Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
VĂN MINH RỖNG RUỘT
* ĐINH LÂM THANH *
Muốn đánh giá văn minh tiến bộ của quốc gia nào đó, người ta bắt buộc phải xét đến ba lãnh vực quan trọng là giáo dục, y tế và trình độ văn hóa của dân, chứ không thể căn cứ vào các hình thức hào nhoáng bên ngoài của các hạ tầng cơ sở để kết luận một cách vội vã. Một điều thật đau lòng là, đa số người hải ngoại du lịch Việt Nam về thường rêu rao tuyên truyền cho cộng sản rằng, Việt Nam bây giờ đã hoàn toàn đổi mới : xa lộ thênh thang, nhà cao cửa rộng… Riêng vấn đề ẩm thực, du hí cũng như tình dục thì còn nổi bật hơn cả Thái Lan. Họ còn cho biết ở Việt Nam khách muốn ăn gì, muốn kiếm gái loại nào, muốn làm vua dổm vài giờ… dù bất cứ ở đâu, giờ nào đều có người phục vụ tại chỗ mà giá cả lại rẻ mạt. Thật ra đây là những miếng mồi dụ dỗ mà việt gian cộng sản đặc biệt dùng để câu một số lượng lớn người Việt hải ngoại về du hí hàng năm. Thành phần người gốc Việt nầy đầu óc còn thiển cận, chỉ biết những gì trước mắt mà quên mất cái căn bản cần thiết nhằm phục vụ đời sống con người một cách thiết thực, hữu hiệu và lâu dài…
Đối với các xứ văn minh Âu-Mỹ, vấn đề y tế được các quốc gia tại đây chú trọng và đưa lên hàng đầu trong chương trình phục vụ đời sống hằng ngày của người dân. Tùy theo chế độ y tế, mọi người dù thuộc giai cấp nào cũng được hưởng, không nhiều thì ít, chương trình giúp đở và trợ cấp của chính phủ về vấn đề sức khỏe cá nhân. Trong đó, một số lớn quốc gia ở Âu-Châu gần như hoàn toàn miễn phí cho những người lớn tuổi cũng như những gia đình có mức lợi tức thấp. Ngoài ra đối với những trường hợp cấp cứu, sinh đẻ hoặc các bệnh khó chữa trị cũng được nhà nước nghiên cứu và miễn phí cho dân chúng, nhất là đối với những bà mẹ và người lớn tuổi. Người ta thường thấy, khi một bệnh nhân cần cấp cứu hoặc phải chữa trị gấp, bệnh viện xử dụng tất cả phương tiện để ưu tiên cứu người, xong xuôi đâu đó mới tính đến chuyện phí tổn…Nhưng nếu bệnh nhân không có khả năng chi trả thì cơ quan nầy hoặc tổ chức khác của chính phủ đứng ra thanh toán giùm. Ngược lại tại Việt Nam, một xứ mà bách phân người bị bệnh rất nhiều so với tổng số dân chúng, nhưng vấn đề y tế thì tồi tệ vô địch thế giới. Thứ nhất, thiếu nhà thương, thiếu giường, thiếu dụng cụ y khoa và thiếu luôn cả bác sĩ cũng như y tá. Thứ hai, bệnh nhân mất cả ngày chờ đợi, phải vượt qua hàng rào hối lộ từ anh gác cổng, chị làm công, cô y tá cho đến bác sĩ để được khám dưới một phút, (thời gian khám cho một bệnh nhân - theo báo cộng sản trong nước) rồi trả tiền xin toa (ordonnance) và bắt đầu thủ tục mới với các nhà thuốc! Bệnh nhân thường than vản, đi nhà thương khám bác sĩ, kết quả bệnh tình chưa biết ra sao nhưng với ‘thủ tục hành hạ’ moi tiền bệnh nhân thì thà chết còn sướng hơn là để cho thân nhân phải chạy tiền bạc, hầu hạ van xin và mua chuộc nhân viên nhà thương !!! Thứ ba, trường hợp nếu được nhập viện nằm điều trị, bệnh nhân phải mua của y tá từ miếng băng, cục bông gòn đến việc phải thuê với nhân viên phục vụ từ cái mền cho đến chiếc chiếu để được phép nằm dưới đất ! (dù người nhà có mang theo).
Tiếp đến, việc giáo dục cũng là một vấn đề quan trọng nhất đối với các xứ văn minh Âu-Mỹ. Trẻ em bắt buộc phải đến trường khi đã chập chững biết nói. Ngoài việc miễn học phí, nhà nước còn cung cấp phương tiện đến lớp, sách vở, giấy bút, áo quần cho học sinh cũng như sinh viên qua học bổng và tiền phụ cấp vào các mùa nhập học…Có quốc gia, chính phủ phải trả tiền cho gia đình để cha mẹ cho con cái đi học (các xứ dầu lửa ở Trung Đông) ! Chương trình học không có môn chính trị một chiều mà các quốc gia đều đặt nặng về vấn đề giáo dục con người về phương diện văn hóa cũng như đạo đức. Đối với vài trường hợp học sinh ngang bướng bỏ đi bụi đời thì chính phủ, nhà trường cũng như các hiệp hội tư nhân đều có những môi trường và phương pháp để giữ chân thành phần trẻ nầy ở lại tiếp tục việc học.
Và sau cùng, trình độ văn minh người dân là bộ mặt quan trọng của xã hội. Du khách đến Việt Nam nghĩ thế nào khi ngang qua một thành phố ở đó chỉ có ăn uống nhưng hoàn toàn thiếu hẳn nhà vệ sinh công cộng, nếu cần thì bắt buộc phải đi tiểu đi tiêu vào gốc cây vách tường. Dân ra đường khạc nhổ, xã rác xuống đất, chạy xe không cần đèn xanh đỏ, người đi bộ xô đẩy chen lấn nhau. Hoặc vừa thấy du khách là xúm lại làm tiền một cách bỉ ổi từ ngoài đường phố, chợ búa khu du lịch cho đến các nhà hàng khách sạn! Như vậy những người văn minh nước ngoài chỉ cần thoáng qua vài hình ảnh trên thì sự kính trọng của họ khi đến Việt Nam chắc chắn không còn căn cứ trên những khách sạn nhiều sao, nhà cao tầng, hí viện quốc tế, dinh thự cán bộ, xe Porche, Gamborgini, BMW, Mercedes mà phản ứng tự nhiên bắt họ phải hành động tức khắc : hai tay giữ chặt từ cái bóp, cặp mắt kính cho đến chiếc máy ảnh…vì không biết chúng sẽ biến mất lúc nào ! Cũng chưa bao giờ thấy một xứ nào trên thế giới mà nhân viên bán hàng cầm dao đuổi rượt người nước ngoài khi họ tò mò đứng nhìn một quầy hàng bán thịt rừng ngay giữa đường lộ. Thật là xấu hổ cho cái văn minh rỗng ruột dưới chế độ việt gian cộng sản hiện nay !
Thật vậy, đối với Việt Nam sự thật đã chứng minh, sau gần 40 năm ngưng tiếng súng cộng thêm hàng ngàn tỷ ngoại tệ đổ vào do viện trợ nhân đạo, vay mượn quốc tế và của Người Việt hải ngoại gởi về, tập đoàn cộng sản đã thực hiện được gì cho con người và đất nước ? Nhất là đối với thành phần lao động, chiếm trên một nửa dân số đang sống quá thấp dưới mức nghèo khó. Thật ra, Hà Nội chỉ quan tâm đến những hình thức hào nhoáng bên ngoài nhằm đánh bóng chế độ, nhất là tạo cơ hội để dễ dàng tham nhũng. Thử nhìn những lầu đài, khách sạn, nhà cao từng, khu kỹ nghệ, các cơ sở sản xuất là của ai và do người nào đứng tên khai thác hưởng lợi ? Không cần trả lời, vì tất cả mọi người đều biết lợi nhuận hoàn toàn nằm trong tay tập đoàn việt gian cộng sản và con cháu dòng họ của chúng. Thực tế những công trình vĩ đại đó là cái vỏ đang che giấu một xã hội bất công, che giấu hàng chục triệu người nghèo đang đói khát bệnh tật, che giấu hàng triệu trẻ con thất học đi bụi đời vì gia đình không có khả năng (thông tin của việt cộng năm 2011), và hàng trăm ngàn sinh viên bỏ trường vì tương lai đen tối.
Đồng ý rằng cầu cống, xa lộ cần cho nhu cầu lợi ích chung thì cũng có xây dựng được một phần nào. Nhưng tôi cho đó là những hình thức hoàn toàn giả tạo, vì tính xem thời gian xử dụng được bao lâu với những công trình bị ăn chận từ việc chấm công, xén bớt vật liệu xi măng, sắt thép, đá sỏi rồi pha chế chắp nối để đạt chỉ tiêu theo lệnh trên. Nhìn hình dáng bên ngoài thành phố có vẽ mỹ quan nhưng nếu tính phẩm chất bên trong là những công trình rỗng ruột. Cầu xây chưa xong cầu đã sập, đường đắp ngã trước sụp lỗ phía sau, nhà cất chưa ở thì nhà đã lún !!!. Riêng đối với vấn đề nhà cửa, tôi cũng đồng ý bây giờ được xây cất đồng loạt, từ thành phố quận lỵ đến thôn quê. Nhưng thử hỏi mục đích để làm gì và ai là chủ nhân ? Có phải là thành phần nồng cốt (nông-công-nhân) của chế độ bịp bợm cộng sản ? Có phải công nhân viên cấp nhỏ nhà nước hoặc người dân bình thường sinh sống bằng đồng lương cố định ? Hay thuộc thành phần lao động buôn thúng bán bưng ? Không, chủ nhà chính là cán bộ đảng viên nhà nước. Điều nầy mới nghe thật khó tin, vì đồng lương chính thức của thành phần cao cấp nầy chưa đủ bao gái một đêm thì làm thế nào để có thể trở thành chủ nhân ông những bất động sản trị giá hàng triệu, hàng tỷ bạc ? Vậy muốn giàu có, chúng phải hành nghề ăn cướp và muốn trở thành tỷ phú một cách thần thánh thì chỉ còn cách là cái gì có thể đút túi được thì bọn việt gian cộng sản sẽ dùng luật rừng, kẽm gai và súng đạn để biến thành của riêng của chúng ! Như vậy ‘hoành tráng’ bên ngoài chỉ là cái võ để che đậy những thối tha khốn nạn bên trong mà đảng cộng sản đã và đang gieo lên đầu đất nước cũng như dân tộc Việt Nam kể từ sau ngày xâm chiếm miền Nam.
Nhưng rồi một khi dân trắng tay, tài sản quốc gia cạn kiệt, nguyên liệu bán sạch ra ngoài thì việt gian cộng sản lại nghĩ ra cách khác, bày nhiều trò mới để có cơ hội rút tỉa của công và ăn cắp tài sản cũng như sức lao động dân chúng. Tôi xin đưa ra vài thí dụ rất đơn giản nhưng thật quan trọng :
1. Chương trình ‘quy hoạch’ thủ đô, thành phố và quận lỵ là một âm mưu để cướp tài sản dân chúng tận gốc rễ. Đảng viên cán bộ ngồi phòng lạnh, chỉ cần đưa cây bút khoanh vòng một khu vực nào đó là sẽ có tiền tỷ đi vào túi. Công việc thật quá dễ dàng : đất đai của dân, ăn cắp tiền giấy nhà nước để bồi thường, vật dụng là tài nguyên quốc gia, chúng cho nước ngoài đấu thầu, xây xong chia 3/7 (nhà thầu 3, cán bộ 7). Cứ mỗi chương trình ‘quy hoạch’ tối thiểu cũng đem lại cho đảng viên cán bộ hàng trăm biệt thự lầu, hàng ngàn căn nhà (appt) đúng tiêu chuẩn quốc tế. Thử làm bài tính thì thấy bọn chúng sẽ thu vào hàng trăm, hàng ngàn triệu bằng vàng khối hoặc bằng ngoại tệ. Đây chính là một hình thức văn minh rỗng ruột vì những gì đang có, mang tiếng là tài sản của Việt Nam, nhưng đâu phải do người dân Việt Nam làm chủ đứng tên ! Bọn cán bộ bán các bất động sản nầy ra cho người nước ngoài, nhất là bọn Tàu đỏ đang hăm hở bỏ tiền ra xí phần trước trên phần đất Việt Nam mà trước sau gì cũng trở thành một tỉnh của bọn chúng trong nay mai !!!
2. ‘Công trình hoành tráng’ rỗng ruột, để chứng minh sự tham nhũng vô độ của bọn cán bộ địa phương, tôi xin đưa ra vài ba thí dụ :
a. Tỉnh Quảng Nam xây tượng đài Mẹ VN với kinh phí lên quá 410 Tỷ Đồng, rồi tượng đài mẹ sẽ đẻ ra hàng trăm tượng đài con tại các nơi khác trong lúc dân tỉnh nầy đang nằm trong thành phần nghèo đói.
b. Ngoài việc tu bổ xác chết già Hồ tại Ba Đình, cộng sản việt gian đã bóp họng dân nghèo mấy trăm tỷ đồng để xây lăng tẩm cho cha già Hồ (Nguyễn Sinh Sắc) tại Vĩnh Long và mẹ già Hồ (Hoàng Thị Loan) ở Nghệ An.
c. Xây Crown Convention enter tại Nha Trang để tổ chức thi hoa hậu năm 2008 với tổng kinh phí đầu tư 9,8 triệu USD năm 2008 và…bây giờ thì bỏ trống không xử dụng !
d. Xây nhà hát hơn 10 triệu USD để chuẩn bị cho cuộc thi hoa hậu năm 2012 tại NinhThuận để khoe khoang với thế giới.
Thực tế với tình trạng chạy ăn từng bữa, người dân không cần nhịn đói để đi ngắm tượng đài Mẹ Anh Hùng Việt Nam, là những người mà trước đây đã ngu dại nuôi ong tay áo, nhịn ăn nhịn uống để đùm bọc kẻ thù, rồi ngày nay phải trở thành dân oan nằm nắng phơi sương để xin lại nhà cửa đất đai đã bị tịch thu. Việt gian cộng sản cũng biết rằng người dân không tiền và cũng không rỗi rảnh để mua vé xem các chương trình đại nhạc hội thi đua hoa hậu, trình diễn áo dài. Bọn cộng sản cũng biết người dân cóc cần đến các lăng tẩm để thắp hương trước mộ một tội đồ dâm tặc bán nước và dòng họ của nó. Nhưng tại sao tập đoàn cộng sản lại bắt dân dốc túi và tiền của ra để xây dựng những cái tượng đài ‘ba láp’ và lăng tẩm ‘nâng bi đội đĩa’ rỗng ruột để làm gì ? Đó chẳng qua việt gian cộng sản dùng làm bình phong để phô trương và trục lợi.
Người dân đang ngay cần những chuyện tầm thường như, bắt cầu cho học sinh đến trường để chúng khỏi lội qua sông mỗi ngày vài ba bận. Người dân cần mỗi khi đau ốm được đến nhà thương chữa trị mà không phải qua thủ tục‘đầu tiên’ và bị nằm la liệt dưới sàn xi măng. Người dân đang cần xây cầu tiêu công cộng trong các thành phố, nhất là tại những khu du lịch để tránh bị bể bọng đái cho họ cũng như khách quốc tế. Vậy đối với các tượng đài lăng tẩm, nếu nói về trách nhiệm của nhà nước, thì chính là những xa xỉ phẩm rỗng ruột của một tập đoàn cai trị mà trên một nửa dân số thiếu ăn thiếu mặc và đang sống dưới mức nghèo khó từ trên 60 năm nay.
Tóm lại tại VN, từ tổ chức thượng tầng cơ sở như văn hóa, giáo dục, y tế, thương mãi, ngoại giao…xuống đến hạ tầng phục vụ đời sống người dân đều hoàn toàn rỗng ruột. Nhưng có một điều trái ngược, bao tử người nào dưới chế độ cộng sản cũng đầy ắp, vì :
dân đen thì ‘sình bụng’ với cháo-trắng-ngô-khoai, còn đảng đỏ thì ‘phát ách’ vì vàng-thoi-ngoại-tệ !
Đinh Lâm Thanh
Paris, 01.01.2012
* ĐINH LÂM THANH *
Muốn đánh giá văn minh tiến bộ của quốc gia nào đó, người ta bắt buộc phải xét đến ba lãnh vực quan trọng là giáo dục, y tế và trình độ văn hóa của dân, chứ không thể căn cứ vào các hình thức hào nhoáng bên ngoài của các hạ tầng cơ sở để kết luận một cách vội vã. Một điều thật đau lòng là, đa số người hải ngoại du lịch Việt Nam về thường rêu rao tuyên truyền cho cộng sản rằng, Việt Nam bây giờ đã hoàn toàn đổi mới : xa lộ thênh thang, nhà cao cửa rộng… Riêng vấn đề ẩm thực, du hí cũng như tình dục thì còn nổi bật hơn cả Thái Lan. Họ còn cho biết ở Việt Nam khách muốn ăn gì, muốn kiếm gái loại nào, muốn làm vua dổm vài giờ… dù bất cứ ở đâu, giờ nào đều có người phục vụ tại chỗ mà giá cả lại rẻ mạt. Thật ra đây là những miếng mồi dụ dỗ mà việt gian cộng sản đặc biệt dùng để câu một số lượng lớn người Việt hải ngoại về du hí hàng năm. Thành phần người gốc Việt nầy đầu óc còn thiển cận, chỉ biết những gì trước mắt mà quên mất cái căn bản cần thiết nhằm phục vụ đời sống con người một cách thiết thực, hữu hiệu và lâu dài…
Đối với các xứ văn minh Âu-Mỹ, vấn đề y tế được các quốc gia tại đây chú trọng và đưa lên hàng đầu trong chương trình phục vụ đời sống hằng ngày của người dân. Tùy theo chế độ y tế, mọi người dù thuộc giai cấp nào cũng được hưởng, không nhiều thì ít, chương trình giúp đở và trợ cấp của chính phủ về vấn đề sức khỏe cá nhân. Trong đó, một số lớn quốc gia ở Âu-Châu gần như hoàn toàn miễn phí cho những người lớn tuổi cũng như những gia đình có mức lợi tức thấp. Ngoài ra đối với những trường hợp cấp cứu, sinh đẻ hoặc các bệnh khó chữa trị cũng được nhà nước nghiên cứu và miễn phí cho dân chúng, nhất là đối với những bà mẹ và người lớn tuổi. Người ta thường thấy, khi một bệnh nhân cần cấp cứu hoặc phải chữa trị gấp, bệnh viện xử dụng tất cả phương tiện để ưu tiên cứu người, xong xuôi đâu đó mới tính đến chuyện phí tổn…Nhưng nếu bệnh nhân không có khả năng chi trả thì cơ quan nầy hoặc tổ chức khác của chính phủ đứng ra thanh toán giùm. Ngược lại tại Việt Nam, một xứ mà bách phân người bị bệnh rất nhiều so với tổng số dân chúng, nhưng vấn đề y tế thì tồi tệ vô địch thế giới. Thứ nhất, thiếu nhà thương, thiếu giường, thiếu dụng cụ y khoa và thiếu luôn cả bác sĩ cũng như y tá. Thứ hai, bệnh nhân mất cả ngày chờ đợi, phải vượt qua hàng rào hối lộ từ anh gác cổng, chị làm công, cô y tá cho đến bác sĩ để được khám dưới một phút, (thời gian khám cho một bệnh nhân - theo báo cộng sản trong nước) rồi trả tiền xin toa (ordonnance) và bắt đầu thủ tục mới với các nhà thuốc! Bệnh nhân thường than vản, đi nhà thương khám bác sĩ, kết quả bệnh tình chưa biết ra sao nhưng với ‘thủ tục hành hạ’ moi tiền bệnh nhân thì thà chết còn sướng hơn là để cho thân nhân phải chạy tiền bạc, hầu hạ van xin và mua chuộc nhân viên nhà thương !!! Thứ ba, trường hợp nếu được nhập viện nằm điều trị, bệnh nhân phải mua của y tá từ miếng băng, cục bông gòn đến việc phải thuê với nhân viên phục vụ từ cái mền cho đến chiếc chiếu để được phép nằm dưới đất ! (dù người nhà có mang theo).
Tiếp đến, việc giáo dục cũng là một vấn đề quan trọng nhất đối với các xứ văn minh Âu-Mỹ. Trẻ em bắt buộc phải đến trường khi đã chập chững biết nói. Ngoài việc miễn học phí, nhà nước còn cung cấp phương tiện đến lớp, sách vở, giấy bút, áo quần cho học sinh cũng như sinh viên qua học bổng và tiền phụ cấp vào các mùa nhập học…Có quốc gia, chính phủ phải trả tiền cho gia đình để cha mẹ cho con cái đi học (các xứ dầu lửa ở Trung Đông) ! Chương trình học không có môn chính trị một chiều mà các quốc gia đều đặt nặng về vấn đề giáo dục con người về phương diện văn hóa cũng như đạo đức. Đối với vài trường hợp học sinh ngang bướng bỏ đi bụi đời thì chính phủ, nhà trường cũng như các hiệp hội tư nhân đều có những môi trường và phương pháp để giữ chân thành phần trẻ nầy ở lại tiếp tục việc học.
Và sau cùng, trình độ văn minh người dân là bộ mặt quan trọng của xã hội. Du khách đến Việt Nam nghĩ thế nào khi ngang qua một thành phố ở đó chỉ có ăn uống nhưng hoàn toàn thiếu hẳn nhà vệ sinh công cộng, nếu cần thì bắt buộc phải đi tiểu đi tiêu vào gốc cây vách tường. Dân ra đường khạc nhổ, xã rác xuống đất, chạy xe không cần đèn xanh đỏ, người đi bộ xô đẩy chen lấn nhau. Hoặc vừa thấy du khách là xúm lại làm tiền một cách bỉ ổi từ ngoài đường phố, chợ búa khu du lịch cho đến các nhà hàng khách sạn! Như vậy những người văn minh nước ngoài chỉ cần thoáng qua vài hình ảnh trên thì sự kính trọng của họ khi đến Việt Nam chắc chắn không còn căn cứ trên những khách sạn nhiều sao, nhà cao tầng, hí viện quốc tế, dinh thự cán bộ, xe Porche, Gamborgini, BMW, Mercedes mà phản ứng tự nhiên bắt họ phải hành động tức khắc : hai tay giữ chặt từ cái bóp, cặp mắt kính cho đến chiếc máy ảnh…vì không biết chúng sẽ biến mất lúc nào ! Cũng chưa bao giờ thấy một xứ nào trên thế giới mà nhân viên bán hàng cầm dao đuổi rượt người nước ngoài khi họ tò mò đứng nhìn một quầy hàng bán thịt rừng ngay giữa đường lộ. Thật là xấu hổ cho cái văn minh rỗng ruột dưới chế độ việt gian cộng sản hiện nay !
Thật vậy, đối với Việt Nam sự thật đã chứng minh, sau gần 40 năm ngưng tiếng súng cộng thêm hàng ngàn tỷ ngoại tệ đổ vào do viện trợ nhân đạo, vay mượn quốc tế và của Người Việt hải ngoại gởi về, tập đoàn cộng sản đã thực hiện được gì cho con người và đất nước ? Nhất là đối với thành phần lao động, chiếm trên một nửa dân số đang sống quá thấp dưới mức nghèo khó. Thật ra, Hà Nội chỉ quan tâm đến những hình thức hào nhoáng bên ngoài nhằm đánh bóng chế độ, nhất là tạo cơ hội để dễ dàng tham nhũng. Thử nhìn những lầu đài, khách sạn, nhà cao từng, khu kỹ nghệ, các cơ sở sản xuất là của ai và do người nào đứng tên khai thác hưởng lợi ? Không cần trả lời, vì tất cả mọi người đều biết lợi nhuận hoàn toàn nằm trong tay tập đoàn việt gian cộng sản và con cháu dòng họ của chúng. Thực tế những công trình vĩ đại đó là cái vỏ đang che giấu một xã hội bất công, che giấu hàng chục triệu người nghèo đang đói khát bệnh tật, che giấu hàng triệu trẻ con thất học đi bụi đời vì gia đình không có khả năng (thông tin của việt cộng năm 2011), và hàng trăm ngàn sinh viên bỏ trường vì tương lai đen tối.
Đồng ý rằng cầu cống, xa lộ cần cho nhu cầu lợi ích chung thì cũng có xây dựng được một phần nào. Nhưng tôi cho đó là những hình thức hoàn toàn giả tạo, vì tính xem thời gian xử dụng được bao lâu với những công trình bị ăn chận từ việc chấm công, xén bớt vật liệu xi măng, sắt thép, đá sỏi rồi pha chế chắp nối để đạt chỉ tiêu theo lệnh trên. Nhìn hình dáng bên ngoài thành phố có vẽ mỹ quan nhưng nếu tính phẩm chất bên trong là những công trình rỗng ruột. Cầu xây chưa xong cầu đã sập, đường đắp ngã trước sụp lỗ phía sau, nhà cất chưa ở thì nhà đã lún !!!. Riêng đối với vấn đề nhà cửa, tôi cũng đồng ý bây giờ được xây cất đồng loạt, từ thành phố quận lỵ đến thôn quê. Nhưng thử hỏi mục đích để làm gì và ai là chủ nhân ? Có phải là thành phần nồng cốt (nông-công-nhân) của chế độ bịp bợm cộng sản ? Có phải công nhân viên cấp nhỏ nhà nước hoặc người dân bình thường sinh sống bằng đồng lương cố định ? Hay thuộc thành phần lao động buôn thúng bán bưng ? Không, chủ nhà chính là cán bộ đảng viên nhà nước. Điều nầy mới nghe thật khó tin, vì đồng lương chính thức của thành phần cao cấp nầy chưa đủ bao gái một đêm thì làm thế nào để có thể trở thành chủ nhân ông những bất động sản trị giá hàng triệu, hàng tỷ bạc ? Vậy muốn giàu có, chúng phải hành nghề ăn cướp và muốn trở thành tỷ phú một cách thần thánh thì chỉ còn cách là cái gì có thể đút túi được thì bọn việt gian cộng sản sẽ dùng luật rừng, kẽm gai và súng đạn để biến thành của riêng của chúng ! Như vậy ‘hoành tráng’ bên ngoài chỉ là cái võ để che đậy những thối tha khốn nạn bên trong mà đảng cộng sản đã và đang gieo lên đầu đất nước cũng như dân tộc Việt Nam kể từ sau ngày xâm chiếm miền Nam.
Nhưng rồi một khi dân trắng tay, tài sản quốc gia cạn kiệt, nguyên liệu bán sạch ra ngoài thì việt gian cộng sản lại nghĩ ra cách khác, bày nhiều trò mới để có cơ hội rút tỉa của công và ăn cắp tài sản cũng như sức lao động dân chúng. Tôi xin đưa ra vài thí dụ rất đơn giản nhưng thật quan trọng :
1. Chương trình ‘quy hoạch’ thủ đô, thành phố và quận lỵ là một âm mưu để cướp tài sản dân chúng tận gốc rễ. Đảng viên cán bộ ngồi phòng lạnh, chỉ cần đưa cây bút khoanh vòng một khu vực nào đó là sẽ có tiền tỷ đi vào túi. Công việc thật quá dễ dàng : đất đai của dân, ăn cắp tiền giấy nhà nước để bồi thường, vật dụng là tài nguyên quốc gia, chúng cho nước ngoài đấu thầu, xây xong chia 3/7 (nhà thầu 3, cán bộ 7). Cứ mỗi chương trình ‘quy hoạch’ tối thiểu cũng đem lại cho đảng viên cán bộ hàng trăm biệt thự lầu, hàng ngàn căn nhà (appt) đúng tiêu chuẩn quốc tế. Thử làm bài tính thì thấy bọn chúng sẽ thu vào hàng trăm, hàng ngàn triệu bằng vàng khối hoặc bằng ngoại tệ. Đây chính là một hình thức văn minh rỗng ruột vì những gì đang có, mang tiếng là tài sản của Việt Nam, nhưng đâu phải do người dân Việt Nam làm chủ đứng tên ! Bọn cán bộ bán các bất động sản nầy ra cho người nước ngoài, nhất là bọn Tàu đỏ đang hăm hở bỏ tiền ra xí phần trước trên phần đất Việt Nam mà trước sau gì cũng trở thành một tỉnh của bọn chúng trong nay mai !!!
2. ‘Công trình hoành tráng’ rỗng ruột, để chứng minh sự tham nhũng vô độ của bọn cán bộ địa phương, tôi xin đưa ra vài ba thí dụ :
a. Tỉnh Quảng Nam xây tượng đài Mẹ VN với kinh phí lên quá 410 Tỷ Đồng, rồi tượng đài mẹ sẽ đẻ ra hàng trăm tượng đài con tại các nơi khác trong lúc dân tỉnh nầy đang nằm trong thành phần nghèo đói.
b. Ngoài việc tu bổ xác chết già Hồ tại Ba Đình, cộng sản việt gian đã bóp họng dân nghèo mấy trăm tỷ đồng để xây lăng tẩm cho cha già Hồ (Nguyễn Sinh Sắc) tại Vĩnh Long và mẹ già Hồ (Hoàng Thị Loan) ở Nghệ An.
c. Xây Crown Convention enter tại Nha Trang để tổ chức thi hoa hậu năm 2008 với tổng kinh phí đầu tư 9,8 triệu USD năm 2008 và…bây giờ thì bỏ trống không xử dụng !
d. Xây nhà hát hơn 10 triệu USD để chuẩn bị cho cuộc thi hoa hậu năm 2012 tại NinhThuận để khoe khoang với thế giới.
Thực tế với tình trạng chạy ăn từng bữa, người dân không cần nhịn đói để đi ngắm tượng đài Mẹ Anh Hùng Việt Nam, là những người mà trước đây đã ngu dại nuôi ong tay áo, nhịn ăn nhịn uống để đùm bọc kẻ thù, rồi ngày nay phải trở thành dân oan nằm nắng phơi sương để xin lại nhà cửa đất đai đã bị tịch thu. Việt gian cộng sản cũng biết rằng người dân không tiền và cũng không rỗi rảnh để mua vé xem các chương trình đại nhạc hội thi đua hoa hậu, trình diễn áo dài. Bọn cộng sản cũng biết người dân cóc cần đến các lăng tẩm để thắp hương trước mộ một tội đồ dâm tặc bán nước và dòng họ của nó. Nhưng tại sao tập đoàn cộng sản lại bắt dân dốc túi và tiền của ra để xây dựng những cái tượng đài ‘ba láp’ và lăng tẩm ‘nâng bi đội đĩa’ rỗng ruột để làm gì ? Đó chẳng qua việt gian cộng sản dùng làm bình phong để phô trương và trục lợi.
Người dân đang ngay cần những chuyện tầm thường như, bắt cầu cho học sinh đến trường để chúng khỏi lội qua sông mỗi ngày vài ba bận. Người dân cần mỗi khi đau ốm được đến nhà thương chữa trị mà không phải qua thủ tục‘đầu tiên’ và bị nằm la liệt dưới sàn xi măng. Người dân đang cần xây cầu tiêu công cộng trong các thành phố, nhất là tại những khu du lịch để tránh bị bể bọng đái cho họ cũng như khách quốc tế. Vậy đối với các tượng đài lăng tẩm, nếu nói về trách nhiệm của nhà nước, thì chính là những xa xỉ phẩm rỗng ruột của một tập đoàn cai trị mà trên một nửa dân số thiếu ăn thiếu mặc và đang sống dưới mức nghèo khó từ trên 60 năm nay.
Tóm lại tại VN, từ tổ chức thượng tầng cơ sở như văn hóa, giáo dục, y tế, thương mãi, ngoại giao…xuống đến hạ tầng phục vụ đời sống người dân đều hoàn toàn rỗng ruột. Nhưng có một điều trái ngược, bao tử người nào dưới chế độ cộng sản cũng đầy ắp, vì :
dân đen thì ‘sình bụng’ với cháo-trắng-ngô-khoai, còn đảng đỏ thì ‘phát ách’ vì vàng-thoi-ngoại-tệ !
Đinh Lâm Thanh
Paris, 01.01.2012
2012,Đến Phiên Dân Việt?
Vi Anh
Quyền lợi quốc gia dân tộc Việt Nam của người dân Việt Nam bị một số Cộng sản Hà nội đang cầm quyền thông đồng với CS Bắc Kinh lén bán đất dâng biển cho Tàu Cộng, để “mãi quốc cầu vinh và cầu an”. Quyền lợi cá nhân và gia đình của người dân Việt Nam bị CS Hà nội cướp cạn hai lần, một cách trắng trợn. Quyền lợi tinh thần của người dân Việt, tự do tín ngưỡng, tự do, dân chủ, nhân quyền, bị CS Hà nội tước đọat quá lâu - ngoài Bắc hơn hai phần ba thế kỷ, trong Nam một phân ba thế kỷ . Người dân Việt hết chịu nổi, không còn sự chọn lựa nào khác, phải đứng lên vùng vẫy để sống còn. Cuộc cách mạng lật đổ CS Hà nội khi xảy ra là một cuộc nổ chụp. Nó sẽ mạnh mẽ,triệt để hơn các cuộc cách mạng chống độc tài ở Tunisia, Ai cập và Libya vì biếnđộng chánh trị này liên quan đến quyền lợi vật chất, tinh thần của cá nhân, giađình, xã hội của người dân Việt và của cả quốc gia dân tộc VN.
Thực vậy, CS Hà nội đi vào cửa tử khi hồ sơ bán đất dâng biển cho TC bị phanh phui. Đó là tử huyệt của CS VN. Hồ sơ bán nước đó là chất xúc tác làm cho các cuộc đấu tranh chống Cộng vì quyển lợi cá nhân tự do, dân chủ, dân quyền bị CS tước đọat. Và tài sản đất đai của người dân cá nhân cũng như pháp nhân tập thể bị CS tịch thu, trưng thu đến bù rẻ mạt như cướp giựt của dân.
Bao nỗi căm hờn tích lũy. Bao oan ức bất công chồng chất. Bao oan than giang sơn gấm vóc vị xâm lược. Tất cả sẽ kết tụ lại thành một thế lực tổng hợp. Chánh trị vừa có quyền lợi riêng vừa có quyền lợi chung là chánh trị tòan diện với sức mạnh tổng hợp.
Nguy cơ buộc người dân đứng lên lật đổ nhà cầm quyền độc tài CS ở Á châu cao hơn ở các nước Trung Đông và Bắc Phi.
Việc CS Hà nội thông đồng với CS Bắc Kinh bán nước dâng biển cho quân Tàu là tội tày trời, trời không dung, đất không tha, dân phải trị. Hội đủ yếu tố cấu thành tội bán nước, tiêu biểu nhứt, rõ rệt nhứt là công hàm bán nước của cựu Thủ Tướng CS Bắc Việt Phạm văn Đồng với sự đồng ý của Chủ Tịch Hồ chí Minh gởi cho TC, thừa nhận lãnh hải của TC bao hàm đảo Hòang sa. Hồ sơ này bị bể khi Quốc Hội TC đưa vào đó lấy đảo Hòang sa và một phần đảo Trường sa là Huyện Tam sa trước thuộc tỉnh Hải Nam trực thuộc lãnh thổ và chủ quyển của TC.
Hồsơ này chia rẽ Đảng CS, chia rẽ Đảng và Nhà Nước CS Hà nội. Nhiều người CS lão thành bất mãn phản đối. Cuộc đấu đá nội bộ giữa phe thân TC và phe thân Nga tái diễn. Thêm vào đó phe Nam thiên về Mỹ và chủ trương đổi mới kinh tế nhảy vào Đảng CS phân hóa hơn, “bằng mặt không bằng lòng” nhiều hơn.
Cuộcđấu đá nội bộ trong Đảng lôi cả ra quần chúng vì phe chống TC cần quần chúng. Thế là lòi ra vụ phe thân TC nhượng quyền khai thác bauxite ở Tây Nguyên làm đảo lộn lối sống hay văn hóa đồng bào Thượng, nguy hại cho an ninh quốc phòng VN. Và việc để cho công nhân TC ra vào VN không cần chiếu khán nhập cảnh tạo thành đội quân thứ năm như con ngựa thành Troie của TC. Rất nhiều ngư dân VN bị TC bắn giết, bắt bớ, đòi tiền chuộc, lời kêu là nghe đứt ruột mà CS Hà nội không có phản ứng cần thiết, bất động không có hành động bảo quốc an dân. Thái độ hành động và nhu nhược của CS Hà nội ngày càng hèn với TC mà ác với dân VN. Người dân nào lên tiếng đụng tới TC, là bị CS Hà nội triệt. Trong khi đó lãnh tụ Đảng CSVN tò tò theo bám đít Tàu Cộng.
CS Hà nội còn coi thường người dân Việt, xúc phạm người dân Việt tận cùng cây số khi muốn biến VN thành một phần lãnh thổ của TC. CS Hà nội dùng cờ TC thêm một sao khi truyền hình quốc gia VTV tường trình chuyến đi của Tổng Bí Thư CSVN đi triều kiến Thiên Triều và chào đón Phó Chủ Tịch Nước TC ngay tại Hà nội với cờ TC thêm một sao.
Tội mãi quốc cầu vinh của CS trở nên trường hợp đại gia trọng khi CS Hà nội liên tụcđã cướp quyền lợi, tài sản cá nhân và gia đình của người dân - CS cướp ban ngày. Thời cộng sản kinh tế chỉ huy, CS khi đưa ra chủ thuyết và chánh sách đấtđai thuộc quyền sở hữu của tòan dân do nhà nước quản lý mà đảng CS là đội tiên phong lãnh đạo, tức là sếp sòng làm chủcao nhứt, làm chủ tất cả. Người dân chỉ có quyền sử dụng thôi.
Thời CS chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tư nhân đóng vai trò quan trọng nhờ vậy kinh tế có tăng gia. Nhưng CS vẫn bám lấy quyền sở hữu đất đai như đỉa đói. Kinh tế tăng gia, dân số đông lên, đất đai trở nên quý hiếm. CS cướp đất đai của dân qua chính sách trưng dụng, bồi thường trả rẻ mạt, cán bộ đảng viên làm tròng tréo lấy đất đó làm của riêng đem bán lại hay làm vốn hùn với những nhà đầu tư ngọai quốc, giá cao có khi 50 lần hơn.
Bài tóan quyền sở hữu đất đai là bài tóan không có đáp số đối với Đảng CS cũng nhưbài tóan chánh trị. Kinh tế chánh trị là môi với răng. Nhưng CS chỉ mở cho tưnhân vào kinh tế chớ không mở chính trị. CS cứ để cái đuôi lòng thòng theo định hướng xã hội chủ nghĩa để lý do độc tài đảng trị tòan diện.
Bài tóan đất đai cũng thế. Ngay khi trung ương trao quyền sở hữu đất đai cho nhân dân, các “cấp ủy” đảng ở địa phương cũng làm cho “lịnh” thành “lạc” vì đó là quyền lợi, miếng ăn của họ ở địa phương. “Trên ăn” nhờ mở cửa cho đầu tư ngọai quốc vào, thì dưới cũng phải ăn qua việc dùng thủ tục qui họach, trưng dụng quyền sữ dụng đất của dân để lấy đất của dân, trả tượng trưng, rẻ mạt đểbán hay hùn với các nhà đầu tư mắc hơn 50 lần dể làm giáu chớ.
Theo ghi nhận của Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội của TC, ở bên TC trong 20 năm gần đây, khoảng 6,7 triệu mẫu ruộng đất bị trưng thu. Do sự chênh lệch giữa giá thị trường và giá đền bù, người dân bị lỗ 1000 tỷ nhân dân tệ (160 tỷ đôla). Có khỏang 50 triệu nông dân đã mất trắng đất cày và trong 20 năm tới, đạo binh «người cày không ruộng» tăng thêm 67 triệu nữa. 67% những vụ nổi dậy, điều mà CS dị ứng và nhậy cảm, sợ không nói ra đúng tên, như sĩ tử ngày xưa sợ phạm húy nên TC gọi là “sự cố tập thể”, và Việt Cộng gọi là “tụtập đông người” - là bắt nguồn từ trưng thu đất đai. Theo giáo sư Tôn Lập Bình, đại học Thanh Hoa, trong năm 2010, mỗi ngày xảy ra ít nhất 500 «sự cố tập thể».
Cònở VN, chưa có con số nhưng phong trào dân oan bị CS cướp đất đai đã lan tràn từBắc chí Nam, lên cao nguyên, từ lương lẫn giáo. Vấn đề đất đai ở VNCS trầm trọng hơn bên Tàu vì hầu hết các tôn giáo là nạn nhân bị CS tước đọat đất đai. Phật Giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao đài , Hòa Hảo, đạo nào cũng bị CS tịch thu, trưng dụng, muợn xài không trả ít hay nhiều.
So với người dân Tunisia, Ai cập, Libya đã hòan thành cuộc nổi dậy lật đổ độc tài, nạn độc tài quân phiệt, gia đình trị ở ba xứ này không nghiệt ngã và triệt đểnhư ở hai chế độ CS Trung Quốc và CSVN.
So tinh thần đấu tranh, bất khuất thì người dân Việt không thua những dân tộc vừa kể. Người Việt chống quân Tàu suốt 1000 năm bị trị, qua ba thời kỳ Bắc Thuộc mà vẫn khôi phục được chủ quyền quốc gia dân tộc. Gần hai phần ba thế kỷ bị CS Hà nội thống trị, người Việt đã thấy rõ CS Hà nội đối với quân Tàu là một thứ Lê chiêu Thống mãi quốc cầu vinh, ruớc voi về giày mả tổ,một thư thái thú của quân Tàu, một thứ tự thực dân đối với người Việt - không hơn không kém.
Đất nước còn là còn tất cả. Đất nước mất là mất tất cả. Người dân Việt quyền lợi tinh thần và vật chất đều bị CS cướp đọat. Chỉ còn có cách vùng lên, nổi dậy để sống thôi.
Vi Anh
Quyền lợi quốc gia dân tộc Việt Nam của người dân Việt Nam bị một số Cộng sản Hà nội đang cầm quyền thông đồng với CS Bắc Kinh lén bán đất dâng biển cho Tàu Cộng, để “mãi quốc cầu vinh và cầu an”. Quyền lợi cá nhân và gia đình của người dân Việt Nam bị CS Hà nội cướp cạn hai lần, một cách trắng trợn. Quyền lợi tinh thần của người dân Việt, tự do tín ngưỡng, tự do, dân chủ, nhân quyền, bị CS Hà nội tước đọat quá lâu - ngoài Bắc hơn hai phần ba thế kỷ, trong Nam một phân ba thế kỷ . Người dân Việt hết chịu nổi, không còn sự chọn lựa nào khác, phải đứng lên vùng vẫy để sống còn. Cuộc cách mạng lật đổ CS Hà nội khi xảy ra là một cuộc nổ chụp. Nó sẽ mạnh mẽ,triệt để hơn các cuộc cách mạng chống độc tài ở Tunisia, Ai cập và Libya vì biếnđộng chánh trị này liên quan đến quyền lợi vật chất, tinh thần của cá nhân, giađình, xã hội của người dân Việt và của cả quốc gia dân tộc VN.
Thực vậy, CS Hà nội đi vào cửa tử khi hồ sơ bán đất dâng biển cho TC bị phanh phui. Đó là tử huyệt của CS VN. Hồ sơ bán nước đó là chất xúc tác làm cho các cuộc đấu tranh chống Cộng vì quyển lợi cá nhân tự do, dân chủ, dân quyền bị CS tước đọat. Và tài sản đất đai của người dân cá nhân cũng như pháp nhân tập thể bị CS tịch thu, trưng thu đến bù rẻ mạt như cướp giựt của dân.
Bao nỗi căm hờn tích lũy. Bao oan ức bất công chồng chất. Bao oan than giang sơn gấm vóc vị xâm lược. Tất cả sẽ kết tụ lại thành một thế lực tổng hợp. Chánh trị vừa có quyền lợi riêng vừa có quyền lợi chung là chánh trị tòan diện với sức mạnh tổng hợp.
Nguy cơ buộc người dân đứng lên lật đổ nhà cầm quyền độc tài CS ở Á châu cao hơn ở các nước Trung Đông và Bắc Phi.
Việc CS Hà nội thông đồng với CS Bắc Kinh bán nước dâng biển cho quân Tàu là tội tày trời, trời không dung, đất không tha, dân phải trị. Hội đủ yếu tố cấu thành tội bán nước, tiêu biểu nhứt, rõ rệt nhứt là công hàm bán nước của cựu Thủ Tướng CS Bắc Việt Phạm văn Đồng với sự đồng ý của Chủ Tịch Hồ chí Minh gởi cho TC, thừa nhận lãnh hải của TC bao hàm đảo Hòang sa. Hồ sơ này bị bể khi Quốc Hội TC đưa vào đó lấy đảo Hòang sa và một phần đảo Trường sa là Huyện Tam sa trước thuộc tỉnh Hải Nam trực thuộc lãnh thổ và chủ quyển của TC.
Hồsơ này chia rẽ Đảng CS, chia rẽ Đảng và Nhà Nước CS Hà nội. Nhiều người CS lão thành bất mãn phản đối. Cuộc đấu đá nội bộ giữa phe thân TC và phe thân Nga tái diễn. Thêm vào đó phe Nam thiên về Mỹ và chủ trương đổi mới kinh tế nhảy vào Đảng CS phân hóa hơn, “bằng mặt không bằng lòng” nhiều hơn.
Cuộcđấu đá nội bộ trong Đảng lôi cả ra quần chúng vì phe chống TC cần quần chúng. Thế là lòi ra vụ phe thân TC nhượng quyền khai thác bauxite ở Tây Nguyên làm đảo lộn lối sống hay văn hóa đồng bào Thượng, nguy hại cho an ninh quốc phòng VN. Và việc để cho công nhân TC ra vào VN không cần chiếu khán nhập cảnh tạo thành đội quân thứ năm như con ngựa thành Troie của TC. Rất nhiều ngư dân VN bị TC bắn giết, bắt bớ, đòi tiền chuộc, lời kêu là nghe đứt ruột mà CS Hà nội không có phản ứng cần thiết, bất động không có hành động bảo quốc an dân. Thái độ hành động và nhu nhược của CS Hà nội ngày càng hèn với TC mà ác với dân VN. Người dân nào lên tiếng đụng tới TC, là bị CS Hà nội triệt. Trong khi đó lãnh tụ Đảng CSVN tò tò theo bám đít Tàu Cộng.
CS Hà nội còn coi thường người dân Việt, xúc phạm người dân Việt tận cùng cây số khi muốn biến VN thành một phần lãnh thổ của TC. CS Hà nội dùng cờ TC thêm một sao khi truyền hình quốc gia VTV tường trình chuyến đi của Tổng Bí Thư CSVN đi triều kiến Thiên Triều và chào đón Phó Chủ Tịch Nước TC ngay tại Hà nội với cờ TC thêm một sao.
Tội mãi quốc cầu vinh của CS trở nên trường hợp đại gia trọng khi CS Hà nội liên tụcđã cướp quyền lợi, tài sản cá nhân và gia đình của người dân - CS cướp ban ngày. Thời cộng sản kinh tế chỉ huy, CS khi đưa ra chủ thuyết và chánh sách đấtđai thuộc quyền sở hữu của tòan dân do nhà nước quản lý mà đảng CS là đội tiên phong lãnh đạo, tức là sếp sòng làm chủcao nhứt, làm chủ tất cả. Người dân chỉ có quyền sử dụng thôi.
Thời CS chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tư nhân đóng vai trò quan trọng nhờ vậy kinh tế có tăng gia. Nhưng CS vẫn bám lấy quyền sở hữu đất đai như đỉa đói. Kinh tế tăng gia, dân số đông lên, đất đai trở nên quý hiếm. CS cướp đất đai của dân qua chính sách trưng dụng, bồi thường trả rẻ mạt, cán bộ đảng viên làm tròng tréo lấy đất đó làm của riêng đem bán lại hay làm vốn hùn với những nhà đầu tư ngọai quốc, giá cao có khi 50 lần hơn.
Bài tóan quyền sở hữu đất đai là bài tóan không có đáp số đối với Đảng CS cũng nhưbài tóan chánh trị. Kinh tế chánh trị là môi với răng. Nhưng CS chỉ mở cho tưnhân vào kinh tế chớ không mở chính trị. CS cứ để cái đuôi lòng thòng theo định hướng xã hội chủ nghĩa để lý do độc tài đảng trị tòan diện.
Bài tóan đất đai cũng thế. Ngay khi trung ương trao quyền sở hữu đất đai cho nhân dân, các “cấp ủy” đảng ở địa phương cũng làm cho “lịnh” thành “lạc” vì đó là quyền lợi, miếng ăn của họ ở địa phương. “Trên ăn” nhờ mở cửa cho đầu tư ngọai quốc vào, thì dưới cũng phải ăn qua việc dùng thủ tục qui họach, trưng dụng quyền sữ dụng đất của dân để lấy đất của dân, trả tượng trưng, rẻ mạt đểbán hay hùn với các nhà đầu tư mắc hơn 50 lần dể làm giáu chớ.
Theo ghi nhận của Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội của TC, ở bên TC trong 20 năm gần đây, khoảng 6,7 triệu mẫu ruộng đất bị trưng thu. Do sự chênh lệch giữa giá thị trường và giá đền bù, người dân bị lỗ 1000 tỷ nhân dân tệ (160 tỷ đôla). Có khỏang 50 triệu nông dân đã mất trắng đất cày và trong 20 năm tới, đạo binh «người cày không ruộng» tăng thêm 67 triệu nữa. 67% những vụ nổi dậy, điều mà CS dị ứng và nhậy cảm, sợ không nói ra đúng tên, như sĩ tử ngày xưa sợ phạm húy nên TC gọi là “sự cố tập thể”, và Việt Cộng gọi là “tụtập đông người” - là bắt nguồn từ trưng thu đất đai. Theo giáo sư Tôn Lập Bình, đại học Thanh Hoa, trong năm 2010, mỗi ngày xảy ra ít nhất 500 «sự cố tập thể».
Cònở VN, chưa có con số nhưng phong trào dân oan bị CS cướp đất đai đã lan tràn từBắc chí Nam, lên cao nguyên, từ lương lẫn giáo. Vấn đề đất đai ở VNCS trầm trọng hơn bên Tàu vì hầu hết các tôn giáo là nạn nhân bị CS tước đọat đất đai. Phật Giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao đài , Hòa Hảo, đạo nào cũng bị CS tịch thu, trưng dụng, muợn xài không trả ít hay nhiều.
So với người dân Tunisia, Ai cập, Libya đã hòan thành cuộc nổi dậy lật đổ độc tài, nạn độc tài quân phiệt, gia đình trị ở ba xứ này không nghiệt ngã và triệt đểnhư ở hai chế độ CS Trung Quốc và CSVN.
So tinh thần đấu tranh, bất khuất thì người dân Việt không thua những dân tộc vừa kể. Người Việt chống quân Tàu suốt 1000 năm bị trị, qua ba thời kỳ Bắc Thuộc mà vẫn khôi phục được chủ quyền quốc gia dân tộc. Gần hai phần ba thế kỷ bị CS Hà nội thống trị, người Việt đã thấy rõ CS Hà nội đối với quân Tàu là một thứ Lê chiêu Thống mãi quốc cầu vinh, ruớc voi về giày mả tổ,một thư thái thú của quân Tàu, một thứ tự thực dân đối với người Việt - không hơn không kém.
Đất nước còn là còn tất cả. Đất nước mất là mất tất cả. Người dân Việt quyền lợi tinh thần và vật chất đều bị CS cướp đọat. Chỉ còn có cách vùng lên, nổi dậy để sống thôi.
Báo động từ bên trong: đảng lâm nguy!
Bùi Tín viết riêng cho VOA Nguy cơ gì vậy? Xin thưa: nguy cơ chế độ bị tan vỡ, đảng cộng sản bị mất quyền lãnh đạo.
Ai thổi còi báo động vậy? Xin thưa: Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong cuộc họp lần thứ tư khóa XI, tại Hà Nội, những ngày cuối năm 2011.
Vì sao vậy? Vì tình hình suy thoái đạo đức trong đảng đã sâu rộng đến mức cực kỳ nghiêm trọng, dẫn đến tình hình đạo đức xã hội cũng sa sút theo đến mức băng hoại chưa từng có.
Trong đảng thì dột từ nóc dột xuống. Tham nhũng cũng do đảng làm gương xấu, quan chức trên cao làm gương cho cấp dưới. Mức độ tham nhũng cá nhân thì lên đến hàng tỷ, hàng chục tỷ đồng, Làm hại công quỹ do tham ô tập thể thì lên đến hàng trăm tỷ, hàng nghìn tỷ đồng.
Chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã báo động trong cuộc họp rằng: chỉnh đốn đảng đang là điều kiện quyết định sự tồn vong của chế độ.
Bức tranh toàn cảnh tham nhũng và tình trạng chênh lệch giàu nghèo đang thách thức lương tri mọi người dân lương thiện.
Nhà xã hội học Tương Lai và giáo sư Chu Hảo cảnh báo nghiêm khắc Bộ Chính trị và chính phủ là nếu chỉ dám nếu lên vấn đề mà không thật sự dám xắn tay áo giải quyết đến nơi đến chốn thì sẽ là tai họa cho chế độ và cho đảng cầm quyền.
Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh và tướng Công an đã về hưu Khổng Minh Dụ cũng nêu lên những vụ án kinh tế kinh hoàng, các đại doanh nghiệp Nhà nước như các tập đoàn đóng tàu Vinashin, dầu Pétrolimex, điện EVN, hàng không VN Airline…đã đốt của, làm tiêu tan hàng tỷ, tỷ đô la như đốt giấy vàng mã ra sao, quan chức các cấp bệ rạc khắp nơi thì làm sao mà xã hội không bần cùng, lạm phát không phi mã, nhân dân không phẫn nộ được.
Thế rồi ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lên giọng cam kết: sẽ quyết tâm cao, sẽ phê bình và tự phê bình nghiêm, từ Bộ Chính trị, Ban bí thư sẽ gương mẫu, vì sự sống còn của đảng.
Như để minh họa cho tình hình cực kỳ nghiêm trọng, tin được phổ biến và bàn tán rộng: 2 viên chức đảng viên ở Sóc Trăng đánh cờ tướng cá cựợc nhau mỗi ván đến 1 tỷ đồng, được thua lên đến 22 tỷ, rồi đe doạ, xiết nợ, thuê bọn du côn xã hội đen ra tay… là một dẫn chứng cho tình hình đồi bại đến đâu. Viên chức ở cấp tỉnh lẻ mà ở đâu ra lắm tiền, thừa thãi tiền đến thế?
Thế rồi từ Úc, từ Nhật Bản, Hoa Kỳ, từ Anh quốc báo chí thế giới cảnh báo về việc chính phủ Hà Nội không chịu hợp tác tham gia phối hợp phá các vụ án lớn PMU 18, Securency, Nexus Technologies, vụ nợ lớn của tập đoàn Vinashin cùng 20 công ty phụ thuộc, trưng ra bộ mặt đã xấu còn trơ lỳ để bênh che cho các quan chức đồi bại và các doanh nghiệp Nhà nước bế bối đã hiển nhiên.
Nội dung cuộc họp Trung ương lần này cho thấy nguy cơ thực sự đe dọa sự tồn vong của đảng không phải từ xa, từ bên ngoài, từ “bọn đế quốc” hay “bọn phản động và tay sai”, mà hiển nhiên từ trong nội bộ đảng cầm quyền, từ những viên chức biến chất ở khắp nơi, đục khoét công quỹ, ăn chơi đàng điếm, cờ bạc rượu chè, đàn áp dân yêu nước, những bầy sâu cần loại bỏ, theo cách nói của ông Trương Tấn Sang.
Đứng ngoài, ông cựu Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cũng ngứa ngáy vào cuộc, cũng nêu rõ tình hình suy thoái, xuống cấp về đạo đức trong đảng là cực kỳ nghiêm trọng, ông còn góp ý là mở cuộc đấu tranh cho quyết liệt, tuyên chiến với tội tham nhũng như với kẻ thù nguy hiểm nhất, với tinh thần ra trận, tổng công kích.
Vậy ông Phiêu có thể cho biết tiền đâu mà ông xây biệt thự 5 tầng? và cặp ngà voi cũng như chiếc trống đồng được coi là tài sản lịch sử của quốc gia ông đặt giữa nhà riêng là từ đâu mà có? Ông có thể vui lòng làm gương trong cuộc tổng công kích - tự phê bình, công khai hóa tài sản riêng của mình hay không?
Đầu năm, nghe những lời hứa hẹn, hô hào, cam kết của các vị Trung ương đảng qua cuộc họp lần thứ tư khóa XI, nào là quyết tâm cao, nào là đây là việc phải làm ngay, ngăn chặn nguy cơ đảng tan rã, chế độ đang lâm nguy vì đảng suy thoái, phải hành động cấp bách…mà sao vẫn còn tồn tại nhiều nỗi niềm.
Chẳng lẽ họ nói mạnh, nói rõ, kêu đúng bệnh, biết rõ bệnh hiểm nghèo, bệnh chết người, chết đảng, chết chế độ đến thế mà rồi vẫn chỉ là trên giấy, trên miệng lưỡi hay sao?
Bùi Tín viết riêng cho VOA Nguy cơ gì vậy? Xin thưa: nguy cơ chế độ bị tan vỡ, đảng cộng sản bị mất quyền lãnh đạo.
Ai thổi còi báo động vậy? Xin thưa: Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong cuộc họp lần thứ tư khóa XI, tại Hà Nội, những ngày cuối năm 2011.
Vì sao vậy? Vì tình hình suy thoái đạo đức trong đảng đã sâu rộng đến mức cực kỳ nghiêm trọng, dẫn đến tình hình đạo đức xã hội cũng sa sút theo đến mức băng hoại chưa từng có.
Trong đảng thì dột từ nóc dột xuống. Tham nhũng cũng do đảng làm gương xấu, quan chức trên cao làm gương cho cấp dưới. Mức độ tham nhũng cá nhân thì lên đến hàng tỷ, hàng chục tỷ đồng, Làm hại công quỹ do tham ô tập thể thì lên đến hàng trăm tỷ, hàng nghìn tỷ đồng.
Chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã báo động trong cuộc họp rằng: chỉnh đốn đảng đang là điều kiện quyết định sự tồn vong của chế độ.
Bức tranh toàn cảnh tham nhũng và tình trạng chênh lệch giàu nghèo đang thách thức lương tri mọi người dân lương thiện.
Nhà xã hội học Tương Lai và giáo sư Chu Hảo cảnh báo nghiêm khắc Bộ Chính trị và chính phủ là nếu chỉ dám nếu lên vấn đề mà không thật sự dám xắn tay áo giải quyết đến nơi đến chốn thì sẽ là tai họa cho chế độ và cho đảng cầm quyền.
Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh và tướng Công an đã về hưu Khổng Minh Dụ cũng nêu lên những vụ án kinh tế kinh hoàng, các đại doanh nghiệp Nhà nước như các tập đoàn đóng tàu Vinashin, dầu Pétrolimex, điện EVN, hàng không VN Airline…đã đốt của, làm tiêu tan hàng tỷ, tỷ đô la như đốt giấy vàng mã ra sao, quan chức các cấp bệ rạc khắp nơi thì làm sao mà xã hội không bần cùng, lạm phát không phi mã, nhân dân không phẫn nộ được.
Thế rồi ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lên giọng cam kết: sẽ quyết tâm cao, sẽ phê bình và tự phê bình nghiêm, từ Bộ Chính trị, Ban bí thư sẽ gương mẫu, vì sự sống còn của đảng.
Như để minh họa cho tình hình cực kỳ nghiêm trọng, tin được phổ biến và bàn tán rộng: 2 viên chức đảng viên ở Sóc Trăng đánh cờ tướng cá cựợc nhau mỗi ván đến 1 tỷ đồng, được thua lên đến 22 tỷ, rồi đe doạ, xiết nợ, thuê bọn du côn xã hội đen ra tay… là một dẫn chứng cho tình hình đồi bại đến đâu. Viên chức ở cấp tỉnh lẻ mà ở đâu ra lắm tiền, thừa thãi tiền đến thế?
Thế rồi từ Úc, từ Nhật Bản, Hoa Kỳ, từ Anh quốc báo chí thế giới cảnh báo về việc chính phủ Hà Nội không chịu hợp tác tham gia phối hợp phá các vụ án lớn PMU 18, Securency, Nexus Technologies, vụ nợ lớn của tập đoàn Vinashin cùng 20 công ty phụ thuộc, trưng ra bộ mặt đã xấu còn trơ lỳ để bênh che cho các quan chức đồi bại và các doanh nghiệp Nhà nước bế bối đã hiển nhiên.
Nội dung cuộc họp Trung ương lần này cho thấy nguy cơ thực sự đe dọa sự tồn vong của đảng không phải từ xa, từ bên ngoài, từ “bọn đế quốc” hay “bọn phản động và tay sai”, mà hiển nhiên từ trong nội bộ đảng cầm quyền, từ những viên chức biến chất ở khắp nơi, đục khoét công quỹ, ăn chơi đàng điếm, cờ bạc rượu chè, đàn áp dân yêu nước, những bầy sâu cần loại bỏ, theo cách nói của ông Trương Tấn Sang.
Đứng ngoài, ông cựu Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cũng ngứa ngáy vào cuộc, cũng nêu rõ tình hình suy thoái, xuống cấp về đạo đức trong đảng là cực kỳ nghiêm trọng, ông còn góp ý là mở cuộc đấu tranh cho quyết liệt, tuyên chiến với tội tham nhũng như với kẻ thù nguy hiểm nhất, với tinh thần ra trận, tổng công kích.
Vậy ông Phiêu có thể cho biết tiền đâu mà ông xây biệt thự 5 tầng? và cặp ngà voi cũng như chiếc trống đồng được coi là tài sản lịch sử của quốc gia ông đặt giữa nhà riêng là từ đâu mà có? Ông có thể vui lòng làm gương trong cuộc tổng công kích - tự phê bình, công khai hóa tài sản riêng của mình hay không?
Đầu năm, nghe những lời hứa hẹn, hô hào, cam kết của các vị Trung ương đảng qua cuộc họp lần thứ tư khóa XI, nào là quyết tâm cao, nào là đây là việc phải làm ngay, ngăn chặn nguy cơ đảng tan rã, chế độ đang lâm nguy vì đảng suy thoái, phải hành động cấp bách…mà sao vẫn còn tồn tại nhiều nỗi niềm.
Chẳng lẽ họ nói mạnh, nói rõ, kêu đúng bệnh, biết rõ bệnh hiểm nghèo, bệnh chết người, chết đảng, chết chế độ đến thế mà rồi vẫn chỉ là trên giấy, trên miệng lưỡi hay sao?
QUA LỜI KÊU GỌI CỦA NGUYỄN PHÚ TRỌNG
BÁO HIỆU VIỆTCỘNG TRONG CƠN HẤP HỐI
Lý Đại Nguyên
Dư luận trong, ngoài nước và cả quốc tế hết sức sửng sốt về lời tuyên bố của Nguyễn Phú Trọng ở lễ khai mạc của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IV tại Hànội ngày 26/12/2011, ông ta đã cho rằng: “Xây dựng và chỉnh đốn Đảng nếu không muốn bị sụp đổ”. Bài phát biểu khai mạc của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm hội nghị nóng lên bởi tính chất quan trọng của nó. Nguyễn Phú Trọng thẳng thắn cho rằng: “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc phức tạp, nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ”. Sự thật là thế, nhưng từ xưa tới nay, người ta thường chỉ nghe thấy những lời tuyên truyền khoe khoang lừa mị của các lãnh tụ đảng ở những đại hội lớn nhỏ, chứ chưa thấy từ miệng một ông lãnh tụ nào dám nhìn thẳng vào thực chất của vấn đề.
Nói đến ‘xây dựng, chỉnh đốn Đảng” với Việtcộng là điều vô phương cứu chữa. Vì cái đảng được xây dựng bằng tư tưởng thù hận để dẫn tới đấu tranh cách mạng cướp chính quyền. Đến khi có chính quyền thì thiết lập chế độ Độc Đảng, Độc Tài, Toàn Trị. Biến Dân thành đối tượng khủng bố, bóc lột của đảng. Khiến dân trở thành kẻ thù của chế độ. Biến đảng viên thành tầng lớp vua, quan thống trị cực quyền. Khi lý tưởng cộng sản đã bị nhân loại liệng vào thùng rác lịch sử, thì Việtcộng phải tự cứu bằng cách chạy theo áp dụng đường lối phát triển tư bản. Buộc đảng phải cho đảng viên dựa vào quyền lực để làm giầu. Biến đảng viên thành thứ “Tư Bản Đỏ”. Cộngđảng thành hệ thống “Mafia Phong Kiến”. Tức là vừa làm ăn bất chính có võ trang, vừa có quyền hành chính trị “cha truyền, con nối”. Nhà nước do đảng độc quyền lãnh đạo, đương nhiên phải tạo ra một hệ thống luật pháp để đáp ứng với nhu cầu độc quyền của mình, nhằm làm giầu của đảng và tham nhũng của đảng viên. Chỉ có như vậy mới giữ nổi đảng viên, mới bảo vệ, và phát triển được đảng quyền và chế độ.
Theo giáo sư Tương Lai, nguyên viện trưởng Viện Khoa Học Xã Hội cho ý kiến với biên tập viên Mạc Lâm, đài RFA về lời kêu gọi của Nguyễn Phú Trọng như sau: “Với tư cách là đảng viên hơn 50 năm tuổi đảng rồi, tôi rất mừng nếu ông tổng bí thư nhận ra được điều đó. Vấn đề đặt ra là tìm giải pháp nào để chỉnh đốn đảng. Nếu tự phê bình, tự chỉnh đốn mình thì tôi không tin lắm, việc tự phê bình đó, nếu không có một cơ chế vận hành để hỗ trợ và làm áp lực. Nếu anh không tự chỉnh đốn thì anh bị gạt đi. Tạo ra một cơ chế ấy thì mới chỉnh đốn đảng được. Nếu như chỉ kêu gọi hãy thế này, hãy thế nọ thì tôi cho rất vô duyên”. Ông nhấn mạnh: “Một trong những nguyên nhân rất cơ bản làm cho đảng càng ngày càng mất uy tín trong dân chúng, là việc các vị nắm quyền trong tay, quyền hành rất lớn để mà tham nhũng”. Gs Tương Lai đặt thẳng vào vấn đề thực thi Dân Chủ, mà Nguyễn Phú Trọng không hề dám nhắc tới. Theo ông: “Giải pháp đó là phải thật sự mở rộng dân chủ. Tạo nên một cơ chế phê bình mạnh mẽ. Đối thoại mạnh mẽ. Tranh luận mạnh mẽ. Phản biện mạnh mẽ, không chỉ riêng trong đảng, mà còn trong xã hội nữa. Phải dùng áp lực của xã hội tác động vào đảng, để đảng tự chuyển biến”. Nói như vậy có nghĩa là phải có Tự Do Ngôn Luận. Tự Do Chính Đảng. Tự Do Tôn Giáo. Tự Do Nghiệp Đoàn. Bốn điểm đại kỵ đối với Việtcộng.
Chính vì không dám thực hiện dân chủ hóa chế độ với toàn dân, nên trong bài phát biểu bế mạc đại hội hôm 31/12/2011, Nguyển Phú Trọng cho biết: “Hội nghị đã có gần 400 lượt ý kiến phát biểu. Hội nghị đã thảo luận và quyết định ban hành Nghị Quyết để lãnh đạo, chỉ đạo kết cấu hạ tầng từ nay đến năm 2020. Các đại biểu cũng thống nhất cao về sự cần thiết phải ban hành Nghị Quyết của Trung Ương về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng đảng hiện nay” với 3 nội dung trọng yếu: 1- Ngăn chặn, đẩy lui tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của các bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, nhất là các bộ lãnh đạo quản lý các cấp. 2- Xây dựng đội ngũ lãnh đạo quản lý, nhất là ở cấp trung ương, đấp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. 3- Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Ba nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cũng là cấp bách nhất”.
Với gần 400 lượt ý kiến phát biểu, chẳng biết có ý kiến nào giống với ý kiến của Gs Tương Lai hay không? Nhưng với 3 nội dung của Quyết Nghị, thì cái Trung Ương Đảng cường quyền tham nhũng này, chỉ làm việc lấy lệ, làm việc cho có. Chứ bảo “ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viện, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp” và ông Trọng còn đòi: “Sự gương mẫu của Trung Ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Từng đồng chí Ủy Viên Trung Ương Đảng. Ủy viên Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư tự giác, gương mẫu làm trước, tự phê bình, kiểm điểm, nhìn lại mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì xấu thì tự gột rửa; tránh xa mọi cám dỗ về danh lợi. Nêu gương những người tốt, việc tốt, ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích ỷ, vụ lợi, đẩy lùi một bước quan trọng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, tham nhũng lãng phí”. Đây đúng là sự đòi hỏi không tưởng, của một kẻ không tự nhìn lại bản chất của mình và đồng đảng của mình. Hoặc là đã tự cảm nhận được tương lai đen tối của mình và của đảng sắp tới gần, nên nói sảng.
Theo giáo sư Chu Hạo : “Nếu như đảng không gương mẩu trong chuyện thượng tôn pháp luật thì cái niềm tin ấy không còn. Nếu niềm tin trong lòng dân không còn thì tính chính đáng của sự lãnh đạo của đảng không còn nữa”. “Người dân mọi thành phần vẫn ước ao được sống trong một xã hội bình đẳng và thượng tôn luật pháp trước khi nói tới những thành tựu có tính tuyên truyền hơn là mơ ước thực sự của họ. Nếu đảng Cộngsản Việtnam thật sự muốn chỉnh đốn để tiếp tục lãnh đạo đất nước thì con đường duy nhất là đảng phải xem luật pháp cao hơn Đảng”. Nhưng xin hỏi thực, thứ luật pháp đó là thứ luật pháp nào?. Luật pháp do cộng đảng làm ra và đang được thi hành tại Việtnam là loại Luật Tùy Tiện Phi Pháp. Nó là thứ “Luật Pháp Hóa” những hành vi trấn áp toàn dân, vi phạm nhân quyền. Làm phương tiện để cho tham nhũng tồn tại và phát triển. Vậy bảo Đảng phải đứng dưới luật pháp do chính đảng cộng sản tạo ra, nhằm làm công cụ khống chế toàn dân, độc quyền lãnh đạo nhà nước, toàn quyền tham nhũng, qua các công ty quốc doanh. Nếu vậy thì cũng như không! Còn bắt Cộng đảng phải tuân hành theo Luật Dân Chủ Trọng Pháp, đúng với nhu cầu toàn dân, thì ở Việtnam chưa có. Nếu có thì lập tức Đảng và chế độ độc tài Việtcộng phải ra đi. Đây mới chính là mối lo của Nguyễn Phú Trọng. Nhưng đó là lẽ tất yếu của lịch sử nhân loại và cũng là cuộc vận động lịch sử của dân tộc Việtnam sẽ phải đến.
LÝ ĐẠI NGUYÊN
Little Saigon ngày 03/01/2012.
BÁO HIỆU VIỆTCỘNG TRONG CƠN HẤP HỐI
Lý Đại Nguyên
Dư luận trong, ngoài nước và cả quốc tế hết sức sửng sốt về lời tuyên bố của Nguyễn Phú Trọng ở lễ khai mạc của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IV tại Hànội ngày 26/12/2011, ông ta đã cho rằng: “Xây dựng và chỉnh đốn Đảng nếu không muốn bị sụp đổ”. Bài phát biểu khai mạc của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm hội nghị nóng lên bởi tính chất quan trọng của nó. Nguyễn Phú Trọng thẳng thắn cho rằng: “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc phức tạp, nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ”. Sự thật là thế, nhưng từ xưa tới nay, người ta thường chỉ nghe thấy những lời tuyên truyền khoe khoang lừa mị của các lãnh tụ đảng ở những đại hội lớn nhỏ, chứ chưa thấy từ miệng một ông lãnh tụ nào dám nhìn thẳng vào thực chất của vấn đề.
Nói đến ‘xây dựng, chỉnh đốn Đảng” với Việtcộng là điều vô phương cứu chữa. Vì cái đảng được xây dựng bằng tư tưởng thù hận để dẫn tới đấu tranh cách mạng cướp chính quyền. Đến khi có chính quyền thì thiết lập chế độ Độc Đảng, Độc Tài, Toàn Trị. Biến Dân thành đối tượng khủng bố, bóc lột của đảng. Khiến dân trở thành kẻ thù của chế độ. Biến đảng viên thành tầng lớp vua, quan thống trị cực quyền. Khi lý tưởng cộng sản đã bị nhân loại liệng vào thùng rác lịch sử, thì Việtcộng phải tự cứu bằng cách chạy theo áp dụng đường lối phát triển tư bản. Buộc đảng phải cho đảng viên dựa vào quyền lực để làm giầu. Biến đảng viên thành thứ “Tư Bản Đỏ”. Cộngđảng thành hệ thống “Mafia Phong Kiến”. Tức là vừa làm ăn bất chính có võ trang, vừa có quyền hành chính trị “cha truyền, con nối”. Nhà nước do đảng độc quyền lãnh đạo, đương nhiên phải tạo ra một hệ thống luật pháp để đáp ứng với nhu cầu độc quyền của mình, nhằm làm giầu của đảng và tham nhũng của đảng viên. Chỉ có như vậy mới giữ nổi đảng viên, mới bảo vệ, và phát triển được đảng quyền và chế độ.
Theo giáo sư Tương Lai, nguyên viện trưởng Viện Khoa Học Xã Hội cho ý kiến với biên tập viên Mạc Lâm, đài RFA về lời kêu gọi của Nguyễn Phú Trọng như sau: “Với tư cách là đảng viên hơn 50 năm tuổi đảng rồi, tôi rất mừng nếu ông tổng bí thư nhận ra được điều đó. Vấn đề đặt ra là tìm giải pháp nào để chỉnh đốn đảng. Nếu tự phê bình, tự chỉnh đốn mình thì tôi không tin lắm, việc tự phê bình đó, nếu không có một cơ chế vận hành để hỗ trợ và làm áp lực. Nếu anh không tự chỉnh đốn thì anh bị gạt đi. Tạo ra một cơ chế ấy thì mới chỉnh đốn đảng được. Nếu như chỉ kêu gọi hãy thế này, hãy thế nọ thì tôi cho rất vô duyên”. Ông nhấn mạnh: “Một trong những nguyên nhân rất cơ bản làm cho đảng càng ngày càng mất uy tín trong dân chúng, là việc các vị nắm quyền trong tay, quyền hành rất lớn để mà tham nhũng”. Gs Tương Lai đặt thẳng vào vấn đề thực thi Dân Chủ, mà Nguyễn Phú Trọng không hề dám nhắc tới. Theo ông: “Giải pháp đó là phải thật sự mở rộng dân chủ. Tạo nên một cơ chế phê bình mạnh mẽ. Đối thoại mạnh mẽ. Tranh luận mạnh mẽ. Phản biện mạnh mẽ, không chỉ riêng trong đảng, mà còn trong xã hội nữa. Phải dùng áp lực của xã hội tác động vào đảng, để đảng tự chuyển biến”. Nói như vậy có nghĩa là phải có Tự Do Ngôn Luận. Tự Do Chính Đảng. Tự Do Tôn Giáo. Tự Do Nghiệp Đoàn. Bốn điểm đại kỵ đối với Việtcộng.
Chính vì không dám thực hiện dân chủ hóa chế độ với toàn dân, nên trong bài phát biểu bế mạc đại hội hôm 31/12/2011, Nguyển Phú Trọng cho biết: “Hội nghị đã có gần 400 lượt ý kiến phát biểu. Hội nghị đã thảo luận và quyết định ban hành Nghị Quyết để lãnh đạo, chỉ đạo kết cấu hạ tầng từ nay đến năm 2020. Các đại biểu cũng thống nhất cao về sự cần thiết phải ban hành Nghị Quyết của Trung Ương về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng đảng hiện nay” với 3 nội dung trọng yếu: 1- Ngăn chặn, đẩy lui tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của các bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, nhất là các bộ lãnh đạo quản lý các cấp. 2- Xây dựng đội ngũ lãnh đạo quản lý, nhất là ở cấp trung ương, đấp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. 3- Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Ba nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cũng là cấp bách nhất”.
Với gần 400 lượt ý kiến phát biểu, chẳng biết có ý kiến nào giống với ý kiến của Gs Tương Lai hay không? Nhưng với 3 nội dung của Quyết Nghị, thì cái Trung Ương Đảng cường quyền tham nhũng này, chỉ làm việc lấy lệ, làm việc cho có. Chứ bảo “ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viện, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp” và ông Trọng còn đòi: “Sự gương mẫu của Trung Ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Từng đồng chí Ủy Viên Trung Ương Đảng. Ủy viên Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư tự giác, gương mẫu làm trước, tự phê bình, kiểm điểm, nhìn lại mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì xấu thì tự gột rửa; tránh xa mọi cám dỗ về danh lợi. Nêu gương những người tốt, việc tốt, ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích ỷ, vụ lợi, đẩy lùi một bước quan trọng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, tham nhũng lãng phí”. Đây đúng là sự đòi hỏi không tưởng, của một kẻ không tự nhìn lại bản chất của mình và đồng đảng của mình. Hoặc là đã tự cảm nhận được tương lai đen tối của mình và của đảng sắp tới gần, nên nói sảng.
Theo giáo sư Chu Hạo : “Nếu như đảng không gương mẩu trong chuyện thượng tôn pháp luật thì cái niềm tin ấy không còn. Nếu niềm tin trong lòng dân không còn thì tính chính đáng của sự lãnh đạo của đảng không còn nữa”. “Người dân mọi thành phần vẫn ước ao được sống trong một xã hội bình đẳng và thượng tôn luật pháp trước khi nói tới những thành tựu có tính tuyên truyền hơn là mơ ước thực sự của họ. Nếu đảng Cộngsản Việtnam thật sự muốn chỉnh đốn để tiếp tục lãnh đạo đất nước thì con đường duy nhất là đảng phải xem luật pháp cao hơn Đảng”. Nhưng xin hỏi thực, thứ luật pháp đó là thứ luật pháp nào?. Luật pháp do cộng đảng làm ra và đang được thi hành tại Việtnam là loại Luật Tùy Tiện Phi Pháp. Nó là thứ “Luật Pháp Hóa” những hành vi trấn áp toàn dân, vi phạm nhân quyền. Làm phương tiện để cho tham nhũng tồn tại và phát triển. Vậy bảo Đảng phải đứng dưới luật pháp do chính đảng cộng sản tạo ra, nhằm làm công cụ khống chế toàn dân, độc quyền lãnh đạo nhà nước, toàn quyền tham nhũng, qua các công ty quốc doanh. Nếu vậy thì cũng như không! Còn bắt Cộng đảng phải tuân hành theo Luật Dân Chủ Trọng Pháp, đúng với nhu cầu toàn dân, thì ở Việtnam chưa có. Nếu có thì lập tức Đảng và chế độ độc tài Việtcộng phải ra đi. Đây mới chính là mối lo của Nguyễn Phú Trọng. Nhưng đó là lẽ tất yếu của lịch sử nhân loại và cũng là cuộc vận động lịch sử của dân tộc Việtnam sẽ phải đến.
LÝ ĐẠI NGUYÊN
Little Saigon ngày 03/01/2012.
Từ “Hoa Nhài” đến Thái Bình Dương
Thế giới 2011 nhìn vào 2012
TS Ðinh Xuân Quân
WESTMINSTER - Năm 2011 có quá nhiều biến cố - rất nhiều biến cố khó ngờ và bất ngờ,
và các biến cố này là nhân chứng của sự ra đi của các nhà độc tài, từ Ben Ali (Tunisia) đến Mubarak (Ai cập) hay Gadhafi (Libya).

Hàng ngàn người dân Libya tại Benghazi ăn mừng, ba ngày sau khi nhà độc tài Gadhafi bị hạ sát. (Hình: Abdullah Doma/AFP/Getty Images)
Kết quả này là nhờ vào “sự bùng dậy tự phát” của các phong trào dân chủ tại nhiều nơi trên thế giới. Thế giới năm 2011 có những sự kiện đáng để ý:
- Trung Ðông: Phong trào “Hoa Nhài,” hay sự nổi dậy tự phát từ Tunisia thành “Mùa Xuân Ả Rập”;
- Trung Á: Trùm khủng bố Osama Bin Laden bị triệt hạ - chấm dứt dự hiên diện quân Mỹ tại Iraq nhưng vẫn chưa giải quyết được khó khăn tại Afghanistan;
- Á Châu: Từ Fukushima đến quốc tế hóa tranh chấp Biển Ðông, hay sự trở lại của Hoa kỳ tại Thái Bình Dương; và
- Âu Châu: Kinh tế khó khăn - sự xuống dốc của các nước Âu Châu.
Hãy thử duyệt qua các biến cố quan trọng trong năm 2011.
“Hoa Nhài Tunisia” đến “Mùa Xuân Ả Rập”
Từ chỗ một anh bán hàng rong tự thiêu vì bị cảnh sát chèn ép, Tunisia mang đến sự ra đi của nhà độc tài Ben Ali qua biến cố có tên “Cách Mạng Hoa Nhài.”
Nhiều chính quyền tại Trung Ðông mất sự ủng hộ của quần chúng và đã phải cuốn gói ra đi vì các cuộc “xuống đường ôn hòa và tự phát,” còn gọi là nổi dậy Hoa Nhài. Sau Tunisia là Ai Cập, Bahrain, Yemen, Libya, và nay là Syria, đều bị ảnh hưởng.
Trong cuộc nổi dậy tại Tunisia, Ai cập, Yemen, dân chúng xuống đường không dùng khẩu hiệu Hồi Giáo mà chỉ có khẩu hiệu “dân chủ, chống tham nhũng, kêu gọi bầu cử...,” không có gì là quá khích. Tại Ai Cập và tại Tunisia, phe Hồi Giáo quá khích đóng vai trò rất nhỏ trong cuộc nổi dậy Hoa Nhài. Bài học của các cuộc nổi dậy cho thấy:
“Cơm no - áo ấm” chưa đủ để thỏa mãn đòi hỏi của dân. Giới trẻ có học hơn, họ không chỉ đòi hỏi cho bao tử mà còn đòi hỏi về trí tuệ. Phe Hồi Giao theo “thế tục - ôn hòa và thiên về dân chủ” đang trên đà thắng thế, muốn giải quyết các vấn đề xã hội qua việc quản lý tốt đất nước và xã hội dân chủ.
Internet - Facebook, Twitter đã giúp họ tranh đấu dân chủ. Giới trẻ có học, biết dùng các mạng xã hội như Facebook và Twitter đã bắt đầu được thử lửa trong cuộc nổi dậy của tuổi trẻ Iran năm 2009. Các mạng xã hội trở thành công cụ giúp người phản kháng phối hợp hành động và lôi kéo thêm thành viên mới và giúp cho thế giới bên ngoài biết được sự đàn áp. Vào tháng Giêng, 2010, Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố, tự do lưu chuyển thông tin trên mạng là mục tiêu chính thức trong chính sách ngoại giao Hoa Kỳ. Vị trí các mạng xã hội được khẳng định với các cuộc cách mạng của nhân dân Ả rập trong năm nay. Kịch bản ở Iran được lặp lại ở Tunis, Cairo, v.v. nhưng lần này thì giới trẻ đã thắng.
Năm 2011, một nhân viên Ai Cập làm việc cho Google, là Wael Ghonim, lập một trang Facebook dùng làm nơi hội tụ cho những người nổi dậy ở Cairo. Bị bắt giam 11 ngày nhưng khi được trả tự do anh trở thành một trong những phát ngôn viên của tuổi trẻ Ai Cập.
Qua các cuộc nổi dậy ta thấy các các vụ ám sát hay đe dọa của phe quá khích không hữu hiệu bằng các vụ xuống đường ôn hòa khiến các chế độ độc tài và công an trị sụp đổ. Các chế độ này sụp đổ mau chóng vì dân không còn sợ hãi nữa - cũng như các vụ nổi dậy tại các nước Ðông Âu làm sụp chế độ Cộng Sản trước đây.
Hồi giáo quá khích - ảnh hưởng của Osama Bin Laden dùng vũ lực chưa bắt rễ. Các tổ chức trực thuộc Al Queda, như tại Bắc Phi gọi là AQIM, hay al-Queda tại Arập Saudi gọi là AQAP, không nhiều ảnh hưởng đối với đa số dân chúng Ả Rập. Cuộc nổi dậy hoa nhài cho thấy các cuộc “xuống đường ôn hòa” hiệu nghiệm hơn vũ lực.
Bài học là nơi nào có bất công, có nghèo đói nơi đó Hồi Giáo có thể lợi dụng. Các cuộc nổi dậy cho thấy, ôn hòa, bất bạo động hữu hiệu hơn vũ lực, đàn áp. Dân chúng tại các nước này ngày càng có học, hiểu biết về tin học, Twitter, Facebook, Paltalk... cho nên chính quyền độc đoán khó có thể bưng bít bằng công an, tường lửa hay mua chuộc, bằng kiểm soát Internet, hay đàn áp để tạo sợ hãi.
Bài học nữa là phong trào này không mang tính đảng phái, cũng không có lãnh tụ. Ngay cả lãnh tụ nổi lên từ phong trào cũng không có. Mọi người xuống đường tự phát và hoạt động của họ được điều hướng chủ yếu qua các mạng xã hội, từ facebook đến twitter hay tin nhắn trên điện thoại di động. Không có lãnh đạo nhưng rất nhịp nhàng!
Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất và Qatar cũng bị lung lay, và khối Ả Rập phải ra tay. Tại Yemen, phong trào nổi dậy đã buộc TT Saleh hứa sẽ ra đi và xung đột ở Syria vẫn đang tiếp diễn.
Những biến động ở Bắc Phi đã gây một hiệu ứng lây lan nhanh chóng sang nhiều khu vực khác trên thế giới. Bắc Kinh và các chế độ khác lo sợ trước “Mùa Xuân Ả Rập,” và họ đã phải huy động một đội ngũ công an hùng hậu để ngăn cản các cuộc tập hợp được dự trù tổ chức hầu tránh một thứ “Hoa Nhài” tại đây.
Nói tóm, trong năm 2011, một loạt các nhà độc tài cầm quyền từ 20 đến 40 năm ở Tunisia, Ai Cập và Libya đã bị người dân “quét đi” qua một làn sóng “phản kháng tự phát” chưa từng có. Làn gió dân chủ đó hiện tại đang đe dọa Syria. Câu hỏi còn lại: Khi nào đến phiên Iran và Châu Á?
Bin Laden bị thanh toán, Mỹ rút khỏi Iraq, và câu chuyện Afghanistan
Sau 10 năm truy lùng, biệt kích Hoa Kỳ đã tiêu diệt được trùm khủng bố Osama Bin Laden. Việc này gây ấn tượng lớn tại Mỹ trong năm 2011.
Tại Iraq, quân nhân cuối cùng đã đến Kuwait. Vào cao điểm, Hoa Kỳ đã có 170,000 binh sĩ và hơn 500 căn cứ hoạt động ở Iraq. Gần 4,500 lính Mỹ hy sinh kể từ khi Hoa Kỳ tấn công Saddam Hussein vào năm 2003 và tổn phí cho ngân sách lên gần một nghìn tỷ Mỹ kim.
Lực lượng Hoa Kỳ kết thúc sứ mạng chiến đấu ở Iraq từ 2010 và bàn giao các vai trò này cho chính phủ sở tại. TT Obama ca ngợi binh sĩ Hoa Kỳ, nhưng cũng thừa nhận cuộc chiến “gây tranh cãi” (không được Liên Hiệp Quốc ủng hộ; không tìm thấy khí giới hủy diệt hàng loạt và nay Mỹ đã thả ông thần - giáo phái shiai và sunny - ra khỏi chai).
Theo ông thì các binh sĩ Mỹ để lại “một Iraq có chủ quyền, ổn định và tự chủ”. Tuy nhiên, sự ra đi của quân đội Mỹ sẽ để lại chỗ trống (mặc dù một số quân còn đóng ở Kuwait và Bahraim), có nhiều nguy cơ Iran sẽ lợi dụng, hệ thống chính trị chưa đủ mạnh hoặc khả năng tự vệ biên giới còn hạn chế. Người ta cũng lo ngại Iraq có thể rơi trở lại xung đột giáo phái do Iran giật dây, gây bất ổn trong vùng. Dù sao TT Obama cũng có thể khẳng định ông giữ lời hứa khi tranh cử; cho dầu đây vẫn là “an unfinished job - một công việc còn dở dang”.
Mỹ có mặt tại Afghanistan từ năm 2001. Ai cũng bi quan, tự hỏi liệu Hoa Kỳ có đủ ý chí và kiên nhẫn để đi đến thành công. Tổn phí tại Afghanistan đang là trở ngại trong thời kỳ kinh tế Mỹ bị suy thoái và thâm thủng ngân sách cao. (1)
Từ khi Liên Xô (cũ) rút khỏi Afghanistan năm 1989, các phe phái tại Afhganistan lâm vào nội chiến. Nội chiến kéo từ 1992-1996, và hòa bình trở lại khi phe Taliban bị lật vào năm 2002. Sau đó Liên Hiệp Quốc (LHQ) giúp các phe phái xây dựng một Hiến Pháp (HP) vào năm 2003, giúp bầu cử Tổng Thống (TT) và Quốc Hội (QH). Trên 8 triệu người tham gia bầu cử TT (năm 2004) và 6.4 triệu người tham gia bầu cử QH năm 2005.
Năm 2001, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) ước đoán GDP đầu người là $170, chỉ 10% đường được tráng nhựa, 30% biết đọc biết viết, 25% trẻ em đi học, và cả nước có chừng 50,000 xe hơi. Afghanistan có 4 triệu dân di cư với khoảng 1.2 triệu “di cư nội địa.” Tuổi thọ trung bình là 42 tuổi và tử suất nơi trẻ em trước 5 tuổi là 165/1000, gấp 4-5 lần một nước bình thường.
Từ 2001 trở đi, Liên Hiệp Quốc (LHQ) chi trên $19 tỷ trong những năm 2001-2009 để tái xây dựng Afghanistan. LHQ cũng giúp xây dựng guồng máy hành chính, xây dựng cơ cấu dân sự trong khi về an ninh thì có quân ISAF (International Security Armed Forces) - lực lượng quốc tế - gồm trên 40 nước dưới sự điều khiển của LHQ cố gắng đào tạo cảnh sát và xây dựng quân đội quốc gia. LHQ dự trù có 40,000 quân lính quốc gia để giữ an ninh trật tự và Mỹ đã chi $4.4 tỷ đào tạo 36,000 quân cho quân đội quốc gia (ANA - Afghan National Army).
Năm 2003, ISAF có 5,000 lính; năm 2005 chỉ có 10,000 lính; và năm 2006 chỉ có 20,000 quân Mỹ tại Afghanistan. Nói tóm, từ 2001-2009, quân ISAF bỏ trống Afghanistan, trừ vài tỉnh như Kabul, Mazar-e-Sharif hay Herat. Sự yếu kém của chính phủ trung ương và tình trạng thiếu quân LHQ/ISAF đã giúp sự trở lại của Taliban. Mỹ bắt đầu tài trợ cho quân đội Afhgan từ $1.9 tỷ vào 2006 lên $12.5 tỷ/năm vào 2011. Họ giúp nâng quân số quân chính phủ từ 36,000 năm 2006 lên đến 170,000 và năm 2014 quân đội và cảnh sát được dự trù 400,000 người. Năm 2009, Mỹ nâng quân từ 22,000 lên 100,000 dưới sự chỉ huy của Tướng McChrystal và quân NATO từ 21,000 lên 39,000, nâng tổng số tại Afghanistan lên 150,000 vào 2011.
Lầm lỗi của LHQ và Mỹ là đánh giá sai về khả năng quân sự và hành chính của Afghanistan và hơn nữa vì Iraq cho nên Afghanistan bị bỏ rơi (2001-2008). Từ khi Mỹ đổ thêm quân số (2009) thì có phần khả quan hơn nhưng cường độ tranh chấp cao hơn vì các nước láng giềng như Iran, Pakistan không muốn Mỹ thành công.
Afghanistan có phần tiến bộ rõ ràng, xây dựng hạ tầng cơ sở, giáo dục và y tế và phát triển nông thôn rất rõ. Afghanistan cũng tìm thấy nhiều tài nguyên khoáng sản (vàng, đồng, uranium, sắt, đất hiếm, dầu khí...). Với thời gian, quốc gia này có thể tự cường và phát triển.
Các tiến bộ về guồng máy dân sự còn chưa đi song song với các tiến bộ quân sự. Nói tóm: Không có phép lạ tại Afghanistan vì còn trong xã hội kém mở mang. Liệu Mỹ có đủ kiên nhẫn?
Từ Fukushima đến Biển Ðông - Cuộc đọ sức Mỹ-Trung
Sau sóng thần tại Nhật Bản, cả thế giới dõi theo từng bước của nhà máy hạt nhân Fukushima vì nếu điều bất trắc xảy ra, những đám mây phóng xạ không phân biệt ranh giới quốc gia, sẽ đe dọa rất nhiều nước.
Trận sóng thần gây thiệt hại cho nhà máy hạt nhân Fukushima và có thể gây ô nhiễm qua mây phóng xạ bay trong bầu khí quyển hay trong nước thải.
Ngoài vấn đề hạt nhân, trận thiên tai sóng thần gây rối loạn cho ngành công nghệ điện tử cao cấp thiết bị điện tử chủ chốt của Nhật Bản, như Sony, Mishubishi, Hitachi. Hàng loạt các nhà máy chế tạo điện tử và xe hơi từ Hàn Quốc, đến Ðài Loan, sang đến Châu Âu rồi qua Mỹ đều lần lượt bị ảnh hương vì thiếu linh kiện từ Nhật Bản.
Ngoài ra, các dây chuyền cung ứng của các xí nghiệp tin học, điện tử và xe hơi đều bị tác động nặng nề. Tác động lan sang Hoa Kỳ; công ty chuyên về thiết bị tin học Hewlett Packard cũng gặp khó khăn với những nhà cung cấp linh kiện của Nhật. General Motor cũng phải tạm thời đóng cửa nhà máy tại Lousiana với lý do tương tự. Các hãng xe hơi Pháp, như Renault, Peugeot, cũng phải cắt giảm sản xuất. Hãng Toshiba thông báo đóng cửa tạm thời một cơ sở lắp ráp màn hình tinh thể lỏng (LCD). Hậu quả kinh tế, trong tháng 3 và 4 năm nay, Nhật tăng trưởng “âm” (-1.9%).
Biển Ðông và sự trở lại của Hoa Kỳ
Từ nhiều năm, Trung Quốc dùng chính sách “khống chế Việt Nam” qua việc xâm lược Hoàng Sa, Trường Sa, cung cấp vũ khí - trợ giúp cho Khơme đỏ gây hấn năm 1978, và chiến tranh biên giới với Việt Nam 1979.
Năm 2011, Trung Quốc cắt cáp các tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam trong khu vực độc quyền kinh tế Việt Nam, hăm dọa Philippines và các nước trong vùng Thái Bình Dương. Lần đầu tiên Việt Nam lên tiếng phản đối hành động hung hăng của Trung Quốc và trong nhiều năm qua, Hà Nội có nhiều cố gắng xích gần Washington để cân bằng với Bắc Kinh tại Biển Ðông.
Thái độ Trung Quốc khiến các nước láng giềng lo lắng và không chỉ là ASEAN mà cả Mỹ, Nhật, Ấn Ðộ và Úc cũng lo ngại. Các hành động gây hấn trên Biển Ðông hay biển Ðông Hoa quá rõ ràng. Họ gởi tàu ngư chính tuần tra tại vùng Hoàng Sa, đe dọa các tàu đánh cá Việt Nam, đe dọa tàu thăm dò dầu lửa của Việt Nam và Philippines... Không chỉ tranh giành tại Biển Ðông, Trung Quốc còn biểu lộ tham vọng kiểm soát Ấn Ðộ Dương.
Năm 2011 là năm phản công quy mô của Hoa Kỳ qua chuyến công du Thái Bình Dương của TT Obama.
Tại Úc, TT Obama cho triển khai 2,500 Thủy Quân Lục Chiến đến Darwin. Ông nói: “Hoa Kỳ là một thế lực Thái Bình Dương, và chúng tôi sẽ duy trì tư thế đó.” Sau đó, tại hội nghị APEC tại Hawaii, Mỹ cho thúc đẩy đàm phán TPP (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương, hay Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement, bao gồm 9 thành viên, khởi động từ 2005, nhằm xây dựng một khu vực thương mại tự do hai bên bờ Thái Bình Dương, không có sự tham dự của Trung Quốc). Rút kinh nghiệm WTO, là nơi Trung Quốc không giữ các cam kết mở thị trường của họ, Mỹ đề nghị TPP - một tiến trình hội nhập tư do thương mại kinh tế liên quan tới 9 nền kinh tế năng động, chiếm 25% sản lượng kinh tế thế giới, có tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là $16,000 tỷ trong một thị trường với 472 triệu dân. Nhiều nước ASEAN muốn tham gia TPP gồm Singapore, Malaysia, Brunei và Việt Nam, chưa kể các nước khác như Úc, Tân Tây Lan, Chile, Peru, Canada, Mexico và Nhật. Tại Thượng đỉnh Ðông Á Bali ngày 19 tháng 11, 2011, Biển Ðông được quốc tế hóa và TT Obama tái xác định lập trường “tự do lưu thông” tại Biển Ðông, đồng thời nhắc rằng các tranh chấp chủ quyền phải dựa trên luật quốc tế, kể cả luật biển của LHQ, gọi là UNCLOS. Ðối với TQ, việc hồ sơ Biển Ðông được quốc tế hóa tại một diễn đàn gồm 18 nước là một thất bại chính trị cho Bắc Kinh. Phản công của Hoa Kỳ cho thấy Trung Quốc “bơ vơ - bị chiếu tướng”.
Âu Châu khủng hoảng nợ công
2011 là năm khu vực đồng Euro gây quan ngại. Giám đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, bà C. Lagarde, kêu gọi tất cả các quốc gia trên thế giới cùng hợp lực xua tan đám mây đen bao phủ toàn cảnh kinh tế thế giới.
Bà quan ngại về khủng hoảng khu vực Euro vì có thể dẫn tới một sự mất niềm tin ở quy mô quốc tế có nguy cơ dẫn kinh tế toàn cầu vào vòng suy thoái.
Tình trạng khủng hoảng nợ công của Hy Lạp kéo dài từ năm 2010, lan sang nhiều thành viên khác trong khối Euro: Ireland, Bồ Ðào Nha (Portugal), Tây Ban Nha và ngay cả của Ý (nền kinh tế thứ ba của khối Euro với nợ công lên tới 1,900 tỷ Euro, hay 120% GDP - tổng sản phẩm nội địa) chỉ vì vấn đề nợ công. Các nước như Áo, Ðức cũng trở thành mục tiêu tấn công của các thị trường tài chính cho dù Áo là quốc gia có chính sách chi tiêu chừng mực, tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp, tỷ lệ nợ công ở mức trong giới hạn và không bị thâm hụt cán cân thương mại. Ðức thì trong đợt phát hành công trái phiếu gần đây đã chật vật lắm mới huy động được vốn như ý muốn. Tại Pháp, chính phủ cho ra đời hai kế hoạch thắt lưng buộc bụng nhưng các nỗ lực của Paris đến giờ vẫn chưa đủ sức thuyết phục ba cơ quan thẩm định tài chính đầy quyền lực, là Fitch, Standard & Poor's và Moody's.
Trong khi Âu Châu điêu đứng vì nợ công thì 27 nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu và 17 thành viên khối Euro chưa đưa ra được biện pháp cụ thể nào để tháo gỡ bế tắc. Giải pháp duy nhất là thi hành các biện pháp cắt giảm chi tiêu - giảm bội chi ngân sách, hạ tỷ lệ nợ công / GDP từ nay cho đến ít nhất là 2014 nhằm giữ điểm tín nhiệm ở mức cao nhất. Các chính sách khắc khổ mất lòng dân vì đồng nghĩa với việc cắt giảm chi tiêu công cộng, giảm trợ cấp xã hội, giảm lương hưu, tăng thuế.
Từ Madrid, Paris, Athènes, Roma hay Lisbon, người dân xuống đường bày tỏ phẫn nộ. Các biện pháp cắt giảm trợ cấp xã hội, lương hưu hay giảm các chi tiêu công khiến dấy lên phong trào phản đối. Nhiều cuộc tổng đình công diễn ra tại Hy Lạp, Bồ Ðào Nha, Ý, và kể cả tại Anh, nơi người dân vốn cam chịu.
Nhiều chuyên gia đánh giá việc cắt giảm chi tiêu là sai lầm vì theo họ cần xem lại tỷ giá hối đoái của đồng Euro. Nước Ðức là một ngoại lệ vì ngành xuất khẩu của Ðức vẫn rất năng động và cán cân thương mại của chính quyền Berlin không bị thiếu hụt. Ðây là lý do dẫn đến tình trạng “tê liệt” trong việc giải quyết khủng hoảng tài chính Châu Âu, một trận chiến kéo dài thực ra là từ hơn một năm nay. Hiện tại, Âu Châu coi như tê liệt.
2011 là năm cách mạng tự phát đã giúp hạ bệ nhiều nhà độc tài tại Trung Ðông. Các nước tại Á Châu nay sợ điều gọi là Cách Mạng Hoa Nhài. Trùm khủng bố Osama bị hạ bệ, Mỹ rút khỏi Iraq nhưng vấn đề Trung Ðông chưa hóa giải xong, và Washington vẫn còn kẹt tại Afghanistan. Tại Á Châu, Mỹ phản công vì các nước muôn cân bằng ảnh hưởng của một Trung Quốc đang lên với nhiều tham vọng đế quốc kiểu “Ðại Hán”.
Thế giới 2011 nhìn vào 2012
TS Ðinh Xuân Quân
WESTMINSTER - Năm 2011 có quá nhiều biến cố - rất nhiều biến cố khó ngờ và bất ngờ,
và các biến cố này là nhân chứng của sự ra đi của các nhà độc tài, từ Ben Ali (Tunisia) đến Mubarak (Ai cập) hay Gadhafi (Libya).

Hàng ngàn người dân Libya tại Benghazi ăn mừng, ba ngày sau khi nhà độc tài Gadhafi bị hạ sát. (Hình: Abdullah Doma/AFP/Getty Images)
Kết quả này là nhờ vào “sự bùng dậy tự phát” của các phong trào dân chủ tại nhiều nơi trên thế giới. Thế giới năm 2011 có những sự kiện đáng để ý:
- Trung Ðông: Phong trào “Hoa Nhài,” hay sự nổi dậy tự phát từ Tunisia thành “Mùa Xuân Ả Rập”;
- Trung Á: Trùm khủng bố Osama Bin Laden bị triệt hạ - chấm dứt dự hiên diện quân Mỹ tại Iraq nhưng vẫn chưa giải quyết được khó khăn tại Afghanistan;
- Á Châu: Từ Fukushima đến quốc tế hóa tranh chấp Biển Ðông, hay sự trở lại của Hoa kỳ tại Thái Bình Dương; và
- Âu Châu: Kinh tế khó khăn - sự xuống dốc của các nước Âu Châu.
Hãy thử duyệt qua các biến cố quan trọng trong năm 2011.
“Hoa Nhài Tunisia” đến “Mùa Xuân Ả Rập”
Từ chỗ một anh bán hàng rong tự thiêu vì bị cảnh sát chèn ép, Tunisia mang đến sự ra đi của nhà độc tài Ben Ali qua biến cố có tên “Cách Mạng Hoa Nhài.”
Nhiều chính quyền tại Trung Ðông mất sự ủng hộ của quần chúng và đã phải cuốn gói ra đi vì các cuộc “xuống đường ôn hòa và tự phát,” còn gọi là nổi dậy Hoa Nhài. Sau Tunisia là Ai Cập, Bahrain, Yemen, Libya, và nay là Syria, đều bị ảnh hưởng.
Trong cuộc nổi dậy tại Tunisia, Ai cập, Yemen, dân chúng xuống đường không dùng khẩu hiệu Hồi Giáo mà chỉ có khẩu hiệu “dân chủ, chống tham nhũng, kêu gọi bầu cử...,” không có gì là quá khích. Tại Ai Cập và tại Tunisia, phe Hồi Giáo quá khích đóng vai trò rất nhỏ trong cuộc nổi dậy Hoa Nhài. Bài học của các cuộc nổi dậy cho thấy:
“Cơm no - áo ấm” chưa đủ để thỏa mãn đòi hỏi của dân. Giới trẻ có học hơn, họ không chỉ đòi hỏi cho bao tử mà còn đòi hỏi về trí tuệ. Phe Hồi Giao theo “thế tục - ôn hòa và thiên về dân chủ” đang trên đà thắng thế, muốn giải quyết các vấn đề xã hội qua việc quản lý tốt đất nước và xã hội dân chủ.
Internet - Facebook, Twitter đã giúp họ tranh đấu dân chủ. Giới trẻ có học, biết dùng các mạng xã hội như Facebook và Twitter đã bắt đầu được thử lửa trong cuộc nổi dậy của tuổi trẻ Iran năm 2009. Các mạng xã hội trở thành công cụ giúp người phản kháng phối hợp hành động và lôi kéo thêm thành viên mới và giúp cho thế giới bên ngoài biết được sự đàn áp. Vào tháng Giêng, 2010, Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố, tự do lưu chuyển thông tin trên mạng là mục tiêu chính thức trong chính sách ngoại giao Hoa Kỳ. Vị trí các mạng xã hội được khẳng định với các cuộc cách mạng của nhân dân Ả rập trong năm nay. Kịch bản ở Iran được lặp lại ở Tunis, Cairo, v.v. nhưng lần này thì giới trẻ đã thắng.
Năm 2011, một nhân viên Ai Cập làm việc cho Google, là Wael Ghonim, lập một trang Facebook dùng làm nơi hội tụ cho những người nổi dậy ở Cairo. Bị bắt giam 11 ngày nhưng khi được trả tự do anh trở thành một trong những phát ngôn viên của tuổi trẻ Ai Cập.
Qua các cuộc nổi dậy ta thấy các các vụ ám sát hay đe dọa của phe quá khích không hữu hiệu bằng các vụ xuống đường ôn hòa khiến các chế độ độc tài và công an trị sụp đổ. Các chế độ này sụp đổ mau chóng vì dân không còn sợ hãi nữa - cũng như các vụ nổi dậy tại các nước Ðông Âu làm sụp chế độ Cộng Sản trước đây.
Hồi giáo quá khích - ảnh hưởng của Osama Bin Laden dùng vũ lực chưa bắt rễ. Các tổ chức trực thuộc Al Queda, như tại Bắc Phi gọi là AQIM, hay al-Queda tại Arập Saudi gọi là AQAP, không nhiều ảnh hưởng đối với đa số dân chúng Ả Rập. Cuộc nổi dậy hoa nhài cho thấy các cuộc “xuống đường ôn hòa” hiệu nghiệm hơn vũ lực.
Bài học là nơi nào có bất công, có nghèo đói nơi đó Hồi Giáo có thể lợi dụng. Các cuộc nổi dậy cho thấy, ôn hòa, bất bạo động hữu hiệu hơn vũ lực, đàn áp. Dân chúng tại các nước này ngày càng có học, hiểu biết về tin học, Twitter, Facebook, Paltalk... cho nên chính quyền độc đoán khó có thể bưng bít bằng công an, tường lửa hay mua chuộc, bằng kiểm soát Internet, hay đàn áp để tạo sợ hãi.
Bài học nữa là phong trào này không mang tính đảng phái, cũng không có lãnh tụ. Ngay cả lãnh tụ nổi lên từ phong trào cũng không có. Mọi người xuống đường tự phát và hoạt động của họ được điều hướng chủ yếu qua các mạng xã hội, từ facebook đến twitter hay tin nhắn trên điện thoại di động. Không có lãnh đạo nhưng rất nhịp nhàng!
Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất và Qatar cũng bị lung lay, và khối Ả Rập phải ra tay. Tại Yemen, phong trào nổi dậy đã buộc TT Saleh hứa sẽ ra đi và xung đột ở Syria vẫn đang tiếp diễn.
Những biến động ở Bắc Phi đã gây một hiệu ứng lây lan nhanh chóng sang nhiều khu vực khác trên thế giới. Bắc Kinh và các chế độ khác lo sợ trước “Mùa Xuân Ả Rập,” và họ đã phải huy động một đội ngũ công an hùng hậu để ngăn cản các cuộc tập hợp được dự trù tổ chức hầu tránh một thứ “Hoa Nhài” tại đây.
Nói tóm, trong năm 2011, một loạt các nhà độc tài cầm quyền từ 20 đến 40 năm ở Tunisia, Ai Cập và Libya đã bị người dân “quét đi” qua một làn sóng “phản kháng tự phát” chưa từng có. Làn gió dân chủ đó hiện tại đang đe dọa Syria. Câu hỏi còn lại: Khi nào đến phiên Iran và Châu Á?
Bin Laden bị thanh toán, Mỹ rút khỏi Iraq, và câu chuyện Afghanistan
Sau 10 năm truy lùng, biệt kích Hoa Kỳ đã tiêu diệt được trùm khủng bố Osama Bin Laden. Việc này gây ấn tượng lớn tại Mỹ trong năm 2011.
Tại Iraq, quân nhân cuối cùng đã đến Kuwait. Vào cao điểm, Hoa Kỳ đã có 170,000 binh sĩ và hơn 500 căn cứ hoạt động ở Iraq. Gần 4,500 lính Mỹ hy sinh kể từ khi Hoa Kỳ tấn công Saddam Hussein vào năm 2003 và tổn phí cho ngân sách lên gần một nghìn tỷ Mỹ kim.
Lực lượng Hoa Kỳ kết thúc sứ mạng chiến đấu ở Iraq từ 2010 và bàn giao các vai trò này cho chính phủ sở tại. TT Obama ca ngợi binh sĩ Hoa Kỳ, nhưng cũng thừa nhận cuộc chiến “gây tranh cãi” (không được Liên Hiệp Quốc ủng hộ; không tìm thấy khí giới hủy diệt hàng loạt và nay Mỹ đã thả ông thần - giáo phái shiai và sunny - ra khỏi chai).
Theo ông thì các binh sĩ Mỹ để lại “một Iraq có chủ quyền, ổn định và tự chủ”. Tuy nhiên, sự ra đi của quân đội Mỹ sẽ để lại chỗ trống (mặc dù một số quân còn đóng ở Kuwait và Bahraim), có nhiều nguy cơ Iran sẽ lợi dụng, hệ thống chính trị chưa đủ mạnh hoặc khả năng tự vệ biên giới còn hạn chế. Người ta cũng lo ngại Iraq có thể rơi trở lại xung đột giáo phái do Iran giật dây, gây bất ổn trong vùng. Dù sao TT Obama cũng có thể khẳng định ông giữ lời hứa khi tranh cử; cho dầu đây vẫn là “an unfinished job - một công việc còn dở dang”.
Mỹ có mặt tại Afghanistan từ năm 2001. Ai cũng bi quan, tự hỏi liệu Hoa Kỳ có đủ ý chí và kiên nhẫn để đi đến thành công. Tổn phí tại Afghanistan đang là trở ngại trong thời kỳ kinh tế Mỹ bị suy thoái và thâm thủng ngân sách cao. (1)
Từ khi Liên Xô (cũ) rút khỏi Afghanistan năm 1989, các phe phái tại Afhganistan lâm vào nội chiến. Nội chiến kéo từ 1992-1996, và hòa bình trở lại khi phe Taliban bị lật vào năm 2002. Sau đó Liên Hiệp Quốc (LHQ) giúp các phe phái xây dựng một Hiến Pháp (HP) vào năm 2003, giúp bầu cử Tổng Thống (TT) và Quốc Hội (QH). Trên 8 triệu người tham gia bầu cử TT (năm 2004) và 6.4 triệu người tham gia bầu cử QH năm 2005.
Năm 2001, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) ước đoán GDP đầu người là $170, chỉ 10% đường được tráng nhựa, 30% biết đọc biết viết, 25% trẻ em đi học, và cả nước có chừng 50,000 xe hơi. Afghanistan có 4 triệu dân di cư với khoảng 1.2 triệu “di cư nội địa.” Tuổi thọ trung bình là 42 tuổi và tử suất nơi trẻ em trước 5 tuổi là 165/1000, gấp 4-5 lần một nước bình thường.
Từ 2001 trở đi, Liên Hiệp Quốc (LHQ) chi trên $19 tỷ trong những năm 2001-2009 để tái xây dựng Afghanistan. LHQ cũng giúp xây dựng guồng máy hành chính, xây dựng cơ cấu dân sự trong khi về an ninh thì có quân ISAF (International Security Armed Forces) - lực lượng quốc tế - gồm trên 40 nước dưới sự điều khiển của LHQ cố gắng đào tạo cảnh sát và xây dựng quân đội quốc gia. LHQ dự trù có 40,000 quân lính quốc gia để giữ an ninh trật tự và Mỹ đã chi $4.4 tỷ đào tạo 36,000 quân cho quân đội quốc gia (ANA - Afghan National Army).
Năm 2003, ISAF có 5,000 lính; năm 2005 chỉ có 10,000 lính; và năm 2006 chỉ có 20,000 quân Mỹ tại Afghanistan. Nói tóm, từ 2001-2009, quân ISAF bỏ trống Afghanistan, trừ vài tỉnh như Kabul, Mazar-e-Sharif hay Herat. Sự yếu kém của chính phủ trung ương và tình trạng thiếu quân LHQ/ISAF đã giúp sự trở lại của Taliban. Mỹ bắt đầu tài trợ cho quân đội Afhgan từ $1.9 tỷ vào 2006 lên $12.5 tỷ/năm vào 2011. Họ giúp nâng quân số quân chính phủ từ 36,000 năm 2006 lên đến 170,000 và năm 2014 quân đội và cảnh sát được dự trù 400,000 người. Năm 2009, Mỹ nâng quân từ 22,000 lên 100,000 dưới sự chỉ huy của Tướng McChrystal và quân NATO từ 21,000 lên 39,000, nâng tổng số tại Afghanistan lên 150,000 vào 2011.
Lầm lỗi của LHQ và Mỹ là đánh giá sai về khả năng quân sự và hành chính của Afghanistan và hơn nữa vì Iraq cho nên Afghanistan bị bỏ rơi (2001-2008). Từ khi Mỹ đổ thêm quân số (2009) thì có phần khả quan hơn nhưng cường độ tranh chấp cao hơn vì các nước láng giềng như Iran, Pakistan không muốn Mỹ thành công.
Afghanistan có phần tiến bộ rõ ràng, xây dựng hạ tầng cơ sở, giáo dục và y tế và phát triển nông thôn rất rõ. Afghanistan cũng tìm thấy nhiều tài nguyên khoáng sản (vàng, đồng, uranium, sắt, đất hiếm, dầu khí...). Với thời gian, quốc gia này có thể tự cường và phát triển.
Các tiến bộ về guồng máy dân sự còn chưa đi song song với các tiến bộ quân sự. Nói tóm: Không có phép lạ tại Afghanistan vì còn trong xã hội kém mở mang. Liệu Mỹ có đủ kiên nhẫn?
Từ Fukushima đến Biển Ðông - Cuộc đọ sức Mỹ-Trung
Sau sóng thần tại Nhật Bản, cả thế giới dõi theo từng bước của nhà máy hạt nhân Fukushima vì nếu điều bất trắc xảy ra, những đám mây phóng xạ không phân biệt ranh giới quốc gia, sẽ đe dọa rất nhiều nước.
Trận sóng thần gây thiệt hại cho nhà máy hạt nhân Fukushima và có thể gây ô nhiễm qua mây phóng xạ bay trong bầu khí quyển hay trong nước thải.
Ngoài vấn đề hạt nhân, trận thiên tai sóng thần gây rối loạn cho ngành công nghệ điện tử cao cấp thiết bị điện tử chủ chốt của Nhật Bản, như Sony, Mishubishi, Hitachi. Hàng loạt các nhà máy chế tạo điện tử và xe hơi từ Hàn Quốc, đến Ðài Loan, sang đến Châu Âu rồi qua Mỹ đều lần lượt bị ảnh hương vì thiếu linh kiện từ Nhật Bản.
Ngoài ra, các dây chuyền cung ứng của các xí nghiệp tin học, điện tử và xe hơi đều bị tác động nặng nề. Tác động lan sang Hoa Kỳ; công ty chuyên về thiết bị tin học Hewlett Packard cũng gặp khó khăn với những nhà cung cấp linh kiện của Nhật. General Motor cũng phải tạm thời đóng cửa nhà máy tại Lousiana với lý do tương tự. Các hãng xe hơi Pháp, như Renault, Peugeot, cũng phải cắt giảm sản xuất. Hãng Toshiba thông báo đóng cửa tạm thời một cơ sở lắp ráp màn hình tinh thể lỏng (LCD). Hậu quả kinh tế, trong tháng 3 và 4 năm nay, Nhật tăng trưởng “âm” (-1.9%).
Biển Ðông và sự trở lại của Hoa Kỳ
Từ nhiều năm, Trung Quốc dùng chính sách “khống chế Việt Nam” qua việc xâm lược Hoàng Sa, Trường Sa, cung cấp vũ khí - trợ giúp cho Khơme đỏ gây hấn năm 1978, và chiến tranh biên giới với Việt Nam 1979.
Năm 2011, Trung Quốc cắt cáp các tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam trong khu vực độc quyền kinh tế Việt Nam, hăm dọa Philippines và các nước trong vùng Thái Bình Dương. Lần đầu tiên Việt Nam lên tiếng phản đối hành động hung hăng của Trung Quốc và trong nhiều năm qua, Hà Nội có nhiều cố gắng xích gần Washington để cân bằng với Bắc Kinh tại Biển Ðông.
Thái độ Trung Quốc khiến các nước láng giềng lo lắng và không chỉ là ASEAN mà cả Mỹ, Nhật, Ấn Ðộ và Úc cũng lo ngại. Các hành động gây hấn trên Biển Ðông hay biển Ðông Hoa quá rõ ràng. Họ gởi tàu ngư chính tuần tra tại vùng Hoàng Sa, đe dọa các tàu đánh cá Việt Nam, đe dọa tàu thăm dò dầu lửa của Việt Nam và Philippines... Không chỉ tranh giành tại Biển Ðông, Trung Quốc còn biểu lộ tham vọng kiểm soát Ấn Ðộ Dương.
Năm 2011 là năm phản công quy mô của Hoa Kỳ qua chuyến công du Thái Bình Dương của TT Obama.
Tại Úc, TT Obama cho triển khai 2,500 Thủy Quân Lục Chiến đến Darwin. Ông nói: “Hoa Kỳ là một thế lực Thái Bình Dương, và chúng tôi sẽ duy trì tư thế đó.” Sau đó, tại hội nghị APEC tại Hawaii, Mỹ cho thúc đẩy đàm phán TPP (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương, hay Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement, bao gồm 9 thành viên, khởi động từ 2005, nhằm xây dựng một khu vực thương mại tự do hai bên bờ Thái Bình Dương, không có sự tham dự của Trung Quốc). Rút kinh nghiệm WTO, là nơi Trung Quốc không giữ các cam kết mở thị trường của họ, Mỹ đề nghị TPP - một tiến trình hội nhập tư do thương mại kinh tế liên quan tới 9 nền kinh tế năng động, chiếm 25% sản lượng kinh tế thế giới, có tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là $16,000 tỷ trong một thị trường với 472 triệu dân. Nhiều nước ASEAN muốn tham gia TPP gồm Singapore, Malaysia, Brunei và Việt Nam, chưa kể các nước khác như Úc, Tân Tây Lan, Chile, Peru, Canada, Mexico và Nhật. Tại Thượng đỉnh Ðông Á Bali ngày 19 tháng 11, 2011, Biển Ðông được quốc tế hóa và TT Obama tái xác định lập trường “tự do lưu thông” tại Biển Ðông, đồng thời nhắc rằng các tranh chấp chủ quyền phải dựa trên luật quốc tế, kể cả luật biển của LHQ, gọi là UNCLOS. Ðối với TQ, việc hồ sơ Biển Ðông được quốc tế hóa tại một diễn đàn gồm 18 nước là một thất bại chính trị cho Bắc Kinh. Phản công của Hoa Kỳ cho thấy Trung Quốc “bơ vơ - bị chiếu tướng”.
Âu Châu khủng hoảng nợ công
2011 là năm khu vực đồng Euro gây quan ngại. Giám đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, bà C. Lagarde, kêu gọi tất cả các quốc gia trên thế giới cùng hợp lực xua tan đám mây đen bao phủ toàn cảnh kinh tế thế giới.
Bà quan ngại về khủng hoảng khu vực Euro vì có thể dẫn tới một sự mất niềm tin ở quy mô quốc tế có nguy cơ dẫn kinh tế toàn cầu vào vòng suy thoái.
Tình trạng khủng hoảng nợ công của Hy Lạp kéo dài từ năm 2010, lan sang nhiều thành viên khác trong khối Euro: Ireland, Bồ Ðào Nha (Portugal), Tây Ban Nha và ngay cả của Ý (nền kinh tế thứ ba của khối Euro với nợ công lên tới 1,900 tỷ Euro, hay 120% GDP - tổng sản phẩm nội địa) chỉ vì vấn đề nợ công. Các nước như Áo, Ðức cũng trở thành mục tiêu tấn công của các thị trường tài chính cho dù Áo là quốc gia có chính sách chi tiêu chừng mực, tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp, tỷ lệ nợ công ở mức trong giới hạn và không bị thâm hụt cán cân thương mại. Ðức thì trong đợt phát hành công trái phiếu gần đây đã chật vật lắm mới huy động được vốn như ý muốn. Tại Pháp, chính phủ cho ra đời hai kế hoạch thắt lưng buộc bụng nhưng các nỗ lực của Paris đến giờ vẫn chưa đủ sức thuyết phục ba cơ quan thẩm định tài chính đầy quyền lực, là Fitch, Standard & Poor's và Moody's.
Trong khi Âu Châu điêu đứng vì nợ công thì 27 nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu và 17 thành viên khối Euro chưa đưa ra được biện pháp cụ thể nào để tháo gỡ bế tắc. Giải pháp duy nhất là thi hành các biện pháp cắt giảm chi tiêu - giảm bội chi ngân sách, hạ tỷ lệ nợ công / GDP từ nay cho đến ít nhất là 2014 nhằm giữ điểm tín nhiệm ở mức cao nhất. Các chính sách khắc khổ mất lòng dân vì đồng nghĩa với việc cắt giảm chi tiêu công cộng, giảm trợ cấp xã hội, giảm lương hưu, tăng thuế.
Từ Madrid, Paris, Athènes, Roma hay Lisbon, người dân xuống đường bày tỏ phẫn nộ. Các biện pháp cắt giảm trợ cấp xã hội, lương hưu hay giảm các chi tiêu công khiến dấy lên phong trào phản đối. Nhiều cuộc tổng đình công diễn ra tại Hy Lạp, Bồ Ðào Nha, Ý, và kể cả tại Anh, nơi người dân vốn cam chịu.
Nhiều chuyên gia đánh giá việc cắt giảm chi tiêu là sai lầm vì theo họ cần xem lại tỷ giá hối đoái của đồng Euro. Nước Ðức là một ngoại lệ vì ngành xuất khẩu của Ðức vẫn rất năng động và cán cân thương mại của chính quyền Berlin không bị thiếu hụt. Ðây là lý do dẫn đến tình trạng “tê liệt” trong việc giải quyết khủng hoảng tài chính Châu Âu, một trận chiến kéo dài thực ra là từ hơn một năm nay. Hiện tại, Âu Châu coi như tê liệt.
2011 là năm cách mạng tự phát đã giúp hạ bệ nhiều nhà độc tài tại Trung Ðông. Các nước tại Á Châu nay sợ điều gọi là Cách Mạng Hoa Nhài. Trùm khủng bố Osama bị hạ bệ, Mỹ rút khỏi Iraq nhưng vấn đề Trung Ðông chưa hóa giải xong, và Washington vẫn còn kẹt tại Afghanistan. Tại Á Châu, Mỹ phản công vì các nước muôn cân bằng ảnh hưởng của một Trung Quốc đang lên với nhiều tham vọng đế quốc kiểu “Ðại Hán”.
Iran đang thực hiện nước cờ đối phó với Mỹ từ sân sau?
Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad hôm nay đến Venezuela, chặng dừng chân đầu tiên trong chuyến công du 4 nước Mỹ Latinh. Dư luận rất chú ý động thái này vì nó diễn ra trong bối cảnh áp lực phương Tây đối với chương trình hạt nhân của Tehran ngày càng gia tăng.
Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad đang khẳng định sự hợp tác với các nước Mỹ Latinh là một trong những ưu tiên hàng đầu
Tại Venezuela, ông Admadinejad sẽ gặp gỡ Tổng thống Venezuela Hugo Chavez. Tiếp đó, ngày 10/1, ông Admadinejad sẽ dự lễ nhậm chức của Tổng thống mới Nicaraguan Daniel Ortega.
Ông cũng sẽ thăm Ecuador trước khi đến Cuba.
Ngày 6/1, Mỹ kêu gọi các quốc gia châu Mỹ Latinh không tăng cường quan hệ với Iran khi Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad chuẩn bị có chuyến công du đến đây.
“Khi chế độ này cảm thấy áp lực ngày càng gia tăng, họ sẽ cuống lên tìm bạn bè mới", người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland nói với báo giới.
Nhưng các nhà phân tích cho rằng chuyến đi của ông Ahmadinejad là bước mới nhất trong nỗ lực lâu dài và có tính toán nhằm tăng cường sự ủng hộ ở khu vực Mỹ Latinh.
Cả 4 quốc gia Mỹ Latinh trong chuyến thăm của ông Admadinejad đều có mối quan hệ không tốt với Mỹ. Trong 4 năm qua, nhiều quan chức những nước này đã đến thăm Tehran để thiết lập quan hệ ngoại giao và kinh tế.
Khi Iran cố gắng cải thiện hình ảnh, thách thức các biện pháp cấm vận đang ngày càng được thắt chặt, thách thức cả ảnh hưởng toàn cầu của Washington và đảm bảo một vị trí chắc chắn ở sân sau của Mỹ, thì quan hệ với các nước Mỹ Latinh trở nên ngày càng quan trọng.
Kênh truyền hình Press TV của nhà nước Iran đã mô tả sự hợp tác với các nước Mỹ Latinh là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách ngoại giao của nước Cộng hòa Hồi giáo này.
Mối quan hệ giữa Iran và phương Tây, vốn đã căng thẳng, lại đang ngày càng tồi tệ sau khi chính quyền Teheran đe dọa phong tỏa eo biển Ormuz, cửa ngõ vào vùng Vịnh, nơi 20 % lượng dầu giao dịch trên thế giới qua lại.
Iran dọa đóng cửa eo biển Ormuz trong trường hợp bị Mỹ và Liên minh châu Âu trừng phạt để gây áp lực, đòi Iran từ bỏ chương trình hạt nhân.
Chính quyền Iran ngày 7/1 cho biết vừa kết thúc cuộc tập trận 10 ngày trên biển ở phía đông eo biển Ormuz và Teheran đang chuẩn bị cho các đợt tập trận kế tiếp. Ngoài ra, hải quân Iran đe dọa sẽ trả đũa trong trường hợp tàu sân bay Mỹ tiến vào khu vực vùng Vịnh.
Trong khi đó, căng thẳng ở vùng Vịnh lại xuất hiện diễn biến mới khi ngày hôm qua, 7/1, Bộ Quốc phòng Anh tuyên bố sẽ điều chiếc khu trục hạm Daring đến khu vực vùng Vịnh. Đây là loại tàu chiến đời mới nhất của Hải quân Hoàng gia Anh và Daring là một trong sáu chiến hạm sẽ lần lượt thay thế các tàu chiến của Anh đã hoạt động từ những năm 1970.
Hà Khoa Tổng hợp
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Mời đọc bài này của một người Việt Nam sống lưu vong ở Úc 30 năm ..!!!!
Học làm con Người Việt Nam
của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa
Chu Thập
Quê hương thì ai cũng nhớ cũng thương, dù chùm khế ngọt có héo đi, dù cây đa cũ bên đò xưa có thay đổi, dù con sông bờ ruộng có bị lấp đi...quê hương ấy vẫn cứ sống mãi trong ký ức và tiềm thức của tôi. Nhà văn Sơn Nam đã có lý để viết:
“phong sương mấy độ qua đường phố,
hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”.
Sau 30 năm xa cách, tôi cũng trở về Việt nam với tâm trạng ấy và ra đi cũng với tâm trạng ấy.
Tôi không thể nào không thương nhớ quê hương. Nhưng tôi không sợ bị kết án là vong bản để nói rằng tôi không thể nào hòa nhập trở lại vào cuộc sống ở quê hương. Sau đúng một tháng đi “xâm nhập thực tế” từ Nam chí Bắc, bằng mọi phương tiện di chuyển thượng vàng hạ cám, từ máy bay đến taxi, xe đò, xe buýt, xe ôm, xe xích lô, thuyền bè, tiếp xúc với hầu hết mọi giai cấp xã hội, tôi vẫn chưa thấy mình “tốt nghiệp” từ trường học làm người Việt nam XHCN. Tôi vẫn cảm thấy lạc lõng ngay trên chính quê hương của mình.
Suốt một tháng sống ở quê hương, theo lời ông bà dạy, tôi đã bắt đầu lại bài học vỡ lòng là “học ăn”. Trong trường XHCN hiện nay, đây là môn khó nuốt nhứt đối với tôi. Về Việt nam để ăn cho thỏa thích là chuyện có thể hiểu được đối với nhiều người Việt hải ngoại. Ai mà chẳng thèm các món đặc sản ở quê hương. Nhưng tôi hoàn toàn thất vọng về khoản này. Hàng ăn ở Việt nam không thiếu. Thật không ngoa để nói rằng cả nước Việt Nam hiện nay là một “hàng ăn”. Trên vỉa hè và ngay cả trên đường phố, dọc theo những con lộ ở thôn quê, chỗ nào cũng có tiệm cà phê và quán ăn. Đó là chưa kể những gánh hàng rong. Đồ ăn, món nhậu và thức uống được dọn ngay trước mặt mình vào bất cứ lúc nào trong ngày.
Đầu thập niên 80, mới đến Pháp, tôi thực sự thất vọng và cảm thấy bơ vơ trong xã hội mới: đi tìm một hàng quán là chuyện trần ai. Giá cả thì lại làm cho những người tỵ nạn chân ướt chân ráo phải dội ngửa. Đó là chưa kể ngày chúa nhựt: phố xá đóng cửa im thin thít. Có đói thì cũng đành phải bóp bụng mà kéo lê từng bước mỏi mệt đến hằng bao cây số may ra mới tìm được một tiệm ăn bình dân.
Đến Ý tôi lại càng bực mình hơn: cứ từ hai giờ trưa đến bốn giờ chiều, mọi quán sá đều đóng cửa. Mặc cho du khách có réo gọi, người ta vẫn cứ tỉnh bơ ngủ trưa đã.
Ở Việt nam XHCN hiện nay thì trái lại, muốn ăn cái gì cũng có, muốn ăn giờ nào cũng được, muốn ngồi ăn ở đâu cũng chẳng ai cười. Có lần trên một chuyến taxi, tôi nêu thắc mắc với người tài xế: tại sao ở VN người ta “ăn nhậu” liên tục như thế? Anh trả lời rằng đa số người Việt nam hiện nay sống rất hiện sinh. Anh giải thích rằng người Việt nam ăn nhậu xả láng là vì không muốn nghĩ đến ngày mai và cũng chẳng bao giờ có ngày mai mà nghĩ.Kiếm được đồng nào xài đồng đó. Đó là chủ trương sống của rất nhiều người Việt nam hiện nay. Không chỉ có những cán bộ phì nộn, ăn mặc bảnh bao hay các đại gia và giai cấp nhà giàu mới ăn nhậu, xem ăn nhậu như thủ tục đầu tiên, người dân lao động, những kẻ ăn không ngồi rồi cũng ăn nhậu và ăn nhậu suốt ngày, suốt đêm.
Sau một tháng về thăm Việt nam, đứng lên bàn cân, tôi sụt ký thấy rõ vì không muốn và không dám ăn một cách “thỏa thích” như mọi người. Tôi thực sự cảm thấy ái ngại mỗi khi bước vào một nhà hàng sang trọng. Giá cả không quá cao nếu so với Úc và các nước văn minh. Nhưng trong một đất nước mà thu nhập bình quân của một người lao động phổ thông vẫn còn ở mức dưới 5 Mỹ kim một ngày thì một bữa ăn trong một nhà hàng giá đến vài chục Mỹ kim, chưa kể tiền bia rượu, thì đây hẳn là một cách tiêu xài xa xỉ chỉ dành riêng cho giới nhà giàu mới trong xã hội "ai chết' mặc bây, tiền thầy đầy túi ".
Tôi không thấy thoải mái để bước vào các nhà hàng sang trọng . Cơm đường cháo chợ thì ê hề. Nhưng ngặt một nỗi, vì đã lỡ học cái thói vệ sinh của các nước văn minh, cho nên có thèm nhỏ dãi tôi cũng đành ăn hàm thụ. Trong những ngày đầu, bị "tào tháo" rượt một lần, tôi tởn tới già. Cùng lắm, muốn ăn món tủ, nhà tôi đành phải mua rau cỏ về nhà rửa sạch với thuốc rửa rau mà chúng tôi mang theo từ Úc, rồi đem ra nhà hàng ăn, thay vì ăn rau của họ trước con mắt khó chịu của người xung quanh. Ngoài ra, xuất xứ của các thứ thịt cá được dọn ra trong các hàng quán cũng khiến tôi nghi ngại. Những con thú chết vì bệnh... thay vì đem chôn thi` được xẻ thịt ra bán trong chợ là chuyện có thật được chính báo chí Việt nam phanh phui. Thịt quay treo lủng lẳng trên đường phố đầy bụi bậm và ngày này sang ngày khác là chuyện mà tôi thấy trước mắt mỗi khi xuống đường. Ngay chợ Đồng Xuân, Hanoi, nhà tôi đã vô tình chứng kiến cảnh người ta xẻ thịt bò ngay trên nền chợ lầy lội nước.
Tựu trung, các hàng ăn ở Việt nam kinh doanh bằng mọi giá, bất kể các tiêu chuẩn vệ sinh và chuẩn mực đạo đức. Xét cho cùng, nếu ăn uống là thể hiện của văn hóa một đất nước, thì điều được gọi là “văn hóa ẩm thực” của Việt nam hiện nay cũng nói lên sự dối trá và lừa gạt vốn tràn lan trong xã hội. Muốn có chỗ ăn ngon, sạch, đúng giá, thì chỉ có nước nhờ người quen mách bảo.
Tôi thấy mình chưa thuần thục trong bài “học ăn” ở Việt nam. Sang đến chuyện “học nói” thì tôi lại càng thấy mình “ngọng” hơn. Cả nước Việt nam không chỉ là một “hàng ăn” mà còn là một khu triển lãm các khẩu hiệu. Từ thành thị đến thôn quê, từ các đường phố sang trọng đến các con hẻm tồi tệ bẩn thỉu, ở bất cứ ngõ ngách nào, du khách cũng có thể đọc được những khẩu hiệu. Từ việc ca tụng đảng cộng sản Việt Nam quang vinh đến nếp sống văn minh, xem ra người Việt Nam xã hội chủ nghĩa sống bằng khẩu hiệu hơn với thực tế. Quả thực, đi đâu tôi cũng thấy “mưa sa trên mầu cờ đỏ” và bơ vơ trong rừng khẩu hiệu. Lạc lõng hơn nữa khi mở các kênh truyền hình chính của Việt nam. Cái giọng Bắc hoàn toàn khác với giọng Bắc “năm mươi tư” không thể không làm cho tôi nghe nhức đau lỗ tai. Phải nói thật sự có một “Nước Bắc” xâm chiếm Miền Nam Việt Nam và áp đặt không chỉ ý thức hệ mà còn cả văn hóa, ngôn ngữ và giọng nói. Trước 1975, trong miền Nam làm gì có chiếc xe “ô tô”, “ điện ô tô” hay “xe con” hay làm gì có chuyện “đảm bảo”. Tôi thấy rõ chuyện “thực dân mới” ấy trên chuyến bay từ Hà nội về Sài Gòn. Thông thường các cô tiếp viên của các hãng không dân dụng Á châu đều có một sắc đẹp đủ để đại diện cho đất nước của mình. Nhưng trong chuyến bay của hãng Jetstar từ Hà nội vào Sài Gòn hôm đó, tôi hoàn toàn thất vọng về cô tiếp viên trưởng Với “nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai”, nếu cô được chọn làm tiếp viên trưởng của chuyến bay thì chắc chắn cô chỉ có thể là “Con Ông Cháu Cha” mà thôi. Tôi lại càng nghĩ rằng tôi không đoán sai điều đó, bởi vì khi cô mở miệng nói với hành khách bằng tiếng “Bắc Kỳ Quốc” thì tôi chẳng hiểu gì “sốt”. Đến khi cô “dịch” sang Anh ngữ thì tôi lại càng “điếc” và không biết cô nói tiếng nước lào !
Nói như thế không có nghĩa là tôi giỏi và nói tiếng Anh rành đến độ quên tiếng mẹ đẻ. Thật ra, vấn đề tiếng Việt của tôi ở Việt nam không phải là “nói” cho bằng là “hiểu” cái lối nói “xa lạ” hiện nay của nhiều người Việt nam. Không kể đến chuyện người ta cho vào bảo tàng viện hai tiếng “xin lỗi” và “cám ơn”, cái cách ăn nói cộc lốc, thiếu lịch sự, thiếu lễ độ, thiếu cả văn minh... của người Việt nam XHCN vừa làm cho tôi đau lỗ tai vừa làm cho tôi đau lòng. Đau lòng thực sự bởi vì cái lễ giáo và nét đẹp của cách nói năng được nhào nặn từ bao thế hệ đã hầu như hoàn toàn bị xóa bỏ. Tôi rất sợ vào chợ để mua hàng. Tôi sợ khi phải sờ đến một món hàng và hỏi một câu, mặc dù đã cố gắng để tỏ ra lịch sự hết sức có thể. Tôi sợ là bởi vì lúc nào mình cũng có thể được đáp trả bằng một tràng câu nói như chửi tát vào mặt.
Quả thật, một tháng có lẽ chưa đủ để tôi “học nói” lại trong Việt nam XHCN hiện nay. Sau chuyện “HỌC ĂN, HỌC NÓI”, tôi lướt qua chuyện “HỌC GÓI HỌC MỞ” để đi thẳng vào một chuyện tối quan trọng trong những ngày sống ở Việt nam: đó là chuyện “HỌC ĐI”.
Tôi còn nhớ: cách đây vài năm, nhân một cuộc họp APEC được tổ chức tại Hà nội, một nữ phóng viên Phi Luật Tân tháp tùng phái đoàn chính phủ Phi, đã ghi lại hai nhận xét mà cô cho là tâm đắc nhứt trong chuyến thăm Việt nam:
1. Con trai Việt nam không đẹp,
2. Ai muốn tự tử cứ “đi bộ” băng qua các đường phố ở Việt Nam.
Cả hai điều, tôi đều thấy đúng cả.
Tuần cuối cùng ở Sài Gòn, không biết làm gì, tôi di xe buýt đến Thủ Đức, Biên Hòa. Tại đây tôi được dịp nhìn thấy Làng Đại Học của Miền Nam Việt nam. Có cả một trường đại học quốc tế (International University) mà tôi không biết của nước nào. Nhưng phải nói là nhận xét của cô phóng viên người Phi thực là chính xác: trong đám nam sinh viên, rường cột và tương lai của đất nước, chen chúc trên xe buýt hay đi bộ đến trường, tôi chỉ nhìn thấy những tấm thân ốm o, còm cõi, nhỏ bé và những gương mặt thiếu sức sống và sự tỏa sáng. ( Ôi! Thật là nhục nhã cho các đấng Sinh viên Việt Nam !!! )
Nhưng trở lại với bài “học đi” mà tôi đã cố gắng học trong những ngày lê bước ở Việt nam. Phải nói ngay rằng người Việt nam XHCN hiện nay rất ít đi bộ. Không cần phải nhìn cách tôi ăn mặc hay nghe tôi nói chuyện mà chỉ cần thấy tôi đi bộ hay băng qua đường là biết rõ tôi không phải là người Việt nam XHCN. Ở Việt nam, cứ bước ra khỏi nhà thì hầu như ai cũng cỡi xe gắn máy hay ít nhứt trèo lên xe ôm. Tôi không biết mình có quá chủ quan không khi nói rằng có lẽ không nơi nào trên thế giới có nhiều xe gắn máy cho bằng Việt nam, không có nơi nào trên thế giới bị ô nhiễm cho bằng các đường phố ở Việt nam và dĩ nhiên cũng không có nơi nào trên thế giới “nguy hiểm” cho khách bộ hành cho bằng VN. Quả thật, nếu muốn tự tử một cách dễ dàng, chẳng cần phải nhảy cầu, trầm mình xuống sông, rơi từ cao ốc, uống thuốc ngủ hay thắt cổ: chỉ cần hiên ngang băng qua đường ở VN cũng đủ để đi thẳng vào thế giới khác ngay.
Ở Việt nam luật đi đường nào cũng có, nhưng chẳng ai tuân giữ và khách bộ hành là hạng người rẻ nhứt trong xã hội. Ở Việt nam, công an giao thông đứng đầy đường, nhưng không phải để hướng dẫn về giao thông mà chỉ để được người lái xe “hối lộ” hay “mãi lộ” theo đúng nghĩa. Hôm giỗ cụ Nguyễn Trung Trực, bị kẹt trong một rừng người hỗn loạn thiếu điều đạp lên nhau tại Rạch giá, tôi không sao tìm thấy bóng một cái “áo vàng”.
Tôi vẫn nhớ mãi chuyến đi từ Vũng Tầu ra Nha Trang. Tài xế của chuyến xe, như anh tự giới thiệu, một người Thanh Hóa đã từng là công an. Nói chung, những tài xế người “Nước Bắc” có lối lái xe phải nói là “mất dạy” và lối nói năng cũng “mất dạy” hơn tài xế Miền Nam. Suốt chuyến đi, vì ngồi sau lưng anh, lỗ nhĩ tôi bị tra tấn vì những câu văng tục liên hồi của anh. Nhưng được bộ nhớ của tôi ghi nhận kỹ nhứt là lúc anh trả lời cho một hành khách muốn xuống trước đồn công an gần một cổng trường tiểu học. Anh nói: “Làm gì có đồn công an gần một trường học. Chẳng có thằng ngu nào lại đi xây một trường học bên cạnh một đồn công an, bởi vì làm như thế thì trẻ con sẽ phải làm chó trước khi kịp “học làm người”.
Tôi đã học được rất nhiều bài học trong một tháng đi “thực tế” ở Việt nam. Nhưng bài “học đi bộ” thì tôi đành bỏ cuộc. Mỗi lần băng qua đường mà còn lành lặn, tôi xem như một phép lạ. Theo tôi, lối giao thông ở Việt nam thể hiện đúng cách sống của người Việt nam XHCN hiện nay: ở đâu người ta cũng có thể luồn lách và tránh né miễn là được việc và dĩ nhiên được việc cho bản thân mình trước đã. Người khác có sống chết ra sao cũng mặc kệ !
Về thăm lại quê hương tôi thấy buồn nhiều hơn vui. Phải nhìn nhận, sau 30 năm “dầy công xây dựng” xã hội chủ nghĩa, có một số dấu hiệu của phát triển: nhiều cao ốc hơn, nhiều đường sá hơn, cuộc sống vật chất và tiện nghi có khá hơn. Nhưng thật đáng buồn cho một đất nước khi sự phát triển hỗn loạn đã bóp nghẹt và chà đạp những giá trị tinh thần và luân lý. Nói như ai đó, phần “con” trong "con-người" Việt nam XHCN đã phát triển hơn, nhưng phần “người” thì lại ngày càng nhỏ teo lại.
Nghĩ như thế mà buồn tủi cho quê hương !
Học làm con Người Việt Nam
của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa
Chu Thập
Quê hương thì ai cũng nhớ cũng thương, dù chùm khế ngọt có héo đi, dù cây đa cũ bên đò xưa có thay đổi, dù con sông bờ ruộng có bị lấp đi...quê hương ấy vẫn cứ sống mãi trong ký ức và tiềm thức của tôi. Nhà văn Sơn Nam đã có lý để viết:
“phong sương mấy độ qua đường phố,
hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”.
Sau 30 năm xa cách, tôi cũng trở về Việt nam với tâm trạng ấy và ra đi cũng với tâm trạng ấy.
Tôi không thể nào không thương nhớ quê hương. Nhưng tôi không sợ bị kết án là vong bản để nói rằng tôi không thể nào hòa nhập trở lại vào cuộc sống ở quê hương. Sau đúng một tháng đi “xâm nhập thực tế” từ Nam chí Bắc, bằng mọi phương tiện di chuyển thượng vàng hạ cám, từ máy bay đến taxi, xe đò, xe buýt, xe ôm, xe xích lô, thuyền bè, tiếp xúc với hầu hết mọi giai cấp xã hội, tôi vẫn chưa thấy mình “tốt nghiệp” từ trường học làm người Việt nam XHCN. Tôi vẫn cảm thấy lạc lõng ngay trên chính quê hương của mình.
Suốt một tháng sống ở quê hương, theo lời ông bà dạy, tôi đã bắt đầu lại bài học vỡ lòng là “học ăn”. Trong trường XHCN hiện nay, đây là môn khó nuốt nhứt đối với tôi. Về Việt nam để ăn cho thỏa thích là chuyện có thể hiểu được đối với nhiều người Việt hải ngoại. Ai mà chẳng thèm các món đặc sản ở quê hương. Nhưng tôi hoàn toàn thất vọng về khoản này. Hàng ăn ở Việt nam không thiếu. Thật không ngoa để nói rằng cả nước Việt Nam hiện nay là một “hàng ăn”. Trên vỉa hè và ngay cả trên đường phố, dọc theo những con lộ ở thôn quê, chỗ nào cũng có tiệm cà phê và quán ăn. Đó là chưa kể những gánh hàng rong. Đồ ăn, món nhậu và thức uống được dọn ngay trước mặt mình vào bất cứ lúc nào trong ngày.
Đầu thập niên 80, mới đến Pháp, tôi thực sự thất vọng và cảm thấy bơ vơ trong xã hội mới: đi tìm một hàng quán là chuyện trần ai. Giá cả thì lại làm cho những người tỵ nạn chân ướt chân ráo phải dội ngửa. Đó là chưa kể ngày chúa nhựt: phố xá đóng cửa im thin thít. Có đói thì cũng đành phải bóp bụng mà kéo lê từng bước mỏi mệt đến hằng bao cây số may ra mới tìm được một tiệm ăn bình dân.
Đến Ý tôi lại càng bực mình hơn: cứ từ hai giờ trưa đến bốn giờ chiều, mọi quán sá đều đóng cửa. Mặc cho du khách có réo gọi, người ta vẫn cứ tỉnh bơ ngủ trưa đã.
Ở Việt nam XHCN hiện nay thì trái lại, muốn ăn cái gì cũng có, muốn ăn giờ nào cũng được, muốn ngồi ăn ở đâu cũng chẳng ai cười. Có lần trên một chuyến taxi, tôi nêu thắc mắc với người tài xế: tại sao ở VN người ta “ăn nhậu” liên tục như thế? Anh trả lời rằng đa số người Việt nam hiện nay sống rất hiện sinh. Anh giải thích rằng người Việt nam ăn nhậu xả láng là vì không muốn nghĩ đến ngày mai và cũng chẳng bao giờ có ngày mai mà nghĩ.Kiếm được đồng nào xài đồng đó. Đó là chủ trương sống của rất nhiều người Việt nam hiện nay. Không chỉ có những cán bộ phì nộn, ăn mặc bảnh bao hay các đại gia và giai cấp nhà giàu mới ăn nhậu, xem ăn nhậu như thủ tục đầu tiên, người dân lao động, những kẻ ăn không ngồi rồi cũng ăn nhậu và ăn nhậu suốt ngày, suốt đêm.
Sau một tháng về thăm Việt nam, đứng lên bàn cân, tôi sụt ký thấy rõ vì không muốn và không dám ăn một cách “thỏa thích” như mọi người. Tôi thực sự cảm thấy ái ngại mỗi khi bước vào một nhà hàng sang trọng. Giá cả không quá cao nếu so với Úc và các nước văn minh. Nhưng trong một đất nước mà thu nhập bình quân của một người lao động phổ thông vẫn còn ở mức dưới 5 Mỹ kim một ngày thì một bữa ăn trong một nhà hàng giá đến vài chục Mỹ kim, chưa kể tiền bia rượu, thì đây hẳn là một cách tiêu xài xa xỉ chỉ dành riêng cho giới nhà giàu mới trong xã hội "ai chết' mặc bây, tiền thầy đầy túi ".
Tôi không thấy thoải mái để bước vào các nhà hàng sang trọng . Cơm đường cháo chợ thì ê hề. Nhưng ngặt một nỗi, vì đã lỡ học cái thói vệ sinh của các nước văn minh, cho nên có thèm nhỏ dãi tôi cũng đành ăn hàm thụ. Trong những ngày đầu, bị "tào tháo" rượt một lần, tôi tởn tới già. Cùng lắm, muốn ăn món tủ, nhà tôi đành phải mua rau cỏ về nhà rửa sạch với thuốc rửa rau mà chúng tôi mang theo từ Úc, rồi đem ra nhà hàng ăn, thay vì ăn rau của họ trước con mắt khó chịu của người xung quanh. Ngoài ra, xuất xứ của các thứ thịt cá được dọn ra trong các hàng quán cũng khiến tôi nghi ngại. Những con thú chết vì bệnh... thay vì đem chôn thi` được xẻ thịt ra bán trong chợ là chuyện có thật được chính báo chí Việt nam phanh phui. Thịt quay treo lủng lẳng trên đường phố đầy bụi bậm và ngày này sang ngày khác là chuyện mà tôi thấy trước mắt mỗi khi xuống đường. Ngay chợ Đồng Xuân, Hanoi, nhà tôi đã vô tình chứng kiến cảnh người ta xẻ thịt bò ngay trên nền chợ lầy lội nước.
Tựu trung, các hàng ăn ở Việt nam kinh doanh bằng mọi giá, bất kể các tiêu chuẩn vệ sinh và chuẩn mực đạo đức. Xét cho cùng, nếu ăn uống là thể hiện của văn hóa một đất nước, thì điều được gọi là “văn hóa ẩm thực” của Việt nam hiện nay cũng nói lên sự dối trá và lừa gạt vốn tràn lan trong xã hội. Muốn có chỗ ăn ngon, sạch, đúng giá, thì chỉ có nước nhờ người quen mách bảo.
Tôi thấy mình chưa thuần thục trong bài “học ăn” ở Việt nam. Sang đến chuyện “học nói” thì tôi lại càng thấy mình “ngọng” hơn. Cả nước Việt nam không chỉ là một “hàng ăn” mà còn là một khu triển lãm các khẩu hiệu. Từ thành thị đến thôn quê, từ các đường phố sang trọng đến các con hẻm tồi tệ bẩn thỉu, ở bất cứ ngõ ngách nào, du khách cũng có thể đọc được những khẩu hiệu. Từ việc ca tụng đảng cộng sản Việt Nam quang vinh đến nếp sống văn minh, xem ra người Việt Nam xã hội chủ nghĩa sống bằng khẩu hiệu hơn với thực tế. Quả thực, đi đâu tôi cũng thấy “mưa sa trên mầu cờ đỏ” và bơ vơ trong rừng khẩu hiệu. Lạc lõng hơn nữa khi mở các kênh truyền hình chính của Việt nam. Cái giọng Bắc hoàn toàn khác với giọng Bắc “năm mươi tư” không thể không làm cho tôi nghe nhức đau lỗ tai. Phải nói thật sự có một “Nước Bắc” xâm chiếm Miền Nam Việt Nam và áp đặt không chỉ ý thức hệ mà còn cả văn hóa, ngôn ngữ và giọng nói. Trước 1975, trong miền Nam làm gì có chiếc xe “ô tô”, “ điện ô tô” hay “xe con” hay làm gì có chuyện “đảm bảo”. Tôi thấy rõ chuyện “thực dân mới” ấy trên chuyến bay từ Hà nội về Sài Gòn. Thông thường các cô tiếp viên của các hãng không dân dụng Á châu đều có một sắc đẹp đủ để đại diện cho đất nước của mình. Nhưng trong chuyến bay của hãng Jetstar từ Hà nội vào Sài Gòn hôm đó, tôi hoàn toàn thất vọng về cô tiếp viên trưởng Với “nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai”, nếu cô được chọn làm tiếp viên trưởng của chuyến bay thì chắc chắn cô chỉ có thể là “Con Ông Cháu Cha” mà thôi. Tôi lại càng nghĩ rằng tôi không đoán sai điều đó, bởi vì khi cô mở miệng nói với hành khách bằng tiếng “Bắc Kỳ Quốc” thì tôi chẳng hiểu gì “sốt”. Đến khi cô “dịch” sang Anh ngữ thì tôi lại càng “điếc” và không biết cô nói tiếng nước lào !
Nói như thế không có nghĩa là tôi giỏi và nói tiếng Anh rành đến độ quên tiếng mẹ đẻ. Thật ra, vấn đề tiếng Việt của tôi ở Việt nam không phải là “nói” cho bằng là “hiểu” cái lối nói “xa lạ” hiện nay của nhiều người Việt nam. Không kể đến chuyện người ta cho vào bảo tàng viện hai tiếng “xin lỗi” và “cám ơn”, cái cách ăn nói cộc lốc, thiếu lịch sự, thiếu lễ độ, thiếu cả văn minh... của người Việt nam XHCN vừa làm cho tôi đau lỗ tai vừa làm cho tôi đau lòng. Đau lòng thực sự bởi vì cái lễ giáo và nét đẹp của cách nói năng được nhào nặn từ bao thế hệ đã hầu như hoàn toàn bị xóa bỏ. Tôi rất sợ vào chợ để mua hàng. Tôi sợ khi phải sờ đến một món hàng và hỏi một câu, mặc dù đã cố gắng để tỏ ra lịch sự hết sức có thể. Tôi sợ là bởi vì lúc nào mình cũng có thể được đáp trả bằng một tràng câu nói như chửi tát vào mặt.
Quả thật, một tháng có lẽ chưa đủ để tôi “học nói” lại trong Việt nam XHCN hiện nay. Sau chuyện “HỌC ĂN, HỌC NÓI”, tôi lướt qua chuyện “HỌC GÓI HỌC MỞ” để đi thẳng vào một chuyện tối quan trọng trong những ngày sống ở Việt nam: đó là chuyện “HỌC ĐI”.
Tôi còn nhớ: cách đây vài năm, nhân một cuộc họp APEC được tổ chức tại Hà nội, một nữ phóng viên Phi Luật Tân tháp tùng phái đoàn chính phủ Phi, đã ghi lại hai nhận xét mà cô cho là tâm đắc nhứt trong chuyến thăm Việt nam:
1. Con trai Việt nam không đẹp,
2. Ai muốn tự tử cứ “đi bộ” băng qua các đường phố ở Việt Nam.
Cả hai điều, tôi đều thấy đúng cả.
Tuần cuối cùng ở Sài Gòn, không biết làm gì, tôi di xe buýt đến Thủ Đức, Biên Hòa. Tại đây tôi được dịp nhìn thấy Làng Đại Học của Miền Nam Việt nam. Có cả một trường đại học quốc tế (International University) mà tôi không biết của nước nào. Nhưng phải nói là nhận xét của cô phóng viên người Phi thực là chính xác: trong đám nam sinh viên, rường cột và tương lai của đất nước, chen chúc trên xe buýt hay đi bộ đến trường, tôi chỉ nhìn thấy những tấm thân ốm o, còm cõi, nhỏ bé và những gương mặt thiếu sức sống và sự tỏa sáng. ( Ôi! Thật là nhục nhã cho các đấng Sinh viên Việt Nam !!! )
Nhưng trở lại với bài “học đi” mà tôi đã cố gắng học trong những ngày lê bước ở Việt nam. Phải nói ngay rằng người Việt nam XHCN hiện nay rất ít đi bộ. Không cần phải nhìn cách tôi ăn mặc hay nghe tôi nói chuyện mà chỉ cần thấy tôi đi bộ hay băng qua đường là biết rõ tôi không phải là người Việt nam XHCN. Ở Việt nam, cứ bước ra khỏi nhà thì hầu như ai cũng cỡi xe gắn máy hay ít nhứt trèo lên xe ôm. Tôi không biết mình có quá chủ quan không khi nói rằng có lẽ không nơi nào trên thế giới có nhiều xe gắn máy cho bằng Việt nam, không có nơi nào trên thế giới bị ô nhiễm cho bằng các đường phố ở Việt nam và dĩ nhiên cũng không có nơi nào trên thế giới “nguy hiểm” cho khách bộ hành cho bằng VN. Quả thật, nếu muốn tự tử một cách dễ dàng, chẳng cần phải nhảy cầu, trầm mình xuống sông, rơi từ cao ốc, uống thuốc ngủ hay thắt cổ: chỉ cần hiên ngang băng qua đường ở VN cũng đủ để đi thẳng vào thế giới khác ngay.
Ở Việt nam luật đi đường nào cũng có, nhưng chẳng ai tuân giữ và khách bộ hành là hạng người rẻ nhứt trong xã hội. Ở Việt nam, công an giao thông đứng đầy đường, nhưng không phải để hướng dẫn về giao thông mà chỉ để được người lái xe “hối lộ” hay “mãi lộ” theo đúng nghĩa. Hôm giỗ cụ Nguyễn Trung Trực, bị kẹt trong một rừng người hỗn loạn thiếu điều đạp lên nhau tại Rạch giá, tôi không sao tìm thấy bóng một cái “áo vàng”.
Tôi vẫn nhớ mãi chuyến đi từ Vũng Tầu ra Nha Trang. Tài xế của chuyến xe, như anh tự giới thiệu, một người Thanh Hóa đã từng là công an. Nói chung, những tài xế người “Nước Bắc” có lối lái xe phải nói là “mất dạy” và lối nói năng cũng “mất dạy” hơn tài xế Miền Nam. Suốt chuyến đi, vì ngồi sau lưng anh, lỗ nhĩ tôi bị tra tấn vì những câu văng tục liên hồi của anh. Nhưng được bộ nhớ của tôi ghi nhận kỹ nhứt là lúc anh trả lời cho một hành khách muốn xuống trước đồn công an gần một cổng trường tiểu học. Anh nói: “Làm gì có đồn công an gần một trường học. Chẳng có thằng ngu nào lại đi xây một trường học bên cạnh một đồn công an, bởi vì làm như thế thì trẻ con sẽ phải làm chó trước khi kịp “học làm người”.
Tôi đã học được rất nhiều bài học trong một tháng đi “thực tế” ở Việt nam. Nhưng bài “học đi bộ” thì tôi đành bỏ cuộc. Mỗi lần băng qua đường mà còn lành lặn, tôi xem như một phép lạ. Theo tôi, lối giao thông ở Việt nam thể hiện đúng cách sống của người Việt nam XHCN hiện nay: ở đâu người ta cũng có thể luồn lách và tránh né miễn là được việc và dĩ nhiên được việc cho bản thân mình trước đã. Người khác có sống chết ra sao cũng mặc kệ !
Về thăm lại quê hương tôi thấy buồn nhiều hơn vui. Phải nhìn nhận, sau 30 năm “dầy công xây dựng” xã hội chủ nghĩa, có một số dấu hiệu của phát triển: nhiều cao ốc hơn, nhiều đường sá hơn, cuộc sống vật chất và tiện nghi có khá hơn. Nhưng thật đáng buồn cho một đất nước khi sự phát triển hỗn loạn đã bóp nghẹt và chà đạp những giá trị tinh thần và luân lý. Nói như ai đó, phần “con” trong "con-người" Việt nam XHCN đã phát triển hơn, nhưng phần “người” thì lại ngày càng nhỏ teo lại.
Nghĩ như thế mà buồn tủi cho quê hương !
2012: Năm của bất an và bất ổn
Nguyễn Hưng Quốc
Năm 2011 là năm của những khó khăn nhưng đồng thời cũng là năm của những thắng lợi. Khó khăn về kinh tế với cuộc khủng hoảng tài chính vẫn còn nặng nề ở Mỹ và nghiêm trọng ở châu Âu. Thắng lợi về chính trị cho phe dân chủ với sự sụp đổ của hàng loạt các chế độ độc tài ở Tunisia, Ai Cập, Yemen và Libya cùng với sự lung lay của một số chế độ chuyên chế khác.
Khó khăn thì người ta đã ít nhiều biết trước. Bởi cuộc khủng hoảng kinh tế đã xuất hiện từ năm 2008 và trong ngần ấy năm chưa hề có dấu hiệu phục hồi, hoặc nếu có, chỉ có một cách yếu ớt, chưa đủ cho một hy vọng. Nhưng thắng lợi thì hoàn toàn bất ngờ. Trước tháng 1 năm 2011, không ai, kể cả giới lãnh đạo và các chuyên gia tình báo cao cấp nhất của Mỹ và châu Âu, có thể tưởng tượng được là cách mạng sẽ bùng nổ ở Bắc Phi và Trung Đông. Không những bùng nổ mà còn thành công một cách vang dội.
Tuy nhiên, sau khi thành công bước đầu, hiện nay người ta lại hoang mang trước các diễn tiến phức tạp của thời kỳ hậu-cách mạng ở các nước ấy. Dấu hiệu lạc quan cũng nhiều mà mầm mống bất trắc cũng lắm. Ai Cập đang trong giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ độc tài sang chế độ đại biểu. Họ đã tổ chức tổng tuyển cử. Nhưng phần lớn quyền lực lại lọt vào tay của các đảng phái Hồi giáo, trong đó có những thành phần khá cực đoan và nằm ngoài tầm ảnh hưởng của phương Tây. Tunisia cũng đã có bầu cử và chính quyền cũng lại lọt vào tay Hồi giáo, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Hamadi Jebeli, người được xem là khá ôn hòa, tuy nhiên, một số phát biểu của ông đã gây hoài nghi về một âm mưu muốn biến Tunisia thành một quốc gia Hồi giáo hơn là một nhà nước thế quyền dân chủ. Chính vì thế, giới quan sát không thể không phập phồng lo lắng. Tình hình Libya cũng vậy. Sau cái chết của Gaddafi, các lực lượng nổi dậy, vốn thuộc nhiều phe phái khác nhau, trong đó có nhiều phe theo Hồi giáo cực đoan, còn rất phân tán và không ngừng xung đột với nhau.
Nói một cách tóm tắt, con đường dân chủ hóa của các nước vừa hoàn tất cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài còn rất gay go và đối diện với vô số nguy cơ. Hai nguy cơ lớn nhất là: một, các thành phần cực đoan sẽ giành hết quyền lực và dần dần biến nước họ thành một nhà nước độc tài mới, dựa trên thần luật chứ không phải pháp luật; và hai, họ sẽ xa dần các nước dân chủ Tây phương để hoặc theo hẳn hoặc chịu ảnh hưởng của một số quốc gia Hồi giáo cực đoan, trong đó đáng kể nhất dĩ nhiên là Iran. Trước hai nguy cơ ấy, khả năng đối phó của Tây phương không nhiều. Thứ nhất, mọi sự chọn lựa đều tùy thuộc vào dân chúng địa phương; mà phần lớn dân chúng lại là Hồi giáo (Ví dụ, ở Ai Cập là 94%; ở Tunisia là 99%; ở Libya là 97%; ở Yemen là 99%). Thứ hai, khả năng thâm nhập và gây ảnh hưởng của các chính phủ Tây phương vào các đảng phái chính trị mới nổi lên sau thời cách mạng chỉ mới manh nha và còn rất yếu. Do đó, người ta không thể chi phối họ, thậm chí, cũng không biết rõ các toan tính chiến lược của họ.
Ngoài các nước vừa kể, tình hình chính trị của nhiều nước khác vẫn chứa đầy bất an và bất trắc. Ở Afghanistan, mặc dù Osama bin Ladin đã bị giết chết, lực lượng Taliban vẫn ngày càng lớn mạnh và để có thể rút quân, có rất nhiều khả năng Mỹ phải thỏa hiệp với họ. Ở Pakistan, quan hệ với Mỹ ngày càng căng thẳng, các lực lượng phản dân chủ và chống Tây phương càng lúc càng mạnh. Ở Triều Tiên, sau cái chết của Kim Chính Nhật, chế độ mới của con trai ông, Kim Chính Vân, chưa tới 30 tuổi, không biết sẽ đi về đâu. Ở Nga, Putin đang mưu toan giành lại chiếc ghế tổng thống lần thứ ba và có lẽ ông sẽ được toại nguyện. Nhưng chắc chắn là sẽ gây nên những làn sóng bất mãn và chống đối rộng lớn trong cả nước. Chỉ có điều người ta không biết là mức độ rộng lớn ấy sẽ như thế nào và cuối cùng, sẽ dẫn đến hậu quả gì.
Ở Iraq, chiến tranh, đối với Mỹ, đã chấm dứt; nhưng với người dân Iraq, vẫn còn tiếp tục. Máu vẫn đổ. Và rủi ro vẫn còn rất lớn.
Tuy nhiên, hai điểm nóng nhất của thế giới trong năm 2012 có lẽ là Syria và Iran.
Ở Syria, dân chúng vẫn tiếp tục xuống đường và chính phủ vẫn tiếp tục xả súng vào đám đông. Theo ước lượng của Liên Hiệp Quốc, từ tháng 3 năm 2011 cho đến nay, đã có ít nhất 5000 người dân bị giết chết. Hầu như cả thế giới đều lên án, kể cả Liên hiệp các nước Ả Rập, nhưng chính phủ Bashar al- Assad vẫn khăng khăng bám víu quyền lực và thẳng tay đàn áp dân chúng. Người ta tin là sắp tới Liên hiệp các nước Ả Rập sẽ đưa vấn đề ra trước Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, ngoài các biện pháp cấm vận thông thường, chúng ta không biết Liên Hiệp Quốc sẽ đi xa đến mức độ nào trong việc trừng phạt Assad. Có lẽ khả năng can thiệp quân sự như đối với Libya sẽ không xảy ra. Trừ phi mọi người có thái độ cương quyết hơn đối với Iran. Xin lưu ý: hiện nay Syria hầu như là đồng minh thân cận duy nhất của Iran. Chắc chắn Iran sẽ bảo vệ Syria đến cùng nếu không muốn bị cô lập và khống chế.
Nhưng Iran, cho đến nay, chưa có dấu hiệu nào nhượng bộ Tây phương. Họ vẫn tiếp tục theo đuổi kế hoạch chế tạo vũ khí hạt nhân. Vẫn tiến hành các cuộc thử nghiệm hỏa tiễn. Và hiện đang đe dọa đóng cửa eo biển Hormuz, nơi có khoảng 20% số lượng dầu xuất cảng từ Trung Đông ra thị trường thế giới. Nếu kế hoạch này được thực hiện, Tây phương sẽ không thể khoanh tay đứng nhìn. Nga và Trung Quốc cũng sẽ bị buộc phải có thái độ dứt khoát thay vì chỉ ậm ờ làm vui lòng Iran để thỏa mãn một số ý đồ kinh tế và chính trị riêng của họ.
Tuy nhiên, ngay cả khi Iran không đóng cửa eo biển Hormuz thì nơi đây vẫn cứ là một lò lửa của thế giới. Trừ Nga và Trung Quốc, hầu như không có quốc gia nào có thể chấp nhận một Iran có vũ khí hạt nhân, đặc biệt Mỹ, Israel và các quốc gia Ả Rập thân Tây phương ở Trung Đông. Với mọi người, đó là một sự đe dọa trực tiếp và cực kỳ nghiêm trọng. Trong suốt năm 2011, Israel nhiều lần lên tiếng sẽ mở cuộc tấn công vào các cơ sở chế tạo vũ khí hạt nhân của Iran. Không ai chắc kết quả của một cuộc tấn công như thế sẽ ra sao. Nhưng mọi người đều biết những hậu quả và ảnh hưởng dây chuyền của nó thì sẽ không thể lường được.
Cuối cùng, những bất trắc và bất an còn được thấy từ sự lớn mạnh của Trung Quốc và cách hành xử của họ ở vùng biển trong quan hệ với các nước trong khu vực, đặc biệt, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Việt Nam.
Tất cả những yếu tố vừa kể làm cho năm 2012 khó có thể là một năm bình yên được.
Đó là chúng ta chưa kể đến tình hình kinh tế. Vẫn mù mù mịt mịt.
Nguyễn Hưng Quốc
Năm 2011 là năm của những khó khăn nhưng đồng thời cũng là năm của những thắng lợi. Khó khăn về kinh tế với cuộc khủng hoảng tài chính vẫn còn nặng nề ở Mỹ và nghiêm trọng ở châu Âu. Thắng lợi về chính trị cho phe dân chủ với sự sụp đổ của hàng loạt các chế độ độc tài ở Tunisia, Ai Cập, Yemen và Libya cùng với sự lung lay của một số chế độ chuyên chế khác.
Khó khăn thì người ta đã ít nhiều biết trước. Bởi cuộc khủng hoảng kinh tế đã xuất hiện từ năm 2008 và trong ngần ấy năm chưa hề có dấu hiệu phục hồi, hoặc nếu có, chỉ có một cách yếu ớt, chưa đủ cho một hy vọng. Nhưng thắng lợi thì hoàn toàn bất ngờ. Trước tháng 1 năm 2011, không ai, kể cả giới lãnh đạo và các chuyên gia tình báo cao cấp nhất của Mỹ và châu Âu, có thể tưởng tượng được là cách mạng sẽ bùng nổ ở Bắc Phi và Trung Đông. Không những bùng nổ mà còn thành công một cách vang dội.
Tuy nhiên, sau khi thành công bước đầu, hiện nay người ta lại hoang mang trước các diễn tiến phức tạp của thời kỳ hậu-cách mạng ở các nước ấy. Dấu hiệu lạc quan cũng nhiều mà mầm mống bất trắc cũng lắm. Ai Cập đang trong giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ độc tài sang chế độ đại biểu. Họ đã tổ chức tổng tuyển cử. Nhưng phần lớn quyền lực lại lọt vào tay của các đảng phái Hồi giáo, trong đó có những thành phần khá cực đoan và nằm ngoài tầm ảnh hưởng của phương Tây. Tunisia cũng đã có bầu cử và chính quyền cũng lại lọt vào tay Hồi giáo, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Hamadi Jebeli, người được xem là khá ôn hòa, tuy nhiên, một số phát biểu của ông đã gây hoài nghi về một âm mưu muốn biến Tunisia thành một quốc gia Hồi giáo hơn là một nhà nước thế quyền dân chủ. Chính vì thế, giới quan sát không thể không phập phồng lo lắng. Tình hình Libya cũng vậy. Sau cái chết của Gaddafi, các lực lượng nổi dậy, vốn thuộc nhiều phe phái khác nhau, trong đó có nhiều phe theo Hồi giáo cực đoan, còn rất phân tán và không ngừng xung đột với nhau.
Nói một cách tóm tắt, con đường dân chủ hóa của các nước vừa hoàn tất cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài còn rất gay go và đối diện với vô số nguy cơ. Hai nguy cơ lớn nhất là: một, các thành phần cực đoan sẽ giành hết quyền lực và dần dần biến nước họ thành một nhà nước độc tài mới, dựa trên thần luật chứ không phải pháp luật; và hai, họ sẽ xa dần các nước dân chủ Tây phương để hoặc theo hẳn hoặc chịu ảnh hưởng của một số quốc gia Hồi giáo cực đoan, trong đó đáng kể nhất dĩ nhiên là Iran. Trước hai nguy cơ ấy, khả năng đối phó của Tây phương không nhiều. Thứ nhất, mọi sự chọn lựa đều tùy thuộc vào dân chúng địa phương; mà phần lớn dân chúng lại là Hồi giáo (Ví dụ, ở Ai Cập là 94%; ở Tunisia là 99%; ở Libya là 97%; ở Yemen là 99%). Thứ hai, khả năng thâm nhập và gây ảnh hưởng của các chính phủ Tây phương vào các đảng phái chính trị mới nổi lên sau thời cách mạng chỉ mới manh nha và còn rất yếu. Do đó, người ta không thể chi phối họ, thậm chí, cũng không biết rõ các toan tính chiến lược của họ.
Ngoài các nước vừa kể, tình hình chính trị của nhiều nước khác vẫn chứa đầy bất an và bất trắc. Ở Afghanistan, mặc dù Osama bin Ladin đã bị giết chết, lực lượng Taliban vẫn ngày càng lớn mạnh và để có thể rút quân, có rất nhiều khả năng Mỹ phải thỏa hiệp với họ. Ở Pakistan, quan hệ với Mỹ ngày càng căng thẳng, các lực lượng phản dân chủ và chống Tây phương càng lúc càng mạnh. Ở Triều Tiên, sau cái chết của Kim Chính Nhật, chế độ mới của con trai ông, Kim Chính Vân, chưa tới 30 tuổi, không biết sẽ đi về đâu. Ở Nga, Putin đang mưu toan giành lại chiếc ghế tổng thống lần thứ ba và có lẽ ông sẽ được toại nguyện. Nhưng chắc chắn là sẽ gây nên những làn sóng bất mãn và chống đối rộng lớn trong cả nước. Chỉ có điều người ta không biết là mức độ rộng lớn ấy sẽ như thế nào và cuối cùng, sẽ dẫn đến hậu quả gì.
Ở Iraq, chiến tranh, đối với Mỹ, đã chấm dứt; nhưng với người dân Iraq, vẫn còn tiếp tục. Máu vẫn đổ. Và rủi ro vẫn còn rất lớn.
Tuy nhiên, hai điểm nóng nhất của thế giới trong năm 2012 có lẽ là Syria và Iran.
Ở Syria, dân chúng vẫn tiếp tục xuống đường và chính phủ vẫn tiếp tục xả súng vào đám đông. Theo ước lượng của Liên Hiệp Quốc, từ tháng 3 năm 2011 cho đến nay, đã có ít nhất 5000 người dân bị giết chết. Hầu như cả thế giới đều lên án, kể cả Liên hiệp các nước Ả Rập, nhưng chính phủ Bashar al- Assad vẫn khăng khăng bám víu quyền lực và thẳng tay đàn áp dân chúng. Người ta tin là sắp tới Liên hiệp các nước Ả Rập sẽ đưa vấn đề ra trước Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, ngoài các biện pháp cấm vận thông thường, chúng ta không biết Liên Hiệp Quốc sẽ đi xa đến mức độ nào trong việc trừng phạt Assad. Có lẽ khả năng can thiệp quân sự như đối với Libya sẽ không xảy ra. Trừ phi mọi người có thái độ cương quyết hơn đối với Iran. Xin lưu ý: hiện nay Syria hầu như là đồng minh thân cận duy nhất của Iran. Chắc chắn Iran sẽ bảo vệ Syria đến cùng nếu không muốn bị cô lập và khống chế.
Nhưng Iran, cho đến nay, chưa có dấu hiệu nào nhượng bộ Tây phương. Họ vẫn tiếp tục theo đuổi kế hoạch chế tạo vũ khí hạt nhân. Vẫn tiến hành các cuộc thử nghiệm hỏa tiễn. Và hiện đang đe dọa đóng cửa eo biển Hormuz, nơi có khoảng 20% số lượng dầu xuất cảng từ Trung Đông ra thị trường thế giới. Nếu kế hoạch này được thực hiện, Tây phương sẽ không thể khoanh tay đứng nhìn. Nga và Trung Quốc cũng sẽ bị buộc phải có thái độ dứt khoát thay vì chỉ ậm ờ làm vui lòng Iran để thỏa mãn một số ý đồ kinh tế và chính trị riêng của họ.
Tuy nhiên, ngay cả khi Iran không đóng cửa eo biển Hormuz thì nơi đây vẫn cứ là một lò lửa của thế giới. Trừ Nga và Trung Quốc, hầu như không có quốc gia nào có thể chấp nhận một Iran có vũ khí hạt nhân, đặc biệt Mỹ, Israel và các quốc gia Ả Rập thân Tây phương ở Trung Đông. Với mọi người, đó là một sự đe dọa trực tiếp và cực kỳ nghiêm trọng. Trong suốt năm 2011, Israel nhiều lần lên tiếng sẽ mở cuộc tấn công vào các cơ sở chế tạo vũ khí hạt nhân của Iran. Không ai chắc kết quả của một cuộc tấn công như thế sẽ ra sao. Nhưng mọi người đều biết những hậu quả và ảnh hưởng dây chuyền của nó thì sẽ không thể lường được.
Cuối cùng, những bất trắc và bất an còn được thấy từ sự lớn mạnh của Trung Quốc và cách hành xử của họ ở vùng biển trong quan hệ với các nước trong khu vực, đặc biệt, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Việt Nam.
Tất cả những yếu tố vừa kể làm cho năm 2012 khó có thể là một năm bình yên được.
Đó là chúng ta chưa kể đến tình hình kinh tế. Vẫn mù mù mịt mịt.
Chớ khóc thương tao làm chi
J.B. Nguyễn Hữu Vinh
(Trích: jbnguyenhuuvinh.wordpress.com)
Nhìn những hình ảnh cả dân tộc khóc thương khi Kim Cóc chết làm tôi lại nhớ đến ngày xưa.

Quân nhân Bắc Hàn khóc trong tang lễ Kim Jong Il. (Hình: Kyodo News/AFP/Getty Images)
Ngày ấy, vào quãng ra Tết đến Tháng Tư là những ngày nguyện ngắm trong Mùa thương khó. Mùa thương khó là mùa người Công Giáo suy ngẫm về cái chết của Ðức Giê su để chuộc tội cho thiên hạ. Vào mùa đó, mọi người hạn chế tiệc tùng, đám cưới, phim ảnh, cười đùa, v.v. không khí trong vùng Công Giáo lúc đó là một không khí tang tóc. Tất cả chờ ngày lễ Phục Sinh. Tất cả các nhà thờ, việc nguyện ngắm về 15 sự thương khó Ðức Chúa Giê su phải chịu vì tội lỗi thiên hạ diễn ra thường xuyên.
Ở quê tôi việc ngắm nguyện rất cẩn trọng, từ việc phiên thứ giờ ngắm phải được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, người được cắt cử phải có tiêu chuẩn đàng hoàng. Ðến giờ ngắm nguyện người lên ngắm phải mặc áo dài the, đội khăn đóng, có đoàn Thiên thần rước từ dưới cửa nhà thờ rước lên trong tiếng trống rước tưng bừng. Ðặc biệt khi ngắm không được sai dù là động tác, chưa nói đến từ, ngữ. Chẳng hạn quy định: Khuyên ngân, chấm nghỉ, Thánh hiệu Giê su bái đầu... Hồi đó ngắm nguyện chưa nhiều sách quốc ngữ mà bằng sách chữ nôm, chúng tôi thường gọi là chữ nho. Một người đứng ngắm, thì bên cạnh có một người cầm chăm chăm cuốn sách để soi, chỉ cần sai một động tác, một dấu chấm, phẩy, từ ngữ liền bị một tiếng trắc vang dội. Nếu không bị tiếng trắc nào, thì sau khi ngắm sẽ được đoàn thiên thần rước về rất vẻ vang, vinh dự. Nhưng sau tiếng trắc đầu tiên, đoàn thiên thần rút về và người ngắm xong lủi thủi đi về một mình. Nếu bị ba trắc, thì buộc phải nghỉ để người khác ngắm lại...
Tôi nhớ câu ngắm thứ chín như sau: “Thứ chín thì ngắm: Khi ấy cả và thiên hạ theo mà xem, song le những người mến Ðức Chúa Giê su thì thương khóc lóc. Bấy giờ Người giở mặt lại mà rằng: ‘Ơ con thành Giêrusalem, chớ khóc thương Ta làm chi, một khóc thương bay, cùng con cháu bay ngày sau phải khốn mà chớ.’”
Khi đó tôi không hiểu tại sao Ðức Chúa Giê su đi chịu nạn, chịu chết, người ta đã thương khóc lóc lại còn bảo đừng khóc thương mình mà hãy thương cho những người đang than khóc và con cháu họ? Cuộc đời Ngài có làm gì nên tội để chịu cái chết đau đớn trên Thánh Giá? Suốt 30 năm ở cùng Ðức Mẹ và 3 năm đi giảng dạy, ngài chỉ dạy người ta những sự tốt lành và đạo đức, để cuối cùng chết nhục nhã trên Thánh Giá giữa những người trộm cướp. Ngài đáng được khóc thương, ngài đáng để mọi người đau đớn.
Với sự suy nghĩ non nớt của tôi, tôi cứ thắc mắc và vì thế nhớ mãi câu ngắm đó đến sau này.
Lớn lên dần dần tôi hiểu ra rằng Chúa Giê su không muốn họ khóc thương Ngài dù Ngài phải chịu oan ức, đau đớn và chịu chết vì hy sinh mạng sống mình chuộc tội cho Thiên hạ. Mà Ngài nhắn với những người đang than khóc và thành Giêrusalem hãy than khóc cho chính tội lỗi của mình và những hậu quả mà họ và con cháu họ sẽ gặp phải vì tội lỗi của họ, hãy ăn năn thống hối để lãnh nhận lấy ơn cứu chuộc từ giá máu của người.
Thì ra là vậy, Chúa Giê su đã sinh ra để hy sinh, chịu chết vì tình yêu loài người với mục đích “Ta đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 28).
Ðấy là Chúa Giê su với cái chết của Ngài hai ngàn năm trước.
Tôi không được thấy những người dân thành Giêrusalem khóc Ðức Giê su, nhưng tôi được nghe tiếng Người nói với dân thành Giêrusalem và cả thế giới rằng: Hãy khóc cho tội lỗi của các ngươi để đón nhận những ơn cứu chuộc ta đã đem lại cho các người.
Ngày nay, nhìn cả đất nước Bắc Hàn đua nhau khóc lóc lăn lộn khi Kim Cóc chết, nếu có thể nói được với họ, Cóc sẽ nói gì?
Cóc sẽ nói gì khi cuộc đời của Cóc là “Ðến để được phục vụ mà không phải để phục vụ” thậm chí mọi người phải dâng hiến mạng sống của mình phục vụ bản thân và gia đình Cóc.
Có thể Cóc sẽ nói với họ rằng: Tao muốn chúng bay khóc thật nhiều hơn nữa để chứng tỏ lòng trung thành với tao. Bởi chỉ phục vụ, nô bộc tao khi còn sống thì chưa đủ.
Cũng có thể lương thiện hơn, Cóc sẽ nói với họ rằng: Chớ khóc thương tao làm chi, hãy khóc thương cho chúng bay và con cháu bay ngày sau. Bởi tất cả đang và sẽ hưởng những thành quả mà tao và gia đình tao để lại.
Rất có thể là như thế, bởi:
Hai ngàn năm đã đi qua, khi Ðức Chúa Giê su chịu chết, thiên hạ đang đau đớn trong tội lỗi. Thiên hạ đang mong đợi về Thiên đường, đang cần ơn cứu chuộc và thống hối để về nước Thiên đường đích thực Chúa đã hứa ban.
Còn ngày nay, khi Cóc chết thì người dân Bắc Hàn đang được sống trong thiên đường Xã hội Chủ nghĩa, một thứ thiên đường hiếm hoi còn sót lại trên thế giới này mà người dân đang ngày đêm muốn thoát ra khỏi đó.
J.B. Nguyễn Hữu Vinh
(Trích: jbnguyenhuuvinh.wordpress.com)
Nhìn những hình ảnh cả dân tộc khóc thương khi Kim Cóc chết làm tôi lại nhớ đến ngày xưa.

Quân nhân Bắc Hàn khóc trong tang lễ Kim Jong Il. (Hình: Kyodo News/AFP/Getty Images)
Ngày ấy, vào quãng ra Tết đến Tháng Tư là những ngày nguyện ngắm trong Mùa thương khó. Mùa thương khó là mùa người Công Giáo suy ngẫm về cái chết của Ðức Giê su để chuộc tội cho thiên hạ. Vào mùa đó, mọi người hạn chế tiệc tùng, đám cưới, phim ảnh, cười đùa, v.v. không khí trong vùng Công Giáo lúc đó là một không khí tang tóc. Tất cả chờ ngày lễ Phục Sinh. Tất cả các nhà thờ, việc nguyện ngắm về 15 sự thương khó Ðức Chúa Giê su phải chịu vì tội lỗi thiên hạ diễn ra thường xuyên.
Ở quê tôi việc ngắm nguyện rất cẩn trọng, từ việc phiên thứ giờ ngắm phải được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, người được cắt cử phải có tiêu chuẩn đàng hoàng. Ðến giờ ngắm nguyện người lên ngắm phải mặc áo dài the, đội khăn đóng, có đoàn Thiên thần rước từ dưới cửa nhà thờ rước lên trong tiếng trống rước tưng bừng. Ðặc biệt khi ngắm không được sai dù là động tác, chưa nói đến từ, ngữ. Chẳng hạn quy định: Khuyên ngân, chấm nghỉ, Thánh hiệu Giê su bái đầu... Hồi đó ngắm nguyện chưa nhiều sách quốc ngữ mà bằng sách chữ nôm, chúng tôi thường gọi là chữ nho. Một người đứng ngắm, thì bên cạnh có một người cầm chăm chăm cuốn sách để soi, chỉ cần sai một động tác, một dấu chấm, phẩy, từ ngữ liền bị một tiếng trắc vang dội. Nếu không bị tiếng trắc nào, thì sau khi ngắm sẽ được đoàn thiên thần rước về rất vẻ vang, vinh dự. Nhưng sau tiếng trắc đầu tiên, đoàn thiên thần rút về và người ngắm xong lủi thủi đi về một mình. Nếu bị ba trắc, thì buộc phải nghỉ để người khác ngắm lại...
Tôi nhớ câu ngắm thứ chín như sau: “Thứ chín thì ngắm: Khi ấy cả và thiên hạ theo mà xem, song le những người mến Ðức Chúa Giê su thì thương khóc lóc. Bấy giờ Người giở mặt lại mà rằng: ‘Ơ con thành Giêrusalem, chớ khóc thương Ta làm chi, một khóc thương bay, cùng con cháu bay ngày sau phải khốn mà chớ.’”
Khi đó tôi không hiểu tại sao Ðức Chúa Giê su đi chịu nạn, chịu chết, người ta đã thương khóc lóc lại còn bảo đừng khóc thương mình mà hãy thương cho những người đang than khóc và con cháu họ? Cuộc đời Ngài có làm gì nên tội để chịu cái chết đau đớn trên Thánh Giá? Suốt 30 năm ở cùng Ðức Mẹ và 3 năm đi giảng dạy, ngài chỉ dạy người ta những sự tốt lành và đạo đức, để cuối cùng chết nhục nhã trên Thánh Giá giữa những người trộm cướp. Ngài đáng được khóc thương, ngài đáng để mọi người đau đớn.
Với sự suy nghĩ non nớt của tôi, tôi cứ thắc mắc và vì thế nhớ mãi câu ngắm đó đến sau này.
Lớn lên dần dần tôi hiểu ra rằng Chúa Giê su không muốn họ khóc thương Ngài dù Ngài phải chịu oan ức, đau đớn và chịu chết vì hy sinh mạng sống mình chuộc tội cho Thiên hạ. Mà Ngài nhắn với những người đang than khóc và thành Giêrusalem hãy than khóc cho chính tội lỗi của mình và những hậu quả mà họ và con cháu họ sẽ gặp phải vì tội lỗi của họ, hãy ăn năn thống hối để lãnh nhận lấy ơn cứu chuộc từ giá máu của người.
Thì ra là vậy, Chúa Giê su đã sinh ra để hy sinh, chịu chết vì tình yêu loài người với mục đích “Ta đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 28).
Ðấy là Chúa Giê su với cái chết của Ngài hai ngàn năm trước.
Tôi không được thấy những người dân thành Giêrusalem khóc Ðức Giê su, nhưng tôi được nghe tiếng Người nói với dân thành Giêrusalem và cả thế giới rằng: Hãy khóc cho tội lỗi của các ngươi để đón nhận những ơn cứu chuộc ta đã đem lại cho các người.
Ngày nay, nhìn cả đất nước Bắc Hàn đua nhau khóc lóc lăn lộn khi Kim Cóc chết, nếu có thể nói được với họ, Cóc sẽ nói gì?
Cóc sẽ nói gì khi cuộc đời của Cóc là “Ðến để được phục vụ mà không phải để phục vụ” thậm chí mọi người phải dâng hiến mạng sống của mình phục vụ bản thân và gia đình Cóc.
Có thể Cóc sẽ nói với họ rằng: Tao muốn chúng bay khóc thật nhiều hơn nữa để chứng tỏ lòng trung thành với tao. Bởi chỉ phục vụ, nô bộc tao khi còn sống thì chưa đủ.
Cũng có thể lương thiện hơn, Cóc sẽ nói với họ rằng: Chớ khóc thương tao làm chi, hãy khóc thương cho chúng bay và con cháu bay ngày sau. Bởi tất cả đang và sẽ hưởng những thành quả mà tao và gia đình tao để lại.
Rất có thể là như thế, bởi:
Hai ngàn năm đã đi qua, khi Ðức Chúa Giê su chịu chết, thiên hạ đang đau đớn trong tội lỗi. Thiên hạ đang mong đợi về Thiên đường, đang cần ơn cứu chuộc và thống hối để về nước Thiên đường đích thực Chúa đã hứa ban.
Còn ngày nay, khi Cóc chết thì người dân Bắc Hàn đang được sống trong thiên đường Xã hội Chủ nghĩa, một thứ thiên đường hiếm hoi còn sót lại trên thế giới này mà người dân đang ngày đêm muốn thoát ra khỏi đó.
Ðá bóng cũng thối nát
Tuesday, January 10, 2012 7:14:54 PM
Ngô Nhân Dụng
Tuần trước mục này đã viết về “Sức Mạnh Mềm” (Soft Power) của Trung Quốc, nhắc đến ý kiến của một giáo sư ở Bắc Kinh. Ông Bàng Trung Anh, Ðại Học Nhân Dân, nói rằng nước ông bây giờ chẳng có Sức Mạnh Mềm nào cả. Trung Quốc không có cái gì với sức hấp dẫn đủ mạnh mẽ khiến người nước khác muốn bắt chước theo. Hệ thống chính trị, không. Mô hình kinh tế, không. Hệ thống tư pháp, hệ thống giáo dục, đều không nốt. Ca nhạc, hội họa, thể thao, điện ảnh, thời trang, cũng còn lâu mới thu hút được người ngoài.
Ðến thức ăn Tàu nổi tiếng, bây giờ cũng xuống dốc, vì ai cũng sợ mỡ, sợ đường, sợ bột ngọt, nhất là những người có tiền. Cứ đến một thành phố lớn ở Âu Châu, Mỹ Châu, Úc, Tân Lây Lan, sẽ thấy tiệm cơm Tàu bây giờ chỉ dành cho thực khách bình dân. Người ăn sang muốn nếm hương vị phương Ðông sẽ đi tìm tiệm Nhật, tiệm Thái, tiệm Hàn Quốc, và cả tiệm Việt Nam nữa. Chả giò với phở đều đã thành các món ăn bình dân quốc tế rồi; bỏ công nhiều mà mức lời thấp. Sẽ đến ngày người mình dùng khoa tiếp thị biến mấy chục “món gỏi” hay “món cuốn” của mình thành những món ăn quốc tế vừa sang, vừa đẹp, vừa lành mạnh, lại vừa đắt giá!
Trở lại câu chuyện Soft Power, Sức Mạnh Mềm, của Trung Quốc. Phải nhắc ông Bàng Trung Anh đã quên, không nói đến một thức Sức Mạnh rất Mềm của nước ông. Nó đã được đem ra thi triển ở nhiều quốc gia trên thế giới và gây được ảnh hưởng rất đáng kể, nhiều người phát ghen, muốn làm theo mà không làm được. Ðó là món Hối Lộ!
Cứ nhìn các công ty Trung Quốc đang đi khai thác tài nguyên quặng mỏ, rừng, biển, từ Phi Châu tới Nam Mỹ và các nước Trung Á, Ðông Nam Á Châu thì biết họ đã biết sử dụng sức hấp dẫn của đồng tiền hối lộ một cách có hiệu quả! Làm sao chuyên chở về Tàu được đủ những thứ như đồng và nhôm ở Congo, dầu lửa từ Sudan, Nigeria, gỗ và ngọc thạch từ Miến Ðiện, sắp tới bô xít từ Việt Nam? Thế mới biết Trung Quốc cũng có một thứ Sức Mạnh Mềm rất hiệu quả.
Tại sao Giáo Sư Bàng Trung Anh lại bỏ qua không nói đến thứ sức mạnh mềm này? Chắc vì ông biết, cái đó là một chất độc. Dùng nó đầu độc người khác thì chính mình cũng bị nhiễm độc! Các nước Âu Châu, Nhật Bản, Úc và Mỹ Châu đã làm luật cấm các xí nghiệp của họ không được hối lộ quan chức các nước khác, chính vì lý do đó.
Sở dĩ người Trung Hoa đến nay vẫn dùng món độc dược này vì nó đã nằm sâu trong cơ thể của nước họ, một thứ văn hóa hối mại quyền thế “thâm căn cố đế” chưa biết cách nào tẩy rửa được! Gốc rễ của căn bệnh này nằm trong hệ thống chính trị độc quyền, độc đảng. Báo Economist, số cuối năm viết một bài về Túc Cầu tại Trung Quốc, dẫn lời một viên chức giấu tên trong ngành công an: “Các bạn biết tất cả các vấn đề xã hội mà người ta đổ lỗi cho hệ thống chính trị chưa? Muốn biết hãy nhìn vào tình trạng môn túc cầu!”
Môn đá banh được người Tàu hâm mộ từ khi tiếp xúc với người Anh. Hội Túc Cầu Toàn Quốc (gọi là CFA) được thành lập từ năm 1924, thời Quốc Dân Ðảng. Năm 1931 họ được gia nhập FIFA, tổng hội đá banh thế giới. Người Trung Hoa vẫn hãnh diện khoe rằng môn đá banh phát xuất từ nước Tề, vùng Sơn Ðông bây giờ, vào đời Chiến Quốc (500 đến 200 năm trước Công nguyên), trong môn chơi gọi là Xúc Cúc (Cuju), nghĩa là quả banh da, đẩy bằng chân. FIFA công nhận sự kiện này, và còn cho thấy một bức tranh cổ vẽ cảnh Vua Tuyên Tôn nhà Minh (1426-1435) ngồi coi đá banh (hay đánh Golf?).
Nhưng hiện nay đội đá banh quốc gia của Trung Quốc đứng hàng thừ 77 trên thế giới, và tháng trước mới thua một trận trước đội Iraq, sẽ bị loại không được dự giải Ðá Bóng Thế Giới World Cup năm 2014! Trận thua Iraq này thật là nhục nhã, cả nước muốn khóc. Một nhà báo thể thao viết: “Ví thử chúng ta thua Nhật Bản hay Hàn Quốc thì đáng thua, vì họ đá giỏi thật. Thua Saudi hay Qatar cũng được đi, vì họ bỏ rất nhiều tiền nuôi cầu thủ. Còn thua Iraq? Nước họ vẫn còn chưa hết nội chiến, sân banh trong nước họ còn chưa dùng để đá banh được! Thế mà Iraq vẫn đánh bại Trung Quốc 1-0! Ðội banh Trung Quốc chỉ được vào đấu Giải Thế Giới (World Cup) một lần, năm 2002. Và trong ba trận năm đó thua cả ba, các cầu thủ Trung Quốc không làm được một bàn nào cả!
Có phải người Trung Quốc thể lực yếu, hay không thích thể thao? Không phải. Họ chiếm nhiều huy chương nhất trong Thế Vận Hội 2008 ở Bắc Kinh! Khán giả các đài ti vi đều theo dõi những trận đá banh, không khác gì dân Mỹ coi bóng bầu dục. Vậy tại sao ngành bóng đá ở Trung Quốc thảm hại như vậy?
Lý do chính là vì chế độ độc tài, tập trung quyền hành, không có gì minh bạch, công khai; những người nắm quyền không chịu trách nhiệm trước công chúng, không ai được bàn chuyện các quan chức làm ăn. Ai hé miệng sẽ bị trừng trị!
Tổ chức đá bóng ở Trung Quốc đầy tham nhũng, nói chung là cái gì cũng mua được, có tiền là đổi trắng thay đen. Mà nạn tham nhũng sinh sôi nẩy nở là vì các quan chức trông coi ngành đá bóng đều phải do đảng chỉ định. Họ không chịu trách nhiệm với các đội banh, không lo báo chí, không lo dân ghiền đá banh soi mói. Từ nguồn gốc đó, tất cả các cầu thủ, trọng tài, cho đến chủ nhân các đội banh (trên nguyên tắc đều là của chính quyền) đều có thể đi mua và bị người khác mua chuộc. Ai mua? Những người đánh cá độ. Một trọng tài ra tòa vì tội ăn tiền đã thú nhận rằng chỉ có một lần ông từ chối không nhận tiền để làm cho một đội thắng trận đá, vì đã có quan trên trong Hội Túc Cầu bảo ông hãy thiên vị đội bên kia! Các quan trên Trung Quốc không bao giờ nói thẳng ra như vậy. Nhưng các ám hiệu họ đưa ra đều hiểu được: Khi quan trên điện thoại nói: “Nhớ công bằng nhé;” câu đó nghĩa là phải cho đội chủ nhà thua đội khách!
Nghề trọng tài hái ra tiền, vì công “xếp đặt ai thua ai thắng,” tiếng Anh là “fix”. Một trọng tài họ Dương khai đã kiếm được 12 triệu nguyên (1.90 triệu Mỹ kim) kể từ khi được bổ nhiệm năm 1995. Một ông họ Lữ kể rằng ông được hối lộ tới 800,000 đô la cho một trận quốc tế. Ông họ Dương kể trước một trận đấu, đội cầu Thượng Hải đã đem bao thư 700,000 nguyên đến tận văn phòng ông. Ông chia cho ông Lữ một nửa! Trọng tài là Trương Kiến Cường (Zhang Jianqiang) đã khai trước ti vi là ông kiếm được 2 triệu 6 đồng nhân dân tệ, tương đương với 410,000 đô la Mỹ.
Tất nhiên các cầu thủ cũng được mua, giám đốc các đội banh cũng biết bán độ! Một cầu thủ muốn được đưa vào hàng ngũ “đội quốc gia” cũng phải hối lộ khoảng 110,000 đồng nguyên (tương đương 15,500 đô la). Cùng trong nền văn hóa tham nhũng đó, chủ nhân đội cầu của Thành Ðô đã đút tiền cho chủ nhân một đội khác để họ đá thua, nhờ thế Thành Ðô được xếp vào “Trung Quốc Túc Cầu Hiệp Hội Siêu Cấp Liên Trại” thường gọi tên là Trung Siêu Liên Trại. Hiện hai đội Quảng Châu và Thành Ðô đã bị đưa ra tòa và đuổi ra khỏi Trung Siêu!
Có cách nào để ngành đá banh Trung Quốc thoát khỏi nạn tham nhũng, hối lộ hay không? Lần đầu tiên họ bị điều tra là năm 2007, do cảnh sát Singapore yêu cầu công an Trung Quốc, vì khám phá “bán độ” trong một trận cầu ở Singapore! Ðến lượt báo chí bên Anh loan tin các trận đấu “giao hữu” giữa đội banh Thẩm Quyến với Manchester United năm 2007 (Thẩm Quyến thua 6-0) và trận Thượng Hải với Sydney (Thượng Hải thắng) năm 2003 đều bị bán độ. Mãi tới năm 2011 mới có những vụ bắt bớ, rồi đến cuối năm thì xét xử. Năm 2010 các cuộc điều tra từ từ bắt đầu.
Ðứng đầu ngành đá bóng Trung Quốc là Hiệp Hội Túc Cầu, gọi tắt là CFA. Hai ông cựu chủ tịch Nam Dũng (Nan Yong) và phó chủ tịch và Dương Ích Dân (Yang Yimin ) đã bị bắt vào Tháng Ba năm rồi, cùng với ông Tạ Á Long (Xie Yalong), một phó chủ tịch khác mới bị bắt vào Tháng Mười. Ông này đã mất chức sau khi đội banh Trung Quốc bị loại trong Thế Vận Hội 2008. Vụ xét xử các ông tai to mặt lớn, các trọng tài và cầu thủ diễn ra từ ngày 18 Tháng Mười Hai năm 2011. Nhưng họ lại xử kín! Giống như xử lý nội bộ vậy! Họ không dám cho công chúng và báo chí tham dự, vì sợ các bị cáo sẽ lôi ra các quan chức cao cấp hơn trong đảng!
Với tình trạng tham nhũng như trên, người Trung Hoa hết hy vọng vào tương lai nền túc cầu nước họ. Cha mẹ không muốn cho con đá banh. Từ năm 1990 đến 2000, nước Tàu có khoảng 600,000 trẻ tham dự các đội banh chính thức. Trong 5 năm tiếp theo, con số xuống chỉ còn 180,000 thanh thiếu niên. Và hiện giờ các quan chức CFA ước tính còn độ 100,000.
Một tác giả về thể thao, Declan Hill mới xuất bản cuốn sách về nạn bán độ, tên là The Fix. Ông có đưa ra Mười Ðiều Răn để tránh khỏi nạn này. Thí dụ: Phải bảo đảm lương bổng cho các cầu thủ, cùng với an toàn trong việc làm, không sợ bị đuổi. Phải bảo vệ những người tố cáo nạn bán độ. Phải có những biện pháp khích lệ cho các cầu thủ sống ngay thẳng, lương thiện.
Chỉ cần đọc ba điều đó thôi cũng thấy là khó. Vì nếu người ta thực hiện được ba điều đó trong Túc Cầu Siêu Cấp thì họ đã đem áp dụng cho cả guồng máy cai trị nước Trung Hoa rồi! Sở dĩ túc cầu Trung Quốc thối nát là vì đảng Cộng sản nuôi một guồng máy thống trị thối nát!
Tình trạng túc cầu cho chúng ta hình dung được những ngành sinh hoạt khác ở Trung Quốc như thế nào. Liệu một quốc gia sống trong không khí thối nát như vậy có tương lai hay không? Họ có thể dùng hối lộ đi mua chính quyền các nước chậm tiến để khai thác rừng, biển, quặng mỏ của người ta. Nhưng họ làm sao trở thành một quốc gia mẫu mực cho các nước khác noi theo; để tính chuyện dùng Sức Mạnh Mềm gây ảnh hưởng trên thế giới?
Tuesday, January 10, 2012 7:14:54 PM
Ngô Nhân Dụng
Tuần trước mục này đã viết về “Sức Mạnh Mềm” (Soft Power) của Trung Quốc, nhắc đến ý kiến của một giáo sư ở Bắc Kinh. Ông Bàng Trung Anh, Ðại Học Nhân Dân, nói rằng nước ông bây giờ chẳng có Sức Mạnh Mềm nào cả. Trung Quốc không có cái gì với sức hấp dẫn đủ mạnh mẽ khiến người nước khác muốn bắt chước theo. Hệ thống chính trị, không. Mô hình kinh tế, không. Hệ thống tư pháp, hệ thống giáo dục, đều không nốt. Ca nhạc, hội họa, thể thao, điện ảnh, thời trang, cũng còn lâu mới thu hút được người ngoài.
Ðến thức ăn Tàu nổi tiếng, bây giờ cũng xuống dốc, vì ai cũng sợ mỡ, sợ đường, sợ bột ngọt, nhất là những người có tiền. Cứ đến một thành phố lớn ở Âu Châu, Mỹ Châu, Úc, Tân Lây Lan, sẽ thấy tiệm cơm Tàu bây giờ chỉ dành cho thực khách bình dân. Người ăn sang muốn nếm hương vị phương Ðông sẽ đi tìm tiệm Nhật, tiệm Thái, tiệm Hàn Quốc, và cả tiệm Việt Nam nữa. Chả giò với phở đều đã thành các món ăn bình dân quốc tế rồi; bỏ công nhiều mà mức lời thấp. Sẽ đến ngày người mình dùng khoa tiếp thị biến mấy chục “món gỏi” hay “món cuốn” của mình thành những món ăn quốc tế vừa sang, vừa đẹp, vừa lành mạnh, lại vừa đắt giá!
Trở lại câu chuyện Soft Power, Sức Mạnh Mềm, của Trung Quốc. Phải nhắc ông Bàng Trung Anh đã quên, không nói đến một thức Sức Mạnh rất Mềm của nước ông. Nó đã được đem ra thi triển ở nhiều quốc gia trên thế giới và gây được ảnh hưởng rất đáng kể, nhiều người phát ghen, muốn làm theo mà không làm được. Ðó là món Hối Lộ!
Cứ nhìn các công ty Trung Quốc đang đi khai thác tài nguyên quặng mỏ, rừng, biển, từ Phi Châu tới Nam Mỹ và các nước Trung Á, Ðông Nam Á Châu thì biết họ đã biết sử dụng sức hấp dẫn của đồng tiền hối lộ một cách có hiệu quả! Làm sao chuyên chở về Tàu được đủ những thứ như đồng và nhôm ở Congo, dầu lửa từ Sudan, Nigeria, gỗ và ngọc thạch từ Miến Ðiện, sắp tới bô xít từ Việt Nam? Thế mới biết Trung Quốc cũng có một thứ Sức Mạnh Mềm rất hiệu quả.
Tại sao Giáo Sư Bàng Trung Anh lại bỏ qua không nói đến thứ sức mạnh mềm này? Chắc vì ông biết, cái đó là một chất độc. Dùng nó đầu độc người khác thì chính mình cũng bị nhiễm độc! Các nước Âu Châu, Nhật Bản, Úc và Mỹ Châu đã làm luật cấm các xí nghiệp của họ không được hối lộ quan chức các nước khác, chính vì lý do đó.
Sở dĩ người Trung Hoa đến nay vẫn dùng món độc dược này vì nó đã nằm sâu trong cơ thể của nước họ, một thứ văn hóa hối mại quyền thế “thâm căn cố đế” chưa biết cách nào tẩy rửa được! Gốc rễ của căn bệnh này nằm trong hệ thống chính trị độc quyền, độc đảng. Báo Economist, số cuối năm viết một bài về Túc Cầu tại Trung Quốc, dẫn lời một viên chức giấu tên trong ngành công an: “Các bạn biết tất cả các vấn đề xã hội mà người ta đổ lỗi cho hệ thống chính trị chưa? Muốn biết hãy nhìn vào tình trạng môn túc cầu!”
Môn đá banh được người Tàu hâm mộ từ khi tiếp xúc với người Anh. Hội Túc Cầu Toàn Quốc (gọi là CFA) được thành lập từ năm 1924, thời Quốc Dân Ðảng. Năm 1931 họ được gia nhập FIFA, tổng hội đá banh thế giới. Người Trung Hoa vẫn hãnh diện khoe rằng môn đá banh phát xuất từ nước Tề, vùng Sơn Ðông bây giờ, vào đời Chiến Quốc (500 đến 200 năm trước Công nguyên), trong môn chơi gọi là Xúc Cúc (Cuju), nghĩa là quả banh da, đẩy bằng chân. FIFA công nhận sự kiện này, và còn cho thấy một bức tranh cổ vẽ cảnh Vua Tuyên Tôn nhà Minh (1426-1435) ngồi coi đá banh (hay đánh Golf?).
Nhưng hiện nay đội đá banh quốc gia của Trung Quốc đứng hàng thừ 77 trên thế giới, và tháng trước mới thua một trận trước đội Iraq, sẽ bị loại không được dự giải Ðá Bóng Thế Giới World Cup năm 2014! Trận thua Iraq này thật là nhục nhã, cả nước muốn khóc. Một nhà báo thể thao viết: “Ví thử chúng ta thua Nhật Bản hay Hàn Quốc thì đáng thua, vì họ đá giỏi thật. Thua Saudi hay Qatar cũng được đi, vì họ bỏ rất nhiều tiền nuôi cầu thủ. Còn thua Iraq? Nước họ vẫn còn chưa hết nội chiến, sân banh trong nước họ còn chưa dùng để đá banh được! Thế mà Iraq vẫn đánh bại Trung Quốc 1-0! Ðội banh Trung Quốc chỉ được vào đấu Giải Thế Giới (World Cup) một lần, năm 2002. Và trong ba trận năm đó thua cả ba, các cầu thủ Trung Quốc không làm được một bàn nào cả!
Có phải người Trung Quốc thể lực yếu, hay không thích thể thao? Không phải. Họ chiếm nhiều huy chương nhất trong Thế Vận Hội 2008 ở Bắc Kinh! Khán giả các đài ti vi đều theo dõi những trận đá banh, không khác gì dân Mỹ coi bóng bầu dục. Vậy tại sao ngành bóng đá ở Trung Quốc thảm hại như vậy?
Lý do chính là vì chế độ độc tài, tập trung quyền hành, không có gì minh bạch, công khai; những người nắm quyền không chịu trách nhiệm trước công chúng, không ai được bàn chuyện các quan chức làm ăn. Ai hé miệng sẽ bị trừng trị!
Tổ chức đá bóng ở Trung Quốc đầy tham nhũng, nói chung là cái gì cũng mua được, có tiền là đổi trắng thay đen. Mà nạn tham nhũng sinh sôi nẩy nở là vì các quan chức trông coi ngành đá bóng đều phải do đảng chỉ định. Họ không chịu trách nhiệm với các đội banh, không lo báo chí, không lo dân ghiền đá banh soi mói. Từ nguồn gốc đó, tất cả các cầu thủ, trọng tài, cho đến chủ nhân các đội banh (trên nguyên tắc đều là của chính quyền) đều có thể đi mua và bị người khác mua chuộc. Ai mua? Những người đánh cá độ. Một trọng tài ra tòa vì tội ăn tiền đã thú nhận rằng chỉ có một lần ông từ chối không nhận tiền để làm cho một đội thắng trận đá, vì đã có quan trên trong Hội Túc Cầu bảo ông hãy thiên vị đội bên kia! Các quan trên Trung Quốc không bao giờ nói thẳng ra như vậy. Nhưng các ám hiệu họ đưa ra đều hiểu được: Khi quan trên điện thoại nói: “Nhớ công bằng nhé;” câu đó nghĩa là phải cho đội chủ nhà thua đội khách!
Nghề trọng tài hái ra tiền, vì công “xếp đặt ai thua ai thắng,” tiếng Anh là “fix”. Một trọng tài họ Dương khai đã kiếm được 12 triệu nguyên (1.90 triệu Mỹ kim) kể từ khi được bổ nhiệm năm 1995. Một ông họ Lữ kể rằng ông được hối lộ tới 800,000 đô la cho một trận quốc tế. Ông họ Dương kể trước một trận đấu, đội cầu Thượng Hải đã đem bao thư 700,000 nguyên đến tận văn phòng ông. Ông chia cho ông Lữ một nửa! Trọng tài là Trương Kiến Cường (Zhang Jianqiang) đã khai trước ti vi là ông kiếm được 2 triệu 6 đồng nhân dân tệ, tương đương với 410,000 đô la Mỹ.
Tất nhiên các cầu thủ cũng được mua, giám đốc các đội banh cũng biết bán độ! Một cầu thủ muốn được đưa vào hàng ngũ “đội quốc gia” cũng phải hối lộ khoảng 110,000 đồng nguyên (tương đương 15,500 đô la). Cùng trong nền văn hóa tham nhũng đó, chủ nhân đội cầu của Thành Ðô đã đút tiền cho chủ nhân một đội khác để họ đá thua, nhờ thế Thành Ðô được xếp vào “Trung Quốc Túc Cầu Hiệp Hội Siêu Cấp Liên Trại” thường gọi tên là Trung Siêu Liên Trại. Hiện hai đội Quảng Châu và Thành Ðô đã bị đưa ra tòa và đuổi ra khỏi Trung Siêu!
Có cách nào để ngành đá banh Trung Quốc thoát khỏi nạn tham nhũng, hối lộ hay không? Lần đầu tiên họ bị điều tra là năm 2007, do cảnh sát Singapore yêu cầu công an Trung Quốc, vì khám phá “bán độ” trong một trận cầu ở Singapore! Ðến lượt báo chí bên Anh loan tin các trận đấu “giao hữu” giữa đội banh Thẩm Quyến với Manchester United năm 2007 (Thẩm Quyến thua 6-0) và trận Thượng Hải với Sydney (Thượng Hải thắng) năm 2003 đều bị bán độ. Mãi tới năm 2011 mới có những vụ bắt bớ, rồi đến cuối năm thì xét xử. Năm 2010 các cuộc điều tra từ từ bắt đầu.
Ðứng đầu ngành đá bóng Trung Quốc là Hiệp Hội Túc Cầu, gọi tắt là CFA. Hai ông cựu chủ tịch Nam Dũng (Nan Yong) và phó chủ tịch và Dương Ích Dân (Yang Yimin ) đã bị bắt vào Tháng Ba năm rồi, cùng với ông Tạ Á Long (Xie Yalong), một phó chủ tịch khác mới bị bắt vào Tháng Mười. Ông này đã mất chức sau khi đội banh Trung Quốc bị loại trong Thế Vận Hội 2008. Vụ xét xử các ông tai to mặt lớn, các trọng tài và cầu thủ diễn ra từ ngày 18 Tháng Mười Hai năm 2011. Nhưng họ lại xử kín! Giống như xử lý nội bộ vậy! Họ không dám cho công chúng và báo chí tham dự, vì sợ các bị cáo sẽ lôi ra các quan chức cao cấp hơn trong đảng!
Với tình trạng tham nhũng như trên, người Trung Hoa hết hy vọng vào tương lai nền túc cầu nước họ. Cha mẹ không muốn cho con đá banh. Từ năm 1990 đến 2000, nước Tàu có khoảng 600,000 trẻ tham dự các đội banh chính thức. Trong 5 năm tiếp theo, con số xuống chỉ còn 180,000 thanh thiếu niên. Và hiện giờ các quan chức CFA ước tính còn độ 100,000.
Một tác giả về thể thao, Declan Hill mới xuất bản cuốn sách về nạn bán độ, tên là The Fix. Ông có đưa ra Mười Ðiều Răn để tránh khỏi nạn này. Thí dụ: Phải bảo đảm lương bổng cho các cầu thủ, cùng với an toàn trong việc làm, không sợ bị đuổi. Phải bảo vệ những người tố cáo nạn bán độ. Phải có những biện pháp khích lệ cho các cầu thủ sống ngay thẳng, lương thiện.
Chỉ cần đọc ba điều đó thôi cũng thấy là khó. Vì nếu người ta thực hiện được ba điều đó trong Túc Cầu Siêu Cấp thì họ đã đem áp dụng cho cả guồng máy cai trị nước Trung Hoa rồi! Sở dĩ túc cầu Trung Quốc thối nát là vì đảng Cộng sản nuôi một guồng máy thống trị thối nát!
Tình trạng túc cầu cho chúng ta hình dung được những ngành sinh hoạt khác ở Trung Quốc như thế nào. Liệu một quốc gia sống trong không khí thối nát như vậy có tương lai hay không? Họ có thể dùng hối lộ đi mua chính quyền các nước chậm tiến để khai thác rừng, biển, quặng mỏ của người ta. Nhưng họ làm sao trở thành một quốc gia mẫu mực cho các nước khác noi theo; để tính chuyện dùng Sức Mạnh Mềm gây ảnh hưởng trên thế giới?

