Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Tâm tình từ quốc nội chống Tàu xâm lược
Huỳnh Thục Vy
Ba giờ chiều ngày 4 tháng 8 năm 2012, anh chị em chúng tôi rời chỗ trọ ở đường Thanh Long, đi vòng theo các con phố Đà Nẵng hướng về Quảng Nam. Gia đình tôi có việc nhà nên cuối tuần ra đây, chúng tôi không có ý định biểu tình vì cho rằng sẽ không thể có một cuộc biểu tình ở thành phố nổi tiếng "yên tĩnh" này.
Đến đoạn đường đường Phan Chu Trinh thì có hai công an sắc phục và một an ninh thường phục ra đón đầu ba xe máy chúng tôi lại và đòi bắt giữ anh chị em chúng tôi. Chúng tôi phản đối quyết liệt, yêu cầu họ trình giấy tờ cá nhân và lý do bắt giữ chúng tôi. Tên an ninh thường phục ấp úng không trả lời được và mắt cứ hướng về phía sau lưng chờ người đến "tiếp viện", trong khi người dân hai bên đường tập trung lại khá đông để xem sự việc. Chúng tôi nhanh chóng lách xe ra khỏi mấy tên an ninh đang bối rối với đám đông và chạy tiếp.
Đến đoạn đường 2-9 gần siêu thị Metro Đà Nẵng, Minh Đức chở Khánh Vy đi trước bị một xe công an thường và một xe cảnh sát 113 chặn lại đòi kiểm tra giấy tờ xe. Hiếu và tôi đi sau cũng bị hai tên công an chặn lại, rút chìa khóa xe đòi bắt giữ chúng tôi. Cô tôi (đi cùng xe với Hiếu) nhào vô giật lại hai chìa khóa xe và chúng tôi nhanh chóng tiến về chỗ Minh Đức và Khánh Vy đang giằng co với hai xe công an. Chúng tôi bị chặn lại vô lý và bất ngờ nên đâm ra giận dữ. Chúng tôi quát vào mặt họ: "Tại sao các người vô lý chặn đường chúng tôi? Kiểm tra giấy tờ nhanh lên rồi trả lại đây, chúng tôi không có thời gian đâu". Tên công an cầm giấy tờ xe của Khánh Vy định lên xe bỏ đi. Nhưng tên này vừa mở cửa định lên xe thì Hiếu đẩy mạnh cửa xe làm kẹp anh ta giữa thân xe và cửa xe. Mấy tên an ninh trẻ xông vào định đánh chúng tôi trước mặt đám đông nhưng bị tên an ninh chỉ huy ngăn lại. Anh chị em chúng tôi lớn tiếng tố cáo hành vi sách nhiễu của công an thành phố Đà Nẵng trước mặt bà con đứng xem. Nhiều máy quay của an ninh chĩa thắng vào chúng tôi mà quay. Minh Đức hét to: "Các người ăn tiền thuế của chúng tôi để làm những chuyện mất dạy này à?", "Sao các người không ra Trường Sa-Hoàng Sa mà đánh bọn Tàu kìa?". Cô tôi hét: "Bọn bán nước các người tại sao muốn bắt giữ chúng tôi, tại sao không ra mà đánh với Tàu kìa?" Bà con đứng xem xung quanh xì xầm bàn tán. Mấy tên công an sắc phục lo ngại phân bua: "Đó, bà con thấy không, chúng tôi có làm gì đâu mà họ chửi mắng chúng tôi?". Giằng co chừng 10 phút, thấy người dân tập trung ngày càng đông, mà chúng tôi vẫn lớn tiếng, tên an ninh cầm đầu ra lệnh trả giấy tờ xe cho Khánh Vy. Cô tôi chồm lên giật phắt xấp giấy tờ trong tay tên an ninh, rồi anh chị em chúng tôi lên xe tiếp tục hướng về phía Quảng Nam bỏ lại sau lưng những lời chửi thề tục tĩu của của mấy tên an ninh thường phục trẻ tuổi.
Hôm nay chủ nhật ngày 5 tháng 8, nhiều người biểu tình yêu nước ở Hà Nội đã bị bắt còn Sài Gòn thì không có biểu tình. Nhà cầm quyền cộng sản cố tình triệt tiêu các cuộc biểu tình yêu nước còn người dân Việt Nam thì còn quá sợ hãi. Những người yêu nước chúng ta phải làm một que diêm để thắp lên ngọn lửa nhỏ trong bóng tối sợ hãi dày đặc này!
Tôi là người hay viết về những đề tài lý luận, với văn phong có thể nói là thiện chí, lịch sự và có học. Nhưng nhiều lần tôi tự hỏi: Có bao nhiêu người đọc bài tôi viết? Có bao nhiêu người hiểu được những tâm tư thiện chí mà tôi chuyển tải trong các bài viết? Có bao nhiêu bạn trẻ có thể hiểu rõ bản chất của chế độ độc tài cộng sản Việt Nam khi đọc những bài viết này? Những người có thể tiếp cận với báo mạng tự do là những người đã am hiểu tình hình và có tâm với đất nước. Còn đối với những người cả đời ít khi đọc báo, báo mạng tự do thì càng không, những bài viết của tôi có tác dụng gì? Tôi có thể hiểu khi không ít người chê trách tôi lý luận quá nhiều mà ít có hành động thực tiễn. Hôm nay, xin chia sẻ những dòng này để các bạn hiểu rằng tôi cũng đang cố gắng có nhưng hành động đấu tranh thực tế.
Ngày hôm qua, khi đối phó với an ninh thành phố Đà Nẵng, anh chị em chúng tôi đã tận dụng thời gian để làm những gì có ý nghĩa nhất có thể. Chúng tôi không ngần ngại mắng thẳng vào mặt những tên an ninh với những lời lẽ nặng nề (nhưng không thô tục), tố cáo chế độ bán nước, hô hào về chủ quyền Trường Sa-Hoàng Sa... Về nhà, chúng tôi đã suy nghĩ nhiều, và anh chị em chúng tôi đồng tình với nhau một việc: Trong mọi tình huống bị sách nhiễu, sự phản đối ôn hòa (chỉ có giằng co, không dùng bạo lực) nhưng với lời lẽ tố cáo gay gắt, thu hút sự đồng cảm của người dân xung quanh là việc làm thực sư hữu ích.
Nhiều người cho rằng chúng ta nên đối thoại ôn hòa khi giáp mặt với an ninh. Thiển nghĩ, khi vào làm việc với họ ở đồn công an, bình tĩnh, ôn hòa là cách tốt nhất. Nhưng trước mặt đám đông dân thường, chúng ta không cần phải dùng lời lẽ ôn hòa, dễ nghe với những kẻ bị ám thị và tự ám thị này. Họ làm mọi thứ chỉ nhằm đảm bảo sự tồn tại độc tôn của chế độ đang nuôi dưỡng họ; để với sự tồn tại của Đảng Cộng sản, họ chỉ cần hành hung, đánh đập những người yêu nước lương thiện thì có thể tiếp tục ăn trắng mặt trơn, không làm gì mà vẫn dùng Iphone, MacBook Pro... Họ không xứng đáng được nghe những lời thuyết phục chân thành và ôn hòa của chúng ta. Chúng ta biết rằng bất cứ ai có lương tâm và hành động theo lương tâm đều phải rời bỏ hàng ngũ an ninh Cộng sản từ lâu rồi. Vì thế, tôi chưa bao giờ dám nuôi ảo tưởng thuyết phục được những con người đó.
Có thể nói, việc phản kháng ngay tại chỗ với an ninh cộng sản có hai tác dụng tích cực có thể dự đoán: Thứ nhất, trong chế độ công an trị ở Việt Nam hiện nay, đa số người dân không có thiện cảm với công an, nhưng đối với họ công an là lực lượng đáng sợ nhất; nên việc mắng vào mặt những tên ác nhân này sẽ thắp dần lên ngọn lửa Vô úy (dù mong manh) trong tâm thức người dân. Tôi có thể nói, ngày hôm qua có nhiều người dân hả hê khi nghe chúng tôi mắng an ninh thành phố Đà Nẵng. Thứ hai, việc mắng họ với những câu chứa thông tin cần thiết như: người dân đóng thuế để nuôi cả một lực lượng công an đàn áp dân, chế độ hèn với giặc ác với dân, những thông tin về Trường Sa- Hoàng Sa, về nguy cơ mất nước... có thể đem lại thông tin tức thì cho người dân về bản chất của chế độ và vấn nạn ngoại xâm của đất nước và gợi lên trong lòng người dân tâm tình với đất nước mà không cần những bài vết dài dòng. Đặc biệt, vấn đề Trường Sa-Hoàng Sa là gót chân Achille của chế độ. Họ rất lúng túng với người dân khi phải đối mặt với chuyện bán nước rõ ràng của họ. Chúng ta hãy tập trung khai thác điều này.
Khi chúng ta phản đối quyết liệt và tức thì hành động sách nhiễu của an ninh, truyền thông tin hữu ích cho người dân, bày tỏ thái độ nghiêm khắc với an ninh trước sự chứng kiến của đông đảo mọi người, thì giá trị của nó bằng một cuộc biểu tình nho nhỏ. Bởi vậy, mỗi người tranh đấu và yêu nước hãy tận dụng từng tình huống đụng độ cụ thể với an ninh để bày tỏ lòng yêu nước và tố cáo chế độ. Nếu làm được vây, chúng ta có thể biểu tình mọi nơi, mọi lúc, không cần định trước địa điểm và thời gian.
Lại nói về chuyện biểu tình, năm nay, từ cuộc biểu tình ngày 1 tháng 7 cho tới nay, Sài Gòn chưa có thêm cuộc biểu tình nào nữa. Người dân còn quá sợ hãi, hệ thống trấn áp của Nhà cầm quyền thì quá hùng hậu, nên thiết nghĩ ngay cả một người có uy tín và danh tiếng lớn cũng khó có thể tập hợp những con người đầy sự hãi ấy thành đám đông biểu tình. Trong tình hình đó, phải có một nhóm người (trong đó có một người có uy tín và được nhiều người biết đến) đến địa điểm biểu tình sớm, đứng ở nơi dễ thu hút sự chú ý, có những hành động khoa trương một chút, giương khẩu hiệu để đẩy tình hình nóng lên đến mức lực lượng an ninh phải ra tay bắt giữ. Khi bị bắt, nhóm người này đừng để bị bắt đi trong im lặng, phải giằng co với an ninh càng lâu càng tốt để thu hút những người xung quanh địa điểm biểu tình và cả người đi đường. Ở các thành phố, việc giằng co và cãi cọ với công an có thể hình thành một đám đông lớn vì có nhiều người tò mò muốn xem sự việc. Khi đám đông đã hình thành, những người đã chuẩn bị biểu tình từ trước (không bị bắt) chỉ cần giơ cao biểu ngữ, hô khẩu hiệu và di chuyển ra khỏi hiện trường vụ bắt bớ. Vậy là cuộc biểu tình có thế diễn ra. Do sợ hãi, đám đông khó hình thành, nhưng khi đám đông đã hình thành (bằng cách ấy) thì khó giải tán và sự sợ hãi cũng tan biến. Phải có những người làm "mồi nhử", chịu bị bắt giữ để những người còn lại được biểu tình, như thế phong trào của chúng ta mới không bị cắt đứt.
Những cuộc biểu tình không chỉ để biểu tỏ lòng yêu nước, gây sức ép cần thiết lên chế độ để họ có những hành động giải quyết trước tình hình biển đảo đất nước bị Trung cộng xâm lăng; mà còn tạo những cơ hội tốt để người dân Việt Nam tập sống như những công dân mạnh mẽ. Nhà cầm quyền quá sợ hãi đám đông nên họ tìm mọi cách trấn áp dù những cuộc biểu tình chỉ tập trung những người yêu nước đơn thuần hay có cả những nhân vật đối lập. Trong khi tất cả chúng ta đều căm phẫn lẫn hồi họp chờ đợi không biết Trung cộng sẽ tiếp tục có những động thái xâm lược nào tiếp theo, và Nhà cầm quyền đang toan tính những gì. Tàu cộng quá nguy hiểm, Việt cộng quá hèn nhát, còn dân ta thì quá sợ hãi. Nhưng đất nước này mất đi, chúng ta, gia đình và con cháu chúng ta sẽ sống ở đâu? Chúng ta vẫn tiếp tục sợ hãi như thế hay sao?
Tam Kỳ, ngày 5 tháng 8 năm 2012
Huỳnh Thục Vy
Ba giờ chiều ngày 4 tháng 8 năm 2012, anh chị em chúng tôi rời chỗ trọ ở đường Thanh Long, đi vòng theo các con phố Đà Nẵng hướng về Quảng Nam. Gia đình tôi có việc nhà nên cuối tuần ra đây, chúng tôi không có ý định biểu tình vì cho rằng sẽ không thể có một cuộc biểu tình ở thành phố nổi tiếng "yên tĩnh" này.
Đến đoạn đường đường Phan Chu Trinh thì có hai công an sắc phục và một an ninh thường phục ra đón đầu ba xe máy chúng tôi lại và đòi bắt giữ anh chị em chúng tôi. Chúng tôi phản đối quyết liệt, yêu cầu họ trình giấy tờ cá nhân và lý do bắt giữ chúng tôi. Tên an ninh thường phục ấp úng không trả lời được và mắt cứ hướng về phía sau lưng chờ người đến "tiếp viện", trong khi người dân hai bên đường tập trung lại khá đông để xem sự việc. Chúng tôi nhanh chóng lách xe ra khỏi mấy tên an ninh đang bối rối với đám đông và chạy tiếp.
Đến đoạn đường 2-9 gần siêu thị Metro Đà Nẵng, Minh Đức chở Khánh Vy đi trước bị một xe công an thường và một xe cảnh sát 113 chặn lại đòi kiểm tra giấy tờ xe. Hiếu và tôi đi sau cũng bị hai tên công an chặn lại, rút chìa khóa xe đòi bắt giữ chúng tôi. Cô tôi (đi cùng xe với Hiếu) nhào vô giật lại hai chìa khóa xe và chúng tôi nhanh chóng tiến về chỗ Minh Đức và Khánh Vy đang giằng co với hai xe công an. Chúng tôi bị chặn lại vô lý và bất ngờ nên đâm ra giận dữ. Chúng tôi quát vào mặt họ: "Tại sao các người vô lý chặn đường chúng tôi? Kiểm tra giấy tờ nhanh lên rồi trả lại đây, chúng tôi không có thời gian đâu". Tên công an cầm giấy tờ xe của Khánh Vy định lên xe bỏ đi. Nhưng tên này vừa mở cửa định lên xe thì Hiếu đẩy mạnh cửa xe làm kẹp anh ta giữa thân xe và cửa xe. Mấy tên an ninh trẻ xông vào định đánh chúng tôi trước mặt đám đông nhưng bị tên an ninh chỉ huy ngăn lại. Anh chị em chúng tôi lớn tiếng tố cáo hành vi sách nhiễu của công an thành phố Đà Nẵng trước mặt bà con đứng xem. Nhiều máy quay của an ninh chĩa thắng vào chúng tôi mà quay. Minh Đức hét to: "Các người ăn tiền thuế của chúng tôi để làm những chuyện mất dạy này à?", "Sao các người không ra Trường Sa-Hoàng Sa mà đánh bọn Tàu kìa?". Cô tôi hét: "Bọn bán nước các người tại sao muốn bắt giữ chúng tôi, tại sao không ra mà đánh với Tàu kìa?" Bà con đứng xem xung quanh xì xầm bàn tán. Mấy tên công an sắc phục lo ngại phân bua: "Đó, bà con thấy không, chúng tôi có làm gì đâu mà họ chửi mắng chúng tôi?". Giằng co chừng 10 phút, thấy người dân tập trung ngày càng đông, mà chúng tôi vẫn lớn tiếng, tên an ninh cầm đầu ra lệnh trả giấy tờ xe cho Khánh Vy. Cô tôi chồm lên giật phắt xấp giấy tờ trong tay tên an ninh, rồi anh chị em chúng tôi lên xe tiếp tục hướng về phía Quảng Nam bỏ lại sau lưng những lời chửi thề tục tĩu của của mấy tên an ninh thường phục trẻ tuổi.
Hôm nay chủ nhật ngày 5 tháng 8, nhiều người biểu tình yêu nước ở Hà Nội đã bị bắt còn Sài Gòn thì không có biểu tình. Nhà cầm quyền cộng sản cố tình triệt tiêu các cuộc biểu tình yêu nước còn người dân Việt Nam thì còn quá sợ hãi. Những người yêu nước chúng ta phải làm một que diêm để thắp lên ngọn lửa nhỏ trong bóng tối sợ hãi dày đặc này!
Tôi là người hay viết về những đề tài lý luận, với văn phong có thể nói là thiện chí, lịch sự và có học. Nhưng nhiều lần tôi tự hỏi: Có bao nhiêu người đọc bài tôi viết? Có bao nhiêu người hiểu được những tâm tư thiện chí mà tôi chuyển tải trong các bài viết? Có bao nhiêu bạn trẻ có thể hiểu rõ bản chất của chế độ độc tài cộng sản Việt Nam khi đọc những bài viết này? Những người có thể tiếp cận với báo mạng tự do là những người đã am hiểu tình hình và có tâm với đất nước. Còn đối với những người cả đời ít khi đọc báo, báo mạng tự do thì càng không, những bài viết của tôi có tác dụng gì? Tôi có thể hiểu khi không ít người chê trách tôi lý luận quá nhiều mà ít có hành động thực tiễn. Hôm nay, xin chia sẻ những dòng này để các bạn hiểu rằng tôi cũng đang cố gắng có nhưng hành động đấu tranh thực tế.
Ngày hôm qua, khi đối phó với an ninh thành phố Đà Nẵng, anh chị em chúng tôi đã tận dụng thời gian để làm những gì có ý nghĩa nhất có thể. Chúng tôi không ngần ngại mắng thẳng vào mặt những tên an ninh với những lời lẽ nặng nề (nhưng không thô tục), tố cáo chế độ bán nước, hô hào về chủ quyền Trường Sa-Hoàng Sa... Về nhà, chúng tôi đã suy nghĩ nhiều, và anh chị em chúng tôi đồng tình với nhau một việc: Trong mọi tình huống bị sách nhiễu, sự phản đối ôn hòa (chỉ có giằng co, không dùng bạo lực) nhưng với lời lẽ tố cáo gay gắt, thu hút sự đồng cảm của người dân xung quanh là việc làm thực sư hữu ích.
Nhiều người cho rằng chúng ta nên đối thoại ôn hòa khi giáp mặt với an ninh. Thiển nghĩ, khi vào làm việc với họ ở đồn công an, bình tĩnh, ôn hòa là cách tốt nhất. Nhưng trước mặt đám đông dân thường, chúng ta không cần phải dùng lời lẽ ôn hòa, dễ nghe với những kẻ bị ám thị và tự ám thị này. Họ làm mọi thứ chỉ nhằm đảm bảo sự tồn tại độc tôn của chế độ đang nuôi dưỡng họ; để với sự tồn tại của Đảng Cộng sản, họ chỉ cần hành hung, đánh đập những người yêu nước lương thiện thì có thể tiếp tục ăn trắng mặt trơn, không làm gì mà vẫn dùng Iphone, MacBook Pro... Họ không xứng đáng được nghe những lời thuyết phục chân thành và ôn hòa của chúng ta. Chúng ta biết rằng bất cứ ai có lương tâm và hành động theo lương tâm đều phải rời bỏ hàng ngũ an ninh Cộng sản từ lâu rồi. Vì thế, tôi chưa bao giờ dám nuôi ảo tưởng thuyết phục được những con người đó.
Có thể nói, việc phản kháng ngay tại chỗ với an ninh cộng sản có hai tác dụng tích cực có thể dự đoán: Thứ nhất, trong chế độ công an trị ở Việt Nam hiện nay, đa số người dân không có thiện cảm với công an, nhưng đối với họ công an là lực lượng đáng sợ nhất; nên việc mắng vào mặt những tên ác nhân này sẽ thắp dần lên ngọn lửa Vô úy (dù mong manh) trong tâm thức người dân. Tôi có thể nói, ngày hôm qua có nhiều người dân hả hê khi nghe chúng tôi mắng an ninh thành phố Đà Nẵng. Thứ hai, việc mắng họ với những câu chứa thông tin cần thiết như: người dân đóng thuế để nuôi cả một lực lượng công an đàn áp dân, chế độ hèn với giặc ác với dân, những thông tin về Trường Sa- Hoàng Sa, về nguy cơ mất nước... có thể đem lại thông tin tức thì cho người dân về bản chất của chế độ và vấn nạn ngoại xâm của đất nước và gợi lên trong lòng người dân tâm tình với đất nước mà không cần những bài vết dài dòng. Đặc biệt, vấn đề Trường Sa-Hoàng Sa là gót chân Achille của chế độ. Họ rất lúng túng với người dân khi phải đối mặt với chuyện bán nước rõ ràng của họ. Chúng ta hãy tập trung khai thác điều này.
Khi chúng ta phản đối quyết liệt và tức thì hành động sách nhiễu của an ninh, truyền thông tin hữu ích cho người dân, bày tỏ thái độ nghiêm khắc với an ninh trước sự chứng kiến của đông đảo mọi người, thì giá trị của nó bằng một cuộc biểu tình nho nhỏ. Bởi vậy, mỗi người tranh đấu và yêu nước hãy tận dụng từng tình huống đụng độ cụ thể với an ninh để bày tỏ lòng yêu nước và tố cáo chế độ. Nếu làm được vây, chúng ta có thể biểu tình mọi nơi, mọi lúc, không cần định trước địa điểm và thời gian.
Lại nói về chuyện biểu tình, năm nay, từ cuộc biểu tình ngày 1 tháng 7 cho tới nay, Sài Gòn chưa có thêm cuộc biểu tình nào nữa. Người dân còn quá sợ hãi, hệ thống trấn áp của Nhà cầm quyền thì quá hùng hậu, nên thiết nghĩ ngay cả một người có uy tín và danh tiếng lớn cũng khó có thể tập hợp những con người đầy sự hãi ấy thành đám đông biểu tình. Trong tình hình đó, phải có một nhóm người (trong đó có một người có uy tín và được nhiều người biết đến) đến địa điểm biểu tình sớm, đứng ở nơi dễ thu hút sự chú ý, có những hành động khoa trương một chút, giương khẩu hiệu để đẩy tình hình nóng lên đến mức lực lượng an ninh phải ra tay bắt giữ. Khi bị bắt, nhóm người này đừng để bị bắt đi trong im lặng, phải giằng co với an ninh càng lâu càng tốt để thu hút những người xung quanh địa điểm biểu tình và cả người đi đường. Ở các thành phố, việc giằng co và cãi cọ với công an có thể hình thành một đám đông lớn vì có nhiều người tò mò muốn xem sự việc. Khi đám đông đã hình thành, những người đã chuẩn bị biểu tình từ trước (không bị bắt) chỉ cần giơ cao biểu ngữ, hô khẩu hiệu và di chuyển ra khỏi hiện trường vụ bắt bớ. Vậy là cuộc biểu tình có thế diễn ra. Do sợ hãi, đám đông khó hình thành, nhưng khi đám đông đã hình thành (bằng cách ấy) thì khó giải tán và sự sợ hãi cũng tan biến. Phải có những người làm "mồi nhử", chịu bị bắt giữ để những người còn lại được biểu tình, như thế phong trào của chúng ta mới không bị cắt đứt.
Những cuộc biểu tình không chỉ để biểu tỏ lòng yêu nước, gây sức ép cần thiết lên chế độ để họ có những hành động giải quyết trước tình hình biển đảo đất nước bị Trung cộng xâm lăng; mà còn tạo những cơ hội tốt để người dân Việt Nam tập sống như những công dân mạnh mẽ. Nhà cầm quyền quá sợ hãi đám đông nên họ tìm mọi cách trấn áp dù những cuộc biểu tình chỉ tập trung những người yêu nước đơn thuần hay có cả những nhân vật đối lập. Trong khi tất cả chúng ta đều căm phẫn lẫn hồi họp chờ đợi không biết Trung cộng sẽ tiếp tục có những động thái xâm lược nào tiếp theo, và Nhà cầm quyền đang toan tính những gì. Tàu cộng quá nguy hiểm, Việt cộng quá hèn nhát, còn dân ta thì quá sợ hãi. Nhưng đất nước này mất đi, chúng ta, gia đình và con cháu chúng ta sẽ sống ở đâu? Chúng ta vẫn tiếp tục sợ hãi như thế hay sao?
Tam Kỳ, ngày 5 tháng 8 năm 2012
Lý tưởng
Ngô Nhân Dụng
Nước Việt Nam có những Trịnh Kim Tiến hay Huỳnh Thục Vy khiến chúng ta hãnh diện. Ðó là những người trẻ còn giữ lý tưởng, có thể tự hy sinh cảnh sống an toàn của bản thân mình cho một mục đích cao thượng.
Nhà thơ Thái Bá Tân viết một bài về “cô cháu gái” Huỳnh Thục Vy, xin trích mấy đoạn:
Cháu như người phụ nữ
Trong tranh Delacroix,
Guidant le peuple
Mà peuple - là chúng ta...
Cháu chỉ muốn công lý,
Dân chủ và tự do.
Tự do cho cả chúng,
Mà chúng, bọn côn đồ...
Giờ xin phép âu yếm
Ðặt hoa dưới chân mày.
Mày vấp ngã, còn sức,
Nhất định bác chìa tay.
Tôi ước mong các bạn trẻ người Việt Nam ở nước ngoài được biết tin tức về những thanh niên sống có lý tưởng trong nước Việt Nam. Tôi nhớ lại mấy câu chuyện cũ, xin kể.
Một cháu gái 20 tuổi lớn lên ở Mỹ, nghe bố cháu kể mãi chuyện thủa bé bố đi chăn trâu, cưỡi trên lưng trâu như thế nào, mê quá, khi về Hà Nội cứ đòi ông bác họ: “Bác ơi, bác cho con đi gặp con ‘châu” đi.” Ông bác chở cô cháu bằng xe gắn máy đi cả buổi sáng để cháu “gặp con châu.” Ði mấy chục cây số, tới một làng ở Sơn Tây, quê ngoại cháu, được giới thiệu với một chú mục đồng với hai con trâu. Cháu ngần ngại mãi mới dám xin thêm một đặc ân: Cho cháu được cưỡi trâu! Tuần sau, cha mẹ cháu ở Mỹ nhận được tấm hình viết: “Li Li chụp ảnh với Châu.”
Một điều cha mẹ cháu không ngờ là sau mấy tuần lễ về thăm quê nội, quê ngoại một mình, cháu trở về Mỹ nói tiếng Việt rất giỏi. Trước kia cháu không dám nói tiếng Việt nơi công sở vì khổ sở phải tìm các tiếng cho đúng. Ở Việt Nam cháu đã bị rơi vào một nơi mọi người chỉ nói tiếng Việt, ai cũng nghĩ cháu chỉ biết “tiếng Mỹ.” Cho nên cháu nói gì cũng được khen là nói giỏi và giúp cháu sửa chữa các chữ sai. Về đến Mỹ cháu tự tin hẳn lên, gặp các bạn bè cháu còn chê sao chúng nó không biết tiếng Việt!
Nhưng một điều khác cha mẹ cháu không ngờ, là cảm tưởng của họ hàng ở quê hương khi gặp cháu. Một năm sau, cha mẹ cháu về thăm nhà ai cũng khen ngợi họ khéo dạy một cô gái lễ phép, hồn nhiên, thành thật, trông như là “ngố” nhưng là thứ “ngố đáng yêu.” Ông bố cải chính: Tôi có dạy nó “ngố” như thế bao giờ đâu! Một ông bác họ suy nghĩ rồi kết luận: Trẻ con sống ở một nước tự do chúng nó hồn nhiên, chân thật, chúng được phát triển tự do, sung sướng quá. Chúng nó không có mặc cảm, mà không cần đến những thứ khôn ngoan láu cá như trẻ con ở đây. Một ông anh họ gật đầu đồng ý: Con người ta cứ sống thành thật, thẳng thắn với nhau vẫn sướng hơn chứ. Phải tập lấy những thói hàng chợ sớm làm gì cho nó khổ?
Một cháu gái tuổi 30 được mẹ dẫn đi thăm một làng quê ở Quảng Trị, nơi bà vẫn quyên góp tiền bạc về xây mấy phòng học cho trường mẫu giáo. Cháu vào lớp học dạy trẻ em những bài hát thiếu nhi mà cháu đi Hướng Ðạo Việt Nam ở nước ngoài, học được thuở nhỏ. Cho các em chơi mấy trò chơi. Nửa năm sau khi đã trở về Mỹ cháu được mẹ gửi cho những tấm hình cảnh những nạn nhân bão lụt ở mấy tỉnh miền Trung. Cháu là một giáo sư dạy đàn, cuối tuần đó cháu có một buổi cho các nhạc sinh trình diễn. Cháu đã in các tấm hình bão lụt ở Việt Nam ra treo trong phòng biểu diễn. Và lạc quyên cha mẹ các học trò góp tiền cho cháu gửi về giúp đỡ đồng bào. Học trò của cháu không có em nào là người gốc Việt Nam.
Nhiều ban trẻ Việt Nam sinh trưởng ở nước ngoài sau khi về thăm Việt Nam một lần, bỗng dưng thấy thương xót quê hương của bố mẹ. Một cháu trai hơn 10 tuổi về đến Mỹ rồi cứ hỏi mẹ: Con làm gì được để giúp cho mấy đứa bé chơi đá bóng với con ở Nha Trang không mẹ?
Khi chúng ta nuôi dạy các con ở một xứ giầu có và xã hội có tổ chức như ở Âu Mỹ, muốn truyền cho con tấm lòng thương xót người nghèo khổ là điều rất khó. Nhưng khi các cháu được tiếp xúc với những người nghèo khổ thật, không cần ai dạy dỗ tình thương cũng tự phát sinh. Khi các cháu đi chơi ở bãi biển bên Mexico, Santo Domingo thì cũng thấy những người bản xứ nghèo nàn phải hầu hạ mình. Nhưng thấy cha mẹ “mua các dịch vụ” của những người này, trả tiền sòng phẳng và hậu hĩnh, cũng khó giúp cho từ tâm trong huyết quản được nẩy mầm. Khi về quê hương của cha mẹ, các cháu dễ xúc động một cách tự nhiên hơn. Hạt giống lành dễ nẩy sinh.
Nhưng các cháu lớn tuổi cần nhìn xa hơn những công việc có tính cách bố thí. Những bạn trẻ 30, 40 có thể giúp đồng bào Việt Nam trên những quy mô lớn hơn. Các cháu có thể giúp đồng bào ở quê nhà với những dự án lớn hơn, về y tế, giáo dục, huấn luyện kỹ thuật nông nghiệp, lập quỹ tín dụng, và ngay cả những chương trình thể thao, văn nghệ, v.v... Chính quyền cộng sản sẽ tìm cách ngăn cản? Tất nhiên họ sẽ ngăn cản các hoạt động tự nguyện làm phát triển xã hội công dân, vì đảng Cộng Sản muốn kiểm soát tất cả các sinh hoạt. Nhưng khi rất nhiều người mang những sáng kiến đó về, hợp tác với các nhà thờ, nhà chùa, trường học ở trong nước để tổ chức những công tác xã hội, thì các cháu có thể thúc đẩy các hoạt động tự nguyện cùng với các thanh niên trong nước. Rồi từ đó chính các thanh niên này sẽ thấy nhu cầu phải được tự do sống, tự do làm việc thiện, tự do giúp đỡ đồng bào. Chính những thanh niên trong nước sẽ đòi được sống tự do, được theo đuổi những lý tưởng, hoài bão của tuổi trẻ.
Tôi tin rằng tuổi thanh niên thời nào cũng đầy lý tưởng. Các thanh niên sống ở nước ngoài nếu được dịp tiếp xúc với đồng bào nghèo khổ ở trong nước, thay vì chỉ về nước hưởng thụ các thú vui với giá rẻ thì họ cũng nẩy sinh những lý tưởng cao thượng. nếu họ được khuyến khích thực hiện các lý tưởng đó, họ sẽ gặp được những người cùng tuổi cũng có lý tưởng ở trong nước. Lớp người trẻ sẽ thay đổi tương lai đất nước chúng ta.
Tôi nhớ năm chưa 20 tuổi một lần đi xe gắn máy trên xa lộ Biên Hòa tôi thấy một đám trẻ em đang chơi đá bóng trên dải đất mới san bằng dọc theo xa lộ. Lúc đó xa lộ Biên Hòa mới được trải nhựa, hai bên bờ vẫn còn đất đá vụn ngổn ngang, chưa có bãi cỏ mọc như sau này. Các em vừa chạy vừa reo hò, chân đá bóng hăng say, sung sướng. Nhưng sự thật là các em không có một trái bóng để mà chơi. Chân các em tranh giành nhau một quả cầu tròn bằng giấy cuộn lại, trông như trái bóng. Cuộc chơi chắc đã bắt đầu từ lâu, trái bóng giấy rách tươm.
Lúc đó tôi nẩy ra một ý nguyện trong đầu. Tôi nghĩ: Trong đời mình, phải xây dựng nước Việt Nam để làm sao cho mỗi trẻ em muốn chơi đá banh phải có một trái banh mà đá. Ước mơ nhỏ bé đó chắc bây giờ vẫn chưa thành sự thật. Một người bạn tôi đi thăm quê ngoại ở miền Bắc kể rằng ngôi nhà một ông bác họ ở bên đường xe lửa. Trẻ em đá banh chung quanh nhà, nhiều em đã bị xe lửa cán chết. Từ bao nhiêu năm nay đã bao nhiêu tai nạn mà chính quyền không làm gì để thay đổi tình trạng đó.
Khi chúng ta đòi thay đổi chế độ chính trị ở nước Việt Nam, phải xóa bỏ chế độ độc tài cộng sản để đất nước được sống trong dân chủ tự do, chúng ta không cần phải viện dẫn một lý thuyết chính trị, kinh tế lớn lao nào cả. Chỉ cần nói cho đồng bào ta biết rằng khi có một chính quyền chịu trách nhiệm với dân, do dân bầu ra một cách tự do, có các đảng chính trị tự do hoạt động, có báo chí, có đài phát thanh tư nhân tự do thì kinh tế mới phát triển, xã hội mới tiến bộ. Những trẻ em có trái banh mà đá, và có chỗ để chơi không còn chết oan vì đường rầy xe lửa nữa.
Ngô Nhân Dụng
Nước Việt Nam có những Trịnh Kim Tiến hay Huỳnh Thục Vy khiến chúng ta hãnh diện. Ðó là những người trẻ còn giữ lý tưởng, có thể tự hy sinh cảnh sống an toàn của bản thân mình cho một mục đích cao thượng.
Nhà thơ Thái Bá Tân viết một bài về “cô cháu gái” Huỳnh Thục Vy, xin trích mấy đoạn:
Cháu như người phụ nữ
Trong tranh Delacroix,
Guidant le peuple
Mà peuple - là chúng ta...
Cháu chỉ muốn công lý,
Dân chủ và tự do.
Tự do cho cả chúng,
Mà chúng, bọn côn đồ...
Giờ xin phép âu yếm
Ðặt hoa dưới chân mày.
Mày vấp ngã, còn sức,
Nhất định bác chìa tay.
Tôi ước mong các bạn trẻ người Việt Nam ở nước ngoài được biết tin tức về những thanh niên sống có lý tưởng trong nước Việt Nam. Tôi nhớ lại mấy câu chuyện cũ, xin kể.
Một cháu gái 20 tuổi lớn lên ở Mỹ, nghe bố cháu kể mãi chuyện thủa bé bố đi chăn trâu, cưỡi trên lưng trâu như thế nào, mê quá, khi về Hà Nội cứ đòi ông bác họ: “Bác ơi, bác cho con đi gặp con ‘châu” đi.” Ông bác chở cô cháu bằng xe gắn máy đi cả buổi sáng để cháu “gặp con châu.” Ði mấy chục cây số, tới một làng ở Sơn Tây, quê ngoại cháu, được giới thiệu với một chú mục đồng với hai con trâu. Cháu ngần ngại mãi mới dám xin thêm một đặc ân: Cho cháu được cưỡi trâu! Tuần sau, cha mẹ cháu ở Mỹ nhận được tấm hình viết: “Li Li chụp ảnh với Châu.”
Một điều cha mẹ cháu không ngờ là sau mấy tuần lễ về thăm quê nội, quê ngoại một mình, cháu trở về Mỹ nói tiếng Việt rất giỏi. Trước kia cháu không dám nói tiếng Việt nơi công sở vì khổ sở phải tìm các tiếng cho đúng. Ở Việt Nam cháu đã bị rơi vào một nơi mọi người chỉ nói tiếng Việt, ai cũng nghĩ cháu chỉ biết “tiếng Mỹ.” Cho nên cháu nói gì cũng được khen là nói giỏi và giúp cháu sửa chữa các chữ sai. Về đến Mỹ cháu tự tin hẳn lên, gặp các bạn bè cháu còn chê sao chúng nó không biết tiếng Việt!
Nhưng một điều khác cha mẹ cháu không ngờ, là cảm tưởng của họ hàng ở quê hương khi gặp cháu. Một năm sau, cha mẹ cháu về thăm nhà ai cũng khen ngợi họ khéo dạy một cô gái lễ phép, hồn nhiên, thành thật, trông như là “ngố” nhưng là thứ “ngố đáng yêu.” Ông bố cải chính: Tôi có dạy nó “ngố” như thế bao giờ đâu! Một ông bác họ suy nghĩ rồi kết luận: Trẻ con sống ở một nước tự do chúng nó hồn nhiên, chân thật, chúng được phát triển tự do, sung sướng quá. Chúng nó không có mặc cảm, mà không cần đến những thứ khôn ngoan láu cá như trẻ con ở đây. Một ông anh họ gật đầu đồng ý: Con người ta cứ sống thành thật, thẳng thắn với nhau vẫn sướng hơn chứ. Phải tập lấy những thói hàng chợ sớm làm gì cho nó khổ?
Một cháu gái tuổi 30 được mẹ dẫn đi thăm một làng quê ở Quảng Trị, nơi bà vẫn quyên góp tiền bạc về xây mấy phòng học cho trường mẫu giáo. Cháu vào lớp học dạy trẻ em những bài hát thiếu nhi mà cháu đi Hướng Ðạo Việt Nam ở nước ngoài, học được thuở nhỏ. Cho các em chơi mấy trò chơi. Nửa năm sau khi đã trở về Mỹ cháu được mẹ gửi cho những tấm hình cảnh những nạn nhân bão lụt ở mấy tỉnh miền Trung. Cháu là một giáo sư dạy đàn, cuối tuần đó cháu có một buổi cho các nhạc sinh trình diễn. Cháu đã in các tấm hình bão lụt ở Việt Nam ra treo trong phòng biểu diễn. Và lạc quyên cha mẹ các học trò góp tiền cho cháu gửi về giúp đỡ đồng bào. Học trò của cháu không có em nào là người gốc Việt Nam.
Nhiều ban trẻ Việt Nam sinh trưởng ở nước ngoài sau khi về thăm Việt Nam một lần, bỗng dưng thấy thương xót quê hương của bố mẹ. Một cháu trai hơn 10 tuổi về đến Mỹ rồi cứ hỏi mẹ: Con làm gì được để giúp cho mấy đứa bé chơi đá bóng với con ở Nha Trang không mẹ?
Khi chúng ta nuôi dạy các con ở một xứ giầu có và xã hội có tổ chức như ở Âu Mỹ, muốn truyền cho con tấm lòng thương xót người nghèo khổ là điều rất khó. Nhưng khi các cháu được tiếp xúc với những người nghèo khổ thật, không cần ai dạy dỗ tình thương cũng tự phát sinh. Khi các cháu đi chơi ở bãi biển bên Mexico, Santo Domingo thì cũng thấy những người bản xứ nghèo nàn phải hầu hạ mình. Nhưng thấy cha mẹ “mua các dịch vụ” của những người này, trả tiền sòng phẳng và hậu hĩnh, cũng khó giúp cho từ tâm trong huyết quản được nẩy mầm. Khi về quê hương của cha mẹ, các cháu dễ xúc động một cách tự nhiên hơn. Hạt giống lành dễ nẩy sinh.
Nhưng các cháu lớn tuổi cần nhìn xa hơn những công việc có tính cách bố thí. Những bạn trẻ 30, 40 có thể giúp đồng bào Việt Nam trên những quy mô lớn hơn. Các cháu có thể giúp đồng bào ở quê nhà với những dự án lớn hơn, về y tế, giáo dục, huấn luyện kỹ thuật nông nghiệp, lập quỹ tín dụng, và ngay cả những chương trình thể thao, văn nghệ, v.v... Chính quyền cộng sản sẽ tìm cách ngăn cản? Tất nhiên họ sẽ ngăn cản các hoạt động tự nguyện làm phát triển xã hội công dân, vì đảng Cộng Sản muốn kiểm soát tất cả các sinh hoạt. Nhưng khi rất nhiều người mang những sáng kiến đó về, hợp tác với các nhà thờ, nhà chùa, trường học ở trong nước để tổ chức những công tác xã hội, thì các cháu có thể thúc đẩy các hoạt động tự nguyện cùng với các thanh niên trong nước. Rồi từ đó chính các thanh niên này sẽ thấy nhu cầu phải được tự do sống, tự do làm việc thiện, tự do giúp đỡ đồng bào. Chính những thanh niên trong nước sẽ đòi được sống tự do, được theo đuổi những lý tưởng, hoài bão của tuổi trẻ.
Tôi tin rằng tuổi thanh niên thời nào cũng đầy lý tưởng. Các thanh niên sống ở nước ngoài nếu được dịp tiếp xúc với đồng bào nghèo khổ ở trong nước, thay vì chỉ về nước hưởng thụ các thú vui với giá rẻ thì họ cũng nẩy sinh những lý tưởng cao thượng. nếu họ được khuyến khích thực hiện các lý tưởng đó, họ sẽ gặp được những người cùng tuổi cũng có lý tưởng ở trong nước. Lớp người trẻ sẽ thay đổi tương lai đất nước chúng ta.
Tôi nhớ năm chưa 20 tuổi một lần đi xe gắn máy trên xa lộ Biên Hòa tôi thấy một đám trẻ em đang chơi đá bóng trên dải đất mới san bằng dọc theo xa lộ. Lúc đó xa lộ Biên Hòa mới được trải nhựa, hai bên bờ vẫn còn đất đá vụn ngổn ngang, chưa có bãi cỏ mọc như sau này. Các em vừa chạy vừa reo hò, chân đá bóng hăng say, sung sướng. Nhưng sự thật là các em không có một trái bóng để mà chơi. Chân các em tranh giành nhau một quả cầu tròn bằng giấy cuộn lại, trông như trái bóng. Cuộc chơi chắc đã bắt đầu từ lâu, trái bóng giấy rách tươm.
Lúc đó tôi nẩy ra một ý nguyện trong đầu. Tôi nghĩ: Trong đời mình, phải xây dựng nước Việt Nam để làm sao cho mỗi trẻ em muốn chơi đá banh phải có một trái banh mà đá. Ước mơ nhỏ bé đó chắc bây giờ vẫn chưa thành sự thật. Một người bạn tôi đi thăm quê ngoại ở miền Bắc kể rằng ngôi nhà một ông bác họ ở bên đường xe lửa. Trẻ em đá banh chung quanh nhà, nhiều em đã bị xe lửa cán chết. Từ bao nhiêu năm nay đã bao nhiêu tai nạn mà chính quyền không làm gì để thay đổi tình trạng đó.
Khi chúng ta đòi thay đổi chế độ chính trị ở nước Việt Nam, phải xóa bỏ chế độ độc tài cộng sản để đất nước được sống trong dân chủ tự do, chúng ta không cần phải viện dẫn một lý thuyết chính trị, kinh tế lớn lao nào cả. Chỉ cần nói cho đồng bào ta biết rằng khi có một chính quyền chịu trách nhiệm với dân, do dân bầu ra một cách tự do, có các đảng chính trị tự do hoạt động, có báo chí, có đài phát thanh tư nhân tự do thì kinh tế mới phát triển, xã hội mới tiến bộ. Những trẻ em có trái banh mà đá, và có chỗ để chơi không còn chết oan vì đường rầy xe lửa nữa.
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Hà Nội Đánh Cuội?
Tác giả : Trần Khải
Đánh cuội là hành vi giả vờ đánh... nhưng thực sự là móc nối để đánh trình diễn thôi, chứ không phải đánh thật. Câu hỏi nơi đây là: có phải chính phủ Hà Nội lên võ đài trình diễn với Bắc Kinh, chỉ đánh cuội chứng không phải đánh thật?
Bất kể là phải trả giá bằng lãnh thổ, lãnh hải, biên giới biển đảo?
Một diễn biến hôm Thứ Tứ, là Hải Quân Ấn Độ từ chối can thiệp vào vùng biển Đông của VN. Có thể chỉ vì Ấn Độ nhìn thấy mịt mù sương khói Thái Bình Dương, không tin ngay cả cái gọi là “phe ta”?
Báo India Today hôm 8/8/2012 ghi lời Đô Đốc Nirmal Verma, Tư Lệnh Hải Quân Ấn Độ, rằng Hải Quân Ấn Độ sẽ không can thiệp vào vùng biển Đông của VN, vì còn bận nhiều chuyện ở Ấn Độ Dương.
Verma nói như thế hôm Thứ Ba, nhưng thêm rằng ông hy vọng tuyến đường hàng hải quốc tế sẽ không bị cản trở ở Biển Đông.
Trong khi đó, Đài Loan cho biết sẽ dính sâu vào Biển Đông. Tuy nhiên, người ta thấy rằng Bắc Kinh và Đài Bắc chỉ là giả vờ căng thẳng thôi, vì họ vẫn xem vùng Biển Đông là tài sản của dân tộc Trung Hoa, bất kể là của chế độ cộng sản Bắc Kinh hay tư bản chủ nghĩa Đài Bắc.
Bản tin BBC cho biết:
“Bộ Quốc phòng Đài Loan vừa tuyên bố tăng cường hiện diện quân sự trên đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa.
Hành động này chắc chắn sẽ gặp phản ứng tức giận và quan ngại từ các nước cũng tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này, trước hết là Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam tuy vậy chưa có phát biểu gì về quyết định được loan báo hôm thứ Ba 7/8.
Thiếu tướng La Thiệu Hòa, Người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Đài Loan nói bộ này hiện đang hợp tác với cơ quan tuần duyên để nâng cao khả năng phòng thủ trên đảo Ba Bình, mà Đài Loan gọi là đảo Thái Bình.
Các thông tin đăng tải trên báo chí nói một chiếc tàu của hải quân Đài Loan đang mang pháo cao xạ nòng và súng cối từ cảng Cao Hùng đang trên đường ra Trường Sa và sẽ tới đảo Ba Bình trong tuần này.
Khoảng cách từ Cao Hùng tới Ba Bình là chừng 1.600km.
Tuy nhiên, Thiếu tướng La Thiệu Hòa không chịu xác nhận tin trên mà chỉ nói mọi việc "diễn ra theo đúng kế hoạch".
Đài Loan đã chuyển quyền phòng vệ đảo Ba Bình từ lực lượng thủy quân lục chiến sang lực lượng tuần duyên từ năm 2000.
Ba Bình là đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, hiện đang bị Đài Loan độc chiếm.” (hết trích)
Tại sao Bắc Kinh không phất cao lá cờ chủ nghĩa xã hội để đánh chiếm Đài Bắc y hệt như nămx ưa, khi ông Hồ xách động nhà nước Hà Nội xua lính vào Nam tàn sát chế độ Sài Gòn? Hay phải chăng Bắc Kinh và Đài Bắc trước giờ chỉ đánh cuội, vì không lẽ anh em huyết nhục tàn sát nhau như kiểu lính Hà Nội đòi “phanh thây, uống máu” lính Sài Gòn?
Bây giờ, Hà Nội lại có vẻ như đang đánh cuội với Bắc Kinh...
Bản tin Basamnews ghi nhận:
“ Độc giả H.N. méc, toàn bộ các bài tiếng Anh trên báo VietNamNet viết về căng thẳng giữa Việt Nam với Trung Quốc trên Biển Đông đã bị thay đổi nội dung. Cái tựa thì vẫn còn, nhưng nội dung bên trong được thay thế bằng các bài khác về văn hóa, thể thao, XHMT… không liên gì để chủ đề bài viết. Chẳng hạn như bài: VN lên án sự xâm phạm của TQ – VN condemns Chinese intrusion, nhưng nội dung bên trong được thay thế bằng bài: VN tuyên bố không có chất gây ung thư, độc hại trong sản xuất – Vietnam declares produce free from toxic carcinogen. Hay như bài này nói về vụ cắt cáp tàu Bình Minh 02 năm ngoái: Việt Nam yêu cầu TQ bồi thường – Vietnam demands China to pay compensation, thì nội dung bên trong được đổi thành bài: Cháy rừng vẫn tiếp diễn ở miền Đông Arizona, Hoa Kỳ: Wildfire continues unabated in Eastern Arizona, U.S.
BTV: Câu hỏi được đặt ra là, ai đã trực tiếp làm chuyện này? Phải chăng Trung Quốc đã tấn công vào máy chủ của VietNamNet rồi tự động thay nội dung hàng loạt bài viết lên án họ, mà những người quản trị mạng ở VietNamNet không biết, hay là có “nội gián” bên trong báo VietNamNet? Có lẽ các cơ quan chủ quản cần có một cuộc điều tra độc lập để trả lời câu hỏi này trước công luận. Ngoài ra, cũng cần điều tra thêm, liệu các tờ báo khác đã bị Trung Quốc xâm nhập hay chưa?” (hết trích)
Nỗi lo mất nước thật sự là có, nếu chúng ta đọc bài tựa đề Biển Đông Thật Giả của nhà phân tích Trần Minh Thảo hôm 8/8/2012 cũng trên mạng Basamnews. Bài viết trích như sau:
“Đối đầu giữa một số nước Asean với bành trướng Trung Nam Hải trên biển Đông là thật hay giả? Thật hay giả còn tuỳ từng quốc gia. Trung Quốc xâm lược là thật. Nguy cơ xảy ra chiến tranh giữa Trung Quốc và philippines là thật. Có không xung đột Việt – Trung trên biển Đông? Trung Quốc xâm lược biển Đông và âm mưu đặt ách đô hộ lên Việt Nam là thật. Âm mưu xâm lược kiểu diễn biến hoà bình, không tiếng súng, nhằm biến Việt Nam thành chư hầu kiểu mới là có thật. Cái không thật hoặc làm cho nhiều người trong và ngoài nước hoài nghi tính không thật của xung đột Việt – Trung là khi nhìn vào cách ứng xử của Đảng và Nhà nước Việt Nam trước ý đồ xâm lược của Trung Quốc.
Sau khi Campuchia thành công trong vai trò xung kích tay trong việc phá vỡ sự thống nhất của ASEAN về vấn đề biển Đông theo kịch bản của Trung Quốc thì lãnh đạo Campuchia vội sang thăm Việt Nam. Ít lâu sau, đại sứ Campuchia ở Philippines tuyên bố với báo chí Manila: Philippines và Việt Nam chơi trò chính trị bẩn trên biển Đông. Hai động tác ấy cho thấy Campuchia coi xung đột Trung – Phi là có thật, xung đột Việt – Trung là giả, tuy lần nào cũng đụng đến Việt Nam. Campuchia muốn gửi cho công luận một thông điệp: Tôi chỉ chống Philippines vì Phi chống Trung Quốc xâm lược thật lòng...” (hết trích)
Nếu Bắc Kinh và Hà Nội đánh cuội với nhau, vậy thì tại sao laị gây nỗi đau cho ngư dân Việt với những vụ đụng chìm tàu cá VN?
Hay bởi vì, trong nội bộ nhà nước Hà Nội cũng còn dằng dai 2 phe, giũa một phe muốn giữ vững độc lập VN và một phe đã đồng ý bán trọn gói cho Bắc Kinh từ lâu?
Hay chỉ vì, màn thương lượng còn dằng dai chưa xong?
Tác giả : Trần Khải
Đánh cuội là hành vi giả vờ đánh... nhưng thực sự là móc nối để đánh trình diễn thôi, chứ không phải đánh thật. Câu hỏi nơi đây là: có phải chính phủ Hà Nội lên võ đài trình diễn với Bắc Kinh, chỉ đánh cuội chứng không phải đánh thật?
Bất kể là phải trả giá bằng lãnh thổ, lãnh hải, biên giới biển đảo?
Một diễn biến hôm Thứ Tứ, là Hải Quân Ấn Độ từ chối can thiệp vào vùng biển Đông của VN. Có thể chỉ vì Ấn Độ nhìn thấy mịt mù sương khói Thái Bình Dương, không tin ngay cả cái gọi là “phe ta”?
Báo India Today hôm 8/8/2012 ghi lời Đô Đốc Nirmal Verma, Tư Lệnh Hải Quân Ấn Độ, rằng Hải Quân Ấn Độ sẽ không can thiệp vào vùng biển Đông của VN, vì còn bận nhiều chuyện ở Ấn Độ Dương.
Verma nói như thế hôm Thứ Ba, nhưng thêm rằng ông hy vọng tuyến đường hàng hải quốc tế sẽ không bị cản trở ở Biển Đông.
Trong khi đó, Đài Loan cho biết sẽ dính sâu vào Biển Đông. Tuy nhiên, người ta thấy rằng Bắc Kinh và Đài Bắc chỉ là giả vờ căng thẳng thôi, vì họ vẫn xem vùng Biển Đông là tài sản của dân tộc Trung Hoa, bất kể là của chế độ cộng sản Bắc Kinh hay tư bản chủ nghĩa Đài Bắc.
Bản tin BBC cho biết:
“Bộ Quốc phòng Đài Loan vừa tuyên bố tăng cường hiện diện quân sự trên đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa.
Hành động này chắc chắn sẽ gặp phản ứng tức giận và quan ngại từ các nước cũng tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này, trước hết là Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam tuy vậy chưa có phát biểu gì về quyết định được loan báo hôm thứ Ba 7/8.
Thiếu tướng La Thiệu Hòa, Người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Đài Loan nói bộ này hiện đang hợp tác với cơ quan tuần duyên để nâng cao khả năng phòng thủ trên đảo Ba Bình, mà Đài Loan gọi là đảo Thái Bình.
Các thông tin đăng tải trên báo chí nói một chiếc tàu của hải quân Đài Loan đang mang pháo cao xạ nòng và súng cối từ cảng Cao Hùng đang trên đường ra Trường Sa và sẽ tới đảo Ba Bình trong tuần này.
Khoảng cách từ Cao Hùng tới Ba Bình là chừng 1.600km.
Tuy nhiên, Thiếu tướng La Thiệu Hòa không chịu xác nhận tin trên mà chỉ nói mọi việc "diễn ra theo đúng kế hoạch".
Đài Loan đã chuyển quyền phòng vệ đảo Ba Bình từ lực lượng thủy quân lục chiến sang lực lượng tuần duyên từ năm 2000.
Ba Bình là đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, hiện đang bị Đài Loan độc chiếm.” (hết trích)
Tại sao Bắc Kinh không phất cao lá cờ chủ nghĩa xã hội để đánh chiếm Đài Bắc y hệt như nămx ưa, khi ông Hồ xách động nhà nước Hà Nội xua lính vào Nam tàn sát chế độ Sài Gòn? Hay phải chăng Bắc Kinh và Đài Bắc trước giờ chỉ đánh cuội, vì không lẽ anh em huyết nhục tàn sát nhau như kiểu lính Hà Nội đòi “phanh thây, uống máu” lính Sài Gòn?
Bây giờ, Hà Nội lại có vẻ như đang đánh cuội với Bắc Kinh...
Bản tin Basamnews ghi nhận:
“ Độc giả H.N. méc, toàn bộ các bài tiếng Anh trên báo VietNamNet viết về căng thẳng giữa Việt Nam với Trung Quốc trên Biển Đông đã bị thay đổi nội dung. Cái tựa thì vẫn còn, nhưng nội dung bên trong được thay thế bằng các bài khác về văn hóa, thể thao, XHMT… không liên gì để chủ đề bài viết. Chẳng hạn như bài: VN lên án sự xâm phạm của TQ – VN condemns Chinese intrusion, nhưng nội dung bên trong được thay thế bằng bài: VN tuyên bố không có chất gây ung thư, độc hại trong sản xuất – Vietnam declares produce free from toxic carcinogen. Hay như bài này nói về vụ cắt cáp tàu Bình Minh 02 năm ngoái: Việt Nam yêu cầu TQ bồi thường – Vietnam demands China to pay compensation, thì nội dung bên trong được đổi thành bài: Cháy rừng vẫn tiếp diễn ở miền Đông Arizona, Hoa Kỳ: Wildfire continues unabated in Eastern Arizona, U.S.
BTV: Câu hỏi được đặt ra là, ai đã trực tiếp làm chuyện này? Phải chăng Trung Quốc đã tấn công vào máy chủ của VietNamNet rồi tự động thay nội dung hàng loạt bài viết lên án họ, mà những người quản trị mạng ở VietNamNet không biết, hay là có “nội gián” bên trong báo VietNamNet? Có lẽ các cơ quan chủ quản cần có một cuộc điều tra độc lập để trả lời câu hỏi này trước công luận. Ngoài ra, cũng cần điều tra thêm, liệu các tờ báo khác đã bị Trung Quốc xâm nhập hay chưa?” (hết trích)
Nỗi lo mất nước thật sự là có, nếu chúng ta đọc bài tựa đề Biển Đông Thật Giả của nhà phân tích Trần Minh Thảo hôm 8/8/2012 cũng trên mạng Basamnews. Bài viết trích như sau:
“Đối đầu giữa một số nước Asean với bành trướng Trung Nam Hải trên biển Đông là thật hay giả? Thật hay giả còn tuỳ từng quốc gia. Trung Quốc xâm lược là thật. Nguy cơ xảy ra chiến tranh giữa Trung Quốc và philippines là thật. Có không xung đột Việt – Trung trên biển Đông? Trung Quốc xâm lược biển Đông và âm mưu đặt ách đô hộ lên Việt Nam là thật. Âm mưu xâm lược kiểu diễn biến hoà bình, không tiếng súng, nhằm biến Việt Nam thành chư hầu kiểu mới là có thật. Cái không thật hoặc làm cho nhiều người trong và ngoài nước hoài nghi tính không thật của xung đột Việt – Trung là khi nhìn vào cách ứng xử của Đảng và Nhà nước Việt Nam trước ý đồ xâm lược của Trung Quốc.
Sau khi Campuchia thành công trong vai trò xung kích tay trong việc phá vỡ sự thống nhất của ASEAN về vấn đề biển Đông theo kịch bản của Trung Quốc thì lãnh đạo Campuchia vội sang thăm Việt Nam. Ít lâu sau, đại sứ Campuchia ở Philippines tuyên bố với báo chí Manila: Philippines và Việt Nam chơi trò chính trị bẩn trên biển Đông. Hai động tác ấy cho thấy Campuchia coi xung đột Trung – Phi là có thật, xung đột Việt – Trung là giả, tuy lần nào cũng đụng đến Việt Nam. Campuchia muốn gửi cho công luận một thông điệp: Tôi chỉ chống Philippines vì Phi chống Trung Quốc xâm lược thật lòng...” (hết trích)
Nếu Bắc Kinh và Hà Nội đánh cuội với nhau, vậy thì tại sao laị gây nỗi đau cho ngư dân Việt với những vụ đụng chìm tàu cá VN?
Hay bởi vì, trong nội bộ nhà nước Hà Nội cũng còn dằng dai 2 phe, giũa một phe muốn giữ vững độc lập VN và một phe đã đồng ý bán trọn gói cho Bắc Kinh từ lâu?
Hay chỉ vì, màn thương lượng còn dằng dai chưa xong?
Bỏ Cộng cứu nước
Ngô Nhân Dụng
Bài Giải Cộng Nhi Thoát của Hà Sĩ Phu mới được công bố có thể gửi ngay cho các đảng viên cộng sản Việt Nam để giúp họ tự thoát khỏi những sai lầm, những điều mê hoặc được cố kết từ lâu nên rất khó tự mình cởi bỏ.
Ðây là những lời tâm huyết, lý luận chặt chẽ, nhắm vào lương tri và lương tâm của những ai còn đang suy nghĩ, lo lắng cho tương lai dân tộc.
Giải là cởi trói. Có cởi bỏ chủ nghĩa Cộng sản thì mới thoát được. Không phải chỉ giải thoát cho các cá nhân các đảng viên cộng sản; mà là cứu dân tộc thoát khỏi mối đe dọa của chính quyền Trung Quốc. Chính quyền đó do một đảng cộng sản cầm đầu nên chúng ta gọi là Trung Cộng. Thời chiến tranh, miền Nam đã đưa ra khẩu hiệu “Diệt Cộng cứu nước.” Bây giờ, mục tiêu của dân tộc Việt Nam không phải là tiêu diệt những người theo cộng sản. Dân Việt Nam chỉ cần xóa bỏ một chế độ độc tài tham nhũng đang nhân danh chủ nghĩa Cộng sản để tiếp tục đàn áp dân trong khi nhu nhược, hèn yếu trước áp lực xâm lấn của Trung Cộng. Muốn xóa bỏ chế độ đó, trước hết phải giúp cho chính các đảng viên cộng sản tự cởi trói lấy, tự giải mê cho họ.
Bài nhận định của Hà Sĩ Phu có mục đích đó. Ngay từ đầu ông đã nói đến lá thư của nhà văn Phạm Ðình Trọng gửi cho những đảng viên vẫn còn lưu luyến với Chủ nghĩa Cộng sản. Phạm Ðình Trọng muốn thuyết phục các đồng chí cũ phải biết một sự thật, là: “Chủ nghĩa Cộng sản mà học thuyết Mác-Lê vạch đường là một chủ nghĩa sai lầm, chỉ gây ra tội lỗi với đất nước, không thể sửa chữa mà chỉ có cách duy nhất là xóa bỏ tận gốc.” Rất nhiều người đã nêu ra điều đó trong không biết bao nhiêu bài viết từ lâu rồi. Hà Sĩ Phu đã làm một bản tổng kết các ý kiến được viết từ lâu nay, và ông nhấn mạnh đến một nhu cầu cần thiết của đất nước ngay bây giờ. Là phải xóa bỏ ngay cái chế độ đang còn tôn thờ Chủ nghĩa Cộng sản. Vì chỉ xóa bỏ chế độ tham tàn đó, mới giải thoát được dân tộc qua tình trạng nguy hiểm trước mối đe dọa của đế quốc Trung Cộng.
Chắc chắn quý vị phải đọc kỹ bài viết của Hà Sĩ Phu, và gửi cho tất cả các đảng viên cộng sản mà quý vị biết, để giúp họ tự cởi trói. Không phải chỉ vì muốn giúp họ, mà vì tương lai dân tộc. Hà Sĩ Phu là người đầu tiên ở nước ta đã dùng ngòi bút sắc bén trình bày những sai lầm của chủ nghĩa Mác xít; trước khi các chính quyền cộng sản ở Châu Âu sụp đổ. Từ đó, trong ba chục năm nay, ông đã bị đảng Cộng sản Việt Nam bỏ tù, quản thúc; đời sống hàng ngày của ông và gia đình luôn luôn bị đặt dưới các thủ đoạn sách nhiễu hăm dọa của guồng máy công an. Bài viết mới của ông sẽ là cái đinh cuối cùng đóng trên chiếc quan tài của Chủ nghĩa Cộng sản và chế độ cộng sản tại Việt Nam. Ông báo động: “Nay quân xâm lược đã riễu binh đến sát cửa nhà, thậm chí vào rất sâu trong nội tình, nội địa.” Vì thế phải giải Cộng, vì theo ông “Chừng nào còn giữ chế độ gọi là ‘Xã hội chủ nghĩa’ bên cạnh anh Cộng sản khổng lồ Trung Quốc, thì họa mất nước là thường trực.” Hà Sĩ Phu đã trình bày đầy đủ, rõ ràng, rành mạch, những lý luận vững vàng để giúp người đọc thấy hai sự thật trên. Ngày xưa Phùng Quán đã thề: “Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá.” Với bài tham luận này, Hà Sĩ Phu đã viết văn lên đá. Những đảng viên cộng sản còn giữ được lòng yêu nước, mà không bị trói chặt về địa vị, quyền lợi riêng, không bị che mắt vì ngã mạn hẹp hòi, đọc kỹ bài này xong sẽ phải quyết định ra khỏi đảng. Họ có thể làm nên lịch sử, nếu gây được một phong trào đảng viên bỏ đảng. Trong ba triệu đảng viên chỉ cần một trăm người bắt đầu công khai bỏ đảng thì sẽ lôi kéo hàng ngàn người khác ngay. Ngàn người này sẽ khích lệ nhiều ngàn người khác dứt khoát. Khi mỗi thành phố có một trăm, hai trăm người đứng ra đốt, xé thẻ đảng trước công chúng, thì nhân dân sẽ hết sợ công an. Người dân sẽ được giải thoát.
Hà Sĩ Phu vạch rõ tình trạng hiện nay, từ trên xuống dưới các đảng viên cộng sản đang đóng tuồng giả dối với nhau. Trên thì biết cả cái chủ nghĩa, tư tưởng của đảng là rỗng tuếch, nhưng cứ phải bám lấy để giữ quyền hành. Dưới thì biết bên trên đóng kịch nhưng cũng giả bộ tin để được chia chác lợi lộc nhờ tham nhũng. Giống trong truyện cổ tích kể chuyện ông vua không mặc quần mà các tay chân bộ hạ vẫn xun xoe nịnh vua mang cái quần đẹp quá! Hai bên cùng nói dối vì cần cấu kết với nhau để bám lấy quyền lợi, địa vị. Chúng đàn áp tất cả các ý kiến và hành vi phản kháng dù chỉ phản đối hết sức ôn hòa. Hà Sĩ Phu nói thẳng tình trạng “Uy tín không còn, chính danh không còn, ngai vàng còn giữ được nhờ hết vào đội KIÊU BINH khổng lồ, rải khắp hang cùng ngõ hẻm.” Ông nói sự thật, “Kiêu binh vừa gắn chặt với Ðảng của xã hội đỏ lại vừa công khai đi sóng đôi với côn đồ của xã hội đen trước thanh thiên bạch nhật...”
Người Việt Nam nào có mắt đều phải thấy mình đang phải sống trong tình cảnh đó. Nhưng người dân cũng không dám nói sự thật “Ông Vua không mặc quần.” Người dân Việt Nam cũng biết, như Hà Sĩ Phu viết: “Trò xiếc dối trá lẫn nhau, cố giữ bộ mặt đúng quy cách ấy không thể kéo dài mãi. Phía vua quan đã ‘khỏa thân tới số’ thì dân chúng còn cung kính giả vờ sao được?” Cho nên trên các blog người ta đã gọi thẳng Hồ Chí Minh bằng cái tên “Ku Nghệ!”
Trong bài mới công bố của Hà Sĩ Phu, phần có trọng lượng nhất vạch rõ âm mưu thôn tính nước Việt Nam của đảng Cộng sản Trung Quốc. Âm mưu này được thực hiện từ năm 1950, khi Hồ Chí Minh cầu viện Trung Cộng; Hà Sĩ Phu phân tích: “Sự xuất hiện trào lưu Quốc tế Cộng sản hoang tưởng đã cung cấp cho Trung Quốc một cơ hội bằng vàng. Họ tận dụng những đặc trưng của Cộng sản để đưa con mồi vào lưới. Con mồi tự tìm đến cái bẫy, nhưng bị tấm màn ‘quốc tế đại đồng’ che mắt, nhìn cái bẫy thành chốn ruột thịt nương thân.” Ðến nay, Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tự tìm chui vào bẫy, “cả những 16 chữ vàng, quan hệ 4 tốt, và cuộc thi ca khúc Việt-Trung và lời kêu gọi tri ân kẻ xâm lược cũng trở nên trơ trẽn, hèn hạ không thể chấp nhận.” Còn phía Trung Cộng, họ hành động ngày càng trắng trợn, như thể họ công nhiên thách thức: “Ông vô lý, ông tàn bạo, ông ngang ngược thế đấy, ông cứ làm trái ý dân, cứ làm trái công pháp quốc tế thế đấy, làm gì được ông?”
Xưa nay Cộng sản mạnh vì họ dối trá giỏi. Những lời dối trá còn di họa tới ngày nay; cần phải giúp chính các đảng viên ít hiểu biết thấy sự thật. Nhiều luận điệu cũ rích vẫn ám ảnh họ, cần được cởi trói. Như Hà Sĩ Phu nêu ra, một luận điệu quen thuộc: “Ðảng không ưu việt sao đánh được Pháp, được Mỹ?” Và ông chỉ rõ: Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam được đội lốt dưới chiêu bài yêu nước. Sức mạnh là do người Việt được kích thích bằng lòng yêu nước, không biết mình đang hy sinh cho một chủ nghĩa quốc tế, bất cần quốc gia. Ðảng Cộng sản biết lợi dụng lòng yêu nước của dân Việt Nam để cướp lấy chính quyền, thực hiện giấc mơ hoang đường của Marx, Lenin, vì bắt toàn dân Việt Nam thế rơi vào cái bẫy của đế quốc Mao Trạch Ðông.
Một thứ luận điệu tương tự, là trong thời 1945 đảng Cộng sản phải cướp chính quyền vì “lúc đó ai là người lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn đó, lãnh đạo nhân dân đánh đuổi kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước tiến bộ như ngày hôm nay?”
Sự thật là: Năm 1945 Việt Nam đã có một chính phủ, mặc dù do người Nhật giúp dựng lên nhưng toàn những người yêu nước và có khả năng giúp nước. Trước khi Nhật bại trận, đã có rất nhiều đảng phái “quốc gia” tức là không theo chủ nghĩa cộng sản quốc tế, cùng đấu tranh giành độc lập, chống Nhật, chống Pháp. Ðảng Cộng sản Việt Nam đã tìm cách ký kết thỏa hiệp với quân Pháp để tiêu diệt các đảng phái quốc gia, Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Duy Dân, vân vân, lên tiếng tố cáo Hồ Chí Minh đi đêm với Pháp, với Tàu, cho nên bị đảng Cộng sản tìm mọi cách thủ tiêu. Trong những năm 1945-46, Hồ Chí Minh theo Ðệ Tam Quốc Tế nên đã giết những người yêu nước như Trương Tử Anh (Ðại Việt), Lý Ðông A (Duy Dân), Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch (Cộng Sản Ðệ Tứ), học giả Phạm Quỳnh, các nhà văn Khái Hưng, Nhượng Tống (Quốc Dân Ðảng), và biết bao nhiêu người yêu nước theo khuynh hướng“quốc gia” khác, trước khi phải chống Pháp vì không thỏa hiệp được. Mục đích của họ là chiếm “độc quyền” lãnh đạo nước Việt Nam để thực hiện chủ nghĩa cộng sản.
Một sự thật cần được vạch rõ là sau khi Ðại Chiến Thứ Hai chấm dứt, trên thế giới các dân tộc bị trị đều vùng lên. Tất cả cuối cùng đều giành được độc lập, mà không cần có đảng cộng sản nào cầm đầu cả. Chỉ có nước Việt Nam bất hạnh rơi vào tay cộng sản, mối họa đó kéo dài cho tới bây giờ.
Bây giờ ai còn nói đảng Cộng sản “xây dựng đất nước tiến bộ” thì đúng là đang chui đầu trong bùn đen không trông thấy gì cả! Cứ nhìn vào tình cảnh hiện nay ở nước Việt Nam mà so sánh với các nước Á Ðông khác thì biết. Các nước Phi Luật Tân, Indonesia, Thái Lan, Nam Hàn, Mã Lai, Ðài Loan, có dân nước nào nghèo nàn và chịu nhục nhã như nước mình hay không?
Tất cả những lời dối trá, mê hoặc như các luận điệu kể trên sẽ được giải mê khi bộ mặt thật của chế độ cộng sản bị phơi bày. Một trong những người đóng góp lớn cho công việc giải mê này trong gần 30 năm qua là Hà Sĩ Phu. Các bạn trẻ ở trong và ngoài nước có thể đọc bài viết mới của ông trong nhiều lần, mỗi lần một đoạn, mỗi lần lại thảo luận và nhờ những người lớn tuổi có hiểu biết giúp giải thích thêm cho rõ.
Ngô Nhân Dụng
Bài Giải Cộng Nhi Thoát của Hà Sĩ Phu mới được công bố có thể gửi ngay cho các đảng viên cộng sản Việt Nam để giúp họ tự thoát khỏi những sai lầm, những điều mê hoặc được cố kết từ lâu nên rất khó tự mình cởi bỏ.
Ðây là những lời tâm huyết, lý luận chặt chẽ, nhắm vào lương tri và lương tâm của những ai còn đang suy nghĩ, lo lắng cho tương lai dân tộc.
Giải là cởi trói. Có cởi bỏ chủ nghĩa Cộng sản thì mới thoát được. Không phải chỉ giải thoát cho các cá nhân các đảng viên cộng sản; mà là cứu dân tộc thoát khỏi mối đe dọa của chính quyền Trung Quốc. Chính quyền đó do một đảng cộng sản cầm đầu nên chúng ta gọi là Trung Cộng. Thời chiến tranh, miền Nam đã đưa ra khẩu hiệu “Diệt Cộng cứu nước.” Bây giờ, mục tiêu của dân tộc Việt Nam không phải là tiêu diệt những người theo cộng sản. Dân Việt Nam chỉ cần xóa bỏ một chế độ độc tài tham nhũng đang nhân danh chủ nghĩa Cộng sản để tiếp tục đàn áp dân trong khi nhu nhược, hèn yếu trước áp lực xâm lấn của Trung Cộng. Muốn xóa bỏ chế độ đó, trước hết phải giúp cho chính các đảng viên cộng sản tự cởi trói lấy, tự giải mê cho họ.
Bài nhận định của Hà Sĩ Phu có mục đích đó. Ngay từ đầu ông đã nói đến lá thư của nhà văn Phạm Ðình Trọng gửi cho những đảng viên vẫn còn lưu luyến với Chủ nghĩa Cộng sản. Phạm Ðình Trọng muốn thuyết phục các đồng chí cũ phải biết một sự thật, là: “Chủ nghĩa Cộng sản mà học thuyết Mác-Lê vạch đường là một chủ nghĩa sai lầm, chỉ gây ra tội lỗi với đất nước, không thể sửa chữa mà chỉ có cách duy nhất là xóa bỏ tận gốc.” Rất nhiều người đã nêu ra điều đó trong không biết bao nhiêu bài viết từ lâu rồi. Hà Sĩ Phu đã làm một bản tổng kết các ý kiến được viết từ lâu nay, và ông nhấn mạnh đến một nhu cầu cần thiết của đất nước ngay bây giờ. Là phải xóa bỏ ngay cái chế độ đang còn tôn thờ Chủ nghĩa Cộng sản. Vì chỉ xóa bỏ chế độ tham tàn đó, mới giải thoát được dân tộc qua tình trạng nguy hiểm trước mối đe dọa của đế quốc Trung Cộng.
Chắc chắn quý vị phải đọc kỹ bài viết của Hà Sĩ Phu, và gửi cho tất cả các đảng viên cộng sản mà quý vị biết, để giúp họ tự cởi trói. Không phải chỉ vì muốn giúp họ, mà vì tương lai dân tộc. Hà Sĩ Phu là người đầu tiên ở nước ta đã dùng ngòi bút sắc bén trình bày những sai lầm của chủ nghĩa Mác xít; trước khi các chính quyền cộng sản ở Châu Âu sụp đổ. Từ đó, trong ba chục năm nay, ông đã bị đảng Cộng sản Việt Nam bỏ tù, quản thúc; đời sống hàng ngày của ông và gia đình luôn luôn bị đặt dưới các thủ đoạn sách nhiễu hăm dọa của guồng máy công an. Bài viết mới của ông sẽ là cái đinh cuối cùng đóng trên chiếc quan tài của Chủ nghĩa Cộng sản và chế độ cộng sản tại Việt Nam. Ông báo động: “Nay quân xâm lược đã riễu binh đến sát cửa nhà, thậm chí vào rất sâu trong nội tình, nội địa.” Vì thế phải giải Cộng, vì theo ông “Chừng nào còn giữ chế độ gọi là ‘Xã hội chủ nghĩa’ bên cạnh anh Cộng sản khổng lồ Trung Quốc, thì họa mất nước là thường trực.” Hà Sĩ Phu đã trình bày đầy đủ, rõ ràng, rành mạch, những lý luận vững vàng để giúp người đọc thấy hai sự thật trên. Ngày xưa Phùng Quán đã thề: “Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá.” Với bài tham luận này, Hà Sĩ Phu đã viết văn lên đá. Những đảng viên cộng sản còn giữ được lòng yêu nước, mà không bị trói chặt về địa vị, quyền lợi riêng, không bị che mắt vì ngã mạn hẹp hòi, đọc kỹ bài này xong sẽ phải quyết định ra khỏi đảng. Họ có thể làm nên lịch sử, nếu gây được một phong trào đảng viên bỏ đảng. Trong ba triệu đảng viên chỉ cần một trăm người bắt đầu công khai bỏ đảng thì sẽ lôi kéo hàng ngàn người khác ngay. Ngàn người này sẽ khích lệ nhiều ngàn người khác dứt khoát. Khi mỗi thành phố có một trăm, hai trăm người đứng ra đốt, xé thẻ đảng trước công chúng, thì nhân dân sẽ hết sợ công an. Người dân sẽ được giải thoát.
Hà Sĩ Phu vạch rõ tình trạng hiện nay, từ trên xuống dưới các đảng viên cộng sản đang đóng tuồng giả dối với nhau. Trên thì biết cả cái chủ nghĩa, tư tưởng của đảng là rỗng tuếch, nhưng cứ phải bám lấy để giữ quyền hành. Dưới thì biết bên trên đóng kịch nhưng cũng giả bộ tin để được chia chác lợi lộc nhờ tham nhũng. Giống trong truyện cổ tích kể chuyện ông vua không mặc quần mà các tay chân bộ hạ vẫn xun xoe nịnh vua mang cái quần đẹp quá! Hai bên cùng nói dối vì cần cấu kết với nhau để bám lấy quyền lợi, địa vị. Chúng đàn áp tất cả các ý kiến và hành vi phản kháng dù chỉ phản đối hết sức ôn hòa. Hà Sĩ Phu nói thẳng tình trạng “Uy tín không còn, chính danh không còn, ngai vàng còn giữ được nhờ hết vào đội KIÊU BINH khổng lồ, rải khắp hang cùng ngõ hẻm.” Ông nói sự thật, “Kiêu binh vừa gắn chặt với Ðảng của xã hội đỏ lại vừa công khai đi sóng đôi với côn đồ của xã hội đen trước thanh thiên bạch nhật...”
Người Việt Nam nào có mắt đều phải thấy mình đang phải sống trong tình cảnh đó. Nhưng người dân cũng không dám nói sự thật “Ông Vua không mặc quần.” Người dân Việt Nam cũng biết, như Hà Sĩ Phu viết: “Trò xiếc dối trá lẫn nhau, cố giữ bộ mặt đúng quy cách ấy không thể kéo dài mãi. Phía vua quan đã ‘khỏa thân tới số’ thì dân chúng còn cung kính giả vờ sao được?” Cho nên trên các blog người ta đã gọi thẳng Hồ Chí Minh bằng cái tên “Ku Nghệ!”
Trong bài mới công bố của Hà Sĩ Phu, phần có trọng lượng nhất vạch rõ âm mưu thôn tính nước Việt Nam của đảng Cộng sản Trung Quốc. Âm mưu này được thực hiện từ năm 1950, khi Hồ Chí Minh cầu viện Trung Cộng; Hà Sĩ Phu phân tích: “Sự xuất hiện trào lưu Quốc tế Cộng sản hoang tưởng đã cung cấp cho Trung Quốc một cơ hội bằng vàng. Họ tận dụng những đặc trưng của Cộng sản để đưa con mồi vào lưới. Con mồi tự tìm đến cái bẫy, nhưng bị tấm màn ‘quốc tế đại đồng’ che mắt, nhìn cái bẫy thành chốn ruột thịt nương thân.” Ðến nay, Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tự tìm chui vào bẫy, “cả những 16 chữ vàng, quan hệ 4 tốt, và cuộc thi ca khúc Việt-Trung và lời kêu gọi tri ân kẻ xâm lược cũng trở nên trơ trẽn, hèn hạ không thể chấp nhận.” Còn phía Trung Cộng, họ hành động ngày càng trắng trợn, như thể họ công nhiên thách thức: “Ông vô lý, ông tàn bạo, ông ngang ngược thế đấy, ông cứ làm trái ý dân, cứ làm trái công pháp quốc tế thế đấy, làm gì được ông?”
Xưa nay Cộng sản mạnh vì họ dối trá giỏi. Những lời dối trá còn di họa tới ngày nay; cần phải giúp chính các đảng viên ít hiểu biết thấy sự thật. Nhiều luận điệu cũ rích vẫn ám ảnh họ, cần được cởi trói. Như Hà Sĩ Phu nêu ra, một luận điệu quen thuộc: “Ðảng không ưu việt sao đánh được Pháp, được Mỹ?” Và ông chỉ rõ: Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam được đội lốt dưới chiêu bài yêu nước. Sức mạnh là do người Việt được kích thích bằng lòng yêu nước, không biết mình đang hy sinh cho một chủ nghĩa quốc tế, bất cần quốc gia. Ðảng Cộng sản biết lợi dụng lòng yêu nước của dân Việt Nam để cướp lấy chính quyền, thực hiện giấc mơ hoang đường của Marx, Lenin, vì bắt toàn dân Việt Nam thế rơi vào cái bẫy của đế quốc Mao Trạch Ðông.
Một thứ luận điệu tương tự, là trong thời 1945 đảng Cộng sản phải cướp chính quyền vì “lúc đó ai là người lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn đó, lãnh đạo nhân dân đánh đuổi kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước tiến bộ như ngày hôm nay?”
Sự thật là: Năm 1945 Việt Nam đã có một chính phủ, mặc dù do người Nhật giúp dựng lên nhưng toàn những người yêu nước và có khả năng giúp nước. Trước khi Nhật bại trận, đã có rất nhiều đảng phái “quốc gia” tức là không theo chủ nghĩa cộng sản quốc tế, cùng đấu tranh giành độc lập, chống Nhật, chống Pháp. Ðảng Cộng sản Việt Nam đã tìm cách ký kết thỏa hiệp với quân Pháp để tiêu diệt các đảng phái quốc gia, Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Duy Dân, vân vân, lên tiếng tố cáo Hồ Chí Minh đi đêm với Pháp, với Tàu, cho nên bị đảng Cộng sản tìm mọi cách thủ tiêu. Trong những năm 1945-46, Hồ Chí Minh theo Ðệ Tam Quốc Tế nên đã giết những người yêu nước như Trương Tử Anh (Ðại Việt), Lý Ðông A (Duy Dân), Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch (Cộng Sản Ðệ Tứ), học giả Phạm Quỳnh, các nhà văn Khái Hưng, Nhượng Tống (Quốc Dân Ðảng), và biết bao nhiêu người yêu nước theo khuynh hướng“quốc gia” khác, trước khi phải chống Pháp vì không thỏa hiệp được. Mục đích của họ là chiếm “độc quyền” lãnh đạo nước Việt Nam để thực hiện chủ nghĩa cộng sản.
Một sự thật cần được vạch rõ là sau khi Ðại Chiến Thứ Hai chấm dứt, trên thế giới các dân tộc bị trị đều vùng lên. Tất cả cuối cùng đều giành được độc lập, mà không cần có đảng cộng sản nào cầm đầu cả. Chỉ có nước Việt Nam bất hạnh rơi vào tay cộng sản, mối họa đó kéo dài cho tới bây giờ.
Bây giờ ai còn nói đảng Cộng sản “xây dựng đất nước tiến bộ” thì đúng là đang chui đầu trong bùn đen không trông thấy gì cả! Cứ nhìn vào tình cảnh hiện nay ở nước Việt Nam mà so sánh với các nước Á Ðông khác thì biết. Các nước Phi Luật Tân, Indonesia, Thái Lan, Nam Hàn, Mã Lai, Ðài Loan, có dân nước nào nghèo nàn và chịu nhục nhã như nước mình hay không?
Tất cả những lời dối trá, mê hoặc như các luận điệu kể trên sẽ được giải mê khi bộ mặt thật của chế độ cộng sản bị phơi bày. Một trong những người đóng góp lớn cho công việc giải mê này trong gần 30 năm qua là Hà Sĩ Phu. Các bạn trẻ ở trong và ngoài nước có thể đọc bài viết mới của ông trong nhiều lần, mỗi lần một đoạn, mỗi lần lại thảo luận và nhờ những người lớn tuổi có hiểu biết giúp giải thích thêm cho rõ.
THƯ CẢNH BÁO NHÀ NƯỚC VÀ ĐẢNG CSVN
DO CÁC NHÂN SĨ, TRÍ THỨC VN LÊN TIẾNG
Hà Nội, 6 tháng 8 năm 2012
THƯ NGỎ CẢNH BÁO
Gửi tới:
- Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam
- Chủ tịch và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
- Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam
Trước đây, một nhóm Nhân sĩ, Trí thức Việt Nam đã tham gia ký và gửi tới lãnh đạo Nhà nước và Đảng bản kiến nghị ngày 10-07-2011 về "Bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay" (dưới đây gọi tắt là kiến nghị 7-11) và bản ý kiến về "Cải cách toàn diện để phát triển đất nước" ngày 08-09-2011 (gọi tắt là ý kiến 9-11). Nhưng những kiến nghị và ý kiến ấy của người Dân đã không được Nhà Nước và đảng CSVN quan tâm tới, thậm chí có thể hiểu rằng Nhà Nước và đảng CSVN đã cho chúng vào sọt rác. Nay, trước việc tăng cường thực hiện xâm lăng cụ thể của Trung quốc, không những trên đất liền của Lãnh thổ Việt Nam mà nhất là đối với Hoàng Sa, Trường Sa và những vùng Biển của Việt Nam với những tài nguyên dưới Biển, và trước tình trạng suy thoái Kinh tế cũng như Nhân quyền trong nước, chúng tôi buộc lòng phải gửi THƯ NGỎ CẢNH BÁO Nhà Nước và Đảng CSVN, chứ không phải chỉ là kiến nghị hay góp thêm ý kiến nữa. THƯ NGỎ mang tính cách CẢNH BÁO bởi vì một khi mà người Dân thấy Nhà Nước và Đảng CSVN như tiếp tay cho xâm lăng của Trung quốc và một khi mà người Dân phải chịu hậu quả nặng nề do Nhà Nước và Đảng CSVN bất lực trước suy thoái Kinh tế và Nhân quyền, thì lúc ấy toàn DÂN sẽ NỔI DẬY dù phải hy sinh thân thể trước sự cố thủ đàn áp bằng võ lực của Nhà Nước và Đảng CSVN.
1- Bản kiến nghị 7-11 và bản ý kiến 9-11 đều có chung nhận định: Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong việc thực hiện mưu đồ chiến lược bá quyền của họ, nhằm làm cho Việt Nam suy yếu, chịu khuất phục hay lệ thuộc vào Trung Quốc. Họ dùng nhiều thủ đoạn từ tinh vi đến trắng trợn để dụ dỗ, mua chuộc, thâm nhập, lũng đoạn, uy hiếp, lấn chiếm không chỉ trên Biển Đông mà còn trên nhiều địa bàn khác, không chỉ xâm phạm lãnh thổ, lãnh hải mà còn thâm nhập và gây hại về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; đồng thời tìm cách "chia để trị" các nước ASEAN.
Đúng như dự đoán, hơn một năm qua, Trung Quốc thực hiện những bước mới xâm phạm trắng trợn chủ quyền quốc gia, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của nước ta cũng như các quốc gia giáp Biển Đông. Họ ngang nhiên lập đơn vị hành chính có quân đồn trú ở nơi rất ít dân hòng cai quản vùng biển đảo rộng lớn không phải của mình, mời thầu thăm dò và khai thác dầu khí trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đưa tàu thuyền đánh cá cùng với tàu bán quân sự và quân sự hoạt động trên vùng này, đồng thời bức hại ngư dân ta đang hành nghề trên vùng biển thuộc chủ quyền và đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nhiều khả năng những hành động gây hấn của Trung Quốc sẽ còn tăng mức độ quyết liệt đi đôi với việc chuẩn bị dư luận và điều kiện cho bước leo thang nguy hiểm hơn, kể cả đe dọa gây chiến.
Chúng tôi hoan nghênh Luật Biển vừa được Quốc hội thông qua, tạo căn cứ pháp lý để bảo vệ, quản lý, phát triển kinh tế và hợp tác quốc tế đối với vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế. Nhưng liệu Luật Biển vừa được Quốc Hội Việt Nam thông qua có mang hiệu quả ngăn chặn được xâm lăng mang tính cách “cả vú lấp miệng em“, “cá lớn nuốt cá bé” theo Luật rừng Trung quốc, nhất nữa việc xâm lăng theo Luật rừng này lại được tiếp tay bởi những thành phần thuộc Nhà Nước và Đảng CSVN vì muốn nhờ thế lực của Trung quốc để bảo đảm quyền hành Chính trị cho mình tại Việt Nam.
Phản đối mạnh mẽ sự chiếm đoạt bằng vũ lực của Trung Quốc đối với các đảo vốn thuộc chủ quyền Việt Nam và các quốc gia khác ven biển, chúng ta kiên trì giải quyết tranh chấp với Trung Quốc bằng phương pháp hòa bình, tuân theo luật pháp quốc tế, nhưng nếu Trung quốc xâm lăng theo Luật rừng, thì toàn Dân Việt Nam, vốn thừa hưởng Ý chí đấu tranh để Sinh tồn của Tiền nhân, sẵn sàng chống cự lại dù phải đổ máu để bảo toàn Lãnh thổ. Chúng ta tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia khác ven Biển Đông, cùng nhau thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền trên biển, đặc biệt là đối với các đảo, bãi đá cùng với lãnh hải bao quanh theo đúng Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển. Theo ý kiến đề xuất của các nhà nghiên cứu ở một số nước, lúc này là thích hợp để các quốc gia ven biển Đông thống nhất tên gọi Biển Đông Nam Á thay cho cách gọi khác nhau của từng nước theo vị trí tiếp giáp biển. Đó là những giải pháp thiết thực để củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven biển, trong cuộc đấu tranh chống mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn biến vùng biển này thành ao nhà của mình.
Chúng tôi yêu cầu Nhà nước công bố trước nhân dân ta và nhân dân thế giới thực trạng quan hệ Việt – Trung; nêu rõ những căn cứ phù hợp với luật pháp quốc tế, có sức thuyết phục về chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo ở vùng Biển Đông để làm sáng tỏ chính nghĩa của nước ta; khẳng định thiện chí trước sau như một của nước ta xây dựng, gìn giữ quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng tốt với Trung Quốc, nhưng quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình. Nhân dịp này, Nhà nước ta cần giải thích trước toàn dân nội dung và lý do của công hàm mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958 về Biển Đông.
Đi đôi với việc tỏ rõ thái độ như trên, Nhà nước cần khuyến khích và tạo điều kiện phát huy năng lực của các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước, kể cả các nhà nghiên cứu quốc tế, trong việc sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu lịch sử và pháp lý về chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông. Các cơ quan chức năng của Nhà nước phối hợp với các nhà nghiên cứu hoàn chỉnh hồ sơ có đủ căn cứ lịch sử và cơ sở pháp lý, công bố rộng rãi để nhân dân ta, nhân dân Trung Quốc và dư luận thế giới hiểu rõ sự thật, không bị lừa mị hoặc rối trí bởi các luận điệu xuyên tạc, dối trá xuất phát từ mưu đồ bành trướng của Trung quốc.
Thực hiện tham vọng bá quyền và chính sách thực dân mới, nhà cầm quyền Trung Quốc ỷ vào sức mạnh kinh tế và quân sự, tìm cách đánh lừa dư luận, lẩn tránh luật pháp và công lý quốc tế, đang tự phơi bày bộ mặt thật, đồng thời lại phải đối mặt với những vấn đề chính trị nóng bỏng trong nước, như các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, chủng tộc và mâu thuẫn trong các tầng lớp lãnh đạo, nên thế cô lập về chính trị của họ trước thế giới càng sâu sắc thêm.
Nhiều quốc gia trên thế giới mong đợi Việt Nam tự lực, tự cường, thoát khỏi vòng kiềm tỏa, chi phối của Trung Quốc, cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới hợp thành sức mạnh ngăn chặn và làm thất bại mọi mưu đồ bành trướng của Trung Quốc.
Trong bối cảnh này, chúng ta cần nỗ lực tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, sáng suốt lựa chọn các đối tác chiến lược vì lợi ích của dân tộc và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
2- Đi đôi với tăng cường quốc phòng, chuẩn bị đối phó với mọi tình huống có thể xẩy ra, chúng ta cần phát huy thế mạnh cơ bản là ý chí độc lập, tự chủ được hun đúc từ lòng yêu nước của nhân dân ta và sự ủng hộ quốc tế đối với nước ta. Chúng tôi đã đề xuất mấy giải pháp chính là tiến hành cải cách sâu sắc, toàn diện về chính trị, tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh cải cách các lĩnh vực khác, nhất là lĩnh vực kinh tế, một lĩnh vực thiết thân của đại đa số quần chúng. Điều quan trọng của việc cải cách lĩnh vực kinh tế là chính trị hãy tách rời khỏi kinh tế; chính trị , nhất là độc tài, đừng khư khư nắm “chủ đạo“ kinh tế mà tham nhũng, lãng phí.
Nội dung cải cách chính trị nhằm trước hết đổi mới căn bản thể chế lãnh đạo và quản lý của bộ máy công quyền, bảo đảm thực hiện các quyền tự do, dân chủ của dân, nhằm phát huy ý chí và năng lực của nhân dân, tăng cường đại đoàn kết dân tộc vì sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng và làm trong sạch bộ máy công quyền. Để có thể thực hiện việc cải cách Chính trị như trên, nước ta cần phải chấp nhận đa nguyên đa đảng
Nhân dân ta rất đòi hỏi việc sửa đổi Hiến pháp để tạo cơ sở cải cách thể chế chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền. Vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận và có kết luận về sửa đổi Hiến pháp (và về Luật đất đai); yêu cầu Bộ Chính trị tuyên bố rõ là việc này không cản trở nhân dân và cán bộ, đảng viên tiếp tục góp ý kiến về vấn đề hệ trọng này trước khi Quốc hội quyết định.
Trong việc bảo đảm thực hiện các quyền hiến định về tự do, dân chủ, cần nhấn mạnh quyền tự do kinh doanh, quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền lập hội, quyền được tự do bày tỏ thái độ chính trị thông qua các cuộc biểu tình ôn hòa. Việc nhân dân ta biểu tình phản đối hành vi xâm lược, bành trướng của Trung Quốc góp phần hỗ trợ tích cực cho cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao và động viên ý chí bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc. Kháng chiến chống ngoại xâm đòi phải có ý chí đồng thuận của toàn dân. Nhân dân đang đòi hỏi khẩn trương xây dựng luật bảo đảm thực hiện quyền biểu tình của công dân đã ghi trong Hiến pháp. Điều có thể làm ngay để biểu thị quyết tâm cải cách chính trị hợp lòng dân là chấm dứt các hành động trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước; trả tự do cho những người bị giam giữ vì bất đồng chính kiến, chỉ công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình mà đã và đang bị kết án hình sự.
Bước tiến mạnh mẽ về thực hiện dân chủ, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng là đòn xeo xoay chuyển tình hình nước ta, đồng thời tăng ảnh hưởng tích cực trong quan hệ quốc tế.
Chúng tôi yêu cầu các nhà lãnh đạo đất nước đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, nỗ lực thực hiện trách nhiệm nặng nề trong tình thế hiểm nghèo. THƯ NGỎ hôm nay mang tính cách CẢNH BÁO Nhà Nước và đảng CSVN, những người đang nắm vận mệnh đất nước. CẢNH BÁO vì khi những người nắm vận mệnh này bất lực, thì toàn Dân sẽ NỔI DẬY dù phải hy sinh xương máu để nắm lấy vận mệnh đất nước Việt Nam./.
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI KÝ TÊN
Những người Ký Tên dưới đây không có nghĩa là những người chấp nhận Nhà Nước và Đảng CSVN như một Chính quyền dân thuận tại Việt Nam bởi vì THƯ CẢNH BÁO này chỉ là yêu cầu những người đang cầm vận mạng đất nước lúc này, bằng bạo lực hay bằng những phương tiện khác chiếm lấy, phải trách nhiệm thực hiện việc cứu nguy đất nước ở thời điểm hiện nay mà thôi.
1. Nguyễn Quang A, TS, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
2. Nguyễn Đình An, nguyên Phó Chủ tịch UBND Đà Nẵng, Đà Nẵng
3. Bùi Tiến An, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên cán bộ Ban Dân vận Thành ủy Thànhphố Hồ Chí Minh, nguyên Chủ tịch Lực lượng Phụng sự Lao động (trước 1975), TP HCM
4. Vũ Thành Tự Anh, TS, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, TP HCM
5. Trịnh Đình Ban, nguyên Phó Chủ tịch Hội Luật gia TP HCM, TP HCM
6. Hồ Tú Bảo, Giáo sư Tin học, Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, Nhật Bản.
7. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
8. Thiện Cẩm, Linh mục, Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
9. Thái Văn Cầu, chuyên gia Khoa học Không gian, California, Hoa Kỳ
10. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội
11. Đào Duy Chữ, TS, nguyên Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Nam, TP HCM
12. Tống Văn Công, nguyên Tổng Biên tập báo Lao Động, TP HCM
13. Hồ Ngọc Cứ, Luật gia, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,nguyên Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Dân chủ và Pháp luật của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, TP HCM
14. Nguyễn Xuân Diện, TS, Viện Hán Nôm, Hà Nội
15. Lê Đăng Doanh, TS, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên thành viên IDS
16. Hoàng Dũng, PGS TS, Đại học Sư phạm, TP HCM
17. Trần Hữu Dũng, Giáo sư Kinh tế học, Đại học Wright State, Hoa Kỳ
18. Nguyễn Tiến Dũng, Giáo sư Toán học, Đại học Toulouse, Pháp
19. Giáp Văn Dương, TS, nhà nghiên cứu Vật lý, Đại học Quốc gia Singapore
20. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Thành phố HCM, TP HCM
21. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
22. Phan Hồng Giang, GS TS, nguyên Hiệu trưởng Trường Viết Văn, Hội Nhà Văn Việt Nam, Hà Nội
23. Nguyễn Ngọc Giao, nhà báo, nguyên giảng viên Toán, Đại học Paris VII, Pháp
24. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
25. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, nguyên thành viên Viện IDS, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội
26. Phạm Duy Hiển, GS TS, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
27. Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh
28. Nguyễn Thị Từ Huy, Tiến sĩ, TP HCM
29. Phạm Khiêm Ích, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin, Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội
30. Nguyễn Vi Khải, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Phó Viện trưởng Viện Mác-Lênin, Hà Nội
31. Nguyễn Văn Kích, nguyên Vụ trưởng, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội
32. Tương Lai, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM
33. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên Viện phó Viện IDS, Hà Nội
34. Cao Lập, cựu tù Côn Đảo, TP HCM
35. Nguyễn Xuân Lập, nguyên Phó Chủ tịch Hội Y Dược Việt Nam, nguyên Trưởng đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn (trước 1975), TP HCM
36. Hồ Uy Liêm, PGS TS, Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội
37. Trần Văn Long, nguyên Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
38. Ngô Vĩnh Long, Giáo sư Sử học, Đại học Maine, Hoa Kỳ
39. Huỳnh Tấn Mẫm, Bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
40. Huỳnh Công Minh, Linh mục, Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
41. Trần Tố Nga, nhà giáo, Huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Pháp, TP HCM
42. Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
43. Hạ Đình Nguyên, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
44. Phạm Đức Nguyên, PGS TS, giảng viên cao cấp, Đại học Xây dựng Hà Nội, Hà Nội
45. Trần Đức Nguyên, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
46. Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,Phó Chủtịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị nhật báo Tin Sáng, TP HCM
47. Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu Huế học, Huế
48. Ngô Văn Phương, nguyên Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phốHồ Chí Minh nhiệm kỳ 6, nguyên Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố khóa 5, TP HCM
49. Trần Việt Phương, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
50. Phạm Xuân Phương, Đại tá, cựu chiến binh, Hà Nội
51. Trần Hữu Tá, PGS TS, nguyên Chủ nhiệm khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
52. Lê Văn Tâm, Tiến sĩ Hóa học, Tokyo, Nhật Bản
53. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
54. Lê Mạnh Thát, Thiền sư, GS TS, TP HCM
55. Nguyễn Minh Thọ, Giáo sư Hóa học, Đại học Leuven, Bỉ
56. Trần Văn Thọ, Giáo sư Kinh tế học, Đại học Waseda, Nhật Bản
57. Cao Huy Thuần, Giáo sư danh dự (Chính trị học), Đại học Picardie, Pháp
58. Trần Quốc Thuận, Luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, TP HCM
59. Đào Công Tiến, PGSTS, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP HCM
60. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội
61. Nguyễn Thị Ngọc Toản, Đại tá, GS Bác sĩ, cựu chiến binh, Viện Quân y 108, Hà Nội
62. Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, thành viên Viện IDS, Hà Nội
63. Tô Văn Trường, Tiến sĩ, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thuỷ lợi miền Nam, TP HCM
64. Nguyễn Văn Tuấn, Giáo sư Y khoa, Đại học New South Wales, Úc
65. Hoàng Tụy, GS TS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Viện IDS, Hà Nội
66. Võ Thị Bạch Tuyết, nguyên Giám đốc Sở Lao động, Thương binh, Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
67. Hà Dương Tường, nguyên Giáo sư Toán học, Đại học Công nghệ Compiègne, Pháp
68. Nguyễn Viện, nhà văn, TP HCM
69. Vũ Quang Việt, chuyên gia tư vấn Thống kê Kinh tế cho Liên Hiệp Quốc, Myanmar, Philippines và Lào; nguyên chuyên viên cao cấp Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ
70. Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng, cựu chiến binh, Hà Nội
71. Phạm Xuân Yêm, nguyên Giám đốc nghiên cứu (Vật lý), Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS), nguyên Giáo sư Đại học Paris VI, Pháp
DO CÁC NHÂN SĨ, TRÍ THỨC VN LÊN TIẾNG
Hà Nội, 6 tháng 8 năm 2012
THƯ NGỎ CẢNH BÁO
Gửi tới:
- Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam
- Chủ tịch và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
- Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam
Trước đây, một nhóm Nhân sĩ, Trí thức Việt Nam đã tham gia ký và gửi tới lãnh đạo Nhà nước và Đảng bản kiến nghị ngày 10-07-2011 về "Bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay" (dưới đây gọi tắt là kiến nghị 7-11) và bản ý kiến về "Cải cách toàn diện để phát triển đất nước" ngày 08-09-2011 (gọi tắt là ý kiến 9-11). Nhưng những kiến nghị và ý kiến ấy của người Dân đã không được Nhà Nước và đảng CSVN quan tâm tới, thậm chí có thể hiểu rằng Nhà Nước và đảng CSVN đã cho chúng vào sọt rác. Nay, trước việc tăng cường thực hiện xâm lăng cụ thể của Trung quốc, không những trên đất liền của Lãnh thổ Việt Nam mà nhất là đối với Hoàng Sa, Trường Sa và những vùng Biển của Việt Nam với những tài nguyên dưới Biển, và trước tình trạng suy thoái Kinh tế cũng như Nhân quyền trong nước, chúng tôi buộc lòng phải gửi THƯ NGỎ CẢNH BÁO Nhà Nước và Đảng CSVN, chứ không phải chỉ là kiến nghị hay góp thêm ý kiến nữa. THƯ NGỎ mang tính cách CẢNH BÁO bởi vì một khi mà người Dân thấy Nhà Nước và Đảng CSVN như tiếp tay cho xâm lăng của Trung quốc và một khi mà người Dân phải chịu hậu quả nặng nề do Nhà Nước và Đảng CSVN bất lực trước suy thoái Kinh tế và Nhân quyền, thì lúc ấy toàn DÂN sẽ NỔI DẬY dù phải hy sinh thân thể trước sự cố thủ đàn áp bằng võ lực của Nhà Nước và Đảng CSVN.
1- Bản kiến nghị 7-11 và bản ý kiến 9-11 đều có chung nhận định: Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong việc thực hiện mưu đồ chiến lược bá quyền của họ, nhằm làm cho Việt Nam suy yếu, chịu khuất phục hay lệ thuộc vào Trung Quốc. Họ dùng nhiều thủ đoạn từ tinh vi đến trắng trợn để dụ dỗ, mua chuộc, thâm nhập, lũng đoạn, uy hiếp, lấn chiếm không chỉ trên Biển Đông mà còn trên nhiều địa bàn khác, không chỉ xâm phạm lãnh thổ, lãnh hải mà còn thâm nhập và gây hại về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; đồng thời tìm cách "chia để trị" các nước ASEAN.
Đúng như dự đoán, hơn một năm qua, Trung Quốc thực hiện những bước mới xâm phạm trắng trợn chủ quyền quốc gia, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của nước ta cũng như các quốc gia giáp Biển Đông. Họ ngang nhiên lập đơn vị hành chính có quân đồn trú ở nơi rất ít dân hòng cai quản vùng biển đảo rộng lớn không phải của mình, mời thầu thăm dò và khai thác dầu khí trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đưa tàu thuyền đánh cá cùng với tàu bán quân sự và quân sự hoạt động trên vùng này, đồng thời bức hại ngư dân ta đang hành nghề trên vùng biển thuộc chủ quyền và đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nhiều khả năng những hành động gây hấn của Trung Quốc sẽ còn tăng mức độ quyết liệt đi đôi với việc chuẩn bị dư luận và điều kiện cho bước leo thang nguy hiểm hơn, kể cả đe dọa gây chiến.
Chúng tôi hoan nghênh Luật Biển vừa được Quốc hội thông qua, tạo căn cứ pháp lý để bảo vệ, quản lý, phát triển kinh tế và hợp tác quốc tế đối với vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế. Nhưng liệu Luật Biển vừa được Quốc Hội Việt Nam thông qua có mang hiệu quả ngăn chặn được xâm lăng mang tính cách “cả vú lấp miệng em“, “cá lớn nuốt cá bé” theo Luật rừng Trung quốc, nhất nữa việc xâm lăng theo Luật rừng này lại được tiếp tay bởi những thành phần thuộc Nhà Nước và Đảng CSVN vì muốn nhờ thế lực của Trung quốc để bảo đảm quyền hành Chính trị cho mình tại Việt Nam.
Phản đối mạnh mẽ sự chiếm đoạt bằng vũ lực của Trung Quốc đối với các đảo vốn thuộc chủ quyền Việt Nam và các quốc gia khác ven biển, chúng ta kiên trì giải quyết tranh chấp với Trung Quốc bằng phương pháp hòa bình, tuân theo luật pháp quốc tế, nhưng nếu Trung quốc xâm lăng theo Luật rừng, thì toàn Dân Việt Nam, vốn thừa hưởng Ý chí đấu tranh để Sinh tồn của Tiền nhân, sẵn sàng chống cự lại dù phải đổ máu để bảo toàn Lãnh thổ. Chúng ta tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia khác ven Biển Đông, cùng nhau thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền trên biển, đặc biệt là đối với các đảo, bãi đá cùng với lãnh hải bao quanh theo đúng Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển. Theo ý kiến đề xuất của các nhà nghiên cứu ở một số nước, lúc này là thích hợp để các quốc gia ven biển Đông thống nhất tên gọi Biển Đông Nam Á thay cho cách gọi khác nhau của từng nước theo vị trí tiếp giáp biển. Đó là những giải pháp thiết thực để củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven biển, trong cuộc đấu tranh chống mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn biến vùng biển này thành ao nhà của mình.
Chúng tôi yêu cầu Nhà nước công bố trước nhân dân ta và nhân dân thế giới thực trạng quan hệ Việt – Trung; nêu rõ những căn cứ phù hợp với luật pháp quốc tế, có sức thuyết phục về chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo ở vùng Biển Đông để làm sáng tỏ chính nghĩa của nước ta; khẳng định thiện chí trước sau như một của nước ta xây dựng, gìn giữ quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng tốt với Trung Quốc, nhưng quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình. Nhân dịp này, Nhà nước ta cần giải thích trước toàn dân nội dung và lý do của công hàm mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958 về Biển Đông.
Đi đôi với việc tỏ rõ thái độ như trên, Nhà nước cần khuyến khích và tạo điều kiện phát huy năng lực của các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước, kể cả các nhà nghiên cứu quốc tế, trong việc sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu lịch sử và pháp lý về chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông. Các cơ quan chức năng của Nhà nước phối hợp với các nhà nghiên cứu hoàn chỉnh hồ sơ có đủ căn cứ lịch sử và cơ sở pháp lý, công bố rộng rãi để nhân dân ta, nhân dân Trung Quốc và dư luận thế giới hiểu rõ sự thật, không bị lừa mị hoặc rối trí bởi các luận điệu xuyên tạc, dối trá xuất phát từ mưu đồ bành trướng của Trung quốc.
Thực hiện tham vọng bá quyền và chính sách thực dân mới, nhà cầm quyền Trung Quốc ỷ vào sức mạnh kinh tế và quân sự, tìm cách đánh lừa dư luận, lẩn tránh luật pháp và công lý quốc tế, đang tự phơi bày bộ mặt thật, đồng thời lại phải đối mặt với những vấn đề chính trị nóng bỏng trong nước, như các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, chủng tộc và mâu thuẫn trong các tầng lớp lãnh đạo, nên thế cô lập về chính trị của họ trước thế giới càng sâu sắc thêm.
Nhiều quốc gia trên thế giới mong đợi Việt Nam tự lực, tự cường, thoát khỏi vòng kiềm tỏa, chi phối của Trung Quốc, cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới hợp thành sức mạnh ngăn chặn và làm thất bại mọi mưu đồ bành trướng của Trung Quốc.
Trong bối cảnh này, chúng ta cần nỗ lực tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, sáng suốt lựa chọn các đối tác chiến lược vì lợi ích của dân tộc và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
2- Đi đôi với tăng cường quốc phòng, chuẩn bị đối phó với mọi tình huống có thể xẩy ra, chúng ta cần phát huy thế mạnh cơ bản là ý chí độc lập, tự chủ được hun đúc từ lòng yêu nước của nhân dân ta và sự ủng hộ quốc tế đối với nước ta. Chúng tôi đã đề xuất mấy giải pháp chính là tiến hành cải cách sâu sắc, toàn diện về chính trị, tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh cải cách các lĩnh vực khác, nhất là lĩnh vực kinh tế, một lĩnh vực thiết thân của đại đa số quần chúng. Điều quan trọng của việc cải cách lĩnh vực kinh tế là chính trị hãy tách rời khỏi kinh tế; chính trị , nhất là độc tài, đừng khư khư nắm “chủ đạo“ kinh tế mà tham nhũng, lãng phí.
Nội dung cải cách chính trị nhằm trước hết đổi mới căn bản thể chế lãnh đạo và quản lý của bộ máy công quyền, bảo đảm thực hiện các quyền tự do, dân chủ của dân, nhằm phát huy ý chí và năng lực của nhân dân, tăng cường đại đoàn kết dân tộc vì sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng và làm trong sạch bộ máy công quyền. Để có thể thực hiện việc cải cách Chính trị như trên, nước ta cần phải chấp nhận đa nguyên đa đảng
Nhân dân ta rất đòi hỏi việc sửa đổi Hiến pháp để tạo cơ sở cải cách thể chế chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền. Vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận và có kết luận về sửa đổi Hiến pháp (và về Luật đất đai); yêu cầu Bộ Chính trị tuyên bố rõ là việc này không cản trở nhân dân và cán bộ, đảng viên tiếp tục góp ý kiến về vấn đề hệ trọng này trước khi Quốc hội quyết định.
Trong việc bảo đảm thực hiện các quyền hiến định về tự do, dân chủ, cần nhấn mạnh quyền tự do kinh doanh, quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền lập hội, quyền được tự do bày tỏ thái độ chính trị thông qua các cuộc biểu tình ôn hòa. Việc nhân dân ta biểu tình phản đối hành vi xâm lược, bành trướng của Trung Quốc góp phần hỗ trợ tích cực cho cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao và động viên ý chí bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc. Kháng chiến chống ngoại xâm đòi phải có ý chí đồng thuận của toàn dân. Nhân dân đang đòi hỏi khẩn trương xây dựng luật bảo đảm thực hiện quyền biểu tình của công dân đã ghi trong Hiến pháp. Điều có thể làm ngay để biểu thị quyết tâm cải cách chính trị hợp lòng dân là chấm dứt các hành động trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước; trả tự do cho những người bị giam giữ vì bất đồng chính kiến, chỉ công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình mà đã và đang bị kết án hình sự.
Bước tiến mạnh mẽ về thực hiện dân chủ, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng là đòn xeo xoay chuyển tình hình nước ta, đồng thời tăng ảnh hưởng tích cực trong quan hệ quốc tế.
Chúng tôi yêu cầu các nhà lãnh đạo đất nước đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, nỗ lực thực hiện trách nhiệm nặng nề trong tình thế hiểm nghèo. THƯ NGỎ hôm nay mang tính cách CẢNH BÁO Nhà Nước và đảng CSVN, những người đang nắm vận mệnh đất nước. CẢNH BÁO vì khi những người nắm vận mệnh này bất lực, thì toàn Dân sẽ NỔI DẬY dù phải hy sinh xương máu để nắm lấy vận mệnh đất nước Việt Nam./.
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI KÝ TÊN
Những người Ký Tên dưới đây không có nghĩa là những người chấp nhận Nhà Nước và Đảng CSVN như một Chính quyền dân thuận tại Việt Nam bởi vì THƯ CẢNH BÁO này chỉ là yêu cầu những người đang cầm vận mạng đất nước lúc này, bằng bạo lực hay bằng những phương tiện khác chiếm lấy, phải trách nhiệm thực hiện việc cứu nguy đất nước ở thời điểm hiện nay mà thôi.
1. Nguyễn Quang A, TS, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
2. Nguyễn Đình An, nguyên Phó Chủ tịch UBND Đà Nẵng, Đà Nẵng
3. Bùi Tiến An, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên cán bộ Ban Dân vận Thành ủy Thànhphố Hồ Chí Minh, nguyên Chủ tịch Lực lượng Phụng sự Lao động (trước 1975), TP HCM
4. Vũ Thành Tự Anh, TS, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, TP HCM
5. Trịnh Đình Ban, nguyên Phó Chủ tịch Hội Luật gia TP HCM, TP HCM
6. Hồ Tú Bảo, Giáo sư Tin học, Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, Nhật Bản.
7. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
8. Thiện Cẩm, Linh mục, Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
9. Thái Văn Cầu, chuyên gia Khoa học Không gian, California, Hoa Kỳ
10. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội
11. Đào Duy Chữ, TS, nguyên Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Nam, TP HCM
12. Tống Văn Công, nguyên Tổng Biên tập báo Lao Động, TP HCM
13. Hồ Ngọc Cứ, Luật gia, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,nguyên Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Dân chủ và Pháp luật của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, TP HCM
14. Nguyễn Xuân Diện, TS, Viện Hán Nôm, Hà Nội
15. Lê Đăng Doanh, TS, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên thành viên IDS
16. Hoàng Dũng, PGS TS, Đại học Sư phạm, TP HCM
17. Trần Hữu Dũng, Giáo sư Kinh tế học, Đại học Wright State, Hoa Kỳ
18. Nguyễn Tiến Dũng, Giáo sư Toán học, Đại học Toulouse, Pháp
19. Giáp Văn Dương, TS, nhà nghiên cứu Vật lý, Đại học Quốc gia Singapore
20. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Thành phố HCM, TP HCM
21. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
22. Phan Hồng Giang, GS TS, nguyên Hiệu trưởng Trường Viết Văn, Hội Nhà Văn Việt Nam, Hà Nội
23. Nguyễn Ngọc Giao, nhà báo, nguyên giảng viên Toán, Đại học Paris VII, Pháp
24. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
25. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, nguyên thành viên Viện IDS, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội
26. Phạm Duy Hiển, GS TS, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
27. Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh
28. Nguyễn Thị Từ Huy, Tiến sĩ, TP HCM
29. Phạm Khiêm Ích, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin, Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội
30. Nguyễn Vi Khải, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Phó Viện trưởng Viện Mác-Lênin, Hà Nội
31. Nguyễn Văn Kích, nguyên Vụ trưởng, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội
32. Tương Lai, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM
33. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên Viện phó Viện IDS, Hà Nội
34. Cao Lập, cựu tù Côn Đảo, TP HCM
35. Nguyễn Xuân Lập, nguyên Phó Chủ tịch Hội Y Dược Việt Nam, nguyên Trưởng đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn (trước 1975), TP HCM
36. Hồ Uy Liêm, PGS TS, Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội
37. Trần Văn Long, nguyên Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
38. Ngô Vĩnh Long, Giáo sư Sử học, Đại học Maine, Hoa Kỳ
39. Huỳnh Tấn Mẫm, Bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
40. Huỳnh Công Minh, Linh mục, Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
41. Trần Tố Nga, nhà giáo, Huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Pháp, TP HCM
42. Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
43. Hạ Đình Nguyên, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
44. Phạm Đức Nguyên, PGS TS, giảng viên cao cấp, Đại học Xây dựng Hà Nội, Hà Nội
45. Trần Đức Nguyên, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
46. Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,Phó Chủtịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị nhật báo Tin Sáng, TP HCM
47. Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu Huế học, Huế
48. Ngô Văn Phương, nguyên Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phốHồ Chí Minh nhiệm kỳ 6, nguyên Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố khóa 5, TP HCM
49. Trần Việt Phương, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
50. Phạm Xuân Phương, Đại tá, cựu chiến binh, Hà Nội
51. Trần Hữu Tá, PGS TS, nguyên Chủ nhiệm khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
52. Lê Văn Tâm, Tiến sĩ Hóa học, Tokyo, Nhật Bản
53. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
54. Lê Mạnh Thát, Thiền sư, GS TS, TP HCM
55. Nguyễn Minh Thọ, Giáo sư Hóa học, Đại học Leuven, Bỉ
56. Trần Văn Thọ, Giáo sư Kinh tế học, Đại học Waseda, Nhật Bản
57. Cao Huy Thuần, Giáo sư danh dự (Chính trị học), Đại học Picardie, Pháp
58. Trần Quốc Thuận, Luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, TP HCM
59. Đào Công Tiến, PGSTS, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP HCM
60. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội
61. Nguyễn Thị Ngọc Toản, Đại tá, GS Bác sĩ, cựu chiến binh, Viện Quân y 108, Hà Nội
62. Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, thành viên Viện IDS, Hà Nội
63. Tô Văn Trường, Tiến sĩ, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thuỷ lợi miền Nam, TP HCM
64. Nguyễn Văn Tuấn, Giáo sư Y khoa, Đại học New South Wales, Úc
65. Hoàng Tụy, GS TS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Viện IDS, Hà Nội
66. Võ Thị Bạch Tuyết, nguyên Giám đốc Sở Lao động, Thương binh, Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
67. Hà Dương Tường, nguyên Giáo sư Toán học, Đại học Công nghệ Compiègne, Pháp
68. Nguyễn Viện, nhà văn, TP HCM
69. Vũ Quang Việt, chuyên gia tư vấn Thống kê Kinh tế cho Liên Hiệp Quốc, Myanmar, Philippines và Lào; nguyên chuyên viên cao cấp Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ
70. Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng, cựu chiến binh, Hà Nội
71. Phạm Xuân Yêm, nguyên Giám đốc nghiên cứu (Vật lý), Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS), nguyên Giáo sư Đại học Paris VI, Pháp
Tại sao Việt Nam Sợ Trung Quốc
Nguyễn Hưng Quốc
Trước các cuộc biểu tình của dân chúng nhằm phản đối những hành động gây hấn và lấn chiếm biển đảo ngang ngược của Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam có một chủ trương rõ rệt và bất khoan nhượng: Cấm. Nếu không cấm được thì dẹp. Dẹp bằng nhiều biện pháp: một, đánh đuổi hay đạp vào mặt; hai, lùa lên xe buýt chở về đồn công an để khủng bố tinh thần; và ba, nếu ngoan cố, vu cho một tội gì đó rồi bắt giam hoặc lùa vào các trại phục hồi nhân phẩm.
Nhà cầm quyền thừa hiểu những chủ trương như vậy là thiếu khôn ngoan.
Thứ nhất, chúng gây phẫn nộ cho nhân dân, ngay cả những người đã từng là đảng viên và đã từng tham gia các cuộc chiến tranh do Cộng sản lãnh đạo trước đây.
Thứ hai, chúng tạo nên những ấn tượng cực kỳ xấu trong lòng quần chúng về hình ảnh của đảng và chính quyền: một, giữa Trung Quốc và nhân dân, họ sẵn sàng hy sinh nhân dân để làm vừa lòng Trung Quốc; hai, giữa đảng và dân tộc, họ sẵn sàng hy sinh dân tộc để bảo vệ quyền lợi của đảng.
Thứ ba, như hậu quả của cả hai điều trên, dưới mắt dân chúng, đảng Cộng sản và nhà cầm quyền biến thành những kẻ hèn hạ và đang toan tính việc bán nước cho Trung Quốc.
Không thể nói nhà cầm quyền Việt Nam không biết những điều đó. Chúng quá hiển nhiên.
Biết, nhưng tại sao họ vẫn cấm và vẫn cương quyết dẹp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc?
Lý do, một cách chính thức, họ nêu lên là: Những cuộc biểu tình ấy gây trở ngại cho các nỗ lực đàm phán để tìm một giải pháp hòa bình với Trung Quốc. Nhưng một cách không chính thức, họ rỉ tai dân chúng: những cuộc biểu tình như thế có thể khiến Trung Quốc nổi giận, từ đó, có thể tấn công Việt Nam.
Nền tảng của những lập luận ấy là: Sợ. Nền tảng của cái sợ ấy là: Hèn. Nền tảng của cái hèn ấy là: Thiếu lòng yêu nước và sự tự hào dân tộc.
Tuy nhiên, vấn đề đáng cho chúng ta bàn luận là những lập luận ở trên có hợp lý hay không?
Theo tôi, hoàn toàn không.
Thứ nhất, dù có điên khùng đến mấy, Trung Quốc cũng không thể phát động chiến tranh xâm chiếm Việt Nam chỉ vì lý do dân chúng Việt Nam xuống đường biểu tình chống lại họ. Trong thời đại ngày nay, người ta có thể đem quân đánh dẹp một chính phủ, nhưng không ai dám tuyên bố đem quân để đánh dẹp nhân dân của một nước khác. Làm như thế, người ta không những chỉ là tội phạm chiến tranh mà còn là tội phạm diệt chủng.
Thứ hai, nhà cầm quyền muốn đàm phán với Trung Quốc nhưng họ lấy gì để thuyết phục được Trung Quốc trong các phòng họp? Ai cũng biết sức mạnh trên bàn hội nghị không nằm ở mớ giấy tờ. Có trưng ra bao nhiêu tấm bản đồ xưa cổ chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam thì cũng vô ích. Trung Quốc đã thừa biết những điều đó từ lâu rồi. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã thừa kinh nghiệm trong việc đó: Những yếu tố quyết định chiến tranh Việt Nam trước năm 1975 không diễn ra ở các cuộc họp tại Paris mà là trên chiến trường Việt Nam; và yếu tố quyết định chiến trường ở Việt Nam không phải ở súng đạn mà là ở lòng dân Việt Nam, ở cả hai miền Nam và Bắc, cũng như lòng người, kể cả người Mỹ và người dân các nước Tây phương nói chung. Bây giờ, ngồi vào bàn đàm phán với Trung Quốc với tư thế của những kẻ đạp vào mặt nhân dân, xua đuổi nhân dân và không sớm thì muộn cũng bị nhân dân xua đuổi, họ lấy gì để tăng thêm sức mạnh cho các lập luận của họ? – Không có gì cả!
Tổng thống Benigno Aquino của Phi Luật Tân hiểu rõ điều đó. Ngày 23 tháng 7 vừa qua, trước các hành động gây hấn của Trung Quốc, ông đã có bài phát biểu quan trọng trước Quốc Hội, trong đó, ông kêu gọi dân chúng đoàn kết trong việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Phi Luật Tân, dù trên những hòn đảo nhỏ nhoi và xa xôi nhất. Ông lập luận: “Nhiều người bảo chúng ta nên bỏ qua việc Bajo de Masinloc [tức bãi cạn Scarborough]; chúng ta nên tránh phiền phức. Nhưng nếu có ai vào vườn nhà bạn, bảo với bạn đó là vườn của hắn, bạn có đồng ý hay không? Liệu có đúng không việc chúng ta cho người khác những gì vốn thuộc về chúng ta một cách chính đáng?” Rồi ông kêu gọi: “Tôi kêu gọi nhân dân đoàn kết về vấn đề này. Chúng ta hãy nói cùng một tiếng nói. Hãy giúp tôi chuyển đến phía bên kia [Trung Quốc] những lý lẽ trong lập trường của chúng ta.”
Xin lưu ý đến câu cuối cùng vừa dẫn: “Hãy giúp tôi chuyển đến phía bên kia [Trung Quốc] những lý lẽ trong lập trường của chúng ta” (Help me relay to the other side the logic of our stand.) Dĩ nhiên, Aquino không cần dân của ông làm những thông tín viên hay liên lạc viên. Những gì ông muốn nói với Trung Quốc, ông có thể nói thẳng. Điều ông nhờ ở dân chúng là làm tăng trọng lượng cho tiếng nói của ông để Trung Quốc hiểu đó không phải là lập trường của cá nhân ông mà là lập trường của cả nước Phi Luật Tân.
Benigno Aquino hiểu điều đó. Tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại không hiểu?
Như vậy, việc cấm đoán biểu tình chống Trung Quốc hẳn phải xuất phát từ những lý do khác. Chứ không phải những gì họ đã nói. Một cách chính thức hay không chính thức như đã nêu lên ở đầu bài viết này.
Lý do thực sự ấy là gì?
Câu trả lời, xin nhường lại cho các bạn.
Nguyễn Hưng Quốc
Trước các cuộc biểu tình của dân chúng nhằm phản đối những hành động gây hấn và lấn chiếm biển đảo ngang ngược của Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam có một chủ trương rõ rệt và bất khoan nhượng: Cấm. Nếu không cấm được thì dẹp. Dẹp bằng nhiều biện pháp: một, đánh đuổi hay đạp vào mặt; hai, lùa lên xe buýt chở về đồn công an để khủng bố tinh thần; và ba, nếu ngoan cố, vu cho một tội gì đó rồi bắt giam hoặc lùa vào các trại phục hồi nhân phẩm.
Nhà cầm quyền thừa hiểu những chủ trương như vậy là thiếu khôn ngoan.
Thứ nhất, chúng gây phẫn nộ cho nhân dân, ngay cả những người đã từng là đảng viên và đã từng tham gia các cuộc chiến tranh do Cộng sản lãnh đạo trước đây.
Thứ hai, chúng tạo nên những ấn tượng cực kỳ xấu trong lòng quần chúng về hình ảnh của đảng và chính quyền: một, giữa Trung Quốc và nhân dân, họ sẵn sàng hy sinh nhân dân để làm vừa lòng Trung Quốc; hai, giữa đảng và dân tộc, họ sẵn sàng hy sinh dân tộc để bảo vệ quyền lợi của đảng.
Thứ ba, như hậu quả của cả hai điều trên, dưới mắt dân chúng, đảng Cộng sản và nhà cầm quyền biến thành những kẻ hèn hạ và đang toan tính việc bán nước cho Trung Quốc.
Không thể nói nhà cầm quyền Việt Nam không biết những điều đó. Chúng quá hiển nhiên.
Biết, nhưng tại sao họ vẫn cấm và vẫn cương quyết dẹp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc?
Lý do, một cách chính thức, họ nêu lên là: Những cuộc biểu tình ấy gây trở ngại cho các nỗ lực đàm phán để tìm một giải pháp hòa bình với Trung Quốc. Nhưng một cách không chính thức, họ rỉ tai dân chúng: những cuộc biểu tình như thế có thể khiến Trung Quốc nổi giận, từ đó, có thể tấn công Việt Nam.
Nền tảng của những lập luận ấy là: Sợ. Nền tảng của cái sợ ấy là: Hèn. Nền tảng của cái hèn ấy là: Thiếu lòng yêu nước và sự tự hào dân tộc.
Tuy nhiên, vấn đề đáng cho chúng ta bàn luận là những lập luận ở trên có hợp lý hay không?
Theo tôi, hoàn toàn không.
Thứ nhất, dù có điên khùng đến mấy, Trung Quốc cũng không thể phát động chiến tranh xâm chiếm Việt Nam chỉ vì lý do dân chúng Việt Nam xuống đường biểu tình chống lại họ. Trong thời đại ngày nay, người ta có thể đem quân đánh dẹp một chính phủ, nhưng không ai dám tuyên bố đem quân để đánh dẹp nhân dân của một nước khác. Làm như thế, người ta không những chỉ là tội phạm chiến tranh mà còn là tội phạm diệt chủng.
Thứ hai, nhà cầm quyền muốn đàm phán với Trung Quốc nhưng họ lấy gì để thuyết phục được Trung Quốc trong các phòng họp? Ai cũng biết sức mạnh trên bàn hội nghị không nằm ở mớ giấy tờ. Có trưng ra bao nhiêu tấm bản đồ xưa cổ chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam thì cũng vô ích. Trung Quốc đã thừa biết những điều đó từ lâu rồi. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã thừa kinh nghiệm trong việc đó: Những yếu tố quyết định chiến tranh Việt Nam trước năm 1975 không diễn ra ở các cuộc họp tại Paris mà là trên chiến trường Việt Nam; và yếu tố quyết định chiến trường ở Việt Nam không phải ở súng đạn mà là ở lòng dân Việt Nam, ở cả hai miền Nam và Bắc, cũng như lòng người, kể cả người Mỹ và người dân các nước Tây phương nói chung. Bây giờ, ngồi vào bàn đàm phán với Trung Quốc với tư thế của những kẻ đạp vào mặt nhân dân, xua đuổi nhân dân và không sớm thì muộn cũng bị nhân dân xua đuổi, họ lấy gì để tăng thêm sức mạnh cho các lập luận của họ? – Không có gì cả!
Tổng thống Benigno Aquino của Phi Luật Tân hiểu rõ điều đó. Ngày 23 tháng 7 vừa qua, trước các hành động gây hấn của Trung Quốc, ông đã có bài phát biểu quan trọng trước Quốc Hội, trong đó, ông kêu gọi dân chúng đoàn kết trong việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Phi Luật Tân, dù trên những hòn đảo nhỏ nhoi và xa xôi nhất. Ông lập luận: “Nhiều người bảo chúng ta nên bỏ qua việc Bajo de Masinloc [tức bãi cạn Scarborough]; chúng ta nên tránh phiền phức. Nhưng nếu có ai vào vườn nhà bạn, bảo với bạn đó là vườn của hắn, bạn có đồng ý hay không? Liệu có đúng không việc chúng ta cho người khác những gì vốn thuộc về chúng ta một cách chính đáng?” Rồi ông kêu gọi: “Tôi kêu gọi nhân dân đoàn kết về vấn đề này. Chúng ta hãy nói cùng một tiếng nói. Hãy giúp tôi chuyển đến phía bên kia [Trung Quốc] những lý lẽ trong lập trường của chúng ta.”
Xin lưu ý đến câu cuối cùng vừa dẫn: “Hãy giúp tôi chuyển đến phía bên kia [Trung Quốc] những lý lẽ trong lập trường của chúng ta” (Help me relay to the other side the logic of our stand.) Dĩ nhiên, Aquino không cần dân của ông làm những thông tín viên hay liên lạc viên. Những gì ông muốn nói với Trung Quốc, ông có thể nói thẳng. Điều ông nhờ ở dân chúng là làm tăng trọng lượng cho tiếng nói của ông để Trung Quốc hiểu đó không phải là lập trường của cá nhân ông mà là lập trường của cả nước Phi Luật Tân.
Benigno Aquino hiểu điều đó. Tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại không hiểu?
Như vậy, việc cấm đoán biểu tình chống Trung Quốc hẳn phải xuất phát từ những lý do khác. Chứ không phải những gì họ đã nói. Một cách chính thức hay không chính thức như đã nêu lên ở đầu bài viết này.
Lý do thực sự ấy là gì?
Câu trả lời, xin nhường lại cho các bạn.
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Ngày hôm nay, tôi sẽ...
Ngày hôm nay, tôi sẽ tin rằng mình là người bình thường, một người không có gì quan trọng. Tôi sẽ lo bản thân tôi với chính những gì tôi có và không so sánh mình với những người khác
Ngày hôm nay, tôi sẽ tự lắng lòng mình và cố gắng trầm tĩnh hơn. Tôi sẽ học cách kiểm soát những cảm xúc và suy nghĩ của mình.
Ngày hôm nay, tôi sẽ học cách tha thứ những gì người khác đã gây ra cho tôi, bởi tôi luôn cố gắng nhìn vào hướng tốt và tin vào sự công bằng của cuộc sống.
Ngày hôm nay, tôi sẽ cẩn thận hơn với từng lời nói của mình. Tôi sẽ lựa chọn ngôn từ và diễn đạt chúng một cách có suy nghĩ và chân thành nhất.
Ngày hôm nay, tôi sẽ tìm cách sẻ chia với những người bạn quanh tôi khi cần thiết, bởi tôi biết điều quý nhất đối với con người là sự quan tâm lẫn nhau.
Ngày hôm nay, trong cách ứng xử, tôi sẽ đặt mình vào vị trí của người đối diện để lắng nghe những cảm xúc của họ, để hiểu rằng những điều làm tôi tổn thương cũng có thể làm tổn thương đến họ.
Ngày hôm nay, tôi sẽ an ủi và động viên những ai đang nản lòng. Một cái siết tay, một nụ cười, một lời nói có thể tiếp thêm sức mạnh để họ vững tin bước tiếp.
Ngày hôm nay, tôi sẽ dành một chút thời gian để quan tâm đến bản thân mình. Tôi sẽ làm tâm hồn và trí óc mình phong phú, mạnh mẽ hơn bằng cách học một cái gì đó có ích, đọc một cuốn sách hay, vận động cơ thể .
Ngày hôm nay, tôi sẽ có liệt kê những việc cần làm. Tôi sẽ nỗ lực nhất để thực hiện chúng và tránh đưa ra những quyết định vội vã hay thiếu kiên quyết
Ngày hôm nay, tôi sẽ bỏ lại phía sau mọi lo âu, cay đắng và thất bại, khởi đầu một ngày mới chân thành và hồn nhiên nhất. Tôi sẽ sống với những khát khao, mơ ước mà mình luôn ấp ủ.
Ngày hôm nay, tôi sẽ đối đầu mọi trở ngại trên con đường mà tôi lựa chọn và đặt niềm tin. Tôi hiểu rằng, khó khăn là một phần của cuộc sống và chúng tồn tại là để tôi chinh phục và vượt qua
Ngày hôm nay, tôi sẽ sống yên vui. Tôi sẽ trải rộng lòng để cảm nhận cái đẹp trong cuộc sống, để yêu thương và tin tưởng những người tôi yêu quý, và những người thương yêu tôi. Tôi sẽ làm những việc khiến tôi cảm thấy hạnh phúc: xem một bộ phim hài hước , làm một việc tử tế, giúp đỡ một ai đó, gửi một mail điện tử, nghe một bản nhạc yêu thích...
... Và hôm nay, ngay bây giờ, tôi cảm nhận được hạnh phúc và sức sống mới để bắt đầu một ngày mới thật có ích - bất kể ngày hôm qua như thế nào.
Ngày hôm nay, tôi sẽ tin rằng mình là người bình thường, một người không có gì quan trọng. Tôi sẽ lo bản thân tôi với chính những gì tôi có và không so sánh mình với những người khác
Ngày hôm nay, tôi sẽ tự lắng lòng mình và cố gắng trầm tĩnh hơn. Tôi sẽ học cách kiểm soát những cảm xúc và suy nghĩ của mình.
Ngày hôm nay, tôi sẽ học cách tha thứ những gì người khác đã gây ra cho tôi, bởi tôi luôn cố gắng nhìn vào hướng tốt và tin vào sự công bằng của cuộc sống.
Ngày hôm nay, tôi sẽ cẩn thận hơn với từng lời nói của mình. Tôi sẽ lựa chọn ngôn từ và diễn đạt chúng một cách có suy nghĩ và chân thành nhất.
Ngày hôm nay, tôi sẽ tìm cách sẻ chia với những người bạn quanh tôi khi cần thiết, bởi tôi biết điều quý nhất đối với con người là sự quan tâm lẫn nhau.
Ngày hôm nay, trong cách ứng xử, tôi sẽ đặt mình vào vị trí của người đối diện để lắng nghe những cảm xúc của họ, để hiểu rằng những điều làm tôi tổn thương cũng có thể làm tổn thương đến họ.
Ngày hôm nay, tôi sẽ an ủi và động viên những ai đang nản lòng. Một cái siết tay, một nụ cười, một lời nói có thể tiếp thêm sức mạnh để họ vững tin bước tiếp.
Ngày hôm nay, tôi sẽ dành một chút thời gian để quan tâm đến bản thân mình. Tôi sẽ làm tâm hồn và trí óc mình phong phú, mạnh mẽ hơn bằng cách học một cái gì đó có ích, đọc một cuốn sách hay, vận động cơ thể .
Ngày hôm nay, tôi sẽ có liệt kê những việc cần làm. Tôi sẽ nỗ lực nhất để thực hiện chúng và tránh đưa ra những quyết định vội vã hay thiếu kiên quyết
Ngày hôm nay, tôi sẽ bỏ lại phía sau mọi lo âu, cay đắng và thất bại, khởi đầu một ngày mới chân thành và hồn nhiên nhất. Tôi sẽ sống với những khát khao, mơ ước mà mình luôn ấp ủ.
Ngày hôm nay, tôi sẽ đối đầu mọi trở ngại trên con đường mà tôi lựa chọn và đặt niềm tin. Tôi hiểu rằng, khó khăn là một phần của cuộc sống và chúng tồn tại là để tôi chinh phục và vượt qua
Ngày hôm nay, tôi sẽ sống yên vui. Tôi sẽ trải rộng lòng để cảm nhận cái đẹp trong cuộc sống, để yêu thương và tin tưởng những người tôi yêu quý, và những người thương yêu tôi. Tôi sẽ làm những việc khiến tôi cảm thấy hạnh phúc: xem một bộ phim hài hước , làm một việc tử tế, giúp đỡ một ai đó, gửi một mail điện tử, nghe một bản nhạc yêu thích...
... Và hôm nay, ngay bây giờ, tôi cảm nhận được hạnh phúc và sức sống mới để bắt đầu một ngày mới thật có ích - bất kể ngày hôm qua như thế nào.
Mỹ Sẽ Vào Biển Đông?
Tác giả : Trần Khải
Có thực là Mỹ muốn vào Biển Đông để ghìm chân Trung Quốc? Hay thực ra vẫn muốn loanh quanh các nước Trung Đông trong một cuộc chiến thôi thúc vì cảm xúc tôn giáo? Hay là, các thế lực khác nhau tại Hoa Kỳ vẫn chưa dứt khoát chiến lược mới, và trong khi Barack Obama nói là phải Hướng Về Châu Á, thì Mitt Romney nói rằng chỉ nhìn thấy Nga là kẻ thù điạ chính trị số một của Mỹ và chỉ dịu dàng nói rằng Trung Quốc chỉ có tội ghìm hối suất đồng yuan thôi?
Các diễn biến về Biển Đông vẫn sôi sục trong lòng người Việt. Trong khi Đài Loan bắt tay với TQ để xử ép các nước trong vùng.
Bản tin RFI cho biết, Lực lượng tuần duyên Đài Loan, hôm 12/08/2012, cho biết sẽ tiến hành tập trận bắn đạn thật tại đảo Thái Bình (mà Việt Nam gọi là đảo Ba Bình) trong tháng Chín, với các loại đại bác và súng cối mới có tầm bắn xa hơn. Đây là hòn đảo lớn nhất của Việt Nam thuộc quần đảo Trường Sa, bị Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan ngày nay) dùng danh nghĩa giải giáp tàn quân Nhật để chiếm đóng vào năm 1947. Hành động này có nguy cơ gây thêm căng thẳng trong tình hình hiện nay.
RFI cũng nhắc:
“Việt Nam vừa qua đã phản đối mạnh mẽ khi tuần rồi Đài Bắc đưa đến đảo Thái Bình (Ba Bình) các loại vũ khí mới để chuẩn bị tập trận. Ngoại trưởng Đài Loan đáp lại bằng tuyên bố: «Đảo Thái Bình (tên Đài Loan đặt cho đảo Ba Bình) là một trong các hòn đảo tại khu vực đã được Đài Loan quản lý từ lâu. Chủ quyền của Đài Loan là không thể tranh cãi»...” (hết trích)
Trong khi đó, bản tin VOA cho biết:
“...Báo chí Trung Quốc ngày 13/8 đăng phát biểu của Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Biên giới và Địa lý thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, ông Lý Quốc Cường, bác bỏ tuyên bố của Tiến sĩ Trần Công Trục, chủ biên cuốn sách “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông do Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông của Việt Nam giới thiệu hôm 7/8.
Chuyên gia nghiên cứu của Trung Quốc khẳng định Bắc Kinh có chủ quyền không thể tranh cãi tại hai quần đảo mà Việt Nam gọi là Trường Sa-Hoàng Sa bởi vì Trung Quốc là nước đã khám phá và đặt tên cho khu vực này trước Việt Nam rất lâu, cách nay 2.000 năm.
Vẫn theo ông Lý, người Trung Quốc đã đánh bắt cá và đưa thuyền buồm tới khu vực từ đời nhà Tần, từ năm 221 tới 206 trước Công nguyên, và bắt đầu có quyền tài phán đối với hai quần đảo này ít nhất là từ đời nhà Đường, từ năm 618 tới năm 907.
Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Biên giới và Địa lý Trung Quốc cũng nhấn mạnh các quần đảo mà sách sử Việt Nam nói là do Việt Nam khám phá từ thế kỷ thứ 17 thật ra không phải là hai quần đảo Trường Sa-Hoàng Sa, mà là các quần đảo và bãi cạn khác gần khu vực duyên hải của Việt Nam.
Ông Lý Quốc Cường nói với tờ Hoàn cầu Thời báo của Trung Quốc rằng từ những năm 1950 tới những năm 1970, chính phủ Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Trường Sa-Hoàng Sa, và Thủ tướng Việt Nam lúc bấy giờ là ông Phạm Văn Đồng thậm chí đã công nhận chủ quyền của Bắc Kinh tại đây bằng một văn thư chính thức vào năm 1958 gửi người đồng nhiệm phía Trung Quốc lúc đó là ông Chu Ân Lai...”(hết trích)
Cũng lại bản Công Hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng.
Trong khi đó, đang có một nỗ lực từ một số viện nghiên cứu Hoa Kỳ, bày tỏ thiện cảm với Trung Quốc. Có vẻ như muốn lèo lái Hoa Kỳ về vùng Trung Đông, nơi nhiều quan chức Mỹ từ nhiều năm nay gọi đó là một cuộc thánh chiến giữa thiện và Ác.
Có vẻ như cảm xúc tôn giáo này đã là động cơ yểm trợ Do Thái để ghìm dân tộc Palestine, và có thề sẽ tấn công Iran.
Một thời, Kinh Thánh Ky Tô Giáó nói rằng vùng đó là đất thánh, cụ thể thí dụ nơi Chúa Jesus đặt chân tới: Bethlehem, Damascus, Dead Sea, Egypt, Gaza, Golan Heights, Golgotha, Israel, Jericho, Jerusalem, Jordan, Jordan River, Lebanon, Mt. of Olives, Nazareth, Syria...
Còn nơi chiến tranh mịt mù thập niên qua là Iraq thì là nơi Tháp Babel (trong Kinh Thánh, ngôn ngữ rối loạn từ đây), nơi gọi là Babylon ở Iraq.
Nếu đúng như thế, mới hiểu rằng cuộc Thánh Chiến Ngàn Năm chưa dứt, vẫn âm ỉ qua hình thức khác. Và phe hữu Hoa Kỳ muốn tập trung vào Trung Đông, và chỉ cần thông thương ở Biển Đông thôi, nghĩa là miễn TQ giữ cam kết thông thương là được, miễn đừng cấm biển.
Dẫn chứng là một bàì của Viện Phó Viện Nghiên Cứu Carnegie mới hôm Thứ Bảy 11-8-2012, tựa đề “Dangerous Shoals: U.S. Policy in the South China Sea,” tác giả là Douglas H. Paal.
Trong bài đã lặng lẽ ủng hộ TQ, ngôn ngữ ca ngợi thiện chí của TQ và nói Mỹ không cần lo gì về Biển Đông. Cụ thể trích dịch vài câu như sau:
“...Đường "biên giới 9 đoạn" của TQ cho TQ giành 80% Biển Đông, trước kia là "đường 11 đoạn." Hai đoạn kia thì TQ và VN đã giaỉ quyết qua thương lượng song phương mấy năm trước. Điều này cho thấy đường 9 đoạn có thể thương lượng quân bình...
Đây là nơi Mỹ cần hành động dè dặt và chỉ sau khi suy nghĩ nhiều bước trước....
Bây giờ, khi Mỹ tách riêng TQ để chỉ trích, nhưng không chỉ trích nước khác (ám chỉ, Mỹ không chỉ trích VN, Phi), các quan sát viên TQ tin là Mỹ đã chọn lập trường chống Tàu. Điều này làm suy yếu khẳng định của Mỹ về một phương pháp có quy tắc dựa vào luật quốc tế bằng cách không thiên vị....
Lợi ích trực tiếp của Mỹ ở Biển Đông không nhiều. Mỹ không tranh lãnh thổ gì ở đó. Các công ty và công dân Mỹ hiện chưa gặp nguy. Tự do thông thương là tối thượng, và TQ có một quan điểm thiểu số theo luật UNCLOS về những hoạt động hợp pháp bởi các tàu hải hành trong các khu kinh tế độc quyền, mà TQ giành hầu hết ở Biển Đông...
Dưới thực tế này, Mỹ sẽ làm tốt để gắn bó vào các lập trường có nguyên tắc mà Mỹ đã nêu ra, và bênh vực một tiến trình công bằng đối với tất cả các nước tranh chấp (ở Biển Đông) và những nước sẽ bị ảnh hưởng bên lề....”(hết trích dịch)
Ngắn gọn: viện nghiên cứu này muốn Mỹ trung lập đối với TQ, VN, Phi... và chuyện đường 9 đoạn là xưa rồi, vì là nối dài đường 11 đoạn.
Ngắn gọn, có phải họ muốn Mỹ phất cao lá cờ binh lực Hoa Kỳ sang thánh địa Trung Đông. Đó là tại sao, Mỹ bất công với dân tộc Palestine như thế?
Ông Romney mới tuần trước đã tuyên bố về TQ và Nga, và bị báo Úc chỉ trích: Romney chỉ thấy Nga là kẻ thù số 1 điạ chính trị của Mỹ và chỉ than phiền TQ về hối suất đồng yuan.
Dù vậy, vẫn có một số người Hoa Kỳ muốn Mỹ ghìm chân TQ, và chúng ta mang ơn những người đó.
Biển Đông vẫn không ngừng sôi sục... trừ phi Trung Đông hết còn hấp dẫn với Mỹ.
Tác giả : Trần Khải
Có thực là Mỹ muốn vào Biển Đông để ghìm chân Trung Quốc? Hay thực ra vẫn muốn loanh quanh các nước Trung Đông trong một cuộc chiến thôi thúc vì cảm xúc tôn giáo? Hay là, các thế lực khác nhau tại Hoa Kỳ vẫn chưa dứt khoát chiến lược mới, và trong khi Barack Obama nói là phải Hướng Về Châu Á, thì Mitt Romney nói rằng chỉ nhìn thấy Nga là kẻ thù điạ chính trị số một của Mỹ và chỉ dịu dàng nói rằng Trung Quốc chỉ có tội ghìm hối suất đồng yuan thôi?
Các diễn biến về Biển Đông vẫn sôi sục trong lòng người Việt. Trong khi Đài Loan bắt tay với TQ để xử ép các nước trong vùng.
Bản tin RFI cho biết, Lực lượng tuần duyên Đài Loan, hôm 12/08/2012, cho biết sẽ tiến hành tập trận bắn đạn thật tại đảo Thái Bình (mà Việt Nam gọi là đảo Ba Bình) trong tháng Chín, với các loại đại bác và súng cối mới có tầm bắn xa hơn. Đây là hòn đảo lớn nhất của Việt Nam thuộc quần đảo Trường Sa, bị Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan ngày nay) dùng danh nghĩa giải giáp tàn quân Nhật để chiếm đóng vào năm 1947. Hành động này có nguy cơ gây thêm căng thẳng trong tình hình hiện nay.
RFI cũng nhắc:
“Việt Nam vừa qua đã phản đối mạnh mẽ khi tuần rồi Đài Bắc đưa đến đảo Thái Bình (Ba Bình) các loại vũ khí mới để chuẩn bị tập trận. Ngoại trưởng Đài Loan đáp lại bằng tuyên bố: «Đảo Thái Bình (tên Đài Loan đặt cho đảo Ba Bình) là một trong các hòn đảo tại khu vực đã được Đài Loan quản lý từ lâu. Chủ quyền của Đài Loan là không thể tranh cãi»...” (hết trích)
Trong khi đó, bản tin VOA cho biết:
“...Báo chí Trung Quốc ngày 13/8 đăng phát biểu của Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Biên giới và Địa lý thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, ông Lý Quốc Cường, bác bỏ tuyên bố của Tiến sĩ Trần Công Trục, chủ biên cuốn sách “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông do Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông của Việt Nam giới thiệu hôm 7/8.
Chuyên gia nghiên cứu của Trung Quốc khẳng định Bắc Kinh có chủ quyền không thể tranh cãi tại hai quần đảo mà Việt Nam gọi là Trường Sa-Hoàng Sa bởi vì Trung Quốc là nước đã khám phá và đặt tên cho khu vực này trước Việt Nam rất lâu, cách nay 2.000 năm.
Vẫn theo ông Lý, người Trung Quốc đã đánh bắt cá và đưa thuyền buồm tới khu vực từ đời nhà Tần, từ năm 221 tới 206 trước Công nguyên, và bắt đầu có quyền tài phán đối với hai quần đảo này ít nhất là từ đời nhà Đường, từ năm 618 tới năm 907.
Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Biên giới và Địa lý Trung Quốc cũng nhấn mạnh các quần đảo mà sách sử Việt Nam nói là do Việt Nam khám phá từ thế kỷ thứ 17 thật ra không phải là hai quần đảo Trường Sa-Hoàng Sa, mà là các quần đảo và bãi cạn khác gần khu vực duyên hải của Việt Nam.
Ông Lý Quốc Cường nói với tờ Hoàn cầu Thời báo của Trung Quốc rằng từ những năm 1950 tới những năm 1970, chính phủ Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Trường Sa-Hoàng Sa, và Thủ tướng Việt Nam lúc bấy giờ là ông Phạm Văn Đồng thậm chí đã công nhận chủ quyền của Bắc Kinh tại đây bằng một văn thư chính thức vào năm 1958 gửi người đồng nhiệm phía Trung Quốc lúc đó là ông Chu Ân Lai...”(hết trích)
Cũng lại bản Công Hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng.
Trong khi đó, đang có một nỗ lực từ một số viện nghiên cứu Hoa Kỳ, bày tỏ thiện cảm với Trung Quốc. Có vẻ như muốn lèo lái Hoa Kỳ về vùng Trung Đông, nơi nhiều quan chức Mỹ từ nhiều năm nay gọi đó là một cuộc thánh chiến giữa thiện và Ác.
Có vẻ như cảm xúc tôn giáo này đã là động cơ yểm trợ Do Thái để ghìm dân tộc Palestine, và có thề sẽ tấn công Iran.
Một thời, Kinh Thánh Ky Tô Giáó nói rằng vùng đó là đất thánh, cụ thể thí dụ nơi Chúa Jesus đặt chân tới: Bethlehem, Damascus, Dead Sea, Egypt, Gaza, Golan Heights, Golgotha, Israel, Jericho, Jerusalem, Jordan, Jordan River, Lebanon, Mt. of Olives, Nazareth, Syria...
Còn nơi chiến tranh mịt mù thập niên qua là Iraq thì là nơi Tháp Babel (trong Kinh Thánh, ngôn ngữ rối loạn từ đây), nơi gọi là Babylon ở Iraq.
Nếu đúng như thế, mới hiểu rằng cuộc Thánh Chiến Ngàn Năm chưa dứt, vẫn âm ỉ qua hình thức khác. Và phe hữu Hoa Kỳ muốn tập trung vào Trung Đông, và chỉ cần thông thương ở Biển Đông thôi, nghĩa là miễn TQ giữ cam kết thông thương là được, miễn đừng cấm biển.
Dẫn chứng là một bàì của Viện Phó Viện Nghiên Cứu Carnegie mới hôm Thứ Bảy 11-8-2012, tựa đề “Dangerous Shoals: U.S. Policy in the South China Sea,” tác giả là Douglas H. Paal.
Trong bài đã lặng lẽ ủng hộ TQ, ngôn ngữ ca ngợi thiện chí của TQ và nói Mỹ không cần lo gì về Biển Đông. Cụ thể trích dịch vài câu như sau:
“...Đường "biên giới 9 đoạn" của TQ cho TQ giành 80% Biển Đông, trước kia là "đường 11 đoạn." Hai đoạn kia thì TQ và VN đã giaỉ quyết qua thương lượng song phương mấy năm trước. Điều này cho thấy đường 9 đoạn có thể thương lượng quân bình...
Đây là nơi Mỹ cần hành động dè dặt và chỉ sau khi suy nghĩ nhiều bước trước....
Bây giờ, khi Mỹ tách riêng TQ để chỉ trích, nhưng không chỉ trích nước khác (ám chỉ, Mỹ không chỉ trích VN, Phi), các quan sát viên TQ tin là Mỹ đã chọn lập trường chống Tàu. Điều này làm suy yếu khẳng định của Mỹ về một phương pháp có quy tắc dựa vào luật quốc tế bằng cách không thiên vị....
Lợi ích trực tiếp của Mỹ ở Biển Đông không nhiều. Mỹ không tranh lãnh thổ gì ở đó. Các công ty và công dân Mỹ hiện chưa gặp nguy. Tự do thông thương là tối thượng, và TQ có một quan điểm thiểu số theo luật UNCLOS về những hoạt động hợp pháp bởi các tàu hải hành trong các khu kinh tế độc quyền, mà TQ giành hầu hết ở Biển Đông...
Dưới thực tế này, Mỹ sẽ làm tốt để gắn bó vào các lập trường có nguyên tắc mà Mỹ đã nêu ra, và bênh vực một tiến trình công bằng đối với tất cả các nước tranh chấp (ở Biển Đông) và những nước sẽ bị ảnh hưởng bên lề....”(hết trích dịch)
Ngắn gọn: viện nghiên cứu này muốn Mỹ trung lập đối với TQ, VN, Phi... và chuyện đường 9 đoạn là xưa rồi, vì là nối dài đường 11 đoạn.
Ngắn gọn, có phải họ muốn Mỹ phất cao lá cờ binh lực Hoa Kỳ sang thánh địa Trung Đông. Đó là tại sao, Mỹ bất công với dân tộc Palestine như thế?
Ông Romney mới tuần trước đã tuyên bố về TQ và Nga, và bị báo Úc chỉ trích: Romney chỉ thấy Nga là kẻ thù số 1 điạ chính trị của Mỹ và chỉ than phiền TQ về hối suất đồng yuan.
Dù vậy, vẫn có một số người Hoa Kỳ muốn Mỹ ghìm chân TQ, và chúng ta mang ơn những người đó.
Biển Đông vẫn không ngừng sôi sục... trừ phi Trung Đông hết còn hấp dẫn với Mỹ.
Không Để Chệch Hướng Đấu Tranh
Tác giả : Vi Anh
Vấn đề nhân quyền, tức tự do, dân chủ cho VN trên nguyên tắc, qua lời tuyên bố của ngoại giao Mỹ vẫn còn là trở ngại trung tâm trong phát triển đối tác chiến lược giữa Washington và Hà nội. Nhưng thực tế mới đây có một số chuyển động từ phía Mỹ đi sâu, thẳng vào vấn đề TC xâm lấn Hoàng sa và Trường sa qua hành động TC thành lập guồng máy cai trị hành chánh và kiểm soát quân sự, nâng cấp lên thành phố Tam Sa. Bộ Ngoại Giao Mỹ ngày 03/08/2012, đã chính thức ra tuyên bố chỉ trích đích danh Trung Quốc thành lập “thành phố Tam Sa” cũng như đóng quân tại nơi này, coi đó là những hành vi “đi ngược lại các nỗ lực hợp tác ngoại giao nhằm giải quyết các bất đồng và có nguy cơ làm gia tăng căng thẳng trong vùng”.
Trước đó không bao lâu Thượng Viện Mỹ thông qua và công bố Nghị Quyết S.Res.524 khẳng định, Mỹ có lợi ích quốc gia về tự do hàng hải, hoà bình và ổn định trong khu vực biển Đông và tái khẳng định cam kết của Mỹ hỗ trợ các nước trong khu vực đảm bảo cường thịnh và độc lập, vì hoà bình và ổn định của khu vực.
Như vậy là cả Hành Pháp lẫn Lập Pháp Mỹ đã bày tỏ thiết tha đến Biển Đông và gián tiếp binh vực Phi luật tân và Việt Nam là hai nước bị TC xâm lấn biển dảo nhiều nhứt.
Trước những chuyển động đó của Mỹ, người Mỹ gốc Việt đề cao cảnh giác, tổ chức hội thảo, đánh động ý thức, kêu gọi phải đấu tranh chống Tàu Cộng lẫn Việt Cộng. Đấu tranh hai mặt trận, chống Tàu Cộng và Việt Cộng, chớ không để cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN đi chệch hướng, chống ngoại xâm TC mà lơ là với Việt Cộng nội thù của người dân Việt. VC là kẻ cướp đoạt những quyền bất khả tương nhượng của người dân VN; VC thông đồng với đồng chí TC khiến biển đảo của VN bị TC xâm chiếm mà không tiếng súng nào của TC và VC nổ. Trái lại người dân VN yêu nước biểu tình chống TC thì bị công an, du đãng của VC trấn áp không nương tay do lịnh của CS Bắc Kinh bảo CS Hà nội phải “định hướng dư luận”.
Như đã biết do nhu cầu chiến lược hạn chế và ngăn cản đà bành trướng của TC giành thế hải thượng của Mỹ trên Á châu Thái bình dương, Mỹ sẽ đi sát với CS Hà nội hơn, biến Hà nội thành nút chận TC trong việc kiểm soát đường hàng hải huyết mạch qua eo biển Mã Lai. Theo thói quen thời Chiến Tranh Lạnh, Mỹ thích một “chánh quyền mạnh”, sẽ thắt chặt tương quan quân sự với CS Hà nội. Được thế của Mỹ, CS Hà nội sẽ trấn áp thành phần đấu tranh nhiều hơn trong nước và ngòai nước và làm yếu công cuộc quốc tế vận của người Mỹ gốc Việt.
Nhưng nhiều dấu chỉ cho thấy, Mỹ còn kẹt, còn rất dè dặt với CS Hà nội, không tay trong tay với CS Hà nội như trực tiếp đồng minh với CS Hà nội, mà để Ấn, Nhựt, Phi đi trực tiếp với CS Hà nội.
CS Hà Nội cố bám quyền hành bằng mọi giá. Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng đi Bắc Kinh cầu phong. Chấp nhận giải quyết vấn đề Biển Đông trên nguyên tắc song phương, thì coi như giao 80% Biển Đong và hai dảo Hòang và Trường sa của VN cho TC, CS Bắc Kinh đã gồm trong bản đồ hình lưỡi bò của TC rồi. Thương lượng tay đôi giữa một cường quốc với một nhược tiểu coi như giao trứng cho ác rồi.
Còn Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang bôn ba ở Ấn, Phi, Nam Hàn, và Mỹ (Hawaii), Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đi Nhựt áp dụng chánh sách phóng tài hóa thu nhân tâm, cho Ấn, Nhựt, Nam Hàn bao thấu làm mỗi nước hai nhà máy điện nguyên tử, nhưng chỉ đi trực tiếp được với những nước phụ trong chiến dịch bao vây TC của Mỹ, chớ Hà nội không đi được trực tiếp với Mỹ. Và mới đây nhứt Tướng Nguyễn chí Vịnh, Thứ Trưởng Quốc Phòng nhưng quyền thế cao nhứt nhớ nắm Tổng Cục Hai tình báo quốc nội, quốc ngoại của VNCS và rất thân với Thủ Tướng Dũng người nhiểu quyển thế nhứt Đảng Nhà Nước VNCS.
Và Mỹ thay đổi một phần lập trường không chỉ bảo vệ tự do hàng hải, tự do hải hành trên đại dương, cụ thể là đường hàng hải huyết mạch từ Eo Biển Mã Lai lên Bắc Thái Bình Dương. Mà Mỹ có những lời tuyên bố dẫn nhập vào các cuộc tranh chấp biển đảo của TC đối với Phi luật tân và VN như các lời tuyên bố của các giới chức thẫm quyển trích dẩn ở trên.
Mỹ chưa hy sinh niềm tin giá trị nhân quyền. Mỹ chưa vì chiến lược bao vậy TC, mà hy sinh, phản bội lời hứa nhân quyền cho VN. Mỹ đang ở thế mạnh trong thương thảo với Hà Nội. CS Hà Nội bên ngoài đã mất đất và biển, hàng hóa TC làm liệt kỹ nghệ VN và phe thân TC trong Đảng chống phá phe cầm quyền. Trong khi nếu chơi được với Mỹ họ tin sẽ bảo vệ được lãnh thổ mà còn được giúp kinh tế. Phe Đổi Mới thân Mỹ đang thắng thế muốn triệt phe thân TC và liên minh với Mỹ.
Trong tình hình đó, phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN trong lẫn ngoài nước tỏ ra cần thiết hơn bao giờ hết cho quyền lợi chân chính của dân và nước VN. Bất mãn, nản lòng, thụ động, buông xuôi, hay chạy theo để chánh tri gia thực dụng ở Washington làm thay, nghĩ thế hoặc hòa giải hòa hợp với CS để họ tự tung tự tác, giải quyết vấn đề VN trên đầu trên cổ người dân VN trong ngoài nước - là giải pháp dễ, nhưng dở, và di hại lâu dài, khó sửa.
Trái lại đẩy mạnh thế đấu tranh trong nước và quốc tế vận cho phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN song song với chống TC xâm lược sẽ là một tác động hướng thiện, làm cho liên minh trở thành tốt hơn.
Thời cơ bây giờ của người Việt tốt hơn thời Chiến tranh Lạnh. Ba triệu người Việt đang là cán bộ ngoại giao nhân dân, mà phân nửa đang ở Mỹ, có một bề dày kinh nghiệm đấu tranh 37 năm; thế thành công rất lớn. Xem gương người Mỹ gốc Do Thái trong bàn cờ chánh trị Do Thái- Mỹ và Hồi Giáo, thành công cỡ nào ắt thấy. Xem gương kiên trì chịu đựng khổ nhục, cố gắng đấu tranh của Đài loan để cho một Trung Hoa Quốc gia tồn tại trước một con khủng long CS khổng lồ là TC để hy vọng.
“Nếu đường đời bằng phẳng cả, thì anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Độc lập, tự do, dân chủ không bao giờ xin mà được, phải đấu tranh mới có. Không ai thương người Việt hơn người Việt. Đây là thời điểm người Việt Hải ngoại vận dụng kinh nghiệm 37 năm đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, tại Mỹ để đẩy mạnh công cuộc quốc tế vận cho sự nghiệp trường kỳ, mục tiêu tối hậu cho đồng bào, cho nước nhà VN. Hạ sách nhứt là tiêu cực, thụ động, buông trôi, bỏ cuộc, sống một đời lưu vong co đầu rút cổ trong nhà cao, cửa rộng, xe sang. Trung sách là chạy theo các chánh trị gia thực dụng Mỹ để họ làm thay nghĩ thế, quyết định số phận trên đầu trên cổ người Việt như trong thời hiệp định Paris. Thượng sách là đòi hỏi TT Obama, đòi hỏi hai ứng cử viên tổng thống, dân biểu nghị sĩ Mỹ phải thực hiện lời hứa dân chủ hoá thế giới, mà VN là nơi độc tài toàn diện đang đè quằn quại, độc đảng đang tước đoạt quyền sống Con Người, lâu hơn Iraq, nặng hơn Iran, và độc không thua Bắc Hàn.
CS Hà Nội --đúng -- có thế bang giao, có ngân sách quốc gia, nhưng thiếu chánh nghĩa và thiếu lòng dân, là hai yếu tố cân bản để đấu tranh chánh trị. Chưa bao giờ người Việt Quốc Gia có một đội ngũ cán bộ ngoại giao nhơn dân, bình dân như bây giờ. Trong thời đồng minh với Mỹ, chỉ có hai ngọn cờ VN Cộng Hòa treo ở Tòa Đại sứ ở Washington DC, và tổng lãnh sự ở San Francisco, do viên chức ngoại giao VNCH treo. Bây giờ chánh quyền cả chục tiểu bang, hàng trăm thành phố của Mỹ, của hơn nửa dân số Mỹ thừa nhận cho người Mỹ gốc Việt giương lên.
VC đi tới đâu bị biểu tình chống tới đó ở Mỹ. Lá phiếu của người Việt tuy không đủ để làm một tổng thống, một nghị sĩ Mỹ, nhưng có thể làm giọt nước tràn thắng cử cho dân biểu, nghị sĩ liên bang và tổng thống Mỹ nữa nếu cử tri Mỹ gốc Việt biết vận dụng. Trong chánh trị bầu cử không có chuyện làm giùm, lá phiếu có ý nghĩa là lá phiếu của quyên lợi tinh thần hay vật chất cho tập thể, cộng đồng của mình.
Đấu tranh chánh trị ai dài hơi người đó thắng. Người Mỹ gốc Việt đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN tại sân nhà của mình, đâu có tốn kém như CS Hà Nội đến Washington. Không có lý do gì để nhân dân và chánh quyền chánh trục của Mỹ tin, nể CS Hà Nội hơn tin, nể công dân Mỹ gốc Việt của mình. Lý tưởng Tự do, dân chủ là niềm tin lập quốc của Mỹ và là chánh nghĩa đấu tranh của người Mỹ gốc Việt. Đồng thanh tương ứng đồng khi tương cầu, sớm muộn gì cũng thắng độc tài đảng trị CS Hà Nội.
Tác giả : Vi Anh
Vấn đề nhân quyền, tức tự do, dân chủ cho VN trên nguyên tắc, qua lời tuyên bố của ngoại giao Mỹ vẫn còn là trở ngại trung tâm trong phát triển đối tác chiến lược giữa Washington và Hà nội. Nhưng thực tế mới đây có một số chuyển động từ phía Mỹ đi sâu, thẳng vào vấn đề TC xâm lấn Hoàng sa và Trường sa qua hành động TC thành lập guồng máy cai trị hành chánh và kiểm soát quân sự, nâng cấp lên thành phố Tam Sa. Bộ Ngoại Giao Mỹ ngày 03/08/2012, đã chính thức ra tuyên bố chỉ trích đích danh Trung Quốc thành lập “thành phố Tam Sa” cũng như đóng quân tại nơi này, coi đó là những hành vi “đi ngược lại các nỗ lực hợp tác ngoại giao nhằm giải quyết các bất đồng và có nguy cơ làm gia tăng căng thẳng trong vùng”.
Trước đó không bao lâu Thượng Viện Mỹ thông qua và công bố Nghị Quyết S.Res.524 khẳng định, Mỹ có lợi ích quốc gia về tự do hàng hải, hoà bình và ổn định trong khu vực biển Đông và tái khẳng định cam kết của Mỹ hỗ trợ các nước trong khu vực đảm bảo cường thịnh và độc lập, vì hoà bình và ổn định của khu vực.
Như vậy là cả Hành Pháp lẫn Lập Pháp Mỹ đã bày tỏ thiết tha đến Biển Đông và gián tiếp binh vực Phi luật tân và Việt Nam là hai nước bị TC xâm lấn biển dảo nhiều nhứt.
Trước những chuyển động đó của Mỹ, người Mỹ gốc Việt đề cao cảnh giác, tổ chức hội thảo, đánh động ý thức, kêu gọi phải đấu tranh chống Tàu Cộng lẫn Việt Cộng. Đấu tranh hai mặt trận, chống Tàu Cộng và Việt Cộng, chớ không để cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN đi chệch hướng, chống ngoại xâm TC mà lơ là với Việt Cộng nội thù của người dân Việt. VC là kẻ cướp đoạt những quyền bất khả tương nhượng của người dân VN; VC thông đồng với đồng chí TC khiến biển đảo của VN bị TC xâm chiếm mà không tiếng súng nào của TC và VC nổ. Trái lại người dân VN yêu nước biểu tình chống TC thì bị công an, du đãng của VC trấn áp không nương tay do lịnh của CS Bắc Kinh bảo CS Hà nội phải “định hướng dư luận”.
Như đã biết do nhu cầu chiến lược hạn chế và ngăn cản đà bành trướng của TC giành thế hải thượng của Mỹ trên Á châu Thái bình dương, Mỹ sẽ đi sát với CS Hà nội hơn, biến Hà nội thành nút chận TC trong việc kiểm soát đường hàng hải huyết mạch qua eo biển Mã Lai. Theo thói quen thời Chiến Tranh Lạnh, Mỹ thích một “chánh quyền mạnh”, sẽ thắt chặt tương quan quân sự với CS Hà nội. Được thế của Mỹ, CS Hà nội sẽ trấn áp thành phần đấu tranh nhiều hơn trong nước và ngòai nước và làm yếu công cuộc quốc tế vận của người Mỹ gốc Việt.
Nhưng nhiều dấu chỉ cho thấy, Mỹ còn kẹt, còn rất dè dặt với CS Hà nội, không tay trong tay với CS Hà nội như trực tiếp đồng minh với CS Hà nội, mà để Ấn, Nhựt, Phi đi trực tiếp với CS Hà nội.
CS Hà Nội cố bám quyền hành bằng mọi giá. Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng đi Bắc Kinh cầu phong. Chấp nhận giải quyết vấn đề Biển Đông trên nguyên tắc song phương, thì coi như giao 80% Biển Đong và hai dảo Hòang và Trường sa của VN cho TC, CS Bắc Kinh đã gồm trong bản đồ hình lưỡi bò của TC rồi. Thương lượng tay đôi giữa một cường quốc với một nhược tiểu coi như giao trứng cho ác rồi.
Còn Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang bôn ba ở Ấn, Phi, Nam Hàn, và Mỹ (Hawaii), Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đi Nhựt áp dụng chánh sách phóng tài hóa thu nhân tâm, cho Ấn, Nhựt, Nam Hàn bao thấu làm mỗi nước hai nhà máy điện nguyên tử, nhưng chỉ đi trực tiếp được với những nước phụ trong chiến dịch bao vây TC của Mỹ, chớ Hà nội không đi được trực tiếp với Mỹ. Và mới đây nhứt Tướng Nguyễn chí Vịnh, Thứ Trưởng Quốc Phòng nhưng quyền thế cao nhứt nhớ nắm Tổng Cục Hai tình báo quốc nội, quốc ngoại của VNCS và rất thân với Thủ Tướng Dũng người nhiểu quyển thế nhứt Đảng Nhà Nước VNCS.
Và Mỹ thay đổi một phần lập trường không chỉ bảo vệ tự do hàng hải, tự do hải hành trên đại dương, cụ thể là đường hàng hải huyết mạch từ Eo Biển Mã Lai lên Bắc Thái Bình Dương. Mà Mỹ có những lời tuyên bố dẫn nhập vào các cuộc tranh chấp biển đảo của TC đối với Phi luật tân và VN như các lời tuyên bố của các giới chức thẫm quyển trích dẩn ở trên.
Mỹ chưa hy sinh niềm tin giá trị nhân quyền. Mỹ chưa vì chiến lược bao vậy TC, mà hy sinh, phản bội lời hứa nhân quyền cho VN. Mỹ đang ở thế mạnh trong thương thảo với Hà Nội. CS Hà Nội bên ngoài đã mất đất và biển, hàng hóa TC làm liệt kỹ nghệ VN và phe thân TC trong Đảng chống phá phe cầm quyền. Trong khi nếu chơi được với Mỹ họ tin sẽ bảo vệ được lãnh thổ mà còn được giúp kinh tế. Phe Đổi Mới thân Mỹ đang thắng thế muốn triệt phe thân TC và liên minh với Mỹ.
Trong tình hình đó, phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN trong lẫn ngoài nước tỏ ra cần thiết hơn bao giờ hết cho quyền lợi chân chính của dân và nước VN. Bất mãn, nản lòng, thụ động, buông xuôi, hay chạy theo để chánh tri gia thực dụng ở Washington làm thay, nghĩ thế hoặc hòa giải hòa hợp với CS để họ tự tung tự tác, giải quyết vấn đề VN trên đầu trên cổ người dân VN trong ngoài nước - là giải pháp dễ, nhưng dở, và di hại lâu dài, khó sửa.
Trái lại đẩy mạnh thế đấu tranh trong nước và quốc tế vận cho phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN song song với chống TC xâm lược sẽ là một tác động hướng thiện, làm cho liên minh trở thành tốt hơn.
Thời cơ bây giờ của người Việt tốt hơn thời Chiến tranh Lạnh. Ba triệu người Việt đang là cán bộ ngoại giao nhân dân, mà phân nửa đang ở Mỹ, có một bề dày kinh nghiệm đấu tranh 37 năm; thế thành công rất lớn. Xem gương người Mỹ gốc Do Thái trong bàn cờ chánh trị Do Thái- Mỹ và Hồi Giáo, thành công cỡ nào ắt thấy. Xem gương kiên trì chịu đựng khổ nhục, cố gắng đấu tranh của Đài loan để cho một Trung Hoa Quốc gia tồn tại trước một con khủng long CS khổng lồ là TC để hy vọng.
“Nếu đường đời bằng phẳng cả, thì anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Độc lập, tự do, dân chủ không bao giờ xin mà được, phải đấu tranh mới có. Không ai thương người Việt hơn người Việt. Đây là thời điểm người Việt Hải ngoại vận dụng kinh nghiệm 37 năm đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, tại Mỹ để đẩy mạnh công cuộc quốc tế vận cho sự nghiệp trường kỳ, mục tiêu tối hậu cho đồng bào, cho nước nhà VN. Hạ sách nhứt là tiêu cực, thụ động, buông trôi, bỏ cuộc, sống một đời lưu vong co đầu rút cổ trong nhà cao, cửa rộng, xe sang. Trung sách là chạy theo các chánh trị gia thực dụng Mỹ để họ làm thay nghĩ thế, quyết định số phận trên đầu trên cổ người Việt như trong thời hiệp định Paris. Thượng sách là đòi hỏi TT Obama, đòi hỏi hai ứng cử viên tổng thống, dân biểu nghị sĩ Mỹ phải thực hiện lời hứa dân chủ hoá thế giới, mà VN là nơi độc tài toàn diện đang đè quằn quại, độc đảng đang tước đoạt quyền sống Con Người, lâu hơn Iraq, nặng hơn Iran, và độc không thua Bắc Hàn.
CS Hà Nội --đúng -- có thế bang giao, có ngân sách quốc gia, nhưng thiếu chánh nghĩa và thiếu lòng dân, là hai yếu tố cân bản để đấu tranh chánh trị. Chưa bao giờ người Việt Quốc Gia có một đội ngũ cán bộ ngoại giao nhơn dân, bình dân như bây giờ. Trong thời đồng minh với Mỹ, chỉ có hai ngọn cờ VN Cộng Hòa treo ở Tòa Đại sứ ở Washington DC, và tổng lãnh sự ở San Francisco, do viên chức ngoại giao VNCH treo. Bây giờ chánh quyền cả chục tiểu bang, hàng trăm thành phố của Mỹ, của hơn nửa dân số Mỹ thừa nhận cho người Mỹ gốc Việt giương lên.
VC đi tới đâu bị biểu tình chống tới đó ở Mỹ. Lá phiếu của người Việt tuy không đủ để làm một tổng thống, một nghị sĩ Mỹ, nhưng có thể làm giọt nước tràn thắng cử cho dân biểu, nghị sĩ liên bang và tổng thống Mỹ nữa nếu cử tri Mỹ gốc Việt biết vận dụng. Trong chánh trị bầu cử không có chuyện làm giùm, lá phiếu có ý nghĩa là lá phiếu của quyên lợi tinh thần hay vật chất cho tập thể, cộng đồng của mình.
Đấu tranh chánh trị ai dài hơi người đó thắng. Người Mỹ gốc Việt đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN tại sân nhà của mình, đâu có tốn kém như CS Hà Nội đến Washington. Không có lý do gì để nhân dân và chánh quyền chánh trục của Mỹ tin, nể CS Hà Nội hơn tin, nể công dân Mỹ gốc Việt của mình. Lý tưởng Tự do, dân chủ là niềm tin lập quốc của Mỹ và là chánh nghĩa đấu tranh của người Mỹ gốc Việt. Đồng thanh tương ứng đồng khi tương cầu, sớm muộn gì cũng thắng độc tài đảng trị CS Hà Nội.
Paul Ryan: Chọn lựa để thất bại
Trần Bình Nam
Hôm Thứ Bảy, 11 tháng 8, vào lúc dân chúng Hoa Kỳ đang theo dõi và thưởng thức thành quả khích lệ của đoàn vận động viên của Hoa Kỳ tại Thế Vận Hội mùa hè ở Luân Ðôn, càng lúc càng dẫn đầu xa Trung Quốc, thì ông Mitt Romney, ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng hòa làm cho cơn sốt truyền thông lên cao thêm một cung bậc.
Ông tuyên bố chọn Dân Biểu Paul Ryan (bang Wisconsin) đứng phó tổng thống trong một buổi xuất hiện chung trước công chúng tại Norfolk, Virginia.
Ông Paul Ryan đương kim chủ tịch Ủy Ban Ngân Sách Hạ Nghị Viện sau khi đảng Cộng Hòa nắm lại đa số tại Hạ Nghị Viện trong cuộc bầu cử Quốc Hội tháng 11 năm 2010. Paul Ryan là một dân biểu trẻ tuổi có tài. Ông nổi tiếng trong cuộc tranh luận với Tổng Thống Obama về ngân sách. Nguyên tắc của Paul Ryan cực kỳ đơn gỉản: cắt các chương trình chi tiêu của chính phủ, giảm chi phí các chương trình an sinh xã hội và giảm thêm thuế cho thành phần dư dả để khuyến khích đầu tư.
Xuất hiện bên cạnh ông Mitt Romney, Dân Biểu Paul Ryan trẻ tuổi, đầy sức sống, rạng rỡ hứa sẽ cùng với Mitt Romney lãnh đạo đưa Hoa Kỳ ra khỏi cơn khó khăn kinh tế và ngân sách hiện tại. Sự chọn lựa ông Paul Ryan đã bơm một chất xúc tác vào cuộc tranh cử tổng thống bắt đầu khó khăn của ông Romney.
Vào mùa Xuân năm nay cuộc tranh cử khởi đầu với nhiều lợi điểm cho phía Cộng Hòa vì kinh tế khó khăn, thất nghiệp, giá dầu xăng tăng, và yếu tố tâm lý làm dân chúng Hoa Kỳ dường như muốn đổi ngựa. Mặt khác ông Mitt Romney xuất hiện như một khuôn mặt Cộng Hòa trung dung, nhiều kinh nghiệm kinh doanh và với tên tuổi quen thuộc qua cuộc tranh cử năm 2004 giành sự đề cử của Cộng Hòa với Thượng Nghị Sĩ John McCain. Cuộc chạy đua vào Bạch Ốc của Thượng Nghị Sĩ McCain bất thành làm cho dân chúng Hoa Kỳ dường như luyến tiếc đã chọn nhầm ứng cử viên cho đảng Cộng Hòa, và lần này dành nhiều cảm tình cho ông Mitt Romney ngay từ bước đầu.
Khi còn là thống đốc bang Massachusetts (2003-2007) Mitt Romney ký ban hành luật bảo hiểm sức khỏe bảo đảm mọi người sống trong tiểu bang đều được bảo hiểm sức khỏe trong đó có khoản buộc một số công dân Mỹ sống tại bang Massachusetts phải mua bảo hiểm dưới một hình thức nào đó, hoặc tự liệu hoặc do chính phủ tiểu bang giúp đỡ. Luật này đã có ảnh hưởng đến nỗ lực của Tổng Thống Obama khi vừa đắc cử vận động Quốc Hội thông qua luật Affordable Care Act (hay còn gọi là Obamacare) tháng 3 năm 2010.
Thành phần phía hữu chống luật Affordable Care Act buộc một thành phần công dân phải mua bảo hiểm là vi hiến, và sự tranh luận đã phân cực xã hội Hoa Kỳ, một bên là hữu, một bên là tả, không dành một chỗ đứng nào cho thành phần ở giữa. Kết quả cuộc bầu cử Quốc Hội tháng 11 năm 2010 đảng Tea Party của bà Sarah Palin xuất hiện và giúp đảng Cộng Hòa chiếm lại đa số tại Hạ Nghị Viện.
Do sự phân cực không khí chính trị Hoa Kỳ, trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay (2012) nhiều thành phần cực hữu đã xuất hiện, như Newt Ginrich, Ron Paul, Rick Santorum, Rick Perry, Michelle Bachmann tranh với ông Mitt Romney, một khuôn mặt ôn hòa. Do nhu cầu giành sự đề cử của đảng ông Mitt Romney đã tạm thời từ bỏ lập trường trung dung của ông trong các lĩnh vực bảo hiểm sức khỏe, quyền di trú (immigration), quyền của những người đồng tính... Khi được chất vấn quan điểm của ông về bảo hiểm sức khỏe, ông nói luật đó cần cho bang Massachusetts, nhưng không cần cho cả nước. Ai cũng hiểu đó là một cách nói cho qua chuyện, nhưng sự thích ứng với nhu cầu tranh cử trong nội bộ đảng Cộng Hòa cuối cùng đã làm cho ông Mitt Romney được sự chấp nhận của đảng Cộng Hòa.
Nhưng phóng lao phải theo lao, ứng cử viên Mitt Romney nhận ra rằng ông chỉ có một con đường để thắng ông Obama là tận dụng khuynh hướng cực hữu. Ðiều này được thấy qua thái độ của ông ngày 28 tháng 6 vừa qua khi Tối Cao Pháp Viện phán quyết duy trì Affordable Care Act. Ông long trọng cho dựng một bệ gỗ với khẩu hiệu “Repeal & Replace Obamacare” (Hủy bỏ và thay thế Luật Bảo hiểm Sức khỏe của Obama) và dõng dạc tuyên bố: “Nhiệm vụ của chúng ta rất rõ ràng. Nếu chúng ta muốn hủy bỏ Obamacare, chúng ta phải thay thế Tổng Thống Obama. Sứ mạng của tôi là thực hiện điều đó.” (Nguyên văn: Our mission is clear. If we want to get rid of Obamacare, we are going to have to replace President Obama. My mission is to make sure we do exactly that) (1)
Lời tuyên bố của ông Mitt Romney cho thấy ông là một nhà chính trị có thể làm bất cứ gì để được phiếu, bất chấp thực tế, bất chấp quan điểm vốn có của mình.
Ký giả Michael Tomasky trong một bài báo viết cho tờ tuần báo Newsweek số ngày 6 tháng 8 không ngần ngại dùng danh từ “wimp” để miêu tả ông Mitt Romney (2). Wimp có nghĩa là nhát gan, người không có xương sống, một người không có lập trường. Dẫn chứng hoạt động chính trị của ông Romney nhất là kinh qua hai cuộc tranh cử tổng thống ông Tomasky nhận định rằng ông Mitt Romney không có một lập trường rõ ràng về bất cứ một vấn đề gì. Về quyền phá thai? Ông bà Romney từng viết chi phiếu ủng hộ tổ chức “Kế hoạch hóa gia đình” (Planned Parenthood) thì nay chương trình “kế hoạch hóa” đang ở trong danh mục cần đánh phá. Về lập trường đánh thuế? Ông Romney đã không ký vào “bản cam kết không tăng thuế” (Taxpayer Protection Pledge) do nhà chủ trương cải tổ thuế khóa Grover Norquist đưa ra khi đang tranh cử thống đốc bang Massachusetts, nhưng năm 2007 lại hăm hở ký. Về di dân và quốc tịch ông Romney từng chủ trương tạo cơ hội cho người định cư bất hợp pháp trở thành công dân Hoa Kỳ thì bây giờ là người chống đối nó mạnh mẽ nhất. Lập trường về quyền mang súng? Ông từng ủng hộ “Luật Brady” (3) giới hạn quyền mang súng thì bây giờ ông chống mọi giới hạn.
Ông Michael Tomasky viết rằng người Mỹ rất thông cảm sự thay đổi lập trường vì nhu cầu tranh cử của các chính trị gia trong một chừng mực nào đó nhưng rất kiêng kỵ các ứng cử viên không có xương sống. Ông Tomasky nói rằng có 3 lý do làm cho một chính trị gia thay đổi lập trường. Thứ nhất là được tiền, thứ hai là can đảm khi thấy lập trường mình sai, thứ ba là hèn nhát sợ đám đông mình đang ve vuốt. Theo ông Tomasky ông Mitt Romney không cần tiền, cũng chẳng phải thấy lập trường mình sai mà chỉ vì nhát gan không dám đối diện với áp lực.
Việc ông Romney chọn ông Paul Ryan đứng phó thể hiện chân dung của ông. Ông chọn một xã hội phân cực và cực hữu để đắc cử. Ông quên quá khứ, bất chấp các cử tri ở giữa, bất cần phiếu của người thiểu số, bất chấp thành phần yếu kém trong xã hội.
Sự chọn lựa của ông Mitt Romney không khác quyết định của Thượng Nghị Sĩ John McCain khi chọn bà Sarah Palin đứng phó. Chỉ khác ở chỗ trước khi được chọn không ai biết bà Palin là ai. Dân Biểu Paul Ryan trái lại đã nổi danh bởi những quan điểm cực hữu của ông về thuế (dứt khoát không tăng thuế thành phần có lợi tức cao), về thâm thủng ngân sách (giảm chi phí công), về an sinh xã hội (cắt giảm các chương trình Medicare, Medicaid, tem phiếu, chương trình giúp trẻ em các gia đình nghèo...). Sự đáp ứng của truyền thông dành cho ông Paul Ryan có thể khích lệ hơn khi được ông McCain chọn bà Palin. Nhưng tác dụng sau cùng cũng sẽ không khác nhau.
Nếu năm 2008 ông Barack Obama đã thắng nhờ sự tính toán sai lầm của Thượng Nghị Sĩ John McCain chọn bà Sarah Palin và cuộc khủng hoảng kinh tế xẩy ra một tháng trước ngày bầu cử. Thì lần này ông Obama lại thắng nhờ lập trường chao đảo của ứng cử viên Mitt Romney và việc chọn ông Paul Ryan đứng phó làm cho cử tri đứng giữa và thành phần thiểu số không có một sự lựa chọn nào khác.
Trần Bình Nam
Hôm Thứ Bảy, 11 tháng 8, vào lúc dân chúng Hoa Kỳ đang theo dõi và thưởng thức thành quả khích lệ của đoàn vận động viên của Hoa Kỳ tại Thế Vận Hội mùa hè ở Luân Ðôn, càng lúc càng dẫn đầu xa Trung Quốc, thì ông Mitt Romney, ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng hòa làm cho cơn sốt truyền thông lên cao thêm một cung bậc.
Ông tuyên bố chọn Dân Biểu Paul Ryan (bang Wisconsin) đứng phó tổng thống trong một buổi xuất hiện chung trước công chúng tại Norfolk, Virginia.
Ông Paul Ryan đương kim chủ tịch Ủy Ban Ngân Sách Hạ Nghị Viện sau khi đảng Cộng Hòa nắm lại đa số tại Hạ Nghị Viện trong cuộc bầu cử Quốc Hội tháng 11 năm 2010. Paul Ryan là một dân biểu trẻ tuổi có tài. Ông nổi tiếng trong cuộc tranh luận với Tổng Thống Obama về ngân sách. Nguyên tắc của Paul Ryan cực kỳ đơn gỉản: cắt các chương trình chi tiêu của chính phủ, giảm chi phí các chương trình an sinh xã hội và giảm thêm thuế cho thành phần dư dả để khuyến khích đầu tư.
Xuất hiện bên cạnh ông Mitt Romney, Dân Biểu Paul Ryan trẻ tuổi, đầy sức sống, rạng rỡ hứa sẽ cùng với Mitt Romney lãnh đạo đưa Hoa Kỳ ra khỏi cơn khó khăn kinh tế và ngân sách hiện tại. Sự chọn lựa ông Paul Ryan đã bơm một chất xúc tác vào cuộc tranh cử tổng thống bắt đầu khó khăn của ông Romney.
Vào mùa Xuân năm nay cuộc tranh cử khởi đầu với nhiều lợi điểm cho phía Cộng Hòa vì kinh tế khó khăn, thất nghiệp, giá dầu xăng tăng, và yếu tố tâm lý làm dân chúng Hoa Kỳ dường như muốn đổi ngựa. Mặt khác ông Mitt Romney xuất hiện như một khuôn mặt Cộng Hòa trung dung, nhiều kinh nghiệm kinh doanh và với tên tuổi quen thuộc qua cuộc tranh cử năm 2004 giành sự đề cử của Cộng Hòa với Thượng Nghị Sĩ John McCain. Cuộc chạy đua vào Bạch Ốc của Thượng Nghị Sĩ McCain bất thành làm cho dân chúng Hoa Kỳ dường như luyến tiếc đã chọn nhầm ứng cử viên cho đảng Cộng Hòa, và lần này dành nhiều cảm tình cho ông Mitt Romney ngay từ bước đầu.
Khi còn là thống đốc bang Massachusetts (2003-2007) Mitt Romney ký ban hành luật bảo hiểm sức khỏe bảo đảm mọi người sống trong tiểu bang đều được bảo hiểm sức khỏe trong đó có khoản buộc một số công dân Mỹ sống tại bang Massachusetts phải mua bảo hiểm dưới một hình thức nào đó, hoặc tự liệu hoặc do chính phủ tiểu bang giúp đỡ. Luật này đã có ảnh hưởng đến nỗ lực của Tổng Thống Obama khi vừa đắc cử vận động Quốc Hội thông qua luật Affordable Care Act (hay còn gọi là Obamacare) tháng 3 năm 2010.
Thành phần phía hữu chống luật Affordable Care Act buộc một thành phần công dân phải mua bảo hiểm là vi hiến, và sự tranh luận đã phân cực xã hội Hoa Kỳ, một bên là hữu, một bên là tả, không dành một chỗ đứng nào cho thành phần ở giữa. Kết quả cuộc bầu cử Quốc Hội tháng 11 năm 2010 đảng Tea Party của bà Sarah Palin xuất hiện và giúp đảng Cộng Hòa chiếm lại đa số tại Hạ Nghị Viện.
Do sự phân cực không khí chính trị Hoa Kỳ, trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay (2012) nhiều thành phần cực hữu đã xuất hiện, như Newt Ginrich, Ron Paul, Rick Santorum, Rick Perry, Michelle Bachmann tranh với ông Mitt Romney, một khuôn mặt ôn hòa. Do nhu cầu giành sự đề cử của đảng ông Mitt Romney đã tạm thời từ bỏ lập trường trung dung của ông trong các lĩnh vực bảo hiểm sức khỏe, quyền di trú (immigration), quyền của những người đồng tính... Khi được chất vấn quan điểm của ông về bảo hiểm sức khỏe, ông nói luật đó cần cho bang Massachusetts, nhưng không cần cho cả nước. Ai cũng hiểu đó là một cách nói cho qua chuyện, nhưng sự thích ứng với nhu cầu tranh cử trong nội bộ đảng Cộng Hòa cuối cùng đã làm cho ông Mitt Romney được sự chấp nhận của đảng Cộng Hòa.
Nhưng phóng lao phải theo lao, ứng cử viên Mitt Romney nhận ra rằng ông chỉ có một con đường để thắng ông Obama là tận dụng khuynh hướng cực hữu. Ðiều này được thấy qua thái độ của ông ngày 28 tháng 6 vừa qua khi Tối Cao Pháp Viện phán quyết duy trì Affordable Care Act. Ông long trọng cho dựng một bệ gỗ với khẩu hiệu “Repeal & Replace Obamacare” (Hủy bỏ và thay thế Luật Bảo hiểm Sức khỏe của Obama) và dõng dạc tuyên bố: “Nhiệm vụ của chúng ta rất rõ ràng. Nếu chúng ta muốn hủy bỏ Obamacare, chúng ta phải thay thế Tổng Thống Obama. Sứ mạng của tôi là thực hiện điều đó.” (Nguyên văn: Our mission is clear. If we want to get rid of Obamacare, we are going to have to replace President Obama. My mission is to make sure we do exactly that) (1)
Lời tuyên bố của ông Mitt Romney cho thấy ông là một nhà chính trị có thể làm bất cứ gì để được phiếu, bất chấp thực tế, bất chấp quan điểm vốn có của mình.
Ký giả Michael Tomasky trong một bài báo viết cho tờ tuần báo Newsweek số ngày 6 tháng 8 không ngần ngại dùng danh từ “wimp” để miêu tả ông Mitt Romney (2). Wimp có nghĩa là nhát gan, người không có xương sống, một người không có lập trường. Dẫn chứng hoạt động chính trị của ông Romney nhất là kinh qua hai cuộc tranh cử tổng thống ông Tomasky nhận định rằng ông Mitt Romney không có một lập trường rõ ràng về bất cứ một vấn đề gì. Về quyền phá thai? Ông bà Romney từng viết chi phiếu ủng hộ tổ chức “Kế hoạch hóa gia đình” (Planned Parenthood) thì nay chương trình “kế hoạch hóa” đang ở trong danh mục cần đánh phá. Về lập trường đánh thuế? Ông Romney đã không ký vào “bản cam kết không tăng thuế” (Taxpayer Protection Pledge) do nhà chủ trương cải tổ thuế khóa Grover Norquist đưa ra khi đang tranh cử thống đốc bang Massachusetts, nhưng năm 2007 lại hăm hở ký. Về di dân và quốc tịch ông Romney từng chủ trương tạo cơ hội cho người định cư bất hợp pháp trở thành công dân Hoa Kỳ thì bây giờ là người chống đối nó mạnh mẽ nhất. Lập trường về quyền mang súng? Ông từng ủng hộ “Luật Brady” (3) giới hạn quyền mang súng thì bây giờ ông chống mọi giới hạn.
Ông Michael Tomasky viết rằng người Mỹ rất thông cảm sự thay đổi lập trường vì nhu cầu tranh cử của các chính trị gia trong một chừng mực nào đó nhưng rất kiêng kỵ các ứng cử viên không có xương sống. Ông Tomasky nói rằng có 3 lý do làm cho một chính trị gia thay đổi lập trường. Thứ nhất là được tiền, thứ hai là can đảm khi thấy lập trường mình sai, thứ ba là hèn nhát sợ đám đông mình đang ve vuốt. Theo ông Tomasky ông Mitt Romney không cần tiền, cũng chẳng phải thấy lập trường mình sai mà chỉ vì nhát gan không dám đối diện với áp lực.
Việc ông Romney chọn ông Paul Ryan đứng phó thể hiện chân dung của ông. Ông chọn một xã hội phân cực và cực hữu để đắc cử. Ông quên quá khứ, bất chấp các cử tri ở giữa, bất cần phiếu của người thiểu số, bất chấp thành phần yếu kém trong xã hội.
Sự chọn lựa của ông Mitt Romney không khác quyết định của Thượng Nghị Sĩ John McCain khi chọn bà Sarah Palin đứng phó. Chỉ khác ở chỗ trước khi được chọn không ai biết bà Palin là ai. Dân Biểu Paul Ryan trái lại đã nổi danh bởi những quan điểm cực hữu của ông về thuế (dứt khoát không tăng thuế thành phần có lợi tức cao), về thâm thủng ngân sách (giảm chi phí công), về an sinh xã hội (cắt giảm các chương trình Medicare, Medicaid, tem phiếu, chương trình giúp trẻ em các gia đình nghèo...). Sự đáp ứng của truyền thông dành cho ông Paul Ryan có thể khích lệ hơn khi được ông McCain chọn bà Palin. Nhưng tác dụng sau cùng cũng sẽ không khác nhau.
Nếu năm 2008 ông Barack Obama đã thắng nhờ sự tính toán sai lầm của Thượng Nghị Sĩ John McCain chọn bà Sarah Palin và cuộc khủng hoảng kinh tế xẩy ra một tháng trước ngày bầu cử. Thì lần này ông Obama lại thắng nhờ lập trường chao đảo của ứng cử viên Mitt Romney và việc chọn ông Paul Ryan đứng phó làm cho cử tri đứng giữa và thành phần thiểu số không có một sự lựa chọn nào khác.

