Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Mỹ tiết lộ việc nghiên cứu vũ khí kinh hoàng hơn bom nguyên tử (?)
Vệ tinh nghiên cứu phản vật chất.
Năm 1990, tại căn cứ không quân Glyn, Mỹ, Tiến sĩ Kenis Edward và các cộng sự trong nhóm nghiên cứu phát triển "cải cách vũ khí", Mỹ bắt đầu thực hiện công việc: Nghiên cứu vũ khí phản vật chất (VKPVC). Sau gần 20 năm tìm tòi, gần đây khi Edward tiết lộ loại vũ khí mới này có uy lực vượt xa bom nguyên tử - vài gram sẽ có thể hủy diệt trái đất, khiến người ta kinh ngạc và lo lắng.
Ba đại "Bí mật của thế kỷ"
Đầu năm 2009, trong cuộc họp với các quan chức cao cấp quân sự Lầu Năm Góc, giới thiệu về tiến triển nghiên cứu phát triển VKPVC, Edward nói: "Ba đại bí mật thế kỷ" đã kích thích những nghiên cứu của tôi".
Edward cho biết, "bí mật thế kỷ" đầu tiên và nổi tiếng nhất là vụ nổ Tungus, xảy ra sáng sớm ngày 30/6/1908, trong rừng rậm vùng Tungus, Siberia, Nga. Đây là một vụ nổ lớn chưa có tiền lệ trong lịch sử. Uy lực của nó tương đương với 1.000 quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima, Nhật Bản đồng thời nổ, khiến mọi vật và sự sống trong vùng nổ vài trăm kilômét vuông bị hủy diệt. Cho đến nay vẫn chưa ai giải thích được nguyên nhân của vụ nổ này.
Vụ thứ hai của "bí mật thế kỷ" xảy ra ngày 22/9/1979. Hôm đó, vệ tinh Mỹ đã chụp được ảnh một vụ "nổ hạt nhân" cực mạnh xảy ra ở bờ biển Tây Phi. Thời kỳ này chỉ có vài nước như Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp, Trung Quốc... có vũ khí hạt nhân, nguyên nhân nổ hạt nhân ở Tây Phi cho đến nay vẫn không rõ.
Lần thứ 3 "bí mật thế kỷ" xảy ra lúc 22h ngày 29/4/1984. Lúc đó một số máy bay của Nhật Bản bay đến bầu trời Alaska - Mỹ, Phó cơ trưởng bỗng nhiên phát hiện phía trước có một "đụn mây hình nấm" rất nhanh khuếch tán ra xung quanh... Cơ trưởng của 3 chiếc máy bay khác trên cùng đường bay cũng nhìn thấy hiện tượng lạ này. Nhưng sau khi cả 4 chiếc máy bay này hạ cánh, các nhân viên trên máy bay và trên thân máy bay đều được kiểm tra, đã không phát hiện thấy bất kỳ dấu tích nhiễm phóng xạ nào.
Mãi đến năm 1986, sau khi giới khoa học có những nghiên cứu đột phá về phản vật chất, mới có người lên tiếng: Ba vụ nổ trên có thể là kết quả của các cuộc thử nghiệm "điều khiển phát triển phản vật chất".
Edward sinh năm 1960, công dân Mỹ. Năm 1990, tốt nghiệp ngành vật lý tại Viện Công nghệ Massa, Mỹ, rồi nhận bằng tiến sĩ, sau đó đến làm việc tại Cơ sở Nghiên cứu máy gia tốc quốc gia Feymi, Mỹ. Tại đây, Edward bắt đầu đi sâu nghiên cứu lý luận phản vật chất.
Năm 2000, Edward được giao phụ trách nhóm nghiên cứu "cải cách vũ khí", bắt đầu chuyên sâu nghiên cứu cụ thể VKPVC. Edward cho biết: "Chúng ta đều biết, vật thể trong tự nhiên đều hợp thành từ proton, nơtron và điện tử, nhưng tất cả những hạt vi mô đều có phản hạt của chính nó. Chính uy lực sản sinh ra của những phản vật chất (phản hạt) này đã được bộc lộ qua “3 đại bí mật thế kỷ".
Ngày 24/3/2004, trong Hội thảo Những khái niệm tiên tiến do Cục Hàng không vũ trụ Mỹ tổ chức, Edward tới dự và phát biểu những lời tỏ ra bi quan: "Tuy các nước đã đầu tư nhân lực, vật lực to lớn, nhưng việc nghiên cứu phản vật chất vẫn tiến triển chậm chạp, nguyên nhân là vì không có cách nào sử dụng máy gia tốc hạt để sản xuất ra đủ lượng phản vật chất. Hơn nữa, để sản xuất ra 1 phần tỉ gram phản vật chất yêu cầu tiêu tốn vài tỉ USD! Ngoài ra, hoạt động của điện tử dương rất khó khống chế, rất khó lưu giữ chúng trong một dụng cụ đặc biệt; điều đó có nghĩa là, nó không có giá trị quân sự"!
Từ sau cuộc họp đó, người ta hầu như không thấy Edward và nhóm cộng sự không xuất hiện nữa. Có lúc người ta cho rằng, có thể Edward thấy khó nên đã sớm rút lui?
Kinh hoàng hơn bom nguyên tử?
Theo tiết lộ, tháng 8/2008, Edward xuất hiện tại Lầu Năm Góc, báo cáo trước các quan chức cao cấp quân đội Mỹ về thành quả tiến triển nghiên cứu mới nhất của ông ta về VKPVC.
"Trên nghiên cứu VKPVC của chúng ta đã có được sự đột phá quan trọng, chúng ta đã thành công trong việc nghiên cứu phát triển một loạt dụng cụ có thể tồn giữ phản vật chất lâu dài có hiệu quả, điều này có nghĩa là việc sử dụng phản vật chất trong quân sự sẽ trở thành hiện thực"! Sau đó, Edward bắt đầu trình bày trước giới quân sự về uy lực của VKPVC.
Edward đã chủ trì một cuộc diễn tập mô phỏng qua máy tính điện tử với biệt hiệu: "Tấn công đặc biệt phản vật chất" với giả tưởng: Một ngày vào năm 201X, một binh sĩ Mỹ mang theo một quả bom PVC định giờ tiềm nhập vào thủ đô nước C; vào trong một nhà vệ sinh của tòa nhà Bộ Tổng tham mưu nước C gần trung tâm thành phố, đặt quả bom rồi ung dung đi ra. Đúng như kế hoạch, bom định giờ phản vật chất nổ, tòa nhà Bộ Tổng tham mưu nước C và các công trình phụ cận đổ sụp hết. Quả bom PVC mà binh sĩ này mang chỉ nặng 1 phần 50 triệu gram!
Tiếp sau đó, một quả bom xung mạch PVC nổ trên không tại nhà máy điện và mạng thông tin nước C, chỉ trong nháy mắt mọi hoạt động quân sự và xã hội của nước này tê liệt hoàn toàn... Lúc đó, có tướng lĩnh đã thốt lên "nếu vậy, chỉ cần quả bom phản vật chất nặng vài gram sẽ hủy diệt toàn cầu".
Kết thúc diễn tập, Edward giải thích: "Quan hệ giữa vật chất và PVC tương tự như học thuyết âm dương cổ đại". Trong tự nhiên, bất cứ một loại "hạt nguyên tử thứ cấp nào (hạt so với nguyên tử còn nhỏ hơn) đều có một loại phản vật chất đối ứng, nếu hai loại vật chất này phát sinh va chạm mãnh liệt, chúng đều tiêu tan, đồng thời giải phóng ra năng lượng cực lớn.
Edward còn cho biết, điều kỳ lạ khác với bom nguyên tử là khi bom phản vật chất nổ, sẽ không sản sinh bức xạ, có thể được coi là một loại "bom hydro sạch". Nó có uy lực nổ như bom hydro, nhưng sẽ không gây ô nhiễm bức xạ hạt nhân... Edward nhấn mạnh, đương nhiên, nghiên cứu phản vật chất không phải chỉ dùng cho chiến tranh, ông giải thích: "1 gram phản vật chất đủ cung cấp động lực cho hàng chục máy bay hàng không vũ trụ. Điều này có thể làm thay đổi căn bản mô thức cung ứng nguồn năng lượng, sẽ là một cuộc cách mạng nguồn năng lượng".
"Người mở bình ma quỷ"
Nhưng, loại vũ khí mới mà Edward gọi là "sạch" này lại khiến các nhà quân sự thế giới hết sức lo lắng. Một số nhà khoa học, nhà sử học, trung tâm nghiên cứu cao cấp Đại học Prinston, Mỹ đã chỉ ra, VKPVC "sạch" khác xa so với vũ khí hạt nhân "bẩn" và nó còn đáng sợ hơn nhiều. Bom nguyên tử thông thường, bom hydro nói chung chỉ coi là thủ đoạn uy hiếp chiến lược, cơ bản không được sử dụng trong chiến tranh thông thường và chiến tranh cục bộ. Vì chúng ngoài uy lực lớn, còn sinh ra bức xạ hạt nhân, gây ô nhiễm thổ nhưỡng, không khí, nguồn nước khu vực chiến tranh, đồng thời tạo ra tổn thương nhiễm phóng xạ đối với sinh vật và thực vật, dẫn đến thảm họa nhân đạo.
Giới phân tích cho rằng, sự lo lắng của các chuyên gia quân sự không phải không có lý. Vì ngay từ năm 2004, sau khi Edward công khai kết quả tiến triển nghiên cứu phản vật chất của ông ta, một số nước đã lao vào nghiên cứu phát triển lĩnh vực nhạy cảm này. Pháp và Thụy Điển đã hợp tác xây dựng Trung tâm Nghiên cứu phản vật chất châu Âu; Cơ sở nghiên cứu vật lý cao năng của Nga cũng đang nghiên cứu phản vật chất dùng cho quân sự. Cho nên, giới khoa học Mỹ đã gọi Edward là "Người cha của VKPVC", nhưng có người đã ví Edward như là "người mở bình ma quỷ"
Tin tong hop
Vệ tinh nghiên cứu phản vật chất.
Năm 1990, tại căn cứ không quân Glyn, Mỹ, Tiến sĩ Kenis Edward và các cộng sự trong nhóm nghiên cứu phát triển "cải cách vũ khí", Mỹ bắt đầu thực hiện công việc: Nghiên cứu vũ khí phản vật chất (VKPVC). Sau gần 20 năm tìm tòi, gần đây khi Edward tiết lộ loại vũ khí mới này có uy lực vượt xa bom nguyên tử - vài gram sẽ có thể hủy diệt trái đất, khiến người ta kinh ngạc và lo lắng.
Ba đại "Bí mật của thế kỷ"
Đầu năm 2009, trong cuộc họp với các quan chức cao cấp quân sự Lầu Năm Góc, giới thiệu về tiến triển nghiên cứu phát triển VKPVC, Edward nói: "Ba đại bí mật thế kỷ" đã kích thích những nghiên cứu của tôi".
Edward cho biết, "bí mật thế kỷ" đầu tiên và nổi tiếng nhất là vụ nổ Tungus, xảy ra sáng sớm ngày 30/6/1908, trong rừng rậm vùng Tungus, Siberia, Nga. Đây là một vụ nổ lớn chưa có tiền lệ trong lịch sử. Uy lực của nó tương đương với 1.000 quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima, Nhật Bản đồng thời nổ, khiến mọi vật và sự sống trong vùng nổ vài trăm kilômét vuông bị hủy diệt. Cho đến nay vẫn chưa ai giải thích được nguyên nhân của vụ nổ này.
Vụ thứ hai của "bí mật thế kỷ" xảy ra ngày 22/9/1979. Hôm đó, vệ tinh Mỹ đã chụp được ảnh một vụ "nổ hạt nhân" cực mạnh xảy ra ở bờ biển Tây Phi. Thời kỳ này chỉ có vài nước như Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp, Trung Quốc... có vũ khí hạt nhân, nguyên nhân nổ hạt nhân ở Tây Phi cho đến nay vẫn không rõ.
Lần thứ 3 "bí mật thế kỷ" xảy ra lúc 22h ngày 29/4/1984. Lúc đó một số máy bay của Nhật Bản bay đến bầu trời Alaska - Mỹ, Phó cơ trưởng bỗng nhiên phát hiện phía trước có một "đụn mây hình nấm" rất nhanh khuếch tán ra xung quanh... Cơ trưởng của 3 chiếc máy bay khác trên cùng đường bay cũng nhìn thấy hiện tượng lạ này. Nhưng sau khi cả 4 chiếc máy bay này hạ cánh, các nhân viên trên máy bay và trên thân máy bay đều được kiểm tra, đã không phát hiện thấy bất kỳ dấu tích nhiễm phóng xạ nào.
Mãi đến năm 1986, sau khi giới khoa học có những nghiên cứu đột phá về phản vật chất, mới có người lên tiếng: Ba vụ nổ trên có thể là kết quả của các cuộc thử nghiệm "điều khiển phát triển phản vật chất".
Edward sinh năm 1960, công dân Mỹ. Năm 1990, tốt nghiệp ngành vật lý tại Viện Công nghệ Massa, Mỹ, rồi nhận bằng tiến sĩ, sau đó đến làm việc tại Cơ sở Nghiên cứu máy gia tốc quốc gia Feymi, Mỹ. Tại đây, Edward bắt đầu đi sâu nghiên cứu lý luận phản vật chất.
Năm 2000, Edward được giao phụ trách nhóm nghiên cứu "cải cách vũ khí", bắt đầu chuyên sâu nghiên cứu cụ thể VKPVC. Edward cho biết: "Chúng ta đều biết, vật thể trong tự nhiên đều hợp thành từ proton, nơtron và điện tử, nhưng tất cả những hạt vi mô đều có phản hạt của chính nó. Chính uy lực sản sinh ra của những phản vật chất (phản hạt) này đã được bộc lộ qua “3 đại bí mật thế kỷ".
Ngày 24/3/2004, trong Hội thảo Những khái niệm tiên tiến do Cục Hàng không vũ trụ Mỹ tổ chức, Edward tới dự và phát biểu những lời tỏ ra bi quan: "Tuy các nước đã đầu tư nhân lực, vật lực to lớn, nhưng việc nghiên cứu phản vật chất vẫn tiến triển chậm chạp, nguyên nhân là vì không có cách nào sử dụng máy gia tốc hạt để sản xuất ra đủ lượng phản vật chất. Hơn nữa, để sản xuất ra 1 phần tỉ gram phản vật chất yêu cầu tiêu tốn vài tỉ USD! Ngoài ra, hoạt động của điện tử dương rất khó khống chế, rất khó lưu giữ chúng trong một dụng cụ đặc biệt; điều đó có nghĩa là, nó không có giá trị quân sự"!
Từ sau cuộc họp đó, người ta hầu như không thấy Edward và nhóm cộng sự không xuất hiện nữa. Có lúc người ta cho rằng, có thể Edward thấy khó nên đã sớm rút lui?
Kinh hoàng hơn bom nguyên tử?
Theo tiết lộ, tháng 8/2008, Edward xuất hiện tại Lầu Năm Góc, báo cáo trước các quan chức cao cấp quân đội Mỹ về thành quả tiến triển nghiên cứu mới nhất của ông ta về VKPVC.
"Trên nghiên cứu VKPVC của chúng ta đã có được sự đột phá quan trọng, chúng ta đã thành công trong việc nghiên cứu phát triển một loạt dụng cụ có thể tồn giữ phản vật chất lâu dài có hiệu quả, điều này có nghĩa là việc sử dụng phản vật chất trong quân sự sẽ trở thành hiện thực"! Sau đó, Edward bắt đầu trình bày trước giới quân sự về uy lực của VKPVC.
Edward đã chủ trì một cuộc diễn tập mô phỏng qua máy tính điện tử với biệt hiệu: "Tấn công đặc biệt phản vật chất" với giả tưởng: Một ngày vào năm 201X, một binh sĩ Mỹ mang theo một quả bom PVC định giờ tiềm nhập vào thủ đô nước C; vào trong một nhà vệ sinh của tòa nhà Bộ Tổng tham mưu nước C gần trung tâm thành phố, đặt quả bom rồi ung dung đi ra. Đúng như kế hoạch, bom định giờ phản vật chất nổ, tòa nhà Bộ Tổng tham mưu nước C và các công trình phụ cận đổ sụp hết. Quả bom PVC mà binh sĩ này mang chỉ nặng 1 phần 50 triệu gram!
Tiếp sau đó, một quả bom xung mạch PVC nổ trên không tại nhà máy điện và mạng thông tin nước C, chỉ trong nháy mắt mọi hoạt động quân sự và xã hội của nước này tê liệt hoàn toàn... Lúc đó, có tướng lĩnh đã thốt lên "nếu vậy, chỉ cần quả bom phản vật chất nặng vài gram sẽ hủy diệt toàn cầu".
Kết thúc diễn tập, Edward giải thích: "Quan hệ giữa vật chất và PVC tương tự như học thuyết âm dương cổ đại". Trong tự nhiên, bất cứ một loại "hạt nguyên tử thứ cấp nào (hạt so với nguyên tử còn nhỏ hơn) đều có một loại phản vật chất đối ứng, nếu hai loại vật chất này phát sinh va chạm mãnh liệt, chúng đều tiêu tan, đồng thời giải phóng ra năng lượng cực lớn.
Edward còn cho biết, điều kỳ lạ khác với bom nguyên tử là khi bom phản vật chất nổ, sẽ không sản sinh bức xạ, có thể được coi là một loại "bom hydro sạch". Nó có uy lực nổ như bom hydro, nhưng sẽ không gây ô nhiễm bức xạ hạt nhân... Edward nhấn mạnh, đương nhiên, nghiên cứu phản vật chất không phải chỉ dùng cho chiến tranh, ông giải thích: "1 gram phản vật chất đủ cung cấp động lực cho hàng chục máy bay hàng không vũ trụ. Điều này có thể làm thay đổi căn bản mô thức cung ứng nguồn năng lượng, sẽ là một cuộc cách mạng nguồn năng lượng".
"Người mở bình ma quỷ"
Nhưng, loại vũ khí mới mà Edward gọi là "sạch" này lại khiến các nhà quân sự thế giới hết sức lo lắng. Một số nhà khoa học, nhà sử học, trung tâm nghiên cứu cao cấp Đại học Prinston, Mỹ đã chỉ ra, VKPVC "sạch" khác xa so với vũ khí hạt nhân "bẩn" và nó còn đáng sợ hơn nhiều. Bom nguyên tử thông thường, bom hydro nói chung chỉ coi là thủ đoạn uy hiếp chiến lược, cơ bản không được sử dụng trong chiến tranh thông thường và chiến tranh cục bộ. Vì chúng ngoài uy lực lớn, còn sinh ra bức xạ hạt nhân, gây ô nhiễm thổ nhưỡng, không khí, nguồn nước khu vực chiến tranh, đồng thời tạo ra tổn thương nhiễm phóng xạ đối với sinh vật và thực vật, dẫn đến thảm họa nhân đạo.
Giới phân tích cho rằng, sự lo lắng của các chuyên gia quân sự không phải không có lý. Vì ngay từ năm 2004, sau khi Edward công khai kết quả tiến triển nghiên cứu phản vật chất của ông ta, một số nước đã lao vào nghiên cứu phát triển lĩnh vực nhạy cảm này. Pháp và Thụy Điển đã hợp tác xây dựng Trung tâm Nghiên cứu phản vật chất châu Âu; Cơ sở nghiên cứu vật lý cao năng của Nga cũng đang nghiên cứu phản vật chất dùng cho quân sự. Cho nên, giới khoa học Mỹ đã gọi Edward là "Người cha của VKPVC", nhưng có người đã ví Edward như là "người mở bình ma quỷ"
Tin tong hop
Hành động khó hiểu
Võ Long Triều
Tội nghiệp những người đảng viên cộng sản và tuyệt đại đa số quần chúng Việt Nam, có lòng với đất nước,
thấm nhuần tư tưởng “Bác Hồ kính yêu” của họ là “không gì quí hơn độc lập tự do”.

Bộ mặt thật của “16 chữ vàng” do Trung Quốc “ban” cho Việt Nam. (Hình: luongtamconggiao.wordpress.com)
Họ đang đau lòng thắc mắc không thể hiểu được tại sao tàu Bình Minh 2 và Viking 2 của mình thăm dò địa chất trong hải phận gần Ðà Nẵng lại bị tàu của láng giềng hữu nghị, đồng chí tốt, là Trung Quốc cắt dây cáp hai lần, và cấm không cho hoạt động trong khu vực quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thế mà nhà nước ta không dám bảo vệ quyền lợi của quốc gia dân tộc. Tại sao? Việt Nam có thật sự độc lập đối với Trung Quốc không? Có tự do hoạt động trong lãnh hải của mình không?
Ngoài ra các nhà lãnh đạo đảng ta đã từng nhồi nhét trong đầu quần chúng và đảng viên: Trung Quốc-Việt Nam như môi với răng, môi hở là răng lạnh. Vậy mà tại sao răng cắn môi từ bao nhiêu năm qua, môi Việt Nam sứt mẻ từng cột mốc biên giới, răng cắn gặm gần hết các quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa mà “nhà nước ta” không dám đối kháng. Tại sao?
Ðảng viên và nhân dân không hiểu nên tức giận. Tức giận bọn cướp đất cướp biển đã đành, mà tức giận nhà cầm quyền còn nhiều hơn, tức giận mấy thằng công an đàn áp dân chúng biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng, vì lòng yêu nước, mà chúng nó cho là phản động, phản quốc. Thì ra chính chúng nó, các nhà lãnh đạo và công an, đã dâng đất bán đảo cho Trung Quốc rồi, nên mới ngăn cấm dân mình chống Tàu cộng.
Họ càng không hiểu được tại sao ông Ðới Bỉnh Quốc sang Việt Nam chủ tọa cuộc họp Ủy Ban Chỉ Ðạo hợp tác song phương Việt-Trung hôm thượng tuần tháng 9-2011, ông xác nhận hai nước thỏa thuận tăng cường đối thoại nhằm chấm dứt tranh chấp tại Biển Ðông, ông còn nhấn mạnh rằng Việt-Trung “hợp tác trong tinh thần vừa là đồng chí vừa là anh em”. Ðiều đó làm cho Nguyễn Tấn Dũng hy vọng sẽ ký kết được một bản “thỏa thuận về nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển”.
Nhưng vừa về tới nhà, Ðới Bỉnh Quốc cho tàu có trọng tải lớn đến đảo Trường Sa của Việt Nam để bảo vệ 500 ngư thuyền Trung Cộng đánh bắt cá trong hải phận Việt Nam. Những người đảng viên cộng sản Hà Nội làm sao hiểu được lời nói và hành động bất nhứt của bọn giả dạng “đồng chí anh em”, mà thực tế những đồng chí anh em đó là bọn cướp ngày vô tội vạ.
Mỗi lần nhân vật cao cấp Tàu cộng sang Việt Nam, xướng lên 16 chữ vàng thì Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Văn Triết, Nguyễn Tấn Dũng và nhiều đảng viên Việt Nam khác đều rập khuôn họa theo đúng những chữ vàng ngọc đó làm cho nhân dân tin thật rằng Trung cộng là láng giềng hữu nghị, đối tác tốt, đồng chí tốt, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài để tiến tới tương lai. Nhưng sự thật tàu chiến Trung Quốc vẫn thường xuyên đụng chìm ngư thuyền Việt Nam, đánh đập ngư phủ, cướp cá bắt người. Hành động côn đồ không đúng nghĩa với 16 chữ vàng và 4 cái tốt mà cả hai bên đều rêu rao. Bởi vậy dân gian bất mãn Trung Quốc xâm lăng, ngán ngẩm nhà cầm quyền Hà Nội, nên họ biến đổi 16 chữ vàng như sau:
Láng giềng hiểm độc
Cướp đất toàn diện
Lấn biển lâu dài
Thôn tính tương lai
Do sự bất mãn và phẫn nộ dân chúng hợp nhau biểu tình chống Trung Quốc, tuần hành một cách ôn hòa, nhưng công an vâng lệnh nhà nước đàn áp, cấm đoán. Những kẻ không cho phép biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng là người Việt hay là người Hoa đội lốt Việt?
Phải chăng họ là những kẻ đã bị Tàu cộng nắm giữ hồ sơ vì tội nhận tiền hối lộ, bị mỹ nhân kế gài bẫy, nên há miệng mắc quai, phải hành động theo lệnh Bắc Kinh! Thứ trưởng ngoại giao Hồ Xuân Sơn sang Trung Quốc hứa sẽ điều hướng dư luận không để chống Tàu. Thứ trưởng quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định sẽ không cho phép tập hợp đông người chống Trung Quốc.
Tóm lại người dân hay đảng viên bình thường không hiểu được thái độ và hành động khiếp nhược của nhóm lãnh đạo Hà Nội, và sự ngang ngược cướp giựt của bọn cầm quyền Bắc Kinh. Bởi lẽ đảng viên bị nhồi sọ bằng tuyên truyền huấn luyện, dân chúng bị bưng bít không thể biết sự thật ngoài những tin tức do đảng cho phép truyền đi. Cho nên dân chúng hoang mang không biết đúng sai như thế nào. Chỉ có những người ở nước ngoài mới hiểu một phần tại sao? Nhờ truyền thông báo chí thông tin chính xác và tra cứu những tài liệu của quá khứ và hiện tại.
Sự hèn nhát của cộng sản Hà Nội phải giải thích bằng 2 lý do. Không phải họ ngu đần mù mắt không thấy sự lộng hành của Trung Quốc, cũng không phải họ hèn hạ đến độ bị người ta đâm mà không dám đỡ. Vậy thì tại sao?
Tại vì những nhà lãnh đạo cao cấp Việt Nam, từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Ðồng, Lê Duẩn, Trường Chinh... đã dâng cả nước cho Trung Quốc từ xưa, họ xem Việt Nam như một bộ phận của cộng sản quốc tế tứ bể đại đồng, họ đã chấp nhận tùng phục Trung Quốc đổi lấy viện trợ tối đa để bành trướng chủ nghĩa cộng sản vào miền Nam Việt Nam.
Tại vì nhóm lãnh đạo hiện thời sợ mất quyền. Bởi lẽ có nhiều đảng viên cao cấp Việt Nam được Trung Quốc đào tạo, nói thẳng là có nhiều tay sai Trung Quốc trong đảng cộng sản Việt Nam. Nếu những tên đương quyền không tuân lệnh thì có nhiều phương cách thay thế những ông “Thái Thú” khác.
Chính sách bành trướng của Bắc Kinh đã được chuẩn bị chu đáo từ trước khi họ thực hiện, có nghĩa là những lời tuyên bố của nhân vật lãnh đạo Việt Nam trong những cuộc mật đàm thân thiện được ghi âm đầy đủ, chứng minh sự ưng thuận của Hà Nội về những việc như giải quyết tranh chấp qua thảo luận song phương, như chấp thuận hợp tác khai thác đôi bên đều có lợi, v.v... Và tệ hại hơn nữa, những lúc viếng thăm đầy tình hữu nghị Tàu cộng dùng mỹ nhân kế lấy những lời tâm tình đáng giá chính trị, hay là những sự biếu xén, đền ơn có bằng chứng như báo chí ngoại quốc tung tin Nguyễn Tấn Dũng nhận 250 triệu đô la cho phép khai thác Bauxite ở Cao Nguyên. Sự đút lót, hối lộ, dùng mỹ nhân kế là sở trường của người Hoa cả thế giới công nhận. Do đó cộng sản Hà Nội không bao giờ chống Trung cộng và cũng không bao giờ thoát khỏi gọng kềm của Trung Quốc.
Sự lươn lẹo “đi dây” của cộng sản Hà Nội, khi thì làm thân với Mỹ, tuyên bố quan hệ quân sự Mỹ-Việt tốt đẹp, Ngoại Trưởng Clinton còn khen “tuyệt vời” bởi vì Tây phương ngây ngô chưa hiểu óc lươn lẹo, lật lọng của cộng sản Á Châu. Khi thì Hà Nội khẳng định liền sau khi tiếp xúc thân thiện với Mỹ rằng Hà Nội luôn hợp tác toàn diện với Bắc Kinh là vì quyền lợi của đôi bên. Vừa vuốt ve Mỹ vừa thanh minh và bảo đảm trung thành với Bắc Kinh. Những lời qua tiếng lại trên đây chỉ để vuốt ve dư luận trong nước trước sự bất bình của quần chúng đối với Trung Quốc xâm lăng và đồng thời cũng vuốt ve sự tức giận của quan thầy Trung Quốc. Bên trong Hà Nội luôn khẳng định sự phục tùng Trung Quốc thông qua những lời phản đối qua loa lấy lệ rồi thôi.
Sự phục tùng của Hà Nội đối với Bắc Kinh được chứng minh bằng quá nhiều thái độ và hành động từ bao nhiêu năm qua. Nào là người Hoa khai phá rừng ở đâu là biên giới Trung Quốc tới đó, Việt Nam phải dời cột mốc biên giới. Nào là công nhân Trung cộng chuyên môn hay không đều có quyền sinh sống và hành động như đang ở xứ mình tại Việt Nam. Nào là tàu lạ đánh chìm ngư thuyền Việt Nam chứ không phải tàu Trung Quốc. Nào là biểu tình chống Trung Quốc là phản động nghĩa là phản quốc. Vân vân và vân vân...
Với những lý do viện dẫn, đảng viên và quần chúng phải hiểu rằng nhà cầm quyền Hà Nội đang thay mặt Bắc Kinh quản trị Việt Nam giùm cho Trung Quốc. Vậy thì đảng viên và đồng bào trong ngoài nước phải kết hợp nhau lật đổ ngụy quyền Hà Nội trước, rồi mới tổ chức chống xâm lăng giải thoát dân tộc sau.
Võ Long Triều
Tội nghiệp những người đảng viên cộng sản và tuyệt đại đa số quần chúng Việt Nam, có lòng với đất nước,
thấm nhuần tư tưởng “Bác Hồ kính yêu” của họ là “không gì quí hơn độc lập tự do”.

Bộ mặt thật của “16 chữ vàng” do Trung Quốc “ban” cho Việt Nam. (Hình: luongtamconggiao.wordpress.com)
Họ đang đau lòng thắc mắc không thể hiểu được tại sao tàu Bình Minh 2 và Viking 2 của mình thăm dò địa chất trong hải phận gần Ðà Nẵng lại bị tàu của láng giềng hữu nghị, đồng chí tốt, là Trung Quốc cắt dây cáp hai lần, và cấm không cho hoạt động trong khu vực quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thế mà nhà nước ta không dám bảo vệ quyền lợi của quốc gia dân tộc. Tại sao? Việt Nam có thật sự độc lập đối với Trung Quốc không? Có tự do hoạt động trong lãnh hải của mình không?
Ngoài ra các nhà lãnh đạo đảng ta đã từng nhồi nhét trong đầu quần chúng và đảng viên: Trung Quốc-Việt Nam như môi với răng, môi hở là răng lạnh. Vậy mà tại sao răng cắn môi từ bao nhiêu năm qua, môi Việt Nam sứt mẻ từng cột mốc biên giới, răng cắn gặm gần hết các quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa mà “nhà nước ta” không dám đối kháng. Tại sao?
Ðảng viên và nhân dân không hiểu nên tức giận. Tức giận bọn cướp đất cướp biển đã đành, mà tức giận nhà cầm quyền còn nhiều hơn, tức giận mấy thằng công an đàn áp dân chúng biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng, vì lòng yêu nước, mà chúng nó cho là phản động, phản quốc. Thì ra chính chúng nó, các nhà lãnh đạo và công an, đã dâng đất bán đảo cho Trung Quốc rồi, nên mới ngăn cấm dân mình chống Tàu cộng.
Họ càng không hiểu được tại sao ông Ðới Bỉnh Quốc sang Việt Nam chủ tọa cuộc họp Ủy Ban Chỉ Ðạo hợp tác song phương Việt-Trung hôm thượng tuần tháng 9-2011, ông xác nhận hai nước thỏa thuận tăng cường đối thoại nhằm chấm dứt tranh chấp tại Biển Ðông, ông còn nhấn mạnh rằng Việt-Trung “hợp tác trong tinh thần vừa là đồng chí vừa là anh em”. Ðiều đó làm cho Nguyễn Tấn Dũng hy vọng sẽ ký kết được một bản “thỏa thuận về nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển”.
Nhưng vừa về tới nhà, Ðới Bỉnh Quốc cho tàu có trọng tải lớn đến đảo Trường Sa của Việt Nam để bảo vệ 500 ngư thuyền Trung Cộng đánh bắt cá trong hải phận Việt Nam. Những người đảng viên cộng sản Hà Nội làm sao hiểu được lời nói và hành động bất nhứt của bọn giả dạng “đồng chí anh em”, mà thực tế những đồng chí anh em đó là bọn cướp ngày vô tội vạ.
Mỗi lần nhân vật cao cấp Tàu cộng sang Việt Nam, xướng lên 16 chữ vàng thì Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Văn Triết, Nguyễn Tấn Dũng và nhiều đảng viên Việt Nam khác đều rập khuôn họa theo đúng những chữ vàng ngọc đó làm cho nhân dân tin thật rằng Trung cộng là láng giềng hữu nghị, đối tác tốt, đồng chí tốt, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài để tiến tới tương lai. Nhưng sự thật tàu chiến Trung Quốc vẫn thường xuyên đụng chìm ngư thuyền Việt Nam, đánh đập ngư phủ, cướp cá bắt người. Hành động côn đồ không đúng nghĩa với 16 chữ vàng và 4 cái tốt mà cả hai bên đều rêu rao. Bởi vậy dân gian bất mãn Trung Quốc xâm lăng, ngán ngẩm nhà cầm quyền Hà Nội, nên họ biến đổi 16 chữ vàng như sau:
Láng giềng hiểm độc
Cướp đất toàn diện
Lấn biển lâu dài
Thôn tính tương lai
Do sự bất mãn và phẫn nộ dân chúng hợp nhau biểu tình chống Trung Quốc, tuần hành một cách ôn hòa, nhưng công an vâng lệnh nhà nước đàn áp, cấm đoán. Những kẻ không cho phép biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng là người Việt hay là người Hoa đội lốt Việt?
Phải chăng họ là những kẻ đã bị Tàu cộng nắm giữ hồ sơ vì tội nhận tiền hối lộ, bị mỹ nhân kế gài bẫy, nên há miệng mắc quai, phải hành động theo lệnh Bắc Kinh! Thứ trưởng ngoại giao Hồ Xuân Sơn sang Trung Quốc hứa sẽ điều hướng dư luận không để chống Tàu. Thứ trưởng quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định sẽ không cho phép tập hợp đông người chống Trung Quốc.
Tóm lại người dân hay đảng viên bình thường không hiểu được thái độ và hành động khiếp nhược của nhóm lãnh đạo Hà Nội, và sự ngang ngược cướp giựt của bọn cầm quyền Bắc Kinh. Bởi lẽ đảng viên bị nhồi sọ bằng tuyên truyền huấn luyện, dân chúng bị bưng bít không thể biết sự thật ngoài những tin tức do đảng cho phép truyền đi. Cho nên dân chúng hoang mang không biết đúng sai như thế nào. Chỉ có những người ở nước ngoài mới hiểu một phần tại sao? Nhờ truyền thông báo chí thông tin chính xác và tra cứu những tài liệu của quá khứ và hiện tại.
Sự hèn nhát của cộng sản Hà Nội phải giải thích bằng 2 lý do. Không phải họ ngu đần mù mắt không thấy sự lộng hành của Trung Quốc, cũng không phải họ hèn hạ đến độ bị người ta đâm mà không dám đỡ. Vậy thì tại sao?
Tại vì những nhà lãnh đạo cao cấp Việt Nam, từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Ðồng, Lê Duẩn, Trường Chinh... đã dâng cả nước cho Trung Quốc từ xưa, họ xem Việt Nam như một bộ phận của cộng sản quốc tế tứ bể đại đồng, họ đã chấp nhận tùng phục Trung Quốc đổi lấy viện trợ tối đa để bành trướng chủ nghĩa cộng sản vào miền Nam Việt Nam.
Tại vì nhóm lãnh đạo hiện thời sợ mất quyền. Bởi lẽ có nhiều đảng viên cao cấp Việt Nam được Trung Quốc đào tạo, nói thẳng là có nhiều tay sai Trung Quốc trong đảng cộng sản Việt Nam. Nếu những tên đương quyền không tuân lệnh thì có nhiều phương cách thay thế những ông “Thái Thú” khác.
Chính sách bành trướng của Bắc Kinh đã được chuẩn bị chu đáo từ trước khi họ thực hiện, có nghĩa là những lời tuyên bố của nhân vật lãnh đạo Việt Nam trong những cuộc mật đàm thân thiện được ghi âm đầy đủ, chứng minh sự ưng thuận của Hà Nội về những việc như giải quyết tranh chấp qua thảo luận song phương, như chấp thuận hợp tác khai thác đôi bên đều có lợi, v.v... Và tệ hại hơn nữa, những lúc viếng thăm đầy tình hữu nghị Tàu cộng dùng mỹ nhân kế lấy những lời tâm tình đáng giá chính trị, hay là những sự biếu xén, đền ơn có bằng chứng như báo chí ngoại quốc tung tin Nguyễn Tấn Dũng nhận 250 triệu đô la cho phép khai thác Bauxite ở Cao Nguyên. Sự đút lót, hối lộ, dùng mỹ nhân kế là sở trường của người Hoa cả thế giới công nhận. Do đó cộng sản Hà Nội không bao giờ chống Trung cộng và cũng không bao giờ thoát khỏi gọng kềm của Trung Quốc.
Sự lươn lẹo “đi dây” của cộng sản Hà Nội, khi thì làm thân với Mỹ, tuyên bố quan hệ quân sự Mỹ-Việt tốt đẹp, Ngoại Trưởng Clinton còn khen “tuyệt vời” bởi vì Tây phương ngây ngô chưa hiểu óc lươn lẹo, lật lọng của cộng sản Á Châu. Khi thì Hà Nội khẳng định liền sau khi tiếp xúc thân thiện với Mỹ rằng Hà Nội luôn hợp tác toàn diện với Bắc Kinh là vì quyền lợi của đôi bên. Vừa vuốt ve Mỹ vừa thanh minh và bảo đảm trung thành với Bắc Kinh. Những lời qua tiếng lại trên đây chỉ để vuốt ve dư luận trong nước trước sự bất bình của quần chúng đối với Trung Quốc xâm lăng và đồng thời cũng vuốt ve sự tức giận của quan thầy Trung Quốc. Bên trong Hà Nội luôn khẳng định sự phục tùng Trung Quốc thông qua những lời phản đối qua loa lấy lệ rồi thôi.
Sự phục tùng của Hà Nội đối với Bắc Kinh được chứng minh bằng quá nhiều thái độ và hành động từ bao nhiêu năm qua. Nào là người Hoa khai phá rừng ở đâu là biên giới Trung Quốc tới đó, Việt Nam phải dời cột mốc biên giới. Nào là công nhân Trung cộng chuyên môn hay không đều có quyền sinh sống và hành động như đang ở xứ mình tại Việt Nam. Nào là tàu lạ đánh chìm ngư thuyền Việt Nam chứ không phải tàu Trung Quốc. Nào là biểu tình chống Trung Quốc là phản động nghĩa là phản quốc. Vân vân và vân vân...
Với những lý do viện dẫn, đảng viên và quần chúng phải hiểu rằng nhà cầm quyền Hà Nội đang thay mặt Bắc Kinh quản trị Việt Nam giùm cho Trung Quốc. Vậy thì đảng viên và đồng bào trong ngoài nước phải kết hợp nhau lật đổ ngụy quyền Hà Nội trước, rồi mới tổ chức chống xâm lăng giải thoát dân tộc sau.
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am
'Tránh vết xe đổ Libya', Trung Đông chạy đua vũ khí hạt nhân?
Nhiều quốc gia không sở hữu, theo đuổi hay chối bỏ vũ khí hạt nhân như Iraq, Afghanistan, Libya sụp đổ dưới áp lực của phương Tây.
Trong khi đó, Iran, Syria, Triều Tiên là những nước có tham vọng hoặc sở hữu vũ khí hạt nhân nên dù bị phương Tây trừng phạt nhưng tới thời điểm này, họ lại tránh được "thảm kịch Libya".
Do đó, không ít chuyên gia lên tiếng cảnh báo: “Các nước Trung Đông sẽ bắt đầu cuộc chạy đua vũ trang, thậm chí sẽ tìm cách sở hữu cả công nghệ hạt nhân nhằm phòng xa mọi trường hợp”.
Tổng biên tập tạp chí Nga trong chính trị toàn cầu Fiodor Lukyanov nhận định: “Lập trường của những nước là đối tượng tấn công tiềm năng, chịu áp lực từ Mỹ thật rõ ràng: không thể từ chối vũ khí hủy diệt hàng loạt bởi đây là sự bảo đảm duy nhất rằng sẽ không bị ai động đến họ. Triều Tiên là minh họa điển hình. Xét về mọi tiêu chí, Bình Nhưỡng từ lâu là một mục tiêu thay đổi chế độ của Mỹ. Tuy nhiên, điều này không xảy ra bởi cái giá phải trả cho sự can thiệp có thể rất cao bởi Triều Tiên có các chương trình tên lửa và những cuộc thử vũ khí hạt nhân dù chúng còn thô sơ”.

Trung Đông có thể sắp chạy đua vũ trang. Ảnh minh họa.
Đã vậy, bản thân phương Tây đã và đang đẩy vào ngõ cụt những chế độ mà theo họ là "phi dân chủ". Phương Tây tìm cách áp đặt vào các nước này phong cách và mô hình dân chủ khó dung hòa, can thiệp chính trị nội bộ, ngăn chặn sự tiếp cận các công nghệ mới.
Tình hình với Israel cũng gây không ít phẫn nộ trong thế giới Arab khi ai cũng biết thực tế là Israel sở hữu vũ khí hạt nhân dù Tel Aviv không thừa nhận chính thức điều này, chủ trương phản đối sự kiểm soát quốc tế đối với các nghiên cứu của mình. Đáp lại, phương Tây tránh xa những vấn đề này.
Về phía ngược lại, trước những hoạt động quân sự tích cực của nhà nước Do Thái, những người hàng xóm cũng vội vã lao vào cuộc chạy đua vũ trang.
Tổng biên tập tạp chí Lebanon Al-Mutavasit Hussein Nasrallah nhận xét: “Đối với một số quốc gia, chiến tranh tại Afghanistan, Iraq, Libya, lần nữa trở thành sự minh họa rõ nét cho câu châm ngôn "kẻ mạnh luôn đúng". Và nhiều nước đang không cảm thấy sự an toàn trước mối đe dọa từ bên ngoài. Cái gì có thể là sự bảo đảm? Sở hữu vũ khí, tốt hơn cả là vũ khí hạt nhân, các phương tiện hủy diệt hàng loạt. Điều này có thể buộc kẻ xâm lược tiềm năng phải suy nghĩ lại nếu có ý định gì. Trong thời gian tới, ngân sách quốc phòng của nhiều quốc gia, gồm cả các nước Arab, sẽ tăng đáng kể. Một hướng lựa chọn khác, đó là tăng tốc tìm kiếm các đồng minh trong những trung tâm quyền lực mới, ví dụ trong số các nước BRICS”.
Sự kiện của những tháng gần đây chắc chắn thúc đẩy nhiều quốc gia tăng cường tiềm năng quân sự của mình. Ông Gaddafi tự mình khép lại chương trình hạt nhân Libya và hợp tác toàn diện với phương Tây, thể hiện lòng trung thành tối đa. Nhưng những việc làm ấy không cứu nổi ông khỏi bị lật đổ, không những thế còn bằng chính bàn tay của những "người bạn" cũ. Chẳng ai trong số bất kỳ các nhà lãnh đạo hiện tại lại muốn lặp lại số phận của ông Gaddafi.
Theo TNNN
Nhiều quốc gia không sở hữu, theo đuổi hay chối bỏ vũ khí hạt nhân như Iraq, Afghanistan, Libya sụp đổ dưới áp lực của phương Tây.
Trong khi đó, Iran, Syria, Triều Tiên là những nước có tham vọng hoặc sở hữu vũ khí hạt nhân nên dù bị phương Tây trừng phạt nhưng tới thời điểm này, họ lại tránh được "thảm kịch Libya".
Do đó, không ít chuyên gia lên tiếng cảnh báo: “Các nước Trung Đông sẽ bắt đầu cuộc chạy đua vũ trang, thậm chí sẽ tìm cách sở hữu cả công nghệ hạt nhân nhằm phòng xa mọi trường hợp”.
Tổng biên tập tạp chí Nga trong chính trị toàn cầu Fiodor Lukyanov nhận định: “Lập trường của những nước là đối tượng tấn công tiềm năng, chịu áp lực từ Mỹ thật rõ ràng: không thể từ chối vũ khí hủy diệt hàng loạt bởi đây là sự bảo đảm duy nhất rằng sẽ không bị ai động đến họ. Triều Tiên là minh họa điển hình. Xét về mọi tiêu chí, Bình Nhưỡng từ lâu là một mục tiêu thay đổi chế độ của Mỹ. Tuy nhiên, điều này không xảy ra bởi cái giá phải trả cho sự can thiệp có thể rất cao bởi Triều Tiên có các chương trình tên lửa và những cuộc thử vũ khí hạt nhân dù chúng còn thô sơ”.

Trung Đông có thể sắp chạy đua vũ trang. Ảnh minh họa.
Đã vậy, bản thân phương Tây đã và đang đẩy vào ngõ cụt những chế độ mà theo họ là "phi dân chủ". Phương Tây tìm cách áp đặt vào các nước này phong cách và mô hình dân chủ khó dung hòa, can thiệp chính trị nội bộ, ngăn chặn sự tiếp cận các công nghệ mới.
Tình hình với Israel cũng gây không ít phẫn nộ trong thế giới Arab khi ai cũng biết thực tế là Israel sở hữu vũ khí hạt nhân dù Tel Aviv không thừa nhận chính thức điều này, chủ trương phản đối sự kiểm soát quốc tế đối với các nghiên cứu của mình. Đáp lại, phương Tây tránh xa những vấn đề này.
Về phía ngược lại, trước những hoạt động quân sự tích cực của nhà nước Do Thái, những người hàng xóm cũng vội vã lao vào cuộc chạy đua vũ trang.
Tổng biên tập tạp chí Lebanon Al-Mutavasit Hussein Nasrallah nhận xét: “Đối với một số quốc gia, chiến tranh tại Afghanistan, Iraq, Libya, lần nữa trở thành sự minh họa rõ nét cho câu châm ngôn "kẻ mạnh luôn đúng". Và nhiều nước đang không cảm thấy sự an toàn trước mối đe dọa từ bên ngoài. Cái gì có thể là sự bảo đảm? Sở hữu vũ khí, tốt hơn cả là vũ khí hạt nhân, các phương tiện hủy diệt hàng loạt. Điều này có thể buộc kẻ xâm lược tiềm năng phải suy nghĩ lại nếu có ý định gì. Trong thời gian tới, ngân sách quốc phòng của nhiều quốc gia, gồm cả các nước Arab, sẽ tăng đáng kể. Một hướng lựa chọn khác, đó là tăng tốc tìm kiếm các đồng minh trong những trung tâm quyền lực mới, ví dụ trong số các nước BRICS”.
Sự kiện của những tháng gần đây chắc chắn thúc đẩy nhiều quốc gia tăng cường tiềm năng quân sự của mình. Ông Gaddafi tự mình khép lại chương trình hạt nhân Libya và hợp tác toàn diện với phương Tây, thể hiện lòng trung thành tối đa. Nhưng những việc làm ấy không cứu nổi ông khỏi bị lật đổ, không những thế còn bằng chính bàn tay của những "người bạn" cũ. Chẳng ai trong số bất kỳ các nhà lãnh đạo hiện tại lại muốn lặp lại số phận của ông Gaddafi.
Theo TNNN
Huyền thoại Steve Jobs qua đời ở tuổi 56
Ngày 5/10, Apple cho biết cựu Giám đốc điều hành của họ đã qua đời chỉ sau 2 tháng rời khỏi công ty này.
Khoảnh khắc khó quên trong cuộc đời Steve Jobs
Trên website của Apple là dòng tin ngắn: "Apple vừa mất đi một thiên tài sáng tạo và có tầm nhìn lớn,
còn thế giới cũng mất đi một nhân vật kiệt xuất. Những người có may mắn biết và làm việc với Jobs đã mất đi một người bạn thân,
một động lực đối với họ. Jobs ra đi, để lại một công ty mà chỉ ông mới có thể xây dựng. Tinh thần và triết lý của ông sẽ mãi gắn bó với Apple".
Steve Jobs. Ảnh: Apple.
Steve Jobs sinh ngày 24/2/1955 tại San Francisco (Mỹ). Abdulfattah Jandali và Joanne Simpson sinh ông khi vẫn đang là sinh viên và họ buộc phải đem con cho ông bà Paul và Clara Jobs nuôi vì cha mẹ của Joanne không muốn con gái họ cưới một người Syria.
Steve Jobs từ lâu đã phải chống chọi với căn bệnh ung thư nhưng vẫn luôn xuất hiện trong các lễ ra mắt sản phẩm quan trọng của Apple với trang phục quần jean áo cổ lọ. Ông trải qua cuộc phẫu thuật ung thư tuyến tụy đầu tiên năm 2004, được ghép gan năm 2009 và đã ba lần vắng bóng lại Apple để đi điều trị trước khi chính thức từ chức CEO vào tháng 8. "Tôi luôn nói rằng nếu có một ngày tôi không thể đáp ứng được nhiệm vụ và mong đợi của Apple, tôi sẽ là người đầu tiên thông báo cho các bạn biết. Rất tiếc, ngày đó đã đến", Steve Jobs viết trong lá thư gửi nhân viên. Jobs quá gắn bó với Apple và phải đến khi không còn đủ sức lực để tiếp tục điều hành, ông mới trao lại vận mệnh công ty này vào tay Timothy D. Cook. Tân CEO Apple đã có dịp ra mắt trước công chúng vào ngày 4/10 khi Apple trình làng iPhone 4S với phong thái tự tin dù chưa thể tạo ra sức hút thực sự như Jobs.
Tám năm sau khi thành lập, Jobs đã cùng Apple cho ra đời máy tính Macintosh - một cuộc cách mạng về máy tính cá nhân khi đó. Ông từ phải rời khỏi Apple khi không được lựa chọn đảm nhiệm chức vụ CEO và 12 năm sau đó (1997), hãng này đã mua lại NeXT (công ty mới của Jobs) như một cách để đón ông trở về. Kể từ đó, Apple thực sự hồi sinh với iPod, iPhone và iPad. Chúng không đơn thuần là những sản phẩm đẹp và ăn khách mà còn biến đổi ngành công nghiệp âm nhạc và di động.
Jobs không phải một kỹ sư phần cứng hay một lập trình viên phần mềm. Ông cũng không bao giờ nhận mình là một nhà quản lý. Ông tự coi mình là một nhà lãnh đạo công nghệ, biết chọn những người tài nhất có thể, khuyến khích và tạo cảm hứng để họ làm ra những sản phẩm đột phá thế giới.
Đó chính là phong cách mà Jobs thể hiện bao năm qua. Ngay từ những ngày đầu thành lập công ty, các cộng sự của ông đã phải nhận những lời chỉ trích cay nghiệt, thậm chí có tính nhục mạ. Ông không khoan nhượng cho những sai lầm. Apple có những thiết bị lừng danh thế giới, nhưng không phải không có thất bại. Và khi đó, giông tố sẽ đổ ập xuống đầu nhóm phát triển sản phẩm đó. Adam Lashinsky từng mô tả trong bài viết gây sốc đăng trên tạp chí Fortune (Mỹ) rằng Jobs dành nửa tiếng "xỉ vả" nhóm phát triển công cụ Mobile Me vì "các vị làm tổn hại thanh danh của Apple và nên tự căm ghét chính bản thân mình". Tuy vậy, ông đã tạo được sự trung thành khó tin trong đội ngũ nhân viên.
Steve Jobs khắc nghiệt nhưng tạo được sự trung thành tuyệt đối với các công sự. Ảnh: BI. Lối quản lý khắc nghiệt của Jobs còn thể hiện qua bài phát biểu ngắn gọn với ban lãnh đạo (Lashinsky kể lại) rằng: "Tôi hỏi người lao công sao không đổ rác trong phòng tôi, người đó giải thích không có chìa khóa. Tôi chấp nhận. Họ được quyền thanh minh vì sao và tại ai mà họ không hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tóm lại, một công nhân vệ sinh được phép bào chữa cho sai lầm của mình, còn người lãnh đạo thì không. Ở đâu đó giữa vị trí của người quét rác và một CEO là lằn ranh ngăn cách về quyền được bào chữa sai lầm hay không. Nếu muốn ngồi vào ghế Phó chủ tịch, các vị phải vượt qua lằn ranh đó". Đến nay, chưa phó chủ tịch nào của Apple mắc sai lầm nghiêm trọng đến mức phải bị sa thải.
Năm 2011, lần đầu tiên Jobs đồng ý tham viết tiểu sử về mình. Cuốn sách của tác giả Walter Isaacson sẽ tập hợp hơn 40 cuộc phỏng vấn về sự nghiệp và đời tư với Jobs trong 2 năm qua, cũng như nhận xét, đánh giá của hơn 100 thành viên trong gia đình, bạn bè, đối thủ, đối tác... Sách sẽ lên kệ vào 21/11/2011, ngay trước Lễ Tạ Ơn.
Còn Abdulfattah Jandali, cha đẻ của Jobs và hiện 80 tuổi, từng hy vọng một ngày nào đó con trai sẽ gọi cho ông và cả hai cùng thư thái uống cafe trước khi quá muộn. Đến hôm nay khi Steve Jobs vĩnh viễn ra đi, họ vẫn chưa thể gặp lại nhau.
Nguyễn Hùng - Châu An
Ngày 5/10, Apple cho biết cựu Giám đốc điều hành của họ đã qua đời chỉ sau 2 tháng rời khỏi công ty này.
Khoảnh khắc khó quên trong cuộc đời Steve Jobs
Trên website của Apple là dòng tin ngắn: "Apple vừa mất đi một thiên tài sáng tạo và có tầm nhìn lớn,
còn thế giới cũng mất đi một nhân vật kiệt xuất. Những người có may mắn biết và làm việc với Jobs đã mất đi một người bạn thân,
một động lực đối với họ. Jobs ra đi, để lại một công ty mà chỉ ông mới có thể xây dựng. Tinh thần và triết lý của ông sẽ mãi gắn bó với Apple".
Steve Jobs. Ảnh: Apple.
Steve Jobs sinh ngày 24/2/1955 tại San Francisco (Mỹ). Abdulfattah Jandali và Joanne Simpson sinh ông khi vẫn đang là sinh viên và họ buộc phải đem con cho ông bà Paul và Clara Jobs nuôi vì cha mẹ của Joanne không muốn con gái họ cưới một người Syria.
Steve Jobs từ lâu đã phải chống chọi với căn bệnh ung thư nhưng vẫn luôn xuất hiện trong các lễ ra mắt sản phẩm quan trọng của Apple với trang phục quần jean áo cổ lọ. Ông trải qua cuộc phẫu thuật ung thư tuyến tụy đầu tiên năm 2004, được ghép gan năm 2009 và đã ba lần vắng bóng lại Apple để đi điều trị trước khi chính thức từ chức CEO vào tháng 8. "Tôi luôn nói rằng nếu có một ngày tôi không thể đáp ứng được nhiệm vụ và mong đợi của Apple, tôi sẽ là người đầu tiên thông báo cho các bạn biết. Rất tiếc, ngày đó đã đến", Steve Jobs viết trong lá thư gửi nhân viên. Jobs quá gắn bó với Apple và phải đến khi không còn đủ sức lực để tiếp tục điều hành, ông mới trao lại vận mệnh công ty này vào tay Timothy D. Cook. Tân CEO Apple đã có dịp ra mắt trước công chúng vào ngày 4/10 khi Apple trình làng iPhone 4S với phong thái tự tin dù chưa thể tạo ra sức hút thực sự như Jobs.
Tám năm sau khi thành lập, Jobs đã cùng Apple cho ra đời máy tính Macintosh - một cuộc cách mạng về máy tính cá nhân khi đó. Ông từ phải rời khỏi Apple khi không được lựa chọn đảm nhiệm chức vụ CEO và 12 năm sau đó (1997), hãng này đã mua lại NeXT (công ty mới của Jobs) như một cách để đón ông trở về. Kể từ đó, Apple thực sự hồi sinh với iPod, iPhone và iPad. Chúng không đơn thuần là những sản phẩm đẹp và ăn khách mà còn biến đổi ngành công nghiệp âm nhạc và di động.
Jobs không phải một kỹ sư phần cứng hay một lập trình viên phần mềm. Ông cũng không bao giờ nhận mình là một nhà quản lý. Ông tự coi mình là một nhà lãnh đạo công nghệ, biết chọn những người tài nhất có thể, khuyến khích và tạo cảm hứng để họ làm ra những sản phẩm đột phá thế giới.
Đó chính là phong cách mà Jobs thể hiện bao năm qua. Ngay từ những ngày đầu thành lập công ty, các cộng sự của ông đã phải nhận những lời chỉ trích cay nghiệt, thậm chí có tính nhục mạ. Ông không khoan nhượng cho những sai lầm. Apple có những thiết bị lừng danh thế giới, nhưng không phải không có thất bại. Và khi đó, giông tố sẽ đổ ập xuống đầu nhóm phát triển sản phẩm đó. Adam Lashinsky từng mô tả trong bài viết gây sốc đăng trên tạp chí Fortune (Mỹ) rằng Jobs dành nửa tiếng "xỉ vả" nhóm phát triển công cụ Mobile Me vì "các vị làm tổn hại thanh danh của Apple và nên tự căm ghét chính bản thân mình". Tuy vậy, ông đã tạo được sự trung thành khó tin trong đội ngũ nhân viên.
Steve Jobs khắc nghiệt nhưng tạo được sự trung thành tuyệt đối với các công sự. Ảnh: BI. Lối quản lý khắc nghiệt của Jobs còn thể hiện qua bài phát biểu ngắn gọn với ban lãnh đạo (Lashinsky kể lại) rằng: "Tôi hỏi người lao công sao không đổ rác trong phòng tôi, người đó giải thích không có chìa khóa. Tôi chấp nhận. Họ được quyền thanh minh vì sao và tại ai mà họ không hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tóm lại, một công nhân vệ sinh được phép bào chữa cho sai lầm của mình, còn người lãnh đạo thì không. Ở đâu đó giữa vị trí của người quét rác và một CEO là lằn ranh ngăn cách về quyền được bào chữa sai lầm hay không. Nếu muốn ngồi vào ghế Phó chủ tịch, các vị phải vượt qua lằn ranh đó". Đến nay, chưa phó chủ tịch nào của Apple mắc sai lầm nghiêm trọng đến mức phải bị sa thải.
Năm 2011, lần đầu tiên Jobs đồng ý tham viết tiểu sử về mình. Cuốn sách của tác giả Walter Isaacson sẽ tập hợp hơn 40 cuộc phỏng vấn về sự nghiệp và đời tư với Jobs trong 2 năm qua, cũng như nhận xét, đánh giá của hơn 100 thành viên trong gia đình, bạn bè, đối thủ, đối tác... Sách sẽ lên kệ vào 21/11/2011, ngay trước Lễ Tạ Ơn.
Còn Abdulfattah Jandali, cha đẻ của Jobs và hiện 80 tuổi, từng hy vọng một ngày nào đó con trai sẽ gọi cho ông và cả hai cùng thư thái uống cafe trước khi quá muộn. Đến hôm nay khi Steve Jobs vĩnh viễn ra đi, họ vẫn chưa thể gặp lại nhau.
Nguyễn Hùng - Châu An
Bênh Israel - sai lầm lớn nhất của Obama?
Dư luận đang hết sức hồi hộp suy đoán về những đổi thay trong vài tháng tới sau khi Palestine đệ trình đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc với quy chế quốc gia độc lập.
Một số người cho rằng, động thái này có thể giúp Palestine có được tư cách thành viên Liên Hiệp Quốc thực sự, một số khác lại khẳng định thắng lợi nếu có cũng mang tính tượng trưng trong không ít người đánh giá, hệ quả của nỗ lực ngoại giao đơn phương sẽ chỉ khiến Palestine gặp khó khăn hơn khi Mỹ và Israel quay sang theo đuổi các chính sách cứng rắn.
Theo giới phân tích, dù hệ lụy của hành động đơn phương của Palestine là thế nào thì động thái này chắc chắn sẽ được ghi nhận trong lịch sử nhân loại bởi hai yếu tố mang tính bước ngoặt.
Bước ngoặt thứ nhất đó là chiến dịch ngoại giao này khiến cho cuộc xung đột giữa thế giới Arab với Israel biến thành cuộc “so găng” giữa cộng đồng Arab với Israel - Mỹ, để rồi hậu quả sẽ là sự thất bại của liên minh Mỹ - Israel.
Chiến dịch ngoại giao đơn phương của Palestine tại Liên Hiệp Quốc sẽ đi vào lịch sử nhân loại. Chiến lược ngoại giao trong khoảng thời gian dài vừa qua của Mỹ là ủng hộ nhà nước Israel cũng như bảo đảm an ninh cho quốc gia này song vẫn tìm mọi cách để đưa ra được một giải pháp hòa giải cho cuộc xung đột giữa Israel và Palestine, theo đó, tạo điều kiện cho Palestine tuyên bố độc lập dựa trên cơ sở biên giới năm 1967.
Tuy nhiên, chiến lược đó cuối cùng cũng thất bại thảm hại khi Palestine tự mình đệ trình đơn xin công nhận quy chế quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc. Điều đáng chú ý là khi mọi nỗ lực ngoại giao đổ vỡ, Washington “lật bài ngửa” quay sang bênh vực Tel Aviv và thừa nhận rằng, Nhà Trắng coi trọng quyền lợi của Israel hơn của Palestine.
Do đó, cân bằng lực lượng trong cuộc xung đột tại Trung Đông lập tức thay đổi với việc thế giới Arab phải đối mặt với thách thức tổng lực của Mỹ Israel.
Tuy nhiên, tờ Dailystar nhận định, liên minh này sẽ bị đánh bại, song không phải bằng các phương tiên quân sự như cuộc chiến tranh Arab-Israel hồi năm 1948. Thay vào đó, cuộc xung đột với sự góp mặt của Mỹ sẽ diễn biến một cách hòa bình với việc thế giới Arab cùng những người ủng hộ và anh em của mình trên toàn thế giới sẽ khai thác triệt để giải pháp chính trị để thách thức và lật đổ liên minh Washington – Tel Aviv giống như cách chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid của Nam Phi bị “xóa sổ”.
Theo Dailystar, liên minh Mỹ - Israel rốt cuộc sẽ bị đánh bại bằng giải pháp hòa bình, giống như cuộc lật đổ chế độ Apartheid tại Nam Phi.
Lý giải cho nhận định này, Dailystar cho rằng, Mỹ giờ công khai ủng hộ quan điểm của Israel về các vấn đề chủ quyền quốc gia, tâm điểm của cuộc xung đột giữa Palestine và Israel và trên quy mô lớn hơn là giữa thế giới Arab và Israel.
Điều này khiến cho Mỹ và Israel đi ngược hoàn toàn với quan điểm chung của cộng đồng quốc tế là công nhận nhà nước Palestine nhằm đem lại hồi kết cho các nỗ lực hòa giải bất thành của Washington, đồng thời mang lại công bằng cho tất cả các bên trong cuộc xung đột tại Trung Đông.
“Với sự trái khoáy này, liên minh Mỹ - Israel sẽ bị thế giới kịch liệt phản đối và hợp sức chống lại như cuộc lật đổ chế độ Apartheid năm 1991”, Dailystar khẳng định.
Bước ngoặt thứ 2 đó là cộng đồng Arab cũng như phần còn lại của thế giới giờ sẽ không do dự trong việc đối đầu với liên minh Mỹ - Israel. Quyền lực mạnh mẽ của liên minh này sẽ không còn là mối đe dọa, ngăn cản những quốc gia phản đối các hành động tội lỗi mà Mỹ và Israel gây ra với Palestine cũng như các nước Arab khác.
Lý do cho sự dũng cảm này xuất phát từ thực tế rằng, một lãnh đạo Palestine nhỏ bé như Mahmoud Abbas còn có thể khiến Mỹ và Israel phải lo sợ trong suốt vài tuần qua thì chẳng có lý gì các quốc gia lớn mạnh khác trong thế giới Arab lại không thể đứng lên thẳng thắn chống lại sự chiếm đóng của Israel đối với Palestine cũng như thách thức quan điểm chính trị của Mỹ và Israel.
Dailystar khẳng định, nếu những động thái chính trị mạnh bạo như việc đệ trình lên Liên Hiệp Quốc của Palestine kết hợp với làn sóng phản đối của cộng đồng người Arab thì chắc chắn sẽ tạo ra một sức ép rất lớn đối với Israel và Mỹ, đồng thời đưa cuộc xung đột tại Trung Đông đến hồi kết một cách êm đẹp.
Trà My (theo Daily Star)
Một số người cho rằng, động thái này có thể giúp Palestine có được tư cách thành viên Liên Hiệp Quốc thực sự, một số khác lại khẳng định thắng lợi nếu có cũng mang tính tượng trưng trong không ít người đánh giá, hệ quả của nỗ lực ngoại giao đơn phương sẽ chỉ khiến Palestine gặp khó khăn hơn khi Mỹ và Israel quay sang theo đuổi các chính sách cứng rắn.
Theo giới phân tích, dù hệ lụy của hành động đơn phương của Palestine là thế nào thì động thái này chắc chắn sẽ được ghi nhận trong lịch sử nhân loại bởi hai yếu tố mang tính bước ngoặt.
Bước ngoặt thứ nhất đó là chiến dịch ngoại giao này khiến cho cuộc xung đột giữa thế giới Arab với Israel biến thành cuộc “so găng” giữa cộng đồng Arab với Israel - Mỹ, để rồi hậu quả sẽ là sự thất bại của liên minh Mỹ - Israel.
Chiến dịch ngoại giao đơn phương của Palestine tại Liên Hiệp Quốc sẽ đi vào lịch sử nhân loại. Chiến lược ngoại giao trong khoảng thời gian dài vừa qua của Mỹ là ủng hộ nhà nước Israel cũng như bảo đảm an ninh cho quốc gia này song vẫn tìm mọi cách để đưa ra được một giải pháp hòa giải cho cuộc xung đột giữa Israel và Palestine, theo đó, tạo điều kiện cho Palestine tuyên bố độc lập dựa trên cơ sở biên giới năm 1967.
Tuy nhiên, chiến lược đó cuối cùng cũng thất bại thảm hại khi Palestine tự mình đệ trình đơn xin công nhận quy chế quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc. Điều đáng chú ý là khi mọi nỗ lực ngoại giao đổ vỡ, Washington “lật bài ngửa” quay sang bênh vực Tel Aviv và thừa nhận rằng, Nhà Trắng coi trọng quyền lợi của Israel hơn của Palestine.
Do đó, cân bằng lực lượng trong cuộc xung đột tại Trung Đông lập tức thay đổi với việc thế giới Arab phải đối mặt với thách thức tổng lực của Mỹ Israel.
Tuy nhiên, tờ Dailystar nhận định, liên minh này sẽ bị đánh bại, song không phải bằng các phương tiên quân sự như cuộc chiến tranh Arab-Israel hồi năm 1948. Thay vào đó, cuộc xung đột với sự góp mặt của Mỹ sẽ diễn biến một cách hòa bình với việc thế giới Arab cùng những người ủng hộ và anh em của mình trên toàn thế giới sẽ khai thác triệt để giải pháp chính trị để thách thức và lật đổ liên minh Washington – Tel Aviv giống như cách chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid của Nam Phi bị “xóa sổ”.
Theo Dailystar, liên minh Mỹ - Israel rốt cuộc sẽ bị đánh bại bằng giải pháp hòa bình, giống như cuộc lật đổ chế độ Apartheid tại Nam Phi.
Lý giải cho nhận định này, Dailystar cho rằng, Mỹ giờ công khai ủng hộ quan điểm của Israel về các vấn đề chủ quyền quốc gia, tâm điểm của cuộc xung đột giữa Palestine và Israel và trên quy mô lớn hơn là giữa thế giới Arab và Israel.
Điều này khiến cho Mỹ và Israel đi ngược hoàn toàn với quan điểm chung của cộng đồng quốc tế là công nhận nhà nước Palestine nhằm đem lại hồi kết cho các nỗ lực hòa giải bất thành của Washington, đồng thời mang lại công bằng cho tất cả các bên trong cuộc xung đột tại Trung Đông.
“Với sự trái khoáy này, liên minh Mỹ - Israel sẽ bị thế giới kịch liệt phản đối và hợp sức chống lại như cuộc lật đổ chế độ Apartheid năm 1991”, Dailystar khẳng định.
Bước ngoặt thứ 2 đó là cộng đồng Arab cũng như phần còn lại của thế giới giờ sẽ không do dự trong việc đối đầu với liên minh Mỹ - Israel. Quyền lực mạnh mẽ của liên minh này sẽ không còn là mối đe dọa, ngăn cản những quốc gia phản đối các hành động tội lỗi mà Mỹ và Israel gây ra với Palestine cũng như các nước Arab khác.
Lý do cho sự dũng cảm này xuất phát từ thực tế rằng, một lãnh đạo Palestine nhỏ bé như Mahmoud Abbas còn có thể khiến Mỹ và Israel phải lo sợ trong suốt vài tuần qua thì chẳng có lý gì các quốc gia lớn mạnh khác trong thế giới Arab lại không thể đứng lên thẳng thắn chống lại sự chiếm đóng của Israel đối với Palestine cũng như thách thức quan điểm chính trị của Mỹ và Israel.
Dailystar khẳng định, nếu những động thái chính trị mạnh bạo như việc đệ trình lên Liên Hiệp Quốc của Palestine kết hợp với làn sóng phản đối của cộng đồng người Arab thì chắc chắn sẽ tạo ra một sức ép rất lớn đối với Israel và Mỹ, đồng thời đưa cuộc xung đột tại Trung Đông đến hồi kết một cách êm đẹp.
Trà My (theo Daily Star)
Người khổng lồ bị sập bẫy?
Bùi Tín(Nguồn: VOA)
Nhân ngày quốc khánh Trung Quốc 1 tháng 10, 1949 - 1 tháng 10, 2011, trên báo chí quốc tế đang diễn ra cuộc bàn luận lý thú về triển vọng phát triển của Trung Quốc. Có những ý kiến trái ngược nhau.

Cuộc triển lãm xe hơi hiệu “Chery” của Trung Quốc tại tỉnh An Huy. (Hình: STR/AFP/Getty Images)
Một bên là những ý kiến ca ngợi sự phát triển liên tục của Trung Quốc, từ một nước nghèo, lạc hậu, thực hiện 4 hiện đại hóa, trở thành nước công nghiệp ở mức trung bình, đang lao tới như một đoàn tàu tốc độ cao, gia nhập câu lạc bộ các nước phát triển, thành siêu cường.
Trên báo The Age của Úc một nhà bình luận nổi tiếng dự đoán rằng Trung Quốc vẫn sẽ duy trì tỷ lệ phát triển chừng 10 % mỗi năm, sau khi vượt giá trị sản lượng nước Ðức, nước Anh, năm nay vượt qua Nhật Bản, tất sẽ vượt Hoa Kỳ trong hơn 1 chục năm nữa thôi. Hoa Kỳ và Châu Âu đang lâm vào khủng hoảng và trì trệ nặng kéo dài cả về tài chính và kinh tế. Có thể đoán trước thế kỷ XXI là thế kỷ của Trung Quốc. Nhiều nhà kinh tế Trung Hoa cũng tỏ ra lạc quan, nêu cao vai trò chủ nợ thế giới của Trung Quốc, có dự trữ ngoại tệ hơn 3 ngàn tỷ đôla, đang phóng túng đầu tư và viện trợ lớn cho hàng loạt nước Châu Phi, còn bỏ tiền đầu tư và cho một số nước Châu Âu vay dài hạn để kiếm thêm lợi nhuận lớn.
Tuy nhiên, cũng có luồng suy nghĩ và lập luận trái ngược. Một số chuyên gia kinh tế, như Robert Fogel, giáo sư Ðại Học Harvard Hoa Kỳ được tặng giải Nobel về kinh tế; nhà bình luận Salvatore Babones... cho rằng nên thận trọng, đi vào chiều sâu tình hình kinh tế-xã hội để phân tích, cần thấy Trung Quốc có nhiều nét đặc thù. Trung Quốc hiện là nước mới giàu lên, nhưng còn rất nghèo, tổng sản lượng lớn là do dân quá đông, hơn 1.3 tỷ dân, nhưng hiện thu nhập tính theo đầu người lại đứng thứ 93 của thế giới - hơn 4,000 đôla/năm - chỉ bằng 1/10 của Hoa Kỳ. Chất lượng phát triển rất thấp. Các nhà kinh tế-xã hội cho rằng từ nghèo giàu lên đến mức trung bình có thể là một bệ phóng, lại có thể là một cạm bẫy. Họ đưa ra những thí dụ ở Nam Mỹ và Châu Á. Argentina trong 26 năm từ 1964 đến 1990 sản lượng tính theo đầu người từ 1,000 đôla lên đến 8,000 đôla, nhưng 12 năm sau con số ấy tụt hẳn xuống, nay chỉ còn 2,000. Indonesia và Philippines cũng vậy, sau một thời gian phát triển cao lại trì trệ, từ hơn 3,000 đôla nay chỉ còn 2,000 đôla/năm. Trong khi đó Singapore và Nam Triều Tiên giữ được tốc độ phát triển đều đặn, nay đạt hơn 40,000 đôla/năm. Ðó là những con hổ phát triển lên thành rồng.
Vậy bí quyết để biến thành hổ rồi thành rồng là gì? Các bài phân tích chỉ rõ ngay sau khi đạt được phát triển tốc độ khá cao, lãnh đạo các nước đó cần khiêm tốn và tỉnh táo, có những chính sách và chủ trương kịp thời:
- Phân chia thành quả phát triển công bằng, rộng khắp, ngành nào, địa phương nào, cá nhân nào đóng góp nhiều cho phát triển được hưởng tương đương, không để cho sự tăng trưởng chung bị những kẻ bất xứng tước đoạt một cách bất công, sẽ làm mất nhuệ khí phát triển, nhất là các nhà kinh doanh vừa và nhỏ;
- Việc phòng chống tham nhũng và lãng phí phải được đặt ra cấp bách nghiêm chỉnh, thành quả phát triển ưu tiên tăng vào quỹ tiền lương cho lao động, viên chức, thực hiện pháp luật thật nghiêm, đề cao đạo đức xã hội, coi kẻ tham nhũng xấu và nhục như bọn móc túi, bọn đào ngạch, bọn mafia cướp nhà băng. Ðể ai cũng không cần, không dám, không nỡ phạm tội tham nhũng, như ông Lý Quang Diệu khuyên nhà cầm quyền Hà Nội để rồi lắc đầu chán nản “vì họ không muốn nghe tôi.”
- Thành quả phát triển cần dồn trước hết không phải cho quốc phòng an ninh thường là một cách quá đáng, vượt quá xa sự cần thiết, mà cho giáo dục, y tế và nghiên cứu khoa học, vì đó là những nhân tố trực tiếp nâng cao chất lượng của nhân lực, của con người, động lực đầu tiên của phát triển. Riêng với Trung Quốc đây là vấn đề hệ trọng vì nền giáo dục trong cả nước còn sơ khai, cấp đại học bị xếp hạng thấp, y tế xã hội lạc hậu, bảo hiểm xã hội thô sơ.
Ðiều nguy hiểm ở Trung Quốc hiện nay là chênh lệch giàu nghèo không những không thu hẹp, lại mở rộng ra ở mức quá đáng. Mới cách đây 30 năm, Trung Quốc chỉ có vài tỷ phú đôla, nay đã lên đến gần 200 tỷ phú, tỷ phú giàu nhất sắp được vào Ban Chấp Hành Trung Ương đảng CS. Trong khi ở sâu trong nội địa, có vùng thu nhập bình quân chỉ đạt 1/10 mức trung bình. Hiện nay 1% dân số - chừng 12 triệu người thuộc phe nhóm, gia đình, con ông cháu cha thế lực cầm quyền - nắm trong tay hơn 40 % tài sản quốc gia. Bất mãn xã hội tăng rõ rệt. Mất ổn định chính trị do lòng dân không yên thêm trầm trọng. Bùng nổ xã hội là tất yếu. Hiện nay một năm đã có hơn 300,000 cuộc đấu tranh, đình công, bãi công, phá hoại công sở, nhà máy, gấp 6 lần 10 năm trước.
Các học giả gọi tình trạng đó là “bị sập bẫy của phát triển,” “chui vào cạm bẫy của mức công nghiệp trung bình,” lãnh đạo thất bại trong việc “làm chủ chất lượng phát triển,” làm thui chột công cuộc phát triển vì không thay đổi cơ chế, không chuyển đổi hệ thống cai trị.
Họ cho đây là căn bệnh cận thị của các nhà độc đoán, không sao nhìn nhận ra tâm lý quần chúng tuy khao khát tiền của vật chất, nhưng khi tạm no đủ, họ càng khao khát công bằng xã hội, tự do kinh doanh và nhân cách làm người.
Các nhà kinh tế chỉ cho giới lãnh đạo Trung Quốc rõ là Nam Triều Tiên, Ðài Loan, Philippines, Indonesia không bị sập bẫy là vì đã sớm từ bỏ chế độ quân phiệt Park Chung Hee, chế độ độc tài Tưởng Giới Thạch, chế độ độc đoán Ferdinand Marcos và Suharto. Ngay Singapore cũng đã cho phép đảng Dân chủ hoạt động và đặc biệt thực hiện tự do báo chí cởi mở nhất Ðông Nam Á, có nền hành chính “thân dân và trọng dân” nhất Châu Á, còn đạt kỷ lục về chống tham nhũng, chính quyền trong sạch, đứng hàng đầu của thế giới.
Có nhiều nhân vật cấp cao của Trung Quốc đồng tình cảnh báo nguy cơ “sập bẫy” trên đây.
Trung Tướng Lưu Á Châu, chính ủy Học Viện Quốc Phòng, công khai cảnh báo rằng Trung Quốc sẽ sụp đổ như Liên Xô trước đây nếu không sớm từ bỏ chế độ hiện nay. Ông tự nhận là người yêu nước nên mới cảnh báo điều này, ông khẳng định ông không là kẻ theo Mỹ, nhưng công nhận kiểu chế độ Hoa Kỳ là mô hình tốt nhất. Ông chỉ rõ sức mạnh Hoa Kỳ không nằm ở phố Wall, trụ sở của các trùm tư bản; cũng không nằm ở thung lũng Silicon, trung tâm sản xuất điện tử ở California, mà là ở cơ chế dân chủ và nền pháp trị tiên tiến, mô hình mà Trung Quốc cần áp dụng để phát triển bền vững.
Sự sụp đổ đột nhiên của các chế độ độc đoán ở Bắc Phi đang trên đà phát triển là thêm một cảnh báo “sập bẫy trong phát triển” cho Trung Quốc và một số nước phát triển không lành mạnh, chênh lệch giàu nghèo mở rộng toang hoác, do đó không vững bền, chứa nhiều nguy cơ, dễ đổ vỡ.
Bùi Tín(Nguồn: VOA)
Nhân ngày quốc khánh Trung Quốc 1 tháng 10, 1949 - 1 tháng 10, 2011, trên báo chí quốc tế đang diễn ra cuộc bàn luận lý thú về triển vọng phát triển của Trung Quốc. Có những ý kiến trái ngược nhau.

Cuộc triển lãm xe hơi hiệu “Chery” của Trung Quốc tại tỉnh An Huy. (Hình: STR/AFP/Getty Images)
Một bên là những ý kiến ca ngợi sự phát triển liên tục của Trung Quốc, từ một nước nghèo, lạc hậu, thực hiện 4 hiện đại hóa, trở thành nước công nghiệp ở mức trung bình, đang lao tới như một đoàn tàu tốc độ cao, gia nhập câu lạc bộ các nước phát triển, thành siêu cường.
Trên báo The Age của Úc một nhà bình luận nổi tiếng dự đoán rằng Trung Quốc vẫn sẽ duy trì tỷ lệ phát triển chừng 10 % mỗi năm, sau khi vượt giá trị sản lượng nước Ðức, nước Anh, năm nay vượt qua Nhật Bản, tất sẽ vượt Hoa Kỳ trong hơn 1 chục năm nữa thôi. Hoa Kỳ và Châu Âu đang lâm vào khủng hoảng và trì trệ nặng kéo dài cả về tài chính và kinh tế. Có thể đoán trước thế kỷ XXI là thế kỷ của Trung Quốc. Nhiều nhà kinh tế Trung Hoa cũng tỏ ra lạc quan, nêu cao vai trò chủ nợ thế giới của Trung Quốc, có dự trữ ngoại tệ hơn 3 ngàn tỷ đôla, đang phóng túng đầu tư và viện trợ lớn cho hàng loạt nước Châu Phi, còn bỏ tiền đầu tư và cho một số nước Châu Âu vay dài hạn để kiếm thêm lợi nhuận lớn.
Tuy nhiên, cũng có luồng suy nghĩ và lập luận trái ngược. Một số chuyên gia kinh tế, như Robert Fogel, giáo sư Ðại Học Harvard Hoa Kỳ được tặng giải Nobel về kinh tế; nhà bình luận Salvatore Babones... cho rằng nên thận trọng, đi vào chiều sâu tình hình kinh tế-xã hội để phân tích, cần thấy Trung Quốc có nhiều nét đặc thù. Trung Quốc hiện là nước mới giàu lên, nhưng còn rất nghèo, tổng sản lượng lớn là do dân quá đông, hơn 1.3 tỷ dân, nhưng hiện thu nhập tính theo đầu người lại đứng thứ 93 của thế giới - hơn 4,000 đôla/năm - chỉ bằng 1/10 của Hoa Kỳ. Chất lượng phát triển rất thấp. Các nhà kinh tế-xã hội cho rằng từ nghèo giàu lên đến mức trung bình có thể là một bệ phóng, lại có thể là một cạm bẫy. Họ đưa ra những thí dụ ở Nam Mỹ và Châu Á. Argentina trong 26 năm từ 1964 đến 1990 sản lượng tính theo đầu người từ 1,000 đôla lên đến 8,000 đôla, nhưng 12 năm sau con số ấy tụt hẳn xuống, nay chỉ còn 2,000. Indonesia và Philippines cũng vậy, sau một thời gian phát triển cao lại trì trệ, từ hơn 3,000 đôla nay chỉ còn 2,000 đôla/năm. Trong khi đó Singapore và Nam Triều Tiên giữ được tốc độ phát triển đều đặn, nay đạt hơn 40,000 đôla/năm. Ðó là những con hổ phát triển lên thành rồng.
Vậy bí quyết để biến thành hổ rồi thành rồng là gì? Các bài phân tích chỉ rõ ngay sau khi đạt được phát triển tốc độ khá cao, lãnh đạo các nước đó cần khiêm tốn và tỉnh táo, có những chính sách và chủ trương kịp thời:
- Phân chia thành quả phát triển công bằng, rộng khắp, ngành nào, địa phương nào, cá nhân nào đóng góp nhiều cho phát triển được hưởng tương đương, không để cho sự tăng trưởng chung bị những kẻ bất xứng tước đoạt một cách bất công, sẽ làm mất nhuệ khí phát triển, nhất là các nhà kinh doanh vừa và nhỏ;
- Việc phòng chống tham nhũng và lãng phí phải được đặt ra cấp bách nghiêm chỉnh, thành quả phát triển ưu tiên tăng vào quỹ tiền lương cho lao động, viên chức, thực hiện pháp luật thật nghiêm, đề cao đạo đức xã hội, coi kẻ tham nhũng xấu và nhục như bọn móc túi, bọn đào ngạch, bọn mafia cướp nhà băng. Ðể ai cũng không cần, không dám, không nỡ phạm tội tham nhũng, như ông Lý Quang Diệu khuyên nhà cầm quyền Hà Nội để rồi lắc đầu chán nản “vì họ không muốn nghe tôi.”
- Thành quả phát triển cần dồn trước hết không phải cho quốc phòng an ninh thường là một cách quá đáng, vượt quá xa sự cần thiết, mà cho giáo dục, y tế và nghiên cứu khoa học, vì đó là những nhân tố trực tiếp nâng cao chất lượng của nhân lực, của con người, động lực đầu tiên của phát triển. Riêng với Trung Quốc đây là vấn đề hệ trọng vì nền giáo dục trong cả nước còn sơ khai, cấp đại học bị xếp hạng thấp, y tế xã hội lạc hậu, bảo hiểm xã hội thô sơ.
Ðiều nguy hiểm ở Trung Quốc hiện nay là chênh lệch giàu nghèo không những không thu hẹp, lại mở rộng ra ở mức quá đáng. Mới cách đây 30 năm, Trung Quốc chỉ có vài tỷ phú đôla, nay đã lên đến gần 200 tỷ phú, tỷ phú giàu nhất sắp được vào Ban Chấp Hành Trung Ương đảng CS. Trong khi ở sâu trong nội địa, có vùng thu nhập bình quân chỉ đạt 1/10 mức trung bình. Hiện nay 1% dân số - chừng 12 triệu người thuộc phe nhóm, gia đình, con ông cháu cha thế lực cầm quyền - nắm trong tay hơn 40 % tài sản quốc gia. Bất mãn xã hội tăng rõ rệt. Mất ổn định chính trị do lòng dân không yên thêm trầm trọng. Bùng nổ xã hội là tất yếu. Hiện nay một năm đã có hơn 300,000 cuộc đấu tranh, đình công, bãi công, phá hoại công sở, nhà máy, gấp 6 lần 10 năm trước.
Các học giả gọi tình trạng đó là “bị sập bẫy của phát triển,” “chui vào cạm bẫy của mức công nghiệp trung bình,” lãnh đạo thất bại trong việc “làm chủ chất lượng phát triển,” làm thui chột công cuộc phát triển vì không thay đổi cơ chế, không chuyển đổi hệ thống cai trị.
Họ cho đây là căn bệnh cận thị của các nhà độc đoán, không sao nhìn nhận ra tâm lý quần chúng tuy khao khát tiền của vật chất, nhưng khi tạm no đủ, họ càng khao khát công bằng xã hội, tự do kinh doanh và nhân cách làm người.
Các nhà kinh tế chỉ cho giới lãnh đạo Trung Quốc rõ là Nam Triều Tiên, Ðài Loan, Philippines, Indonesia không bị sập bẫy là vì đã sớm từ bỏ chế độ quân phiệt Park Chung Hee, chế độ độc tài Tưởng Giới Thạch, chế độ độc đoán Ferdinand Marcos và Suharto. Ngay Singapore cũng đã cho phép đảng Dân chủ hoạt động và đặc biệt thực hiện tự do báo chí cởi mở nhất Ðông Nam Á, có nền hành chính “thân dân và trọng dân” nhất Châu Á, còn đạt kỷ lục về chống tham nhũng, chính quyền trong sạch, đứng hàng đầu của thế giới.
Có nhiều nhân vật cấp cao của Trung Quốc đồng tình cảnh báo nguy cơ “sập bẫy” trên đây.
Trung Tướng Lưu Á Châu, chính ủy Học Viện Quốc Phòng, công khai cảnh báo rằng Trung Quốc sẽ sụp đổ như Liên Xô trước đây nếu không sớm từ bỏ chế độ hiện nay. Ông tự nhận là người yêu nước nên mới cảnh báo điều này, ông khẳng định ông không là kẻ theo Mỹ, nhưng công nhận kiểu chế độ Hoa Kỳ là mô hình tốt nhất. Ông chỉ rõ sức mạnh Hoa Kỳ không nằm ở phố Wall, trụ sở của các trùm tư bản; cũng không nằm ở thung lũng Silicon, trung tâm sản xuất điện tử ở California, mà là ở cơ chế dân chủ và nền pháp trị tiên tiến, mô hình mà Trung Quốc cần áp dụng để phát triển bền vững.
Sự sụp đổ đột nhiên của các chế độ độc đoán ở Bắc Phi đang trên đà phát triển là thêm một cảnh báo “sập bẫy trong phát triển” cho Trung Quốc và một số nước phát triển không lành mạnh, chênh lệch giàu nghèo mở rộng toang hoác, do đó không vững bền, chứa nhiều nguy cơ, dễ đổ vỡ.
Tính Ưu Việt Của Xã Hội Chủ Nghiã
Hãy so sánh: Nam và Bắc Hàn
Nguyễn Hưng Quốc

Hình: ASSOCIATED PRESS Muốn thấy được "tính ưu việt” của chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa xã hội, tôi nghĩ, cách tốt nhất là so sánh Nam Hàn và Bắc Hàn.
Năm 1945, sự kết thúc của chiến tranh thế giới lần thứ hai cũng đồng thời là sự kết thúc của ách đô hộ kéo dài 35 năm (1910-45) của Nhật trên đất nước Đại Hàn. Lúc ấy, bất cần ý kiến của dân chúng Đại Hàn, các lực lượng Đồng Minh quyết định chia cắt nước này ra làm hai: miền Nam với sự giúp đỡ của Mỹ và miền Bắc với sự giúp đỡ của Liên Xô. Năm 1948, quân độ Liên Xô rút khỏi miền Bắc và năm sau, 1949, quân đội Mỹ cũng rút khỏi miền Nam .
Năm 1950, được sự ủng hộ của cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, Bắc Hàn, dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành, phát động chiến tranh, tung quân qua biên giới Nam Hàn, gọi là để thống nhất đất nước. Sau khi Liên Hiệp Quốc thất bại trong nỗ lực hòa giải và ngăn chận chiến tranh, Tổng thống Truman quyết định đưa quân Mỹ và một số nước đồng minh sang giúp Nam Hàn trong cuộc chiến đối đầu với miền Bắc. Lúc ấy, Trung Quốc cũng quyết định can thiệp (với sự trợ giúp khí giới của Liên Xô).
Chiến tranh Nam Bắc Hàn, do đó, biến thành cuộc đối đầu trực tiếp giữa Mỹ và Trung Quốc, trong đó có lúc (ví dụ riêng đợt phản công mùa xuân năm 1951), quân Trung Quốc nhảy vọt lên đến khoảng 700,000 người. Đến giữa năm 1953 thì hai bên tuyên bố đình chiến. Số tử vong trong cuộc chiến tranh kéo dài ba năm do miền Bắc phát động ấy, tùy theo từng nguồn, khá khác biệt. Theo số liệu do Trung Quốc công bố thì về phía họ có 114,000 binh sĩ tử vong do chiến trận, 34,000 binh sĩ khác tử vong vì những lý do khác, 380,000 người bị thương. Giới nghiên cứu Tây phương hoàn toàn nghi ngờ các con số này. Họ cho số tử vong của bộ đội Trung Quốc phải lên ít nhất là 400,000 người. Về phía Mỹ, số tử vong là 36,000 người; số mất tích là 8000 người và số bị thương là 82,000 người. Phía Nam Hàn, 58,000 bị chết; 175,000 người bị thương. Phía Bắc Hàn có 215,000 người bị chết và 303,000 người bị thương. Nhưng thảm kịch nặng nhất oằn lên dân chúng: có ít nhất trên hai triệu thường dân, từ cả hai miền, bị giết chết, kể cả bị giết tập thể, trước và sau chiến tranh, do những thù nghịch từ hai phía.
Sau chiến tranh, Đại Hàn lại bị chia làm hai, lấy vĩ tuyến 38 làm biên giới. Phía Nam được biết dưới tên chính thức là Đại Hàn Dân Quốc (thường được gọi tắt là Hàn Quốc); phía Bắc, Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên (thường được gọi tắt là Triều Tiên).
Thoạt đầu, cả hai đều gánh chịu một di sản giống nhau: Một, ách đô hộ kéo dài 35 năm của đế quốc Nhật Bản. (Xin lưu ý: Việt Nam chỉ bị Nhật chính thức chiếm đóng có khoảng nửa năm (từ đầu tháng 3 đến đầu tháng 8 năm 1945) mà hậu quả là có đến khoảng từ một đến hai triệu người bị chết đói (năm Ất Dậu, 1945). Ở Đại Hàn, thời gian chiếm đóng của Nhật kéo dài gấp 70 lần!). Hai, cuộc chiến tranh tuy ngắn ngủi, chỉ kéo dài ba năm, nhưng số thương vong lại được xếp vào loại lớn nhất trong tất cả các cuộc chiến tranh trong nội bộ một quốc gia ở thế kỷ 20. Ba, sự nghi kỵ và thù hận không phải giữa hai miền, Nam và Bắc, mà còn bên trong từng miền, giữa người này và người khác, thành phần này và thành phần khác; một hiện tượng rất phổ biến sau các cuộc nội chiến khốc liệt.
Những di sản ấy hiện rõ trong tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của cả hai miền ngay sau chiến tranh: nghèo khổ, lạc hậu và độc tài.
Nhưng mấy chục năm sau, ví dụ, ở thời điểm năm 2011 này, khoảng cách giữa hai miền, Hàn Quốc và Triều Tiên, khác nhau vời vợi.
Vào giữa thập niên 1950, cũng giống như Triều Tiên, Hàn Quốc nằm trong danh sách những quốc gia nghèo, tương tự vô số các quốc gia nghèo khác ở châu Á và châu Phi. Nhưng từ giữa thập niên 1960 thì họ nhảy vọt. Suốt cả mấy thập niên sau đó, họ được xem là một trong vài quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Giới nghiên cứu thường nêu lên một ví dụ về sự phát triển thần kỳ của Hàn Quốc: năm 1957, thu nhập trên đầu người của Hàn Quốc thấp hơn hẳn Ghana, một quốc gia thuộc Tây Phi; bốn mươi năm sau, vào năm 2008, thu nhập của họ cao gấp 17 lần Ghana! Hiện nay, Hàn Quốc nằm trong nhóm 20 quốc gia giàu mạnh nhất thế giới (G-20). Một số thương hiệu của Hàn Quốc trở nên quen thuộc trên phạm vi toàn cầu, hầu như đi đâu cũng gặp: Hyundai, Samsung, Daewoo và LG.
Còn Triều Tiên?
Cho đến nay, Triều Tiên nổi tiếng khắp thế giới vì nhiều cái nhất: Một trong vài quốc gia khép kín, bí mật, cuồng tín và chuyên chế nhất; một trong những quốc gia hung hăng nhất, lâu lâu lại đe dọa tấn công Hàn Quốc, Nhật Bản và cả Mỹ nữa; một trong những quốc gia nghèo khổ nhất ở châu Á với số dân đối diện với nguy cơ chết đói lên đến hàng triệu người mỗi năm (và nhiều lần đã chết thật. Ví dụ, theo nhiều tài liệu, trong thập niên 1990, số người chết đói có thể lên đến khoảng ba triệu!); đồng thời cũng là một trong những quốc gia buôn lậu ma túy khét tiếng nhất thế giới.
Tôi dựa trên tài liệu của CIA World Factbook cũng như một số tài liệu khác để tóm tắt các khác biệt chính giữa Nam và Bắc Hàn như sau:
Triều Tiên (Bắc Hàn) Hàn Quốc ( Nam Hàn)
Diện tích Bắc Hàn122,762 cây số vuông , Nam Hàn 99,720 cây số vuông
Dân số 25,5 triệu 48,754,657 (Tháng 7, 2011)
Tuổi thọ trung bình Bắc Hàn 72,07 tuổi , Nam Hàn 79,05 tuổi
Thu nhập bình quân đầu người Bắc Hàn 1,800 Mỹ kim (2009) Nam Hàn 30,000 Mỹ kim (năm 2010)
Tổng sản lượng quốc nội Bắc Hàn (GDP) 28 tỉ (2010)
Nam Hàn $1.459 trillion (2010) (trillion là một ngàn tỉ); xếp hàng thứ 13 trên thế giới
Tại sao cũng đất nước ấy, cũng con người ấy mà sau hơn nửa thế kỷ bị chia cắt, một nửa trở thành nơi giàu có thuộc loại hàng đầu trên thế giới, còn nơi kia lại thuộc vào những nước nghèo đói nhất thế giới?
Tại sao?
- Chỉ có thể trả lời bằng một chữ duy nhất: chế độ!
"Tính ưu việt" của chế độ xã hội chủ nghĩa là như vậy đó sao?
Tại Sao Nguyễn Phú Trọng Phải Đi Tầu ?
Phạm Trần Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng sẽ chính thức thăm Trung Cộng từ 11 đến 15 tháng 10 (2011) vào lúc quan hệ giữa hai nước Việt-Trung ở vào giai đoạn tồi tệ nhất kể từ cuộc chiến tranh biện giới năm 1979. Tại sao ?
Cuộc chiến mà Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình của Trung Cộng lúc bấy giớ gọi là để “dậy cho Việt Nam một bài học” đã gây cho 6 tỉnh Việt Nam dọc biên giới cửa nát nhà tan, nặng nhất là các tỉnh Lào Cai, Cao Bằng và Lạng Sơn.
Có trên 40 ngàn dân và binh sỹ Cộng sản chết và hàng trăm ngàn người khác bị thương và mất tích. Phiá Tầu cũng bị thiệt hại nặng với khỏang 14 ngàn lính chết và bị thương, chưa kể số quân lính mất tích.
Hai bên đã gián đoạn ngoại giao trong 12 năm cho đến khi tái lập năm 1991, sau khi Việt Nam phải rút quân khỏi chiến trường Cao Miên để thỏa mãn đòi hỏi của Trung Cộng, sau 11 năm chiếm đóng nước này từ 1978 đến 1989.
Trong cuộc chiến này, theo ước lượng của Tây phương thì phía Việt Nam chết khoảng 15 ngàn quân và lối 30 ngàn người khác bị thương. Quân đội Cao Miên (Khmer đỏ) cũng thiệt mạng khoảng 15 ngàn người, nhưng không biết số quân và dân bị thương là bao nhiêu.
VN TIẾP TỤC BỊ LÉP VẾ
Tuy nhiên Việt Nam đã phải trả một giá rất đắt cho hai cuộc chiến. Trên đất liền, theo lời Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Ðại Sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989) thì: “ Trong đàm phán biên giới, họ (Trung Hoa) ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai Chính phủ Pháp – Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận.” (Trích Bauxite Việt Nam, ngày1/12/2010)
Ngoài ra quân Tầu còn chiếm núi Lão Sơn trong nội địa của Việt Nam, (phía Việt Nam gọi là Cao điểm 1509), nằm ở huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang sau cuộc chiến năm 1984.
Sau đó vào tháng 3 năm 1988, Hải quân Tầu bất ngờ tấn công và đánh chiếm 8 mỏm đá ngầm của Việt Nam trong Quần đảo Trường Sa, sau khi vào tháng 1/1974, lợi dụng những ngày cuối cùng của cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam mà Quân lực Việt Nam Cộng hòa không còn đủ súng đạn tự vệ, đã tiến đánh và chiếm quần đảo Hòang Sa từ tay quân đội miền Nam.
Quân đội Trung Cộng đã xây dựng căn cứ quân sự và sân bay ngắn hay sân bay trực thăng ở cả hai quần đảo này.
Sau khi Việt Nam và Tầu đạt “Hiệp ước biên giới trên đất liền” năm 1999 và “Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ” trên Biển Đông năm 2000 thì Trung Cộng gia tăng áp lực đòi Việt Nam phải giải quyết chủ quyền trên các đảo và vùng biển còn lại, trong đó có vùng biển và quần đảo Trường Sa, nơi còn có tranh chấp của Đài Loan, Nam Dương, Mã Lai Á, Brunei và Phi Luật Tân.
Tình hình nóng lên khi Chính quyền tỉnh Hải Nam của Trung Cộng công bố thành lập Huyện hành chính Tam Sa, gồm cả Hòang Sa và Trường Sa vào năm 2007 khiến người dân Sài Gòn, xuống đường lần đầu tiêng biểu tình chống Bắc Kinh có ý đồ xâm lược.
Các cuộc biểu tình sau đó lan ra Hà Nội nhưng không bền lâu do chính quyền CSVN đàn áp, bắt bớ và khủng bố những người đi biểu tình.
Trong khi Trung Cộng tiếp tục đàn áp ngư dân và hàng năm ra lệnh cấm đánh bắt vào giữa mùa cá trên Biển Đông từ tháng 5 đến tháng 8 thì vào tháng 05 năm 2009, Bắc Kinh tự động nạp cho Liên Hiệp Quốc Bản đồ chủ quyền trên biển Đông có hình Lưỡi Bò hay “Đường 9 Đọan”, khoanh vùng chiếm từ 80 đến 80% diện tích Biển Đông, gồm cả hai Quân đảo Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Việt Nam và các nước ven biển phản đối. Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước trong vùng Thái Bình Dương, quan trọng nhất là Úc và Tân Tây Lan cùng với các nước Âu Châu bị chi phối bởi đường biển kinh tế quan Biển Đông cũng lên tiếng chống lại âm mưu khống chế đường giao thông trên biển của Bắc Kinh.
Cùng với thời điểm này, Trung Cộng gia tăng đánh, bắt và đàn áp ngư dân Việt Nam đánh cá trong khu vực Hòang Sa và Trường Sa. Hàng trăm ngư phủ đã bị giết, nhiều người khác mất tích và tài sản bị tịch thu và bắt chuộc tiền để được thả về.
Mỗi lần như thế, ngư dân Việt Nam phải ký giấy nhìn nhận đã đánh cá và xâm phạm “vùng biển của Trung Quốc”.
Nhưng các tầu Hải quân của Trung Cộng và Tầu hải giám (cảnh sát biển) của Hải quân ngụy tranh dân sự thì lại ra sức bảo vệ cho khỏang 700 thuyền và tầu đánh cá của ngư dân Trung Quốc thường xuyên được tự do đánh bắt trong vùng biển của Việt Nam.
Hành động Trung Cộng xâm phạm chủ quyền lãnh hải, biển đảo và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam nghiêm trọng hơn kể từ ngày 26-05-011 các Tầu Hải giám và Quân sự của Tầu đã trắng trợn vi phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam, theo tố cáo của Liên đòan Luật sư Việt Nam:
- Ngày 26/05/2011, 03 tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt cáp thăm dòcủa tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tại vị trí 12 độ48,25 phút Bắc và 111 độ 26,48 phút Đông cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên)(đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam) 116 hải lý,cách bờ biển đảo Hải Nam Trung Quốc là 340 hải lý.
- Chiều ngày31/05/2011, 04 tàu đánh cá của ngư dân thành phố Tuy Hòa đang đánh cá ởvị trí 8 độ 56 phút Bắc và 112 độ 45 phút Đông thuộc thềm lục địa ViệtNam bị 03 tàu Hải quân Trung Quốc nổ súng bắn xuống nước uy hiếp, đe dọakhông cho ngư dân Việt Nam hành nghề.
- Sáng ngày 09/06/2011, tàu cá Trung Quốc có sự yểm trợ của 02 tàu ngư chính Trung Quốc đã cố tình lao vào tuyến cáp khảo sát của tàu Viking II do Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam thuê khảo sát địa chấn trên vùng biển tại vị trí 6 độ 47,5phút Bắc và 109 độ 17,5 phút Đông thuộc thềm lục địa Việt Nam.
Sau đó, kể từ tháng 5/2011, nhà cầm quyền Trung Cộng còn thăm dò dầu khí trong vịnh Bắc bộ của Việt Nam; ngang nhiên đe dọa các Công ty dầu khí nước ngòai hợp tác với Việt Nam tìm kiếm dầu ở Biển Đông. Bắc Kinh còn tuyên bố đem dàn khoan khổng lồ đến hoạt động tìm kiếm dầu khí ở Trường Sa.
Vào tháng 9, Tầu công khai xác nhận việc đem các tầu chiến của họ yểm trợ cho kế họach nuôi cá trên biển dài hạn của 500 tầu đánh cá của Tầu trong khu vực Trường Sa và ngăn chặn không cho ngư dân Việt Nam đến vùng này.
Đến ngày 24/09 (2011), tầu chiến của Trung Cộng đã công khai tấn công và đuổi bắn suốt 2 ngày đêm vào 2 thuyền đánh cá của ngư dân Tỉnh Quảng Ngãi đang khi lâm nguy tìm đường tránh bão ở vùng biển Hoàng Sa. Rất may các ngư dân đã thoát chết, dù thuyền của họ đã bị lính Tầu xả nước với mục đích làm cho thuyền chìm và bắn đạn cháy vào tầu.
Trong khi lính Tầu dã man đuổi bắn ngư dân Việt như thế thì phía lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã ra lệnh cho các báo không được đăng tin và nếu đã đăng thì phải gỡ xuống, mặc dù một số báo chỉ dám gọi tầu chiến của Hải quân Trung Cộng là “tàu nước ngoài” hay “tàu chiến nước ngoài”.
Những hành động lấn chiếm biển đảo và lãnh thổ ngang ngược này của Trung Cộng là nguyên nhân của 11 Cuộc biểu tình của người dân ở Sài Gòn và Hà Nội từ tháng 6 (2011), nhưng cuối cùng Chính quyền VN đã nhượng bộ áp lực của Tầu và ra lệnh cấm biểu tình và bắt giam nhiều người chống Tầu.
Thậm chí, Việt Nam còn hứa sẽ ngăn cấm tất cả những cuộc biểu tình chống Trung Cộng, qua lời cam kết của Nguyễn Chí Vịnh, Trung tướng, Thứ trường Quốc phòng Việt Nam tại Cuộc họp với Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, Phó tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.
Lời hứa này đã được Báo Quân đội Nhân dân của Bộ Quốc phòng Việt Nam tường thuật sau phiên họp ngày 28-8 (2011) tại Bắc Kinh : “Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng thông báo chủ trương kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam với tinh thần không để sự việc tái diễn. (Theo Bảo Trung của Báo Quân đội Nhân dân, 30-8-2011)
Nếu ở một nước tự do, dân chủ và có lãnh đạo là một người biết tự trọng, có liêm sỉ và biết tôn trọng quyền lợi của đất nước thì không khi nào nói chuyện với lãnh đạo Tầu chứ đừng bàn đến chuyện ôm nhau và chìa tay ra “tay bắt mật mừng” như các Tổng Bí thư đảng CSVN đã từng làm trong các chuyến thăm Tầu trước Nguyễn Phú Trọng.
Thử hỏi một người đứng đầu một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam như Nguyễn Phú Trọng mà có mặt mũi nào lại hoan hỷ đi thăm một quốc gia mà Chính quyền nước đó đã và đang có những hành động lấn chiếm lãnh thồ và đe dọa chủ quyền của Việt Nam như nhà nước và đảng Cộng sản Trung Quốc ?
Vậy đâu là nguyên nhân của chuyến viếng thăm Tầu vào lúc này của Nguyễn Phú Trọng, sau 10 tháng được bầu vào chức Tổng Bí thư đảng CSVN ?
Chỉ có 5 lý do được suy ra:
1) Nhận khuyến cáo không được lung lay trước những áp lực của quần chúng có khuynh hướng chống Tầu lên cao.
2) Phải nghiêm túc chận đứng mọi khả năng nổi lên bài Trung Cộng của “các thế lực thù địch” và thực thi những cam kết với Trung Cộng của những lãnh đạo trước Trọng từ thời Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu cho đến Nông Đức Mạnh.
3) Hãy gác tranh chấp sang một bên để “cùng khai thác” tài nguyên ở Biển Đông.
4) Giữ vững tư tưởng của cán bộ, đảng viên, lực lượng Công an và Quân đội để bảo vệ quyền cai trị độc quyền cho đảng CSVN.
5) Tiếp tục duy trì hợp tác hữu nghị giữa hai nước dựa trên phương châm 16 chữ do lãnh đạo Tầu đưa ra cho Việt Nam thi hành là : “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.
4 ĐỜI TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG
Trước Trọng cũng đã có các chuyến thăm và làm việc với lãnh đạo đảng và nhà nước Tầu của các Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1990), Đỗ Mười (2 chuyến, 1991 và 1997), Lê Khả Phiêu (1 chuyến, 1999) và Nông Đức Mạnh (4 chuyến: 2001, 2003, 2006 và 2008).
Trong số các Tổng Bí Thư, Nguyễn Văn Linh đã mở đường tái lập quan hệ ngọai giao nhưng Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đã tạo cơ hội cho Trung Hoa vào khai thác Bauxite trên Tây Nguyên và dành nhiều công trình xây dựng và dự án kinh tế cho các Công ty của Tầu.
Theo lời Vũ Khoan, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ tháp tùng Mạnh sang Bắc Kinh năm 2003 thì trong chuyến đi này, Khoan nói :” Đặc biệt, trong chuyến thăm, các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc đã dành cho nhân dân Việt Nam hai món quà: xóa các khoản nợ đồng rúp trước đây (khoảng 420 triệu nhân dân tệ) và xây tặng phía Việt Nam một Nhà hữu nghị Trung-Việt. Hai món quà này thể hiện tinh thần "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai".
Đỗ Mười là người đã có công giữ vững chủ nghĩa Cộng sản ở Việt Nam và duy trì quyền lãnh đạo độc tôn cho đảng, theo đúng đường lối của đảng Cộng sản Trung Cộng.
Phải chăng đó là những lý do thầm kín khiến đảng CSVN không dám ho he với Tầu dù có bị khống chế trên nhiều mặt, đặc biệt là sự thao túng công khai và bá chủ của Trung Cộng trên Biển Đông.
Vấn đề đặt ra là liệu trong 5 ngày ở Tầu từ 11 đến 15 tháng 10 (2011), Nguyễn Phú Trọng có đủ bản lĩnh và khả năng để chống trả áp lực của lãnh đạo Trung Cộng hay sẽ cắn răng chịu trận để được yên thân, vì Trọng đã là người “của” Bắc Kinh từ lâu như lời đồn đại ở Hà Nội? -
Phạm Trần
Phạm Trần Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng sẽ chính thức thăm Trung Cộng từ 11 đến 15 tháng 10 (2011) vào lúc quan hệ giữa hai nước Việt-Trung ở vào giai đoạn tồi tệ nhất kể từ cuộc chiến tranh biện giới năm 1979. Tại sao ?
Cuộc chiến mà Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình của Trung Cộng lúc bấy giớ gọi là để “dậy cho Việt Nam một bài học” đã gây cho 6 tỉnh Việt Nam dọc biên giới cửa nát nhà tan, nặng nhất là các tỉnh Lào Cai, Cao Bằng và Lạng Sơn.
Có trên 40 ngàn dân và binh sỹ Cộng sản chết và hàng trăm ngàn người khác bị thương và mất tích. Phiá Tầu cũng bị thiệt hại nặng với khỏang 14 ngàn lính chết và bị thương, chưa kể số quân lính mất tích.
Hai bên đã gián đoạn ngoại giao trong 12 năm cho đến khi tái lập năm 1991, sau khi Việt Nam phải rút quân khỏi chiến trường Cao Miên để thỏa mãn đòi hỏi của Trung Cộng, sau 11 năm chiếm đóng nước này từ 1978 đến 1989.
Trong cuộc chiến này, theo ước lượng của Tây phương thì phía Việt Nam chết khoảng 15 ngàn quân và lối 30 ngàn người khác bị thương. Quân đội Cao Miên (Khmer đỏ) cũng thiệt mạng khoảng 15 ngàn người, nhưng không biết số quân và dân bị thương là bao nhiêu.
VN TIẾP TỤC BỊ LÉP VẾ
Tuy nhiên Việt Nam đã phải trả một giá rất đắt cho hai cuộc chiến. Trên đất liền, theo lời Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Ðại Sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989) thì: “ Trong đàm phán biên giới, họ (Trung Hoa) ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai Chính phủ Pháp – Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận.” (Trích Bauxite Việt Nam, ngày1/12/2010)
Ngoài ra quân Tầu còn chiếm núi Lão Sơn trong nội địa của Việt Nam, (phía Việt Nam gọi là Cao điểm 1509), nằm ở huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang sau cuộc chiến năm 1984.
Sau đó vào tháng 3 năm 1988, Hải quân Tầu bất ngờ tấn công và đánh chiếm 8 mỏm đá ngầm của Việt Nam trong Quần đảo Trường Sa, sau khi vào tháng 1/1974, lợi dụng những ngày cuối cùng của cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam mà Quân lực Việt Nam Cộng hòa không còn đủ súng đạn tự vệ, đã tiến đánh và chiếm quần đảo Hòang Sa từ tay quân đội miền Nam.
Quân đội Trung Cộng đã xây dựng căn cứ quân sự và sân bay ngắn hay sân bay trực thăng ở cả hai quần đảo này.
Sau khi Việt Nam và Tầu đạt “Hiệp ước biên giới trên đất liền” năm 1999 và “Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ” trên Biển Đông năm 2000 thì Trung Cộng gia tăng áp lực đòi Việt Nam phải giải quyết chủ quyền trên các đảo và vùng biển còn lại, trong đó có vùng biển và quần đảo Trường Sa, nơi còn có tranh chấp của Đài Loan, Nam Dương, Mã Lai Á, Brunei và Phi Luật Tân.
Tình hình nóng lên khi Chính quyền tỉnh Hải Nam của Trung Cộng công bố thành lập Huyện hành chính Tam Sa, gồm cả Hòang Sa và Trường Sa vào năm 2007 khiến người dân Sài Gòn, xuống đường lần đầu tiêng biểu tình chống Bắc Kinh có ý đồ xâm lược.
Các cuộc biểu tình sau đó lan ra Hà Nội nhưng không bền lâu do chính quyền CSVN đàn áp, bắt bớ và khủng bố những người đi biểu tình.
Trong khi Trung Cộng tiếp tục đàn áp ngư dân và hàng năm ra lệnh cấm đánh bắt vào giữa mùa cá trên Biển Đông từ tháng 5 đến tháng 8 thì vào tháng 05 năm 2009, Bắc Kinh tự động nạp cho Liên Hiệp Quốc Bản đồ chủ quyền trên biển Đông có hình Lưỡi Bò hay “Đường 9 Đọan”, khoanh vùng chiếm từ 80 đến 80% diện tích Biển Đông, gồm cả hai Quân đảo Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Việt Nam và các nước ven biển phản đối. Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước trong vùng Thái Bình Dương, quan trọng nhất là Úc và Tân Tây Lan cùng với các nước Âu Châu bị chi phối bởi đường biển kinh tế quan Biển Đông cũng lên tiếng chống lại âm mưu khống chế đường giao thông trên biển của Bắc Kinh.
Cùng với thời điểm này, Trung Cộng gia tăng đánh, bắt và đàn áp ngư dân Việt Nam đánh cá trong khu vực Hòang Sa và Trường Sa. Hàng trăm ngư phủ đã bị giết, nhiều người khác mất tích và tài sản bị tịch thu và bắt chuộc tiền để được thả về.
Mỗi lần như thế, ngư dân Việt Nam phải ký giấy nhìn nhận đã đánh cá và xâm phạm “vùng biển của Trung Quốc”.
Nhưng các tầu Hải quân của Trung Cộng và Tầu hải giám (cảnh sát biển) của Hải quân ngụy tranh dân sự thì lại ra sức bảo vệ cho khỏang 700 thuyền và tầu đánh cá của ngư dân Trung Quốc thường xuyên được tự do đánh bắt trong vùng biển của Việt Nam.
Hành động Trung Cộng xâm phạm chủ quyền lãnh hải, biển đảo và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam nghiêm trọng hơn kể từ ngày 26-05-011 các Tầu Hải giám và Quân sự của Tầu đã trắng trợn vi phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam, theo tố cáo của Liên đòan Luật sư Việt Nam:
- Ngày 26/05/2011, 03 tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt cáp thăm dòcủa tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tại vị trí 12 độ48,25 phút Bắc và 111 độ 26,48 phút Đông cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên)(đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam) 116 hải lý,cách bờ biển đảo Hải Nam Trung Quốc là 340 hải lý.
- Chiều ngày31/05/2011, 04 tàu đánh cá của ngư dân thành phố Tuy Hòa đang đánh cá ởvị trí 8 độ 56 phút Bắc và 112 độ 45 phút Đông thuộc thềm lục địa ViệtNam bị 03 tàu Hải quân Trung Quốc nổ súng bắn xuống nước uy hiếp, đe dọakhông cho ngư dân Việt Nam hành nghề.
- Sáng ngày 09/06/2011, tàu cá Trung Quốc có sự yểm trợ của 02 tàu ngư chính Trung Quốc đã cố tình lao vào tuyến cáp khảo sát của tàu Viking II do Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam thuê khảo sát địa chấn trên vùng biển tại vị trí 6 độ 47,5phút Bắc và 109 độ 17,5 phút Đông thuộc thềm lục địa Việt Nam.
Sau đó, kể từ tháng 5/2011, nhà cầm quyền Trung Cộng còn thăm dò dầu khí trong vịnh Bắc bộ của Việt Nam; ngang nhiên đe dọa các Công ty dầu khí nước ngòai hợp tác với Việt Nam tìm kiếm dầu ở Biển Đông. Bắc Kinh còn tuyên bố đem dàn khoan khổng lồ đến hoạt động tìm kiếm dầu khí ở Trường Sa.
Vào tháng 9, Tầu công khai xác nhận việc đem các tầu chiến của họ yểm trợ cho kế họach nuôi cá trên biển dài hạn của 500 tầu đánh cá của Tầu trong khu vực Trường Sa và ngăn chặn không cho ngư dân Việt Nam đến vùng này.
Đến ngày 24/09 (2011), tầu chiến của Trung Cộng đã công khai tấn công và đuổi bắn suốt 2 ngày đêm vào 2 thuyền đánh cá của ngư dân Tỉnh Quảng Ngãi đang khi lâm nguy tìm đường tránh bão ở vùng biển Hoàng Sa. Rất may các ngư dân đã thoát chết, dù thuyền của họ đã bị lính Tầu xả nước với mục đích làm cho thuyền chìm và bắn đạn cháy vào tầu.
Trong khi lính Tầu dã man đuổi bắn ngư dân Việt như thế thì phía lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã ra lệnh cho các báo không được đăng tin và nếu đã đăng thì phải gỡ xuống, mặc dù một số báo chỉ dám gọi tầu chiến của Hải quân Trung Cộng là “tàu nước ngoài” hay “tàu chiến nước ngoài”.
Những hành động lấn chiếm biển đảo và lãnh thổ ngang ngược này của Trung Cộng là nguyên nhân của 11 Cuộc biểu tình của người dân ở Sài Gòn và Hà Nội từ tháng 6 (2011), nhưng cuối cùng Chính quyền VN đã nhượng bộ áp lực của Tầu và ra lệnh cấm biểu tình và bắt giam nhiều người chống Tầu.
Thậm chí, Việt Nam còn hứa sẽ ngăn cấm tất cả những cuộc biểu tình chống Trung Cộng, qua lời cam kết của Nguyễn Chí Vịnh, Trung tướng, Thứ trường Quốc phòng Việt Nam tại Cuộc họp với Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, Phó tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.
Lời hứa này đã được Báo Quân đội Nhân dân của Bộ Quốc phòng Việt Nam tường thuật sau phiên họp ngày 28-8 (2011) tại Bắc Kinh : “Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng thông báo chủ trương kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam với tinh thần không để sự việc tái diễn. (Theo Bảo Trung của Báo Quân đội Nhân dân, 30-8-2011)
Nếu ở một nước tự do, dân chủ và có lãnh đạo là một người biết tự trọng, có liêm sỉ và biết tôn trọng quyền lợi của đất nước thì không khi nào nói chuyện với lãnh đạo Tầu chứ đừng bàn đến chuyện ôm nhau và chìa tay ra “tay bắt mật mừng” như các Tổng Bí thư đảng CSVN đã từng làm trong các chuyến thăm Tầu trước Nguyễn Phú Trọng.
Thử hỏi một người đứng đầu một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam như Nguyễn Phú Trọng mà có mặt mũi nào lại hoan hỷ đi thăm một quốc gia mà Chính quyền nước đó đã và đang có những hành động lấn chiếm lãnh thồ và đe dọa chủ quyền của Việt Nam như nhà nước và đảng Cộng sản Trung Quốc ?
Vậy đâu là nguyên nhân của chuyến viếng thăm Tầu vào lúc này của Nguyễn Phú Trọng, sau 10 tháng được bầu vào chức Tổng Bí thư đảng CSVN ?
Chỉ có 5 lý do được suy ra:
1) Nhận khuyến cáo không được lung lay trước những áp lực của quần chúng có khuynh hướng chống Tầu lên cao.
2) Phải nghiêm túc chận đứng mọi khả năng nổi lên bài Trung Cộng của “các thế lực thù địch” và thực thi những cam kết với Trung Cộng của những lãnh đạo trước Trọng từ thời Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu cho đến Nông Đức Mạnh.
3) Hãy gác tranh chấp sang một bên để “cùng khai thác” tài nguyên ở Biển Đông.
4) Giữ vững tư tưởng của cán bộ, đảng viên, lực lượng Công an và Quân đội để bảo vệ quyền cai trị độc quyền cho đảng CSVN.
5) Tiếp tục duy trì hợp tác hữu nghị giữa hai nước dựa trên phương châm 16 chữ do lãnh đạo Tầu đưa ra cho Việt Nam thi hành là : “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.
4 ĐỜI TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG
Trước Trọng cũng đã có các chuyến thăm và làm việc với lãnh đạo đảng và nhà nước Tầu của các Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1990), Đỗ Mười (2 chuyến, 1991 và 1997), Lê Khả Phiêu (1 chuyến, 1999) và Nông Đức Mạnh (4 chuyến: 2001, 2003, 2006 và 2008).
Trong số các Tổng Bí Thư, Nguyễn Văn Linh đã mở đường tái lập quan hệ ngọai giao nhưng Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đã tạo cơ hội cho Trung Hoa vào khai thác Bauxite trên Tây Nguyên và dành nhiều công trình xây dựng và dự án kinh tế cho các Công ty của Tầu.
Theo lời Vũ Khoan, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ tháp tùng Mạnh sang Bắc Kinh năm 2003 thì trong chuyến đi này, Khoan nói :” Đặc biệt, trong chuyến thăm, các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc đã dành cho nhân dân Việt Nam hai món quà: xóa các khoản nợ đồng rúp trước đây (khoảng 420 triệu nhân dân tệ) và xây tặng phía Việt Nam một Nhà hữu nghị Trung-Việt. Hai món quà này thể hiện tinh thần "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai".
Đỗ Mười là người đã có công giữ vững chủ nghĩa Cộng sản ở Việt Nam và duy trì quyền lãnh đạo độc tôn cho đảng, theo đúng đường lối của đảng Cộng sản Trung Cộng.
Phải chăng đó là những lý do thầm kín khiến đảng CSVN không dám ho he với Tầu dù có bị khống chế trên nhiều mặt, đặc biệt là sự thao túng công khai và bá chủ của Trung Cộng trên Biển Đông.
Vấn đề đặt ra là liệu trong 5 ngày ở Tầu từ 11 đến 15 tháng 10 (2011), Nguyễn Phú Trọng có đủ bản lĩnh và khả năng để chống trả áp lực của lãnh đạo Trung Cộng hay sẽ cắn răng chịu trận để được yên thân, vì Trọng đã là người “của” Bắc Kinh từ lâu như lời đồn đại ở Hà Nội? -
Phạm Trần
VIỆT CỘNG ÂM MƯU DÂNG TÀI NGUYÊN QUỐC GIA CHO TC
Trúc Giang MN I. TỔNG QUÁT
Vì nhu cầu phát triển kinh tế để trở thành một cường quốc và cũng để nuôi 1.3 tỷ cái miệng ăn, Trung Cộng rất cần năng lượng, báo chí gọi là “khát dầu”.
Thời gian sau nầy, bùng lên việc tuyên bố chủ quyền trên vùng Đông Hải và Nam Hải, TC ngăn cấm việc đánh cá và thăm dò dầu khí của các nước trong vùng như Nhật Bản, Philippines, Việt Nam… Bằng những hành động côn đồ như cướp tài sản, bắt người phạt tiền, thậm chí ngay cả giết ngư dân, mà TC cho rằng đó là hành động chính đáng để bảo vệ chủ quyền trên biển của họ.
Song song với ý đồ chiếm tài nguyên biển, TC cũng có mục đích kiểm soát hai tuyến giao thông hàng hải, một ra biển Nhật Bản để vào Thái Bình Dương, và một ra Ấn Độ Dương qua tuyến giao thông rộn rịp hàng thứ hai thế giới, là eo biển Malacca nằm giữa Malaysia và Singapore, để xuất cảng và nhập cảng hàng hoá của họ.
Hai chiến lược Biển Xanh (Lam sắc quốc thổ chiến lược) và chiến lược Chuỗi Ngọc trai (Nhất xuyến trân châu. String of Pearls) đã bị các nước trong vùng phản đối mạnh mẽ, nhất là Hoa Kỳ.
Bị phản đối quyết liệt, TC bèn thay đổi thái độ, hoà hoãn với quốc tế, cho rằng “phát triển hoà bình” và không có ý đồ bá quyền.
Tuy nhiên, TC thay đổi chiến lược, quay sang đàn áp đàn em là Cộng Sản Việt Nam, buộc phải đàm phàn song phương, rồi từ đó, dùng công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng xác định chủ quyền của mình trên Biển Đông, biến vùng biển thuộc chủ quyền của VN trở thành vùng biển tranh chấp rồi nhảy vào khai thác tài nguyên thuộc vùng biển của VN.
Về phía VN, đảng CSVN có truyền thống làm tay sai TC và có “thành tích” bán nước từ Phạm Văn Đồng cho đến những Hiệp ước năm 1999 và năm 2000 đã cắt đất dâng biển cho quan thầy Trung Cộng.
Đảng CSVN đã bị TC khống chế, bị cấy bùa sinh tử, cho nên phải vâng lời đàm phán song phương, và một lần nữa sẽ bán nước cho bọn Tàu khựa.
Hiệp ước Phân định Vịnh Bắc Bộ ký ngày 25-12-2000 mà mãi đến năm 2004, VC mới công bố các toạ độ chính xác của các vị trí thoả thuận.
Hiệp ước Biên giới trên đất liền Việt Nam và Trung công, được ký ngày 30-12-1999.
Qua hai hiệp ước, CSVN đã dâng Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc và 789km2 trên đất liền và hàng ngàn Km2 trên biển.
Và hiện nay, cuộc đàm phán có tên là “Ủy Ban Chỉ Đạo hợp tác song phương” đang tiến hành để cho ra một Hiệp Ước Bán Nước nữa sắp tới đây.
Trên đây là vài nét tổng quát về nội dung của bài viết nầy, mà chi tiết được trình bày trong phần sau.
II. CHI TIẾT
1* Trung Cộng khẳng định chủ quyền không thể chối cãi trên Biển Đông
Trung Cộng luôn luôn khẳng định chủ quyền trên vùng biển hình Lưỡi bò, là sự thật không thể chối cãi được.
1.1. Tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Cộng
Công bố của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về lãnh hải ngày 4 tháng 9 năm 1958
(Ngày 4 tháng 9 năm 1958 đại hội uỷ viên thường vụ đại biểu nhân dân toàn quốc hội nghị thứ 100 thông qua)
Quyết nghị
Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố:
* Một: Lãnh hải của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, bao gồm Trung Quốc đại lục cùng với duyên hải của các hải đảo, với Đài Loan cùng các hòn đảo xung quanh cách đại lục bằng hải phận quốc tế, những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc
Bốn: …”những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc”.
Đó là đường chữ U 9 đoạn hay vùng Lưỡi Bò đã chiếm 85% vùng Biển Đông của VN
1.2. Đảng Cộng Sản Việt Nam tán thành nội dung bản tuyên bố
1.2. 1. Công hàm ngày 14-9-1958 của Phạm Văn Đồng
“Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố , ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.
Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-công, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.”(hết trích)
1.2.2. Đảng CSVN Công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Cộng
1) Ung Văn Khiêm tuyên bố
“Thứ trưởng ngoại giao Ung văn Khiêm nói rằng "theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là một bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung công".
2) Ông Lê Lộc, quyền Vụ trưởng Á châu Sự vụ thuộc Bộ Ngoại giao VN:
… "xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã hoàn toàn thuộc về Trung quốc từ thời nhà Tống."
3) Hoàng Tùng, Trưởng Ban Tư tưởng TW đảng CSVN đã tuyên bố:
“Thà giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung công, cùng phe xã hội chủ nghĩa anh em còn hơn để tụi Ngụy Sài Gòn quản lý”!
4) Năm 1960 và năm 1972 Hà Nội cho ấn hành hai cuốn Atlas.
Cuốn thứ nhất do Bộ Tổng Tham mưu Quân đội biên soạn.
Cuốn thứ hai do Phòng họa đồ của Phủ Thủ tướng biên soạn.
Trong cả hai cuốn này đều ghi Trường Sa và Hoàng Sa là của Trung Quốc.
5) Báo Nhân Dân của Việt Nam số xuất bản ngày 16/9/1958
“Ngày 14/9 Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong bản công hàm gởi cho Thủ tướng Chu An Lai, đã thành khẩn tuyên bố rằng Việt Nam "nhìn nhận và ủng hộ Bản Tuyên Bố của Nhà nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trong vấn đề lãnh hải".
6) Sách Địa lý năm 1974
“Các quần đảo từ Trường Sa và Hoàng Sa đến đảo Hải Nam và Đài Loan của Trung công, hình thành một bức tường phòng thủ vĩ đại cho lục địa Trung Hoa.”
7) Tháng 2 năm 1972, Cục Đo đạc và Bản đồ, trực thuộc Phủ Thủ tướng phát hành Tập Bản đồ Thế giới, trong đó, Hoàng Sa và Trường Sa bị đổi tên là Tây Sa và Nam Sa.
Tháng 5 năm 1976, tờ Sài Gòn Giải Phóng loan tin “Trung công vĩ đại, đối với chúng ta không những là đồng chí mà còn là người thầy tin cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy, chủ quyền Hoàng Sa thuộc về VN hay thuộc về TC thì cũng vậy thôi!”. (Hết trích)
Như trên cho thấy, không phải chỉ một Phạm Văn Đồng công nhận HS/TS là của Trung Cộng, mà cả đảng và Nhà nước CSVN đã có cùng một chủ trương bán nước cho Tàu Cộng.
Sự thật rành rành không thể chối cãi được.
3* Trung Cộng chửi Cộng Sản Việt Nam
Trong khi Hồ Xuân Sơn “đồng thuận” với TC là thi hành “định hướng dư luận”, thì báo chí TC chửi đảng CSVN tàu xà lúp chở không hết, không còn lời lẻ nào nặng hơn trong ngôn ngữ chửi cả bình dân lẫn có văn hoá. CSVN bị chửi te tua hơn cái mền rách nữa.
Trúc Giang xin trích đoạn do Giáo sư Vũ Cao Đàm dịch từ tài liệu của Trung Cộng, như sau:
“Nói về Nam Sa, quần đảo mà VN đang chiếm 29 đảo. VN là nước láng giềng nhưng không muốn cùng Trung công phát triển phồn thịnh. Quan hệ giữa VN-TQ là quan hệ giữa người nông dân với con rắn độc. VN luôn luôn đóng vai thất tín, bội nghĩa. Trong tình hình hiện nay, VN đã chống lại sự khoan dung và lương thiện của TC.
Việc d ùng vũ lực đánh VN không thể chậm trễ hơn nữa.
Vì sao phải đánh CSVN bằng vũ lực?
Có hai khía cạnh sau đây:
3.1. CSVN là một quốc gia lòng lang dạ sói
Từ những năm 1960, TC đã ủng hộ VN về quân sự, kỹ thuật, kinh tế với quy mô lớn, trong thời gian đó, bản thân TQ cũng khó khăn.
Với sự ủng hộ của TC, VN đã đánh bại 560 nghìn quân Mỹ ở VN. TC vô tư ủng hộ về nguồn lực và nhân lực trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đặt nền móng vững chắc cho việc phục hồi kinh tế cho VN.
Sự vô ơn của VN biểu hiện, một tay nhận viện trợ vô tư của TC, một tay ngấm ngầm chìa ra cho Liên Xô. Dưới sự thao túng của Liên Xô, VN làm đủ trò quấy nhiễu biên giới Trung-Việt đến đổ máu người TC.
Tại VN, VN sát hại và trục xuất Hoa kiều. VN đem quân sang chiếm Campuchia. Không thể nhẫn nại được nữa, tháng 2 năm 1979, TQ phát động chiến tranh phản kích tự vệ. VN bắt tay với Liên Xô, một đối thủ của TC, cầm súng bắn lại ân nhân của mình.
Chúng ta hãy xem, bọn CSVN lòng lang dạ sói đến mức độ nào?
3.2. Cộng Sản Việt Nam là bọn tiểu nhân bỉ ổi không biết xấu hổ.
VN và TC là hai nước láng giềng, uống chung một nguồn nước, nhiều chính trị gia đã đến học tập tại TC, ngay cả đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng từng được huấn luyện, giáo dục ở TC.
Trước đây, ngày 30-5-2008, Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh đột nhiên đến thăm nước ta, nói ra những điều cảm động lòng người, mồm bô bô “láng giềng tốt, bạn bè tốt, chiến hữu tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, tỏ ra rất thân thiết…sau nầy mới biết, vì lạm phát tăng cao, kinh tế nguy cơ bị khủng hoảng, nên mới chạy qua xin xỏ, cầu viện TC. Đến khi vừa về tới nước thì tên Mạnh nầy liền trở mặt, liên kết với đối thủ cạnh tranh của TC là công ty Mobil, để khai thác dầu khí ở Nam Sa (Trường Sa) mà VN cướp đoạt của TC. Rõ là quân phản bội. CSVN thật là vô liêm sĩ, không biết hổ thẹn là gì.
Trong quá trình tranh chấp, VN âm mưu quốc tế hoá các đảo đã chiếm của TC, với tâm địa độc ác, không biết xấu hổ. Đây là điển hình của hành vi “cường đạo biến thành quân tử”, thật là vô liêm sĩ.
Chính sách của VN đối với TC thật là vô cùng nham hiểm, đó là toa rập với Hoa Kỳ ngăn chặn sự phát triển của TQ.
Xem ra, VN muốn đi theo vết xe cũ của năm 1979, vẫn còn muốn diễn vai bán đứng ân nhân đã từng giúp đỡ họ, để trở thành một kẻ tiểu nhân vô liêm sĩ thật thụ.
Năm 1979 chưa đủ dạy cho CSVN một bài học tơi bời, thì sắp tới đây, chúng ta cần phải làm triệt để, để VN có một bài học nhớ đời và cũng là lợi ích lâu dài của TC
TC hiện nay đang theo chính sách “ẩn dấu tài năng”, “lâu dài mai phục” khiến cho bọn oắt tì VN xâm chiếm lãnh hải TC và cứ nhâng nhâng thăm dò khai thác tài nguyên.
Đã đến lúc chúngg ta cần phải dẹp bỏ thái độ khoan dung nhân nhượng, mà phải dung vũ lực, chứng minh TC là một đất nước anh hùng.
Để cho một nước lỏi con như VN xâm phạm lãnh thổ của mình, sự khoan dung thái quá là tự hủy diệt mình, cho nên phải dùng vũ lực tấn công VN một cách tàn nhẫn. Cần phải phá hủy triệt để các cơ sở quân sự, tất nhiên bao gồm tất cả hạ tầng dân sự của VN. Đối với một nước vô liêm sĩ như vậy, chúng ta không cần phải quan tâm đến vấn đề đạo đức, nhân đạo làm gì. Chỉ cần phù hợp với lợi ích quốc gia thì đó là chiến tranh chính nghĩa.” (Hết trích)
(Giáo sư Vũ Cao Đàm dịch từ tài liệu Trung Công).
Ngày 25-6-2011, Thiếu tướng Bành Quang Khiêm, Phó Tổng Thư Ký Ủy Ban Chính sách Quốc gia TC tuyên bố: “Trung công đã từng dạy VN một bài học và có thể cho VN một bài học lớn hơn, nếu VN tiếp tục diễu võ dương oai, múa trên lưỡi đao, sớm muộn gì có ngày VN sẽ ngã trên lưỡi đao đó”.
4* Làm thế nào để hiểu nghĩa của từ ngữ của Trung Cộng?
Chúng ta không thể hiểu được quan điểm của TC qua những từ ngữ với cái nghĩa thông thường mà phát ngôn viên của hai bên đấu võ mồm với nhau, mà phải đọc qua những lời chửi bới thậm tệ nêu trên, từ đó mới hiểu rõ những “cụm từ” như sau:
- “Trung quốc không chiếm biển của VN” phải hiểu là, 2 quần đảo HS/TS và vùng Lưỡi bò là thuộc về của Trung Cộng rồi. TC không chiếm thêm nữa.
- “Không gây căng thẳng, gia tăng bất ổn” phải hiểu là VN phải ngừng thăm dò dầu khí, không đánh cá trong vùng biển của TC, cụ thể là tàu Bình Minh và Viking đã ngừng dò tìm mỏ dầu.
- “Định hướng dư luận” phải hiểu là VN phải cấm biểu tình, cấm chỉ trích TC, ví dụ như bắt giam nhà báo tự do Tạ Phong Tần và các nhà dân chủ, yêu nước khác.
Những chỉ thị trên đã được CSVN cung cung kính kính vâng lời tuyệt đối.
5* Hoa Kỳ và các quốc gia trong vùng phản đối quyết liệt
5.1. Hoa Kỳ phản đối
Ngoại trưởng Clinton tuyên bố, Hoa kỳ có quyền lợi quốc gia ở Biển Đông. Thứ trưởng Ngoại giao HK cho biết, Hoa Kỳ không tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông mà cũng không chấp nhận bất cứ một chủ quyền nào của ai tại đó cả.
Không phải nói suông, ngay sau đó, HK đưa Hàng Không Mẫu Hạm và tàu chiến hiện đại vào Biển Đông để bảo vệ quyền lợi quốc gia của HK. Các nước trong vùng hoan nghênh HK, cho rằng sự hiện diện lực lượng hùng mạnh của HK sẽ làm cho TC không dám dùng quân sự để gải quyết các tranh chấp với các nước nhỏ, yếu trong khu vực..
5.2. Các quốc gia trong vùng phản đối
Nhật, Úc, Philippines, Singapore, Malaysia và Ấn Độ đã rộn rịp ngoại giao để liên minh, liên kết chống lại bá quyền Trung Cộng.
6* Khúc xương khó nuốt
6.1. Gác bỏ chủ quyền qua một bên
GS Tô Hào, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu QT của Bộ Ngoại Giao TC cho biết, đến lúc phải “dẹp vấn đề chủ quyền qua một bên, tạo ra vùng biển hợp tác chung”.
Mới đây, hôm thứ năm 29-9-2011, ông Huang Jing, GS Đại học Singapore trả lời phỏng vấn của ký giả tờ Bloomberg, cho rằng Bắc Kinh muốn thoả hiệp với khối ASEAN về Biển Đông để ngăn cản sự can dự của Hoa Kỳ. Đặc biệt, ông Huang Jing nêu giả thuyết là Trung Cộng có thể từ bỏ “Đường Lưỡi bò 9 đoạn” trên bản đồ.
6.2.* Trung Cộng quay sang đàn áp CSVN
Việt Cộng đã cung cung cẩn cẩn vâng lệnh quan thầy, ngồi xuống giải quyết song phương, định hướng dư luận, thề không đa phương hoá, không quốc tế hoá vấn đề Biển Đông.
Trung Cộng đạt được mục đích là biến vùng biển thuộc chủ quyền của VN trở thành vùng biển tranh chấp bằng công hàm bán nước Phạm Văn Đồng, rồi nhảy vào khai thác tài nguyên thuộc về quốc gia VN.
7* Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp tác song phương là gì?
Nói đến “Hợp tác song phương” có nghĩa là không còn tranh chấp về chủ quyền nữa, mà là bàn về việc hợp tác chung của 2 bên, không ngoài hợp tác khai thác tài nguyên.
Ngày 7-9-2011, Tân Hoa Xã đưa tin, Ủy viên Quốc Vụ Viện Đới Bỉnh Quốc và Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng chủ trì phiên họp Ủy Ban Chỉ đạo Hợp tác song phương. Báo chí VN loan tin, Nguyễn Tấn Dũng nói rằng “Việt Nam luôn luôn ghi nhớ sự giúp đở to lớn của Đảng, nhà nước và nhân dân Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và trong việc xây dựng phát triển kinh tế ngày nay. Khẳng định, chính sách trước sau như một của VN là tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ hữu nghị trên phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt”.
Vì bị chửi là “hèn hạ vô liêm sĩ, vong ân bội nghĩa”, nên Nguyễn Tấn Dũng cam kết là nhớ ơn, cũng có nghĩa là sẽ trả ơn, làm đẹp tình hữu nghị không gì bằng tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải mà Chu Ân Lai đã công bố. Lại một lần nữa, Nguyễn Tấn Dũng theo bước Phạm Văn Đồng đối với TC.
8* Ơn nghĩa trời biển của Trung Cộng
Chỉ riêng về vũ khí, tính bằng số lượng, cho giai đoạn 1973-1975
1. Súng bộ binh (Tính bằng khẩu): 2,227,677 khẩu (2 tỷ)
2. Súng chống xe tăng: 43,584 khẩu
3. Súng cối đủ loại: 24,134
4. Pháo hỏa tiễn: 290 khẩu
5. Pháo mặt đất: 1,376
6. Pháo cao xạ: 3,229 khẩu
7. Hoả tiễn Hồng Kỳ: 1 trung đoàn
8. Đạn hoả tiễn K 681: 480 quả
9. Phi cơ chiến đấu: 142 chiếc
10. Tàu chiến: 30 chiếc
11. Tàu vận tải quân sự: 127 chiếc
12. Xe tăng các loại: 552 chiếc
13. Xe vỏ bọc thép: 360 chiếc
14. Xe xích kéo pháo: 322 chiếc
15. Xe chở quân: 6,524 chiếc
16. Phao cầu: 15 bộ
17. Xe cơ giới: 3,430 chiếc
18. Ống dẫn dầu: 11 bộ
19. Thiết bị toàn bộ: 36 bộ
Đây là viện trợ vũ khí trong giai đoạn 1973-1975. Trước đó không kể. Không kể các chi viện kinh tế, cố vấn…
III. KẾT LUẬN
Hội đàm hợp tác còn đang tiến hành, có lẻ đang tranh cãi về hình thức hợp tác khai thác như thế nào? Lợi nhuận sẽ chia chác ra sao?
Phó chủ tịch Tập Cận Bình khuyên đảng CSVN nên “3 kiên trì”. Đó là lời khuyên của người bề trên như ông chủ khuyên bảo tôi tớ vậy. Thử hỏi CSVN có ai dám khuyên lãnh đạo TC như thế không? Khuyến khích, động viên, an ủi, vỗ về…
• Kiên trì hiệp thương hữu nghị
Về lời khuyên nầy thì CSVN đã nhanh chóng và đồng loạt thể hiện tấm lòng thành, nhất trí xử sự mọi việc trên phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt.
(Láng giềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. Ổn định lâu dài. Hướng tới tương lai* Láng giềng tốt. Bạn bè tốt. Đồng chí tốt. Đối tác tốt)
• Kiên trì nhìn đại cuộc
Là kiên gan, bền chí, nhẫn nại, nhẫn nhục để bảo vệ đại cuộc có liên quan đến sự sống còn của lãnh đạo VN, đó là bảo vệ đảng. Đảng còn thì người còn. Người còn thì tài sản còn. Tài sản cán bộ còn thì nhân dân trắng tay.
• Kiên trì hợp tác cùng có lợi
Hợp tác thì có lợi. Bất hợp tác thì mất tất cả, bởi vì đã bị bùa sinh tử, đầu đội chiếc vòng kim cô…
Cộng Sản VN có lẻ khoái cái giải pháp nầy nhất. Bởi vì, vấn đề chủ quyền đã được gác qua một bên, cho nên, CSVN có thể mạnh dạn tuyên bố với nhân dân VN rằng, HS/TS vẫn còn là của VN, sự thật không chối cãi được.
Còn việc chia chác lợi nhuận thì các khoản thu nhập về khai thác tài nguyên biển sẽ được đưa vào ngân khoản quốc phòng, một chương mục thuộc bí mật quốc gia, cấm mọi người nhắc tới hoặc công bố.
Tóm lại, một hiệp ước sẽ ra đời. Hai bên đều tuyên bố thắng lợi trong việc hợp tác khai thác tài nguyên quốc gia của VN. Và một lần nữa, VC dâng tài nguyên quốc gia cho Trung Cộng.
Trúc Giang
Trúc Giang MN I. TỔNG QUÁT
Vì nhu cầu phát triển kinh tế để trở thành một cường quốc và cũng để nuôi 1.3 tỷ cái miệng ăn, Trung Cộng rất cần năng lượng, báo chí gọi là “khát dầu”.
Thời gian sau nầy, bùng lên việc tuyên bố chủ quyền trên vùng Đông Hải và Nam Hải, TC ngăn cấm việc đánh cá và thăm dò dầu khí của các nước trong vùng như Nhật Bản, Philippines, Việt Nam… Bằng những hành động côn đồ như cướp tài sản, bắt người phạt tiền, thậm chí ngay cả giết ngư dân, mà TC cho rằng đó là hành động chính đáng để bảo vệ chủ quyền trên biển của họ.
Song song với ý đồ chiếm tài nguyên biển, TC cũng có mục đích kiểm soát hai tuyến giao thông hàng hải, một ra biển Nhật Bản để vào Thái Bình Dương, và một ra Ấn Độ Dương qua tuyến giao thông rộn rịp hàng thứ hai thế giới, là eo biển Malacca nằm giữa Malaysia và Singapore, để xuất cảng và nhập cảng hàng hoá của họ.
Hai chiến lược Biển Xanh (Lam sắc quốc thổ chiến lược) và chiến lược Chuỗi Ngọc trai (Nhất xuyến trân châu. String of Pearls) đã bị các nước trong vùng phản đối mạnh mẽ, nhất là Hoa Kỳ.
Bị phản đối quyết liệt, TC bèn thay đổi thái độ, hoà hoãn với quốc tế, cho rằng “phát triển hoà bình” và không có ý đồ bá quyền.
Tuy nhiên, TC thay đổi chiến lược, quay sang đàn áp đàn em là Cộng Sản Việt Nam, buộc phải đàm phàn song phương, rồi từ đó, dùng công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng xác định chủ quyền của mình trên Biển Đông, biến vùng biển thuộc chủ quyền của VN trở thành vùng biển tranh chấp rồi nhảy vào khai thác tài nguyên thuộc vùng biển của VN.
Về phía VN, đảng CSVN có truyền thống làm tay sai TC và có “thành tích” bán nước từ Phạm Văn Đồng cho đến những Hiệp ước năm 1999 và năm 2000 đã cắt đất dâng biển cho quan thầy Trung Cộng.
Đảng CSVN đã bị TC khống chế, bị cấy bùa sinh tử, cho nên phải vâng lời đàm phán song phương, và một lần nữa sẽ bán nước cho bọn Tàu khựa.
Hiệp ước Phân định Vịnh Bắc Bộ ký ngày 25-12-2000 mà mãi đến năm 2004, VC mới công bố các toạ độ chính xác của các vị trí thoả thuận.
Hiệp ước Biên giới trên đất liền Việt Nam và Trung công, được ký ngày 30-12-1999.
Qua hai hiệp ước, CSVN đã dâng Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc và 789km2 trên đất liền và hàng ngàn Km2 trên biển.
Và hiện nay, cuộc đàm phán có tên là “Ủy Ban Chỉ Đạo hợp tác song phương” đang tiến hành để cho ra một Hiệp Ước Bán Nước nữa sắp tới đây.
Trên đây là vài nét tổng quát về nội dung của bài viết nầy, mà chi tiết được trình bày trong phần sau.
II. CHI TIẾT
1* Trung Cộng khẳng định chủ quyền không thể chối cãi trên Biển Đông
Trung Cộng luôn luôn khẳng định chủ quyền trên vùng biển hình Lưỡi bò, là sự thật không thể chối cãi được.
1.1. Tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Cộng
Công bố của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về lãnh hải ngày 4 tháng 9 năm 1958
(Ngày 4 tháng 9 năm 1958 đại hội uỷ viên thường vụ đại biểu nhân dân toàn quốc hội nghị thứ 100 thông qua)
Quyết nghị
Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố:
* Một: Lãnh hải của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, bao gồm Trung Quốc đại lục cùng với duyên hải của các hải đảo, với Đài Loan cùng các hòn đảo xung quanh cách đại lục bằng hải phận quốc tế, những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc
Bốn: …”những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc”.
Đó là đường chữ U 9 đoạn hay vùng Lưỡi Bò đã chiếm 85% vùng Biển Đông của VN
1.2. Đảng Cộng Sản Việt Nam tán thành nội dung bản tuyên bố
1.2. 1. Công hàm ngày 14-9-1958 của Phạm Văn Đồng
“Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố , ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.
Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-công, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.”(hết trích)
1.2.2. Đảng CSVN Công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Cộng
1) Ung Văn Khiêm tuyên bố
“Thứ trưởng ngoại giao Ung văn Khiêm nói rằng "theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là một bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung công".
2) Ông Lê Lộc, quyền Vụ trưởng Á châu Sự vụ thuộc Bộ Ngoại giao VN:
… "xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã hoàn toàn thuộc về Trung quốc từ thời nhà Tống."
3) Hoàng Tùng, Trưởng Ban Tư tưởng TW đảng CSVN đã tuyên bố:
“Thà giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung công, cùng phe xã hội chủ nghĩa anh em còn hơn để tụi Ngụy Sài Gòn quản lý”!
4) Năm 1960 và năm 1972 Hà Nội cho ấn hành hai cuốn Atlas.
Cuốn thứ nhất do Bộ Tổng Tham mưu Quân đội biên soạn.
Cuốn thứ hai do Phòng họa đồ của Phủ Thủ tướng biên soạn.
Trong cả hai cuốn này đều ghi Trường Sa và Hoàng Sa là của Trung Quốc.
5) Báo Nhân Dân của Việt Nam số xuất bản ngày 16/9/1958
“Ngày 14/9 Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong bản công hàm gởi cho Thủ tướng Chu An Lai, đã thành khẩn tuyên bố rằng Việt Nam "nhìn nhận và ủng hộ Bản Tuyên Bố của Nhà nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trong vấn đề lãnh hải".
6) Sách Địa lý năm 1974
“Các quần đảo từ Trường Sa và Hoàng Sa đến đảo Hải Nam và Đài Loan của Trung công, hình thành một bức tường phòng thủ vĩ đại cho lục địa Trung Hoa.”
7) Tháng 2 năm 1972, Cục Đo đạc và Bản đồ, trực thuộc Phủ Thủ tướng phát hành Tập Bản đồ Thế giới, trong đó, Hoàng Sa và Trường Sa bị đổi tên là Tây Sa và Nam Sa.
Như trên cho thấy, không phải chỉ một Phạm Văn Đồng công nhận HS/TS là của Trung Cộng, mà cả đảng và Nhà nước CSVN đã có cùng một chủ trương bán nước cho Tàu Cộng.
Sự thật rành rành không thể chối cãi được.
3* Trung Cộng chửi Cộng Sản Việt Nam
Trong khi Hồ Xuân Sơn “đồng thuận” với TC là thi hành “định hướng dư luận”, thì báo chí TC chửi đảng CSVN tàu xà lúp chở không hết, không còn lời lẻ nào nặng hơn trong ngôn ngữ chửi cả bình dân lẫn có văn hoá. CSVN bị chửi te tua hơn cái mền rách nữa.
Trúc Giang xin trích đoạn do Giáo sư Vũ Cao Đàm dịch từ tài liệu của Trung Cộng, như sau:
“Nói về Nam Sa, quần đảo mà VN đang chiếm 29 đảo. VN là nước láng giềng nhưng không muốn cùng Trung công phát triển phồn thịnh. Quan hệ giữa VN-TQ là quan hệ giữa người nông dân với con rắn độc. VN luôn luôn đóng vai thất tín, bội nghĩa. Trong tình hình hiện nay, VN đã chống lại sự khoan dung và lương thiện của TC.
Việc d ùng vũ lực đánh VN không thể chậm trễ hơn nữa.
Vì sao phải đánh CSVN bằng vũ lực?
Có hai khía cạnh sau đây:
3.1. CSVN là một quốc gia lòng lang dạ sói
Từ những năm 1960, TC đã ủng hộ VN về quân sự, kỹ thuật, kinh tế với quy mô lớn, trong thời gian đó, bản thân TQ cũng khó khăn.
Với sự ủng hộ của TC, VN đã đánh bại 560 nghìn quân Mỹ ở VN. TC vô tư ủng hộ về nguồn lực và nhân lực trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đặt nền móng vững chắc cho việc phục hồi kinh tế cho VN.
Sự vô ơn của VN biểu hiện, một tay nhận viện trợ vô tư của TC, một tay ngấm ngầm chìa ra cho Liên Xô. Dưới sự thao túng của Liên Xô, VN làm đủ trò quấy nhiễu biên giới Trung-Việt đến đổ máu người TC.
Tại VN, VN sát hại và trục xuất Hoa kiều. VN đem quân sang chiếm Campuchia. Không thể nhẫn nại được nữa, tháng 2 năm 1979, TQ phát động chiến tranh phản kích tự vệ. VN bắt tay với Liên Xô, một đối thủ của TC, cầm súng bắn lại ân nhân của mình.
Chúng ta hãy xem, bọn CSVN lòng lang dạ sói đến mức độ nào?
3.2. Cộng Sản Việt Nam là bọn tiểu nhân bỉ ổi không biết xấu hổ.
VN và TC là hai nước láng giềng, uống chung một nguồn nước, nhiều chính trị gia đã đến học tập tại TC, ngay cả đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng từng được huấn luyện, giáo dục ở TC.
Trước đây, ngày 30-5-2008, Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh đột nhiên đến thăm nước ta, nói ra những điều cảm động lòng người, mồm bô bô “láng giềng tốt, bạn bè tốt, chiến hữu tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, tỏ ra rất thân thiết…sau nầy mới biết, vì lạm phát tăng cao, kinh tế nguy cơ bị khủng hoảng, nên mới chạy qua xin xỏ, cầu viện TC. Đến khi vừa về tới nước thì tên Mạnh nầy liền trở mặt, liên kết với đối thủ cạnh tranh của TC là công ty Mobil, để khai thác dầu khí ở Nam Sa (Trường Sa) mà VN cướp đoạt của TC. Rõ là quân phản bội. CSVN thật là vô liêm sĩ, không biết hổ thẹn là gì.
Trong quá trình tranh chấp, VN âm mưu quốc tế hoá các đảo đã chiếm của TC, với tâm địa độc ác, không biết xấu hổ. Đây là điển hình của hành vi “cường đạo biến thành quân tử”, thật là vô liêm sĩ.
Chính sách của VN đối với TC thật là vô cùng nham hiểm, đó là toa rập với Hoa Kỳ ngăn chặn sự phát triển của TQ.
Xem ra, VN muốn đi theo vết xe cũ của năm 1979, vẫn còn muốn diễn vai bán đứng ân nhân đã từng giúp đỡ họ, để trở thành một kẻ tiểu nhân vô liêm sĩ thật thụ.
Năm 1979 chưa đủ dạy cho CSVN một bài học tơi bời, thì sắp tới đây, chúng ta cần phải làm triệt để, để VN có một bài học nhớ đời và cũng là lợi ích lâu dài của TC
TC hiện nay đang theo chính sách “ẩn dấu tài năng”, “lâu dài mai phục” khiến cho bọn oắt tì VN xâm chiếm lãnh hải TC và cứ nhâng nhâng thăm dò khai thác tài nguyên.
Đã đến lúc chúngg ta cần phải dẹp bỏ thái độ khoan dung nhân nhượng, mà phải dung vũ lực, chứng minh TC là một đất nước anh hùng.
Để cho một nước lỏi con như VN xâm phạm lãnh thổ của mình, sự khoan dung thái quá là tự hủy diệt mình, cho nên phải dùng vũ lực tấn công VN một cách tàn nhẫn. Cần phải phá hủy triệt để các cơ sở quân sự, tất nhiên bao gồm tất cả hạ tầng dân sự của VN. Đối với một nước vô liêm sĩ như vậy, chúng ta không cần phải quan tâm đến vấn đề đạo đức, nhân đạo làm gì. Chỉ cần phù hợp với lợi ích quốc gia thì đó là chiến tranh chính nghĩa.” (Hết trích)
(Giáo sư Vũ Cao Đàm dịch từ tài liệu Trung Công).
Ngày 25-6-2011, Thiếu tướng Bành Quang Khiêm, Phó Tổng Thư Ký Ủy Ban Chính sách Quốc gia TC tuyên bố: “Trung công đã từng dạy VN một bài học và có thể cho VN một bài học lớn hơn, nếu VN tiếp tục diễu võ dương oai, múa trên lưỡi đao, sớm muộn gì có ngày VN sẽ ngã trên lưỡi đao đó”.
4* Làm thế nào để hiểu nghĩa của từ ngữ của Trung Cộng?
Chúng ta không thể hiểu được quan điểm của TC qua những từ ngữ với cái nghĩa thông thường mà phát ngôn viên của hai bên đấu võ mồm với nhau, mà phải đọc qua những lời chửi bới thậm tệ nêu trên, từ đó mới hiểu rõ những “cụm từ” như sau:
- “Trung quốc không chiếm biển của VN” phải hiểu là, 2 quần đảo HS/TS và vùng Lưỡi bò là thuộc về của Trung Cộng rồi. TC không chiếm thêm nữa.
- “Không gây căng thẳng, gia tăng bất ổn” phải hiểu là VN phải ngừng thăm dò dầu khí, không đánh cá trong vùng biển của TC, cụ thể là tàu Bình Minh và Viking đã ngừng dò tìm mỏ dầu.
- “Định hướng dư luận” phải hiểu là VN phải cấm biểu tình, cấm chỉ trích TC, ví dụ như bắt giam nhà báo tự do Tạ Phong Tần và các nhà dân chủ, yêu nước khác.
Những chỉ thị trên đã được CSVN cung cung kính kính vâng lời tuyệt đối.
5* Hoa Kỳ và các quốc gia trong vùng phản đối quyết liệt
5.1. Hoa Kỳ phản đối
Ngoại trưởng Clinton tuyên bố, Hoa kỳ có quyền lợi quốc gia ở Biển Đông. Thứ trưởng Ngoại giao HK cho biết, Hoa Kỳ không tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông mà cũng không chấp nhận bất cứ một chủ quyền nào của ai tại đó cả.
Không phải nói suông, ngay sau đó, HK đưa Hàng Không Mẫu Hạm và tàu chiến hiện đại vào Biển Đông để bảo vệ quyền lợi quốc gia của HK. Các nước trong vùng hoan nghênh HK, cho rằng sự hiện diện lực lượng hùng mạnh của HK sẽ làm cho TC không dám dùng quân sự để gải quyết các tranh chấp với các nước nhỏ, yếu trong khu vực..
5.2. Các quốc gia trong vùng phản đối
Nhật, Úc, Philippines, Singapore, Malaysia và Ấn Độ đã rộn rịp ngoại giao để liên minh, liên kết chống lại bá quyền Trung Cộng.
6* Khúc xương khó nuốt
6.1. Gác bỏ chủ quyền qua một bên
GS Tô Hào, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu QT của Bộ Ngoại Giao TC cho biết, đến lúc phải “dẹp vấn đề chủ quyền qua một bên, tạo ra vùng biển hợp tác chung”.
Mới đây, hôm thứ năm 29-9-2011, ông Huang Jing, GS Đại học Singapore trả lời phỏng vấn của ký giả tờ Bloomberg, cho rằng Bắc Kinh muốn thoả hiệp với khối ASEAN về Biển Đông để ngăn cản sự can dự của Hoa Kỳ. Đặc biệt, ông Huang Jing nêu giả thuyết là Trung Cộng có thể từ bỏ “Đường Lưỡi bò 9 đoạn” trên bản đồ.
6.2.* Trung Cộng quay sang đàn áp CSVN
Việt Cộng đã cung cung cẩn cẩn vâng lệnh quan thầy, ngồi xuống giải quyết song phương, định hướng dư luận, thề không đa phương hoá, không quốc tế hoá vấn đề Biển Đông.
Trung Cộng đạt được mục đích là biến vùng biển thuộc chủ quyền của VN trở thành vùng biển tranh chấp bằng công hàm bán nước Phạm Văn Đồng, rồi nhảy vào khai thác tài nguyên thuộc về quốc gia VN.
7* Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp tác song phương là gì?
Nói đến “Hợp tác song phương” có nghĩa là không còn tranh chấp về chủ quyền nữa, mà là bàn về việc hợp tác chung của 2 bên, không ngoài hợp tác khai thác tài nguyên.
Ngày 7-9-2011, Tân Hoa Xã đưa tin, Ủy viên Quốc Vụ Viện Đới Bỉnh Quốc và Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng chủ trì phiên họp Ủy Ban Chỉ đạo Hợp tác song phương. Báo chí VN loan tin, Nguyễn Tấn Dũng nói rằng “Việt Nam luôn luôn ghi nhớ sự giúp đở to lớn của Đảng, nhà nước và nhân dân Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và trong việc xây dựng phát triển kinh tế ngày nay. Khẳng định, chính sách trước sau như một của VN là tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ hữu nghị trên phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt”.
Vì bị chửi là “hèn hạ vô liêm sĩ, vong ân bội nghĩa”, nên Nguyễn Tấn Dũng cam kết là nhớ ơn, cũng có nghĩa là sẽ trả ơn, làm đẹp tình hữu nghị không gì bằng tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải mà Chu Ân Lai đã công bố. Lại một lần nữa, Nguyễn Tấn Dũng theo bước Phạm Văn Đồng đối với TC.
8* Ơn nghĩa trời biển của Trung Cộng
Chỉ riêng về vũ khí, tính bằng số lượng, cho giai đoạn 1973-1975
1. Súng bộ binh (Tính bằng khẩu): 2,227,677 khẩu (2 tỷ)
2. Súng chống xe tăng: 43,584 khẩu
3. Súng cối đủ loại: 24,134
4. Pháo hỏa tiễn: 290 khẩu
5. Pháo mặt đất: 1,376
6. Pháo cao xạ: 3,229 khẩu
7. Hoả tiễn Hồng Kỳ: 1 trung đoàn
8. Đạn hoả tiễn K 681: 480 quả
9. Phi cơ chiến đấu: 142 chiếc
10. Tàu chiến: 30 chiếc
11. Tàu vận tải quân sự: 127 chiếc
12. Xe tăng các loại: 552 chiếc
13. Xe vỏ bọc thép: 360 chiếc
14. Xe xích kéo pháo: 322 chiếc
15. Xe chở quân: 6,524 chiếc
16. Phao cầu: 15 bộ
17. Xe cơ giới: 3,430 chiếc
18. Ống dẫn dầu: 11 bộ
19. Thiết bị toàn bộ: 36 bộ
Đây là viện trợ vũ khí trong giai đoạn 1973-1975. Trước đó không kể. Không kể các chi viện kinh tế, cố vấn…
III. KẾT LUẬN
Hội đàm hợp tác còn đang tiến hành, có lẻ đang tranh cãi về hình thức hợp tác khai thác như thế nào? Lợi nhuận sẽ chia chác ra sao?
Phó chủ tịch Tập Cận Bình khuyên đảng CSVN nên “3 kiên trì”. Đó là lời khuyên của người bề trên như ông chủ khuyên bảo tôi tớ vậy. Thử hỏi CSVN có ai dám khuyên lãnh đạo TC như thế không? Khuyến khích, động viên, an ủi, vỗ về…
• Kiên trì hiệp thương hữu nghị
Về lời khuyên nầy thì CSVN đã nhanh chóng và đồng loạt thể hiện tấm lòng thành, nhất trí xử sự mọi việc trên phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt.
(Láng giềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. Ổn định lâu dài. Hướng tới tương lai* Láng giềng tốt. Bạn bè tốt. Đồng chí tốt. Đối tác tốt)
• Kiên trì nhìn đại cuộc
Là kiên gan, bền chí, nhẫn nại, nhẫn nhục để bảo vệ đại cuộc có liên quan đến sự sống còn của lãnh đạo VN, đó là bảo vệ đảng. Đảng còn thì người còn. Người còn thì tài sản còn. Tài sản cán bộ còn thì nhân dân trắng tay.
• Kiên trì hợp tác cùng có lợi
Hợp tác thì có lợi. Bất hợp tác thì mất tất cả, bởi vì đã bị bùa sinh tử, đầu đội chiếc vòng kim cô…
Cộng Sản VN có lẻ khoái cái giải pháp nầy nhất. Bởi vì, vấn đề chủ quyền đã được gác qua một bên, cho nên, CSVN có thể mạnh dạn tuyên bố với nhân dân VN rằng, HS/TS vẫn còn là của VN, sự thật không chối cãi được.
Còn việc chia chác lợi nhuận thì các khoản thu nhập về khai thác tài nguyên biển sẽ được đưa vào ngân khoản quốc phòng, một chương mục thuộc bí mật quốc gia, cấm mọi người nhắc tới hoặc công bố.
Tóm lại, một hiệp ước sẽ ra đời. Hai bên đều tuyên bố thắng lợi trong việc hợp tác khai thác tài nguyên quốc gia của VN. Và một lần nữa, VC dâng tài nguyên quốc gia cho Trung Cộng.
Trúc Giang
Chết mẹ!
Quảng Trung Thiên
(Nguồn: DCVOnline)
Rất tiếc của nhưng toán đặc nhiệm Mỹ buộc lòng phải phá hủy chiếc máy bay trực thăng Hắc Ưng (Black Hawk) bị trục trặc
trong cuộc bố ráp Bin Laden tại Abbottabad, Pakistan.

Phác thảo tượng đài “Mẹ Việt Nam anh hùng” với chi phí xây dựng 410 tỉ đồng Việt Nam. (Hình: VNExpress)
Tại sao họ không để lại đó rồi hôm sau đến sửa mang về? Họ sợ Pakistan sẽ bán xác chiếc máy bay này cho Trung Quốc! Trung Quốc sẵn sàng mua xác công nghệ kỹ thuật của Mỹ với giá cao.
Và cũng không phải rỗi hơi mà tờ Wall Street Journal số ra ngày 24 tháng 5, 2011 trong bài “Cuộc tấn công của Taliban phơi trần Pakistan” (Matthew Rosenberg, “Taliban Raid Exposes Pakistan”) tường thuật về cuộc tấn công của Taliban vào căn cứ hải quân của Pakistan, đã đặt nghi vấn khi biết có 11 kỹ sư Trung Quốc đang xớ rớ tại đó, họ đang làm gì ở đó? Họ làm gì mặc xác việc gì báo chí Mỹ phải xen vào? Báo chí Mỹ phải xen vào vì chiếc máy bay thám thính và chống tàu ngầm P-3C Orion vừa mua của Mỹ bị thiêu rụi, họ nghi ngờ vì có thể ruột chiếc máy bay đã được mang về Trung Quốc còn phần vỏ thì nhờ tay phiến quân Taliban giúp giùm!
Và cũng theo thông tấn xã AP vào ngày 18 tháng 9, 2011 trong bản tin “Quân Pakistan tấn công Taliban giành xác phi cơ không người lái của Mỹ” (Ishtiaq Mahsud, “Pakistan troops battle Taliban for US drone debris”). Ngay tựa đề đã thấy cái xác phi cơ không người lái của Mỹ rất là có giá. Chỉ có cái xác máy bay mà cũng phải giành giật? Vì đó là công nghệ kỹ thuật cao, nên có người như Trung Quốc sẵn sàng ra giá cao để mua lấy xác! Không những thế Trung Quốc còn hù dọa các nước láng giềng bằng cách mua con tàu ve chai Gerand của Ukraina về chế thành hàng không mẫu hạm. Trong khi các hàng không mẫu hạm của các nước tiên tiến thì chạy bằng năng lượng nguyên tử thì hàng không mẫu hạm Trung Quốc chạy bằng... diesel, nhưng không sao miễn là hèn nhát như quân đội nhân dân Việt Nam thấy sợ là được!
Nhưng đó là chuyện của Trung Quốc đâu có liên quan gì đến Việt Nam? Có chớ! Vì Việt Nam là thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc nên cái gì Trung Quốc làm thì chính phủ Việt Nam rắp tâm bắt chước theo, cũng tập tành mua... xác! Không cần phải đi đâu xa cho tốn tiền mệt xác, chính phủ Việt Nam cũng mua... xác công nghệ cao từ Trung Quốc. Miễn là công nghệ cao thì cũng tốt chứ sao? Không, đó đơn thuần chỉ là những cái xác, từng đoàn lao động phổ thông từ Trung Quốc tràn ngập Việt Nam và cạnh tranh với đám thợ hồ tụi tui gay gắt. Và từng đoàn cán bộ từ sở, ban ngành đến trung ương của Việt Nam đều sang chầu chực Trung Quốc để rồi rinh về mớ xác phế thải, từ nhà máy đến... tàu cao tốc. Ðể rồi đến chín mươi phần trăm công trình trọng yếu của quốc gia đều là từ Trung Quốc. Khoan nói đến an ninh quốc phòng, chỉ nghe đến chất lượng Trung Quốc đã thấy kinh!
Khi những cái xác phế thải từ Trung Quốc không đủ đáp ứng nhu cầu tham nhũng, thì những người cộng sản Việt Nam quay ra bươi lại những cái xác của chiến tranh để kiếm tiền tư túi. Khi những nước lân bang như Nam Hàn, Singapore, Mã Lai... đã ra khỏi chiến tranh và trở thành cường quốc thì Việt Nam, tuy chiến tranh đã trôi qua được 36 năm, nhưng vẫn còn ngập ngụa trong những cái xác phế thải. Chính vì ngập chìm trong bóng ma chiến tranh, vương vấn với hào quang chiến thắng nên người cộng sản Việt Nam đã cho mình ở vào đỉnh cao của trí tuệ của loài... vật. Khi những quốc gia lân cận vươn tới đỉnh cao của công nghệ kỹ thuật, như Nhật, Nam Hàn, Singapore... thì Việt Nam cũng phát triển được công nghệ... mãi dâm và ăn được cả bê tông cốt thép!
Không đâu như Việt Nam, công nghệ “ăn nhậu” và “bia ôm” đã lan tràn đến hang cùng ngõ hẻm. Những người cộng sản Việt Nam khi đã no say thì họ bổng giật mình nhớ ra là mình cũng còn có... mẹ. Ừ thì “những người mẹ này đã dũng cảm... điên khùng bóp mũi con mình cho chết để che giấu cán bộ cộng sản nằm vùng, để rồi đám du côn này khi thành công lại bóp miệng bà mẹ già nua, cô đơn nghèo khó, đã cắc củm nuôi mình năm xưa, quăng ra đường để chiếm lấy miếng đất hương hỏa của họ mà làm sân gôn (golf) hay xây biệt thự” như ông đã viết. Không, đó là những bà mẹ còn sống, tui chỉ nói là họ nhớ ra những bà mẹ... đã chết! Ðám quan chức mừng rơn khi... mẹ chết! Vì có cớ làm một đám tang linh đình để khai thác tận thu tiền phúng điếu. Nếu đám quan chức này không... chết mẹ thì sao? Thì bươi đại một cái xác của bà nào đó, chết trong chiến tranh, sơn phết, tân trang, bóp nặn ca tụng thành mẹ rồi dựng tượng đài để mà lấy tiền.
Theo báo Người Lao Ðộng số ra ngày 20 tháng 9, 2011, “Xây tượng đài 410 tỉ đồng” của Ngân Hoa, thì tỉnh Quảng Nam “nâng tổng số tiền đầu tư từ ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh lên hơn 410 tỉ đồng” để xây tượng đài một bà mẹ! Không cần phải bàn nếu họ dựng lại cái xác bà nhà quê bằng tiền túi của họ, nhưng đằng này họ lấy tiền thuế của dân để xây dựng công trình, để rồi tiền “lại quả” chạy vào túi riêng của họ. Nhẩm tính theo thời giá hiện nay số tiền “lại quả” là ba mươi phần trăm của tổng vốn công trình cho chủ đầu tư, thì phần “lại quả” của 410 tỷ không phải là nhỏ. Cho dù ít hay nhiều thì hành động ăn trên xác người đều đáng lên án. Càng đáng lên án khi các bà mẹ quê còn sống đang tần tảo vất vả mang từng túm rau, bó cải ra chợ để đổi chác được mươi ngàn để đóng học phí và nuôi con ăn học. Những đứa con bữa đói bữa no nhưng vẫn cố gắng ôm cặp đến trường để tìm kiến thức và Chủ Nhật hàng tuần vẫn xuống đường biểu tình để bảo vệ tổ quốc. Ở Quảng Nam vẫn còn có những đứa con không có tiền để đóng học phí đại học. Ngược lại, đám quan chức vẫn ăn chơi hoang đàng xa xỉ, bòn rút người nghèo, dập vùi những bà mẹ còn sống, bươi xác những người đã chết để lấy tiền bỏ vào túi riêng.
Một tỉnh nghèo như Quảng Nam, hàng năm từng đoàn người lũ lượt kéo nhau ra đi khắp bốn phương làm thợ hồ, thợ may trong đó có... tui, để kiếm sống và nuôi những người thân còn ở lại. Một tỉnh không đủ việc làm cho dân, quanh năm chỉ quanh quẩn với giày da, suốt tháng chỉ biết may mặc, tất cả chỉ đều công việc gia công với đồng lương chết đói. Còn những người nông dân thì chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, bám với mẫu ruộng cằn cỗi với “công nghệ” của ngàn năm về trước, con trâu đi trước cái cày theo sau, và chạy ăn ngày ba bữa. Nhưng chính quyền cấp tỉnh mặc kệ, vẫn cứ chơi sang và chơi... ngu, tiêu tiền của dân vô tội vạ.
Không chỉ riêng với một tỉnh Quảng Nam, các tỉnh thành khác cũng làm tương tự. Lên đến cấp quốc gia thì chính phủ Việt Nam sẵn sàng phung phí tiền dân như Vinashin và sắp tới đây sẽ là tàu cao tốc với công nghệ Trung Quốc. Một chính quyền chỉ biết đàn áp dân, cướp của dân và sống bám vào dân. Chính quyền cộng sản đã thành giống ký sinh trùng đục khoét, vơ vét trên tấm thân còm cõi mẹ Việt Nam. Với chính quyền thiểu năng trí tuệ như vậy sẽ dẫn con thuyền Việt Nam trôi dạt về đâu? Thì về Trung Nam Hải chớ đâu nữa. Chết mẹ!
Quảng Trung Thiên
(Nguồn: DCVOnline)
Rất tiếc của nhưng toán đặc nhiệm Mỹ buộc lòng phải phá hủy chiếc máy bay trực thăng Hắc Ưng (Black Hawk) bị trục trặc
trong cuộc bố ráp Bin Laden tại Abbottabad, Pakistan.

Phác thảo tượng đài “Mẹ Việt Nam anh hùng” với chi phí xây dựng 410 tỉ đồng Việt Nam. (Hình: VNExpress)
Tại sao họ không để lại đó rồi hôm sau đến sửa mang về? Họ sợ Pakistan sẽ bán xác chiếc máy bay này cho Trung Quốc! Trung Quốc sẵn sàng mua xác công nghệ kỹ thuật của Mỹ với giá cao.
Và cũng không phải rỗi hơi mà tờ Wall Street Journal số ra ngày 24 tháng 5, 2011 trong bài “Cuộc tấn công của Taliban phơi trần Pakistan” (Matthew Rosenberg, “Taliban Raid Exposes Pakistan”) tường thuật về cuộc tấn công của Taliban vào căn cứ hải quân của Pakistan, đã đặt nghi vấn khi biết có 11 kỹ sư Trung Quốc đang xớ rớ tại đó, họ đang làm gì ở đó? Họ làm gì mặc xác việc gì báo chí Mỹ phải xen vào? Báo chí Mỹ phải xen vào vì chiếc máy bay thám thính và chống tàu ngầm P-3C Orion vừa mua của Mỹ bị thiêu rụi, họ nghi ngờ vì có thể ruột chiếc máy bay đã được mang về Trung Quốc còn phần vỏ thì nhờ tay phiến quân Taliban giúp giùm!
Và cũng theo thông tấn xã AP vào ngày 18 tháng 9, 2011 trong bản tin “Quân Pakistan tấn công Taliban giành xác phi cơ không người lái của Mỹ” (Ishtiaq Mahsud, “Pakistan troops battle Taliban for US drone debris”). Ngay tựa đề đã thấy cái xác phi cơ không người lái của Mỹ rất là có giá. Chỉ có cái xác máy bay mà cũng phải giành giật? Vì đó là công nghệ kỹ thuật cao, nên có người như Trung Quốc sẵn sàng ra giá cao để mua lấy xác! Không những thế Trung Quốc còn hù dọa các nước láng giềng bằng cách mua con tàu ve chai Gerand của Ukraina về chế thành hàng không mẫu hạm. Trong khi các hàng không mẫu hạm của các nước tiên tiến thì chạy bằng năng lượng nguyên tử thì hàng không mẫu hạm Trung Quốc chạy bằng... diesel, nhưng không sao miễn là hèn nhát như quân đội nhân dân Việt Nam thấy sợ là được!
Nhưng đó là chuyện của Trung Quốc đâu có liên quan gì đến Việt Nam? Có chớ! Vì Việt Nam là thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc nên cái gì Trung Quốc làm thì chính phủ Việt Nam rắp tâm bắt chước theo, cũng tập tành mua... xác! Không cần phải đi đâu xa cho tốn tiền mệt xác, chính phủ Việt Nam cũng mua... xác công nghệ cao từ Trung Quốc. Miễn là công nghệ cao thì cũng tốt chứ sao? Không, đó đơn thuần chỉ là những cái xác, từng đoàn lao động phổ thông từ Trung Quốc tràn ngập Việt Nam và cạnh tranh với đám thợ hồ tụi tui gay gắt. Và từng đoàn cán bộ từ sở, ban ngành đến trung ương của Việt Nam đều sang chầu chực Trung Quốc để rồi rinh về mớ xác phế thải, từ nhà máy đến... tàu cao tốc. Ðể rồi đến chín mươi phần trăm công trình trọng yếu của quốc gia đều là từ Trung Quốc. Khoan nói đến an ninh quốc phòng, chỉ nghe đến chất lượng Trung Quốc đã thấy kinh!
Khi những cái xác phế thải từ Trung Quốc không đủ đáp ứng nhu cầu tham nhũng, thì những người cộng sản Việt Nam quay ra bươi lại những cái xác của chiến tranh để kiếm tiền tư túi. Khi những nước lân bang như Nam Hàn, Singapore, Mã Lai... đã ra khỏi chiến tranh và trở thành cường quốc thì Việt Nam, tuy chiến tranh đã trôi qua được 36 năm, nhưng vẫn còn ngập ngụa trong những cái xác phế thải. Chính vì ngập chìm trong bóng ma chiến tranh, vương vấn với hào quang chiến thắng nên người cộng sản Việt Nam đã cho mình ở vào đỉnh cao của trí tuệ của loài... vật. Khi những quốc gia lân cận vươn tới đỉnh cao của công nghệ kỹ thuật, như Nhật, Nam Hàn, Singapore... thì Việt Nam cũng phát triển được công nghệ... mãi dâm và ăn được cả bê tông cốt thép!
Không đâu như Việt Nam, công nghệ “ăn nhậu” và “bia ôm” đã lan tràn đến hang cùng ngõ hẻm. Những người cộng sản Việt Nam khi đã no say thì họ bổng giật mình nhớ ra là mình cũng còn có... mẹ. Ừ thì “những người mẹ này đã dũng cảm... điên khùng bóp mũi con mình cho chết để che giấu cán bộ cộng sản nằm vùng, để rồi đám du côn này khi thành công lại bóp miệng bà mẹ già nua, cô đơn nghèo khó, đã cắc củm nuôi mình năm xưa, quăng ra đường để chiếm lấy miếng đất hương hỏa của họ mà làm sân gôn (golf) hay xây biệt thự” như ông đã viết. Không, đó là những bà mẹ còn sống, tui chỉ nói là họ nhớ ra những bà mẹ... đã chết! Ðám quan chức mừng rơn khi... mẹ chết! Vì có cớ làm một đám tang linh đình để khai thác tận thu tiền phúng điếu. Nếu đám quan chức này không... chết mẹ thì sao? Thì bươi đại một cái xác của bà nào đó, chết trong chiến tranh, sơn phết, tân trang, bóp nặn ca tụng thành mẹ rồi dựng tượng đài để mà lấy tiền.
Theo báo Người Lao Ðộng số ra ngày 20 tháng 9, 2011, “Xây tượng đài 410 tỉ đồng” của Ngân Hoa, thì tỉnh Quảng Nam “nâng tổng số tiền đầu tư từ ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh lên hơn 410 tỉ đồng” để xây tượng đài một bà mẹ! Không cần phải bàn nếu họ dựng lại cái xác bà nhà quê bằng tiền túi của họ, nhưng đằng này họ lấy tiền thuế của dân để xây dựng công trình, để rồi tiền “lại quả” chạy vào túi riêng của họ. Nhẩm tính theo thời giá hiện nay số tiền “lại quả” là ba mươi phần trăm của tổng vốn công trình cho chủ đầu tư, thì phần “lại quả” của 410 tỷ không phải là nhỏ. Cho dù ít hay nhiều thì hành động ăn trên xác người đều đáng lên án. Càng đáng lên án khi các bà mẹ quê còn sống đang tần tảo vất vả mang từng túm rau, bó cải ra chợ để đổi chác được mươi ngàn để đóng học phí và nuôi con ăn học. Những đứa con bữa đói bữa no nhưng vẫn cố gắng ôm cặp đến trường để tìm kiến thức và Chủ Nhật hàng tuần vẫn xuống đường biểu tình để bảo vệ tổ quốc. Ở Quảng Nam vẫn còn có những đứa con không có tiền để đóng học phí đại học. Ngược lại, đám quan chức vẫn ăn chơi hoang đàng xa xỉ, bòn rút người nghèo, dập vùi những bà mẹ còn sống, bươi xác những người đã chết để lấy tiền bỏ vào túi riêng.
Một tỉnh nghèo như Quảng Nam, hàng năm từng đoàn người lũ lượt kéo nhau ra đi khắp bốn phương làm thợ hồ, thợ may trong đó có... tui, để kiếm sống và nuôi những người thân còn ở lại. Một tỉnh không đủ việc làm cho dân, quanh năm chỉ quanh quẩn với giày da, suốt tháng chỉ biết may mặc, tất cả chỉ đều công việc gia công với đồng lương chết đói. Còn những người nông dân thì chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, bám với mẫu ruộng cằn cỗi với “công nghệ” của ngàn năm về trước, con trâu đi trước cái cày theo sau, và chạy ăn ngày ba bữa. Nhưng chính quyền cấp tỉnh mặc kệ, vẫn cứ chơi sang và chơi... ngu, tiêu tiền của dân vô tội vạ.
Không chỉ riêng với một tỉnh Quảng Nam, các tỉnh thành khác cũng làm tương tự. Lên đến cấp quốc gia thì chính phủ Việt Nam sẵn sàng phung phí tiền dân như Vinashin và sắp tới đây sẽ là tàu cao tốc với công nghệ Trung Quốc. Một chính quyền chỉ biết đàn áp dân, cướp của dân và sống bám vào dân. Chính quyền cộng sản đã thành giống ký sinh trùng đục khoét, vơ vét trên tấm thân còm cõi mẹ Việt Nam. Với chính quyền thiểu năng trí tuệ như vậy sẽ dẫn con thuyền Việt Nam trôi dạt về đâu? Thì về Trung Nam Hải chớ đâu nữa. Chết mẹ!

