Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Image

HỐi HẬN MUỘN MÀNG ...

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Trước khi Khmer Đỏ vào Phnom Penh, ngày 12-4-1975, ông Đại Sứ Mỹ tại Cambodia, John Gunther Dean, đưa ra đề nghị mời các giới chức quan trọng trong Chính Phủ Cộng Hòa Khmer đi tỵ nạn tại Mỹ, nhưng các ông Sirik Matak, Long Boret, và Lon Non , cùng với các thành viên trong Nội Các Lon Non từ chối, mặc dù các ông Long Boret và Sirik Matak đã có tên trong danh sách tử hình “7 Kẻ Phản Bội’ của Khmer Đỏ. Ông Sirik Matak viết thư trả lời ông Đại Sứ Mỹ như sau :

“I thank you very sincerely for your letter and for your offer to transport me towards freedom. I cannot, alas, leave in such a cowardly fashion. As for you and in particular for your great country, I never believed for a moment that you would have this sentiment of abandoning a people which has chosen liberty. You have refused us your protection and we can do nothing about it. You leave us and it is my wish that you and your country will find happiness under the sky. But mark it well that, if I shall die here on the spot and in my country that I love, it is too bad because we are all born and must die one day. I have only committed the mistake of believing in you, the Americans. Please accept, Excellency, my dear friend, my faithful and friendly sentiments.

Prince Sirik Matak.”


Tạm dịch:

“Tôi thành thực cám ơn lá thư của ngài cùng với lời đề nghị đưa tôi đi tị nạn. Rất tiếc, tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như thế được. Về phần ngài và đặc biệt về phần quốc gia vĩ đại của ngài, tôi không bao giờ mảy may tin rằng quí vị lại có ý bỏ rơi một dân tộc đã chọn lựa tự do. Quí vị đã từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng làm gì được. Quí vị rời bỏ chúng tôi và tôi xin cầu mong cho ngài và đất nước của ngài tìm được hạnh phúc dưới bầu trời. Xin ngài ghi nhớ điều này là, nếu tôi có chết ngay lập tức tại đây trên quê hương của tôi mà tôi yêu dấu, thì đó là điều quá tồi tệ, bởi vì tất cả chúng ta đều sinh ra và một ngày nào đó phải chết. Tôi chỉ phạm phải một sai lầm là đã tin vào quí ngài, những người Mỹ. Thưa ngài Đại Sứ, người bạn quí mến của tôi, xin ngài nhận nơi đây tình cảm chân thành và tha thiết của tôi.

Hoàng Thân Sirik Matak.“



Người Hùng Cam Bốt, Cố Thủ Tướng Sirik Matak.

Thủ tướng Cam Bốt Sirik Matak và cả chính phủ của ông Lon Non vì tin vào Mỹ nên mất nước và bị Khmer Đỏ phanh thây. Nhiều người Việt Nam cho đến bây giờ vẫn còn trông chờ Mỹ giúp họ đánh đuổi Cộng Sản.

Nhân mùa Quốc Hận tưởng niệm ngày 30-4-1975, nhắc lại sự kiện Sirik Matak để học hỏi và tìm hiểu xem người Mỹ thực sự chống cộng sản ra sao thiết nghĩ cũng chẳng phải là chuyện vô bổ.

Người viết xin mở một dấu ngoặc để lưu ý bạn đọc: Chữ “người Mỹ” chúng tôi dùng trong bài là để chỉ chính quyền và các tập đoàn tư bản Mỹ chứ không nói nhân dân Hoa Kỳ.

Mỹ và Việt Nam

Còn câu hỏi Hoa Kỳ có thực tâm giúp người Vĩệt Nam chống Cộng Sản không thì người viết khỏi cần phải dài dòng. Mỗi người Việt Nam dù lớn hay nhỏ đều đã có đủ hiểu biết và tài liệu để tự trả lời cho chính mình.

Thời Đệ I Cộng Hòa, khi người Mỹ ngỏ ý muốn trực tiếp can thiệp bằng vũ lực trước vấn đề Cộng Sản miền Bắc xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, họ muốn đổ quân đội Mỹ vào Việt Nam để đánh Cộng Sản. Tổng Thống Ngôi Đình Diệm yêu cầu giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cần phải ký kết một bản Hiệp Ước An Ninh Hỗ Tương thì vấn đề đó mới danh chánh ngôn thuận, và Cộng Sản Việt Nam không xuyên tạc được, nhưng Mỹ từ chối. Sự thể cho thấy ngay, từ đầu, cái dã tâm đen tối của người Mỹ, nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới từ chối. Từ đó người Mỹ quyết tâm diệt trừ Tổng Thống Diệm để thực hiện âm mưu của mình. Khi loại trừ được Tổng Thống Ngô Đình Diệm rồi, Mỹ ngang nhiên đổ quân vào Việt Nam mà không cần có một chính quyền Việt Nam Cộng Hòa nào cho phép. Người Mỹ tự ý vào, rồi tự ý nắm quyền chủ động cuộc chiến, cũng như sau này việc thương thuyết hòa bình.

Trong cuộc chiến, nước Mỹ đã mất 58 ngàn quân sĩ tử trận, nhưng điều bỉ ổi nhất mà nhiều người không biết là 80% đồ tiếp tế của Liên Sô cho Cộng Sản trong thời gian chiến tranh là do các hãng Hoa Kỳ đầu tư và sản xuất tại Nga. Như thế có phải là chính người Mỹ đã gián tiếp giết người Mỹ không?

Khi người Mỹ đã hoàn tất mục tiêu thầm kín của mình rồi thì họ tìm cách rút chân ra khỏi Việt Nam. Bằng nhiều cách và nhiều thủ đoạn, người Mỹ đã thực hiện ý định nhiều khi khá lộ liễu:

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đánh sang Nam Lào, người Mỹ đã bí mật thông báo kế hoạch và phóng đồ hành quân cho Hànội. Mục đích của hành động tồi bại này là để làm suy yếu khả năng chiến đấu của các đại đơn vị tinh nhuệ và thiện chiến nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Ý đồ phản bội miền Nam rõ rệt nhất của Mỹ là năm 1972, khi Kissinger sang thăm Bắc Kinh, y đã nói với Mao Trạch Đông rằng, nước Mỹ sẵn sàng chấp nhận một nước Việt Nam thống nhất dưới quyền cai trị của Cộng Sản miền Bắc. Mao ngu gì mà không chịu?

Để thực hiện ý đồ nàỵ, chính quyền Mỹ đã giàn dựng cả một chiến dịch ta thưòng gọi là “Phong trào phản chiến” bôi nhọ và vu cáo miền Nam, làm cho dư luân Mỹ chán ghét chiến tranh để lấy cớ rút lui. Biện pháp cuối cùng là cắt viện trợ và “Embargo” quân dụng và vũ khí đạn dược cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Biện pháp xẩy ra giống y chang như Mỹ đã làm đối với quân đội của Tưởng Giới Thạch. Để che mắt thế giới, và để đánh lừa cái lương tâm bất chính của mình, người Mỹ đã muối mặt chở đến Saigon 6 chuyến máy bay vận tải toàn đồ quân trang như bi đông đựng nước, giầy trận, áo mưa v.v. Vào những giờ phút sinh tử của cuộc chiến, người Mỹ chở súng không có cơ bẩm cho người Trung Hoa. Nay người Mỹ chở poncho, bidong v.v. cho VN thay vì vũ khí đạn dược. Trên thế giới này có lẽ chỉ có người Mỹ mới có cái tính khôi hài qua việc làm bôi bác như thế mà thôi.

Nước láng giềng Cambodia của chúng ta cũng giống như chúng ta: Bị người Mỹ bịp, và vì thế ông Sirik Matak mới có lá thư gởi cho ông đại sứ Mỹ như chúng tôi ghi lại trên trang đầu của bài viết. Phần đông chúng ta vẫn tưởng nước Mỹ thay đổi chính sách mỗi khi có một tổng thống mới lên cầm quyền. Vì thế mới bị lầm, và bị lầm rồi mà vẫn cứ hy vọng. Nghị sĩ Barry Goldwater cho biết:

"Khi một tổng thống lên nắm quyền, đó chỉ là vấn đề thay đổi nhân sự, nhưng chính sách không thay đổi."

Ông đưa ra thí dụ, thời TT Nixon Cộng Hòa, Henry Kissinger là thành viên CFR, người được Nelson Rockefeller đỡ đầu, nắm chính sách ngoại giao. Khi Jimmy Carter Dân Chủ đắc cử, Kissinger được thay thế bởi Brzezinski. Brzezinski cũng là thành viên CFR và được David Rockefeller che chở.

Với những dẫn chứng lịch sử trên, và với kinh nghiệm bản thân của mỗi người Việt Nam, chúng ta có thể khẳng định rằng chính sách của nước Mỹ đối với cộng sản không thay đổi. Chính sách đó như Ts Stanley Montieth cho biết là:

"Cộng sản và tư bản luôn luôn cộng tác với nhau, bởi vì cả hai cùng được thúc đẩy bởi một đông lực tinh thần, và cả hai cùng tìm kiếm một mục tiêu (communists and capitalists have always worked together because they are motivated by the same spiritual force, and they seek the same goal.)"

Người viết xin thêm vào một ý kiến riêng để câu nói được trọn nghĩa:

"Mục tiêu đó là khống chế toàn bộ đời sống con người và xã hội."

Kết luận

Không biết dân tộc Khmer có được mấy trăm, mấy ngàn năm văn hiến mà tạo ra được cả một nội các chính phủ đáng kính và đáng khâm phục như thế. Họ thà chết chứ không chạy theo những kẻ đã lừa bịp họ. Thế mà trước đó báo chí Mỹ la rùm beng chính quyền Lon Non tham những số một trên thế gian này. Nếu quả như báo chí dòng chính Mỹ tố cáo, các ông Lon Non, Sirik Matak v.v. đem tiền bạc tham nhũng sang Mỹ hưởng vinh hoa phú quí không sướng hơn ở lại để mất đầu hay sao! Biết chắc chắn mình sẽ không thọ khi rơi vào tay Khmer Đỏ, trước khi chết thủ tướng Sirik Matak đã bầy tỏ sự hối tiếc vì tin vào người Mỹ.

Thực ra, không phải chỉ có ông Matak tin vào người Mỹ, mà cả nước Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa) chúng tôi tin vào người Mỹ. Nhưng khi ông mở mắt bừng tỉnh thì đã quá muộn rồi.

Ông Sirik Matak phạm sai sầm, nhưng cuối cùng khi nhận ra mình sai lầm, ông đã thành khẩn nhận sai lầm và tỏ ra hối hận. Chỉ có người Việt Nam, chưa thấy ai nhận ra sự sai lầm của mình và tỏ ra hối hận như ông Sirik Matak. Tệ hại hơn nữa là cho đến bây giờ vẫn còn có rất nhiều người u mê tin rằng người Mỹ chống Cộng, và trông đợi hão huyền rằng người Mỹ sẽ giúp người Việt Nam chống Trung Cộng, đòi đất, đòi biển.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
band4 3G McKeno

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Trung cộng đe dọa thế giới

Huỳnh Ngọc Tuấn

(Danlambao) - Đó là lời cảnh báo của chính phủ Nhật Bản đưa ra trong cuốn Bạch thư Quốc phòng được phổ biến trong ngày 31/07/2012.

Thế giới (nhất là người Việt Nam) hoàn toàn đồng ý và chia sẻ nỗi lo lắng của chính phủ Nhật, nhưng rất tiếc lời cảnh báo này được đưa ra một cách muộn màng và khả năng để giải quyết mối đe dọa này không có nhiều và không dễ dàng chút nào.

Tôi gọi lời cảnh báo này là rất muộn màng vì chúng ta thử nhìn lại mối đe dọa này không đến một cách ngẫu nhiên và đột biến mà nó đã hiện hữu rất lâu và được nuôi dưỡng bởi một lịch sử và một tham vọng mang tính truyền thống, được kế thừa liên tục bởi những con người tự cho mình có sứ mệnh khai hóa những dân tộc khác vì coi họ như “man di mọi rợ” !?

Người Hán chưa bao giờ có ý định chia sẻ không gian sinh tồn với những dân tộc khác, nhất là với những dân tộc có sức mạnh ngang bằng họ, họ vẫn quan niệm rằng thế giới chỉ có một “mặt trời” hay “một ngọn núi thì không thể có hai con hổ”. Với họ không hề có khái niệm cộng sinh hoặc hỗ tương giữa các dân tộc và các nền văn minh. Họ không hề có khái niệm bình đẳng chủng tộc, họ chỉ có một chữ “độc”, độc tôn, độc tài, độc quyền, độc cứ.

Trong lịch sử mấy ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt là mấy ngàn năm phải chống lại dã tâm thôn tính và nô dịch của người Hán, cho nên trong tâm thức của tất cả những người Việt yêu nước và có lòng tự hào dân tộc đều luôn nghi kỵ và cảnh giác trước người Hán.


Người Việt chúng ta chia sẻ không gian sinh tồn và văn hóa với Hán tộc nhưng không bao giờ ông cha chúng ta nhầm lẫn kẻ xâm lược là “đồng chí” là “anh em”, không bao giờ “nhầm lẫn” tai hại đến mức như Tố Hữu và đảng cộng sản Việt Nam (CSVN): “Bên ni biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương”.

Ông bà chúng ta từ đời này sang đời khác vẫn khẳng định: “Nam quốc sơn hà nam đế cư, tuyệt nhiên định phận tại thiên thư”.

Cha ông chúng ta không bao giờ tự đầu độc mình và đầu độc cả dân tộc bằng khẩu hiệu “16 chữ vàng và 4 tốt”!?.

Ngày hôm nay khi đối diện với sự hung bạo của Hán tộc trên biển Đông chúng ta mới biết cái trí tuệ của ông cha chúng ta và cái giá phải trả để chúng ta có được giang sơn gấm vóc này và chúng ta thấy tự hào vì chúng ta là kẻ kế thừa của một dân tộc anh hùng.

Liên tiếp những năm qua Trung cộng (TC) đã hành xử với ngư dân chúng ta bằng cái cung cách của bọn hải tặc chứ không phải cách hành xử của một cường quốc có trách nhiệm, như bắt cóc đòi tiền chuộc, bắn giết ngư dân trong tay không một tấc sắt, dùng tàu lớn đâm chìm tàu của chúng ta, hoặc cướp tài sản và hải sản.

Hành xử như kẻ cướp không phải là độc quyền của đảng cộng sản (CS) Trung hoa mà là bản chất của tất cả các đảng CS. Dân tộc chúng ta đang đối diện với hai hiểm họa: hiểm họa CS và hiểm họa Hán tộc.

Với ưu thế của một nền kinh tế lớn, sức mạnh quân sự và ngoại giao cũng tăng lên, TC đang đi theo chiều hướng của một thế lực bá quyền đế quốc, họ o ép, áp đặt đòi hỏi chủ quyền cực kỳ phi lý lên các nước láng giềng. Không những với các láng giềng nhỏ yếu như Việt Nam, Phi Luật Tân mà TC cũng gây hấn và không hề che dấu tham vọng lãnh thổ với một nước lớn như Nhật Bản. Trong cuốn Bạch thư Quốc phòng vừa công bố chính phủ Nhật đã mô tả TC như một thế lực đe dọa thế giới!

Ở đây có một điều mỉa mai và cay đắng.

Từ trước đến nay Nhật Bản xem TC như một đối tác quan trọng cả về kinh tế lẫn chiến lược. Có một thời Nhật Bản còn theo đuổi chủ trương coi mối quan hệ Trung-Nhật quan trọng hơn là mối quan hệ Nhật-Mỹ!

Chúng ta thấy sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến nay, Nhật Bản là một quốc gia nhận được nhiều sự giúp đỡ của Hoa Kỳ và đã trở thành một cường quốc kinh tế, một đầu tàu của nền kinh tế thế giới, có tiếng nói và ảnh hưởng quan trọng trên chính trường khu vực và quốc tế. Nhưng khác với Mỹ, châu Âu, Úc, Canada, Nhật Bản chỉ là một anh con buôn thuần túy, đặt lợi ích kinh tế lên hàng đầu và không quan tâm đến bất cứ điều gì ngoài lợi nhuận. Đối với người Nhật một thế giới tốt đẹp là một thế giới mang lại nhiều lợi nhuận nhất, chứ không phải là một thế giới mà những giá trị Tự do, Dân chủ, Nhân quyền được nhìn nhận như một nền tảng cốt tử cho nền an ninh và thịnh vượng của nhân loại.

Chính vì chính sách và tầm nhìn thiển cận đó mà người Nhật đã không hề xấu hổ khi bắt tay với các chế độ độc tài tàn bạo nhất thế giới như TC, cộng sản Việt Nam và bọn quân phiệt Miến Điện. Nhật Bản chính là một trong những thế lực đã nuôi dưỡng một nhà nước TC lớn mạnh như ngày hôm nay, để rồi phải hối tiếc khi biết mình đã “dưỡng hổ di họa” thì đã muộn.

Sự sai lầm này không chỉ có người Nhật và người Mỹ phải trả giá, mà VN chúng ta và Philippines là nạn nhân trực tiếp của cái sản phẩm này.

Với VN, ở trên bộ TC luôn tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để lấn chiếm đất đai. Ở trên biển TC dùng 16 chữ và và 4 tốt để hợp thức hóa mưu đồ ăn cướp với sự đồng lõa của người đồng chí CSVN.

TC ngày hôm nay đã đủ tự tin để từng bước thực hiện tham vọng bá chủ khu vực và thế giới. Với Nhật Bản họ công khai đòi chủ quyền trên quần đảo Lưu Cầu (trong đó có cả Okinawa). Tờ Hoàn cầu Thời báo khuyến khích nhà cầm quyền và giới quân sự TC phải “thu hồi” quần đảo Lưu Cầu kể cả bằng biện pháp quân sự!

Quần đảo Lưu Cầu có một vị trí chiến lược sinh tử không những đối với Nhật bản-TC mà còn đối với cả Mỹ. Việc muốn chiếm quần đảo Lưu Cầu bằng vũ lực chứng tỏ những cái đầu “Đại Hán” đã quá nóng đến độ điên rồ.

Hiện nay thực lực của quân đội TC còn thua kém Mỹ rất xa mà giới diều hâu trong quân đội đã có ý tưởng phiêu lưu như thế thì 5-10 năm nữa khi thực lực của họ vượt lên thì sự nguy hiểm sẽ như thế nào? Đây là một thách thức không chỉ với Nhật bản mà trong tương lai còn là thách thức với cả Hoa Kỳ.

Chính vì nhận thức như vậy mà tại nước Mỹ hiện nay đã có những tiếng nói cảnh báo hiểm họa TC từ những chính trị gia có thế lực của cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa và cả các học giả tên tuổi.

Mới đây cơ quan CSIS (Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế có trụ sở tại Washington) đã đưa ra một khuyến cáo với chính phủ Mỹ là nên tăng cường sự hiện diện quân sự tại Đông Á để đối phó với sự trỗi dậy của TC, cụ thể là người Mỹ nên triển khai ít nhất một tàu ngầm hạt nhân tấn công tại đảo Guam.

TC đang thực hiện kế hoạch lấn chiếm, đặt thế giới vào trạng huống đã rồi. Hoa đông là vùng biển mà TC muốn thay đổi trật tự hiện có.

Nhưng Hoa đông là một vùng biển dày đặc những căn cứ quân sự lớn của Nhật và Mỹ không dễ gì TC dám “sờ” tới lúc này, hơn nữa về nhu cầu chiến lược TC đặt ưu tiên việc chiếm biển Đông của VN và những quần đảo tại đây để tạo thế đối trọng với Mỹ trong trường kỳ.

Biển Đông của VN có một trữ lượng dầu khí khổng lồ nếu cướp được kho tàng này TC sẽ có trong tay nguồn dự trữ năng lượng chiến lược phục vụ cho nhu cầu phát triển trong vài thập niên tới mà không phải phụ thuộc nhiều vào nguồn nhập khẩu vừa đắt đỏ vừa nhiều rủi ro.

Quan hệ Mỹ-Trung đã xấu đi nhanh chóng trong thời gian gần đây vì tham vọng và ý đồ xấu xa của TC, và quan hệ này sẽ tiếp tục suy đồi trong thời gian tới. Việc Mỹ xoay trục chiến lược từ Âu châu – Đại Tây Dương sang Á châu Thái Bình Dương, việc Mỹ chuyển 60% lực lượng quân sự đến vùng Đông Á này và triển khai quân đội cùng với việc đặt căn cứ quân sự tại Úc làm TC bất an, nếu Mỹ tiếp tục cho bố trí ở khu vực này hệ thống phi đạn phòng thủ thì chắc chắn TC sẽ có hành động đáp trả.

TC sẽ không để mình bị bao vây và mất thế thượng phong vào tay Mỹ, họ sẽ hành động trong thời gian sắp tới để giành ưu thế hầu đặt Mỹ vào thế bị động. Cách tốt nhất để đạt mục tiêu này là TC sẽ nhanh chóng chiếm quần đảo Trường Sa của VN để làm căn cứ quân sự. Họ sẽ triển khai hệ thống phi đạn tầm trung và tầm xa ở Trường Sa. Việc biến Trường Sa thành một căn cứ quân sự và cho triển khai phi đạn (kể cả phi đạn hạt nhân) sẽ đặt toàn bộ vùng Đông nam Á và nước Úc vào tầm hỏa lực của TC, như vậy lực lượng hải quân hùng hậu của Mỹ (nhất là những Hàng không mẫu hạm tối tân) sẽ đối diện với khả năng bị tấn công bằng phi đạn của TC và như vậy TC sẽ đẩy lực lượng hùng hậu này ra xa hơn, không tiếp cận được lãnh thổ của họ và an ninh của nước Úc cũng như những căn cứ Mỹ tại Úc không còn là bất khả xâm phạm nữa.

Để thành công trong mục tiêu chiến lược này TC sẽ phiêu lưu trong thời gian sắp tới và VN chúng ta sẽ mất Trường Sa là điều gần như trông thấy vì đảng CSVN hiện nay hoàn toàn tê liệt, không có viễn kiến cũng như không có quyết tâm chính trị để bảo vệ đất nước. Hơn nữa CSVN vẫn u mê trong tâm thức nô lệ giặc Tàu, bằng chứng là ngày 01/08 vừa qua đảng CSVN và Quân đội CS đã tổ chức lễ kỷ niệm hoành tráng và hết lời ca tụng, nhớ ơn CS Trung hoa! Còn những quan chức cấp cao của cộng sản Việt Nam như Nguyễn Chí Vịnh, Phùng Quang Thanh và mới đây là Đại tá, Tiến sĩ Trần Đăng Thanh đã một lần nữa đề cao mối quan hệ này và nhắc nhở mọi người là phải “nhớ ơn” Trung quốc và căm thù Mỹ!?

Trung cộng đang ráo riết chuẩn bị cho việc thôn tính biển Đông, bước đi đầu tiên của chiến lược này là TC đã cho thành lập một đơn vị hành chánh cấp địa khu để quản trị cái gọi là thành phố Tam Sa (trong đó có HS và TS của VN), họ còn thành lập một bộ chỉ huy quân sự ở Hoàng Sa như một căn cứ tiền phương để quân sự hóa biển Đông. Theo tuần báo Time của Mỹ một căn cứ tiền phương tại vùng biển Đông có thể dễ dàng lên đến 10 ngàn quân! (theo RFI).

Những ngày gần đây, TC một mặt trấn an thế giới, mặt khác lại có những hành động quyết đoán để từng bước thay đổi tương quan lực lượng trên những vùng biển chiến lược, bằng cách cho triển khai ồ ạt những phương tiện chiến tranh hiện đại tại biển Đông và biển Hoa đông.

Với mục tiêu và tham vọng đó (mà báo chí TC gọi là “Trận chiến Nam hải”) việc TC chiếm Trường Sa của VN chỉ là vấn đề thời gian, và cũng chính việc chiếm TS của VN sẽ đẩy tình hình an ninh khu vực leo thang lên một bước nghiêm trọng mới và quan hệ Mỹ-Trung, Nhật-Trung sẽ càng xấu đi. Mới đây ngày 14/1 năm 2013, TC chỉ thị cho quân đội TC sẵn sàng tư thế chiến tranh là một chỉ dấu nghiêm trọng nhất cho an ninh và hòa bình tại khu vực Đông Á và thế giới.

Nhưng những diễn biến nghiêm trọng này là không tránh khỏi vì mục tiêu và quyền lợi chiến lược của các siêu cường Mỹ + Nhật-Trung đã trở nên mâu thuẫn sâu sắc.

Chiến tranh Nhật (Mỹ)-Trung sẽ bùng nổ và đây sẽ là cơ hội cho nhân dân VN chúng ta giành lại chủ quyền đất nước từ tay đảng CS, lấy lại Hoàng Sa và Trường Sa cùng với những phần đất, phần biển đã mất.

Đứng trước viễn cảnh thế giới và khu vực, người Việt trong và ngoài nước cần nhận thức một thực tế rằng: đảng CSVN hoàn toàn không có tương lai, để từ nhận thức đó chúng ta nên có thái độ cương quyết đòi hỏi nhà cầm quyền Hà nội phải thực thi Dân chủ và tôn trọng nhân quyền.

Bản thân giới lãnh đạo CS tuy vẫn tiếp tục chính sách đàn áp, mị dân và bưng bít thông tin nhưng trong lòng họ không còn tự tin khi nhìn thấy tương lai đảng CS hoàn toàn bế tắc và mờ mịt… Đây là cơ hội cho các lực lượng chính trị yêu nước và dân chủ hoạch định đường lối đấu tranh phù hợp và khả thi dựa trên tinh thần đoàn kết và bao dung vì tương lai đất nước.

Huỳnh ngọc Tuấn

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ba Dũng Dằn Mặt Đảng

Tác giả : Vi Anh
Tin trong nước liên tục cả tuần rồi, liên quan đến một chuổi hành động của Thủ Tướng VNCS Nguyễn Tấn Dũng, “chơi sát ván” Trưởng Ban Nội Chính của Đảng CSVN là Nguyễn bá Thanh. Có người nói đó là Ba Dũng “dằn mặt” Nguyễn bá Thanh. Nhưng nhìn thời sự và sự kiện có đầu có đuôi, trong bối cảnh và tương quan giữa đảng và nhà nước, người ta thấy đúng hơn, là Ba Dũng “dằn mặt” Đảng.

Ba Dũng “dằn mặt” Đảng sau khi Đảng không đủ sức hạ Ba Dũng. Nguyễn phú Trọng Tổng Bí Thư, Trương tấn Sang, Cựu Trưởng Ban Bí Thư Đảng rồi lên làm Chủ Tịch Nước kết hợp nhau, dùng cả thế lực Đảng để hạ Nguyễn tấn Dũng trong đại hội triệu tập rầm rộ, sớm hơn hạn kỳ mà không hạ nỗi Ba Dũng. Kết quả “trớt qướt” không làm rụng được một sợi lông chưn của Ba Dũng, mà còn làm trò cười cho bàng dân thiên ha, chứng tỏ thế yếu của Đảng. Sau mấy ngày họp kín, Trọng giả đạo đức báo cáo trước đại hội trung ương Đảng, rằng Bộ Chánh Tri đứng lên xin nhận “ kỷ luật” mà đại hội trung ương Đảng không chấp nhận kỷ luật Bộ Chánh Trị trong đó có “một đồng chí” mà không dám nói ra tên nhung cả nước đều biết là Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đối thủ không “khoang nhượng” của Trọng và Sang.

Ba Dũng “dằn mặt” Đảng sau khi Trọng Sang dùng cò mồi là một “đại biểu nhân dân” và bàn đạp là cái gọi là Quốc Hội “đảng cử dân bầu” mà không hạ được Ba Dũng. Trọng Sang dùng một “học giả” kêu gọi Ba Dũng tạo ra “văn hoá tư chức” trong phiên họp khi Thủ Tướng Dũng sang trình bày việc làm của chánh phủ. Ba Dũng tỉnh bơ trả lời, kẹt cứng cho Đảng. Ba Dũng nói mấy chục năm theo Đảng, Ba Dũng chưa bao giờ xin điều gì, Đảng bảo gì làm nấy, Đảng bảo sao làm vậy, chưa bao giờ Ba Dũng từ chối nhiệm vụ Đảng giao hay “ bỏ cù” việc Đảng giao. Ba Dũng vừa nói vừa cười mím chi cọp làm các “đại biểu đảng cử dân bầu” lo cho số phận của “đại biểu” Dương quang Trung dám “giỡn mặt với tử thần” thì sớm muộn cũng “tiêu tùng xí quách”. Như nữ đại biểu Hoàng Yến giàu nhứt nhì VN và người em trai Tâm cũng “đại biểu” từ chết tới bị thương vì cái tội dân Tân An, bồ với Trương tấn Sang khóm Bến Lức, cũng “nam kỳ cục” dám “bẻ chỉa” chống Ba Dũng. Với đại biểu Nguyễn minh Thuyết mất chức do đảng không cử dân không bầu nữa. Với luật gia Cù huy Hà Vũ thái tử đỏ vô tù ngồi gỡ lịch vì cái tội kiện ở tòa, kêu gọi Quốc Hội điều tra bãi nhiệm TT Dũng.

Ba Dũng dằn mặt Đảng sau khi Đảng dùng Quốc hội gỡ từ tay Ba Dũng chức vụ Trưởng Ban Phòng Chống Tham Nhũng trả về cho Đảng, Đảng biến thành Ban Nội Chính và giao cho Nguyễn bá Thanh đảm nhiệm. Ba Dũng như con cọp U Minh rình mồi nghe Nguyễn bá Thanh khi mới ra Hà nội nhận chức này, “nổ” tá lả bồn binh, tuyên bố chinh đông, chinh tây bài trừ tham nhũng dưới mọi hình thức. Ba Dũng tính kỹ, lựa lúc Tổng Bí Thư Trọng công du Liên Âu, ở nhà Ba Dũng bất thần chơi sát ván Nguyễn bá Thanh. Ba Dũng cho Ban Thanh tra của chánh phủ phanh phui hồ sơ chính TT Dũng trước đây đóng dấu mật, liên quan đến một trong các vụ tham nhũng của thành phố Đà Nẵng dưới thời ông Nguyễn Bá Thanh từng làm Chủ Tịch Ủy Ban, Chủ Tịch Hội Đồng Nhân dân và Bí Thư Thành Uỷ, đã làm thất thu trên 3.4 ngàn tỷ đồng, tức trên 170 triệu Mỹ kim.

Ba Dũng còn giao Bộ công an “bồ nhà” của Ba Dũng điều tra và chỉ thị cho Bộ phải cử cả đoàn công an tức tốc vào ngay sào huyệt của Nguyễn bá Thanh để bươi móc, vạch lá tìm sâu thêm.

Chưa đủ Ba Dũng còn “dằn mặt” Đảng trên phương diện luật pháp và “tổ chức chánh quyền” nữa. Ba Dũng tự tiện ký quyết định thành lập Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tội Phạm trực thuộc chính phủ, mà Ba Dũng là người nắm cán lẫn lưỡi.

Theo báo chí trong nước mới đây Ban này gọi là Ban Chỉ đạo 138 do Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc “phụ trách chung”. Ủy ban này của Ba Dũng lập thẫm quyền còn rộng hơn Ban Nội Chính của Đảng CSVN nữa. Nó vừa "chống tham nhũng" vừa "bảo vệ an ninh quốc gia", tức chi phối đảng, nhà nước và bộ đội – tất cả.

Như vậy chẳng những Ba Dũng “dằn mặt” Đảng mà còn vô hiệu hoá hành động và thế lực của Đảng CS -- là đảng theo lý thuyết cũng như thực tế, từ hình thức đến nội dung là đảng độc tài đảng trị toàn diện.

Quyền hành là thuốc á phiện dễ ghiền lắm. Ăn quen nhịn không quen, “lớ hướ” Ba Dũng có thể “chỉnh lý” Bộ Chánh Tri của Đảng, nắm trọn đảng quyền, chánh quyền, và quân quyền như bên Tàu: Tổng Bí Thư Đảng kiêm Chủ Tịch Nước, kiêm Chủ Tịch Quân Ủy trung ương.

Điều này cho tới bây giờ Ba Dũng đủ sức làm. Chính Đảng CS đã tham nên thâm, tạo điều kiện cho Ba Dũng làm khi cho đảng viên kiêm nhiệm các chức vụ bên nhà nước, từ trung ương đến địa phương để độc tài đảng trị toàn diện. Nhưng một mình Đảng không tài nào kiểm soát, giám sát được. Đảng viên, cán bộ tự tung, tự tác vì quyền lợi riêng tư của mình qua sự mua chuộc và quyền lợi cung ứng của nhà nước. Đảng viên dần dà lệ thuộc bên nhà nước nhiều hơn là Đảng. Chính chánh phủ là cơ quan ban phát trực tiếp quyền lợi tinh thần và vật chất cho những đảng viên này- chớ không phải Đảng.

Nên người ta không lấy gì làm ngạc nhiên Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng với sự tiếp tay của Chủ Tịch Nước triệu tập hàng trăm trung ương ủy viên về định “làm thịt” Nguyễn tấn Dũng, mà không đủ số phiếu để hạ bệ Nguyễn tấn Dũng.

Nhìn lại các cuộc cách mạng lật đổ các chế độ độc tài CS đảng trị toàn diện ở Đông Âu cũng như Liên xô, người ta thấy đó là những cuộc cách mạng nội tại. Xảy ra từ bên trong nội bộ Đảng hay bên trong xã hội nằm trong gọng kềm CS. Hiện tượng Ba Dũng “dằn mặt” Đảng CSVN là bọt biển báo hiệu một làn sóng ngầm ở VNCS, một ngày nào đó sẽ nổi lên như triều dâng thác đổ làm tan tác chế độ CSVN./.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

10 Ý Kiến Giữ Nước Của Một Người Việt Hải Ngoại
“Đi với Tàu mất nước, đi với Mỹ mất đảng” quí vị đã chọn con đường đi với Tàu, đã dâng cho Tàu khoảng 1.000 cây số vuông đất biên giới, hơn 20.000 cây số vuông vùng biển vịnh Bắc Bộ, đảo Hoàng Sa và một phần của đảo Trường Sa v.v… Quí vị đã quên 2 điều :

1.- Lòng tham con người vô đáy.
2.- Nước mất thì nhà tan.


Đến giờ phút này quí vị mới bắt đầu hiểu được điều thứ nhất khi bọn Tàu Cộng vẫn chưa thỏa mãn những gì quí vị hiến dâng mà còn tham lam muốn chiếm hết cả Biển Đông nhưng quí vị chưa hiểu được điều thứ 2 vì chưa từng nếm qua như chúng tôi, những người lính Miền Nam Việt Nam,đã cay đắng bao phen với nỗi niềm mất nước.

Nay chúng tôi tuổi đã già đang sống bình yên và tìm vui bên nhau với tình huynh đệ chi binh ở tận trời Tây với tấm lòng không hề hổ thẹn với non sông và con cháu, con cái chúng tôi đã hội nhập và thành danh trên miền đất lạ, chỉ có những kẻ vô ý thức trong chúng tôi mới mong áo ấm về làng hay lom khom bên cạnh quí vị để được ngồi hưởng những bữa ăn thịnh soạn bên những cặp mắt thèm thuồng của bà con lối xóm hay của đám ăn mày rách rưới vây quanh.

Quê hương Việt Nam đã xa vời vợi từ địa lý lẫn trong tâm hồn, người dân Việt Nam cũng không còn cùng chung nhịp đập với kẻ tha hương hàng chục năm và lẽ dĩ nhiên quí vị chỉ còn là những tên bán nước hèn với giặc ác với dân trong con mắt của những kẻ già xa xứ.

Nhưng chúng tôi vẫn muốn có vài hàng để nói lên vài ý kiến trước tình hình đất nước lâm nguy vì không muốn 80 triệu dân Việt Nam đi vào con đường đau đớn mà quí vị đã từng dẫn chúng tôi đi qua, con đường nô lệ và mất nước. Sau khi đi với Tàu không được tôi lại thấy quí vị đang muốn đi theo Mỹ hay dựa vào Mỹ để chống lại Tàu. Hành động này của quí vị là một hành động ngây thơ trong một thời gian ngắn vì thế chiến lược vì mưu mô thủ đoạn và quyền lợi của Mỹ và Tàu quí vị có thể đưa đất nước thêm một lần nữa vào vòng bi thảm. Không cần phân tích và giải thích nhiều quí vị cũng sẽ biết rằng chính phủ Mỹ sẽ không bao giờ đem tài sản và xương máu dân Mỹ tham chiến để bảo vệ một nước cộng sản. Trái lại, họ còn mong hai nước cộng sản đánh nhau để Tàu Cộng sa lầy và họ hưởng lợi nhờ bán vũ khí cho một vùng Đông Nam Á đầy lo sợ. Việc Tàu Cộng hai lần cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam, kêu gọi đấu thầu trong vùng lãnh hải của Việt Nam, cấm ngư dân Việt Nam đánh cá, tung hàng chục ngàn tàu đánh bắt cá trên biển đông, lập thành phố Tam Sa, đồn trú quân trên các đảo chiếm đóng v.v… là những việc đã được tính trước để thực hiện hai nước cờ :

- Nước cờ thứ nhất : Tìm cho ra những tên có tư tưởng chống Tàu trong quí vị để thanh lọc thêm, biến bộ chính trị đảng cộng sản thành một ổ tình báo toàn rặt người của Tàu Cộng, dùng ổ tình báo ấy cai trị nước Việt Nam.

- Nước cờ thứ hai : Thực hiện chiến thuật tằm ăn dâu, từng bước chiếmbiển, chiếm đất chiếm nước và tròng vòng nô lệ vào đầu dân Việt. Tôi không bàn về nước cờ thứ nhất, dẫu có bàn cũng không thành công vì nước cờ này là nước cờ của quí vị tự xử với nhau. Tôi nghĩ quí vị cũng đã biết nước cờ này rồi nên chẳng có vị nào dám lên tiếng chống Tàu Cộng trước sự hung hăng quá lố của chúng. Tôi chỉ xin có ý kiến với một vài người còn yêu nước trong quí vị về nước cờ thứ 2 vì khi đối phó với nước cờ này phải chọn một con đường đúng đắn đề đi với nhiềuchuẩn bị và nếu cần phải giải quyết bằng một cuộc chiến. Thế thì con đường mà quí vị cần phải chọn để đi cho đất nước qua cơn lâm nguy là con đường như thế nào ? theo tôi, quí vị nên chọn conđường đi cùng dân tộc Việt Nam và sử dụng nội lực của toàn dân để chuẩn bị chiến tranh nếu không tránh được. Đó là con đường duy nhất trong tình thế hiện nay vừa cứu được đất nước ra khỏi bàn tay bá quyền tham lam của Tàu Cộng vừa tạo cho quí vị may ra có thể tồn tại trước cao trào cách mạng dân chủ Hoa Lài đang diễn ra trên toàn thế giới. Muốn đi theo con đường cùng dân tôc Việt Nam quí vị cần thực hiện những điều sau :

1.- Lặng lẽ hủy những cuộc họp giao ban giữa ban văn hóa tư tưởng và báo chí hàng tuần: Hành động này có nghĩa là bước đầu trả tự do thông tin cho người dân,dùng tiếng nói của dân để mở mặt trận truyền thông vạch mặt chỉ tên bọn nội tuyến cho Tàu Cộng trong quí vị và phổ biến cho bọn Tàu Cộng biết lòng yêu nước và sẵn sàng chiến đấu chống quân ngoại xâm của dân Việt. Thế giới tư bản sử dụng hai đòn bẩy để đốc thúc nền kinh tế. Đó là nhà băng để tạo vốn cho người đầu tư và thị trường chứng khoán để tập trung vốn cho người đầu tư. Nguyên tắc căn bản để cho thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả là cần tự do thông tin. Chỉ vì lo sợ ngườidân biết được những lừa phỉnh về chính trị mà quí vị đã độc quyển thông tin gây nên cảnh 1.000 tấn vàng, vốn đầu tư của quốc gia, được người dân đem dấu trong các vách nhà vì không tin tưởng quí vị và đất nước Việt Nam thuộc loại nghèo nhất thế giới. Kinh tế không phát triển thì quí vị lấy tiền ở đâu để mua vũ khí bảo vệ tổ quốc?

2.- Ôm gói nhân quyền lobby quốc hội và chính phủ Mỹ: Lobby có nghĩa là vận động hành lang trong chính trị, một hoạt động thông thường trong tiến trình chính trị tại các nước tư bản. Gói nhân quyền bao gồm các quyền của con người mà quí vị đã hạ bút ký tại Liên Hiệp Quốc, các điều luật mà quí vị tự đặt ra như điều 4 hiến pháp,điều luật 79, điều luật 88 v.v… trả tự do cho những tù nhân lương tâm, thực thi đa nguyên, đa đảng v.v… Quí vị không muốn đồng hành cùng dân tộc để cùng chống ngoại xâm thì không có gì để nói nếu quí vị muốn đồng hành cùng dân tộc thì quí vị nên có thành tâm trao trả tự do cho toàn dân và cải tổ chính trị hay nói theo thuật ngữ của người cộng sản là sửa lỗi hệ thống. Trước khi làm việc trên thì quí vị nên ôm gói nhân quyền lobby với quốc hội và chính phủ Mỹ. Hành động này cốt tạo giới hành pháp và lập pháp Mỹ biết rằng quí vị đang muốn cải tổ chính trị theo hướng dân chủ, đang quay lưng với chủ nghĩa cộng sản lỗi thời, đang muốn trở thành một đồng minh thân thiết với Mỹ trong vành đai ngăn chặn tên bá quyền Tàu Cộng đầy nguy hiểm.Gói nhân quyền là điều kiện cho quí vị thương lượng quốc hội Mỹ hủy bỏ luật cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam và cũng là điều kiện đểtiến tới một hiệp ước hỗ tương bảo vệ nhau của 2 quốc gia khi bị quốc gia khác xâm phạm và tìm kiếm viện trợ quân sự.

3.- Giăng thiên la địa võng trên đất liền để chuẩn bị chiến tranh. Người lính Việt Nam và người lính Trung Cộng có nhiều điểm khác nhau rất xa. Một bên can trường xông pha chiến trận đầy kinh nghiệm trong cuộc chiến vừa qua. Một bên vào lính để kiếm ăn, sống trong thanh bình một thời gian dài, thiếu kinh nghiệm và hèn nhát ( 5.000 người lính Tàu bị 100 tên lính Nhật dẫn đi giết mà chẳng có người lính nào dám chạy trốn ). Nên khi đụng trận phần thắng nghiêng về Việt Nam nhiều hơn, qua lịch sử cũng như hiện nay. Quân Tàu luôn luôn luôn ở trong thế thượng phong hùng mạnh khi ban đầu nhưng kết cục là những thảm bại trước tài điều binh khéo léo của người Việt. Chiến tranh Việt Nam vừa qua là trận chiến với vũ khí hiện đại, đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quí giá cho việc giữ nước trong đó có 2hai trận đánh mà chúng ta cần phải nghiên cứu sâu để rút những kinhn ghiệm khi phòng thủ mặt trận phía bắc nếu bị quân Trung Cộng tấn công. Đó là trận đánh Đồi Thịt Băm (Hamburger Hill ) hay là cao điểm 937 ở thung lũng A Shau, Thừa Thiên và trận đánh Hạ Lào. Trận đánh Đồi Thịt Băm cho chúng ta biết chiến thuật Chốt Kiềng phốihợp với lực hỗ trợ di động là một chiến thuật phòng thủ tốt có thể sử dụng một lực lượng nhỏ chận đứng được sự tấn công của một lực lượng lớn dù lực lượng tấn công có hỏa lực hùng hậu như Mỹ. Trận đánh Hạ Lào cho chúng ta biết không nên lập những căn cứ to lớn để chặn đường tiến quân của đối phương vì với hỏa lực của chiến tranh hiện nay thì những căn cứ càng to càng dễ bị nghiền nát. Chiến thuật Chốt Kiềng thường chọn ở vị trí cao để dễ bề ngăn chặn bộ binh tiến công nhưng lại ở vị trí không thể cản được chiến xa nên phải hỗ trợ thêm chiến thuật Mạng Nhện để thiết lập những Chốt Kiềng bí mậtkhác dưới lòng đất để chống chiến xa và tấn công bọc hậu hỗ trợ. Địa lý phía bắc nước ta là một vùng đất dễ phòng thủ nếu được nghiêncứu địa thế để lập những vị trí phòng thủ trước thì việc chặn đứngquân Tàu không khó hay ít nhất cũng kéo dài được thời gian và càng kéo dài thời gian thì càng dễ dành được chiến thắng. Giăng thiên la địavõng ở phía bắc để chờ đón quân xâm lăng Tàu là một việc quan trọng hàng đầu của quốc gia, kẻ nào chống lại thì cần trãm trước tấu sau vì nó chính hiệu là tên tình báo của Trung Cộng gài trong bộ chính trị. Trong thời gian gần đây Tàu cộng đã chuyển hàng ngàn chiến xa áp sát biên giới phía bắc, đã dùng tiền mua đứt được Kampuchia nên chuyện mượn đường đổ quân vào Kampuchia để đánh vào phía nam và tây nguyên nước ta chỉ là thời gian, do đó chúng ta cũng cần giăng thiên la địa võng phía nam và tây nguyên và cũng cần bàn thảo ký với khối Asean một hiệp ước hỗ tương không cho nước khác mượn đường tấn công vào một nước của Asean với các biện pháp chế tài hữu hiệu khi hiệp ước bị xâm phạm.

4.- Thanh Toán Những Đóa Hoa Nở Trong Lòng: Khi quân Tàu mở mặt trận 3 mặt giáp công (mặt trận phía bắc. mắt trận phía nam và tây nguyên, đổ bộ bằng đường biển ) mà lại có những đóa hoa nở trong lòng đất chúng ta thì phần chiến thắng nghiêng về phía quân Tàu nhiều hơn. Quí vị cần phải bạch hóa tất cả những hồ sơ liên quan đến những đóa hoa nở trong lòng như Bauxite Tây Nguyên, Thuê ĐấtThượng Nguồn v.v.. để dẹp trước những đóa hoa đó. Tự Do Ngôn Luận và Lòng Yêu Nước của dân Việt Nam sẽ vạch mặt chỉ tên giùm quí vị những tên tình báo của Trung Cộng đang gài trong bộ chính trị.

Các cơ quan tình báo cũng cần hoạt động mạnh ở 2 nước Lào và Kampuchia để đối phó với việc chuyển quân bí mật của Tàu trong 2 nước đó.

5.- Thành Lập Các Tiểu Đoàn Tác Chiến Cơ Động Để Đối Phó Với Mặt Trận Đổ Bộ Đường Biển. Trong thời gian vừa qua truyền thông Tàu cộng thường rêu rao kế hoạch đổ bộ Thanh Hóa để chia Việt Nam ra làm 2 cho dễ dàng dành chiến thắng trên bộ. Chúng rêu rao chỉ cần đánh 31 ngày là chiếm xong Việt Nam đểhù dọa. Ý kiến này không thực tế thiếu kiến thức quân sự hay cố đánhlừa Việt Nam trải rộng quân ở những nơi không cần thiết vì hải quân Trung Cộng chưa đủ khả năng đổ bộ vào đường biển và việc đưa quân quasông qua biển là một việc làm mà các vị chỉ huy quân sự luôn luôn tránh thực hiện, nhưng để bảo vệ vùng biển dài của mình Việt Nam cần trang bị nhiều tiểu đoàn tác chiến cơ động dọc theo bờ biển để nhanh chóng ứng phó. Ngoài những vũ khí hiện đại như tên lửa phòng thủ bờbiển thì cuối cùng bộ binh vẫn là yếu tố chính để quyết định chiến trường.

6.- Trang bị thêm tiểu đỉnh cho hải quân và máy bay tiêm kích chokhông quân để chờ đợi trận chiến ở Biển Đông. Chiếm Biển Đông bằng bạo lực là điều ngu dại nhất của Tàu Cộng nhưng cũng có thể xảy ra vì chúng cần phải thực hiện chiến tranh để hướng nhân dân vào một mục tiêu khác và tạo điều kiện cho đảng cọng sản Trung Quốc tồn tại vững vàng. Hồ Cẩm Đào nói còn quá sớm để đưa vấn đề Biển Đông ra bàn thảo ở hội nghị Asean tại Nam Vang là chờ cuộc huấn luyện không quân chúng bay lên hạ xuống chiếc hàng không mẫu hạm cũ kỹ sửa lại thành công xong rồi chúng sẽ đưa toàn bộ hải quân diễu võgiương oai trên Biển Đông để thực hiện chiến thuật tằm ăn dâu trênbiển lấn chiếm từ từ từng hải đảo rồi dừng lại, rồi lấn chiếm từ từcho đến toàn bộ Biển Đông.Chiến tranh qui ước trên Biển Đông xảy ra thì Tàu Cộng nắm chắc phần thất bại vì chiếm được đảo nhưng không giữ được đảo do tất cả các đảo đều nằm trong tầm kiểm soát của không quân Việt Nam (xem nhận định của các báo ở Hồng Kông ). Chỉ cần không quân oanh tạc hải quân trên các tiểu đỉnh đổ bộ là việc lấy lại các đảo không khó khăn. Trận chiến trên Biển Đông xảy ra là một cơ hội tốt cho Việt Nam dành lại những phần đất và biển đảo đã mất. Việt Nam đã phối hợp với Phi Luật Tân đểcùng hoạt động về hải quân trên Biển Đông nhưng cũng cần liên hệ phốihợp thêm về không quân để làm chủ vùng biển nằm trong tầm hoạt độngcủa không quân. Cần hung dữ và chiếm lại khi bị mất một đảo, nếu khôngchiếm lại được đảo đã mất thì sẽ mất toàn bộ Biển Đông. Tên nào ngăncản thì chính là tên tình báo Tàu nằm trong bộ chính trị.

7.- Malacca là tử huyệt của Trung Cộng.Tử huyệt của Trung Cộng không nằm trên Việt Nam và Biển Đông mà nằm tại eo biển Malacca, dài 500 miles hẹp nhất là 1.5 mile, nơi cứ 2 chiếc tàu đi qua có 1 chiếc là của Trung Cộng. Một cuộc thương lượng công khai cần phải có giữa các nước Asean hoặc giữa Việt Nam và 3 nước đang kiểm soát eo biển Malacca là Mã Lai, Nam Dương và Singapore vì 3nước này cũng đang có những quyền lợi trên Biển Đông mà Trung Cộng đang rắp tâm cưỡng đoạt nên một hiệp ước hỗ tương bảo vệ nhau và nếu cần thì sẽ đóng eo biển Malacca đối với nước nào tấn công 1 nước của Asean cần được hình thành để răn đe và đối phó chiến thuật chia rẽ Asean để cai trị của Trung Cộng. Chúng đang đem tiền mua chuộc NamDương và Campuchia nhưng chỉ cần 1 trong 3 nước đang kiểm soát eo biển Malacca ký thỏa ước với Việt Nam thì Trung Cộng phải dừng tay. Các bạn nghĩ thế nào khi chiến tranh trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Cộng xãy ra mà các tàu nhiên liệu và thực phẩm của Trung Cộng không đi qua được eo biển Malacca nên càng kéo dài chiến tranh thì Trung Cộng càng đi vào con đường chiến bại vì cả nước Trung Cộng đói rã người không có thực phẩm, dầu chạy xe chạy máy.

8.- Bí mật lên kế hoạch đánh chiếm Quảng Đông.

Tàu Cộng là một tên khổng lồ to xác tham ăn nhưng rất nhiều bệnh. Bốn phía của chúng đều thọ địch. Tây Tạng Tân Cương sẽ nổi lên dành độc lập bất cứ ngày nào. Nội Mông là một lò lửa đang âm ỉ cháy. Hồng Kông và Đài Loan là những ngọn đuốc tự do trong tâm hồn người Tàu. Chiến tranh biên giới với Ấn Độ chưa giải quyết xong. Hố ngăn cách giàu nghèo mỗi ngày mỗi sâu rộng, lòng căm phẫn của dân nghèo đang dâng cao… Đập Tam Hiệp sắp tan. Kinh tế suy thoái. Thât nghiệp dâng cao.

Các công ty sắp phá sản. Bong bong địa ốc sắp vỡ. Cách mạng hoa lài có thể sắp xảy ra v.v…. Nếu cơ may nào đó Tàu Cộng sụp đổ do cách mạnghoa lài hay nội bộ thanh toán nhau thì quí vị cũng nên cùng Tân Cương,Tây Tạng, Ấn Độ, Nội Mông vùng lên đánh chiếm Quảng Đông để thương lượng dành lại những vùng đất vùng biển mà bọn Tàu Cộng đã cướp nên quí vị cũng cần có một kế hoạch trước.

9.- Gởi nhiều phái đoàn kêu gọi hỗ trợ khi có chiến tranh và lo dự trữ lương thực. Sự trổi dậy của một nước Đại Hán hung hãn là mối lo của toàn thế giới nên sẽ có nhiều nước muốn hỗ trợ Việt Nam để chặn đứng sự bành trướng bá quyền của Tàu Cộng. Nhân cơ hội Tàu Cộng đang leo thang đe dọa lấn chiếm trên Biển Đông, Việt Nam cần gởi nhiều phái đoàn đi dến từng quốc gia như Mỹ, Nhật, Úc, Nam Hàn, Ấn Độ, Anh, Pháp v.v… để thương lượng ký những văn bản với các nước hứa thuận hỗ trợ một số lượng quân cụ và lương thực cần thiết trong tương lai khi Việt Nam lâm vào chiến tranh. Số lượng đạt được một ít từ một nước nhưng gom lại thì có thể đủ để tham chiến lâu dài. Song song với việc kêu gọi các nước viện trợcũng cần tự dự trữ lương thực trước.

10.- Con đường ngắn nhất là con đường Miến Điện đang đi. Nhưng Việt Nam không thể thực hiện được như Miến Điện là quay lưng ngay tức khắc với tên Đại Hán vì trong quí vị có quá nhiều kẻ nội tuyến của Tàu và nhiều tên thuộc phe bảo thủ. Muốn đi con đường của Miến Điện thì phải thanh toán nội thù bằng đảo chánh nếu không làm được thì làm công khai bằng cách lập hội nghị Diên Hồng để bịt miệng những tên nội tuyến chủ bại. Trước khi làm công khai cũng cần giữ một vùng an toàn để làm căn cứ kêu gọi thực hiện. Quí vị đừng nghĩ rằng dựa vào Tàu Cộng sẽ được trường cửu, đừng nghĩ rằng càng nhân nhượng thì Tàu Cộng ngừng tay không chiếm nước, đừng nghĩ rằng càng lừa phỉnh càng thanh toán đối lập càng kiềm chế toàn dân tộc thì sẽ được yên ổn đề cướp bóc suốt đời, đừng cho rằng chẳng ai đủ khả năng hỏi tội quí vị khi quí vị đem đất đai tổ tiên dâng cho giặc Tàu để đổi lấy chỗ ngồi cai trị nhân dân.

200 năm trước ông tổ của quí vị là Các Mác đã tiên tri rằng chính phủ cộng sản sẽ tiến tới chính phủ tự tiêu. Điều tiên đoán của y đã xảy ra cho Liên xô và Đông Âu thì lẽ nào không xảy ra cho Tàu Cộng và CS Việt Nam. Khi đó người ngồi xử tội bán nước của quí vị sẽ là những người hiện đang ngồi bên cạnh quí vị

Nhất Hướng
Đàn Chim Việt

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Không Giống Ai

Huỳnh Ngọc Tuấn

Tôi đang sống trong một đất nước mà hàng ngày, hàng tháng, hàng năm những cái không giống ai vẫn ngang nhiên diễn ra, ngang nhiên hiện hữu. Không ai đồng tình nhưng ai cũng lặng thinh.

Xin được một lần mô tả cái diện mạo và hình dáng của những cái không giống ai này.

- Một quốc gia hai quyền lực lãnh đạo: Bên cạnh nhà nước - chính phủ có đủ ban bệ Bộ, Vụ, Sở vẫn tồn tại song song một cơ chế Đảng CS với những ban bệ và chức năng tương tự nhưng có quyền lực cao hơn. Người ta không nhìn thấy cái chính quyền thứ hai này nhưng nó hiện hữu trong cái gọi là “cấp ủy”. Đây mới là quyền lực thực sự là chủ nhân ông của đất nước

Đất nước không phát triển nổi, nhân dân không giàu có lên được vì phải gánh vác trên vai mình hai guồng máy quyền lực với hai lực lượng nhân sự như con đỉa hai đầu hút hết nguồn lực quốc gia.

- Cái thành quả lớn nhất của nền văn minh nhân loại là nhà nước pháp trị và tam quyền phân lập nhưng ở VN thì nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo “toàn diện và tuyệt đối” của đảng CS, như vậy nhà nước pháp trị không tồn tại ở VN. Đảng CS là đảng lãnh đạo nên không có tam quyền phân lập mà chỉ có tam quyền phân nhiệm, có nghĩa là tính độc lập (điều kiện căn bản cho một nhà nước minh bạch và không tha hóa) đã bị thủ tiêu.

- Ở các nước dân chủ văn minh, quyền tự do ngôn luận và bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa qua các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh v.v... là quyền mang tính phổ quát và quan trọng. Nó quan trọng đến mức tạo nên một quyền lực mới là đệ tứ quyền. Còn ở VN chỉ được phép có một tư tưởng, một tiếng nói, một cách nhìn và một cách suy nghĩ cho nên tính sáng tạo bị bức tử, sự khác biệt là “phản động”, là chống đối.

- Ở các nước văn minh - dân chủ, bầu cử, ứng cử là một quyền cực kỳ hệ trọng, nó quyết định sinh mệnh của thể chế dân chủ đó. Còn ở ta bầu cử là một món nợ quỷ thần phải trả. Cứ đến kỳ bầu cử là người dân phải lo thu xếp mọi công việc để đi bầu cho sớm nếu không muốn bị “nhắc nhở”. Ai đó mà bị chính quyền địa phương “nhắc nhở” nhiều lần vì không thực hiện quyền lợi của mình một cách nghiêm túc thì bị ghi vào sổ đen và người đó và gia đình trở thành “đối tượng” để theo dõi và trù dập. Trong hai kỳ bầu cử quốc hội vừa qua (năm 2005 và 2011) tôi và các cháu được chính quyền địa phương “quan tâm” gọi điện thoại “nhắc nhở” tổng cộng là 6 lần trước và ngay trong ngày bầu cử!! Tôi và các cháu đã từ chối “quyền lợi” của mình nên bị báo chí và đài phát thanh của chính quyền gọi là phần tử “chống đối”.

Ở VN việc người dân đi bầu là một hình thức để hợp pháp hóa những gì đã được quyết định từ đảng CS, lá phiếu của người dân không quyết định được tương lai đất nước vận mệnh quốc gia, đã có đảng quyết định rồi, kết quả “bầu cử” đã được biết từ nhiều tháng, thậm chí nhiều năm trước đó.

Người dân bị lôi vào cuộc chơi một cách bất khả kháng và trở thành những diễn viên trong trò chơi mang tính khôi hài.

Còn ứng cử là độc quyền của đảng không thuộc về người dân và quyền này không chia sẻ, không thương lượng, đây là một đặc quyền của giai cấp thống trị, những ai muốn tranh giành cái quyền này là phải trả giá như Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, Luật sư Lê Quốc Quân.

- Ở các nước dân chủ - văn minh đảng chính trị chỉ là một hội đoàn dân sự do những người có cùng chủ trương và lý tưởng lập ra để góp phần kiến tạo nên một xã hội đa nguyên đa dạng phong phú và lành mạnh, họ độc lập và có quyền bình đẳng với những tổ chức chính trị đối lập hoặc đồng minh, họ không lãnh đạo ai và cũng không bị ai lãnh đạo, tất cả đều phục vụ nhân dân và đất nước và chịu sự ủy quyền của cử tri qua từng cuộc bầu cử và hoạt động của họ nằm trong khuôn khổ luật pháp. Nhưng ở VN đảng CS là quyền lực tối cao được cái gọi là “Hiến pháp” trao cho quy chế được quyền lãnh đạo vĩnh viễn (tất nhiên là cho đến khi nào chế độ độc tài còn tồn tại được). Đảng CS là người cầm lái “vĩ đại”, đảng có mặt khắp nơi chi phối và quyết định tất cả. Từ trung ương đến địa phương, từ thành phố đến hang cùng ngõ hẻm, đôi mắt của đảng soi rọi khắp nơi để quan sát và lãnh đạo đến tận “quần” chúng.

Đảng có mặt ở những nơi không ai nghĩ tới, từ trường học, bệnh viện, công ty tư nhân, cả nhà thờ và thiền viện.

- Giáo dục các cấp, nhất là Đại học nơi đào tạo nhân tài và nhân lực cho đất nước thì môn Chủ nghĩa Mác- Lê nin là bắt buộc cho dù không ai muốn học vì mất thời gian và vô bổ, nhưng sinh viên phải học và trả tiền cho cái học trình vô bổ và mất thời gian đó!

- Nền kinh tế tư bản rừng rú chụp giật và man rợ bị sự độc quyền và lũng đoạn của bọn tư bản đỏ được gọi là nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Ở thiên đường XHCN này giai cấp công nhân và nông dân bị bóc lột đến tận cùng, bị khinh miệt và ngược đãi mà không làm gì được để bảo vệ quyền lợi của mình, đảng CS lập ra Công đoàn và điều khiển nó như công cụ để kiểm soát công nhân và bảo vệ quyền lợi cho giới chủ. Những tập đoàn kinh tế cá mập được hình thành từ tiền thuế của dân nhưng lại trở thành chủ nhân ông của người dân, muốn vào làm việc ở những tập đoàn này phải là những thành phần con ông cháu cha.

- Lực lượng “công an nhân dân” thì coi dân như cỏ rác, buồn buồn thì đánh chết một vài người dân cho vui, mục đích là để thị uy. Nếu dư luận trong nước và quốc tế có phản ứng mạnh quá thì cũng xử cho lấy lệ để bịt miệng công luận rồi đâu lại vào đó. Hãy nhìn những cái chết thê thảm của một số nạn nhân trong mấy năm gần đây thì rõ.

- Ở các nước dân chu - văn minh đất đai là một thứ tài sản quan trọng của người dân, quyền này được tôn trọng và bảo vệ bằng luật pháp, khi thật sự cần thiết nhà nước muốn sử dụng thì phải thương lượng với người dân làm chủ mảnh đất đó, không áp đặt và không dùng cường quyền để “giải tỏa thu hồi”. Quan hệ giữa người dân và nhà nước dân chủ là quan hệ hài hòa, cùng chia sẻ quyền lợi và trách nhiệm, chỉ có ở cái nhà nước XHCN “của dân do dân và vì dân” này mới có dân oan, mới có những vụ thu hồi giải tỏa đất đầy máu và nước mắt vì quyền sở hữu đất đai “thuộc về toàn dân” và do nhà nước “trực tiếp quản lý”.

- Chỉ có ở VN và các nước CS mới có sự phân hóa giàu nghèo đến quái dị như vậy. Có những đại gia tài sản vàng bạc như núi, ăn chơi phè phỡn, cuộc sống xa hoa đến lập dị, tài sản của họ nhiều đến mức khó mà ước lượng được vì quá lớn và không minh bạch, từ trăm triệu đến vài tỷ mỹ kim. Bên cạnh họ là rất nhiều người nghèo, cuộc sống lê lết bên những đống rác bẩn thỉu, hôi hám, họ sống trên rác và cũng kiếm sống bằng rác. Họ hoàn toàn không có tương lai, đất nước này xã hội này không thuộc về họ, họ chỉ như những con chuột theo nghĩa đen và nghĩa bóng.

- Bất cứ quốc gia và dân tộc nào thì đất nước là của chung, chung về quyền lợi và trách nhiệm, nhưng ở VN đất nước là độc quyền của đảng và nhà nước vì tất cả đã có “đảng và nhà nước lo”. Nhà nước và đảng làm chủ mọi nguồn tài nguyên của quốc gia, được độc quyền quản lý và phân phối. Bảo vệ đất nước như thế nào là quyền của đảng và nhà nước, người dân chỉ có mỗi một việc là làm theo những gì được đảng, nhà nước yêu cầu hoặc cho phép. Như trong cuộc chiến tranh Campuchia, đảng và nhà nước yêu cầu người dân phải hy sinh xương máu để “bảo vệ đất nước” và làm “nhiệm vụ quốc tế” thì người dân phải làm. Ngày hôm nay đất nước bị TC xâm chiếm, lòng tự tôn dân tộc bị sỉ nhục thì người dân VN cũng không được quyền “tự phát” để bày tỏ lòng yêu nước và một điều tuyệt đối là không được biểu tình để đưa ra một thông điệp cần thiết cho thế giới và bọn ngoại xâm biết được suy nghĩ và tình cảm của mình về hiện tình đất nước. Lòng yêu nước là một tình cảm tự nhiên, thiêng liêng và cao quý của bất cứ dân tộc nào trên thế giới nhất là người dân VN đã có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm trong suốt lịch sữ 4000 năm của mình. Lòng yêu nước có thể nói là di sản quý báu của người VN mà tổ tiên của chúng ta trao truyền từ đời này sang đời khác, chưa có một triều đại một chính quyền nào “kiểm duyệt” lòng yêu nước chứ đừng nói đến chuyện thủ tiêu, ngăn cấm hay độc quyền. Vậy mà ngày hôm nay trước hành động hiếu chiến và ngang ngược của bọn bành trướng Bắc Kinh, người dân Hà nội, Saigon đã tự nguyện xuống đường để cho thế giới biết là nhân dân VN không hèn yếu không vô trách nhiệm với quốc gia, vậy mà đã bị chính nhà cầm quyền “của dân, do dân, vì dân” đàn áp, bắt bớ, vu khống và chụp mũ. Điều này chắc làm cả thế giới kinh ngạc và khó hiểu là VN đang được điều hành bởi một chính quyền đại diện cho ai?

- Trên thế giới này ở đâu cũng vậy, thời nào cũng vậy, tầng lớp nhân sĩ trí thức là tinh hoa của xã hội, họ là nguồn lực sáng tạo nên những giá trị mới trong tất cả mọi lãnh vực từ học thuật đến khoa học học và kinh tế. Chính vì những cống hiến to lớn đó đã tạo nên địa vị cao quý của họ là một điều tự nhiên và hợp lý.

Tầng lớp nhân sĩ trí thức trở thành lực lượng dẫn dắt và lãnh đạo xã hội trong mọi mặt đời sống.

Trong việc bảo vệ đất nước thì vai trò và trách nhiệm của nhân sĩ trí thức càng nổi bật và trở nên trọng yếu, không có họ đất nước như rắn mất đầu xã hội như mù lòa, mất định hướng. Vậy mà tầng lớp nhân sĩ trí thức VN ngày hôm nay ở đâu và đang làm gì khi tầng lớp này rất đông đảo và họ được thụ hưởng một đời sống sung túc hơn nhiều lần so với mức sống của người dân và từ tiền thuế của dân?!

Một điều may mắn là đất nước chúng ta ngày hôm nay đã hình thành được một tầng lớp nhân sĩ trí thức đối lập, dân chủ có đủ khả năng để bù đắp vào khoảng trống này, tuy luôn bị đàn áp và khủng bố.

- Khi đất nước ở vào lúc dầu sôi lửa bỏng, kẻ thù đang dòm ngó và lên kế hoạch thôn tính biển Đông vì thời cuộc ngày hôm nay đã có những chuyển dịch về hướng nghiêm trọng, thì Bộ chính trị đảng CSVN (cơ quan đầu não và quyền lực tối cao của chế độ) lại tiến hành cái gọi là “PHÊ VÀ TỰ PHÊ” để kiểm điểm phê bình những sai sót của lãnh đạo?!.

Trên thế giới này chỉ có “Văn hóa từ chức” như của Nhật bản, hoặc “tự xử” kiểu Hàn quốc như vụ cố Tổng thống Roh Moo-hyun. Hoặc như Mỹ và các nước Châu Âu là bị luận tội và cách chức thẳng thừng tùy mức độ sai phạm hoặc bất xứng. Ở VN ta thì các ông lãnh đạo lại bày ra cái trò “PHÊ VÀ TỰ PHÊ” thật là không giống ai cả!?

Nếu kể ra những cái “KHÔNG GIỐNG AI” ở VN thì nhiều lắm chỉ sợ làm phiền lòng độc giả nên tạm dừng chỗ này.

Một đất nước với quá nhiều cái “KHÔNG GIỐNG AI” như vậy mà nó (những cái không giống ai) vẫn ngang nhiên tồn tại thì đúng là đất nước này “KHÔNG GIỐNG AI”.

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Image

Lịch sử đang lặp lại

Dự Đoán Kinh Tế Việt Nam
- Ngày 26 tháng 12 năm 1991, lá cờ búa liềm, quốc kỳ Liên bang Xô Viết chính thức được hạ khỏi điện Kremlin, đánh dấu chấm hết cho chế độ Xô Viết tồn tại 74 năm. Những năm tháng cuối cùng của chế độ Xô Viết bao trùm bởi những bất ổn chính trị, mâu thuẫn sắc tộc bùng nổ và suy thoái kinh tế trầm trọng.

Có một quy luật muôn đời là bất cứ chế độ nào không đảm bảo được sự sung túc cho dân chúng hay nói tóm là đảm bảo kinh tế phát triển ắt sẽ sụp đổ. Liên Xô không nằm ngoài quy luật đó. Cuộc khủng hoảng kinh tế đã diễn ra tại Liên Xô ngay từ những năm đầu thập niên 1980 và kéo dài qua cả lúc chế độ này sụp đổ. Sau khi Liên Xô sụp đổ, siêu lạm phát tại Nga đã có lúc lên tới 1000 %/năm.

Bài viết sau đây sẽ trình bày một phần cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra tại Liên Xô trong những năm tháng cuối cùng của nó. Hy vọng sẽ đem đến cho độc giả một góc nhìn mới và liên hệ với thực trạng khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam hiện nay.


Bản tin ngày 30 tháng 11 năm 1991 của hãng thông tấn AP tại Moscow đăng trên báo Waycross Journal Herald đưa tin về sự sụp đổ của Ngân hàng Nhà nước Liên Xô. Bản tin có nội dung như sau:

“Nỗi hoảng sợ đang bao trùm quốc gia có diện tích chiếm 1/6 thế giới này khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Liên Xô Viktor Gerashehenko thông báo trên truyền hình quốc gia rằng Ngân hàng Nhà nước đã dừng tất cả hoạt động chi trả cho chính phủ Liên Xô bởi vì Ngân hàng Nhà nước đã cạn sạch tiền. Hàng triệu công dân Xô Viết từ bộ đội, bác sĩ đến những người về hưu lo lắng xem họ có thể nhận lương ở đâu để tồn tại qua mùa đông khắc nghiệt.

Yelena Savinskaya, bác sĩ bệnh viện nhi Moscow phát biểu: Chúng tôi đang có một tương lai vô định. Chúng tôi không biết mình có được nhận lương vào ngày 4 tháng 12 không. Chúng tôi đang đón chờ sự xấu nhất sẽ xảy tới.”

Sự kinh hoàng đó đang lặp lại tại Việt Nam. Hiện tại, có những doanh nghiệp vì nợ lương quá lâu mà nhân viên thẳng tay tấn công giám đốc. (Vietnamnet, 31/1/2013)

BÀI TẬP LỚP ECON 101

Hồi tôi mới vào đại học, các bài tập đầu tiên cho môn ECON 101 là phân tích tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Liên Xô. Có đoạn rất mắc cười.

Đại sứ Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc, Washington DC dùng điện thoại đỏ khẩn cấp gọi về Kremlin, rằng bọn phản động tư bản phá hoại cắt điện thoại, đe dọa cắt điện, nước của Tòa Đại sứ.

Báo NY Times đăng, mấy tấm checks trả tiền của Tòa Đại sứ LX bị trả lại, do không có tiền bảo chứng, vì Ngân hàng Nhà nước CCCP hết sạch ngoại tệ, không có tiền trả cho checks Tòa Đại sứ LX viết ra!

Do đó các cty điện thoại, điện, nước của Mỹ buộc lòng phải đe dọa cắt dịch vụ, và bên điện thoại cắt thật. Bên điện nước còn cho du di vài tuần.

Điện thoại đỏ đặc biệt, qua vệ tinh về Kremlin, đương nhiên là chẳng ai nghe, vì khi đó nhân viên trong Kremlin đã bỏ nhiệm sở chạy về sắp hàng mua bột mì, bơ, đường sữa hết rồi!

Lịch sử chẳng qua là lập lại mà thôi, chứ chẳng “làm nên lịch sử” gì cả.

Nay không in tiền ra tăng lương cho công nhân viên chức – một số lớn thuộc cấp thấp, không ăn hối lộ, tham nhũng được gì – thì họ buộc phải bỏ nhiệm sở chạy đi kiếm tiền nuôi vợ con; mà nếu in ra thì lại gây lạm phát kinh hoàng.

Cho dù tăng lương cũng không thể nào đuổi kịp giá hàng hóa, đã tăng cả trăm %, nay tăng lương cho là 30% thì giá lại tăng thêm 50% ngay.

SIÊU LẠM PHÁT

Thời đại SIÊU LẠM PHÁT đã bị khởi đầu, do chính sách tăng tín dụng vô tội vạ, tăng không cần thiết, của ông TT Dũng trong vài năm qua, để ông này khoe thành tích “VN phát triển nhất Á châu”.

Phát triển con khỉ mốc, quăng cả triệu tỉ VND vào nền KT thì nó chạy lẹ vài tháng, cho là vài chục tháng, rồi sau đó chậm lại đòi thêm hàng triệu tỉ VND nữa, nếu không nó sẽ đi THỤT LÙI còn mau hơn hồi nó chạy lẹ!

Liên Xô cũng phải xuất vàng hàng trăm tấn đi trả nợ, lấy ngoại tệ như Việt Nam bây giờ và SẬP. (New York Times, 21/10/1991)

Khi KT sụt quá, họ không còn cách nào khác.

Hồi Gorbachev, Yeltsin, nếu phe giáo điều MUỐN chống lại, thì đã dễ dàng đè bẹp phe cách mạng rồi.

Điều này cần giải thích một chút về KT, lấy metaphor trong y khoa: LẠM PHÁT siêu khủng là khi bệnh nhân bị tiểu đường loại 2, thời kỳ cuối.

Tiền bạc (nutrition) nhiều quá mà chẳng mua được bao nhiêu hàng về nhà (không vào được qua thành tế bào).

Nói khác đi, “cơ thể chết đói trong khi máu có quá nhiều chất bổ dưỡng, chỉ là các chất này vô ích, còn làm hại, cơ thể”.

Tiền nay quá nhiều, coi báo nghe nói tới toàn là chục ngàn, thậm chí cả triệu tỉ bạc, trong khi 21850 TỈ VND là 1 tỉ USD, theo quy mô KT VN nhỏ hơn Mỹ 200 lần thì đó là 200 tỉ USD trong KT Mỹ.

FED năm 2010 tung ra 600 tỉ USD, tức tương đương như CSVN tung ra 3 tỉ USD = 66000 tỉ VND.

Bơm tiền ‘khủng khiếp’: Gần 300.000 tỷ đồng đi đâu mất hút | Vĩ mô | Vietstock

Chữ “khủng khiếp” là do chính ông Thống đốc Bình nói ra, báo lề đảng đăng lại.

Và đó chỉ là tính tới 22/6/2012 (các bạn xem ngày đăng bài trên).

Tới hôm nay, số tiền in ra THÊM sau ngày trên đã lên tới ít nhất 500 ngàn tỉ đồng, nhất là từ đầu năm 2013 tới nay.

Sáu tháng đầu năm 2012 in ra 300 ngàn tỉ, thì 6 tháng cuối năm cũng phải in ra ít nhất là bằng như vậy.

Tổng cộng, từ đầu năm 2012 tới nay, số tiền in ra không dưới 800 ngàn tỉ đồng, tương đương 40 tỉ USD.

Rồi báo VN khoe: “NHNN mua được 15 tỉ USD” (Gafin, 28/01/2013). Ai cũng biết đang thâm thủng tài khoá 137 ngàn tỉ đồng tính đến tháng 9 (con số chính thức, thực tế LUÔN cao hơn), thì đào đâu ra 315 ngàn tỉ đồng này, trừ khi là in ra. (Cafef, 12/10/2012)

Và thế là con bệnh KT VN bị tộng vào quá nhiều tiền, như người bệnh tiểu đường loại 2 (phát bệnh trên 35-40 tuổi, nói nôm na) bị dồn vào quá nhiều chất bổ béo, người mập thủng, kém sức khoẻ, cơ thể yếu ớt, bắp thịt giảm, do KHÔNG hấp thụ được các chất bổ này, mà chúng chỉ dồn vào mỡ, máu, gây kẹt tim (giao thông).

Đến thời kỳ cuối, bệnh nhập mập khủng, nhưng đi không nổi, mỡ nhiều hơn thịt, chẳng làm gì được, chỉ nằm rên chờ chết.

CCCP thời kỳ cuối là vậy, mong có cách mạng, có thay đổi, có cứu tinh. Yeltsin chẳng phải tài giỏi gì, từng là Chủ tịch Moscow, CS chính gốc. Nhưng dân coi như thánh sống, ngay cả CS giáo điều cũng thờ phụng ông ta, buông hàng rả đám, xếp súng, chứ nếu chỉ cần 1000 lính tấn công thì có khi ông ta bị chết rồi.

Nói khác đi, Yeltsin ĐƯỢC CS giáo điều NGẦM ủng hộ, do chính họ cũng bị bụng phệ, chân sưng, thở phì phò, đi hết nổi.

CSVN đang mau chóng đi vào con đường đó. Bệnh toàn thân, suy nhược toàn quốc, nào là y tế, giáo dục, giao thông, điện, thức ăn, giá hàng hoá, trộm cướp, v.v… tất cả những gì có thể sai, có thể làm hại, thì ĐỀU đang và sẽ xảy ra, CÙNG LÚC.

Giờ chúng ta hãy cùng đọc lại lịch sử vào thời điểm trước khi Liên Xô sụp đổ:

Một bài viết trên báo Pravda (Sự thật) số ra ngày 18/10/1990 vẽ lên một thực tại báo động về sự tan rã của xã hội và kinh tế Liên Xô: “Tình trạng càng ngày càng tồi tệ. Sản lượng sụt giảm, các nguồn cung ứng tự sụp. Các khuynh hướng tự cung tự cấp đang tăng mạnh. Thị trường đang hoàn toàn rối loạn. Thâm hụt tài khóa và tín dụng nhà nước đã tới mức tối nguy hiểm. Trộm cướp và các hành vi chống bang xã hội nổi lên. Cuộc sống ngày càng khó khăn, động lực làm việc thấp hơn trước, niềm tin vào tương lai sụp đổ. Toàn nền kinh tế đang trong tình trạng cực kỳ nguy hiểm.”

Nguồn tiếng Anh: http://easyweb.easynet.co.uk/~socappeal ... part7.html

KT VN đang theo đúng y chang lộ trình sụp đổ của nền KT Liên xô cũ: không tăng lương thì dân đói, nhiều công nhân viên chức bỏ việc; tăng lương thì phải in tiền ra, gây lạm phát.

VIỆT NAM 2013?

Năm 1992, giá hàng hóa tại Liên bang Nga tăng 4,22%/ NGÀY! (Washington Post, 21/08/2012)

THÁNG đó, Nga (LX cũ) bị siêu lạm phát 245%!

CHẮC CHẮN SẼ XẢY RA TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI, trong tình cảnh nền KT bị khủng hoảng, sắp bị ĐẠI KHỦNG HOẢNG kể từ sau Tết năm nay.

CP thiếu tiền chi tiêu, sẽ BUỘC phải in tiền ra ngày càng nhiều, lạm phát ngày càng tăng thì lại phải in ra nhiều thêm để trả lương công chức.

Đầu năm nay, lương công chức tăng, hoàn toàn không phải vì năng suất tăng, lợi nhuận tăng, mà chỉ vì LẠM PHÁT.

Cuộc chạy đua lạm phát -> in tiền -> lạm phát ngày càng dữ dội.

Sức CUNG giảm, do KT bị khủng hoảng, nhưng may mắn là trong vài chục tháng qua còn có hàng tồn kho, chủ hàng cần tiền bán ra giá rẻ, nên nhiều món hàng tuy không còn sản xuất nhưng giá còn rẻ hơn lúc từng sản xuất.

Một khi số hàng tồn kho này bị bán hết, sức CẦU tuy giảm nhưng vẫn còn đó, thì số hàng còn lại này sẽ tăng giá, người ta phải chạy qua mua “đồ cũ”, như hồi đầu 1980s có nạn mua bán đồ cũ khắp nơi.

Giá sẽ tăng ngày càng khủng khiếp cho mọi mặt hàng nhu yếu phẩm, phụ tùng xe gắn máy, xe đạp sau này.

Bao cấp sẽ trở lại, và nền KT VN trở lại thời 1975-1987. Có điều, sẽ tệ hơn nhiều do dân số nay đông hơn gần gấp đôi, hạ tầng cơ sở sụp đổ, DÂN TRÍ kém cõi hơn, tâm linh lại càng tệ hại.

Hồi đó, nói công bằng, nạn trộm cướp không quá ghê sợ như bây giờ. Trộm vặt thì có, chứ loại “chặt tay lấy của”, thì không tới nổi như hiện nay.

Theo tôi suy đoán, SIÊU LẠM PHÁT sẽ bắt đầu vào khoảng tháng 3, 4. Sản xuất thấp, hàng tồn kho bán hết, sức cầu tuy giảm nhưng hơn xa sức cung, khi đó sẽ có lạm phát mạnh chưa từng thấy kể từ 1986.

Ông Dũng có thể là thủ tướng cuối cùng hay áp chót của CSVN.

Dự Đoán Kinh Tế Việt Nam

https://dudoankinhte.wordpress.com/2013 ... g-lap-lai/

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Sát thát và sát đất

Đi Tới
(Danlambao) - Đọc sử đời Trần, khi quân Nguyên sang xâm lấn nước ta, tướng Trần Hưng Đạo đã viết "Binh thư yếu lược" để rèn luyện quân sĩ, "Hịch Tướng Sĩ" để khuyên tướng sĩ hết lòng đánh giặc, nên ai cũng thích lên cánh tay hai chữ "SÁT THÁT" - giết quân Mông Cổ. Quân ta đã phá tan 500.000 quân Mông Cổ tạo nên chiến thắng oai hùng hiếm có trong lịch sử nhân loại và giữ yên được bờ cõi. Thời nay, giặc phương bắc lại qua xâm lược, đảng CS đã dâng đất, biển, đảo cho giặc; lại còn kết thân với giặc, hành hung, bỏ tù người dân yêu nước chống giặc Trung Quốc. Đảng CS đã hành xử như những kẻ bán nước, "quỳ gối SÁT ĐẤT" làm theo những yêu sách ngang ngược của giặc. Thật đáng hổ thẹn với tiền nhân và cộng đồng thế giới!

1 Gương anh hùng giữ nước của người xưa

Nhà Trần thời ấy, 1284, gặp khó khăn hơn nhiều so với ngày nay vì không có sự liên kết và che chở của cộng đồng thế giới. Nhà vua nhịn giặc nhưng có giới hạn. Khi đòi hỏi của giặc có tính đe dọa chủ quyền và sự an nguy của đất nước thì nhà vua nhất quyết chống lại. Khi nhà Nguyên đòi vua Trần Nhân Tông sang chầu bên Tầu thì ông không sang. Khi nhà Nguyên cắt cử quan sang cai trị nước ta thì nhà vua đuổi về. Khi nhà Nguyên phong cho Trần Di Ái - sứ giả và cũng là chú họ của vua Nhân Tông - làm An Nam Quốc Vương và sai Sài Thung đem 1000 quân hộ tống qua nước ta, vua Nhân Tông đã sai quan quân bắn đui mắt Sài Thung và bắt quân nghịch tặc trị tội. Khi nhà Nguyên sai Thái tử Thoát Hoan mang 500.000 quân xâm chiếm nước ta, giả bộ mượn đường sang đánh Chiêm Thành, nhà vua không cho với lý do: "Tự bản quốc sang Chiêm Thành, thủy lục không có đường nào tiện." Khi Thoát Hoan khai chiến, Trần Hưng Đạo thống lĩnh 200.000 quân chống giặc.

Trong những tháng đầu tiên, thế giặc mạnh, quân ta phải lui về Vạn Kiếp, rồi bỏ thành Thăng Long. Trần Hưng Đạo đưa Thượng hoàng và vua đi lánh nạn ở Hải Dương. Bị giặc đuổi theo, có lúc phải chạy trên bộ, có lúc xuống thuyền, trèo đèo vượt bể, giãi nắng dầm mưa mới về được Thanh Hóa nhưng vua/tôi vẫn bền lòng nghĩ kế đánh giặc.

Khi quân Nguyên mệt mỏi và thiếu lương thực, quân ta phản công. Trần Nhật Duật đánh tan quân Toa Đô tại Hàm Tử. Trần Quang Khải chiến thắng trận Chương Dương Độ khôi phục thành Thăng Long. Trần Hưng Đạo dẫn đại quân tiêu diệt quân Nguyên tại Vạn Kiếp khiến Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn chạy về Tầu. Trong 6 tháng, quân ta phá tan 500.000 quân Nguyên.

Ba năm sau, tháng 11/1287, Thoát Hoan lại kéo đại binh với hơn 300.000 quân sang nước ta để đánh báo thù. Quân Nguyên vây thành Thăng Long bị đẩy lui về Vạn Kiếp. Trần Hưng Đạo chiến thắng trận Bạch Đằng, đánh tan thủy quân của quân Nguyên và bắt sống toàn bộ tướng lãnh gồm Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc. Nghe tin thủy quân bại trận, quân Nguyên trên bộ phải rút lui bị phục binh ta đánh tan rã, Thoát Hoan dẫn tàn quân chạy thoát về Tầu. Sau khi đánh bại quân Nguyên lần thứ hai, nước ta lại được an bình như cũ.


2. Thái độ hèn nhát của đảng CSVN trước giặc Trung Quốc

Sau cuộc chiến biên giới mà Trung Quốc đã xấc xược gọi là "dậy cho VN một bài học", năm 2000, đảng CSVN đã ký hiệp định biên giới nhường cho TQ một số đảo, lãnh hải và lãnh thổ biên giới phía bắc, trong đó có các địa điểm lịch sử như Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Suối Phi Khanh...

Khi giặc TQ chiếm đảo Garma, đảng CS đã để bộ đội hải quân với tay không đứng dưới nước ngang bụng, lãnh đạn của giặc mà không được bắn lại.

Khi giặc TQ liên tục bắn giết ngư dân, cướp phá ngư thuyền đòi tiền chuộc, đảng CS không bảo vệ ngư dân và gọi tầu TQ là tầu "lạ".

Khi người dân VN biểu tình, lên tiếng xác nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của VN, đảng CS đã đàn áp và bỏ tù người dân yêu nước theo yêu cầu của giặc TQ.

Khi tiếp đón Tập Cận Bình, đảng CS đã vẽ thêm một ngôi sao vào cờ Trung Quốc với ngụ ý VN là chư hầu thứ 5 của TQ.

Đảng CSVN đã không có một biện pháp quốc phòng hữu hiệu để bảo vệ lãnh thổ khi cho người TQ được tự do ra vào, cư trú, làm ăn, buôn bán không cần chiếu khán nhập cảnh. Người TQ đã chiếm các khu rừng biên giới, cao điểm chiến lược Tây Nguyên và lập ra các khu vực riêng của người TQ trên khắp nước mà nhà cầm quyền CS không kiểm soát được. Với sự đồng lõa của đảng CSVN, với hơn một triệu hoa kiều và lính TQ trá hình công nhân, lực lượng này sẽ dư sức giải giới bộ đội và công an khi cần. Nguy cơ mất nước đã rõ ràng.

Sự hèn hạ và lệ thuộc giặc TQ còn thể hiện qua các tuyên bố "hàng giặc" của các tay đầu lĩnh trong đảng CS: "Khẳng định tình hữu nghị đời đời Việt - Trung... cần truyền mãi cho các thế hệ mai sau... Phải biết ơn Trung Quốc đã nhường cơm sẻ áo... Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam... Nếu Việt Nam cần sự đồng cảm, hợp tác phát triển, thì còn ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng!..."

Người xưa đã hiên ngang thích vào cánh tay hai chữ SÁT THÁT và anh dũng đẩy lui quân xâm lăng để bảo vệ bờ cõi. Ngày nay, qua các hành động và phát biểu hèn nhát của các tay đầu lĩnh, đảng CSVN đã viết hai chữ "SÁT ĐẤT" lên tay để tỏ dấu hiệu sẵn sàng "quỳ sát đất" hàng giặc Trung Quốc xâm lược.

Phải chăng, qua các phát biểu trên, đảng CS đang chuẩn bị chiến dịch để viết 2 chữ "SÁT ĐẤT" lên cánh tay của 90 triệu dân Việt Nam?

Đi Tới

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Bản chất hiếu chiến mới của Trung Quốc
“China’s New Militancy” - Gordon Chang (The Diplomat - 31-1-2013)
Người dịch: Nguyễn Quốc Khải (Danlambao)


Tóm tắt (bởi người dịch): Chế độ Cộng Sản đã lỗi thời. Những nhà lãnh đạo Bắc Kinh hiện nay phải dựa vào chủ nghĩa quốc gia dân tộc để có lý do duy trì quyền lực. Chính sách bành trướng lãnh thổ, gây gỗ với những nước láng giềng dựa trên sức mạnh quân sự của Trung Quốc thể hiện chính sách quốc gia dân tộc này. Ảnh hưởng của phe quân đội ngày càng trở nên quan trọng hơn. Những nhà lãnh đạo dân sự cần phải dựa vào những cấp chỉ huy quân đội. Đó là một vài lý do làm cho Trung Quốc có bộ mặt hiếu chiến hiện nay. Bắc Kinh không cho những quốc gia láng giềng có một lựa chọn nào khác ngoài việc cùng đứng lên chống lại chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc.
Image
Hình (Xinhua): Hạm đội tầu ngầm của Trung Quốc. Bắc Kinh tăng cường hải quân nhằm thống trị Biển Đông.

Những nhà lãnh đạo Trung Quốc lập lại những lời kêu gọi Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân sẵn sàng lập kế hoạch, chiến đấu, và đoạt thắng lợi. Đây là một dấu hiệu đáng lo ngại.

Trong bài diễn văn nhậm chức lần thứ hai Tổng Thống Obama nói rằng: “Chúng ta sẽ bày tỏ sự can đảm, để thử nghiệm và giải quyết những khác biệt của chúng ta với những nước khác một cách ôn hòa – không phải vì chúng ta khờ khạo về những nguy hiểm mà chúng ta đối mặt, nhưng vì sự giao tiếp có thể làm tan biến sự nghi ngờ và sợ hãi lâu bền hơn.”

Cộng đồng thế giới “giao tiếp” với những quốc gia thù nghịch chính xác như thế nào? Chúng ta hãy lấy Trung Quốc làm một thí dụ.


Ông Tập Cận Bình (Xi Jinping) được chọn lựa là tổng bí thư của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) vào tháng 11 vừa qua. Ông phản ảnh bản chất hiếu chiến mới. Vào ngày thứ Ba [29-1-2013], ông đã đọc một bài diễn văn không nhượng bộ và thiết thực trước Bộ Chính Trị. Theo bài diễn văn này, ông loại trừ mọi thỏa hiệp về những vấn đề lãnh thổ và an ninh. Những từ ngữ cứng rắn của ông phù hợp với giọng điệu the thé của những thông điệp mà ông gửi đến Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân về việc sẵn sàng thiết lập kế hoạch, chiến đấu, và đoạt thắng lợi. Theo truyền thống, những nhà lãnh đạo Trung Quốc thường thuyết giảng và kêu gọi quân đội cải thiện tư thế sẵn sàng, nhưng nhà quan sát Trung Quốc kinh nghiệm Willy Lam ghi nhận rằng Ông Tập Cận Bình đã đặc biệt nhấn mạnh về điểm này. Ngoài ra, lời kêu gọi chuẩn bị sẵn sàng đối phó với xung đột của ông Tập Cận Bình đi xa hơn hai người tiền nhiệm Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) và Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao).

Trong quá khứ, những bài nói về chiến tranh của quân đội trái ngược với những lời lẽ xoa dịu của những nhà lãnh đạo cao cấp dân sự. Ngày nay, những lời phê bình gây gỗ của những sĩ quan chỉ huy phù hợp với những gì mà ông Tập Cận Bình, nhà lãnh đạo tối cao, tuyên bố. Như tờ báo Financial Times ghi nhận, những lời tuyên bố về chiến tranh của ông Tập Cận Bình pha trộn với sự phóng đại xem ra được tính toán để cổ võ chủ nghĩa quốc gia dân tộc.
Image
Hình (Navy Times): Tầu sân bay đầu tiên Liaoning của Trung Quốc hạ thủy vào ngày 25-9-2012.

Trong môi trường này, những sĩ quan của quân đội Trung Quốc có thể bênh vực những cuộc chiến tranh ngắn hạn, đột ngột và mạnh mẽ và nói về sự cần thiết của hành động tấn công trước mà không bị khiển trách. Như một vài người đã nói một cách riêng tư, tính chất liểu lĩnh của những sĩ quan này cho thấy rằng Tổng Bí Thư Tập Cận Bình liên kết với một số các tướng và các đô đốc. Những người này nghĩ rằng chiến tranh với Hoa Kỳ có thể là một ý kiến hay.

Trung Quốc có vẻ đang đi vào một trong những ngã rẽ định kỳ sai lầm. Có phải vì Ông Tập Cận Bình là một người theo chủ nghĩa quốc gia dân tộc và ông ta muốn đưa đất nước vào con đường phát triển sức mạnh gây nhiều chú ý? Hoặc là ông không chống nổi những áp lực từ những phần tử bên trong chế độ ngày càng thêm rối loạn?

Đa số những nhà phân tách nghĩ rằng Quân Đội Nhân Dân vẫn còn ở dưới sự kiểm soát chặt chẽ của những nhà lãnh đạo dân sự của Bắc Kinh. Thí dụ một số nguồn tin tường thuật rằng Tổng Bí Thư Tập Cận Bình đích thân điều khiển việc xâm nhập của Bắc Kinh vào lãnh hải và không phận của Nhật Bản. Ngoài ra, ông Scott Harold của cơ quan Rand ghi nhận tường tận rằng những nhà lãnh đạo dân sự của Bắc Kinh có thể chấm dứt những lời tuyên bố cứng rắn của những sĩ quan diều hâu, khi đảng CSTQ cần phải biểu hiện một mặt trận ôn hòa, như khi ông Hồ Cẩm Đào thăm Hoa Kỳ vào năm 2011. Ông Harold nói với hãng tin Reuters rằng “Đùng một cái, những gã này đột nhiên yên lặng,” khi ông đề cập đến những sĩ quan lắm điều.

Tuy nhiên, ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy quân đội thoát khỏi sự kiểm soát của dân sự. Năm vừa qua có hai loạt tin đồn phổ biến ở Trung Quốc, một vào tháng Một và loạt kia vào tháng Ba. Câu chuyện có thể không đúng, nhưng điều này hầu như không quan trọng. Những tin đồn này lan truyền khắp nơi ở Trung Quốc, không phải chỉ vì chúng nhậy cảm mà cũng vì chúng đáng tin cậy đối với nhiều người dân Trung Quốc. Thật vậy, những tin đồn này được tin cậy vì những nhà lãnh đạo cao cấp Trung Quốc đã làm cho dân Trung Quốc trong vài năm vừa qua tin rằng những sĩ quan cao cấp đã nhận lãnh một vai trò chủ chốt trong chính trường tại Bắc Kinh.

Thí dụ, ông Hồ Cẩm Đào vô tình đã làm cho những tin đồn về việc quân đội toan tính đảo chánh có vẻ đáng tin cậy vì đã ra những thông báo dưới hình thức những nhắc nhở có chủ đích rằng Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân phục vụ nguyện vọng tuyệt đối của đảng CSTQ. Ông Tập Cận Bình cũng đã phổ biến những lời cảnh cáo tương tự trong nhiệm kỳ ngắn ngủi làm tổng bí thư và chủ tịch Ủy Ban Quân Sự Trung Ương của đảng CSTQ. Cho đến nay, đã có quá nhiều những lời tuyên bố như vậy để nghĩ rằng vào lúc này đảng CSTQ vẫn thật sự “kiểm soát súng đạn.”

Trên thực tế, những tướng lãnh và những đô đốc làm cho những nhà lãnh đạo dân sự đang tranh chấp với nhau phải cám ơn họ về ảnh hưởng ngày càng phát triển của của quân đội. Bắt đầu vào một thập niên trước, những sĩ quan cao cấp bị lôi cuốn vào một cuộc tranh chấp quyền lực giữa ông Giang Trạch Dân, người ra đi, nhưng lúc đó vẫn cố gắng nấn ná lại trong ánh đèn sân khấu, và ông Hồ Cẩm Đào, người tiếp nối. Năm ngoái, chúng ta cũng đã chứng kiến những nhà lãnh đạo dân sự đã chạy tới giới lãnh đạo quân đội để tìm kiếm sự hỗ trợ của họ trong nhiều cuộc tranh chấp giữa những nhà lãnh đạo dân sự với nhau.

Thí dụ, khi ông Bạc Hy Lai (Bo Xilai), lúc đó là bí thư tỉnh Trùng Khánh (Chongqing), gửi sĩ quan an ninh võ trang đến bao vây sứ quán Hoa Kỳ tại Thành Đô (Chengdu) vào tháng Hai năm ngoái, ông đã đến Côn Minh (Kumming) để thăm viếng bản doanh của Binh Đoàn XIV. Cha của ông Bạc Hy Lai là ông Bạc Nhất Ba (Bo Yibo) đã thành lập đơn vị này. Những nhà phân tách ước đoán một cách tự nhiên rằng ông Bạc con kêu gọi những sĩ quan đương thời ủng hộ ông được thăng chức [hiện nay đã thất bại] từ Bộ Chính Trị của đảng lên Ban Thường Trực của Bộ Chính Trị.

Ngoài ra, vào đầu tháng Tư, cựu lãnh tụ Giang Trạch Dân theo lời đồn đãi, đã bàn thảo với những sỉ quan quân đội trước khi họp với ông Hồ Cẩm Đào và những thành viên khác của Ban Thường Trực và trước khi bãi những chức vụ đảng của ông Bạc Hy Lai. Về sau, khi họp với ông Hồ Cẩm Đào và Ban Thường Trực, ông Giang Trạch Dân họp với họ tại bản doanh của Ủy Ban Quân Sự Trung Ương tại Bắc Kinh, một địa thế tượng trưng mạnh mẽ.

Trong một dấu hiệu gây lo ngại nhiều hơn về vai trò ngày càng lớn của quân đội và vị thế ngày cảng suy yếu của những nhà lãnh đạo dân sự, những “người thuộc phe tả” năm ngoái đã công khai kêu gọi quân đội can thiệp vào hoạt động chính trị của quốc gia.

Từ tất cả những sự kiện biểu hiện ra bề ngoài, Quân đội đã giữ một vai trò mở rộng trong chính sách cũng như trong chính trị. Những sĩ quan cao cấp có vẻ như hành động độc lập với những viên chức dân sự, nhưng trong bất cứ trường hợp nào, những sĩ quan công khai chỉ trích các viên chức dân sự và đưa ra những lời tuyên bố về những lãnh vực mà trước đây chỉ dành riêng cho các nhà ngoại giao.

Tiến trình quân đội hóa chính trị và chánh sách đã đi quá xa đến nỗi Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân có thể sớm trở thành một phe mạnh nhất trong đảng CSTQ, nếu hiện nay đã không xẩy ra như vậy. Quân đội duy trì được sự kết hợp tốt hơn là những phe khác trong đảng CSTQ, đặc biệt là nhóm các ông hoàng tử con không có tổ chức của ông Tập Cận Bình.

Ông Tập Cận Bình hình như không có một nền tảng quyền lực nào cả. Ông Giang Trạch Dân đã chiếm được Ban Thường Trực, đỉnh quyền lực chính trị tại Trung Quốc, và Ông Hồ Cẩm Đào đã chọn lựa Ủy Ban Quân Sự Trung Ương. Còn lại gì cho Ông Tập Cận Bình? Thông thường, phe của tổng bí thư cuối cùng phải được cái gì nhiều quyền lực nhất, nhưng phe của ông - nếu ông có một phe – rõ ràng là không được như vậy. Do đó, đối với ông thật là hợp lý là dựa vào quân đội để củng cố một địa vị bất ổn của ông.

Khi một nhà lãnh đạo mới lên cầm quyền luôn luôn có sự mặc cả, và hiện nay đây là trường hợp đặc biệt đúng vì sự chuyển tiếp đã không khởi sự một cách tốt đẹp. Trong thời gian khó khăn này, chúng ta không nên ngạc nhiên rằng những phần tử cứng rắn nhất tại Bắc Kinh có vẻ như họ tự do nói và làm những gì họ muốn.

Có vẻ đó là lý do tại sao những nhà lãnh đạo Trung Quốc nói về chiến tranh và sử dụng những chiến thuật gây gỗ trong khi họ cố gắng đẩy biên giới của Trung Quốc ra xa hơn và gây gỗ với Nhật, Ấn Độ, và tất cả những quốc gia giáp ranh với Biển Hoa Nam. Trong khi đó, hải quân Trung Quốc tìm cách đóng vùng biển quan trọng mà những nhà lãnh đạo Bắc Kinh xem như là một hồ nước riêng của Trung Quốc. Các cơ quan truyền thông của nhà nước ám chỉ từ giữa năm 2011 rằng đây là “lãnh hải” của Trung Quốc.

Những đòi hỏi bành trướng lãnh thổ của Bắc Kinh có thể là kết quả không tránh được theo quỹ đạo [biến thái] của Đảng CSTQ. Ông Edward Luttwak ghi nhận rằng: “Chủ nghĩa quốc gia dân tộc hiếu chiến là một thay thế có thể duy nhất [cho chế độ cộng sản] đối với những cựu đảng viên cộng sản muốn duy trì quyền lực.” Như vậy, một điều tự nhiên là ông Tập Cận Bình tuyên bố cứng rắn và quân đội đảm nhiệm một vai trò tiên phong trong việc bành trướng lãnh thổ và lãnh hải dưới sự kiểm soát của Trung Quốc.

Trong hoàn cảnh này, cộng đồng thế giới đang phải cố gắng một cách khó khăn để duy trì liên hệ tốt đẹp với Bắc Kinh. Khi có một lãnh tụ Trung Quốc mới xuất hiện tại hiện trường luôn luôn có hi vọng mới, nhưng đừng trông đợi sự lạc quan sẽ tồn tại lâu. Nếu Ông Tập Cận Bình tốt như lời nói của ông ta và sẽ không có sự thỏa hiệp về những vấn đề quan trọng như ông tuyên bố vào ngày thứ Ba [29-1-2013] vừa qua, ông dành cho những nước bị đe dọa rất ít lựa chọn, ngoại trừ chống lại những đòi hỏi bành trướng lãnh thổ của ông.

Tổng Thống Obama có thể nghĩ rằng ông có thể hoạch định một chính sách giao tiếp mơ hồ với Trung Quốc, nhưng cuối cùng ông Obama sẽ phải phản ứng một cách tuyệt vọng đối với một chế độ đang đi tới.


Gordon G. Chang viết cho Forbes.com. Ông là tác giả của cuốn sách “The Coming Collapse of China. Liên lạc: Twitter @GordonGChang

Bản tiếng Việt:
Nguyễn Quốc Khải

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

‘Bên Thắng Cuộc’, Hiệp Ðịnh Paris và...
Song Chi

Những ngày vừa qua, có hai sự kiện được báo chí, dư luận trong ngoài nước, cả “lề đảng” lẫn “lề dân” nhắc đến nhiều nhất là việc xuất bản
cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” của nhà báo Huy Ðức tức blogger Osin, và kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp Ðịnh Paris (27.1.1973-27.1.2013).

Image
Sau 40 năm Hiệp Ðịnh Paris, sắp 38 năm sau 30 tháng 4, 1975, nhiều trẻ em ở Việt Nam vẵn thiếu cơm ăn và áo mặc.
(Hình: Blog Mai Thanh Hải)

Cả hai sự kiện chẳng ăn nhập gì đến nhau nhưng vô hình trung lại có những điểm giống nhau.

Thứ nhất, cùng cho thấy sự khác biệt trong cái nhìn của nhà nước đang cầm quyền và người dân đối với một sự việc/sự kiện, và sự khác biệt, chia rẽ, những trạng thái tâm lý phức tạp giữa người Việt Nam với nhau trong cách nhìn nhận, đánh giá về quá khứ chưa xa.

Cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” viết về lịch sử Việt Nam, chủ yếu là miền Nam, sau năm 1975, đã nhận được vô số lời khen, chê khác nhau. Bị “đánh” từ cả hai phe - “bên thắng cuộc” là đảng cộng sản VN, qua những bài viết trên các tờ báo đảng, và “bên thua cuộc,” từ những bài viết cho đến những cuộc biểu tình của người Việt chống cộng tại Little Saigon.

Nếu cuốn sách bị đánh bởi “bên thắng cuộc” thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên, vì đã trình bày những sai lầm, ấu trĩ đưa đến vô số hậu quả tai hại cho đất nước, dân tộc VN sau chiến tranh của nhà nước cộng sản, điều mà họ không bao giờ muốn nhớ lại.

Nhưng cuốn sách cũng bị đánh bởi những người của “bên thua cuộc.” Ðiều đó cho thấy sự chia rẽ sâu sắc trong lòng người VN từ những chỗ đứng khác nhau. Và vết thương của cuộc chiến tranh, của những năm tháng đen tối ở Sài Gòn và miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã buộc hàng triệu con người phải bỏ nước ra đi, vẫn còn rỉ máu, dù đã hơn ba mươi năm trôi qua.

Sự kiện 40 năm ngày ký Hiệp Ðịnh Paris thì lại chủ yếu cho thấy sự khác biệt trong cách nhìn nhận, đánh giá một sự kiện lịch sử của nhà cầm quyền - vẫn là “bên thắng cuộc” và người dân, “bên thua cuộc” nói chung.

40 năm trôi qua vừa nhanh như một cái chớp mắt trong cả chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của một dân tộc. Nhưng cũng lại rất lâu, rất dài, nếu so giữa quãng đường đi của một dân tộc, một quốc gia này với một dân tộc khác, quốc gia khác, bắt nguồn từ một quyết định đúng hay sai.

Trong khi đảng và nhà nước cộng sản phấn khởi, tưng bừng kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp Ðịnh Paris, báo chí truyền thông nhà nước tung ra hàng chục bài xung quanh sự kiện này, tiếp tục những lời tụng ca nào thắng lợi lịch sử, đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam, v.v. và v.v. Thì người dân Việt Nam, những ai đã nhìn ra sự thật về sự kiện Hiệp Ðịnh Paris, đối chiếu với cuộc sống xã hội Việt Nam hiện tại, lại có cái nhìn khác.

Ngay cả cái chiến thắng mà đảng cộng sản vẫn tuyên truyền cho đến tận giờ phút này, là một chiến thắng dựa trên sự lừa dối vĩ đại, một nền hòa bình phải trả bằng một giá quá đắt. Sau 40 năm Hiệp Ðịnh Paris, người dân Việt Nam đã được gì?

Ðúng là Việt Nam đã thống nhất, đã có hòa bình, nhưng đất nước vẫn nghèo nàn, tụt hậu, thua xa các nước láng giềng trong khu vực về nhiều mặt chứ chưa nói đến thế giới. Nhân dân không được hưởng tự do dân chủ thật sự, nhân quyền không được tôn trọng, đời sống bất an, giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, thể thao... đều lạc hậu hàng chục, hàng trăm năm. Một phần lãnh thổ, biển, đảo bị mất, VN bị lệ thuộc nặng nề vào TQ và đang đứng trước nguy cơ mất nước...

Thứ hai, cả hai sự kiện - cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” và 40 năm ngày ký Hiệp Ðịnh Paris, cho thấy một điều (mà phần lớn chúng ta đều biết): Những “lỗ hổng” về lịch sử (dù mới xảy ra chưa bao lâu) trong đời sống sách vở, thông tin chính thức ở Việt Nam và trong kiến thức của một bộ phận giới trẻ sinh ra sau 1975.

Những “lỗ hổng” đó do nhà cầm quyền tạo ra. Cũng như họ đã tạo ra vô số “lỗ hổng” khác, khi họ viết lại lịch sử Việt Nam từ khi có đảng cộng sản ra đời, và kể cả trước đó nữa, bằng cái nhìn của “bên thắng cuộc.”

Cho đến giờ phút này, 40 năm sau Hiệp Ðịnh Paris, 38 năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhà cầm quyền vẫn không có đủ dũng cảm nhìn thẳng vào những sự thật bị bưng bít.

Họ vẫn tiếp tục say sưa ngợi ca những thắng lợi của quá khứ, như đối với sự kiện Hiệp Ðịnh Paris. Và vẫn tức giận điên cuồng khi có ai đó lôi ra những mảng tối bị che giấu, như trong trường hợp cuốn sách “Bên Thắng Cuộc.”

Hơn nữa, đây là giai đoạn cực kỳ khó khăn, khủng hoảng của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam. Vì thế, họ càng phải bám lấy những “thành tích,” “hào quang” đã qua để níu kéo lý do tồn tại, càng trở nên “nhạy cảm” với mọi sự nhắc nhở đến những sai lầm.

Và cuối cùng, cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” hay sự kiện 40 năm Hiệp Ðịnh Paris, một lần nữa, đặt ra cho người Việt Nam câu hỏi: chúng ta đã bắt đầu hành trình lấp kín những khoảng trống lịch sử, sám hối và rút ra những bài học hay chưa?

Chờ đợi nhà cầm quyền làm điều đó là dường như vô vọng, dựa trên kinh nghiệm xương máu của người Việt Nam bao nhiêu năm qua. Thực tế đã chứng minh, các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam từ trước đến nay luôn luôn có những chọn lựa, quyết định sai bởi vì họ luôn luôn đặt quyền lợi của đảng, của chế độ, phe nhóm và bản thân lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc.

Mặt khác, họ là những người học rất chậm những bài học của quá khứ. Về mặt này, các thế hệ lãnh đạo của Việt Nam có tầm nhìn ngắn hơn và rụt rè hơn các ông anh Trung Quốc của họ nhiều.

Nhưng còn người dân Việt Nam?

Không chỉ giới lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản, sự thật cay đắng là chính người Việt Nam, khi đứng trước những thời điểm buộc phải có những quyết định sinh-tử có liên quan đến vận mệnh đất nước, dân tộc, cũng thường chọn lựa sai hoặc phó mặc vận mệnh đất nước cho thời cuộc xoay vần.

Lịch sử Việt Nam kể từ thế kỷ XX đến nay là lịch sử của những sự chọn lựa sai lầm, những quyết định sai lầm của cả những người lãnh đạo lẫn người dân. Là một lịch sử quá cay đắng, bất hạnh, nếu chúng ta so sánh với nhiều nước khác, trong những hoàn cảnh, thời điểm tương tự.

Nhưng liệu bây giờ chúng ta có đủ cương quyết để tự mình giành lấy quyền chọn lựa lại, quyền quyết định về tương lai, vận mệnh đất nước thay vì ngồi trông chờ nhà cầm quyền biết sửa đổi?

Hoặc thảm hơn, trông chờ Hoa Kỳ nhúng tay hỗ trợ chúng ta, trông chờ chiến tranh TQ-Hoa Kỳ xảy ra và Trung Quốc thất bại, bị xé ra thành từng mảnh nhỏ và không còn là một mối đe dọa đối với Việt Nam? Hay Trung Quốc tự chuyển đổi trước thành một nước dân chủ và Việt Nam sẽ theo sau v.v...

Một thách thức không nhỏ khác nằm trong tính cách của người Việt, đó là bi kịch của đất nước trong bao nhiêu năm đã gây nên sự nghi kỵ, chia rẽ sâu sắc trong lòng người Việt Nam. Có thể nhận thấy điều đó qua những cách đánh giá rất khác nhau về cuốn “Bên Thắng Cuộc” chẳng hạn.

Sự khác nhau trong nhận định, quan điểm là chuyện bình thường, nhất là với một cuốn sách mà ngay chính tác giả cũng thừa nhận sẽ có những thiếu sót. Nhưng nếu với một sự việc nhỏ mà người Việt vẫn chưa thể bao dung với nhau thì con đường để cùng nhau thay đổi vận mệnh đất nước sẽ còn khó khăn gấp nhiều lần.

Một dân tộc đã từng phải trải qua những bi kịch cay đắng như Việt Nam, dân tộc ấy lẽ ra cần phải học nhanh hơn các dân tộc khác, những bài học đắt giá của lịch sử.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Thời cơ không thể để mất

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Hiệp định Paris ký đã được tròn 40 năm. Lẽ ra đây phải là dịp toàn dân ta cùng nhau nhìn lại quãng đường dài vừa qua để rút ra những kinh nghiệm thiết thực quý báu nhất cho chặng đường sắp đến. Làm được như vậy chứng tỏ dân tộc ta đã trưởng thành và khôn ngoan.

Nhưng hình như chúng ta đã không cùng nhau làm như thế. Cuộc tranh luận để xác định ai thắng ai thua trong cuộc chiến tranh thực tế là huynh đệ tương tàn, là Bắc chinh Nam chiến, làm quân cờ phụ cho cuộc chiến tranh ý thức hệ vừa nóng vừa lạnh giữa hai trận tuyến thế giới Dân Chủ và Cộng Sản, cuộc tranh luận đáng buồn ấy vẫn diễn ra dai dẳng. Kẻ thắng không phát huy được thắng, còn lao đao lo sợ, bị dân khinh ghét, thì thắng cái gì? Mây mù tồn đọng của thế kỷ hỗn loạn vừa qua vẫn phủ mờ, làm lạc hướng nhận thức và tình cảm của cả một dân tộc được coi là có bản chất tinh anh, nhân bản.

Thật ra đây cần phải là dịp để nhìn lại cho minh bạch tình hình 40 năm trước để biết tiếc nuối một thời cơ hiếm có đã bị bỏ qua, từ đó không để vuột mất thời cơ hiếm có trước mắt hiện nay.

Bốn mươi năm trước đã có thời cơ lớn xuất hiện để thể hòa hợp dân tộc, thống nhất lòng dân, khôi phục và phát triển đất nước với tốc độ cao, cải thiện cuộc sống cho toàn dân, bù lại những năm tháng chiến tranh tàn khốc. Nhưng lãnh đạo duy ý chí, chủ quan, bị chiến thắng làm cho đầu óc quay cuồng, sinh ra mù quáng, đã có những chủ trương sai lầm có hệ thống: Bỏ tù không phân biệt quân nhân viên chức cũ, cải tạo vội vã công thương nghiệp, sáp nhập vội các tỉnh, quận, huyện, đổi tiền, tiến công chiếm đóng mười năm dài Campuchia, thất bại trong chống giặc nội xâm tham nhũng, lãng phí hàng trăm nghìn tỷ đồng trong quản lý các tổng công ty quốc doanh, kết quả là xã hội bị băng hoại, đảng CS thoái hóa bị khinh miệt và uy tín cầm quyền.

Nếu như lãnh đạo đảng CS hồi ấy tỏ ra thận trọng, sáng suốt, khôn ngoan, biết học tập kinh nghiệm hòa giải dân tộc ở Hoa Kỳ khi chiến tranh Bắc-Nam kết thúc, biết áp dụng bài học liên minh bền chặt giữa những kẻ thù truyền thống như Pháp-Ðức hay Mỹ-Nhật... thì tình hình nước ta hiện nay đã khác hẳn, quan hệ quốc tế sớm được mở rộng và thắt chặt với các nước dân chủ, và thế quốc tế của nước ta cũng đã khác hẳn.

Ðến những năm 1989, 1990, khi bức tường Berlin sụp đổ, Liên Xô tan vỡ, nếu như lãnh đạo đảng CS sáng suốt, tỉnh táo, biết nhận ra sai lầm về đường lối, học thuyết đã quá rõ ràng, chủ động từ bỏ ý thức hệ Mác-Lênin đã phá sản, trở về với dân tộc, thì tình hình cũng đã đổi khác hẳn. Lại một dịp tốt bị bỏ lỡ, chỉ vì tất cả Bộ Chính Trị bị nhiễm nặng bệnh giáo điều, cổ hủ, không một ai có tư duy đổi mới mạnh mẽ, dân chủ và sáng tạo. Trong hàng ngũ lãnh đạo không có một ai có tư duy độc lập, biết lùi để tiến khi cần, biết rẽ sang trái hay sang phải tùy theo chặng đường, cho nên cứ cắm đầu cắm cổ tiến lên với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, dưới lá cờ Cộng Sản, trong khi không một ai hình dung được chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Cộng Sản hình thù ra sao, bao năm nữa sẽ đạt, con đường quá độ như thế nào, cũng không ước lượng nổi là qua mấy kế hoạch năm năm, mấy chiến lược mười năm. Nghĩa là mục tiêu lờ mờ, mơ hồ, huyền ảo ở phía trước.

Ðến nay lại một thời cơ mới được mở ra, nhân việc sửa đổi bổ sung Hiến pháp 1992 được đặt ra, dự định hoàn thành trong năm nay, có thể gọi là Hiến pháp 2013, Hiến pháp của thế kỷ XXI. Bản dự thảo được đưa ra có 95 điều khoản được sửa đổi viết lại, 13 điều hoàn toàn mới, chỉ giữ nguyên 18 điều. Ban dự thảo cho rằng đã làm được nhiều việc, thay đổi đến 108 điều khoản, nhưng thật ra chỉ sửa những vấn đề thứ yếu, có thể nói là lặt vặt.

Thay đổi lớn nhất là Ðiều 70 trong bản dự thảo mới nói về lực lượng vũ trang nhân dân. Trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992 ghi “Lực lượng vũ trang nhân dân là của nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ toàn vẹn và an ninh của Tổ quốc...” và “lực lượng vũ trang nhân dân trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu...” không có chỗ nào nói trung thành với đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) và có nhiệm vụ bảo vệ đảng CS cả. Trong dự thảo hiện nay ghi rõ: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với đảng CS Việt Nam, tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ đảng, nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”. Những chữ không hề có trong cả 4 bản hiến pháp cũ. Vì sao vậy? Có thể hiểu là lãnh đạo đảng CSVN đang sợ quân đội và công an khi có khủng hoảng chính trị gay gắt xảy ra, như ở Rumania, Liên Xô, Tunisia, Ai Cập... quân đội và an ninh đã đứng hẳn về phía nhân dân xuống đường và nổi dậy. Trong lo sợ họ đang đặt đảng của họ lên trước tổ quốc và nhân dân.

Hiện đang có chuyện hệ trọng hơn nhiều. Ðó là nhân việc tu sửa Hiến pháp, một nhóm trí thức có uy tín xã hội cao đã đưa ra kiến nghị chuyển từ chế độ duy nhất một đảng sang chế độ đa đảng. Sáng kiến đưa ra vài ngày đã có hàng ngàn người đồng tình nhiệt liệt. Ðây là một đề nghị mạnh dạn, đúng đắn, khoa học, thiết thực, hoàn toàn trong sáng, vì dân vì nước, với những lý lẽ rất rõ ràng, rất khó bác bỏ.

Chưa có một chế độ độc đảng độc quyền đảng trị nào mang lại tự do no ấm cho nhân dân cả. Một nền “dân chủ độc đảng” là một nền dân chủ không thể có, một nền dân chủ mơ hồ, hoang tưởng. Chẳng lẽ thiên hạ ngu ngốc, điên dại cả chăng khi tất cả các nước giàu có, văn minh, phát triển cao đều theo chế độ dân chủ đa đảng? Họ lầm lẫn, mê muội dại dột cả chăng? Họ muốn tự sát cả chăng?

Ở nước ta, rõ ràng những yếu kém, sai lầm trong quản lý kinh tế-tài chính, quản lý xã hội, trong lựa chọn nhân tài, thất bại trong chống quan liêu lãng phí tham nhũng đều có nguyên nhân thiếu vắng dân chủ, thiếu lực lượng chính trị ganh đua với đảng cầm quyền, thiếu thế lực kiểm soát làm đối trọng với đảng Cộng Sản.

Nguyên nhân cơ bản làm Liên Xô, các nước CS Ðông Âu sụp đổ là gì nếu không phải là chế độ độc tài đảng trị phi dân chủ kiểu Mác-Lênin? Nguyên nhân sụp đổ của chế độ độc tài ở Tunisia, Ai Cập, Libya là gì nếu không phải là chế độ độc đoán đàn áp và tham nhũng, gây nên sự phẫn nộ, khinh ghét, căm thù của quần chúng đông đảo, tạo nên cuộc xuống đường hùng hậu do một bộ phận trí thức và thanh niên tiên phong lãnh đạo và làm lực lượng xung kích?

Nhất nguyên và đa nguyên, độc đảng và đa đảng, độc tài và dân chủ đang là hai quan điểm đối lập, hai trận tuyến lý luận và thực tiễn đối kháng nhau gay gắt, khi cần rất nên đặt ra trong một cuộc trưng cầu dân ý có quan sát của truyền thông quốc tế, của Liên Hiệp Quốc, trong không khí bình tĩnh tự tin của một dân tộc đã trưởng thành.

Ai cũng thấy lãnh đạo của đảng CS hiện nay là trở ngại chính cho việc chuyển đổi lịch sử theo hướng tiến bộ này. Họ sẽ viện ra đủ cớ, nhưng ai cũng thấy cái nguyên cớ thật sự là ở những đặc quyền đặc lợi quá lớn nhưng phi pháp mà họ đã thu được đang nuôi dưỡng lòng tham không đáy của họ. Mong rằng số người đặt tiền bạc cao hơn nhân dân ấy hãy ngẫm nghĩ về chữ “đủ”. Họ đã giàu gấp trăm ngàn lần người dân bình thường rồi. Hãy tự coi là quá đủ, để còn biết lẽ phải và trí khôn, lấy nền dân chủ đích thực, tân tiến của toàn dân làm trọng.

Về nhiệm vụ thuyết phục những đồ đệ trung kiên của học thuyết nhất nguyên độc đảng nên tự nguyện đi theo con đường cách mạng chân chính của nhân dân, không gì bằng xin để cho trong nội bộ đảng khuyên bảo, thuyết phục nhau, sẽ có hiệu quả hơn. Tôi mạn phép kể ra không ít cán bộ lãnh đạo cấp cao của đảng đã sẵn sàng chủ trương thực hiện nền dân chủ đa đảng trong trật tự theo một đạo “Luật về các chính đảng” sẽ được xây dựng. Ví dụ như ông Nguyễn Văn An, nguyên chủ tịch Quốc Hội; ông Trần Phương và ông Vũ Khoan, nguyên phó thủ tướng; ông Nguyễn Ðình Hương, nguyên ủy viên Ban Bí Thư Trung Ương; các tướng lãnh quân đội Nguyễn Trọng Vĩnh, Nguyễn Quốc Thước, Ðặng Quốc Bảo; tướng anh hùng công an Nguyễn Tài; các giáo sư, tiến sĩ Phan Ðình Diệu, Hoàng Tụy, Chu Hảo,Tương Lai, Việt Phương, Nguyễn Quang A, Ngô Bảo Châu, Lê Ðăng Doanh, Trần Ðình Thiên, Ðào Công Tiến, Ðào Xuân Sâm; các nhà nghiên cứu Phạm Chi Lan, Dương Thu Hương, Nguyễn Trung; các nhà văn hóa Nguyên Ngọc, Phạm Toàn, Phạm Xuân Nguyên; các luật sư Lê Hiếu Ðằng, Trần Quốc Thuận...

Sẽ được hoan nghênh nếu như báo Nhân Dân mở một chuyên mục “Nên độc đảng hay đa đảng?” để cho cuộc tranh luận được công khai, ngay thật, sôi nổi, vừa mang tính lý luận, hàn lâm, vừa mang tính quần chúng rộng rãi.

Bất cứ ai quan tâm đến vận mệnh của Tổ Quốc, cuộc sống có nhân phẩm và nhân quyền của toàn dân không thể bỏ qua thời cơ hiếm có hiện nay để nước ta có một hiến pháp tiến bộ xứng đáng với biết bao hy sinh gian khổ đã qua.

Phương án thuận lợi nhất có thể gọi là “Sự chuyển đổi có điều khiển trong luật pháp từ độc đảng sang đa đảng”,vừa từ dưới toàn dân đồng thuận đòi hỏi bằng được quyền tự do của mình đưa lên trên, vừa từ trên chủ động thấu hiểu nguyện vọng của bên dưới để có phương án lãnh đạo cụ thể có hiệu quả cao.

Ðảng CS cùng toàn dân hợp sức chuyển đổi cả hệ thống chế độ chính trị là một cuộc cách mạng ôn hòa mà sâu sắc nhất, là thắng lợi thật sự vĩ đại mang tính chất dân chủ đầy đủ và trọn vẹn, mở ra kỷ nguyên Dân Chủ trong lịch sử nước ta. Làm như thế, đảng CS sẽ được ghi nhận có công lao và vinh dự to lớn trong sự nghiệp cao quý này.

Nếu như lãnh đạo đảng vẫn một mực nhắm mắt bịt tai trước nguyện vọng chính đáng của nhân dân, từ chối phương án “Chuyển đổi có điều khiển”, cùng nhân dân làm trọn cuộc cách mạng dân chủ dân quyền, thì nhân dân quyết không cam tâm thất bại.

Lực lượng của cuộc cách mạng dân chủ sẽ đòi một cuộc trưng cầu dân ý công khai về vấn đề này. Nếu không đạt phương án này, nhiều cuộc xuống đường ôn hòa nhưng cực kỳ rộng lớn sẽ được đặt ra, hòa bình nhưng bền bỉ và quyết liệt để giành bằng được Quyền Con Người, quyền Tự do khao khát suốt mấy thế kỷ dồn nén lại. Tại sao nhân dân Liên Xô và Ðông Âu làm được, nhân dân Tunisia, Ai Cập, Libya làm được, nhân dân Miến Ðiện cũng làm được, mà nhân dân và sỹ phu Việt Nam ta lại không làm được?

Nhất định cuộc tranh đấu chính nghĩa này sẽ toàn thắng khi lòng dân đã đồng, lại đúng thời cơ, hợp thời đại.

Post Reply