Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nam Hàn: Có nhiều khả năng Bình Nhưỡng đã có trong tay hai trái bom nguyên tử

Bản tin cuả thông tấn xã Nam Hàn Yonsap hôm thứ sáu dẫn lời cuả bộ trưởng QP nước này là ông Yoon Kwang-ung cho hay rằng Bắc Hàn có thể có trong tay từ một đến hai trái bom nguyên tử. Loan báo trên được đưa ra trong bối cảnh viên cố vấn an ninh Nam Hàn Song Min-soon vưà từ Trung Quốc trở về sau chuyến đi thăm và làm việc hai ngày tại đây nhằm, vẫn theo bản tin trên, cùng với Trung Quốc ngăn chặn Bắc Hàn tiến hành thử nghiệm nguyên tử. Ông cho biết thêm rằng ông đã thảo luận với ngoại trưởng Li Zhaoxing cuả Trung Quốc “về những phương cách hợp tác” nhằm tìm ra đối sách khả dĩ ngưng được chương trình phát triển vũ khí hạt nhân cuả Bắc Hàn.

Theo nhận định cuả viên cố vấn Min-soon một vụ thử nghiệm trên cuả Bắc Hàn nếu xảy ra “sẽ khiến cho tình hình khu vực trở nên nghiêm trọng ở mức độ cao hơn nhiều so với vụ thử nghiệm hoả tiễn trước đây”. Cần nhắc lại rằng trong tháng qua Bắc Hàn đã cho bắn thử 7 hoả tiễn trong đó có một số hoã tiễn tầm xa mà theo nghi ngại cuả chính phủ Bush, có khả năng đạt đến một số khu vực trong nội điạ Hoa Kỳ. Vụ này đã tức khắc gây nên tình hình căng thẳng trong khu vực, đồng thời gây nên mối quan ngại rằng Bắc Hàn đang chuẩn bị cho kế hoạch thử nghiệm vũ khí nguyên tử.

Trong khi đó, quốc gia láng giềng là Nhật Bãn cũng tỏ dấu quan ngại không kém Nam Hàn. Trong bản tin loan đi vào chiều tối thứ năm, hãng tin Nhật Kyodo cho hay nhiều xe vận tải hạng nặng đã được nhìn thấy hoạt động trong khu vực được cho là bãi thử bom nguyên tử thuộc một khu vực đông bắc Bắc Hàn. Trước đó, một đài truyền hình Hoa Kỳ cũng cho hay chính quyền Bắc Hàn đang có những hoạt động đáng ngờ tại khu vực nói trên.

Trong tuyên bố đưa ra hôm thứ sáu, phát ngôn viên chính phủ Nhật Shinzo Abe không xác nhận cũng không phủ nhận nội dung bản tin trên cuả Kyodo. Lý do, theo lời ông Abe vì đó là loại tin tình báo, tuy nhiên ông lên tiếng thúc giục Nam Hàn nên gấp rút trở lại bàn hội nghị 6-bên nhằm giải quyết hồ sơ nguyên tử cuả Bắc Hàn. Vẫn theo ông Abe, nếu vụ thử nghiệm nguyên tử xảy ra, “đó sẽ là một mối đe doạ nghiêm trọng cho nền hoà bình và an ninh cuả Nhật, cũng như các quốc gia Đông Nam Á và cho cộng đồng quốc tế. Đây sẽ là điều không thể chấp nhận được.”

Bộ trưởng ngoại giao Nhật, theo Kyodo, hôm thứ sáu nói rằng Tokyo đang gia tăng theo dõi các hoạt động trong vùng. Về phần mình, ngoại trưởng Nam Hàn Ban Ki-moon cho biết chính phủ nước này đang cùng với Hoa Kỳ và những nước khác “theo dõi sát sao mọi động thái cuả Bắc Hàn”

Đăng Khoa-Source:AP

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Những bài ca từ khát vọng chưa thành

Trần Trung Đạo
Trong một xã hội thiếu vắng những bản tình ca, một nhạc phẩm mang tên “Tình ca” hẳn được nhiều người đón nhận. Bài hát “Tình ca” của Hoàng Việt được yêu chuộng không phải chỉ do cái tựa mà còn là một nhạc phẩm rất hay. Người nhạc sĩ gốc miền Nam, cũng là tác giả của “Tiếng còi trong sương đêm” quen thuộc với giọng ca Thanh Thúy, đã viết “Tình ca” để gởi gấm nỗi nhớ thương về miền Nam thân yêu và người vợ hiền đã chia tay ông trên cửa biển Cà Mau trước ngày tập kết. Qua núi biếc, qua bóng mây, qua những đêm tối trời mù mịt, tình yêu trong trái tim ông vẫn sáng lên như những vì sao chung thủy đời đời. Thế nhưng, nhạc phẩm “Tình ca” ngày mới ra đời năm 1957 đã bị Đảng phê bình là ủy mị ngay trong lần trình diễn đầu tiên ở Hà Nội với tiếng hát Quốc Hương. Những năm đầu của cuộc chiến “Tình ca” gần như không được hát.

Khi hát lên tiếng ca gởi về người yêu quê ta
Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba
Em ơi! Nghe chăng lời trái tim vọng ra
Rung trong không gian mặt biển sôi ầm vang
Qua núi biếc chập chùng xa xa
Qua bóng mây che mờ quê ta
Tiếng ca đời đời chung thuỷ thiết tha.
Em có nghe tiếng ca chứa đựng hận thù sâu xa
Đã biến tình đôi ta thành những ánh sao toả sáng
Vượt băng băng qua đêm tối tìm hương hoa
Bến nước Cửu Long còn đó em ơi!
Bãi lúa nương dâu còn mãi muôn đời
Là còn duyên tình ta thắm trong tiếng ca không thể xóa nhòa…

Nhạc sĩ Hoàng Việt đã chết vì bom trong ngày cuối năm, 31 tháng 12 năm 1967 trên đường về lại miền Nam để gặp người ông yêu quý.

Cũng trong khoảng thời gian đó ở miền Nam, có thể vào một buổi chiều trong một quán café ở góc đường Lê Lợi hay một buổi tối cuối tuần qua đài phát thanh Sài Gòn, vọng lên tiếng hát Thái Thanh. Hà Nội ơi! Tiếng hát của người ca sĩ tài danh như tiếng than dài tưởng chừng có thể nghe được tận bên kia cầu Hiền Lương đang đau nhức. Nhạc phẩm “Giấc mơ hồi hương” của nhạc sĩ Vũ Thành tưởng vọng về thành đô yêu dấu với Hồ Tây, cầu Thê Húc, đường Cổ Ngư và bao nhiêu kỷ niệm vẫn chưa chịu ngủ yên trong lòng người nhạc sĩ miền Bắc vừa đặt chân lên mảnh đất miền Nam.

… Lìa xa thành đô yêu dấu, một sớm khi heo may về
Lòng khách tha hương vương sầu thương
Nhìn "em" mờ trong mây khói, bước đi nhưng chưa nỡ rời
Lệ sầu tràn mi, đượm men cay đắng biệt ly
Rồi đây dù lạc ngàn nơi
Ta hướng về chốn xa vời
Tìm mộng xưa lãng quên tháng ngày tàn phai
Nghẹn ngào thương nhớ "em"... Hà Nội ơi…

Nhạc sĩ Vũ Thành đã qua đời nhưng giấc mơ hồi hương, gói gắm trong nhạc phẩm của ông, vẫn chưa thành sự thật. Nửa thế kỷ sau, nhạc phẩm bất hủ “Giấc mơ hồi hương” cũng chưa được chính thức hát lên giữa lòng Hà Nội dấu yêu mà ông đã hằng nghìn đêm thương nhớ.

Mười sáu năm sau ngày đất nước bị chia đôi, trong giảng đường đại học, trên đường phố Sài Gòn, trong sân trụ sở Tổng hội Sinh viên ở số 4 Duy Tân Sài Gòn, dọc hành lang cư xá sinh viên Minh Mạng, tiếng hát của ước mơ hòa bình thống nhất độc lập tự do lại vang lên, khác chăng, lần này không phải từ các giọng ca chuyên nghiệp như Quốc Hương, Thái Thanh, từ các nhạc sĩ thành danh như Hoàng Việt, Vũ Thành, không phải từ những giàn đại hòa tấu mà từ những nhạc sĩ còn rất trẻ với những cây guitar thùng cũ kỷ. Họ là Tôn Thất Lập, Nguyễn Văn Sanh, La Hữu Vang, Miên Đức Thắng, Trương Quốc Khánh và cả những nhạc sĩ sinh viên đang kẻ những khung nhạc lần đầu.

Nếu có cuộc bình bầu những bài hát phổ biến, chuyên chở tình đất nước và được sinh viên học sinh trước 1975 ưa chuộng, tôi nghĩ một trong những bài được chọn sẽ là bài “Tự nguyện” của nhạc sĩ Trương Quốc Khánh. Lý do vì bài hát ngắn, dễ hát, dễ thuộc, nói lên khát vọng chưa thành của tuổi trẻ nói riêng và dân tộc nói chung.

Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng
Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương
Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm
Nếu là người, tôi sẽ chết cho quê hương …

Nhạc sĩ Trương Quốc Khánh đã qua đời, trên đất nước anh hoa hướng dương vẫn chưa nở và con bồ câu bạn bè đặt trên quan tài anh trong giờ tiễn biệt cũng đã chết vài ngày sau đó.

Ba nhạc sĩ, người từ Nam ra Bắc, kẻ từ Bắc vô Nam, kẻ từ núi rừng, người từ thành phố, cho đến khi qua đời họ có thể chưa một lần gặp mặt nhau, nhưng cả ba đã cùng với nhiều triệu người Việt Nam cưu mang một ước mơ chung: hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do.

Nếu là người, tôi sẽ chết cho quê hương, vâng, có người Việt Nam yêu thương đất nước nào mà chẳng từng có những ước mơ như thế. Khát vọng hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do là khát vọng có thật và sâu thẳm của một dân tộc đã trải qua quá dài, chịu đựng quá nhiều trong chiến tranh, hận thù, phân chia Nam Bắc. Từ buổi sáng ngày 6 tháng 6 năm 1884 khi hòa ước mất nước Patenôtre được ký cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một chặng đường dài. Trong khoảng thời gian đó bao nhiêu máu Việt Nam đã đổ, bao nhiêu thịt Việt Nam đã rơi trên núi rừng và đồng ruộng Việt Nam.

Ngày tôi vào đại học các nhạc sĩ sinh viên nói trên một số đã vào tù, một số vào bưng, một số được trao trả tù binh ở bìa rừng Lộc Ninh, một số trốn tránh ở Sài Gòn, tôi không quen biết hay gặp gỡ họ nhưng những bài ca khao khát hòa bình thống nhất của họ vẫn còn vang đâu đó như trong bài “Không ai ngăn nổi lời ca” của La Hữu Vang dưới đây:

Không ai ngăn nổi lời ca, lời ca mãi muôn đời, lời ca yêu mến người
Lời tôi ca trên đồng lúa, lời tôi ca nắng mai hồng, lời tôi ca cơn sóng nhỏ dòng sông
Không ai ngăn nổi lời ca, lời ca những anh hùng trọn đời yêu núi sông
Lời tôi ca xanh đại dương, lời tôi ca những con đường
Lời tôi ca bao dòng máu trên luống cầy đọng giọt mồ hôi
Và ngàn lời ca quyết giữ nước ngăn quân giặc thù
và ngàn lời ca quyết phá tan ngục tù
Người người tìm nhau trong bác ái tin yêu đời
Chung xây nước Việt đẹp tươi !

“Chung xây nước Việt đẹp tươi”, tôi nghĩ các anh chị nhạc sĩ sinh viên thật quá ngây thơ, nhưng đồng thời tôi lại rất kính trọng tấm lòng yêu quê hương trong sáng của họ. Hàng trăm trí thức miền Nam, những giáo sư, luật sư, bác sĩ, kỹ sư từ các trường Tây trường Mỹ về, những bậc thầy, bậc cha chú họ mà còn bị cộng sản xỏ mũi dễ dàng nói chi là những cô cậu sinh viên trẻ tuổi vừa mới nện gót giày lên hành lang đại học. Những con nai tơ còn quá trẻ để thấy phía bên kia bụi rậm bầy cọp đói đang chờ đợi họ. Dù sao, trong đêm dài mùa đông của vận nước, họ là những thanh niên Việt Nam có trái tim nồng ấm tình người và biết đau nỗi đau mà đồng bào đang chịu đựng. Lớn lên trong một xã hội chiến tranh đầy dẫy những bất công tiêu cực họ không có một nơi nào để trút những phẫn uất khác hơn là giới cầm quyền. Tuổi trẻ quốc gia nào cũng thế, nhiệt tình, phản kháng, cương trực, vô tư, nhưng khác ở chỗ tại Việt Nam những đặc tính đó của tuổi trẻ bị Đảng Cộng sản lợi dụng tận tình, không phải chỉ tiếng hát lời ca, mà còn từ thịt xương đến giọt máu cuối cùng.

“Không ai ngăn nổi lời ca” là một thách thức của tuổi trẻ nhưng hình như khi viết bài ca đó nhạc sĩ trẻ của quê hương anh hùng Nguyễn Huệ chỉ nghĩ đến chính quyền miền Nam mà chưa biết rằng trên đời này còn có Đảng Cộng sản Việt Nam. Lịch sử bốn ngàn năm cuồn cuộn của dân tộc Việt mà Đảng còn ngăn được nói chi làm dăm ba bài hát. Chỉ vài hôm sau ngày cưỡng chiếm Sài Gòn, các nhạc phẩm của thời kỳ sinh viên sôi nổi, dù không công khai thông báo ra ngoài nhưng bên trong nội bộ ban văn hóa tư tưởng của Đảng, chúng đã bị xếp chung với loại nhạc “vàng”, “ủy mị”, “ru ngủ” và thậm chí “phản động”. Những người lưu tâm đến sinh hoạt văn nghệ đều biết sau 30 tháng 4 năm 1975 những nhạc phẩm như “Không ai ngăn nổi lời ca” hay “Tổ quốc ơi ta đã nghe” chỉ còn là những tiếng thì thầm trong góc tối. Ngay cả tại số 4 Duy Tân, trụ sở của Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, những nhạc phẩm của La Hữu Vang đã không còn được hát.
Lời của bài “Tổ quốc ơi ta đã nghe” của La Hữu Vang:

Ôi Tổ quốc ta đã nghe lời réo gọi
Trong tiếng hờn trong máu lửa ngập trời
Từng giây nghe quê hương
Xót xa thầm trong cơn thê lương
Thù quân gieo tang thương
Bao suối lệ tràn dâng muôn phương
Tổ quốc ơi! Ta đã nghe lời sông núi
Hận thù này tràn đầy sục sôi trong tim gan nồng
Ta đi chiến đấu quyết đánh tan quân bạo tàn
Bảo vệ Việt Nam quê hương ta.
Ôi Tổ quốc bao tiếng ca giờ lên đường
Ðem máu hồng tô thắm đẹp cuộc đời
Lời xưa vang đâu đây
Chí kiêu hùng muôn phương tung bay
Ðường ta đi hôm nay bao xác thù gục ngã tan thây
Tổ quốc ơi bao thiết tha lời sông núi
Thề nguyện cả cuộc đời trọn dâng cho quê hương này
Muôn hoa tươi thắm ngát hương trên bao nụ cười
Gian khổ nề chi ta ra đi.

Sau 1975, nhạc sĩ La Hữu Vang, tên thật là Trần Đình Giác, không giống như nhiều người khác ở lại Sài Gòn để tìm một chỗ đứng, một con đường tiến thân trong xã hội mới, đã lặng lẽ trở về quê hương Bình Định để sống với gia đình. Suốt 31 năm, tác giả những bản nhạc hay nhất của phong trào sinh viên Sài Gòn đã sống một cuộc sống đạm bạc với chức vụ coi sóc nhà văn hóa của huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định. Trong buổi phỏng vấn dành cho báo Bình Định cuối tháng 4 năm 2003, anh xác nhận, trước 1975: “Phần lớn những ca khúc mà chúng tôi viết chỉ nhằm vào việc kêu gọi lòng yêu nước…”. Lòng yêu nước như ngọn đèn thần để ở đâu cũng sáng rực. Nhạc phẩm “Tổ quốc ơi ta đã nghe” đã được tuổi trẻ Việt Nam ở hải ngoại tiếp tục hát, tương tự, nhạc phẩm “Không ai ngăn nổi lời ca” của anh đã được nhiều ca sĩ như Lệ Thu, Julie Quang thu vào băng đĩa.

Những bài hát của La Hữu Vang viết cho hoàn cảnh đất nước trước 1975 nhưng lại thích hợp hơn cho những năm sau 1975 với những cảnh “xót xa thầm trong cơn thê lương” hay “Bao suối lệ tràn dâng muôn phương”. Như ông bà ta thường nói “có tật giật mình”, Đảng rất ngại những bản nhạc của La Hữu Vang với nội dung yêu nước chân thành như thế, nếu cho phép tiếp tục hát trong những năm sau 1975 đói khổ, có thể giúp cho tuổi trẻ Việt Nam sực tỉnh và hiểu ra kẻ thù của dân tộc chẳng phải “Mỹ Ngụy” nào mà chính là những kẻ đang nhân danh Tổ quốc.

Theo đúng sách lược của Đảng từ những ngày mới thành lập năm 1930 được cụ thể hóa qua nhiều đại hội và nghị quyết, ngày 30 tháng 4 năm 75 cũng xác định nhu cầu “khai thác lòng yêu nước” không còn cần thiết nữa, cuộc cách mạng “dân tộc dân chủ nhân dân” đã hoàn tất và “thời kỳ chuyên chính vô sản, bước quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội” đang bắt đầu thành hiện thực. Và trong tiến trình cách mạng mới đó, những khái niệm độc lập, tự do, hạnh phúc do những thành phần ngoài Đảng kêu gọi phải được cảnh giác và ngăn cấm.

Trong quan điểm của Đảng, giữa lúc cuộc đấu tranh một mất một còn để tận diệt mọi “tàn dư” của “kẻ thù nhân dân” và “bẻ gãy mọi âm mưu xâm lược của các thế lực quốc tế thù địch”, việc kêu gọi “người người tìm nhau trong bác ái tin yêu đời” để “chung xây nước Việt đẹp tươi” như La Hữu Vang viết, là biểu hiện cho “thái độ hữu khuynh”, “không phân biệt bạn thù”. Nhạc như thế phản động quá đi chứ. Cũng theo Đảng, những khái niệm như tình yêu nước thuần khiết của mấy cô cậu sinh viên đại học đúng là sản phẩm của giai cấp tiểu tư sản, yêu nước ngày nay phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, và tương tự, nhân dân không phải là mấy chục triệu người Việt Nam máu đỏ da vàng chịu đựng chiến tranh mà là những ai biết đặt mình dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 cũng là ngày đánh dấu sự chia tay giữa Đảng Cộng sản và các thành phần dân tộc mà Đảng đã một thời liên minh, thỏa hiệp và ưu ái. Mối quan hệ giữa hai bên nếu còn được duy trì cũng chỉ là quan hệ lãnh đạo và phục tùng, chủ và tớ chứ không còn tương kính dù chỉ là đóng kịch như thời còn ở trong rừng hay trên núi. Một số trí thức trẻ “thức thời” thấy được hướng bay của ngọn cờ quyền lực, đã tự chôn sống đi con bướm vàng mơ ước tuổi hai mươi để hóa thân làm sâu bọ đo mình trên chiếc lá mục công danh. Một số khác nghĩ rằng mình “có công với cách mạng” trong thời chống Mỹ nên cũng có quyền, có tiếng nói dưới chế độ mới, và kết quả nếu không chạy kịp ra nước ngoài thì cũng bị bỏ rơi, bạc đãi, tù đày trong nước. Dĩ nhiên cũng có nhiều người, tuy trễ tràng, nhưng đã thấy ra những chọn lựa đầy lầm lỡ thời trai trẻ và đã dùng những lầm lỡ như bài học, như chiếc gương cho các thế hệ mai sau soi vào để qua đó mà nhận diện ra sự thật và chọn hướng đi đúng cho mình.

Giới lãnh đạo Đảng Cộng sản lợi dụng và vận dụng một cách tinh vi, nhuần nhuyễn lòng yêu nước, niềm khao khát hòa bình thống nhất chân thành nhưng quá đơn sơ của người dân Việt, nhất là trong tuổi trẻ. Họ có đủ sách vở áp dụng cho mọi thành phần xã hội, từ anh thợ điện Nguyễn Văn Trỗi ít học ở quê tôi cho đến bà luật sư Ngô Bá Thành học nhiều mà hiểu chẳng bao nhiêu ở Sài Gòn.

Tất cả đều hùa theo Đảng đổ tội lý do cuộc chiến lên đầu các nhà lãnh đạo miền Nam, nào là không tôn trọng Hiệp định Geneva thống nhất đất nước qua một cuộc tổng tuyển cử, nào là rước voi Mỹ vào giày xéo lên mảnh đất miền Nam thân yêu. Thế nhưng, không có một nhà trí thức nào thử đặt ngược giùm câu hỏi. Giả thiết không có một người lính Mỹ nào đặt chân lên miền Nam liệu Đảng Cộng sản có để yên cho nhân dân miền Nam xây dựng một xã hội mà họ đã chọn lựa hay rồi sẽ tìm một lý do khác để phát động chiến tranh? Giả thiết Đảng Cộng sản thua trong cuộc tổng tuyển cử, liệu họ có chịu giải tán bộ máy công an, hủy bỏ tổng cục chính trị, hệ thống quân ủy, ủy ban nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân, sáp nhập quân đội nhân dân vào quân đội cộng hòa và sinh hoạt bình đẳng dưới pháp luật như các đảng phái khác hay sẽ dùng mọi thủ đoạn để giành cho được chính quyền? Một người có kiến thức chính trị tối thiểu cũng biết Đảng chỉ có một con đường, đó là cộng sản hóa toàn cõi Việt Nam, và tất cả khẩu hiệu hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do nếu có chăng cũng chỉ là những điều kiện tiền đề chứ không bao giờ là mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chính vì lẽ đó, ngay sau 30 tháng 4 năm 75, để xác định vai trò lãnh đạo của Đảng, những bài hát mới với những câu đầy đe dọa như “Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù…”, “Đập tan mọi xích xiềng…” hay những bài hát như “Bác đang cùng chúng cháu hành quân…”, ”Như có Bác trong ngày vui đại thắng”, “Trường Sơn đông-Trường Sơn tây”, “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người " v.v… được phát không chỉ trên đài phát thanh mà còn đến tận các hang cùng ngõ hẻm, trong lúc những nhạc phẩm nói lên khao khát hòa bình thật sự nhưng không nằm trong chủ trương của Đảng đều đã bị loại bỏ ra khỏi các sinh hoạt văn nghệ.

Mà cho dù không bị ngăn cấm hay loại bỏ đi nữa, những câu hát sinh viên “Rồi hòa bình sẽ đến, đến cho dân tộc Việt, đôi bồ câu trắng rủ nhau về làng xưa...” của Nguyễn Tuấn Kiệt có cất lên cũng tức khắc trở thành lạc lõng nếu không muốn nói đó là những lời mỉa mai cay đắng trước thực tế đất nước đang chìm đắm trong hận thù tang tóc. Hòa bình đã đến nhưng con bồ câu trắng không về làng xưa mà chết đói trên vùng kinh tế mới, giữa biển cả mênh mông, trong rừng sâu nước độc, trên hàng rào kẽm gai chung quanh các trại tù Suối Máu, Hàm Tân, Hoàng Liên Sơn, Thanh Phong, Thanh Hóa.

Với người dân Sài Gòn, nỗi lo khi nghe tiếng đại pháo 130 ly của Liên Xô bắn vào thành phố và nỗi sợ khi nghe tiếng xích xe tăng T54 lăn bánh qua cầu Tân Thuận có thể không khác gì nỗi lo, nỗi sợ của ông bà họ trong ngày thực dân Pháp đánh vào thành Kỳ Hòa 115 năm về trước.

Một số người cho rằng việc gọi ngày 30 tháng 4 là ngày quốc hận, ngày mất nước, mất quê hương hay so sánh ngày mất Sài Gòn năm 1975 với ngày Sài Gòn thất thủ năm 1861 là biểu hiện của thái độ cực đoan. Thật ra, nếu nhìn lịch sử theo điều kiện và hoàn cảnh chính trị xã hội của từng giai đoạn, việc gọi ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày mất nước không hẳn là không có cơ sở. Thế nào là một đất nước? Đất nước phải chăng là tổng hợp, từ lãnh thổ đến tài nguyên, từ văn hóa đến lịch sử, từ chủ quyền quốc gia đến hạnh phúc của mỗi người dân, nói tóm lại, nếu đất nước bao gồm mọi giá trị vật chất và tinh thần của một dân tộc, rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975 đúng là ngày mất nước, không chỉ mất miền Nam thôi mà mất cả Việt Nam.

Một ví dụ. Những năm sau 1975, ngày sinh nhật Karl Marx 5 tháng 5 là ngày lễ lớn. Từ sáng đến tối không biết bao nhiêu chương trình, bao nhiêu buổi mít-tinh để tưởng nhớ đến người được Đảng ca ngợi như một vĩ nhân đã chỉ đường cho nhân loại bước ra khỏi những nhọc nhằn tăm tối của cảnh người bóc lột người để hướng đến xã hội cộng sản khoa học. Tiểu sử của Marx được đọc trên đài phát thanh, đài truyền hình, học tập tại mỗi tổ dân phố, hàng triệu học sinh Việt Nam từ cấp một đến đại học phải học thuộc lòng tiểu sử Marx, thế nhưng, bao nhiêu học sinh Việt Nam nói riêng và người dân Việt Nam nói chung biết rằng trước đó vài tuần lễ thôi, một ngày vô cùng trọng đại đối với dân tộc Việt Nam đã lặng lẽ trôi qua gần như trong quên lãng: ngày mùng 10 tháng 3 Âm lịch Giỗ Tổ Hùng Vương. Câu tục ngữ Việt Nam mà ai cũng biết, cây có cội nước có nguồn, nhưng nguồn Việt Nam ở đâu và cội Việt Nam sẽ mục nát ra sao trong một nền giáo dục nô lệ và vong bản như thế. Một dân tộc đi xa dần với nguồn cội, nếu không đáng gọi là mất nước thì còn gì quan trọng hơn để mất chứ nhỉ?

Sự sụp đổ của hệ thống cộng sản trên phạm vi thế giới đã ít nhiều đã ảnh hưởng đến Việt Nam, các nhạc phẩm sinh viên một thời xếp xó được đem ra hát lại, bản nhạc “Tình ca” của Hoàng Việt được nhiều ca sĩ đua nhau hát, đời sống của người dân ít nhiều thay đổi, nhưng về căn bản, hơn ba mươi năm qua khát vọng hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do của dân tộc vẫn còn là khát vọng. Tiếng súng đã vắng đi trên đất nước, non sông liền một dải nhưng người dân vẫn sống trong nỗi bất an lo sợ, lòng người hai miền Nam Bắc còn ngăn cách xa hơn cả trong thời chiến, hàng trăm ngàn người con gái Việt phải rời bỏ quê hương đi ăn mày, làm điếm, ở đợ khắp thế giới, Hoàng Sa và phần lớn Trường Sa còn trong tay giặc, phần lớn trong số hơn hai triệu người Việt hải ngoại vẫn còn bị xem là thành phần phản động bám theo chân đế quốc, và trong nước, những quyền tối thiểu như ngôn luận, đi lại, thờ phụng của người dân vẫn chưa có được.

Việt Nam thiếu quá nhiều thứ, cần quá nhiều thứ, nhưng một thứ mà tuổi trẻ đang thiếu, đang cần không phải là lãnh tụ, không phải là súng đạn, không phải là kiến thức, mà là những bài ca của khát vọng hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do vẫn chưa thành sự thật.

Không ai ngăn nổi lời ca, lời ca lúc ban đầu, người tình thương mến nhau.

Lời tôi ca bên lửa ấm của con tim biết yêu nồng
Sưởi cho nhau cơn giá lạnh ngày Đông.

Không ai ngăn nổi lời ca, vâng, hãy hát lên hỡi tuổi trẻ Việt Nam như một lần La Hữu Vang và bạn bè anh đã hát trong sân trường đại học.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Ôn cố tri tân - Thấy lợi mới chơi



Triệu Vượng, người Đằng Ấp, tỉnh Hải Dương, rất mực tin vào cõi mai sau, nên hết sức làm lành lánh dữ. Không ăn mặn sát sinh, khiến hàng xóm chung quanh khen là người lương thiện. Vợ là Triệu thị, thấy vậy, mới nhân lúc hai người ngồi cuộn chả chay. Mạnh miệng nói rằng:
- Chàng trên thì thờ kính Cậu Bà, dưới giúp người khốn khó, còn ở giữa thì hết dạ tu thân. Hẳn ở mai sau sẽ kiết nhiều hung ít.
Triệu Vượng đưa tay rờ cằm một phát, rồi thích thú đáp:
- Trời ban cho mình nhiều may mắn, mà chỉ giữ riêng thân, thì chỉ ít tháng nửa năm chẳng còn chi hết cả!
Rồi cười hà hà mấy tiếng. Hể hả nói:
- Mình giúp người ta cửa trước. Cậu Bà giúp mình cửa sau. Rốt cuộc hai cõi âm dương đều ngon lành hết ráo. Đoạn, với tay lấy ly đậu nành. Ực cho một phát, rồi cảm thấy sảng khoái tận tâm can. Sung sướng nói:
- Tiền bạc có thể hại người mà cũng có thể cứu người. Điều quan trọng là phải biết xử dụng thế nào cho đúng cách. Chỉ có thế thôi.
Vượng, có một người con gái tên là Tiểu Thúy. Đẹp và thông minh, khiến Vượng vô vàn thương quý. Hết dạ lo toan, nên thường gọi vợ đến, mà nói rằng:
- Nàng sanh con. Nhân dáng bên ngoài thì xinh đẹp. Trí óc lại thông minh. Tâm can lại dư thừa lòng nhân hậu - mà không chịu sanh tiếp - Chẳng uổng lắm ử
Triệu thị nghe chồng nói vậy, liền đảo mắt một vòng. Khi chắc chắn là chẳng có ai, bèn lẹ miệng đáp:
- Hay không bằng hên. Thiếp có thể may mắn một lần, chớ hông thể may mắn một đời. Lỡ nhào ra đứa nữa - mà hổng đặng như ri - thì bao tiếng tốt sẽ vèo tuôn bay tuốt.
Triệu Vượng trầm ngâm một chút, rồi nhíu mày lộ vẻ đăm chiêu. Ưu tư nói:
- Sống nhờ vào dư luận, thì suốt cuộc đời. E chẳng bao giờ thoải mái được đâu! Lại nữa. Người ta chỉ nói cho sướng miệng lúc đó, rồi khi việc đã qua, thì chẳng ai nhớ đến mần chi nữa. Thậm chí kết tội thế nào? Giải quyết làm sao? Cũng chẳng còn trong trí óc... Rồi nhìn sâu vào mắt vợ. Tha thiết nói:
- Chẳng ai thương mình bằng mình. Miễn hồ đừng làm chuyện trái lương tâm, thì dẫu cho thiên hạ bửa tới phang lui, cũng chẳng nhằm chi hết cả!
Triệu thị, nhìn vào khuôn mặt ưu tư của chồng, cũng không cầm được sự bồn chồn trong tâm tưởng, bèn hít vội hơi sâu. Mau mắn nói:
- Đành là vậy. Nhưng thiếp chẳng thể nào sanh nữa được đâu!
Triệu Vương bỗng nghệch mặt ra nhìn vợ. Ngơ ngác nói:
- Nàng vừa qua tuổi ba mươi, là cái tuổi lý tưởng để làm mẹ. Sao lại đứt ngang kỳ như thế?
Triệu thị thủng thẳng đáp:
- Chàng thích làm việc nghĩa, thì thiếp với lời dạy tòng phu, ắt phải tiếp đỡ đặng chàng bang tới tới. Nay vướng bận con thợ Mần răng mà giúp được, là một cái thua. Từ ngày gá nghĩa với chàng đến nay, thiếp chưa mong mình trúng số, cũng chưa hề muốn mình lâm cảnh khó khăn, mà nay ẳm nhẹ bé bi mần răng mà khá được, là hai cái thuạ Gái một con trông mòn con mắt. Gái hai con... có gì nữa để mà trông. Thiếp đang ở đỉnh cao của thời xuân sắc, mà nếu có con, sẽ mất đi phần lôi cuốn, là ba cái thuạ Với ba cái thua đó. Cho dẫu thiếp có cứng lòng thế mấy đi chăng nữa, cũng chẳng thể nào vui sống được đâu!
Một hôm, Tiểu Thúy đang dọn dẹp ở vườn rau. Chợt Triệu thị chạy tới bên chồng. Âu lo nói:
- Chàng thương con vì nó đẹp và thông minh. Lỡ có một ngày con không còn như vậy, thì chàng xử trí mần răng? Chẳng lẽ phụ tử thâm sâu... dựa vào hai cái đó?
Triệu Vượng đầu thì lắc, tay xua lịa xua lia. Hốt hoảng đáp:
- Nào phải vậy đâu! Nàng đã ở với ta bao mùa lá rụng - mà ngờ vực thế này - thì còn nói đến chữ tin nhau làm chi nữa. Chẳng bậy lắm ử
Triệu thị nhìn chồng, bỗng nhói tận tâm can. Lo lắng nói:
- Thiếp chỉ lo chàng dựa vào sự hơn người của con, mà yêu quý - thì cái quý yêu đó dễ đưa chàng ngã sa vào lòng kiêu ngạo - coi nặng con mình, mà xem nhẹ con của người ta, thì chắc chắn nỗi đơn côi sẽ về trong sớm tối!
Triệu Vượng nghe vợ nói vậy, liền thở ra một hơi mấy cái. Cẩn trọng đáp:
- Hồng nhan bạc mệnh. Con mình thuộc loại có... nhan, thì phải lưu ý để... mệnh kia đừng tung tăng đi tới. Học một biết mười, đến độ cái gì cũng biết, mà không biết... điều, thì còn sống đặng hay sao? Tôi ăn chay nằm đất. Nguyện ý đêm ngày. Những mong cõi cao xa giúp con thoát xa vòng tục lụy, thì trước là yên ổn tấm thân. Sau với tổ tiên cũng an lòng bước đến.
Năm Tiểu Thúy được mười hai tuổi. Triệu Vượng gởi con đến thầy để học chữ. Bốn năm sau đã thuộc hết Ngũ kinh, lại đặc biệt hiểu thấu về tam tòng tứ đức, khiến Vượng mát cả tâm can, yên bình phế phủ.
Cùng học với Thúy, có bạn đồng môn tên là Tử Mạch, hơn Thúy đến ba tuổi. Dáng người văn nhã phong lưu, nói năng thiệt thà khiêm tốn. Ngày nọ, nhân lúc thầy lên nhà trên kéo thuốc lào, Mạch mới chồm qua bàn của Thúy. Vọt miệng nói:
- Cùng học một thầy. Chung một sách. Trọ một nơi. Hẳn sẽ chung cùng duyên nợ. Có phải vậy chăng?
Tiểu Thúy liếc nhìn Tử Mạch một cái. Ấp úng đáp:
- Phải!
Mạch lại hỏi:
- Trai chưa vợ. Gái chưa chồng. Đã vậy cha mẹ hai bên còn đủ cả. Ắt dễ tới luôn, bởi chẳng lo tang chế ba năm dài kiêng cữ. Có phải vậy chăng?
Tiểu Thúy mặt bỗng đỏ lên như mặt trời mọc. Thẹn thùng đáp:
- Phải!
Tử Mạch. Hỏi hai câu dính chấu cả hai, bèn hớn hở ruột gan mà nói này nói nọ:
- Làm người. Không thể thất hứa với người ta, càng không thể thất hứa với chính mình. Nếu muội đồng ý. Huynh nguyện suốt đời lo kế mưu sinh, đặng muội yên tâm dỗ dành năm ba đứa...
Tiểu Thúy vội đưa tay bịt miệng Tử Mạch lại. Hơ hãi nói:
- Chưa có sự đồng ý của cha mẹ, mà nói đến chuyện... cái con, thì khác nào đã vượt qua vòng lễ giáo. Thiệt là không phải!
Rôi chú tâm vô mà học. Cho đến kỳ nghĩ hè năm ấy, lúc trở về nhà, Tử Mạch cứ dõi mắt nhằm vào phương bắc mà thở. Đã vậy ăn uống thất thường, lại thức ngủ lung tung, khiến chỉ mấy hôm đã xơ xác như người mang trọng bệnh. Mẹ Mạch thấy vậy, mới nhói tận tim gan, mà bảo dạ rằng:
- Ủ rủ mặt mày. Dáng trông tiều tụy. Ăn không được. Ngủ không yên, đến độ mẹ đứng trước mắt mà tuồng như không thấy, thì đúng là bệnh trong tâm. Chớ còn chi nữa!
Rồi gọi con đến, mà nói rằng:
- Thanh niên là rường cột của nước nhà, là tương lai mai hậu, là chỗ dựa của phụ mẫu mai sau - mà lạng quạng kiểu này - thì chỉ sợ cha mẹ chưa kịp... dựa vô, đã ra người thiên cổ. Chẳng tội lắm ử
Tử Mạch hướng mắt vào cõi xa xăm. Buột miệng đáp:
- Máu cần cho cơ thể thế nào, thì tình cần cho phèo phổi thế ấy. Thiếu máu. Xác thân này sẽ chết. Thiếu tình. Còn sống được hay sao?
Bà mẹ nghe tới đâu tảng thần theo tới đó, bèn nắm chặt đôi bàn tay lại. Thảng thốt than:
- Từ lúc ẳm ngửa, cho đến khi lớn khôn. Công khó mẹ cha như rừng như núi. Nay vì một chút tình si, mà toan hủy bỏ công sinh thành dưỡng dục, thì trước là có tội với bản thân. Sau với mẹ cha cũng trăm bề thiếu sót.
Tử Mạch lắc đầu, đáp:
- Người ta làm được nhiều điều kỳ diệu, là do tình yêu thúc đẩy. Chớ không phải mẹ cha, thì sao phải bắt con đi vào đường ngang trái?
Bà mẹ. Mím chặt đôi môi lại, như cố nuốt nỗi đau trở ngược vào lòng, rồi thì thào tự nhủ lấy thân:
- Già néo đứt dây. Con mình đang như vậy, thì phải cố lần theo uốn nắn. Không được... búa vô, thì mới mong có chỗ tựa nương lúc tuổi già bóng xế!
Đoạn, dịu giọng nói:
- Còn nước còn tát. Con chưa cố sức tát - mà đã đầu hàng - thì chẳng phải số phận không se, mà vì con chẳng tận hết sức hơi đổ dồn vô trong đó.
Tử Mạch thấy mẹ đứng về phía mình, liền dần dần tươi tỉnh lại, rồi chợt nắm lấy tay. Gấp gáp nói:
- Mẹ cho người qua nhà họ Triệu, hỏi Tiểu Thúy cho con, thì mới mong hương khói ở mai này không tắt!
Bà mẹ mặt mày tư lự. Lộ rõ đăm chiêu. Lo lắng nói:
- Năm cùng tháng tận, mà qua hỏi con gái của người ta. E dẫu sát bên cũng khó lòng kết dính!
Rồi thở ra một cái, bất chợt nhìn vào khuôn mặt hốc hác của con. Quyết liệt nói:
- Có con gái mà được người đi hỏi, đã mừng hết lớn. Sao lại phải lo? Để hùng khí... sui gia bỗng vèo tan bay biến.
Liền nhờ người mai mối qua nhà của Triệu. Triệu Vượng, khi nhận được tin, bèn gọi vợ vô trong, tỏ phân điều hơn thiệt:
- Con mình đẹp, lại thông minh, thì phải lấy con quan mới thu về... sở hụi. Chớ gả cho đám này, thì chẳng những thu nhập hổng vô, mà còn phải chi ra nhiều ít nữa. Thiệt là đáng tiếc!
Triệu thị suy nghĩ một chút, rồi ngập ngừng đáp:
- Lấy chồng chớ đâu phải lấy... tiền, thì có là quan hay hàng lê thứ, cũng chẳng ăn thua. Sao lại để kim ngân nhảy ùm vô trong đó?
Rồi nhìn chồng với ánh mắt trĩu nặng. Đau đớn nói:
- Vàng bạc vĩnh viễn là câu nói lý lẽ. Thiếp biết ý chàng như thế, nhưng mỗi lần trò chuyện với con, chàng lại mong con biết quý yêu tình thân thuộc - trong khi duyên nợ trăm năm lại nhẫn tâm bẻ quày qua hướng khác - thì cho dẫu chàng có dạy đến ngày tóc bạc. E chẳng bao giờ kết trái được đâu!
Đoạn, vuốt tóc một cái cho nhẹ bớt tâm tư, rồi bức rứt nói:
- Phú quý tại trời. Giàu nghèo do tự số. Con mình được người ta thương mến, lại nhất lòng đi hỏi. Chớ không chơi món... mèo mả gà đồng, là đã mừng hết lớn. Ngon lành như vậy, mà chàng không nhận ra - lại chú tâm đến đồng tiền luôn... bạc - thì trước là lỗi đạo trượng phu. Sau với con yêu cũng gánh mang phần trách nhiệm...


3G lụm được trên Net

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

BÀN THÊM VỀ CHỮ "ĐỒ"

Trần Thị Nhật-Hưng
Trong tiếng Việt, có lẽ không có chữ nào có nhiều nghĩa và nhiều ứng-dụng bằng chữ “đồ”. Thực-thế, riêng với nghĩa đầu tiên và phổ-thông nhất của nó, chữ này đã chiếm một địa-bàn rộng lớn vì nó được dùng để chỉ tất cả những dụng-cụ, khí-mãnh, tiện-nghi... mà con người đã sáng-tạo ra để làm cho đời-sống vật-chất của mình được thêm an-toàn, thêm thoải-mái và nhiều hiệu-năng hơn.

Chỉ cần kể một vài thí-dụ: cái bàn, cái tủ, cái giường... là đồ đạc trong nhà; cái cày, cái cuốc, cái xẻng... là đồ làm ruộng, làm vườn; cây súng, lưỡi gươm, cung nỏ... là đồ binh khí để tự vệ hay săn bắn; con búp bê, trái banh, cỗ bài... là đồ chơi, tiêu-khiển lúc thư-nhàn .v..v..

Tất một lời, đời sống vật-chất của con người không thể quan-niệm được là không có đồ. Ngay đến những giai-đoạn của văn-minh loài người cũng được mệnh danh qua chất liệu của đồ dùng chẳng hạn, thời đại đồ đá cũ, thời-đại đồ đồng ... Sở thích con người cũng khác nhau và đa dạng như thể loại của các món đồ: người chơi đồ sứ, kẻ thích đồ vàng, thậm chí có kẻ sưu-tầm đồ phế thải.

Một nghĩa quan-trọng thứ hai của chữ đồ liên-quan đến lãnh-vực ẩm thực, gọi nôm-na là đồ ăn đồ uống. Ở đây, sở thích và thời-thượng cũng thay đổi hoài hoài. Có người thích xơi đồ Tàu, có người ưa ăn đồ Tây, lại có người chỉ chịu cây nhà lá vườn. Bình thường, người ta hay ăn đồ nóng uống đồ lạnh, nhất là trong mùa Hạ, nhưng cũng có khi vội-vã hoặc không gặp hoàn-cảnh thuận-tiện, người ta đành ăn đồ nguội hoặc tích-trữ đồ khô (hoặc lương khô). Người vượng hỏa cần cữ đồ cay, còn người có máu hàn chẳng nên ham ăn đồ sông hoặc đồ biển. Dầu sao chăng nữa, khi gặp lại bạn cố-tri, cần có chai rượu ngon và dĩa đồ nhấm tốt, câu chuyện hàn-huyên mới thêm phần hoạt-bát, đậm-đà.

Chữ đồ còn được dùng trong lãnh-vực rộng lớn là lãnh-vực y-trang, để chỉ mọi thứ áo quần, đồ trang-sức, vật phụ-tùng... mà con người mặc, khoác, đeo, độ ... trên thân xác. Nếu ở những nơi chốn riêng tư, ta có thể mặc đồ lót, đồ cộc, thì trái lại, trước mắt người ngoài, ta phải mặc đồ tề-chỉnh, thậm chí trong những dịp khánh tiết phải mặc đồ lớn, có khi còn phải mang những đồ cổ-quái như khăn vành-dây hay áo đuôi tôm. Ngạn-ngữ phương Tây khuyên ta nên giặt đồ dơ trong nhà mình, không khác gì luân-lý phương Đông dạy ta: “Đóng cửa bảo nhau”.

Ý nghĩa chữ đồ không phải chỉ được giới-hạn trong ba lãnh-vực thiết-bị, ẩm-thực và y-trang vừa kể, tuy rằng ba lãnh-vực ấy đã đủ mênh-mông bát-ngát rồi. Quả vậy, chữ đồ còn vượt khỏi bình-diện những vật vô-tri để tiến lên bình-diện con người. Tuy nhiên, cần minh-định ngay rằng trong lãnh-vực này, chữ đồ hàm-ý xấu chứ không hàm-ý tốt. Chẳng hạn không ai nói: ”đồ thánh-hiền”, “đồ đạo đức”, “đồ tử-tế”, “đồ chung-thủy” mà chỉ nghe thấy nói: “đồ xỏ-lá”, “đồ sở-khanh”, “đồ quạ mổ” v..v.. và v..v.., vì về ngữ-vựng, mạt-sát, chửi rủa, tiếng nước ta không thua kém tiếng nước nào trên thế-giới.

Đến đây, để giãm bớt tính-cách kinh-điển của bài viết, tác-giả xin phép thuật lại một chuyện vui, được nghe thấy khi còn bé và sống nơi đồng ruộng vùng Kinh Bắc. Một anh trai làng mới lớn, theo chúng bạn sang xem hội làng Lim. Chàng chọc ghẹo một thôn nữ xinh đẹp, bị cô này quay lại mắng: ”Cái anh này hay nhỉ, thật là đồ phải gió cắn răng!”. Chàng trai bị xỉ-vả như vậy, cảm thấy bẽ mặt quá, tiếng trống chèo hay câu hát quan-họ chung-quanh nghe không còn thấy hứng-thú gì nữa. Chàng lủi-thủi ra về, kể lại câu chuyện không may của mình cho ông chú nghe. Ông này cười phá lên rồi nói: ”Sao mầy ngu thế? Con bé ấy nó rũa mầy phải gió cắn răng là nó thương quý mày đấy! Thực-tế, nếu bị trúng gió mà răng còn cắn lại thì chữa dễ như chơi: chỉ việc lấy gừng, rượu, mớ tóc rối và đồng bạc bà đầm xòe đánh gió là tỉnh lại ngay như sáo sậu! Trái lại, nếu bị trúng gió mà há hốc miệng thì hết thuốc chữa, không về chầu tiên tổ ngay thì cũng bán thân bất toại suốt đời. Được nó rủa yêu như vậy, thay vì tiến lên làm tới, mày lại đánh bài tẩu mã thì quả thực mày là thằng ngốc!”.

Trở lại chữ đồ. Chữ này còn có một nghĩa đặc-biệt nữa. Chữ ấy chỉ người nho sĩ, tuy có tài nhưng không có số, đi thi không đỗ tiến-sĩ, cử-nhân, nên chẳng len chân được vào hoạn-lộ, đành đi gõ đầu trẻ, dạy cho chúng năm ba chữ thánh-hiền để làm kế độ thân. Tùy theo tuổi tác và uy-tín, người ta nói đến anh đồ, thầy đồ, ông đồ hay cụ đồ.

Con đường tình ái có nhiều khúc ngoặt bất-ngờ; bởi vậy, anh đồ thời trước, mặc dầu không có danh-vọng hay tài-sản đáng kể, lại thành-công trên tình trường. Bằng chứng là những câu thơ, câu ca-dao trong văn-chương dân giả, chẳng hạn như câu:

Chẳng ham ruộng cả ao liền
Ham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

Thế mới hay vốn liếng văn-chương, lời lẽ văn-vẻ, tác-phong lịch-sự có sức hấp-dẫn hơn cả ruộng sâu trâu nái của anh trọc phú hay vai u thịt bắp của gã lực-điền, trước mắt các nàng thiếu-nữ đồng quê Việt-Nam ngày xưa. Sau hết và khó nói hơn hết là một nghĩa đặc-biệt khác của chữ đồ. Cũng như số phận của tất cả những từ-ngữ vì phổ-thông quá và nhiều nghĩa quá nên được dùng để chỉ gián-tiếp những vật, những sự việc mà ta ngại kêu đích danh, bởi tính cả thẹn hoặc không muốn làm người nghe phải ngượng-ngập, chữ đồ còn được dùng để chỉ... bộ phận sinh-dục của người đàn bà. Thay vì bàn tán dông dài về ý nghĩa này, tác-giả chỉ xin viện-dẫn hai thí-dụ trích trong văn-chương Việt-nam.

Thí-dụ thứ nhất liên-quan đến một anh đồ -theo nghĩa nhà giáo chữ Nho- tuổi trẻ tài cao, văn-chương bề-bề nhưng lại không đồng xu dính túi. Một hôm túng đói quá, anh đánh liều đến gặp vị quan đầu tỉnh xin giúp-đỡ. Ông quan này thuộc loại hách-dịch, tự cao tự đại, gặp kẻ hàn-sĩ vội lên mặt kênh-kiệu, ra ngay câu đối thử tài: “Miệng người sang có gang có thép”. Anh đồ không chịu nổi thái-độ hống-hách, lời lẽ khoe-khoang của vị đường quan nên quên cả sợ, quên cả đói, ứng khẩu ngay: “Đồ kẻ khó vừa nhọ vừa thâm”. Tuy câu đối rất chỉnh về phương-diện hình-thức biền-ngẫu nhưng lối ví-von xất-xược của anh đồ, dám đem miệng của quan đối với “đồ ”của kẻ khó (tức là người đi ăn xin) làm cho quan đùng-đùng nổi giận. Kết-quả anh đồ không được giúp-đỡ gì mà còn bị lính lệ thẳng tay đuổi ra khỏi cửa.

Thí-dụ thứ hai cũng liên-quan đến một anh đồ. Vị này đi dạy học ở tỉnh xa, có dịp về thăm quê ít ngày. Lúc trở lại trường, bắt gặp bọn học trò đang khúc-khích. Thầy đồ tra hỏi mãi thì chúng cho biết bữa qua, chúng bắt gặp cô hàng xóm ra cầu ao giặt rũ, lỡ ngồi xổm trong một tư-thế hớ-hênh, nên lộ-liễu thân thể trước mắt bọn “nhất quỉ nhì ma này”. Thầy đồ nghe các môn sinh của mình kể lại câu chuyện hãn-hữu ấy, phần thì giận lũ học trò mất nết, nhưng phần khác cũng thấy tiếc là mình đi vắng để lỡ dịp may. Thầy liền ký-chú câu chuyện ấy vào một bài phú khá dài trong đó có câu sau đây liên-quan đến chữ đồ bài này:

Đồ nọ tưởng đồ kia thêm thắc mắc.

Trên đây chúng ta mới xét vài nghĩa của chữ đồ trong lãnh-vực tiếng Việt thuần-túy. Nếu ta bước sang lãnh-vực tiếng Hán Việt, ta sẽ như lạc vào một khu rừng vì từ-ngữ “đồ” còn có nhiều nghĩa khác nữa trong lãnh-vực này. Kẻ viết tuy đã từng hành nghề “thầy đồ” trong một thời-gian, nhưng chỉ là “đồ” tân-học, nên không dám cả gan liệt-kê và giải-thích tất cả những nghĩa của chữ “đồ” trong tiếng Hán-Việt. Chỉ xin nhắc sơ qua vài nghĩa thông-dụng nhất. Một nghĩa thường thấy của chữ “đồ” liên-quan tới khái-niệm học trò. Người Việt ai mà không biết cụm từ quen thuộc như đồ đệ, môn đồ, cao đồ, tông- đồ, v.v..

Riêng những người ham đoc truyện võ hiệp thời tiền-chiến và truyện chưởng thời Kim-Dung còn nhớ đến những vị sư-phụ, những vị chưởng môn võ phái, phải nghiến răng chau mày vì tức giận những nghịch đồ (học trò ngỗ-nghịch, chống lại ý-kiến hay uy-quyền của thầy), hoặc phản-đồ (học trò làm phản lại môn phái).

Chữ đồ dùng như một động-từ có nghĩa là làm thịt súc vật như mỗ trâu, mỗ bò ... Mọi người đều biết cụm từ đồ tể, chỉ người làm thịt súc vật để bán, có khi còn được dùng theo nghĩa rộng để chỉ những kẻ tàn-sát sinh-linh bất-luận vì chức-chưởng, vì lòng tham hay vì bản tính độc ác. Dân ghiền chuyện chưởng Kim-Dung ai mà không nhớ Cô Gái Đồ Long ? “Đồ Long” có nghĩa là chém rồng, theo nghĩa bóng là thí-sát một vị vua chúa. Thành-ngữ “đồ long” không phải do Kim-Dung sáng-tác mà chỉ lấy lại trong sử sách cũ. Quả vậy, có những sử gia đã ca-tụng sự-nghiệp của Hán Cao-tổ với bốn chữ: “Đồ Long Trục Lộc”, tức là trừ bạo chúa và đuổi bọn hươu (chư-hầu) để lập ra Nhà Hán. Đã nói đến Bắc sử cũng nên nói đến Nam sử cho cân bằng. Chúng ta nhớ đến Liệt-sĩ Đặng Dung, mưu chuyện đánh đuổi quân Minh xâm-lược và khôi-phục cơ-nghiệp Nhà Trần chẳng may thất-bại bị giặc bắt. Trước khi chết, ông có làm bài thơ với lời-lẽ hào-hùng nghĩa-khi, trong đó có hai câu:

Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh-hùng ẩm hận đa.

Với hai chữ “đồ điếu”, tác giả chắc muốn nhắc đến tích Hàn Tín, chỉ là một anh luồn trôn ở chợ, và tích Khương Tử Nha, một ông lão ngồi câu bên dòng sông Vị (điếu ngư) mà cũng thành-công, lập được nghiệp lớn, trở thành khai-quốc công-thần của Nhà Hán và Nhà Chu. Chữ đồ trong ngữ-vựng Hán-Việt còn có một nghĩa nữa rất phổ-thông, nhằm chỉ tất-cả những ý định, âm-mưu, kế-hoạch có mạch-lạc, hệ-thống và hướng tới những mục-đích nhất-định. Chữ đồ trong nghĩa nầy rất được các vị chính-khách chuyên-nghiệp hay tài-tử, những chiến-lược gia nhà nghề hay sa-lông ... ưa dùng.

Còn nhớ trong thời-kỳ “cách-mạng” sau tháng 8 năm 1946, đi đâu cũng nghe thấy nói đến những ý đồ, mưu đồ, đồ án, cơ-đồ ... Có kẻ thức-giả nhận-xét chua-chát là càng nhiều đồ nhiều mẹo lại càng thêm tan-nát, điêu-tàn!

Chữ đồ cũng còn có một nghĩa rất phổ-biến nữa: nó chỉ sự biểu-thị một thực-thể, một ý-niệm, một hiện-tượng ... bằng những nét chấm phá và đường thẳng, đường cong. Ngay khi mới mài đũng quần trên ghế trường Tiểu-học, chúng ta đã phải làm quen và phải vẽ những bản-đồ, địa-đồ; khi lớn lên học các môn khoa-học lý-thuyết hoặc thực-hành, chúng ta phải vẽ vô số đồ-thị, đồ biểu, thiên-văn đồ, sơ-đồ, giản-đồ, lược-đồ. Trong nghĩa này, và vì lẽ ta bước vào kỷ-nguyên thính-thị, chữ đồ chắc ngày càng được dùng nhiều. Thậm chí một vị trí-thức tỵ-nạn bên Hoa-kỳ đã có một kỷ-niệm không hay vì ham dùng chữ đồ. Câu chuyện này có tính thời-sự nên xin phép nhắc qua dưới đây:

Số là trong khoảng thời-gian trước năm 1995, chính-quyền Cộng-sản Hà-nội nôn-nóng thiết-lập quan-hệ ngoại-giao bình-thường với Hoa-kỳ đặng giải-quyết một số vấn-đề chính-trị, kinh-tế và xã-hội khẩn-cấp. Hoa-Thịnh-Đốn, trái lại, đủng-đỉnh làm cao và muốn diên-trì vì e-ngại phản-ứng bất lợi của một phần dư-luận trong nước. Thay vì đặt ra những điều-kiện (conditions) cho việc bình-thường hóa quan-hệ ngoại-giao, Bộ Ngoại-giao Mỹ đã đặt ra một họa-đồ của con đường đi tới quan-hệ ngoại-giao bình-thường (thành-ngữ Mỹ là Road Map) trên đó có những chặng như: điều-tra số-phận của những binh-sĩ mất-tích, tìm đủ hài-cốt của những tử-sĩ Mỹ.

Vị trí-thức tỵ-nạn kể trên, vốn là người ưa dùng tiếng Hán-Việt, dịch ngay “road map” là “lộ đồ”. Lạ thay, khi vị ấy đi diễn-thuyết ở các tỉnh bên Mỹ trước cử-tọa, người trong phòng họp tủm-tỉm cười thay vì nghiêm-túc nghe diễn-giả trình bày vấn-đề. Mãi về sau, vị này mới vỡ lẽ ra rằng mấy khán thính-giả tinh-quái ấy, thay vì hiểu đúng đắn cụm từ “lộ đồ” theo ngữ-vựng và văn-phạm Hán-Việt lại có ý hiểu bậy hai chữ ấy theo nghĩa tiếng Việt thuần-túy, Từ đấy trở đi, ông ta đành bỏ thành-ngữ “lộ đồ” đã do chính mình khổ công sáng-tạo để dùng thẳng chữ Mỹ “road map”!

Bài mạn-đàm về chữ “đồ” đã khá dài nên xin tạm ngưng, mặc dầu chữ ấy còn nhiều nghĩa nữa chưa khai-thác, chẳng hạn như nghĩa “đi bộ”, hay nghĩa “tội hình”, v.v.. Ngoài ra, Việt ngữ đáng mến của chúng ta cũng còn nhiều chữ đa nghĩa rất ý-vị khác, như “làm”, “ăn”, “chơi”, “thương”, “quấy” v. v.. xin dành cho các bậc cao-minh hơn kẻ hèn này bình-luận. Theo đúng lề-lối người xưa, xin chấm dứt bài này bằng mấy vần thơ. Vậy có thơ rằng:

Thiếu gì từ đẹp, tiếng hay ho
Dân Việt sao ưa thích chữ đồ?
Phỉ-chí chơi sang trưng đồ lớn
Đói lòng ăn tạm kiếm đồ khô
Mặt ủ mày châu ra đồ khó
Lưng mềm, lưỡi dẽo hệt đồ nô
Đất nước khỏi tay phường đổ bác
Cùng nhau đồ lại tấm dư đồ.

(Đồ Gàn)

Tôi nảy ra ý bàn thêm: Ba năm qua, kể từ khi tôi gia-nhập Văn Bút Âu-châu, anh Từ Nguyên thường nhắn tôi gởi bài nhưng tôi không gởi. Bảo tôi đi họp, tôi cũng không đi. Anh Phù Vân, anh Vũ Nam viết thư cho tôi khuyên tôi viết bài cho Tập san Văn Bút, tôi cũng không viết. Thật rõ là đồ bướng, phải không quí vị?

Vâng, tôi xin nhận tôi cũng bướng thật. Tuy-nhiên, bướng thì có bướng nhưng tôi chưa hẵn là đồ bỏ vì hôm nay, nhân sinh-nhật của tôi, thêm cảm-hứng về bài “Phiếm- luận về chữ Đồ” của Ông đồ Gàn, tôi xin kể một vài chuyện vui cũng về chữ đồ như góp thêm vào bài của Ông Đồ Gàn, thay các “đồ ăn, đồ nhậu, đồ nhắm” vì xa xôi, tôi không thể bày ra để mời Quí vị trong ngày sinh-nhật.

Chữ đồ theo Ông Đồ Gàn không chỉ rất nhiều nghĩa, nghĩa bóng, nghĩa đen (Ông Đồ Gàn đã giải-thích rất kỹ) mà theo tôi, nó còn góp phần đánh dấu từng giai-đoạn lịch-sử và văn-hóa nước ta qua các bài thơ, phú, ca-dao, hát nói... Chẳng hạn qua bài Thầy Đồ:

Thầy Đồ là người tài bộ
Quảy cầm thư sang giáo thọ Phủ Vĩnh-tường
Trước nha môn thiết-lập học-đường
Dạy dăm đứa chi, hồ, giả, dã
Gặp nhân lúc thầy đồ nhàn-hạ
Ra hồ sen ngắm ả hái hoa
Ả hớ-hênh ả để đồ ra
Đồ nọ thấy ngâm-ngay tức khắc:
“Xuân tiền lạn mạn hoa sinh sắc
Thủy diện đa ba bạng thổ thần”(1)
Đồ ngâm rồi, đồ đứng tần-ngần
Đồ nọ tưởng đồ kia thêm thắc-mắc
Đêm năm canh đồ nằm khôn nhắp
Những mơ-màng đồ nọ tưởng đồ kia
Đồ ơi, gặp gỡ làm chi?

Chúng ta hình-dung được phần nào về chiếc váy rất thuận lợi với khí-hậu nóng bức vùng nhiệt-đới và sinh-hoạt đồng-áng, trồng lúa, tát nuớc nhưng vô cùng hấp-dẫn, khêu-gợi (nếu hớ-hênh), cách trang-phục của phụ-nữ Việt-nam thời xưa đơn-giản chỉ bằng mãnh vải quấn thân hoặc khâu kín thành ống mà trong dân-gian đã ví-von với niềm tự-hào, hãnh-diện về bản-sắc văn-hóa của dân-tộc:

Cái ống mà thủng hai đầu
Bên ta thì có bên Tàu thì không.

Rồi cũng từ tự đồ, chúng ta nhìn lại lịch-sử của dân-tộc, trải bao năm bị đô-hộ: hết Tàu, Tây, Cộng-sản, chữ đồ đã được dùng trong một cuộc đối-thoại để thấy tinh-thần đấu-tranh bất-khuất của dân ta thể-hiện dưới mọi hình-thức, ở mọi tầng-lớp chống bọn ỷ-thế phương Bắc, bọn cường-quyền xâm-lược một cách tài-tình thâm-thúy. Một Đoàn Thị Điểm giả cô hàng nước đón tiếp sứ Tàu, đã dùng tài năng văn-học đối đáp bén nhạy khi sứ Tàu đọc câu:

An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỹ nhân canh.
(An Nam một tấc đất, không biết bao nhiêu người cày) có ý xấc-xược, chòng ghẹo.

Bằng lời lẽ nghiêm-trang, tác-phong lịch-sự, bà đáp ngay rằng:

Bắc quốc đại trượng phu, giai do thử đồ xuất.
(Đại trượng-phu nước Tàu cũng từ chỗ đó mà ra)

đã khiến bọn ỷ thế khâm phục nước ta về mọi phương- diện.

Tuy nhiên trong cuộc sống, bên cạnh các bậc anh-tài hào-kiệt, vẫn không thiếu những bọn hèn nhát dù là bậc khoa-bảng, muối mặt làm tay-sai cho kẻ thù của dân-tộc để cụ Nguyễn Khuyến vào thời Pháp thuộc đã phải than lên trong bài “Ông Nghè Tháng Tám:”

Cũng cờ cũng biển cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè chớ kém ai?
Mãnh giấy làm nên khoa giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt anh tài
Tấm thân xiêm áo coi mà nhẹ
Cái giá khoa danh ấy mới hời
Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh-chọe
Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi.

Nhìn chung, những kinh-nghiệm đau thương đó mãi đến nay vẫn chưa thức-tỉnh được mọi người đã khiến Việt-Nam luôn luôn đắm chìm trong đau khổ, hết bị dày xéo bởi Tàu, Tây, Nhật, nay còn quằn-quại dưới ách thống-trị của Cộng-sản.

Một lần nữa, chúng ta không quên được những biến-cố xãy ra tại miền Bắc vào thập niên năm mươi đã phá-hũy mọi truyền-thống văn-hóa dân-tộc khi Cộng-sản du-nhập lối sinh-hoat nhảy múa “son đố mì” từ quan thầy Mao-Trạch Đông lôi kéo thanh thiếu-niên thoát-ly khỏi hệ-thống nề-nếp gia-đình đã khiến vô số chị em phụ-nữ là nạn-nhân của những vụ chửa hoang rồi tự-tử để lại trong dân-gian những câu nguyền-rũa chế-độ:

Đồ mi là đồ phá đồ!

nhại theo nốt nhạc của điệu nhảy múa trên.

Hoặc:

Người ta vì nước vì non,
Cô ta lại chết vì “sôn, đố, mì“.

Thêm vào đó, gần đây nhất, biến cố 30-4-1975, Cộng-sản thôn-tính miền Nam, đưa cả nước vào thảm-trạng nghèo đói. Người dân thắt lưng buộc bụng chỉ trông-ngóng vào những thùng quà từ nước ngoài do thân-nhân vượt biên gởi về. Trong giai-đoạn nghiệt-ngã của chính-trị và kinh-tế như vậy, những bài ca-dao phát-xuất từ văn-chương bình-dân là bằng-chứng hùng-hồn nhất để tố-cáo chế-độ, một sự phản-kháng âm-thầm nhưng mạnh-mẽ, đã in sâu, truyền-bá rộng-rãi trong tâm-khãm của mọi người. Mới nghe qua, tưởng là những bài tiếu-lâm thông thường, nhưng nếu đọc kỹ, xét kỹ, ta mới thấy được thảm-trạng cười ra nước mắt của thời-đại:

Hôm qua anh đến thành Hồ
Anh ra bưu-điện lãnh đồ em cho
Đồ em vừa đẹp vừa to
Vừa đã con mắt, vừa no cái mồm.

Trước tình-cảnh đó, cộng thêm bài học chua cay từ sự sụp-đổ chủ-nghĩa xã-hội của Đông Âu và Liên-xô, người CSVN buộc lòng phải thay-đổi chính-sách để cứu-vãn chế-độ. Gọng kèm được nới ra. Đô-la tư-bản đầu-tư ồ-ạt tuôn vào khiến tệ-nạn xã-hội vốn-dĩ đã trầm-trọng lại càng trầm-trọng hơn.

Ngành giáo-dục bị tuột dốc, thay vào đó, khách-sạn, nhà chứa, ăn chơi đàng-điếm, tham-nhũng trồi lên như nấm. Cái vẻ phồn-vinh giả-tạo của nền “kinh-tế thị-trường theo định-hướng xã-hội chủ-nghĩa” chỉ là cái vỏ ốc bóng loáng không còn ruột được trưng-bày trong tủ-kiếng hay như một khúc gỗ mục đang bị mối mọt đục khoét được sơn son thếp vàng.

Ca-dao lại có dịp cười lên ha hả:

Đi chơi cho biết Đồ Sơn (2)
Đi rồi mới biết không hơn đồ nhà
Đồ nhà tuy có hơi già
Nhưng là đồ thật hơn là Đồ Sơn!

Thưa Quí vị,

Bài viết về từ Đồ của tôi xin tạm ngưng ở đây. Bây giờ là lúc tôi ... nhận quà sinh-nhật từ Quí vị. Quí vị đã thưởng-thức xong “món ăn tinh-thần” của tôi thì cũng nên đáp lễ cho đúng thủ-tục chứ! Địa-chỉ gởi quà cho tôi, xin hỏi anh Từ Nguyên hay là tôi ghi sẵn đây Unterer ... để quí vị tiện bề sổ sách. Ô kìa, sao anh lại xụ mặt: “Kể chuyện vô duyên, trơ-trẽn thấy mồ mà cũng đòi quà! Thật là ... đồ láu cá!”

Trần thị Nhật Hưng

(1) Trước gió lăn tăn làm hoa thêm đẹp
Trên mặt nước cái trai thè lưỡi ra.

“Xuân tiền lạn mạn hoa sinh sắc
Thủy diện đa ba bạng thổ thần”(1)

(2) là một thắng-cảnh ở miền Bắc

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Phóng sự đặc biệt của Người Việt -
Tôi đi bán máu: 1 xị máu, 200 ngàn...

Wednesday, August 31, 2006

Văn Lang/Người Việt


“Bán máu,” hóa ra, là một cái nghề, nghề chuyên nghiệp hẳn hoi!

Buổi sáng, dậy thật sớm, tôi thay bộ đồ “thợ hồ” của những ngày xưa cũ, rồi thả bộ ra bến xe bus, bắt đầu hành trình “bán máu.”

Tôi chọn xe bus, trong suy nghĩ của tôi, một người bán máu chắc hẳn là một người “rất nghèo.” Tôi muốn “nhập vai” từ xa và trong túi tôi, một người nghèo đang đi bán máu, cũng chỉ có ít tiền lẻ đủ đi xe bus, gặm ổ bánh mì, uống ly nước những khi thật khát...

Một người phải bán máu của mình là một người không còn gì để bán!

Trên xe bus, khi hỏi thăm đường tới “Trung tâm huyết học,” mọi người nhìn tôi với ánh mắt tò mò, pha lẫn đôi chút ái ngại. Cô tiếp viên xe bus chỉ dẫn tôi cách tới “Trung tâm huyết học.” “Có hai cách để tới đó.” Cô chỉ dẫn cặn kẽ. “Hoặc chú xuống góc trường đua Phú Thọ đón tiếp một chuyến xe khác sẽ chạy ngang “trung tâm huyết học,” hoặc chú xuống góc đường Nguyễn Tri Phương rồi đi bộ qua.”

Tôi quyết định chọn cách thứ hai, đơn giản vì một người bán máu phải là người “kiệt quệ” về tài chánh. Người bán máu không thể có nhiều tiền để mà “xài sang!”

Tài xế xe bus dừng tại góc đường Nguyễn Tri Phương, tôi bước xuống xe, hối hả ra đi, trong khi cô tiếp viên với theo: “Gì thì gì, chú đừng có đi bán máu!”

Tôi cảm động vì “tiếng kêu” của cô tiếp viên xe bus, và tôi cũng đã bắt đầu cảm thấy lo lắng.

Có lẽ trong mắt mọi người, bán máu chắc là ghê gớm lắm! Tự nhiên, tôi cảm thấy bồn chồn, và tôi trở nên lo âu, một nỗi lo rất thật như chính tôi đang thực sự đi bán những giọt máu đang nuôi cơ thể mình.

“Trung tâm huyết học” nằm sát bên Bệnh Viện Lao Hồng Bàng (cũ), trước kia, thời còn sinh viên, tôi vẫn đi qua đây nhiều lần cùng người bạn gái, vốn là sinh viên y khoa.

Hỏi thăm cô bán bánh mì trước cửa trung tâm, cô cho biết “Trung tâm huyết học” đã tạm dời về đường Phạm Viết Chánh, con đường nổi tiếng với rất nhiều hàng quán bán thịt thú rừng, kế bên Bệnh Viện Phụ Sản Từ Dũ.

Ði bộ ngược ra hướng Ngã Bảy, tôi định sẽ tới trung tâm mới vào lúc xế trưa, hy vọng những người bán máu “lỡ thời” sẽ tập trung vào các quán cà phê “cóc” trước cửa bệnh viện “tán dóc.” Như vậy tôi có thể nghe được những tâm sự rất thực của họ. Có lẽ “bé cái lầm.” Bước chân vào trung tâm, mới “đảo” qua, “đảo” lại các phòng khám, tôi vẫn không thấy chỗ bán máu. Gặp một nhóm đang ngồi trong sân của trung tâm tôi “sà” vào bắt chuyện làm quen. Té ra, nơi đây chỉ chuyên khám và điều trị các bệnh về máu, còn việc “mua máu” thì lại nằm ở một cơ sở khác của trung tâm, số 152-154 đường Hồng Bàng, qua khỏi Bệnh Viện Hùng Vương một chút.

Sáng hôm sau, cũng với “bộ vó” cũ và “chiêu thức” đi xe bus rồi cuốc bộ tôi tới số 152-154 đường Hồng Bàng bắt đầu cuộc “xâm nhập” và tìm hiểu về “thế giới” của những người bán máu.

Trước cửa trung tâm huyết học (thuê tạm), tôi thấy vài bà sồn sồn, bự mập, phấn son lòe loẹt, chắc là đám cò mồi. Tôi đi thẳng vô cổng, hỏi tay bảo vệ ngồi lù lù ngay cánh cổng hẹp. Hắn bảo tôi mai quay lại trước bảy giờ sáng, đem theo chứng minh nhân dân và hai tấm hình để làm thẻ “hiến máu.” Tôi làm bộ “xớ rớ” để hỏi thêm điều này, điều kia thì hắn lắc đầu quầy quậy, bảo tôi đi về vì đã hết giờ “thử máu.”

Tôi nhìn đồng hồ, mới 8 giờ 30 sáng. Tôi đảo mắt nhìn quanh căn phòng hẹp, hoàn toàn vắng bóng người. Trên tủ lạnh, tôi thấy treo la liệt những tấm thẻ hiến máu. Lòng đầy thất vọng, tôi bước ra cổng, lại gặp ngay mụ sồn sồn trong đám “cò” trước cửa trung tâm. Mụ “vồ” ngay: “Ði bán máu hay đi hiến máu nhân đạo?” Tôi vờ ngơ ngác để tiện khai thác thêm: “Tôi định bán máu nhưng không có chứng minh nhân dân.” Bà cò giãy nảy: “Vậy thì anh chỉ có thể hiến máu thôi!” “Máu giá bao nhiêu?” Bà cò cho biết hiến máu cũng được trả tiền nhưng giá thấp hơn bán máu nhiều lắm. Ðang “khai thác” bà cò, một chiếc xe “hồng thập tự” xịch tới ngay trước cửa trung tâm. Bà cò hối: “Xe hiến máu nhân đạo tới rồi, đi hiến máu đi!” Tôi “lảng” ra ngay, công việc của tôi là đi tìm hiểu những người bán máu chứ không phải tôi đi bán máu.

Khi chiếc xe hồng thập tự rời trung tâm, một chàng thanh niên to cao, đẹp trai bước vô cửa “móc” thẻ sinh viên hỏi tay bảo vệ: “Không có chứng minh nhân dân nhưng có thẻ sinh viên có bán máu được không?” Tay bảo vệ lắc đầu: “Có chứng minh thì bảy giờ sáng mai quay lại, còn không có thì thôi, vì trung tâm quy định chỉ làm thẻ “hiến máu” tức “bán máu” cho những người có chứng minh nhân dân, không dùng bất cứ giấy tờ gì thay thế.”

Chàng trai thất thểu đi ra. Tay bảo vệ lạnh lùng với theo: “Chừng nào bán thì biết!” Chàng trai lại hỏi: “Máu ‘O’ thì có bán được giá cao hơn không?” Tay bảo vệ: “Máu nào cũng vậy, đồng giá!”

Chàng trai có vẻ thất vọng, đứng xớ rớ tiến thoái lưỡng nan. Tôi quay qua bà cò: “Máu bán sao bà?” Bà cò: “1 xị 200 ngàn đồng.” Chàng thanh niên nghe vậy thì “trề môi” rồi quay quả bỏ đi. Tôi “phóng” theo, vỗ vai: “Ði uống cà phê!” Người thanh niên nhìn tôi cảnh giác: “Không có tiền à nghen!” Tôi cười: “Khỏi lo, tớ có.”

Hai thằng vô một quán cà phê vỉa hè kêu hai ly cà phê đá. Tôi “khoe” với chàng kia tôi cũng là dân bán máu “O,” và than “kẹt” tiền quá nên đành phải đi bán máu. Chàng trai vui vẻ châm thuốc, “khai” là sinh viên của một trường đại học ở tận Thủ Ðức, kẹt tiền trả nợ, tính bán máu kiếm chừng một triệu trả nợ rồi kiếm việc làm thêm, nhưng nghe giá máu “bèo” quá đành bỏ ý định. Hỏi thăm thì được biết chàng ta tuy còn đi học nhưng đã từng làm bảo vệ vũ trường, thậm chí có thời được một bà “sồn sồn” nuôi, nhưng muốn tự lập nên bỏ hết. Người thanh niên đã từng là tay chơi thể thao có hạng, là một võ sĩ nhị đẳng huyền đai Thái Cực Ðạo, có học thêm quyền cước bên phái Thiếu Lâm. Hèn chi tướng tá nhìn “rất đã.” Tôi hỏi: “Nếu không bán được máu trả nợ thì làm gì?” Chàng thanh niên trả lời tỉnh bơ: “Ði áp tải hàng. Hàng lậu!”

Chia tay người thanh niên, khi trả tiền, anh vỗ vai tôi: “Gì thì gì, đừng bán máu, máu của mình quý lắm.”

Quay lại trung tâm huyết học, gặp bà cò, tôi tính hỏi thêm chuyện, bà cự nự: “Bán máu thì vô trong kia, làm gì mà theo hỏi hoài vậy, là công an hay nhà báo thì nói mẹ nó đi!” Tôi cố cười cầu tài: “Tôi đang gặp khó khăn, cần giúp đỡ.” Bà cò cự nự: “Ði chỗ khác đi, tôi ghét đàn ông lắm, không thích đàn ông ngồi gần...” Ngán ngẩm, tôi đành tan hàng. Xung quanh tôi, mấy tay “đen đúa” nhìn lom lom, trông rất đáng sợ. Tôi đành bỏ đi qua bên kia đường, trưa bắt đầu nắng gắt, tôi nhảy lên chuyến xe bus xuôi về Sài Gòn...

Hôm sau, tôi quay lại trung tâm huyết học lúc khá trễ. Tôi cố tình đi trễ để khỏi phải bị “test” máu. Thấy trung tâm đông người, lòng tôi mừng thầm, hôm nay thế nào cũng gặp nhiều người để phỏng vấn. Tôi đứng phía ngoài, vừa quan sát vừa “nghe ngóng” xem có “gương mặt” nhiều chuyện nào có thể làm quen. Ðang quan sát, một tay to mập từ trong đi ra, tay hắn xoa xoa miếng bông gòn “chậm” máu trên bắp tay. Y hất hàm hỏi tôi: “Dân mới hả?” Tôi vội vàng gật đầu. Y nói: “Trễ quá rồi, thử vô hỏi bảo vệ coi còn làm không?” Mừng rơn, tôi vội đi theo tay mập này vô trong. Tay bảo vệ nói gọn lỏn: “Hết giờ thử máu, mai tới.” Tôi “sẵn trớn,” ngồi lì với tay mập để hỏi chuyện. Tay này người Hoa, tính vui vẻ, xởi lởi, thích giúp dân mới “vô nghề.” Y kể cho tôi nghe nhiều thứ. Những người bán máu xung quanh lúc đầu thờ ơ, sau tỏ vẻ “khó chịu” vì tay người Hoa này cứ oang oang vô tư kể hết chuyện này tới chuyện kia của”giới” bán máu. Sau cũng có vài người thấy vui tới góp thêm chuyện. Tôi “trúng mánh” căng hết hai lỗ tai ra nghe, ghi nhớ cho bài phóng sự của mình.

Tay bảo vệ trung tâm thấy tôi ngồi lâu, hỏi chuyện tùm lum, nên nhắc tôi đi về mai tới. Tôi vội nhét cho hắn điếu thuốc thơm đã chuẩn bị sẵn, cười “cầu tài” xin được ngồi lại với các “huynh đệ” để học hỏi đôi điều từ người đi trước. Mấy tay bán máu “cựu trào” được dịp “xúm” lại khuyên tôi đủ thứ và khích lệ tinh thần của dân mới “ra ràng” như tôi: “Bán máu coi vậy chứ cũng chẳng có gì là ghê gớm lắm đâu!”

Tay mập người Hoa hỏi tôi có mang theo hình để làm thẻ không.Tôi than chưa kịp chụp hình. Hắn nói: “Vậy ông nên qua bên Chợ Rẫy, bên đó buổi chiều cũng làm mà không cần phải có hình.” Tôi cám ơn y. Ðược biết thêm, tay này đã có sáu năm kinh nghiệm bán máu, nên rất rành về đường đi nước bước trong “nghề.”

Qua bên Chợ Rẫy, đầu tiên, tôi tiếp xúc nhân viên trung tâm “hiến máu” Chợ Rẫy. Cô thư ký yêu cầu đưa chứng minh nhân dân, rồi họ dùng kính lúp “soi” dấu vân tay của tôi với giấy chứng minh. Chắc sợ giả! Một lúc sau, họ lại dùng kính lúp soi kỹ bắp tay tôi, có lẽ để kiểm tra xem có chích choác gì không. Và cũng có thể, họ tìm hiểu xem tôi có từng bán máu ở trung tâm khác không.

Kết quả không có gì khả nghi, bên bệnh viện ghi phiếu hẹn hai ngày sau quay lại trung tâm để “test” máu, trước khi được bán. Tôi rời Chợ Rẫy, trời chiều mưa bay lất phất buồn, nhưng trong cái bệnh viện lớn hàng nhất nhì Việt Nam, bệnh nhân, thân nhân vẫn tấp nập ra vào.

Ngày mai, tôi sẽ có kết quả kiểm tra. Tôi có thể được lãnh thẻ “bán máu” chuyên nghiệp, cứ một hoặc hai tháng sẽ được “rút” máu một lần, tùy theo sức khỏe.


(Còn tiếp)
Last edited by khieulong on Sat Sep 02, 2006 2:59 am, edited 1 time in total.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tôi đi bán máu - kỳ 2: Giấu vợ đi ... bán máu
Friday, September 01, 2006

Văn Lang/Người Việt


Hôm tới trung tâm huyết học tôi may mắn được gặp anh H.M., người gốc Hoa, trạc ngoài 40, tính tình tốt bụng, vui vẻ. Anh tận tình hướng dẫn tôi nhiều điều và, qua anh H.M., tôi hiểu được phần nào “tâm trạng” cũng như sức khỏe của những người bán máu chuyên nghiệp.

H.M. đã có “thâm niên” trong nghề bán máu. Anh theo nghề này đã được sáu năm. Trước kia anh thường bán máu bên Chợ Rẫy, mỗi tháng một lần. Về sau, anh chuyển qua bên Trung Tâm Huyết Học, hai tháng bán máu một lần, chủ yếu “chạy” hồng cầu; một lần được khoảng 400 ngàn đồng.

H.M. biết tôi là dân “mới” nên tận tình chỉ bảo các “chiêu” của một dân bán máu chuyên nghiệp. Chẳng hạn, khi đi bán máu về phải uống ngay một ly trà đường để tránh lưu lại vết kim thâm trên cánh tay. Bằng cách này, dân bán máu có thể dấu được lai lịch bán máu. Ðôi khi, dân bán máu dấu vết kim bằng cách dùng nước nóng trong chai chườm lăn trên chỗ vết kim lấy máu để bớt đau nhức. Ống kim lấy máu rất to, lần lấy từ 1 tới 2 xị, tức khoảng nữa lít máu.

H.M. là dân thợ hồ. Anh luôn mở đầu câu chuyện bằng câu nói “tùy vào sức khỏe!” Chẳng hạn tôi hỏi anh: “Tại sao có người tháng lấy máu một lần, có người lại tới hai tháng?” Anh nói: “Tùy vào sức khỏe mỗi người!” Tôi hỏi tiếp: “Tại sao có người lấy máu bình thường, khoảng 1 xị, có người lại “chạy” hồng cầu được 400 ngàn một lần?” Anh cũng nói: “Tùy vào sức khỏe!”

Anh kể, có bữa sáng đi bán máu, chiều có người kêu đi làm anh vẫn đi bình thường. Thực ra công việc trong giới phu hồ nặng nhất là công việc của người phụ hồ, phải làm nhiều thứ nặng nhọc như sàng cát, trộn hồ, bê hồ, chuyển gạch cho thợ chính. H.M. là thợ chính nên chỉ lo khâu kỹ thuật chứ không phải làm việc nặng nhọc. Giới thợ xây chỉ ngại cái phải leo cao, đôi khi nhìn xuống đất thấy chóng mặt.

H.M. cho biết, thường mùa mưa đi bán máu về là anh ngủ, vì mùa mưa công việc của giới thợ hồ lúc có lúc không. Tôi hỏi thăm vợ con, H.M. cho biết anh có người vợ làm công nhân trong khu chế xuất Tân Tạo, tháng được triệu rưỡi, con thì hai đứa, đứa lớn đang học lớp Tám, đứa nhỏ học lớp Một. Nhắc tới vợ, anh cười chỉ cho cách dấu bà xã việc đi bán máu. Anh nói: “Ðừng bao giờ để phiếu hẹn lấy máu trong ví vì bất kỳ bà xã nào cũng có thói quen lục bóp chồng.” Anh tự hào là đã đi bán máu thường xuyên trong hơn sáu năm trời mà vợ không hề hay biết. Tôi hỏi đùa: “Nếu vợ anh biết thì sao?” Anh trợn mắt: “Bả mà biết bả la chết, không có người vợ nào muốn cho chồng mình đi bán máu đâu!”

Tôi hỏi H.M. về tình hình sức khỏe từ trước khi bán máu cho tới bây giờ. Anh nói: “Bình thường.” Và anh cho tôi biết trước khi bán máu anh nặng chỉ khoảng 50 ký, nhưng sau sáu năm vào nghề anh đã tăng trọng sơ sơ gần 70 ký. Anh nói: “Bán máu rồi bệnh viện cho loại thuốc bổ gì đó ăn rất khỏe nên anh tăng cân. Nhìn H.M. rõ ràng là mập, nhưng da anh không được “nhuận sắc” và tóc anh bạc nhiều so với lứa tuổi mới ngoài 40 của anh.

Ngồi gần H.M. hôm đó là một thanh niên tên L. L. hành nghề Honda ôm. Anh mới “vô nghề” bán máu được một năm. Da anh sạm đen, gương mặt anh đặc biệt rất lanh. Anh “doi doi” người chứ không mập ù như H.M.. Lúc thấy tôi thắc mắc với H.M. về việc mới đi bán máu lần đầu đã “bị” lấy tới 250 ml. L. nghe xong cười ngất, góp chuyện: “Ai lần đầu cũng vậy thôi, sau riết rồi quen sẽ thấy bình thường!”

Trong khi chúng tôi trò chuyện, một thanh niên mặc áo có gắn phù hiệu của một trường đại học từ trong phòng lấy máu bước ra, mặt mày xanh lét. Hai anh khều tôi: “Ngu dễ sợ! Máu mình bán thì bán không bán thì thôi, “bày đặt” đi hiến!”

Thì ra chàng sinh viên kia tình nguyện đi hiến máu nhân đạo. Còn hai chàng bán máu chuyên nghiệp thì cho những kẻ đi hiến máu tình nguyện là “ngu dễ sợ!”

Thực ra, theo quy định của các trung tâm hiến máu, hiến máu chia làm hai loại. Loại bán máu gọi là “mua đứt, bán đoạn,” tức là mua bán trả tiền sòng phẳng, khi những người này vô bệnh viện có nhu cầu về máu thì họ phải mua lại máu của bệnh viện với giá “cắt cổ.” Còn những người “hiến máu nhân đạo” thì ngoài ít tiền “bồi dưỡng” họ được cấp một thẻ tình nguyện hiến máu, trong trường hợp vô bệnh viện có nhu cầu về máu sẽ được ưu tiên xét trước, và lượng máu họ được cung cấp sẽ tương ứng với lượng máu họ đã hiến,và dĩ nhiên họ không phải trả tiền cho số máu này.

Theo hướng dẫn của H.M., tôi qua bên trung tâm hiến máu của bệnh viện Chợ Rẫy. Ðây là bệnh viện lớn có khuôn viên rất rộng, nơi hiến máu nằm ở một nơi khá khuất trong bệnh viện, khá yên tĩnh trong một hành lang dài và hẹp. Tới đầu của khúc quẹo vào nơi bán máu có một tấm bảng chỉ dẫn khá to, với mũi tên chỉ đường vào “Nơi khám sức khỏe cho những người đi xuất cảnh.” Còn nơi bán máu thì không có biển chỉ dẫn và tôi phải hỏi thăm người ta.

Trong dãy hành lang rất hẹp, tôi vào một phòng nhỏ, nơi mua máu. Căn phòng khá yên tĩnh, vắng người, tôi lặng lẽ quan sát. Nhận ra đây là một điểm chụp hình khá lý tưởng vì không thấy bóng nhân viên y tế nào. Tiếc là tôi không đem theo máy chụp hình, vì một người đi bán máu lại xách theo máy chụp hình thì khả nghi quá! Tôi định sau khi tìm hiểu xong về những người bán máu thì tôi sẽ chụp hình, chắc chắn là chụp lén, rồi rút êm. Hôm đó, tôi đành nuốt nước miếng khan vì tiếc cho những tấm hình có thể rất đã. Ðành quay qua quan sát bảng nội quy dành cho những người đi bán máu, nào là trên 18 tuổi, nặng trên 50 ký, phụ nữ thì không mang thai, không mắc các bệnh như giang mai, sốt rét, lao và sau đó là một dãy dấu chấm. Không thấy đề cập những người bị nhiễm HIV, có lẽ sợ mang tiếng “phân biệt đối xử.”

Sau khi quan sát căn phòng, tôi quay qua với hai người có mặt trong phòng. Vì đã quen với những người bên trung tâm huyết học nên tôi không thấy ngạc nhiên nữa, vì họ cũng bình thường, thậm chí sự ăn bận “giả dạng” của tôi là thừa. Nhiều người trong số họ ăn bận khá model, mang giày, quần Jeans, áo pull đàng hoàng. Một người đàn ông trung niên, chắc là ông bố đáng thương của một đàn con và một chị phụ nữ có trang điểm chút son phấn, ngoài 30, nhìn khá hấp dẫn.


(Còn tiếp)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Image

Thân chúc các bạn Ngày Father'day thật Vui Vẻ bên gia đình 3/9

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Anh có giúp tôi?


Vào năm 1989 tại Armenia có một trận động đất lớn 8,2 độ Richter đã san bằng toàn bộ đất nước và giết hại hơn ba mươi ngàn người trong vòng chưa đầy bốn phút.

Giữa khung cảnh hỗn loạn đó, một người cha chạy vội đến trường học mà con ông đang theo học. Tòa nhà trước kia là trường học nay chỉ còn là đống gạch vụn đổ nát.

Sau cơn sốc, ông nhớ lại lời hứa với con mình rằng "Cho dù chuyện gì xảy ra đi nữa, cha sẽ luôn ở bên con!" Và nước mắt ông lại trào ra. Bây giờ mà nhìn vào đống đổ nát mà trước kia là trường học thì không còn hy vọng. Nhưng trong đầu ông luôn nhớ lại lời hứa của mình với cậu con trai.
Sau đó, ông cố nhớ lại cửa hành lang mà ông vẫn đưa đứa con đi học qua mỗi ngày. Ông nhớ lại rằng phòng học của con trai mình ở phía đằng sau bên tay phải của trường. Ông vội chạy đến đó và bắt đầu đào bới giữa đống gạch vỡ.

Những người cha, người mẹ khác cũng chạy đến đó và từ khắp nơi vang lên những tiếng kêu than "Ôi, con trai tôi!", "Ôi, con gái tôi!". Một số người khác với lòng tốt cố kéo ông ra khỏi đống đổ nát và nói đi nói lại:

"Đã muộn quá rồi!"
"Bọn nhỏ đã chết rồi!"
"Ông không còn giúp được gì cho chúng nữa đâu!"
"Ông hãy về đi!"
"Ông đi đi, không còn làm được gì nữa đâu!"
"Ông chỉ làm cho mọi việc khó khăn thêm thôi!"

Với mỗi người, ông chỉ đặt một câu hỏi "Anh có giúp tôi không?".

Và sau đó với từng miếng gạch, ông lại tiếp tục đào bới tìm đứa con mình. Đến đó có cả chỉ huy cứu hỏa và ông này cũng cố sức khuyên ông ra khỏi đống đổ nát "Xung quanh đây đều đang cháy và các tòa nhà đang sụp đổ. Ông đang ở trong vòng nguy hiểm. Chúng tôi sẽ lo cho mọi việc. Ông hãy về nhà!". Người đàn ông chỉ hỏi lại "Ông có giúp tôi không?"


Sau đó là những người cảnh sát và họ cũng cố thuyết phục ông ta "Ông đang xúc động. Đã xong hết rồi. Ông đang gây nguy hiểm cho cả những người còn lại. Ông về đi. Chúng tôi sẽ lo cho mọi việc!". Và với cả họ ông cũng chỉ hỏi "Các anh có giúp tôi không?". Nhưng không ai giúp ông cả. Ông tiếp tục chịu đựng một mình, vì ông phải tự mình tìm ra câu trả lời cho điều day dứt ông: Con trai tôi còn sống hay đã chết?


Ông đào tiếp... 12 giờ... 24 giờ..., sau đó ông lật ngửa một mảng tường lớn và chợt nghe tiếng con trai ông. Ông kêu lớn tên con "Armand!". Ông nghe "Cha ơi?! Con đây, cha! Con nói với các bạn đừng sợ vì nếu cha còn sống cha sẽ cứu con và khi cha cứu con thì các bạn cũng sẽ được cứu. Cha đã hứa với con là dù trường hợp nào cha cũng ở bên con, cha còn nhớ không? Và cha đã làm được, cha ơi!!"

- Có chuyện gì xảy ra vậy? Ở đó ra sao rồi? - Người cha hỏi.
- Tụi con còn lại 14 trên tổng số 33, cha ạ. Tụi con sợ lắm. Đói, khát… Nhưng bây giờ tụi con đã có cha ở đây. Khi tòa nhà đổ, ở đây tạo ra một khoảng không nhỏ và thế là tụi con còn sống.
- Ra đây đi con!
- Khoan đã cha! Để các bạn ra trước, con biết rằng cha không bỏ con. Có chuyện gì xảy ra, con biết là cha chắc chắn sẽ không bỏ rơi con!

---------------------------------------------------------------


Image



(Paroles : Charles Aznavour / Musique : Georges Garvarentz)
Charles Aznavour (France) - 1986
Nana Mouskouri, Mireille Mathieu, Charles Aznavour, Michel Sardou, Gilbert Becaud, Ives Duteil, etc. - Pour Toi Armenie

Pour Toi Armenie


{Refrain:}
Tes printemps fleuriront encore
Tes beaux jours renaîtront encore
Après l'hiver
Après l'enfer
Poussera l'arbre de vie
Pour toi Arménie
Tes saisons chanteront encore
Tes enfant bâtiront plus fort
Après l'horreur
Après la peur
Dieu soignera ton sol meurtri
Pour toi Arménie

Le monde s'est levé
Le monde est avec toi
Pour toi peuple oublié
Il a ouvert son cœur
Il a tendu ses bras
{au Refrain}

Et même si tu maudis ton sort
Dans tes yeux je veux voir
Arménie
Une lueur d'espoir

Une flamme, une envie
De prendre ton destin
Entre tes mains
A bras le corps
{au Refrain}

Arménie
Hayastann



Nana Mouskouri, Mireille Mathieu, Charles Aznavour, Michel Sardou, Gilbert Becaud, Ives Duteil, etc. - Pour Toi Armenie

Pour Toi Armenie

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

- Cô Gái Ở Cửa Hàng Bán Đĩa CD Có một chàng trai bị bệnh ung thư. Chàng trai 19 tuổi, nhưng có thể chết bất kỳ lúc nào vì căn bệnh quái ác này. Suốt ngày, chàng trai phải nằm trong nhà, được sự chăm sóc cẩn thận đến nghiêm ngặt của bố mẹ. Do đó, chàng trai luôn mong ước được ra ngoài chơi, dù chỉ một lúc cũng được.

Sau rất nhiều lần năn nỉ, bố mẹ cậu cũng đồng ý. Chàng trai đi dọc con phố - con phố nhà mình mà vô cùng mới mẻ - từ cửa hàng này sang cửa hàng khác. Khi đi qua một cửa hàng bán CD nhạc, chàng trai nhìn qua cửa kính và thấy một cô gái. Cô gái rất xinh đẹp với một nụ cười hiền lành - và chàng trai viết đó là "tình yêu từ ánh mắt đầu tiên". Chàng trai vào cửa hàng và lại gần cái bàn. nơi cô gái đang ngồi.

Cô gái ngẩng lên hỏi:
- Tôi có thể giúp gì được anh? - Cô gái mỉm cười và đó quả là nụ cười đẹp nhất mà chàng trai từng thấy.
- Ơ.. - Chàng trai lúng túng - Tôi muốn mua một CD...
Chàng trai chỉ bừa một cái CD trên giá rồi trả tiền.
- Anh có cần tôi gói lại không - Cô gái hỏi, và lại mỉm cười.
Khi chàng trai gật đầu, cô gái đem chiếc CD vào trong.
Khi cô gái quay lại với chiếc CD đã được gói cẩn thận, chàng trai tần ngần cầm lấy và đi về.
Từ hôm đó, ngày nào chàng trai cũng tới cửa hàng, mua một chiếc CD và cô gái bán hàng lại gói cho anh. Những chiếc CD đó, chàng trai đều đem về nhà và cất ngay vào tủ. anh rất ngại, không dám hỏi tên hay làm quen với cô gái. Nhưng cuối cùng, mẹ anh cũng phái hiện ra việc này và khuyên anh cứ nên làm quen với cô gái xinh đẹp kia.

Ngày hôm sau, lấy hết can đảm, chàng trai lại đến cửa hàng bán CD. Rồi khi cô gái đem chiếc CD vào trong để gói, anh đã để một mảnh giấy ghi tên và số điện thoại của mình lên bàn. Rồi anh cầm chiếc CD đã được gói như tất cả mọi ngày - đem về.
Vài ngày sau...
‘Reeeeng!..."
Mẹ của chàng trai nhấc điện thoại:
- Alô?
Đầu dây bên kia là cô gái ở cửa hàng bán CD. Cô xin gặp chàng trai nhưng bà mẹ oà lên khóc
- Cháu không biết sao? Nó đã mất rồi...hôm qua.
Im lặng một lúc. Cô gái xin lỗi, chia buồn rồi đặt máy.

Chiều hôm ấy, bà mẹ vào phòng cậu con trai. Bà muốn sắp xếp lại quần áo của cậu nên đã mở cửa tủ. Bà sững người khi nhìn thây hàng chồng, hàng chồng CD được gói bọc cẩn thận chưa hề được mở ra.
Bà mẹ rất ngạc nhiên nên cầm lên một chiếc mở thử ra.
Bên trong hộp giấy bọc là một chiếc CD cùng với một mảnh giấy ghi " Chào anh, anh dễ thương lắm- Jacelyn."
Bà mẹ mở thêm một chiếc CD nữa.Lại thêm một mảnh giấy ghi:" Chào anh, anh khỏe không? Mình làm bạn nhé? - Jacelyn."
Một chiếc CD nữa, một chiếc nữa... Trong mỗi chiếc là một mảnh giấy...

Trong mỗi cử chỉ đều có thể tiềm ẩn một món quà. Giá như chúng ta đừng ngần ngại mở những món quà mà cuộc sống đem lại.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tôi đi bán máu...KỲ 3
“kiếm ít tiền cho đứa con gái út học thêm” (Tiếp theo và hết)

Friday, September 01, 2006
Văn Lang/Người Việt


Trong vai của một người mới đi bán máu lần đầu tôi lại đưa ra những câu hỏi nhút nhát. Người đàn ông có vẻ trầm tĩnh chỉ cười cười không nói gì. Trong khi chị phụ nữ kia thì lanh ơi là lanh! Chị bảo tôi không có gì ghê gớm đâu, chị đi bán máu hoài ấy mà! Thậm chí chị còn khẳng định bán riết “ghiền” luôn, tới kỳ hẹn đi lấy máu mà không đi thì thấy trong người “bứt rứt” khó chịu. Tôi hỏi: “Vậy thì mình phải theo vụ bán máu hoài luôn sao?” Chị ta lại “lanh chanh” cãi: “Làm gì có, không bán thì cơ thể tự điều tiết chứ bộ!” Người đàn ông ít nói, lúc đó mới quay qua nói nhỏ: “Có vết hết đó, mấy lần tới ngày hẹn lấy máu, còn tiền xài tôi cho qua luôn không đi, thì y như là có chuyện rắc rối. Cần xài tiền tôi lại phải đi!”

Chị phụ nữ ánh mắt long lanh toan cãi thì ở trong phòng nhân viên y tế bước ra kêu người đàn ông vô phòng lấy máu. Còn lại tôi và chị phụ nữ kia, tôi tranh thủ hỏi thăm, chị mau miệng cho tôi biết chị là người nội trợ, chồng là tài xế xe tải đường dài. Lâu lâu chị phải đi bán máu vì lý do tiền chợ bị thâm thủng do ham mấy “chến” tứ sắc, dĩ nhiên chuyện này chồng chị không biết. Tôi thầm thở dài, người phụ nữ này đúng là lanh lẹ nhưng ham vui và suy nghĩ có vẻ hời hợt. Khi người phụ nữ vô phòng lấy máu thì người đàn ông ban nãy ở trong phòng bước ra. Gương mặt của ông ta có vẻ mệt mỏi, vừa chậm bông gòn trên cánh tay, ông vừa lôi ra cọc tiền kêu tôi coi giùm xem được bao nhiêu. Tôi đếm được 400 ngàn đồng. Ông thận trọng nhét lại vào túi ngực, khẽ thở dài: “Tiền học thêm cho đứa con gái út của tôi đó!” Tôi khẽ nói đùa: “Ráng lo cho con, mai mốt thành người, nó lo lại cho anh!” Ông nói vẻ mệt mỏi: “Phận làm cha phải ráng chứ đâu có trông mong gì!” Ðể ông ngồi nghỉ mệt một chút tôi khẽ hỏi thăm công việc của ông ta. Ông cho biết chạy xe ôm bên quận 11, bán máu được năm năm, nhưng năm ngoái nghỉ vì không có chứng minh nhân dân, mới làm giấy tờ và vừa đi bán máu trở lại.

Trời bên ngoài cũng vừa ngớt mưa, người đàn ông chào tôi rồi ra về. Nhìn ông ta lủi thủi đi theo dãy hành lang nhỏ không biết sao tôi lại nhớ tới cuốn nhật ký của một cô y tá Pháp đã được dịch và in trên tạp chí “Thuốc và Sức Khỏe” của Việt Nam. Cuốn sách nhan đề “Hành lang xám,” những con người nhỏ bé làm lên cuộc đời lớn mà không một lời than van.

Ðang suy nghĩ thì nhân viên y tế gọi tôi lấy máu. Tôi nói tôi tới ghi danh. Cô ta yêu cầu tôi đi vòng ra ngoài cửa sổ để “khai báo.” Sau khi khai xong và lấy phiếu hẹn, tôi trở lại phòng đợi với ý định sẽ tiếp tục phỏng vấn những người bán máu. Nhưng cô nhân viên y tế đã bước ra và yêu cầu tôi ra về vì trời đã hết mưa. Tôi cố tìm cách ở lại với lý do chờ bạn nhưng cô ta cương quyết “mời” tôi ra. Tôi đành bỏ đi. Ra ngoài tôi rảo quanh khu điều trị hy vọng sẽ nghe thêm được gì từ phía bệnh nhân. Thấy một lõm nhỏ trong dãy nhà điều trị, có những người đàn ông đang ngồi bó gối, tôi sà vô. Không ngoài dự đoán, những người này là thân nhân đi nuôi bệnh. Và câu chuyện của họ làm tôi chóng mặt. Một người đàn ông mặt buồn thở dài: “Ai nằm đây cũng về hết rồi, riêng vợ tôi nằm mấy lúc nay bác sĩ chưa cho về!” Tôi hỏi thăm, ông ta nói tiền điều trị đã hết hơn 400 triệu, bây giờ nghe nói có loại thuốc mới chích một lần hết 25 triệu đồng. Ông ta cũng mua cho vợ chích luôn mà cũng chẳng đỡ. Ông ta nói lúc trước hồi mới nhập viện thì tuần vợ ông phải vô máu ba lần, nhưng ba tháng nay thì bác sĩ không cho vô máu nữa. Những người đi nuôi bệnh xung quanh ông ta mặt ai cũng buồn, tiền bạc dưới quê đem lên nuôi bệnh là một “vấn nạn” lớn, còn thời gian chăm sóc ăn ngủ vật vờ của họ trong sân bệnh viện thật đáng thương. Nhưng hy vọng có ngày được nhìn thấy người thân của họ được ra viện trong nụ cười tươi tắn khỏe mạnh coi bộ quá xa xăm. Những căn bệnh về máu thường hiểm nghèo! Tôi ra về mà không hiểu sao cứ thấy ngơ ngẩn trong sự so sánh giữa hai con số bán máu được 400 ngàn đồng, với việc điều trị không có kết quả mà đã tốn hết 400 triệu đồng và sẽ còn tốn nữa. Nhưng hai người đàn ông tôi thấy gương mặt đều buồn như nhau. Nhưng một người cha bán máu lấy tiền cho con ăn học con có chút hy vọng ở ngày mai, còn người đàn ông nuôi vợ hơn một năm kia tôi đã đọc được trong ánh mắt ông ta nỗi tuyệt vọng và sự bình tĩnh còn sót lại trong ông đó là trách nhiệm của người đàn ông trước ngưỡng cửa tử biệt sinh ly với người vợ.

Sau khi đã rành đường đi nước bước ở Chợ Rẫy, tôi rủ một người em theo để làm “chim mồi” cho tôi chụp hình. Tôi dự tính trong khi chụp hình bị làm khó dễ thì tôi sẽ nói tôi chụp hình cho thằng em bị gia đình ruồng bỏ phải đi bán máu mong gia đình nó hồi tâm. Và tôi hứa sau khi chụp hình chỉ chút xíu là xong, tôi sẽ dắt thằng em đi nhậu. Rủi cho tôi là thằng này rất ham nhậu. Tôi tính cỡ khoảng ba giờ chiều chụp hình thì vừa vì lúc này nhân viên y tế rất bận không quan tâm tới ai. Thằng em ham nhậu cứ hối tôi làm đại đi còn về. Bực mình và cũng chủ quan, tôi dắt nó vô khu bán máu. Vừa đi, tôi vừa suy nghĩ và đoan chắc rằng chúng tôi sẽ bị “chụp” bắt “đăng ký,” lý do là vì lúc này đầu giờ, các cô y tế rãnh rổi. Quả không sai! Thằng em đứng xớ rớ bên cạnh mấy cô trẻ tuổi đi bán máu, tôi rút máy chụp hình ra chưa kịp “phơ” thì bị nhân viên y tế chụp máy, kêu ầm lên: “Nhà báo! Nhà báo!” Mấy nhân viên khác và bảo vệ chạy ào tới. Họ yêu cầu tôi vào phòng làm việc, họ nói họ sẵn sàng “hợp tác” cung cấp tư liệu để báo chí giúp họ “tuyên truyền” trong việc hiến máu nhân đạo và họ sẽ mời Ban giám đốc tới làm việc cùng với tôi, chứ tôi không nên lén lút chụp hình trong cơ quan của họ như vậy. Thấy lớn chuyện sẽ không tốt, vì khi làm việc chắc chắn họ sẽ yêu cầu tôi “xuất trình” thẻ nhà báo, điều mà một “freelance” như tôi không bao giờ có, hơn nữa không thể khai là phóng viên của báo “Người Việt” ở tận bên... Mỹ. Ðể bảo vệ máy chụp hình và rút êm, tôi theo kịch bản ban đầu là chụp hình người em đi bán máu để gởi cho gia đình nó xin “viện trợ.” Vì tôi ứng phó tự nhiên và trôi chảy tuy có bị nghi ngờ là nhà báo “giả dạng,” cuối cùng họ cũng đành cho tôi ra về.

Lấy xe ra về mà lòng tôi sôi lên vì giận thằng em. Chẳng qua vì nó mà ham nhậu mà toàn bộ công trình tôi theo hơn hai tuần “đổ sông đổ biển.” Không thể quay lại Chợ Rẫy để chụp hình, những trung tâm khác thì quá chật không có chỗ để chụp lén. Có lẽ đây là thất bại đầu tiên và rất đáng nhớ trên con đường hành nghề của một “nhà báo tự do” tại Việt Nam. Cay cú, cả tuần sau tôi chạy chỗ này, chỗ kia tìm người kiếm cho tôi một tờ giấy “giới thiệu” nhà báo để có thể đàng hoàng tới mấy cơ sở kia chụp hình công khai. Nhưng một người bạn tôi khuyên nên bỏ ý định đó, vì có ai đó vô tình giúp tôi có thể gặp chuyện vì dù sao thì báo Người Việt cũng là báo hải ngoại. Tôi đành nén tự ái, để cuối cùng viết ra bài này với những hình ảnh minh họa không được như ý, lòng thầm an ủi: “Dù sao trong khả năng của mình, tôi luôn cố gắng làm tốt nhất công việc của mình để đem tới cho độc giả những điều tôi có thể làm!”

Post Reply