Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Mai Thảo. Mãi mãi. Ký ức.
Wednesday, January 13, 2010

Image
Mai Thảo - Du Tử Lê. (Hình: Trần Cao Lĩnh)

Lời nói đầu: Nhân dịp kỷ niệm 12 năm, ngày mất (10 Tháng Giêng, năm 1998) của nhà văn Mai Thảo, chúng tôi xin được gửi tới quý bạn đọc và thân hữu, hai bài viết về nhà văn này, của chúng tôi.

Bài thứ nhất, chúng tôi viết một ngày sau khi ông mất. Bài thứ hai, chúng tôi viết 30 ngày sau đó, dưới bút hiệu Lê Hà Nam, cho tạp chí Hợp Lưu, số “Tưởng Mộ Mai Thảo,” Tháng Hai và Ba, năm 1998.

Dưới đây là bài “Mai Thảo, thế giới đèn màu, Saigon, trước 1975” sau khi được hiệu đính.

Trân trọng,

DTL.


1. Mai Thảo, thế giới đèn màu, Saigon, trước 1975

Nói tới nhà văn Mai Thảo, trong hơn hai mươi năm qua, ở hải ngoại, người ta chỉ có thể hình dung ông trong cung cách lạnh lùng, lừng khừng của một nhà văn lưu vong. Hoặc người ta nhớ tới ông, trong câu chuyện của một ông già, mỗi buổi sáng thường lững thững trên một đoạn đường Bolsa (khúc nối liền giữa khu chợ 99 và Phước Lộc Thọ).

Cũng chính ở khúc đường này, nhiều lần, cảnh sát đã chặn ông lại, nhét vào túi ông những tấm giấy phạt vì tội...“ vi phạm luật đi... bộ!”

Ông bị phạt nhiều tới độ ông trở thành một nhân vật... nổi tiếng của Hội Ðồng Thành Phố Westminster.

Tôi nhớ, năm 1996, một nhóm anh em văn nghệ sĩ đứng ra tổ chức “Ðêm Mai Thảo,” tại hý viện Westminster Auditorium, thuộc thành phố Westminster. Nghị Viên Lâm Quang, lúc đó còn là quyền thị trưởng thành phố Westminster, lên sân khấu trao bảng “Ngợi Ca Thành Tích Văn Học” cho nhà văn Mai Thảo.

Trong phần phát biểu, Nghị Viên Lâm Quang chuyển lời xin lỗi của Hội Ðồng Thành Phố và, của cảnh sát trưởng thành phố này, tới tác giả “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Ðền.”

Họ Lâm nói, dù biết Mai Thảo là một nhà văn nổi tiếng của miền Nam Việt Nam, nhưng sự việc ông băng qua đường một cách bừa bãi là một điều nguy hiểm cho sinh mạng của ông trước nhất; kế tới, cản trở lưu thông và, sau chót... “vi phạm luật dành cho người đi bộ!”

“Bởi thế, nếu không phạt ông, thì cảnh sát Westminster chúng tôi cũng sẽ không thể phạt những người... đi bộ khác,” Ông Lâm Quang nói.

“Và trong ‘Ðêm Mai Thảo’ này, chúng tôi xin cầu chúc nhà văn Mai Thảo, tương lai sẽ không còn bị phạt vì tội đi... bộ nữa. Ðược như vậy, cá nhân chúng tôi cũng bớt phần... áy náy.”

Ðêm đó, hội trường rung rinh vì những chuỗi cười ngặt nghẽo, ném lên từ khán giả.

Trên sân khấu, người đàn ông vừa bước vào tuổi 70, cũng bật cười. Nụ cười móm mém. Nụ cười hóm hỉnh. Thân ái. Nhẹ nhàng chấp nhận.

Trong số 500 khán giả, những người yêu mến Mai Thảo kia, tôi nghĩ, có dễ ít ai biết, cái ông già hom hem, móm mém đang đứng trước họ đó, hai mươi năm trước, từng là “Ông Hoàng Của Ngàn Lẻ Một Ðêm Sài Gòn.”

Tôi nghĩ, trong số 500 khán giả, những người yêu mến Mai Thảo kia, có dễ ít ai biết, cái ông già chỉ còn vài chiếc răng trệu trạo, lung lay, loáng thoáng đâu đó trên gương mặt xanh rớt ấy, hơn hai mươi năm trước, là một tay chơi từng đương đầu với nguyên băng thảo khấu, đàn em của Bảy Viễn: Băng Lai Văn Sang. Giữa thập 1950, một đêm, băng Lai Văn Sang, xuất quân từ sòng bài Ðại Thế Giới ở Chợ Lớn, đại náo một vũ trường ở đầu đường Trần Hưng Ðạo, trong một cuộc biểu dương quyền lực, để tranh giành một vũ nữ hoa khôi, tên C. thời đó...

Tình địch của băng Lai Văn Sang, ngày ấy, không ai khác hơn: Mai Thảo.

Tôi nghĩ, trong số 500 khán giả, những người yêu mến Mai Thảo, yêu mến ông già có nụ cười hóm hỉnh, móm mém, chưa từng lập gia đình kia, có dễ ít ai biết, giữa thập niên 50, từ Saigon, đã một mình, bay ra cố đô Huế. Ông lừng lững tới tận nhà nữ ca sĩ họ Lục, (sau này trở thành danh ca dưới tên H.Th.) để xin hỏi cưới nàng. Người đàn ông đó, cũng là Mai Thảo.

Không chỉ đa số khán giả của “Ðêm Mai Thảo” kia, không biết mà, ngay song thân của người nữ ca sĩ họ Lục, ngỡ ngàng, kinh ngạc khi nghe Mai Thảo tự giới thiệu... “thân thế” mình:

“Tôi là Mai Thảo. Từ Saigon ra. Chúng tôi thực sự muốn lấy L.H. làm vợ. Nếu hai cụ đồng ý thì, tôi hứa, trong vòng một tháng, bố mẹ chúng tôi sẽ bay ra đây, nói tiếp phần còn lại...”

Liền sau đó, ông xin phép song thân họ Lục, để được đưa con gái họ... đi chơi!

Cũng liền sau đó, song thân của người con gái họ Lục, cho hay, sẽ khó khăn cho họ biết là chừng nào, nếu có một chàng rể như... Mai Thảo!

Tôi nghĩ, trong số 500 khán giả, những người yêu mến ông già có nụ cười móm mém, hóm hỉnh kia, có dễ ít người biết, giữa thập niên 1950, khi lớp người miền Bắc di cư vào Nam, còn bị người địa phương ngắm nhìn như những người... ngoại quốc... (Những người không phải là người... “Diệc”... Những người ăn... thịt người, chuyên bắt cóc con nít?!) thì, Mai Thảo đã trở thành người em nhỏ trong tình thương, quý của nữ nghệ sĩ Phùng Há, của lão nghệ sĩ Năm Châu... Mai Thảo cũng trở thành người anh đáng tin cậy của Thành Ðược, Kim Chung, Bích Hợp, Dũng Thanh Lâm...

Nghệ sĩ lừng danh Thành Ðược, hiện cư ngụ tại miền Bắc Cali, thuở xa xưa, mỗi lần gặp nhà văn Mai Thảo, thường dùng hai chữ “văn nhân” để tỏ lòng quý, trọng ông.

Mai Thảo, với những đêm lăn lóc ở Tổ Ðình, chờ tan một xuất diễn, đợi hết một buổi tập tuồng, để được theo chân bà chị Phùng Há, ông anh Năm Châu đi vào thế giới Saigon ban đêm. Thế giới của những nghệ sĩ cải lương, chèo cổ nổi tiếng đương thời.

Chính Mai Thảo là người đầu tiên, vào từ miền Bắc, mở được cánh cửa tương thông, thân ái giữa những người làm nghệ thuật ở hai đầu “thế giới” lạ lẫm. Không có ông, tôi nghĩ, khó ai biết được tới lúc nào, cánh cửa tương thông, thân ái nọ, mới được mở rộng?!)

Tôi nghĩ, trong số 500 khán giả, những người yêu mến ông già đã tận hiến trọn vẹn cuộc đời của mình cho dòng văn học Việt Nam ở quê hương, cũng như tại quê người, có dễ ít ai biết, hơn 20 năm trước, chính ông già lạnh lùng, lừng khừng, đôi lúc giống như bất thường đó, lại là người phong tặng danh hiệu cho nhiều tiếng hát miền Nam. Những danh hiệu mà, hôm nay, ở hải ngoại, mỗi khi nhắc tới họ, một số người trong chúng ta, chưa quên. Như, Thanh Thúy, “Tiếng hát liêu trai.” Thái Thanh, “Tiếng hát vượt thời gian,” Lệ Thu, “Tiếng hát mùa thu sương khói”...

Ðó là một phần chân dung đời thường của nhà văn Mai Thảo. Người đứng đầu tạp chí Sáng Tạo. Một tạp chí trương cao ngọn cờ cổ xúy phong trào “giải phóng” dòng văn học, nghệ thuật miền Nam, từ những năm giữa thập niên 1950, khỏi ảnh hưởng của phong trào văn chương tiền chiến.

Ðó cũng là một phần nhân-cách-Mai-Thảo. Người đi hết một đời nhà văn của mình mà, không hề lưu lại một dòng, một chữ gây thương tổn bạn văn.

Nhớ lại, biết được như thế, chúng ta sẽ không ngạc nhiên, tại sao đám tang ông, đám tang một nhà văn, (dù là nhà văn hàng đầu,) lại có nhiều, quá nhiều những khuôn mặt, những tên tuổi tiêu biểu cho nửa thế kỷ tân nhạc và, sân khấu Việt Nam, quê người; cũng như giới tay chơi, giang hồ hữu hạng... bên cạnh những khuôn mặt thuộc văn giới. Ðủ loại!

Từ đó, tôi nghĩ, Mai Thảo không chỉ lớn lao trong văn học, mà, ông còn lớn lao trong nhiều lãnh vực khác của đời sống Việt Nam nữa.

Du Tử Lê

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

THÁNH GIÁ-NIỀM TIN KITÔ GIÁO KHÔNG BAO GIỜ MẤT ĐI Yêu Sự Thật

Trải qua bao thế kỷ, trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, sự trung thành của Giáo hội với mệnh lệnh của Chúa Kitô đã đem Giáo hội đến cuộc thử lửa với người Do Thái ngay những thế kỷ đầu. Lịch sử cho ta thấy những người Do Thái đã có những bất đồng chính kiến, những va chạm, thù hận, ghen ghét những người theo Chúa Kitô. Họ tìm mọi cách triệt hại đạo Chúa Kitô, giết hại các Kitô hữu.

Ngay tại Việt Nam kể từ năm 1627, Sắc chỉ thứ nhất do Chúa Trịnh ban hành cấm đạo cho đến triều đại Tự Đức Nhà Nguyễn. Tổng cộng có 53 sắc chỉ do các Chúa Nguyễn và Trịnh cũng như Nhà Tây Sơn và các vua Nhà Nguyễn, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

Cấm đạo, bắt bớ những Kitô hữu, khuyên dụ bỏ đạo nếu không thành thì doạ nạt, tra tấn dã man, đánh đập, kìm kẹp… bắt “quá khoá” để được tha. Nhưng người Kitô hữu nhất quyết, thà chết không chịu quá khoá. Có người bị quân lính khiêng qua Thánh Giá thì cố đưa tay nhặt thánh giá lên và hôn kính, không chịu bước qua Thánh Giá, không bao giờ xúc phạm đến Thánh Giá Chúa, không chịu khuất phục trước sự tàn nhẫn của quan quân, không bao giờ chối bỏ niềm tin vào Chúa Kitô. Nhiều người đã hy sinh để bảo vệ đức tin. Trước khi chết họ đã tuyên xưng đức tin một cách mạnh mẽ, giơ cao Thánh Giá Chúa Kitô là biểu tượng của niềm tin kitô giáo.

Khi cộng sản nắm quyền, nhiều thánh giá trên nóc, trên cổng của các nhà thờ, nhà dòng cũng như các nhà tư đã bị triệt hạ. Nhưng đến nay, Thánh Giá mọc ở khắp nơi, trong và trên nóc nhà thờ, nhà dòng, trên nhà, trên cổng của người Công giáo, trên phần mộ của những người kitô hữu đã qua đời.

Ngày 6.1.2010 cộng sản đã triệt hạ Thánh Giá trên Núi Thờ Đồng Chiêm, Thánh Giá được đúc bằng bê-tông cốt thép, chúng đã ốp mìn cho nổ tung, còn đoạn nào thì chúng cưa vụn ra. Chúng lầm tưởng phá được Thánh Giá bằng bê-tông cốt thép xong là xong, nhưng liền sau đó Thánh Giá khác tiếp tục mọc lên. Không phải chỉ là một cây như trước mà là hai, ba cây Thánh Giá khác. Thánh Giá lại được giương cao trên đỉnh núi, ngày đêm những người có niềm tin vào Chúa Kitô tới chân Thánh Giá để đọc kinh cầu nguyện.

Quan quân cộng sản ngày đêm canh gác, chúng đã được chiêm quan cây Thánh Giá tiếp tục vươn cao. Chúng quá sợ hãi khi phải chứng kiến từng đoàn người từ khắp nơi đổ về Đồng Chiêm ngày một đông, đứng dưới chân Thánh giá mà cầu nguyện mặc cho mưa dầm, gió bấc. Vì vậy chúng tìm mọi cách ngăn chặn không cho người lạ vào Đồng Chiêm đọc kinh cầu nguyện thể hiện niềm tin. Chúng càng ngăn cấm thì người tín hữu càng cần thể hiện đức tin cách mạnh mẽ. Chúng sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để đàn áp, đánh đập, bắt bớ, bà con giáo dân Đồng Chiêm và những ai tới cầu nguyện.

Ngày 15.1.2010 chúng đã tăng cường người đến canh gác các ngả đường vào Đồng Chiêm, khủng bố tinh thần giáo dân, đến đêm 16/1/2010 chúng lại phá Thánh Giá trên Núi Thờ. Sáng ngày 17/1/2010 trẻ em giáo xứ Đồng Chiêm lại tiếp tục dựng Thánh Giá khác, Thánh Giá Chúa lại giương cao trên đỉnh núi, chờ đón mọi người đến chiêm ngắm và tôn thờ.

Chúng tưởng rằng, chúng phá được Thánh Giá là thành công, chúng không biết rằng từ xưa tới nay, trải qua biết bao thời đại, các bạo chúa hung tàn đã triệt hạ Thánh Giá, giết hại những người tin theo Chúa Kitô nhưng Thánh Giá Chúa không những không bị triệt hạ mà ngày càng được giương cao, ngày càng được nhiều người tôn thờ. Niềm tin của người tín hữu không những không bị mất đi mà ngày càng vững mạnh và gia tăng. Mất Thánh Giá này thì có Thánh Giá khác, chết một người thì có trăm người khác tuyên xưng niềm tin vào Chúa Kitô.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Một người đàn ông chết sau khi xem Avatar

Image
Ảnh: Huffingtonpost.

Một người đàn ông 42 tuổi, ở Đài Loan đã chết vì đột quỵ. Nguyên nhân có thể do quá khích sau khi xem siêu phẩm 3D Avatar.


Theo USA Today, người đàn ông được biết đến với cái tên Kuo, sống ở thành phố Hsinchu phía nam Đài Loan, vốn có tiền sử bị cao huyết áp. Trong thời gian xem phim, Kuo đã bắt đầu cảm thấy không được khỏe. Đến khi được đưa vào viện thì anh đã bất tỉnh.

Kết quả kiểm tra cho thấy, anh bị chảy máu não. Và Kuo đã tử vong 11 ngày sau đó. Theo tờ China Times thì đây là trường hợp đầu tiên tử vong có liên quan đến bộ phim khoa học viễn tưởng Avatar.

Theo các bác sĩ, có thể tâm trạng quá khấn khích khi xem phim đã dẫn đến cơn đột quỵ của Kuo.

Một số blog về phim đã có những lời phàn nàn về những cơn đau đầu, buồn nôn, chóng mặt sau khi xem bộ phim này và những bộ phim 3D khác.

Phương Trang

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nắm Đất Quê Nhà

Nguyên Nhung

Chỉ còn mấy hôm nữa là lên đường, cả nhà anh Nam tất bật với mấy va ly hành lý lỉnh kỉnh cho một chuyến đi xa. Chuyến đi này không hẹn ngày về, cho nên ai cũng ngổn ngang với biết bao tâm sự. Nhìn quanh cái nào cũng không muốn bỏ, hình như mỗi vật trong nhà này đều đã gắn bó với chủ nhân trong từng khoảnh khắc của đời sống, mang theo ít nhiều kỷ niệm.

Anh Nam tiếc nhất những giò phong lan sau hè, giá mang được anh cũng mang đi hết. Sau ngày đi tù về, ngoài lúc phụ vợ việc nhà, chạy hàng ở ngoài chợ, bao nhiêu thì giờ còn lại, anh luẩn quẩn ở mảnh sân sau chăm sóc mấy giò phong lan. Những khi hoa nở, anh say sưa ngắm nhìn những bông hoa mềm mại đủ màu, trong khoảng sân vuông vức đó lỏng chỏng những thứ cũ kỹ, nếu không có những giò phong lan cuộc đời anh chừng như ảm đạm lắm.

Vợ anh có một sạp bán tiêu tỏi, mắm muối, đường sữa ngoài chợ, vậy mà cũng đủ ngày hai bữa cho một gia đình năm miệng ăn. Sáng sáng, anh phải dậy từ mờ đất để dọn hàng cho vợ, rồi quay về đánh thức lũ nhỏ dậy đi học. Tám năm “ học tập cải tạo “, lúc về vợ chồng vẫn hương lửa mặn nồng như xưa, thế là một thằng cu nữa chào đời. Không thêm của lại thêm con, tuy vậy vợ chồng vẫn vui vì thằng nhóc thông minh, xinh xắn.

Suốt ngày vợ ngồi chợ, anh ở nhà giữ con, loay hoay vô bao những gói đường, gói tiêu, gói bột ngọt. Chợ nằm gần đường xe lửa, đa số là dân nghèo, người nghèo thì làm gì có tiền mua thực phẩm trữ sẵn trong nhà, người ta ghé vào mua bịch mỡ, tí bột ngọt, gói đường, ngày nào xào ngày nấy, nhờ vậy mà vợ anh mới kiếm được cơm cháo cho lũ con và nuôi anh những ngày tù tội.

Mảnh sân vuông tráng xi măng sau nhà lâu không được sửa chữa nay đã loang lổ, có một cái bể chứa nước mưa và một hòn non bộ. Mé bên trái là một cây mận lớn, cây mận này mẹ anh trồng từ lúc anh lấy vợ, trái đỏ thẫm, ăn ngọt như đường. Hòn non bộ cũng của ông nội lũ nhỏ để lại, nay cũ kỹ đến mọc rêu, từng hòn sỏi trải trên lối mòn đưa lên núi chỗ hai ông tiên đánh cờ cũng do ông cụ nhặt nhạnh, gắn vào mấy tảng đá ong nay đã nhẵn thín. May quá, ngày anh đi ở tù vợ anh hầu như đã bán tất cả những gì quý giá, hòn non bộ cũ kỹ không ai khuân đi cho nên nó mới còn đó.

Những sáng khi mặt trời mọc, con chim chìa vôi vẫn nhảy nhót trên cây mận đỏ tìm mồi, những buổi chiều gió hiu hiu, hoặc một đêm trăng sáng, vợ chồng con cái vẫn bắc mấy cái ghế con con ra sân chuyện vãn, nghe anh kể chuyện tháng ngày lao nhọc trong tù, nay được thế này là nhà anh đại có phước. Dưới ánh trăng suông, nhìn vợ trong chiếc áo cánh trắng đơn sơ , anh thấy vợ vẫn nồng nàn như thủa xưa, cái đẹp của tâm hồn khiến anh thấy mình càng ngày càng yêu vợ. Vợ anh nay không mượt mà như trước, nắng sớm mưa chiều đã làm chị đen đúa hơn, nhưng mặn mòi duyên dáng vì khuôn mặt thuần hậu không son phấn, mớ tóc bới cao vén gọn sau gáy, giọt mồ hôi rịn trên trán , vợ anh vẫn dễ thương như thuở nào.

Ai ngờ lại có chương trình cho mấy người tù nhân chính trị được tỵ nạn bên Mỹ, lúc mới nghe bạn bè rỉ tai nhau anh Nam không làm sao tin nổi. Dạo trong tù, có mấy người chuyên môn tung tin vịt, buồn thì nói láo chơi cho đỡ buồn, vậy mà ai cũng hy vọng. Thật ra trong những lúc tuyệt vọng như thế, người ta vẫn cứ bám vào những tin đồn bên ngoài hàng rào kẽm gai để nuôi một chút hy vọng, đợi ngày về với vợ con. Tác giả của những tin đồn xuất phát từ đám vợ tù đi thăm nuôi, hoặc một anh nào đó lúc đi gánh phân bón rau tăng gia sản xuất, nghĩ ngợi ra để mọi người xì xào với nhau cho đỡ buồn, vậy mà cũng trở thành sự thật.

Từ lúc đi làm giấy tờ xuất cảnh ở trên quận anh Nam đã không “ hồ hởi” lắm. Anh nghi ngờ cũng phải, thứ nhất là ..." hãy nhìn kỹ những gì chúng làm...", lại nữa, mình có phải ông nội cha gì của Mỹ mà nó rước qua cho chật đất. Riêng vợ con anh thì nôn nao lắm, muôn sự cũng tại quá khổ, cứ thoát ra được cảnh đời tối tăm chạy ăn từng ngày là mừng, còn cái buồn vì phải lang thang nơi đồng đất quê người như thiên hạ nói, nào có nhằm nhòi gì so với cái đoạn trường từ ngày hòa bình đến nay. Lũ con anh thiếu thốn đã lâu, nhà có mỗi cái " TiVi" đen trắng cũng bị hỏng, tối tối lũ nhỏ phải đi coi " cọp " ở nhà hàng xóm, bà ta tuy tử tế thật nhưng lũ nhỏ vẫn sợ nem nép, trước khi vào nhà phải giơ tay giơ chân lên cho bà khám xem có bùn đất gì không. Dưới nền gạch bông, bọn trẻ con chen lấn nhau, huých vào mạng sườn nhau dành chỗ, bà chủ nhà quơ chiếc roi lên, cả bọn im phăng phắc, chỉ sợ không được xem nốt bộ phim Tề Thiên đại Thánh đang hồi gay cấn.

Những thứ thiếu thốn lặt vặt hằng ngày, đối với những người từng lăn lộn với cái khổ, cái đói của một đời tù tội thì chẳng nghĩa lý chi, vì anh đã quen chịu đựng. Nhưng từ lúc lũ con lớn lên, anh Nam nhìn thấy nỗi ao ước nhỏ nhoi của lũ trẻ, lại là những vết roi cào xước tâm hồn anh, nếu cuộc sống cứ tiếp tục thế này mãi mãi, mong gì đời con anh sẽ khá.

Chỉ bây nhiêu đó đã làm anh Nam xót xa biết bao nhiêu trong dạ, mai này qua Mỹ anh nhất định đi làm dành dụm mua ngay cho con cái TiVi màu cho đỡ hận. Nếu đi được thì nhà anh đúng là đại phước, “ qua cơn bĩ cực tới hồi thới lai”. Sang bên ấy, xứ sở tự do, dù sao cũng có công ăn chuyện làm, gia đình anh sẽ được bù đắp bao điều mất mát đã phải gánh chịu sau năm bảy mươi lăm. Vợ anh đỡ phải lam lũ nắng sớm mưa chiều , trắng da dài tóc mấy hồi, lũ con được ăn học tới nơi tới chốn, thằng cu con sẽ có một mình một cái tivi, tha hồ xem phim hoạt họa.

Thấy cu Việt khệ nệ mang một cái túi hơi nằng nặng sau lưng, anh Nam tò mò muốn biết chị Nam sắp xếp những gì trong đó. Này là mấy khung hình ông bà nội ngoại hai bên, này là cái bát nhang bằng sứ vẽ hoa, này là bộ hang đá có mấy bức tượng gia đình Thánh Gia , thiên thần, chăn chiên cho dịp Noel sắp tới, còn thêm một bịch gì mềm mềm, nâu nâu đến cả ký. Anh hỏi vợ :
“ Cái gì thế này?”
Chị lúng túng, trả lời gọn lỏn:
“Đất.”
Anh trợn mắt nhìn vợ:
“Đem cái của nợ này đi làm gì? Tưởng cái gì chứ đất ở đâu chẳng có, khùng vừa vừa thôi bà ơi.”
Vợ anh rươm rướm nước mắt :
“Thì khùng, anh cứ để đó em. Đất này em lấy ở gốc mận sau nhà, ngày xưa má hay ngồi đó, má xúc đất vun cây, đất này là đất của bà nội mấy nhỏ...”

Chỉ nói được bấy nhiêu là chị òa lên khóc. Cu Việt ngơ ngác nhìn mẹ, rồi giựt phắt cái túi trên tay ba nó , đeo lên lưng:
“Con mang được mà, không nặng đâu ba. Mẹ nói cái này quý lắm, không có đưa cho ai coi hết.”

Anh Nam nghẹn ngào, rươm rướm nước mắt, anh hiểu tình cảm chân chất, thật thà của vợ. Cái nhà này của cha mẹ anh để lại, nay giao lại cho người em trai trông nom, nó đã giột nát tứ tung, lớp ngói đã phải đắp điếm mấy lần, anh hy vọng sau này có tiền, gửi về cho người em sửa sang lại vì là nhà hương hỏa. Nhà anh nghèo, vợ anh mang theo qua Mỹ từng cái chén, đôi đũa, từng cây kim cuộn chỉ, chị thực tế bày giải :
“Vẫn biết sang bên kia có người bảo trợ, nhưng không lẽ cái gì cũng làm phiền người ta. Mỗi người được sáu mươi ký hành lý, mình không có gì quí mang theo thì cái gì cần cứ mang.”

Lúc ấy anh chỉ cười thầm cho cái tính cẩn thận của vợ, khi thấy vợ sắp xếp lỉnh kỉnh nào thuốc ho, thuốc cảm, thuốc đau bụng đi cầu, cái khăn tắm, cục xà bông. Chừng sang đến nơi anh mới thấy phục vợ, ngày đầu tiên đến Mỹ, người bảo trợ thảy cho nhà anh thùng mì gói, vài cái tô, muỗng đĩa giấy, hai chai nước ngọt trong tủ lạnh, mấy chiếc nệm cũ để ngủ, chỏng trơ chiếc bàn không có ghế. Ư hừ! Nếu vợ anh không mang theo mấy hộp ruốc, con dao gọt trái cây, cái cắt móng tay, mỗi chút mỗi mua mỗi tiền, tảng thịt heo đông đá giữa mùa đông buốt lạnh làm ai ngó thấy cũng ngao ngán.

Rồi không ai bảo, anh Nam lần mò ra chỗ thùng rác của chung cư, khuân về một cái tủ gỗ long chân, sẵn có búa và gói đinh vợ mang theo, anh sửa chữa qua loa rồi xếp vào đấy mấy cuốn Tự điển mang theo từ bên nhà, còn ngăn trên vợ anh mau mắn bày biện mấy khung hình của ông bà nội ngoại. Con cái ở đâu thì cha mẹ đó, tâm hồn người Việt giản dị nghĩ thế dù ông bà, cha mẹ đã khuất bóng từ lâu, nhưng nếu linh hồn thuộc về thiêng liêng thì cái việc vượt trùng dương để đến với con cái đâu có gì khó.

Hôm lễ Giáng sinh lũ con nom buồn thảm quá. Trời lạnh, đường xá vắng hoe, nhà nhà đóng cửa im ỉm, mùa đông đã lạnh lại thêm mưa giầm, không gian như phủ một bức màn xám xịt. Lũ nhỏ châu đầu vào nghe nhạc giáng sinh ở cái radio cũ người bảo trợ cho, hai đứa lớn ngó mông ra cửa sổ mà mắt đã ươn ướt vì nhớ quê, nhớ bạn. Anh Nam định hôm nào có việc, chuyện đầu tiên là đi mua ngay cái tivi cho thằng nhỏ, để không mang tội nói dóc với con. Thằng anh bày hang đá ở một góc nhà, ra sân bẻ trộm một nhánh thông cho phủ lòa xòa trên cái gia đình Nazareth nghèo nàn ấy. Cũng cảnh màn trời chiếu đất, hai gia đình có vẻ phần nào giống nhau, giữa một trời đông rét mướt nơi xứ lạ, quê người, cu Việt còn tự an ủi rằng mình có đủ áo ấm, trong khi Chúa chỉ có mỗi mảnh chăn đơn.

Ra giêng, trời vào xuân ,bà con hàng xóm cũng quen dần, nhà này thảy cho vài thùng quần áo cũ, nhà kia ít nồi niêu, soong chảo, bát đĩa, ly tách, căn nhà hai phòng ngủ xem chừng đã muốn chật ních lên. Những ngày nắng lên, chị Nam mon men ra trước cửa làm quen với hàng xóm, gặp ai đi ngang cũng muốn chào, có người lạnh lùng mà cũng có người vui vẻ hỏi han, mình là người mới đến bộ điệu cứ ngớ ngẩn như nhà quê ra tỉnh. Anh Nam và đứa con lớn đã có việc làm thêm, kiếm tiền mua xe chứ đâu có ai cho quá giang hoài, ở đây không nhanh chân, lẹ tay , lơ mơ là dễ thành “ mù, què, câm, điếc “. Lâu nay chữ nghĩa trả lại cho thầy, tù tội nhiều biết lắm chỉ khổ thân, giả ngây giả dại sống qua ngày với những kẻ dốt nát đã quen, nay trở lại đời sống văn minh bỗng ngơ ngáo như Mán lạc phố. Người này dạy một tí, người kia bảo một tị, cứ ù ù cạc cạc gật gù mà đầu óc rối tinh cả lên, may có mấy người đồng cảnh qua trước chỉ vẽ tận tình, cho nên cha con cũng hội nhập nhanh, đỡ khổ.

Sau mùa Đông buốt giá, trời đã chuyển mùa Xuân. Trước cửa nhà có khoảng sân rộng độ hai mét, chị Nam nghĩ ngay đến việc trồng cây. Cái túi đất mang từ Việt Nam sang vẫn để trong bị của thằng Việt, hôm đi tụi quan thuế sờ nắn mãi, nghi ngờ có hột xoàn, vàng ngọc gì dấu trong đó, nhưng sờ nắn mãi cũng đến thế mà thôi, đất vẫn chỉ là đất. Bị hạch hỏi, chị Nam phải nói là đất mồ mả ông bà mang theo cho đỡ nhớ, cả lũ nháy nhó nhau cười cho là chị dở hơi. Thôi còn một lần chót này thôi, chúng có cười thì hở mười cái răng, chứ có vơ vét tận đáy tâm hồn chúng nó, tìm đâu cho ra chút tình nồng nàn với quê cha đất tổ.

Chị Nam lấy cái bát nhang, đổ một ít đất vào đấy rồi để trên bàn thờ. Nhúm đất này có lẫn cả mồ hôi của cha, của mẹ, chị tưởng như nó đã bám vào đôi guốc mộc của bà mẹ già, lúc bà chăm chút, vun tưới cho cây mận tốt tươi, sau này có trái cho lũ cháu ăn. Nắm đất này hình như đã có bàn tay bà mẹ già bóp tơi trước khi vun vào từng gốc cây sau hè. Chị Nam nâng niu ấp chiếc bát nhang vào ngực, như người thủy thủ già nhớ biển, mỗi lần áp tai vào con ốc nhỏ lại nghe tiếng sóng rào rạt vỗ vào mạn thuyền, lòng lâng lâng nhớ đến những cánh chim hải âu.


Bát nhang đựng nắm đất quê nhà để trên bàn thờ cha mẹ. Mùa Xuân đầu tiên ở quê người, chỏng trơ một cành đào xin được cắm vào cái bình nước ở góc phòng. Đốt mấy nén nhang trên bàn thờ ông bà sơ xài, những lúc ấy, chị Nam tưởng như mình đang sờ mó, đụng chạm đến một thế giới thiêng liêng của bên kia. Nơi ấy có cha , có mẹ, có quê hương, có bạn bè, có những kỷ niệm thiết tha trong một khoảnh đời của dĩ vãng. . .

Còn một ít đất kha khá chị cẩn thận đổ vào chiếc chậu kiểng mua ở "garasale", bà hàng xóm tử tế đã tặng cho chị một cây hoa mẫu đơn, thứ hoa ở bên Việt Nam hay trồng bên hàng giậu, người ta dùng để cúng Phật . Hoa mẫu đơn có quanh năm, nhiều màu rất đẹp, từng chùm hoa tủa ra những cái nụ xinh xinh, nó được biểu trưng cho lòng mẹ, những anh chàng thi sĩ, nhạc sĩ vẫn tha thiết khi đặt bài ca “ Nhà em có hoa vàng trước ngõ”, có lẽ cũng cảm tác từ hoa mẫu đơn ngoài bờ giậu. Chị Nam mua một bịch đất Mỹ trong bao, trộn chung với mớ đất mang từ Việt Nam sang, hai thứ đất hỗn hợp trong chậu kiểng, cây mẫu đơn cứ thế lớn nhanh như thổi. Đâu cũng là đất, đâu cũng là trời, đâu cũng là hoa, vậy mà khi nhìn cây mẫu đơn bắt đầu đơm hoa, lòng chị cứ rưng rưng như là ở đâu đó, có chút tình quê, tình đất, tình cây cỏ đang nở hoa trong lòng chị.


Mấy đứa con của anh chị Nam rất ngoan, chăm làm, chăm học, chúng nó như những bông hoa mẫu đơn nở trong chiếc chậu kiểng có lẫn nắm đất quê nhà. Dù thế nào đi nữa, dù cơm áo xứ người có đãi ngộ cho chị đỏ da, thắm thịt, cho chồng con chị no đủ, dư thừa thì chị Nam vẫn nhớ, mình chỉ là cây mẫu đơn mọc từ nắm đất của quê xưa.


Để nhớ lại mùa Xuân đầu tiên trên xứ Mỹ.
Nguyên Nhung

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

GÓC TRỜI NGÔ THỤY MIÊN
Có lẽ trong số các nhạc sĩ sáng tác của chúng ta, kể từ khoảng 73, 74 tới nay, Ngô Thụy Miên là một trong những người có sức sáng tác đều đặn nhất.

Tặng hoa để tạ ơn Ngô Thụy Miên, hiển nhiên, số bạn trẻ là đông nhất. Bởi vì, ngay từ những tác phẩm đầu tay, cho đến những sáng tác gần đây nhất, Ngô Thụy Miên không viết gì khác ngoài tình ca. Mấy bài hát trình làng của Ngô Thụy Miên đều phổ từ thơ Nguyên Sa: Áo Lụa Hà Ðông và Tuổi 13. Thơ Nguyên Sa đã như một làn gió thổi vào thi ca của chúng ta một thời. Từ ý tứ đến ngôn ngữ ông đã làm cho thơ tình Việt Nam trẻ trung ra và nồng nàn thêm. Trong thơ Nguyên Sa, tuổi trẻ Việt Nam như vừa có thêm một bộ mặt mới, một cách thế yêu đương mới. Nói rõ hơn, có lẽ phải bảo rằng, qua thơ Nguyên Sa, và thêm Hoàng Anh Tuấn nữa, người ta thấy, dường như tuổi trẻ Việt Nam có thêm một cách bầy tỏ tình yêu mới, khác với Xuân Diệu, khác với Huy Cận. Tiếc một điều, các nhạc sĩ mới chỉ phổ nhạc những bài thơ vần điệu của Nguyên Sa mà thôi. Chưa ai phổ nhạc những bài thơ tự do, thơ xuôi của ông. Nếu Ngô Thụy Miên thử làm công việc này, có thể ông sẽ có thêm một số ca khúc được tuổi trẻ hoan nghênh nữa không chừng.

Nhạc sĩ Phạm Duy với một số lượng tác phẩm đồ sộ như thế, mà đã có lần tỏ ý tiếc là ông đã không viết nhiều về tình ca hơn. Riêng Ngô Thụy Miên hẳn không có gì phải luyến tiếc về điều này. Có thể có người sẽ trách cứ ông về điều khác, chẳng hạn ông đã quá thờ ơ với cuộc sống chăng? Nhưng giả thử ông không viết được, hay không muốn viết gì khác ngoài tình ca thì sao? Một cây bông hồng không thể trổ ra một bông cẩm chướng, lẽ tự nhiên là như vậy.

Chúng ta hãy cứ nghe tình ca của Ngô Thụy Miên. Ðiều đáng nói là liệu Ngô Thụy Miên, bằng nhạc của mình, có nói đúng tiếng lòng của những người lứa tuổi với ông chăng? Quan trọng hơn, những lớp trẻ đến sau ông và hiện nay, có vẫn còn tìm thấy sự đồng điệu với nhạc của Ngô Thụy Miên chăng? Ðức Huy chẳng hạn, viết nhạc tình, có gần với tuổi trẻ hơn Ngô Thụy Miên không?

Những câu hỏi được đặt ra ấy, liên quan tới giá trị và sự bền vững của nhạc Ngô Thụy Miên với thời gian. Hơn 30 năm qua, nhạc của ông vẫn được hát. Có thể nói tất cả các ca sĩ danh tiếng nhất của chúng ta ở hải ngoại hiện thời, đều có hát nhạc của Ngô Thụy Miên.

Và ngay ở trong nước, hiện nay, đêm đêm, tại các tụ điểm ca nhạc, các quán cà phê có chương trình nhạc sống, nhạc của Ngô Thụy Miên cũng đang được hát rất nhiều. Hiển nhiên, sự kiện phải được coi như là Ngô Thụy Miên vẫn tiếp tục gặt hái những thành công.

Có những bài hát được hát nhiều quá cũng khiến người ta sợ. Bởi nó giống như sự cạn kiệt. Nhất là khi người ta lại không còn gì khác để nghe. Cả cái hay lẫn cái dở hình như đều chất chứa nỗi bi thương.

Chúng ta có đang ở trong một thời kỳ như thế chăng? Mong rằng không.

Bởi nếu đúng như thế thì đây là một thời kỳ buồn nhất trong lịch sử âm nhạc của chúng ta.
Ai muốn nói gì thì nói.
Ai muốn làm gì thì làm.
Và điều ấy, cùng một lúc, lại cũng có nghĩa là, có những người không thể nói, không thể làm gì cả.

Phê bình thơ Xuân Diệu xưa, có người bảo rằng, cho dù ai nói gì chăng nữa. Xuân Diệu vẫn có thể tự hào: "Ðã có tuổi trẻ yêu tôi".
Ðúng quá đi chứ!
Chỉ có điều tuổi trẻ qua rất mau thôi.

Thơ phổ nhạc thường có hiện tượng: được một ca khúc hay lại mất đi một bài thơ. Bởi vì, những bài thơ đã được phổ nhạc khó còn được đọc như một bài thơ nguyên vẹn. Nó không hẳn đã biến thành lời ca của bài hát đâu, nhưng cũng không dễ gì tách nó ra được, lấy lại vị thế độc lập cũ.

Thơ Nguyên Sa và nhạc Ngô Thụy Miên có ở trong trường hợp ấy không?
Hay chính thơ Nguyên Sa đã giới hạn thế giới nhạc của Ngô Thụy Miên? Có lẽ không phải như vậy.
Bởi vì, trong những ca khúc mà Ngô Thụy Miên viết cả lời ca, ông đã cho người ta thấy, ông đã mở những cánh cửa thế giới riêng của mình.
Ngô Thụy Miên đang ở độ chín để sáng tác. Hy vọng ông sẽ còn mang đến cho người nghe nhiều ca khúc mới, lạ khác nữa.
Phổ thơ Nguyên Sa là một giai đoạn.
Ngô Thụy Miên vẫn còn có thể tiếp tục làm công việc này, nếu ông còn tìm thấy sự đồng điệu trong những bài thơ khác của Nguyên Sa. Kosma phổ rất nhiều thơ của Prévert. Nhưng Kosma vẫn cứ là Kosma và Prévert vẫn cứ là Prévert, nếu không muốn nói đó là một cuộc hôn phối tuyệt đẹp giữa thơ và nhạc.
Khi chìm đắm vào thế giới riêng của mình như trong bài Từ Giọng Hát Em, nhạc Ngô Thụy Miên bay lượn thoải mái.
Ông được tuổi trẻ yêu mến cũng phải thôi.
Bảo rằng tuổi trẻ qua mau ư?
Tuổi già nào có khác gì?

Nguyễn Ðình Toàn

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image
GIỌT SƯƠNG VÀ NGỌN CỎ

Hoàng hôn rủ bóng êm đềm. Giọt sương tha thướt đi rong chơi trông thấy ngọn cỏ xanh mượt mà óng ả thì sà xuống đậu lại trên ngọn cỏ. Ngọn cỏ tiếp đón giọt sương với tất cả tấm chân tình. Ngọn cỏ tâm tình với giọt sương suốt đêm dài và cả hai cùng ước hẹn với nhau sẽ mãi mãi ở bên nhau và yêu thương nhau đến trọn đời.

Ngọn cỏ âu yếm:
- Giọt sương ơi, anh yêu em! Anh yêu em mãi mãi !!!
Giọt sương nũng na nũng nịu:
- Anh ngọn cỏ ơi, em cũng yêu anh say đắm ! Em chỉ yêu anh thôi ! Muôn kiếp em sẽ ở với anh, mãi bên anh thôi, mãi bên anh thôi !!!
Ngọn cỏ và giọt sương ở bên nhau rất sung sướng hạnh phúc.

Cây xanh cất tiếng véo von
Đêm khuya thanh vắng nỉ non dế gào
Trần gian soi bóng trăng sao
Tình yêu mầu nhiệm biết bao tuyệt vời !

Thời gian trôi qua, trôi qua. Bình minh dần dần đến với những tia nắng vàng tươi rực rỡ. Tia nắng trông thấy giọt sương óng ánh lóng lánh trông thật đáng yêu nên buông lời khêu gợi gọi mời.

Giọt sương thấy tia nắng rực rỡ xinh đẹp hơn ngọn cỏ bội phần thì mềm lòng, lặng lẽ rời ngọn cỏ mà bay theo tia nắng ấm.

Giọt sương quên mất những lời thề hứa ngày nào với ngọn cỏ, bay theo tia nắng ấm, để ngọn cỏ ở lại một mình với nỗi buồn mênh mang hiu hắt.

Trong cuộc đời, chắc có lẽ mỗi người chúng ta có thể đã đôi lần chứng kiến những cảnh chia ly đau buồn khiến trái tim rớm máu thắm, đôi mắt rớm lệ sầu. Hãy nhớ rằng tình yêu chân thật sẽ trường tồn mãi mãi dù thời gian có thay đổi, dù tuổi tác có bạc màu.

Mong sao tình yêu của chúng ta trao cho nhau sẽ mãi mãi đẹp tươi với thời gian.

Hoàng hôn dần buông xuống
Kéo theo hơi sương đêm
Cỏ rì rầm trong gió:
“Giọt sương! Ôi! Giọt Sương!!!”

Giọt sương đến bên cỏ
Nũng nịu: “Em yêu anh!
Muôn kiếp em ở lại
Mãi bên anh, bên anh !!!”

Bình minh đến cùng nắng
Những tia sáng vàng tươi
Giọt sương thầm khen ngợi:
“Ánh nắng đẹp diệu vời !”

Giọt sương rời ngọn cỏ
Không một lời chia ly
Giọt sương theo nắng ấm
Để cỏ buồn vi vu… !!!

Lm . Nguyễn Ngọc Phi

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Bài Ca Trái Tim -

An Nhi

Tại ngôi làng nọ có một người đàn ông luôn ước ao có được cô vợ xinh đẹp, hiền hậu và dịu dàng. Cuối cùng, ông ta cùng gặp người phụ nữ trong mộng.
Một đám cưới linh đình đã diền ra ngay sau đó. Kết quả của tình yêu là một bé gái xinh xắn, đáng yêu ra đời.
Bao tình cảm yêu thương ông dều dành cho đứa con bé bỏng. những lúc cùng con vui đùa, ông thường nhấc bổng bé cưng lên trên đôi tay rắn khoẻ, vừa quay vừa nhảy khắp phòng, nhìn con với ánh mắt trìu mến và thì thầm: " Cha yêu con lắm con gái bé nhỏ của cha!"
Thời gian trôi thât nhanh cô bé ngày nào đã lớn khôn. Thế nhưng, người cha vẫn luôn ôm chặt cọ vào lòng như thuở nào và vẫn câu nói thì thầm bên tai:
" Cha yêu con lắm con gái bé nhỏ của cha!".
Lập tức đứa con liền phàn ứng:" À , con đâu còn bé nữa!"
Lan này, người cha cười lớn và nói:
" Không đâu con gái yêu, với cha con mãi mãi là cục cưng bé bỏng."
Một ngày kia, cô bắt đầu cuộic sống tự lập. Cô đi đây đó, học được rất nhiều diếu bổ ích cho bản thân, gặp gỡ trò chuyện với vô số đàn ông.
Chính lúc này, người con gái mới thấy cha là người đàn ông mạnh mẽ và tuyệt vời nhất trên đời.
Cô luôn thầm nhủ :" trên thế gian này, sẽ chẳng có người đàn ông nào có thể ôm cô vào lòng và thì thầm những lời yêu thương tha thiết :"Cha yêu con lắm con gái bé nhỏ của cha!" ngoài ông..
..Rồi một ngày nọ, cô con gái nhận được một cú điện thoại báo tin người cha thân yêu của mình đang gặp chuyện chẳng lành. "ông bị đứt mạch máu não, không thể nói được", đó là những gì mà bác sĩ giải thích với cô. Tai lùng bùng, cô ko tin điều này là sự thật
. Đau đớn nhất là giờ đây cha ko thể nói những điều đanh nghĩ, ko thể hiểu được những gì người khác nói với ông.
Nụ cười ngày xưa, nụ cười luôn đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho vợ con, giờ ko còn nữa.
Đôi môi lúc nào cũng mím chặt, ông chỉ biết thể hiện lòng mình bằng những giọt lệ ứa ra từ khoé mắt nhăn nheo.
Ông không thể đi lại, nhảy múa, ôm chặt và nói câu yêu thương với cô con gái bé bỏng của mình. Nghe điện thoại xong, cô chỉ biết vơ vội vài thứ cần thiế và tức
tốc trở về nhà. Vứa đạt hành lý xuống đật, cô nhanh chân tìm đến phòng cha.
Đây rồi, căn phòng năm xưa, nơi ông và cô cùng vui đùa, nhảy múa. Ôi, trông cha gấy đi rất nhiều.
Ngước mắt lên nhìn, ông như muốn nói với cô điều gì đấy nhưng dường như việc đó là quá sức.
Dù cố gắng rất nhiều, người cha vẫn ko thể nói ra điều mình muốn. Nhẹ nhàng, cô đền và ngồi bên cạnh ông. Bất chợt, nước mắt trào ra từ hai khoé mắt. Hai cha con đã khóc rất nhiều.
Rồi cô vòng tay qua vai và siết chặt cha trong vòng tay bé nhỏ của mình, đầu áp sát vào ngực ông.

Trong khoảnh khắc ấy, bao kỷ niệm xưa chợt ùa về, nguyên vẹn và nhức nhối. Được ở trong vòng tay người mình kình yêu đó là những giây phút ko thể nào quên.
Cảm giác được yêu thương, quan tâm và dược che chở lớn dần bao nhiêu, nỗi đau lại càng giằng xé người con bấy nhiêu.
Ngay lúc này, cô ước sao mình có thể nghe được những lời âu yếm ngọt ngào từ miệng cha?
Có như vậy, cô mới được an ủi phần nào. Bất chợt, cô con gái nghe loáng thoáng lời kỳ diệu ấy. từ đâu? từ đâu?
Ồ, thật kỳ diệu, từ nhịp đập trái tim của cha. trái tim, nơi tiềm ẩn những ngôn từ vĩnh cữu, đã dạo lên bản nhạc ngày xưa.
Con tim ông đang đập rất đều đặn, dường như nó quên hẳn căn bịnh đang đe dọa.
Như có một phép màu, con tim cha thổn thức" Cha yêu con ... Cha yêu con lắm ...Cô con gái bé nhỏ của cha..." Những lời nói ấy đã an ủi và sưởi ấm lòng cô

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Mai Thảo, những giờ phút cuối cùng hay, ‘ly cà phê sữa đá’

Image
Nhà văn Mai Thảo với ly rượu, trước ống kính của Cao Lĩnh tại Death Valley, Tháng Ba, 1981 (Hình: Nguyễn Ðức Cung)

Du Tử Lê
*Lời nói đầu: Như đã nói, đây là bài viết thứ hai của chúng tôi: Một ngày, sau ngày nhà văn Mai Thảo từ trần, cách đây 12 năm. Bài viết có hiệu đính.
Trân trọng.

- 4:45PM: Mưa tiếp từ đêm trước. Nhưng bầu trời vẫn óc ách, xộc xệch những đám mây õng nước. Tôi vừa bước vào nhà. Ðiện thoại reo. Ðầu dây bên kia, giọng nói nhanh, trẻ, gẫy gọn, và rất mực lễ phép.

“Thưa bác cháu là Tâm, bác cháu, bác Mai Thảo muốn gặp bác gấp, nếu có thể được...” Tôi nhận ra ngay. Ðó là người con gái lặng lẽ, trong nửa năm qua, nhiều lần đứng tựa tường, dọc hành lang bệnh viện Fountain Valley, những ngày đầu Tháng Tám. Tôi hình dung được ngay, đôi mắt mở lớn, dáng đi nghiêng, hắt về phía trước. Người con gái tôi từng gửi gấm để xin dành ưu tiên cho Hoàng Anh Tuấn và Ðỗ Vẫn Trọn từ San Jose về, được vào thăm ông bác của cô, sau chuyến đi hộc tốc. Họ hốt hoảng chạy vào bệnh viện. Họ ngỡ ngàng bị chặn lại bên ngoài khung kính khu ICU. Ðó là Tâm. Con của một trong mấy người em gái ruột của tác giả “Ðêm Giã Từ Hà Nội.”

“Thưa bác, bác cháu không còn ở dưỡng đường Haster nữa. Bác cháu đang nằm ở bệnh viện Garden Gorve... Lầu 6 phòng 608... Bác biết đường Garden Grove... Bác biết đường Harbor?

“Biết. Biết.”

“Cháu không có địa chỉ. Nhưng dường như nó là Garden Grove Art Hopistal, lầu 6. Bác nhớ.”

“Nhớ, bác ghi được rồi.”

“Nhân tiện, nếu bác gặp bác Ðỗ Ngọc Yến, cũng xin bác nhắn hộ là bác cháu cũng muốn được gặp bác Yến...”

“Có chuyện gì Tâm biết không?”

“Dạ cháu không biết.”

“OK. Bác sẽ nhắn bác Yến. Bác sẽ đi ngay.”


- 5:00PM: Mưa tiếp từ đêm trước. Bầu trời vẫn óc ách, xộc xệch những đám mây õng nước. Chiếc xe trôi chậm rì trong gió và, bóng tối lép nhép. Khúc đường gần xịt, bỗng trở nên dài đẵng. Một chiếc quạt nước gẫy tiếp tục đào sâu đường rãnh có sẵn, hình cánh cung trên kính xe. Linh cảm tôi dự báo điều bất thường. Ðiều tôi chờ đợi từ nhiều tháng qua, phải chăng đã tới? Chúng tôi im lặng. Chúng tôi ghìm giữ trong lòng những cảm nhận, những suy nghĩ riêng của mình. Tuồng, nếu không giữ được, tai họa, bất hạnh sẽ không có cơ hội sập xuống. Tuồng, nếu hai đứa tôi, dối gạt được nhau, thì, cũng có nghĩa là đã dối gạt được định mệnh!

Mưa tiếp. Nặng hạt hơn. Một chiếc quạt nước gẫy, đào nhanh hơn, sâu hơn đường rãnh có sẵn, hình cánh cung trên kính xe. Tôi không thể nghĩ, đoán bất cứ một lời trối trăn nào của người đàn ông mà Tâm gọi bằng “Bác”; và, anh em chúng tôi quen gọi bằng “Anh”, với tất cả yêu mến, kính trọng gần như tuyệt đối.

Tôi cố để không nhớ lại lời anh kể với chúng tôi rằng:

“Vũ Tài Lục bảo tôi, nhiều lắm thì cũng chỉ hai tới ba năm nữa là cùng.”

Tôi nói lớn trong đầu, cũng có khi Vũ Tài Lục sai chứ. Sai quá đi chứ. Bằng chứng Anh đã bước qua biên giới sinh tử. Anh đã được đưa về Convalestion Home để tập ăn, nói, đi lại, một đời thường. Tôi nhắc nhở tôi, câu nói đùa của một người bạn, chưa lâu, rằng: “Biết đâu một ngày nào, người ta lại thấy ông Mai Thảo lại lững thững đi trên đường Bolsa. Ông lại băng ngang khu Phước Lộc Thọ... Có thể lắm chứ. Who knows? Và trong túi người bạn già của chúng ta, lại có thêm vài cái ticket phạt người đi... bộ...

Mưa tiếp. Chúng tôi vượt qua ngã tư Harbor. Vượt qua ngã ba, nơi có nhà hàng Pháp mà người bác của Tâm thỉnh thoảng vẫn ghé lại. Nơi anh đã đem Nguyễn Bá Khanh tới để chụp những tấm hình cho một ngày trong đời anh. Nơi (đi tới vài phút) là đầu đường Fairview. Ðường Fairview sẽ xắn ngang Ranchero Way. Ranchero Way, 1980. Căn nhà, con đường đã nhiều lần xuất hiện trong văn chương, bền lâu, của ký ức anh. Ranchero Way. Căn nhà. Con đường anh tìm đến, ở lại nhiều ngày, đêm những tháng ngày đầu đời lưu vong.


- 5:20: Mưa bị tòa building 8 tầng chặn lại. Tôi bị người phụ nữ Mễ Tây Cơ, mặc áo blouse mầu hồng, lớn tiếng, đuổi ra khỏi căn phòng 608. Bà ta đang vật lộn với trở ngại ngôn ngữ. Với bộ xương dài ngoằng, bất động trên chiếc giường sắt.

Hành lang lạnh. Trắng. Hun hút những câu hỏi không câu trả lời nơi những cửa phòng đánh số và, những ngã rẽ. Ðôi ba bóng người hiện ra, rồi biến đi, tựa hình ma hay, bóng quế!

Bình nước tiểu sóng sánh chút nước đỏ cạch cùng những tấm drap được mang ra cùng nụ cười của người đàn bà Mễ Tây Cơ. Chúng tôi bước vào. Ðôi mắt anh sáng lên. Có dễ cũng cả nửa năm qua, tôi mới gặp lại ánh mắt tinh, ranh, thoáng chút riễu cợt, khinh mạn nơi đuôi mắt. Linh tính tôi sai bét. Dự báo nhảm.

“Vũ Tài... gì thì lần này cũng té giếng thôi...” Tôi nghĩ.

Không một chờ đợi trầm trọng nảo trong phỏng đoán nào của chúng tôi, xảy ra. Anh ra dấu bảo tôi cho anh một điếu thuốc. Những ngón tay dài ngoẵng, đúng hơn những lóng xương nối nhau, khó nhọc, vất vả đưa lên gần đôi môi mỏng, mím, nơi khuôn mặt đã biến dạng. Anh ra dấu. Ra dấu. Ra dấu.

Vài giây im lặng qua đi. Tôi hỏi:

“Anh cần gì? Thuốc lá phải không anh?”

Ánh rạng rỡ nơi đôi mắt anh, tăng cấp số nhân. Lại thêm vài giây im lặng lăn qua. Ánh rạng rỡ ngúm tắt. Tôi đọc được ý nài nỉ nơi cái đầu Anh cố gắng đưa xuống gần ngực. Tôi đọc được ý nài nỉ nơi đuôi mắt anh chuyển động. Nháy. Nháy.

T. buột miệng bảo tôi:

“Không được anh. Anh phải ra hỏi y tá thôi. Nguy hiểm lắm. Máy báo động sẽ kêu. Còn giường bên cạnh...”

Ðuôi mắt tiếp tục nháy. Nháy. Cường độ nài nỉ tăng cấp số nhân, với toàn bộ khuôn mặt anh: Những phần da, xương còn khả năng biểu lộ. Tôi ra khỏi phòng, tựa vách tường.

Hành lang lạnh. Trắng. Hun hút những câu hỏi không câu trả lời nơi những căn phòng đánh số và những ngã rẽ. Ðôi ba người hiện ra, biến đi, tựa những hình ma hay bóng quế.

T. bước ra, trên tay lắt lẻo miếng plastic mầu xanh, ghi hàng chữ: “Patient: Nguyễn, Quý. Dr. Nguyễn Khiêm.” Tôi hỏi, ở đâu ra cái này? T. đáp:

“Em gỡ. Anh ấy đòi. Em sợ anh ấy muốn giựt bỏ mọi thứ giây nhợ chạy quanh người. Triệu chứng gì em không biết. Nhưng đây là lần đầu tiên... Phải báo y tá ngay!

Tôi gật đầu. “Phải báo y tá ngay”!

Tôi báo sự việc bất thường này với bà y tá già và, người đàn bà Nurse Aid, Mễ Tây Cơ rồi trở vào phòng. Những lóng xương xếp thành hình dạng những ngón tay dài ngoẵng, lại lẩy bẩy nhấc lên. Chúng lại khó khăn, vất vả đưa về gần đôi môi mỏng, mím. Lần này, cùng với thủ hiệu, là đuôi mắt trái của anh nháy. Nháy. Tôi chỉ còn chọn lựa sau cùng, dối gạt nài nỉ kia:

“Vâng. Anh để tôi xuống xe lấy thuốc lá cho anh.”

Tôi đi thẳng một mạch ra thang máy.

Những mẩu thuốc nở, trương, sũng nước hớ hênh cười nhạo trên dưới ánh đèn. Mưa tiếp. Núp dưới hiên, tôi rút một điếu thuốc. Ðốt cho chính mình, cho mưa, và, cho sự dối gạt còn mặn, ướt trên môi tôi.

5:30PM: T. xuống. Ðưa tôi miếng giấy. Ðúng hơn, là bao đựng mấy miếng sponges của nhà thương. Miếng giấy có hàng chữ sau cùng của một người có trên nửa thế kỷ ăn ở trân trọng, nghiêm chỉnh với chữ nghĩa. Giòng chữ viết:

“1 cà phê sữa đá.”

Mưa xấn sổ ném lên những con chữ, như thể muốn nuốt chửng, muốn bôi xóa chúng. Hay tố giác sự bất lực, đớn hèn tới đốn mạt của chúng tôi?


8:10PM: Mưa tiếp. Tôi điện thoại xin gặp Tâm. Tôi muốn báo cho Tâm biết tôi đã hoàn tất lời Tâm nhắn. Tâm không có nhà. Tôi nói chuyện với mẹ Tâm.

Chị Yến kể cách đây 10 phút nhà thương đã đưa anh ấy trở về lại đường Haster. Một lần nữa, linh tính tôi sai toét. Dự báo lầm. “Vũ Tài... gì thì cũng có lần phải sai chứ...” Tôi nói với chị, ngày mai, chị lén mang cho anh ấy một điếu thuốc và, “một cà phê sữa đá.” Bệnh viện không thể, nhưng Convalestion Home thì được.

Tôi kể chị nghe về khuynh hướng muốn dứt bỏ mọi thứ giây nhợ. Chúng tôi đồng ý với nhau, tình trạng anh, trở lại mức khởi điểm đầy hy vọng:

“Bolsa - Phước Lộc Thọ - Và dăm tấm giấy phạt người đi... bộ.”


8:20PM: Mưa tiếp. Nằm trên chiếc sofa, vẫn bằng vào lạc quan kia, trả lời điện thoại Ðỗ Ngọc Yến, tôi nói. Nói. Nói:

“...Tuy nhiên, ngày mai bác cố gắng đến Haster, thăm anh ấy. Haster, chứ không phải nhà thương Garden Gorve. Có thể ông ấy nghĩ bác ba đầu sáu tay sẽ đốt được cho ông ấy một điếu thuốc và 1 cà phê sữa đá... không chừng...”

Yến ậm ừ. Tôi nghĩ nhiều phần có thể Yến không đến Haster, ngày mai... Cuộc nói chuyện chấm dứt khi tôi có đường dây khác tới.


9:00 PM: Mưa tiếp. Anh Nguyên Sa gọi. Hỏi thăm. Tôi tóm tắt những diễn biến chính. Anh bảo:

“Vậy thì tốt.”

“Tốt hả anh?”

“ Tốt chứ. Về lại Nursing home mà. Ðâu có ở nhà thương nữa.”


Thứ Bảy 10-1-1998


Houston, 9:30AM: Ðường Tuam. Trời the lạnh. Tin thời tiết cho biết Texas sẽ có một ngày nắng ráo. Nhiệt độ thấp nhất 50. Cao nhất 65. Bão sẽ đi qua Houston và vùng phụ cận vào ngày hôm sau, từ 12 giờ trưa, tới 4 giờ chiều. Có “chill wind” và mực nước mưa có thể từ 2 tới 5.” Tùy khu vực. Quán mới mở cửa. Hào gọi cho tôi “1 cà phê sữa đá” và tô phở. Cửa mở. Bung. Nắng rỡ ràng. Một phụ nữ tất tả bước vào. Chị tới thẳng bàn chúng tôi. Mừng rỡ, tôi chào. Hỏi:

“Chị ăn gì chị Phương Hoa?”

Chị nói, ăn rồi.

“Cho tôi 1 cà phê sữa đá.”

Hào tìm người chạy bàn. Tôi nhúng thìa, đũa vào tô phở của mình. Nhạc xuân. Một bài hát cũ. Rất cũ. Của Nguyễn Văn Ðông? Nói về một người lính ôm súng trong vọng gác, đón giao thừa. Phương Hoa khuấy ly cà phê sữa đá. Tiếng muỗng, đá va vào thủy tinh, lanh canh. Tiếng lanh canh bứt rứt. Ngập ngừng. Ðứt đoạn. Tôi ngước nhìn chị. Ðôi mắt chị đỏ hoe. Chuyện gì? Tôi không đoán. Chị cúi xuống ly cà phê sữa đá. Tiếng lanh canh bứt rứt khua động thêm một vài hồi rời rạc. Rồi tắt.

“Tôi không thể đợi tới lúc anh ăn xong tô phở,” vẫn cúi xuống ly cà phê sữa đá của mình, chị tiếp:

“Anh Mai Thảo mất rồi. T. mới báo cho chúng tôi biết. Anh Thăng kẹt bệnh nhân. Tôi nghĩ phải ra đây cho anh biết, trước khi anh đi Austin...”

Tôi đặt đũa, muỗng xuống. Hào đặt muống, đũa xuống. Chiếc muỗng trong ly cà phê sữa đá của chị Hoa vẫn được những ngón tay chị giữ chặt. Có phần chặt hơn. Những ngón tay bầm, thâm vì máu không thể đi tới.

“Khi nào?”

“Ba giờ sáng nay.”

Trước mặt chúng tôi, là ba “ly cà phê sữa đá.”


Austin 2:50PM: Khi đã tìm được exit vào đường Jamestown, Hào thuận miệng hỏi:

“Anh có thèm một ly cà phê sữa đá?”

Tôi gật đầu:

“Nên lắm chứ. Hạnh phúc biết bao nếu lúc này, chúng ta có được một ly cà phê sữa đá. Thật ra, tôi muốn nói với Hào rằng: “Hạnh phúc biết bao, trong đời sống này, chúng ta có được một người tên Mai Thảo.”

Suốt cuộc hành trình trên xa lộ 290 W., trong tôi cứ lẩn quẩn hoài câu nói của Khổng Tử (?)rằng: “Ðược làm người đã khó, nhưng sống cho ra một con người còn khó hơn nữa!” Chưa bao giờ tôi thấm thía câu nói đó, bằng lúc này. Và, nếu được phép sửa một chút, tôi sẽ xin được sửa thành:

“Sống cho ra một con người đã khó, nhưng sống như Mai Thảo/Nguyễn Ðăng Quý trong đời sống này, còn khó hơn một bậc nữa vậy!”

Mặc dù, mỗi chúng ta, hằng ngày, bất cứ lúc nào, ở đâu, cũng có thể gọi được, tự làm được cho mình “một ly cà phê sữa đá.” Chỉ riêng anh thì không.

Chẳng bao giờ. Chẳng bao giờ, có nữa!

Du Tử Lê
11 Tháng Giêng, 1998.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Vụ cướp mộ cổ gây chấn động ở Trung Quốc

Một nhóm cướp đã dùng xe ủi đào xới hơn 10 ngôi mộ cổ ở phía đông tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, và lấy đi hầu hết mọi thứ.

Image
Quan chức địa phương đang xem xét ngôi mộ cổ thời Hán bị các tên trộm đào xới hôm thứ hai. Ảnh: Global Times.
Vụ việc diễn ra hôm 25/1, một tháng sau khi Viện khoa học xã hội Trung Quốc tuyên bố phát hiện mộ Tào Tháo, nhà chính trị và quân sự lừng danh thời Tam Quốc. Các nhà khảo cổ địa phương nhận định đây là vụ cướp di sản văn hóa chưa từng thấy ở Trung Quốc.

Global Times đưa tin những mảnh quan tài làm bằng gỗ Nanmu quý hiếm, cũng như các món đồ gốm và đồ sắt vương vãi trên khắp một khu vực 1.000 m2 tại hiện trường ở huyện Gaochun, thành phố Nam Kinh. Học giả Puyang Kangjing cho rằng những ngôi mộ này có từ thời nhà Hán (từ năm 206 trước Công Nguyên tới năm 220 sau Công Nguyên)

"Quan tài làm bằng gỗ quý và chất lượng cao cho thấy chủ nhân của chúng thuộc tầng lớp quý tộc", Puyang nói.

Một nhà khảo cổ học ở bảo tàng Nam Kinh hôm qua cho rằng đây là vụ cướp mộ gây thiệt hại nặng nề nhất ở Trung Quốc.

Giới khảo cổ cũng cho rằng việc khai quật thêm những ngôi mộ cổ có từ 2.000 năm trước này là không thể vì chúng bị phá hủy hoàn toàn. Nhóm trộm đã sử dụng máy móc hạng nặng nhắm trực tiếp vào các ngôi mộ.

Cảnh sát Trung Quốc đang tiếp tục điều tranh danh tính của nhóm cướp. Họ cũng nỗ lực thu hồi các món đồ bị đánh cắp.

Nhà khảo cổ Yuan Zhongyi tỏ ra choáng váng vì vụ việc. "Tôi chưa từng biết đến vụ cướp mộ nào trắng trợn thế này. Nó sẽ phá hủy hoàn toàn những lớp đất và gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với những di sản cổ đại. Hiện tượng cướp mộ không hiếm ở Trung Quốc, nhưng tất cả đều được làm một cách bí mật và kín đáo".

Động cơ của những tên trộm được xác định là bán những món đồ cổ lấy tiền. "Vì món lợi khổng lồ thu được từ một vụ cướp mộ khiến nhiều người không tránh khỏi cám dỗ", Yuan nói.

Xu Weihong, trưởng đội khai quật của bảo tàng Những chiến binh đất sét, cho biết hầu hết những ngôi mộ cổ của Trung Quốc đều rải rác ở những khu vực hẻo lánh khiến việc bảo vệ gặp khó khăn.

Hải Minh

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

PHỎNG VẤN CÔ TÔ NGỌC THỦY:
“Không có chuyện Thuý Nga Paris bị bán!”


Thanh Tùng
Sau lời tuyên bố có thể đóng cửa Thúy Nga Paris của ông Tô Văn Lai, gần đây lại rộ lên tin đồn trung tâm băng nhạc có 27 năm hoạt động này đã được sang nhượng hoặc bán đứt cho đại gia hoặc vợ chồng ca sĩ nào đó với giá 5 triệu đô la. Nhằm mang đến quý khán thính giả khắp nơi trên thế giới những thông tin cập nhật nhất, chính xác nhất và tiếng nói chính thức từ Thúy Nga Paris, cô Tô Ngọc Thủy, đại diện trung tâm đã dành cho Thanh Tùng và Việt Tribune cuộc phỏng vấn sau đây.

THANH TÙNG: Xin chị cho biết chương trình thu hình trực tiếp của Thúy Nga Paris 99 “Tôi là người Việt Nam” và “22 Divas” tại nam Cali tuần vừa qua có những điểm gì đặc biệt?

TÔ NGỌC THỦY: Lời nói đầu tiên, xin cho trung tâm Thúy Nga chân thành cảm ơn sự ủng hộ rất nồng nhiệt của đông đảo khán giả Bay Area đã đến ủng hộ show diễn tại Pepper Mill, Reno vào cuối tháng 11 vừa qua.
Chương trình Paris By Night 99 với chủ đề “Tôi là người Việt Nam” đánh dấu 35 năm viễn xứ, trung tâm Thúy Nga đã mời những người Việt Nam thành công trong nhiều lãnh vực khác nhau tại hải ngoại đến tham dự. Ngoài ra, chúng tôi cũng đã dàn dựng một chương trình ca, vũ, nhạc kịch đặc biệt với nội dung rất phong phú, gồm những tác phẩm nổi tiếng trong 35 năm qua của những tác giả tại hải ngoại sáng tác sau năm 1975. Còn chương trình Divas thì đây là một chương trình rất mới, với nội dung lạ, lần đầu tiên, trung tâm Thúy Nga đã mời tất cả những nữ ca sĩ đã từng cộng tác với trung tâm Thúy Nga từ trước tới nay. Show này chỉ toàn là nữ ca sĩ. Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn là người nam duy nhất điều khiển chương trình.

Image
Cô Tô Ngọc Thủy, bên phải, chụp chung với con gái là Celina Linh Thy trong dịp Paris By Night kỷ niệm 25 năm thành lập. HÌNH DO CÔ TÔ NGỌC THUỶ CUNG CẤP
Những show thu hình sắp tới của Thúy Nga Paris?

TÔ NGỌC THỦY: Vào ngày 3 và 4 tháng 7 sắp đến, trung tâm Thúy Nga sẽ tổ chức một buổi thu hình Paris By Night số 100 tại Planet Hollywood, Las Vegas, là rạp hát mà chúng tôi đã thu hình cuốn Paris By Night số 98 vừa qua.

Ông Tô Văn Lai đã tuyên bố trên báo chí có thể sau cuốn Paris By Night số 100, trung tâm Thúy Nga sẽ đóng cửa. Chắc chị cũng có biết thông tin này?
TÔ NGỌC THỦY: Thưa anh, có. Trong tuần vừa qua, Thủy và chồng là Huỳnh Thi đã miệt mài làm việc để hoàn thành 2 show thu hình cho cuốn DVD 99 và DVD Divas. Sau đó, Thủy cũng có đọc trên Internet và có nghe lời phát biểu từ ba của Thủy. Thật ra, anh cũng biết là từ lâu trung tâm Thúy Nga nói riêng và các trung tâm băng nhạc khác nói chung, đã phải đương đầu với nạn đĩa giả và download trên mạng Internet làm cho số bán của các trung tâm giảm xuống rất nhiều. Đặc biệt, cuốn Paris By Night 98 tại Las Vegas vừa rồi là chương trình được chúng tôi dàn dựng rất công phu từ bài hát cho đến quần áo và tất cả mọi thứ. Đối với chúng tôi, đó là cuốn băng mà trung tâm Thúy Nga rất hài lòng về nội dung cũng như kỹ thuật. Nhưng số bán tại Hoa Kỳ thì lại giảm xuống so với những cuốn trước rất nhiều. Số lượng đĩa bán ra giảm như vậy thì chắc là tại khán giả không yêu thích nội dung cuốn 98? Thật ra, điều làm chúng tôi ngạc nhiên là sau một tháng phát hành, chỉ riêng đại lý của Thúy Nga tại Toronto, Canada đã bán được hơn 2,800 cuốn DVD. Đó là con số kỷ lục từ xưa đến giờ. Ngày xưa, những cuốn bình thường bán chưa được đến 2,000 cuốn. Còn tại Paris thì cũng re-order thêm mấy trăm cuốn nữa. Riêng thị trường bên Úc, chúng tôi cũng bán được hơn 2,000 cuốn và các đại lý cũng có re-order thêm. Điều đó chứng tỏ rằng không phải tại băng dở. Tuy nhiên, tại Mỹ, số re-order lại rất ít. Những người thân, người quen, người bạn của chúng tôi tại những thành phố lớn cho biết khi họ ra mua băng chính gốc của Thúy Nga tại các đại lý băng nhạc thì được bảo rằng băng chính gốc đã hết, chỉ còn băng sang lại mà thôi. Hỏi ra mới biết, nếu ngày xưa, các đại lý tại Portland hoặc những thành phố lớn thường lấy 500 đĩa của Thúy Nga về bán lại thì bây giờ họ chỉ lấy 300 đĩa. Nếu cuốn nào hay được khán giả đòi hỏi mua thêm thì họ nói không còn băng gốc nữa, chỉ có băng in lại thôi.
Anh cũng biết DVD mới ra thì khán giả nóng lòng muốn xem nên họ cũng sẽ mua thôi, nếu không có băng gốc thì mua băng giả về xem cũng được. Đó là điều gây khó khăn cho các trung tâm là phải làm sao đưa DVD gốc đến tận tay quý khán giả. Mặc dù có những khán giả rất ủng hộ băng gốc của các trung tâm nhưng trở ngại của chúng tôi là có các đại lý bán băng giả, những người bán dạo và những mạng Internet cho download free. Thậm chí có những đại lý chỉ đặt mua số lượng băng gốc rất khiêm nhượng là 15 cuốn, hay dở gì cũng chỉ 15 cuốn, sau đó khách hàng có hỏi thì nói hết. Vì thế khán giả lại đi tìm băng giá để xem. Nhiều khi cũng có những đại lý lớn lại vừa bán băng giả và băng thật song song với nhau.

Đó chính là lý do vì sao Thúy Nga Paris có thể phải giã từ khán giả sau cuốn Paris By Night 100 tại Las Vegas?

TÔ NGỌC THỦY: Anh cũng thấy mỗi năm vật giá đều leo thang, từ các công ty gởi hàng cho tới những thứ khác. Trong khi đó, giá DVD của Thúy Nga cũng như của các trung tâm khác, từ 10 năm nay không hề lên giá .Trong khi đó chúng tôi phải chi phí thêm rất nhiều tiền cho những kỹ thuật hiện đại. Ngày xưa, chúng tôi thu hình bằng hệ thống Betacam, sau đến digital Betacam, bây giờ chúng tôi phải quay bằng hệ thống hi-def là hệ thống cao nhất hiện nay để thu hình, đương nhiên, số tiền cũng phải tăng lên gấp bội. Mặc dù tất cả mọi chi phí đều tăng, nhưng chúng tôi vẫn cố gắng duy trì giá sản phẩm thấp để khuyến khích các đại lý và khán giả mua băng chính gốc.
Ngoài ra, những thị trường như Úc Châu, vì giá trị đồng tiền quá chênh lệch nên chúng tôi phải bán rẻ hơn các đại lý ở bên này, để cho họ có thể bán được những băng gốc cho khách hàng với giá phải chăng. Nhưng rồi vẫn không khá hơn, băng lậu vẫn tràn lan khắp nơi. Đã vậy, còn thêm nạn download nữa. Chúng tôi có mướn một công ty tên là Vecpa. Mỗi lần phát hành DVD mới, chúng tôi nhờ họ theo dõi những mạng Internet cho download free hầu ngăn chặn phần nào đó những thiệt hại từ việc cho download miễn phí. Chúng tôi được họ cho biết là cứ mỗi lần Thúy Nga ra DVD mới thì có khoảng 13,000 link vào mạng cho download băng Paris By Night để xem mà không cần phải trả một chi phí nào cả.
Đó là một thực tế phũ phàng mà chúng tôi không biết phải đối phó như thế nào. Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn thì chắc chắn chúng tôi sẽ không còn vốn để tiếp tục nữa.

Nhiều người cho rằng việc loan báo đóng cửa chỉ là chiêu thức câu khách của Thúy Nga Paris, chị nghĩ sao?

TÔ NGỌC THỦY: Anh thấy với tệ nạn băng giả tràn lan và download miễn phí trên mạng như hiện nay, thì tất cả các trung tâm đều sẽ đóng cửa, chứ không riêng gì trung tâm Thúy Nga. Đó là nói về các sản phẩm băng đĩa. Riêng về các show thu hình của trung tâm Thúy Nga thì thưa anh, chúng tôi không cần phải câu khách, vì những khán giả đi tham dự đều đã biết giá trị các chương trình của Trung Tâm Thúy Nga. Họ đi là để khích lệ tinh thần của tất cả anh chị em nghệ sĩ, để ủng hộ trung tâm, và để bảo tồn một sản phẩm văn hóa Việt Nam tại hải ngoại. Đó cũng là nguyện vọng và niềm đam mê khiến chúng tôi đeo đuổi suốt 27 năm qua.
Báo Tuổi Trẻ trong nước phát hành hôm thứ Hai 25 tháng 1/2010 cho biết rằng “dựa vào nguồn tin riêng” thì trung tâm Thúy Nga đã được bán cho đôi vợ chồng ca sĩ Việt Nam sống tại New York với giá 5 triệu đô la. Thực hư chuyện này ra sao thưa chị?

TÔ NGỌC THỦY: Họ muốn nói tới gia đình ông Chính Chu và ca sĩ Hà Phương. Lời đồn này đã có từ mấy năm rồi và hoàn toàn thất thiệt. Chúng tôi mời Hà Phương tham dự chương trình Paris By Night với tư cách là một ca sĩ freelance. Trước đó, cô cũng đã hát cho trung tâm Thế giới Nghệ Thuật và Asia.

Như vậy, cho đến giờ phút này, trung tâm Thúy Nga vẫn chưa được bán cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào, thưa chị?
TÔ NGỌC THỦY: Dạ thưa, anh nói đúng. Cho đến bây
giờ, trung tâm Thúy Nga vẫn do gia đình chúng tôi làm chủ và chưa có một sự hợp tác tài chính nào từ bên ngoài cả.

Để tiếp tục tồn tại, trung tâm Thúy Nga sẽ có giải pháp nào hoặc có lời kêu gọi nào đối với khán giả khắp nơi?

TÔ NGỌC THỦY: Tuần vừa qua, chúng tôi cùng với một số anh chị em nghệ sĩ qua Canada để làm chương trình Đại nhạc hội giúp vui cho hội chợ tết của cộng người Việt tại Toronto do Hội người Việt Toronto tổ chức và đã thu hút được số lượng khách tham dự đông nhất từ xưa đến nay, theo lời của một số người trong ban tổ chức.

Chúng tôi đã gặp rất nhiều người, thuộc nhều lứa tuổi khác nhau. Sau khi nghe tin đồn Thúy Nga sẽ đóng cửa, họ đã tới gặp chúng tôi để thăm hỏi và bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với trung tâm, cũng như những chương trình video mà trung tâm Thúy Nga đã phát hành. Có một anh rất trẻ mà chúng tôi không hề quen biết đã tới bắt tay và lì xì cho tôi một phong bì đỏ, trong đó có $20, anh chúc những lời tốt đẹp và anh hy vọng phong bì đỏ này sẽ đem lại cho chúng tôi và trung Tâm Thúy Nga những điều may mắn trong năm mới. Anh chúc chúng tôi sống vững vàng và tiếp tục sản xuất để khán giả có được những sản phẩm mới trong tương lai. Có bác rất lớn tuổi đã nói một câu làm cho chúng tôi vẫn còn xúc động cho đến ngày hôm nay: “Bác không muốn các con đóng cửa đâu. Bác luôn luôn ủng hộ băng gốc của các con”. Chúng tôi biết rằng ở bên Mỹ và khắp nơi trên thế giới có những gia đình lúc nào cũng ủng hộ những sản phẩm chính gốc của chúng tôi, nhờ vậy mà trung tâm Thúy Nga mới tồn tại được cho đến hôm nay. Chúng tôi chân thành tri ân những quý vị đó.

Để chứng tỏ thiện chí muốn đưa băng gốc đến từng gia đình, chúng tôi dự tính sẽ hạ thấp giá bán cho cuốn DVD của chương trình DIVAS. Hiện giờ chúng tôi chưa biết sẽ xuống bao nhiêu, vì chúng tôi nghĩ, xuống bao nhiêu cũng không bằng được giá của những người làm băng giả, vì họ không hề bỏ tiền ra để làm sản phẩm, nên dù họ chỉ bán $1 đồng cho một DVD, họ vẫn có lời như thường. Trong khi đó, để thực hiện được một chương trình như vậy, chúng tôi đã phải bỏ ra một số vốn đầu tư rất lớn, cộng thêm mấy tháng trời phải nặn óc để tìm tòi sáng kiến và bài bản cho chương trình của biết bao nhiêu người. Đó là chưa kể đến công lao khó nhọc của bao nhiêu anh chị em nghệ sĩ đã bỏ ra rất nhiều thời gian tập dợt cho tiết mục của mình. Thử hỏi anh, nếu nạn băng giả cứ tiếp tục như vậy, thì làm sao chúng tôi có tinh thần và vốn liếng để thực hiện những cuốn băng kế tiếp?

Đại diện trung tâm Thúy Nga, chúng tôi vô cùng cảm kích sự quan tâṃ của quý vị đối với trung tâm Thúy Nga trong nhiều năm qua. Nếu không, chúng tôi đã không có cơ hội để phục vụ quý vị và góp phần bảo tồn cũng như phát huy văn hóa Việt Nam tại hải ngoại trong suốt 27 năm qua. Nếu trung tâm Thúy Nga phải ngưng sản xuất sau cuốn 100, thì đó là điều bất đắc dĩ, vì trung tâm Thúy Nga không phải chỉ là nơi thực hiện mà còn là nơi đào tạo và giới thiệu thế hệ nghệ sĩ tiếp nối, là môi trường sinh hoạt của nghệ sĩ, các nhạc sĩ hòa âm, các nhạc sĩ sáng tác có cơ hội giới thiệu tác phẩm mới của mình, là nơi gìn giữ những tiếng hát mà chúng ta yêu mến và đưa hình ảnh của họ đến từng mỗi gia đình. Nếu trung tâm Thúy Nga ngưng sản xuất thì sự sinh hoạt của những nghệ sĩ này sẽ ra sao?

Cám ơn anh đã dành cho Thủy buổi nói chuyện hôm nay. Cám ơn tất cả quý vị đã quan tâm đến sự sống còn của trung tâm Thúy Nga và xin kính chào quý độc giả.[THT]

Post Reply