Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
VIỆT NAM CẦN MỘT NHÀ NƯỚC VƯỢT QUA TỒI TỆ
Phạm Trần Kính thưa quý vị,
Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên Trưởng
- Chuyện Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cai trị dân bằng Luật rừng nhưng vẫn oang oang “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân” không có gì mới, có mới chăng là mức độ tồi tệ đã làm ô nhục tên Việt Nam.
Càng ô uế hơn khi Lãnh đạo đảng rả rả ngày đêm kiên quyết giữ vững chủ quyền quốc gia và bảo vệ chủ quyền biển đảo, vùng đặc quyền kinh tế, nhưng lại không dám để cho Đại biểu Quốc hội thảo luận công khai và ra Nghị quyết xác nhận chủ quyền trên các vùng biển và hải đảo đã bị Trung Cộng cưỡng chiếm từ 1974 (Hoàng Sa) cho đến năm 1988 (Trường Sa).
Ngay cả khi dự án Luật Biển Việt Nam được trình ra Quốc hội ngày 21/11 (2011) đảng cũng bắt Quốc hội phải họp kín để nghe Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, thay mặt Thủ tướng Chính phủ “trình bày Tờ trình về dự án Luật Biển Việt Nam và báo cáo thêm một số vấn đề về tình hình Biển Ðông.”
Sau đó, theo bản tin của Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật Biển Việt Nam.
Vào buổi chiều, Quốc hội thảo luận ở tổ về dự án Luật Biển Việt Nam (họp riêng).
Ngoại trừ vài cơ quan báo chí chính thức của đảng, trong đó có báo Nhân Dân được loan tin vắn tắt giống như tin của Văn phòng Quốc hội, không có bất cứ tờ báo nào được dự phiên họp của Quốc hội để loan tin.
Các báo cũng bị cấm không được hỏi các Đại biểu Quốc hội về nội dung Tờ trình của Phạm Bình Minh cũng như bản :”Báo cáo thẩm tra dự án Luật Biển Việt Nam” của Phan Trung Lý.
Ngược lại các báo đã đăng tin chi tiết về Cuộc thảo luận ở hội trường về dự án Luật Giám định Tư pháp (GÐTP).
Theo báo Nhân Dân (22-11-011) thì: “Hầu hết các ý kiến phát biểu đều tán thành sự cần thiết ban hành Luật GÐTP nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới mang tính đột phá, bền vững cho hoạt động GÐTP ở nước ta, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động tố tụng mà trọng tâm là bảo đảm việc phán quyết của tòa án được kịp thời, khách quan, đúng pháp luật.”
Nếu so sánh 2 dự án Luật thì Luật Biển Việt Nam, được đem ra thảo luận vào thời gian đang có các cuộc thảo luận về an ninh và tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông giữa các bên liên quan, trong đó có Trung Cộng, Việt Nam, Nam Dương, Phi Luật Tân, Đài Loan, Brunei và Mã Lai Á là một quyết định đúng lúc và cô cùng quan trọng của Việt Nam và chắc chắn sẽ được nhân dân ủng hộ.
Rất tiếc quyết định họp kín, che dấu nhân dân và cộng đồng thế giới của Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ có thể giải thích là một hành động có dấu chỉ mờ ám, nhu nhược của nhà cầm quyền Việt Nam trước nanh vuốt của con ma Trung Cộng.
Nhưng nếu Nhà nước đã yếu kém, tồi tệ không dám cho dân biết sự thật mình viết Luật Biển Việt Nam làm gì để bảo vệ chủ quyền, tài sản của Tổ tiên và quyền lợi của dân tộc thì 500 Đại biểu Quốc hội còn đáng bị lên án nhu nhược gấp trăm lần hơn vì đã chịu để cho đảng nắm đầu bịt mắt cử tri và che đây hành vi khinh dân cho đảng.
Nhưng không phải đây là lần đầu tiên Quốc hội đã vì “miếng ăn chung” của đảng mà về hùa với nhà nước phản dân.
Lần thứ nhất xẩy ra tại phiên họp của Quốc hội chiều ngày 4-8 (2011) để nghe Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Ngọai giao Báo cáo về tình hình Biển đông.
Sở dĩ có chuyện Phạm Bình Minh phải đích thân báo cáo với Quốc hội, thay cho dự kiến ban đầu của Ban Thường vụ Quốc hội, cơ chế sắp xếp nghị trình thảo luận của Quốc hội, chỉ muốn Chính phủ gửi bản báo cáo cho từng đại biều Quốc hội để nghiên cứu vì lúc bấy giờ dư luận trong nước muốn Quốc hội phải có thái độ với Trung Cộng bằng một Nghị quyết xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên các vùng biển đảo, kể cả Hoàng Sa đã bị Tâu chiếm tháng 1/1975 và 8 mỏm đá ngầm ở quần đảo Trường Sa năm 1988.
Ngoài ra dự luận trong nước và trong Quốc hội lúc ấy cũng rất bất bình với thái độ “cắn răng chịu trận” của Chính phủ trước nhiều vụ Tầu quân sự và tầu Hải giám của Trung Hoa tấn công, gây hấn, đe dọa mạng sống ngư dân Việt Nam hoạt động trong khu vực Hoàng Sa và Trường Sa. Thêm vào đó là hành động vi phạm chủ quyền trắng trơn của Trung Cộng đã cho tầu quân sự giả dạng tuần tra dân sự tấn công các tầu khảo sát đáy biển của Công ty dầu khí Việt Nam hoạt động tại khu vực đặc quyền kinh tế ở vùng Vũng Tầu-Côn Sơn và phía tây quân đảo Trường Sa.
Tuy hiên sau cuộc họp dài 60 phút, Quốc hội không thảo luận, không ra Nghị quyết về chủ quyền ở Biển Đông vì đã được đảng nhắc nhở không nên làm cho mối quan hệ Việt -Trung thêm phức tạp vì Biển Đông là vấn đề “nhậy cảm” !
Trong số 500 Đại biểu dự họp nghe Phạm Bình Minh chỉ có chừng 10 người lên tiếng quan tâm đến tình hình ở Biển Đông. Trong số này, người nói mạnh nhất là Đại biểu Dương Trung Quốc thuộc đơn vị Tỉnh Đồng Nai.
Ông nói tại phiên họp ngày 5-8 (2011): “Một Nhà nước của dân, vì dân càng phải quan tâm đến lòng tin của dân. Chúng ta cũng không nên nghĩ đến chuyện, chúng ta chưa xảy ra như ở Bắc Phi là một điều gì an ủi cả, chúng ta đã có cả một truyền thống đồng thuận giữa dân và Nhà nước, giữa trên với dưới chúng ta phải duy trì cái đó như chính con mắt, con ngươi của mình để tồn tại và phát triển.
Tôi xin đưa ra một ví dụ để làm rõ quan điểm của tôi cũng là đề cập đến một vấn đề hệ trọng chưa được Chính phủ quan tâm đúng mức xét từ khía cạnh quan tâm đến lòng tin của dân, đó là vấn đề Biển Đông.
Không thể không thừa nhận rằng vấn đề Biển Đông, trong đó có cả vấn đề bảo vệ chủ quyền cũng như vấn đề phát triển quốc gia lâu dài là một vấn đề nổi bật. Sự tranh chấp, sự đe dọa, sự không ổn định là vấn đề không chỉ các nước có liên quan mà cả thế giới quan tâm. Vậy mà báo cáo Chính phủ tuy có đề cập thể hiện quan điểm mang tính nguyên tắc của Nhà nước nhưng rõ ràng chưa thể hiện đúng mức. Chúng ta không thổi phồng, không kích động, không gây hoang mang, nhưng không thể coi đó là chuyện bình thường được. Nó phải được thể hiện trong báo cáo của Chính phủ đúng tầm mức của nó, được phản ánh trong chương trình nghị sự Quốc hội đúng tầm mức của nó để nhân dân tin tưởng, để nhân dân thông suốt.”
Lời nói của ông Quốc đã rơi vào khoảng không vô cảm của Chính phủ và của số đông đồng nghiệp của ông ở Quốc hội.
Bây giờ lại đến chuyện phải nghe Phạm Bình Minh báo cáo về dự án Luật Biển Việt Nam, nhưng người dân không được cho biết Luật này có bao nhiều Điều và nội dung ra sao và tại sao phải họp kín.
Vậy quyết định họp kín, không cho báo chí tham dự do ai quyết định, Chính phủ yêu cầu, Bộ Chính trị của đảng ra lệnh hay đây là ý riêng của Ban Thường vụ Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì ?
Có thể những câu hỏi này sẽ chẳng bao giờ được trả lời, chừng nào dự Luật Biển Việt Nam chưa được công khai thảo luận tại Quốc hội và trực tiếp truyền hình cho người dân biết.
Chắc nhiều người chưa quên chuyện Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, sau khi nhận chức ngày 27-05 (2011) đã dõng dạc hứa với Báo chí khi được hỏi quan điểm của ông về tình hình Biển Đông: “Các bạn cứ yên tâm một điều là lúc đó tôi sẽ có trao đổi về vấn đề Biển Đông".
“Lúc đó” là khi Quốc hội bàn về Biển Đông, sau khi nghe Phạm Bình Minh báo cáo ngày 4/08 (2011). Nhưng không chỉ một mình Sang ngậm miệng mà cả 3 lãnh đạo hàng đầu khác là Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư đảng; Nguyễn Tân Dũng, Thủ tướng và Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội cũng kín răng, sợ mở miệng sẽ bị gió từ hướng bắc Trung Hoa thổi vào lạnh cứng lưỡi chăng ?
Bây giờ 4 tháng sau lời hứa hão của Sang, người dân Việt Nam lại bị đảng và Quốc hội nhét vào mồm chiếc bánh vẽ thiu thối khác phát ra từ phiên họp kín về dự án Luật Biển Việt Nam.
Sự tồi tệ này chỉ nói lên điều duy nhất : Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, nhưng pháp luật không dành cho mọi người vì mọi người không bằng một đảng nên mọi thứ phải là “của đảng, do đảng và vì đảng”.
Sự xuống cấp của hệ thống chính quyền càng làm cho vai trò “bù nhìn” của Quốc hội trơ trẽn hơn trong hệ thống cai trị khiến hai chữ Việt Nam bị bôi nhọ và miệt thị trước mắt nhân dân Thế giới. -/-
Phạm Trần
Phạm Trần Kính thưa quý vị,
Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên Trưởng
- Chuyện Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cai trị dân bằng Luật rừng nhưng vẫn oang oang “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân” không có gì mới, có mới chăng là mức độ tồi tệ đã làm ô nhục tên Việt Nam.
Càng ô uế hơn khi Lãnh đạo đảng rả rả ngày đêm kiên quyết giữ vững chủ quyền quốc gia và bảo vệ chủ quyền biển đảo, vùng đặc quyền kinh tế, nhưng lại không dám để cho Đại biểu Quốc hội thảo luận công khai và ra Nghị quyết xác nhận chủ quyền trên các vùng biển và hải đảo đã bị Trung Cộng cưỡng chiếm từ 1974 (Hoàng Sa) cho đến năm 1988 (Trường Sa).
Ngay cả khi dự án Luật Biển Việt Nam được trình ra Quốc hội ngày 21/11 (2011) đảng cũng bắt Quốc hội phải họp kín để nghe Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, thay mặt Thủ tướng Chính phủ “trình bày Tờ trình về dự án Luật Biển Việt Nam và báo cáo thêm một số vấn đề về tình hình Biển Ðông.”
Sau đó, theo bản tin của Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật Biển Việt Nam.
Vào buổi chiều, Quốc hội thảo luận ở tổ về dự án Luật Biển Việt Nam (họp riêng).
Ngoại trừ vài cơ quan báo chí chính thức của đảng, trong đó có báo Nhân Dân được loan tin vắn tắt giống như tin của Văn phòng Quốc hội, không có bất cứ tờ báo nào được dự phiên họp của Quốc hội để loan tin.
Các báo cũng bị cấm không được hỏi các Đại biểu Quốc hội về nội dung Tờ trình của Phạm Bình Minh cũng như bản :”Báo cáo thẩm tra dự án Luật Biển Việt Nam” của Phan Trung Lý.
Ngược lại các báo đã đăng tin chi tiết về Cuộc thảo luận ở hội trường về dự án Luật Giám định Tư pháp (GÐTP).
Theo báo Nhân Dân (22-11-011) thì: “Hầu hết các ý kiến phát biểu đều tán thành sự cần thiết ban hành Luật GÐTP nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới mang tính đột phá, bền vững cho hoạt động GÐTP ở nước ta, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động tố tụng mà trọng tâm là bảo đảm việc phán quyết của tòa án được kịp thời, khách quan, đúng pháp luật.”
Nếu so sánh 2 dự án Luật thì Luật Biển Việt Nam, được đem ra thảo luận vào thời gian đang có các cuộc thảo luận về an ninh và tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông giữa các bên liên quan, trong đó có Trung Cộng, Việt Nam, Nam Dương, Phi Luật Tân, Đài Loan, Brunei và Mã Lai Á là một quyết định đúng lúc và cô cùng quan trọng của Việt Nam và chắc chắn sẽ được nhân dân ủng hộ.
Rất tiếc quyết định họp kín, che dấu nhân dân và cộng đồng thế giới của Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ có thể giải thích là một hành động có dấu chỉ mờ ám, nhu nhược của nhà cầm quyền Việt Nam trước nanh vuốt của con ma Trung Cộng.
Nhưng nếu Nhà nước đã yếu kém, tồi tệ không dám cho dân biết sự thật mình viết Luật Biển Việt Nam làm gì để bảo vệ chủ quyền, tài sản của Tổ tiên và quyền lợi của dân tộc thì 500 Đại biểu Quốc hội còn đáng bị lên án nhu nhược gấp trăm lần hơn vì đã chịu để cho đảng nắm đầu bịt mắt cử tri và che đây hành vi khinh dân cho đảng.
Nhưng không phải đây là lần đầu tiên Quốc hội đã vì “miếng ăn chung” của đảng mà về hùa với nhà nước phản dân.
Lần thứ nhất xẩy ra tại phiên họp của Quốc hội chiều ngày 4-8 (2011) để nghe Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Ngọai giao Báo cáo về tình hình Biển đông.
Sở dĩ có chuyện Phạm Bình Minh phải đích thân báo cáo với Quốc hội, thay cho dự kiến ban đầu của Ban Thường vụ Quốc hội, cơ chế sắp xếp nghị trình thảo luận của Quốc hội, chỉ muốn Chính phủ gửi bản báo cáo cho từng đại biều Quốc hội để nghiên cứu vì lúc bấy giờ dư luận trong nước muốn Quốc hội phải có thái độ với Trung Cộng bằng một Nghị quyết xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên các vùng biển đảo, kể cả Hoàng Sa đã bị Tâu chiếm tháng 1/1975 và 8 mỏm đá ngầm ở quần đảo Trường Sa năm 1988.
Ngoài ra dự luận trong nước và trong Quốc hội lúc ấy cũng rất bất bình với thái độ “cắn răng chịu trận” của Chính phủ trước nhiều vụ Tầu quân sự và tầu Hải giám của Trung Hoa tấn công, gây hấn, đe dọa mạng sống ngư dân Việt Nam hoạt động trong khu vực Hoàng Sa và Trường Sa. Thêm vào đó là hành động vi phạm chủ quyền trắng trơn của Trung Cộng đã cho tầu quân sự giả dạng tuần tra dân sự tấn công các tầu khảo sát đáy biển của Công ty dầu khí Việt Nam hoạt động tại khu vực đặc quyền kinh tế ở vùng Vũng Tầu-Côn Sơn và phía tây quân đảo Trường Sa.
Tuy hiên sau cuộc họp dài 60 phút, Quốc hội không thảo luận, không ra Nghị quyết về chủ quyền ở Biển Đông vì đã được đảng nhắc nhở không nên làm cho mối quan hệ Việt -Trung thêm phức tạp vì Biển Đông là vấn đề “nhậy cảm” !
Trong số 500 Đại biểu dự họp nghe Phạm Bình Minh chỉ có chừng 10 người lên tiếng quan tâm đến tình hình ở Biển Đông. Trong số này, người nói mạnh nhất là Đại biểu Dương Trung Quốc thuộc đơn vị Tỉnh Đồng Nai.
Ông nói tại phiên họp ngày 5-8 (2011): “Một Nhà nước của dân, vì dân càng phải quan tâm đến lòng tin của dân. Chúng ta cũng không nên nghĩ đến chuyện, chúng ta chưa xảy ra như ở Bắc Phi là một điều gì an ủi cả, chúng ta đã có cả một truyền thống đồng thuận giữa dân và Nhà nước, giữa trên với dưới chúng ta phải duy trì cái đó như chính con mắt, con ngươi của mình để tồn tại và phát triển.
Tôi xin đưa ra một ví dụ để làm rõ quan điểm của tôi cũng là đề cập đến một vấn đề hệ trọng chưa được Chính phủ quan tâm đúng mức xét từ khía cạnh quan tâm đến lòng tin của dân, đó là vấn đề Biển Đông.
Không thể không thừa nhận rằng vấn đề Biển Đông, trong đó có cả vấn đề bảo vệ chủ quyền cũng như vấn đề phát triển quốc gia lâu dài là một vấn đề nổi bật. Sự tranh chấp, sự đe dọa, sự không ổn định là vấn đề không chỉ các nước có liên quan mà cả thế giới quan tâm. Vậy mà báo cáo Chính phủ tuy có đề cập thể hiện quan điểm mang tính nguyên tắc của Nhà nước nhưng rõ ràng chưa thể hiện đúng mức. Chúng ta không thổi phồng, không kích động, không gây hoang mang, nhưng không thể coi đó là chuyện bình thường được. Nó phải được thể hiện trong báo cáo của Chính phủ đúng tầm mức của nó, được phản ánh trong chương trình nghị sự Quốc hội đúng tầm mức của nó để nhân dân tin tưởng, để nhân dân thông suốt.”
Lời nói của ông Quốc đã rơi vào khoảng không vô cảm của Chính phủ và của số đông đồng nghiệp của ông ở Quốc hội.
Bây giờ lại đến chuyện phải nghe Phạm Bình Minh báo cáo về dự án Luật Biển Việt Nam, nhưng người dân không được cho biết Luật này có bao nhiều Điều và nội dung ra sao và tại sao phải họp kín.
Vậy quyết định họp kín, không cho báo chí tham dự do ai quyết định, Chính phủ yêu cầu, Bộ Chính trị của đảng ra lệnh hay đây là ý riêng của Ban Thường vụ Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì ?
Có thể những câu hỏi này sẽ chẳng bao giờ được trả lời, chừng nào dự Luật Biển Việt Nam chưa được công khai thảo luận tại Quốc hội và trực tiếp truyền hình cho người dân biết.
Chắc nhiều người chưa quên chuyện Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, sau khi nhận chức ngày 27-05 (2011) đã dõng dạc hứa với Báo chí khi được hỏi quan điểm của ông về tình hình Biển Đông: “Các bạn cứ yên tâm một điều là lúc đó tôi sẽ có trao đổi về vấn đề Biển Đông".
“Lúc đó” là khi Quốc hội bàn về Biển Đông, sau khi nghe Phạm Bình Minh báo cáo ngày 4/08 (2011). Nhưng không chỉ một mình Sang ngậm miệng mà cả 3 lãnh đạo hàng đầu khác là Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư đảng; Nguyễn Tân Dũng, Thủ tướng và Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội cũng kín răng, sợ mở miệng sẽ bị gió từ hướng bắc Trung Hoa thổi vào lạnh cứng lưỡi chăng ?
Bây giờ 4 tháng sau lời hứa hão của Sang, người dân Việt Nam lại bị đảng và Quốc hội nhét vào mồm chiếc bánh vẽ thiu thối khác phát ra từ phiên họp kín về dự án Luật Biển Việt Nam.
Sự tồi tệ này chỉ nói lên điều duy nhất : Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, nhưng pháp luật không dành cho mọi người vì mọi người không bằng một đảng nên mọi thứ phải là “của đảng, do đảng và vì đảng”.
Sự xuống cấp của hệ thống chính quyền càng làm cho vai trò “bù nhìn” của Quốc hội trơ trẽn hơn trong hệ thống cai trị khiến hai chữ Việt Nam bị bôi nhọ và miệt thị trước mắt nhân dân Thế giới. -/-
Phạm Trần
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Tại sao tôi sẽ bỏ phiếu cho Obama năm 2012?
Đoàn Hưng Quốc
Chính phủ Obama đã thay đổi đường lối ngoại giao từ 40 năm nay của Hoa Kỳ cho phù hợp với tình hình và nhu cầu an ninh mới ở Đông Á cũng như tại Việt Nam.
Bắt đầu với công tác bí mật của Tiến Sĩ Henry Kissinger và sau đó là chuyến công du của Tổng Thống Richard Nixon sang Bắc Kinh vào năm 1972 Hoa Kỳ đã chọn lựa bắt tay với Trung Quốc để rút lui khỏi vùng Đông Nam Á trong gần nửa thế kỷ. Nhìn trên chiến lược toàn cầu quyết định này đã giúp Mỹ tập trung vào Âu Châu, Trung Đông và chiến trường Trung Á (Afghanistan 1980) góp phần cho sự tan rã của khối Đông Âu để Chiến Tranh Lạnh kết thúc. Đây là những thành quả vô cùng lớn lao, nhưng tình hình quốc tế nay đã thay đổi, Hoa Lục hiện trở thành lớn mạnh đủ tranh đua với Hoa Kỳ về mọi mặt kèm theo nguy cơ làm xáo trộn trật tự của một vùng kinh tế tăng trưởng hàng đầu ở Thái Bình Dương. Cho nên quyết định trở lại Á Châu của chính quyền Obama được toàn thể các nước trong khu vực – ngoại trừ Hoa Lục – đón tiếp một cách tích cực.
Việc khởi xướng Khối Mậu Dịch Xuyên Thái Bình Dương (TPP, hay là Trans-Pacific Pact) phản ảnh quan điểm của chính quyền Obama rằng thế giới nay đã trở thành một cộng đồng chung: Đông Nam Á, Đông Bắc Á và Tây Thái Bình Dương đều là những khu vực quốc tế liên hệ đến quyền lợi hỗ t ương của mọi nước và không còn là sân nhà của riêng một cường quốc nào. Phương thức duy nhất giúp duy trì hoà bình và thịnh vượng là các quốc gia phải hợp tác trao đổi mậu dịch và văn hoá đặt trên những nguyên tắc chung để cán cân thương mại được quân bình, cạnh tranh bình đẳng và không có tình trạng cá lớn nuốt cá bé. Nỗ lực này đầy tham vọng và cho dù sẽ gặp rất nhiều khó khăn do quyền lợi và thực tế giữa các nước còn khác nhau quá xa, nhưng đã đưa Hoa Lục vào một sự chọn lựa khó khăn là liệu có nên hợp tác hay không với các quốc gia trong vùng.
Nhưng chính sách của Hoa Kỳ không chỉ giới hạn nơi những tính toán chiến lược và kinh tế. Lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Hillary Clinton tại Hawaii và chuyến viếng thăm sắp tới của bà sang Miến Điện cho thấy dân chủ và nhân quyền vẫn là mối quan tâm hàng đầu. Hoa Kỳ sẵn sàng tiến bước đầu tiên nhưng cần được các quốc gia khác đáp ứng. Bài học quá khứ cho thấy Mỹ đã nhiều lần thay đổi chính sách và bỏ rơi nước bạn, nhưng đối với các đồng minh cùng chia sẻ những giá trị dân chủ và nền tảng luật pháp như Tây Âu, Nhật, Do Thái, Úc thì cho dù có nhiều bất đồng nghiêm trọng Hoa Kỳ vẫn luôn luôn tôn trọng và duy trì bảo vệ an ninh cho họ. Như vậy sự chọn lựa tuỳ thuộc nơi mỗi quốc gia là liệu họ có sẵn sàng thay đổi để trở thành một đối tác chiến lược lâu dài với Mỹ hay không.
***
Nếu so sánh với nhiệm kỳ của Tổng Thống George W. Bush trong 8 năm dài Hoa Kỳ đã làm ngơ với Trung Quốc để hoàn toàn chú tâm vào Trung Đông – một mặt vì các quan ngại chính đáng với khủng bố Hồi Giáo, nhưng đồng thời do những quyền lợi phe phái muốn thừa cơ hội “dứt điểm” tại Trung Đông để phục vụ cho lợi ích của Do Thái. Chính sách này khiến Mỹ hao tốn nhân mạng (gần 5.000 binh lính thiệt mạng) tài sản (hai chiến trường Iraq và Afghanistan tốn 1.5 ngàn tỷ USD) và uy tín quốc tế. Để giảm bớt sự chống đối trong nước chính quyền Bush đã thúc đẩy tiêu thụ và tăng trưởng kinh tế bằng cách mượn tiền nước ngoài dùng trang trải cho lạm chi, giảm thuế và giữ tiền lời ngân hàng ở giá rẻ mạt. Quyết định này đã bơm vào bong bóng địa ốc và tạo công ăn việc làm trong hai ngành tài chánh và xây dựng. Trong khi đó sản xuất lại để chạy ra nước ngoài nhằm giúp tăng lợi nhuận và giá trị cổ phiếu cho các công ty, đồng thời hàng hoá nhập cảng vào giá thấp để kềm chế lạm phát. Hoa Lục vừa bán rẻ lại cho mượn tiền tiêu xài khiến chính quyền Bush mất cảnh giác, bị Bắc Kinh che mắt dụ dỗ mới mang tiếng là “China doll” (búp bê Trung Quốc) – mãi cho đến ngày nay Hoa Lục hùng cường trở nên một đối thủ chiến lược nay mới thấy chính phủ Obama thay đổi chính sách.
***
Kinh tế trì trệ là điểm yếu của chính quyền Obama vì không tạo thêm công ăn việc làm, nhưng một phần do ông phải thừa hưởng di sản vô cùng tai hại từ đảng Cộng Hoà vừa tăng chi, trang trải cho chiến tranh mà lại giảm thuế. Sai lầm của Obama là sau khi thông qua khối tiền khổng lồ tổng cộng 1.500 tỷ USD để cứu vãn hệ thống ngân hàng ông đã không tập trung vào việc tạo công ăn việc làm mà lại chuyển sang cải cách hệ thống bảo hiểm sức khoẻ. Kết quả là ông bị mang tiếng tăng chi trong hoàn cảnh ngân sách thâm thủng và thất nghiệp nằm lì ở mức độ 9% rất cao.
Nhưng đồng thời các đối thủ của đảng Cộng Hoà cũng không đưa ra được giải pháp nào ngoài một luận điệu duy nhất: kinh tế trì trệ -> giảm thuế; thất nghiệp cao -> giảm thuế. Nếu đảng Cộng Hoà đắc cử mà Trung Quốc vẫn tiếp tục cho vay mượn để bơm vào nền kinh tế thì họ sẽ giảm thuế và vẫn tập trung vào Trung Đông cho dù các quyền lợi lâu dài của Hoa Kỳ sẽ bị tổn hại.
Nhận xét này của người viết nơi trong tuần rồi tin tức ngoại giao quan trọng nhất phải là cuộc họp thượng đỉnh tại Nam Dương và lời loan báo Hoa Kỳ sẽ trở lại Á Châu của tổng thống Obama. Vậy mà trong cuộc tranh luận nội bộ của đảng Cộng Hoà không hề có một lời bình luận nào về Đông Á, thay vào đó các ứng cử viên chỉ chú trọng vào Trung Đông (Iran-Syria-Iraq-Aghanistan). Bên ngoài cuộc tranh luận lần đầu tiên trong suốt 40 năm nay một ứng cử viên của đảng Cộng Hoà là Mitch Rooney đã chỉ trích gay gắt Trung Quốc nhưng không có bằng chứng lâu dài nào cho thấy có sự thay đổi lập trường của đảng hay phát biểu nói trên chỉ vì nhu cầu tranh cử ngắn hạn.
Với những nhận xét kể trên người viết chọn sẽ bỏ phiếu cho tổng thống Obama trong năm 2012 vì chính sách của ông phù hợp với quyền lợi lâu dài của của Hoa Kỳ và Đông Á, trong đó có Việt Nam
Đoàn Hưng Quốc
Nga sắp đưa tàu sân bay tới Syria
Nga sẽ đưa một đội tàu chiến do tàu sân bay “Đô đốc Kuznetsov” dẫn đầu đến căn cứ hải quân của Nga ở Syria trong khuôn khổ
một chuyến viếng thăm vào năm tới, trong bối cảnh gia tăng căng thẳng với phương Tây liên quan tới cuộc khủng hoảng ở Syria.
Các tàu chiến này sẽ cập bến một căn cứ quân sự ít sử dụng của Nga tại cảng Tartus của Syria vào mùa Xuân 2012.
Căn cứ Tartus, một căn cứ chiến lược đối với Moscow có từ thời Liên Xô trước đây, hiếm khi được các tàu của Nga sử dụng và hiện Moscow cũng không bố trí tàu nào tại đó, dù vẫn có sự hiện diện của các quân nhân và dân thường.
Một phát ngôn viên Hải quân xác nhận kế hoạch trên, song khẳng định kế hoạch này không liên quan đến tình hình bạo lực đẫm máu giữa lực lượng trung thành với Tổng thống Bashar al-Assad và phe đối lập tại Syria.
Người phát ngôn nói trên nêu rõ: “Việc các tàu chiến Nga đến thăm Tartus không nên được coi là một hành động liên quan tới những gì đang diễn ra ở Syria”; đồng thời cho biết thêm tàu sân bay “Đô đốc Kuznetsov” cũng sẽ đến Beirut, Genoa (Italy) và Cyprus.
Xe tăng Nga tiến vào Syria?
Nhiều trang tin Arab dẫn lời đại diện Quân đội Tự do Syria (FSA) cho biết, sau khi tàu chiến của Moscow tới Syria, xe tăng Nga cũng đã tiến vào nước này.
Trang tin Now Lebanon dẫn lời của ông Maher Noaimeh, thành viên Hội đồng quân sự tạm thời của FSA, cho biết các xe tăng Nga đã tiến vào Syria nhằm hỗ trợ chính quyền Tổng thống Bashar al-Assad. "Xe tăng của Nga đã đến cảng Latakia", ông Maher Noaimeh nói với kênh truyền hình Al-Arabiya. Tuy nhiên, thông tin này chưa được kiểm chứng.
Trước đó, các nguồn tin của Nga cũng đã đưa tin, Moscow đang giửi một số tàu chiến của họ đến vùng biển của Syria trong một động thái nhằm ngăn chặn bất kỳ một cuộc tấn công nào của NATO vào quốc gia này.

Nga đang tỏ rõ quyết tâm bảo vệ Syria. Ảnh minh họa.
Thủ tướng Nga Vladimir Putin mới đây cũng đã cảnh báo phương Tây không được sử dụng bất kỳ hành động can thiệp nào chống lại chính quyền Syria.
Hôm 15/11, Nga tuyên bố sẽ không dừng cung cấp vũ khí cho Syria theo hợp đồng đã ký kết, gồm việc cung cấp 36 hệ thống tổ hợp phòng không Pantsir-S1, Buk-M2E, các hệ thống tên lửa chống tàu Bastion, và hiện đại hóa tất cả các xe tăng chiến đấu T-72 cũng như máy bay chiến đấu MiG-29 cho Syria.
Sau khi rút ra bài học kinh nghiệm trong sự sụp đổ của chính quyền Gaddafi ở Lybia, Nga thấy cần phải bảo vệ Syria để bảo vệ lợi ích của nước này ở khu vực. Hiện tại, Nga và Syria đang có thỏa thuận mua bán vũ khí trị giá lên đến 3,5 tỷ USD.
Trong khi đó, Mỹ và phương Tây cũng đang ra sức gây sức ép với chính quyền của Tổng thống Assad nhưng chưa mạnh tay như từng làm với Lybia. Ba nước châu Âu gồm Anh, Pháp và Đức đang thúc đẩy một nghị quyết Liên Hợp Quốc nhằm lên án Syria vi phạm nhân quyền bên cạnh những trừng phạt về kinh tế. Còn Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton khẳng định “một lực lượng đối lập có quyết tâm, được vũ trang tốt và hỗ trợ tài chính” sẽ khơi mào nội chiến tại Syria.
Nga cam kết cung cấp vũ khí hiện đại cho Syria
Nga sẽ không dừng cung cấp vũ khí cho Syria theo hợp đồng đã ký kết trước đó, Phó Giám đốc về hợp tác kỹ thuật quân sự Liên bang Nga cho biết.
"Miễn không có lệnh cấm vận đối với các chuyến hàng vũ khí cho Syria, Nga sẽ thực hiện đầy đủ các cam kết theo các hợp đồng đã được ký trước đó", ông Vyacheslav Dzirkaln nói với hãng thông tấn RIA Novosti trong một cuộc họp báo tại triển lãm hàng không Dubai - 2011 đang diễn ra tại UAE.
Syria là nước nhập khẩu vũ khí lớn nhất của Nga trong khu vực Trung Đông và Nga đang đang tìm cách để thực hiện hợp đồng cung cấp các tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion được trang bị tên lửa chống hạm siêu âm Yakhont cho nước này.
Đầu năm 2011, tổng giá trị hợp đồng được ký kết giữa Nga và Syria là gần 3,5 tỷ USD. Một trong những hợp đồng quan trọng nhất là việc cung cấp 36 hệ thống tổ hợp phòng không Pantsir-S1, và hiện đại hóa tất cả các xe tăng chiến đấu T-72 cũng như máy bay chiến đấu MiG-29 cho Syria.

Tổ hợp phòng không Pantsir-S1 có khả năng tiêu diệt hiệu quả máy bay bay thấp cũng như tiêu diệt tên lửa hành trình... của đối phương.
Các hợp đồng lớn nhất đạt được liên quan đến việc cung cấp 24 máy bay chiến đấu MiG-29 và 8 tổ hợp của hệ thống tên lửa phòng không Buk-M2E.
Việc Nga cam kết sẽ chấp hành đầy đủ các đơn đặt hàng vũ khí trước đó cho Syria sẽ giúp quốc gia Trung Đông này có hy vọng mới để tăng cường sức mạnh quân sự cho quân đội của mình, các hệ thống tên lửa chống tàu, tên lửa phòng không tiên tiến như Bastion, Pantsir-S1, Buk-M2E cùng các máy bay chiến đấu MiG-29, xe tăng T-72 được hiện đại hóa sẽ là mối đe dọa nghiêm trọng đối với Mỹ và đồng minh nếu như họ có ý định tấn công Syria.
Động thái của Nga đưa ra một phần muốn tăng cường sức mạnh chiến đấu cho quân đội Syria, nhất là khi chế độ Gaddafi ở Lybia bị lật đổ. Mặt khác, Nga cũng muốn giữ lại được các hợp đồng bán vũ khí béo bở có trị giá lên đến 3,5 tỷ USD này.
Nga sẽ đưa một đội tàu chiến do tàu sân bay “Đô đốc Kuznetsov” dẫn đầu đến căn cứ hải quân của Nga ở Syria trong khuôn khổ
một chuyến viếng thăm vào năm tới, trong bối cảnh gia tăng căng thẳng với phương Tây liên quan tới cuộc khủng hoảng ở Syria.
Các tàu chiến này sẽ cập bến một căn cứ quân sự ít sử dụng của Nga tại cảng Tartus của Syria vào mùa Xuân 2012. Căn cứ Tartus, một căn cứ chiến lược đối với Moscow có từ thời Liên Xô trước đây, hiếm khi được các tàu của Nga sử dụng và hiện Moscow cũng không bố trí tàu nào tại đó, dù vẫn có sự hiện diện của các quân nhân và dân thường.
Một phát ngôn viên Hải quân xác nhận kế hoạch trên, song khẳng định kế hoạch này không liên quan đến tình hình bạo lực đẫm máu giữa lực lượng trung thành với Tổng thống Bashar al-Assad và phe đối lập tại Syria.
Người phát ngôn nói trên nêu rõ: “Việc các tàu chiến Nga đến thăm Tartus không nên được coi là một hành động liên quan tới những gì đang diễn ra ở Syria”; đồng thời cho biết thêm tàu sân bay “Đô đốc Kuznetsov” cũng sẽ đến Beirut, Genoa (Italy) và Cyprus.
Xe tăng Nga tiến vào Syria?
Nhiều trang tin Arab dẫn lời đại diện Quân đội Tự do Syria (FSA) cho biết, sau khi tàu chiến của Moscow tới Syria, xe tăng Nga cũng đã tiến vào nước này.
Trang tin Now Lebanon dẫn lời của ông Maher Noaimeh, thành viên Hội đồng quân sự tạm thời của FSA, cho biết các xe tăng Nga đã tiến vào Syria nhằm hỗ trợ chính quyền Tổng thống Bashar al-Assad. "Xe tăng của Nga đã đến cảng Latakia", ông Maher Noaimeh nói với kênh truyền hình Al-Arabiya. Tuy nhiên, thông tin này chưa được kiểm chứng.
Trước đó, các nguồn tin của Nga cũng đã đưa tin, Moscow đang giửi một số tàu chiến của họ đến vùng biển của Syria trong một động thái nhằm ngăn chặn bất kỳ một cuộc tấn công nào của NATO vào quốc gia này.

Nga đang tỏ rõ quyết tâm bảo vệ Syria. Ảnh minh họa.
Thủ tướng Nga Vladimir Putin mới đây cũng đã cảnh báo phương Tây không được sử dụng bất kỳ hành động can thiệp nào chống lại chính quyền Syria.
Hôm 15/11, Nga tuyên bố sẽ không dừng cung cấp vũ khí cho Syria theo hợp đồng đã ký kết, gồm việc cung cấp 36 hệ thống tổ hợp phòng không Pantsir-S1, Buk-M2E, các hệ thống tên lửa chống tàu Bastion, và hiện đại hóa tất cả các xe tăng chiến đấu T-72 cũng như máy bay chiến đấu MiG-29 cho Syria.
Sau khi rút ra bài học kinh nghiệm trong sự sụp đổ của chính quyền Gaddafi ở Lybia, Nga thấy cần phải bảo vệ Syria để bảo vệ lợi ích của nước này ở khu vực. Hiện tại, Nga và Syria đang có thỏa thuận mua bán vũ khí trị giá lên đến 3,5 tỷ USD.
Trong khi đó, Mỹ và phương Tây cũng đang ra sức gây sức ép với chính quyền của Tổng thống Assad nhưng chưa mạnh tay như từng làm với Lybia. Ba nước châu Âu gồm Anh, Pháp và Đức đang thúc đẩy một nghị quyết Liên Hợp Quốc nhằm lên án Syria vi phạm nhân quyền bên cạnh những trừng phạt về kinh tế. Còn Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton khẳng định “một lực lượng đối lập có quyết tâm, được vũ trang tốt và hỗ trợ tài chính” sẽ khơi mào nội chiến tại Syria.
Nga cam kết cung cấp vũ khí hiện đại cho Syria
Nga sẽ không dừng cung cấp vũ khí cho Syria theo hợp đồng đã ký kết trước đó, Phó Giám đốc về hợp tác kỹ thuật quân sự Liên bang Nga cho biết.
"Miễn không có lệnh cấm vận đối với các chuyến hàng vũ khí cho Syria, Nga sẽ thực hiện đầy đủ các cam kết theo các hợp đồng đã được ký trước đó", ông Vyacheslav Dzirkaln nói với hãng thông tấn RIA Novosti trong một cuộc họp báo tại triển lãm hàng không Dubai - 2011 đang diễn ra tại UAE.
Syria là nước nhập khẩu vũ khí lớn nhất của Nga trong khu vực Trung Đông và Nga đang đang tìm cách để thực hiện hợp đồng cung cấp các tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion được trang bị tên lửa chống hạm siêu âm Yakhont cho nước này.
Đầu năm 2011, tổng giá trị hợp đồng được ký kết giữa Nga và Syria là gần 3,5 tỷ USD. Một trong những hợp đồng quan trọng nhất là việc cung cấp 36 hệ thống tổ hợp phòng không Pantsir-S1, và hiện đại hóa tất cả các xe tăng chiến đấu T-72 cũng như máy bay chiến đấu MiG-29 cho Syria.

Tổ hợp phòng không Pantsir-S1 có khả năng tiêu diệt hiệu quả máy bay bay thấp cũng như tiêu diệt tên lửa hành trình... của đối phương.
Các hợp đồng lớn nhất đạt được liên quan đến việc cung cấp 24 máy bay chiến đấu MiG-29 và 8 tổ hợp của hệ thống tên lửa phòng không Buk-M2E.
Việc Nga cam kết sẽ chấp hành đầy đủ các đơn đặt hàng vũ khí trước đó cho Syria sẽ giúp quốc gia Trung Đông này có hy vọng mới để tăng cường sức mạnh quân sự cho quân đội của mình, các hệ thống tên lửa chống tàu, tên lửa phòng không tiên tiến như Bastion, Pantsir-S1, Buk-M2E cùng các máy bay chiến đấu MiG-29, xe tăng T-72 được hiện đại hóa sẽ là mối đe dọa nghiêm trọng đối với Mỹ và đồng minh nếu như họ có ý định tấn công Syria.
Động thái của Nga đưa ra một phần muốn tăng cường sức mạnh chiến đấu cho quân đội Syria, nhất là khi chế độ Gaddafi ở Lybia bị lật đổ. Mặt khác, Nga cũng muốn giữ lại được các hợp đồng bán vũ khí béo bở có trị giá lên đến 3,5 tỷ USD này.
Quốc Nhục
Mylinhng@aol.com Một người làm bậy, một tập đoàn làm bậy, một chế độ làm bậy, cả nước phải chịu nhục lây, cái đó gọi là quốc nhục. Có lẽ chưa bao giờ nhân dân cảm thấy nhục nhã, cảm thấy bị xúc phạm khi nhìn thấy phụ nữ Việt Nam đứng trần truồng và bị mấy tên Đại Hàn, Hồng Kông, Mã Lai, Trung Quốc... sờ nắn, rồi bỏ tiền ra mua về làm tình, hay để làm cái máy đẻ. Đây là một tội ác và một quốc nhục mà chế độ Nguyễn Tấn Dũng đã gây ra. Hôm nay lại thêm tin, tại công ty đóng giày Hồng Fu ở Thanh Hóa, A Vương là một tên chủ Tàu, đã quát tháo một phụ nữ Việt tên Nguyễn Thị Phương, rồi đổ keo 502 vào 2 lòng bàn tay, bắt chị khép chặt lại, đã làm chị bị ngất xỉu và đưa đi bịnh viện cấp cứu.
Hai nữ công nhân kế cận trông thấy sự việc xảy ra đã bị xỉu theo. Sự việc này đã dẫn đến sự đình công của hàng ngàn công nhân đang làm việc tại đó. Ấy thế mà theo Tin24Giờ, tên chủ A Vương này vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật (*1), trong khi đó sự việc đã được báo cáo với công an. Sự kiện 3 nữ công nhân đã đi bịnh viện, hình ảnh như thế này, mà công an vẫn còn đang điều tra, làm rõ. Người dân VN đang sống cuộc đời nô lệ trên chính quê hương của mình là một sự thật không thể chối cãi. những tên công an nhân dân, thay vì phục vụ cho nhân dân, đã quay sang phục vụ cho những chủ nhân, người Nam Hàn, người Trung Quốc, người Mã Lai... Chính vì thế, những chủ nhân này, họ không bao giờ biết tôn trọng nhân phẩm của con người Việt Nam.
Tên A Vương này, có lẽ họ coi người Việt Nam còn tệ hơn những con vật, và họ có quyền hành hạ theo ý thích của họ. Thời Võ Văn Kiệt, cách đây 15 năm cũng thế, chủ nhân đánh giày vào đầu công nhân, chỉ bị đóng phạt 4,5USD, công nhân bị bắt qùy gối, đứng ngoài nắng, bị bắt chạy vòng vòng. Nhân phẩm con người VN bị xúc phạm trầm trọng kéo dài cho đến ngày hôm nay. Ai là người Việt Nam, cũng đều thấy bị xúc phạm và đây cũng là một nỗi quốc nhục.
Những đại sứ, những tổng lãnh sự, những nhân viên sứ quán là những người đại diện cho một quốc gia, nhưng toàn là những thứ rác rưỡi:
- Tên đại sứ mò sò tại Hoa Kỳ, Lê Văn Bàng (ăn cắp sò lậu bị cảnh sát Mỹ bắt gặp thì nói tôi không biết tiếng Anh, với kiểu nói bồi "I am no English").
- Tên tổng lãnh sự tại HồngKông Nguyễn Việt Hùng mang biệt danh "Tổng Lãnh Sự Sờ Mông" vì đã nỗi hứng sờ mông một phụ nữ.
- Tên Tổng Lãnh Sự Nguyễn Xuân Phong tại San Francisco có biệt danh là "Tổng Lãnh Sự Đu Me" vì hay nói tiếng Đan Mạch.
- Tên đại sứ Lê Công Phụng có biệt danh "Đại Sứ Bán Đất" dâng Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc... cho giặc Tàu.
- Tên Nguyễn Khánh Toàn, cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Nam Phi, vừa bị phát hiện có hành vi buôn lậu sừng tê giác, 2 tên Nguyễn Hùng Phi và Chu Mạnh Đức đang bị giam tại Nam Phi cũng bị tội vì buôn lậu sừng tê giác.
- Tên nhân viên sứ quán tại Ấn Độ, tên Đỗ Trọng Hiếu buôn lậu xe hơi tại Ấn Độ.
- Tên Nguyễn Duy Chiến, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Biên Giới nói rằng: TQ cắt cáp của 2 chiếu tàu Bình Minh2 và Viking2 của VN là "yêu cho roi cho vọt".
Nhục không thể tả được vì tên này nó coi thằng Tàu như là cha là mẹ của nó.
Còn gì để nói nữa những nỗi quốc nhục như thế này, ai là người Việt Nam, đều thấy bị xúc phạm. Hèn chi Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã phát biểu: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam. Đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng"
Mỹ Linh
Ngày 29 tháng 11 năm 2011
Mylinhng@aol.com Một người làm bậy, một tập đoàn làm bậy, một chế độ làm bậy, cả nước phải chịu nhục lây, cái đó gọi là quốc nhục. Có lẽ chưa bao giờ nhân dân cảm thấy nhục nhã, cảm thấy bị xúc phạm khi nhìn thấy phụ nữ Việt Nam đứng trần truồng và bị mấy tên Đại Hàn, Hồng Kông, Mã Lai, Trung Quốc... sờ nắn, rồi bỏ tiền ra mua về làm tình, hay để làm cái máy đẻ. Đây là một tội ác và một quốc nhục mà chế độ Nguyễn Tấn Dũng đã gây ra. Hôm nay lại thêm tin, tại công ty đóng giày Hồng Fu ở Thanh Hóa, A Vương là một tên chủ Tàu, đã quát tháo một phụ nữ Việt tên Nguyễn Thị Phương, rồi đổ keo 502 vào 2 lòng bàn tay, bắt chị khép chặt lại, đã làm chị bị ngất xỉu và đưa đi bịnh viện cấp cứu.
Hai nữ công nhân kế cận trông thấy sự việc xảy ra đã bị xỉu theo. Sự việc này đã dẫn đến sự đình công của hàng ngàn công nhân đang làm việc tại đó. Ấy thế mà theo Tin24Giờ, tên chủ A Vương này vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật (*1), trong khi đó sự việc đã được báo cáo với công an. Sự kiện 3 nữ công nhân đã đi bịnh viện, hình ảnh như thế này, mà công an vẫn còn đang điều tra, làm rõ. Người dân VN đang sống cuộc đời nô lệ trên chính quê hương của mình là một sự thật không thể chối cãi. những tên công an nhân dân, thay vì phục vụ cho nhân dân, đã quay sang phục vụ cho những chủ nhân, người Nam Hàn, người Trung Quốc, người Mã Lai... Chính vì thế, những chủ nhân này, họ không bao giờ biết tôn trọng nhân phẩm của con người Việt Nam. Tên A Vương này, có lẽ họ coi người Việt Nam còn tệ hơn những con vật, và họ có quyền hành hạ theo ý thích của họ. Thời Võ Văn Kiệt, cách đây 15 năm cũng thế, chủ nhân đánh giày vào đầu công nhân, chỉ bị đóng phạt 4,5USD, công nhân bị bắt qùy gối, đứng ngoài nắng, bị bắt chạy vòng vòng. Nhân phẩm con người VN bị xúc phạm trầm trọng kéo dài cho đến ngày hôm nay. Ai là người Việt Nam, cũng đều thấy bị xúc phạm và đây cũng là một nỗi quốc nhục.
Những đại sứ, những tổng lãnh sự, những nhân viên sứ quán là những người đại diện cho một quốc gia, nhưng toàn là những thứ rác rưỡi:
- Tên đại sứ mò sò tại Hoa Kỳ, Lê Văn Bàng (ăn cắp sò lậu bị cảnh sát Mỹ bắt gặp thì nói tôi không biết tiếng Anh, với kiểu nói bồi "I am no English").
- Tên tổng lãnh sự tại HồngKông Nguyễn Việt Hùng mang biệt danh "Tổng Lãnh Sự Sờ Mông" vì đã nỗi hứng sờ mông một phụ nữ.
- Tên Tổng Lãnh Sự Nguyễn Xuân Phong tại San Francisco có biệt danh là "Tổng Lãnh Sự Đu Me" vì hay nói tiếng Đan Mạch.
- Tên đại sứ Lê Công Phụng có biệt danh "Đại Sứ Bán Đất" dâng Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc... cho giặc Tàu.
- Tên Nguyễn Khánh Toàn, cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Nam Phi, vừa bị phát hiện có hành vi buôn lậu sừng tê giác, 2 tên Nguyễn Hùng Phi và Chu Mạnh Đức đang bị giam tại Nam Phi cũng bị tội vì buôn lậu sừng tê giác.
- Tên nhân viên sứ quán tại Ấn Độ, tên Đỗ Trọng Hiếu buôn lậu xe hơi tại Ấn Độ.
- Tên Nguyễn Duy Chiến, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Biên Giới nói rằng: TQ cắt cáp của 2 chiếu tàu Bình Minh2 và Viking2 của VN là "yêu cho roi cho vọt".
Nhục không thể tả được vì tên này nó coi thằng Tàu như là cha là mẹ của nó.
Còn gì để nói nữa những nỗi quốc nhục như thế này, ai là người Việt Nam, đều thấy bị xúc phạm. Hèn chi Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã phát biểu: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam. Đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng"
Mỹ Linh
Ngày 29 tháng 11 năm 2011
Trung Quốc sẵn sàng đối đầu với Mỹ ở Thái Bình Dương?
Những chuyển động quân sự mạnh mẽ trong những ngày gần đây cho thấy, Bắc Kinh không hề xem thường kế hoạch can dự của Washington tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Ngày 29/11, Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã chính thức công bố về việc thành lập Cục Quy hoạch chiến lược trực thuộc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA).Việc thành lập Cục Quy hoạch chiến lược diễn ra một tuần sau khi chính quyền Bắc Kinh xác nhận về một cuộc tập trận quân sự trên khu vực biển thuộc châu Á – Thái Bình Dương. Theo giới phân tích quân sự, sự xuất hiện của Cục Quy hoạch chiến lược giúp nước này gia tăng ảnh hưởng quân sự toàn cầu cũng như đối phó với những thách thức mới tại khu vực.Theo đó, Cục Quy hoạch chiến lược sẽ đảm nhiệm việc lên kế hoạch và đề xuất cải cách quân đội, nghiên cứu khuyến nghị về phân bổ nguồn tài nguyên chiến lược của quân đội, phân tích tình hình quân sự - chính trị trên thế giới. Thông tin trên Đài tiếng nói nước Nga, ông Andrei Carneev, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Á - Phi thuộc ĐH Tổng hợp Moscow nhận định, nhiều khả năng, Cục Quy hoạch chiến lược của Trung Quốc hình thành theo mô hình của Mỹ. “Sự đối đầu với Washington, đặc biệt tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, gần đây đã gia tăng. Và tất nhiên, các nhà lãnh đạo quân sự chính trị của Bắc Kinh không muốn tụt hậu so với Washington trong bất cứ điều gì, kể cả các vấn đề hoạch định chiến lược. Ủy ban Hợp nhất các Tham mưu trưởng Mỹ có Sở J5, chuyên chịu trách nhiệm về kế hoạch quân sự chiến lược. Một cơ cấu tương tự như vậy đang được Quân đội giải phóng Trung Quốc thành lập”, ông Andrei Carneev phân tích.

Hải quân được xác định là lực lượng nòng cốt của Trung Quốc tại Thái Bình Dương. Trước đó, chính quyền Bắc Kinh đã xác nhận về tập trận trên Thái Bình Dương của Hải quân Trung Quốc. Cuộc thao diễn quân sự này bắt đầu chỉ một tuần sau khi ông Barack Obama đưa ra tuyên bố rằng Hoa Kỳ dự định củng cố vị trí của mình như là một cường quốc quân sự hùng mạnh của khu vực Thái Bình Dương. Bộ Quốc phòng Trung Quốc không thông báo về qui mô, thời điểm cuộc diễn tập, chỉ công bố rằng đây là cuộc tập trận theo kế hoạch, phù hợp với luật pháp cũng như thực tế quốc tế và không nhằm chống lại bất cứ nước nào. Tuy nhiên, theo các nhà quan sát quân sự, cuộc diễn tập lần này có qui mô rất lớn. Kênh truyền hình Nhật Bản NHK cho biết, 6 chiến hạm của Hải quân Trung Quốc đã tiến vào Thái Bình Dương, vượt qua khu vực đảo Okinawa và Miyako, hướng tới vùng quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) đang tranh chấp. Những động thái gấp gáp của giới quân sự Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh đã sẵn sàng đáp trả hành động quân sự ngày một gia tăng của Washington ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.Trong chuyến công du châu Á vào trung tuần tháng 11/2011, Tổng thống Mỹ Barack Obama cho biết Washington sẽ điều động 2.500 lính thủy đánh bộ đồn trú tại Australia, tăng số máy bay chiến đấu bố trí ở các sân bay địa phương… nhằm tạo điều kiện để Mỹ phản ứng kịp thời với những thách thức tại khu vực. Ngoài ra, chính quyền Washington đẩy mạnh hợp tác quân sự với các nước Indonesia, Philippines, Singapore… làm cơ sở cho sự hiện diện của hải quân Mỹ tại Biển Đông, gián tiếp cản trở ý đồ của Bắc Kinh đối với khu vực trọng yếu này.
Tùng Dương
Những chuyển động quân sự mạnh mẽ trong những ngày gần đây cho thấy, Bắc Kinh không hề xem thường kế hoạch can dự của Washington tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Ngày 29/11, Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã chính thức công bố về việc thành lập Cục Quy hoạch chiến lược trực thuộc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA).Việc thành lập Cục Quy hoạch chiến lược diễn ra một tuần sau khi chính quyền Bắc Kinh xác nhận về một cuộc tập trận quân sự trên khu vực biển thuộc châu Á – Thái Bình Dương. Theo giới phân tích quân sự, sự xuất hiện của Cục Quy hoạch chiến lược giúp nước này gia tăng ảnh hưởng quân sự toàn cầu cũng như đối phó với những thách thức mới tại khu vực.Theo đó, Cục Quy hoạch chiến lược sẽ đảm nhiệm việc lên kế hoạch và đề xuất cải cách quân đội, nghiên cứu khuyến nghị về phân bổ nguồn tài nguyên chiến lược của quân đội, phân tích tình hình quân sự - chính trị trên thế giới. Thông tin trên Đài tiếng nói nước Nga, ông Andrei Carneev, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Á - Phi thuộc ĐH Tổng hợp Moscow nhận định, nhiều khả năng, Cục Quy hoạch chiến lược của Trung Quốc hình thành theo mô hình của Mỹ. “Sự đối đầu với Washington, đặc biệt tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, gần đây đã gia tăng. Và tất nhiên, các nhà lãnh đạo quân sự chính trị của Bắc Kinh không muốn tụt hậu so với Washington trong bất cứ điều gì, kể cả các vấn đề hoạch định chiến lược. Ủy ban Hợp nhất các Tham mưu trưởng Mỹ có Sở J5, chuyên chịu trách nhiệm về kế hoạch quân sự chiến lược. Một cơ cấu tương tự như vậy đang được Quân đội giải phóng Trung Quốc thành lập”, ông Andrei Carneev phân tích.

Hải quân được xác định là lực lượng nòng cốt của Trung Quốc tại Thái Bình Dương. Trước đó, chính quyền Bắc Kinh đã xác nhận về tập trận trên Thái Bình Dương của Hải quân Trung Quốc. Cuộc thao diễn quân sự này bắt đầu chỉ một tuần sau khi ông Barack Obama đưa ra tuyên bố rằng Hoa Kỳ dự định củng cố vị trí của mình như là một cường quốc quân sự hùng mạnh của khu vực Thái Bình Dương. Bộ Quốc phòng Trung Quốc không thông báo về qui mô, thời điểm cuộc diễn tập, chỉ công bố rằng đây là cuộc tập trận theo kế hoạch, phù hợp với luật pháp cũng như thực tế quốc tế và không nhằm chống lại bất cứ nước nào. Tuy nhiên, theo các nhà quan sát quân sự, cuộc diễn tập lần này có qui mô rất lớn. Kênh truyền hình Nhật Bản NHK cho biết, 6 chiến hạm của Hải quân Trung Quốc đã tiến vào Thái Bình Dương, vượt qua khu vực đảo Okinawa và Miyako, hướng tới vùng quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) đang tranh chấp. Những động thái gấp gáp của giới quân sự Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh đã sẵn sàng đáp trả hành động quân sự ngày một gia tăng của Washington ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.Trong chuyến công du châu Á vào trung tuần tháng 11/2011, Tổng thống Mỹ Barack Obama cho biết Washington sẽ điều động 2.500 lính thủy đánh bộ đồn trú tại Australia, tăng số máy bay chiến đấu bố trí ở các sân bay địa phương… nhằm tạo điều kiện để Mỹ phản ứng kịp thời với những thách thức tại khu vực. Ngoài ra, chính quyền Washington đẩy mạnh hợp tác quân sự với các nước Indonesia, Philippines, Singapore… làm cơ sở cho sự hiện diện của hải quân Mỹ tại Biển Đông, gián tiếp cản trở ý đồ của Bắc Kinh đối với khu vực trọng yếu này.
Tùng Dương
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Cầu cứu "Chính quyền Việt Nam Cộng Hoà"
Lê Quốc Tuấn - X-CàfeVN Hai ngày nay, khi dùng đến bốn chữ "Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa" để nhắc đến chế độ Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam trước 1975 trong phần trả lời trước quốc hội của mình, thủ tướng chính phủ CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã gây nên nhiều suy nghĩ trong dư luận trong , ngoài nước. Đây là lần đầu tiên, một giới chức lãnh đạo cao nhất của đảng CSVN, nhắc đến chính quyền chế độ miền nam VN, một cựu thù của mình trước đây - bằng đúng danh xưng hợp pháp lẽ ra cần phải xử dụng tự bao lâu nay. Biểu hiện này còn đặc biệt hơn đối với cá nhân ô. NTD, nhân vật từng được dư luận biết đến như một người có ác cảm sâu sắc đến chế độ miền nam Việt Nam, qua tiết lộ của Wikileaks gần đây.
Những người lạc quan, nhìn động thái này như một tín hiệu tốt của một chính quyền đảng trị, độc tài từng công khai chối bỏ dòng sinh mệnh lịch sử của 17 triệu người dân miền Nam Việt Nam trải suốt từ năm 1954 đến ngày 30/4/1975.
Những người hoài nghi, đang lặng lẽ chờ xem những gì ẩn khuất đàng sau biểu hiện ấy của chính quyền đảng CSVN nói chung và của cá nhân vị thủ tướng từng tuyên bố nhiều điều gây nhiều tranh cãi từ khi tại chức đến nay.
Tuy nhiên, thật quá sớm để đưa ra những suy diễn lạc quan từ tín hiệu ấy. Đặc biệt là những suy diễn về một sự thay đổi trong quan điểm của những người CS Việt Nam về chế độ cựu thù của họ ở miền Nam Việt Nam.
Ngay tại thời điểm này, chỉ có một nguyên nhân rõ ràng cho việc phải dựng lại danh xưng hợp pháp của chế độ miền nam Việt Nam: Việt Nam Cộng Hòa là một sự thực lịch sử mà chính quyền CSVN hiện nay đang cần đến để trám lại vết hổng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa về lịch sử.
Nhìn lại cuộc tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc; bắt đầu từ những căng thẳng về đảo Trường Sa vào năm 1988 lên đến các cao điểm gần đây giữa hai nước, ngoài việc khẳng định hiện diện lịch sử của mình trên hai quần đảo này từ thời nhà Đường, Trung Quốc còn luôn luôn nhắc đến Công Hàm ký kết năm 1958 giữa P.V Đồng và Chu Ân Lai như một cam kết pháp lý giữa hai chính phủ.
Trước luận điệu của TrungQuoc, về mặt công khai, chính quyền VN lại chưa bao giờ minh giải được trước công chúng của mình về bản Công Hàm này. Dù nhiều nhà lý luận, nghiên cứu Sử học của Việt Nam ở trong nước cũng đã góp phần giải thích về ý nghĩa, giá trị của bản công hàm này, nhưng tất cả vẫn chỉ là những giải thích không chính thức từ nhà nước. Điều này càng cho thấy sự lúng túng khó xử của chính phủ VN hiện nay về một văn kiện lịch sử đã cũ trong quan hệ giữa hai đảng anh em từ quá khứ.
Trong khi đó, từ trong nước: đời sống dân chúng ảnh hưởng nặng nề từ những thủ đoạn phá hoại nham hiểm của lái buôn TrungQuoc, kinh tế vĩ mô bế tắc, lạm phát tăng cao, đồng bạc mất giá, việc biến VN thành xưởng thợ nhân công rẻ không còn hấp dẫn giới đầu tư nước ngoài như trước nữa... Đồng thời,. Dù tạm thời dẹp yên được các cuộc biểu tình suốt tháng Bảy vừa qua nhưng chính quyền luôn hiểu rằng lòng cảnh giác Bắc phương lúc nào cũng canh cánh trong lòng mọi người, lúc nào cũng có thể là ngọn lửa thổi bùng thành một loại Mùa Xuân Ả Rập ở VN.
Trước nguy cơ có thể bị "mất dân trước khi mất nước" như blogger Thanh Chung từng cảnh báo, chính quyền CSVN đang phải đánh ván bài khác: xử dụng đến sự liên tục của lịch sử để vô hiệu phần nào hóa Công Hàm PVĐ và minh định hơn nữa sự hiện diện của người Việt Nam trong hai quần đảo đang bị TQ tranh chấp này. Bởi vì, chỉ sự minh định tính chính danh của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mới có thể hóa giải được thế kẹt mà bản công hàm PhamVanĐong từng gây nên cho chế độ CS Việt Nam bao lâu nay.
Như các nhà luật gia, nghiên cứu sử học ở Hải Ngoại nhiều lần lên tiếng, cụ thể là lời nhận xét sau đây của Thạc sĩ Hoàng Việt, thành viên Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông :
"Thứ nhất, ông Đồng hay bất cứ ông nào ở miền Bắc lúc đó cũng chẳng có quyền gì mà có thể nói chuyện công nhận hay cho ai cái gì được cả. Bởi vì theo hiệp định Geneve 1954 thì [Việt Nam] đã chia đôi, từ vùng vĩ tuyến 17 trở về bên ngoài là chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý lãnh thổ đó, từ vĩ tuyến 17 vào trong là chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý. Và như vậy là rõ ràng là các ông ở miền Bắc, dù có là ông nào đi chăng nữa, tôi nghĩ rằng cũng chẳng có quyền gì mà lại tuyên bố được với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang thuộc một chính quyền khác quản lý. Thế Việt Nam Cộng Hòa có phải là một quốc gia không ? Là một quốc gia chứ ! Là một quốc gia bình thường và thậm chí năm 1957 Liên hiệp quốc còn định đưa trở thành một thành viên chính thức của Liên hiệp quốc, nhưng mà sau đó có một phiếu phủ quyết của Liên Sô. Nếu không thì [đã được gia nhập Liên hiệp quốc rồi]. Thật ra Việt Nam Cộng hòa vẫn là một quốc gia bình thường. Và rõ ràng là anh không thể tuyên bố hay cho nhận cái gì của cái không phải là của mình, không do mình quản lý".
Tóm lại là chế độ Việt Nam Cộng Hoà, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đang được nhắc lại, để cầu cứu đến trong hoàn cảnh cuộc tranh chấp hiện nay tại Biển Đông. Bởi vì chính quyền CSVN với thế kẹt không thể lý giải được trước công luận trong, ngoài nước vì những nhượng bộ - bằng văn bản - trong quá khứ với phía TQ , hiện chỉ còn một lối ra: xử dụng đến dòng tiếp diễn lịch sử của chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam trước 75 để minh chứng chủ quyền trong cuộc tranh cãi với TrungQuoc.
Tuy nhiên, để đánh ván bài này, không chỉ đơn giản là nhắc đến chế độ miền nam Việt Nam bằng danh xưng hợp pháp của chế độ như ông NTD vừa làm. Còn phải chờ xem những động thái sắp tới của chính quyền VN để thấy rõ là họ đánh ván bài này như thế nào, đặc biệt trong vị trí éo le, thiếu minh bạch trước lịch sử và công chúng của họ từ bao lâu nay.
Xin nhac nho*' "Dung nghe nhung gi` VC noi' ma` hay~ xem nhung gi` VC lam`"
Và, cũng chẳng phải là một điểm đáng khen khi ông NTD thẳng thắn lên tiếng trước quốc hội về tình hình tranh chấp ở Biển Đông, dù rằng đấy cũng là một động thái tương đối mới của một chế độ vốn xem thường dư luận dân chúng mình. Nói cho cùng là: họ không còn cách nào khác nữa ngoài việc phải nói thẳng, nói thật một lần.
Bởi họ cũng hiểu rõ, sức dân có thể trở thành những cơn sóng, dữ hơn sóng Biển Đông, có thể lật úp con thuyền chèo vụng của Đảng CSVN bất cứ lúc nào.
Lại nhớ đến hồi đầu tháng 3 năm nay, trên facebook, một người ký tên Tiên Sa từng lên tiếng yêu cầu "Hãy để cho Việt Nam Cộng Hoà được lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên". Bài viết ấy tạo nên một phản ứng khá râm ran trong cộng đồng mạng. Tưởng đã yên, nay "Việt Nam Cộng Hòa" lại bị ông Nguyễn Tấn Dũng chiêu hồn về để gỡ rối cho chính quyền CS của ông. Nghĩ thật mỉa mai và chua cay cho một chế độ đã bị bức tử, bị đày đọa, nay lại còn bị cầu về để cứu nguy cho những kẻ hãm hại mình !
Nếu như ông Nguyễn Tấn Dũng quả đúng là một người "yêu sự thật, ghét sự giả dối" thì đâu phải chờ đến hôm nay ông mới cầu hồn "Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa" lên như thế ?
Lê Quốc Tuấn - X-CàfeVN Hai ngày nay, khi dùng đến bốn chữ "Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa" để nhắc đến chế độ Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam trước 1975 trong phần trả lời trước quốc hội của mình, thủ tướng chính phủ CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã gây nên nhiều suy nghĩ trong dư luận trong , ngoài nước. Đây là lần đầu tiên, một giới chức lãnh đạo cao nhất của đảng CSVN, nhắc đến chính quyền chế độ miền nam VN, một cựu thù của mình trước đây - bằng đúng danh xưng hợp pháp lẽ ra cần phải xử dụng tự bao lâu nay. Biểu hiện này còn đặc biệt hơn đối với cá nhân ô. NTD, nhân vật từng được dư luận biết đến như một người có ác cảm sâu sắc đến chế độ miền nam Việt Nam, qua tiết lộ của Wikileaks gần đây.
Những người lạc quan, nhìn động thái này như một tín hiệu tốt của một chính quyền đảng trị, độc tài từng công khai chối bỏ dòng sinh mệnh lịch sử của 17 triệu người dân miền Nam Việt Nam trải suốt từ năm 1954 đến ngày 30/4/1975.
Những người hoài nghi, đang lặng lẽ chờ xem những gì ẩn khuất đàng sau biểu hiện ấy của chính quyền đảng CSVN nói chung và của cá nhân vị thủ tướng từng tuyên bố nhiều điều gây nhiều tranh cãi từ khi tại chức đến nay.
Tuy nhiên, thật quá sớm để đưa ra những suy diễn lạc quan từ tín hiệu ấy. Đặc biệt là những suy diễn về một sự thay đổi trong quan điểm của những người CS Việt Nam về chế độ cựu thù của họ ở miền Nam Việt Nam.
Ngay tại thời điểm này, chỉ có một nguyên nhân rõ ràng cho việc phải dựng lại danh xưng hợp pháp của chế độ miền nam Việt Nam: Việt Nam Cộng Hòa là một sự thực lịch sử mà chính quyền CSVN hiện nay đang cần đến để trám lại vết hổng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa về lịch sử.
Nhìn lại cuộc tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc; bắt đầu từ những căng thẳng về đảo Trường Sa vào năm 1988 lên đến các cao điểm gần đây giữa hai nước, ngoài việc khẳng định hiện diện lịch sử của mình trên hai quần đảo này từ thời nhà Đường, Trung Quốc còn luôn luôn nhắc đến Công Hàm ký kết năm 1958 giữa P.V Đồng và Chu Ân Lai như một cam kết pháp lý giữa hai chính phủ.
Trước luận điệu của TrungQuoc, về mặt công khai, chính quyền VN lại chưa bao giờ minh giải được trước công chúng của mình về bản Công Hàm này. Dù nhiều nhà lý luận, nghiên cứu Sử học của Việt Nam ở trong nước cũng đã góp phần giải thích về ý nghĩa, giá trị của bản công hàm này, nhưng tất cả vẫn chỉ là những giải thích không chính thức từ nhà nước. Điều này càng cho thấy sự lúng túng khó xử của chính phủ VN hiện nay về một văn kiện lịch sử đã cũ trong quan hệ giữa hai đảng anh em từ quá khứ.
Trong khi đó, từ trong nước: đời sống dân chúng ảnh hưởng nặng nề từ những thủ đoạn phá hoại nham hiểm của lái buôn TrungQuoc, kinh tế vĩ mô bế tắc, lạm phát tăng cao, đồng bạc mất giá, việc biến VN thành xưởng thợ nhân công rẻ không còn hấp dẫn giới đầu tư nước ngoài như trước nữa... Đồng thời,. Dù tạm thời dẹp yên được các cuộc biểu tình suốt tháng Bảy vừa qua nhưng chính quyền luôn hiểu rằng lòng cảnh giác Bắc phương lúc nào cũng canh cánh trong lòng mọi người, lúc nào cũng có thể là ngọn lửa thổi bùng thành một loại Mùa Xuân Ả Rập ở VN.
Trước nguy cơ có thể bị "mất dân trước khi mất nước" như blogger Thanh Chung từng cảnh báo, chính quyền CSVN đang phải đánh ván bài khác: xử dụng đến sự liên tục của lịch sử để vô hiệu phần nào hóa Công Hàm PVĐ và minh định hơn nữa sự hiện diện của người Việt Nam trong hai quần đảo đang bị TQ tranh chấp này. Bởi vì, chỉ sự minh định tính chính danh của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mới có thể hóa giải được thế kẹt mà bản công hàm PhamVanĐong từng gây nên cho chế độ CS Việt Nam bao lâu nay.
Như các nhà luật gia, nghiên cứu sử học ở Hải Ngoại nhiều lần lên tiếng, cụ thể là lời nhận xét sau đây của Thạc sĩ Hoàng Việt, thành viên Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông :
"Thứ nhất, ông Đồng hay bất cứ ông nào ở miền Bắc lúc đó cũng chẳng có quyền gì mà có thể nói chuyện công nhận hay cho ai cái gì được cả. Bởi vì theo hiệp định Geneve 1954 thì [Việt Nam] đã chia đôi, từ vùng vĩ tuyến 17 trở về bên ngoài là chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý lãnh thổ đó, từ vĩ tuyến 17 vào trong là chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý. Và như vậy là rõ ràng là các ông ở miền Bắc, dù có là ông nào đi chăng nữa, tôi nghĩ rằng cũng chẳng có quyền gì mà lại tuyên bố được với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang thuộc một chính quyền khác quản lý. Thế Việt Nam Cộng Hòa có phải là một quốc gia không ? Là một quốc gia chứ ! Là một quốc gia bình thường và thậm chí năm 1957 Liên hiệp quốc còn định đưa trở thành một thành viên chính thức của Liên hiệp quốc, nhưng mà sau đó có một phiếu phủ quyết của Liên Sô. Nếu không thì [đã được gia nhập Liên hiệp quốc rồi]. Thật ra Việt Nam Cộng hòa vẫn là một quốc gia bình thường. Và rõ ràng là anh không thể tuyên bố hay cho nhận cái gì của cái không phải là của mình, không do mình quản lý".
Tóm lại là chế độ Việt Nam Cộng Hoà, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đang được nhắc lại, để cầu cứu đến trong hoàn cảnh cuộc tranh chấp hiện nay tại Biển Đông. Bởi vì chính quyền CSVN với thế kẹt không thể lý giải được trước công luận trong, ngoài nước vì những nhượng bộ - bằng văn bản - trong quá khứ với phía TQ , hiện chỉ còn một lối ra: xử dụng đến dòng tiếp diễn lịch sử của chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam trước 75 để minh chứng chủ quyền trong cuộc tranh cãi với TrungQuoc.
Tuy nhiên, để đánh ván bài này, không chỉ đơn giản là nhắc đến chế độ miền nam Việt Nam bằng danh xưng hợp pháp của chế độ như ông NTD vừa làm. Còn phải chờ xem những động thái sắp tới của chính quyền VN để thấy rõ là họ đánh ván bài này như thế nào, đặc biệt trong vị trí éo le, thiếu minh bạch trước lịch sử và công chúng của họ từ bao lâu nay.
Xin nhac nho*' "Dung nghe nhung gi` VC noi' ma` hay~ xem nhung gi` VC lam`"
Và, cũng chẳng phải là một điểm đáng khen khi ông NTD thẳng thắn lên tiếng trước quốc hội về tình hình tranh chấp ở Biển Đông, dù rằng đấy cũng là một động thái tương đối mới của một chế độ vốn xem thường dư luận dân chúng mình. Nói cho cùng là: họ không còn cách nào khác nữa ngoài việc phải nói thẳng, nói thật một lần.
Bởi họ cũng hiểu rõ, sức dân có thể trở thành những cơn sóng, dữ hơn sóng Biển Đông, có thể lật úp con thuyền chèo vụng của Đảng CSVN bất cứ lúc nào.
Lại nhớ đến hồi đầu tháng 3 năm nay, trên facebook, một người ký tên Tiên Sa từng lên tiếng yêu cầu "Hãy để cho Việt Nam Cộng Hoà được lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên". Bài viết ấy tạo nên một phản ứng khá râm ran trong cộng đồng mạng. Tưởng đã yên, nay "Việt Nam Cộng Hòa" lại bị ông Nguyễn Tấn Dũng chiêu hồn về để gỡ rối cho chính quyền CS của ông. Nghĩ thật mỉa mai và chua cay cho một chế độ đã bị bức tử, bị đày đọa, nay lại còn bị cầu về để cứu nguy cho những kẻ hãm hại mình !
Nếu như ông Nguyễn Tấn Dũng quả đúng là một người "yêu sự thật, ghét sự giả dối" thì đâu phải chờ đến hôm nay ông mới cầu hồn "Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa" lên như thế ?
'Vũ khí mới' của Mỹ chống Trung Quốc đáng sợ tới đâu?
Hiệp định thương mại đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) trở thành chủ đề chính của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương APEC 2011.
Đầu tiên là quan điểm của một nhóm các nhà phân tích cho rằng, TPP chỉ mang lại lợi ích cho các tập đoàn đa quốc gia chứ không phải người dân hay Chính phủ tham gia thỏa thuận này.
Một bằng chứng là trong tháng này, các cuộc đàm phán TPP đạt được kết quả bước đầu sẽ cho phép các tập đoàn nước ngoài kiện Chính phủ của một quốc gia để được bồi thường thiệt hại nếu Chính phủ đó có những hành động xâm hại đến lợi ích của họ.
Nhóm các nhà phân tích trên giải thích rằng, cơ chế bảo vệ các nhà đầu tư đặc biệt này chỉ là một cách để TPP “trói” các Chính phủ và bảo vệ lợi ích tối đa cho các tập đoàn đa quốc gia.
Sẽ giống như các quy định tương tự trong các thỏa thuận thương mại trước đó, các tập đoàn đa quốc gia luôn lợi dụng các tòa án nước ngoài để phản đối các chính sách bất lợi cho họ tại một quốc gia mà họ đang đầu tư. Những chính sách này bao gồm chính sách về môi trường và y tế, các vấn đề về quy hoạch và điều kiện đầu tư cũng như các quy định về việc sử dụng các chất độc hại và nhiều vấn đề khác.
Mối quan ngại còn xuất phát từ vụ rò rỉ bản dự thảo do Mỹ đề xuất liên quan đến dược phẩm và các thiết bị y tế gần đây tại các cuộc đàm phán bí mật.
Nếu bản dự thảo này của Mỹ chính thức được thông qua, giá thuốc sẽ bị đẩy lên khá cao. Những người dân nghèo lẫn người có thu nhập trung bình ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ có ít cơ hội được hưởng các chế độ chăm sóc sức khỏe hơn bởi luật độc quyền vô lý và quy định cấm Chính phủ các quốc gia không được có chính sách hỗ trợ nhằm bình ổn giá. Giới phân tích kết luận dự thảo này của Mỹ sẽ mang lại khoản lợi nhuận vô tận cho các tập đoàn dược phẩm kếch xù.
Trong khi đó, một nhóm các nhà quan sát khác đưa ra giả thuyết rằng TPP thực chất là công cụ giúp Chính phủ Mỹ củng cố quyền lực ở vành đai Thái Bình Dương, tước đi các cơ hội thương mại của Trung Quốc và loại bỏ con rồng châu Á ra khỏi các cuộc chơi kinh tế.
Khó lòng kìm chế sự nổi lên của con rồng châu Á bằng các biện pháp quân sự và một cuộc chiến Trung – Mỹ là điều không tưởng, Washington chuyển chiến thuật, lợi dụng TPP làm đòn bẩy chống Bắc kinh.
Thông qua việc soi thấu tâm lý quan ngại của các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương rằng con rồng châu Á đang giành được nhiều lợi thế cạnh tranh hơn trong khu vực và chính sách tiền tệ của họ đang cản trở và khiến các nước này bị lép vế trong các cuộc chơi kinh tế, Mỹ đang thúc đẩy các cuộc đàm phán TPP trong đó, tích cực đưa ra các đề xuất có lợi nhất cho họ.

Một số nhà phân tích cho rằng, Mỹ đang tìm cách "loại" Trung Quốc. Ảnh minh họa: Csmonitor.
Trong khi đó, nhiều nhà phân tích người Trung Quốc lại cho rằng TPP hoàn toàn không phải là một khuôn khổ hợp tác kinh tế đáng ngại và do đó, Trung Quốc không cần thiết phải bận tâm đến nó hay ý đồ của người Mỹ.
Họ đưa ra giải thích rằng sẽ có rất nhiều thách thức và khó khăn chờ đợi các quốc gia tham gia vào TPP bởi việc mở rộng hơn nữa thị trường về phía Mỹ khi nền kinh tế của cường quốc số 1 thế giới đang trên đà lao dốc, chưa kể đến các chính sách bảo hộ thương mại và hàng hóa nội địa của Mỹ luôn là rào cản ngăn hàng hóa nước ngoài xâm nhập quá ồ ạt vào thị trường Mỹ.
Do đó, TPP sẽ cần một quá trình đàm phán kéo dài và chẳng ai dám chắc các nỗ lực đàm phán này sẽ đâm hoa kết trái. Do đó, viễn cảnh của TPP vẫn còn quá mong manh.
Hơn nữa, ngay cả trong lòng nước Mỹ, triển vọng cho sự thành công của TPP cũng không nhiều. Nhiều nhà phân tích nhận định thỏa thuận này thực tế chỉ là một tính toán chiến lược của Bộ Ngoại giao Mỹ, bỏ qua quan ngại rằng việc tiếp tục mở cửa thị trường nội địa sẽ làm nảy sinh nhiều nguy cơ cho nền kinh tế Mỹ.
Những thỏa thuận như TPP sẽ khiến thị trường nội địa của cường quốc số 1 thế giới không còn được bảo hộ và do đó, dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết. Trước đó, kể từ khi bắt đầu rơi vào suy thoái kinh tế hồi năm 2009, bảo hộ thương mại trở thành xu hướng ở các quốc gia phát triển như Mỹ. Tuy nhiên, TPP lại đi ngược lại với những xu hướng này.
Tuy nhiên, cũng có những quan điểm tích cực hơn cho rằng TPP có thể tạo đà cho tự do hóa thương mại ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, thậm chí còn có sức lan tỏa ra phạm vi toàn cầu. Những người này nhấn mạnh TPP không thể bỏ qua hay xem nhẹ vai trò của Trung Quốc bởi nó không thể trở thành cơ chế kinh tế thành công mà không có sự tham gia của con rồng châu Á; đồng thời đề xuất Trung Quốc nên tự do hóa nền kinh tế, chấp nhận các quy luật thương mại quốc tế nhằm duy trì sự tăng trưởng của họ.
Mới đây, việc Nhật Bản quyết định tham gia đàm phán TPP được đánh giá là động thái tích cực để thúc đẩy tiến trình đàm phán TPP. Thủ tướng Nhật Noda biểu lộ niềm tin mạnh mẽ rằng TPP sẽ thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế Nhật Bản, mở rộng thị trường và thúc đẩy nền kinh tế nước này tăng trưởng trở lại.
Lê Dung (theo Global Times)
Đầu tiên là quan điểm của một nhóm các nhà phân tích cho rằng, TPP chỉ mang lại lợi ích cho các tập đoàn đa quốc gia chứ không phải người dân hay Chính phủ tham gia thỏa thuận này.
Một bằng chứng là trong tháng này, các cuộc đàm phán TPP đạt được kết quả bước đầu sẽ cho phép các tập đoàn nước ngoài kiện Chính phủ của một quốc gia để được bồi thường thiệt hại nếu Chính phủ đó có những hành động xâm hại đến lợi ích của họ.
Nhóm các nhà phân tích trên giải thích rằng, cơ chế bảo vệ các nhà đầu tư đặc biệt này chỉ là một cách để TPP “trói” các Chính phủ và bảo vệ lợi ích tối đa cho các tập đoàn đa quốc gia.
Sẽ giống như các quy định tương tự trong các thỏa thuận thương mại trước đó, các tập đoàn đa quốc gia luôn lợi dụng các tòa án nước ngoài để phản đối các chính sách bất lợi cho họ tại một quốc gia mà họ đang đầu tư. Những chính sách này bao gồm chính sách về môi trường và y tế, các vấn đề về quy hoạch và điều kiện đầu tư cũng như các quy định về việc sử dụng các chất độc hại và nhiều vấn đề khác.
Mối quan ngại còn xuất phát từ vụ rò rỉ bản dự thảo do Mỹ đề xuất liên quan đến dược phẩm và các thiết bị y tế gần đây tại các cuộc đàm phán bí mật.
Nếu bản dự thảo này của Mỹ chính thức được thông qua, giá thuốc sẽ bị đẩy lên khá cao. Những người dân nghèo lẫn người có thu nhập trung bình ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ có ít cơ hội được hưởng các chế độ chăm sóc sức khỏe hơn bởi luật độc quyền vô lý và quy định cấm Chính phủ các quốc gia không được có chính sách hỗ trợ nhằm bình ổn giá. Giới phân tích kết luận dự thảo này của Mỹ sẽ mang lại khoản lợi nhuận vô tận cho các tập đoàn dược phẩm kếch xù.
Trong khi đó, một nhóm các nhà quan sát khác đưa ra giả thuyết rằng TPP thực chất là công cụ giúp Chính phủ Mỹ củng cố quyền lực ở vành đai Thái Bình Dương, tước đi các cơ hội thương mại của Trung Quốc và loại bỏ con rồng châu Á ra khỏi các cuộc chơi kinh tế.
Khó lòng kìm chế sự nổi lên của con rồng châu Á bằng các biện pháp quân sự và một cuộc chiến Trung – Mỹ là điều không tưởng, Washington chuyển chiến thuật, lợi dụng TPP làm đòn bẩy chống Bắc kinh.
Thông qua việc soi thấu tâm lý quan ngại của các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương rằng con rồng châu Á đang giành được nhiều lợi thế cạnh tranh hơn trong khu vực và chính sách tiền tệ của họ đang cản trở và khiến các nước này bị lép vế trong các cuộc chơi kinh tế, Mỹ đang thúc đẩy các cuộc đàm phán TPP trong đó, tích cực đưa ra các đề xuất có lợi nhất cho họ.

Một số nhà phân tích cho rằng, Mỹ đang tìm cách "loại" Trung Quốc. Ảnh minh họa: Csmonitor.
Trong khi đó, nhiều nhà phân tích người Trung Quốc lại cho rằng TPP hoàn toàn không phải là một khuôn khổ hợp tác kinh tế đáng ngại và do đó, Trung Quốc không cần thiết phải bận tâm đến nó hay ý đồ của người Mỹ.
Họ đưa ra giải thích rằng sẽ có rất nhiều thách thức và khó khăn chờ đợi các quốc gia tham gia vào TPP bởi việc mở rộng hơn nữa thị trường về phía Mỹ khi nền kinh tế của cường quốc số 1 thế giới đang trên đà lao dốc, chưa kể đến các chính sách bảo hộ thương mại và hàng hóa nội địa của Mỹ luôn là rào cản ngăn hàng hóa nước ngoài xâm nhập quá ồ ạt vào thị trường Mỹ.
Do đó, TPP sẽ cần một quá trình đàm phán kéo dài và chẳng ai dám chắc các nỗ lực đàm phán này sẽ đâm hoa kết trái. Do đó, viễn cảnh của TPP vẫn còn quá mong manh.
Hơn nữa, ngay cả trong lòng nước Mỹ, triển vọng cho sự thành công của TPP cũng không nhiều. Nhiều nhà phân tích nhận định thỏa thuận này thực tế chỉ là một tính toán chiến lược của Bộ Ngoại giao Mỹ, bỏ qua quan ngại rằng việc tiếp tục mở cửa thị trường nội địa sẽ làm nảy sinh nhiều nguy cơ cho nền kinh tế Mỹ.
Những thỏa thuận như TPP sẽ khiến thị trường nội địa của cường quốc số 1 thế giới không còn được bảo hộ và do đó, dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết. Trước đó, kể từ khi bắt đầu rơi vào suy thoái kinh tế hồi năm 2009, bảo hộ thương mại trở thành xu hướng ở các quốc gia phát triển như Mỹ. Tuy nhiên, TPP lại đi ngược lại với những xu hướng này.
Tuy nhiên, cũng có những quan điểm tích cực hơn cho rằng TPP có thể tạo đà cho tự do hóa thương mại ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, thậm chí còn có sức lan tỏa ra phạm vi toàn cầu. Những người này nhấn mạnh TPP không thể bỏ qua hay xem nhẹ vai trò của Trung Quốc bởi nó không thể trở thành cơ chế kinh tế thành công mà không có sự tham gia của con rồng châu Á; đồng thời đề xuất Trung Quốc nên tự do hóa nền kinh tế, chấp nhận các quy luật thương mại quốc tế nhằm duy trì sự tăng trưởng của họ.
Mới đây, việc Nhật Bản quyết định tham gia đàm phán TPP được đánh giá là động thái tích cực để thúc đẩy tiến trình đàm phán TPP. Thủ tướng Nhật Noda biểu lộ niềm tin mạnh mẽ rằng TPP sẽ thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế Nhật Bản, mở rộng thị trường và thúc đẩy nền kinh tế nước này tăng trưởng trở lại.
Lê Dung (theo Global Times)


Thái Hà Bị Đàn Áp Khốc Liệt
Mylinhng@aol.com Quyền biểu tình là quyền cơ bản của công dân Việt Nam được ghi trên Hiến Pháp Điều 69, lại tiếp tục bị Nhà cầm quyền Nguyễn Tấn Dũng vi phạm.
Vào ngày 12/2/2011, Trên 200 giáo dân đã kéo để Ủy Ban Nhân Dân Huyện Đống Đa, Hà Nội để biểu tình bất bạo động vì không được trả lời về việc chiếm dụng phần đất của Thái Hà để dùng làm "nhà máy xử lý nước thải", như hợp thức hóa việc chiếm đất vĩnh viễn.
Vào lúc 9:05 giờ sáng, trong lúc các giáo dân trở về lại nhà thờ thì bị hàng trăm công an tấn công một cách khốc liệt vào các cha, đặc biệt, đã bắt đi cha chánh xứ Nguyễn Văn Phượng, linh mục Nam Phong, cùng 35 giáo dân, trong có những người bị đánh đập, bị thương, bị xỉu và bị chở về Trại Phục Hồi Nhân Phẩm Lộc Hà, trong số 7 phụ nữ bị đánh, có 5 bị trọng thương.
Đây là việc làm vô cùng tồi bại của bọn công an do Nguyễn Tấn Dũng cầm đầu, để làm nhục các linh mục và giáo dân trong cái gọi là "Trại phục Hồi Nhân Phẩm".
Phóng viên Chim Quốc Quốc VNCH của Diễn Đàn Hội Luận thuộc hệ thống www.paltalk.com đã điện thoại về những cơ sở công quyền, gặp ngay một phóng viên Trần Đình Thảo của báo Năng Lượng để tường thuật sự việc đang xảy ra.
Báo chí là những cơ quan truyền thông để tường trình những sự việc trung thực đã xảy ra, nhưng tên phóng viên Thảo này đã trả lời thẳng thừng, tất cả 700 báo chí và cơ quan truyền thông ở Việt Nam đều làm việc và phục vụ cho Đảng và Nhà nước.
Trước sự việc nghiêm trọng trên, phóng viên Chim Quốc Quốc VNCH đã gọi điện đến nhiều bộ ngoại giao và tòa đại sứ và các linh mục để báo động sự việc xảy ra để có thể ngăn chận kịp thời của đàn áp khốc liệt này.
Theo tin giờ chót, linh mục chánh xứ Nguyễn Văn Phượng đã khẳng khái trả lời rằng: "không rời khỏi Trại Phục Hồi Nhân Phẩm nếu công an còn giam bất cứ một người biểu tình nào".
Trước phản ứng quyết liệt của linh mục Phượng, công an buộc lòng phải thả hết tất cả các giáo dân đang bị giam cầm.
Có thể nói thẳng, đây là một cuộc đàn áp tôn giáo khốc liệt, vì các linh mục và giáo dân chỉ thể hiện quyền biểu tình bất bạo động được ghi trong hiến pháp. Thay vì công an phải bảo vệ quyền biểu tình của người dân được ghi trong Điều 69 của bản Hiến Pháp, lại quay lưng với người dân, để phục vụ cho thành phần thiểu số Đảng CSVN.
Ngày 2 tháng 12 năm 2011
Mylinhng@aol.com


