ đúng vậy. Ngày 28/11, Trương Tấn Sang đọc tham luận tại Hội thảo lý luận nhân ngày sinh F. Ănghen, ông ta nói: “Ngày nay, sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Ðông Âu, các thế lực phản động, chống Ðảng Cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội trên thế giới và một số phần tử cơ hội chính trị trong nước lại được dịp đẩy mạnh phê phán, xuyên tạc, vu cáo, phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin; bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, bác bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, bác bỏ con đường xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đó, Ðảng ta luôn khẳng định: Ðảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động…
Kiên định những nguyên lý cơ bản và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện thực tế Việt Nam trong bối cảnh mới của thời đại, xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh … sẽ là những nội dung lớn được Ðảng ta xem xét, quyết định trong Ðại hội XI sắp tới của Ðảng”.
Ngày 29/11, Tạp chí Đảng cộng sản, đăng lại nguyên văn bài tham luận này. Đó là tuyên bố không thay đổi nội dung cơ bản nhất của “Cương lĩnh bổ sung và phát triển” sẽ trình ra Đại hội XI.
Cùng ngày 29/11, Tạp chí cộng sản đăng tiếp bài viết của Trương Tấn Sang : “Nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”.
Nếu trong Tham luận, Trương Tấn Sang đã khẳng định “ nền tảng tư tưởng”, thì trong bài viết thứ hai này, ông ta chỉ đích danh kẻ thù của Đảng là ai, “chúng” đang làm gì, và phải tiêu diệt chúng như thế nào.
Ông ta viết : “các thế lực thù địch tiếp tục chống phá, tìm mọi cách xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Trong đó, chiến lược “diễn biến hòa bình” được coi là biện pháp hữu hiệu hàng đầu, đã từng góp phần trực tiếp làm sụp đổ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu những năm trước đây và đang tìm mọi cách tiếp tục hòng làm lung lay dẫn tới sụp đổ các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa hiện nay”.
Ý của ông muốn nói là : không phải “độc quyền” bóp nghẹt dân chủ và tư do tư tưởng, không phải tham nhũng, không phải sự thấp kém trong trình độ quản lý kinh tế xã hội đã tiêu hủy tiền của của nhân dân, không phải sự suy đồi, sa đọa về phẩm chất đạo đức của lãnh đạo và hàng ngũ đảng viên đã trở thành mọt dân v.v…là nguyên nhân đang dẫn đảng đến tiêu vong, mà là “diễn biến hòa bình”.
Có lẽ ông ta không hề nghe nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nói : “Không kẻ thù nào có thể phá được Đảng ta trừ chính những người cộng sản chúng ta.”
“…những người cộng sản phá Đảng không phải chỉ là những người cộng sản phản bội Đảng, những người cộng sản bị kẻ thù mua chuộc, bị diễn biến hòa bình,… Mà phần nhiều lại chính là những người cộng sản chân chính, những người cộng sản không muốn bảo vệ Đảng của mình nữa, vì thực tế Đảng của mình đã thoái hóa biến chất mất rồi, nhất là vì Đảng của mình đã phạm sai lầm có tính hệ thống mà không nhận ra được và không khắc phục được. Đảng đã trở thành lực lượng cản trợ dân chủ, tự do, cản trợ sự phát triển của xã hội. Đảng đã trở thành ông Vua tập thể, đã trở thành Đảng trị mất rồi.”
Trương Tấn Sang đã không nhìn thấy sự tự đào thải từ chính những tư duy lạc hậu, cứng nhắc, giáo điều của hệ thống tư tưởng. Sự đổ vỡ của Đảng sẽ đến ngay từ những sai phạm có tính hệ thống. Đó là Đảng không còn khả năng đoán nhận được sự đúng đắn của một quy luật khách quan.
Một sự thật không cần phải chứng minh là sự tồn tại ngày càng hoàn thiện của xã hội dân chủ. Một xã hội được hình thành tự thân, theo một cơ chế mở, tự điều chỉnh và tự hòan thiện theo quy luật tăng dần của nhu cầu con người, trên cơ sở tối ưu hóa mọi lợi ích và tự do cá nhân. Mọi mâu thuẫn hình thành trong quá trình vận động đều có khả năng tự điều hòa theo quy tắc thắng thế của cái hợp lý. Lợi ích vĩ mô và sự tối ưu tổng thể tự nó là cơ sở của quy tắc tự điều chỉnh, tự hợp lý và tự thích ứng. Đó là sự bất diệt của quy tắc chọn lọc tự nhiên.
Trong khi đó chủ nghĩa xã hội là sản phẩm nhân tạo, sản phẩm tưởng tượng của chính con người. Nó có tác giả. Bản thân nó đã mang tính chủ quan, duy ý chí. Nếu không có sự cưỡng chế thường xuyên của ý thức hệ nhồi sọ, buông lỏng những cơ chế áp đặt nhân tạo, mô hình xã hội chủ nghĩa sẽ tự nó tan rữa, sụp đổ. Hãy giải tán toàn bộ hệ thống cưỡng chế khổng lồ và hết sức tốn kém hiện nay, Đảng sẽ thấy xã hội Việt Nam tự nó sẽ đi về đâu. Xã hội tốt nhất, ổn định nhất là xã hội tự điều chỉnh được dưới áp lực nhỏ nhất của quyền lực Nhà nước. “Nhà nước tốt nhất là nhà nước mà người kém nhất cũng điều khiển được”.
Một Đảng sinh ra từ ý thức hệ Nhân tạo, thì chỉ có thể tồn tại bằng một áp lực cưỡng bức nhân tạo. Chỉ cần buông những công cụ cưỡng chế, Đảng sẽ tự tan biến.
Chính vì vậy mà có lẽ toàn bộ trí khôn của một thâm niên tới bốn lần ủy viên Bộ chính trị, đã được vun vén trong cái bài viết sặc mùi chém giết để bảo vệ sự sống còn của Đảng này.
Ông ta viết : (“mục đích cuối cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa. Để đạt được điều đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch xác định các mục tiêu cơ bản sau:
Một là, xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin để thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản trong các nước xã hội chủ nghĩa. Các nhà lý luận của chiến lược “diễn biến hòa bình” cho rằng, tư tưởng là lĩnh vực có tầm quan trọng hàng đầu, vì vậy, mục tiêu phải đạt tới là tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương và coi đó là khâu đột phá của chiến lược “diễn biến hòa bình”.
Hai là, xóa bỏ sự lãnh đạo của đảng cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong các nước xã hội chủ nghĩa. Luận điệu được sử dụng thường xuyên là đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo là “độc tài”, là “bóp nghẹt dân chủ”, vì thế phải thay thế bằng chế độ chính trị đa đảng! Từ đó, tìm mọi cách nhen nhóm các lực lượng phản động chống đối, cơ hội chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa.
Ba là, gây mất ổn định về chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn thường xuyên được sử dụng là lợi dụng, kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng vào các cuộc bạo loạn chính trị. Các thế lực thù địch bỏ ra nhiều công sức và cả tiền bạc để lôi kéo, tập hợp “những người bất đồng chính kiến”, thực chất là những phần tử chống chủ nghĩa xã hội, phủ nhận sự lãnh đạo của đảng cộng sản, dùng họ làm “cơ sở”, “nội ứng” cho việc thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.
Bốn là, làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế.
Năm là, chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực và tha hóa con người, dẫn tới biến chất cả một xã hội.
Sáu là, “phi chính trị hóa” để vô hiệu hóa quân đội và công an”.)
Hoàn toàn đúng như vậy. Có điều, trong khi những cái đầu bình thường, không bệnh tật thấy nếu Đảng làm đúng những điều đó, Đảng sẽ được lòng dân, Đảng sẽ sống mãi và Dân sẽ thật may mắn, thì vị tân “Tổng Bí thư có thể” này lại gào thét với giọng hằn học:
Chiến đấu chống lại “diễn biến” (“…là cuộc đấu tranh không có chiến tuyến, không có khói lửa, súng đạn, song rất quyết liệt, tinh vi và ngày càng phức tạp. Kẻ thù âm mưu chống phá ngầm từ bên trong, từ bên trên, kết hợp tạo sự chuyển hóa cả bên trong và bên trên với bạo loạn, lật đổ khi có thời cơ để xóa bỏ Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”.
“Để thực hiện tư tưởng chỉ đạo trên, trong hoạt động thực tiễn, cần quán triệt các phương châm cơ bản sau:
Một là, kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với chủ động tiến công. Ngăn chặn, phòng ngừa từ xa, từ trước, đồng thời phải chủ động tiến công từ trong “trứng nước”, từ nơi xuất phát của các âm mưu, ý đồ, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, là phương châm đúng đắn, đã được thực tiễn kiểm nghiệm thời gian qua.
Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây vững mạnh là chính, đồng thời coi việc chủ động, kiên quyết chống là quan trọng. Đó là hai mặt quan hệ chặt chẽ với nhau bảo đảm cho thắng lợi của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”. Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng, thời gian qua, nơi nào, tổ chức nào, đơn vị nào làm được điều đó sẽ tạo nên sức mạnh vững chắc, các thế lực thù địch không tìm được “kẽ hở”, điểm yếu để thực hiện âm mưu đen tối “diễn biến hòa bình”, để tạo ra sự “tự diễn biến, tự chuyển hóa”.
Ba là, kiên trì và tỉnh táo giữ vững bên trong, làm thất bại tác động chuyển hóa từ bên ngoài, coi giữ vững bên trong, có ý nghĩa quyết định, đồng thời làm thất bại tác động chuyển hóa từ bên ngoài là thường xuyên và quan trọng. Làm được điều này, những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tác động từ bên ngoài sẽ không có kết quả, sẽ bị vô hiệu hóa. Đó là một bài học thực tiễn sâu sắc được đúc kết trong thời gian qua.” ).
Như vậy là ông ta ưu tiên hàng đầu cho phương châm: “ngăn chặn phòng ngừa từ xa, từ trước” và “tiến công ngay từ trong trứng nước , từ nơi xuất phát” và đây là những biện pháp vẫn đang áp dụng là “ phương châm đúng đắn, đã được thực tế kiểm nghiệm”.
Nghĩa là ông ta sẽ đánh “dân chủ” ngay từ khi mới chỉ nằm trong suy nghĩ, đánh dân chủ ngay từ chữ viết, đánh dân chủ ngay trong Quốc hội, đánh dân chủ từ ngay đảng viên, ngay trong lãnh đạo đảng, đánh ngay trong bộ Chính trị, đánh từ người dân thường trong nước, đánh “dân chủ” từ ngoài biên giới, trong các quốc gia bất kỳ nào có người nói đến dân chủ. Nghĩa là sắp tới sẽ có rất nhiều người bị “đánh”, bị bắt nữa. Sẽ có đàn áp khốc liệt. Điều mà cũng đã có nhiều người dự cảm.
Thứ hai là “xây” và “chống”. Trương Tấn Sang đã cố tình sử dụng thuật ngữ ghê gớm này. Ai đã từng là nạn nhân của “ba xây, ba chống” mà không thấy lạnh sống lưng. Sự tàn khốc của “xây” và “chống” này làm người ta khi ngủ giật mình, vã mồ hội hột. Đây sẽ là một chiến dịch thanh lọc của “luật 10/59″. Những ai “lỡ miệng” chân thành góp ý với đảng vừa rồi, sẽ “lĩnh đủ”. Lại một lần nữa, Đảng kêu gọi góp ý, để tìm ra ai là người “chống đảng”. Những “lão thành”, những “đại biểu ưu tú”, cả những “nhân sĩ”…có ai sẽ vĩnh viễn “lặn không sủi tăm”, có ai sẽ “đột ngột” biến mất?
Thứ ba là phương châm : mũ ni che tai. Ai nói mặc ai. Nói mãi mỏi mồm. Ai nói người ấy nghe. Vô hiệu hóa mọi tác động từ bên ngoài, kiểu nước đổ đầu vịt . Đó là “dĩ bất biến ứng vạn biến” của những anh chàng “lùn”. Đây là biện pháp hữu hiệu truyền thống.
Thế đấy. Có ai nằm tới ba kỳ ủy viên Bộ chính trị mà vô quyền vô chức? Có ai ngồi đấy hai chục năm, mà nhìn xung quanh lên hết nhà lầu, mộ tổ, cổ phần công ty ? Cờ nếu đến tay, trí khôn của ta , mấy ai bằng ?!
Vẫn “định hướng xã hội chủ nghĩa”, thì nghĩa là vẫn “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, nghĩa là vẫn tiếp tục rút tiền ngân sách cho đầu tư quốc doanh, nghĩa là tiếp tục biến tiền công thành tiền tư, nghĩa là càng có thêm đảng viên lãnh đạo trở thành tỷ phú.
Còn “chủ nghĩa Mác làm nền tảng”, thì còn chuyên chính vô sản, còn “đấu tranh giai cấp”, còn độc tài độc chiếm, còn cưỡng chế áp bức.
Và sẽ như vậy, tiếp tục tiêu tốn tiền dân, chặn hầu chặn họng người dân thêm một kỳ năm năm nữa ?! Và nếu vẫn thế này, sẽ bao nhiêu kỳ đại hội nữa ?
Và trước một nguy cơ khủng bố trắng đang hiện hình, những gì có được đến hôm nay, vừa có được hôm qua, chẳng lẽ khoanh tay ngồi nhìn?
Không thể được. Đó là một sự vô lý hoang dại. Ai trong chúng ta có thể chấp nhận được ?
Bùi Quang Vơm
Theo: X-cafevn
cuối cùng cũng đã ngã ngũ.
Sunday, 12 December 2010
Người phát ngôn Bộ ngoại giao Nguyễn Thị Phương Nga, ngày 10/12 đã công bố : “Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng sẽ diễn ra vào nửa đầu tháng 1 tới” và “trong tuần tới, hội nghị ban chấp hành Trung ương đảng lần cuối sẽ họp tại Hà Nội”.
Như vậy là mọi việc coi như đã xong. Chuyện khó khăn nhất là chuyện nhân sự của Đại hội, cuối cùng đã được giải quyết. Ai sẽ là Tổng bí thư, ai là Chủ tịch nước, ai là Thủ tướng Chính phủ và ai là Chủ tịch Quốc Hội, vẫn như từ xưa đến nay, do “bẩy chú lùn” trong Bộ Chính trị bí mật mặc cả với nhau, cuối cùng cũng đã ngã ngũ.
Còn lại, việc đưa ra cho Hội nghị Trung ương và Đại hội đại biểu XI chỉ là việc hoàn tất thủ tục.
Khác nhiều lần trước, lần này có vẻ như “bí mật” đã được giữ tuyệt đối cho đến phút cuối. Người ta chỉ có thể mò mẫm phán đoán.
Ngày 20/11 có tin nhóm “bẩy người” họp kín quyết định chỉ danh Tổng bí thư. Không có tên Nguyễn Tấn Dũng, đương nhiên, vì Trung Nam Hải trừng phạt việc “đa phương hóa biển Đông” và sự “trở lại của người Mỹ”. Mặc dù vậy, cuộc mặc cả giữa bốn “người lùn” còn lại là Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng, Hồ Đức Việt và Phùng Quang Thanh có vẻ không ít khó khăn.
Ngày 22/11 Bí thư Tỉnh ủy Vân Nam Bạch Ân Bồi thăm Việt Nam và chúc “Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam sẽ thành công tốt đẹp”.
Ngày 27/11 Phó Tổng tham mưu trưởng Trung Quốc Mã Hiểu Thiên đến Việt nam vì Hội nghị Đối thoại chiến lược quốc phòng. Nguyễn Chí Vịnh đại diện Bộ Quốc phòng. Trương Tấn Sang đại diện cao nhất của Đảng cộng sản Việt Nam. Ai cũng biết, quy chế Đảng cộng sản Việt Nam, cũng giống Trung quốc, Tổng Bí thư Đảng bao giờ cũng kiêm chức Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương.
Có tin cho rằng Trương Tấn Sang đã được chọn cho vị trí Tổng Bí thư và cũng đã được Trung Nam Hải chấp thuận.
Diễn biến tiếp, theo trật tự lôgic, “ông Tổng” tương lai sẽ bắt đầu dạo những khúc nhạc với tư cách “ông Trùm”, và người ta phải hiểu đó là tuyên ngôn của “triều đại mới”.
Có vẻ đúng vậy. Ngày 28/11, Trương Tấn Sang đọc tham luận tại Hội thảo lý luận nhân ngày sinh F. Ănghen, ông ta nói: “Ngày nay, sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Ðông Âu, các thế lực phản động, chống Ðảng Cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội trên thế giới và một số phần tử cơ hội chính trị trong nước lại được dịp đẩy mạnh phê phán, xuyên tạc, vu cáo, phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin; bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, bác bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, bác bỏ con đường xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đó, Ðảng ta luôn khẳng định: Ðảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động…
Kiên định những nguyên lý cơ bản và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện thực tế Việt Nam trong bối cảnh mới của thời đại, xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh … sẽ là những nội dung lớn được Ðảng ta xem xét, quyết định trong Ðại hội XI sắp tới của Ðảng”.
Ngày 29/11, Tạp chí Đảng cộng sản, đăng lại nguyên văn bài tham luận này. Đó là tuyên bố không thay đổi nội dung cơ bản nhất của “Cương lĩnh bổ sung và phát triển” sẽ trình ra Đại hội XI.
Cùng ngày 29/11, Tạp chí cộng sản đăng tiếp bài viết của Trương Tấn Sang : “Nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”.
Nếu trong Tham luận, Trương Tấn Sang đã khẳng định “ nền tảng tư tưởng”, thì trong bài viết thứ hai này, ông ta chỉ đích danh kẻ thù của Đảng là ai, “chúng” đang làm gì, và phải tiêu diệt chúng như thế nào.
Ông ta viết : “các thế lực thù địch tiếp tục chống phá, tìm mọi cách xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Trong đó, chiến lược “diễn biến hòa bình” được coi là biện pháp hữu hiệu hàng đầu, đã từng góp phần trực tiếp làm sụp đổ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu những năm trước đây và đang tìm mọi cách tiếp tục hòng làm lung lay dẫn tới sụp đổ các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa hiện nay”.
Ý của ông muốn nói là : không phải “độc quyền” bóp nghẹt dân chủ và tư do tư tưởng, không phải tham nhũng, không phải sự thấp kém trong trình độ quản lý kinh tế xã hội đã tiêu hủy tiền của của nhân dân, không phải sự suy đồi, sa đọa về phẩm chất đạo đức của lãnh đạo và hàng ngũ đảng viên đã trở thành mọt dân v.v…là nguyên nhân đang dẫn đảng đến tiêu vong, mà là “diễn biến hòa bình”.
Có lẽ ông ta không hề nghe nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nói : “Không kẻ thù nào có thể phá được Đảng ta trừ chính những người cộng sản chúng ta.”
“…những người cộng sản phá Đảng không phải chỉ là những người cộng sản phản bội Đảng, những người cộng sản bị kẻ thù mua chuộc, bị diễn biến hòa bình,… Mà phần nhiều lại chính là những người cộng sản chân chính, những người cộng sản không muốn bảo vệ Đảng của mình nữa, vì thực tế Đảng của mình đã thoái hóa biến chất mất rồi, nhất là vì Đảng của mình đã phạm sai lầm có tính hệ thống mà không nhận ra được và không khắc phục được. Đảng đã trở thành lực lượng cản trợ dân chủ, tự do, cản trợ sự phát triển của xã hội. Đảng đã trở thành ông Vua tập thể, đã trở thành Đảng trị mất rồi.”
Trương Tấn Sang đã không nhìn thấy sự tự đào thải từ chính những tư duy lạc hậu, cứng nhắc, giáo điều của hệ thống tư tưởng. Sự đổ vỡ của Đảng sẽ đến ngay từ những sai phạm có tính hệ thống. Đó là Đảng không còn khả năng đoán nhận được sự đúng đắn của một quy luật khách quan.
Một sự thật không cần phải chứng minh là sự tồn tại ngày càng hoàn thiện của xã hội dân chủ. Một xã hội được hình thành tự thân, theo một cơ chế mở, tự điều chỉnh và tự hòan thiện theo quy luật tăng dần của nhu cầu con người, trên cơ sở tối ưu hóa mọi lợi ích và tự do cá nhân. Mọi mâu thuẫn hình thành trong quá trình vận động đều có khả năng tự điều hòa theo quy tắc thắng thế của cái hợp lý. Lợi ích vĩ mô và sự tối ưu tổng thể tự nó là cơ sở của quy tắc tự điều chỉnh, tự hợp lý và tự thích ứng. Đó là sự bất diệt của quy tắc chọn lọc tự nhiên.
Trong khi đó chủ nghĩa xã hội là sản phẩm nhân tạo, sản phẩm tưởng tượng của chính con người. Nó có tác giả. Bản thân nó đã mang tính chủ quan, duy ý chí. Nếu không có sự cưỡng chế thường xuyên của ý thức hệ nhồi sọ, buông lỏng những cơ chế áp đặt nhân tạo, mô hình xã hội chủ nghĩa sẽ tự nó tan rữa, sụp đổ. Hãy giải tán toàn bộ hệ thống cưỡng chế khổng lồ và hết sức tốn kém hiện nay, Đảng sẽ thấy xã hội Việt Nam tự nó sẽ đi về đâu. Xã hội tốt nhất, ổn định nhất là xã hội tự điều chỉnh được dưới áp lực nhỏ nhất của quyền lực Nhà nước. “Nhà nước tốt nhất là nhà nước mà người kém nhất cũng điều khiển được”.
Một Đảng sinh ra từ ý thức hệ Nhân tạo, thì chỉ có thể tồn tại bằng một áp lực cưỡng bức nhân tạo. Chỉ cần buông những công cụ cưỡng chế, Đảng sẽ tự tan biến.
Chính vì vậy mà có lẽ toàn bộ trí khôn của một thâm niên tới bốn lần ủy viên Bộ chính trị, đã được vun vén trong cái bài viết sặc mùi chém giết để bảo vệ sự sống còn của Đảng này.
Ông ta viết : (“mục đích cuối cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa. Để đạt được điều đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch xác định các mục tiêu cơ bản sau:
Một là, xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin để thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản trong các nước xã hội chủ nghĩa. Các nhà lý luận của chiến lược “diễn biến hòa bình” cho rằng, tư tưởng là lĩnh vực có tầm quan trọng hàng đầu, vì vậy, mục tiêu phải đạt tới là tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương và coi đó là khâu đột phá của chiến lược “diễn biến hòa bình”.
Hai là, xóa bỏ sự lãnh đạo của đảng cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong các nước xã hội chủ nghĩa. Luận điệu được sử dụng thường xuyên là đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo là “độc tài”, là “bóp nghẹt dân chủ”, vì thế phải thay thế bằng chế độ chính trị đa đảng! Từ đó, tìm mọi cách nhen nhóm các lực lượng phản động chống đối, cơ hội chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa.
Ba là, gây mất ổn định về chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn thường xuyên được sử dụng là lợi dụng, kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng vào các cuộc bạo loạn chính trị. Các thế lực thù địch bỏ ra nhiều công sức và cả tiền bạc để lôi kéo, tập hợp “những người bất đồng chính kiến”, thực chất là những phần tử chống chủ nghĩa xã hội, phủ nhận sự lãnh đạo của đảng cộng sản, dùng họ làm “cơ sở”, “nội ứng” cho việc thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.
Bốn là, làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế.
Năm là, chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực và tha hóa con người, dẫn tới biến chất cả một xã hội.
Sáu là, “phi chính trị hóa” để vô hiệu hóa quân đội và công an”.)
Hoàn toàn đúng như vậy. Có điều, trong khi những cái đầu bình thường, không bệnh tật thấy nếu Đảng làm đúng những điều đó, Đảng sẽ được lòng dân, Đảng sẽ sống mãi và Dân sẽ thật may mắn, thì vị tân “Tổng Bí thư có thể” này lại gào thét với giọng hằn học:
Chiến đấu chống lại “diễn biến” (“…là cuộc đấu tranh không có chiến tuyến, không có khói lửa, súng đạn, song rất quyết liệt, tinh vi và ngày càng phức tạp. Kẻ thù âm mưu chống phá ngầm từ bên trong, từ bên trên, kết hợp tạo sự chuyển hóa cả bên trong và bên trên với bạo loạn, lật đổ khi có thời cơ để xóa bỏ Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”.
“Để thực hiện tư tưởng chỉ đạo trên, trong hoạt động thực tiễn, cần quán triệt các phương châm cơ bản sau:
Một là, kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với chủ động tiến công. Ngăn chặn, phòng ngừa từ xa, từ trước, đồng thời phải chủ động tiến công từ trong “trứng nước”, từ nơi xuất phát của các âm mưu, ý đồ, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, là phương châm đúng đắn, đã được thực tiễn kiểm nghiệm thời gian qua.
Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây vững mạnh là chính, đồng thời coi việc chủ động, kiên quyết chống là quan trọng. Đó là hai mặt quan hệ chặt chẽ với nhau bảo đảm cho thắng lợi của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”. Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng, thời gian qua, nơi nào, tổ chức nào, đơn vị nào làm được điều đó sẽ tạo nên sức mạnh vững chắc, các thế lực thù địch không tìm được “kẽ hở”, điểm yếu để thực hiện âm mưu đen tối “diễn biến hòa bình”, để tạo ra sự “tự diễn biến, tự chuyển hóa”.
Ba là, kiên trì và tỉnh táo giữ vững bên trong, làm thất bại tác động chuyển hóa từ bên ngoài, coi giữ vững bên trong, có ý nghĩa quyết định, đồng thời làm thất bại tác động chuyển hóa từ bên ngoài là thường xuyên và quan trọng. Làm được điều này, những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tác động từ bên ngoài sẽ không có kết quả, sẽ bị vô hiệu hóa. Đó là một bài học thực tiễn sâu sắc được đúc kết trong thời gian qua.” ).
Như vậy là ông ta ưu tiên hàng đầu cho phương châm: “ngăn chặn phòng ngừa từ xa, từ trước” và “tiến công ngay từ trong trứng nước , từ nơi xuất phát” và đây là những biện pháp vẫn đang áp dụng là “ phương châm đúng đắn, đã được thực tế kiểm nghiệm”.
Nghĩa là ông ta sẽ đánh “dân chủ” ngay từ khi mới chỉ nằm trong suy nghĩ, đánh dân chủ ngay từ chữ viết, đánh dân chủ ngay trong Quốc hội, đánh dân chủ từ ngay đảng viên, ngay trong lãnh đạo đảng, đánh ngay trong bộ Chính trị, đánh từ người dân thường trong nước, đánh “dân chủ” từ ngoài biên giới, trong các quốc gia bất kỳ nào có người nói đến dân chủ. Nghĩa là sắp tới sẽ có rất nhiều người bị “đánh”, bị bắt nữa. Sẽ có đàn áp khốc liệt. Điều mà cũng đã có nhiều người dự cảm.
Thứ hai là “xây” và “chống”. Trương Tấn Sang đã cố tình sử dụng thuật ngữ ghê gớm này. Ai đã từng là nạn nhân của “ba xây, ba chống” mà không thấy lạnh sống lưng. Sự tàn khốc của “xây” và “chống” này làm người ta khi ngủ giật mình, vã mồ hội hột. Đây sẽ là một chiến dịch thanh lọc của “luật 10/59″. Những ai “lỡ miệng” chân thành góp ý với đảng vừa rồi, sẽ “lĩnh đủ”. Lại một lần nữa, Đảng kêu gọi góp ý, để tìm ra ai là người “chống đảng”. Những “lão thành”, những “đại biểu ưu tú”, cả những “nhân sĩ”…có ai sẽ vĩnh viễn “lặn không sủi tăm”, có ai sẽ “đột ngột” biến mất?
Thứ ba là phương châm : mũ ni che tai. Ai nói mặc ai. Nói mãi mỏi mồm. Ai nói người ấy nghe. Vô hiệu hóa mọi tác động từ bên ngoài, kiểu nước đổ đầu vịt . Đó là “dĩ bất biến ứng vạn biến” của những anh chàng “lùn”. Đây là biện pháp hữu hiệu truyền thống.
Thế đấy. Có ai nằm tới ba kỳ ủy viên Bộ chính trị mà vô quyền vô chức? Có ai ngồi đấy hai chục năm, mà nhìn xung quanh lên hết nhà lầu, mộ tổ, cổ phần công ty ? Cờ nếu đến tay, trí khôn của ta , mấy ai bằng ?!
Vẫn “định hướng xã hội chủ nghĩa”, thì nghĩa là vẫn “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, nghĩa là vẫn tiếp tục rút tiền ngân sách cho đầu tư quốc doanh, nghĩa là tiếp tục biến tiền công thành tiền tư, nghĩa là càng có thêm đảng viên lãnh đạo trở thành tỷ phú.
Còn “chủ nghĩa Mác làm nền tảng”, thì còn chuyên chính vô sản, còn “đấu tranh giai cấp”, còn độc tài độc chiếm, còn cưỡng chế áp bức.
Và sẽ như vậy, tiếp tục tiêu tốn tiền dân, chặn hầu chặn họng người dân thêm một kỳ năm năm nữa ?! Và nếu vẫn thế này, sẽ bao nhiêu kỳ đại hội nữa ?
Và trước một nguy cơ khủng bố trắng đang hiện hình, những gì có được đến hôm nay, vừa có được hôm qua, chẳng lẽ khoanh tay ngồi nhìn?
Không thể được. Đó là một sự vô lý hoang dại. Ai trong chúng ta có thể chấp nhận được ?
Bùi Quang Vơm
Theo: X-cafevn

35 Năm Sau và Họ Là Ai ?
Ba mươi lăm năm so với chiều dài lịch sử của một triều đại thời xưa thì ngắn, nhưng với một đời người thì dài lắm,
nhất là đối với những ai quan tâm đến thời cuộc, đến vận mệnh khổ đau của dân tộc Việt Nam thì nó lại càng dài hơn.

Ba mươi lăm năm trôi qua quả thật như một giấc mơ hãi hùng! Máu, nước mắt, khổ lụy, nghiệt ngã vẫn còn đây!
Những cuộc vượt thoát vô tiền khoáng hậu của người Việt trốn chạy cộng sản – mà cả thế giới đều biết – vẫn còn ghi đậm trong lịch sử nhân loại.
Riêng đối với người Việt tị nạn, làm sao có thể quên được những ngày tháng hãi hùng ấy. Có lẽ nó sẽ nằm sâu, nằm mãi trong tiềm thức của mỗi chúng ta.

Ba mươi lăm năm rồi mà người đi vẫn đi, không còn đi được bằng cách vượt biển, vượt biên thì cũng tìm cơ hội khác để đi:
ODP (đoàn tụ), lấy vợ, lấy chồng, du học, chạy chọt làm sao để rời xa cái gọi là “thiên đường xã hội chủ nghĩa”.
Chính ngay những người theo cộng sản cả đời, những người được hưởng ơn mưa móc như núi,
nhưng nếu có cơ hội ra đi là họ đi ngay để trốn khỏi cái “thiên đường” quái đản ấy.

Chừng đó thôi cũng đủ để chứng minh một cách hùng hồn rằng con người không thể sống dưới chế độ cộng sản.
Khổ thay, Việt Nam là một trong bốn nước cộng sản còn lại mà loay hoay mãi vẫn không thể nào thoát khỏi cái thiên đường mù đầy oan nghiệt ấy!
Nếu miền Nam Việt Nam không bị bán đứng vào tay cộng sản vào 1975, thì chắc chắn, sau sự sụp đổ của khối cộng sản Ðông Âu và Nga Sô,
toàn cõi Việt Nam bây giờ đã là một xứ tự do, giàu mạnh như bao nhiêu quốc gia văn minh khác. Ít ra cũng bằng Nam Hàn với nền văn minh nhân bản như ngày nay..

Khỏi cần phải tố cáo hay chê bai chế độ; khỏi cần luận tội tập đoàn cộng sản lãnh đạo đất nước đã tàn phá quê hương như thế nào sau 34 năm thống nhất hai miền Nam-Bắc;
khỏi cần so sánh với các nước láng giềng và các quốc gia khác trên thế giới – cũng bằng ấy thời gian đã vươn lên như đi hia bảy dặm –
mà cứ nhìn vào xã hội tan nát, luân thường đạo lý tiêu tan, thị trường cung cầu quái dị, con người chạy theo vật chất một cách điên cuồng là biết ngay.

Khỏi cần phải nghe những luận điệu vì cảm tính của một số người về thăm quê hương rồi trở lại hồ hỡi ca ngợi:
“Ðất nước ngày nay khá rồi, thôn quê đã có điện nước, người dân có quyền đi lại và có quyền chửi luôn cán bộ cộng sản”.
Thế sao? Chỉ có ba bóng đèn thắp sáng trong vài túp lều thô sơ, nghèo khổ, lạc hậu; chỉ có vài người vụt miệng chửi đổng cán bộ là đã có tự do, là đất nước khá rồi hay sao?
Trong khi đó đa số các quốc gia tự do trên thế giới đã và đang tiến vào một đời sống sung túc và văn minh nhất của con người lại không đem ra so sánh!

Ðúng! Việt Nam đã có tự do, nhưng đó là thứ tự do của giai cấp cai trị được “tự do” ăn trên ngồi trước,
“tự do” trấn lột quần chúng để thụ hưởng những xa hoa, phù phiếm trên nỗi thống khổ của toàn dân, vốn đã quá khổ trong một thế kỷ qua vì chiến tranh bom đạn.
Phải, Tự là “tự” họ quyết định sự sống của người khác bằng họng súng và Do là “do” họ tạo nên những thủ đoạn đê hèn để áp đảo người dân, tước đoạt mọi thứ quyền tự do căn bản của con người.
Ðúng! Có tiến bộ, nhưng là thứ tiến bộ lừa đảo, mưu mô xảo quyệt cướp giựt để đàn áp mọi sự chống đối của người dân – khao khát hít thở không khí tự do – đã và đang đứng lên đòi tự do tôn giáo, tự do được sống làm người.
Nói tới chính trị là phải chứng minh bằng dữ kiện, bằng đường lối cai trị của một chế độ đang điều hành guồng máy quốc gia. Chế độ ấy như thế nào thì chúng ta đã thừa biết, khỏi cần nhắc lại làm gì cho tốn giấy tốn mực. Nếu họ thật tâm lo lắng cho quyền lợi của quê hương đất nước, cho người dân được hưởng những quyền tối thiểu của con người thì 35 năm qua đất nước đã khá lên rồi. Nếu họ có thật tâm xây dựng đất nước thì tại sao chúng ta phải bỏ nước ra đi, phải tiếp tục ra đi cho đến ngày nay, và phải chấp nhận sống chết trong đường tơ kẽ tóc để tìm tự do? Vì thế, những luận điệu nông cạn thiếu suy nghĩ ấy chỉ là mớ lý luận có lợi cho cục tuyên vận của CSVN.

Vậy, họ là ai?
Họ là những thành phần ích kỷ, chỉ biết sống cho mình, miễn sao có một đời sống sung túc trên xứ người là đã thỏa mãn.
Còn quê nhà, bà con làng xóm có sống như thời kỳ “đồ đá” thì cũng mặc.
Miễn sao lâu lâu ta về thăm cái xứ lạc hậu ấy để thí cho một vài đồng đô, vừa được tiếng, vừa được những người thọ ơn ca tụng cho thỏa cái tự ái vị kỷ của mình.
Họ là ai?
Họ là thành phần cán bộ được cộng sản cấy theo đoàn người tỵ nạn, nằm vùng khắp mọi nơi, đóng vai quốc gia trá hình, chờ cơ hội là bò dậy tấn công
vào hàng ngũ người Việt Quốc Gia, vốn đã chia rẽ trầm trọng do bản chất vị kỷ, phi chính trị của những người sinh hoạt ngoài công cộng.

Họ có mặt sinh hoạt nội gian, nội gián trong mọi tổ chức, đảng phái chính trị.
Mục tiêu chính của họ là phá nát các tổ chức chính trị chống cộng, bày mưu, chước kế đâm bên này, thọc bên kia, gây mâu thuẫn nội bộ, tung những nguồn tin giật gân ra ngoài làm cho quần chúng mất niềm tin...
Mục tiêu của họ chỉ có thế thôi. Khi đã thành công vì phá được các tổ chức chính trị đi đến tình trạng gần như bị tê liệt thì họ đi đâu và làm gì? Dĩ nhiên là họ đã lặn thật kỹ,
viện cớ chán ngán thế sự, lui về ngồi rung đùi đếm tiền và hưởng nhàn, ôm theo một đống tiền, gọi là công tác phí trọn đời.

Họ là ai?
Thà rằng tỏ rõ thái độ đầu hàng như một ông tướng, ông nhạc sĩ “nhớn” đã quay về với đảng và nhà nước, ăn năn sám hối để được hưởng “lộc” cuối đời. Dù xú danh muôn thuở, người đời nguyền rủa, nhưng ít ra họ đã biểu lộ thái độ chính trị dứt khoát theo cộng để người ta phân biệt lằn ranh biên giới rõ ràng giữa họ và chúng ta. Còn hơn những tên nằm vùng sống với nhiều mặt nạ khác nhau để quậy phá các tổ chức chính trị, hội đoàn, cộng đồng; thậm chí trong giới cầm bút cũng không thiếu những tên tự xưng là người cầm bút, nhưng bất xứng, lại háo danh, hám lợi.. Chính họ là một thứ bồi bút không hơn không kém, viết lách theo đơn đặt hàng, núp bóng trong tổ chức Văn Bút, để “cố đấm ăn xôi” một cách quyết liệt với mục đích xé nát tổ chức nhằm xóa bỏ dấu tích còn lại của người Việt quốc gia trên diễn đàn quốc tế.. Họ cố đấm dù không ăn được xôi đến độ một cách phi lý, phi văn hóa mà bất cứ ai có chút suy nghĩ cũng phải nghi ngờ chắc chắn đàng sau họ phải có một sức đẩy nào đó. Họ chính là “những kẻ vô lại may mắn” như nhà văn Phạm Ngũ Yên đã đặt tên trong một loạt bài tố cáo đích danh những tên vô lại này trước công luận vào năm 2008.

Họ là ai?
Họ cũng là những người vượt biển,vượt biên ra đi tìm tự do, nhưng sống “với vật chất và vì vật chất” nên theo thời gian, thời thế thế thời phải thế.
Họ đã quay lưng, cúi đầu phục vụ trực tiếp, hay gián tiếp cho cục tuyên vận CSVN, sẵn sàng đâm vào vết thương lòng của tập thể người Việt tỵ nạn để kiếm lợi.

Họ là ai?
Họ là những nhà “làm chính trị” theo kiểu lập dị, với mớ lý luận thiên tả, ưa bềnh bồng, không định hướng như con thuyền không bến.
Họ sống bên này với thế giới tự do văn minh, phủ phê vật chất nhưng luôn luôn mơ mộng ở một “thiên đường” khác: thiên đường của hoang tưởng, thiên đường của không tưởng.
Nhưng nếu họ được sống thực trong cái “thiên đường” ấy, chắc chắn là họ phải lên cơn điên và trở thành người điên sớm nhất.
Tiếc thay, khi va chạm với thực tế trong cái xã hội tha hóa ấy thì hối hận cũng đã muộn màng!

Họ là ai?
Họ là thành phần làm chính trị theo kiểu salon, thích đọc diễn văn “xa đấm, gần đâm”.
Nghĩa là ở xa thì hô hào “Ðấm” đá, nhưng ở gần thì “Ðâm” đầu bỏ chạy. Họ cứ tưởng sẽ hòa hợp được với cộng sản bằng một mớ kiến thức về kỹ thuật mà họ học được từ hải ngoại.
Về nước họ sẽ được trọng dụng và đảng cộng sản sẽ nghe theo họ. Ðúng là hoang tưởng!

Họ là ai?
Họ là những thương gia, với quan niệm “chỉ làm thương mại, không làm chính trị”.
Giấc mơ của họ là giấc mơ của những “đại gia” thời mới, được nhà nước ca tụng và tâng bốc trên tận mây xanh.
Trước khi đặt vấn đề đầu tiên là “tiền đâu”; dĩ nhiên là họ phải chạy theo giai cấp thống trị, làm theo lệnh của bạo quyền để kiếm lợi.
Vì vậy, với thành phần chỉ biết mua bán để kiếm lợi thì trách họ làm gì cho bận tâm.
Với họ. quê hương dân tộc không bằng một quả chanh, khi vắt hết nước là liệng vỏ ngay.
Gần đây, nhiều “đại gia” đổ tiền về làm ăn vì được đảng nâng bi ca tụng hết mình, nhưng chỉ một thời gian sau thì những đại gia này đều bị trấn lột sạch sành sanh...
kêu Trời không thấu! Cái giá “không làm chính trị, chỉ biết làm ăn” họ đã phải trả một cách cay đắng.
Lời kết:
May thay, dân tộc Việt trường tồn qua mấy ngàn năm nay cũng nhờ vào hồn thiêng tổ tiên phù trợ, nên thành phần “Họ Là Ai” nói trên chỉ là thiểu số ung nhọt, sâu mọt trong đại gia đình dân tộc Việt mà thời nào cũng có trong lịch sử. Còn đại đa số những người bỏ nước ra đi tìm tự do thật sự từ năm 1975 đến nay, vẫn một lòng, một chí hướng, đó là giải thể chế độ cộng sản để đưa đất nước tiến lên trong tự do dân chủ. Ngày nào còn bóng dáng cộng sản là còn đấu tranh đòi quyền sống cho đồng bào ruột thịt đang chịu đựng trăm đắng ngàn cay ở quê nhà.

Ba mươi lăm năm rồi, mặc dù những hiện tượng chia rẽ trong hàng ngũ của chúng ta đã xảy ra vì địch và vì chính chúng ta tạo nên cũng có, nhưng những chiến sĩ can trường đã và đang âm thầm hay công khai đấu đầu với CSVN ở khắp mọi nơi vẫn kiên trì, bất khuất, vẫn một lòng với đại cuộc đấu tranh chống cộng. Ở quốc nội, các vị chân tu của các tôn giáo, các nhà đấu tranh cho dân chủ vẫn không sờn lòng đứng lên đòi quyền sống, quyền hành đạo, quyền được phát biểu tư tưởng, mặc dù bị bắt bớ giam cầm dã man trong suốt 35 năm qua. Ở hải ngoại, vẫn những chiến sĩ xung trận ngăn chặn mọi sự xâm nhập của CSVN trên mọi chiến tuyến. Xin cầu chúc “chân cứng đá mềm” tới những tấm lòng bất khuất mà thời nào họ cũng đứng lên trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt.
Là những người may mắn thoát khỏi nanh vuốt của tập đoàn cộng sản, chúng ta không thể nào ngồi yên để hưởng thụ, mà đã đến lúc phải góp sức vào công cuộc chung, tiếp tay với những anh hùng đang xả thân vì nước bằng cách vận động, góp tinh thần – dù chỉ là lời nói – cho quí vị lãnh đạo tinh thần, những nhà đấu tranh cho dân chủ ở trong nước đang ngày đêm gian khổ, sống chết trước sự đàn áp dã man của bạo quyền cộng sản. Có như thế thì chúng ta mới không phụ lòng những anh hùng liệt sĩ đã nằm xuống cho chính chúng ta được sống. Có như thế thì mới không hổ thẹn với chính lương tâm mình mỗi khi nhìn lại chặng đường lưu lạc gian khổ suốt ba mươi lăm năm qua: “Ta đã làm được gì cho quê hương dân tộc”? Có như thế mới làm gương cho thế hệ trẻ trong việc gìn giữ nguồn gốc và tinh thần trách nhiệm đối với sự sinh tồn của dân tộc. Một Brian Doan, một Madison Nguyễn, một John Nguyễn... cũng chỉ là một thiểu số nhỏ bé, bé hơn cả những hòn sỏi khi ném xuống mặt hồ yên lặng, vẫn chưa đủ sức làm gợn sóng lăn tăn. Thế nhưng, mặt khác của vấn đề là sự tỉnh thức của chúng ta, của tập thể người Việt không cộng sản, đó là đoàn kết và cố gắng chăm sóc cho thế hệ nối tiếp gìn giữ truyền thống giáo dục gia đình.
Nhân mùa quốc nạn, xin được thắp nén hương lòng gửi đến hồn thiêng của các anh linh tử sĩ, đồng bào vượt biển, vượt biên đã anh dũng nằm xuống cho đất mẹ sớm nở hoa tự do. Ðồng thời cũng xin được nguyện cầu bình an cho những anh hùng dân tộc đang ngày đêm chiến đấu một mất một còn với CSVN trên mọi mặt trận.
Lão Gà Tre
DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN LÀ MỆNH LỆNH CỦA THỜI ĐẠI
Trần Bảo Việt
Như thế là sau thời gian tranh luận và chất vấn của các đại biểu QH đối với các bộ trưởng và cá nhân thủ tướng Nguyễn tấn Dũng về hiện tình đất nước đã đi qua, những tiếng nói thẳng thắn đầy tinh thần trách nhiệm với dân, với nước của các đại biểu Nguyễn Minh Thuyết, Lê Văn Cuông, Phạm Thị Loan, Dương Trung Quốc, Nguyễn Lân Dũng…v.v… chất vấn chính phủ về con tàu Vinashine làm nghèo đất nước, về khai thác Bô xít (một “chủ trương lớn” của đảng và cũng là đại họa cho dân tộc trong tương lai), một nhà máy lọc dầu Dung Quất đang trên đà phá sản….v.v…., đã không đủ mạnh để cho thủ tướng Dũng cùng nội các của ông phải chùn bước bởi vì, trên 2/3 đại biểu đảng viên còn lại là bệ phóng để cho thủ tướng Dũng cùng các nhà lãnh đạo CSVN tiếp tục thực hiện “chủ trương lớn” của đảng mặc dù, còn lại không ít các vấn nạn nhạy cảm cho an ninh đất nước và sự an nguy của dân tộc không được QH đưa vào nghị trình làm việc như: Việc cho Trung Quốc thuê 300 hecta rừng chiến lược đầu nguồn trong thời gian dài 50 năm, việc gần hết các công trình trọng điểm quốc gia được các công ty Trung Quốc trúng thầu vẫn còn ngổn ngang chưa hoàn thành đúng với hợp đồng, việc số đông các công nhân Trung Quốc hiện diện trên các công trình và các dự án lớn mà VN không thể nào kiểm soát được. Đặc biệt, bức thư của trung tá Vũ minh Trí tố cáo tướng tổng cục 2 Nguyễn Chí Vịnh cấu kết với tình báo Hoa Nam Trung Quốc vẫn chìm vào quên lãng và trung tá Minh Trí thì bị kỷ luật và mất chức. Nhưng dù sao thì đây cũng là một tín hiệu đáng mừng.
Lần đầu tiên trong lịch sử ĐCSVN, một phần những việc làm sai trái của chính phủ được đem ra mổ xẻ trước cuộc họp QH đảng cử dân bầu, lần đầu tiên một đại biểu trong QH đảng cử dân bầu dám phê bình và đặt vấn đề tín nhiệm đối với thủ tướng, cũng lần đầu tiên các nhà cách mạng lão thành của đảng, các tướng lãnh và các cán bộ lãnh đạo cấp cao hưu trí trong guồng máy chính quyền đã cùng với gần 3000 nhà trí thức, khoa học chuyên môn những tinh hoa ưu tú nhất của dân tộc VN trong và ngoài nước cùng ký tên chung trong bảng kiến nghị dừng khai thác Bô xít ở Tây nguyên, và cũng lần đầu tiên một TS luật Cù Huy Hà Vũ, tốt nghiệp tại một trường đại học danh tiếng của Pháp can đảm đứng đơn kiện thủ tướng về những hành vi sai trái và vi phạm luật pháp của ông ta, từng đoàn người dân oan trong những năm tháng dài khiếu kiện vì đất đai tài sản của mình bị các quan tham trong guồng máy lãnh đạo chiếm dụng bằng nhiều hình thức tinh vi, từng đảng viên trí thức phản tỉnh đã biết chủ nghĩa cộng sản là không tưởng và định hướng XHCN là mơ hồ cho nên, đã mạnh dạn nói lên tiếng nói của lương tâm, hoặc từ bỏ đảng hoặc đứng vào hàng ngũ các phong trào đấu tranh cho một nền dân chủ, nhân quyền phù hợp với trào lưu tiến bộ của nhân loại bằng phương pháp bất bạo động. Tất cả là những mệnh lệnh được ban truyền từ bầu nhiệt huyết của toàn dân, từ tiếng gọi của hồn thiêng sông núi. Tuy hiện nay mặc dù, không được sự đồng tình của các nhà lãnh đạo CSVN và lực lượng công an, an ninh mật vụ chỉ biết “còn đảng còn mình” đang ngày đêm trung thành với cái sai để đàn áp và tìm cách tiêu diệt lẽ phải, những người vì đấu tranh cho dân chủ nhân quyền, vì can đảm nói lên cái sai của các thành phần lãnh đạo CSVN mà phải bị tù đầy, chịu nhiều cực hình trong lao lý kể cả bệnh tật và tính mạng, quyết không khuất phục trước bạo quyền, họ rất xứng đáng là những viên ngọc quý của nhân dân, là đứa con yêu của Tổ quốc, là hậu duệ đầy sáng suốt và can trường của tiền nhân trên con đường giữ nước và dựng nước. Kể từ khi các nước theo CNCS ở Đông âu và Liên sô tan rã cho đến nay, đã có rất nhiều những bí mật đau thương mà các lãnh tụ cộng sản gây ra cho nhân loại và cho chính nhân dân của họ nữa đã được mã hóa công khai trước bàn dân thiên hạ. Từ bức tường ô nhục Berlin của đông Đức ngăn đôi 2 miền nước Đức đã chôn vùi hàng vạn người dân vô tội, cho đến cái chết của vợ chồng tên đao phủ độc tài cộng sản Rumani Nicolae Ceaucescu. Trong buổi lễ kỹ niệm chiến thắng phát xít Hitler (người gây ra thế chiến thứ II) có sự tham dự của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, tổng thống Nga Medvevdev đã lên án CNCS và tố cáo lãnh tụ Staline là tội đồ của nhân loại bởi vì, chẳng những Staline tàn ác đối với dân tộc các nước, ông ta còn giết và thanh trừng hàng chục triệu người dân Nga mà ông cho là không cùng quan điểm với mình trong suốt thời gian ông lãnh đạo đất nước Liên Xô cũ. Đặc biệt, ngày 25/11/2010 QH Nga đã thừa nhận sự tàn ác của Staline khi ông ra lệnh tàn sát 22 ngàn binh lính sĩ quan và công dân Balan tại khu rừng Katyn năm 1940 rồi đổ tội cho Hitler, được báo điện tử tuổi trẻ lề phải đăng ngày 28/11/2010. Sự thừa nhận của QH Nga đã giải oan cho tên tội đồ Hitler sau thời gian dài chịu oan, cũng như cựu tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã bị chính quyền CSVN vu khống là đem 16 tấn vàng tài sản của miền Nam ra nước ngoài hưởng thụ, nhưng sự thật số vàng này đã được nhân viên của ngân hàng quốc gia miền Nam VN bàn giao cho Ủy ban quân quản CSVN tháng 6/1975, được báo tuổi trẻ lề phải xác nhận trong loạt bài vàng đổi chủ đăng từ ngày 25/4/2006 đến 2/5/2006.
Chắc chắn rằng trong tương lai, những gì mà ĐCSVN gây ra cho đất nước và nhân dân sẽ được phơi bày ra ánh sáng cho toàn dân biết. Nếu trong quá khứ các nhà lãnh đạo ĐCSVN đã thu phục được lòng yêu nước của người dân đi theo đảng, thì ngày nay với sự ươn hèn trước kẻ thù truyền kiếp TQ, với tư tưởng hẹp hòi chỉ biết có quyền lợi riêng tư, với tài năng quá hạn chế để điều hành đất nước, với tinh thần và ý chí chỉ biết có CNCS, CNXH là trên hết, mà CNCS đã bị loài người ruồng bỏ rồi vì nó có quá nhiều sai lầm và không tưởng, còn định hướng XHCN là những mơ hồ không ai biết điểm đến của nó như thế nào, trong khi đó thì cuộc sống của các quan lãnh đạo từ trung ương xuống tận địa phương là tư bản đỏ, còn các thành phần công nhân và nông dân là thành phần nồng cốt của đảng lại là những thành phần bần hàn nhất trong xã hội, sự chênh lệch giàu nghèo của xã hội VN bây giờ đã đi đến cực điểm mà thành phần giàu có bậc nhất lại là đảng viên cán bộ có chức có quyền. Tất cả những vấn nạn trên đây sẽ là kết quả suy vong cho ĐCSVN trong một ngày không xa, sự công bằng của luật nhân quả là hiện thực không ai tránh khỏi. Có ai hiểu CNCS bằng GSTS Hoàng Minh Chính đã từng là viện trưởng viện triết học Marx-Lenin, nhưng trong một lần trả lời phỏng vấn của đài RFA ông thẳng thắn nói rằng “cái đảng này nó đi theo chủ nghĩa Marx-Lenin, mà bản thân CN Marx-lenin đã sai từ gốc rễ và cái đảng này nó đang xây dựng một chế độ độc tài, độc quyền toàn trị thì làm sao cải tổ và tự đổi mới được”, còn ông Trần Xuân Bách là ủy viên BCT ĐCSVN trước khi bị thành phần bảo thủ thanh trừng ông có nói “dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ hay dân chủ mở rộng. Dân chủ phải là quyền của dân với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia, phải có dân chủ thực sự mới khai thông trí tuệ của toàn dân tộc để đưa đất nước đi lên ngang hàng với nhân loại”. Trung tướng Trần Độ suốt đời binh nghiệp hy sinh cho đảng, cuối cùng thì ông cũng hiểu ra và gởi tâm tư, nguyện vọng vào cuốn nhật ký Rồng Rắn của ông để lại cho hậu thế, ông cũng có những câu thơ nói lên nỗi lòng của mình
Những mơ xóa ác ở trên đời
Ta phó thân ta với đất trời
Ngỡ ác xóa rồi, thay cực thiện
Ai hay biến đổi ác luân hồi
Còn rất nhiều những nhà trí thức đi theo đảng, từng giữ những chức vụ cao trong guồng máy của đảng, từng là tướng lãnh trong quân đội nhưng cuối cùng vẫn phải quay lưng với đảng như: thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, thiếu tướng Nguyễn Hộ, nhà nghiên cứu lịch sữ Lê Hồng Hà, đại tá Bùi Tín, trung tá Trần Anh Kim, đại tá Vũ Cao Quận…v.v… Nhìn qua chủ trương và hành động của các nhà lãnh đạo CSVN hiện nay, quá rõ ràng cho một sự lệ thuộc và cam tâm tình nguyện làm chư hầu cho kẻ thù TQ, khiến cho cựu thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ phải than thở trong cuốn hồi ức và suy nghĩ của ông về việc bình thường hóa quan hệ với kẻ thù TQ như sau: “Trong quá trình đàm phán, VN luôn xin ý kiến của đối phương và hướng giải quyết vấn đề trước khi đàm phán. Thật là chuyện có một không hai trong lịch sử đối ngoại….”, các nhà lãnh đạo CSVN đã tự động đứng trên luật pháp, xem thường quyền lợi của quốc gia dân tộc để dâng từng vùng biển, từng hòn đảo, từng phần đất của đất nước cho kẻ thù TQ để nhận được sự hậu thuẫn của kẽ thù cho cái uy quyền và địa vị của mình. Các nhà lãnh đạo CSVN thường lên án Trần Ích Tắc, vua Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh (vua Gia Long) vì cho rằng hèn nhát, theo giặc cổng rắn cắn gà nhà, thậm chí vua Gia Long đã có công bình định trong cuộc Nam tiến để đất nước VN ngày nay được trọn vẹn hình chữ S từ Ải Nam Quan đến tận mũi Cà Mau, nhưng bây giờ tên đường Gia Long còn không có. Trong khi đó, dưới triều đại của ĐCSVN thì cái giả dối hàng ngày vẫn được tôn vinh, chẳng hạn như nhân vật không có thật Lê Văn Tám do ông Trần Huy Liệu tự nghĩ ra, còn hình hài của đất nước ra sao chắc mọi người cũng đều biết rồi.
Nhìn ra thế giới những nước có nền dân chủ đa nguyên, cuộc sống và quyền tự do dân chủ, nhân quyền của người dân đã vượt quá xa nhân dân VN, tầm hiểu biết của người lãnh đạo và tinh thần trách nhiệm của họ thật đáng được tôn kính. Một thủ tướng Nhật tự động từ chức vì không thực hiện được lời hứa đối với dân, một tổng thống Đức tự động từ chức vì lỡ lời khi phát biểu không đúng gây phản cảm trong dư luận, một bộ trưởng quốc phòng Nam Hàn tự động từ chức khi phản ứng quá chậm trong thời gian Bắc hàn nã đại pháo qua lãnh thổ Nam Hàn…v.v…. Ngược lại tại VN thì sao?, quyền hạn của các đảng viên lãnh đạo từ hàng tỉnh sắp lên hầu như là bất khả xâm phạm, 15 UVBCT là 15 ông vua phong kiến, còn thủ tướng điều hành nội các và dành toàn quyền quản lý hầu hết các tập đoàn quốc doanh đã làm te tua nền kinh tế của đất nước, vụ Vinashine nợ trên 100 ngàn tỷ là một trường hợp điển hình, còn các tập đoàn quốc doanh khác chưa bị lộ thì không biết là bao nhiêu bởi vì, với chính quyền độc đảng và độc tài thì họ có đầy đủ uy quyền và mánh khóe để vô hiệu quá sự việc.
Nếu VN không theo CNCS thì đất nước sẽ không bao giờ bị mất vào tay kẻ thù TQ: quần đảo Hoàng sa, các hòn đảo chiến lược của Trường sa cũng như vùng đất địa đầu Ải Nam Quan, các danh thắng của bãi Tục Lãm, 2/3 thác Bãn Giốc và trên 800km2 vùng đất biên giới cùng với trên 8000km2 vùng biển vịnh Bắc bộ; Không bao giờ có một bộ máy chính quyền mà các thành phần lãnh đạo chỉ toàn là những đảng viên không đủ tầm nhìn và khả năng nhận thức vì đa số mặt bằng kiến thức là giả tạo, không bao giờ có cảnh chết oan của hơn 170 ngàn sinh mạng người dân trong đợt cải cách ruộng đất, không bao giờ có nạn tham nhũng tràn lan và bất trị như hiện nay, cũng không bao giờ có chuyện một công ty hoặc tập đoàn quốc doanh lấy tiền ngân sách nhà nước kinh doanh, nhưng khi làm ăn thua lỗ thì nhân dân phải gánh chịu trả nợ thế, còn các quan thì cơ ngơi càng ngày càng giàu them. Cũng không có chuyện người dân chỉ được quyền bầu những người mà đảng đã lựa chọn trước, cũng không có chuyện quân đội và lực lượng công an chỉ phục vụ riêng cho quyền lợi của đảng lãnh đạo, cũng không có chuyện một đại lễ kỹ niệm ngàn năm Thăng Long lại chọn đúng vào ngày lễ quốc khánh của kẻ thù TQ 1/10 trong khi theo dòng lịch sử là trung tuần tháng 7 âm lịch, cũng không có chuyện một bộ phim Lý Công Uẩn-Đường Về Thành Thăng Long tốn 100 tỷ lại quay bên đất nước TQ với ê kíp từ hóa trang, đạo diễn chính và nội dung cốt truyện lại na ná của triều đại Tần thủy Hoàng TQ để rồi vì phản ứng của dư luận đành phải đưa vào sọ rác không dám chiếu trước công luận, cũng không có chuyện một thủ tướng làm nghèo đất nước nhưng chỉ biết có xin lỗi rồi thôi. Đặc biệt, sẽ không bao giờ có chuyện một guồng máy chính quyền mà dám chống lại cả một tập thể trí thức, khoa học ưu tú nhất của đất nước....v.v….
Điều tối quan trọng hôm nay là làm sao trong tương lai đất nước khỏi phải mất vào tay kẻ thù TQ bởi vì, tất cả những chủ trương của các nhà lãnh đạo CSVN hiện nay đều nằm trong kế hoạch xâm lăng mềm của TQ, nếu các dự án lớn của ĐCSVN cứ tiếp tục được thi hành như: cho TQ khai thác Bô xít ở Tây nguyên, cho TQ làm chủ các khu rừng chiến lược thời gian 50 năm, cho người của TQ được tự do ra vào VN như nhà của chúng, không minh bạch chuyện đi đêm giữa tướng tổng cục 2 Nguyễn chí Vịnh với cục tình báo Hoa nam TQ theo lời đề nghị của trung tá Vũ Minh Trí, …v.v, thì con đường bắc thuộc lần thứ 5 mà toàn dân VN phải gánh chịu là không còn xa, chậm nhất là đến năm 2020 theo như một số tin tức đã được loan truyền trên mạng trong thời gian qua. Các chiến sĩ quân đội và công an nên bình tâm suy xét việc làm của mình để sau này khỏi phải mang trọng tội với lịch sử, với tiền nhân và dân tộc.
Con đường dân chủ đa nguyên là hướng đi đúng, là mệnh lệnh của thời đại để tạo sự đoàn kết một lòng một dạ trong cộng đồng dân tộc trước họa xâm lăng của kẻ thù TQ, con đường đó cũng đưa đất nước đi lên ngang tầm với nền văn minh của nhân loại mà đại đa số các nước trên thế giới đang theo và đang thành công. Dù muốn dù không thì quá khứ cũng đã đi qua rồi, nhưng tương lai là những gì sắp đến để cho mọi người suy nghĩ. Xin những ai còn mang trên mình dòng máu VN, xin các nhà trí thức và khoa học ưu tú của đất nước VN hãy hành động và nêu cao thêm nữa để sau này khỏi phải ân hận. Bằng tất cả lương tâm không hận thù, người viết hy vọng rằng các nhà bảo thủ trong hàng lãnh đạo CSVN nên đặt quyền lợi của quê hương đất nước, cuộc sống an lành của nhân dân lên trên quyền lợi cá nhân trong đó, có thân nhân và con cháu của mình sau này, để lịch sử VN tiếp tục sáng ngời trong niềm tin yêu của dân tộc.
Sài Gòn ngày 12/12/2010
Trần Bảo Việt
Trần Bảo Việt
Như thế là sau thời gian tranh luận và chất vấn của các đại biểu QH đối với các bộ trưởng và cá nhân thủ tướng Nguyễn tấn Dũng về hiện tình đất nước đã đi qua, những tiếng nói thẳng thắn đầy tinh thần trách nhiệm với dân, với nước của các đại biểu Nguyễn Minh Thuyết, Lê Văn Cuông, Phạm Thị Loan, Dương Trung Quốc, Nguyễn Lân Dũng…v.v… chất vấn chính phủ về con tàu Vinashine làm nghèo đất nước, về khai thác Bô xít (một “chủ trương lớn” của đảng và cũng là đại họa cho dân tộc trong tương lai), một nhà máy lọc dầu Dung Quất đang trên đà phá sản….v.v…., đã không đủ mạnh để cho thủ tướng Dũng cùng nội các của ông phải chùn bước bởi vì, trên 2/3 đại biểu đảng viên còn lại là bệ phóng để cho thủ tướng Dũng cùng các nhà lãnh đạo CSVN tiếp tục thực hiện “chủ trương lớn” của đảng mặc dù, còn lại không ít các vấn nạn nhạy cảm cho an ninh đất nước và sự an nguy của dân tộc không được QH đưa vào nghị trình làm việc như: Việc cho Trung Quốc thuê 300 hecta rừng chiến lược đầu nguồn trong thời gian dài 50 năm, việc gần hết các công trình trọng điểm quốc gia được các công ty Trung Quốc trúng thầu vẫn còn ngổn ngang chưa hoàn thành đúng với hợp đồng, việc số đông các công nhân Trung Quốc hiện diện trên các công trình và các dự án lớn mà VN không thể nào kiểm soát được. Đặc biệt, bức thư của trung tá Vũ minh Trí tố cáo tướng tổng cục 2 Nguyễn Chí Vịnh cấu kết với tình báo Hoa Nam Trung Quốc vẫn chìm vào quên lãng và trung tá Minh Trí thì bị kỷ luật và mất chức. Nhưng dù sao thì đây cũng là một tín hiệu đáng mừng.
Lần đầu tiên trong lịch sử ĐCSVN, một phần những việc làm sai trái của chính phủ được đem ra mổ xẻ trước cuộc họp QH đảng cử dân bầu, lần đầu tiên một đại biểu trong QH đảng cử dân bầu dám phê bình và đặt vấn đề tín nhiệm đối với thủ tướng, cũng lần đầu tiên các nhà cách mạng lão thành của đảng, các tướng lãnh và các cán bộ lãnh đạo cấp cao hưu trí trong guồng máy chính quyền đã cùng với gần 3000 nhà trí thức, khoa học chuyên môn những tinh hoa ưu tú nhất của dân tộc VN trong và ngoài nước cùng ký tên chung trong bảng kiến nghị dừng khai thác Bô xít ở Tây nguyên, và cũng lần đầu tiên một TS luật Cù Huy Hà Vũ, tốt nghiệp tại một trường đại học danh tiếng của Pháp can đảm đứng đơn kiện thủ tướng về những hành vi sai trái và vi phạm luật pháp của ông ta, từng đoàn người dân oan trong những năm tháng dài khiếu kiện vì đất đai tài sản của mình bị các quan tham trong guồng máy lãnh đạo chiếm dụng bằng nhiều hình thức tinh vi, từng đảng viên trí thức phản tỉnh đã biết chủ nghĩa cộng sản là không tưởng và định hướng XHCN là mơ hồ cho nên, đã mạnh dạn nói lên tiếng nói của lương tâm, hoặc từ bỏ đảng hoặc đứng vào hàng ngũ các phong trào đấu tranh cho một nền dân chủ, nhân quyền phù hợp với trào lưu tiến bộ của nhân loại bằng phương pháp bất bạo động. Tất cả là những mệnh lệnh được ban truyền từ bầu nhiệt huyết của toàn dân, từ tiếng gọi của hồn thiêng sông núi. Tuy hiện nay mặc dù, không được sự đồng tình của các nhà lãnh đạo CSVN và lực lượng công an, an ninh mật vụ chỉ biết “còn đảng còn mình” đang ngày đêm trung thành với cái sai để đàn áp và tìm cách tiêu diệt lẽ phải, những người vì đấu tranh cho dân chủ nhân quyền, vì can đảm nói lên cái sai của các thành phần lãnh đạo CSVN mà phải bị tù đầy, chịu nhiều cực hình trong lao lý kể cả bệnh tật và tính mạng, quyết không khuất phục trước bạo quyền, họ rất xứng đáng là những viên ngọc quý của nhân dân, là đứa con yêu của Tổ quốc, là hậu duệ đầy sáng suốt và can trường của tiền nhân trên con đường giữ nước và dựng nước. Kể từ khi các nước theo CNCS ở Đông âu và Liên sô tan rã cho đến nay, đã có rất nhiều những bí mật đau thương mà các lãnh tụ cộng sản gây ra cho nhân loại và cho chính nhân dân của họ nữa đã được mã hóa công khai trước bàn dân thiên hạ. Từ bức tường ô nhục Berlin của đông Đức ngăn đôi 2 miền nước Đức đã chôn vùi hàng vạn người dân vô tội, cho đến cái chết của vợ chồng tên đao phủ độc tài cộng sản Rumani Nicolae Ceaucescu. Trong buổi lễ kỹ niệm chiến thắng phát xít Hitler (người gây ra thế chiến thứ II) có sự tham dự của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, tổng thống Nga Medvevdev đã lên án CNCS và tố cáo lãnh tụ Staline là tội đồ của nhân loại bởi vì, chẳng những Staline tàn ác đối với dân tộc các nước, ông ta còn giết và thanh trừng hàng chục triệu người dân Nga mà ông cho là không cùng quan điểm với mình trong suốt thời gian ông lãnh đạo đất nước Liên Xô cũ. Đặc biệt, ngày 25/11/2010 QH Nga đã thừa nhận sự tàn ác của Staline khi ông ra lệnh tàn sát 22 ngàn binh lính sĩ quan và công dân Balan tại khu rừng Katyn năm 1940 rồi đổ tội cho Hitler, được báo điện tử tuổi trẻ lề phải đăng ngày 28/11/2010. Sự thừa nhận của QH Nga đã giải oan cho tên tội đồ Hitler sau thời gian dài chịu oan, cũng như cựu tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã bị chính quyền CSVN vu khống là đem 16 tấn vàng tài sản của miền Nam ra nước ngoài hưởng thụ, nhưng sự thật số vàng này đã được nhân viên của ngân hàng quốc gia miền Nam VN bàn giao cho Ủy ban quân quản CSVN tháng 6/1975, được báo tuổi trẻ lề phải xác nhận trong loạt bài vàng đổi chủ đăng từ ngày 25/4/2006 đến 2/5/2006.
Chắc chắn rằng trong tương lai, những gì mà ĐCSVN gây ra cho đất nước và nhân dân sẽ được phơi bày ra ánh sáng cho toàn dân biết. Nếu trong quá khứ các nhà lãnh đạo ĐCSVN đã thu phục được lòng yêu nước của người dân đi theo đảng, thì ngày nay với sự ươn hèn trước kẻ thù truyền kiếp TQ, với tư tưởng hẹp hòi chỉ biết có quyền lợi riêng tư, với tài năng quá hạn chế để điều hành đất nước, với tinh thần và ý chí chỉ biết có CNCS, CNXH là trên hết, mà CNCS đã bị loài người ruồng bỏ rồi vì nó có quá nhiều sai lầm và không tưởng, còn định hướng XHCN là những mơ hồ không ai biết điểm đến của nó như thế nào, trong khi đó thì cuộc sống của các quan lãnh đạo từ trung ương xuống tận địa phương là tư bản đỏ, còn các thành phần công nhân và nông dân là thành phần nồng cốt của đảng lại là những thành phần bần hàn nhất trong xã hội, sự chênh lệch giàu nghèo của xã hội VN bây giờ đã đi đến cực điểm mà thành phần giàu có bậc nhất lại là đảng viên cán bộ có chức có quyền. Tất cả những vấn nạn trên đây sẽ là kết quả suy vong cho ĐCSVN trong một ngày không xa, sự công bằng của luật nhân quả là hiện thực không ai tránh khỏi. Có ai hiểu CNCS bằng GSTS Hoàng Minh Chính đã từng là viện trưởng viện triết học Marx-Lenin, nhưng trong một lần trả lời phỏng vấn của đài RFA ông thẳng thắn nói rằng “cái đảng này nó đi theo chủ nghĩa Marx-Lenin, mà bản thân CN Marx-lenin đã sai từ gốc rễ và cái đảng này nó đang xây dựng một chế độ độc tài, độc quyền toàn trị thì làm sao cải tổ và tự đổi mới được”, còn ông Trần Xuân Bách là ủy viên BCT ĐCSVN trước khi bị thành phần bảo thủ thanh trừng ông có nói “dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ hay dân chủ mở rộng. Dân chủ phải là quyền của dân với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia, phải có dân chủ thực sự mới khai thông trí tuệ của toàn dân tộc để đưa đất nước đi lên ngang hàng với nhân loại”. Trung tướng Trần Độ suốt đời binh nghiệp hy sinh cho đảng, cuối cùng thì ông cũng hiểu ra và gởi tâm tư, nguyện vọng vào cuốn nhật ký Rồng Rắn của ông để lại cho hậu thế, ông cũng có những câu thơ nói lên nỗi lòng của mình
Những mơ xóa ác ở trên đời
Ta phó thân ta với đất trời
Ngỡ ác xóa rồi, thay cực thiện
Ai hay biến đổi ác luân hồi
Còn rất nhiều những nhà trí thức đi theo đảng, từng giữ những chức vụ cao trong guồng máy của đảng, từng là tướng lãnh trong quân đội nhưng cuối cùng vẫn phải quay lưng với đảng như: thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, thiếu tướng Nguyễn Hộ, nhà nghiên cứu lịch sữ Lê Hồng Hà, đại tá Bùi Tín, trung tá Trần Anh Kim, đại tá Vũ Cao Quận…v.v… Nhìn qua chủ trương và hành động của các nhà lãnh đạo CSVN hiện nay, quá rõ ràng cho một sự lệ thuộc và cam tâm tình nguyện làm chư hầu cho kẻ thù TQ, khiến cho cựu thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ phải than thở trong cuốn hồi ức và suy nghĩ của ông về việc bình thường hóa quan hệ với kẻ thù TQ như sau: “Trong quá trình đàm phán, VN luôn xin ý kiến của đối phương và hướng giải quyết vấn đề trước khi đàm phán. Thật là chuyện có một không hai trong lịch sử đối ngoại….”, các nhà lãnh đạo CSVN đã tự động đứng trên luật pháp, xem thường quyền lợi của quốc gia dân tộc để dâng từng vùng biển, từng hòn đảo, từng phần đất của đất nước cho kẻ thù TQ để nhận được sự hậu thuẫn của kẽ thù cho cái uy quyền và địa vị của mình. Các nhà lãnh đạo CSVN thường lên án Trần Ích Tắc, vua Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh (vua Gia Long) vì cho rằng hèn nhát, theo giặc cổng rắn cắn gà nhà, thậm chí vua Gia Long đã có công bình định trong cuộc Nam tiến để đất nước VN ngày nay được trọn vẹn hình chữ S từ Ải Nam Quan đến tận mũi Cà Mau, nhưng bây giờ tên đường Gia Long còn không có. Trong khi đó, dưới triều đại của ĐCSVN thì cái giả dối hàng ngày vẫn được tôn vinh, chẳng hạn như nhân vật không có thật Lê Văn Tám do ông Trần Huy Liệu tự nghĩ ra, còn hình hài của đất nước ra sao chắc mọi người cũng đều biết rồi.
Nhìn ra thế giới những nước có nền dân chủ đa nguyên, cuộc sống và quyền tự do dân chủ, nhân quyền của người dân đã vượt quá xa nhân dân VN, tầm hiểu biết của người lãnh đạo và tinh thần trách nhiệm của họ thật đáng được tôn kính. Một thủ tướng Nhật tự động từ chức vì không thực hiện được lời hứa đối với dân, một tổng thống Đức tự động từ chức vì lỡ lời khi phát biểu không đúng gây phản cảm trong dư luận, một bộ trưởng quốc phòng Nam Hàn tự động từ chức khi phản ứng quá chậm trong thời gian Bắc hàn nã đại pháo qua lãnh thổ Nam Hàn…v.v…. Ngược lại tại VN thì sao?, quyền hạn của các đảng viên lãnh đạo từ hàng tỉnh sắp lên hầu như là bất khả xâm phạm, 15 UVBCT là 15 ông vua phong kiến, còn thủ tướng điều hành nội các và dành toàn quyền quản lý hầu hết các tập đoàn quốc doanh đã làm te tua nền kinh tế của đất nước, vụ Vinashine nợ trên 100 ngàn tỷ là một trường hợp điển hình, còn các tập đoàn quốc doanh khác chưa bị lộ thì không biết là bao nhiêu bởi vì, với chính quyền độc đảng và độc tài thì họ có đầy đủ uy quyền và mánh khóe để vô hiệu quá sự việc.
Nếu VN không theo CNCS thì đất nước sẽ không bao giờ bị mất vào tay kẻ thù TQ: quần đảo Hoàng sa, các hòn đảo chiến lược của Trường sa cũng như vùng đất địa đầu Ải Nam Quan, các danh thắng của bãi Tục Lãm, 2/3 thác Bãn Giốc và trên 800km2 vùng đất biên giới cùng với trên 8000km2 vùng biển vịnh Bắc bộ; Không bao giờ có một bộ máy chính quyền mà các thành phần lãnh đạo chỉ toàn là những đảng viên không đủ tầm nhìn và khả năng nhận thức vì đa số mặt bằng kiến thức là giả tạo, không bao giờ có cảnh chết oan của hơn 170 ngàn sinh mạng người dân trong đợt cải cách ruộng đất, không bao giờ có nạn tham nhũng tràn lan và bất trị như hiện nay, cũng không bao giờ có chuyện một công ty hoặc tập đoàn quốc doanh lấy tiền ngân sách nhà nước kinh doanh, nhưng khi làm ăn thua lỗ thì nhân dân phải gánh chịu trả nợ thế, còn các quan thì cơ ngơi càng ngày càng giàu them. Cũng không có chuyện người dân chỉ được quyền bầu những người mà đảng đã lựa chọn trước, cũng không có chuyện quân đội và lực lượng công an chỉ phục vụ riêng cho quyền lợi của đảng lãnh đạo, cũng không có chuyện một đại lễ kỹ niệm ngàn năm Thăng Long lại chọn đúng vào ngày lễ quốc khánh của kẻ thù TQ 1/10 trong khi theo dòng lịch sử là trung tuần tháng 7 âm lịch, cũng không có chuyện một bộ phim Lý Công Uẩn-Đường Về Thành Thăng Long tốn 100 tỷ lại quay bên đất nước TQ với ê kíp từ hóa trang, đạo diễn chính và nội dung cốt truyện lại na ná của triều đại Tần thủy Hoàng TQ để rồi vì phản ứng của dư luận đành phải đưa vào sọ rác không dám chiếu trước công luận, cũng không có chuyện một thủ tướng làm nghèo đất nước nhưng chỉ biết có xin lỗi rồi thôi. Đặc biệt, sẽ không bao giờ có chuyện một guồng máy chính quyền mà dám chống lại cả một tập thể trí thức, khoa học ưu tú nhất của đất nước....v.v….
Điều tối quan trọng hôm nay là làm sao trong tương lai đất nước khỏi phải mất vào tay kẻ thù TQ bởi vì, tất cả những chủ trương của các nhà lãnh đạo CSVN hiện nay đều nằm trong kế hoạch xâm lăng mềm của TQ, nếu các dự án lớn của ĐCSVN cứ tiếp tục được thi hành như: cho TQ khai thác Bô xít ở Tây nguyên, cho TQ làm chủ các khu rừng chiến lược thời gian 50 năm, cho người của TQ được tự do ra vào VN như nhà của chúng, không minh bạch chuyện đi đêm giữa tướng tổng cục 2 Nguyễn chí Vịnh với cục tình báo Hoa nam TQ theo lời đề nghị của trung tá Vũ Minh Trí, …v.v, thì con đường bắc thuộc lần thứ 5 mà toàn dân VN phải gánh chịu là không còn xa, chậm nhất là đến năm 2020 theo như một số tin tức đã được loan truyền trên mạng trong thời gian qua. Các chiến sĩ quân đội và công an nên bình tâm suy xét việc làm của mình để sau này khỏi phải mang trọng tội với lịch sử, với tiền nhân và dân tộc.
Con đường dân chủ đa nguyên là hướng đi đúng, là mệnh lệnh của thời đại để tạo sự đoàn kết một lòng một dạ trong cộng đồng dân tộc trước họa xâm lăng của kẻ thù TQ, con đường đó cũng đưa đất nước đi lên ngang tầm với nền văn minh của nhân loại mà đại đa số các nước trên thế giới đang theo và đang thành công. Dù muốn dù không thì quá khứ cũng đã đi qua rồi, nhưng tương lai là những gì sắp đến để cho mọi người suy nghĩ. Xin những ai còn mang trên mình dòng máu VN, xin các nhà trí thức và khoa học ưu tú của đất nước VN hãy hành động và nêu cao thêm nữa để sau này khỏi phải ân hận. Bằng tất cả lương tâm không hận thù, người viết hy vọng rằng các nhà bảo thủ trong hàng lãnh đạo CSVN nên đặt quyền lợi của quê hương đất nước, cuộc sống an lành của nhân dân lên trên quyền lợi cá nhân trong đó, có thân nhân và con cháu của mình sau này, để lịch sử VN tiếp tục sáng ngời trong niềm tin yêu của dân tộc.
Sài Gòn ngày 12/12/2010
Trần Bảo Việt

Nhân Vật Năm 2010:
Mark Zuckerberg, người sáng lập Facebook “Facebook đã hòa trộn vào tế bào xã hội Hoa Kỳ, và không chỉ nước Mỹ mà từng con người: hiện gần một nửa người dân Mỹ có tài khoản trên Facebook, nhưng 70% người dùng Facebook sống bên ngoài Hoa Kỳ. Đây là một sự kiện bất biến của hiện thực toàn cầu ngày nay”.“Chúng ta bước vào Kỷ nguyên Facebook, và Mark Zuckerberg chính là người đem chúng ta đến chỗ này ".
Tạp chí “Time”: “Chúng ta bước vào Kỷ nguyên Facebook, và Mark Zuckerberg chính là người đem chúng ta đến chỗ này”. Chúc mừng bạn Đoan Trang đã có đúng người mình thích!
Tôi đã giới thiệu với bạn hữu trên Facebook bài viết nói về các nhân vật nổi tiếng là ứng viên của danh hiệu uy tín “The Person Of The Year” của tạp chí “Time”, được cập nhật trên RFA [1] với những thay đổi thứ hạng bất ngờ trên bảng thăm dò dư luận Online của “Time”.
Khi còn chưa biết kết quả, bạn Đoan Trang viết comment nói rằng bạn thích người sáng lập trang mạng xã hội Facebook Mark Zuckerberg giành được chiến thắng.
Chúc mừng bạn Đoan Trang đã có đúng người mình thích! Tôi cũng rất vui, vì là người đã hưởng ứng Đoan Trang trong các comments.
Mark Zuckerberg xứng đáng, với riêng tôi, còn là vì nhờ có Facebook, suốt thời gian bị tin tặc đánh sập Blog trên WordPress, tôi đã có phương tiện liên lạc với bạn bè và bạn đọc của mình.
Chúng ta cũng đã biết rằng, Mark Zuckerberg là nhân vật chính trong bộ phim “Mạng Xã hội” (The Social Network) sản xuất trong năm 2010.
Mặc dù trong bảng thăm dò dư luận chỉ với 18.353 votes, cách xa vị trí của “anh hùng hảo hán” bạch hóa thông tin, Julian Assange, người sáng lập trang Wikileaks, đã nhảy vọt lên hạng nhất với (hơn 382 ngàn votes) chỉ mấy ngày sau khi tung ra các điện tín bí mật của Bộ Ngoại giao Mỹ, nhưng Mark Zuckerberg đã được “Time” chọn là “Nhân Vật Năm 2010″.
Điều này cũng cho chúng ta một số nhìn nhận về sự lựa chọn của ban biên tập “Time”.
Đã có khá nhiều ứng viên sáng giá năm nay thuộc giới báo chí truyền thông.
Tuy nhiên, theo tôi, báo chí truyền thông tự do nhưng trong chuyển tải thông tin những gì phạm trù thuộc về đạo đức cần phải được cân nhắc và suy tính kỹ trước khi đưa ra công luận. Nếu không, ảnh hưởng bất lợi của nó với xã hội khó có thể lường trước.
Ví dụ, trong bài “Một quá khứ cộng sản không thể nào quên” [1] viết về sự kiện ban hành tình trạng chiến tranh ở Ba Lan thời cộng sản, tôi có nêu ra chi tiết nhà cầm quyền cộng sản Ba Lan đã xài hết nhẵn 4 tỷ đôla tiền tiết kiệm của dân chúng trong hai ngân hàng nhà nước. Chính quyền dân chủ đã không vội công bố thông tin này sau khi chế độ cộng sản sụp đổ mà đã xem là bí mật quốc gia tuyệt đối, rồi đợi đến thời gian sau khi ổn định kinh tế, có tiền bù đắp vào chỗ mất mát cho dân, mới nói ra.
Hãy tưởng tượng, vào thời điểm đó mà có một “Wikileaks” cho tiết lộ, không biết xã hội Ba Lan sẽ hoảng loạn thế nào khi hàng triệu người dân biết số tiền mồ hôi, nước mắt của mình đã biến thành mây khói.
Một bên là khai phóng, làm cầu nối liên lạc, phục vụ tinh thần và chia sẻ những giá trị của đời sống, của tự do và nhân quyền cho tất cả mọi người, như Facebook đã thực hiện và đang phát triển với nhiều ý tưởng táo bạo; một bên khác là sẵn sàng bạch hóa tất cả mọi thông tin, bất luận thông tin đó có hại, có lợi cho xã hội ra sao, kể cả thông tin thuộc về bí mật quốc gia bị đánh cắp.
Chính vì thế, nhật báo “New York Time” đã viết:
“WikiLeaks đại diện cho một loại vận động mới, loại đã từng đến với suy nghĩ của các hoạt động trong những năm 60, khi mọi người muốn tự tay mình va chạm và đào bới các thông tin” và “Những gì mọi người đang thấy chỉ là một khe nứt ở cánh cửa. Không ai có thể biết chuyện này sẽ còn đi đến đâu“.
“Hiện nay WikiLeaks có thể sẵn sàng giao bóng với các báo chí, nhưng tổ chức này không chia sẻ các giá trị hoặc mục tiêu tương đồng. Ông Assange và những người ủng hộ trang Web cho sự minh bạch là mục tiêu cuối cùng, tin rằng ánh nắng mặt trời và sự cởi mở sẽ lấy đi các tác nhân xấu của sự bí mật họ cần đến để thành công. Các phương tiện truyền thông chính thống có thể dành nhiều thời gian để lục lọi thông tin từ những nguồn chính thức, nhưng chủ yếu họ hoạt động trong niềm tin rằng nhà nước là hợp pháp và tối thiểu được phép có một số bí mật của mình“. [3]
Việc ra đi của một số những người đồng nghiệp trong ban điều hành trang mạng Wikileaks khiến chúng ta có thái độ nghiêm túc và thận trọng, trước khi vội vã bênh vực Wikileaks.
Lựa chọn Mark Zuckerberg, tạp chí “Time” viết:
“Facebook đã hòa trộn vào tế bào xã hội Hoa Kỳ, và không chỉ nước Mỹ mà từng con người: hiện gần một nửa người dân Mỹ có tài khoản trên Facebook, nhưng 70% người dùng Facebook sống bên ngoài Hoa Kỳ. Đây là một sự kiện bất biến của hiện thực toàn cầu ngày nay”.
“Chúng ta bước vào Kỷ nguyên Facebook, và Mark Zuckerberg chính là người đem chúng ta đến chỗ này“. [4]
Xin chúc mừng Mark Zuckerberg, nhà doanh nghiệp tài năng, nhà hoạt động truyền thông, xã hội và là tỷ phú chỉ mới ở tuổi 26 tuổi, một tấm gương sáng cho tuổi trẻ của thế kỷ 21!
Chúc Facebook thành công bước tiến xa hơn nữa trong lĩnh vực công nghệ thông tin để phục vụ công chúng!
———————
- [1]: “Julian Assange của Wikileaks, “anh hùng” bạch hóa thông tin, sẽ là “Nhân Vật Năm 2010″ của “Time”?” , Lê Diễn Đức: http://www.rfavietnam.com/node/331
- [2]: “Một quá khứ CS không thể nào quên“, Lê Diễn Đức: http://www.rfavietnam.com/node/335
- [3]: “WikiLeaks Taps Power of the Press“, New York Times: http://www.nytimes.com/2010/12/13/busin ... .html?_r=2
- [4]: http://www.time.com/time/specials/packa ... 83,00.html
Lê Diễn Đức – RFA
Nguyễn Phú Trọng sẽ là Tổng Bí thư?
Thursday, 16 December 2010 Tờ báo Nhật Bản Asahi Shimbun ngày hôm nay chạy tin nói ông Nguyễn Phú Trọng, 66 tuổi, ‘một nhân vật thân Trung Quốc’ dự kiến sẽ trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhà báo Takeshi Fujitani, trưởng đại diện tờ báo tại Bangkok, trong bài viết đăng trên trang web của Asahi hôm nay nói ông có trong tay bản dự thảo nhân sự cấp cao, cho thấy ông Trương Tấn Sang, 61 tuổi, sẽ là Chủ tịch nước, và ông Phạm Quang Nghị, 61 tuổi, sẽ giữ chức Chủ tịch Quốc hội.
Theo bài báo, ông Nguyễn Tấn Dũng, 61 tuổi, sẽ tiếp tục là Thủ tướng.
Nhà báo Nhật nói “vì có một số phản đối dự thảo”, nên Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương đang diễn ra tại Hà Nội sẽ tập trung bàn thảo để cố gắng có sự thống nhất.
Hội nghị này sẽ tiếp tục đến ngày 21/12.
Lãnh đạo tại Đại hội XI cũng sẽ lấy từ những gương mặt quen thuộc? Cũng theo Asahi Shimbun, năm thành viên Bộ Chính trị của đảng cầm quyền hiện nay sẽ về hưu, trong đó có các ông Nông Đức Mạnh và Nguyễn Minh Triết.
Đảng Cộng sản cũng đang thảo luận liệu có mở rộng số lượng Bộ Chính trị từ 15 lên 17 hay không.
Danh sách lãnh đạo chính thức sẽ được chính thức chuẩn y tại Đại hội Đảng diễn ra vào tháng 1/2011.
Trong thời gian trước Đại hội hiện có nhiều đồn đoán cũng như thảo luận về đường lối và nhân sự của Đảng.
Nổi bật hơn cả có bài trả lời phỏng vấn của Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nói đến Bấm dân chủ trong Đảng và nhu cầu ra luật về hoạt động của Đảng.
Ông Nguyễn Phú Trọng, có bằng Tiến sĩ Chính trị học (chuyên ngành Xây dựng Đảng), trở thành Uỷ viên Bộ Chính trị từ năm 1997 và hai năm sau tham gia Thường trực Bộ Chính trị..
Từ năm 2000 đến 2006, ông là Bí thư Thành ủy Hà Nội và giữ chức Chủ tịch Quốc hội từ tháng Sáu 2006 đến nay.
Nguồn : BBC
Thursday, 16 December 2010 Tờ báo Nhật Bản Asahi Shimbun ngày hôm nay chạy tin nói ông Nguyễn Phú Trọng, 66 tuổi, ‘một nhân vật thân Trung Quốc’ dự kiến sẽ trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhà báo Takeshi Fujitani, trưởng đại diện tờ báo tại Bangkok, trong bài viết đăng trên trang web của Asahi hôm nay nói ông có trong tay bản dự thảo nhân sự cấp cao, cho thấy ông Trương Tấn Sang, 61 tuổi, sẽ là Chủ tịch nước, và ông Phạm Quang Nghị, 61 tuổi, sẽ giữ chức Chủ tịch Quốc hội.
Theo bài báo, ông Nguyễn Tấn Dũng, 61 tuổi, sẽ tiếp tục là Thủ tướng.
Nhà báo Nhật nói “vì có một số phản đối dự thảo”, nên Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương đang diễn ra tại Hà Nội sẽ tập trung bàn thảo để cố gắng có sự thống nhất.
Hội nghị này sẽ tiếp tục đến ngày 21/12.
Lãnh đạo tại Đại hội XI cũng sẽ lấy từ những gương mặt quen thuộc? Cũng theo Asahi Shimbun, năm thành viên Bộ Chính trị của đảng cầm quyền hiện nay sẽ về hưu, trong đó có các ông Nông Đức Mạnh và Nguyễn Minh Triết.
Đảng Cộng sản cũng đang thảo luận liệu có mở rộng số lượng Bộ Chính trị từ 15 lên 17 hay không.
Danh sách lãnh đạo chính thức sẽ được chính thức chuẩn y tại Đại hội Đảng diễn ra vào tháng 1/2011.
Trong thời gian trước Đại hội hiện có nhiều đồn đoán cũng như thảo luận về đường lối và nhân sự của Đảng.
Nổi bật hơn cả có bài trả lời phỏng vấn của Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nói đến Bấm dân chủ trong Đảng và nhu cầu ra luật về hoạt động của Đảng.
Ông Nguyễn Phú Trọng, có bằng Tiến sĩ Chính trị học (chuyên ngành Xây dựng Đảng), trở thành Uỷ viên Bộ Chính trị từ năm 1997 và hai năm sau tham gia Thường trực Bộ Chính trị..
Từ năm 2000 đến 2006, ông là Bí thư Thành ủy Hà Nội và giữ chức Chủ tịch Quốc hội từ tháng Sáu 2006 đến nay.
Nguồn : BBC
Last edited by saohom on Fri Dec 17, 2010 7:21 am, edited 1 time in total.
Vài suy nghĩ về giải Nobel hoà bình 2010
và lời miệt thị của Trung quốc “trò hề chính trị”
Ông Lưu hiểu Ba là người đã tham dự cuộc biểu tình Thiên an Môn bị đàn áp đẫm máu năm 1989. Năm 1996 ông bị đi cải tạo 3 năm vì phát biểu chống chế độ độc đảng. Năm 2008, ông là đồng tác giả hiến chương 08 với Zhang Zuhua kêu gọi TQ phải viết hiến pháp mới, phải có một nền tư pháp độc lập và tự do phát biểu. Năm 2009, ông Ba bị kết án tù về tội phá hoại chuyên chính nhân dân và xã hội chủ nghĩa. Với những thành tích này, ông Lưu Hiểu Ba mới được trao giải hoà bình Nobel 2010. Ông đã không được ra khỏi tù để đi lãnh giải. Vợ ông không được đi nhận giải thay. Trong buổi phát giải đã để một ghế trống cho ông, và chủ tịch Uỷ ban Nobel Thorbjorn Jagland đã để tấm bằng Nobel lên chiếc ghế trống này.
Nobel là nhà hoá học và phát minh Thụy điển, với trên 300 bằng sáng chế mà nổi tiếng nhất là cốt mìn (dynamite). Ông là chủ nhà máy Bofors sản xuất sắt và thép mà ông đã chuyển thành ra xưởng võ khi nặng (canon) và nhiều võ khí khác. Vì thế ông rất giầu. Trước khi chết, chắc hối hận vì sự giết hại của cốt mìn và các loại võ khi nhà máy Bofors chế ra, ông đã bỏ tiền ra lập gìải Nobel, khuyến khích và tưởng thưởng các đóng góp tốt đẹp cho nhân loại. Ý nghĩa việc thành lập giải Nobel như vậy rõ ràng là rất đáng quý.
Từ năm 1901 đến nay, giải Nobel hoà bình đã trao 91 lần cho 121 đối tượng, hoặc là cá nhân hoặc là tổ chức. Tuy nhiên sự chọn lựa các đối tượng nhận giải đã không hẳn là trong mọi trường hợp xứng đáng và nặng nề mang mầu sắc chính trị. Người được giải hoà bình năm ngoái, tổng thống Obama đã không có thành tích nào đáng kể, ngoài mấy bài diễn văn hứa hẹn thay đổi thái độ ngoại giao của Mỹ đối với thế giới, mở rộng đối thoại, trao đổi thông cảm, mà Ủy ban Nobel ca tụng là “những nỗ lực vượt bực khác thường để tăng cường ngoại giao quốc tế và hợp tác giữa các dân tộc”, nhất là với thế giới Hồi giáo mà ông đã nói tới tại Cairo Ai cập. Và dường như thấy chưa đủ, ủy ban cũng đề cao quan niệm của ông Obama về giới hạn võ khí nguyên tử “Uỷ ban đã coi là rất quan trọng những viễn kiến và nỗ lực của ông Obama về một thế giới không có võ khí hạt nhân”. cộng thêm một nguyên tắc tổng quát, là “chính sách ngoại giao của ông đặt trên quan niệm là những người lãnh đạo thế giới phải lãnh đạo trên căn bản những giá trị và thái độ chia xẻ bởi đa số dân trên thế giới." Thế giới đã không có gì khá hơn từ đó. Trung Đông trở lại như cũ với vấn đề Palestine Do Thái nguyên vẹn, trong khi Do Thái tiếp tục xây thêm khu định cư trên đất Palestine. Afghanistan dậm chân tại chỗ. Nhìn xa hơn nữa bà Aun Sang Sưu Kyi ở Miến điện được giải vì đấu tranh công khai bất bạo động theo chủ trương của Tây Phương, với chế độ quân phiệt và đổi lấy hai chục năm tù và giam lỏng tại gia. Sau chót thì chế độ quân phiệt Miến vẫn tồn tại và trở thành đối tác của Tây phương, để gọi là giúp cho dân chúng cải thiện cuộc sống. Bà Sưu Kyi được thả để tuyên bố rằng bà sẵn sàng lắng nghe mọi phiá, và không muốn chế độ quân phiệt thất bại. Bà được truyền thông Tây phương an ủi khen là can đảm vì đã thay đổi lập trường. Xa hơn nữa là Kim Đại Trọng tổng thống Đại Hàn, vì chủ trương tiếp cận và hoà hợp với chế độ độc tài Bắc hàn, để mở ra giao thương với Bắc Hàn và thay đổi dần chế độ, mà kết quả là như chúng ta đã thấy gần đây ra sao. Riêng đối với Việt nam, Lê đức Thọ và Kissinger được giải hoà bình Nobel sau khi hiệp ước Paris được ký kết để Mỹ có thể rút quân ra khỏi Việt nam. Nhưng đau cho Ủy ban Nobel là Lê đức Thọ đã không nhận giải. Tiếng súng đã ngưng nổ tại Việt Nam, nhưng sau đó Hà nội đưa đã sang Cambốt thêm nhiều năm để bành trướng đế quốc Liên sô. Còn dân tộc Việt nam thì có một chế độ mà hơn hai triệu người thà chết trên biển hơn là ở nguyên tại chỗ chịu đàn áp và sống nhục, mà chỉ chừng một nửa sống sót. Cũng chế độ này đã dâng đất nhượng biển cho Tầu, cắt từng mảnh đất mảnh rừng cho các loại tài phiệt vào khai thác bất kể hậu quả tại hại ra sao cho dân Việt.
Nhà nước Trung quốc đã gọi buổi trao giải Nobel này là một “trò hề chính trị”. Tầu đã gửi trả lại thư mời dự lễ phát giải của Ủy ban Nobel, phong bì không mở. 16 nước đã từ chối tham dự, trong đó có Nga, Việt Nam, Philippines, Pakistan, Afghanistan, Sri Lanka, Iraq, Iran, Ai cập vân vân. 48 phái đoàn các nước đã có mặt. Ủy ban Nobel lại bị thêm cú đau nữa khi một chế độ yếu nhược như Hà nội đã từ chối đến tham dự lễ trao giải cho ông Lưu Hiểu Ba, vì dựa vào cái thế Trung quốc.
Tuyên bố miệt thị của Tầu đối với lễ trao giải chẳng có gì là lạ khi cái chế độc tài này đã là nước có nhiều dự trữ ngoại tệ nhất thế giới, nhờ chính sách buôn bán của Tây phương và Mỹ. Lời miệt thị này cũng như giải Nobel không giảm hay tăng gì cái tư cách đấu tranh chống độc tài của ông Lưu hiểu Ba.
Nếu Ủy ban Nobel không vì lý do chính trị có những quyết định bất xứng trong quá khứ khi trao giải Hoà bình, hay là đã can đảm trao giải hoà bình cho người đàn ôngTrung hoa vô danh tay không đứng chặn xe tăng đàn áp đang tiến tới ở Thiên An Môn mà không sợ nát thây dưới xích sắt thì có lẽ chế độ TQ đã không thể có những lời miệt thị khi trao giải cho ông Lưu Hiểu Ba.
Lâm Phong
(ngày 14 tháng 12/2010)
và lời miệt thị của Trung quốc “trò hề chính trị”
Ông Lưu hiểu Ba là người đã tham dự cuộc biểu tình Thiên an Môn bị đàn áp đẫm máu năm 1989. Năm 1996 ông bị đi cải tạo 3 năm vì phát biểu chống chế độ độc đảng. Năm 2008, ông là đồng tác giả hiến chương 08 với Zhang Zuhua kêu gọi TQ phải viết hiến pháp mới, phải có một nền tư pháp độc lập và tự do phát biểu. Năm 2009, ông Ba bị kết án tù về tội phá hoại chuyên chính nhân dân và xã hội chủ nghĩa. Với những thành tích này, ông Lưu Hiểu Ba mới được trao giải hoà bình Nobel 2010. Ông đã không được ra khỏi tù để đi lãnh giải. Vợ ông không được đi nhận giải thay. Trong buổi phát giải đã để một ghế trống cho ông, và chủ tịch Uỷ ban Nobel Thorbjorn Jagland đã để tấm bằng Nobel lên chiếc ghế trống này.
Nobel là nhà hoá học và phát minh Thụy điển, với trên 300 bằng sáng chế mà nổi tiếng nhất là cốt mìn (dynamite). Ông là chủ nhà máy Bofors sản xuất sắt và thép mà ông đã chuyển thành ra xưởng võ khi nặng (canon) và nhiều võ khí khác. Vì thế ông rất giầu. Trước khi chết, chắc hối hận vì sự giết hại của cốt mìn và các loại võ khi nhà máy Bofors chế ra, ông đã bỏ tiền ra lập gìải Nobel, khuyến khích và tưởng thưởng các đóng góp tốt đẹp cho nhân loại. Ý nghĩa việc thành lập giải Nobel như vậy rõ ràng là rất đáng quý.
Từ năm 1901 đến nay, giải Nobel hoà bình đã trao 91 lần cho 121 đối tượng, hoặc là cá nhân hoặc là tổ chức. Tuy nhiên sự chọn lựa các đối tượng nhận giải đã không hẳn là trong mọi trường hợp xứng đáng và nặng nề mang mầu sắc chính trị. Người được giải hoà bình năm ngoái, tổng thống Obama đã không có thành tích nào đáng kể, ngoài mấy bài diễn văn hứa hẹn thay đổi thái độ ngoại giao của Mỹ đối với thế giới, mở rộng đối thoại, trao đổi thông cảm, mà Ủy ban Nobel ca tụng là “những nỗ lực vượt bực khác thường để tăng cường ngoại giao quốc tế và hợp tác giữa các dân tộc”, nhất là với thế giới Hồi giáo mà ông đã nói tới tại Cairo Ai cập. Và dường như thấy chưa đủ, ủy ban cũng đề cao quan niệm của ông Obama về giới hạn võ khí nguyên tử “Uỷ ban đã coi là rất quan trọng những viễn kiến và nỗ lực của ông Obama về một thế giới không có võ khí hạt nhân”. cộng thêm một nguyên tắc tổng quát, là “chính sách ngoại giao của ông đặt trên quan niệm là những người lãnh đạo thế giới phải lãnh đạo trên căn bản những giá trị và thái độ chia xẻ bởi đa số dân trên thế giới." Thế giới đã không có gì khá hơn từ đó. Trung Đông trở lại như cũ với vấn đề Palestine Do Thái nguyên vẹn, trong khi Do Thái tiếp tục xây thêm khu định cư trên đất Palestine. Afghanistan dậm chân tại chỗ. Nhìn xa hơn nữa bà Aun Sang Sưu Kyi ở Miến điện được giải vì đấu tranh công khai bất bạo động theo chủ trương của Tây Phương, với chế độ quân phiệt và đổi lấy hai chục năm tù và giam lỏng tại gia. Sau chót thì chế độ quân phiệt Miến vẫn tồn tại và trở thành đối tác của Tây phương, để gọi là giúp cho dân chúng cải thiện cuộc sống. Bà Sưu Kyi được thả để tuyên bố rằng bà sẵn sàng lắng nghe mọi phiá, và không muốn chế độ quân phiệt thất bại. Bà được truyền thông Tây phương an ủi khen là can đảm vì đã thay đổi lập trường. Xa hơn nữa là Kim Đại Trọng tổng thống Đại Hàn, vì chủ trương tiếp cận và hoà hợp với chế độ độc tài Bắc hàn, để mở ra giao thương với Bắc Hàn và thay đổi dần chế độ, mà kết quả là như chúng ta đã thấy gần đây ra sao. Riêng đối với Việt nam, Lê đức Thọ và Kissinger được giải hoà bình Nobel sau khi hiệp ước Paris được ký kết để Mỹ có thể rút quân ra khỏi Việt nam. Nhưng đau cho Ủy ban Nobel là Lê đức Thọ đã không nhận giải. Tiếng súng đã ngưng nổ tại Việt Nam, nhưng sau đó Hà nội đưa đã sang Cambốt thêm nhiều năm để bành trướng đế quốc Liên sô. Còn dân tộc Việt nam thì có một chế độ mà hơn hai triệu người thà chết trên biển hơn là ở nguyên tại chỗ chịu đàn áp và sống nhục, mà chỉ chừng một nửa sống sót. Cũng chế độ này đã dâng đất nhượng biển cho Tầu, cắt từng mảnh đất mảnh rừng cho các loại tài phiệt vào khai thác bất kể hậu quả tại hại ra sao cho dân Việt.
Nhà nước Trung quốc đã gọi buổi trao giải Nobel này là một “trò hề chính trị”. Tầu đã gửi trả lại thư mời dự lễ phát giải của Ủy ban Nobel, phong bì không mở. 16 nước đã từ chối tham dự, trong đó có Nga, Việt Nam, Philippines, Pakistan, Afghanistan, Sri Lanka, Iraq, Iran, Ai cập vân vân. 48 phái đoàn các nước đã có mặt. Ủy ban Nobel lại bị thêm cú đau nữa khi một chế độ yếu nhược như Hà nội đã từ chối đến tham dự lễ trao giải cho ông Lưu Hiểu Ba, vì dựa vào cái thế Trung quốc.
Tuyên bố miệt thị của Tầu đối với lễ trao giải chẳng có gì là lạ khi cái chế độc tài này đã là nước có nhiều dự trữ ngoại tệ nhất thế giới, nhờ chính sách buôn bán của Tây phương và Mỹ. Lời miệt thị này cũng như giải Nobel không giảm hay tăng gì cái tư cách đấu tranh chống độc tài của ông Lưu hiểu Ba.
Lâm Phong
(ngày 14 tháng 12/2010)
Cớ sao phải sợ?
Tuệ Vân
Ông Lê Hiếu Ðằng có thời từng là phó chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Sài Gòn sau ngày thành phố này rơi vào tay Cộng Sản hồi tháng 4, 1975. (Hình: Người Việt Online)
Những thời gian gần đây trong nước đã có những phát biểu tạo sự chú ý cho dư luận. Một trong những phát biểu đó là lời tuyên bố của ông Lê Hiếu Ðằng, Luật gia, nguyên phó tổng thư ký UBTƯ Liên Minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình VN, nguyên phó chủ tịch MTTQVN TP Sài Gòn. Hiện là phó chủ nhiệm Hội Ðồng Tư Vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc UBTƯMTTQVN. Ông Lê Hiếu Ðằng cho rằng: “Toàn dân không thể thụ động ngồi chờ chính quyền tự thay đổi. Trong đời hoạt động của mình tôi luôn được dạy rằng: không có người cai trị nào tự nguyện từ bỏ quyền lực, ghế ngồi của mình. Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh. Ðấu tranh mà không phá vỡ sự ổn định xã hội, đó là bài toán phải giải quyết, nhưng quyết không thể nhân danh ổn định mà kìm hãm cuộc đấu tranh để xây dựng nền dân chủ.”
Những phát biểu trên của ông Lê Hiếu Ðằng đã nói lên điều gì? Liệu nhà nước độc tài cộng sản Việt Nam có thể nào gán ghép cho lời phát biểu của ông Lê Hiếu Ðằng với tội hình sự 88, âm mưu lật đổ chính quyền hiện hữu?
Ði vào nội dung câu nói thì phát biểu của ông Lê Hiếu Ðằng đã chỉ ra được thực trạng của chế độ độc tài là không chia sẻ quyền lực cai trị với bất cứ ai. “Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh.”
Cũng theo ông Ðằng, đường lối của chính quyền cộng sản Việt Nam ngày nay đã đi ngược lại với lợi ích của đại đa số dân tộc Việt Nam. Ông Ðằng nói: “Cách làm ăn của chúng ta liệu có khác gì thời kỳ tư bản man rợ: xua đuổi nông dân để chiếm đất, bần cùng hóa một bộ phận dân cư để công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bàn tay lông lá của các tập đoàn lợi ích ngày càng thọc sâu vào các chính sách quốc gia. Thật hết sức đáng lo. Lòng dân đang rất bất an, dân không thể tiếp tục tin yêu chế độ nếu tình hình cứ tiếp tục thế này. Những vấn đề trên không thể nào giải quyết nếu không nhanh chóng thực hiện dân chủ thực sự.”
Lo ngại của ông Ðằng là đúng, người dân Việt Nam không thể ngồi yên, chịu đựng mãi những cảnh tàn nhẫn bất công của chế độ biến thái đang liên kết với những nhóm lợi ích thẳng tay tước đoạt tài sản, đất đai nhà cửa của người dân, biến dân thành những người vô gia cư, với những số tiền đền bù không đủ sống, gia đình phải phân ly, trong khi những quan chức đảng viên của chế độ thì cười hả hê qua những phần tiền được chia chác từ các nhóm quyền lợi.
Thấy được sự mỉa mai của sự ám ảnh của cái còng sắt trước tội hình sự 88, trước những đôi mắt cú vọ của đồng chí, ông Lê Hiếu Ðằng đã lên tiếng trấn an ông và các đồng chí của ông: “Trong cuộc đấu tranh cho dân chủ, chúng ta không có gì phải sợ, tôi muốn nhắc lại điều tâm niệm này cho chính mình mà cũng là điều muốn nhắn gửi các đồng chí, đồng đội, bạn hữu của mình và tất cả những ai còn trăn trở với những vấn đề của đất nước, của dân tộc. Mà tại sao chúng ta phải sợ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chắc chắn họ sẽ bị nhân dân chối bỏ, bị lịch sử phủ nhận.”
Có người cho rằng những lời nói trên của ông Ðằng tuy đúng nhưng đến quá muộn. Ông Nguyễn Hộ vào thập niên 80s đã phát biểu: “Hơn 60 năm đi theo con đường cách mạng Cộng Sản, nhân dân Việt Nam đã chịu đựng vô vàn hy sinh và rồi cuối cùng chẳng được gì cả. Ðất nước vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu như thủa xưa, nhân dân không được no ấm và hạnh phúc, không được tự do và dân chủ. Ðó là một sỉ nhục.”
Những người lạc quan tuy nhiên lại bảo rằng đấu tranh không lúc nào bị coi là muộn, miễn là có tấm lòng thành thật và có sự quyết tâm.
Ðúng thế, chế độ cộng sản đang hủy diệt đất nước. Tương lai dân tộc đang trên bờ vực thẳm. Cha ông Việt Nam ngày xưa đã xả thân vì hạnh phúc cho những đời sau. Ông Lê Hiếu Ðằng ít nhiều cũng đã có sự trăn trở của ông, còn những đồng chí cật ruột của ông nay đâu? Ðấu tranh cho đất nước cớ sao phải sợ? (Nguồn: Báo Tổ Quốc)
Tuệ Vân
Ông Lê Hiếu Ðằng có thời từng là phó chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Sài Gòn sau ngày thành phố này rơi vào tay Cộng Sản hồi tháng 4, 1975. (Hình: Người Việt Online)
Những thời gian gần đây trong nước đã có những phát biểu tạo sự chú ý cho dư luận. Một trong những phát biểu đó là lời tuyên bố của ông Lê Hiếu Ðằng, Luật gia, nguyên phó tổng thư ký UBTƯ Liên Minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình VN, nguyên phó chủ tịch MTTQVN TP Sài Gòn. Hiện là phó chủ nhiệm Hội Ðồng Tư Vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc UBTƯMTTQVN. Ông Lê Hiếu Ðằng cho rằng: “Toàn dân không thể thụ động ngồi chờ chính quyền tự thay đổi. Trong đời hoạt động của mình tôi luôn được dạy rằng: không có người cai trị nào tự nguyện từ bỏ quyền lực, ghế ngồi của mình. Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh. Ðấu tranh mà không phá vỡ sự ổn định xã hội, đó là bài toán phải giải quyết, nhưng quyết không thể nhân danh ổn định mà kìm hãm cuộc đấu tranh để xây dựng nền dân chủ.”
Những phát biểu trên của ông Lê Hiếu Ðằng đã nói lên điều gì? Liệu nhà nước độc tài cộng sản Việt Nam có thể nào gán ghép cho lời phát biểu của ông Lê Hiếu Ðằng với tội hình sự 88, âm mưu lật đổ chính quyền hiện hữu?
Ði vào nội dung câu nói thì phát biểu của ông Lê Hiếu Ðằng đã chỉ ra được thực trạng của chế độ độc tài là không chia sẻ quyền lực cai trị với bất cứ ai. “Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh.”
Cũng theo ông Ðằng, đường lối của chính quyền cộng sản Việt Nam ngày nay đã đi ngược lại với lợi ích của đại đa số dân tộc Việt Nam. Ông Ðằng nói: “Cách làm ăn của chúng ta liệu có khác gì thời kỳ tư bản man rợ: xua đuổi nông dân để chiếm đất, bần cùng hóa một bộ phận dân cư để công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bàn tay lông lá của các tập đoàn lợi ích ngày càng thọc sâu vào các chính sách quốc gia. Thật hết sức đáng lo. Lòng dân đang rất bất an, dân không thể tiếp tục tin yêu chế độ nếu tình hình cứ tiếp tục thế này. Những vấn đề trên không thể nào giải quyết nếu không nhanh chóng thực hiện dân chủ thực sự.”
Lo ngại của ông Ðằng là đúng, người dân Việt Nam không thể ngồi yên, chịu đựng mãi những cảnh tàn nhẫn bất công của chế độ biến thái đang liên kết với những nhóm lợi ích thẳng tay tước đoạt tài sản, đất đai nhà cửa của người dân, biến dân thành những người vô gia cư, với những số tiền đền bù không đủ sống, gia đình phải phân ly, trong khi những quan chức đảng viên của chế độ thì cười hả hê qua những phần tiền được chia chác từ các nhóm quyền lợi.
Thấy được sự mỉa mai của sự ám ảnh của cái còng sắt trước tội hình sự 88, trước những đôi mắt cú vọ của đồng chí, ông Lê Hiếu Ðằng đã lên tiếng trấn an ông và các đồng chí của ông: “Trong cuộc đấu tranh cho dân chủ, chúng ta không có gì phải sợ, tôi muốn nhắc lại điều tâm niệm này cho chính mình mà cũng là điều muốn nhắn gửi các đồng chí, đồng đội, bạn hữu của mình và tất cả những ai còn trăn trở với những vấn đề của đất nước, của dân tộc. Mà tại sao chúng ta phải sợ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chắc chắn họ sẽ bị nhân dân chối bỏ, bị lịch sử phủ nhận.”
Có người cho rằng những lời nói trên của ông Ðằng tuy đúng nhưng đến quá muộn. Ông Nguyễn Hộ vào thập niên 80s đã phát biểu: “Hơn 60 năm đi theo con đường cách mạng Cộng Sản, nhân dân Việt Nam đã chịu đựng vô vàn hy sinh và rồi cuối cùng chẳng được gì cả. Ðất nước vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu như thủa xưa, nhân dân không được no ấm và hạnh phúc, không được tự do và dân chủ. Ðó là một sỉ nhục.”
Những người lạc quan tuy nhiên lại bảo rằng đấu tranh không lúc nào bị coi là muộn, miễn là có tấm lòng thành thật và có sự quyết tâm.
Ðúng thế, chế độ cộng sản đang hủy diệt đất nước. Tương lai dân tộc đang trên bờ vực thẳm. Cha ông Việt Nam ngày xưa đã xả thân vì hạnh phúc cho những đời sau. Ông Lê Hiếu Ðằng ít nhiều cũng đã có sự trăn trở của ông, còn những đồng chí cật ruột của ông nay đâu? Ðấu tranh cho đất nước cớ sao phải sợ? (Nguồn: Báo Tổ Quốc)
Đối Thoại, Độc Thoại
TRẦN KHẢI
Đối thoại là phải hai chiều. Nếu một chiều thì là độc thoại. Tuy nhiên, điều tuyệt vời của nhà nước CSVN là biết cách phù phép, để làm từ một chiều độc thoại lại trông như đối thoạị nhân quyền hai chiều.
Đối với dân mình, công an sẽ làm kiểu tùy hứng -- nhẹ là quay phim chụp hình để làm bằng chứng, bắt các cô đưa hai tay lên cao mà chụp ảnh lưu niệm; nặng là bầm dập thân thể, có khi vu cáo cho đương sự về tội dám rút sợi chiếu để treo cổ tự tử, hòng làm xấu mặt công an với quốc tế. Còn với các nước thì nhà nước mở ra các cuộc đối thoại thường niên, trước đó sẽ là những màn rào đón trình diễn nhân quyền với quốc tế sau khi nhắc lại các chuyện độc chất da cam để bêu xấu Mỹ.
Tuần này, Mỹ và VN sẽ đối thoại nhân quyền. Bản tin thông tấn Đức DPA hôm 13-12-2010 nói rằng các nhà ngoạị giao Mỹ-VN hôm Thứ Hai đã họp đối thoại thường niên về nhân quyền, vài ngày sau khi đạị sứ Mỹ tại Hà Nội chỉ trích về tình hình thu hẹp quyền tự do phát biểu tại VN.
Bàn tin DPA nói rằng Phụ Tá Ngoại Trưởng Mỹ về Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động Michael Posner đại diện cho phía Mỹ, còn Thứ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh đại diện phía VN để họp.
DPA nhắc rằng, Đại Sứ Mỹ Micahel Michalak hôm Thứ Năm nói rằng VN “vẫn tiếp tục hình sự hóa quyền tự do phát biểu và quyền bất đồng chính kiến, và đã chụp mũ các đảng chính trị ngoaì Đảng CSVN là tổ chức khủng bố.”
DPA thêm, rằng “Michalak cũng khen ngợi thành tích xóa đói giảm nghèo của VN và đã nới thêm quyền tự do tôn giáo...”
Có thật vậy sao, thưa ngài Michalak?
Cùng ngày với cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ, mạng Dân Làm Báo hôm 13/12/2010 đăng bản tin nhan đề “Mục sư Nguyễn Hồng Quang và Giáo Hội Mennonite Việt Nam kêu cứu,” trong đó cho biết, trích:
“Liên tục suốt 1 tuần lễ qua, nhà cầm quyền cọng sản đã thực hiện chiến dịch bắt bớ và đe dọa tính mạng, quyền lợi của mục sư Nguyễn Hồng Quang và tòan thể tín hữu của Giáo Hội Mennonite Việt Nam.
Mục sư Nguyễn Hồng Quang ngày nào cũng bị bắt đi làm việc với PA 24, số 4 Phan Đăng Lưu, Thanh Tra Quận 2, UBND Quận 2, UBND Phường An Khánh, Phường Bình Khánh Quận 2.
Bà mục sư Lý Thị Phú Dung liên tục bị bắt đi làm việc với UBND Phường An Khánh, Phường Bình Khánh, UBND Quận 2 và Tòa án Quận 2 về các đơn kiện của bà.
Tất cả các mục sư, nhân sự của Hội Thánh bị bắt bớ từ Sài Gòn đến Tây Nguyên và Miền Trung. Những ai liên quan đến Giáo Hội Mennonite Việt Nam đều bị bắt và cho là họat động tôn giáo trái pháp luật. Riêng tại Sài Gòn những ai đến thăm gia đình mục sư Quang và cơ sở của Giáo Hội đều bị phạt hành chính, an ninh cọng sản đe dọa ghi biển số xe và hành hung, lục bóp thu Chứng minh nhân dân, giấy tờ cà vẹt xe, giấy phép lái xe, điện thọai di động đều bị tịch thu.
Hai cơ sở của Giáo Hội thì an ninh xông vào như chốn không người quay phim từng vị trí: phòng ngủ, nhà bếp, phòng làm việc, từng dụng cụ của Giáo Hội họ ghi hết. Họ dùng những lời lẽ thô tục chửi bới tín hữu, các mục sư đang cầu nguyện.
Đến nay thì phía nhà cầm quyền đã tống đạt 2 thông báo của UBND phường Bình Khánh và UBND Phường An Khánh đều thuộc Quận 2. Đó là thông báo số: 2221/TB-UBND ngày 10.12.2010 do Nguyễn Xuân Qùynh ký thay Chủ tịch UBND Phường An Khánh. Và Thông báo số: 93/TB-UBND ngày 9.12.2010 do Nguyễn Trần Thế ký thay chủ tịch UBND Phường Bình Khánh.
Nội dung cả 2 thông báo này báo cho gia đình mục sư Nguyễn Hồng Quang biết là ngày 14.12.2010 này họ sẽ cưỡng chế thu hồi mặt bằng, đồ đạc họ dọn vào nhà tạm. Chi phí cưỡng chế sẽ trừ vào tiền đền bù...” (hết trích)
Có nghĩa rằng, đúng vào ngày thứ nhì đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ, công an sẽ tới cưỡng chế thu hồi mặt bằng trụ sở của Giáó Hội Tin Lành này. Lúc đó, ông Posner đang ngồi đối thoaị với ông Phạm Bình Minh. Tuyệt vời, vài ngày sau khi Đạị Sứ Michalak khen ngợi VN nới mở tự do tôn giáo và trong khi Đặc Sứ Mỹ Posner nói chuyện ở Hà Nội, thì Mục Sư Nguyễn Hồng Quang trở thành người vô gia cư.
Nơi khác, tại tỉnh Thái Nguyên, cuộc cầu nguyện tập thể của giáó dân Công Giáo kéo dài tới ngày thứ 14 vẫn chưa được Chủ Tịch Tỉnh ra “tiếp dân.” Trong khi công an Sài Gòn dùng bạo lực với Mục Sư Lê Hồng Quang, thì công an tỉnh Thái Nguyên vẫn lặng lẽ đứng bên lề, cũng là một kiểu lặng lẽ mang sức nặng ngàn cân.
Nhưng cũng phảỉ thấy rằng CSVN rất là khéo. Bởi vì ngay tận thủ đô Hoa Kỳ, Đạị Sứ Lê Công Phụng đã có những màn trình diễn tuyệt vời, rất đúng mực ngoại giao, không thể chê được.
Trang web của đạọ Tin Lành Mormon (beta-newsroom.lds.org) trong bản tin nhan đề “Ambassador Illuminates Lights at Washington D.C. Temple Visitors’ Center” (Đại sứ thắp sáng đèn tại Trung Tâm Quan Khách ở đền thờ tại thủ đô Washington DC), nói rằng vào ngày 1/12/2010 (nghĩa là gần 2 tuần trước), Đại Sứ Lê Công Phụng đã bật nút thắp sáng nửa triệu ngọn đèn trên sân nhà thờ để mừng Lễ Giáng Sinh ở Trung Tâm Quan Khách của đền thờ Đạo Tin Lành Mormon này.
Bản tin còn nói, trước lễ thắp sáng, ông Lê Công Phụng còn đọc diễn văn trước Trưởng Lão Elder Donald L. Hallstrom, chủ tịch giáo hội Mormon. Trong quan khách còn có Thượng Nghị Sĩ Orrin G. Hatch của tiểu bang Utah, Dân biểu liên bang Howard P. “Buck” McKeon của California, và nhà đaị tư bản J. W. Marriott, Jr. Bản tin nói tham dự còn có nhiều dân biểu liên bang. Lễ Hội Ánh Sáng này sẽ kéo dài cả tháng, với dự kiến hơn 200,000 khách sẽ vào thăm nhà thờ theo truyền thống này, nơi trong khuôn viên trang trí với nhiều biểu tượng giáng sinh hiến tặng từ hơn 90 tòa đại sứ cho trung tâm này.
Câu hỏi nên nêu ra rằng, tại sao không mời Đạị Sứ Trung Quốc, hay Đại Sứ Saudi Arabia bật đèn cho lễ hội này, mà lại mời ông Lê Công Phụng? Rồi không lẽ Tin Lành Mormon không chịu suy nghĩ gì về hoàn cảnh Tin Lành Mennonite? Rồi các thượng nghị sĩ, dân biểu dự lễ này tương lai sẽ phản ứng ra sao khi bàn về dự luật nhân quyền VN và dự luật trừng phạt CPC đối với VN? Không lẽ vừa mới nâng ly chúc mừng Giáng Sinh với Lê Công Phụng, mà lại chỉ vào mặt kể tội sát thủ nhân quyền? Như thế, có thể đoán rằng Mỹ sẽ chơi màn giơ cao đánh khẽ đối với nhà nước Hà Nội. Thế nào thì chúng ta chưa rõ, nhưng nhiều phần sẽ không nặng tay.
Còn đối với cộng đồng Việt hải ngoại, các chiêu tiếp thị của ông Lê Công Phụng lại không hiệu lực gì: Vào chiều tối Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 năm 2010, Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam năm 2010 đã được diễn ra một cách trang trọng và ấm cúng với gần 200 quan khách người Việt và ngọai quốc, cùng số đông bà con đồng hương tham dự, tại hội trường Trung tâm Văn hóa Việt nam tọa lạc trên đường Bellaire, thành phố Houston tiểu bang Texas.
Buổi lễ được tổ chức do sự hợp tác của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt nam có trụ sở chính tại California cùng với tổ chức Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Houston và Phụ Cận, và được sự bảo trợ của rất nhiều tổ chức và đòan thể tại các thành phố địa phương lân cận như Austin, San Antonio, Dallas, Fort Worth trong tiểu bang Texas, và các hội đoàn cộng đồng như Hội Văn Hoá Khoa Học Việt Nam, Hội Phụ Nữ Âu Cơ, Uỷ Ban Tranh Đấu cho Nhân Quyền tại Việt Nam, Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại tại Houston, và Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh tại Texas.
Buổi lễ được điều khiển thật nhịp nhàng trang trọng bằng cả hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh bởi kỹ sư Nguyễn Ngọc Bảo và Cô Nguyễn Phúc Anh Lan. Sau phần nghi thức chào cờ và hát quốc ca Việt Mỹ cùng một phút mặc niệm, thì vị Trưởng Ban Tổ chức là ông Nguyễn Phi Hiệp đã lên diễn đàn chào mừng quan khách và tuyên bố khai mạc buổi lễ. Tiến sĩ Nguyễn Bá Tùng, Trưởng Ban Phối Hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, tiếp đó đã diễn giải ý nghĩa của Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 62 trong bối cảnh tình hình nhân quyền tại Việt Nam hiện nay. Ông cũng đề cập đến lý do MLNQVN đã bầu chọn hai nhà hoạt động nhân quyền Đoàn Huy Chương và Trương Minh Đức để trao Giải Nhân Quyền Việt Nam năm nay.
Bản tin từ Mạng Lưới Nhân Quyền VN viết:
“Lễ trao giải được bắt đầu với việc tuyên đọc tiểu sử và thành tích của mỗi nhân vật đã được Mạng Lưới Nhân Quyền bầu chọn để lãnh giải trong năm 2010.
Bà Liên Bích, đại diện cho Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Dallas và Hạt Tarrant và cô Cindy Đinh đã giới thiệu thành tích tranh đấu cho người lao động của anh Đòan Huy Chương bằng song ngữ. TS Nguyễn Bá Tùng đại diện Mạng Lưới Nhân Quyền VN đã trao bản tuyên dương ghi công lao của ông Đòan Huy Chương cho chị Thuỳ Hương, người được gia đình anh Chương uỷ nhiệm nhận thay.
Ông Cung Nhật Thành và Nha sĩ Chu Văn Cương giới thiệu thành tích đấu tranh bền bỉ và kiên cường chống tham ô và bênh vực dân oan của nhà báo Trương Minh Đức. Luật sư Đòan Thanh Liêm đại diện Mạng Lưới Nhân Quyền VN trao bản tuyên dương ghi công lao của ông Trương Minh Đức cho bà Anh Trinh, thuộc Đảng Vì dân đã được gia đình Ông Đức ủy nhiệm nhận thay.
Toàn thể hội trường chăm chú theo dõi lời phát biểu vô cùng cảm dộng cuả hai vị hiền thê của hai khôi nguyên Giải Nhân Quyền VN đã được ghi âm trước đó từ Việt Nam. Hai chị cám ơn những sự hỗ trợ của đồng bào khắp nơi đối với những nhà hoạt động nhân quyền bị đàn áp nói chung và chồng của hai bà nói riêng.
Đặc biệt Ban Tổ chức cũng cho phát lại lời phát biểu từ trong nước của Linh mục Phan Văn Lợi và của Luật sư Lê Thị Công Nhân là hai nhân vật đã được trao giải Nhân quyền mấy năm trước đây...”(hết trích)
Như thế là một chiều đối nghịch: trong khi ông Lê Công Phụng thắp đèn cho Lễ Hội Ánh Sáng ở nhà thờ Mormon, Mạng Lưới Nhân Quyền VN lại thắp sáng nhân quyền ở Houston.
Và trong ngày Thứ Ba 14-12-2010, công an sẽ biến gia đình Mục Sư Nguyễn Hồng Quang trở thành người vô gia cư. Giáo Hội Tin Lành Mormon từ thủ đô Mỹ có thể sẽ không nghe chuyện Giáo Hội Tin Lành Mennonite của MS Quang bị trấn áp, nhưng không lẽ Phụ Tá Ngoại Trưởng Mỹ Posner và Đại Sứ Mỹ Michalak đang ngồi họp ở Hà Nội lại không nghe chuyện Mục Sư Quang và gia đình bị đẩy ra ngoài hè phố?
Thế đấy: Ông Posner đối thoại nhân quyền với ông Phạm Bình Minh, còn Mục Sư Nguyễn Hồng Quang đành đối thoại với dùi cui công an. Hay, phải chăng là các chiều độc thoại?
TRẦN KHẢI
Đối thoại là phải hai chiều. Nếu một chiều thì là độc thoại. Tuy nhiên, điều tuyệt vời của nhà nước CSVN là biết cách phù phép, để làm từ một chiều độc thoại lại trông như đối thoạị nhân quyền hai chiều.
Đối với dân mình, công an sẽ làm kiểu tùy hứng -- nhẹ là quay phim chụp hình để làm bằng chứng, bắt các cô đưa hai tay lên cao mà chụp ảnh lưu niệm; nặng là bầm dập thân thể, có khi vu cáo cho đương sự về tội dám rút sợi chiếu để treo cổ tự tử, hòng làm xấu mặt công an với quốc tế. Còn với các nước thì nhà nước mở ra các cuộc đối thoại thường niên, trước đó sẽ là những màn rào đón trình diễn nhân quyền với quốc tế sau khi nhắc lại các chuyện độc chất da cam để bêu xấu Mỹ.
Tuần này, Mỹ và VN sẽ đối thoại nhân quyền. Bản tin thông tấn Đức DPA hôm 13-12-2010 nói rằng các nhà ngoạị giao Mỹ-VN hôm Thứ Hai đã họp đối thoại thường niên về nhân quyền, vài ngày sau khi đạị sứ Mỹ tại Hà Nội chỉ trích về tình hình thu hẹp quyền tự do phát biểu tại VN.
Bàn tin DPA nói rằng Phụ Tá Ngoại Trưởng Mỹ về Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động Michael Posner đại diện cho phía Mỹ, còn Thứ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh đại diện phía VN để họp.
DPA nhắc rằng, Đại Sứ Mỹ Micahel Michalak hôm Thứ Năm nói rằng VN “vẫn tiếp tục hình sự hóa quyền tự do phát biểu và quyền bất đồng chính kiến, và đã chụp mũ các đảng chính trị ngoaì Đảng CSVN là tổ chức khủng bố.”
DPA thêm, rằng “Michalak cũng khen ngợi thành tích xóa đói giảm nghèo của VN và đã nới thêm quyền tự do tôn giáo...”
Có thật vậy sao, thưa ngài Michalak?
Cùng ngày với cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ, mạng Dân Làm Báo hôm 13/12/2010 đăng bản tin nhan đề “Mục sư Nguyễn Hồng Quang và Giáo Hội Mennonite Việt Nam kêu cứu,” trong đó cho biết, trích:
“Liên tục suốt 1 tuần lễ qua, nhà cầm quyền cọng sản đã thực hiện chiến dịch bắt bớ và đe dọa tính mạng, quyền lợi của mục sư Nguyễn Hồng Quang và tòan thể tín hữu của Giáo Hội Mennonite Việt Nam.
Mục sư Nguyễn Hồng Quang ngày nào cũng bị bắt đi làm việc với PA 24, số 4 Phan Đăng Lưu, Thanh Tra Quận 2, UBND Quận 2, UBND Phường An Khánh, Phường Bình Khánh Quận 2.
Bà mục sư Lý Thị Phú Dung liên tục bị bắt đi làm việc với UBND Phường An Khánh, Phường Bình Khánh, UBND Quận 2 và Tòa án Quận 2 về các đơn kiện của bà.
Tất cả các mục sư, nhân sự của Hội Thánh bị bắt bớ từ Sài Gòn đến Tây Nguyên và Miền Trung. Những ai liên quan đến Giáo Hội Mennonite Việt Nam đều bị bắt và cho là họat động tôn giáo trái pháp luật. Riêng tại Sài Gòn những ai đến thăm gia đình mục sư Quang và cơ sở của Giáo Hội đều bị phạt hành chính, an ninh cọng sản đe dọa ghi biển số xe và hành hung, lục bóp thu Chứng minh nhân dân, giấy tờ cà vẹt xe, giấy phép lái xe, điện thọai di động đều bị tịch thu.
Hai cơ sở của Giáo Hội thì an ninh xông vào như chốn không người quay phim từng vị trí: phòng ngủ, nhà bếp, phòng làm việc, từng dụng cụ của Giáo Hội họ ghi hết. Họ dùng những lời lẽ thô tục chửi bới tín hữu, các mục sư đang cầu nguyện.
Đến nay thì phía nhà cầm quyền đã tống đạt 2 thông báo của UBND phường Bình Khánh và UBND Phường An Khánh đều thuộc Quận 2. Đó là thông báo số: 2221/TB-UBND ngày 10.12.2010 do Nguyễn Xuân Qùynh ký thay Chủ tịch UBND Phường An Khánh. Và Thông báo số: 93/TB-UBND ngày 9.12.2010 do Nguyễn Trần Thế ký thay chủ tịch UBND Phường Bình Khánh.
Nội dung cả 2 thông báo này báo cho gia đình mục sư Nguyễn Hồng Quang biết là ngày 14.12.2010 này họ sẽ cưỡng chế thu hồi mặt bằng, đồ đạc họ dọn vào nhà tạm. Chi phí cưỡng chế sẽ trừ vào tiền đền bù...” (hết trích)
Có nghĩa rằng, đúng vào ngày thứ nhì đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ, công an sẽ tới cưỡng chế thu hồi mặt bằng trụ sở của Giáó Hội Tin Lành này. Lúc đó, ông Posner đang ngồi đối thoaị với ông Phạm Bình Minh. Tuyệt vời, vài ngày sau khi Đạị Sứ Michalak khen ngợi VN nới mở tự do tôn giáo và trong khi Đặc Sứ Mỹ Posner nói chuyện ở Hà Nội, thì Mục Sư Nguyễn Hồng Quang trở thành người vô gia cư.
Nơi khác, tại tỉnh Thái Nguyên, cuộc cầu nguyện tập thể của giáó dân Công Giáo kéo dài tới ngày thứ 14 vẫn chưa được Chủ Tịch Tỉnh ra “tiếp dân.” Trong khi công an Sài Gòn dùng bạo lực với Mục Sư Lê Hồng Quang, thì công an tỉnh Thái Nguyên vẫn lặng lẽ đứng bên lề, cũng là một kiểu lặng lẽ mang sức nặng ngàn cân.
Nhưng cũng phảỉ thấy rằng CSVN rất là khéo. Bởi vì ngay tận thủ đô Hoa Kỳ, Đạị Sứ Lê Công Phụng đã có những màn trình diễn tuyệt vời, rất đúng mực ngoại giao, không thể chê được.
Trang web của đạọ Tin Lành Mormon (beta-newsroom.lds.org) trong bản tin nhan đề “Ambassador Illuminates Lights at Washington D.C. Temple Visitors’ Center” (Đại sứ thắp sáng đèn tại Trung Tâm Quan Khách ở đền thờ tại thủ đô Washington DC), nói rằng vào ngày 1/12/2010 (nghĩa là gần 2 tuần trước), Đại Sứ Lê Công Phụng đã bật nút thắp sáng nửa triệu ngọn đèn trên sân nhà thờ để mừng Lễ Giáng Sinh ở Trung Tâm Quan Khách của đền thờ Đạo Tin Lành Mormon này.
Bản tin còn nói, trước lễ thắp sáng, ông Lê Công Phụng còn đọc diễn văn trước Trưởng Lão Elder Donald L. Hallstrom, chủ tịch giáo hội Mormon. Trong quan khách còn có Thượng Nghị Sĩ Orrin G. Hatch của tiểu bang Utah, Dân biểu liên bang Howard P. “Buck” McKeon của California, và nhà đaị tư bản J. W. Marriott, Jr. Bản tin nói tham dự còn có nhiều dân biểu liên bang. Lễ Hội Ánh Sáng này sẽ kéo dài cả tháng, với dự kiến hơn 200,000 khách sẽ vào thăm nhà thờ theo truyền thống này, nơi trong khuôn viên trang trí với nhiều biểu tượng giáng sinh hiến tặng từ hơn 90 tòa đại sứ cho trung tâm này.
Câu hỏi nên nêu ra rằng, tại sao không mời Đạị Sứ Trung Quốc, hay Đại Sứ Saudi Arabia bật đèn cho lễ hội này, mà lại mời ông Lê Công Phụng? Rồi không lẽ Tin Lành Mormon không chịu suy nghĩ gì về hoàn cảnh Tin Lành Mennonite? Rồi các thượng nghị sĩ, dân biểu dự lễ này tương lai sẽ phản ứng ra sao khi bàn về dự luật nhân quyền VN và dự luật trừng phạt CPC đối với VN? Không lẽ vừa mới nâng ly chúc mừng Giáng Sinh với Lê Công Phụng, mà lại chỉ vào mặt kể tội sát thủ nhân quyền? Như thế, có thể đoán rằng Mỹ sẽ chơi màn giơ cao đánh khẽ đối với nhà nước Hà Nội. Thế nào thì chúng ta chưa rõ, nhưng nhiều phần sẽ không nặng tay.
Còn đối với cộng đồng Việt hải ngoại, các chiêu tiếp thị của ông Lê Công Phụng lại không hiệu lực gì: Vào chiều tối Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 năm 2010, Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam năm 2010 đã được diễn ra một cách trang trọng và ấm cúng với gần 200 quan khách người Việt và ngọai quốc, cùng số đông bà con đồng hương tham dự, tại hội trường Trung tâm Văn hóa Việt nam tọa lạc trên đường Bellaire, thành phố Houston tiểu bang Texas.
Buổi lễ được tổ chức do sự hợp tác của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt nam có trụ sở chính tại California cùng với tổ chức Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Houston và Phụ Cận, và được sự bảo trợ của rất nhiều tổ chức và đòan thể tại các thành phố địa phương lân cận như Austin, San Antonio, Dallas, Fort Worth trong tiểu bang Texas, và các hội đoàn cộng đồng như Hội Văn Hoá Khoa Học Việt Nam, Hội Phụ Nữ Âu Cơ, Uỷ Ban Tranh Đấu cho Nhân Quyền tại Việt Nam, Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại tại Houston, và Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh tại Texas.
Buổi lễ được điều khiển thật nhịp nhàng trang trọng bằng cả hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh bởi kỹ sư Nguyễn Ngọc Bảo và Cô Nguyễn Phúc Anh Lan. Sau phần nghi thức chào cờ và hát quốc ca Việt Mỹ cùng một phút mặc niệm, thì vị Trưởng Ban Tổ chức là ông Nguyễn Phi Hiệp đã lên diễn đàn chào mừng quan khách và tuyên bố khai mạc buổi lễ. Tiến sĩ Nguyễn Bá Tùng, Trưởng Ban Phối Hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, tiếp đó đã diễn giải ý nghĩa của Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 62 trong bối cảnh tình hình nhân quyền tại Việt Nam hiện nay. Ông cũng đề cập đến lý do MLNQVN đã bầu chọn hai nhà hoạt động nhân quyền Đoàn Huy Chương và Trương Minh Đức để trao Giải Nhân Quyền Việt Nam năm nay.
Bản tin từ Mạng Lưới Nhân Quyền VN viết:
“Lễ trao giải được bắt đầu với việc tuyên đọc tiểu sử và thành tích của mỗi nhân vật đã được Mạng Lưới Nhân Quyền bầu chọn để lãnh giải trong năm 2010.
Bà Liên Bích, đại diện cho Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Dallas và Hạt Tarrant và cô Cindy Đinh đã giới thiệu thành tích tranh đấu cho người lao động của anh Đòan Huy Chương bằng song ngữ. TS Nguyễn Bá Tùng đại diện Mạng Lưới Nhân Quyền VN đã trao bản tuyên dương ghi công lao của ông Đòan Huy Chương cho chị Thuỳ Hương, người được gia đình anh Chương uỷ nhiệm nhận thay.
Ông Cung Nhật Thành và Nha sĩ Chu Văn Cương giới thiệu thành tích đấu tranh bền bỉ và kiên cường chống tham ô và bênh vực dân oan của nhà báo Trương Minh Đức. Luật sư Đòan Thanh Liêm đại diện Mạng Lưới Nhân Quyền VN trao bản tuyên dương ghi công lao của ông Trương Minh Đức cho bà Anh Trinh, thuộc Đảng Vì dân đã được gia đình Ông Đức ủy nhiệm nhận thay.
Toàn thể hội trường chăm chú theo dõi lời phát biểu vô cùng cảm dộng cuả hai vị hiền thê của hai khôi nguyên Giải Nhân Quyền VN đã được ghi âm trước đó từ Việt Nam. Hai chị cám ơn những sự hỗ trợ của đồng bào khắp nơi đối với những nhà hoạt động nhân quyền bị đàn áp nói chung và chồng của hai bà nói riêng.
Đặc biệt Ban Tổ chức cũng cho phát lại lời phát biểu từ trong nước của Linh mục Phan Văn Lợi và của Luật sư Lê Thị Công Nhân là hai nhân vật đã được trao giải Nhân quyền mấy năm trước đây...”(hết trích)
Như thế là một chiều đối nghịch: trong khi ông Lê Công Phụng thắp đèn cho Lễ Hội Ánh Sáng ở nhà thờ Mormon, Mạng Lưới Nhân Quyền VN lại thắp sáng nhân quyền ở Houston.
Và trong ngày Thứ Ba 14-12-2010, công an sẽ biến gia đình Mục Sư Nguyễn Hồng Quang trở thành người vô gia cư. Giáo Hội Tin Lành Mormon từ thủ đô Mỹ có thể sẽ không nghe chuyện Giáo Hội Tin Lành Mennonite của MS Quang bị trấn áp, nhưng không lẽ Phụ Tá Ngoại Trưởng Mỹ Posner và Đại Sứ Mỹ Michalak đang ngồi họp ở Hà Nội lại không nghe chuyện Mục Sư Quang và gia đình bị đẩy ra ngoài hè phố?
Thế đấy: Ông Posner đối thoại nhân quyền với ông Phạm Bình Minh, còn Mục Sư Nguyễn Hồng Quang đành đối thoại với dùi cui công an. Hay, phải chăng là các chiều độc thoại?
Thùng Rỗng Kêu To:
BTT Im Re Sau Khi Nam Triều Tiên Tập Trận
Người dân Nam Triều Tiên đang lo âu chờ đợi xem liệu miền Bắc có thực hiện lời đe dọa sẽ đưa ra hành động quân sự để đáp trả cuộc tập trận bắn đạn thật trên đảo Yeonpyeong hay không. Hồi tháng trước, Bắc Triều Tiên đã pháo kích hòn đảo này vài giờ đồng hồ sau một cuộc tập trận tương tự. Thủy quân lục chiến Nam Triều Tiên thực hiện cuộc thao dượt vài giờ
sau khi một phiên họp khẩn của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc thất bại trong nỗ lực xoa dịu căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên, và sau khi một chính khách Mỹ nói rằng Bắc Triều Tiên sẵn sàng chấp nhận các cuộc thanh sát hạt nhân.
Bất chấp áp lực ngoại giao, Nam Triều Tiên hôm thứ Hai đã tiến hành việc bắn đạn pháo vào biển Hoàng Hải trong 94 phút, và làm gia tăng tình trạng đối đầu với miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản.
Các giới chức quốc phòng nhấn mạnh rằng miền Nam bắn đạn pháo về hướng tây-nam, và như thế không nhắm về hướng Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên Bình nhưỡng tuyên bố vùng biển ấy là thuộc lãnh hải của miền Bắc. Và trong những ngày từ khi cuộc tập trận được loan báo, đã cảnh cáo rằng nếu diễn ra, cuộc tập trận đó có nguy cơ đưa đến chiến tranh.
Tại Seoul, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Nam Triều Tiên Kim Young-sun mô tả cuộc thao dượt dùng đạn thật chỉ là một cuộc tập trận thường xuyên, và có lý do chính đáng.
Ông Kim nói cuộc tập trận pháo binh là nhằm mục đích tự vệ, và trong tư cách một nước có chủ quyền, Nam Triều Tiên có quyền tiến hành.
Vài giờ trước cuộc tập trận, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đã thất bại, không đạt được một giải pháp đồng thuận để hạ giảm căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.
Các nhà ngoại giao nói Trung Quốc, cùng với một số nước khác, không hậu thuẫn một tuyên bố lên án Bắc Triều Tiên về cách hành xử hiếu chiến của họ, kể cả việc pháo kích đảo Yeonpyeong hồi tháng trước.
Sau thất bại đó, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên hiệp quốc Susan Rice đã lên tiếng bênh vực quyết định của Nam Triều Tiên, tiến hành cuộc diễn tập.
Bà Rice lưu ý về 2 cuộc tấn công gây tử vong được quy trách cho Bắc Triều Tiên, vụ đánh chìm tàu hải quân Nam Triều Tiên, và vụ pháo kích đảo Yeonpyeong.
Bà Rice nói: “Nếu những biến cố hồi năm ngoái chứng to một điều gì, thì đó là Cộng hòa Triều tiên có nhu cầu, và có quyền chuẩn bị sẵn sàng để tự vệ, sau khi đã mất 50 công dân, nội trong vòng 9 tháng vừa qua.”
Phó Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc hôm thứ Hai, lập lại lời kêu gọi của nước ông, yêu cầu mở thêm đàm phán và khẳng định không một ai có quyền khiêu khích tranh chấp trên bán đảo Triều Tiên.
Cũng trong ngày thứ Hai, một nhà ngoại giao lão thành người Mỹ kết thúc một chuyến đi thăm Bình nhưỡng.
Đài truyền hình CNN trích lời ông nói rằng người Bắc Triều Tiên đã đồng ý cho phép các thanh sát viên Liên hiệp quốc trở lại Bắc Triều Tiên.
Cựu đại sứ Bill Richardson, Thống đốc bang Mexico, được trích lời nói rằng Bắc Triều Tiên cũng đồng ý thương thuyết việc bán 12,000 thanh nhiên liệu mới, để được đưa ra nước ngoài.
Trong 7 năm qua, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật bản và Nam Triều Tiên đã tìm cách thuyết phục Bắc Triều Tiên hãy từ bỏ các chương trình vũ khí hạt nhân, để đổi lấy việnt rợ và được công nhận ngoại giao. Mặc dù đồng ý với điều đó, Bình Nhưỡng vẫn thử nghiệm các vũ khí hạt nhân, và mới đây, tiết lộ sự hiện diện của một cơ sở sản xuất nhiên liệu hạt nhân mới.
Trong những năm đầu của thập niên 1950, hai miền Nam và Bắc Triều Tiên đã đối đầu nhau trong một cuộc chiến kéo dài 3 năm. Một thỏa thuận đình chiến đã được dàn xếp từ năm 1953, tuy nhiên cho tới nay, chưa có hiệp định hòa bình nào được ký kết giữa hai bên.
Bình Nhưỡng: sẽ không phản ứng sau cuộc tập trận của miền Nam
Tin chúng tôi mới nhận được cho hay, Tổng thống Nam Triều Tiên đã ra lệnh cho toàn thể chính phủ của ông phải trong tình trạng cảnh giác cao tiếp theo sau một cuộc diễn tập pháo binh.
Tuy nhiên Bình Nhưỡng dường như đã thay đổi lập trường, sau khi đe dọa trước đó rằng họ sẽ trả đũa một cách "khốc liệt", nếu cuộc diễn tập diễn ra. Qua hãng thông tấn của nhà nước Bắc Triều Tiên, Bình Nhưỡng tuyên bố cuộc diễn tập đó "không đáng để phản ứng".
Trong khi chờ đợi, Nam Triều Tiên đã di chuyển cư dân xuống các hầm tránh đạn và cho chiến đấu cơ bay chuẩn bị trong cuộc diễn tập kéo dài khoảng 90 phút hôm nay tại đảo Yeonpyeong.
Có đến 1.500 quả đạn thật được bắn trong cuộc diễn tập này. Các phóng viên có mặt trong các hầm kiên cố dưới mặt đất, tường thuật rằng họ cảm thấy đất rung chuyển khi đạn pháo được bắn đi.
Sau cuộc diễn tập, Bình Nhưỡng lên tiếng cho hay họ sẽ không đáp trả bởi vì lần này súng của Nam Triều Tiên đã nhắm xa hơn ra ngoài biển. ( VOA)
BTT Im Re Sau Khi Nam Triều Tiên Tập Trận
Người dân Nam Triều Tiên đang lo âu chờ đợi xem liệu miền Bắc có thực hiện lời đe dọa sẽ đưa ra hành động quân sự để đáp trả cuộc tập trận bắn đạn thật trên đảo Yeonpyeong hay không. Hồi tháng trước, Bắc Triều Tiên đã pháo kích hòn đảo này vài giờ đồng hồ sau một cuộc tập trận tương tự. Thủy quân lục chiến Nam Triều Tiên thực hiện cuộc thao dượt vài giờ
sau khi một phiên họp khẩn của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc thất bại trong nỗ lực xoa dịu căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên, và sau khi một chính khách Mỹ nói rằng Bắc Triều Tiên sẵn sàng chấp nhận các cuộc thanh sát hạt nhân.
Bất chấp áp lực ngoại giao, Nam Triều Tiên hôm thứ Hai đã tiến hành việc bắn đạn pháo vào biển Hoàng Hải trong 94 phút, và làm gia tăng tình trạng đối đầu với miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản.
Các giới chức quốc phòng nhấn mạnh rằng miền Nam bắn đạn pháo về hướng tây-nam, và như thế không nhắm về hướng Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên Bình nhưỡng tuyên bố vùng biển ấy là thuộc lãnh hải của miền Bắc. Và trong những ngày từ khi cuộc tập trận được loan báo, đã cảnh cáo rằng nếu diễn ra, cuộc tập trận đó có nguy cơ đưa đến chiến tranh.
Tại Seoul, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Nam Triều Tiên Kim Young-sun mô tả cuộc thao dượt dùng đạn thật chỉ là một cuộc tập trận thường xuyên, và có lý do chính đáng.
Ông Kim nói cuộc tập trận pháo binh là nhằm mục đích tự vệ, và trong tư cách một nước có chủ quyền, Nam Triều Tiên có quyền tiến hành.
Vài giờ trước cuộc tập trận, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đã thất bại, không đạt được một giải pháp đồng thuận để hạ giảm căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.
Các nhà ngoại giao nói Trung Quốc, cùng với một số nước khác, không hậu thuẫn một tuyên bố lên án Bắc Triều Tiên về cách hành xử hiếu chiến của họ, kể cả việc pháo kích đảo Yeonpyeong hồi tháng trước.
Sau thất bại đó, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên hiệp quốc Susan Rice đã lên tiếng bênh vực quyết định của Nam Triều Tiên, tiến hành cuộc diễn tập.
Bà Rice lưu ý về 2 cuộc tấn công gây tử vong được quy trách cho Bắc Triều Tiên, vụ đánh chìm tàu hải quân Nam Triều Tiên, và vụ pháo kích đảo Yeonpyeong.
Bà Rice nói: “Nếu những biến cố hồi năm ngoái chứng to một điều gì, thì đó là Cộng hòa Triều tiên có nhu cầu, và có quyền chuẩn bị sẵn sàng để tự vệ, sau khi đã mất 50 công dân, nội trong vòng 9 tháng vừa qua.”
Phó Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc hôm thứ Hai, lập lại lời kêu gọi của nước ông, yêu cầu mở thêm đàm phán và khẳng định không một ai có quyền khiêu khích tranh chấp trên bán đảo Triều Tiên.
Cũng trong ngày thứ Hai, một nhà ngoại giao lão thành người Mỹ kết thúc một chuyến đi thăm Bình nhưỡng.
Đài truyền hình CNN trích lời ông nói rằng người Bắc Triều Tiên đã đồng ý cho phép các thanh sát viên Liên hiệp quốc trở lại Bắc Triều Tiên.
Cựu đại sứ Bill Richardson, Thống đốc bang Mexico, được trích lời nói rằng Bắc Triều Tiên cũng đồng ý thương thuyết việc bán 12,000 thanh nhiên liệu mới, để được đưa ra nước ngoài.
Trong 7 năm qua, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật bản và Nam Triều Tiên đã tìm cách thuyết phục Bắc Triều Tiên hãy từ bỏ các chương trình vũ khí hạt nhân, để đổi lấy việnt rợ và được công nhận ngoại giao. Mặc dù đồng ý với điều đó, Bình Nhưỡng vẫn thử nghiệm các vũ khí hạt nhân, và mới đây, tiết lộ sự hiện diện của một cơ sở sản xuất nhiên liệu hạt nhân mới.
Trong những năm đầu của thập niên 1950, hai miền Nam và Bắc Triều Tiên đã đối đầu nhau trong một cuộc chiến kéo dài 3 năm. Một thỏa thuận đình chiến đã được dàn xếp từ năm 1953, tuy nhiên cho tới nay, chưa có hiệp định hòa bình nào được ký kết giữa hai bên.
Bình Nhưỡng: sẽ không phản ứng sau cuộc tập trận của miền Nam
Tin chúng tôi mới nhận được cho hay, Tổng thống Nam Triều Tiên đã ra lệnh cho toàn thể chính phủ của ông phải trong tình trạng cảnh giác cao tiếp theo sau một cuộc diễn tập pháo binh.
Tuy nhiên Bình Nhưỡng dường như đã thay đổi lập trường, sau khi đe dọa trước đó rằng họ sẽ trả đũa một cách "khốc liệt", nếu cuộc diễn tập diễn ra. Qua hãng thông tấn của nhà nước Bắc Triều Tiên, Bình Nhưỡng tuyên bố cuộc diễn tập đó "không đáng để phản ứng".
Trong khi chờ đợi, Nam Triều Tiên đã di chuyển cư dân xuống các hầm tránh đạn và cho chiến đấu cơ bay chuẩn bị trong cuộc diễn tập kéo dài khoảng 90 phút hôm nay tại đảo Yeonpyeong.
Có đến 1.500 quả đạn thật được bắn trong cuộc diễn tập này. Các phóng viên có mặt trong các hầm kiên cố dưới mặt đất, tường thuật rằng họ cảm thấy đất rung chuyển khi đạn pháo được bắn đi.
Sau cuộc diễn tập, Bình Nhưỡng lên tiếng cho hay họ sẽ không đáp trả bởi vì lần này súng của Nam Triều Tiên đã nhắm xa hơn ra ngoài biển. ( VOA)

