Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Những ‘An Nam Quốc Vương’ tân thời hãy ăn năn trước khi quá muộn!

Lão Móc
(Nguồn: nguyenthieunhan.wordpress.com)

Tháng Chạp năm Giáp Thân 1284, 50 vạn quân Mông Cổ do Thoát Hoan làm Tổng chỉ huy chuẩn bị tiến sang xâm lược Ðại Việt lần thứ hai. Cũng trong Tháng Chạp năm đó, Thượng Hoàng Thánh tông cho triệu các bô lão tới điện Diên Hồng để hỏi nên chiến hay nên hòa. Câu trả lời: Quyết chiến!
Image
“An Nam Quốc Vương” Nguyễn Phú Trọng. (Hình: tuoitre.vn)


Ba ngày trước Tết Nguyên Ðán Ất Dậu 1285, đạo tiền quân của Thoát Hoan vượt qua cửa ải Nội Bàng. Tết Nguyên tiêu (rằm Tháng Giêng Âm lịch) Thăng Long thất thủ.

Trong khi đó ở mặt trận phía Nam, đạo quân của Toa Ðô, sau khi vượt biển đổ bộ lên Bắc Bố Chánh đánh ngược ra Nghệ An. Ngày mồng một Tháng Hai năm Ất Dậu, trấn thủ Nghệ An, một quý tộc của nhà Trần là Chương Kiến hầu Trần Kiện và một gia nhân là Lê Tắc đem quân hàng giặc.

Giữa Tháng Hai, để tạm thời hòa hoãn trong khi tình thế quá đen tối, Thượng Hoàng Thánh Tông sai Trung Hiếu hầu Trương Dương đưa quốc muội là An Cư Công Chúa sang dinh Thoát Hoan để xin cầu hòa. Nhưng không được. Giữa Tháng Ba, Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc cùng các gia thần là Phạm Cự Ðịa, Lê Diễm và Trịnh Long đem gia quyến ra hàng giặc Nguyên.

Thượng tuần Tháng Năm năm đó, quân ta chiếm lại Thăng Long, Thượng Tướng Trần Quang Khải kéo quân vào thành mở tiệc khao thưởng quân sĩ, cao hứng ngâm bài thơ nổi tiếng:

“Ðoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm tử quan
Thái bình nghi nỗ lực
Vạn cổ thử giang san.”

Dịch Nôm:

“Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân Hồ
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu.”

để ghi hai chiến tích Chương Dương, Hàm Tử mới đạt được vài ngày trước đó trên đường trở lại thu phục Thăng Long.

Ngày 17 tháng 5, Phó tướng Toa Ðô bị chém đầu tại trận. Thoát Hoan được tùy tướng Lý Quán dấu vào một chiếc ống đồng kéo chạy trối chết về châu Tư Minh (Quảng Tây).

Các tùy tướng Lý Hằng, Lý Quán liều chết đoạn hậu cho chủ tướng thoát thân đều bỏ mạng.

Chương Kiến hầu Trần Kiện được quân Nguyên đưa về Yên Kinh. Hưng Ðạo Vương cho người đi đường tắt đuổi theo đến Lạng Sơn thì giết được Trần Kiện. Gia thần là Lê Tắc cướp được thây chủ, đem chôn ở gò Ôn Khâu rồi trốn sang Tàu.

Còn phần Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc theo đoàn quân chạy thoát về Tàu, được Nguyên chủ Hốt Tất Liệt cho ra ở Ngạc Châu.

Tháng Mười năm Ðinh Hợi (1287) mượn tiếng đưa An Nam Quốc Vương Trần Ích Tắc về nước, Thoát Hoan kéo binh sang Ðại Việt lần thứ 3. Lê Tắc cũng có mặt trong đoàn quân xâm lược với 5,000 quân bản bộ. Chuyến xâm lược lần thứ 3 của quân Mông Cổ kết thúc bằng trận thủy chiến trên Bạch Ðằng giang vào tháng 3 năm Mậu Tí (1288). Trần Ích Tắc, Lê Tắc suýt chết nhiều lần trên đường đào tẩu. Khi về đến Châu Chiên trên đất Tàu, Trần Ích Tắc chỉ còn 60 thuộc hạ.

Trần Ích Tắc là con thứ của Vua Trần Thái Tông, tức em của Thượng Hoàng Thánh Tông và là chú của Vua Nhân Tông. Trong lúc anh và cháu của mình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ, thì Trần Ích Tắc đầu hàng giặc.

Tháng Tư năm Kỷ Sửu (1289), triều đình mở cuộc định công luận tội, ai có công đều được thăng thưởng. Các tôn thất hàng giặc như Trần Kiện, Trần Lộng dù đã chết rồi, con cháu đều phải đổi ra họ Mai. Còn Trần Ích Tắc thì vì tình thân cận nên Thượng Hoàng Thánh Tông không nỡ tước họ, nhưng từ đó không được gọi tên mà phải gọi “ả Trần”, tức ý nói nhút nhát như đàn bà!

Trần Ích Tắc về sau chết ở bên Tàu. Còn Lê Tắc lúc sống ở Tàu có viết bộ sử An Nam Chí Lược. Bộ sử này hiện thời còn lưu giữ ở Trung Quốc và Nhật Bản. Các nhà viết sử của Trung Quốc, Nhật Bản và cả Việt Nam mình sau này, đôi khi cũng trích từ quyển sử này của Lê Tắc.

Chuyện đáng tiếc là cả Trần Ích Tắc lẫn Lê Tắc đều là hai danh sĩ của nước ta thời ấy. Sợ thế giặc, hám lợi riêng, làm bậy nhất thời để gặt lấy tiếng xấu muôn đời!*

Như mọi người đều biết, để áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản lên đất nước Việt Nam, Hồ Chí Minh, tên “An Nam Quốc Vương tân thời” đã phải:

“Lúc rụi vào Tàu,
Lúc rúc vào Nga.

Nó gọi Tàu, Nga là cha anh nó.
Và tình nguyện làm con chó nhỏ

Xông xáo giữ nhà gác ngõ cho cha anh...”

(Thơ Nguyễn Chí Thiện)

- Năm 1958, “An Nam Quốc Vương” Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho Thừa Tướng Phạm Văn Ðồng gửi công hàm xác nhận bản tuyên bố chủ quyền về hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Cộng.

- Những “An Nam Quốc Vương” kế tục sự nghiệp “làm con chó nhỏ/Xông xáo giữ nhà gác ngõ cho cha anh” đã dùng “chuyên cơ” sang chầu hầu “Thiên triều” ở Trung Nam Hải, ký kết các thỏa ước về biên giới Việt Trung ngày 30 tháng 12 năm 1999, thỏa ước về Vịnh Bắc Bộ ký ngày 25 tháng 12 năm 2000.

Trong bài điều trần “Về việc đảng CSVN, lãnh đạo nhà nước cắt lãnh thổ, lãnh hải cho Trung Cộng, Giáo Sư Trần Ðại Sỹ, đứng trước mảnh đất được gọi là ải Nam Quan là địa danh lịch sử, đã đi vào tâm tư, niềm tự hào của dân tộc nay đã bị bọn “An Nam Quốc Vương tân thời” dâng cho “Thiên triều” đã khóc chảy máu mắt và làm 4 câu thơ như sau:

“Thử địa cựu Nam Quan
Biên ải ngã cố hương
Kim thuộc Trung Quốc thổ
Khấp khốc, ký đoạn trường.”


Và tác giả tự dịch như sau:
“Ðất này xưa gọi Nam Quan
Vốn là biên địa cố hương của mình
Hiện nay là đất Trung nguyên
Khóc chảy máu mắt, đoạn trường ai hay?

Và mọi người đều còn nhớ trước đó, năm 1979, Ðặng Tiểu Bình đã xua quân tràn qua biên giới “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Theo tác giả Tiêu Dao Bảo Cự, thì trong quyển “Lộ nguyên hình bành trướng” của Lê Kim do nhà xuất bản QÐND xuất bản năm 1999 thì:

“Nếu bọn Trung Quốc xâm lược đạt được một cái gì trong cuộc chiến tranh này thì đó là những tội ác ghê tởm nhất, man rợ nhất. Báo cáo của chính phủ ta trước Quốc Hội khóa VI, kỳ họp thứ V đã vạch rõ: “Chúng đã kết hợp những cái gì là tàn bạo nhất của thời trung cổ với những cái gì dã man nhất của bọn đồ tể phát xít ngày nay. Chúng dùng dao, dùng búa để chặt đầu, mổ bụng, moi gan, dùng cuốc xẻng, gậy gộc để đập vỡ sọ người bị thương, băm xác người đã chết, chúng xé xác trẻ em rồi quăng vào lửa, giết người rồi vứt xuống giếng. Chúng đã dùng chất nổ và sung phun lửa để giết hại hàng loạt đồng bào ta lánh giặc dưới hầm, trong hang. Chúng sử dụng các đội công binh kỹ thuật huấn luyện sẵn trách nhiệm phá hoại. Chúng đã triệt phá có chủ tâm, có hệ thống các thị xã, thị trấn, bản làng, các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, các nhà thờ, đền chùa, trường học, bệnh viện, nhà trẻ. Chúng đã gây ra nhiều vụ giết người tập thể rùng rợn hơn cả vụ Sơn Mỹ năm xưa. Từ đứa trẻ sơ sinh đến cành cây, ngọn cỏ, nơi nào lũ giặc tràn đến là mọi biểu hiện của sự sống không còn. Chúng giết sạch, cướp sạch, đốt sạch, chúng triệt phá mọi nguồn sống. Chúng đã phá hủy khu bảo tàng lịch sử Pắc Bó, xúc phạm nghiêm trọng tình cảm thiêng liêng của nhân dân ta và bạn bè khắp năm châu đối với Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Gây ra những tội ác tày trời với nhân dân ta, bọn phản động Bắc Kinh tưởng có thể uy hiếp được tinh thần chiến đấu của quân và dân VN. Nhưng chúng chỉ chuốc lấy lòng căm thù, sự khinh bỉ của nhân dân ta, sự phẫn nộ lên án của nhân dân TQ và nhân dân thế giới. Chúng đã lộ nguyên hình là những tên kẻ cướp, những tên đồ tể không còn chút tình người.”

Và nhà báo quân đội Huy Ðức của CSVN đã tả về trận đánh của “bọn giặc bành trướng phương Bắc” ở các tỉnh biên giới như sau:

“Lào Cai, Sapa, Ðồng Ðăng, Lạng Sơn... bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân TQ phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ từng cột điện. Nếu như ở Ba Xát, Lào Cai, hàng trăm phụ nữ và trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay ngày đầu tiên quân TQ tiến sang.

Tại thôn Tổng Chụp, xã Hưng Ðạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9 tháng 3, trước khi rút lui, quân TQ đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ mang thai.

Tất cả bị giết bằng dao như Pol Pôt. 10 người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.” (Thời Luận ngày 12-2-2009)

Ngay từ năm 1979, đảng và nhà nước CSVN đã biết Trung Cộng là “những tên kẻ cướp, những tên đồ tể không chút tình người”. Tại sao đến nay, bọn này ra mặt cắt cáp các tàu Bình Minh 2, Viking 2 của VN, đánh đuổi các ngư dân VN ra biển bắt cá ở những vùng mà từ đời ông, đời cha họ đã sinh sống và gây bao nhiêu tội ác khác khiến toàn dân phẫn uất xuống đường biểu tình phản đối qua các ngày 5, 12, 19 tháng 6 thì đảng và nhà nước CSVN lại ra sức đàn áp lại chính nhân dân của mình?

Phải chăng những “An Nam Quốc Vương” tân thời đã ký giấy bán biển, bán đảo, bán Tây nguyên cho TC nên không dám há miệng vì sợ mắc quai?!

Hỡi những “An Nam Quốc Vương” tân thời! Hãy nhớ “đẩy thuyền cũng là dân mà lật thuyền cũng là dân!”

Hãy nhớ:

“Dân Trưng Nữ, chàng Tô bớt ngạo
Dân Ngô Quyền Hoằng Tháo hết phương!
Lý Thường Kiệt, Hưng Ðạo Vương
Dân từng phạt Tống, Dân từng bình Nguyên!
Dân Lê Lợi dẹp tan Minh khấu
Dân Quang Trung tận tảo Thanh binh!”

(Vị nào biết tên tác giả, xin bổ túc giùm)


Hỡi các “An Nam Quốc Vương tân thời”, hãy ăn năn trước khi quá muộn!

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Lần đầu tiên mà Bắc Kinh đe dọa dùng vũ lực đối với Việt Nam.
Wednesday, 22 June 2011
Thanh Phương (RFI) - Tờ Global Times (Hoàn cầu Thời báo), một tờ báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong bài xã luận đăng ngày hôm qua, đã cảnh cáo Việt Nam là Bắc Kinh sẽ thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả hành động quân sự, để bảo vệ quyền lợi của mình ở Biển Đông. Kể từ khi căng thẳng về chủ quyền trên Biển Đông gia tăng, đây là lần đầu tiên mà Bắc Kinh đe dọa dùng vũ lực đối với Việt Nam.

Trong bài xã luận nói trên, tờ Hoàn cầu Thời báo viết rằng, nếu không tìm được một « giải pháp hòa bình » cho các tranh chấp chủ quyền, Trung Quốc sẽ buộc phải sử dụng lực lượng hải quân và hải giám để bảo vệ lãnh hải của mình. Tờ báo viết : « Nếu Việt Nam muốn gây ra chiến tranh trên biển Hoa Nam, Trung Quốc sẽ nhất quyết đáp ứng mong muốn đó. Trung Quốc có đủ sức mạnh để đè bẹp các hạm đội từ Việt Nam. Trung Quốc sẽ không nương tay với đối thủ. ».

Theo Hoàn cầu Thời báo, tấn công vào Việt Nam sẽ không dẫn đến xung đột trực tiếp với Hoa Kỳ, nhưng « cho dù sẽ xảy ra vài va chạm », không có lý do gì mà Trung Quốc phải chịu đựng « thói xấu vô giới hạn của Việt Nam trên biển Hoa Nam ».
Image
Bắc Kinh đã giận dữ kể từ khi Việt Nam tuyên bố hoan nghênh Hoa Kỳ can dự vào vấn đề Biển Đông, một vấn đề mà cho tới nay,
Trung Quốc vẫn đòi là phải được giải quyết trên cơ sở song phương.

Tờ Hoàn cầu Thời báo đã đăng bài xã luận nói trên sau khi thượng nghị sĩ Mỹ John McCain, phát biểu tại một cuộc hội thảo về Biển Đông ở Washington, hôm thứ hai vừa qua đã kêu gọi Hoa Kỳ giúp các nước Đông Nam Á phát triển lực lượng hải quân để đối phó với Trung Quốc. Theo ông McCain, chính những đòi hỏi chủ quyền « không vững chắc » và thái độ hung hăng của Bắc Kinh đang làm gia tăng căng thẳng trên Biển Đông.

Nhưng báo chí Trung Quốc, đặc biệt là những tờ báo Anh ngữ như Global Times hay China Daily, trong những ngày qua vẫn liên tục khẳng định ngược lại. Tờ China Daily hôm nay đã đăng ý kiến một học giả thuộc Viện Khoa học Xã hội Thượng Hải cho rằng « nguồn gốc của tranh chấp trên biển Hoa Nam hiện nay là do những hành động đơn phương của Việt Nam và Philipppines ». Vị học giả này cho rằng, « Hoa Kỳ, quốc gia không thuộc khu vực này, đã đổ thêm dầu vào lửa, khi đòi tự do lưu thông hàng hải và mở các cuộc tập trung ở các vùng biển của Trung Quốc ».

Tác giả bài viết trên tờ China Daily còn đề nghị là Trung Quốc trước hết phải nói rõ cho quốc tế viết lập trường của mình về vấn đề Biển Đông, thứ hai là Trung Quốc phải bám lấy nguyên tắc « cùng phát triển những vùng đang tranh chấp » và thứ ba là chính phủ phải lập ra một cơ quan cao cấp về các vấn đề biển để phối hợp hành động, đồng thời khẳng định đường ranh giới hình chữ U ( mà dân Việt Nam vẫn gọi là đường lưỡi bò ) trên Biển Đông.

Như vậy là một mặt đe doạ dùng vũ lực đối với Việt Nam, mặt khác, báo chí chính thức bằng Anh ngữ của Trung Quốc vẫn cố gắng làm cho công luận quốc tế nghĩ rằng chính những nước khác trong khu vực như Việt Nam và Philippines đang « gia tăng nỗ lực khai thác tài nguyên và lấn chiếm quần đảo Nam Sa ( Trường Sa ) và Tây Sa ( Hoàng Sa ) của Trung Quốc.

Thanh Phương
RFI

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

'Trung Quốc rất ngạc nhiên trước phản ứng của Việt Nam'

Phỏng vấn Giáo sư Su Hao của Trung Quốc tại CSIS

Hà Giang/Người Việt

Trước bối cảnh những tranh chấp chủ quyền ở Biển Ðông ngày càng trở nên căng thẳng, buổi hội thảo có tên “An Ninh Hàng Hải Biển Ðông” do Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Hoa Kỳ (CSIS) tổ chức tại Hoa Thịnh Ðốn vào hai ngày 20 và 21 tháng 6 đã thu hút khoảng 200 người tham dự, trong đó gần một nửa là các nhà nghiên cứu tầm cỡ quốc tế và nhiều viên chức cao cấp của các quốc gia liên quan trực tiếp và không trực tiếp như Việt Nam, Trung Quốc, Phi Luật Tân, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Indonesia v.v...
Image
Giáo Sư Su Hao, Ðại Học Ngoại Giao Bắc Kinh, tại buổi hội thảo do CSIS tổ chức. (Hình: Hà Giang/Người Việt)


Trong gần hai ngày làm việc liên tục với một thời khóa biểu dầy đặc, những bài thuyết trình của các diễn giả được xen kẽ với phần thảo luận sôi nổi, căng thẳng, qua đó cả cử tọa lẫn diễn giả đã nêu câu hỏi với nhau và đặt vấn đề về quyền lợi, vị trí của các nước, những sự kiện dẫn tới tình hình căng thẳng hiện nay, và cùng xem xét những đề nghị để có thể hóa giải quyết những tranh chấp ngày càng leo thang này.

Phần trình bày của Giáo Sư Su Hao, phó giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế, trường Ðại Học Ngoại Giao, Bắc Kinh, mở đầu cho tiêu đề “Quyền lợi và lập trường của các bên tại biển Ðông,” đã tạo nhiều tranh cãi sôi nổi nhất. Có tất cả là 3 diễn giả cho tiêu đề này, nhưng hầu hết những câu hỏi được đặt ra trong phần thảo luận theo sau đều nhắm vào Giáo Sư Su Hao, đến nỗi người dẫn chương trình là ông Ernest Bower đã phải kêu lên là “buổi hội thảo sáng nay vô tình đã biến thành the Su Hao's conference.”

Bài thuyết trình của các diễn giả đến từ Việt Nam là Tiến Sĩ Trần Trường Thủy, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Biển Ðông, thuộc Học Viện Quan Hệ Quốc Tế, và Tiến Sĩ Ðặng Ðình Quý, giám đốc Học Viện Ngoại Giao, Luật Sư Nguyễn Duy Chiến - Trung Tâm Nghiên Cứu Biển Ðông thuộc Học Viện Ngoại Giao Việt Nam cũng tạo được nhiều chú ý.

Phần phỏng vấn của phóng viên Hà Giang của nhật báo Người Việt với Giáo Sư Su Hao, Tiến Sĩ Trần Trường Thủy, Luật Sư Nguyễn Duy Chiến, và nhiều diễn giả khác trước và sau cuộc hội thảo sẽ lần lượt được tường thuật trên Người Việt, trong nhiều số báo liên tiếp.

Dưới đây là phần phỏng vấn Giáo sư Su Hao, phó giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế, trường Ðại Học Ngoại Giao, Bắc Kinh, ngay sau phần thảo luận về tiêu đề “Quyền lợi và lập trường của các bên tại biển Ðông.”

-Hà Giang (NV): Thưa giáo sư, trước buổi hội thảo này khoảng hơn một tuần, Bắc Kinh lên tiếng yêu cầu những nước không liên quan (ám chỉ Hoa Kỳ) đừng can dự vào tranh chấp Biển Ðông. Nhưng trong phần thuyết trình của giáo sư vừa rồi, ông kêu gọi sự giúp đỡ của Hoa Kỳ trong việc làm ổn định tình hình, nhưng ở đoạn kết luận của bài ông lại nói một trong ba điều có thể làm trở ngại việc ổn định tình hình Ðông Nam Á là “sự xen vào của Mỹ”. Có mâu thuẫn nào không, thưa ông?

-GS Su Hao: Vâng, Hoa Kỳ là một nước không liên quan đến tranh chấp trong vùng Biển Ðông, nhưng vì là một cường quốc, Hoa Kỳ có những quyền lợi chung với những nước thành viên của ASEAN. Trung Quốc mong có sự tiếp tay của Hoa Kỳ như một đối tác trong việc ổn định an ninh cũng như hợp tác với nhau trong vùng, vì các nước nhỏ thường cảm thấy không an tâm với sự lớn mạnh của Trung Quốc. Chúng tôi hoan nghênh việc Hoa Kỳ giúp cho tình hình ổn định hơn. Vấn đề là đôi khi sự có mặt của Hoa Kỳ làm một số quốc gia trở nên hung hãn hơn.

-NV: Giáo sư nhắc đến từ “hung hãn,” thì qua buổi thảo luận vừa rồi, giáo sư cũng thấy là hai chữ hung hãn được nhiều học giả và giới phân tích dành cho Trung Quốc, nhất là qua sự kiện Trung Quốc vừa hai lần cắt dây cáp của các tàu Việt Nam ngay bên trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Ông nghĩ sao khi các nước cho rằng chính Trung Quốc mới hành xử một cách hung hăng?

-GS Su Hao: Chúng tôi cắt dây cáp, nhưng dây cáp này nằm ở đâu? Lãnh hải của Trung Quốc và Việt Nam chồng chéo lên nhau. Và trong quá khứ, chúng tôi đã từng làm như thế khi tàu Việt Nam đi đến vùng đánh cá của chúng tôi, đi vào vùng biển của chúng tôi, nhưng lần này Việt Nam phản ứng rất dữ dội hơn hẳn với truyền thống hành xử của họ. Chúng tôi hết sức ngạc nhiên trước phản ứng này.

-NV: Xin hỏi lại, theo ông thì Trung Quốc rất ngạc nhiên trước phản ứng mạnh mẽ vừa rồi của Việt Nam khi hai lần bị cắt dây cáp, có phải không ạ?

-GS Su Hao: Ðúng như vậy!

Khi buổi họp tiếp diễn ngày thứ hai, nhiều học giả và đại diện các bên tiếp tục cho rằng Trung Quốc phải chịu trách nhiệm vì sự hung hãn, hiếu chiến của mình.

Thậm chí Tiến Sĩ Stein Tonneson, học giả thuộc Học Viện Hòa Bình Hoa Kỳ (United States Institute or Peace) nhắn nhủ thẳng với Giáo sư Su Hao là khi về nước nên khuyên chính quyền Trung Quốc xét kỹ lại chính sách sai lầm của mình, và tôn trọng UNCLOS cũng như những nước láng giềng. Nhật báo Người Việt thực hiện cuộc phỏng vấn thứ hai với Giáo Sư Su Hao sau khi buổi hội thảo kết thúc để tìm hiểu về quan niệm của ông đối với các vấn đề Biển Ðông.

-NV: Thưa giáo sư, ông nghĩ gì về buổi hội thảo, nhất là sự kiện Trung Quốc bị đa số cho là nguyên nhân chính đưa tranh chấp của Biển Ðông đến tình trạng nóng bỏng hiện nay, vì thái độ hung hăng, hiếu chiến với các nước láng giềng trong thời gian qua?

-GS Su Hao: Tôi không nghĩ là Trung Quốc hung hãn tí nào cả. Không hiểu tại sao những người đứng ngoài cuộc tranh chấp lại cứ thấy bất cứ hành động nào của Trung Quốc cũng là hung hãn, mà không thấy là những người láng giềng kia giờ này mới chính là nguyên nhân làm leo thang sự căng thẳng. Hy vọng một ngày người ta sẽ hiểu rõ sự thật. Tôi nói điều này với tất cả sự thông cảm rằng chủ quyền quốc gia là một vấn đề nhậy cảm, cả ở Việt Nam lẫn ở Trung Quốc.

-NV: Những người cho là Trung Quốc hung hãn có thể đơn cử việc Trung Quốc cắt dây cáp, việc Trung Quốc đánh phá tàu ngư dân Việt Nam, bắt giữ họ, việc Trung Quốc ra lệnh cấm đánh cá đơn phương trong vùng biển chung. Vậy giáo sư có thể đưa ra một vài thí dụ cụ thể về những hành động làm căng thẳng tình hình của các nước láng giềng không?

-GS Su Hao: Như tôi đã nói hôm qua, các nước láng giềng đã có những phản ứng mạnh hơn cả những phản ứng truyền thống trước kia của họ.

-NV: Trở lại với cuộc hội thảo, ông có nhận xét gì, và đã rút tỉa ra được những điều gì đặc biệt trong hai ngày qua thưa ông?

-GS Su Hao: Tôi nghĩ rằng buổi hội thảo khiến mọi bên có dịp nói ra quan điểm và lập trường của mình, khiến mọi bên hiểu nhau nhiều hơn. Tôi thấy giữa chúng tôi còn nhiều khác biệt, và cả những lời chỉ trích cũng tốt nữa, và từ đó mới tìm ra được điểm chung, là mọi người đều muốn tình hình trong vùng ổn định. Lần sau khi chúng tôi ngồi xuống thảo luận, chẳng hạn giữa Trung Quốc và Việt Nam, tôi hy vọng chúng tôi có thể bình thản hơn, dùng lý trí hơn để bàn bạc.

-NV: Khi trở về Bắc Kinh, ông dự định sẽ đề nghị gì với các học giả khác, và với chính quyền Trung Quốc.

-GS Su Hao: Thật ra tôi chưa sẵn sàng và chưa quyết định được là mình sẽ đề nghị gì cả, vì cần thời giờ để suy nghĩ thêm.

-NV: Theo giáo sư thì tranh chấp Biển Ðông có triển vọng được giải quyết ổn thỏa không? Cụ thể hơn, ông có nghĩ là sau này Bắc Kinh sẽ hành xử sao cho bớt bị đánh giá là hung hăng đi không?

-GS Su Hao: Vấn đề chủ quyền quốc gia rất nhậy cảm, rất phức tạp, đụng đến nó thì không ai bình tĩnh được. Tuy thế tôi nghĩ là nếu mọi bên ngồi xuống một cách bình thản thì có thể tìm cách giải quyết vấn đề được. Tôi không cho là Bắc Kinh hung hãn, mà phải nói là chính quyền Trung Quốc rất vừa phải, rất biết kiềm chế. Hy vọng là các nước láng giềng cũng sẽ biết kiềm chế.

Tôi có một nhận xét nữa là tuy Hoa Kỳ không là một quốc gia liên quan trong tranh chấp Biển Ðông, nhưng cuộc hội thảo này lại được tổ chức trên đất Hoa Kỳ. Tôi đoán có lẽ vì Hoa Kỳ là một cường quốc, cho nên quyền lợi của họ nằm ở khắp nơi. Hai nữa, tôi không hiểu tại sao tôi là diễn giả duy nhất từ Bắc Kinh được mời đến, trong khi đó Việt Nam được mời đến những ba diễn giả và nhiều viên chức của họ cũng đến tham dự. Ðiều này khá lý thú.

-NV: Cám ơn ông đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Trần Khải Thanh Thủy: 'Khoảng khắc tự do lạc bước đến quá nhanh’
Ngọc Lan/Người Việt thực hiện

WESTMINSTER (NV) - Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy trả lời phỏng vấn báo Người Việt sau khi được Việt Nam phóng thích nhờ sự can thiệp của chính phủ Hoa Kỳ cùng sự vận động của Dân Biểu Loretta Sanchez và một số dân cử khác.

Cũng nhờ sự vận động đó, bà Trần Khải Thanh Thủy đã được đến Mỹ định cư tị nạn cùng với cô con gái út 14 tuổi.

Bà Trần Khải Thanh Thủy, 50 tuổi, bị nhà cầm quyền Hà Nội dàn dựng một vụ đánh nhau trước nhà ở Hà Nội năm 2009. Bà bị đưa ra tòa kết án tù 3 năm rưỡi tháng 2 năm 2010.

Giới quan sát nhận định vụ án đánh nhau chỉ là cái cớ để bỏ tù bà Trần Khải Thanh Thủy vì các hoạt động chính trị của bà.

Bà Trần Khải Thanh Thủy nói chuyện với Ngọc Lan báo Người Việt trong bài phỏng vấn dưới đây.
Image
Ngọc Lan (NV): Chào mừng chị đã đến nước Mỹ. Chị đã quen với giờ giấc chưa?

Trần Khải Thanh Thủy: Mấy hôm nay đi máy bay ngồi bó gối không ngủ được, vừa xuống khách sạn thấy computer là lao vào xem quên hết thời gian, ngồi gần cả chục tiếng đồng hồ bên máy computer vì bao nhiêu tháng trời rồi, giờ lên xem coi có ai còn nhớ mình không, hay tên mình đã bị khuất lấp rồi.

NV: Ngồi trên máy bay chị không ngủ được vì nôn nao hay vì lý do gì?

Trần Khải Thanh Thủy: Tâm trạng bàng hoàng lắm vì khoảnh khắc tự do lạc bước đến với tôi quá nhanh, quá ngỡ ngàng. Tâm trạng tôi vẫn còn xáo trộn, đầu óc vẫn còn lâng lâng. Ở tuổi này thì bất cứ niềm vui quá độ hay nỗi đau quá độ đều gây ra những phấn khích cao độ khiến mình khó thích nghi ngay.

NV: Chị có thể diễn tả lại cảm xúc lúc bước xuống phi trường San Francisco không?

Trần Khải Thanh Thủy: Nói chung là không tin được đó là sự thực, là nước Mỹ đã hiện hình trước mắt mình rồi hay sao! Không tin được. San Francisco là thành phố của nhân quyền, trong khi 48 tiếng trước đó mình còn là người bị mất tự do hoàn toàn bị cấm đoán trong mọi mối quan hệ, bị coi như súc vật nói tiếng người. Nên khi đến phi trường vẫn còn không tin là mình đã được tự do.

NV: Xin vui lòng kể lại hành trình chị đã đến Mỹ như thế nào?

Trần Khải Thanh Thủy: Mình nhớ là họ giữ bí mật đến phút chót. Trước đó công an còn yêu cầu mình viết cảm tưởng về những ngày ở trong tù. Sau đó, tức Thứ Ba ngày 22 tháng 6, họ chính thức thông báo là cách đó một tiếng ông trưởng trại và nhiều người nữa, cả một đoàn, kéo nhau lên Hà Nội đến đại sứ quán Mỹ để chính thức giao mình cho phía Mỹ. Ðến sáng Thứ Tư mình sẽ ra tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa để gạch tên bãi miễn trách nhiệm hình sự của mình. Nếu may mắn thì đến cuối tuần mình sẽ đi được, còn chậm nhất là sang đầu tuần sau. Họ chỉ nói như vậy.

Nhưng đùng một cái thì chiều hôm sau, tức Thứ Tư, lúc khoảng 3 giờ rưỡi, lúc mình còn đang ngồi trong buồng giam nóng nực đến 38, 39 độ, còn đang mặc quần cụt và áo thun ba lỗ, thì một ông cán bộ trại đến bảo “chị Thủy mặc quần áo trại vào đi ra ngoài gặp cán bộ”.

Mình đi theo ra tưởng gặp cán bộ bình thường. Nhưng khi ra thì gặp cả bọn an ninh ở Hà Nội về. Mình nghĩ điệu này chắc là đi rồi. Rồi chúng bảo “thủ tục đã xong, chị vào chuẩn bị rồi chúng tôi sẽ đưa chị ra sân bay để bay thẳng đi luôn”. Mình rất ngỡ ngàng.

Nếu nói diễn tả tâm trạng lúc ấy thì bàn chân đi như không trọng lượng, bàn chân bước cứ lâng lâng như tỉnh như say. Không ngờ hạnh phúc lạc bước đến với mình nhanh như thế. Họ cho mình 5 phút chuẩn bị. Mình gấp các thứ rồi chạy ra phía ngoài cho họ kiểm tra đồ đạc.

Ðiều bực tức nhất là họ cướp trắng hết công sức lao động của mình suốt 21 tháng trời ở tù: 50 bài thơ, hàng chục bài viết, bao nhiêu ý tưởng mình đã gói ghém vào trong quyển sách của mình. Cả quyển truyện Kiều của Nguyễn Du mình chép lại, hiệu đính lại những từ cổ. Lợi dụng lúc mình đi thay đồ chúng đã lấy mất hết của mình.

NV: Lúc đó họ đưa chị đi luôn?

Trần Khải Thanh Thủy: Ừ, họ có mua sẵn cho bộ quần áo dân thường để mình mặc. Những người được tự do sẽ được mặc quần áo thường đi từ trong ra ngoài. Ðằng này có lẽ chúng không muốn ồn ào, nên chúng đã lừa mọi người đi lao động hết ngoài xưởng ngoài đồng, trong trại chỉ còn ít người ốm thôi, mà ngay từ sáng sớm thì chúng cũng đã cách ly mình với những người đó.

Mình rời khoảng đó lúc 4 giờ kém 10, lên ô tô. Chúng đón tiếp mình trịnh trọng như nguyên thủ quốc gia, có cả bác sĩ y tế đi kèm, có cả cán bộ nhưng không mặc quần áo cảnh sát mà mặc thường phục. Không kể lưc lượng an ninh của thành phố xuống, thì cũng đã là 3, 4 xe, cả một đoàn dài. Vừa chạy vừa hú còi ầm lên, có công an hú còi dẹp đường cho “đoàn công tác đi qua”. Long trọng quá!

NV: Lúc đó chị đã bình tĩnh lại chưa? Hay vẫn cảm xúc lâng lâng?

Trần Khải Thanh Thủy: Vẫn cảm xúc lâng lâng, nhưng chưa tin hoàn toàn vào bọn công an lếu láo này. Vì trong tù mình rất thích câu nói trong tác phẩm “Người Tù khổ sai” là “bây giờ tôi đã rút ra kết luận là chớ có tin bọn quản giáo, bọn công an” nên mình cũng cảnh giác cao độ.

NV: Tức là chị vẫn không tin 100% là mình sẽ được đi, được tự do?

Trần Khải Thanh Thủy: Vẫn sợ là có một biến cố nào đó chăng thì nó lại giữ mình lại.

4 giờ kém 10 đi một lèo đến 8 giờ kém 10 thì đến sân bay Nội Bài. Rồi nó đưa mình lên phòng khách rất sang trọng. Bọn an ninh Việt Nam thay nhau mấy đợt đến quay phim. Rồi gia đình mẹ mình, em trai, em dâu, chồng mình, cả bà chị dâu, các cháu cũng đến. Chúng cho gặp khoảng 30 phút, trong sự giám sát của chúng nó. Trong lúc đó chúng vẫn quay camera liên tục. Rồi chụp ảnh, đến mức con bé lớn con mình hỏi “quay để đưa lên ti vi à?” Thì có một cô bé trả lời là “quay để làm tư liệu”.

NV: Mấy giờ thì chị bắt đầu rời khỏi sân bay Nội Bài?

Trần Khải Thanh Thủy: Ngồi chờ rất lâu. Sau khi đó thì có một phiên dịch người Việt ở đại sứ quán Mỹ và một ông Mỹ đến nói chuyện các thứ với mình và bọn công an Việt Nam. Khi đó có một tay sếp công an đến nói mình được đi là do chính sách nhân đạo của nhà nước chứ không phải là do bị Mỹ ép. Khi đó, với công an vây xung quanh, thì ông Mỹ cũng nói đánh giá cao sự hợp tác giữa hai bên Mỹ và Việt Nam. Nhưng sau khi tụi nó tản đi thì ông ấy nói là ông ấy buộc phải nói thế vì còn nhiều trường hợp như mình cần được giải thoát. Người đưa mình đi sang Mỹ đã nói trong chặng đường bay là suốt cả 7, 8 tháng trời giằng co, rất vất vả, bọn chúng nhất định không chịu nhả mình. Ðến khi đồng ý thì chỉ trong vòng 9 ngày làm hộ chiếu là bay.

NV: Lúc họ báo cho chị biết tin sẽ đi qua Mỹ thì chị có bất ngờ không hay chị đã biết trước rồi?

Trần Khải Thanh Thủy: Vẫn rất bất ngờ. Mình biết được thông tin Mỹ can thiệp là từ trước Tết cơ. Khi chúng đưa mình ra khỏi trại giam Hỏa Lò là đi trong đêm mà, nên không ai biết hết. Khi đó em trai mình phải lùng khắp các trại tìm ra mình để báo tin là “chắc chúng chỉ giam chị đến hết năm nay thôi, chứ bên ngoài đấu tranh cho chị mạnh lắm”. Thế là mình có niềm tin hy vọng từ đó.

Ðến khoảng cuối tháng giêng, em mình lại đến thăm báo rằng có lẽ chị sẽ bay trong tháng này, chúng chẳng thể giữ chị lâu đâu. Mình lại nuôi hy vọng.

Nhưng mãi đến tận 23 tháng 3 thì một tay tên Khải vào báo mình sẽ được đi xuất cảnh ra nước ngoài và nó khuyên mình nên đi “vì tương lai con cái mình hơn nữa là chị sẽ chữa được bệnh”. Thì mình nhất trí thôi.

Nhưng mãi đến mấy tháng chờ đợi khắc khoải, chờ đợi đến tận 12 tháng 6 thì chúng nó mới quay trở lại kêu mình khai tờ đơn làm hộ chiếu. Ðến chiều lại có một bà đại diện phía Mỹ đến gặp mình trong trại khoảng 30 phút. Sau đó thì mình biết là cơ hội sẽ đến với mình.

Mình cứ nghĩ mình sẽ được ở lại Hà Nội vài hôm vì buổi chiều lúc chúng đưa mình ra sân bay, tuyên bố tha bổng mình. Trong tờ giấy tuyên bố tha bổng có ghi “phải có mặt tại Hà Nội trước ngày 29 tháng 6”. Cứ ngỡ sẽ được ở lại vài ngày ai ngờ bọn chúng bảo phải đi ngay.

NV: Gia đình chị được công an thông báo cho biết trước đó bao lâu?

Trần Khải Thanh Thủy: Công an thì chẳng thông báo gì cả. Chỉ có đại sứ quán Mỹ thông báo đến cho gia đình từ hôm Thứ Bảy rằng Thứ Tư mình sẽ bay nên gia đình đã có chuẩn bị trước.

NV: Theo chị hiểu thì việc chị có mặt tại Mỹ được xem là hành động trục xuất hay là tị nạn chính trị?

Trần Khải Thanh Thủy: Cả hai khái niệm đó đều đúng cả. Thì chúng trục xuất mình ra khỏi Việt Nam thì mình sang Mỹ xin tị nạn chính trị. Nhưng mà nó lại đặt dưới chiêu bài cộng sản là do sự nhân đạo khoan hồng của chính phủ Việt Nam nên mình được đi chữa bệnh. Chúng yêu cầu mình là không được chống đối, coi như phải thay đổi quan niệm các thứ đi, chúng cho đi vì tinh thần nhân đạo chứ không phải vì phía Mỹ ép buộc.

NV: Chồng chị không được đi cùng chị sao?

Trần Khải Thanh Thủy: Thực ra Mỹ chấp nhận cho cả gia đình mình đoàn tụ bên Mỹ, ông xã được phép đi theo vợ. Nhưng có điều ông ấy nhận thức chưa đầy đủ. Ông ấy sợ sang đây bất đồng ngôn ngữ, vì không biết tiếng Anh, sợ thất nghiệp nên ông ấy muốn ở lại thu xếp công việc nhà cửa, không đi. Lại thêm ông ấy sợ kéo cả bầu đoàn thê tử đi thì phía Mỹ sẽ kéo dài thời gian làm hồ sơ hơn, nên ông ấy vì thương vợ nên bảo thôi để ông ấy ở lại, 2 mẹ con đi. Nhưng suy nghĩ ấy rất sai lầm. Khi sang đây mình biết là ông ấy đã bỏ mất một cơ hội quý báu rồi. Giờ muốn đoàn tụ thì cũng phải 2 năm sau.

NV: Ðến giờ chị nghĩ như thế nào về những gì chị đã làm, đã viết? Chị vẫn sẽ tiếp tục chứ?

Trần Khải Thanh Thủy: Mình cũng sẽ vẫn như thế. Bởi vì mình có được một chút hiểu biết về xã hội, mình không chịu đánh mất nhân cách trong một xã hội dối trên lừa dưới. Mình vẫn tiếp tục nói thật. Vẫn chống chúng tới cùng nếu chúng cứ tiếp tục giở những trò mị dân đê tiện, làm chậm bước tiến của xã hội Việt Nam. Mình không có gì ân hận cả, mà vẫn sẽ tiếp tục con đường tranh đấu cho nhân quyền.

NV: Chị có muốn chia sẻ thêm điều gì cùng độc giả nhật báo Người Việt không?

Trần Khải Thanh Thủy: 13 tháng ở trại và 6 tháng 21 ngày ở Hỏa Lò có rất nhiều điều mình muốn chia sẻ với mọi người. Trước hết là phải vực sức khỏe lên bởi sức khỏe như con thuyền giúp mình vượt qua đại dương cuộc đời. Khi có sức khỏe rồi mình sẽ bắt tay lại viết những điều đang ôm ấp...

Suốt những ngày trong trại mình biết ơn báo Người Việt ghê lắm vì đã không bỏ rơi mình trong những lúc khó khăn, nếu không có sự tiếp sức ấy thì có khi mình đã ngã quỵ trong tù rồi.

NV: Thay mặt báo Người Việt xin gửi đến chị lời chúc sức khỏe. Chúc chị sớm hòa nhập vào cuộc sống để sớm thực hiện những ước mơ của mình.

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Việt Nam và Philippines
Monday, June 27, 2011 2:17:21 PM

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Thời gian vừa qua, liên quan đến biển Ðông, Trung Quốc không phải chỉ uy hiếp Việt Nam mà còn gây hấn với cả Philippines.

Image
Dân chúng Philippines biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Trường Sa tại thành phố Makati ở phía Ðông Manila, ngày 16 Tháng Sáu. (Hình: AP)

Trước khi tàu hải giám của Trung Quốc nhào tới cắt dây cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 và Viking 2 của công ty dầu khí Việt Nam, họ đã từng gây hấn với tàu thăm dò MV Venture của Philippines ở khu vực bãi Cỏ Rong (Reed Bank), cách đảo Palawan 200 cây số, nơi Philippines tuyên bố là thuộc vùng kinh tế đặc quyền của họ vào ngày 2 tháng 3. Sau đó, tàu Trung Quốc liên tiếp uy hiếp các tàu thăm dò của Philippines thêm một số lần nữa.

Ðiều đáng chú ý là trước thái độ gây hấn thô bạo của Trung Quốc, phản ứng của Việt Nam và Philippines khác hẳn nhau. Ðiều đó có thể thấy rõ ngay trên báo chí chính thống ở Việt Nam.

Trong khi trên báo chí chính thống ở Việt Nam, ngoài vài bản tin và lời phát biểu chung chung ngay sau hai biến cố cắt cáp vào ngày 26/5 và 9/6, chỉ thấy một sự im lặng lạ lùng và khó hiểu từ phía chính quyền thì, ngược lại, người ta thấy có khá nhiều bài tường thuật các phản ứng của Philippines đối với Trung Quốc. Các phản ứng ấy bao gồm: Chỉ trích gay gắt Trung Quốc trên báo chí trong nước cũng như trên các diễn đàn quốc tế; điều tàu chiến và máy bay chiến đấu (gồm cả máy bay ném bom) ra hộ tống các tàu thăm dò dầu khí; nâng cấp căn cứ Rancula thuộc quần đảo Trường Sa; tăng cường tuần tra không quân và hải quân trên vùng tranh chấp; nỗ lực phát triển quốc phòng; tháo gỡ các cột trụ mà Trung Quốc đã lắp đặt tại ba bãi đá ngầm trong khu vực tranh chấp; báo cáo hành động xâm lấn ngang ngược của Trung Quốc lên Liên Hiệp Quốc; đề nghị Indonesia hợp tác khai thác dầu khí chung trên biển Ðông, gần khu vực Trường Sa; kêu gọi các nước trong khu vực có tiếng nói và hành động chung nhằm đối phó với Trung Quốc; tham gia tập trận chung với Mỹ; gợi ý thành lập một đoàn ngoại giao chuyên trách để đàm phán với các nước ASEAN về việc thành lập một khối liên kết để giải quyết vấn đề ở biển Ðông và kết nối với Liên Hiệp Quốc để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Trường Sa, v.v.

Không phải chỉ nói suông. Họ làm thật. Và một cách hiệu quả, ít nhất là ở bước đầu: Họ thuyết phục được chính phủ Úc ủng hộ lập trường của họ trong cuộc họp cấp bộ trưởng giữa hai nước vào ngày 16/6. Họ cũng thuyết phục được sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ Mỹ qua lời phát biểu của Ðại sứ Mỹ tại Philippines: “Tôi đảm bảo với các vị rằng Mỹ sẽ sát cánh với Philippines trong tất cả các vấn đề. Mỹ và Philippines là những đồng minh chiến lược. Chúng tôi sẽ tiếp tục tham vấn và hợp tác với nhau trong các vấn đề, bao gồm cả biển Ðông” (Vietnamnet). Mới đây, họ thuyết phục được sáu nước thành viên trong khối ASEAN (trong đó có Việt Nam) ủng hộ lời kêu gọi cho một giải pháp hòa bình do họ đưa ra.

Ngoài việc tường thuật các chính sách và các lời phát biểu của giới lãnh đạo cao cấp, bao gồm cả Tổng Thống Benigno Aquino của Philippines, báo chí trong nước cũng tường thuật cả dư luận của quần chúng và trí thức Philippines trước sự đe dọa của Trung Quốc. Một số bài viết đăng trên báo lớn ở Philippines được nhắc nhở, trong đó có bài mang nhan đề “Kẻ du côn trong khu vực” (Regional bully) nói về cách hành xử của chính quyền Trung Quốc. Nhiều bài báo gọi đích danh Trung Quốc đang “trực tiếp xâm phạm lãnh thổ Philippines” và tuyên bố: “Sự việc này một lần nữa cho thấy, Trung Quốc thật đáng sợ, chứ không phải là quốc gia hiền lành như các nhà ngoại giao nước này rao giảng”.

Ở đây, có hai điều chúng ta cần lưu ý: Thứ nhất, mức độ đe dọa của Trung Quốc đến chủ quyền và lãnh thổ cũng như lãnh hải của Philippines chắc chắn không trầm trọng như là Việt Nam, một nước giáp biên giới với Trung Quốc và có một lịch sử xung đột gần như triền miên với Trung Quốc; và thứ hai, như chính chính quyền Philippines nhìn nhận, lực lượng quân sự, cả không quân lẫn hải quân, của họ rất yếu. Không những yếu hơn Trung Quốc mà còn yếu hơn Việt Nam rất nhiều.

Một nước yếu và không trực tiếp đối diện với nguy cơ xâm lược của Trung Quốc như vậy nhưng cách phản ứng của họ rõ ràng là mạnh mẽ, quyết liệt, nhất quán và có tầm chiến lược hơn Việt Nam nhiều. Ðó là điều đáng cho chúng ta suy nghĩ.

Từ trước đến nay, lúc nào Việt Nam cũng tự hào là đi đầu trong các cuộc chống ngoại xâm và các cuộc bành trướng quốc tế: Xưa, Việt Nam đi đầu trong việc chống lại đế quốc Mông Cổ đang giẫm nát gần trọn Châu Á và một phần Châu Âu; sau, Việt Nam đi đầu trong việc chống lại chủ nghĩa thực dân cả cũ lẫn mới.

Còn bây giờ?

Ðối diện với sự đe dọa trắng trợn từ Trung Quốc, Việt Nam lại chọn một thái độ nhịn nhục gần như bất động. Họ cố lừa dối dư luận trong nước là họ đang âm thầm giải quyết tranh chấp qua con đường đàm phán trực tiếp với Trung Quốc. Nhưng luận điệu ấy không thể dối gạt được ai cả. Người ta không thể ngồi vào bàn đàm phán mà không có một chiến lược rõ ràng và không có một sự hậu thuẫn nào hết, kể cả hậu thuẫn của dân chúng và quốc tế, hoặc ít nhất, trong khu vực. Sự im lặng và bất động của chính quyền Việt Nam, do đó, phải được hiểu như một sự đầu hàng.

Ðầu hàng ngay từ đầu.

Có một điều hình như giới tuyên truyền ở Việt Nam chưa nhận ra được: Việc họ loan tin các phản ứng của Philippines mà không hề tường thuật bất cứ phản ứng nào từ phía Việt Nam, kể cả các cuộc biểu tình tự phát của dân chúng, cho thấy, hoặc ít nhất gợi cảm giác, là họ nhường trận địa chống Trung Quốc lại cho Philippines: Không phải Việt Nam mà chính Philippines mới là quốc gia xông xáo và quyết liệt nhất trong việc chống trả và ngăn chận âm mưu xâm chiến biển Ðông cũng như khu vực quần đảo Trường Sa.

Ðiều mỉa mai là giới truyền thông chính thống Việt Nam, một mặt, làm điều đó; mặt khác, lại tỏ vẻ đứng về phía Trung Quốc hơn là phía Philippines. Trên tờ báo mạng nổi tiếng của Việt Nam, Vietnamnet, ngày 8/6, có bài viết nhan đề “Trung Quốc mắng Philippines ‘tuyên bố vô trách nhiệm’”. Nội dung của bài viết là tường thuật lại lời phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Hồng Lỗi do hãng Tân Hoa Xã loan đi: “Trung Quốc yêu cầu phía Philippines ngừng làm tổn hại tới chủ quyền và các quyền hàng hải cũng như lợi ích của Trung Quốc, dẫn tới các hành động đơn phương làm leo thang và phức tạp vấn đề tranh chấp biển Ðông. Phía Philippines nên ngừng đưa ra các tuyên bố vô trách nhiệm không phù hợp với thực tế.” (VietNamNet)

Một lời phát biểu như thế, từ phía Trung Quốc, chả có gì đáng ngạc nhiên cả. Họ cũng đã từng nói như vậy với Việt Nam. Vậy tại sao tác giả bài báo lại dùng động từ “mắng”: “Trung Quốc mắng Philippines”?

Thứ nhất, ai cũng biết không nên dùng chữ “mắng” để mô tả các cuộc tranh cãi ngoại giao giữa hai nước.

Thứ hai, việc dùng chữ “mắng” trong văn cảnh như vậy, người viết - và giới lãnh đạo tuyên huấn Việt Nam nói chung - có vẻ đồng tình với Trung Quốc: Kẻ đáng trách ở đây, do đó, không phải là cái kẻ ỷ mạnh xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải của nước khác mà lại là kẻ đang phản đối điều đó.

Nên giải thích việc này như thế nào đây?

Thực tình, tôi không hiểu.

Không thể nào hiểu được.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Thượng viện Mỹ ra nghị quyết lên án Trung Quốc gây hấn tại Biển Đông Một nghị quyết lên án « hành động bạo lực » của Trung Quốc tại biển Đông đã được toàn thể Thượng viện Mỹ thông qua vào hôm qua 27/06/2011. Bắc Kinh đã lập tức phản bác với lập luận chỉ có những quốc gia liên can mới có thẩm quyền lên tiếng, và phải giải quyết song phương với Trung Quốc.

Nghị quyết của Thượng viện Mỹ công kích Trung Quốc dùng vũ lực tấn công tàu thuyền Việt Nam và Philippines . Thượng viện Mỹ kêu gọi phải « giải quyết xung khắc bằng giải pháp đa phương và ôn hòa ».

Các nhà lập pháp Mỹ còn hậu thuẫn cho « quân lực Hoa Kỳ trong nỗ lực bảo vệ tự do lưu thông hàng không và hàng hải trong hải phận quốc tế và không phận biển Đông ».

Nghị quyết này là sáng kiến của Thượng nghị sĩ Jim Webb, chủ tịch Tiểu ban Châu Á Thái Bình Dương thuộc Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện Mỹ .

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi phản bác rằng giao thông trên Biển Đông không bị ảnh hưởng, và các cuộc tranh chấp chủ quyền phải giải quyết bằng thương lượng « trực tiếp và song phương ». Ông Hồng Lỗi nói, nghị quyết của Thượng viện Hoa Kỳ là không có cơ sở, và "hy vọng các thượng nghị sĩ Mỹ có liên quan sẽ hành động nhiều hơn để xúc tiến hòa bình và ổn định trong khu vực".

Tú Anh

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tình bạn Mỹ-Việt giữa hiểm họa bành trướng

*Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Nước Việt Nam ta đứng trước một thử thách hiểm nghèo.

Image
Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates (trái) được Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh chào đón tại Bộ Quốc Phòng Việt Nam ở Hà Nội năm 2010.
(Hình: Carolyn Kaster/AFP/Getty Images)



Nhóm lãnh đạo của nước láng giềng phương Bắc đang công khai thực hiện chính sách bành trướng theo kiểu lấn lướt ăn hiếp, vừa ăn cướp vừa la làng ở những vùng sâu trong lãnh hải của ta. Chúng cho tàu tuần tiễu và tàu giám sát vào trong vùng biển quốc gia của ta, liên tiếp cắt cáp thăm dò dầu khí của 2 tàu Bình Minh 2 và Viking II, chúng xua đuổi bà con ngư dân ta đang đánh cá trong vùng biển của ta, còn tịch thu số cá bà con ta đánh được. Ðã vậy Bắc Kinh còn lu loa là phía Việt Nam vi phạm vùng biển của Trung Quốc, gọi vùng biển ấy là vùng tranh chấp. Chúng tổ chức thao diễn quân sự, diễu võ dương oai trên vùng biển Ðông của Việt Nam, trên vùng biển Tây của Philippines, và ngạo mạn dậm dọa trên mạng thông tin của chúng rằng sẽ dạy cho Việt Nam một bài học, rằng sẽ “đánh cho Việt Nam vỡ mặt.”

Nhân dân Việt Nam luôn kiên cường chống lại mọi hiểm họa ngoại xâm đến từ phương Bắc.

Lịch sử tồn tại và phát triển của Việt Nam từ xa xưa đến ngày nay đã chứng minh sự thật ấy.

Trước hiểm họa ngoại xâm, dân tộc ta luôn cố kết thành một khối chung lòng chung sức hy sinh chiến đấu bảo vệ nền độc lập của đất nước. Chúng ta bao giờ cũng dựa vào sức mình là chính, dùng nội lực dân tộc làm sức mạnh quốc phòng tất thắng.

Trong lĩnh vực đối nội, nhân dân ta yêu cầu đảng Cộng Sản đang giữ trọn quyền lãnh đạo đất nước hãy khẩn thiết đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, mạnh bạo thực hiện cải cách sâu rộng hệ thống cầm quyền, từ độc đoán sang dân chủ, từ hạn chế tự do của công dân sang tôn trọng mọi quyền tự do công dân có ghi trên Hiến Pháp, trả tự do cho mọi công dân dân chủ và yêu nước đang bị cầm tù - hầu hết là những người đi tiên phong trong chống bành trướng phương Bắc - ban hành và thực thi rộng rãi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do phản biện, tự do tôn giáo. Cuộc đổi mới hệ thống theo hướng tự do dân chủ như thế sẽ nhân lên nhiều lần nội lực dân tộc trong cuộc chống trả họa ngoại xâm. Nước Việt Nam ta vươn xa tới phía trước sẽ bỏ hẳn lại phía sau chế độ toàn trị độc đảng, độc đoán của nước Trung Quốc bành trướng và chậm tiến về chế độ chính trị.

Sự ủng hộ quốc tế đối với nước ta trước họa bành trướng phương Bắc là rất cần thiết. Cả thế giới tiến bộ, từ Ðông Nam Á, Ðông Bắc Á, Ấn Ðộ, Úc, Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ, Canada... đều đứng về phía nhân dân ta chống hành động ngạo mạn phi pháp của phía Trung Quốc.

Thái độ rõ ràng, kịp thời của Hoa Kỳ, cường quốc số một của thế giới, trong cuộc khủng hoảng biển Ðông là rất quan trọng. Từ năm ngoái Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã tuyên bố rằng: “Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia về thông thương trong vùng biển Ðông và Thái Bình Dương,” làm cho đại diện Trung Quốc Dương Khiết Trì giận dữ bỏ phòng họp.

Mới đây, cuộc đối thoại Việt-Mỹ lần thứ tư về chính trị, an ninh và quốc phòng đã diễn ra ngày 17 tháng 6, 2011 tại thủ đô Washington với một thông báo chung, cam kết hợp tác nhằm bảo đảm cho một vùng Châu Á-Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, phồn vinh và an ninh. Hai bên đã trao đổi ý kiến về tình hình mới đây ở vùng biển Ðông, cho rằng việc gìn giữ hòa bình, ổn định, an ninh, và tự do hàng hải trong vùng biển Ðông cần được giải quyết qua hợp tác, thương lượng mà không dùng sức mạnh.

Bản thông báo chung chỉ rõ các yêu sách về đảo và lãnh hải phải phù hợp với luật quốc tế hiện hành, trong đó có Luật Biển năm 1982. Hai bên chỉ rõ sự quan trọng của Tuyên bố về quy tắc ứng xử của các bên (Declaration of Conduct) năm 2002 và khẳng định các sự kiện mới xảy ra trong vùng biển Ðông không làm ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định trong vùng và đặc biệt không gây trở ngại cho việc tự do giao thông hàng hải theo đúng luật quốc tế.

Bản thông báo chung kết luận rằng cuộc đối thoại Việt-Mỹ lần thứ tư đã tăng cường và làm sâu sắc hơn tình hữu nghị và sự hợp tác giữa 2 nước. Cuộc đối thoại thứ 5 sẽ diễn ra ở Hà Nội năm 2012. Trong cuộc đối thoại này đại diện phía Việt Nam là Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại Giao Phạm Bình Minh (con của nguyên Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch; ông Thạch từng nhận xét sau cuộc họp Việt-Trung ở Thành Ðô cuối năm 1991 rằng “một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu”).

Trong lúc Bắc Kinh bực tức cho rằng Hoa Kỳ ở xa, thuộc lục địa khác, không được can thiệp gì đến vùng biển của Trung Quốc, thì Hoa Kỳ vẫn khẳng định đây là vùng có lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ. Không những thế, Hoa Kỳ còn cho hàng không mẫu hạm George Washington và một số khu trục hạm mang nhiều tên lửa Tomahawk vào vùng Ðông và Tây Thái Bình Dương. Cùng lúc Hoa Kỳ báo tin một giàn khoan lớn của Hoa Kỳ mang tên Monarch Ocean đang được chuẩn bị để đưa vào biển Ðông.

Cũng không phải ngẫu nhiên mà cuốn sách mới Death by China (Cái chết từ Trung Quốc) của 2 học giả Peter Navarro và Greg Autry được giới thiệu rộng rãi trên toàn nước Mỹ. Cuốn sách phơi bày mặt trái của hiện tượng “Phép lạ Trung Hoa” (Chinese miracle), chỉ rõ Trung Quốc là tai họa cho toàn nhân loại, là tên đế quốc mới thực sự, là tai ương cho chính dân tộc đại Hán, đang nô lệ hóa nhân dân Mông Cổ, Tây Tạng, Tân Cương, đang bóc lột tận xương tủy dân nước mình, đang xuất khẩu hàng xấu, hàng giả, hàng nhái, hàng chứa độc chất ra khắp thế giới, đang bành trướng sang Châu Phi, Nam Mỹ, đang nô dịch hóa Ðông Nam Á...

Cũng không phải ngẫu nhiên mà tờ báo lớn The Diplomat (Nhà Ngoại giao) số ra ngày 16 tháng 6, 2011 có bài “The limits to US-Vietnam ties “ (Những hạn chế trong quan hệ Mỹ-Việt) của nhà bình luận Richard Pearson từng chuyên theo dõi tình hình biển Ðông và mối quan hệ Việt- Trung 20 năm nay. Ông nêu rõ thiện chí của Tổng Thống Barack Obama và Ngoại Trưởng Hillary Clinton đối với nước Việt Nam và nhân dân Việt Nam, nhưng mắc kẹt ở cái chế độ phi dân chủ ở Hà Nội làm cho mối thiện cảm ấy gặp trắc trở, khó khăn, khó ứng xử thuận lợi.

Theo tôi, chỉ khi nào Việt Nam có một chế độ dân chủ thật sự, tôn trọng thật sự nhân quyền của dân mình, khi ấy sự hòa đồng giữa một nước Việt Nam dân chủ với toàn thế giới dân chủ văn minh mới sâu sắc, trọn vẹn. Và chỉ khi ấy Việt Nam mới thực hiện trôi chảy “phép lạ” của mình, trở thành một nước Việt Nam tự do, tự chắp đôi cánh phát triển tốc độ cao, xã hội hài hòa, không còn bất công tràn đầy, thành quả phát triển cao được phân phối công bằng cho toàn xã hội, Việt Nam thoát khỏi hàng ngũ những nước độc đoán, sẽ có vị trí đáng nể trọng và tin cậy trên thế giới.

Hoa Kỳ và cả thế giới dân chủ đang chìa bàn tay bè bạn giữa lúc nước ta, dân ta lâm đại nạn.

Dân ta sẵn sàng chìa 85 triệu bàn tay bè bạn. Nhưng còn các vị trong Bộ Chính Trị nghĩ sao? Các vị đã bàn định xong để mạnh dạn chìa tay ra hay chưa? Các vị hãy suy xét cho sâu cho rộng. Hãy trở về với dân tộc, với nhân dân, để tìm ra cảm hứng chính trị và sức mạnh hành động vì dân vì nước. Hãy lắng nghe tiếng dân mình.

Cơ hội ngàn năm một thuở là đây.

Công hay tội ngàn năm một lượt cũng là đây.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Ngỡ rằng đồ thật hoá đồ chơi!....
Nguyễn Xuân Nghĩa -


Con tầu đồng nát Varyag trước khi thành "tầu sân bay Thi Lang" của Trung Quốc
Một tháng sau khi biểu diễn khả năng cô hồn cao độ với việc uy hiếp Đông hải, Bắc Kinh quay ra hăm he Hoa Kỳ.

Chẳng là cuối tuần qua, sau khi họp với Phụ tá Ngoại trưởng Đặc trách Á châu Thái bình dương của Hoa Kỳ tại Hawaii, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc lên lớp côn đồ: “có những quốc gia đang đùa với lửa” - xin phiên dịch rằng đó là Phi Luật Tân và Việt Nam. Sau đấy, Thứ trưởng họ Trương liếc qua phía Mỹ: “và tôi mong rằng Hoa Kỳ không bị phỏng tay vì chuyện đó”. Ngon!

Đã đành là ngon rồi, vì tuần tới Bắc Kinh sẽ cho hạ thủy “tầu sân bay” đầu tiên của mình. Gọi là chơi nổi để góp mặt với đời trên biển Đông.

Nhưng chưa ai biết là hàng không mẫu hạm này có… nổi không và việc thử nghiệm là gì. Thử máy xem có chạy không, hay là còn thử cho máy bay cất cánh và hạ cánh?

Trong khi chờ đợi thì hãy nghĩ đến truyện… “hồn Trương Ba, da hàng thịt” với màu sắc Trung Hoa. Rất khôi hài ảm đạm!


***

Năm 1985, Liên Xô cho thiết kế một hàng không mẫu hạm, hạng Admiral Kuznetsov.

Năm 1988, chiến hạm đó được khởi công và sau này đặt tên là Varyag. Đến năm 1992 thì mọi việc bỗng ngưng - vì Liên Xô sụp đổ. Chiến hạm có xác mà không hồn: trông thì rõ là hàng không mẫu hạm mà bên trong chưa có hệ thống điện tử!

Khi Liên Xô tan rã, Cộng hòa Liên bang chia của cho các nước Cộng hoà tách khỏi liên bang, chiếc Varyag được gán cho Cộng hoà Ukraine - như một của nợ. Và được Ukraine kéo lên ụ làm thịt bên bờ Hắc hải! Ruột gan tanh bành, không có máy, chẳng có cánh quạt, chân vịt, hay hệ thống điều dụng. Nó trở thành khối thép vô dụng, được cho bán đấu giá năm 1998.

Đấy là lúc các đấng con trời đỏ xuất hiện. Dưới dạng con buôn Hong Kong, của một hãng lữ hành.

Họ nhảy vào cò kè mặc cả và đấu giá rồi chi ra 20 triệu đô la để mua về cái vỏ tầu mà xứ Ukraine cho là đồ phế thải. Chẳng sao, năm đó Thiên triều đang chuẩn bị việc Macao “hồi quy cố quốc”. Cho nên lý do chính thức là kéo chiếc Varyag vô hồn này về làm sòng bạc nổi trên mặt nước! Mà nội một chuyện kéo cái vỏ tầu này qua mấy đại dương và eo biển về Hoa lục cũng mất gần hai năm.

Họ phải thuê một hãng Hoà Lan với thủy thủ đoàn Phi Luật Tân chạy lòng vòng trong Hắc hải qua vịnh Bosphorus rồi xuyên kênh đào Suez không được – không ai cho một con tầu chết đi qua hải lộ hiểm yếu này – nên phải trở qua eo biển Gibraltar, xuống tận mũi Hảo Vọng của Phi Châu mới về đến Châu Á… Một cuộc hành trình lịch sử chỉ kết thúc vào cuối năm 2001, gây tốn kém hơn 30 triệu đô la và rất nhiều giấy mực của báo chí.

Về đến nơi thì chiếc Varyag không ghé Macao mà lên thẳng Liêu Ninh, nằm ụ trong quân cảng Đại Liên.

Nơi đây, chiến hạm Varyag - sản phẩm thuộc diện đồng nát của Liên Xô thời tàn lụi, thuộc diện phế thài của xứ Ukraine thời khủng hoảng – bắt đầu thoát xác. Nó trở thành tàu sân bay đầu tiên của Hải quân Trung Quốc với tên mới là Thi Lang, tên của viên Đô đốc đã “giải phóng” Đài Loan vào thời Mãn Thanh. Mất 10 năm tròn cho việc đỏ da thắm thịt này!

Bây giờ, Trung Quốc có đồ chơi mới, nên hăm Mỹ là coi chừng phỏng tay!


***

Nói về việc thành hình một hàng không mẫu hạm, người ta nhớ trước tiên đến chữ "mẫu hạm".

Một chiến hạm đầu đàn, chung quanh trên dưới còn rất nhiều võ khí quái dị khác để bảo vệ và khai trển sức mạnh. Khi ra khơi thì đó là một đội quân hoàn chỉnh ngoài đại dương. Sau đấy mới là một sân bay ngoài biển, để phóng ra và thu vào các chiến đấu cơ có cánh cố định – không phải cánh xoay như trực thăng.

Một tập hợp như vậy đòi hỏi nhiều điều kiện phối hợp về tổ chức, kỹ thuật, liên lạc, kiểm soát rất phức tạp. Phải mất nhiều thế hệ thiết kế và huấn luyện mới xong.

Cho tới nay, những hình ảnh đầu tiên được tiết lộ về chiếc Thi Lang uy dũng này vẫn cho thấy nhiều của nợ ngổn ngang trên sàn bay. Còn việc máy bay lên xuống ra sao thì chưa ai biết… Dù sao, nếu cứ có động cơ để chạy ra chạy vào được vài cây số thì cũng đã là một thắng lợi vĩ đại.

Ngẫu nhiên sao, năm nay Hoa Kỳ lại kỷ niệm 100 năm ngày hạ thủy hàng không mẫu hạm đầu tiên của mình! Và các hàng không mẫu hạm thời nay của Mỹ đều sử dụng năng lượng siêu hạng: hai chục năm mới phải một lần… xạc bình điện!

Phần mình, sau 90 năm của đảng Cộng sản, từ thời “lập quốc” cách nay một vòng hoa giáp 60 năm, quân đội Trung Quốc chủ yếu là một lực lượng lục quân. Chiến pháp xứ này là lấy lượng làm phẩm, lấy quân số làm ưu thế - để trấn áp bên trong! Lục quân Trung Quốc ngày nay vẫn có chừng một triệu 600 ngàn lính, có trang bị áo quần súng ống đầy đủ. Đông lắm, nuôi không xuể, nhưng vẫn hát khúc quân hành cho vui vì là một đội quân cổ điển với võ khí lỗi thời. Mà vẫn vô dụng, vì khi hữu sự bên trong, xứ này vẫn cần tới công an võ trang, cảnh sát đặc biệt, v.v…

Hơn 700 ngàn nhân mạng chứ không ít.

Năm qua, việc ngân sách “nội an” cũng cao bằng ngân sách quốc phòng cho thấy ưu tiên của lãnh đạo: dẹp loạn bên trong hơn là bành trướng ra ngoài!

Không quân và Hải quân là những quân chủng mới chỉ được Bắc Kinh cho hiện đại hoá từ vài chục năm trở lại. Và hiện đại hóa với võ khí thụ đắc của Liên Xô trên đỉnh cao Xô viết, khi xứ này bắt đầu tan rã hơn hai chục năm trước! Binh đội của hai quân chủng này chưa tới 600 ngàn lính, còn thua lực lượng nội an. Siêu cường đại bá chưa có khả năng “giải phóng” – một định nghĩa khác của chữ “chiếm đóng” - bất cứ xứ nào nằm ngoài lãnh thổ cố hữu của họ. Muốn tái diễn một cuộc chiến tranh Triều Tiên với chiến thuật biển người thì chỉ can tội… sát sinh. Bắc Kinh rất hiểu từ cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991 khi Hoa Kỳ không tập và diệt gọn các sư đoàn ưu binh của Saddam Hussein.

Nhưng sức mạnh nào chỉ có quân số vì còn phải nói đến võ khí và kỹ thuật chiến tranh nữa chứ?

Thưa vâng: ngày nay, hơn 70% võ khí Trung Quốc vẫn lệ thuộc vào đồ nghề cổ lỗ của Nga sản xuất từ thời Xô viết, phần còn lại là học lóm, là ăn cắp và đôi khi bị cấy sinh tử phù khi đi ăn cắp mà không biết! Cho đến nay, giấc mơ đại cường hải dương của xứ này mới chỉ thành hình với hai chiến hạm duy nhất có khả năng viễn duyên và quả nhiên là đã… dám đi tuần tra ngoài khơi Somalia để cùng thế giới tham gia tiễu trừ hải tặc.

Bây giờ lại có Thi Lang!

Chúng ta sẽ rất lầm khi dựa vào Hoa Kỳ để khiêu khích Trung Quốc, như Bắc Kinh ám chỉ. Nhưng Trung Quốc sẽ rất lầm nếu đòi dằn mặt nước Mỹ để thu gọn Đông Nam Á vào trong túi.

Hãy nói về tương quan hai xứ đó: Hoa Kỳ và Trung Quốc có lãnh thổ tương tự, gần 10 triệu cây số vuông. Nhưng, Trung Quốc hơn Mỹ nhờ dân số nên… phải nuôi nhiều hơn Mỹ khoảng một tỷ người trên cùng một diện tích. Chỉ nội khái niệm “phải nuôi” ấy cũng là điều đáng kể. Hoa Kỳ có dân số hơn 300 triệu mà không bao giờ có chữ “nuôi dân”: người dân tự nuôi lấy mình và còn sản xuất dư thừa nông sản lương thực để nuôi xứ khác. Trung Quốc có một tỷ 350 triệu dân trên một diện tích tương đương mà đất khả canh thì hẹp và chưa bằng một phần ba của trung bình toàn cầu. Vặt mũi bỏ mồm là động tác truyền thống.

Làm sao đòi dọa nạt một quốc gia có truyền thống hải dương từ thời lập quốc và nay vẫn là siêu cường quân sự toàn cầu?

Bây giờ, chuyện dẹp êm nội loạn chưa xong, Trung Quốc còn đòi chinh phục thiên hạ! Bắc Kinh chỉ có thể uy hiếp Hà Nội và mua chuộc đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi. Vì sao không kín đáo thi hành việc đó như họ đã từng làm từ hai chục năm nay? Vì sao lại hung hăng dọa nạt và còn muốn cho Hoa Kỳ phỏng tay? Vì ta sắp có tầu sân bay?

Đúng là dịp may hy hữu cho Việt Nam tỉnh ngộ.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy gặp gỡ đồng hương ở Little Saigon WESTMINSTER (NV) - Gần 500 đồng hương Việt Nam cùng đại diện các tổ chức cơ quan hội đoàn trong vùng Orange County và một số khu vực lân cận đã có mặt tại The Rose Center, Westminster, hôm Thứ Bảy, để tham dự buổi gặp gỡ, tâm tình, trò chuyện cùng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, một nhà đấu tranh dân chủ vừa tị nạn chính trị đến Hoa Kỳ hồi tuần qua.
Image
Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy (trái) nhận bằng tưởng lục do TNS Lou Correa tặng, trong buổi gặp gỡ đồng hương tại The Rose Center, Westminster.
(Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Trong lời phát biểu gửi đến những người tham dự, bà Trần Khải Thanh Thủy tỏ ra rất xúc động khi gửi lời cám ơn đến những tổ chức như Ðảng Việt Tân (Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Ðảng), Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, cộng đồng Nam California, tổ chức các nhà báo không biên giới, văn bút quốc tế, bà con cô bác anh chị em, cũng như nước Mỹ “đã không những cứu tôi ra khỏi nhà tù cộng sản,” để “được đặt chân đến bến bờ tự do” mà còn “tiếp tục cưu mang hai mẹ con tôi trong những ngày sắp tới.”

Nhiều tràng pháo tay đã vang lên trước những lời phát biểu của bà Trần Khải Thanh Thủy, “vì chấp nhận dấn thân vào con đường dấu tranh dân chủ cho một chế độ đa nguyên, dân chủ mà những người đi tiên phong như chúng tôi đã bị bắt.”

Bà Thủy nói tiếp: “Một chế độ mà luật pháp trở thành luật rừng thì những nhà bất đồng chính kiến như tôi không còn đất sống. Ðược sự tiếp sức của bà con hải ngoại, tiếp tiền tiếp sức, mà phong trào đấu tranh dân chủ trong nước mới tồn tại và phát triển như hôm nay. Hiện tại số anh em dân chủ bị giam cầm trong tù còn rất nhiều nhưng đảng cộng sản càng nóng lòng bóp chết phong trào thì càng gặp phải sự phản ứng mãnh liệt hơn.”

“Sự hy sinh của cái mới non trẻ không bao giờ là vô ích, ngược lại nó sẽ thổi bùng lên ngọn lửa khát vọng tự do nhân quyền trong xã hội và kích thích mọi người thuộc mọi tầng lớp tiếp tục đứng lên chống lại chế độ độc tài cộng sản, tạo thành một khúc ca bi tráng lớn nhất trong lịch sử chống độc tài cộng sản. Nay tôi được ra khỏi tù, đến bến bờ tự do, tôi nguyện hiến hết sức mình để tiếp tục công cuộc đấu tranh cho một Việt Nam mới dân chủ hạnh phúc giàu mạnh. Rất mọng được bà con ủng hộ,” nhà văn nữ này nói thêm.
Image
Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy (trái) nhận những bó hoa do đồng hương tặng. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Nhiều đồng hương có mặt cho biết họ ủng hộ công việc đấu tranh của bà Trần Khải Thanh Thủy.

Bà Mai Lan, cư dân Westrminster, nói: “Chúng tôi đã theo dõi tin tức và ngưỡng mộ bà Trần Khải Thanh Thủy. Hôm nay tôi muốn đến đây để nghe chính nhân chứng nói về tình hình Việt Nam. Tôi hy vọng là bà sẽ giữ vững lập trường, đừng bị chao đảo, giống như có một bác đã phát biểu rất đúng, chống Cộng nhưng khi qua đây lại bị mua chuộc hết. Tôi hy vọng bà sẽ giữ vững lập trường, tôi rất là mừng.”

Ông Nguyễn Duy Nghêu, thuộc Diễn Ðàn Tự Do Dân Chủ, nói: “Qua những gì tôi theo dõi và được biết thì Trần Khải Thanh Thủy là người đấu tranh thực sự. Bên cạnh có những người phải ở trong nước đấu tranh tiếp tục, thì cũng có những người mà không thể nào ở lại trong nước được nữa, như trường hợp của bà thì chỉ còn cách phải ra nước ngoài thì mới có thể phát huy khả năng viết của mình.”

Ông Long Lê, cư dân Westminster, phát biểu: “Ðến nghe những người Việt Nam được thoát ra nước ngoài được nhờ những chương trình tị nạn chính trị để hiểu được sự thực hôm nay ở Việt Nam như thế nào. Nghe cũng chưa hiểu thấu đáo lắm vì còn nhiều câu chuyện chưa được kể.”

Ông Nguyễn Nhan, ở ngay Little Saigon, chia sẻ: “Tôi đến đây để muốn ủng hộ nhà văn này cũng như những nhà văn nào còn đang ở Việt Nam để họ hăng say viết lên những sự thật, những sự khó khăn vì họ đang sống trong những sự khó khăn áp bức mà họ lo sợ.”

Ông Trần Tuệ, cư dân Los Angeles, kể: “Tôi rất ngưỡng mộ những nhà tranh đấu, nhất là những người ở Việt Nam và bà Trần Khải Thanh Thủy. Tôi muốn đến đây để góp thêm một sự ủng hộ cho họ, dù sao mình cũng cần phải có một thái độ chính trị, mình không làm chính trị nhưng mình phải có lập trường chính trị.”

Một bà lên nói: “Sáu năm nay chưa bao giờ khóc, nhưng ngày nghe chị TKTT được ra tù và được sang Mỹ, tôi đã ôm mặt khóc như là một chuyện gì lớn lao lắm, mừng quá chừng! Tôi chỉ mong chị TKTT dù khổ cấp mấy, mình đã dấn thân rồi thì mình phải chấp nhận. Chị em phụ nữ có mặt hôm nay đều ủng hộ chị.”

Tuy vậy, một số đồng hương vẫn còn “thắc mắc” sự có mặt của bà Thủy tại Hoa Kỳ.

Một bà lên phát biểu: “Chúng cho chị đi để bớt đi một người nhức nhối cho chúng, đồng thời cũng có một sự trao đổi gì đó có lợi cho nước Mỹ, thêm một lý do nữa là khi ra ngoài này thì chị sẽ không còn hoạt động được nữa, tầm hoạt động không còn được nhiều như khi còn ở Việt Nam. Vậy chuyện chị qua đây, chị nghĩ là mình có thể làm hơn những gì chị mong muốn hay không?”
Image
Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy bên những bó hoa. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Bác Sĩ Nguyễn Trọng Việt, một nhà hoạt động chính trị, cho rằng “nỗ lực đấu tranh của mọi người là có thể được tiếp tục đấu tranh, còn chuyện trao đổi là có hay không thì không thể biết vì không phải là người nằm trong Bộ Chính Trị, hay trong Nhà Trắng.”

Trong phần trả lời báo giới, bà Trần Khải Thanh Thủy cũng xác nhận bà là thành viên của Ðảng Việt Tân.

Một đại diện của tuần báo Việt Weekly hỏi: “Xin xác nhận bà có phải là đảng viên đảng Việt Tân hay không?”

“Tôi rất vinh dự trở thành đảng viên Ðảng Việt Tân,” nhà văn Trần Khải Thanh Thủy đáp.

Phóng viên Ðoàn Trọng của nhật báo Việt Herald hỏi: “Khi bà tuyên bố những người giới thiệu bà vào Ðảng Việt Tân mà hiện nay họ còn đang ở Việt Nam thì liệu an ninh tính mạng và sự hoạt động của họ còn được nữa hay không? Và những lời tuyên bố của bà về những danh tánh đó có được sự chấp thuận của Ðảng Việt Tân hay báo chí ở đây không?”

Bà Thủy đáp: “Tôi nghĩ đây là một sự hiểu lầm rất sâu sắc. Tôi chỉ muốn nói chú (Nguyễn) Thanh Giang là người đầu tiên dẫn tôi vào con đường dân chủ. Và đã giới thiệu tôi với anh Nguyễn Hoàng, trong một lần bị bắt ở trại B14.”

Cô Nguyễn Thanh Nhã, đại diện cho nhóm Gạch Nối ở trường đại học UCOCC, hỏi: “Cô có những lời nhắn nhủ gì đến với những giới trẻ sinh viên đang ở nước Mỹ cũng như trên khắp thế giới?”

Bà Thủy nói: “Bản thân tuổi trẻ là một khối thuốc nổ cần phải kích hoạt để cho nó nổ tung lên làm cho tan rã chế độ cộng sản.”

Và bà đề cập đến biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Việt Nam như sau: “Chuyện xuống đường ở Sài Gòn và Hà Nội là dấu hiệu đáng mừng vì họ ý thức được trách nhiệm công dân của mình.”

Buổi gặp gỡ và tâm tình cùng bà Trần Khải Thanh Thủy do Ðảng Việt Tân Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Ðảng (Việt Tân), Ðảng Bộ Nam California, tổ chức.

Ðến tham dự buổi họp mặt, ngoài rất đông đồng hương, các cơ quan truyền thông và các đoàn thể, còn có sự hiện diện của TNS Lou Corea, đại diện của Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez và đại diện của một số dân cử khác.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/t ... ainNVO.htm

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Suy nghĩ nhân một bài mới đăng trên báo Đảng -

Hà Sĩ Phu
Biển Đông cuộn sóng, quân xâm lăng truyền kiếp lại đang táo tợn, dồn dập, thách thức sự tồn vong của đất nước và thách thức nhân phẩm mỗi người Việt Nam chúng ta.

Trong không khí vừa sục sôi sục căm giận vừa lo âu của dân chúng, bài báo Những bước đi có tính toán…, (ký tên Tấn Vũ) xuất hiện trên Báo điện tử của ĐCSVN có thể xem là một bước ngoặt rất mới, rất có ý nghĩa trong quan điểm và thái độ của Đảng đối với sự xâm lấn của Trung quốc và với toàn bộ mối quan hệ Việt-Trung.

NẾU (xin được nhấn mạnh chữ nếu) những lời này là nhận thức và quyết tâm thật sự của Đảng để biến thành hành động trong thời gian tới thì biết đâu đây chẳng là một tín hiệu đáng mừng về một sự chuyển đổi, cho thấy khả năng hồi sinh hiếm thấy của Đảng trong cuộc hồi sinh của Dân tộc, sẽ kết lại thành dinh lũy phòng thủ kiên cường khi Dân tộc đã đứng bên bờ vực.

Tại sao việc nói đúng sự thật và có dũng khí của một bài báo thôi lại đáng quan tâm đặc biệt như thế? Vì đó là báo Đảng, một Đảng mà cách xử sự trước họa xâm lăng từ phương Bắc lâu nay cứ mềm yếu triền miên, bưng bít sự thật, tôn kẻ xâm lăng làm láng giềng tốt, đồng thời đã có những bằng chứng về sự không song hành, không đồng bộ giữa lợi ích của Đảng và lợi ích Dân tộc. Tình hình đã đến nước khẩn trương như hiện nay thì thiết tưởng không gì tốt hơn là phải nói thẳng, nói thật với nhau mong góp phần làm sáng tỏ nhận thức chung trước những thời cơ và hiểm họa của đất nước.

1/ Sự khiếp nhược trường kỳ gây đau thương vĩnh viễn cho Dân tộc

Tình hình xã hội lâu nay bị dồn nén đáng ngai. Anh láng giềng phương Bắc to xác nhưng tham lam và xấu thói bao năm nay cứ đeo cái mặt nạ “láng giềng hữu nghị” để xục xạo khắp đất nước ta, cài cắm khắp nơi, bủa vây tứ phía, xiết gọng kìm toàn diện…, nay đã đến lúc hắn chuyển thế trận, vứt phăng cái mặt nạ thân yêu giả tạo ấy cho đỡ vướng, để tiện việc hành xử một cách côn đồ cấp tập.

Dân đã nhìn thấy nguy cơ từ lâu và nóng lòng chờ đợi, trong khi những người cầm quyền thì đi đâu cũng đội lên đầu 16 chữ vàng , hớn hở tuyên truyền về hữu nghị và thắng lợi, nhộn nhịp phát triển nhiều hợp đồng, gia tăng nhiều mối quan hệ rất nguy hiểm, có ai lên tiếng báo động thì bảo “ an ninh vẫn ổn định, chẳng có gì mới”, ai biểu tình giữ nước thì đuổi học, cho Công an bắt bớ, nhốt vào nhà tù…Quân đội không bảo vệ được ngư dân nghèo đánh cá trên lãnh hải của mình, lại bảo quân đội không can thiệp vào chuyện dân sự , quân đội trốn ở đâu khi tàu nước ngoài ngang nhiên xâm nhập hải phận nước mình để đánh phá, cướp bóc? Tất cả sự đầu hàng khiếp nhược ấy được núp dưới chiêu bài “chiến thuật mềm”, kiên trì đàm phán song phương, ngoại giao hòa bình, giữ tình hữu nghị làm vốn quý (!)...

Vẫn biết cách ứng xử ở đời phải có cương có nhu, không quên ta là nước nhỏ. Nhưng điều khôn ngoan ấy không đồng nghĩa chút nào với sự khiếp nhược , đầu hàng.

Ông cha ta, thuở xưa nước ta còn nhỏ bé và nghèo lắm, nhưng đối với anh “kẻ thù truyền thống” phương Bắc ta đã biết phối hợp cương-nhu rất đúng quy luật. Bình thường thì xã giao hữu nghị, song cứ “kính nhi viễn chi”, chứ không được chui hẳn vào vòng tay của họ. Nhưng khi họ giở thói xâm lăng thì ta phải đổi ngay cách ứng xử, đi thẳng từ cấp độ 1 lên cấp độ 3 của sự kiên cường:

- cấp độ 1: dám đánh
- cấp độ 2: đánh thắng
- cấp độ 3 : đánh thắng đến mức quân thù phải khiếp vía, phải trọng ta và phải sợ không dám bén mảng nữa. Ta chỉ trở lại giao hảo (đúng với tầm một nước nhỏ) sau khi đã đánh tan ý đồ xâm lược.

Nay xem ra sự ứng xử vừa qua của nhà nước ta (hãy nói từ sau cuộc chiến 1979 trở lại đây) thì thấy độ “kiên cường” luôn nằm ở dưới “cấp độ 1”, nên kết quả thật đáng buồn, đã không dám thắng thì không có chiến thắng đã đành, lại cứ thua từng phần . Kẻ địch tât nhiên chẳng những không sợ, không trọng mà còn khinh ta hèn, họ càng nuôi chí xâm lấn, mỗi ngày một táo tợn hơn. Kinh nghiệm của ông cha bị một lớp con cháu thời Cộng sản vận hành ngược lại nên kết quả cũng lộn ngược.

Còn hèn và nhục nào hơn khi báo chí “lề phải” không dám đưa tin biểu tình một cách xứng đáng mà còn bôi nhọ rằng đây là sự “tụ tập” chỉ đi ngang qua cơ quan của Trung quốc (như vô tình hoặc vì sợ sệt), và khi được giải thích thì đã tự giải tán? Người đưa tin như thế thật không xứng đáng là một công dân nước Việt chứ nói gì danh hiệu cao quý của một nhà báo? Còn hèn và nhục nào hơn mang danh Hiệu trưởng một trường mà cấm và đuổi học sinh viên đi biểu thị lòng yêu nước? Họ định “giáo dục” cho thanh niên điều gì đây, định dạy môn “cừu học” thay cho môn “công dân giáo dục” chăng? Tấm hình chụp em bé biểu tình chống Trung quốc ngày 12-6-2011 chẳng biết có gây cho các nhà giáo dục ấy một chút cảm xúc?

Sự nhu nhược quá mức chẳng những làm mình bị thua thiệt biên cương, tài nguyên, chẳng những làm nhục nhân dân, mà điều nguy hiểm hơn cả là sự khiếp nhược của nạn nhân đã nuôi dưỡng ý chí xâm lược của đối phương ngày một lớn hơn.

Chịu thua một lần là trút thêm khó khăn cho lần sau, và cứ thế ngày càng thêm khó. Khi sự leo thang lên đến nấc cuối cùng, thì mọi sự thương lượng đều đã muộn. Nếu để họ dồn đến đường cùng chẳng còn gì mà thương lượng, thì còn cách gì ngoài cách làm chiến tranh để tự vệ? Khi ấy kẻ hèn sẽ bị giết chết nhưng chết trong tư thế là kẻ tội phạm gây chiến. Hiện nay một mặt họ vu cáo “Việt nam xâm lược”, một mặt khiêu khích ở Biển Đông chính là cái bẫy như vậy, vừa thôn tính ta vừa đổ được tiếng ác cho ta. Bài báo nói trên của tác giả Tấn Vũ trên trang mạng ĐCSVN đã vạch rõ được mưu mẹo rất hiểm ác này. Thế là đã tỉnh. Tóm lại chính sự nhu nhược cũng góp phần vào nguy cơ nổ ra chiến tranh. Muốn ngăn chiến tranh không gì bằng phải cứng rắn ngay từ đầu.

Trung quốc đang tiến tiến hành một chế độ Thực dân kiểu mới cực kỳ hiểm độc. Chiến thuật của họ là cứ lao thẳng vào nơi ta hoàn toàn có chủ quyền (cả trên đất liền và lãnh hải), thế là biến nơi không tranh chấp thành nơi có tranh chấp. Có tranh chấp thì thương lượng song phương. Song phương thì họ dùng sức mạnh ép chia đôi vùng tranh chấp ấy, hoặc cùng khai thác. Cưa đôi 50-50 là công bằng nhá ! Cứ thế vết dầu loang sẽ dần dần biến tất cả biển trời của ta thành biển trời của họ.

Ta là nước yếu hơn, nhưng ta có lý lẽ, hợp công pháp quốc tế, nên phải tận dụng mọi thuận lợi để đương đầu với kẻ khổng lồ tham lam bất chấp. Trong lĩnh vực này Bộ Quốc phòng đã có những chủ trương rất khó hiểu. Dứt khoát không để mình bị đơn độc trước anh khổng lồ, nên cần những cuộc đàm phán đa phương và quốc tế hóa (chỉ sợ ai đó đã bán cho họ thật rồi thì về pháp lý khó mà đảo ngược).

Nước nhỏ muốn chống sự chèn ép của nước lớn buộc phải liên kết, nhất là liên kết với nước lớn khác. Tuyên bố “không liên kết với nước này để chống nước khác” thì nghe có vẻ hợp đạo lý nhưng là thứ đạo lý tự diệt, khác nào dâng đất nước cho kẻ thù. Liên kết để phòng thủ, để tự vệ chứ không tấn công ai, đó là quyền của mỗi dân tộc. Nếu dùng thứ đạo lý ngụy biện tự diệt ấy để khước từ liên kết với Hoa Kỳ thì sao lại chấp nhận “hợp tác chiến lược” với Trung Quốc, tức hợp tác chiến lược với chính kẻ xâm lược? Chính vì có mối liên kết chiến lược với Trung quốc nên Trung Quốc mới tuyên bố “Ai xâm phạm Việt nam cũng tức là xâm phạm Trung quốc, Trung quốc có nghĩa vụ can thiệp” ! Sao Đảng ta lại gửi trứng cho Ác như thế? Nếu lời tuyên bố kia là của Hoa Kỳ từ một hiệp ước phòng thủ thì Trung Quốc dễ gì dám gây hấn như hiện nay?

Đâu có phải cứ liên kết là nghĩa là hiếu chiến, là không yêu hòa bình, trái lại có liên kết đúng mới đề phòng được chiến tranh. Nếu có sự hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ trong lĩnh vực kinh tế-kỹ thuật-văn hóa-du lịch quanh vùng Cam Ranh thôi thì sẽ chặn được bàn tay gây hấn của Trung quốc mà chưa cần động đến súng đạn. Như vậy mới là yêu hòa bình và yêu nước, và giữ gìn được mọi tình hữu nghị nữa. Tại sao cứ tìm chính kẻ xâm lược để trao thân gửi phận? Đã tự gài nước mình vào thế kẹt đó thì có tuyên bố mạnh mẽ nghìn lần cũng vứt đi. Đến đây tôi thấy ý kiến của Cù Huy Hà Vũ mới là cứu nước và chính xác : liên kết với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại ! Chẳng trách Hà Vũ bị bắt ngay !

Nói ta phải tự kiềm chế để khỏi mắc mưu khiêu khích thì chỉ đúng một phần, còn như nói thế để bó tay thì không chấp nhận được. Họ dùng những phương tiện bán vũ trang hoặc vũ trang trá hình như “hải giám, ngư chính…”, những hình thức dân sự trá hình để gây thiệt hại về người và của cho ta, thì ta chưa thể chính thức dùng hải quân can thiệp là đúng , nhưng chẳng lẽ ta là kẻ bị hại lại không nghĩ được hình thức đối phó nào hữu hiệu tương xứng hay sao? Khi đối chọi với những kẻ thù ngắn hạn như Pháp và Mỹ những tố chất biến hóa tài tình ấy trong ta có thừa, nay trước “kẻ thù lịch sử” Trung quốc, vừa là đồng chí vừa là anh em, thì những ưu điểm ấy biến đi đâu hết cả, để quanh đi quẩn lại cứ bắt bà Nguyễn Phương Nga quay mãi một điệu hát cũ? (câu trả lời xin xem phần sau) . Khi “nắn gân” thì hai bên phải nắn gân lẫn nhau, ăn thua ở sức mạnh tinh thần hay sự bạc nhược chứ đâu nhất thiết phải dùng súng đạn?

Thực tiễn đã quá đủ để nhà giáo Hà Văn Thịnh kết luận : hãy vứt vào sọt rác cái tình “hữu nghị” vẫn rêu rao với 16 chữ vàng. Tôi xin thêm: Và vứt luôn vào sọt rác cả cái “chiến lược mềm” đầu hàng, khiếp nhược mà một thế lực trong Đảng lâu nay vẫn viện ra để trấn áp mọi tiếng nói yêu nước tỉnh táo trong và ngoài Đảng!.

Đối mặt với chủ nghĩa bành trướng bá quyền ngông cuồng, kiên định và ác hiểm của Trung quốc thì đối sách gọi là “khôn ngoan”, đặt hữu nghị lên trên, mềm dẻo trường kỳ… giữa hai đảng Cộng sản, chưa biết vô tình hay hữu ý, chỉ tiếp tay cho kẻ xâm lược, dẫn đến nỗi nhục nghìn đời, đau thương vĩnh viễn cho Dân tộc.

2/ Đồng hành cùng lợi ích Dân tộc

2a/ Mấy lời xin thưa trước:

- Chủ nghĩa bành trướng hung hãn và hiểm độc ở tầm thế giới, như bài báo của Tấn Vũ vừa mạnh dạn phân tích, đã đặt đất nước Việt nam ta trước một thử thách muôn ngàn khó khăn. Muốn thoát khỏi mối hiểm họa có thể làm tiêu tán Dân tộc thì yếu tố tiên quyết không gì thay thế được là SỰ CỐ KẾT TOÀN DÂN TỘC THÀNH MỘT KHỐI ĐOÀN KẾT VỮNG CHẮC , giữa những khối quần chúng đa dạng trong Dân tộc với bộ máy đang cầm quyền đất nước mà thực chất là đảng Cộng sản.

- Muốn có sự đồng thuận vững bền để cùng lo một việc quá lớn thì LỢI ÍCH CỦA ĐẢNG PHẢI HOÀN TOÀN NẰM TRONG LỢI ÍCH DÂN TỘC nếu Đảng còn muốn tồn tại, hơn thế tồn tại như một lực lượng lãnh đạo.

- Yếu tố quyết định tiếp theo của sự đoàn kết là phải thành thực để TIN CẬY nhau, không thể nghĩ một đằng nói một nẻo, rồi nói một đằng lại làm một nẻo khác nữa.

- Vì hiểu nhu cầu sinh tử của một khối đoàn kết là phải thật thà trung thực nên tôi xin mở lòng mình bằng sự nói thật, mặc dù tôi biết rõ mình đang sống trong một môi trường mà sự NÓI THẬT hoặc là điều cấm kỵ, điều liều mạng, điều ảo tưởng, điều điên rồ mất trí, hoặc là một kẻ bất thường đáng nghi, một kẻ ngớ ngẩn đáng chê cười !

Khó mà tìm ra một người nói thật, nhất là nói thật chính trị, nói nửa câu cũng phải uốn lưỡi,lựa lời. Những sự thật tôi viết ra đây có điều đã thành nhận thức chung, có điều mới là lượm lặt chưa thể sàng lọc kỹ càng, chỉ như một gợi ý tham khảo, nhưng tất cả đều là sự thật.

Mỗi người đọc tôi đây coi tôi là loại gì tùy ý, chỉ một câu tôi tự nhủ lòng: Sống mà không còn nói thật nữa thì sống làm gì? Cứ nói quanh co suốt một đời thì khổ lắm, Một dân tộc không thể cố kết nhau bằng sự nói thật thì dù đông đến trăm triệu người cũng chỉ là một đám hỗn độn, rời rạc. lừa đảo lẫn nhau, làm mồi cho chủ nghĩa lưu manh cơ hội hủy diệt. Cú nói thật đi, vượt qua cơn vật vã nói thật nhất định sẽ đến một thế giới tốt đẹp hơn.

2b/ Về lòng tin hiện nay :

- Dân tin Đảng không? Khi chưa cầm quyền, Đảng ở một phia với dân, dân tin lắm, và yêu nữa. Từ khi nắm quyền, người có quyền cứ triển khai các mục tiêu “xây dựng Chủ nghĩa Xã hội” đến đâu là khổ dân đến đấy. Con SÂU tham nhũng nào càng bự thì càng ca ngợi Mác Lê, càng nói đạo đức Bác Hồ. Đảng viên bên dưới còn nhiều người tốt nhưng càng lên cao sự tốt càng giảm đi. Nhà văn Phạm Đình Trọng cứ mở Tivi nhìn thấy ông Tổng Bí thư hoa chân múa tay là phải nhìn thấy “nỗi ngán ngẩm ngày thường” , dân chúng cứ nhìn thấy mặt quý vị lãnh đạo là muốn tắt Tivi. Vậy là có tình trạng Dân rất ngán Đảng.

- Đảng tin Dân không? Người dân giải thích vì sao Đảng bị Trung quốc o ép mà khi Dân đứng về phía Đảng biểu tình chống Trung quốc thì Đảng cho Công an bắt bớ, chính vì Đảng đề phòng Dân hơn đề phòng kẻ thù xâm lược, để cho chúng biểu tình lỡ chúng chống Đảng thì sao? Giữa hai cái xấu Đảng phải chọn cái ít xấu hơn là bá quyền Trung quốc.

- Xã hội hiện nay đang chịu 2 áp lực lớn : Trong nước thì kinh tế suy thoái, giá cả leo thang, tài chính kiệt quệ. Ngoài Biển Đông thì Bành trướng o ép. Người ta lo sợ khả năng Đảng sẽ bán bớt Biển Đông để lấy tiền vực kinh tế trong nước, thế là “lấy khó khăn giải quyết khó khăn” , phải đề phòng bọn bán nước dám tán tận lương tâm thế lắm !

- Trước cảnh tượng hàng ngàn dân chúng vược qua nỗi sợ Công an để biểu thị lòng yêu nước chống quân bành trướng, có người thì hồ hởi, mong cho số người tham gia đông hơn nữa cho bọn bành trướng biết lòng dân Việt nam. Nhưng có người thũng thẵng đưa lời can: Đông vừa vừa thế thôi, đông quá Đảng sợ Dân chủ, sợ bạo loạn, sợ mất chủ nghĩa Xã hội, Đảng lại mời các đồng chí Trung quốc sang dẹp loạn thì xe tăng nó nghiền dân mình ra bã! Nghe mà đau lòng.

Khi sự nghi kỵ đến mức như thế thì việc xây dựng một khối đoàn kết “vững như thép gang” đủ sức chống xâm lăng từ nước khổng lồ quả thực không đơn giản. Nhưng tôi dám nói hết những sự thật này vì tôi không tuyệt vọng trước những tâm trạng ấy, xin có lời bàn ở cuối bài.

2c/ Những liên kết do lợi ích

Tại sao Bành trướng Trung quốc xâm lấn đất nước mình mà đảng CSVN cứ phải bám lấy Trung quốc? TS Nguyễn Thanh Giang thì giải đáp bằng cả một một bài viết dài giải thích :vì theo Tàu tuy mất nước nhưng còn hơn theo Mỹ thì mất ghế ! Ghế quan trọng vì gắn với lợi quyền.

Dân quán nước thì chẳng cần lý luận chỉ đọc Bút Tre:

Từ hồi sụp đổ Đông Âu
Đảng Ta không bám Đảng Tàu thì…toi !

Đề tài cái ghế Chuyên chính Mác Lê gắn với lợi quyền thống trị thế nào thì đã quá phong phú, đầy những dẫn liệu từ thâm cung bí sử, chẳng cần nói lại ở đây.

Tôi chỉ xin nói thêm một điều là nạn NGOẠI XÂM (bành trướng Trung quốc) và NỘI XÂM (đàn SÂU tham nhũng, độc tài, cửa quyền, áp bức dân chúng) ở nước ta vốn cùng một nguyên nhân phát sinh.

Ảo tưởng Mác-Lê ở quy mô một nước là “chủ nghĩa tập thể”, ở quy mô quốc tế thì sinh ra “thế giới đại đồng” , tất thẩy cứ muốn tập trung vào một khối lớn để tự quản lý lẫn nhau , và tin như thế là chẳng còn kẻ thống trị nữa, quyền lực sẽ tự tiêu vong.

Nhưng tập thể hóa mà không có cơ chế Dân chủ và Pháp trị thì kẻ cầm đầu là Đảng của vùng ấy sẽ tự tung tự tác, lạm quyền mà sinh ra “một bầy SÂU nhỏ SÂU to” , rồi thành kẻ những NỘI XÂM chiếm mất quyền làm chủ của dân, dân có nước mà cũng như mất nước.

Ở quy mô “quốc tế đại đồng” mà coi nhẹ biên giới quốc gia (trong gia đình đại đồng Xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn gọi Anh cả Liên xô và Chị hiền Trung quốc), thì nước lớn sẽ nuốt nước bé sinh ra nạn bá quyền Cộng sản như Liên xô, Trung quốc. Việt nam bị chui tụt vào vòng tay của bà “chị hiền Trung quốc” chính vì bị mê hoặc bởi cái ảo tưởng đại đồng phi quốc gia ấy, nay đã ngập sâu từ mấy chục năm, “chị hiền” tham lam đâu có chịu nhả "thằng em" ra.

Ai cũng biết một câu tuyên ngôn cơ bản nhất của đảng Cộng sản là: Ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng không có lợi ích gì khác ! Và quả thực đã có thời kỳ lý tưởng, có những nhân vật lý tưởng đã trung thành với đạo đức ấy, nhưng suốt dặm đường dài mấy ai thoát khỏi sự nhào nặn của con quái vật Lợi Quyền?

Ngày nay lực lượng Công An thì nêu khẩu hiệu “Chỉ biết còn Đảng còn mình” !. Lực lượng Quân đội thì trước hết phải trung với Đảng rồi mới đến Dân, coi Quốc hội trước hết của Đảng rồi mới “cũng là của Dân” !. Chỉ chừng ấy thôi đủ minh họa cho độ chênh giữa giữa dòng ưu tiên Lợi ích của Đảng và dòng ưu tiên Lợi ích của Dân. Dân tộc là thể ổn định và trường tồn, lợi ích Dân tộc là mặc nhiên khách quan. Đáng lẽ lợi ích của Đảng phải theo đó mà phù hợp, nếu có phù hợp cũng ở vị trí thứ hai, phát sinh. Nhưng cả hai lực lượng vũ trang đều đưa yếu tố thứ hai thành thứ nhất, xép lợi ích Dân tộc thành yếu tố thứ hai phải thích nghi theo ! Chừng nào lợi ích của Đảng còn xếp lên trên thì không bao giờ có khối đoàn kết dân tộc chân chính, nếu có cũng chỉ là khiên cưỡng, áp đặt, buông sự áp đặt ra là vỡ. Chính vì thế Đảng luôn tự hào tuyên bố về khối đoàn kết do Đảng lãnh đạo mà thực chất trong lòng vẫn sợ , vẫn không dám tin vào lời tuyên bố bố ấy của mình, cứ phải nuôi một bộ máy khổng lồ để giám sát dân.

Ảo tưởng "đại đồng" nơi quốc tế hay “tập thể hóa” nơi quốc nội của Mác-Lê đều là một cơ chế phi dân chủ, à uôm, phi luật pháp, là cái ổ phát sinh nạn độc tài và tham nhũng ở những cấp độ khác nhau. Muốn giải phóng nhân dân khỏi độc tài quốc nội hay giải phóng nước Cộng sản nhỏ Việt Nam ra khỏi bá quyền Cộng sản Trung quốc đều cần dùng đến DÂN CHỦ và PHÁP TRỊ (cả luật quốc tế) mới "giải nô" được. Riêng Trung quốc gốc gác đã có máu bá quyền Đại Hán, sau lại được sự tiếp tay của tư tưởng bá quyền Cộng sản nên thành bọn bá quyền bình phương, nó đang bành trướng nhanh như thổi, trở thành hiểm họa cho cả thế giới.

Bầy SÂU trong nước và bá quyền Cộng sản Trung hoa chính là chị em sinh đôi, cùng một mẹ đẻ ra, mang cùng dòng máu gia trưởng Mác xít phi dân chủ và duy lợi, gắn kết với nhau cũng là tự nhiên. Chỉ cần khảo sát mấy năm gần đây, những hiện tượng cho thấy Lợi ích của Đảng không phù hợp với Lợi ích Dân tộc cũng không ít. Tuy vậy những con SÂU nào chưa nguội hẳn dòng máu Dân tộc thì máu của nó còn là máu pha, vẫn còn cơ hội tìm về lợi ích Dân tộc, nhất là có lúc nó nhận ra có bám theo “chị hiền” thì cũng cam phận tôi đòi vong bản.

Trong hai đợt biểu tình chống Trung quốc xâm lược năm 2007 và 2011, những người có tư tưởng dân chủ đều mừng vì nhân dân đã thức tỉnh trước nguy cơ bị xâm lăng và thức tỉnh nhận ra vai trò công dân phải làm chủ đất nước của mình, các anh em đó coi cuộc biểu tình là sự hồi sinh của dân tộc sau bao năm im ắng, chìm đắm. Họ tiếc rằng cơ hội ấy không phát triển tiếp được để đẩy mạnh những tiến bộ xã hội. Nhưng lực lượng “chỉ biết còn Đảng còn mình” lại coi các cuộc biểu tình ấy là điều xấu cần trấn áp, và họ mừng là đã trấn áp được để nó không phát triển ra. Cùng một sự việc nhưng người của Dân thì gọi nó là cơ hội và tiếc rằng chưa phát triển, người của Đảng thì coi nó là tiêu cực và mừng rằng đã dẹp được yên. Vậy “cơ hội vàng” của bên này lại chính là “thảm họa đen” của bên kia và ngược lại. Ước vọng ngược nhau bởi quyền lợi trái ngược nhau. Nếu còn như vậy thì không thể có những thời cơ hay thảm họa chung cho cả Đảng và cho Dân tộc. Hai dòng lợi ích trái chiều nhau làm sao có thể tạo nên khối đoàn kết để chống xâm lăng. Sự bất hòa ấy chính là thời cơ vàng cho kẻ xâm lược.
Xem như vậy đủ thấy bức tranh liên kết lợi quyền còn nhiều dằn vặt vô cùng phức tạp.

d/ Mấy lời tóm lại

Chủ đề mà tác giả Tấn Vũ qua bài Những bước đi có tính toán…, đã gợi cho tôi dòng suy nghĩ miên man về số phận dân tộc mình, trước hiểm họa của mưu đồ bá quyền Cộng sản-Đại Hán quá ư tàn bạo và nham hiểm, mà nguy thay, họ đã đi được một bước khá dài.

Làm gì đây để cứu Dân tộc ra khỏi nguy cơ? Muốn làm gì trước hết cũng phải tìm sức mạnh ở khối đoàn kết toàn dân tộc. Đảng thì bảo khối đoàn kết ấy luôn luôn có rồi, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng theo tôi một khối đoàn kết vững chắc, đồng tâm, đủ sức đương đầu với hiểm họa hiện nay chưa có. Chẳng những chưa có mà muốn hình thành được cũng còn muôn vàn khó khăn.

- Làm sao đặt lợi ích của Đảng nằm dưới và hoàn toàn phù hợp với lợi ích Dân tộc?

- Làm sao để ngày càng nhiều người biết thành tâm và dũng cảm nói sự thật, sống với sự thật?

- Làm sao toàn dân biết thức tỉnh nhìn nhận đúng nguy cơ và sức mạnh của Dân tộc mình?

- Làm sao biết tạm gác lại mọi khác biệt để tập trung đối phó với lực lượng ngoại bang xâm lược?

Chưa thể một lúc giải quyết hết mọi nguyên nhân tận gốc. Nhiều việc còn phải gỡ dần. Tự nhiên tôi thấy hai chữ”đồng bào” thật quá thiêng liêng, người trong một nước…

Để đất nước lần này rơi vào tay kẻ Bành trướng phương Bắc thì mọi việc đánh dấu chấm hết, không chỉ những chiến công gần đây mà những trang sử vàng chống Bắc thuộc suốt 4000 năm cũng đổ xuống sông xuống bể , những Hưng Đạo Vương, Nguyễn Huệ… sẽ khóc giống nòi, dân tộc này sẽ mất hết quyền tự chủ, “mỗi việc mỗi lời” cũng để cho người ta “dắt tựa trâu bò”!

Nạn Bắc thuộc mới do bá quyền Đại Hán và bá quyền Cộng sản chập lại thì muôn đời không thoát khỏi.

Lời cuối tôi khẩn thiết đề nghị các cấp chính quyền hãy trả lời sự “nắn gân” dân tộc anh hùng chúng ta bằng sự biểu dương truyền thống đoàn kết giữ nước, để khỏi làm nhục cha ông chúng ta. Ít nhất là tiếng nói xứng đáng của báo chí, là sự bình đẳng xứng đáng của quý vị mỗi khi làm việc với đối tác Bắc phương, là sự dừng ngay việc xâm lấn kinh tế, văn hóa, dân cư…của họ đang triển khai trên khắp đất nước, và một sự trả lời rất có ý nghĩa là thả ngay, ít nhất 2 người : Cù Huy Hà Vũ và Điếu Cày mà tinh thần yêu nước chống xâm lược của họ đã thành tiêu biểu. Nếu được trả tự do trong tình thế này tin chắc họ hiểu ý nghĩa thiêng liêng của nghĩa cử , và biết phải làm gì để đáp ứng xứng đáng lòng yêu nước, bảo vệ đất nước mà mọi người mong đợi.

Bài viết của Tấn Vũ trên báo Đảng, cùng với những phát biểu mới mẻ gấn đây của ông Lê Đức Anh, ông Nguyễn Tấn dũng…về tinh thần chống xâm lấn , giữ vững chủ quyền, bảo vệ đất nước liệu có thể báo hiệu một bước chuyển gì chăng?

***

Có thể tôi đã mở lòng ra như một kẻ vô duyên, hay như “gái góa lo việc triều đình”.

Nhưng từ đêm nay tôi không còn xấu hổ với dòng máu đang chạy trong huyết quản tôi, không còn phải cúi mặt mỗi khi nghĩ đến những thế hệ sẽ ra đời sau tôi mấy chục năm, mà số phận họ thế nào tôi chưa thể hình dung được.

Chỉ biết, xin các bạn hãy cùng tôi cầu chúc cho những thế hệ Việt hậu sinh ấy được muôn ngàn lần tự do và hạnh phúc.

Đà Lạt 14/6/2011
Hà Sĩ Phu

Post Reply