Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Càng Ngày Càng Đúng Tử Huyệt của CS

Tác giả : Vi Anh
Tin Đài Pháp Quốc Tế RFI, ngày 10/04/2012 “Khoảng 700 dân ngoại thành kéo về Hà Nội phản đối trưng thu đất đai”, trước trụ sở Mặt Trận Tổ Quốc. Ở Hà nội thủ đô của VNCS, chưa bao giờ dân oan kéo về thủ đô với một lực lượng đông đảo như vậy.

Bà Lê Hiền Đức, một phụ nữ từng được quốc tế trao giải thưởng chống tham nhũng cho biết “nông dân khổ lắm … xã đốt nhà, huyện cướp đất, tỉnh bao che ... trung ương thì đùn đẩy… tình hình nóng như lò than…”

Không những người dân thường ở Hà nội phản đối phản đối CS trưng thu đất đai,đền bù rẻ mạt như cướp ban ngày của người dân mà các tôn giáo cũng bị nữa. Tiêu biểu như ngày 25-9-2008, công an, cảnh sát, xe ủi đến dời tượng Đức Mẹ Sầu Bi, san bằng khuôn viên bắt đầu xây dựng công viên tại khu vực Tòa Khâm Sứ. Hàng ngàn giáo dân và giáo phẩm Công Giáo thưa gởi, cầu nguyện đòi lại năm lần bảy lượt, kéo dài một năm mà không được. Không ai nghĩ phong trào Dân Oan lương và giáo ngưng. Không ai nghĩ phong trào người dân lương và giáo khiếu kiện, tọa kháng, biểu tình, cầu nguyện phản đối, đòi lại dất đai ngưng. Cuộc đấu tranh cho công lý, cho quyền sống, cho tài sản chính đáng thâm thâm diều diệu, nhiều năm vẫn còn.

Cuộc đấu tranh ấy bây giờ đã trở thành một tiến trình không thể đảo ngược lại được nữa. Cuộc đấu tranh ấy càng ngày càng sát, càng đúng vào tử huyệt của CS Hà nội.

Từ ngày CS Hà nội gồm thâu dược cả nước VN, CS Hà nội hành hạ, hà khắc như chế “tự thực dân” đối xử với dân VNCH như người thuộc địa, cào bằng kinh tế, chánh trị, văn hoá của người Miền Nam từ Bến Hải trở vô đã sống và chiến đấu trong chế độ VNCH. Bằng đổi tiền, đánh tư sản, bài trừ văn hoá, bắt đi tù cải tạo, lùa đi kinh tế mới. Người dân Miền Nam bị tróc gốc, trốc rễ ngay trên quê cha đất tổ của mình. Có khoảng ba triệu người Việt thoát được ách CS, dịnh cư ở các quốc gia Tây Phươnbg, dông nhứt là Mỹ.

Lúc đầu có người len lỏi về nước, kết họp với đồng bào trong nước dùng chiến tranh võ trang để mong đánh đuổi quân xâm lược là CS Hà nội. Xu thế thời đại hậu Chiến Tranh Lạnh, tâm lý người dân Việt quá mệt mỏi chiến tranh, mong muốn được sống trong hoà bình khiến cuộc dấu tranh võ trang không thành.

Tình hình mới, chiến thuật mới, cách làm mới. Người Việt ở hải ngọai đổi chiến thuật, chuyển chiến tranh võ trang sang chiến tranh chánh trị. Cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN bắt đầu. Rất phù hợp với xu thế thời đại, kinh tế tự do toàn cầu, chánh trị dân chủ hoá thế giới. Đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, cách nói nghe tích cực, xây dựng, ôn hoà hơn, để được chánh quyền và nhân dân các nước tiền tiến chấp nhận và ủng hộ.
Nhưng thực chất là chống Cộng Sản. Vì tự do, dân chủ, nhân quyền là khắc tinh của độc tài đảng trị toàn diện của CS. Ở đâu, lúc nào có tự do, dân chủ, nhân quyền là độc tài dưới mọi hình thức không có lý do tồn tại.

Nhờ hình thái đấu tranh chánh trị, nhờ chánh nghĩa tự do, dân chủ, nhân quyền VN đúng thời cơ, địa lợi, nhân hoà trong thế giới văn minh, mà vấn đề VN dần dần và nhịp nhàng đi vào Quốc Hội của các đại siêu cường Mỹ, của Liên Âu, Úc. Tư do, dân chủ, nhân quyền VN mà quốc kỳ VNCH là biểu tượng trở thành trở ngại trung tâm trong bang giao giữa Hà nội và các nước lớn, tiêu biểu là Mỹ của Thế Giới Tư do.

Còn đồng bào và các tôn giáo kẹt sống trong nước khó khăn với Cộng sản hơn, bắt đầu cuộc chiến tranh chánh trị bằng cuộc đấu tranh đòi tự do tôn giáo. Tôn giáo là là yếu tố vô cùng quan trọng vì ít nhứt 90% dân số VN có tín ngưỡng, không theo đạo này cũng theo đạo kia. Tôn giáo là lực lượng quần chúng còn sống sót sau khi CS Hà nội càn quét hầu hết các đảng phái và tổ chức chánh tri, văn hoá, xã hội của Miền Nam. Tôn giáo sống sót và tồn tại nhờ tín ngưỡng và nhờ bàng bạc, rộng khắp trong lòng dân, bám sát hạ tầng cơ sở.

Nhưng tự do tôn giáo là một giá trị tinh thần, trừu tượng, thượng tầng, ít sát sườn, ít “thiết thân” (chữ của CS dùng để xoá bỏ chữ nghĩa của người người Miền Nam dùng là chữ “thân thiết” như CS Hà nội nói “ đảm bảo” đề khác chữ “bảo đảm” của người Việt Quốc gia dùng). Sát sườn, thân thiết như giang sơn gấm vóc là máu thịt của quốc gia dân tộc và nhà cửa, đất đai là núm ruột của người dân. Phong trào chống CS Hà nội bán đất, dâng biển lên cao điểm khi Trung Cộng lấy hai đảo Trường sa và Hoàng sa do Ô Hồ chí Minh và Phạm văn Đồng nhượng bằng công hàm thừa nhận, để lập thành Huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam của TC. Lần đầu tiên sinh viên VN, bất chấp đảng, đoàn đứng lên biểu tình chống TC xâm chiếm, chống CS Hà nội khiếp nhược, bán nước.

Trước đó là Phong trào Dân Oan, thuật ngữ do những nhà đấu tranh và truyền thông chống Đảng Nhà Nước CS Hà nội, đặt ra và sử dụng lần đầu. Chuyện CS Hà nội tịch thu đất đai của dân, CS đã làm từ khi cướp được chánh quyền hồi nam 1954. “Cải cách Ruộng Đất” để CS truất hữu toàn bộ đất đai, ruộng vườn, ao hồ của người dân để đặt dưới quyền sỡ hữu của Đảng Nhà Nước CS Hà nội “thông nhứt quản lý”. Một tội chống dân tộc, chống văn hoá VN, vì người Việt dĩ nông vi bản, xem miếng vườn, miếng ruộng là núm ruột, chết cái nhà, sống cái mồ trên mảnh đất của mình. Ai ở nông thôn đều biết, chỉ cần lấn ranh một hàng lúa là có thể đổ máu với nhau.

Dân Oan đòi nhà đòi đất nhiều nhứt trong thời CS Hà nội mở cửa kinh tế cho đầu tư nước ngoài vào, đất đai trở nên quí hiếm. CS Hà nội dùng xảo thuật hành chánh qui hoạch và trưng dụng công ích để lấy, truất quyền sử dụng đất của dân làm mặt bằng xây nhà xưởng cho người ngoại quốc, và lợi dụng chiếm công vi tư cho cán bộ đảng viên.

Phong trào Dân Oan tuy xuất phát trong nước nhưng càng ngày càng phát triển. Nhiều đoàn thể đấu tranh ở trong cũng như ở ngoài nước âm thầm giúp phương tiện, khuyếch tán các cuộc đấu tranh của Dân Oan, nên càng ngày trở thành một tiến trình CS không thể đảo ngước được nữa.

Phong trào Dân Oan dân thường tiến dần lên thành Phong trào Dân Oan tôn giáo. Hoà Thượng Quảng Độ đến với Dân Oan biểu tình, một cuộc biểu tình lớn nhứt của người dân Miền Nam từ khi CS Hà nội cưỡng chiếm được đổi lại tên Thành Phố Hố chí Minh.

Phong trào Dân Oan Công Giáo phát khởi ở Đà nẵng, Nha Trang, Saigon, bùng nổ cao điểm với một hình thức đầy sáng tạo, ngay tại thủ đo Hà nội, với những giáo dân bị CS Hà nội đàn áp nửa thế kỷ. Đức Tổng Giám mục Hà nội, Ông Ngô quang Kiệt một người thuộc gia đình Miền Bắc di cư vào năm 1954, trưởng thành, sống đẹp đời, tốt đạo ở Miền Năm, trở ra Miền Bắc thời CS, cùng giáo dân quyết làm chứng nhân cho công lý. Cuộc biểu tình cầu nguyện đòi lại toà Khâm sứ và khu linh địa Thái Hà của giáo xứ Dòng Chúa Cứu Thế bị CS Hà nội tịch thu hồi năm 1954, đã đưa Công Giáo Việt Nam vào lòng dân tộc Việt.

Người dân Việt ngoài Bắc bị CS Hà nội thống trị hơn nửa thế kỷ, trong Nam hơn một phần ba thế kỷ. Hoàn cảnh có lúc tưởng như tuyệt vọng, nhưng tinh thần đấu tranh chống Cộng hay đấu tranh cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN lúc nào cũng có. Có khi bị xô té ngả, có lúc lở bước chới với, nhưng gượng đứng dậy, phủi bụi, đi tới giành lại quyền sống, quyền tư do, dân chủ, nhân quyền cho mình và cho quốc gia dân tộc.

1000 năm bị thực dân Tàu, 100 năm bị thực dân Pháp cai trị, rồi cũng ráng đứng lên, thế hiện tinh thần bất khuất của dân tộc Việt, đánh đuổi bạo quyền. CS Hà nội là một loại mà các nhà chánh trị học hiện thời gọi là “tự thực dân” (auto- colonialists) theo chủ nghĩa ngoại lai CS, còn hà khắc, ác nghiệt hơn thực dân Tàu và Pháp. Người dân Việt ý thức rất rõ, lần mò thử, sai, sửa, rồi làm lại, đã tìm ra tử huyệt của CS Hà nội. Đấu tranh cho tư do dân chủ, nhân quyền là giải trừ CS một cách tổng hợp. Đấu tranh đòi đất lại là đánh vào xương sống của chủ nghĩa Cộng sản, không bao giờ CS Hà nội giải quyết được vì giải quyết trả quyền sỡ hữu đất đai cho dân là phủ nhận chủ nghĩa CS. Và càng trấn áp, thì nhân dân càng thù hận thêm, quốc tế càng lên án.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Trung Quốc mưu đồ chia rẽ các quốc gia ASEAN

Võ Long Triều
Mười quốc gia Ðông Nam Á họp hội nghị thượng đỉnh tại tại Phnom Phen trong hai ngày 3 và 4 tháng 4. Ba chủ đề lớn mà hội nghị sẽ bàn là: Cải cách chính trị tại Miến Ðiện, tên lửa của Triều Tiên và quan trọng hơn cả mà thế giới đang chờ đợi là vấn đề tranh chấp chủ quyền tại Biển Ðông.

Sự tranh chấp liên quan đến 4 nước: Việt Nam, Philippines. Malaysia và Brunei chống lại sự tranh giành ngang ngược của Bắc Kinh. Hội nghị chỉ ghi nhận sơ qua việc cải cách dân chủ của Miến Ðiện và chỉ trích Bắc Triều Tiên bỏ đói dân mình, dùng tiền để sản xuất vũ khí hạt nhân một cách vô lý phi nhân.

Mặc dù vấn đề tranh chấp lãnh hải có thể dẫn đến xung đột võ trang, gây bất ổn trong vùng và an ninh trật tự thế giới, nhưng theo nhận xét của ký giả Thanh Phương thì Trung Quốc dùng hàng chục triêu đôla, vừa cho vay vừa viện trợ để thuyết phục thủ tướng Cam Bốt, ông Hun Sen, chủ tịch luân phiên đại hội các nước ASEAN lần thứ 20, không đưa vấn đề Biển Ðông vào chương trình nghị sự chính thức của hội nghị thượng đỉnh kỳ nầy.

Ai cũng thấy cái bóng của Trung Quốc bao trùm thượng đỉnh PhnomPenh với chuyến viếng thăm của Hồ Cẩm Ðào, ba ngày trước khi hội nghị khai mạc. Ðặc biệt có lời nhắn nhủ của Hồ Cẩm Ðào với Thủ Tướng Hun Sen rằng, “Ði quá nhanh trong vấn đề soạn thảo bộ quy tắc ứng xử trên biển Ðông có tính cách ràng buộc (COC) chỉ làm gia tăng căng thẳng trong khu vực mà thôi”!

Ngoài ra hai nước cũng đã thỏa thuận là vấn đề Biển Ðông không nên để trở thành “quốc tế hóa” mà chỉ nên giải quyết trong khuôn khổ các nước ASEAN thôi. Hai bên còn hy vọng sẽ có sự phối hợp chặt chẽ hơn trong các vấn đề quốc tế và khu vực.

Phát ngôn viên của Thủ Tướng Hun Sen thông báo: Biển Ðông không nằm trong chương trình nghị sự và nếu có quốc gia nào nêu vấn đề ra thì chỉ bàn việc thực hiện tuyên bố về ứng xử hòa bình (DOC) được ASEAN ký kết với Trung Quốc 10 năm trước đây cũng tại Phnompenh năm 2002.

Rõ ràng Bắc Kinh khuyến dụ được Camuchia tách rời khỏi lập trường chung của ASEAN là chủ trương đàm phán đa phương với Trung Quốc để giải quyết tranh chấp trong sự ôn hòa. Âm mưu chia rẽ ASEAN của Trung Quốc đã thành công. Trong khi đó thì tổng thống Philippines, ông Aquino, tuyên bố với các nhà lãnh đạo trong hiệp hội là ASEAN nên thống nhứt trên một dự án (COC) trước khi mời Bắc Kinh đàm phán. Và ông kêu gọi các quốc gia thành viên của hiệp hội đoàn kết để đối phó với chủ trương bành trướng của Bắc Kinh và duy trì hòa bình trong khu vực.

Trên chính trường quốc tế, lịch sử cận đại cho thấy không có đồng minh vĩnh viễn mà cũng không có kẻ thù truyền kiếp. Mọi sự đổi thay, bắt tay làm hòa hay gây hấn chỉ vì quyền lợi mà thôi. Một nước tí hon như Cam Bốt đương nhiên phải nương theo chiều gió mà tồn tại và hưởng được lợi ích lâu dài.

Các nhà lãnh đạo Campuchia, Hun Sen và Heng Samrin, đã từng núp bóng Việt Nam nhờ che chở khi bị nhóm Khemer Ðỏ Polpot thanh trừng. Ho kéo quân chạy qua tá túc bên Việt Nam từ tháng 12 năm 1977. Cũng tại đây Heng Samrin và Hun Sen thành lập mặt trận đoàn kết cứu quốc (United Front of the National Salvation of Campuchia) chống lại nhóm Khemer Ðỏ của Polpot đang được sự ủng hộ và viện trợ tích cực của Bắc Kinh. Polpot ỷ lại có cố vấn quân sự Bắc Kinh nên không ngớt vi phạm biên giới Việt Nam. Cuối cùng ngày 30 tháng 12 năm 1978 Hà Nội xua cả trăm ngàn quân xâm chiếm trọn nước Cam Bốt, lật đổ chế độ Polpot, đặt một chính phủ do Heng Samrin cầm đầu và Hun Sen làm tổng trưởng Ngoại Giao. Hai vị nầy và đồng bọn tiếp tay với Hà Nội được gọi là “Khemer Issarak” nghĩa là Khemer Việt Minh. Chính phủ Camuchia thời đó hoạt động dưới sự chỉ đạo của Tướng Văn Tiến Dũng. Phía Việt Nam lập ra 3 cơ quan với mật mã A40: Phụ trách giao dịch Campuchia, B68: Cố vấn hành chánh cho chính phủ Heng Samrin, A50: Giám thị tổng quát các tỉnh Campuchia.

Mãi cho đến tháng 1 năm 1985 Hun Sen được cử làm phó thủ tướng mà vẫn còn bị các đối thủ của ông gán cho nhãn hiệu là “con rối của Hà Nội” (marionnette de Hà Nội). Một vài chi tiết trên đây đủ chứng Minh Hun Sen bước vào đường chính trị do bàn tay của cộng sản Hà Nội dẫn dắt. Nhưng tại sao bây giờ lại phản bội thay thầy, đổi bạn?

Hẵn người ta còn nhớ cách đây khá lâu có lần Campuchia phát biểu theo ý Trung Quốc, ngược với Hà Nội, trong một phiên họp các nước trong vùng, làm nhiều quốc gia ASEAN ngạc nhiên. Và từ đó ảnh hưởng của Trung Quốc ngày càng ăn sâu bằng viện trợ, bằng cho vay nợ, bằng cung cấp vũ khí, bằng đầu tư kinh tế.v.v...

Xét cho cùng nước Việt Nam còn nghèo đói, đâu có khả năng hỗ trợ gì được cho Campuchia? Một Việt Nam bị Trung Quốc công khai lấn áp về mọi mặt không dám phản kháng, một Việt Nam luôn luôn tuyên bố hợp tác toàn điện, và phát triển theo mô hình của quan thầy Trung cộng, thì tội gì Hun Sen phải tiếp tục làm con rối cho Hà Nội? Quyền lợi cá nhân của Hun Sen và dân tộc Campuchia buộc thủ tướng Cam Bốt phải ngả về Trung Quốc, tuân theo sự hướng dẫn của Hồ Cẩm Ðào là thuận lợi trăm bề.

Capmpuchia chỉ mới là một nược bị Trung Quốc mua chuộc. Hãy còn Lào, Brunei, kể cả Miến Ðiện dù có biến đổi, có thoát khỏi được phần nào ảnh hưởng của Trung Cộng nhưng lần hồi Bắc Kinh vừa phản đối Hoa Kỳ và Tây phương can dự vào sinh hoạt các nước vùng Ðông Nam Á, vừa khuyến dụ bằng đầu tư viện trợ, bằng hăm dọa và ngang ngược làm càn, bằng mua chuộc hay dùng mỹ nhân kế để lôi cuốn các nước nhược tiểu kể trên về phe mình, phá tan sự đoàn kết các quốc gia Ðông Nam Á chống sự bành trướng bá quyền Bắc Kinh.

Nếu ASEAN chỉ còn lại Việt Nam, Philippines, Brunei, Malaysia, hợp tác chặt chẽ vì có quyền lợi chung, còn các nước khác không trực tiếp có phần trên Biển Ðông, thử hỏi 4 quốc gia nói trên còn có thể nhân danh ASEAN chống chọi với Trung Quốc nữa không?

Nói rằng có thể vịn vào Luật Biển Quốc Tế năm 1982. Trung Quốc đã xem thường tờ giấy lộn đó từ lâu rồi, nên họ mới vẽ cái lưỡi bò liếm trọn các quần đảo trên Biển Ðông. Trung Quốc đã học thuộc bài ngụ ngôn của đại văn hào người Pháp, La Fontaine viết “Chó sói và con trừu non,” chứng minh lý lẽ của kẻ mạnh.

Biết được điều đó, nếu Việt Nam khôn ngoan muốn tránh cảnh bị cướp nước, Bắc thuộc, làm nô lệ cho Tàu thì phải cùng với Philippines, Brunei, Malaysia dựa vào sức mạnh của Hoa Kỳ và các nước Tây phương trợ giúp, để giành lại lãnh hải đã bị Tàu Cộng dùng vũ lực cướp giựt. Dĩ nhiên các quốc gia Tây phương đã từng đưa ra điều kiện, đặc biệt đối với Việt Nam là phải tôn trọng nhân quyền và nới rộng dân chủ. Ngoài sức mạnh của ngoại bang còn sự đoàn kết của toàn dân chống xâm lăng bao giờ cũng thắng. Mong rằng cộng sản Hà Nội hiểu được điều đó trước khi bị toàn dân phẫn nộ đạp đổ chế độ độc tài độc đảng cộng sản.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Phương Lệ Chi

Ngô Nhân Dụng
Ông là nguồn cảm hứng của thế hệ 1989 ở Trung Quốc. Ông đã đánh thức lòng khao khát dân chủ và nhân quyền trong lòng mọi người. Ðó là nhận xét của Vương Ðán (Wang Dan), một sinh viên tranh đấu trong cuộc biểu tình bị tàn sát ở Thiên An Môn, Tháng Sáu năm 1989.

Ông Phương Lệ Chi (Fang Lizhi) mới qua đời hơn một tuần, đầu Tháng Tư, 2012. Một thế hệ những người tranh đấu cho dân chủ tự do ở Trung Quốc, có thể nói, đã ra đời bắt đầu từ những ý kiến xây dựng, chí khí quật cường và tấm lòng yêu nước của ông. Ít thấy báo chí của người Việt Nam nhắc đến ông, con người đáng cho chúng ta thắp một nén hương để tưởng niệm.

Phương Lệ Chi có lẽ là vị giáo sư đại học đầu tiên, và duy nhất, đã khuyến khích sinh viên tranh đấu cho tự do dân chủ. Năm 1986 ông là một giáo sư Vật Lý học, và được phong làm phó chủ tịch Ðại Học Khoa Học Kỹ Thuật tại thành phố Hợp Phì (Hefei), tỉnh An Huy; trong lúc sinh viên đang xôn xao tham dự phong trào “báo tường,” mà người Trung Hoa gọi là “đại tự báo.” Trên những trang giấy lớn dán trên tường, họ viết những bài phê bình chế độ độc tài, nêu cao lý tưởng tự do dân chủ. Có người viết khẩu hiệu: “Tự Do hay là Chết!”

Chính Phương Lệ Chi cũng là một đảng viên cộng sản, có lẽ đó là một điều kiện bắt buộc để được học và bổ nhiệm làm giáo sư trong chế độ đó. Là con trai một thư ký bưu điện và một bà mẹ lao động, sinh năm 1936 tại Hàng Châu, ông được thâu nhận vào Ðại Học Bắc Kinh và Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản dễ dàng; ngay trong buổi họp đầu tiên thành lập đoàn ông đã hô hào các bạn sinh viên phải tập suy nghĩ độc lập chứ không nên nô lệ bài giảng của các giáo sư. Học xuất sắc, tốt nghiệp môn Vật Lý năm 1956, ông được đưa về làm ở Viện Tân Vật Lý. Nhưng ngay sau đó ông bị đuổi ra khỏi trường vì viết một bài chỉ trích chính trị can thiệp vào công việc nghiên cứu khoa học. Ðó cũng là thời gian Mao Trạch Ðông đang phát động chiến dịch “Chống Hữu Phái.” Vì khả năng nghiên cứu được các nhà khoa học kính trọng, ông vẫn được phục hồi và trở lại dạy đại học.

Năm 1966, trong thời Cách Mạng Văn Hóa, Phương Lệ Chi bị đưa đi cải tạo, làm việc trong một nông trường ở tỉnh An Huy. Ông đem theo một cuốn sách vật lý học của Landau và và Lifshitz; chuyển từ ngành Vật Lý học tổng quát sang Vũ Trụ học. Năm 1972 ông và một số đồng nghiệp công bố một bài bàn về “Thuyết Big Bang” trong Vật Lý học, giải thích sự thành hình của vũ trụ, một lý thuyết đã phổ biến trong thế giới vũ trụ học lúc đó. Họ bị đem ra tố cáo là phản động. Vì ý tưởng vũ trụ có một biến cố khởi đầu là trái ngược với kinh điển Mác Xít; họ tin lời Engels tuyên bố rằng vũ trụ không có lúc đầu cũng như lúc cuối! Phương Lệ Chi lại bị hạ tầng công tác, chỉ được trở lại vai trò giáo sư sau khi Mao chết năm 1976 và Ðặng Tiểu Bình cải cách chế độ. Ông tiếp tục công việc nghiên cứu, đã được đi dự các hội nghị khoa học quốc tế để trình bày các công trình của mình, và được đồng nghiệp các nước khác chú ý. Nhưng ông cũng viết trên các báo phổ thông cho sinh viên và công chúng đọc. Ðó chính là lý do khiến ông bị đàn áp, vì các sinh viên hiểu và hưởng ứng các ý kiến đề cao tự do dân chủ của ông. Khi các sinh viên biểu tình đòi tự do khắp các đại học năm 1986, Phương Lệ Chi bị coi là một người xúi giục, năm sau ông bị trục xuất khỏi đảng và mất chức giáo sư. Ông và bà vợ đổi về sống ở Bắc Kinh, ông được mời vào làm ở đài thiên văn Bắc Kinh, cho khỏi uổng phí một tài năng hiếm hoi; còn bà vợ, cũng chuyên về Vật Lý học, được vào dạy ở Ðại Học Bắc Kinh, một nơi xuất phát các phong trào đòi dân chủ.

Năm 1989, Phương Lệ Chi viết một lá thư ngỏ gửi Ðặng Tiểu Bình, lãnh tụ tối cao của Cộng Sản Trung Quốc, yêu cầu hãy trả tự do cho các tù nhân chính trị. Lá thư được công bố và được giới trẻ ngưỡng mộ; nhưng khi các sinh viên và công nhân biểu tình hàng tháng ở quảng trường Thiên An Môn thì hai vợ chồng Phương Lệ Chi phải trốn công an, tới tòa Ðại Sứ Mỹ xin tị nạn chính trị. Sau khi Cộng Sản Trung Quốc tàn sát các sinh viên, phải mất một năm hai ông bà mới được chính thức sang Mỹ tị nạn, lấy lý do chữa bệnh. Ông được mời làm giáo sư đại học University of Arizona tại Tucson, cho đến khi tạ thế.

Ngay sau khi được tự do sang Mỹ, Phương Lệ Chi đã gây sóng gió vì tính cương trực thẳng thắn của ông. Ông chỉ trích chính phủ Mỹ không thi hành quan niệm nhân quyền một cách bình đẳng. Họ không buộc đảng Cộng Sản Trung Quốc phải áp dụng nhân quyền đúng tiêu chuẩn, vì họ coi là dân Trung Hoa không đáng được hưởng những quyền làm người như dân một nước da trắng, như dân Nga! Ðại sứ Mỹ ở Bắc Kinh, James Lilley, tỏ ra tức giận và Tổng Thống George Bush phải lên tiếng minh xác chính quyền Mỹ không hề coi các dân tộc Á Châu là có địa vị thấp trong việc áp dụng nhân quyền; và nhận xét của nhà vật lý dựa trên các chuyện cũ đã lỗi thời!

Năm 1986, Phương Lệ Chi đã nói với các sinh viên Ðại Học Ðồng Tề (Tongji), ở thành phố Thượng Hải: “Quyền làm người là những quyền căn bản mà ai cũng đáng được hưởng, từ lúc mới sinh ra; thí dụ những quyền được suy nghĩ, được giáo dục, quyền kết hôn, vân vân. Nhưng nhiều người Trung Hoa lại nghĩ rằng các quyền đó gây nguy hại. Nếu thực sự nước ta là một nước dân chủ như người ta vẫn nói, thì các quyền đó phải được thi hành mạnh hơn. Nhưng hiện nay đó chỉ là một khái niệm trừu tượng.”

Chưa có một giáo sư nào ở Việt Nam công khai nói trước các sinh viên những thông điệp như vậy, ngay trong lớp học!

Năm 1986 tại Việt Nam, một giáo sư đã công bố những lời phê phán chủ nghĩa Mác xít mạnh mẽ chưa từng thấy, nhưng chỉ được phổ biến trên giấy, chuyển qua các bạn bè ngoài đại học. Ðó là Giáo Sư Nguyễn Xuân Tụ, ký tên là Hà Sĩ Phu. Mấy năm sau, ông Nguyễn Xuân Tụ đã bị “đụng xe đạp” trên đường phố Hà Nội, bị công an bắt và ở tù mấy năm. Nhưng rất ít người sống ở Việt Nam biết đến tên ông. Ðến nay ông vẫn là một tiếng nói độc lập đòi thi hành tự do dân chủ và bảo vệ chủ quyền đất nước. Hàng chục bloggers đang theo đuổi lý tưởng dân chủ tự do và nhân quyền, một thế hệ mới đang tham dự vào cuộc vận động này, vì tương lai đất nước. Chúng ta tưởng nhớ Phương Lệ Chi để vững tin vào lẽ phải, tiếp tục đấu tranh cho lẽ phải.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Tuổi Trẻ Nghĩ Về 30-4...

Tác giả : Trần Khải
Hòa bình là ước mơ đẹp nhất của nhân loại. Nhưng khi chiến tranh kết thúc, không phải nền hòa bình nào cũng y hệt nhau.

Do vậy, ngay cả tuổi trẻ sinh sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, những người sinh trong nền hòa bình và thống nhất của đất nước, cũng có những suy nghĩ độc lập với tuyên truyền của nhà nước Hà Nội.

Tất nhiên, nếu bạn muốn đọc truyền thông lề phải thì dễ tìm và cũng quen tai rồi: chỉ cần vào các trang web của báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, và nhiều trang tương tự ở Hà Nội. Nơi đó, các tiếng nói đều xuất phát từ một dàn đồng ca vĩ đại. Nhưng rồi không phải ai cũng tin vào điều mình được nghe, được đọc và được nhồi sọ. Duy có điều phải hiê:u những tiếng nói dị biệt không có quyền xuất hiện trên các trang web lề phải như thế.

Một tiếng nói lề trái là Đài phát thanh Chân Trời Mới trong ngày Thứ Ba, 4 Tháng Năm 2010, đã phát đi một số tiếng nói của giới trẻ nghĩ về ngày 30 tháng 4, sau 35 năm thống nhất. Trích một số đoạn như sau:

“Kim: Nói chung là chẳng mấy ai quan tâm về ngày này. Bước sang câu hỏi thứ nhì là “Sau 35 năm nhìn lại, VN và dân tộc chúng ta học được bài học gì?”… Thì blogger Mẹ Nấm trả lời là: Có một bài học lớn không bao giờ học được đó là : SỰ THA THỨ, và blogger Tarazx thì cho đó là 35 năm lãng phí, hao mòn, và nhiều điều ngu xuẩn…

Thủy Tiên: bạn Tiến Nam từ Trong nước, đã gửi thư trả lời 3 câu hỏi như sau:

Ngày 30 tháng 4 đã mang đến cho Tiến Nam 1 cảm giác mất mát không phải do ý nghĩa như nhà nước nói là sự giải phóng miền Nam mà là 1 sự mất mát không đáng có của dân tộc Việt Nam. Đó là 1 cuộc nội chiến Nam Bắc đã làm bao nhiêu máu xương đổ ra mà người được hưởng lợi không phải là dân tộc Việt Nam…

Bài học của dân tọc Việt Nam 35 năm nay thì mọi người đã biết là từ 1 hòn ngọc Viễn Đông giờ Việt Nam thành 1 sọt rác của thế giới, họ chỉ coi Việt Nam là 1 sọt rác.

Nhìn về tương lai đất nước thì Tiến Nam nghĩ Việt Nam bây giờ muốn trở lại vị thế đáng có của mình cần có sự thay đổi toàn diện để nhân tài được trọng dụng; người xứng đáng được lãnh đạo đất nước. Không còn cảnh đảng chỉ định; nhân dân bỏ phiếu...” (hết trích)

Trong khi đó, trên trang web Dân Làm Báo, người viết Hoàng Thanh Trúc qua bài nhan đề “Thưa cô - em cũng muốn tin nhưng không thể!” đã phóng tác từ nội tâm một sinh viên năm 2 Khoa học Xã hội Nhân văn Sài Gòn có tên là Lê Vũ Cát Đằng.

Bài này độc đáo là để trả lời một cô giáo môn Sử sau khi cô nói về “đề tài bài tham luận: '37 mùa xuân Đại Thắng' nói về 'chiến công thần thánh' của quân dân ta chống 'đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nước'...”

Chàng sinh viên năm thứ 2 qua trình bày của tác giả Hoàng Thanh Trúc đã viết:

“...Em cũng nhớ, mình là người thứ tư, sau các bạn, vô tư ngập ngừng cười, nói với Cô: "Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước – thì không phải – thưa cô! em nghĩ như vậy…”

Thưa Cô! Em tìm thấy trong tác phẩm dịch từ nguyên tác Nhật Bản "12 người làm nên nước Nhật" của Giáo Sư Tiến Sĩ: Đặng Lương Mô (có thể Cô cũng biết!) Viện sĩ Hàn Lâm Viện Khoa học New York, năm 1992. Ủy Ban Nhân Dân TP. HCM khen thưởng kiều bào có công với đất nước, năm 2003.

Trong danh sách "12 nhân vật mà người dân Nhật Bản tôn vinh" - 12 người đã lập nên một nước Nhật hùng mạnh ngày nay, chúng ta lưu ý đến người mang số 10 không phải là người Nhật: (1) Thái tử: Shotoku, (2) Chính khách: Hikaru Genji, (3) Lý Thuyết Gia: Minamoto Yoritomo, (4) Anh Hùng: Oda Nobunaga, (5) Kỹ sư: Ishida Mitsunari, (6) Nhà cải cách: Tokugawa Yeyasu, (7) Triết Gia: Ishida Baigan, (8 ) Chính Khách: Okubo Toshimichi, (9) Nhà tư bản học: Shibusawa Ei-ichi, (10) Thống Tướng Hoa kỳ: Douglas MacArthur, (11) Giáo Sư lý thuyết gia: Ikeda Hayato, (12) Doanh Nhân: Matsushita Konosuke.

Ông ta, chính xác là Thống Tướng quân đội Mỹ. Thật không hề dễ dàng chút nào cho gần hai trăm triệu con cháu ”Thái Dương thần nữ” phải nhìn nhận một Tướng Lãnh khét tiếng của Mỹ, kẻ thù không đội chung trời của họ trong Đệ II Thế chiến trên Thái Bình Dương và khắp các mặt trận Châu Á, là Tư lệnh quân đội Mỹ chuẩn thuận văn bản đầu hàng của CP/Nhật Bản sau đó đại diện cho LHQ và CP/Mỹ chiếm đóng Nhật Bản... trở thành một Anh Hùng, ân nhân của Nhật Bản sau 2 quả bom nguyên tử của Mỹ cũng rơi trên lãnh thổ nước này gây nên nhiều tang thương.

Phải là người có nhiều công trạng thực tiễn mang lại một thành quả lớn lao mà giá trị của nó bao hàm đặc tính rõ rệt của chân, thiện, mỹ trong một nhân cách mà người Nhật ví như Anh Hùng (Anh hùng là bậc Chính Nhân Quân Tử) để nhân dân Nhật công nhận, tri ân sánh ngang hàng với Thái Tử và 11 người con cháu ưu tú của "Thần Nữ Thái Dương".

"Nhân vô thập toàn" Thưa Cô! Tướng Mỹ Douglas MacArthur và quân đội của họ không phải là không có nhược điểm, nhưng bù lại họ tạo ra rất nhiều ưu điểm đôi khi vượt lên trên tập quán thông thường mà nhân danh những người chiến thắng đã xử sự với kẻ chiến bại, khiến những nhược hay yếu điểm không còn là đáng kể.

Cuối Đệ II Thế chiến, ở Đông nam Châu Á, đạo quân Mỹ hùng mạnh chỉ huy bởi Tướng MacArthur đã đánh bại và quét sạch quân phiệt Nhật khỏi Indonesia, giải phóng Philippines, hỗ trợ bảo vệ cho Trung Hoa Dân Quốc tại đảo Đài Loan, rồi thay mặt LHQ giải giới vũ khí chiếm đóng Nhật Bản, Sau đó từ Nhật lại tiến qua giải phóng Cao Ly cứu Nam Hàn sắp bị CS Bắc Hàn nuốt chửng. Nhưng thưa Cô! Quân Mỹ đổ máu xương giải phóng (đúng nghĩa giải phóng) các quốc gia này nhưng hoàn toàn không có tham vọng 1cm2 đất đai nào từ các lãnh thổ ấy. Vì sao vậy? Còn bên kia bán cầu, cũng đạo quân Mỹ (xâm lược?) phối hợp với 2 (cựu đế quốc thực dân) Pháp và Anh chiếm đóng, giải giới, quân phát xít Đức, toàn quyền định đoạt số phận một nửa quốc gia Đức, nhưng sao họ không cùng nhau chia phần xâu xé Tây Đức, mà ngược lại bảo trợ toàn diện (kẻ thù của họ ở đầu hôm) phát triển vững mạnh trên cái nền tự do dân chủ đến nỗi cảm hóa được phần phía Đông, giã từ CN/XH thống nhất quốc gia trong yên bình êm ái?

Thưa cô! Lại càng không thể nào đó là bản chất của đế quốc xâm lược thực dân (dù kiểu cũ hay mới) chỉ 6 năm (2/9/1945 – 28/4/1952) sau khi chiếm đóng, nước Mỹ đã trả lại sự độc lập hoàn toàn cho Nhật Bản sớm hơn thời gian trù bị, ngoài sự kỳ vọng của toàn dân Nhật và không hợp logic chút nào khi hiện nay, 2012, chính Phủ và người dân Nhật vẫn còn đài thọ mọi chi phí cho gần 40.000 binh sĩ Mỹ hiện diện trên đất nước mình vì sự an toàn cho nền an ninh quốc gia, không ai vui vẻ trả tiền cho một đạo quân có bản chất "xâm lược" ăn ngủ hơn 2/3 thế kỷ trên đất nước mình? Và đạo quân "xâm lược" này chỉ đặt chân lên miền Nam VN, sau 20 năm có mặt tại Hàn và Nhật Bản, hai quốc gia nhờ họ mà "màu mỡ" về kinh tế hơn hẳn Việt Nam nhiều lần. Nhưng điều đáng để người Việt Nam suy ngẫm là quân Mỹ có mặt nơi đó mà không màng đến "xâm lược" thì họ xâm lăng một Việt Nam nghèo khó sau Pháp thuộc để làm gì? ngoài ý định cũng thông qua kế hoạch Marshall giúp Việt Nam, cụ thể là miền Nam VN phát triển giàu mạnh ổn định như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan?

Thưa Cô! Làm sao biện minh? 45.000 quân "xâm lược" Mỹ vẫn hiện diện trên đất Hàn Quốc, một quốc gia khủng hoảng lương thực trầm trọng không đủ cơm gạo cho dân sau chiến tranh Nam Bắc nhưng hôm nay thì: nhiều báo chí ở Việt Nam nói về đất nước này hay thường gọi là Kỳ tích sông Hàn hay Huyền thoại sông Hàn.

Hàn Quốc từ đống tro tàn của cuộc nội chiến Bắc Nam đã vương lên thành một quốc gia phát triển hùng mạnh thịnh vượng hơn hẳn nửa kia ở phía Bắc nghèo nàn lạc hậu. GDP cán mốc 1000 tỷ USD/năm cũng như nhiều tập đoàn lớn nổi tiếng như SamSung, LG, Hyundai, Kia, Daewoo… Nhưng, thành tựu đó họ có được là do đâu? ngoài sự lãnh đạo sáng suốt của các nguyên thủ Hàn Quốc, thì sự hỗ trợ nhiệt tình như là một đồng minh của Mỹ trên tinh thần kế hoạch Marshall là yếu tố quyết định...” (Hết trích, toàn văn đọc ở: danlambaovn.blogspot.com)

Đó là tiếng nói của tuổi trẻ thế hệ sinh sau 30-4-1975. Họ nói bằng những sự kiện lịch sử, không dựa vào sự mơ hồ ngụy biện nào khác: rằng Nhật, rằng Đức, rằng Nam Hàn... là những quôc gia cho thấy cuộc chiến đấu của quân đội Mỹ hoàn toàn không phải là đế quôc xâm lược, giành đất, giành biển... như Trung Quốc đang thực hiện với Việt Nam.

Hãy nhìn ngay các gia đình cán bộ với làn sóng gửi con du học sang Mỹ... thì biết. Tại sao lại bỏ trốn thiên đường xã hội chủ nghĩa VN? Đó là những sự thật ai cũng thấy, cũng biết, nhưng báo nhà nước không được đăng tải.

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

37 Năm Một VN Cộng Sản

Tác giả : Vi Anh
30 tháng Tư năm 2012 này nữa là 37 năm Việt Nam nằm trong gọng kềm của chế độ CS Hà nội. 37 năm nhân dân Việt Nam chịu quá nhiều áp bức, bóc lột, tham nhũng, xã hội VN bị hố sâu ngăn cách nghèo giàu, văn hóa VN bị tàn phá. 37 năm đất nước Việt Nam bị Trung Cộng đồng chí Cộng sản của Đảng Nhà Nước CSVN gậm nhấm mất Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, một phần lớn Biển Đông, Hòang sa và Trường sa của VN bị TC lấy làm huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam của TC.

Cứ mỗi lần mùa Quốc Hận 30 tháng Tư đến, người dân Việt từ Bắc chí Nam, từ thành thị đền thôn quê ngâm ngùi, uất hận. Người của VN Cộng Hòa còn kẹt trong nước thì thương tiếc ngày cũ, và khổ nhục hiện thời. Kẻ đã chết thì mồ xiêu mả lạc, người còn sống thì bị kỳ thị, thiệt thòi thua công dân hạng hai. Hàng trăm ngàn quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh bảo vệ Miền Nam trong cuộc chiến tranh tự vệ chánh đáng để bảo vệ xóm làng, các nghĩa trang của Việt Nam Cộng Hòa dành cho tử sĩ bị CS tịch thu làm khu quân sự, bỏ hoang hay san bằng, tàn phá – như trả thù người chết.

Hàng triệu người Việt từ Bến Hải trở vô Cà Mau còn sống bị kẹt trong nước, dọn một vài món người thân ưa để cúng, thấp nén nhang van vái siêu linh cho những người cha mẹ, chồng, vợ, anh chị em đã chết trên con đường di tản vào Nam, không biết chết nơi nào, sau khi rút khỏi Ban mê thuộc khi CS Hà nội tuyên bố Chiến dịch Hồ chí Minh hay Mùa Xuân Đại Thắng.

Chính một người gốc Miền Nam theo Cộng sản nòi, là Ông Sáu Dân tức Võ văn Kiệt gốc Vĩnh Long, cũng thấy được niềm đau nỗi khổ và bao oan khiên mà người Miền Nam đã phải chịu khi CS gồm thâu được cả nước. Khi hết làm Thủ Tướng, Ông còn phải nói 30 tháng tư là thời điểm hàng triệu người đau, hàng triệu người vui.

37 năm Đảng Nhà Nước VNCS gồm thâu được cả nước, người dân VN quá nhiều khổ nhục trong thời CS Hà nội cai trị VN. Người VN, “trai thời trung hiếu làm dầu/ Gái thời tiết hạnh là câu trau mình” của nhà thơ yêu nước Đồ Chiểu – thê thảm. Nam vì muốn giúp gia đình, tham gia chương trình xuất khẩu lao động của Đảng Nhà Nước CS, cầm cố ruộng nương, nhà cửa vay ngân hành để có tiền đi “làm thủ tục đầu tiên” lo hối lộ cho cán bộ, đảng viên CS để được đi “xuất khẩu lao động”. Đến nơi bị các chủ nhơn giữ thông hành visa, bắt làm việc trối chết, trả tiền công rẻ mạt như lao nô. Tòa đại sứ và lãnh sự của VNCS không can thiệp, như đem con bỏ chợ.

Nữ thì một số lớn vì cuộc sống quá nghèo nàn, gia đình quá thiếu thốn phải hy sinh đi làm nô lệ tình dục cho người Nam Hàn, Đài Loan dưới hình thức lường gạt của các dịch vụ thông đồng, ăn chia với cán bộ đảng viên CS qua việc xin visa xuất cảnh, mượn tiển ngân hàng đóng lệ phí, để thành “cô dâu” Nam Hàn, Đài Loan, Mã Lai. Có người chịu không nổi phải nhảy lầu tự tử, thảm thương.

Còn người nữ trong nước, cảnh bán trôn nuôi miệng, bị và lây bịnh xã hội, Sida hay Aids tỷ lệ cao nhứt nhì Á châu. Mỹ phải giúp tiền để ngăn chận.

Dân làm ăn chân chính càng làm càng nghèo. Nông dân bị chính sách trưng dụng đất đai của Đảng Nhà Nước cưỡng chế lấy núm ruột của dân, trả rẻ mạt như cướp giựt. Rồi cán bộ đảng viên CS làm tròng làm tréo thành của riêng, lấy đó bán hay hùn với ngọai quốc, giá 40 lần cao hơn. Những oan khuất này của người dân từ bắc chí nam, từ thành thị đến thôn quê tạo thành phong trào Dần Oan khắp nước.

Còn công nhân thì bị Đảng Nhà nước ép giá lương tiền để thu hút đầu tư ngọai quốc, để giá thành sản phẩm rẻ dễ “xuất khẩu” hàng hóa, bắt làm việc không đủ sống và với điều kiện lao động rất tồi tệ. Công nhân biểu tình, đình công, lãng công đòi tăng lương trở thành phong trào ngay trong chế độ CS kềm kẹp cấm biểu tình lãnh công.

Còn đất nước VN thì bị gậm nhấm, mà Đảng Nhà Nước gần như bất động và thông đồng trước đà xâm lăng của TC. Ngòai biển, TC tung ra một bản đồ hình lưỡi bò chiếm hết 80% Biển Đông của VN. TC đưa vào công hàm bán nước của Thủ Tướng CS Hà nội Phạm văn Đồng lấy hai đảo Hòang sa và Trường sa làm Huyện Tam sa sáp nhập vào lãnh thổ TC.

Trên đất liền, TC lấy Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc và mướn nhiều vùng đất của các tỉnh sát biên giới VN và TQ, họp đồng trên nửa thế kỷ. TC còn mướn vùng Cao Nguyên của VN, khai thác bauxite. TC lập xóm, làng, xây chùa Ông, chùa Bà, đưa công nhân qua ở như VN là nước nhà của họ vậy.

Các tôn giáo phần lớn bị CS Hà nội đối xử như lực lượng phản động. CS Hà nội dàn dựng lập ra các giáo hội do CS lãnh đạo, chỉ huy, người dân gọi là “giáo hội quốc doanh” và triệt hạ các giáo hội độc lập, thuần túy, chân truyền. CS Hà nội cử một trung tướng công an làm Trưởng Ban tôn giáo.

Thành phần dân chúng yêu nước, trí thức, luật sư, bác sĩ, nhà báo, sinh viên, nhà tu lên tiếng đòi tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền cho VN một cách ôn hòa, thì CS Hà nội cho côn đồ đánh đập ngòai đường hay bắt vào tù, dùng luật hình để truy tố một cách khiên cưỡng, như luật rừng.

Chế độ CS Hà nội thì độc tài đảng trị tòan diện. Họ mở cửa kinh tế, theo kinh tế thị trường nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tức là coi quốc doanh vẫn là “chủ đạo” trên phương diện kinh tế và khoá chặt chánh trị tức Đảng CS vẫn là đảng độc quyền, độc trị. CS tạo ra một thời kỳ tư bản hoang dã mà cán bộ đảng viên CS và tài phiệt ngọai quốc cấu kết thành một giai cấp mới, tư bản đỏ ở thành thị và cường hào ác bá đỏ ở nông thôn. Giai cấp này vay nợ ngọai quốc để làm và “rút ruột công trình” ba đời người dân trả không hết nợ. Giai cấp này hưởng thụ giàu sang mua xe loại sang trọng nhứt thế giới, máy bay riêng để đi, gởi bạc tỷ Đô la ra đầu tư ở ngọai quốc, ăn chơi phung phí như chưởi vào mặt dân nghèo VN.

37 năm đất nước và nhân dân VN nằm trong gọng kềm CS Hà nội, đã rơi vào hòan cảnh thê thảm hơn tình hình của thời kỳ người dân Tunisia, Ai cập, Libya đứng lên lật đổ độc tài, tạo nên Mùa Xuân Á rập.

VN là một quốc gia dân tộc bất khuất, từng đánh đuổi quân Tàu, quân Pháp thực dân, kiên cường nhứt Đông Nam Á. VN là một quốc gia dân tộc có lúc thịnh suy nhưng anh hùng hào kiệt đời nào cũng có, như nhà chiến lược chiến tranh nhân dân Nguyển Trãi từng nói. VN trong khúc quanh của thế kỳ 20 và 21, có một Việt Nam hải ngọai gần ba triệu người sống tại các đại siêu cường thế giới, Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc châu. Không lẽ VN không có người yêu nước. Không lẽ người dân Việt cam chịu nổi khổ nhục vì CS hoài sao?

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Obama thêm nhiệm kỳ nữa?

Lữ Giang

Trong bài trước, chúng tôi đã nói qua về tiểu sử và các hoạt động của hải ứng cử viên nổi bật của Đảng Cộng Hoà là ông Romney và ông Santorum. Trong bài này chúng tôi cũng xin tóm lược về cuộc đời của ông Obama, những khó khăn mà ông đang phải đối phó và triển vọng trong kỳ bầu cử sắp đến.

VÀI NÉT VỀ BARACK OBAMA

Barack Obama sinh ngày 4.8.1961 tại Honolulu, Hawaii. Mẹ ông là Stanley Ann Dunham, sinh tại Wichita, Kansas, Hoa Kỳ. Bà là người Anh lai Đức và Ai Len. Bố ông là Barack Obama, Sr., nguyên quán tại Nyanza, Kenya. Hai người gặp nhau khi đang theo học tại Đại học Haiwaii, nhưng đã ly thân khi cậu bé mới lên hai, và cuối cùng đã ly dị.

Bà Dunham tái hôn với một công dân Indonesia và năm 1967 gia đình dọn đến Jakarta, Indonesia. Obama học tại đây cho đến 10 tuổi. Năm 1971, Obama trở về Honolulu sống với ông bà ngoại, học trường Punahou từ lớp năm cho đến khi tốt nghiệp trung học năm 1979. Năm 1972, mẹ của Obama trở lại Hawaii trong vài năm rồi quay về Indonesia để làm việc. Bà mất năm 1995 vì bệnh ung thư buồng trứng.

Obama đến Los Angeles, học Đại học Occidental (Occidental College) trong hai năm, rồi qua New York, học môn khoa học chính trị chuyên ngành quan hệ quốc tế tại Đại học Columbia. Ông tốt nghiệp Đại học Columbia năm 1983 với văn bằng cử nhân, rồi đến làm việc tại Business International Corporation và Nhóm Nghiên cứu Quyền lợi Công cộng New York.

Cuối năm 1988, Obama nhập học trường Luật của Đại học Harvard. Năm 1991, Obama tốt nghiệp hạng danh dự (magna cum laude) với học vị Tiến sĩ Luật (J.D.), trở về Chicago và làm việc tại các Văn phòng Luật sư Sidley & Austin. Sau đó, Obama dành 12 năm để dạy luật hiến pháp tại Trường Luật của Đại học Chicago.

Obama đắc cử vào Thượng viện Illinois năm 1996, Trong năm 2000, ông thất bại khi ra tranh cử vào Viện Dân biểu Hoa Kỳ, Obama từ nhiệm khỏi Thượng viện Illinois sau khi đắc cử vào Thượng viện Hoa Kỳ tháng 10 năm 2004. Trong lịch sử của Thượng viện Hoa Kỳ, Obama là thượng nghị sĩ người Mỹ gốc Phi thứ năm

Tranh cử tổng thống năm 2008. Đến ngày 3 tháng 6, với tổng số phiếu được kiểm, Obama vượt qua ngưỡng 2118 phiếu cử tri đoàn để được xem là ứng viên cho Đảng Dân chủ. Obama chọn Thượng Nghị sĩ Joe Biden (đại diện cho Delaware) vào liên danh tranh cử của ông cho chức vụ Phó Tổng thống.

Ngày 4 tháng 11, Obama đánh bại John McCain để trở thành tổng thống thứ 44 của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, và là người Mỹ gốc Phi đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ được bầu vào chức vụ này[. Trong kỳ tổng tuyển cử này, ông giành được 365 phiếu đại cử tri, gấp hơn 2 lần so với số phiếu được bầu cho thượng nghị sĩ John McCain (163 phiếu). Về số phiếu phổ thông, Obama giành được 53% so với 46% của McCain.

Trong diễn từ chiến thắng đọc trước một đám đông hơn 100.000 người ở Chicago, Obama tuyên bố "sự thay đổi đã đến với nước Mỹ."

Obama gặp người vợ tương lai của mình, Michelle Robinson, năm 1988 khi nhận một công việc mùa hè cho văn phòng luật sư Sidley & Austin ở Chicago. Là cố vấn cho Obama tại công ty, Robinson cùng làm việc với Obama trong các hoạt động xã hội theo nhóm. Đến cuối hè, họ bắt đầu hẹn hò, đính hôn năm 1991 và kết hôn vào tháng 10 năm 1992. Con gái đầu của hai người, Malia Ann, chào đời năm 1999, kế đó là Natasha ("Sasha") năm 2001.

Obama có bảy anh chị em cùng cha khác mẹ, sáu trong số họ còn sống, và một em gái cùng mẹ khác cha, Maya Soetoro-Ng. Soetoro-Ng kết hôn với một người Canada gốc Hoa.

TẤN CÔNG VÀ PHẢN PHÁO

Trong các cuộc bầu cử tổng thống trên đất nước này ít khi chúng ta thấy Đảng Cộng Hoà đã xử dụng những đòn thô bạo như hiện nay. Bất cứ những gì đương kim tổng thống muốn làm đều bị ngăn chận và lên án tất cả những gì ông Obama đã làm.

Jeff Crouere, nhà lãnh đạo Đảng Cộng Hoà ở New Orleans chê Obama không có kinh nghiệm về thế giới, Các nhà lãnh đạo khác chê đạo luật bảo hiểm y tế là tồi tệ nhất. Hiện đạo luật này đang bị 26 bang của thuộc Đảng Cộng Hoà Mỹ kiện ra tòa án Tối cao Liên bang và chưa có kết quả cuối cùng.

Họ cho rằng ông Obama đang làm mọi việc vượt quá khả năng của mình. Ông không có kinh nghiệm về kinh tế, cũng như kinh nghiệm điều hành đất nước và đặc biệt ông không có kinh nghiệm về thế giới. Một số ý kiến khác còn nhận định ông Obama là tổng thống tồi nhất kể từ thời Tổng thống Jimmy Carter. Michael Graham cho rằng Obama đã kìm hãm quá trình tạo việc làm cho người dân Mỹ.

Trong khi đó, cựu Tổng thống Clinton đưa ra lời khuyên ông Obama cần nêu rõ với các cử tri rằng vụ suy sụp tài chánh tháng 9 năm 2008 xảy ra trước khi ông nhậm chức. Ông nói: “Ông Obama có thể lý luận rằng chính ông giữ cho tình trạng suy thoái không biến thành khủng hoảng.” Cựu Tổng thống Clinton ngỏ ý tin rằng Tổng thống Obama, một thành viên Đảng Dân Chủ, sẽ tái đắc cử vào tháng 11 này.

Ngoài lợi thế của một đương kim Tổng thống, ông Obama còn tiếp tục khẳng định ưu thế trước ứng cử viên đảng Cộng hoà khi nền kinh tế Mỹ được nhận định là đang ra khỏi khủng hoảng. Ngân hàng Dự trữ liên bang Mỹ (FED) dự báo, kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng từ 2,2% đến 2,7% trong năm nay trong khi tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm xuống mức 8,2% đến 8,5% vào cuối năm và tiếp tục giảm xuống còn 6,7% đến 7,6% vào năm 2014.

Thế nên, không có gì ngạc nhiên khi kết quả thăm dò dư luận mới nhất cho thấy ông Obama vẫn đang dẫn điểm khá xa so với hai đối thủ hàng đầu của đảng Cộng Hòa. Theo kết quả một cuộc thăm dò công bố ngày 5.4.2012, nếu cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ được tổ chức ngay đầu tháng 4 này, ông Obama có thể đánh bại ông Romney với tỷ lệ 56% - 33% và thắng ông Santorum với tỷ lệ cách biệt 59% - 30%.

Ngày 17.4.2012
Lữ Giang

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Hai cõi ta bà

Ngô Nhân Dụng

Một người bạn tôi ở Sài Gòn có thói quen quan sát cuộc đời mới viết mấy dòng miêu tả: “Trong cái nền kinh tế man rợ này, ta bà thế giới chia rõ rệt thành hai lớp.

Một là những đứa chạy ăn từng tháng (có đồng chí khá đông là những đứa chạy ăn từng ngày nữa); lớp kia là bọn giàu, con cái ngồi xe Ferrari, Porche,... xài tiền đô, gọi nhau bằng điện thoại nạm kim cương, hẹn nhau bất kể ở nơi nào nhưng chỉ vài ba giờ sau là gặp mặt uống rượu, chơi thuốc. Chuyện ở huyện này ai cũng biết.”

Có thể biết ngay những người mới được đăng hình trong blog Nguyễn Xuân Diện thuộc cõi nào trong thế giới ta bà này. Ðó là hình những phụ nữ nông dân mặc áo cánh, có cụ bà tay chống gậy, đang tụ tập trước cái cổng lớn bảng sơn đỏ đề: ÐẢNG ỦY HÐND ỦY BAN NHÂN DÂN - XÃ PHÚ TÚC. Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện cho biết họ là dân thôn Tư Sản, xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, Hà Nội; đang chuẩn bị cuốc thuổng đòn gánh búa liềm để lên huyện để đòi người. Họ kể: “Sáng nay chị Nguyễn Thị Mây đi cấy ở thôn Cầu Bầu, thuộc huyện Ứng Hòa, lúc đó là 5 giờ 40 phút nó ập đến, chả đọc lệnh gì cả, nó bắt nghoéo tay, bịt mồm bắt đi luôn. Ðược tin chị Mây bị bắt, hàng trăm người dân thôn Tư Sản đã tập trung về Ủy Bân Nhân Dân xã Phú Túc để làm rõ nguyên nhân bắt, và đòi thả người.”

Chuyện càng hào hứng hơn nữa là “Công an và chính quyền xã Quảng Phú Cầu (huyện Ứng Hòa, nơi xẩy ra vụ bắt cóc) đã xác nhận sự việc bắt cóc của bà Nguyễn Thị Mây; họ cũng đi tới trụ sở xã Phú Túc cùng bà con Tư Sản đòi thả người... Ðã về chiều, người dân mang nước, bánh mì và đồ ăn ra tiếp tế. Dự kiến hàng trăm người dân sẽ ngủ lại đêm nay tại cửa UBND xã Phú Túc.” Như vậy tức là có cảnh chính quyền và công an ở một xã này đi biểu tình đến xã khác, Phú Túc, đòi thả người của chính xã đó bị những kẻ vô danh khóa ngoéo tay, bịt mồm, bắt cóc trong lúc đang đi cấy.

Không biết câu chuyện sẽ đi tới đâu. Nhưng trên thế giới bây giờ chắc chỉ tại một nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa hỗn độn lung tùng xoèng mới có cảnh tượng ấy. Những nông dân thuộc cõi ta bà chạy ăn từng bữa sống không yên. Bởi vì phải chạy ăn từng bữa cho nên mỗi miếng cơm đều rất quý. Vì miếng cơm hiếm và quý cho nên phải giành giật. Vì giành giật cho nên mới có cảnh rình rập nhau từ lúc 5, 6 giờ sáng, khóa tay, bịt miệng, bắt cóc đem đi. Tội nghiệp cho đám chúng sinh. Tội nghiệp cho các đồng bào khốn khổ; cả chị Mây bị bắt cóc lẫn những người bắt cóc chị đều tội nghiệp. Phải chi người ta không phải giành nhau từng miếng cơm, từng mảnh ruộng thì đâu đến nỗi đối xử với nhau như thế!

Chỉ còn một niềm an ủi, là trong cõi ta bà xã hội chủ nghĩa đó, cũng có những người không phải lo giành giật từng miếng cơm như vậy. Ðó là những đồng bào may mắn của chúng ta “con cái ngồi Ferrari, Porche,... xài tiền đô, gọi nhau bằng điện thoại nạm kim cương...”

Một người thuộc cõi ta bà thứ hai là ông Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng ban Tổ Chức Trung Ương. Ngày Thứ Bẩy vừa qua, được tin mừng ái nữ của ông, cô Tô Linh Hương mới được bầu làm chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Công ty Cổ phần Ðầu tư Xây dựng Vinaconex- PVC. Tuổi trẻ, tài cao, cô Linh Hương mới sinh năm 1988. Cô Hương đã đậu cử nhân tại Học Viện Báo Chí và Tuyên Truyền, chuyên về ngành ngoại giao quốc tế. Luận văn ra trường của cô mang đề tài: “Thông tin đối ngoại trong đấu tranh diễn biến hòa bình ở Việt Nam hiện nay.” Nghe thì thấy lập trường rất tốt, nhưng có vẻ không liên hệ gì với công việc đầu tư hay là xây cất cả. Mới 23, 24 tuổi, cô sẽ lên lãnh đạo một công ty chuyên về đầu tư xây dựng với 2,000 nhân viên, do hai tổng công ty nhà nước, Vinaconex và PVC, gom lại làm một mà thành. Mấy doanh nghiệp nhà nuớc này các quan muốn gom lại, muốn tách ra lúc nào làm chẳng được? Ngày nhậm chức cô Hương đã đi ngay tới thị sát một công trường đang xây cất, sắt với xi măng đầy khắp nơi. Và cô đi đôi giầy cao gót mầu hồng, mặc áo đầm cũng mầu hồng, chỉ cái đầu được cái mũ an toàn (bảo hiểm) che chở nên không biết mầu gì. Như vậy có phải ở đời ai cũng có số hay không?

Một người có số tốt hơn nữa là cô Nguyễn Thanh Phượng, con gái ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng chính phủ, đại biểu Quốc Hội của dân Tiên Lãng, Hải Phòng, nơi có ông Ðoàn Văn Vươn còn đang bị giam. Cô Phượng đang làm chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị của bốn công ty; trong đó có Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt (Viet Capital Bank). Câu chuyện cô Phượng đã mua cổ phần chiếm đa số để nhảy từ ngân hàng này sang công ty đầu tư khác, kết hợp cái nọ với cái kia, đọc có thể chóng mặt như coi người làm xiệc đu dây. Thoắt mua về, thoắt bán đi, rồi “ghế trên ngồi tót sỗ sàng,” nếu không phải con quan tể tướng ai mà làm được? Ở lứa tuổi 32 mà đã lên cao như vậy, chắc chắn đây là một người thuộc một cõi khác, đám chúng sinh lớp chạy ăn từng ngày trong mơ cũng không tưởng tượng được. Hai người anh, em trai của cô Phượng không lo về tiền bạc nhưng thênh thang hoạn lộ. Nguyễn Thanh Nghị, 36 tuổi, được bầu làm ủy viên Trung Ương Ðảng dự khuyết rồi được cha bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ Xây Dựng. Em là Nguyễn Minh Triết, 24 tuổi thì được bố trí vào lãnh đạo Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản. Con cái những lãnh tụ cao cấp khác của đảng đều được “cơ cấu;” như Nông Quốc Tuấn, con trai ông Nông Ðức Mạnh đã nhanh chóng làm phó bí thư, rồi thăng lên bí thư Tỉnh Ủy Bắc Giang, vào Trung Ương Ðảng ngay lập tức.

Nghĩ cho cùng thì cũng tội nghiệp cho các bạn trẻ đang lên nhanh như diều gặp gió này. Họ có thể cũng đầy đủ tài năng và nghị lực, đủ sức gánh vác những việc lớn. Nhưng không ai trông thấy họ phải thi thố tài năng bao giờ. Họ không cần cạnh tranh với hàng ngàn, hàng vạn người khác trước khi bước lên những bậc thanh cao nhất trong xã hội, như ở các xã hội bình thường. Cuối cùng, người ta vẫn chỉ thấy họ là một đám con cháu bám vào địa vị của cha chú để leo lên. Không khác gì những “cậu ấm cô chiêu” con cái những lãnh tụ cộng sản Trung Quốc; hay là cậu Kim Chính Ủn ở Bắc Hàn.

Nếu được sống trong một xã hội dân chủ tự do, mọi người phải cạnh tranh gay gắt mới có thể làm giầu, làm quan to, thì biết đâu chính các cô cậu trên đây cũng có khả năng đạt được những địa vị cao sang, trong trường kinh doanh, hay là trong chính trị, hoàn toàn do sức của mình. Nhưng phải sống trong một chế độ độc tài đảng trị, ngay cả những người có khả năng cũng không có cơ hội thi thố tài năng. Vì không bị thử thách thì làm sao trổ tài?

Những người đang bị thử thách nhất hiện nay ở nước Việt Nam là những người dám lên tiếng đòi cho dân Việt Nam được sống trong tự do dân chủ. Họ đang “đầu tư” cả vốn liếng, gia sản, cả khả năng trí tuệ và chí khí nghị lực, dồn hết vào cuộc vận động dân chủ. Thí dụ như nhà báo tự do Ðiếu Cầy. Ông đã đem cả cuộc đời mình “đánh cá.” Hoặc là đồng bào mình được tự do, chính quyền mình không run sợ trước đế quốc xâm lấn; hoặc là mình bị đầy ải, tù tội. Cái tên Ðiếu Cầy đã vào lịch sử tranh đấu cho quyền tự do phát biểu của thế giới; đó là niềm an ủi. Ủy ban quốc tế bảo vệ người ký giả vừa mới nhắc đến tên Ðiếu Cầy khi vạch mặt chỉ tên 12 chính quyền trên thế giới đang đàn áp người làm báo. Ngày 3 Tháng Năm sắp tới là Ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới. Tòa Bạch Ốc ở Mỹ có sáng kiến làm một mạng, website mới. Mạng HumanRights.gov mỗi ngày tường thuật cuộc tranh đấu của một người đáng vinh danh, cho đến ngày 3 Tháng Năm mới đủ danh sách.

Nhân vật đầu tiên được nêu danh trong đó là nhà báo tự do Ðiếu Cầy. Nhật báo The New York Times đã viết một bài quan điểm, chỉ nêu danh hai nhà báo: Ðiếu Cầy và bà Natalya Radzina, người tranh đấu cho quyền làm người của dân xứ Belarus. Radzina cũng bị bắt bớ, đánh đập không khác gì Ðiếu Cầy. Bà may mắn chạy thoát sang nước Lithuania tị nạn, trong khi Ðiếu Cầy vẫn ở trong tù.

Những vinh dự này hoàn toàn không phải Ðiếu Cầy và cô Radzina có cha hay mẹ làm lớn. Cũng không được ai “cơ cấu” cho họ vào bảng vàng tranh đấu cho tự do để cả thế giới ngưỡng mộ. Hoàn toàn là do chí khí và khả năng của mỗi con người. Vinh dự đó sẽ còn mãi mãi. Ðến đời con, đời cháu vẫn chưa quên. Ít thấy người Việt Nam nào được leo vào trang Quan Ðiểm (editorial) của tờ New York Times.

Những người không dùng tới sức lực của mình mà vẫn leo lên cao trên các bậc thang xã hội sẽ có ngày ân hận. Khi một triều đình sụp đổ, tất cả những địa vị hay tài sản “ăn không” một cách dễ dàng sẽ tan biến. Nhưng tai tiếng thì sẽ còn mãi mãi. Vợ chồng Bạc Hy Lai đang suy ngẫm về cảnh biển xanh biến thành ruộng dâu đó.

Có chế độ nào tồn tại vĩnh viễn không bao giờ chấm dứt hay không? Vừa rồi, nghe tin cô Lê Ðình Lệ Quyền bị tai nạn qua đời ở Roma, chúng ta thấy một chi tiết: Cô đang đi làm. Và cô đi xe gắn máy. Chứng tỏ cô sống khá thanh bạch. Không phải là một người giầu có, ngồi hưởng tiền bạc do cha mẹ đầu tư để lại.

Về chính trị nhiều người không đồng ý với ông bà Ngô Ðình Nhu khi họ còn sống. Nhưng thấy cảnh cô con gái út của họ bị tai nạn khi đang đi làm kiếm ăn hàng ngày như thế, thấy họ đáng kính trọng.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Trước một hiểm họa quá lớn

Nguyễn Gia Kiểng
(Nguồn: eThongLuan.org)
“...Vấn đề an toàn trong một nhà máy điện nguyên tử khác hẳn với khái niệm thông thường. Ðối với một nhà máy điện nguyên tử một xác suất tai nạn một phần ngàn là điều gớm ghiếc không thể tưởng tượng nổi...”

Tôi không phải là một chuyên gia về năng lượng hạt nhân, dù hoàn cảnh đã khiến tôi tiếp xúc khá lâu, khá sát và đều đặn với nó. Lúc còn là sinh viên tôi đã hai lần thực tập tại Trung Tâm Nghiên Cứu Nguyên Tử (Centre d'Etude Nucléaire) của Pháp, lần thứ hai để hoàn tất luận án tốt nghiệp. Năm 1982, ngay khi trở lại Pháp, tôi được nhận vào làm tham vấn tại công ty Nguyên Tử Pháp Mỹ (Compagnie Franco-Américaine de l'Atome, FRAMATOME, bây giờ là AREVA). Sau này, và cho đến khi về hưu, công ty AREVA và Trung Tâm Quốc Gia Năng Lượng Hạt Nhân (Centre National d'Energie Nucléaire - CNEN), hai cơ quan xây dựng và điều hành các nhà máy điện nguyên tử của Pháp và cũng xây dựng nhiều nhà máy điện nguyên tử cho nhiều quốc gia trên khắp thế giới kể cả Trung Quốc và Hàn Quốc, là hai khách hàng chính của những công ty tham vấn mà tôi điều khiển. Như thế tôi không phải là người chống điện hạt nhân trên nguyên tắc. Tôi coi chấp nhận hoặc từ chối điện nguyên tử là một chọn lựa tùy lúc và tùy trường hợp của từng nước. Cũng cần phải nói ngay rằng vấn đề điện hạt nhân đối với chúng ta trong lúc này không còn là một vấn đề chuyên môn mà là một vấn đề chính trị, và một vấn đề chính trị rất nghiêm trọng trên đó mọi người đều có thể và phải có ý kiến.

Công việc của tôi trong hơn hai mươi năm làm việc với các cơ quan này không phải là kỹ thuật nguyên tử mà là quản trị và tin học, tuy vậy nó cũng đã bắt buộc tôi phải trao đổi thường xuyên với những người trách nhiệm mọi mặt về việc xây dựng và điều hành một nhà máy điện hạt nhân. Ðiều tôi biết được qua những trao đổi này là đối với một nhà máy điện hạt nhân an ninh là tất cả, những hiểu biết về vật lý hạt nhân chỉ có một tầm quan trọng rất thứ yếu. Một thí dụ cụ thể là dự án tin học theo dõi một nhà máy điện hạt nhân, mà tôi từng là dự án trưởng, đã phải huy động hơn một trăm kỹ sư tin học, phân tích viên và lập trình viên trong hơn hai năm để thực hiện. Nhiều người coi nó như một con quái vật không lồ. Nhưng sở dĩ nó phức tạp như thế là vì những dữ kiện về an ninh; chúng chiếm 90% cơ sở dữ kiện và liên hệ tròng chéo với nhau.

Vấn đề an toàn trong một nhà máy điện nguyên tử khác hẳn với khái niệm thông thường về sự an toàn. Một chiếc xe hơi được coi là an toàn nếu xác suất để xảy ra một sự cố là một phần mười trong một năm. Ðối với một nhà máy điện nguyên tử một xác suất tai nạn một phần ngàn là điều gớm ghiếc không thể tưởng tượng nổi. Lý do là vì những hậu quả của một tại nạn hạt nhân có thể rất khủng khiếp, vượt mọi tưởng tượng; nó có thể làm chết rất nhiều người, hủy hoại môi trường trong một thời gian rất lâu và để lại những di hại thể xác cũng như tinh thần cho nhiều thế hệ. Một thí dụ là vụ nổ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl ở Ukraine. Nhà máy này được thiết lập ở một vùng rất ít dân cư, nhưng tai nạn đã khiến hơn 4000 người bị ung thư trong đó phần lớn đã chết. Ðó là chưa kể số nạn nhân ở những nước lân cận. Người ta đã phải tản cư trên 100,000 người khỏi một khu vực 30km chung quanh nhà máy. Nếu kể cả những người phải di tản ở các nước láng giềng thì con số người phải di tản vượt quá 250,000. Cho tới nay, 26 năm sau tai nạn, mức phóng xạ vẫn cao gấp 30 lần mức độ chấp nhận được. Hãy tưởng tượng nếu một tai nạn tương tự xảy ra tại một nước dân cư chen chúc như Việt Nam.

Ðặc tính của những tai nạn tại các nhà máy điện hạt nhân là chúng đều không ngờ. Fukushima nhắc lại cho thế giới thêm một lần nữa bài học khiêm tốn: chúng ta không bao giờ có thể tiên liệu được hết những nguyên nhân đưa đến tai nạn. Nhật là nước nhiều kinh nghiệm nhất về động đất và sóng thần đồng thời cũng là nước đứng hàng đầu thế giới về sự chính xác; tuy vậy nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi đã chỉ được xây dựng để chịu đựng một ngọn sóng cao 6m trong khi ngọn sóng tháng 3 năm 2011 đã cao 15m tại khu vực nhà máy và gần 30m tại một số địa điểm khác. Các lò phản ứng theo nhau phát nổ và mức độ trầm trọng được đánh giá lại liên tục, sau cùng là mức độ 7, nghĩa là tối đa. Hậu quả của tại họa nguyên tử Fukushima vẫn chưa thể thẩm định được. Ðiều chắc chắn là thảm kịch sẽ nhiều lần lớn hơn, thậm chí rất kinh khủng, nếu người Nhật không chứng tỏ một khả năng tổ chức, một tinh thần kỷ luật và một sự dũng cảm buộc cả thế giới phải ngưỡng mộ. Hay nếu họ không có những phương tiện cấp cứu của một nước giàu có bậc nhất thế giới. Hãy thử tưởng tượng nếu, vì bất cứ lý do gì, một tai nạn tương tự xảy ra tại Việt Nam. Các tỉnh bờ biển của chúng ta đều chen chúc hơn vùng Fukushima, chúng ta không có những phương tiện của người Nhật và cũng thua xa họ về kỷ luật và tinh thần trách nhiệm.

Xác suất rủi ro xảy ra tai nạn quan trọng hiện nay được ước tính chung quanh mức độ 5/100,000 mỗi năm cho một lò điện nguyên tử. Xác suất này được coi là quá lớn vì thế hầu hết các quốc gia đều quyết định không dùng điện hạt nhân, số ít các quốc gia chấp nhận điện hạt nhân đều chỉ đi những bước rón rén. Ấn Ðộ và Trung Quốc là hai quốc gia ít quan tâm đến môi trường nhưng họ cũng đều rất dè dặt đối với điện hạt nhân. Cả hai đều đã bắt đầu kỹ thuật hạt nhân từ hơn một nửa thế kỷ nay và đều có đội ngũ kỹ thuật nguyên tử hùng hậu nhưng tới nay tỷ lệ điện hạt nhân của họ chỉ ở mức độ 2% tổng số điện sản xuất. Ấn Ðộ đã bắt đầu xây nhà máy điện hạt nhân từ 1965 nhưng đến nay chỉ mới dám xây những lò phản ứng nhỏ, hai lò phản ứng công suất 500 Mwe và 18 lò công suất 200 MWe. Trung Quốc trong những năm gần đây tỏ ra muốn đẩy mạnh năng lượng hạt nhân nhưng trong hai mươi năm nữa tỷ lệ điện hạt nhân của họ cũng sẽ không vượt quá 5%. Sau tai nạn Fukushima tất cả các nước phát triển có kỹ thuật hạt nhân cao và hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, kể cả Ấn Ðộ và Trung Quốc, đều đình chỉ các chương trình xây dựng lò điện nguyên tử, nhiều nước tuyên bố bỏ hẳn. Áo bỏ một nhà máy điện nguyên tử đã xây dựng xong và sẵn sàng đi vào hoạt động. Ba Lan, Ireland và Philippines bỏ ngang những nhà máy đang xây dựng dở dang. Riêng Úc, nước có trữ lượng uranium lớn nhất thế giới, từ trước vẫn quả quyết từ chối điện hạt nhân.

Trong bối cảnh đó quyết định nhảy vào điện nguyên tử của chính quyền Việt Nam thật là không hiểu nổi, nhất là Việt Nam chưa có kỹ thuật và đội ngũ chuyên viên nguyên tử (Viện Nghiên Cứu Hạt Nhân Ðà Lạt còn quá sơ sài, các cơ quan khác còn ít thực chất hơn). Ðã thế còn nhảy vào một cách liều mạng.

Năm 2008 chính quyền Việt Nam tuyên bố quyết định xây dựng hai nhà máy điện nguyên tử tại Ninh Thuận, mỗi nhà máy gồm hai lò phản ứng với công suất 1000 MWe, dự trù đi vào hoạt động năm 2020. Quyết định này khiến người ta phải sững sờ. Như vậy là Việt Nam vào năm 2020 sẽ có một tỷ lệ điện nguyên tử lớn hơn hẳn Ấn Ðộ và Trung Quốc. Thời gian từ đây đến đó chắc chắn là không đủ để đào tạo ra những chuyên viên đủ khả năng để điều hành các nhà máy. Như để tranh thủ thời gian công thức được chọn lựa là công thức “chìa khóa trao tay” có nghĩa các nhà máy sẽ hoàn toàn do các công ty nước ngoài xây dựng, Việt Nam chỉ tiếp thu để sử dụng khi nhà máy đã hoàn tất. Ðây là công thức mà cho tới nay chưa nước nào chấp nhận vì hầu như không có chuyển giao kỹ thuật và lại rất nguy hiểm. Vấn đề an ninh của các nhà máy điện nguyên tử vừa quá nghiêm trọng lại vừa quá phức tạp nên phải tham gia chặt chẽ ngay từ đầu vào việc xây dựng nhà máy để hiểu rõ cấu trúc và cách điều hành. Cho tới nay phần lớn các sự cố xảy ra tại các nhà máy điện hạt nhân là do lỗi của các nhân viên điều hành. Ngay cả nếu quyết tâm chọn năng lương hạt nhân thì cũng không thể hành động một cách quá phiêu lưu. Giải pháp đúng đắn trong trường hợp đó là bắt đầu xây một lò phản ứng thôi và tham gia từ đầu tới cuối tiến trình xây dựng để hiểu rõ từng bộ phận của nhà máy; chỉ sau khi đã thực sự làm chủ được kỹ thuật điện nguyên tử và đào tạo xong một đội ngũ chuyên viên vững chắc mới xây tiếp các lò phản ứng khác. Và đàng nào cũng phải tiến hành một cách rất chậm chạp và thận trọng vì tai nạn nguyên tử quá khủng khiếp. An ninh của các lò điện nguyên tử là điều mỗi nước phải lo lấy chứ không thể giao tính mạng của đất nước mình cho những công ty nước ngoài.

Quyết định của chính quyền cộng sản không đi kèm với một lời giải thích kỹ thuật nào, bởi vì nó không phải là kết quả của một nghiên cứu nghiêm chỉnh mà chỉ là quyết định tùy tiện của những người cầm quyền hoàn toàn không biết gì về kỹ thuật hạt nhân.

Quyết định này càng gây sửng sốt vì công ty được chọn để xây nhà máy điện nguyên tử đầu tiên cho Việt Nam là công ty ROSATOM của Nga. Có đầy rẫy tài liệu chứng minh Nga là nước cẩu thả nhất về mặt an ninh trong những nước xây dựng lò điện nguyên tử. Hơn nữa công ty ROSATOM lại bị mang tai tiếng là đã gian lận về phẩm chất vật liệu xây dựng, một điều không thể tưởng tượng nổi cho một lò điện nguyên tử. Ai có thể không hoảng sợ khi nghĩ rằng nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của Việt Nam sẽ được xây dựng bởi một công ty làm ăn gian trá của một nước nổi tiếng là cẩu thả và được trao cho những người Việt Nam mới tập sự điều khiển? Nhất là cũng phải nhìn nhận một sự thực đau lòng là với sự xuống cấp của đạo đức không phải người Việt Nam nào cũng có tinh thần trách nhiệm cao. Một ông thứ trưởng tuyên bố thản nhiên: “Ðã xây một lò điện nguyên tử tại sao không xây luôn bốn lò cho tiện.” Hình như các cấp lãnh đạo cộng sản không ý thức rằng nguyên tử là vũ khí giết người hàng loạt, giết cả những người hôm nay lẫn những người chưa sinh ra, thậm chí có thể xóa bỏ một quốc gia.

Nhiều người có thẩm quyền chuyên môn, như các Giáo Sư Phạm Duy Hiển, Trần Sơn Lâm và Nguyễn Khắc Nhẫn, đã lên tiếng ngay sau đó. Có vị dứt khoát bác bỏ điện hạt nhân, có vị cho rằng chỉ nên xây một lò phản ứng để học hỏi và đào tạo trước đã. Như để hỗ trợ cho những tiếng nói cảnh giác này tai họa Fukushima đã xảy ra làm chấn động cả thế giới. Ai không nghĩ rằng nhà cầm quyền Việt Nam sẽ nghĩ lại?

Và quả thực họ đã xét lại, nhưng một cách không ai ngờ được. Ngay trong dịp kỷ niệm một năm thảm kịch Fukushima họ công bố quyết định xây thêm mười lò điện khác dự trù hoàn tất và đi vào hoạt động trước năm 2030, nghĩa là tổng cộng 14 lò thay vì 4 lò! Khi một người bạn, chuyên gia về điện hạt nhân, hốt hoảng thông báo tin này tôi không dám tin. Nó giống như tin một trái bom nguyên tử vừa nổ. Nó buộc chúng ta tự hỏi chúng ta đã ý thức đầy đủ những bắt buộc của kỷ nguyên tri thức chưa? Tri thức trong thế giới ngày nay chủ yếu là tri thức khoa học kỹ thuật; không thể chấp nhận những người lãnh đạo thiếu văn hóa, nhất là văn hóa khoa học.

Xác suất 5/100,000 cho một tai nạn nghiêm trọng trong một năm tại mỗi lò phản ứng chỉ là một xác suất trung bình. Ðối với một nước thiếu phương tiện và kỹ năng như Việt Nam nó cao hơn nhiều. Với bốn lò phản ứng nó cao một cách đáng sợ. Với 14 lò một tai nạn tầm cỡ Chernobyl hay Fukushima là một đe dọa thường trực và nếu xảy ra hậu quả sẽ rất khủng khiếp, Việt Nam có thể sẽ không còn là Việt Nam nữa. Cũng phải hiểu là một sự cố nhỏ có thể khắc phục nhanh chóng tại một nước như Nhật và Pháp cũng có nguy cơ trở thành một tai nạn lớn tại một nước như Việt Nam.

Nhưng cứ giả thử chứng ta sẽ rất may mắn, phải nhấn mạnh là rất may mắn, không bị tai nạn thì hậu quả cũng rất nặằng nề.Trước hết Việt Nam sẽ là một đất nước không an toàn. Mọi người đều phập phồng lo sợ không biết lúc nào thảm kịch sẽ đến. Những người có thể rời bỏ Việt Nam để đi sống ở một nước khác sẽ ra đi. Việt Nam sẽ không có tương lai bởi vì không thể xây dựng một quốc gia với những người chỉ ở lại vì không thể đi sang một nước khác.

Một tiềm năng kính tế lớn của Việt Nam sẽ bị thiệt hại nặng. Với một bờ biển dài và những bãi biển đẹp trong một khí hậu nhiệt đới chúng ta có thể hy vọng trong trung hạn thu hút vài chục triệu du khách mỗi năm tạo hàng triệu công ăn việc làm trong ngành du lịch và những ngành liên hệ. Khả năng này sẽ gần như mất hẳn với 14 lò phản ứng nguyên tử rải rác khắp nước. Ðúng hay sai, tâm lý chung là người ta không muốn nghỉ Hè bên cạnh các lò điện nguyên tử.

Thủy sản của Việt Nam cũng sẽ bị đe dọa. Có một thành kiến là các nước chậm tiến không coi trọng an ninh môi trường và không có gì bảo đảm là nước không bị nhiễm xạ. Ðúng hay sai người ta sẽ sợ tôm cá Việt Nam.

Một điều quan trọng cũng cần được ý thức là chúng ta sẽ không còn khả năng đương đầu với một cuộc chiến tranh chống ngoại xâm qui mô. Ðối phương chỉ cần oanh tạc các lò điện nguyên tử.

Một người bạn tôi, bác sĩ chuyên khoa về dưỡng lão, có lần nói rằng Việt Nam nên nghiên cứu khả năng mở những nhà săn sóc người cao tuổi. Anh ta nói tại Mỹ và Châu Âu chi phí trung bình để săn sóc một người cao tuổi có bảo hiểm sức khỏe là 50,000 USD mỗi năm. Chúng ta có thể săn sóc họ một cách chu đáo và tiện nghi hơn với chi phí chỉ bằng một nửa. Chúng ta sẽ thu hút được rất nhiều khách, cả những người già lẫn những người chưa thực là già nhưng muốn được phục vụ để khỏi phải bận bịu với những việc hàng ngày như cơm nước, giặt ủi, di chuyển. Ðó là một thí dụ. Những khả năng như vậy sẽ mất đi nếu nước ta đầy những lò điện nguyên tử.

Nhưng tại sao chọn điện hạt nhân?

Trái với một lập luận thường gặp điện hạt nhân không phải là một chọn lựa bắt buộc hướng về tương lai. Tỷ lệ điện hạt nhân trên thế giới chỉ mới xấp xỉ 14% tổng số năng lượng điện (và 3% tổng số năng lượng gộp). Những tỷ lệ này sẽ tiếp tục giảm đi vì khuynh hướng chung của thế giới là từ giã điện hạt nhân. Lập luận chính biện hộ cho điện nguyên tử là phải tìm một giải pháp thay thế cho khối dự trữ năng lượng mỏ (than, dầu, khí) đang chiếm 80% năng lượng gộp và đang cạn dần. Lập luận này ngày càng thiếu thuyết phục vì muốn như thế phải nhân lên hơn 25 lần số lò phản ứng hiện nay, một con số khiến người ta phải kinh hoàng sau những tai nạn đã xảy ra. Và đàng nào cũng không thực hiện được bởi vì, trái với sự lạc quan lúc ban đầu, khối lượng uranium cũng rất giới hạn và ngày càng đắt. Thế giới ngày càng tiến tới đồng thuận là phải tiết kiệm năng lượng song song với việc tận dụng những nguồn năng lượng có mãi (renewable energy, thường được dịch sang tiếng Việt là năng lượng tái tạo như gió, nắng, thủy triều, các dòng sông v.v.).

Cũng đừng quên là năng lượng nguyên tử vẫn còn là một hò hẹn sai với tương lai. Trong vấn đề an ninh của các nhà máy điện nguyên tử không phải chỉ có cố gắng tránh tai nạn mà còn một vấn đề nghiêm trọng không kém là xử lý phế liệu. Trong những thập niên 1950 và 1960, khi chương trình điện nguyên tử được đưa ra người ta tin chắc như đinh đóng cột là một ngày không xa sẽ tìm được cách xử lý ổn thỏa phế liệu nguyên tử. Ðến nay, sau hơn một nửa thế kỷ phương thức vẫn chưa tìm được và giải pháp vẫn chỉ là bọc lại và đem chôn. Rà chờ đợi vài ngàn năm cho đến khi phóng xạ xuống tới mức chấp nhận được. Ðất nước ta chật hẹp như vậy, chúng ta sẽ chôn phế liệu nguyên tử ở đâu và chuyên chở như thế nào cho an toàn?

Như đã nói ở phần trên, tôi không chống điện nguyên tử trên nguyên tắc. Ðiện nguyên tử vẫn là một nguồn trong nhiều nguồn năng lượng, dù chỉ nên quan niệm ở một tỷ lệ khiêm tốn. Ðiện hạt nhân rẻ và sạch nếu không xảy ra tai nạn. Dù chữ nếu này quá lớn nhiều người vẫn nghĩ rằng chấp nhận hay không chấp nhận có điện hạt nhân tùy thuộc điều kiện của từng nước. Chúng ta là một nước đất hẹp người đông không thích hợp với điện nguyên tử. Chúng ta lại chưa có kỹ năng và nhân lực hạt nhân trong khi an ninh nguyên tử là một vấn đề các quốc gia phải đảm nhiệm lấy chứ không thể giao phó sự sống còn của đất nước cho những công ty nước ngoài. Xây lò điện nguyên tử vì vậy chỉ có thể khởi sự khi chúng ta đã đủ kỹ năng và nhân lực hạt nhân, điều mà chúng ta hầu như chưa có. Hơn nữa chúng ta nhiều gió và nắng, tiềm năng năng lượng của chúng ta chủ yếu là năng lượng có mãi. Sau cùng, ngay cả nếu chúng ta không loại bỏ hẳn điện hạt nhân thì cũng chưa phải là lúc để xây bốn lò điện nguyên tử, chưa nói 14 lò, một quyết định điên khùng vượt mọi tưởng tượng.

Còn một vấn đề nghiêm trọng khác. Thế giới đang từ giã điện hạt nhân. Các công ty xây dựng nhà máy điện hạt nhân ngày càng gặp khó khăn lớn vì không còn thị trường. Công ty AREVA của Pháp chẳng hạn đã bắt đầu chuyển sang sản xuất những thiết bị cho năng lượng gió. Và nếu những công ty xây dựng nhà máy điện nguyên tử cho chúng ta phá sản, một điều rất có thể xảy ra, chúng ta sẽ rơi vào một tình trạng hết sức nguy kịch.

Nhưng tại sao chính quyền cộng sản Việt Nam lại lấy quyết định như thế?

Ðây không phải là một tranh luận kỹ thuật. Họ thừa biết rằng xây 14 lò phản ứng là một quyết định rất bất lợi và nguy hiểm cho đất nước. Nhưng tại sao họ lấy quyết định này? Giả thuyết hợp lý nhất là họ đã nhượng bộ những áp lực tài chính của các chủ nợ. Chính quyền cộng sản lấy quyết định liều lĩnh vì họ cần che giấu thực trạng bi đát của kinh tế Việt Nam.

Một chỉ số đo lường mức độ lệ thuộc bên ngoài của một nền kinh tế là tỷ lệ tổng số ngoại thương trên tổng sản lượng quốc gia. Trung bình thế giới hiện nay là 50%, nghĩa là trong một quốc gia tổng số ngoại thương (xuất khẩu cộng với nhập khẩu) bằng khoảng 50% GDP là bình thường. Trong trường hợp Hoa Kỳ tỷ lệ này chỉ là 25%, Trung Quốc 52%. Tại Ðức tỷ lệ này là 75%, tại Hàn Quốc 92%, nhưng Ðức và Hàn Quốc là hai nước có nền kinh tế hướng ngoại nhất thế giới. Nhật (27%) là một trường hợp đặc biệt vì các công ty lớn của Nhật sản xuất một phần quan trọng hàng hóa ngay tại nước ngoài. Các nước mới phát triển tại Châu Á dĩ nhiên lệ thuộc rất nhiều vào ngoại thương; tỷ lệ của Thái Lan là 120%, của Mã Lai là 148%. Nói chung các nước trao đổi nhiều với thế giới bên ngoài đều xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu.

Kinh tế Việt Nam bệnh hoạn hơn hẳn người ta tưởng. Tổng số ngoại thương của Việt Nam bằng 167% GDP. Ðiều này tự nó đã có nghĩa là chúng ta là một trong những nước lệ thuộc nhất vào các nước ngoài về mặt kinh tế, nhưng sự thực còn đáng lo ngại hơn vì cán cân ngoại thương của chúng ta thâm thủng kinh niên. Chúng ta nhập khẩu nhiều hơn hẳn xuất khẩu từ hơn 25 năm qua. Từ 5 năm qua, khi chính quyền nói rằng kinh tế đã có tiến bộ, Việt Nam liên tục nhập siêu khoảng 13 tỷ tỷ USD mỗi năm, năm 2008 nhập siêu 18 tỷ, những năm trước có thể còn tệ hơn. Như vậy con số nợ công (phần lớn là nợ nước ngoài) 56 tỷ USD, hay 51% GDP, phải được coi là rất xa sự thực. Thâm thủng mậu dịch sớm muộn cũng biến thành nợ nước ngoài. Phần lớn là nợ do các công ty vay hoặc mua chịu nhưng các phần lớn các công ty này là của nhà nước và khoản nợ nước ngoài của họ đều do nhà nước bảo lãnh cho nên khi một công ty, như tổ hợp Vinashin, không trả được nợ thì nợ của họ cũng biến thành nợ công. Như vậy chắc chắn là số nợ nước ngoài của Việt Nam nước ngoài phải rất cao, có thể hơn 200 tỷ USD, và nhiều khoản đã đáo hạn, thậm chí đã khất nhiều lần. Nếu các chủ nợ nhất định đòi thì chính quyền Việt Nam phải tuyên bố không còn khả năng hoàn trả, nghĩa là phá sản, và chính quyền có thể sụp đổ. Chính quyền cộng sản Việt Nam vì vậy phải chấp nhận ngay cả những đòi hỏi, hoặc “gợi ý,” nguy hiểm cho đất nước để có thể che giấu thực trạng phá sản.

Trở lại với quyết định xây dựng 14 lò điện nguyên tử. Từ sau Fukushima mọi nước đều quyết định ngừng hoặc bỏ hẳn các dư án. Các công ty xây dựng nhà máy điện nguyên tử vì vậy đều ở trong tình trạng nguy ngập. Họ không còn công việc nữa và cần một thời gian để thích nghi với tình huống mới. Các chính quyền nước họ cũng sợ những biến động xã hội nếu các công ty này phải sa thải công nhân hàng loạt ngay lập tức. Trong những điều kiện đó không có gì đáng ngạc nhiên nếu các chính quyền nước ngoài và các công ty xây dựng nhà máy điện hạt nhân của họ làm áp lực để Việt Nam chấp nhận xây những lò điện nguyên tử, nghĩa là cho họ những bầu dưỡng khí tạm. Và chính quyền cộng sản Việt Nam đã phải nhượng bộ để tự cứu mình.

Nếu giả thuyết này đúng, và nó chỉ có thể đúng thôi vì không thể có giải thích nào khác cho quyết định quá sức nguy hại này, thì đây là một lần nữa Ðảng Cộng Sản Việt Nam đặt sự sống còn của chế độ lên trên sự sống còn của đất nước. Chỉ khác một điều là lần này đất nước có nguy cơ bị hủy diệt hoặc tàn lụi một cách không đảo ngược được. Vấn đề còn nghiêm trọng hơn nhiều so với ải Nam Quan, thác Bản Giốc, Hoàng Sa, Trường Sa, Bôxit Tây Nguyên. Chúng ta không có quyền thụ động. Chúng ta phải phản ứng và phải phản ứng thật mạnh mẽ và quyết liệt.

Có thể là chính quyền cộng sản cũng mong có một làn sóng phản kháng dữ dội để có cớ trì hoãn với các chủ nợ. Mặt khác cũng chưa quá trễ để phản ứng. Các lò điện chưa bắt đầu xây, phần lớn chỉ khởi sự trong vài năm nữa. Chúng ta còn thời giờ.

Ðiện hạt nhân là một vấn đề mang nhiều tính khoa học kỹ thuật mà quần chúng có thể không hiểu do đó trách nhiệm chính trong cuộc đấu tranh này thuộc về trí thức. Trí thức Việt Nam cho tới nay đã quá nhu nhược nhưng lần này họ không có quyền nhu nhược.

(Tháng 4 năm 2012)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Image

BẢN SONATE CHO MỘT NGƯỜI TỬ TẾ, NGÔ ĐÌNH LỆ QUYÊN

kim thanh

Tin dữ chuyển đến tôi sáng nay từ một anh bạn phương xa làm tôi rụng rời, như mỗi lần một người quen, già hay trẻ, tại Portland bất ngờ nằm xuống, không kịp nói lời từ giã. Huống chi Ngô Đình Lệ Quyên rời bỏ dương trần lúc 53 tuổi –còn quá trẻ đối với tôi. Trong một phút giây, tôi mong đó không phải là sự thật. Biết đâu ai đó đã đùa dai tung trễ lên mạng ảo một poisson d’Avril, dù tháng tư sắp hết. Đến khi Luật sư Trương Phú Thứ gọi điện thoại kiểm chứng với Ngô Đình Quỳnh và sau đó tôi lên mạng thế giới và có trong tay bài báo bằng tiếng Ý, thì nỗi hy vọng mong manh thật sự tan vỡ và sự đau buồn trong tôi lên tới tột độ.

Bàng hoàng như mất một người thân thuộc. O mon Dieu, mais pourquoi, pourquoi, pourquoi? Tôi thầm hỏi Thượng Đế và cho riêng tôi như một lời thở than, đột nhiên –như năm xưa khi đọc tin chị cô, Lệ Thủy, người bạn trẻ thuộc Nhóm Thanh Sinh Công, đã chết trong một tai nạn xe hơi cũng thảm khốc, cũng bất ngờ không kém– vang lên từ đáy tiềm thức trước nỗi tuyệt vọng khôn cùng. Mặc dù tôi chưa hề một lần gặp gỡ Lệ Quyên, chưa hề thấy một bức hình nào của cô trước kia, chưa hề một lần nghe nhắc đến tên cô, ngoại trừ trong bản thảo hồi ký của mẹ cô, bà quả phụ Ngô Đình Nhu. Cô rời Việt Nam năm 1963, lúc mới bốn tuổi, một tháng sau khi cha và bác bị thảm sát bởi những bàn tay tanh tưởi mùi máu và mùi đô la, nên những người thuộc thế hệ già chúng tôi không thể biết cô. Chỉ hai hôm nay thôi, tôi mới được biết Lệ Quyên đã nhiều năm đặc trách giúp đỡ những người di dân khắp thế giới trong cơ quan Caritas của thành phố Rome, nơi cô đã sống hơn nửa thế kỷ thầm lặng dấn thân. Và đã chết trong một khoảnh khắc kinh hoàng. Nằm chết cô đơn giữa dòng xe xuôi ngược, giữa dòng đời như thản nhiên đến vô tình. Chết một cách bi thảm, trong vô vàn thương tiếc muộn màng của biết bao người không hiện diện sáng ấy trên đường phố Pontina, Roma.

Chúa ơi, tại sao, tại sao, tại sao? Tôi tự hỏi. Có câu giải đáp nào không cho sự bí ẩn phi lý này? Nếu người bị nạn không phải là con ông Ngô Đình Nhu, cháu Tổng thống Ngô Đình Diệm, em út của Ngô Đình Lệ Thủy sẽ chẳng ai thắc mắc gì. Có người trả lời, bằng cách so sánh dòng họ Ngô Đình với dòng họ Kennedy –cũng chịu nhiều oan trái tương tự. Phần tôi không nghĩ như thế. John F. Kennedy, những đồng lõa Mỹ và tay sai Việt Nam, năm 1963, rõ ràng là thủ phạm trực tiếp hay gián tiếp giết chết ba anh em nhà Ngô, gây ra những xáo trộn, khủng hoảng chính trị, quân sự, để cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của cả Miền Nam, mười hai năm sau. Thủ phạm làm sao có thể đồng hóa với nạn nhân? Rồi nữa, làm sao so sánh ba anh em nhà Kennedy với ba anh em họ Ngô Đình về tư cách và đạo đức cá nhân?
Những người căm ghét chế độ Ngô Đình Diệm, trái lại, ưa trích câu “ác giả ác báo” để giải thích tai nạn xảy ra theo quan niệm tôn giáo, đúng hơn theo thuyết karma (nhân quả) quen thuộc. Tôi cũng không nghĩ như thế. Lệ Thủy, Lệ Quyên, hoặc xa hơn John Kennedy Jr., đã làm gì nên tội, mà bị Trời “phạt” về những lỗi của người lớn, nếu có? Nếu thuyết nhân quả đúng, tại sao Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, hay Staline, Mao Trạch Đông, Pol Pot v.v..., những tên đại gian, đại ác nổi tiếng, đã giết hại biết bao sinh linh lại được chết già an lành, trong khi hàng trăm ngàn nông dân hiền lành, vô tội bị giết oan, chết thảm? Trời quả có mắt thật không? Gần nhất, những Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân đã nhúng tay sát hại hàng ngàn đồng bào ở Huế mà vẫn còn sống nhơn nhơn. Tại sao?

Mới đây, lần đầu được thấy những bức ảnh của Lệ Quyên, với đôi mắt sâu đen thăm thẳm, nét mặt cương nghị, phảng phất một nỗi buồn xa vắng, tôi chợt nhớ đến dáng vẻ kiêu hãnh và sắc đẹp bi thảm (tragique) tương tự của của một nữ tài tử Hy Lạp đóng vai nhân vật Antigone trong phim cùng tên. Antigone (442BC), vở bi kịch bất hủ của nhà soạn kịch Hy Lạp lừng danh, Sophocle, kể những thảm họa phủ xuống Œdipe và gia đình bởi mệnh số khắc nghiệt và độc đoán. Nhân vật Antigone, cũng như Electre, Phèdre của kịch tác gia Euripide, và Hermione, Oreste, Pyrrhus... trong các vở kịch khác nữa mà Racine, thế kỷ XVII văn học Pháp, đã mô phỏng, đều là những nạn nhân của định mệnh nghiệt ngã dành cho con người yếu đuối, bất lực trước thần linh, những thế lực siêu hình, hoặc đam mê tàn bạo. Chỉ có cái chết hóa giải mọi oan nghiệt. “Evil strikes at it down the generations wave after wave, like seas that batter a headland...” (Bất hạnh dập xuống qua các thế hệ theo từng đợt sóng tiếp nối, như biển vỗ vào bờ đất cao...” (Sophocle, Antigone). Trong một bối cảnh khác, thi hào Nguyễn Du há đã chẳng viết cho những hồng nhan bạc phận: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” và về uy quyền tuyệt đối của Trời, thế lực trên cao:
Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Người Công giáo xem những bất hạnh trên đời là do sự Quan Phòng của Thiên Chúa toàn năng, là thử thách dành cho những người công chính, như ông Job trong Kinh Thánh đã phải chịu trăm bề đớn đau, tủi nhục.
Dù được cắt nghĩa thế nào, cái chết đột ngột của Lệ Quyên làm tôi vừa cảm thương vừa kính phục cô, vừa thấy hãnh diện về cô. Cảm thương, như Thúy Kiều ngày nào bên mộ Đạm Tiên không quen, khéo dư nước mắt khóc người đời xưa. Hãnh diện, vì cô được báo chí ngoại quốc nhắc đến trong tư cách người Việt Nam đến Ý quốc tỵ nạn chính trị từ bé, sau đó giữ chức vụ quan trọng trong Hội Caritas Roma, đã yêu thương, giúp đỡ tha nhân, và hết lòng thờ phượng Chúa. Kính phục, vì dù có bằng tiến sĩ Luật, mà bởi nhất quyết không chịu vào quốc tịch Ý, cô không được đi dạy đại học, và cô cũng chẳng cần. Kính phục, vì tuy lấy chồng người Ý cô vẫn đặt tên con là Ngô Đình Sơn. Một phụ nữ Việt Nam muốn mãi mãi giữ căn cước và bản chất Việt Nam –xin hiểu VNCH. Còn gì cao đẹp hơn? Cũng như mẹ và hai anh, cô chưa một lần nào trở về thăm cố hương bây giờ đang nằm trong nanh vuốt của Hận Thù, của Dối Trá, của Bất Công, của Tàn Bạo. Và cũng như mẹ cô, chưa một lần nói một lời, viết một câu hằn học kết án cá nhân những kẻ đã sát hại cha, bác, chú của mình. Cô đã quên và tha thứ tất cả.

Và như thế, tôi nghĩ rằng, trong bao năm sống kín đáo, khiêm nhường, lặng lẽ như một bóng mờ –không còn ai nhắc đến– giữa chốn bụi hồng lao xao, cô muốn chống lại, hoặc ít ra xoay đổi, định mệnh khắc nghiệt đè nặng lên gia đình, dòng họ, theo cách riêng của cô. Cũng như Antigone, theo cách riêng, khi đúng trước vua Créon, cãi lại lệnh cấm không được ai chôn xác người anh nổi loạn, Polynice, và qua đó, thách đố mệnh trời đeo đẳng trừng phạt gia đình Œdipe, cha nàng. Bị kết án tử hình, nàng ngẩng cao đầu và kiêu hãnh “xem cái chết như một điều tốt khi con người sống giữa bao nhiêu điều bất hạnh, khổ đau...” Những tưởng Ngô Đình Lệ Quyên, từ nay sẽ được giải thoát khỏi lời nguyền của định mệnh.
Ngờ đâu, định mệnh không buông tha. Và một sáng, đã gục ngã. Đầu hàng. Như một nữ nhân vật đích thực trong những vở bi kịch của một Hy Lạp huyền thoại mà tôi đọc say mê từ ngày còn đi học...

Tôi ca tụng và tiếc thương cô biết bao nhiêu cho vừa. Thôi, cô hãy ngủ giấc bình an ngàn năm, tự do từ đây, hỡi Lệ Quyên, Antigone của lòng tôi.

Portland, 17/4/2012
Kim Thanh

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Môi trường đấu tranh chưa bao giờ thuận lợi như lúc này

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

30.4.1975-30.4.2012, 37 năm đã qua kể từ khi cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn phi lý đã chấm dứt trên đất nước ta.
Với thời gian, nhận thức về thời cuộc đã ngày càng sáng tỏ trong tâm thức của người Việt Nam ta.

Image
Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ trong một lễ tưởng niệm Ngày 30 Tháng Tư tại thủ đô Washington.
(Hình: Spencer Platt/Getty Images)


Những quan điểm đối lập do hoàn cảnh lịch sử, do thành kiến và định kiến, do tác động của những học thuyết xa lạ dần dần được tháo gỡ và xóa bỏ, đưa lại một đồng thuận gần như thống nhất rất quý báu và đáng mừng.

Ðó là nhận thức rằng học thuyết Mác-Lênin được một số người lãnh đạo cộng sản du nhập vào Việt Nam là một học thuyết sai lầm, nguy hiểm, trái với bản chất nhân đạo của con người, đã phá sản hoàn toàn ở bất cứ nơi nào nó được áp dụng - từ Châu Âu, sang Liên Xô cũ, đến Trung Âu và Ðông Âu, và ở ngay những nơi nó còn được xưng tụng một cách giả dối như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên.

Ðó là nhận thức rằng nếu như những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam không du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam thì cuộc chiến tranh Pháp-Việt đã có thể tránh khỏi, vì chính quyền Pháp và phương Tây lúc ấy theo chiến lược be bờ (Containment Strategy) ngăn chặn làn sóng cộng sản độc tài và phi nhân do Liên Xô cầm đầu. Nếu như nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa không tự nguyện là tiền đồn của phe cộng sản do Ðệ Tam Quốc tế Cộng sản thành lập thì cuộc chiến tranh Việt-Mỹ đã không thể xảy ra.

Nhiều đảng viên Cộng Sản Việt Nam, đặc biệt là các đảng viên trẻ và trí thức, kể cả đảng viên kỳ cựu, lão thành, có công tâm, nay đã biết rằng Quốc Hội Châu Âu đã lên án chủ nghĩa cộng sản là tội ác khủng khiếp, là sai lầm lớn nhất của lịch sử loài người, và giữa thủ đô Washington của Hoa Kỳ đã dựng lên bức tượng đài kỷ niệm hơn 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa Cộng Sản, trong đó có hàng triệu nạn nhân người Việt bỏ mạng trong chiến tranh, trong cải cách ruộng đất, trong tàn sát các đảng phái yêu nước, trong đàn áp phong trào đòi tự do và dân chủ.

Từ nhận thức về lịch sử trên đây, đông đảo nhân dân ta ngày càng nhận rõ đảng CS hiện nay không những không còn là động lực của lịch sử mà trên thực tế đã trở thành trở ngại cho sự phát triển của đất nước và cản trở sự hội nhập với thế giới.

Gần đây đảng CS qua Hội nghị Trung ương 4/Khóa XI đã thú nhận sự trì trệ, tha hóa của mình, báo động về quá trình suy thoái đạo đức nhân cách tệ hại nhưng không đưa ra được biện pháp nào có thể có hiệu quả. Qua thực tế có thể khẳng định Trung Ương và Bộ Chính Trị đảng CS đang đối mặt với một vụ án khổng lồ, đó là cả 88 triệu người Việt trong đó có 50 triệu nam nữ công dân có thể phát đơn kiện hơn 200 con người đó đã biển thủ bao nhiêu của cải tiền bạc của đất nước, của nhân dân, tự tiện cắt từng mảng lớn ngân sách quốc gia cho ngân sách của đảng, đã tước đoạt biết bao ruộng đất của nông dân để chia nhau, đã ươn hèn và tham lam để cho bọn bành trướng chiếm đất, chiếm biển, chiếm đảo của ta, đã quản lý một cách quan liêu và tham nhũng 17 tập đoàn kinh tế nhà nước, để hoang phí hết chục ngàn tỷ đồng này đến chục ngàn tỷ đồng khác - như vụ Vinashin, rồi đến vụ VN Petro, rồi tàn bạo trừng trị mọi tiếng nói ngay thật tố cáo họ.

Họ là thủ phạm làm cho văn hóa suy đồi, đạo lý băng hoại, y tế bệ rạc, giáo dục tàn tạ.

Tự trưng ra bộ mặt tham lam, tội lỗi, phạm pháp, tha hóa, đảng CS không còn là một nhân tố tử tế trong xã hội, nó đã tự đánh mất tính hợp pháp và chính đáng, nó phải được thay thế càng sớm càng tốt.

Chúng ta đang sống giữa thế giới văn minh, dân chủ, hiện đại, có tinh thần quốc tế đùm bọc, che chở cùng nhau hợp tác, lại có Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và một loạt văn kiện quốc tế làm nền tảng, trong đó quan trọng nhất là những Tuyên ngôn Nhân quyền, tất cà được coi như Hiến Pháp của cộng đồng thế giới, mà chính quyền trong nước đã tự nguyện tham gia.

Chưa bao giờ bà con trong nước ta lại hiểu rõ ràng sâu sắc là cần thay đổi hẳn hệ thống chính trị của đất nước ta, không thể bằng lòng với những đổi mới hình thức, bộ phận, nhằm xoa dịu sự bất mãn của quần chúng. Ðó chỉ có thể là từ hệ thống độc đảng sang hệ thống đa đảng trong trật tự luật pháp, các đảng chính trị hợp pháp vừa cộng tác vừa ganh đua thay phiên nhau cầm quyền. Ðảng CS chỉ có lợi là do có ganh đua, có kiểm soát lẫn nhau, có cử tri làm trọng tài, đảng CS sẽ buộc phải giữ gìn đạo đức, tài năng, trở nên trong sạch, có công tâm hơn hiện nay, sẽ có thể lấy lại uy tín và niềm tin của quần chúng.

Trước tình hình trong nước và thế giới chưa bao giờ thuận lợi như hiện nay, mong rằng trí thức, tuổi trẻ, cá đảng viên cộng sản trong sạch lương thiện hãy suy nghĩ, trao đổi để đi đến thành lập một đảng thật lành mạnh, có thể gọi là đảng Xã Hội-Dân Chủ Việt Nam, hay Tập hợp Công dân Việt Nam, hay đảng Dân tộc Việt Nam... cổ xúy tự do và dân chủ thật sự, công bằng xã hội, pháp quyền nghiêm minh, coi trọng phụ nữ và tuổi trẻ, phục hồi những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ta.

Tôi nghĩ bà con ta ở trong nước có thừa đủ sức để lập nên chính đảng của chính mình, với sự ủng hộ, hỗ trợ từ xa của cộng đồng ở nước ngoài. Cộng đồng nước ngoài hãy tận lực hỗ trợ bà con ta ở trong nước, chủ yếu là vận động chính quyền nước mình đang sinh sống ủng hộ có hiệu quá quá trình chuyển đổi hệ thống chính trị ở trong nước. Vừa rồi bà con ta đã tập trung được 150,000 chữ ký trong một kiến nghị thiết thực, cũng là một hành động mạnh mẽ thiết thực chưa từng có.

Nhằm mục đích cứu nước cứu dân, đông đảo nhân dân ta có thể biểu dương nguyện vọng và ý chí muốn đổi mới hệ thống chính trị một cách hòa bình và có trật tự,với khẩu hiệu rõ ràng đòi tự do báo chí, đòi tự do lập hội, đòi ứng cử tự do, đòi trưng cầu dân ý về Hiến Pháp mới, về tên của chế độ có nên là “Xã Hội Chủ Nghĩa” hay không? Có nên giữ chế độ độc đảng hay không? Có nên giữ chủ nghĩa Mác-Lênin hay không? Có nên giữ sở hữu quốc doanh làm chủ đạo nền kinh tế hay không? Nếu tất cả nhân dân, từ trí thức, sinh viên, học sinh, nhà kinh doanh, nông dân, thương nhân, lao động, thành viên các tôn giáo cùng cựu binh sĩ, gia đình liệt sỹ, gia đình quân nhân, cả những sĩ quan và nhân viên công an thật sự quý trọng dân, cùng nhau cất cao tiếng nói, can đảm bày tỏ ý nguyện của mình thì không một thế lực đen tối nào dám đàn áp.

Tôi viết bài này với tâm huyết của một người không mảy may có một tham vọng chính trị nào, chỉ xin bày tỏ một mong muốn duy nhất là nhân dân Việt Nam rất xứng đáng được hưởng tự do như mọi dân tộc khác, và xin toàn dân hãy cùng nhau đứng dậy đòi lại cái điều quý nhất ấy của chính mình.

Xin các bạn góp ý và trao đổi sôi nổi, xem há chẳng phải hiện nay là thời điểm thuận lợi chưa từng có cho sự nghiệp tự do dân chủ của toàn dân? Há chẳng phải môi trường chính trị trong và ngoài nước hiện nay là rất mực thuận lợi? Bắc Phi, Trung Ðông, Trung Âu, Miến Ðiện nhắn nhủ điều gì cho chúng ta? Há chẳng phải việc xây dựng một tổ chức chính trị tử tế, lương thiện, yêu nước thương dân là tối cần thiết ? Ta có quyền và có sức làm hay không? Há chẳng phải đây là điều then chốt nhất?

Há chẳng phải chung lòng chung sức mọi tầng lớp, mọi ngành nghề, mọi tôn giáo, nam và nữ để đấu tranh cho một nước Việt Nam Ðộc lập, Tự do, Dân chủ, Bình đẳng, Phồn vinh, Hạnh phúc là thuận lòng dân, thuận trào lưu của thời đại? Há chẳng phải ý dân cũng là ý trời? Há chẳng phải tuổi trẻ chiếm đa số cử tri và phụ nữ là một nửa số cử tri có vai trò to lớn? Những nữ nhi yêu nước ngay thật như các cô Bùi Minh Hằng, Ðỗ thị Minh Hạnh, Lê Công Nhân, Nguyễn Thị Dương Hà, Bích Huyền, Huỳnh Thục Vy, Võ Thị Hảo... không phải là hiếm.

Cũng xin nhắc lại nhân dịp sắp đến ngày 30 tháng 4 là lãnh đạo đảng Cộng Sản còn nợ nhân dân ta lời hứa danh dự hòa giải và hòa hợp dân tộc, họ đã lật lọng thay vào đó là sự chiếm đóng và trả thù, họ còn nợ món nợ nữa là nền dân chủ cộng hòa mà họ chưa bao giờ thực hiện.

Ðó là những món nợ của dân, của nước, trước sau không ai có thể quên và phủi tay được. Lúc này là thời cơ cho một việc làm mạnh dạn, quả đoán, quyết định vận mệnh dân tộc. Lúc này là lúc Thiên thời, Ðịa lợi, Nhân hòa, là lúc môi trường trong nước và quốc tế thuận lợi nhất để, trước hết, ta tự giúp ta, sau đó, quốc tế mới hỗ trợ cho chúng ta được. Sức dân sẽ hùng hậu, vô tận, không bao giờ cạn. Lịch sử đã đến và gõ cửa từng nhà, thức tỉnh từng công dân Việt, bạn có nghe thấy không, thưa bạn?

Post Reply