Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Nga trở lại Việt Nam

HÀ TƯỜNG CÁT

Chuyến thăm viếng Việt Nam của Tổng Thống Nga Vladimir Putin đầu tuần này đánh dấu sự phục hồi quan hệ hữu nghị giữa hai nước
đã lơi lỏng trong 20 năm không phải vì lý do chính trị mà vì điều kiện kinh tế sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ.

Image
Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leon Panetta (đứng giữa) nói chuyện với thủy thủ đoàn trên chiến hạm USNS Richard E. Byrd (T-AKE-4)
khi chiến hạm đa dụng thuộc hạm đội 7 Hoa Kỳ này vào thăm vịnh Cam Ranh năm ngoái. (Hình: Jim Watson/AFP/Getty Images)


Đối với Nga, đông thái này chỉ là một phần trong chiến lược khôi phục vai trò cường quốc hàng đầu trên thế giới mà Tổng Thống Putin đã muốn thực hiện từ nhiều năm qua. Xác định được vai trò của mình trong vấn đề Syria, nước đồng minh duy nhất của Nga ở Trung Đông, Tổng Thống Putin đang có thể nương đà thành công về ngoại giao ấy đẩy mạnh quan hệ với những quốc gia khác, trong đó Việt Nam là trường hợp tốt nhất để khởi sự tạo lập một đầu cầu vững chắc.

Cùng với chuyến thăm Việt Nam, ông cũng tới Nam Hàn và đề xướng việc tái lập “Con Đường Tơ Lụa”, tên của con đường buôn bán xuyên Trung Á từ nhiều trăm năm lịch sử, bằng một thiết lộ xuyên Tây Bá Lợi Á nối liền Âu Châu với Đông Á. Theo tin của các cơ quan truyền thông quốc tế, đường sắt này sẽ đi ngang Bắc Hàn đề chấm dứt ở cảng Busan, Nam Hàn. Phần đóng góp của ba nước cho dự án là: Nga 36%, Nam Hàn 34% và Bắc Hàn 30%. Mặc dầu còn rất nhiều trở lực về chính trị cũng như kinh tế nhưng hai nhà lãnh đạo Nga – Hàn đều đồng ý ký kết bản thỏa thuận sơ bộ cho kế hoạch có viễn tượng giá trị lớn lao này.

Đồng thời Nga cũng đang vươn cánh tay tới Ai Cập trong tình hình bang giao Mỹ - Ai Cập đang gặp rắc rối vì vụ đảo chính quân sự lật đổ Tổng Thống dân cử Mohammed Mursi. Ngoại Trưởng Sergei Lavrov và Bộ Trưởng Quốc Phòng Sergei Shoigu hôm Thứ Tư cùng lúc đến Cairo thảo luận về việc gia tăng mối quan hệ và có thể cả việc bán vũ khí cho Ai Cập. Tuần dương hạm mang hỏa tiễn Variag, soái hạm của hạm đội Thái Bình Dương, là chiến hạm Nga đầu tiên từ 20 năm đến bến Ai Cập và được nổ súng đón chào tại cảng Alexandria.

Trong Chiến Tranh Lạnh, Ai Cập là đồng minh chính của Liên Xô ở Trung Đông, nhận được sự ủng hộ về ngoại giao, giúp cố vấn quân sự, và cung cấp vũ khí, hỗ trợ trong 3 cuộc chiến tranh với Israel. Nhưng sau đó năm 1972 Tổng Thống Anwar Sadat đã trục xuất toàn bộ phái đoàn 20,000 cố vấn quân sự Liên Xô, mở đường đi đến hiệp ước hòa bình với Israel và trở thành đồng minh của Hoa Kỳ.

Ngoại Trưởng Lavrov tuyên bố với nhật báo Al-Ahram rằng phát triển quan hệ với Ai Cập là ưu tiên hàng đầu của điện Kremlin bây giờ. Sergei Markov, cố vấn đối ngoại của Tổng Thống Putin nói rằng: “Nga trở lại với Thế Giới Á Rập vì các quốc gia Á Rập yêu cầu chúng tôi như thế. Họ muốn có một nước bạn tin cậy hơn là Hoa Kỳ và Saudi Arabia”.

Nhiều người Việt Nam chống Cộng Sản cho đến bây giờ vẫn không có thiện cảm với nước Nga và hãy còn gọi là Liên Xô, mặc dầu mọi hoàn cảnh và tình thế đã không còn như cũ qua hơn 20 năm. Sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ năm 1991, một số nước Cộng Hòa Xô Viết cũ trở thành những quốc gia độc lập. Phần còn lại là Công Hòa Liên Bang Nga với diện tích 17 triệu km2, lớn nhất thế giới, trải rộng từ Âu Châu qua Viễn Đông trên 9 múi giờ, dân số 143 triệu gồm nhiều sắc dân phức tạp. Liên Bang Nga là một tập hợp 21 nước cộng hòa và 62 vùng lãnh thổ với nhiều quy chế khác nhau, trong đó Cộng Hòa Nga giữ vị trí và vai trò trung tâm. Thông thường người ta khó có thể phân biệt được Nga và Liên Bang Nga, ngoại trừ khi nói đến sinh hoạt của một số cơ chế chính trị.

Tổng Thống Boris Yeltsin là người đã có công xóa bỏ thể chế cộng sản, dân chủ hóa nước Nga và áp dụng đường lối kinh tế thị trường. Nhưng việc mau chóng tư hữu hóa đã tạo nên một nhóm “đại gia” quá giầu có và nắm quyền lực thao túng trong nhiều ngành hoạt động, đất nước Nga trở nên hỗn loạn và nền kinh tế suy sụp. Chính trong giai đoạn này Nga đã giảm dần hoạt động tại căn cứ quân sự ở vịnh Cam Ranh và cuối cùng hoàn toàn rút khỏi đây năm 2002 khi không đồng ý đòi hỏi trả tiền thuê của Việt Nam mỗi năm $200 triệu.

Tổng Thống Vladimir Putin tái lập được trật tự, ổn định và hồi phục kinh tế cho nước Nga, tuy nhiên chính sách độc đoán của ông bị Tây Phương chỉ trích, nhất là từ khi ông tái ứng cử nhiệm kỳ thứ ba. Trong thực tế nước Nga không còn là chế độ cộng sản nhưng cũng chưa bao giờ trở thành một xã hội dân chủ và một nền kinh tế tư bản theo mẫu mực Tây Phương.

Bang giao Nga – Việt Nam qua một thời gian xuống tới mức rất thấp, cả về chính trị cũng như kinh tế, liên hệ đáng kể duy nhất còn tồn tại là Việt Nam vẫn còn phải trông cậy vào Nga trong ngành khai thác và sản xuất dầu khí. Tình trạng đối đầu tranh chấp biển đảo với Trung Quốc đưa Việt Nam tới chính sách mở rộng quan hệ với tất cả các quốc gia khu vực và trên thế giới. Thực thi chính sách này, Việt Nam tìm thấy ở Nga những điều kiện phù hợp cũng như vai trò thích ứng hơn là Hoa Kỳ trên nhiều mặt. Nga không bỏ qua cơ hội này, mở đầu bằng việc bán một số vũ khí cho Việt Nam, tiếp theo là đề nghị một hình thức trở lại căn cứ Cam Ranh.

Từ lâu Nga muốn phục hồi vị trí cường quốc hải quân, dù chỉ tới hạng nhì sau Hoa Kỳ. Khi Hoa Kỳ đề ra chiến lược chuyển trục về châu Á, Nga cũng thấy rằng họ cần và có thể làm như vậy. Hải quân Nga được phân bổ trong 4 hạm đội, Bắc Đại Tây Dương là hạm đội quan trọng nhất; hạm đội Baltic, hạm đội Hắc Hải. Hạm đội Thái Bình Dương đặt căn cứ ở cảng Vladivostok có thường trực 10 chiến hạm chủ lực bao gồm tuần dương hạm và khu trục hạm phóng hỏa tiễn, tàu đổ bộ và khoảng 20 chiến hạm các loại khác.

Tháng 7 vừa qua, Phó Đô Đốc Sergei Avakyants, tư lênh hạm đội Thái Bình Dương, trong một cuộc phỏng vấn của truyền hình Nga, cho biết từ 2014 hạm đội này sẽ được tăng cường thêm nhiều chiến hạm, lần đầu tiên kể từ khi Liên Xô sụp đổ. Theo ông trong số các chiến hạm mới có cả chiến hạm xung kích thủy bộ lớp Mistral mà Nga đã ký hợp đồng liên doanh với Pháp sản xuất 4 chiếc năm 2011, tàu ngầm nguyên tử thế hệ mới, lớp Borey mang hỏa tiễn.
Nhưng hạm đội này không có căn cứ tiếp liệu nào khác trở thành cô lập trong vùng biển Tây Bắc Thái Bình Dương và như thế căn cứ Cam Ranh trở thành nhu cầu thiết yếu nếu hải quân Nga muốn đóng một vai trò trên tất cả các đại dương.

Hồi tháng 3, trong chuyến thăm viếng Việt Nam, bộ trưởng quốc phòng Sergei Shoigu đã thảo luận về kế hoạch tái tạo Cam Ranh thành một căn cứ sửa chữa và tiếp vận. Việt Nam dễ dàng chấp thuận để Nga trở lại Cam Ranh hơn là Hoa Kỳ vì không muốn trở thành sự khiêu khích đối với Trung Quốc. Hơn nữa Hoa Kỳ ở trong tình thế phải dè dặt cân nhắc và có thể phải chậm trễ mới đi tới quyết định. Nga không ở hoàn cảnh tế nhị đó và sự hiện diện của Nga không thể bị Trung Quốc ngăn trở dù hiểu rằng sẽ trở thành cái gai đối với họ. Nói cách khác, Nga có thể đem lại cho Việt Nam những gì khó tìm từ Hoa Kỳ.

Như thế, chuyến thăm viếng Việt Nam của Tổng Thống Putin, bên cạnh việc ký kết thỏa hiệp hợp tác toàn diện giữa hai nước và những thỏa thuận về trợ giúp quân sự, khai thác dầu khí, phát triển điện nguyên tử, còn có giá trị bảo đảm cho Việt Nam về mặt ngoại giao cũng như thực tế nếu xảy ra va chạm với Trung Quốc.

Cũng nên ghi nhận rằng trong lịch sử, Việt Nam đã từng xung đột quân sự với tất cả các nước lớn từ Trung Quốc tới, Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, nhưng chưa bao giờ có chiến tranh với Nga. Ở cách xa nhau về mặt địa lý là một điều kiện thuận lợi để giữa hai quốc gia không xảy ra những tranh chấp. (HC)


Chuyến thăm viếng Việt Nam của Tổng Thống Nga Vladimir Putin đầu tuần này đánh dấu sự phục hồi quan hệ hữu nghị giữa hai nước đã lơi lỏng trong 20 năm không phải vì lý do chính trị mà vì điều kiện kinh tế sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ.


Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leon Panetta (đứng giữa) nói chuyện với thủy thủ đoàn trên chiến hạm USNS Richard E. Byrd (T-AKE-4) khi chiến hạm đa dụng thuộc hạm đội 7 Hoa Kỳ này vào thăm vịnh Cam Ranh năm ngoái. (Hình: Jim Watson/AFP/Getty Images)


Đối với Nga, đông thái này chỉ là một phần trong chiến lược khôi phục vai trò cường quốc hàng đầu trên thế giới mà Tổng Thống Putin đã muốn thực hiện từ nhiều năm qua. Xác định được vai trò của mình trong vấn đề Syria, nước đồng minh duy nhất của Nga ở Trung Đông, Tổng Thống Putin đang có thể nương đà thành công về ngoại giao ấy đẩy mạnh quan hệ với những quốc gia khác, trong đó Việt Nam là trường hợp tốt nhất để khởi sự tạo lập một đầu cầu vững chắc.

Cùng với chuyến thăm Việt Nam, ông cũng tới Nam Hàn và đề xướng việc tái lập “Con Đường Tơ Lụa”, tên của con đường buôn bán xuyên Trung Á từ nhiều trăm năm lịch sử, bằng một thiết lộ xuyên Tây Bá Lợi Á nối liền Âu Châu với Đông Á. Theo tin của các cơ quan truyền thông quốc tế, đường sắt này sẽ đi ngang Bắc Hàn đề chấm dứt ở cảng Busan, Nam Hàn. Phần đóng góp của ba nước cho dự án là: Nga 36%, Nam Hàn 34% và Bắc Hàn 30%. Mặc dầu còn rất nhiều trở lực về chính trị cũng như kinh tế nhưng hai nhà lãnh đạo Nga – Hàn đều đồng ý ký kết bản thỏa thuận sơ bộ cho kế hoạch có viễn tượng giá trị lớn lao này.

Đồng thời Nga cũng đang vươn cánh tay tới Ai Cập trong tình hình bang giao Mỹ - Ai Cập đang gặp rắc rối vì vụ đảo chính quân sự lật đổ Tổng Thống dân cử Mohammed Mursi. Ngoại Trưởng Sergei Lavrov và Bộ Trưởng Quốc Phòng Sergei Shoigu hôm Thứ Tư cùng lúc đến Cairo thảo luận về việc gia tăng mối quan hệ và có thể cả việc bán vũ khí cho Ai Cập. Tuần dương hạm mang hỏa tiễn Variag, soái hạm của hạm đội Thái Bình Dương, là chiến hạm Nga đầu tiên từ 20 năm đến bến Ai Cập và được nổ súng đón chào tại cảng Alexandria.

Trong Chiến Tranh Lạnh, Ai Cập là đồng minh chính của Liên Xô ở Trung Đông, nhận được sự ủng hộ về ngoại giao, giúp cố vấn quân sự, và cung cấp vũ khí, hỗ trợ trong 3 cuộc chiến tranh với Israel. Nhưng sau đó năm 1972 Tổng Thống Anwar Sadat đã trục xuất toàn bộ phái đoàn 20,000 cố vấn quân sự Liên Xô, mở đường đi đến hiệp ước hòa bình với Israel và trở thành đồng minh của Hoa Kỳ.

Ngoại Trưởng Lavrov tuyên bố với nhật báo Al-Ahram rằng phát triển quan hệ với Ai Cập là ưu tiên hàng đầu của điện Kremlin bây giờ. Sergei Markov, cố vấn đối ngoại của Tổng Thống Putin nói rằng: “Nga trở lại với Thế Giới Á Rập vì các quốc gia Á Rập yêu cầu chúng tôi như thế. Họ muốn có một nước bạn tin cậy hơn là Hoa Kỳ và Saudi Arabia”.

Nhiều người Việt Nam chống Cộng Sản cho đến bây giờ vẫn không có thiện cảm với nước Nga và hãy còn gọi là Liên Xô, mặc dầu mọi hoàn cảnh và tình thế đã không còn như cũ qua hơn 20 năm. Sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ năm 1991, một số nước Cộng Hòa Xô Viết cũ trở thành những quốc gia độc lập. Phần còn lại là Công Hòa Liên Bang Nga với diện tích 17 triệu km2, lớn nhất thế giới, trải rộng từ Âu Châu qua Viễn Đông trên 9 múi giờ, dân số 143 triệu gồm nhiều sắc dân phức tạp. Liên Bang Nga là một tập hợp 21 nước cộng hòa và 62 vùng lãnh thổ với nhiều quy chế khác nhau, trong đó Cộng Hòa Nga giữ vị trí và vai trò trung tâm. Thông thường người ta khó có thể phân biệt được Nga và Liên Bang Nga, ngoại trừ khi nói đến sinh hoạt của một số cơ chế chính trị.

Tổng Thống Boris Yeltsin là người đã có công xóa bỏ thể chế cộng sản, dân chủ hóa nước Nga và áp dụng đường lối kinh tế thị trường. Nhưng việc mau chóng tư hữu hóa đã tạo nên một nhóm “đại gia” quá giầu có và nắm quyền lực thao túng trong nhiều ngành hoạt động, đất nước Nga trở nên hỗn loạn và nền kinh tế suy sụp. Chính trong giai đoạn này Nga đã giảm dần hoạt động tại căn cứ quân sự ở vịnh Cam Ranh và cuối cùng hoàn toàn rút khỏi đây năm 2002 khi không đồng ý đòi hỏi trả tiền thuê của Việt Nam mỗi năm $200 triệu.

Tổng Thống Vladimir Putin tái lập được trật tự, ổn định và hồi phục kinh tế cho nước Nga, tuy nhiên chính sách độc đoán của ông bị Tây Phương chỉ trích, nhất là từ khi ông tái ứng cử nhiệm kỳ thứ ba. Trong thực tế nước Nga không còn là chế độ cộng sản nhưng cũng chưa bao giờ trở thành một xã hội dân chủ và một nền kinh tế tư bản theo mẫu mực Tây Phương.

Bang giao Nga – Việt Nam qua một thời gian xuống tới mức rất thấp, cả về chính trị cũng như kinh tế, liên hệ đáng kể duy nhất còn tồn tại là Việt Nam vẫn còn phải trông cậy vào Nga trong ngành khai thác và sản xuất dầu khí. Tình trạng đối đầu tranh chấp biển đảo với Trung Quốc đưa Việt Nam tới chính sách mở rộng quan hệ với tất cả các quốc gia khu vực và trên thế giới. Thực thi chính sách này, Việt Nam tìm thấy ở Nga những điều kiện phù hợp cũng như vai trò thích ứng hơn là Hoa Kỳ trên nhiều mặt. Nga không bỏ qua cơ hội này, mở đầu bằng việc bán một số vũ khí cho Việt Nam, tiếp theo là đề nghị một hình thức trở lại căn cứ Cam Ranh.

Từ lâu Nga muốn phục hồi vị trí cường quốc hải quân, dù chỉ tới hạng nhì sau Hoa Kỳ. Khi Hoa Kỳ đề ra chiến lược chuyển trục về châu Á, Nga cũng thấy rằng họ cần và có thể làm như vậy. Hải quân Nga được phân bổ trong 4 hạm đội, Bắc Đại Tây Dương là hạm đội quan trọng nhất; hạm đội Baltic, hạm đội Hắc Hải. Hạm đội Thái Bình Dương đặt căn cứ ở cảng Vladivostok có thường trực 10 chiến hạm chủ lực bao gồm tuần dương hạm và khu trục hạm phóng hỏa tiễn, tàu đổ bộ và khoảng 20 chiến hạm các loại khác.

Tháng 7 vừa qua, Phó Đô Đốc Sergei Avakyants, tư lênh hạm đội Thái Bình Dương, trong một cuộc phỏng vấn của truyền hình Nga, cho biết từ 2014 hạm đội này sẽ được tăng cường thêm nhiều chiến hạm, lần đầu tiên kể từ khi Liên Xô sụp đổ. Theo ông trong số các chiến hạm mới có cả chiến hạm xung kích thủy bộ lớp Mistral mà Nga đã ký hợp đồng liên doanh với Pháp sản xuất 4 chiếc năm 2011, tàu ngầm nguyên tử thế hệ mới, lớp Borey mang hỏa tiễn.
Nhưng hạm đội này không có căn cứ tiếp liệu nào khác trở thành cô lập trong vùng biển Tây Bắc Thái Bình Dương và như thế căn cứ Cam Ranh trở thành nhu cầu thiết yếu nếu hải quân Nga muốn đóng một vai trò trên tất cả các đại dương.

Hồi tháng 3, trong chuyến thăm viếng Việt Nam, bộ trưởng quốc phòng Sergei Shoigu đã thảo luận về kế hoạch tái tạo Cam Ranh thành một căn cứ sửa chữa và tiếp vận. Việt Nam dễ dàng chấp thuận để Nga trở lại Cam Ranh hơn là Hoa Kỳ vì không muốn trở thành sự khiêu khích đối với Trung Quốc. Hơn nữa Hoa Kỳ ở trong tình thế phải dè dặt cân nhắc và có thể phải chậm trễ mới đi tới quyết định. Nga không ở hoàn cảnh tế nhị đó và sự hiện diện của Nga không thể bị Trung Quốc ngăn trở dù hiểu rằng sẽ trở thành cái gai đối với họ. Nói cách khác, Nga có thể đem lại cho Việt Nam những gì khó tìm từ Hoa Kỳ.

Như thế, chuyến thăm viếng Việt Nam của Tổng Thống Putin, bên cạnh việc ký kết thỏa hiệp hợp tác toàn diện giữa hai nước và những thỏa thuận về trợ giúp quân sự, khai thác dầu khí, phát triển điện nguyên tử, còn có giá trị bảo đảm cho Việt Nam về mặt ngoại giao cũng như thực tế nếu xảy ra va chạm với Trung Quốc.

Cũng nên ghi nhận rằng trong lịch sử, Việt Nam đã từng xung đột quân sự với tất cả các nước lớn từ Trung Quốc tới, Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, nhưng chưa bao giờ có chiến tranh với Nga. Ở cách xa nhau về mặt địa lý là một điều kiện thuận lợi để giữa hai quốc gia không xảy ra những tranh chấp. (HC)

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Lệnh đảng hay lòng dân?

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Quốc Hội Việt Nam sắp bỏ phiếu thông qua bản Hiến pháp 2013.

Cả Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lẫn Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đều quảng cáo cho văn kiện này.
Tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) Ông Trọng tuyên bố rằng bản Dự thảo Hiến pháp mới đã được Trung ương xem xét kỹ và hoàn thiện
để đưa ra Quốc hội thông qua, sau khi công dân toàn quốc đã đóng góp nhiều ý kiến có giá trị.
Ngày 21 tháng 10, khi tuyên bố khai mạc kỳ họp Quốc hội, Ông Nguyễn Sinh Hùng cũng tỏ ý tin tưởng rằng bản Dự thảo Hiến pháp cũng như
Luật Ðất đai (sửa đổi) sẽ được thông qua thuận lợi, “đánh dấu một bước hoàn thiện quan trang của thể chế chính trị của Nhà nước ta.”

Image
Một phiên họp Quốc Hội Việt Nam ở Hà Nội hôm 21 Tháng Mười. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Ban biên tập bản Dự thảo Hiến pháp cũng đã thảo ra bản giải trình dày 150 trang quảng cáo cho công trình của mình, nêu rõ một số vấn đề được trao đổi, tranh luận, như về danh xưng của nước Việt Nam (vẫn giữ danh hiện nay), Ðiều 4 vẫn được giữ với cách thể hiện khác trước ra sao, kinh tế vẫn theo định hướng xã hội chủ nghĩa với sở hữu nhà nước là chủ đạo, tài nguyên quốc gia trong đó có ruộng đất vẫn đều thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý. Bản giải trình huênh hoang rằng đã tiếp nhận được 26,090,828 ý kiến của cử tri, đã cân nhắc lựa chọn đưa vào dự thảo những ý kiến có giá trị nhất. Vẫn là kiểu quảng cáo kiểu đại ngôn!

Ðể làm yên lòng các ông bà nghị còn phân vân, theo báo Tuổi Trẻ ngày 24 tháng 10, trong cuộc gặp cử tri thủ đô, rồi sau đó trong cuộc họp ở tổ đại biểu Quốc hội sáng 23 tháng 10, ông Nguyễn Phú Trọng còn lên giọng quảng cáo rằng, “Bản dự thảo đã tiếp cận đến chân lý, đã thể hiện khát vọng, hào khí của nhân dân.”

Thế nhưng 14,785 công dân, phần đông là trí thức, sinh viên, đã ký kiến nghị không những bác bỏ dứt khoát những nội dung chủ yếu của bản dự thảo mà còn đưa ra một bản dự thảo khác để so sánh và đối chiếu, nhưng lãnh đạo đã cố tình làm ngơ, không mảy may đếm xỉa đến, cao ngạo phủ định toàn bộ, còn coi là tài liệu phản động, không được phổ biến công khai, chính thức.

Ngay trong ban biên tập bản dự thảo cũng có những tiếng nói không đồng tình với bản dự thảo. Theo Tuổi Trẻ số ra ngày 24 tháng 10, 2013, Ðại biểu Trần Du Lịch nói rõ với phóng viên báo này rằng “quả thật dự thảo đã thay đổi đến 140 điều trong Hiến pháp 1992, chỉ giữ nguyên có 7 điều, nhưng đó chỉ là hình thức, vì một số vấn đề quan trọng nhất cần thay đổi lại bị gác lại.” Ông Lịch tỏ ra nghi ngờ con số hơn 20 triệu ý kiến của cử tri, cho đó là con số bịa đặt vụng về. Theo đài phát thanh Hà Nội ngày 25 tháng 10, đại biểu Dương Trung Quốc tỏ ý còn bức xúc hơn, cho rằng: “Thay Hiến pháp là việc hệ trọng, vài chục năm mới có một lần, cần làm thật chu đáo, cứ nên lấy thêm ý kiến toàn dân đến cuối năm nay, không nên vội vã, nhiều vấn đề chính trị-kinh tế-ngoại giao cần trao đổi sâu sắc thêm. Lại một cơ hội hiếm có bị bỏ qua.”

Vậy xin được hỏi các vị lãnh đạo đảng và nhà nước, bản Dự thảo Hiến pháp lần này “đã tiếp cận đến chân lý” ở chỗ nào? Phải chăng là ở chỗ vẫn khẳng định học thuyết Mác-Lênin là cơ sở lý luận của nhân dân ta, cả khi toàn thế giới đã lên án, vứt bỏ nó, lại được ghi ở ngay nhưng dòng mở đầu của Hiến pháp mới. Phải chăng nó đã tiếp cận đến chân lý khi vẫn khẳng định con đường quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong khi cái chủ nghĩa bí hiểm ấy đến cuối thế kỷ này vẫn chưa thể thành hiện thực, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định.

“Bản dự thảo thể hiện khát vọng và hào khí của nhân dân” ở những chỗ nào? Phải chăng ở chỗ vẫn không cho nhân dân quyền phúc quyết Hiến pháp, vì bản dự thảo ghi rõ “trưng cầu dân ý phải do Quốc hội quyết định,” nghĩa là ban phát, theo đúng hướng suy nghĩ Hiến pháp là văn kiện quan trọng đứng sau cương lĩnh của đảng CS? Cho đến nay đảng CS vẫn khinh miệt nhân dân, cho rằng nhân dân không đủ trình độ để có quyền phúc quyết. Như vậy là thể hiện hào khí của nhân dân ư?

Ðối với nông dân chiếm gần 70% số dân ta, đảng CS vẫn khẳng định ruộng đồng đất đai là thuộc quyền sở hữu của toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý và có quyền thu hồi, điều này chỉ khơi dậy thêm khát vọng và hào khí của nông dân đang công khai đứng dậy đòi lại quyền sở hữu tư nhân chính đáng bên cạnh sở hữu công và sở hữu tập thể. Nông dân Hà Ðông, Thái Bình, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Dương, Cần Thơ, Sóc Trăng đã tỏ rõ khát vọng và hào khí ấy, các vị đại biểu của dân có nhìn thấy và nghe rõ hay không?

Thật tội nghiệp cho gần 500 ông, bà nghị đang bị kẹt cứng giữa kỷ luật nghiêm của đảng và quyền tự do cùng trách nhiệm là đại biểu của nhân dân, bị xâu xé trong nội tâm bởi cảm giác theo đảng là trái ý nhân dân, mà theo đúng nguyện vọng của nhân dân thì ắt phải chống đảng, chống lại bản dự thảo rõ ràng là lạc hậu, là giáo điều, là xa rời thực tế, xa rời chân lý và thời đại này.

Những ngày tới, trước khi bấm vào máy bỏ phiếu tán thành hay bác bỏ bản dự thảo đã bị cả một tập thể trí thức có chất lượng cao nhất bác bỏ với đầy đủ lý lẽ, mỗi đại biểu hãy suy tính cho thật kỹ, đứng về phía những người lãnh đạo đuối lý, nói lấy được, tham quyền tham nhũng quay lưng lại với dân, hay là chọn con đường của lương tâm và trí tuệ, con đường sáng đẹp để làm lại từ đầu, bắt tay thảo ra một Hiến pháp thật sự mới, mang bản chất nhân văn, dân tộc và thời đại.

Ðây là một thử thách nghiêm cách trong cuộc đời mỗi con người. Toàn dân, đông đảo cử tri, đặc biệt là cử tri từng bỏ phiếu bầu cho các vị, đang chăm chú quan sát từng vị trong cuộc bỏ phiếu này.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Trung Cộng, cường quốc trị giá 100 ngàn đô la

Trần Trung Đạo
(Danlambao) - Bangladesh là quốc gia có dân số 147 triệu ở vùng Nam Á. Sau cuộc chiến tạm gọi là nội chiến Pakistan dài phát xuất từ các lý do văn hóa, tôn giáo và địa lý, quốc gia Bangladesh được thành lập vào năm 1971. Về kinh tế, Bangladesh được xếp vào hạng thứ 151 trên thế giới, nghĩa là rất nghèo. Nhiều triệu trẻ em Bangladesh vẫn còn thiếu dinh dưỡng. Chẳng những thế, các nước chung quanh cũng là những nước nghèo không thua kém nên các quan hệ kinh tế thương mại trong khu vực chẳng phát triển gì nhiều.

Nhưng khi trận bão lụt Katrina xảy ra ở New Orleans, Mỹ, tháng 8 2005, Bangladesh là một trong những quốc gia đầu tiên đáp ứng về cả nhân lực lẫn tài chánh. Chính phủ Bangladesh đã tặng nạn nhân Katrina 1 triệu đô la và sẵn sàng đưa chuyên viên sang giúp xây dựng các đê điều ở New Orleans mà họ vốn có nhiều kinh nghiệm.

Có người cho rằng việc Bangladesh tặng một triệu đô la cho Mỹ chẳng khác gì “gánh củi về rừng” và cũng có người cho rằng đó là một cách đầu tư lòng nhân đạo. Một nước nghèo như Bangladesh, số tiền một triệu đó sớm muộn cũng được Mỹ viện trợ trở lại, có thể với cả vốn lẫn lời.

Nhưng đại đa số các nhà bình luận đều đồng ý, trên tất cả những khía cạnh chính trị, kinh tế, nghĩa cử của chính phủ Bangladesh đã nói lên tấm lòng nhân ái của những người cùng cảnh ngộ. Năm 1974, Bangladesh vừa mới thành lập đã phải chịu một trong những cơn lụt lớn nhất trong lịch sử nhân loại với gần 30 ngàn người chết. Những cơn mưa mùa kéo dài suốt tháng đã làm xứ sở này sống với lũ lụt thường xuyên như chúng ta thấy trên các phóng sự truyền hình. Không ai hiểu được nỗi lòng của người chịu đựng lũ lụt hơn những người phải than thở “trời hành cơn lụt mỗi năm” như người dân Bangladesh.

Ngày 4 tháng 11, bão Haiyan hay Yolanda theo cách gọi của Philippines được cảnh báo và ngày 7 tháng 11, Tổng thống Phi Benigno Aquino III kêu gọi dân chúng trong vùng bão sẽ đi qua di tản tức khắc. Nhưng nhiều khu vực không biết tin tức và dù có nhận được lịnh cũng không biết đi đâu. Và vài giờ sau, lúc 6 giờ sáng cơn bão với sức gió 275 kilomet giờ vào đất liền.

Theo ước lượng của các cơ quan thiện nguyện quốc tế nhiều chục ngàn người dân Phi tại các đảo miền trung Philippines đã chết do cơn bão Haiyan gây ra. Chỉ riêng đảo Leyte Island đã có 10 ngàn người chết. Theo ước lượng của cơ quan National Disaster Risk Reduction and Management Council (NDRRMC) thuộc chính phủ Phi, khoảng 9.5 triệu người bị ảnh hưởng và hiện có 630 ngàn người đang lâm cảnh màn trời chiếu đất. Theo phóng viên CNN có mặt tại chỗ trong những ngày đầu, nhiều làng đã trở thành ngôi mộ tập thể và nạn nhân sống sót phải uống nước dừa để sống. Với sức gió 275 kilomet một giờ số thiệt hại nhân mạng và tài sản cuối cùng sẽ còn cao hơn ước tính rất nhiều.

Trong điêu tàn đổ nát do siêu bão Haiyan gây ra những hạt giống tình thương đang được gieo trồng. Hàng trăm quốc gia, hàng ngàn tổ chức từ thiện khắp thế giới đang đổ về Philippines không chỉ với thuốc men, áo quần, thực phẩm mà cả nhân lực để góp phần hàn gắn vết thương. Chính phủ Mỹ chỉ vài giờ sau cơn bão đã thông báo viện trợ khẩn cấp 20 triệu đô la, Anh tặng 16 triệu đô la, Nhật Bản tặng 10 triệu đô la. Đó chỉ là tiên mặt, ngoài ra, các hàng không mẫu hạm HMS Illustrious của Anh, USS George Washington của Mỹ chuyên chở thuốc men và vật dụng cần thiết đến Phi.

Và Trung Cộng, quốc gia có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới đã viện trợ 100 ngàn đô la.

Đừng nói gì các công ty như IKEA cam kết 2.7 triệu đô la, Coco-Cola cam kết 2.5 triệu, số tiền viện trợ của cường quốc thứ hai trên thế giới có thể còn thấp hơn số tiền do các cựu thuyền nhân và đồng hương Việt Nam tại hải ngoại đóng góp. Báo Time bình luận 100 ngàn đô la là một sỉ nhục đối với Philippines. Trước phản ứng của dư luận thế giới mới đây Trung Cộng đã gia tăng viện trợ lên đến 1.64 triệu đô la nhưng không phải tiền mặt mà là mùng mền, chăn chiếu. Những món “made in China” này nghe qua là đã sợ.

Nhiều nhà bình luận dù phê bình Trung Cộng đã yểm trợ chỉ bằng 6 phần trăm số tiền New Zealand đã hứa nhưng không ai hiểu tại sao Trung Cộng lại có thể làm như thế, chẳng lẽ chúng không biết thế nào là xấu hổ hay sao. Ngay cả tờ Global Times có khuynh hướng dân tộc cực đoan cũng viết trong phần bình luận ngày 12 tháng 11, 2013 “Trung Quốc như một cường quốc có trách nhiệm nên tham gia vào các hoạt động cứu trợ để giúp đỡ nạn nhân của quốc gia láng giềng. Nếu Trung Quốc làm nhục Philippines lần này, Trung Quốc sẽ chịu tổn thất lớn lao.”

Lãnh đạo Trung Cộng không phải là không nhận ra điều đó nhưng Trung Cộng ngày nay không phải là một Trung Cộng mà Chu Ân Lai từng thề nguyền sát cánh cùng các nước nghèo, bị trị láng giềng tại hội nghị Bandung ở Nam Dương 1955. Trung Cộng ngày nay cũng không phải là một Trung Cộng mà Đặng Tiểu Bình đã hứa chia ngọt sẻ bùi với các quốc gia Đông Nam Á bằng những lời đường mật trong chuyến viếng thăm của y năm 1978. Cơn bĩ cực đã qua, thời thái lai đang tới, lãnh đạo Trung Cộng ngày nay là một đám kiêu căng đang giương cao ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc Đại Hán và chủ nghĩa này sẽ là chảo dầu của chiến tranh thế giới lần thứ ba phát xuất tại Á Châu.

Hơn ai hết, lãnh đạo Trung Cộng biết 3 trong số 20 cơn lụt lớn nhất nhân loại đều xảy ra tại Trung Hoa với khoảng 3 triệu người chết trong cơn lụt 1931, hai triệu người chết trong cơn lụt 1887 và khoảng bảy trăm ngàn người chết trong cơn lụt 1938, nhưng bản chất ti tiện, kiêu căng của giới lãnh đạo CS đã giết chết đặc tính “nhân chi sơ tính bổn thiện” của con người, che khuất tình “đồng cảnh tương thân”, bôi một lớp tro đen lên trên mấy ngàn năm văn hóa Trung Hoa và hủy hoại thể diện một của một quốc gia có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới.

Trung Cộng là một trong những nước có nguồn dự trữ vàng lớn nhất thế giới, là nước chủ nợ lớn nhất thế giới và GDP có khả năng sẽ vượt qua Mỹ vào năm 2020 với ước lượng khoảng 24 ngàn tỉ đô la. Trung Cộng có rất nhiều cái nhất nhưng những điều đó không làm nên giá trị của một quốc gia, không làm cho nhân loại kính trọng Trung Cộng hơn Bangladesh, bởi vì giá trị của một quốc gia không phải được xác định bằng của cải mà bằng các tiêu chuẩn đạo đức, dân chủ, văn minh và văn hóa.

Khi bàn về những phẩm chất để làm một quốc gia trở nên vĩ đại và được kính trọng, nhà văn Thomas Fann, trong một tiểu luận xuất sắc đã nêu ra 10 yếu tô gồm tự do, công lý, danh dự, đạo đức, lòng thương cảm, thành thật, giá trị cuộc sống, sáng tạo, vượt trội, bảo trì môi trường cho các thế hệ tương lai. Thomas Fann nhấn mạnh đến việc nghĩ đến các thế hệ tương lại khi nhắc câu chuyện Disney Land. Ông Walt Disney chết năm năm trước ngày Disney World ở Florida, Mỹ, khai mạc. Trong lễ khai mạc, có người than phải chi ông còn sống để thấy những khu chơi dành cho cho thiếu nhi huy hoàng tráng lệ như ngày nay. Thật ra, với tầm nhìn xa và tư duy khai phóng, ông Walt Disney đã thấy những nụ cười rạng rỡ, những ánh mắt vui tươi của trẻ em từ lâu trước ngày khai mạc Disney Land.

Trung Cộng không đạt bất cứ một phẩm chất nào trong mười phẩm chất nêu trên. Nhưng nếu phải xếp hạng, có lẽ nên được xếp Trung Cộng cùng thời đại với các nhóm dân bộ lạc bán khai ăn thịt người còn tản mác trong các khu rừng ở Congo, vùng West Indies và khu vực Amazon hoang dã.

Tại sao?

Cách đây không lâu Trung Cộng là một trong số ít quốc gia mà cha mẹ đã làm thịt con đẻ của mình để sống qua ngày. Cách đây không lâu đã có hơn ba chục triệu người dân Trung Cộng phải chết đói, ăn thịt nhau một cách công khai trong thời kỳ Bước tiến nhảy vọt và Công xã nhân dân, tức giai đoạn người dân phải đem nồi niêu xoong chảo ra các “nhà luyện kim sau vườn” để “đúc thép” theo chủ trương của Mao Trạch Đông. Và không chỉ trong 40 năm trước, mà ngay cả ngày nay cũng thế, trong lúc đại đa số nhân loại đã qua khỏi thời kỳ dã man cả ngàn năm nhưng tại Trung Cộng việc ăn thịt người là một thức ăn sang trọng. Tờ Next Magazine phát hành tại Hong Kong cho rằng tại Trung Cộng, thai nhi là thức ăn phổ biến.

Tháng Năm, 2012, trên tờ Washington Times, nhà văn và nhà nghiên cứu Youngbee Dale cho biết sở quan thuế Nam Hàn đã tịch thu 17 ngàn viên thuốc chế bằng thai nhi sản xuất tại Trung Cộng. Chính sách một con đã buộc các cặp vợ chồng chọn phá thai dù ở giai đoạn nào khi biết đứa bé sắp chào đời là con gái. Đài truyền hình Nam Hàn chiếu một phóng sự kinh hoàng, trong đó, các bác sĩ người Hoa thực hiện các ca phá thai và ăn bào thai ngay tại chỗ. Một bác sĩ người Hoa khác để dành bào thai trong tủ lạnh như để dành tôm cá. Việc ăn thịt người xảy ra nhiều nơi ở các bộ lạc bán khai Phi Châu, Nam Mỹ nhưng ăn thịt người được nhà nước cho phép chỉ xảy ra tại quê hương của Tập Cận Bình.

Trung Cộng như một cường quốc kinh tế và theo thông lệ chính trị quốc tế, phải hành xử đúng tư cách của một cường quốc dù đối với bạn hay thù. Nhưng không, lãnh đạo Trung Cộng không có trái tim, lòng nhân đạo và cũng không quan tâm đến sĩ diện quốc gia. Đối với chúng tiền bạc là vũ khí, là cây gậy. Philippines là quốc gia tranh chấp với Trung Cộng về chủ quyền biển Đông nên những đứa bé Philippines đang hấp hối ở Tacloban phải chết thay cho chính phủ của các em.

Lãnh đạo Trung Cộng là những kẻ nói như Bá Dương nhận xét về nước của ông ta “Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết."

Tại sao người Nhật không ghét Mỹ dù Mỹ đã ném hai trái bom nguyên tử giết 240 ngàn người Nhật tại hai đảo Hiroshima và Nagasaki? Bởi vì đó là lịch sử. Con người cũng như quốc gia, không ai có thể quay ngược lại bánh xe thời gian và chỉ có thể vượt qua nỗi đau quá khứ bằng cách xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau. Trung Cộng thì khác. Mối nhục một trăm năm được ghi đậm ngay trong phần mở đầu của hiến pháp và lòng thù hận nước ngoài đã được đảng CS khai thác tận tình.

Từ cơn bão lụt Katrina đến nay, mỗi khi cần phải tìm một ví dụ để nhắc đến tình người, để biểu dương tinh thần “đồng cảnh tương thân”, Bangladesh lại được ca ngợi trong hầu hết bài viết, bài diễn văn, từ tổng thống Mỹ cho đến một học sinh trung học và xem đó như “tấm gương Bangladesh”. Từ cơn bão Haiyan về sau, Trung Cộng cũng sẽ được nhắc nhở nhưng hoàn toàn phản nghĩa với Bangladesh. Trung Cộng sẽ đồng nghĩa với bản chất ti tiện, dã man, kiêu căng, thù vặt và thù dai. Bản chất đó là “sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn” của dòng máu bành trướng Đại Hán và đặc tính Cộng Sản độc tài.

Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, Trung Cộng là quốc gia có tổng sản lượng nội địa năm 2012 hơn bảy ngàn tỉ đô la nhưng trong mắt của phần lớn nhân loại hôm nay, trị giá của cường quốc này chỉ đáng 100 ngàn.

Trần Trung Đạo

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Đồng Minh Can Trường

Harry F. Noyes III

Tác giả là cựu chiến binh HK tại Việt Nam trong quân chủng Không Quân Hoa Kỳ. Sau cuộc chiến trở về, ông lấy được văn bằng cao học về Nghiên Cứu Á Châu từ trường Ðại Học Hawaii. Bài này (Heroic Allied ) được đăng trong tạp chí Vietnam, số tháng 8, 1993.


Họ (người lính VNCH) vóc dáng nhỏ con, nói chuyện líu lo như chim hót, ưa thêm nước mắm vào mọi món ăn, và thường hay nắm tay nhau.

Không lạ gì lính Mỹ khi qua viễn chinh ở vùng Ðông Nam Á – hầu hết đều là trai trẻ, học thức bình thường, được rập khuôn trong một xã hội quá cao ngạo và quá ít hiểu biết về những nền văn hóa khác – khó lòng cảm thông được với những người chiến binh VNCH.

Ðiều đáng tiếc hơn nữa là nhiều cựu chiến binh lúc trở về lại đi gia nhập vào hàng ngũ của những nhóm gây rối, trốn lính và hoạt đầu chính trị để bêu xấu danh dự của một đạo quân nay không còn có thể tự đứng ra bào chữa được cho mình. Nhục mạ một đạo quân đã mạng vong trong chiến trận do nước Mỹ bỏ rơi là một hành vi đê tiện, không xứng danh là người chiến binh Hoa Kỳ.

Chắc một số người sẽ cho rằng điều khẳng định của tôi là quá đáng. Vậy chứ tôi phải làm thế nào để bào chữa cho họ đây? Mọi người đều ‘cho’ họ là một lũ bất tài, phản trắc và hèn nhát, phải như vậy không?

Không, hoàn toàn sai. Bài viết này sẽ trưng ra một vài chứng cớ hùng hồn để đánh đổ cái huyền thoại thô bỉ này, đồng thời cũng sẽ khảo sát xem do đâu phát sinh ra huyền thoại ấy.

Dĩ nhiên phải công nhận là quân lực VNCH không toàn hảo. Người chiến binh của họ phải chiến đấu với những kẻ lãnh đạo tồi, những quân nhân hèn nhát, chịu đựng những cuộc khủng hoảng, những biến cố tai ương, bất lợi. Quân lực Mỹ ở Ðông Nam Á cũng không hơn gì đâu.

Trên một số phạm vi như cơ cấu tổ chức, tiếp liệu, quản trị và lãnh đạo, quân lực VNCH thua bên phía Mỹ. Nhưng có ai trông mong gì khác hơn từ một quốc gia đang phát triển, mới vừa thoát khỏi ách thuộc địa lại phải lao đầu vào một cuộc chiến sinh tử với một quân thù hùng mạnh được cả một khối Cộng Sản hỗ trợ?

Thực tế mà nói, những nhược điểm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng hệt như của quân Mỹ thời chiến tranh Ðộc Lập của Hoa Kỳ (American War of Independence) , dù rằng nước Mỹ hồi cuối thế kỷ thứ 18 có nhiều điểm thuận lợi như: cái qui mô của cuộc Chiến Tranh Cách Mạng (Revolutionary War) nhỏ hơn và dễ chi phối hơn; quá trình thuộc địa Hoa Kỳ đã giúp hình thành được những chính quyền tự phát địa phương, cho phép đất nước này hun đúc nên những vị lãnh tụ tài ba thật sự; quân Anh không quá ngoan cố như quân BV; và quân đồng minh Pháp thời bấy giờ đã không bỏ rơi nước Mỹ non trẻ như kiểu người Mỹ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa.

Nhưng dù sao chăng nữa, cơ cấu tổ chức, tiếp liệu, quản trị và ngay cả lãnh đạo đi chăng nữa vẫn chưa phải là những phẩm chất để dựa vào đó mà phỉ báng quân lực VNCH.

Có hai câu hỏi đánh động đến đề tài tranh cãi. Phải chăng người chiến binh VNCH thiếu chí khí, lòng quả cảm, sự can trường và lòng ái quốc mà người Mỹ đã nêu ra trong lời miệt thị và gán lên đầu họ mọi trọng tội vì đã đánh mất cái giá tự do của vùng Ðông Nam Á?

Quân Mỹ có khá gì hơn đồng minh của mình để dám khinh khi họ như vậy? Trả lời cho cả hai câu hỏi, tôi xin trân trọng khẳng định là ‘Không!’

Chứng cớ quá rõ ràng. Trận Tổng Công Kích Tết 68 coi như sẽ đập tan được ý chí chiến đấu của VNCH. Thay vì bỏ cuộc, quân VNCH đã kháng cự mãnh liệt và hữu hiệu: không một đơn vị nào tan rã hay tháo chạy. Ngay cả cảnh sát cũng chiến đấu, họ đương đầu với quân chính qui đối phương trang bị bằng vũ khí hùng hậu với chỉ bằng những khẩu súng Colts. Dựa theo báo cáo, sau trận này số người xin đăng lính cao đến nỗi chính quyền của quốc gia này phải đình hoãn bớt việc thu nhận thêm tân binh.

Trong cuộc Tổng Tấn Công năm 72, quân trú phòng VNCH bị vây hãm tại An Lộc đã giữ vững được vị trí của mình trước một lực lượng ghê gớm của quân thù cả về người lẫn hỏa lực kinh hồn của đại pháo và hỏa tiễn. Sau trận này tôi được tiếp xúc với một cố vấn Mỹ để nghe tường thuật lại mẩu chuyện một tiêu đội lính VNCH trong vùng được cử công tác thanh toán ba chiến xa, đã hành động như thế nào. Họ chu toàn nhiệm vụ hạ được một chiếc, rồi quyết định tìm cách bắt sống hai chiếc còn lại. Theo tôi nhớ thì họ chộp được một chiếc còn một chiếc bỏ chạy, thế là mấy người lính chạy bộ rượt theo đến cuối đường.

Việc thi hành thượng lệnh của mấy người lính này có thể không đúng tác phong quân kỷ, nhưng lối hành xử cho thấy tinh thần chiến đấu cao và thế chủ động mà mọi binh sĩ VNCH đều có. Dĩ nhiên điều tôi kể chưa đủ để bào chữa được cho lời tố giác tội hèn nhát.

Ðể minh chứng hơn, hãy nhìn vào Việt Nam Cộng Hòa ở thời điểm cuối cùng vào năm 1975 khi đất nước này đang trong tình trạng tuyệt vọng khi biết rõ Mỹ không ra tay cứu giúp nữa (cả nhiên liệu lẫn đạn dược).

Thế mà một đơn vị VNCH tầm cỡ một sư đoàn đã cầm chân được bốn sư đoàn BV trong suốt hai tuần giao tranh ác liệt tại Xuân Lộc. Chỉ riêng một trận này thôi sự anh dũng còn nổi bật hơn bất kỳ một chiến công nào có thể tìm thấy trong chiến sử Hoa Kỳ. Quân VNCH sau đó đành phải lui binh vì Không Quân của họ không còn bom để yểm trợ chiến đấu.

Có lần tôi xem được một phim tài liệu truyền hình do một phóng viên người Úc quay tường thuật về cuộc chiến. Khác với các phóng viên HK, anh ta dành hết thời gian bên cạnh các binh sĩ VNCH. Anh ta ghi rõ tinh thần chiến đấu của quân đội VNCH bằng những thước phim của mình. Anh còn kể rằng anh từng ghé qua một làng do địch kiểm soát và nghe nói lại rằng lính CS còn sợ lính VNCH hơn cả lính Mỹ. Lý do chính là lính Mỹ bao giờ cũng ồn ào, nên khi nào lính Mỹ đến là họ biết ngay. Chỉ vậy thôi, thì có gì họ phải kinh sợ nếu quân đội VNCH không là những chiến binh nguy hiểm.

Tuy vậy, chứng cớ quan trọng nhất chứng tỏ ý chí chiến đấu của quân đội VNCH đến từ hai sự kiện hiển nhiên, những sự kiện vốn thường hay bị lãng quên hoặc che giấu để che đậy sự thất bại của người Mỹ ở Việt Nam.

Sự kiện thứ nhất: Chiến tranh VN đã khởi sự đâu đó bảy năm trước khi lực lượng chính của Hoa Kỳ đổ đến và sau đó lại tiếp tục thêm chừng 5 năm sau khi quân Mỹ rút ra. Trong khoảng đó phải có ai đó đang chiến đấu mà kẻ đó là người miền Nam chứ còn ai khác hơn.

Sự kiện thứ hai: Quân đội VNCH thiệt mất một phần tư triệu binh sĩ trên chiến trường. Theo tỉ lệ dân số thì tương đương hai triệu lính Mỹ chết (một con số gấp đôi tổn thất của Mỹ trong tất cả các chiến tranh gộp lại). Cho rằng người ta không chịu chiến đấu thì sao họ lại chết nhiều như vậy.

Vậy thì do đâu mà VNCH phải chịu mang tai tiếng xấu?

Dĩ nhiên có lúc họ tỏ ra bất tài và hoảng loạn. Lính Mỹ cũng vậy thôi. Tôi biết một câu chuyện qua một đơn vị trưởng pháo binh HK rằng khi hay tin đại đội bộ binh bảo vệ mình bị địch đánh tan tành, các pháo thủ đâm hốt hoảng bắn loạn xạ khiến đám quân yểm trợ này hoảng loạn chạy có cờ giữa hai lằn đạn.

Một biến cố đơn thuần đó không thể đem ra mà gán cho cả quân lực HK là hèn nhát thì thỉnh thoảng có sự tan hàng của người đồng minh của nước Mỹ cũng không có nghĩa là tất cả chiến binh VNCH là hèn nhát. Thế mà có kẻ lại suy nghĩ như vậy, qua cách nói bởi một số cựu chiến binh, bởi những chính trị gia muốn bào chữa cho một chính quyền Mỹ đã để cho VNCH bị suy vong.

Sự thật được minh bạch hơn qua mẫu đối thoại sau đây phát xuất từ hai thế kỷ trước, khi một phụ nữ Anh hỏi viên công tước xứ Wellington rằng lính Anh có bao giờ bỏ chạy trên chiến trường không.

Viên công tước đáp, “Ngoài chiến trường người lính nào cũng có bỏ chạy cả, thưa bà.”

Một nghiên cứu qua loa trong quân sử cũng xác minh được điều này.

Những trận đánh thời Nội Chiến (Civil War) cho thấy sự can trường lẫn sợ hãi liên tục khi lên khi xuống, cả những đơn vị phe Confederate lẫn Union thoạt đầu xông pha rất hăng hái, sau đó co cụm lại rồi bỏ chạy trước hỏa lực kinh hồn trước khi tập hợp lại tiếp tục chiến đấu.

Chưa có đạo quân nào tự cho mình có nhiều hành động hy sinh anh hùng bằng hai đạo quân này, tuy nhiên họ cũng có lúc chạy tán loạn nơi một chiến trường quá đẫm máu.

Văn sĩ S. L. A. Marshall mô tả sự hoảng hốt bỏ chạy của một đơn vị bộ binh HK thời Ðệ Nhị Thế Chiến khi quân cảm tử Nhật vừa tấn công vừa hò hét. Ðơn vị thứ hai nằm lại quyết chiến và nhanh chóng tiêu diệt hết đám quân Nhật (chừng 10 tên) và vỡ lẽ ra là đa số bọn chúng không có võ khí.

Nếu sự việc tương tự xảy đến với một đơn vị VNCH, những tên tự xưng là học giả uyên thâm lập tức ra rả lập đi lập lại rằng ấy là chứng cớ rành rành về hành động khiếp nhược của quân đội VNCH.

Tại sao vậy? Chúng ta ắt đã ngầm có câu trả lời rồi. Mọi sự còn tùy là cái quân đội đó thuộc chủng tộc gì, nói thứ ngôn ngữ nào. Sự thật đốn mạt là cái quân đội VNCH phải chịu mang tai tiếng xấu bắt nguồn từ lòng kỳ thị chủng tộc lẫn tinh thần sô-vanh nước lớn của người Mỹ.

Tôi xin tự minh chứng về khuynh hướng bóp méo sự thật vốn tràn lan rộng khắp. Lúc vừa mới đặt chân đến VNCH vào Tháng Sáu năm 1969, lập tức tôi được chứng kiến những trường hợp bày tỏ thái độ ngu dốt và khinh miệt của một số người Mỹ dành cho người dân cũng như quân đội quốc gia này.

Các binh sĩ Mỹ trắng cũng như đen, luôn cả những người trong các dịch vụ thuộc dân sự như truyền thông báo chí thẩy đều như nhau.

Thái độ căm ghét này dành cho xứ sở cùng dân tộc VN kinh khiếp thay lại có một sức mạnh truyền nhiễm kinh hồn.

Một viên đại úy Mỹ tôi được biết có trình độ tốt nghiệp đại học về ngành điện ảnh từ một trường có tiếng tăm (coi như họ được đào tạo để có cái nhìn chuyên môn hơn người thường). Có lần anh ta sau công tác tạm thời ở Thái Lan trở lại VN đã hết lời ca ngợi dân Thái.

“Dân Thái người ta cho con họ đi học đàng hoàng,” anh ta nói, “khác với tụi nhỏ con của người Việt ở đây.” Khi tôi chỉ cho anh ta thấy không đâu xa mà ngay kế bên căn cứ còn có một trường học thì anh ta ngạc nhiên nhưng không hề tỏ ra ân hận về nhận xét của mình. Hằng trăm trẻ nhỏ trong đồng phục quần xanh áo trắng cắp sách đến trường mỗi ngày mà bất cứ ai có mắt đều nhìn thấy. Vậy mà tên làm phim này lại không.

Chua chát thay, dân VN vốn quí trọng sự học còn hơn dân Mỹ, họ đã nâng trình độ người đi học từ 20 lên đến 80 phần trăm dù chiến tranh đang dày xéo chung quanh (dù ngay cả các giáo viên vẫn thường xuyên bị sát hại bởi đối phương). Vậy mà vẫn còn bị tên làm phim này gán cho cái tội là một xứ sở không trường không lớp.

Vì phải viễn chinh nơi một xứ sở xa lạ, xa gia đình, người Mỹ này đã tự hun đúc cho mình một lòng thù ghét đất nước VN, hắn muốn tin rằng người Việt là đáng khinh. Do vậy, điều quan trọng đối với hắn là phải tin tưởng rằng người Việt không có trường học dành cho con cái của họ; và chính cảm xúc đó làm mù đi thị giác của hắn.

Hãy nghĩ đến cảm tưởng của khối quân Mỹ ít học thức hơn khi phải trực diện với nền văn hóa xa lạ trong một môi trường đầy căng thẳng! Có lẽ ta không nên đổ lỗi cho các binh sĩ ấy về thái độ kém cỏi của mình. Trời đất còn biết là giới chỉ huy HK chỉ nỗ lực qua loa để giáo dục cho binh sĩ mình về đất nước VN và tính chất của cuộc chiến.

Tuy vậy, đó không phải là lý do để bào chữa cho các cựu chiến binh giả vờ cho là mình hiểu về những gì mình thấy ở VN. Ta phải tri ân các cựu chiến binh chiến tranh VN về đức tính quả cảm, sự hy sinh và lòng trung thành đối với tổ quốc. Nhưng tính quả cảm và sự hy sinh không đi đôi với sự hiểu biết. Chiến đấu ở VN không làm cho người lính thành những chuyên gia về đất nước hay cuộc chiến đó, cũng như có con không phải làm cho người mẹ trở thành một chuyên gia về khoa phôi thai (embryology) .

Những gì người lính Mỹ làm ở VN không dạy cho họ chi hơn về nền văn hóa, xã hội, chính trị, vân vân và vân vân của VNCH. Một ít người Mỹ có học lỏm bõm được vài tiếng Việt; ngay cả có một vài người đọc được sách báo VN; và chẳng bao nhiêu người đọc sách vở viết về xứ sở Việt Nam bằng Anh ngữ.

Ngoại trừ các cố vấn, ít người Mỹ nào làm việc gần gũi với những người Việt, có chăng họ có chung đụng với những người làm thư ký, giặt giũ, và nữ hầu bàn do quân đội HK mướn.

Ðiều quan trọng hơn cả là ít quân nhân HK nào từng chứng kiến sự chiến đấu của binh sĩ VNCH. Ít ai có bao giờ xét đến thái độ khác biệt hiện hữu trong tâm tư những chiến binh nơi chiến trường ấy, quân Mỹ sang chiến đấu một năm rồi về, họ yên tâm là gia đình họ đều đang bình yên ở nơi chính quốc; trong khi người lính VNCH thì khác, hằng ngày họ phải lo lắng cho sự an nguy của gia đình mình, họ thừa hiểu rằng chỉ có cái chết hay chỉ có bị thương ở mức độ tàn phế họ mới ra khỏi được đời sống quân ngũ. Ðương nhiên người Việt ắt phải dùng một thước đo riêng để quyết định cái gì là quan trọng hơn để chiến đấu.

Giới nhà báo không khá gì hơn. Thử xét xem về một cuộc tường thuật truyền hình thiên vị mà tôi đã được xem trong đó người phóng viên tố giác Không Quân VNCH mặc dù đã Việt Nam Hóa chiến tranh, đã không chịu bay, để cho KQ HK phải lãnh những sứ mạng nguy hiểm chống lại BV.

Nói cho đúng thì chính HK không chịu để cho VNCH bay ra miền Bắc (ngoại trừ một vài phi vụ trong thời gian mở màn của các cuộc giội bom). Giới lãnh đạo HK muốn kiểm soát việc ném bom vì có thế HK mới có thể dùng nó như một công cụ để mặc cả trong bàn thương thảo.

Bởi không muốn VNCH xen vào việc ném bom, HK cố ý chuyển giao cho VNCH những trang bị không thích hợp cho các phi vụ đánh phá miền Bắc. VNCH không có phi cơ chiến đấu, vũ khí, máy bay tiếp tế nhiên liệu trên không, hoặc cả những thiết bị điện tử cần thiết cho những phi vụ ấy. Chính người Mỹ đã quyết định làm như vậy.

Người phóng viên nêu thắc mắc kể trên hoặc đã quá khờ khạo hoặc đã chọn sự tảng lờ để thực thi hành động báng bổ người đồng minh của HK. Căn cứ vào những lời lẽ vu khống cùng giọng điệu om sòm, tôi đi tới kết luận là sự thiếu kiến thức của anh ta hoàn toàn do cố ý.

Một dẫn dụ khác về tính thiên vị của giới truyền thông là vào thời điểm Khe Sanh bị bao vây. Nếu ta hỏi một ngàn người Mỹ có đơn vị tham chiến ở Khe Sanh, hầu hết ai nghe nhắc đến trận ấy hẳn đều biết TQLC Mỹ chiến đấu ở đó. Nhưng nếu có hơn một người trong số một ngàn người đó biết có một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân VNCH cũng đã san sẻ sự cam khổ ấy thì quả là điều đáng ngạc nhiên. Trong khi ấy còn có những đơn vị VNCH khác cũng dự phần vào những cuộc hành quân yểm trợ bên ngoài căn cứ đang bị vây hãm này. Báo chí Mỹ coi đồng minh của HK như không đáng để tường thuật đến trừ khi họ phạm điều gì ô nhục, vì thế những chiến sĩ chiến đấu can trường kia trở nên những người hùng vô hình tại Khe Sanh.

Sự thiên vị này, lính Mỹ lẫn giới truyền thông HK đã đồng ca rõ rệt khi tường thuật về cuộc hành quân bất ngờ vào lãnh thổ Lào năm 1972.

Thử xem lại một tài liệu truyền hình được đưa ra một thập niên trước đây. Tài liệu này bao gồm cuộc phỏng vấn một số binh sĩ Mỹ trong khi chiến trận tại Lào đang diễn ra. Những quân nhân HK này, đứng bình yên bên lãnh thổ VNCH, có những lời nhận xét cay độc, kỳ thị dành cho các binh sĩ VNCH đang chiến đấu ở bên kia biên giới. Người phóng viên truyền hình này bày tỏ rằng lính Mỹ hiểu rõ tình hình hơn các tướng lãnh của họ.

Cuộc tấn công lên đất Lào dĩ nhiên là nguồn gốc của bức hình nổi tiếng cho thấy hình ảnh một người lính VNCH đang đeo trên càng một phi cơ trực thăng để tìm cách vượt thoát. Hình ảnh này được liên tục tung ra trước công chúng Mỹ như là ‘chứng cớ cho thấy người miền Nam là đáng khinh tởm.

Quả thực đây là một thủ thuật xưa như trái đất để xuyên tạc sự thật bằng sức mạnh của hình ảnh. Những gì xảy ra bấy giờ đúng ra là như vầy: Quân Lực VNCH gặp phải lực lượng đông đảo của đối phương trong khi quân Mỹ không yểm trợ được như đã hứa vì hỏa lực phòng không của địch quá mạnh. Có nhiều báo cáo cho biết phi hành đoàn trực thăng phải đạp những két đạn đại bác xuống đầu các đơn vị VNCH từ độ cao 5,000 bộ trở lên chỉ với hy vọng quân đội VNCH sẽ nhận được. Các phi cơ này quả tình là không dám xuống thấp hơn.

Trong phạm vi vấn đề này, thử xem nhận xét của một sĩ quan HK, Ðại Tá Robert Molinelli, người đã mục kích tận mắt, được đăng tải trong Armed Forces Journal (Tập San Quân Ðội) số ngày 19 Tháng Tư, 1971 như sau: “Một tiểu đoàn VNCH gồm 420 người bị bao vây bởi một trung đoàn đối phương đông đến từ 2,500 đến 3,300 quân trong suốt ba ngày ròng. Phía HK không thể nào tăng viện cho đơn vị này. Họ phải chiến đấu đến gần cạn kiệt hết đạn dược mới bắt đầu phá vòng vây với vũ khí và đạn dược thu được của địch quân. Ðơn vị này còn mang theo những đồng đội bị thương cũng như đã chết. Hình ảnh phi cơ trinh sát chụp được cho thấy rải rác chung quanh đơn vị này là xác của 637 quân địch.

Ðơn vị này chỉ còn 253 người trong tình trạng khả thi chiến đấu khi họ chạy đến được một đơn vị VNCH khác. Một số ít trong số 17 kẻ hoảng sợ đã bám càng trực thăng để thoát thân. Số còn lại, tất cả đều không.”

Giờ đây, chắc có người cho rằng đeo càng trực thăng để thoát cho nhanh, dù rằng dễ làm mồi cho hỏa lực phòng không mà phi cơ lại bay cao và nhanh. Nhưng ngoài chuyện ấy ra, một trường hợp cá biệt, việc lui binh trong khi đang giao chiến ác liệt (một chiến thuật khó khăn nhất trong binh pháp) lại bị phóng đại thành một lời buộc tội cho cả một quân đội, một quốc gia và tệ hơn nữa cả một dân tộc?

Câu trả lời rằng đó là do chính lòng kỳ thị chủng tộc. Vì lẽ những người bám càng trực thăng là người ngoại chủng. Thử hỏi kẻ đó là người Mỹ hay người Anh thì sao, cam đoan không sai rằng ta sẽ cảm thông cho là người đó đang phải chịu hoàn cảnh nghiệt ngã.

Minh chứng cho điều này có thể thấy người Mỹ đã phản ứng như thế nào đối với lính Anh trước cuộc triệt thoái của họ hồi thời gian đầu Thế Chiến Thứ Hai.

Nơi đây cũng có những hình ảnh tủi hổ xảy đến cho lính Anh ở Dunkirk cũng như tại một số nơi khác. Ở Dunkirk một hạ sĩ quan để tái lập trật tự phải chĩa súng đại liên vào đồng ngũ của mình đang hốt hoảng trèo lên tàu. Trên một tàu khác, các binh sĩ dùng báng súng dộng liên hồi vào người một sĩ quan để ngăn không cho ông này leo lên tàu qua ngỏ tháp súng. Tại đảo Crete, một lữ đoàn quân Tân Tây Lan đã tạo một vòng đai an toàn với lưỡi lê chĩa ra ngoài ngăn không cho các quân Anh đang hoảng loạn tràn ngập lên được tàu mình.

Tuy thế, hình ảnh nước Anh đơn độc chống lại Hitler năm 1940 lại là một hình ảnh hào hùng. Ðiều này được minh chứng bởi sự kiện hoàn toàn hiển nhiên, ngay cả những biến cố đơn lẻ như vừa nêu bật ở trên vẫn không làm lu mờ được cái hình ảnh toàn cảnh về đức tính can trường và xả thân cứu nước của dân tộc này.

Quả thật, quân đội VNCH đã tỏ ra xuất sắc vào những ngày cuối cùng của miền Nam qua sự bảo vệ Xuân Lộc vô cùng anh dũng.

Tuy rằng có nhiều lý do như vậy. Thảng hoặc có nhiều lý do để tin rằng, nếu có sự ủng hộ trung thành của phía người Mỹ ắt quân đội VNCH sẽ chứng tỏ cho thế giới thấy thêm nhiều Xuân Lộc khác nữa, và có lẽ họ cũng đã cứu được đất nước họ không bị mất.

Vấn đề được nêu ra không phải là khả năng chiến đấu của quân đội VNCH như thế nào, nhưng mà xét xem người Mỹ sẽ hành xử ra sao nếu tình huống tương tự xảy đến với họ.

Sự thật là quân Mỹ nếu bị HK bỏ rơi như chính VNCH đã phải chịu, có lẽ họ cũng sẽ không khá chi hơn.

Hãy nhớ rằng: năm 1974, Hoa Kỳ đã cắt viện trợ cho VNCH một cách thê thảm một vài tháng trước, khi đối phương mở cuộc tấn công sau cùng. Kết quả của sự cắt viện trợ là chỉ một ít nhiên liệu và đạn dược gửi sang cho miền Nam. Các phương tiện để vận chuyển cả trên không lẫn trên bộ đều phải bị bỏ xó vì không có cơ phận thay thế. Quân lính VNCH đi hành quân không có bình điện để liên lạc vô tuyến, y tá trên chiến trường không có đủ y dược cụ căn bản. Trong những ngày tháng sau cùng của cuộc chiến, quân đội VNCH phải chiến đấu thắt lưng buộc bụng, họ được phép bắn ba viên mỗi ngày, tiêu chuẩn này áp dụng cho cả súng trường lẫn đại bác.

Tình trạng tồi tệ đến nỗi ngay chính Văn Tiến Dũng, người chiếm được miền Nam cũng chấp nhận sự thật là khả năng lưu động và hỏa lực của đối thủ của mình chỉ còn phân nửa trước đây. Vậy thì ngoài sự thiếu thốn vật chất này ra, sự chiến đấu kiểu nhà nghèo này cũng tác động lớn lên tinh thần chiến đấu của người lính VNCH.

Quân BV với trang bị đầy ắp, với những chiến xa tối tân, với những xe cơ giới chở quân hiện đại, họ đã đánh thẳng vào miền Nam suy sụp này bằng cuộc tấn công phủ đầu.

Đúng, quân đội VNCH đã gác lại, đã vứt bỏ chiến cụ (không vứt cũng coi như vứt vì có cơ phận đâu mà thay), cả đạn dược cũng bị bỏ lại (số lượng mà họ đã chắt chiu dành dụm được, mang theo đến phút cuối cho tới lúc biết là đã quá muộn màng rồi không có cơ hội để bắn hay mang theo được nữa, họ thừa biết họ sẽ không bao giờ có thêm để mà bắn). Vậy thì lỗi nơi ai? Họ hay người Mỹ?

Đúng, quân đội VNCH đã triệt thoái khỏi các tỉnh phía Bắc một cách vụng về và khá muộn màng, đưa đến tình trạng hỗn loạn và suy sụp. Nhưng làm thế nào chính quyền miền Nam có thể bỏ mặc dân chúng sớm hơn được, trước khi áp lực địch quá lớn buộc họ phải làm thế?

Ðã có lúc, VNCH hy vọng B-52 trở lại để giúp họ chặn bớt làn sóng xâm lăng của Cộng Sản. Khi biết rằng điều ấy sẽ không xảy đến, tinh thần chiến đấu của họ bị suy sụp cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

Không còn nhuệ khí chiến đấu, nhiều binh sĩ quay ra đào ngũ – làm thế không phải vì họ hèn nhát hay không có tinh thần hy sinh để bảo vệ đất nước mình, nhưng vì họ không muốn xả thân cho một sự nghiệp biết chắc là đang trên đà phá sản trong khi gia đình họ đang khẩn thiết cần đến mình.

Quân Mỹ liệu sẽ làm gì khá hơn được, nếu cũng lâm vào tình huống như VNCH hồi 1975? Liệu quân Mỹ có chiến đấu ngon lành với quân xa, truyền tin đều hỏng, hệ thống quân y què quặt, thiếu thốn nhiên liệu và đạn dược, và không yểm thì nhỏ giọt hoặc hầu như không có. Với một tình trạng bết bát như thế mà phải đối đầu với một kẻ địch có quyết tâm cao, hùng mạnh, trang bị tối tân, sung mãn. Tôi e là không thắng nổi.

Liệu VNCH có thắng được trận 1975 nếu chính phủ Mỹ vẫn giữ vững sự cam kết, và tiếp tục chi viện cho VNCH không kém với chi viện mà khối CS dành cho miền Bắc?

Câu trả lời là không biết được. Ít ra họ có một cơ hội để đọ sức, cái cơ may mà người Mỹ phản trắc đã tước mất của họ. Hiển nhiên là họ có thể chiến đấu hữu hiệu hơn. Cho dù họ có bại trận họ cũng ngã gục một cách hào hùng trong một trận đánh lưu danh muôn thuở cho hậu duệ, để tiếp tục chiến đấu dưới hình thức du kích chiến rập khuôn theo kiểu Afghanistan.

Cho dù VNCH có đại bại, sự ủng hộ hết mình của Hoa Kỳ ít ra cũng khiến họ có thể nhún vai mà nói rằng dù sao họ cũng đã giúp đỡ hết mình rồi. Ðằng này người Mỹ chưa có hết mình giúp đỡ. Những kẻ nào muốn trốn tránh sự thật ấy bằng cách quay ra báng bổ VNCH và quân đội ấy là không phải lẽ.

Trước một tội ác tày trời bỏ mặc cho nhân dân miền Nam rơi vào tay CS, người Mỹ sau này quay ra đi làm điều tốt kể ra đã quá muộn màng.

Nhưng nếu biết nhìn lại và công nhận mình đã sai lầm, khi sỉ nhục lương tâm của quân dân VNCH ấy, thì chưa có muộn đâu. Cũng chưa muộn màng gì, nếu ta biết khởi đầu vinh danh đúng mức những thành tích họ đã đạt được, cùng những hành động hào hùng mà họ đã tạo nên, để bảo vệ cho lý tưởng tự do.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Còn Nhiều Vụ Thiên An Môn Nữa
Tác giả : Vi Anh
Chỉ non một tuần lễ sau khi xảy ra vụ tấn công cảm tử tại Thiên An Môn, biểu tượng quyền lực của Đảng Nhà Nước TC, lại đến vụ tấn công cảm tử trước Tỉnh Uỷ của tỉnh Sơn Tây của Trung Cộng. Dù Đảng Nhà Nước TC mở cả một chiến dịch toàn quốc một mặt bưng bít công luận và mặt khác truy tầm, bắt bớ hàng trăm người, nhưng không ai tin là Đảng Nhà Nước TC nói chung, công an, cảnh sát chìm nổi mật vụ, tình báo của nhà nước và an ninh nội chính của Đảng CS ở Trung Quốc có thể chận đứng được phong trào người dân dùng hình thức tấn công cảm tử chống lại Đảng Nhà Nước CS đã áp bức bóc lột người dân lao động, kỳ thị chủng tộc đối với những sắc tộc thiểu số như Duy Ngô Nhĩ, Tây Tạng, và cướp quyền làm người, làm chủ đất nước của các quốc gia dân tộc Trung Hoa, Turkestan, Tây Tạng. Trái lại các cuộc tấn công cảm tử sẽ tiếp tục, sẽ tăng cường độ, nhịp độ, dưới nhiều hình thái, tại nhiều nơi hiểm yếu và nhậy cảm của Đảng Nhà Nước. Đảng Nhà Nước CS dù có ba đầu sáu tay cũng không dẹp được vì đây là một cuộc chiến tranh của người dân chống lại chế độ độc tài đảng trị toàn diện. Đảng Nhà Nước càng trấn áp thì người dân nổi dậy càng mạnh, càng nhiều, càng đông, càng đa dạng hơn theo qui luật đấu tranh của xã hội mà chính Ông Tổ của CS là Karl Marx đã nói “sức ép càng nhiều, sức bật càng cao”.

Phương chi so tình hình hiện tại giữa dân chúng bị trị và Đảng CS thống trị, ở hai chế dộ CS lớn còn sót lại ở Á châu là Cộng sản Trung Quốc và Cộng sản VN, xin gọi tắt là Trung Cộng, TC và Việt Cộng, VC, chưa bao giờ Đảng CS mất lý chánh đáng cầm quyền, bị dân chúng chống đối như bây giờ, chống đối nhiều, mạnh, khắp xã hội hơn --hơn trước khi các chế độ CS Đông Âu, Liên sô bị nhân dân đứng lên lật đổ - nhiều.

Bây giờ dân chúng không còn sợ CS nữa. CS không còn có thể sử dụng kỹ thuật tuyên truyền dối trá và dùng khủng bố để củng cố tuyên truyền đối với nhân dân nữa. Khoa học, kỹ thuật thông tin đại chúng đã giúp cho người dân biết sự thật trắng trợn của CS.

Bây giờ người dân biết cái yếu của CS. CS không có bách chiến, bách thắng, không có thành đồng vách sắt, bất khả xâm phạm như CS tuyên truyền nữa. Nhứt là trong thời đại chiến tranh bất cân xứng, người yếu, tổ chức nhỏ, thiếu phương tiện có thể đạt mục tiêu chánh trị bằng một cuộc tấn công ít tốn kém, mà tạo chấn động lớn.

Người dân, các tổ chức đấu tranh, các sắc tộc thiểu số không một tấc sắt trong tay có thể tranh đấu, chiến đấu cho lý tưởng, cho chánh nghĩa của mình, chống đối, đấu tranh, chiến đấu với nhà cầm quyền toàn trị, dưới và bằng nhiều hình thức. Hình thức bất hợp pháp: đánh du kích, đánh bom tự chế, đánh cảm tử cá nhân, bắt cán bộ, đảng viên, viên chức công quyền làm con tin, ám sát. Hình thức hợp pháp trên danh nghĩa của hiến pháp và các công ước quyền con người và quyền chánh tri của Con Người mà CS đã ký: biểu tình, lãng công đông người, khiếu kiện tập thể, tố giác tham nhũng, áp bức bóc lột, chống ô nhiểm môi sinh.

Bây giờ người dân đang chuẩn bị cho một phong trào nhân dân chống nhà cầm quyền tiến dần đến cách mạng lật đổ chế độ độc tài đảng trị CS. Đang đánh động lương tâm đồng bào bằng những cuộc tấn công cảm tử và những cuộc biểu tình, là bước đầu của tiến trình tri hành để rồi hành sẽ hợp nhứt trong cuộc cách mạng.

Mục đích cuộc tấn công cảm tử là chứng minh cho đồng bào và thế giới thấy CS không bất khả xâm phạm. Thiên An Môn là biểu tượng quyền lực của cả Đảng Nhà Nước TC, công an nổi chìm canh phòng, tuần rỏn đông như rươi vẫn bi tấn công, người dân vẫn làm được. CS tốn hàng ngàn công an mật vu, đảng viên, hàng triệu Đô la để truy tầm, trong khi đó người dân chỉ tốn một xe jeep và ba người trong gia đình để chứng minh CS có rất nhiều sơ hở, không bất khả xâm phạm ngay tại nơi được bảo vệ chặt chẽ nhứt.

Như ở Việt Nam Anh Đặng Ngọc Viết vào ban ngày ban mặt, ngay giờ làm việc đi vào Uỷ Ban Tỉnh, vô phòng công tác cưỡng chế đất đai bắn chết tại chỗ một phó phòng, làm bị thương một phó phòng khác và mấy cán bộ, rồi đi ra về xóm mình, vào chùa tín hữu cho ăn chén cơm chay, đến trước Phật Đài tịnh niệm xong ra gần ao tự sát. Công an vì lo sợ như bây giờ ớ VN công an và cảnh sát khu vực ở dâu cũng có nhưng hữu sự gọi họ, họ sợ nguy hiểm, làm bộ chần chờ để kẻ thủ ác đi rồi họ mới tới.

Coi vậy chớ CS bây giờ bị tách rời khỏi nhân dân, bị cô lập, cô độc lắm. CS đã hoàn toàn không con lợi dụng được liên minh công nông nữa như thời kháng chiến tuyên truyền chiến đấu giải phóng người dân và độc lập cho đất nước. Trái lại bây giờ tầng lớp công nhân và nông dân là những người dân người thì âm thầm, kẻ thì công khai- kể cả gia đình cách mạng chống Cộng đông và dãn nhứt, vì CS đã biến ho thành lao nô và dân oan với chính sách “kềm giá lương tiền” để hàng hoá sản xuất rẻ dễ cạnh tranh “xuất khẩu” và qui hoạch đất dai của dân bồi thường rẻ mạt dể lấy “mặt bằng” làm vôn hùn hạp bán cho những nhà đầu tư ngoại quốc, giá trăm lần cao hơn tiển bối thường cho dân. Số nông dân ra thành làm công nhân, không có hộ khẩu bi thiệt thòi, quịt tiền đem bất mãn về nông thôn rất nhiều.

Bây giờ trước phong trào dân chúng khắp nước chống Đảng Nhà Nước CS, chánh quyến và nhân dân cũng như các tổ chức quốc tế lên án CS chà đạp nhân quyền, một tâm lý tự tin đang phổ biến trong dân chúng VN: người ta làm được mình làm được. Không thể có bút mực nào đủ để ghi nhận những chống đối của người dân đối với cán bộ, đảng viên CS và công nhân viên CS, đối với Đảng Nhà Nước CS đang thống trị VN. Từ một học sinh trong trường đến một bạn hàng rong ngoài đường đến người dân có chuyện vào cơ quan của Đảng Nhà Nước, nơi nào dân chúng cũng chống CS, chống đủ thứ, từ “bằng mặt không bằng lòng”, từ hành động đến lời nói, chống CS như chống tổ chức tội phạm có tổ chức Mafia.

CS cán bộ, đảng viên chỉ có 3 đến 4% so với tổng số dân của hai nước VN và TQ. Đế quốc CS trước đây trải rộng nhiều nước bây giờ loe hoe chỉ còn vài nước. Chủ Nghĩa CS đã thất bại và đổi màu, xanh vỏ đỏ lòng. Cán bộ Đảng viên mất tính chiến đấu sa vào tâm lý suy bì, tị hềm, kỳ thị địa phương, lãnh đạo đấu đá nhau như bầm bầu. Hỏi làm sao cán bộ đảng viên CS không thất chí, thủ thân, thu vén cuối đời như lời của TT Võ văn Kiệt.

Trong khi đó hình thái chiến tranh nay đã thay đổi, chiến tranh bất cân xứng, chiến đấu du kích, chiến tranh khủng bố làm tiêu hao thế lực địch. Một quân cảm tử chết thì nhà cầm quyền tốn kém gấp mười, nhân dân xa lánh nhà cầm quyền càng xa hơn để tránh tai bay vạ gió.

Quân cảm tử vô hình vô tướng trong quần chúng nhân dân, nhà cầm quyền phải tốn tiền của, công an, mật vụ rất nhiều. Ngân sách nội an của chế độ TC và VC thường lớn hơn ngân sách quốc phòng. Trong khi quân khủng bố tốn rất ít.

Chánh nghĩa của quân cảm tử thường là tình nghĩa với quốc gia dân tộc bị áp chế, của tôn giáo bị kỳ thị. Nhà cầm quyền độc tài CS thường chụp mũ cuộc dấu tranh của người dân là khủng bố. Nhưng người dân thường khen đó là tử vì đạo, vì dân chiến đấu, vì nước hy sinh. Hầu hết những cuộc chiến tranh ý thức hệ như thế, khó mà diệt bằng công lực, bằng vũ khí. Trái lại về lâu về dài, nhà cầm quyền suy tàn và sụp đổ như Ky tô giáo phát triễn trên tro tàn của Đế Quốc La Mã./. (Vi Anh)

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

Chúng ta đang sống trong thời đại nào?
Nguyên Anh
(Danlambao) - Thế kỷ 21 là một kỷ nguyên toàn cầu, với sự phát minh ra internet trái đất đã không còn hình tròn mà đã là một đường thẳng kết nối những ý nghĩ của mọi người. Thế giới không còn biên giới với các vùng lãnh thổ quốc gia khác và để mặc cho nhà cầm quyền độc tài tiếp tục chính sách bưng bít thông tin bằng bức màn sắt ở thế kỷ 20 - nay đã bị xuyên thủng tan nát. Những luận điệu tuyên truyền một chiều chỉ còn sót lại trên miệng những người thân cộng hoặc các dư luận viên sống nhờ nói láo, lấy dối trá làm phương tiện dù trong thâm tâm thực sự họ cũng không tin đó là sự thật vì thực tế đã chứng minh điều đó hàng ngày trong cuộc sống...

Những thực tế đó cho thấy dưới sự cai trị sắt máu của đảng CS dân tộc Việt Nam tiếp tục sống như một loài động vật dật dờ không còn sinh khí khi ban tuyên láo ra rả hàng ngày:

- Mọi việc đã có đảng và nhà nước lo! Đảng ơi, đảng thật là vĩ đại quá đấy...

Về quốc phòng dưới sự điều hành hèn nhát của đảng, các chiến sỹ trong mọi binh chủng chỉ có một nhiệm vụ tối quan trọng:

Đàn áp người dân dưới các mệnh đề phòng chống bạo loạn, khủng bố, phản động nhưng thật ra là chiếm đoạt đất đai, tước đoạt quyền tư hữu hợp pháp của người dân. Những ý kiến phản biện, tranh đấu cho một nước Việt Nam Dân chủ Đa nguyên đã bị đảng bóp nghẹt thẳng tay. Ngoài ra cái sự hèn hạ của đảng còn lây lan qua đội ngũ tướng lĩnh chỉ huy quỵ lụy van xin cái lòng hữu hảo thương hại của bọn bạn vàng khốn nạn, qua những thế lực đã giúp đảng thôn tính Việt Nam. Một số khác lôi thôi lếch thếch nói nhăng nói cuội như tướng Nguyễn Chí Vịnh hết đi chỗ này đến đi chỗ khác cầu mong tìm kiếm được một sự hậu thuẫn của các quốc gia văn minh hùng mạnh, nhưng tiếc thay cái chủ nghĩa CS ngày nay trên thế giới ai cũng biết khuôn mặt thật bạo tàn cho nên không ai dại gì giúp cho một tên độc tài vũ khí, phương tiện để đàn áp ngay chính người dân của mình!

Chỉ còn có cách đi mua và cái giá đã được đội lên nhằm tư lợi các viên chức có thẩm quyền với các hạm đội tàu ngầm lạc hậu so với thế giới, máy bay thì cũng chỉ thuộc loại xoàng xoàng đánh đâu thua đấy!

Về kinh tế thì chỉ có những cái đầu nói láo như vẹm mới có cái phát minh ra một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, một cách nói láo không biết ngượng mồm bằng ngụy từ nhằm biện minh cho con đường đi theo tư bản chủ nghĩa của chế độ CS, kết tinh đó là các tập đoàn, quả đấm thép đã tan chảy vào không khí chỉ còn lại những cái xác không hồn và số nợ không tưởng!

Đội ngũ doanh nhân ngoài quốc doanh chịu không nổi các sắc thuế hút máu của đảng mạnh ai nấy dẹp, chỉ còn lại các công ty với danh xưng vang như sấm nhưng thực chất chỉ là cho vay cắt cổ, bán hóa đơn ăn lời thuế VAT, lừa đảo, móc ngoặc, tham nhũng, đảng cứ thử nhìn các công ty của mình điều hành theo công thức cha truyền con nối cho đến các dự án có cái nào không có hoa hồng? thậm chí muốn mua hàng đảng hóa giá sau khác vụ án cũng phải biết làm hai giá điều đó chứng tỏ cho toàn dân được thấy cái mệnh đề sống, học tập làm theo tấm gương đạo đức HCM trong tầng lớp cán bộ đảng viên đã băng hoại đến như thế nào.

Chỉ còn những mặt hàng thiết yếu đảng độc quyền như xăng dầu, điện nước, phân bón, hóa chất, thuốc men là còn mãi lực nhưng đảng lại quá điếm đàng khi bán cho người dân với cái giá thắt cổ hòng đem lại lợi nhuận cao nuôi sống băng đảng của mình, có cái đảng cầm quyền quốc gia nào hành xử với dân như đảng?

Về xã hội càng buồn hơn khi dưới sự dẫn dắt của cái đảng tự hào quang vinh đạo đức người dân đã xuống cấp nghiêm trọng!

Những con người chạy ngược chạy xuôi trên các nẻo đường hàng ngày chỉ mong mỏi một điều duy nhất:

Tiền!

Trong đầu họ chỉ mong có tiền, để có bữa cơm chén cháo đạm bạc cho gia đình, tiền học cho con, tiền đi khám bệnh, tiền để đóng mọi thứ tiền tháng mà đảng đòi và họ dần trở nên chai sạn trước đồng loại, cứ nhìn những vụ việc trên báo chí loan tin hàng ngày, một kẻ bị nạn trên đường mọi người xúm vô đen nghẹt, nhưng không phải họ xúm vô vì muốn giúp đỡ mà là hôi của, lượm tiền, ăn cắp công khai trước mặt nạn nhân hoặc tồi tàn hơn các thanh niên trộm chó bị đánh đến chết đã cho thấy đảng đã không còn tính người trong việc điều hành quốc gia, đảng chỉ mong muốn đem đến một điều duy nhất cho người dân:

Đói!

Chỉ có đói họ mới bôn ba kiếm tiền mà lãng quên các bất cập trong cuộc sống, làm ngơ trước tầng lớp quan tham tư bản đỏ dòi bọ và nhủ thầm đó là do số phận.

Số phận con người khi sinh ra đời ai cũng như ai đảng ạ, nhưng chỉ vì nhờ có đảng gồm những tên xuất thân từ tầng lớp thất học dẫn dắt nên chúng ta mới có một xã hội như ngày hôm nay.

Đảng sẽ lại lý luận cùn là nước ta còn nghèo, dân tộc ta mới chấm dứt chiến tranh có... 38 năm cho nên còn nhiều khó khăn để tiếp tục lừa mị toàn dân tộc sự trị vì của mình và lại tiếp tục con đường nhồi sọ thế hệ trẻ trong nước về những vinh quang giả tạo, những anh hùng ma mị, những đường lối chính sách xây nhà tình nghĩa cho những kẻ theo đảng năm xưa, điện đường trường trạm đảng chỉ show mặt trái còn mặt thật thì đảng dấu biệt cái sự thật là đảng phải có trách nhiệm làm việc đó như chính phủ các quốc gia khác.

Những gì đảng làm được ít thì nhưng nhờ có cái ban tuyên láo bốc phét lên thì nhiều còn đến khi sự cố nghiêm trọng xảy ra như thủy điện, tai biến ngành y thì các quan nhà đảng trốn biệt hoặc đưa cái mặt lên cơ quan truyền thông ba hoa chích chòe theo cái cách lý luận bại não của mình, mạng người vô tội của Việt Nam rẻ rúng đến thế sao đảng?

Ở thế kỷ này cho dù đảng có bưng bít cũng vô ích thôi vì thời gian để đảng chứng minh đã hết, cứ nhìn các trẻ em vùng sâu vùng xa thiếu đói, thiếu chữ, thiếu tất cả những gì mà loài người được hưởng thì ai cũng biết cái uy tín của đảng đã tuột dốc không phanh...

Đừng nhìn các quốc gia khác mà mắc cỡ đảng ạ!

Cứ nhìn miền Nam trước năm 1975 chưa có sự giải phóng của đảng trên các góc cạnh dân trí, dân sinh an sinh xã hội thì người dân hôm nay đã thụt lùi so với thời điểm đó hàng thế kỷ, các giá trị nhân văn đã mai một, đạo đức không còn hiện diện trong đời sống Việt Nam thì tình đồng loại nghĩa đồng bào ở đâu mà ra?

Lấy đâu mà người với người không sẵn sàng giết nhau chỉ vì những lý do vụn vặt đời thường?

Đảng không đồng thuận với bài viết ư?

Cứ đưa bàn tay mình lên mà nhìn xem, từ người cao nhất cho đến kẻ thấp nhất xem có ai sạch không?

Tiếc thay tay người nào người nấy đều trót nhúng chàm hết rồi nhưng đảng vẫn đeo cái khuôn mặt mo vào leo lên thuyết giảng về chế độ ưu việt, quang vinh và như các loài thú hoang dã đảng tỉa tót bộ cánh của mình thật sạch sẽ bước vào ánh đèn chói lòa mà đảng nghĩ là ánh hào quang của mình tươi tỉnh ngồi nghe lại những nhạc phẩm xa xưa, sản phẩm của một nền văn hóa một thời được đảng cho là đồi trụy phản động cần phải tiêu diệt loại trừ và tấm tắc khen hay...

Quá tồi đảng nhỉ?

Đi chết đi đảng, sống làm gì cho chật đất và bẩn mắt người dân!

Nguyên Anh

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Xung đột Hồi Giáo Sunni-Shia đe dọa hòa bình thế giới
Hà Tường Cát


Tranh chấp giữa hai phái Hồi Giáo Sunni và Shia (hay Shi’ite khi nói về người) hiện nay trở thành mối đe dọa lớn nhất cho hòa bình thế giới,
vì không chỉ giới hạn trong vấn đề tín ngưỡng mà còn được thúc đẩy bởi những yếu tố chính trị và lôi cuốn vào đó
tất cả các dân tộc và quốc gia Trung Đông.

Image
Một ông đạo Hồi Giáo Shia đi ngang tòa nhà bị tấn công bằng lối đánh bom tự sát làm 23 người chết,
150 người bị thương, ở Beirut, thủ đô Lebanon, hôm Thứ Tư. (Hình: Anwar Amro/AFP/Getty Images)


Lý tưởng dân chủ tự do không phải là động lực căn bản trong những biến chuyển tại các quốc gia Trung Đông như người ta có thể lầm hiểu, vì trong lịch sử lâu dài tình hình khu vực này vẫn luôn luôn chịu sự chi phối từ nhiều nguồn gốc phức tạp khác.

Hai biến cố mới xảy ra trong tuần này: vụ bạo động ở Rawalpildi, Pakistan, và vụ nổ bom tấn công vào tòa đại sứ Iran ở Beirut, Lebanon, chứng minh tính cách trầm trọng của tình thế ấy.

Sự đối đầu giữa Saudi Arabia theo Hồi Giáo Sunni và Iran theo Hồi Giáo Shia là một yếu tố chính trong cuộc nội chiến ở Syria và lôi cuốn sự can dự của các lực lượng khác từ Lebanon, Iraq cho tới al-Qaeda. Trong khi đó thì Pakistan và Afghanistan là một mặt khác của cuộc xung đột, cuộc chiến tranh “ủy nhiệm”.

Sự phân giáo trong đạo Hồi bắt đầu từ năm 632 khi Thiên Sứ Muhammad (hay Mahomet) qua đời. Tranh chấp nổi lên ngay sau đó do vấn đề ai sẽ là người kế tục đấng Tiên Tri để lãnh đạo. Abu Bakr, ông bố của Aisha – người vợ cuối cùng của Muhammad – được bầu làm caliph (nhà lãnh đạo tôn giáo) đầu tiên. Nhưng Fatimah, con gái bà vợ thứ nhất của Muhammad, cho rằng chồng mình, Ali Ibn Abi Talib, mới là người chính danh ở vị trí ấy, vì Ali vừa là em họ vừa là con rể và bố các đứa cháu của Muhammad. Nội chiến trong đạo Hồi đã xảy ra giữa nhiều phe phái và tiếp tục cho đến sau khi Ali bị ám sát năm 661.

Ngưới con thứ của Ali, Hussein bin Ali, nghĩa là cháu ngoại của Thiên Sứ Muhammad, được những người theo Ali tôn lên làm lãnh đạo. phe Shia, tới năm 680 bị phe phái Sunni phục kích giết chết trong trận chiến Karbala tại Iraq ngày nay và chặt đầu đưa về để một tháng tại Damascus, Syria. Phái Shia coi Hussein là thánh tử đạo và cho đến nay hàng năm vẫn tổ chức ngày lễ tưởng niệm thiêng liêng này, gọi tên là hội Ashura.. Trận Karbala được coi như dấu mốc phân chia giữa hai phái Hồi Giáo Sunni và Shia.

Giáo phái Sunni chiếm đa số trong dân Hồi Giáo, trên dưới 80%, ở hầu hết các nước Hồi Giáo bao gồm Trung Đông, Bắc Phi và Nam Á như Indonesia, Malaysia, Pakistan. Dân Hồi Giáo Shia chiếm khoảng từ 10% đến 20%, nhiều nhất ở Iran, khoảng 70 triệu (90-95% dân số); Iraq 20 triệu (65-70%), cùng nhiều quốc gia khác nhưng đáng chú ý là Syria 4 triệu (15% dân số) và Lebanon 1.5 triệu (35% dân số) – hai quốc gia đang là trung tâm của sự xung đột đề cập tới trong bài viết này.

Cuộc tranh chấp giáo lý giữa hai phái Hồi Giáo với lịch sử đẫm máu từ 1400 năm vẫn cón tiếp tục đến nay và tăng cường trong bối cảnh xung đột chính trị nội bộ một quốc gia hay giữa các quốc gia. Tại những nước mà người Shi’ites không nắm được quyền cai trị, họ thường bị đàn áp. Đó là trường hợp khi Saddam Hussein cầm quyền ở Iraq. Cuộc chiến tranh Iran – Iraq (1980-1988) ngoài những nguyên nhân khác, là cuộc xung đột giữa Hồi Giáo Sunni ở Iraq và Shia ở Iran.

Nhưng ngược lại khi người Hồi Giáo Shia nắm quyền lực thì dân Hồi Giáo Sunni lại phải chịu sự trấn áp bất công. Tổng Thống Bashar al-Assad là người Hồi Giáo Alawite, một phân chi nhỏ chỉ chiếm 12% trong Shia tức là khoảng 12% dân số Syria. Khi dân chúng nổi dậy, Iran là nước đứng về phía chính quyền của Tổng Thống al-Assad. Ngược lại Saudi Arabia cùng các nước Hồi Giáo Sunni vùng Vịnh trợ giúp tài chính và vũ khí cho phe nổi dậy. Thêm nữa Hồi Giáo Sunni ở Iraq và cả al-Qaeda cũng tham gia cuộc nội chiến chống chính quyền Syria.

Hồi Giáo Shia chỉ chiếm 35% dân Lebanon và là thành phần bị trị. Hoàn cảnh xã hội ấy tạo điều kiện cho nhóm thiểu số quá khích Hezbollah phát triển và trở thánh một tổ chức khủng bố có lực lượng đáng kể nhận sự trợ giúp của Iran. Nhóm này cũng can dự vào nội chiến Syria đứng về phía chính quyền trong khi dân Hồi Giáo Sunni ở Lebanon ủng hộ phe nổi dậy. Xung khắc giữa các phe ở Lebanon có lẽ là lý do đưa tới sự bất bình thể hiện qua vụ nổ bom tự sát đánh vào tòa đại sứ Iran ở Beirut mới đây. Một nhóm có liên hệ với al-Quada nhận đã gây ra vụ này, làm ít nhất 23 người chết trong số có một tùy viên ngoại giao Iran.

Cũng nên lưu ý rằng chỉ trước vụ nổ bom ở Beirut, Ngoại Trưởng Iran Javad Zarif trong một cuộc phỏng vấn, đã nhìn nhận rằng xung đột Hồi Giáo Sunni-Shia là mối đe dọa cho hòa bình thế giới. Không chỉ trong cuộc nội chiến Syria, xung đột giữa hai giáo phái ở Iraq đã làm hơn 6,000 người thiệt mạng trong năm 2013. Tại Pakistan, hành động bạo lực chóng Shia cũng đã gia tăng đáng kể. Tại Ai Cập, chính quyền quân sự đàn áp đẫm máu Muslim Brotherhood, tổ chức Hồi Giáo thân Iran.

Tất cả những sự kiện ấy cho thấy tính cách phức tạp của tình hình Trung Đông. Riêng trong cuộc nội chiến Syria, người ta thấy có sự tham gia của những tổ chức khủng bố Hồi Giáo vào cả hai phía. Nếu Nga đã biện hộ cho hành động bênh vực chính quyền al-Assad và không muốn can thiệp vào cuộc nội chiến với lý do không thể trợ lực khủng bố thì lập luận ấy cũng không phải là sai. Robert Fisk, ký giả thướng trú của tờ báo Anh The Independent ở Trung Đông, đưa ra lời cảnh cáo các nhà lãnh đạo Tây Phương là phải lưu ý tới khía cạnh cực đoan quá khích trong cuộc nội chiến đó. Ông cũng nhắc nhở rằng không thể hy vọng là xung khắc từ 1400 năm trong nội bộ Hồi Giáo, ngày nay có thể dàn xếp trong một sớm một chiều.

Nhưng như đã từng thấy xảy ra nhiều lần qua lịch sử, tình thế phức tạp ấy có thể làm nảy sinh ra những chuyện trớ trêu, chẳng hạn như hai nước thù nghịch có thể một lúc nào đó trở thành đồng minh, và ngược lại. Chẳng hạn Israel với Saudi Arabia và các vương quốc Hồi Giáo vùng Vịnh dường như đang càng ngày càng tìm thấy ở nhau những điểm chung. Họ đều nhìn thấy Iran là một mối đe dọa chung cho toàn khu vực và ít nhiều không tán thành đường lối tiếp cận cởi mở dùng ngoại giao của Hoa Kỳ đối với vấn đề quốc gia Hồi Giáo này phát triển nguyên tử. Ngạn ngữ “kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta” có thể đang được thể hiện trong trường hợp này.

Sau vụ đánh bom khủng bố ở Beirut, bộ ngoại giao Iran nói là có sự tiếp tay của tình báo Israel. Còn Syria và Hezbollah thì hướng sự nghi ngờ về Saudi Arabia, vương quốc cùng với Qatar là hai nước yểm trợ mạnh mẽ nhất cho quân nổi dậy ở Syria. Thông tấn xã chính thức của vương quốc, Saudi Press Agency, đưa ra một tuyên cáo cực lực bác bỏ một tin tức loan tải trên tờ Sunday Times ở London rằng Israel và Saudi Arabia đang hợp tác chuẩn bị một cuộc tấn công quân sự vào Iran nếu giải pháp ngoại giao thất bại trong việc buộc Iran cắt giảm chương trình phát triển vũ khí nguyên tử.

Cả hai phái Hồi Giáo đều chống Israel, mặc dầu Hồi Giáo Shia không coi Jerusalem là thánh địa, có nghĩa là sự chống đối có thể ít mạnh mẽ hơn. Nhưng trong thế chính trị hiện đại, hai phái đều muốn đoạt danh nghĩa chính thống về tôn giáo và muốn là những thành phần thánh chiến kiên quyết chống Do Thái, cho nên Israel không thể đặt hy vọng về hòa bình với bất cứ phái nào trong khi xung đột giữa họ vẫn là một thực tế khác. (HC)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tại sao cộng sản không thể tự thay đổi
Ngô Nhân Dụng
Bài trước trong mục này đã trích dẫn nhiều câu của ông Bùi Quang Vinh, nói với các đại biểu Quốc hội. Ông bộ trưởng bộ Kế hoạch và Ðầu tư nói thẳng rằng số đầu tư đang xuống thê thảm. Ông Bùi Quang Vinh công nhận: Phải thay đổi thể chế tất cả nền kinh tế, thay đổi triệt để.

Ông Bùi Quang Vinh nói, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: “Nhưng bây giờ rạch ròi ra, thị trường là thế nào và định hướng xã hội chủ nghĩa là thế nào?” Ông nêu ra thí dụ cụ thể trong ngành sản xuất điện; nó không theo thị trường, mà cũng không theo định hướng xã hội chủ nghĩa! Ông báo cáo rằng ở các nước tiên tiến tư nhân đóng vai chính trong việc đầu tư vào ngành sản xuất điện, một thứ mà người dân nào cũng tiêu thụ. Ở Việt Nam, nhà nước nắm vai trò quyết định, để “sản xuất ra một sản phẩm bán dưới giá thành.” Tức là hoàn toàn phản lại quy tắc kinh tế thị trường.

Vậy chính sách đó có theo chiều hướng xã hội chủ nghĩa hay không? Ông Vinh lại vạch ra: Nó chỉ giúp cho các nhà tư bản bỏ tiền làm các nhà máy xi măng và thép. Họ chỉ cần hưởng giá điện rẻ cũng đủ kiếm lời rồi. Tức là các nhà tư bản được công quỹ trợ cấp dưới hình thức giá điện rẻ, mà công quỹ là tiền của toàn dân chứ không phải của riêng ông nhà nước. Ông nhà nước lấy tiền của dân nghèo trợ cấp cho giới tư bản. Ông Bùi Quang Vinh hỏi: “Vậy xã hội chủ nghĩa ở đâu?” Ông Vinh còn nhìn sang nước Mỹ, nói thêm: “Không phải chỉ có chúng ta xã hội chủ nghĩa mới lo cho dân. Thằng (sic) Obama nó (đưa ra) chính sách hỗ trợ bảo hiểm y tế cho dân nghèo. Ðấy người ta lo cho dân nghèo như vậy, đâu chỉ có mình lo cho dân nghèo.”

Cho nên, đây là lời ông Vinh: “Chúng ta phải đổi mới căn bản, triệt để thể chế kinh tế của chúng ta.” Ông cũng nói việc đổi mới thể chế cần làm gì: “Phải nói rằng chúng ta phải (theo đúng) kinh tế thị trường, phải thị trường hơn nữa.”

Phải công nhận ông Bùi Quang Vinh là một người sáng dạ. Ông được phong làm bộ trưởng Kế hoạch và Ðầu tư mặc dù không được huấn luyện ngày nào về môn kinh tế học. Ông xuất thân là sinh viên trồng cây ở trường Ðại học Nông nghiệp.

Lớn lên, chỉ làm công tác thực tế tại nông trường quốc doanh Phong Hải, tỉnh Hoàng Liên Sơn, từ chức đội trưởng sản xuất lên tới giám đốc nông trường; hoàn toàn sống trong lề lối kinh tế chỉ huy. Ông có đi học hai năm ở Học viện Quản lý Kinh tế Nông nghiệp cao cấp Mátxcơva, Liên Xô trước năm 1984. Nhưng ai cũng biết thời đó người ta dạy quản lý hoàn toàn theo lối cộng sản, bây giờ là thứ kiến thức hoàn toàn vô ích. Vậy mà, mới hai năm, leo từ chức bí thư Tỉnh ủy Lào Cai lên làm bộ trưởng lo làm kế hoạch cho cả nước Việt Nam, ông Bùi Quang Vinh đã biết nói những câu rất sáng. Ông Vinh lập đi lập lại mấy lần: “Phải tiếp tục thị trường hóa, thị trường một cách mạnh mẽ.” Phải công nhận ông Vinh đã học rất nhanh, đã nhìn rất đúng: Phải thị trường hóa nền kinh tế.

Câu hỏi kế tiếp là muốn “thị trường hóa” thì phải làm gì?

Ðến đây thì chúng ta không thấy ông Bùi Quang Vinh nói đến giải pháp “thị trường hóa” nào cả. Ðiều đáng lo ngại là chính ông Vinh và những người cùng ngồi trong chính phủ với ông thực sự họ không biết muốn thị trường hóa phải làm gì. Ông biết rằng kinh tế thị trường có thể “tạo ra môi trường cho tất cả mọi thành phần kinh tế để người ta có điều kiện thuận lợi nhất để phát huy tất cả những gì trong khả năng người ta có thể làm được... cho đất nước phát triển.”

Nhưng muốn tạo ra thứ môi trường tốt như thế, chúng ta phải làm gì? Ông Vinh có thể biết, nhưng không nói một tiếng nào cả. Muốn biết “thị trường hóa” phải làm gì, chỉ cần nhìn qua các nước cộng sản cũ ở Ðông Âu coi người ta đã làm gì.
Phải tư nhân hóa các xí nghiệp quốc doanh. Phải sửa luật lệ cho các doanh nghiệp tư được đối xử ngang hàng với doanh nghiệp nhà nước. Phải tôn trọng luật pháp. Các luật lệ và chính sách kinh tế phải công khai, minh bạch, và giản dị hóa để chính quyền từ trung ương tới địa phương không tạo ra những hàng rào ngăn cản các doanh nhân tư rồi đòi hối lộ. Phải tư nhân hóa cả hệ thống tài chánh, ngân hàng. Ở các nước Ðông Âu, nước nào thay đổi được môi trường kinh tế nhanh chóng nhất, toàn diện và đồng nhịp với nhau nhất, cũng là những nước kinh tế tiến bộ sớm nhất. Ở Trung Quốc, ông Tập Cận Bình cũng bắt đầu thị trường hóa mạnh hơn trong việc phân bố tài sản, vốn liếng của nước ông. Và ông ta cũng nói ngay đến việc trao quyền làm chủ ruộng đất về cho nông dân, cho các ngân hàng cạnh tranh trong việc định lãi suất, khuyến khích các ngân hàng tư để giảm bớt tầm quan trọng của các ngân hàng công do các cán bộ điều khiển, vân vân.

Những người ngồi trong các ghế lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam họ có biết những điều này hay không? Chắc hẳn là họ có đọc báo. Nhưng tại sao họ không làm gì cả? Bởi vì họ đang được hưởng lợi trong tình trạng không thay đổi. Khi nào cần lắm, “không đổi mới thì chết;” thì họ cũng chỉ thay đổi chút ít. Ðang được hưởng các quyền lợi, ai muốn thay đổi? Bảo họ nhúc nhích, động đậy một chút, thì câu hỏi đầu tiên họ sẽ đặt ra là: Có lợi gì không? Nói rõ hơn: Có lợi gì cho bản thân tôi không?

Bùi Quang Vinh xuất thân là một cán bộ nông trường, rồi leo lên làm giám đốc một nông trường quốc doanh. Quyền lợi của ông ta khác hẳn quyền lợi của giới kinh doanh tư. Ngay tại Trung Quốc, một nước mới cải tổ kinh tế nửa vời, người ta cũng biết rằng cả nền kinh tế phát triển được là nhờ các nhà tư doanh. Nếu không có các tư nhân hoạt động năng nổ thì không có phép lạ kinh tế nào cả. Nhưng giới lãnh đạo cộng sản vẫn luôn luôn kỳ thị, chèn ép giới kinh doanh tư, ở bên Tàu cũng như ở nước ta. Chính sách của nhà nước cộng sản trước sau như một vẫn là nuôi béo các xí nghiệp quốc doanh.

Hiện ở Việt Nam các doanh nghiệp nhà nước được quyền sử dụng 70% số vốn đầu tư của xã hội, chiếm 70% số vốn ngoại quốc cho vay với lãi suất thấp, nhưng họ chỉ đóng góp 38% vào Sản lượng Quốc gia (GDP). Nói giản dị, các doanh nghiệp nhà nước cứ nhận được 70 đồng thì sản xuất ra thêm được 38 đồng. Cái vốn chung của cả nước bị lỗ mất 32 đồng! Khi nói một phần ba các doanh nghiệp nhà nước lỗ lã, người ta tưởng chỉ có họ bị lỗ thôi, không liên can gì đến người dân hết. Nhưng sự thật là tất cả mọi người dân trong nước lỗ, mất tiền, mất gần một nửa số tiền đóng góp cho nhà nước! Tại sao chính sách đảng Cộng sản vẫn cứ bảo vệ các doanh nghiệp nhà nước như vậy? Lý do vì dân chúng cả nước bị lỗ nhưng các cán bộ, các quan chức lại kiếm lời, lời to!

Ông Bùi Quang Vinh ra Quốc hội bảo các ông bà nghị gật nâng số nợ của chính phủ lên thêm 170 ngàn tỷ đồng, tức gần 8 tỷ đô la nữa. Ông giảng cho quý ông bà nghị gật hay rằng vay nợ bằng cách phát hành trái phiếu như thế tức là chính phủ không cần in thêm tiền; tiền đang có sẵn trong dân chúng sẽ được đem đổi lấy trái phiếu mà thôi; cho nên không lo tạo áp lực làm tăng lạm phát. Nói như thế cho thấy quả thật ông Bùi Quang Vinh không được học về môn kinh tế một ngày nào.

Vì một số tiền có sẵn nếu nằm yên trong các ngân hàng thì không làm lạm phát tăng lên. Nhưng nếu khi ngân hàng bị bắt buộc lấy số tiền đó đưa cho chính phủ đổi lấy tờ giấy nợ gọi là trái phiếu, rồi chính phủ đưa tiền cho các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp này đem tiêu xài, thì vòng quay của đồng tiền sẽ tăng lên ngay lập tức. Cùng một số tiền có sẵn trong nền kinh tế, nếu vòng quay tăng lên thì lạm phát sẽ tăng. Nói chung, cứ đổ tiền vào các xí nghiệp quốc doanh, bỏ vô 70 đồng, họ sản xuất được hàng hóa trị giá 38 đồng. Khi số tiền lưu hành tăng lên nhiều mà số hàng hóa tăng ít hơn, theo định nghĩa nó sinh ra lạm phát! Chỉ khi nào xóa bỏ những xí nghiệp quốc doanh ăn hại này, để tài sản vốn liếng chung của xã hội được trao vào tay những doanh nhân làm việc có hiệu quả, tức là số hàng sản xuất ra nhiều hơn số tiền lưu hành tăng lên, thì mới giảm được lạm phát! Làm như vậy chính là “thị trường hóa” đấy!

Nhìn sang Cộng sản Trung Quốc thì thấy họ còn đi xa hơn Cộng sản Việt Nam trên đường thị trường hóa. Ở Trung Quốc có nhiều nhà kinh doanh tư thành công, phần lớn những người này được lôi vào làm đảng viên cộng sản, nhiều người leo lên ghế đại biểu Quốc hội, có người được vào Trung Ương Ðảng nữa. Nhưng họ có kinh doanh, có làm việc, và có thành công. Ở Việt Nam, một người đã thành công trong kinh doanh là Trần Huỳnh Duy Thức; nay anh đang ngồi tù với bản án 14 năm!

Cộng sản Trung Quốc vừa mới đưa ra chính sách mới, thúc đẩy “thị trường hóa” mạnh hơn, giống như ông Bùi Quang Vinh mới hô hào. Nếu thi hành đúng chương trình cải tổ đợt thứ hai này thì trong 10 năm tới Trung Quốc hy vọng thoát cảnh kinh tế đình trệ. Nhưng liệu họ có thi hành đúng được hay không, là chuyện khác. Một nhà tranh đấu dân chủ Trung Hoa, ông Ngụy Kinh Sinh tỏ ý bi quan; lo rằng Trung Cộng sẽ không thoát khỏi ngõ bí hiện nay. Thứ nhất, ông thấy giới lãnh đạo Trung Quốc như Tập Cận Bình hoàn toàn nằm trong vòng vây của các quan chức và cán bộ cao cấp; không thể làm mất quyền lợi của đám này. Thứ hai, đối với những cán bộ cao cấp đang hưởng thụ nhờ chế độ hiện nay thì việc cải tổ triệt để chỉ mang lại cho họ những điều thiệt hại, rất ít điều lợi lộc mới. Ông Ngụy Kinh Sinh có lần đã đến trò chuyện tại báo Người Việt. Ông vẫn bi quan như thế; vì ông không tin rằng đảng Cộng sản Trung Quốc có khả năng tự thay đổi.

Năm nay, ông nói rõ hơn: Cộng sản Trung Quốc đã bỏ lỡ cơ hội tự thay đổi, từ thời Hồ Diệu Bang làm tổng bí thư. Bỏ qua cơ hội đó, chính họ đã tạo ra một giai cấp mới mà quyền lợi hoàn toàn dựa vào tình trạng cải tổ nửa chừng như bây giờ. Giai cấp mới này sẽ bám chặt lấy cái ghế đang ngồi, với các quyền lợi đi kèm; cho nên khó lòng bắt được họ đứng lên!

Cuối cùng, muốn các đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam thay đổi thì phải có một cuộc cách mạng thật sự. Cuộc cách mạng có thể bùng nổ ngay từ trong nội bộ đảng. Ngụy Kinh Sinh cho biết hiện nay ở Trung Quốc có người con của Hồ Diệu Bang là Hồ Ðức Bình đang hô hào thay đổi triệt để hơn. Ở nước ta chưa thấy ai như vậy. Cho nên chúng ta sẽ được nghe thêm nhiều người nói rất sáng sủa như ông Bùi Quang Vinh, nhưng làm thì chẳng thấy ai làm được cái gì cả!

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Lễ Tạ Ơn 2013

Tác giả : Vi Anh

Ngày Thứ Năm 28 tháng 11 năm 2013 là Ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) tại Hoa Kỳ. Còn đối với người Mỹ gốc Việt đây là Lễ Tạ Ơn thứ 38 trên đất nước cùng nhân dân Hoa kỳ đã cứu khổn phò nguy, giúp an cư lạc nghiệp cho người Việt tỵ nạn CS. Người Mỹ gốc Việt vô cùng cảm động nhớ công ơn nhân dân và chánh quyền Mỹ tạo cơ hội và điều kiện cho người Mỹ gốc Việt phát triễn thành một cộng đồng vững mạnh, năng động, thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội trong xã hội đa văn hóa, đa chủng tộc của Hiệp Chủng Quốc Hoa kỳ.

Thực vậy, 38 năm nói thì nghe lâu nhưng chỉ là thời gian của hơn một thế hệ xã hội học một chút mà thôi. Nhưng nhờ chánh quyền Mỹ tự do, dân chủ, vì dân, do dân, của dân và nhân dân Mỹ với tinh thần xã hội cởi mở đa văn hóa, đa sắc tộc, mà người Mỹ gốc Việt đã lập được một kỳ tích; đó là cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Cách đây ba năm, về dân số học, theo kết quả điều tra dân số năm 2010 của US Census Bureau, Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt đã có 1.548. 449 người, là một cộng đồng lớn hàng thứ tư trong khối người Mỹ gốc Á châu trong xã hội Mỹ. Tỷ lệ tăng dân số khá cao, trong 10 năm tăng khoảng nửa triệu người, cụ thể là 425.921 người, tức 38% dân số của người Mỹ gốc Việt. Cộng đồng Mỹ gốc Việt là một tập thể năng động, một cộng đồng trẻ hơn so tuổi trung bình toàn quốc. Người Mỹ gốc Việt là sắc dân nói tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ ở nhà nhiều hơn các sắc dân khác, kế cả người gốc Mễ. 68% sinh ra ở ngoài Mỹ nhưng 73% đã vào quốc tịch Mỹ. Người Mỹ gốc Việt quần cư nhiều nhứt tại 10 quận mà ba quận đông người gốc Việt nhứt là ở TB California. Cali là tiểu bang có nhiều người Mỹ gốc Việt nhứt, nhì Texas, ba Washington State.

Lợi tức trung bình đồng niên là $59.000 so với $62.000 toàn quốc. Chỉ có 12% người Mỹ gốc Việt sống dưới mức nghèo khó của liên bang (năm 2011, mức đó là $22.350 dành cho một gia đình 4 ngưới).

65% gia đình Mỹ gốc Việt làm chủ căn nhà mình đang ở, so với 66% của toàn quốc. Cộng đồng Mỹ gốc Việt có trên 229.000 cơ sở thương mại, kinh doanh, doanh thu $28.8 tỷ một năm. Người Mỹ gốc Việt rất năng động chánh trị, ghi danh đi bầu đông và cao nhứt so với các sắc tộc Á châu khác.

Về tiến trình hình thành, cộng đồng người Mỹ gốc Việt là một cộng đồng chánh yếu tỵ nạn chánh trị, qua một cuộc di tản vô tiền khóang hậu, kéo dài nhiều năm, vượt biên, vượt biển bằng nhiều cách, làm rúng động lương tâm nhân loại, được định cư tại nhiều quốc gia tự do, dân chủ. Cộng đồng người Việt ở nhiều nước có và thể hiện cảm nhận thuộc về nhau (sense of belonging), cùng chung nguồn gốc, lý tưởng dân tộc, nhân bản và di sản là tự do, dân chủ, nhân quyền, liên lạc, nối kết nhau thành như một Việt Nam Hải ngọai.

Cộng đồng người Việt ở Mỹ là cộng đồng lớn nhứt ở hải ngọai, chiếm phân nửa dân số người Việt hải ngọai. Cộng đồng người Việt ở Mỹ lớn mạnh là do công lao của cả ba lớp người nhập lại, già, trung, trẻ chụm lại. Thế hệ thứ nhứt và một rưỡi gạt nước mắt rời đất nước ra đi, mất tất cả, sự nghiệp, quê cha, đất tổ, họ hàng, bè bạn. Và thế hệ thứ hai may mắn hơn, đến Mỹ còn tuổi học trò hay sanh trên đất Mỹ được hưởng nhiều cơ hội tiến thân.

Mỹ là nước nhận cho người Việt tỵ nạn CS định cư nhiều nhứt. Do vậy đối với người Mỹ gốc Việt, ơn nghĩa của nước Mỹ dang tay ra cứu khổn phò nguy lớn lắm. Và người Việt, do bản chất trọng nghĩa nặng tình, cảm thấy bổn phận ơn đền nghĩa trả rất lớn.

Trên thế giới này ít có nước nào sau gần 30 năm chiến tranh mà còn đưa những người con em của những quân dân cán chính VN Cộng Hoà đồng minh đến để giúp đỡ và tiếp tục đều đều cho những người định cư ở Mỹ bảo lãnh con cái qua để đoàn tụ gia đình.

Người Mỹ gốc Việt “Tạ Ơn Mỹ” đã giúp giương cao ngọn cờ nền Vàng Ba Sọc Đỏ phất phới tung bay khắp cả chục tiểu bang, cả trăm thành phố, quận hạt và đang trên đà lan rộng ra ở nước Mỹ. Một sự thừa nhận về pháp lý cũng như thực tại như biểu tượng, chánh nghĩa, khát vọng tự do, dân chủ của người Mỹ gốc Việt.

Người Mỹ gốc Việt “Tạ Ơn Mỹ” đã đưa vấn đề Nhân Quyền VN vào chánh quyền liên bang. Mỹ luôn luôn đối thọai nhân quyền và lên tiếng bảo vệ nhân quyền VN, giúp cho cuộc đấu tranh cho nhân quyền VN của người dân Việt trong nước ngày phát triễn.

Sau cùng, người Mỹ gốc Việt cũng như người Mỹ nói chung còn một Đại Trọng Ơn phải trả, một chánh nghĩa phải hoàn thành. Đó là ơn hai quốc gia dân tộc Mỹ, Việt đồng minh từng chiến đấu sát cánh bên nhau trong một chiến trường, trong Chiến tranh VN. Một cuộc chiến chưa thực sự chấm dứt; một kỳ vọng chưa đạt; một chánh nghĩa chung chưa thành; tự do, dân chủ, nhân quyền VN chưa có.

Đại Ơn ấy chỉ có thể trả xong khi người Mỹ lẫn người Việt cùng đấu tranh thành công cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Những giá trị đó cũng là lý tưởng lập quốc và chuẩn mực sinh hoạt chánh trị của Mỹ. Ngày đền đại ơn đó là ngày chế độ CS Hà nội độc tài, đảng trị không còn nữa và chánh quyền VN mới sau một cuộc bầu cử trong sạch, dân chủ, tự do – sẽ đại diện cho nhân dân và chánh quyền VN đích thân đến Quốc Hội Mỹ cám ơn nhân dân và chánh quyền Mỹ đã giúp cho VN có dân chủ tự do và nhân quyền.

Ngày đáp đại nghĩa đó là ngày lãnh đạo quốc gia Mỹ, đại diện nhân dân và chánh quyền Mỹ đích thân đến Quốc hội VN mới cám ơn nhân dân và chánh quyền vì dân, do dân, của quốc gia dân tộc VN đã giúp cho Mỹ xoá đi vĩnh viễn ám ảnh, hội chứng Chiến tranh VN và hoàn thành sứ mạng tự do, dân chủ có tính lịch sử lập quốc và truyền thống xã hội của Mỹ. Đó cũng là ngày Tết lớn nhứt của người Việt trong ngoài nước đoàn tụ nhau sau bao nhiêu năm xa cách dưới mái nhà VN, trong vòng tay trìu mến của Mẹ VN./. (Vi Anh)

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Sự tín nhiệm chính trị

Nguyễn Hưng Quốc
(Blog VOA)
Trong sinh hoạt chính trị ở các nước dân chủ, điều quan trọng nhất là sự tín nhiệm (trust). Sự tín nhiệm trở thành một thứ bảo chứng cho quyền lực: Quyền lực chỉ tồn tại và kéo dài nếu sự tín nhiệm vẫn còn cao. Mất tín nhiệm cũng đồng nghĩa với việc mất quyền lực (muộn nhất là trong kỳ bầu cử kế tiếp).

Ðó là lý do tại sao trên báo chí Tây phương, người ta thường xuyên đặt vấn đề tín nhiệm đối với chính phủ hoặc người lãnh đạo cao nhất trong chính phủ. Gần đây, nhân danh sự tín nhiệm, ở Mỹ, nhiều người phê phán thái độ lưỡng lự và bất nhất của Tổng Thống Barack Obama đối với việc sử dụng vũ khí hóa học tại Syria; nhiều người khác phê phán thái độ cứng rắn của đảng Cộng Hòa trong các yêu sách về ngân sách khiến chính phủ Mỹ phải đóng cửa trong vòng 16 ngày. Ở Úc, cũng vậy. Sau cuộc bầu cử vào đầu tháng 9 vừa qua, nhiều bình luận gia chính trị cũng thường xuyên đặt vấn đề tín nhiệm để nhắc nhở chính phủ phải thực hiện các lời hứa của họ.

Ở Việt Nam, giới lãnh đạo cũng thường đề cập đến chuyện tín nhiệm. Ông Nguyễn Phú Trọng, trong các buổi hội thảo, kêu gọi mọi người hãy tin vào chủ nghĩa xã hội; ông Nguyễn Tấn Dũng, trên diễn đàn quốc tế tại Singapore, kêu gọi lòng tin chiến lược giữa các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới; ông Trương Tấn Sang, trong các buổi gặp gỡ cử tri, kêu gọi mọi người hãy tin ông trong sạch và quyết tâm chống tham nhũng, nếu không làm được đó, ông sẽ từ chức, và nếu từ chức, ông sẽ trả dinh thự lại cho chính phủ để về sống trong căn nhà nhỏ bé của mình. Và cả ba đều, ở những thời điểm và khung cảnh khác nhau, kêu gọi mọi người hãy tin... đảng.

Trong cuốn Trust Me: Australians and their politicians mới xuất bản vào giữa năm nay, Tiến Sĩ Jackie Dickenson, hiện dạy Chính trị học tại trường Ðại Học Melbourne, cho sự tín nhiệm chính trị không thể được hình thành bằng những lời nói suông hay những lời hứa hẹn hão. Nó chỉ có thể được xây dựng trên bốn nền tảng chính: năng lực (competence), sự công khai (openness), sự lương thiện (honesty) và sự khả tín (reliability).

Năng lực được đo lường ở việc đối phó với những vấn đề và những thách thức cụ thể mà cả nước phải đương đầu, từ lãnh vực quốc phòng đến các lãnh vực chính trị, kinh tế, y tế, xã hội, văn hóa, ngoại giao, giáo dục, v.v...

Sự công khai thể hiện ở tính chất minh bạch trong chính sách cũng như trong quản lý, ở việc cho phép tự do báo chí cũng như tự do ngôn luận.

Sự lương thiện thể hiện ở sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, không có chuyện nói một đàng làm một nẻo.

Tính chất khả tín bao gồm nhiều khía cạnh, không phải chỉ ở việc chính phủ thực hiện các lời hứa mà còn ở chỗ dân chúng có thể tiên đoán được các chính sách của chính phủ dựa trên những nguyên tắc, cương lĩnh và niềm tin mà giới lãnh đạo đã đưa ra. Ở Mỹ, với Tổng Thống George W. Bush trước đây, người ta có thể chê nhiều điểm (như nói dở, có tầm nhìn chiến lược nhưng không có khả năng hay sở thích đi sâu vào chi tiết, do đó, thường đơn giản hóa vấn đề), nhưng có một điểm phần lớn đều khen: người ta biết ông nghĩ gì và muốn gì, từ đó, biết cả các chiều hướng chiến lược mà nước Mỹ sẽ theo đuổi. Ở Úc, cũng vậy, đánh giá sự thành công của John Howard, vị thủ tướng thứ 25 (từ 1996 đến 2007) và là vị thủ tướng cầm quyền lâu thứ hai trong lịch sử nước Úc (chỉ sau Sir Robert Menzies, vị thủ tướng thứ 12, cầm quyền tổng cộng 18 năm), nhiều nhà bình luận cho: Không phải lúc nào người ta cũng đồng ý với John Howard, nhưng bao giờ người ta cũng biết rõ là ông nghĩ gì và muốn gì: Người ta xem đó là tính chất khả tín.

Áp dụng bốn tiêu chuẩn ấy vào Việt Nam, chúng ta thấy thế nào?

Hai tiêu chuẩn giữa, sự công khai và lương thiện có lẽ không cần phải bàn: Hầu như ai cũng thấy. Dân chúng lại càng thấy rõ. Không phải ngẫu nhiên mà câu nói “Ðừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm” của ông Nguyễn Văn Thiệu trước kia càng ngày càng được nhiều người tán thành và nhắc nhở. Sau này, dân chúng thêm vào câu nói đã thành “danh ngôn” ấy một chuyện cười khá ý vị, đại khái:

“Cả thế giới đều sợ người Mỹ vì người Mỹ đã nói là làm. Nhưng người Mỹ lại sợ người Nhật vì người Nhật làm rồi mới nói. Còn người Nhật lại sợ người Trung Quốc vì Trung Quốc không nói mà làm. Thế còn Trung Quốc sợ ai? Câu trả lời: Trung Quốc sợ Việt Nam vì Việt Nam nói một đằng làm một nẻo.”

Không biết Trung Quốc có sợ Việt Nam vì chuyện đó hay không, nhưng chắc chắn là dân chúng Việt Nam sợ. Sợ và khinh. Khinh nên mới có một chuyện cười như thế.

Với tiêu chuẩn thứ tư, trong giới lãnh đạo cao nhất ở Việt Nam, thành thực mà nói, người ta biết Nguyễn Phú Trọng nghĩ gì và muốn gì: Ông vẫn tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội và muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Với Nguyễn Tấn Dũng, người ta có thể biết, biết rõ những tham vọng cá nhân của ông, nhưng lại không ai có thể biết được ông nghĩ gì và muốn gì về tương lai của đất nước. Với Trương Tấn Sang, cũng vậy: Ông chỉ nói về những chuyện nhỏ, như chuyện chống tham nhũng và tranh giành quyền lực, nhưng một mô hình xã hội không tham nhũng mà ông mơ ước như thế nào, người ta tuyệt đối không biết.

Tất cả những cái biết và không biết ở trên đều chỉ có công dụng bào mòn sự tín nhiệm, nếu có, của dân chúng đối với giới cầm quyền.

Nhưng tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự tín nhiệm chính là tiêu chuẩn thứ nhất: năng lực. Ðối với Nguyễn Phú Trọng, câu trả lời của dân chúng đã rõ qua cái hỗn danh mà người miền Bắc đã đặt cho ông: “Trọng Lú.” Với Nguyễn Tấn Dũng, câu trả lời cũng tương đối rõ qua việc người ta hay nhắc nhở đến gốc gác y tá của ông. Thật ra, một lãnh tụ giỏi có thể xuất thân từ nhiều nghề nghiệp khác nhau, kể cả những nghề lao động bình thường nhất. Nhưng việc dân chúng cứ nhắc đi nhắc lại cái gốc y tá ấy chứng tỏ một điều: người ta coi thường ông. Vậy thôi. Trương Tấn Sang may mắn hơn, ít bị dân chúng dè bỉu về chuyện năng lực. Nhưng điều đó không chứng tỏ là ông giỏi. Có thể lý do chính là vì chức chủ tịch nước của ông chỉ là một hư vị.

Tuy nhiên, gạt qua một bên chuyện cá nhân. Cứ nhìn giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay như một tập thể, điều dễ thấy nhất vẫn là sự bất lực của họ trong mọi phương diện. Nhìn đâu cũng thấy bế tắc. Nhìn ra biển đảo: bế tắc. Nhìn vào thị trường: bế tắc. Nhìn ra đường với cảnh ùn tắc triền miên và mức độ tai nạn giao thông khủng khiếp: bế tắc. Nhìn vào các bệnh viện và trường học, ở đâu cũng thấy suy đồi về đạo đức: bế tắc. Những bế tắc ấy là bằng chứng rõ nhất của sự bất lực từ hàng ngũ lãnh đạo.

Trước cả bốn tiêu chuẩn ấy, bạn có nghĩ là bạn nên tiếp tục tín nhiệm nhà cầm quyền hay không?

Post Reply