Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Quyền Lực Mềm Của Mỹ
Tác giả : Vi Anh

Nhu thắng cang, nhược thắng cường là danh ngôn chiến lược lâu đời của Trung Hoa, mà Trung Cộng [TC] không thực hiện, để Mỹ áp dụng thành công một cách xuất sắc trong việc tạo uy thế và niềm tin đối với các nước lân cận Trung Quốc cũng như đối với sinh viên các nước đến Mỹ du học. Điều này có thế thấy qua thời sự tiêu biểu Mỹ quá thành công chánh trị và quân sự trong chiến dịch nhân đạo, cứu trợ Phi luật tân [PLT] nhơn trận siêu bão Haiyan. Và qua sách lược thu hút sinh viên ngoại quốc du học Mỹ nhiều nhứt hoàn cầu, biến sinh viên du học thành ngành hốt bạc không có khói ô nhiểm môi sinh khi học và lực lượng chuyên viên khoa học kỹ thuật, sản xuất kinh doanh cho Mỹ mà Mỹ không tốn một xu đầu tư.

Một, Mỹ thắng, TC thua trong chiến thuật cứu trợ Phi Luật Tân nói riêng và trong chiến lược tạo niềm tin đối với các nước Á châu Thái bình dương nói chung.

Trong việc cứu trợ bão cho PLT, Mỹ là nước làm nhanh, mạnh, nhiều nhứt. Mỹ hành động cứu bão khẩn cấp như cứu binh, cứu lửa. Dùng cả hàng không mẫu hạm chạy hết tốc độ, trực thăng tinh nhuệ, thực phẩm, thuốc men quần áo đưa đến và di tản người dân PLT trong cơn hoạn nạn. Số tiền mặt của Mỹ tặng cao nhứt nhì thế giới.

Trong khi đó TC đệ nhị siêu cường kinh tế thế giới là nước ở gần PLT, ban đầu vì nhỏ mọn, thù dai chỉ giúp cho PLT 100.000 Đô la. Cả thế giới nhứt là báo chí quốc tế chê TC là một trọc phú, không văn minh, thiếu tinh thần liên đới đồng loại, bủn xỉn 12 con giáp không giống con nào. Mua danh ba vạn bán danh ba đồng, nhục quá, TC tăng số cứu trợ PLT lên 1 triệu sáu, nhưng gồm quần áo, chăn mền cũ tồn kho, chỉ có 200.000 Đô tiền thôi.

Mỹ cứu thiên tai như cứu giặc, họat động cứu hộ khẩn cấp hành quân của quân đội Mỹ cho Philippines làm nhiều nước khác trong vùng Á châu Thái bình dương nhìn nhận Mỹ nhu một lá chắn, một thế lực hữu hiệu để tái lập, bảo vệ ổn định trong vùng.

Mỹ đã cứu trợ bằng cả một chiến dịch hành quân gọi là “Chiến dịch Damayan” đã huy động một hàng không mẫu hạm nguyên tử, bảy chiến hạm cùng hàng chục máy bay trực thăng và vận tải quân sự vào cứu hộ nhân đạo vùng bị nạn.

Cả thế giới nhứt là những nhà quan sát thời cuộc nhìn thấy ở chiến dịch “quân sự-nhân đạo” Mỹ có một hiệu quả chánh trị vô cùng có lợi cho uy tín của Mỹ, một thứ quyên lực mềm rất quí mà người Á châu đánh giá rất cao, người Việt nói mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.

Và kết quả nhãn tiền, chánh quyền PLT nhận thấy người dân Phi nhìn người Mỹ với cảm tình trở lại, nên đề nghị Mỹ kết thúc hiệp ước cho quân đội Mỹ sử dụng căn cứ hải quân của Phi luật tân. Đó là một vấn đề hai bên thảo luận khá gay go vì tinh thần quốc gia cao của người PLT và chánh quyền Phi ngại sợ mếch lòng cường quốc láng giềng Trung Quốc.

Sự hợp tác quân sự - nhân đạo của Mỹ đối với PLT là một hướng đi tuyệt vời để Hoa kỳ và PLT xích lại gần nhau, phát triễn tình đồng minh thân thiết với nhau. Một kết quả tuyệt với của quyên lực mềm của Mỹ.

Hai,sinh viên ngoại quốc du học là kho chất xanh và chất xám giúp cho Mỹ. Không cần nói nhiều ai cũng biết khoa học kỹ thuật và nền giáo dục đại học Mỹ đang đứng đầu thế giới. Mỹ là nước được nhiều giải Nobel nhứt;TC chế độ kiểm soát dân đông nhứt hoàn cầu mà mới chỉ có một khôi nguyên Nobel Hoà Bình, nhưng TC đang giam cầm Ô. Lưu hiểu Ba không được đi lãnh.

Do vậy nước Mỹ là khối nam châm cho sinh viên các nước đến du học – là chuyện quá dễ hiểu. Báo The Wall Street Journal của Mỹ nói sinh viên ngoại quốc chính là một mỏ vàng để khai thác. Khai thác còn dễ hơn, lợi hơn ngành du lịch là ngành các nhà kinh tế gọi là một kỹ nghệ không có khói, không ô nhiễm môi sinh như sản xuất.

Năm rồi số lượng sinh viên ngoại quốc du học Mỹ vượt kỷ lục, trong đó đông nhất là sinh viên Trung Quốc. Báo cáo thường niên của Viện Giáo dục quốc tế (Institute of International Education - IIE) mới đây cho biết, các trường đại học Mỹ đã đón 819.644 sinh viên ngoại quốc trong năm học 2012-2013, tức là tăng 7,2% so với năm ngoái. Cũng theo viện này, sinh viên nước ngoài chiếm 3,9% tổng số sinh viên của nước Mỹ. Sinh viên nước ngoài là một nguồn lợi đáng kể của Mỹ.Theo thẩm định, không nói chi phí ăn ở, di chuyển, sinh viên ngoại quốc bơm 24 tỷ đô la (gần 18 tỷ euro) vào nền kinh tế Mỹ.

Khi sinh viên du học ra trường, Mỹ có những chính sách biến thành lực lượng khoa học kỹ thuật, quản lý kinh doanh như một nguồn lợi chất xám mà Mỹ không tốn một xu khi đầu tư. Tiêu biểu như cho vào quốc tịch Mỹ, ở lại Mỹ khi nên vợ, nên chồng với công dân hay thường trú nhân Mỹ. Nước Mỹ là nước tỷ lệ hôn nhân khác nước cao nhứt. Cấp chiếu khán công nhân, chuyên viên khách cho những kỹ sư, tiến sĩ ngoại quốc mà các công ty Mỹ cần thiết. Cấp chiếu khán đầu tư để được trở lại làm ăn ở Mỹ; và, v.v...

Thành ra điễn hình như ở vùng kỹ nghệ tin học ở Bắc Cali gọi là Silicon người ta thấy rất nhiều người Ấn Độ, người Hoa sống và làm việc cho các công ty Mỹ.

Không những sinh viên du học Mỹ ở lại làm việc cho các công ty của Mỹ trong nước Mỹ, mà các công ty Mỹ còn dùng những người học khoa học kỹ thuật Mỹ làm việc có lợi cho Mỹ ở các nước như Trung Quốc, Việt Nam nữa. Mỹ có nhiều công ty ở hải ngoại. Mỹ mướn các công ty ngoại quốc làm những dịch vụ rẻ hơn ở Mỹ. Như các nước người Mỹ tin dùng là người từng học và hiểu biết lề lối làm việc của Mỹ. Và người học Mỹ về nước cũng thích làm việc cho các công ty Mỹ vì lương lớn hơn làm cho công ty nước nhà, nhứt là ở hai chế độ CSTQ và VN còn nặng nguyên tắc hồng hơn chuyên./.(Vi Anh)

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Ngày phán xét sẽ đến
Tuổi 20

Bao năm rồi không còn nhớ, nhưng quê hương tôi cứ mỗi độ xuân về thì cụ đồ râu tóc bạc phơ ngồi viết câu đối đỏ bên đường nay đã vắng bóng, thay vào đó người ta trơ trẽn, đem ra treo đầy đường, vẽ đầy phố những khẩu hiệu tuyên trunyền mà chẳng ai thèm để ý: “Mừng Xuân, mừng đảng quang vinh.”

Những năm trước họ còn kệch cỡm vô học đến độ dám để cả đảng đứng trên mùa xuân của đất trời, dân tộc. Năm nay, những đỉnh cao sở thú học làm người đôi chút đã biết đưa xuân lên hàng đầu, nhưng cũng chỉ đến đó thôi, trình độ văn hoá bổ túc công nông cả mà.

Chẳng may phải sống trong môi trường ô nhiễm cực kỳ của cái gọi là cnxh. Chẳng may mỗi khi ra đường phải nhìn thấy khắp nơi cờ đỏ búa liềm và một ngôi sao vàng chìm ngập trong biển máu của mầu cờ đỏ. Chẳng may cứ mỗi khi mở TV lại thấy xuất hiện những khuôn mặt no căng béo mỡ, húp híp mắt mở không ra của các Uỷ viên Bộ chính trị, của ngài Thủ tướng “Vinashin”. Ôi tuổi trẻ Việt Nam, chúng tôi bị đầu độc, nhồi nhét trong gần 70 năm nay nơi ao tù xhcn, biết bao giờ chúng tôi mới bơi được ra biển khơi đây?

Trong đêm giao thừa 2012, khai bút đầu năm, trước tiên tôi xin cám ơn nhân loại, và đặc biệt cám ơn những người đã sáng tạo ra hệ thống Internet nhờ đó mà thế hệ trẻ Việt Nam không còn bị giam giữ trong ngục tù ngu dốt của đảng csVN nữa. Cám ơn Bill Gates, Steve Jobs nhờ quý vị mà ngày hôm nay chúng tôi thênh thang lướt mạng ngay trước mũi bọn công an. Những bức màn tre, màn sắt trước đây giam giữ cha anh chúng tôi bây giờ chỉ là trò cười cho thế hệ @. Khi những hàng rào ngăn cấm tư tưởng con người bị phá bỏ bằng công nghệ thông tin, khi những bức tường lửa (firewall) trở thành bất lực trước khát vọng tự do, đấy là lúc dân chủ khai sinh. Tuổi trẻ Việt Nam sẽ đồng khởi vùng lên để trả lại tên đường TỰ DO, chúng tôi sẽ nam kỳ khởi nghĩa để đem lại CÔNG LÝ, cái gì của Cesar hãy trả lại cho Cesar.
Chúng con xin cám ơn cha mẹ đã cho con khối óc chắp cánh bay lên những vì sao cao nhất, và nhận thức được sự giẫy chết của cnxh thay vì chủ nghĩa tư bản như người ta nói. Cha mẹ đã dậy chúng con biết thế nào là dân chủ thực sự khi cho phép chúng con nói lên những điều khiến cha mẹ lo nhiều, sợ hãi nhiều, cha mẹ không bịt miệng chúng con và bắt chúng con phải suy nghĩ một chiều như đảng vẫn làm. Chúng con biết tóc cha mẹ đang bạc đi vì sợ hãi để cho tuổi xanh chúng con vươn lên dưới ánh mặt trời. Xin cha mẹ yên tâm, nếu một mai con phải vào tù thì chế độ hôm nay cũng sẽ chẳng còn bao nhiêu thời gian nữa để giam giữ con, bạn bè, và anh chị em chúng con sẽ hàng hàng lớp lớp như thác đổ triều dâng phá đi khung cửa ngục tù, và ngày đó cũng không xa. Tại Việt Nam hôm nay làm gì có tự do, chỉ có nhà tù lớn hay nhà tù nhỏ mà thôi. Sợ hãi chính là tên cai tù nguy hiểm nhất cho mỗi người chúng ta, nhưng khi vượt qua được nỗi sợ hãi thì chính là lúc kẻ thù của chúng ta lo sợ. Con không còn sợ nữa, bạn bè con không còn sợ nữa, chúng con đang tỉnh thức sau đêm dài u mê. Bây giờ là lúc đảng csVN sợ hãi, chính vì sợ hãi nên chúng ra tay bắt bớ giam cầm bất cứ ai, như con chó điên cắn càn trước khi nhận viên đạn thi ân và bị vất xuống cống.

Các đỉnh cao Bắc bộ phủ cứ bắt hết đi, nhớ mà giữ Bùi Thị Minh Hằng thêm vài chục năm nữa, cho cái gan dũng khí của cô ta phải héo hon trong lao tù – Hãy giam Cù Huy Hà Vũ cho đến ngày mọt gông – Hãy bịt miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý cho đến khi không còn hơi thở để cả thế giới thêm ghê tởm cái chế độ - Hãy cô lập Hoà thượng Thích Quảng Độ để cho nhân loại biết thế nào là tự do tôn giáo tại Việt Nam – Trí thức như Trần Huỳnh Duy Thức là cái gai đâm vào mắt đảng hãy nhổ tận gốc, diệt tận ngọn – Và hằng ngàn tiếng nói bất khuất khác đang bị đảng cô lập! Nhà báo Hoàng Khương là kẻ bôi bác cách mạng chưa kể tội cả gan gài bẫy công an đảng, cần phải biệt giam. Đêm giao thừa năm nay, hoà cùng niềm vui xuân của dân tộc, qua mạng Internet, qua Dân Làm Báo tôi đã thấy ngọn lửa sấm sét từ nòng súng của anh hùng Đoàn Văn Vươn, những phát súng, những viên đạn, những quả mìn tự chế bằng uất hận đã làm rung chuyển thành trì xhcn. Tôi đã thấy từ đầu que diêm uất hận của mỗi người dân Việt bay lên màn đêm góp lại cùng nhau thành đám cháy rừng quét sạch cái đảng bán nước, hại dân. Hãy nhóm lên hằng triệu que diêm khác, súng hãy nổ khắp nơi, một cánh chim không thể nào bay xa được, cả triệu cánh chim chúng ta sẽ đủ sức quét đảng cộng sản “Hèn với giặc, ác với dân” này ra biển Đông. Trong quá khứ, đảng đã đẻ ra một anh hùng Lê Văn Tám giả tạo lịch sử sẽ phán xét, nhưng trong hiện tại đảng đang tạo ra những Thánh tử đạo cho đất nước oai hùng, bắt thêm nữa đi, nhốt cho chật nhà tù, tuổi trẻ chúng tôi cần thần tượng để tôn thờ.
Hỡi bạn bè yêu thương của tôi, hỡi tuổi trẻ kiêu hùng Việt Nam, hỡi những ai không còn sợ hãi nữa, tôi cảm phục vô cùng khi hằng tuần thấy các bạn rủ nhau với laptop bên cạnh và đọc Dân Làm Báo trước mũi bọn công an nguỵ quyền cộng sản. Tôi ngưỡng mộ vô cùng khi các bạn dõng dạc đọc tuyên ngôn Hoàng Sa, Trường Sa ngay giữa thủ đô Hà Nội, xin cho tôi được ngả mũ kính phục tất cả. Các bạn là Việt Nam và Việt Nam là các bạn. Tôi xin cúi đầu trước lòng dũng cảm của chị Trần Thị Nga và cháu bé còn trên tay mẹ đi biểu tình chống Trung Quốc, chị oai hùng gấp vạn lần Nguyễn Chí Vịnh, Phùng Quang Thanh.

Hỡi đám công an ngu dốt, mặt mày vênh váo ngồi thành từng nhóm với điện đàm quấn trong những tờ báo, có gì đâu sợ hãi mà phải dấu diếm, chỉ cần nhìn cái khuôn mặt lấm la lấm lét như chó ăn vụng bột các ông đã tự giới thiệu mình là ai rồi. Không cần phải đem máy phá sóng đến để ngăn ngừa chúng tôi dùng điện thoại liên lạc rủ nhau đi biểu tình, qua Internet chúng tôi đang gửi thông điệp cho cả nước, cho cả thế giới là tuổi trẻ Việt Nam đang đứng lên và chúng tôi sẽ là sóng thần quét sạch chế độ cộng sản Việt Nam. Chúng tôi hiên ngang làm việc đó ngay trước mũi các ông đấy, mở mắt ra, thông minh một chút cho vợ con đỡ tủi thân. Các ông dùng bộ đàm tầm sóng không quá vài cây số để liên lạc, xin chỉ thị, chúng tôi xử dụng iPhone, iPad gửi thông điệp đi toàn cầu qua vệ tinh. Chúng tôi đọc báo phản động ngay trước mũi các ông, nhiều khi còn dễ hơn đọc ở nhà vì sợ cha mẹ không cho. Các ông lù lù ngoài ánh sáng, khệnh khạng coi trời bằng vung, chúng tôi âm thầm làm giòng nước ngầm xoáy đổ chế độ, đố các ông giữ được nước trong lòng bàn tay. Các ông mù quáng bảo vệ một chế độ giẫy chết, chúng tôi nhìn xa trông rộng hướng về một ngày mai đất nước không còn cộng sản. Các ông ăn lương của dân chúng nhưng quay lại cắn chủ, chúng tôi được cha mẹ nuôi và dậy cho đâu là bạn đâu là thù. Các ông là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, chúng tôi là Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Bà Triệu, Hai Bà Trưng. Các ông quỳ lạy trước bá quyền Đại hãn, chúng tôi chuẩn bị ống đồng cho con cháu Tôn Sĩ Nghị. Các ông cắn cỏ ngậm rơm xin gắn thêm một sao vào cờ Trung Quốc, chúng tôi sẽ quét sạch những sao trên mầu cờ đỏ. Các ông ức hiếp dân, tịch thu nhà cửa đất đai, đào mồ mả gia tiên, chúng tôi nổ súng ở Tiên Lãng, đặt bom nhà Đại tá công an tại Thái Nguyên. Các ông ở nhà cao cửa rộng, con cái đi xe hơi vênh váo cập kè chân dài cổ cao, chúng tôi là hằng triệu triệu xe gắn máy, đi bộ có, chen chúc trên xe buýt có và chúng tôi đông như ong như kiến... tất cả đang hướng về các ông cho ngày phán xét. Các ông ngu đần tin là đảng muôn năm, chúng tôi sáng suốt tin là DÂN VẠN ĐẠI. Các ông là thuyền, là Vinashin, Vinalines, chúng tôi là sóng và sóng đã đánh chìm thuyền. Các ông tình nguyện làm khuyển mã cho 14 con khỉ đột, chúng tôi là con cái của 90 triệu dân. Các ông nhìn trước mắt “còn đảng, còn mình” hoặc trung với đảng trước cả hiếu với dân, chúng tôi nhìn lâu dài, đất nước quê hương là muôn năm muôn đời và đảng là một bọn thảo khấu cướp ngày không hơn không kém. Các ông là những con lừa bị che mắt chỉ thấy một hướng, chúng tôi là cánh hạc bay trên trời cao nhìn thấy năm châu bốn bể. Hãy tỉnh thức trước khi chúng tôi phải hành động, hãy đứng về chính nghĩa thay vì bạo quyền, hãy trả thẻ đảng và về với nhân dân. Khi sóng nổi, khi bão đến chớ có dại dột mà chống lại ý trời và lòng dân.
Hãy dẹp ngay đám dân phòng vô học, thất nghiệp, đeo băng đỏ ngang tay. Bọn cỏ đuôi chó đó chỉ khiến chúng tôi khinh bỉ chế độ và nuôi căm hờn dâng cao mà thôi. Một cú đấm vào mặt người dân, một điếu thuốc ngậm miệng, ngạo mạn của tên dân phòng già sắp chết hùng hổ trên cung Thánh nhà thờ Thái Hà sẽ được trả lời bằng trăm bài viết trên Dân Làm Báo với hằng triệu người khắp thế giới xem và họ sẽ chuyển tin đến hằng triệu người khác. Chúng tôi liệu có thông minh hơn các ông không, hỡi những đỉnh cao trí tuệ. Các ông theo ý đảng, chúng tôi vâng ý trời toại lòng dân. Các ông là thiểu số, chúng tôi là toàn dân.

Tuổi trẻ chúng tôi bị che mắt bằng khăn quàng đỏ đã bao nhiêu năm rồi, chúng tôi bị tẩy não bằng một chủ nghĩa ngoại lai đã và đang bị cả nhân loại ném vào sọt rác. Chúng tôi bị bắt phải ca ngợi một xác chết, vâng nếu đêm qua em mơ gặp bác Hồ thì sáng nay, ngày mùng một Tết 2012 xin cho chúng tôi được đồng ca bài hát ân tình “Làm sao giết được người trong mộng”. Đừng ảo tưởng mà bắt 90 triệu người sống phải tôn thờ một xác chết!
Một nhạc sĩ gia nô nào đó viết: “Đảng đã cho ta một mùa xuân...” và nhiều bạn trẻ chúng tôi phải công nhận là bài hát này đã trở thành một liều thuốc sổ công hiệu nhất cho những ai bị táo bón, cứ nghe đến thì trong cơ thể chỗ nào có đường thoát là mọi thứ trong người đều tuôn ra như ba giòng thác cách mạng không cách nào kềm hãm được. Gía mà đảng đừng mộng mơ cao làm chính trị, thay vào đó đi bán thuốc sơn đông, cao hổ cốt, thuốc trị táo bón thì lời to.

Năm mới, nói chuyện xuân, cho phép tôi được chia xẻ cùng các bạn những mùa xuân tù ngục “Gulag” mà đảng đã cho chúng ta và mỗi người hãy tự suy nghĩ xem liệu có còn ai muốn những mùa xuân kinh hoàng đó không?
Mùa xuân CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Chế độ csVN có thể che dấu những tội ác tầy trời của họ qua sự kiểm soát chặt chẽ báo chí, thông tin và tuyên truyền. Nhưng họ không thể nào che nổi ánh sáng mặt trời mang tên lịch sử. Xin mời các bạn trẻ hãy vào Google và đánh hàng chữ cải cách ruộng đất các bạn sẽ thấy đảng quang vinh như thế nào trong việc chôn sống đồng loại. Hitler, nhà độc tài Đức Quốc Xã đi vào lịch sử là tên đồ tể của nhân loại, nhưng Hitler chỉ giết người Do thái chứ hắn không giết người cùng chủng tộc. Bác Hồ noi gương bác Mao quay về giết ngay chính đồng loại, dậy con đấu tố cha mẹ, bắt người làm công đem chủ ra chôn sống, thậm chí giết chính những người đã giúp đỡ, nuôi nấng, che dấu mình khi còn hoạt động trong bí mật như câu chuyện bà Nguyễn Thị Năm. Cho đến nay, vẫn chưa có con số chính thức nào cho biết có bao nhiêu nạn nhân bị đấu tố và chôn sống trong cuộc cách mạng ccrđ ô nhục này, nhưng ước lượng không dưới 250,000 người, khi mà dân số miền bắc vào thời điểm đó chỉ 16 triệu người. Ông Hồ quả là vĩ đại hơn Hitler trong thành tích giết người đồng chủng!

Ngày hôm nay, chính quyền Cambodia và Toà án quốc tế đem ra xử bè lũ Pol Pot với tội danh diệt chủng. Trong khi đó, đảng csVN vẫn tiếp tục cưỡng bức cả nước phải thờ cái xác chết Hồ Chí Minh. Vâng, lịch sử cũng ghi là ông Hồ đã khóc và xin lỗi toàn dân về sai lầm của một số cán bộ trong khi thi hành chính sách ccrđ. Có thế thôi sao, trên dưới ¼ triệu người chết đưa đến hằng triệu gia đình tan nát và chỉ một lời xin lỗi của lãnh tụ là xoá đi tất cả! Ôi mùa xuân tuyệt vời đảng đã cho ta! Ôi sinh mạng người Việt dưới chế độ xhcn rẻ hơn cả bèo, hơn một phần tư triệu xác chết đổi lấy vài giọt nước mắt cá sấu của tên già đồ tể.

Mùa xuân TRĂM HOA ĐUA NỞ. Không la hét đấu tố ồn ào như ccrđ, lần này bác và đảng thâm hiểm, mưu mô và quỷ quyệt hơn rất nhiều. Hãy khuyến khích cho trăm hoa đua nở cho trăm nhà lên tiếng. Từ đó, một Trần Dần xuất hiện, “Tôi đi không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ”, cứ thế hằng trăm văn nghệ sĩ ưu tú của miền bắc lần lượt xếp hàng vào trại cải tạo, để học tâp để thấm được thế nào là “mưa sa trên mầu cờ đỏ”. Đảng đã bước đầu thành công trong chiến dịch triệt hạ tư tưởng con người. Những cha ông chúng tôi ở miền bắc vào thăm gia đình sau năm 1975 kể lại cuộc sống sau mức màn sắt là mọi người sợ hãi, nghi kỵ lẫn nhau, gia đình có làm thịt một con gà cũng phải đóng kín cửa và chôn dấu lông gà nếu không muốn bị hàng xóm tố cáo. Ngồi tròn mắt nghe các cụ kể chuyện mà người tôi nổi cả da gà và từ đó tôi mới nhận thức được không phải chỉ có riêng miền nam khổ cực trong 37 năm qua đâu, mà người dân miền bắc đã phải cắn răng chịu đựng gần 70 năm nay rồi. Thành quả lớn nhất mà đảng đã đạt được trong chiến dịch trăm hoa đua nở này là tạo ra một sự phân hoá, nghi kỵ, bất tín giữa người dân với nhau.

Khi dân chúng không còn ai tin ai thì họ sẽ không còn sức kháng cự nữa và họ sẽ bị đảng “thuần thục”, xin lỗi khi phải dùng từ “thuần thục” là ngôn ngữ chỉ dùng cho loài vật được người huấn luyện, tôi chỉ mượn hai chữ này từ cửa miệng ông Đại tá, Đỗ Hữu Ca, Giám đốc công an Hải phòng vừa phát biểu về vụ anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng đã dùng súng bắn vào công an, bộ đội khi đám thảo khấu bu đến cưỡng đoạt đất đai mà mồ hôi và nước mắt của anh Vươn và gia đình đã đổ ra trong hằng chục năm qua để chiến đấu với biển với sóng. Viên Đại tá công an nói: "Khi chúng tôi cưỡng chế, người dân nơi đây rất đồng tình. Tuy nhiên vụ việc có cái dở đó là tổ công tác khá chủ quan, không lường hết được các tình huống. Từ sau hòa bình đến nay, người dân Tiên Lãng khá thuần nên huyện nghĩ rằng không có việc chống đối như thế". 70 năm tư duy người cộng sản có khác gì đâu, họ vẫn xem dân không phải là người mà chỉ cần thuần hoá như những đàn súc vật không hơn không kém.

Đảng đã cho ta gần 70 mùa xuân “khá thuần” cho nên khi những anh chị em ngư dân của chúng ta bị Trung Quốc đem tầu hải giám xâm phạm lãnh hải, bắt cóc đòi tiền chuộc và giết hại, đa số chỉ biết lặng câm khi đọc trên báo hoặc nghe những người phát ngôn của chính phủ gọi là “tầu lạ”. Đảng đã thuần hoá chúng ta giống như những con đà điểu chỉ biết vùi đầu trong cát khi gập giông bão. Đảng hèn hạ không dám đối đầu với bọn bá quyền Trung Quốc thì cũng hiểu đươc, nhưng cả 90 triệu người trong nước đều im lặng trước lối giải thích “lạ” về “tầu lạ” thì không thể nào không khen cuộc cách mạng xhcnVN đã thành công trong mức độ thuần hoá con người như thế nào? Đảng đã thuần hoá người dân để mọi người chấp nhận những sự “phi lý” từ nay trở thành “có lý”, đảng thành lập Dân quân biển để cùng nhau bảo vệ khi bị tầu lạ quấy rối, thế thì lực lượng hải quân, không quân với tầu ngầm Kilo và máy bay hiện đại để làm gì? Đảng dùng ống đu đủ thổi vào hậu môn của những Hiệp sĩ đường phố ở Bình Dương và lợi dụng nhiệt huyết của họ để chống tội phạm, trong khi đó thì sử dụng công an đi hiếp dân, bắt chẹn, ăn hối lộ. Quân đội nhân dân thì lo xây sân golf trong phi trường, đi làm kinh tế thậm chí mở nhà nghỉ, khách sạn, phòng massage nuôi béo bọn tướng tá. Công an thì nay bẻ cổ dân, mai giải toả nhà, đi đến đâu ngửa tay xin tiền đến đó. Công chức phường khóm thì hậm hoẹ khó dễ cho đến khi lòi ra phong bì. Ôi những mùa xuân vắng bóng công lý đảng đã cho ta! Mùa xuân nào cũng chỉ ở cùng chúng ta vài ba tháng, nhưng mùa xuân của trăm hoa đua nở, trăm nhà lên tiếng đã bắt chúng ta phải ngậm miệng đến gần 70 năm qua.

Độc lập ở đâu khi mà mảnh đất quê hương đang bị người nước lạ hằng ngày đào phá beauxit, độc lập chỗ nào khi lòng dân sôi sục vì biển đảo bị chiếm đoạt bởi một lũ lạ người lạ ngợm, nói thẳng ra là bè lũ Đại hán Trung Quốc, ấy thế mà viên chức cao cấp của Bộ Ngoại Giao Việt Nam lại nói rằng “Yêu cho roi, cho vọt”, yêu kiểu đó thì tại sao quân đội nhân dân Việt Nam lại không dám “yêu lại” nhỉ? Hải quân Việt Nam Cộng Hoà họ có sợ đâu? Hay chính sách của đảng cs bây giờ là độc lập bằng miệng còn đất đai thì cứ từ từ bán, chẳng ma nào biết. Bọn Trung Quốc đã ở khắp đất nước rồi đó, chúng có mặt ở cao nguyên, chúng nằm ngay Lâm Đồng, chúng ngồi chồm hổm trong Bộ Chính Trị. Hàng hoá made in China ngự trị từ Mống Cái đến Cà Mâu, phim Tầu chiếu hết bộ này qua bộ khác trên TV do nhà nước kiểm soát. Có độc lập không khi đảng bắt những em bé gái mặc quần áo tầu đứng dưới trời giá lạnh cầm cờ sáu sao đón quan Thái Thú Tập Cẩn Bình?

Tự do theo nghĩa nào mà người dân chỉ mới nói đến hai tiếng thân yêu Hoàng Sa và Trường Sa là đủ để công an đạp vào mặt, bắt bỏ tù, lôi kéo trên đường phố như súc vật. Tự do đâu mà Điếu Cày, người đã từng phục vụ chế độ trong hàng ngũ quân đội nhân dân bị giam quá hạn tù và cho đến nay vợ con vẫn không biết sống hay chết! Ấy thế mà bà Giáo sư, Phó Chủ tịch nước người có nhan sắc làm nhục tất cả phụ nữ Việt Nam lại còn nhe hàm răng vẩu cho rằng đất nước ta dân chủ gấp vạn lần bọn tư bản giẫy chết. Liêm sỉ là điều không bao giờ có ở bọn đứng đầu nguỵ quyền cộng sản Việt Nam . Tự do ở chỗ nào mà cả nước có 700 nhật báo, tuần báo, đài phát thanh, đài truyền hình và tất cả đều nằm trong tay đảng? Cái thứ tự do trong tù ngục, tự do giữa bốn bức tường giam, tự do được kiểm soát bởi bọn cai ngục.

Hạnh phúc, có thật là chúng ta được hạnh phúc không? Còn tùy theo cái nhìn của mỗi người, nhưng tại sao chúng ta không hỏi Trịnh Kim Tiến về mảnh khăn tang chị quàng trên đầu bên di ảnh người cha ông Trịnh Xuân Tùng đã bị tên Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh chết, chxhcnVN quả là ưu việt, công an đánh chết người chỉ bị tuyên án 4 năm (tôi dùng chữ chỉ ở đây có nghĩa là tên Ninh rất có nhiều cơ hội được giảm án sau một hai tháng tù, và được tha sau một năm vì có hành vi tốt) chưa biết chừng hắn sẽ được âm thầm chuyển công tác về một địa phương khác với chức vụ cao hơn, những tên đao phủ như Nguyễn Văn Ninh là vốn quý của đảng! Muốn biết rõ hơn nữa, hãy hỏi chị Thanh Tuyền và câu chuyện đau thương về người chồng bị giết chết ngay trong đồn công an Bình Dương. Hạnh phúc hay không cứ nhìn vào gia đình nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn và nữ anh thư đất Việt Huỳnh Thục Vy, họ chỉ có một tội là dám viết lên sự thật và đảng thì chỉ thích nói dối quanh co. Tôi không thể nào quên được hình ảnh chị Trần Thị Nga tay bồng con nhỏ đi biểu tình chống Trung Quốc và cái đảng hèn hạ này đã nhanh chóng xù lông nhe nanh vuốt, đưa công an đến khoá trái cửa nhà chị Nga, chúng nhốt người ngay tại nhà như nhốt con vật trong sở thú. Hạnh phúc như thế nào khi người vợ anh Đoàn Văn Vươn ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng nghẹn ngào trong nước mắt “Gia đình tôi năm nay không có Tết” vì nhà cửa đã bị chính quyền địa phương giật sập. Hạnh phúc trên vành khăn tang đảng đã đem lại mùa xuân cho Trịnh Kim Tiến & Thanh Tuyền, một mùa xuân uất nghẹn vắng cha mất chồng. Hạnh phúc được sống cảnh màn trời chiếu đất, đảng đã mang lại mùa xuân cho gia đình người kỹ sư Đoàn Văn Vươn. Hạnh phúc trong bốn bức tường lao lý là quà của đảng gửi cho Trần Huỳnh Duy Thức, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Lý. Hạnh phúc được tự nhiên vào trại phục hồi nhân phẩm hai năm không cần ra toà đảng đã tặng cho Bùi Thị Minh Hắng. Những hạnh phúc đắng như thuốc bắc và cay gấp vạn lần ớt hiểm.

Ôi dân tộc tôi và những uất hận của 70 mùa xuân đảng đã đem về!
Mùa xuân MẬU THÂN 1968. Lịch sử Việt Nam sẽ không thể nào quên mùa xuân tang tóc 1968. Chúng tôi được nhồi nhét tại học đường về nhà thơ vĩ đại Hồ Chí Minh, khi nghe thầy cô chính trị khen thơ đầy mùi nước mắm con thuyền Nghệ An của ông cả bọn chúng tôi chỉ biết nhìn nhau với ánh mắt cười đểu. Nhưng khi nghe thế hệ cha anh và đặc biệt là mấy bác người Huế bạn của ba mẹ tôi kể về biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế và các tỉnh thành miền nam. Kể về hình ảnh những sinh viên dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà như Nguyễn Đắc Xuân, anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan đi theo cách mạng và quay về đeo súng chạy trên đường phố Huế giết người không gớm tay (theo tôi, những tên này cần phải đem ra Toà án Quốc tế Nuremberg để xử như bè lũ Pol Pot). Nhưng có lẽ tên tội phạm lớn nhất của đất nước Việt Nam sẽ không ai khác hơn là nhà thơ và đồng thời là cái xác chết ở Ba Đình hôm nay. Hy vọng lịch sử sẽ công minh và chắc chắn sẽ phải là như thế thôi. Năm 1968, ông Hồ đã gửi đi mệnh lệnh giết người qua đài phát thanh Hà Nội với bốn câu thơ:

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà,
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”

Lịch sử văn chương thế giới chưa có bài thơ nào mà lại giết nhiều người như thơ ông Hồ. Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy uất nghẹn, đó là mùa xuân 1968 khăn tang phủ trùm trên một nửa đất nước. Hãy tạm cất trái tim vào ngăn kéo vài giây và thử đếm xem số nạn nhân bị quân Mỹ thảm sát ở Mỹ Lai so với thành quả đảng csVN giết người năm Mậu Thân 1968, Mỹ Lai sẽ chẳng thể nào so sánh bằng và đó là sự thật. Hơn 5,000 người dân Huế đã bị vùi dập trong những ngôi mộ tập thể, tiếng khóc vang tận trời xanh.

Năm 1968 đã mở màn cho cả thế giới thấy một hình ảnh thật của bộ đội cụ Hồ chân đi dép râu, đầu đội nón tai bèo điên cuồng lùng diệt những người họ đi giải phóng, và giải phóng thật sự cho họ về thế giới bên kia. Nói cho công bằng thì bộ đội miền bắc vào đánh miền nam năm Mậu Thân 1968 cũng tử trận với một con số cực kỳ cao, chiến thắng đã không đứng về phía kẻ xâm lăng nhưng vết thương hằn mãi trong lòng dân tộc.

Đêm 28 Tết mới đây, tôi cùng bạn bè đi chợ hoa trên đường Nguyễn Huệ, Sàigòn và tôi không khỏi uất hận khi thấy xuất hiện trên đường phố những bảng tuyên truyền về chiến thắng Mậu Xuân 44 năm trước. Cho đến nay, 2012 đảng vẫn còn say men trong tiệc máu đồng loại, tại sao đảng lại không kỷ niệm cuộc đại cách mạng cải cách ruộng đất nhỉ? Trưng bầy những biểu ngữ ca ngợi chiến thắng Mậu Thân cho chúng ta thấy rất rõ ràng là đảng chưa bao giờ đứng về phía nhân dân cả. Bất cứ người Việt có tâm hồn nào ở hai miền bắc và nam nếu còn lương tâm chắc sẽ phải hổ thẹn về thành tích Mậu Thân, anh em cùng cha cùng mẹ, cùng máu đỏ da vàng giết nhau. Tôi được biết qua tìm hiểu, tại Hoa Kỳ sau trận nội chiến Bắc Nam người Mỹ đã chôn chiến sĩ hai miền chung một nghĩa trang Arlington xoá đi hận thù, quên đi quá khứ. Tại Việt Nam cái đảng cầm thú 44 năm sau Tết Mậu Thân vẫn còn hô hào chiến thắng người miền bắc giết người miền nam và nghĩa trang Quân đội Biên Hoà của chế độ Việt Nam Công Hoà vẫn còn trong hoang phế, với hình ảnh trên bia mộ người đã khuất bị đục mắt, đục tên. Cầm thú cũng chưa bao giờ thù xác chết và việt cộng còn cao hơn cả cầm thú trên ý nghĩa này.

Máu anh em hai miền đã thấm vào đất Mẹ, xương đã khô trên đồi quê hương. Nhưng cho đến ngày hôm nay giải khăn tang vẫn còn trắng xoá trên đầu Trịnh Kim Tiến & Thanh Tuyền và nước mắt vẫn còn tuôn trong hằng ngàn trại tù cải tạo khắp nơi trên cả nước cùng thân nhân và gia đình họ. Tội ác diệt chủng.

Mùa xuân GIAN DỐI 1976. Ngày 30/4/1975 khi những chiếc xe tăng Nga và các anh bộ đội chân dép râu dẫm nát đời son trẻ, nón tai bèo che khuất nẻo tương lai tiến vào thành phố Sàigòn niềm vui đâu chưa thấy, chỉ nửa tháng sau một thông báo ngắn gọn của Uỷ ban Quân quản được ký bởi tên Đại tá công an Cao Đăng Chiếm kêu gọi các sĩ quan, binh sĩ, nhân viên chế độ VNCH đi trình diện học tập cải tạo 3 ngày, 10 ngày, hoặc một tháng tuỳ theo cấp bậc và chức vụ. Người miền nam chưa bao giờ sống và hiểu cộng sản cả, gần một triệu thành viên quân cán chính VNCH đã ra trình diện và cái 10 ngày đã trở thành 10 năm hoặc hơn thế nữa, chưa kể nhiều người đã chết trong tù.

Đây là vết nhơ lịch sử, là sự gian dối vĩ đại nhất mà không một chính quyền có lương tâm và đạo đức nào làm. Nhưng đây cũng là đạo đức thật của Hồ Chí Minh. Đất nước Việt Nam sau 37 năm đến nay vẫn còn anh em bắc nam hận thù nhau cũng chỉ vì vậy. Mẹ tôi kể, một người bà con bên ngoại gia đình ở bắc vào nam thăm và được biết bố tôi phải đi học cải tạo, người dì ngoài bắc đã khóc thật to giữa nhà và nói: - “Sao bố mày dại thế, tin được chúng nó à. Tao ở ngoài đó năm 1972 khi Mỹ đánh bom 12 ngày đã tưởng quân Sàigòn ra giải phóng rồi, khổ thân, sao lại để chúng nó vào đây?
”Bây giờ dân miền nam chúng tôi nói riêng và cả nước nói chung đã hiểu các ông rồi!Tôi viết những hàng này trong đêm giao thừa thiêng liêng của dân tộc. Không dám thay mặt ai, nhưng tôi một công dân tên “Tuổi 20” xin dõng dạc trả lại đảng những mùa xuân tang tóc, đầy uất hận. Và cho tôi gửi đến đảng csvn thông điệp đêm Giao thừa 2012, đó là: NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.
1) Tuổi trẻ Việt Nam ngày hôm nay đã quen với thế giới @, iPhone và iPad, sẽ không dễ bị che mắt, bịt mặt và lừa đảo như thế hệ cha anh chúng tôi. Nếu 14 ông bà bộ chính trị, những đỉnh cao của sở thú còn tin vào quyền năng vô hạn của hơn 700 tờ báo, đài phát thanh, và truyền hình các vị có thể định hướng, dẫn dắt chúng tôi. Hãy tỉnh thức, Việt Nam hôm nay có hằng triệu triệu người trẻ không buồn đọc báo, không thèm nghe đài và đang âm thầm cùng nhau xây thêm ống cống đủ cỡ cho các vị, và các quan tham. Chúng tôi sẽ thi đua mừng (đảng quang vinh) bằng cách làm vượt chỉ tiêu những ống cống thật to và thật chắc, bảo đảm (muôn năm). Hatka đã thay mặt chúng tôi gửi quà Tết đến 14 con khỉ đột Bộ Chính Trị, nếu những ống cống đó còn quá nhỏ với xác thân mỡ màng của 13 con đực và 1 con cái, xin vui lòng cho biết chúng tôi sẽ thay thế bằng ống cống to hơn. NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.

2) Tuổi trẻ chúng tôi hôm nay không sinh ra trong rừng, cũng không tốt nghiệp bổ túc hay chuyên tu, cho nên đảng csVN chớ có dại dột lầm tưởng chúng tôi là bầy cừu non dễ bảo, dễ nghe. Chính cái hệ thống xã hội và giáo dục thấp kém của cnxh do quý vị lập ra đã khiến chúng tôi trở thành nhiều loại người nổi loạn mang đặc thù khác nhau. Loại tuổi trẻ thứ nhất nổi loạn, ăn chơi đàn điếm, lái xe sang trọng hằng tỷ đồng, uống rượu ngập đầu trong các nhà hàng sang đó chính là con cháu quý vị được xã hội gọi là “bọn 5 C” (con cháu các cụ cả), loại này là thứ dòi bọ lớn lên trong đám phân và họ không thể đại diện cho chúng tôi. Thành phần tuổi trẻ thứ hai, bị gia đình và xã hội bỏ rơi và từ đó cuốn lốc vào tội phạm cướp của giết người như tên Lê Văn Luyện, đây là thành phần cháu ngoan bác Hồ, chúng tôi cũng xin phép đứng xa với tất cả sự tiếc nuối vì chẳng qua họ chỉ là những hạt giống ngây thơ bị gieo trồng trong mảnh đất xhcn vô cảm, nơi công an giết người vô luật vô pháp, nơi cảnh sát giao thông ngày đêm cướp cạn của dân, nơi Phó Giám đốc Sáu lèo tỉnh Sóc Trăng đánh bạc thua hằng tỷ. Trưởng thành trên mảnh đất tồi tệ đó thì tuổi trẻ Việt Nam có thêm một Lê Văn Luyện thì cũng không phải là điều ngạc nhiên, họ là những sản phẩm đặc trưng của cnxh, những quái thai của thiên niên kỷ. Chúng tôi không thuộc hai loại tuổi trẻ trên, xin đừng lầm.Chúng tôi là tuổi trẻ mặc áo NO U, chúng tôi là Hoa hậu biểu tình Trịnh Kim Tiến, chúng tôi là binh nhì Nguyễn Tiến Nam, chúng tôi là anh thư Phạm Thanh Nghiên, chúng tôi là Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Thị Thanh Bình, chúng tôi là anh hùng Đoàn Văn Vươn, khi chúng tôi dám ngăn biển đắp đê thì phát súng của chúng tôi chắc chắn sẽ không thua gì sóng biển vang âm toàn thế giới. Súng đã nổ và cuộc chiến đã khởi đầu trên cả nước.

Tuổi trẻ chúng tôi không súng không đạn, không máy bay Sukhoi, không tầu ngầm Kilo nhưng khác với hải quân của quý vị chúng tôi không sợ Tầu cộng. Chúng tôi không đeo quân hàm tướng tá, nhưng sẽ không bao giờ hèn như các ông tướng phường tuồng Phùng Quang Thanh hay Nguyễn Chí Vịnh hèn hạ khép nép trước quan Thái thú Tầu. Thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay chiếm hơn 2/3 dân số và chúng tôi đang mỗi ngày góp lửa để đốt sạch cái chủ nghĩa cs hết thời trên quê hương Việt Nam . Hôm nay chúng tôi chỉ là những ngọn nến nhỏ, khi góp lại chúng tôi thành sức mạnh Thái Hà, thành đêm tỉnh thức nơi nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Hôm nay, tiếng nói của chúng tôi có vài triệu người xem trên Dân Làm Báo, ngày mai tiếng nói đó sẽ thành sóng biển Đông cuốn trôi chế độ bạo tàn. NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.

3) Tuổi trẻ chúng tôi không thích những kẻ loạn ngôn, chúng tôi lợm giọng và buồn nôn khi thấy quý vị ngu dốt, trơ trẽn và vô liêm sỉ đến tột cùng khi tiếp tục lải nhải “Đảng csVN quang vinh muôn năm” Có ai lại tôn vinh cái đảng mà bàn tay thấm máu dân mình, cái đảng xây nhà tù nhiều hơn trường học, cái đảng dựng phòng massage nhiều hơn nhà thương. Cái đảng đem con gái ra trần truồng phơi bầy trước người Đài Loan, Hàn Quốc để họ sờ nắn như đi mua gà vịt với một hy vọng mong manh là sớm được thoát ra khỏi thiên đàng xhcn. Muôn năm thế nào được khi những ông bà quan tham, lúc chưa có quyền hành thì năm anh việt cộng đu cành đu đủ cũng không gẫy, khi có chức quyền chỉ một hai năm sau béo no, béo tròn, mắt mũi húp híp mở không ra, không tin, cứ nhìn các quan phường xã trở lên thì sẽ rõ. Xin đừng lộng ngôn mang cái đảng 4 triệu người hèn với giặc, ác với dân ra và bắt gần 90 triệu còn lại phải tung hô “muôn năm”, chúng tôi không phải dân Bắc Triều Tiên!

Đừng ru ngủ chúng tôi bằng những hội hè, đình đám. Đừng mang những ca sĩ, người mẫu chân tay như bộ xương khô và bao nhiêu thịt (kể cả silicon đổ dồn vào ngực) và bảo đó là tuổi trẻ Việt Nam . Đảng csVN dưới sự chỉ đạo của 14 bộ óc “siêu nhỏ bé” vừa qua đã làm nhục cả dân tộc qua hình thức vận động ĂN GIAN bình bầu cho Vịnh Hạ Long trở thành kỳ quan của thế giới, ăn gian vì bất cứ một cuộc bầu cử chân chính nào mỗi người chỉ được phép xử dụng một phiếu, nhưng với Việt Nam thì khác, ăn gian ăn quỵt công khai không biết ngượng, cả một hệ thống tuyên truyền hùng hổ của nhà nước cổ động mỗi người bầu hằng trăm hay thậm chí ngàn lần! Bảo khối óc của quý vị là “siêu nhỏ bé” thật không ngoa, cứ xem hình ảnh cháu của ông Bộ trưởng Thông tin và Du lịch, ngồi chưa vững mấy tháng tuổi mà đã biết cầm điện thoại bình bầu cho vịnh Hạ Long thì đủ thấy cái khôi hài, kệch cỡm như thế nào? Còn gì nữa về những khối óc “siêu nhỏ bé” của 14 đỉnh cao trí tuệ, cái tổ chức bình bầu kỳ quan thế giới đó là tổ chức tư nhân NOW, không được Liên Hiệp Quốc công nhận. Làm sao mà một đảng ưu tú với hơn ba triệu đảng viên mà lại ăn phải quả lừa lớn như thế? Ngôn ngữ Việt rất phong phú, nếu mang chữ CON NGƯỜI tách ra làm hai thì mọi người sẽ thấy thành quả của đảng quang vinh đã huấn luyện cho chúng ta thành CON nhiều gấp vạn lần thành NGƯỜI. Sau gần 70 năm trong tăm tối, chúng tôi đã tỉnh thức hãy chờ và xem. NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.

Tuổi trẻ Việt Nam, bạn bè quen và chưa quen của tôi ĐỪNG SỢ HÃI! Chúng ta không cần lãnh tụ, vì mỗi người trong chúng ta đã là người điều hành chính bản thân mình.
Việc làm đơn giản nhất các bạn có thể làm là hãy phổ biến Dân Làm Báo và bài viết này đến bạn bè, người thân của mình.Nếu bạn ở nước ngoài, không cần giấy phép tác quyền hãy phiên dịch bài viết này, người viết chỉ xin bạn đừng sửa hoặc thêm bớt và gửi cho chính phủ, Thủ tướng, Tổng thống, Thượng nghị sĩ, Dân biểu, chính quyền địa phương nơi bạn đang sống. Hãy cất lên tiếng nói của tuổi trẻ Việt Nam . Một tiếng nói không ai nghe, nhưng hằng ngàn, trăm ngàn, và hằng triệu người cùng nói, nhân loại sẽ nghe.
Sống trong nước, tuổi trẻ Việt Nam khôn ngoan hơn chúng ta sẽ cất lên tiếng nói khác, âm thầm nhưng vũ bão. Chỉ cần các bạn tự mình và thuyết phục gia đình cùng nhau RÚT TIỀN ra khỏi tất cả các ngân hàng trong nước và thay vào đó mua vàng để phòng thân. Chỉ cần 24 tiếng đồng hồ thôi, chiến dịch XIẾT HẦU BAO nay sẽ đánh ngay vào tử huyệt nền kinh tế của chế độ. Tết sẽ qua, chi tiêu sẽ bị thâm thủng vì quà cáp, lì xì, hội hè đình đám, đây là thời điểm tuyệt vời để RÚT TIỀN. Việt kiều ở nước ngoài hãy gọi điện thoại về quê nhà khuyến khích thân nhân rút tiền vì không phải ai cũng có điều kiện đọc bài viết này.

Tôi đã góp ý cùng ba mẹ và các cụ sẽ làm ngay sau Tết, các cụ cũng sẽ rỉ tai bạn bè. Chúng ta không đánh chế độ bằng súng đạn, máu Việt Nam đã đổ ra trong hằng bao năm qua. Chúng ta hãy đánh bọn động vật hoang dã bằng khối óc của tuổi trẻ. Tại sao chúng ta phải cứ nai lưng nộp tiền nuôi những người cướp nhà, cướp đất của chúng ta? Tuổi trẻ Việt Nam cùng các thế hệ cha anh cả nước ĐỨNG LÊN, chúng ta đã quỳ gối bao năm rồi. Chúng ta cần ĐÓNG CỬA các ngân hàng trong nước, nên nhớ bọn tham quan của chế độ cùng vây cánh đang dùng tiền chúng ta gửi ngân hàng để quay về giết chúng ta, câu chuyện người anh hùng Đoàn Văn Vươn là một điển hình.
Nhân danh nhà nước (có ai biết nhà nước là ai đâu?) chúng thu hồi đất đai để bán cho tư bản đỏ, và tư bản đỏ vay tiền ngân hàng nơi chúng ta ký gởi. Đừng suy nghĩ sai trái là tôi gửi ngân hàng có vài trăm ngàn, rút ra sẽ chẳng nghĩa lý gì. Bạn đang lầm to ngân hàng trong nước hiện nay đang sống bằng những đồng tiền nhỏ bé của bạn đấy, lấy thí dụ: Bạn gửi khoảng 200,000 trong ngân hàng và có 100 người như bạn ngân hàng sẽ thu vào 20,000,000, cứ thế mà nhân ra và tiền của bạn sẽ được chuyển thẳng vào tay tư bản đỏ dưới hình thức cho vay. Các đại gia “tư bản đỏ” sẽ dùng số tiền của bạn gửi ngân hàng để quay lại mua ruộng vườn, nhà cửa đất đai của bạn với giá rẻ hơn bèo sau khi đã hối lộ bọn quan tham địa phương. Chúng nó mượn đầu heo nấu cháo, chúng nó uống rượu, chơi gái bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt của chúng ta, hãy tỉnh thức.

Kế tiếp, tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay cao nhất Châu Á và đứng hàng thứ hai trên thế giới, đây là lời tuyên bố của ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành uỷ Hà Nội, Uỷ viên Bộ chính trị, có nghĩa là đồng tiền Việt Nam sẽ càng ngày càng mất giá. Để kiểm nghiệm điều này, bạn hãy so sánh giá một bó rau muống, một cân thịt hoặc một tô phở của năm trước với năm nay bạn sẽ thấy ngay. Vật chất là tô phở, bó rau muống, ký thịt thì vẫn không thay đổi, chỉ có giá tiền là tăng lên thôi, đó là chứng minh hùng hồn của đồng tiền Việt Nam ngày càng mất giá. Tiền bạn gửi ngân hàng hôm nay có thể mua được 10 tô phở và năm sau lấy ra cộng cả tiền lời do ngân hàng trả lúc đó đừng nghĩ đến 10 tô phở nữa kẻo sẽ thất vọng to. Chính vì thế, ngân hàng và tư bản đỏ cấu kết với nhau dùng tiền của chúng ta ngay từ bây giờ để làm giầu, hãy tỉnh thức. RÚT TIỀN RA KHỎI NGÂN HÀNG.Chúng ta đã câm lặng trong 70 năm qua. Chúng ta đã bị bóp cổ bóp miệng trong 70 năm qua. Chúng ta đã bị lợi dụng trong 70 năm qua. Xương máu hai miền đã đổ ra chỉ để nuôi bầy thú dữ! RÚT TIỀN RA KHỎI NGÂN HÀNG chúng ta sẽ khai tử chế độ cộng sản Việt Nam trong vòng một tuần lễ.

NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.

Tuổi 20

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tiền và máu! -

Tạp ghi Huy Phương
“Ưu điểm” của chế độ CHXHCN hôm nay:
Cái gì cũng có thể bán và không có gì không mua được!


Trong nghìn chuyện quái đản xảy ra ở Việt Nam lâu nay, bây giờ lại có thêm một chuyện quái đản nữa, là có lẽ rồi đây, thanh niên có thể tránh chuyện đi lính bằng cách đóng tiền, nói rõ là từ nay thanh niên Việt Nam sẽ góp đồng tiền thay việc góp máu cho quốc gia. Một trung tướng CSVN, cũng là dân biểu Quốc Hội, chủ nhiệm Ủy Ban Quốc Phòng-An Ninh, ông Trần Ðình Nhã, đã có dự thảo như thế để sửa đổi “Luật Nghĩa Vụ Quân Sự”.


Phải chăng đây là một hình thức hợp thức hóa cho những tệ nạn lo lót tiền để khỏi phải đi “nghĩa vụ” cho phường đội, huyện đội và những người trong hội đồng tuyển “nghĩa vụ quân sự” lâu nay, cũng như người ta đã có ý kiến đề xuất cho hợp thức hóa nghề mãi dâm.


Chuyện này hẳn có lợi cho một lớp người có đặc quyền, đặc lợi tham ô có tiền, lớp người làm thương mãi buôn bán, mánh mung trục lợi từ nhân dân, sẽ dùng tiền để che chở cho con cháu họ khỏi ra chiến trường. Số phận “anh hùng” từ nay sẽ dành cho đám quần chúng nghèo hèn, hẩm hiu này, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, không có tiền đóng cho đảng và chính phủ, chỉ có phần máu và thân xác nhỏ nhoi, cống hiến cho tổ quốc thay cho lớp có tiền. Cuối cùng chỉ có nhân dân khốn khổ phải phơi thây, còn nơi ấm cúng và chỗ ngồi tốt lành dành cho con cái đảng.


Dù chính sách của Cộng Sản lâu nay vẫn tìm cách chỉ trích, bôi xấu chế độ tư bản, thực dân xâm lược hay chế độ tự do miền Nam thế nào đi nữa, nhưng đứng trên cương vị của một công dân phục vụ cho tổ quốc, chế độ CSVN hiện nay còn phải mở mắt học hỏi thêm nhiều bài “công dân giáo dục” và đạo làm người của những phe mà họ cho là kẻ thù.
Tôi xin kể chuyện hai gia đình “kẻ thù” điển hình mà có lẽ chiến sử Cộng Sản ghi rõ hơn ai hết về tư cách phục vụ cho tổ quốc của những thanh niên “anh hùng” không hề núp bóng ô dù, không hề có chuyện “hy sinh đời bố, củng cố đời con!”


Chúng ta đã biết mặc dù mang cấp bậc đại tướng trong quân đội Pháp, Jean de Lattre de Tassigny có con trai là Thiếu Úy Bernard, được đưa đến chiến trường Ðông Dương năm 1949, một nơi được xem là có những trận chiến ác liệt, và đã tử trận tại Ninh Bình trong một cuộc tấn công của Việt Minh, năm 1951, khi mới 23 tuổi. Ông nội và cha của Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ John McCain đều từng là đô đốc bốn sao của Hải Quân Hoa Kỳ, nhưng gia đình này không phải là cái dù, để cho Thiếu Tá McCain khỏi phải bay dưới hỏa lực phòng không của Hà Nội và bị bắn rơi năm 1957.


Nhìn về phía VNCH, Ðại Úy Phi Công Phan Quang Tuấn bị bắn rơi tại mặt trận Quảng Trị, trong khi thân phụ ông, Bác Sĩ Phan Quang Ðán, một thời là quốc vụ khanh và bộ trưởng, thừa quyền lực để mang con trai về một nơi an toàn. Phan Xuân Hiệp, sĩ quan Nhảy Dù, rồi Biệt Ðộng Quân, đụng trận, bị thương ở chiến trường Cheo Reo, Phú Bổn, là con trai của con trai Tướng Phan Xuân Nhuận, chỉ huy trưởng BÐQ.


Về phía Cộng Sản miền Bắc, nơi mà “ra ngõ gặp anh hùng,” “danh tướng” Võ Nguyên Giáp, có hai người con trai đều không dính líu gì đến súng đạn. Con trai trưởng tên Võ Ðiện Biên, một cái tên rất “ấn tượng,” sinh năm 1954, nhưng xong trung học phổ thông, khoảng năm 1971, trong khi thanh niên miền Bắc đang đổ máu, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,” ông con này đã được bố gửi sang học ở Học Viện Kỹ Thuật Hàng Không Giucopxki ở Liên Xô.


Học viện này là trung tâm hàng đầu đào tạo cán bộ cho ngành khoa học hàng không và nghiên cứu hàng không vũ trụ. Ra trường, trở về phục vụ cho quân đội, nói cho oai, nhưng lại nằm trong một cái vỏ bọc bằng nhung được gọi là ngành khoa học công nghệ... Bây giờ Võ Ðiện Biên là giám đốc công ty cổ phần Ðông Sơn, chuyên cung cấp các thiết bị máy móc kỹ thuật cho các cơ quan, doanh nghiệp.

Con trai út là Võ Hồng Nam (1956), tốt nghiệp Ðại Học Bách Khoa, hiện là giám đốc công ty cổ phần máy tính truyền thông Hồng Nam. Năm 1984, ông Võ Hồng Nam sang Hungary làm thực tập sinh kỹ sư công nghệ ở liên hiệp vi điện tử MEV, Buddapest, rồi kỹ sư lập trình ở viện nghiên cứu máy tính và tự động hóa Buddapest. Về nước, ông trở thành giám đốc công ty này, một doanh nghiệp làm ăn phát đạt.


Chính vì điều gì cũng nhân danh nhân dân, nhất là nhân dân thuộc loại bần cùng, đói khổ nên nhân dân phải chịu nhận vinh dự chết cho tổ quốc, để những “con ông, cháu cha” những kẻ quyền lực và có tiền ung dung ra ngoại quốc hay được điều động về trung ương, giữ những chức vụ béo bở.


Nếu đóng tiền để khỏi đi lính, thì rồi đây chính phủ sẽ ấn định bao nhiêu cho mỗi người để gọi là đủ: $500, $1,000 hay $10,000 cũng là quá rẻ để nằm trong chăn ấm, nệm êm, tránh được chuyện xa nhà, nỗi nhọc nhằn tập luyện tại quân trường, và những nguy hiểm lúc đất nước có chiến tranh. Chỉ còn lại là đám “nhân dân anh hùng” đi bộ đội cho có cơm ăn và sẵn sàng chết cho đứa có tiền.


Chúng ta thường mỉa mai lên án những lực lượng lính đánh thuê cho một đất nước không phải của mình, như Quân Ðoàn Lê Dương Pháp (FFL) mà toàn bộ binh lính được tuyển mộ từ nước khác, như 400 người Nga đang chiến đấu như lính đánh thuê ở Syria, như Blackwater, đoàn lính đánh thuê thiện chiến của Mỹ...


“Quân đội Cụ Hồ” rồi đây sẽ là một đoàn quân đánh thuê: Không phải là thứ đánh thuê cho một quốc gia khác, mà đây là đánh thuê cho giai cấp, giai cấp bần cố nông đánh thuê cho giai cấp cầm quyền, tư bản, là những kẻ bỏ tiền ra để mua máu người khác thay vì phải đổ máu của mình ra. Những người nghèo không có tiền đóng cho chính phủ sẽ cầm súng đánh thuê cho những kẻ có tiền bỏ ra thuê!


Ðó là “ưu điểm” của chế độ hôm nay: Cái gì cũng có thể bán và không có gì không mua được!

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Luật gia Lê Hiếu Ðằng trò chuyện với Bauxite Việt Nam

Về quyết định ra khỏi Ðảng Cộng Sản

LTS - Trang web Bauxite Việt Nam (BVN) cho đăng tải bài nói chuyện dưới đây, với lời ghi: “Sáng hôm nay, 5 tháng 12, 2013, chúng tôi đến thăm anh Lê Hiếu Ðằng tại bệnh viện 115. Theo nguyện vọng của anh, BVN có cuộc trò chuyện thân tình mặc dù anh đang trở bệnh. Sau đây là bản ghi âm cuộc trò chuyện ấy do chúng tôi văn bản hóa gần như nguyên vẹn nhằm gửi đến bạn đọc xa gần.” Nhật báo Người Việt xin giới thiệu nguyên văn bài nói chuyện này cùng độc giả Người Việt.

***

BVN: Thưa anh, sáng sớm hôm nay thế giới mạng đã lan truyền rất nhanh lời tuyên bố ra khỏi Ðảng Cộng Sản Việt Nam của anh sau hơn 40 năm ở trong đảng. Anh có thể cho biết vì sao anh chọn thời điểm này tuyên bố ra khỏi đảng?

LHÐ: Việc tôi tuyên bố ra khỏi đảng là hệ quả tất yếu của bài viết của tôi trước đây khi nằm trên giường bệnh. Nhưng do hoàn cảnh, do gia đình mà mình chưa thực hiện được. Nhưng bây giờ đã đến lúc thấy cần phải làm. Mình đã tuyên bố thì việc đầu tiên là chính bản thân mình phải ra khỏi đảng đã, rồi đến những người khác sẽ xem, nếu thấy việc làm của mình mà chính đáng họ sẽ hưởng ứng. Với lại bây giờ thấy đảng đã tệ hại quá đi. Vừa rồi Quốc Hội thông qua bản Hiến Pháp tôi thấy đi ngược lại hoàn toàn nguyện vọng, ý kiến của nhân dân. Tình hình kinh tế xã hội ngày càng xuống cấp, không thể nào chấp nhận được một cái đảng như vậy. Mình là một thành viên của đảng, dù sao mình cũng có trách nhiệm. Bây giờ mình ra khỏi đảng thì mình không còn trách nhiệm gì nữa. Mình là một công dân tự do. Với tư cách là một công dân tự do, mình có phạm vi hoạt động rộng rãi hơn, không bị vòng kim cô ràng buộc, mình có thể hoạt động rộng rãi, có thể sử dụng được tất cả các quyền công dân để mình đấu tranh.

BVN: Thực ra có không ít đảng viên muốn bỏ đảng nhưng không biết vì lý do gì mà họ vẫn lần lữa không chịu ra, hoặc chỉ lẳng lặng bỏ sinh hoạt mà không tuyên bố ra khỏi đảng. Cũng có những người tâm huyết nói với nhau cần đợi một thời điểm thích hợp sẽ cùng tuyên bố ra đảng. Anh nghĩ thế nào về tâm sự ấy?

LHÐ: Về thời điểm nào thích hợp thì tôi cho rằng thời điểm này là thích hợp rồi. Chế độ này đã quá tệ, mọi lĩnh vực đều xuống cấp không thể nào cứu vãn được, mà các ông ấy vẫn chỉ đặt lợi ích của các tập đoàn, của gia đình và bản thân chứ không còn đặt lợi ích của đất nước lên trên. Nhất là đối với người nông dân, cụ thể là vấn đề ruộng đất, người dân đã rất cực khổ mà mấy ông ấy vẫn rất vô cảm, có thể nói không có chút xúc động gì, không sửa chữa được gì hết mà còn tệ hại hơn. Vì thế tôi thấy không còn có thể chịu đựng được nữa.

BVN: Như vậy có nghĩa rằng lâu nay các đảng viên có tâm huyết, các nhân sĩ trí thức vẫn cứ kiên trì chờ đợi xem đảng, hay nói đúng ra là bộ phận lãnh đạo của đảng, có tiếp thu những ý kiến xây dựng chân thành, mở ra con đường dân chủ hóa đất nước hay không, nhưng cho đến lúc này thì họ đã hoàn toàn thất vọng, không thể còn trông cậy vào sự sửa chữa của đảng nữa?

LHÐ: Ðúng thế. Thời cơ vàng là sự sửa đổi Hiến pháp và Kiến nghị của 72 nhân sĩ trí thức, lẽ ra anh phải chú ý để có thay đổi, để tạo được không khí dân chủ, mà cơ bản nhất là chuyển một nhà nước chuyên chế, nhà nước toàn trị thành nhà nước dân chủ, để hòa vào dòng chảy của thế giới. Mà thế giới hiện nay đang chú trọng bảo vệ môi trường, bảo vệ nhân quyền, làm những việc thiết thân với con người hơn với CNXH rất xa xôi, mơ hồ không bao giờ có được, nói như ông TBT chờ 100 năm nữa vẫn chưa có được. Thế thì tại sao lại bắt cả dân tộc phải chờ đợi? Bản thân các ông ấy đều cho con cháu đi Mỹ, đi Châu Âu du học, tức là đi theo Chủ nghĩa Tư bản, thế mà lại bắt cả dân tộc đi theo CNXH chẳng ra cái gì cả. Nó xa xôi, nó chỉ là hứa hẹn suông. CNXH đã tan tành trên ngay quê hương nó là Liên Xô. Lẽ ra mấy ông phải mở mắt ra chứ thế mà cứ nhắm mắt mà đi theo. Như thế chứng tỏ các ông ấy chỉ đặt quyền lợi của bản thân lên trên chứ không quan tâm gì đến quyền lợi của đất nước của dân tộc.

BVN: Cũng có người nghĩ rằng thực chất thì đảng này đang xây dựng CNTB, tất nhiên là CNTB man rợ, CNTB thân hữu. Trong khi đó cứ tuyên bố theo CNXH, chủ nghĩa Mác-Lê nin, nhưng thực ra chỉ cốt để duy trì sự độc tôn, độc trị. Cũng có biện luận rằng làm như thế là để giữ ổn định cho xã hội, nếu bây giờ tuyên bố bỏ CNXH thì xã hội sẽ loạn. Cho nên họ cứ tuyên bố như thế nhưng thực chất thì họ đang tự động chuyển sang CNTB. Vậy thì có nên cứ lẳng lặng ủng hộ quá trình ấy hay là cần phải vạch ra cho rõ ràng, phải phê phán, phản đối, phải ra khỏi đảng?

LHÐ: Ðối với dân tộc, nói cái gì phải nói cho rõ ràng. Nói gì thì nói, CNTB man rợ nó còn tệ hơn trước đây. Tại sao anh lại không theo CNTB văn minh? CNTB cũng có mặt khiếm khuyết của nó nhưng lẽ ra phải không duy trì CNXH, CN Mác Lê-nin. Bây giờ có cái tệ hại là cứ dọa người dân là xã hội xáo trộn. Nhưng thực ra đôi lúc có sự xáo trộn một ít cũng rất cần thiết.

BVN: Con đường đấu tranh để chuyển hóa đảng Cộng sản, chuyển hóa xã hội sang dân chủ thì bây giờ ai cũng thấy là không thể dùng vũ lực lật đổ đảng Cộng sản, mà phải chuyển hóa một cách ôn hòa theo con đường mà đảng vẫn lên án là “diễn biến hòa bình”. Có phải vì thế mà gần đây anh đã tham gia Ban cố vấn của Diễn đàn Xã hội Dân sự? Anh có thực sự tin rằng phát triển xã hội dân sự là lối ra tốt đẹp cho đất nước hay không?

LHÐ: Bây giờ không hy vọng gì đảng và nhà nước thay đổi. Phải có yếu tố tác động đến mấy ông, phải xây dựng một xã hội dân sự mạnh đủ sức hạn chế quyền lực, tạo áp lực để mấy ông phải thay đổi. Bản thân tôi là đảng viên, cũng có nhiều bạn bè thân thiết, những đảng viên, những người lãnh đạo không cao lắm nhưng cũng là bậc trung, họ có những nhận thức tiến bộ, thấy được vấn đề, không mù quáng. Chỉ có những người chóp bu, ông nào cũng có lợi ích, có lĩnh vực để chia chác nhau làm cho đất nước khốn khổ vậy. Nông dân là lực lượng chủ chốt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vừa rồi, lẽ ra họ phải được hưởng nhiều, bây giờ họ lại khổ nhất. Chỉ có quan chức và bà con của quan chức là hưởng lợi nhiều. Ða số người dân thì rất khổ, phải ly hương phải đi tìm sự sống. Cái này không thể chấp nhận được.

BVN: Vừa rồi theo anh nói có những đảng viên ở cương vị khá nhận thức được vấn đề nhưng cũng có nhiều người, nhất là những người ngoài đảng thắc mắc trong hàng mấy triệu đảng viên có phải những người có nhận thức tiến bộ chỉ là thiểu số, nếu không phải như thế thì tại sao đa số đảng viên lại không lên tiếng? Có phải là những đảng viên thường không có tiếng nói, không có tác động gì tới đường lối của đảng, tức là họ cũng nằm trong bộ phận bị trị mà như thế không hề đúng với cương lĩnh của đảng?

LHÐ: Ðúng rồi. Tôi là đảng viên trong nhiều năm, sinh hoạt trong chi bộ tôi thấy các đảng viên, chi bộ, các cấp ủy chẳng có ý nghĩa gì, chỉ có mấy ông Bộ Chính trị, chóp bu quyết định thôi. Ban chấp hành Trung ương họp chẳng có ai dám nói gì đâu. Vừa rồi Quốc hội thông qua Hiến pháp chỉ có 2 người không bỏ phiếu thì có thể nói Quốc hội này là phản động, không phản ánh được ý chí nguyện vọng của nhân dân, nhất là vấn đề ruộng đất.

BVN: Nhân việc anh tuyên bố ra khỏi đảng, anh có gì nhắn nhủ với các đồng chí cũ của anh, tức là các đảng viên đảng cộng sản?

LHÐ: (Lặng im giây lát rồi vừa nói vừa khóc) Tôi có nhiều bạn bè là đảng viên, thực ra bây giờ tôi ra khỏi đảng rồi, không còn sinh hoạt đảng nữa. Lẽ ra bây giờ phải đoàn kết nhau lại để đấu tranh, phải có dũng khí, nếu ai cũng sợ cho bản thân mình, sợ cho bản thân gia đình mình thì đất nước sẽ ra thế nào, đất nước này ai lo? Thành ra tôi thấy thế này là không được, vì lợi ích cá nhân, gia đình, mà quên lợi ích đất nước thì không được, tôi thấy thế thì quá tệ hại.

BVN: Ngoài ra anh còn muốn thông qua diễn đàn Bauxite Việt Nam để nhắn nhủ điều gì nữa?

LHÐ: Tôi muốn nhắn anh chị em đảng viên trong đảng còn tâm huyết thì không có thời điểm nào thuận lợi bằng thời điểm này để tỏ thái độ để đấu tranh. Nếu bây giờ cứ nói tình hình lúc này chưa chín muồi, hoặc là chưa đúng lúc, thì bao giờ mới đúng lúc, mới chín muồi? Chính mình phải tác động để tình hình chín muồi chứ không lẽ ngồi chờ sung rụng à? Quan điểm ấy rất là tiêu cực, mọi người phải tích cực lên, đấu tranh mạnh mẽ, kể cả không sợ bắt bớ tù đày. Chỉ có kẻ yếu mới thích bắt bớ tù đày. Nếu mạnh thì phải đối thoại. Thí dụ như trường hợp của tôi chưa có ai đến đối thoại với tôi. Tôi nói thêm bây giờ chính là lúc của nhân sỹ trí thức. Bao giờ cũng vậy, xã hội nào cũng vậy, thời kỳ nào cũng vậy, nhân sĩ trí thức phải đi đầu, phải giương cao ngọn cờ đấu tranh, phải dũng cảm, đừng có sợ. Bây giờ là mình phải phá tan không khí sợ hãi mà bao nhiêu năm, từ năm 1954 đến giờ, do mấy ông tạo nên. Bây giờ tôi thấy, ai cũng sợ, cái gì cũng sợ. Sợ ma, sợ quỷ, sợ cái quái quỷ gì... Mình là con người tự do, mình sợ cái gì. Mình không sợ vì mình là chính nghĩa, và như vậy mình làm việc đúng thì không thể ai nói gì, làm gì được mình hết. Ðừng có nói chưa chín muồi. Tôi hy vọng nhân sĩ trí thức đừng có đặt vấn đề chưa chín muồi hoặc là chưa đúng lúc. Chín muồi là do tác động của xã hội dân sự. Xã hội dân sự mạnh lên thì sẽ có tác động. Mà muốn xã hội dân sự mạnh thì nhân sĩ trí thức phải làm.Vậy thôi.

BVN: Xin cảm ơn anh và xin nhanh chóng truyền tải tất cả những lời tâm sự chân thành và tha thiết của anh đến bạn đọc của Bauxite Việt Nam và qua đó sẽ gửi đến rộng rãi những người dân trong xã hội, kể cả những đảng viên và những người lãnh đạo của đảng. Một lần nữa cảm ơn anh và xin chúc anh chóng phục hồi sức khỏe.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Thế đứng Nhân Quyền vững chãi
Monday, December 09, 2013 2:00:30 PM

Bùi Tín (Blog VOA)
Ngày 10 tháng 12, 2013 năm nay là kỷ niệm lần thứ 65 ngày lịch sử ra mắt bản “Tuyên Ngôn Nhân quyền Quốc tế” 10 tháng 12, 1948.

Năm nay cuộc kỷ niệm ở nước ta diễn ra khác hẳn trước, mang nhiều nét mới.

Ngay từ giữa năm các bạn thanh niên, sinh viên nam nữ đã in, sao chép bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế (TNNQQT) gồm 30 điều để giới thiệu rộng rãi trong xã hội. Nhiều bạn đã gửi cho nhau những bản TNNQQT in đẹp coi như món quà quý để chuyền tay nhau đọc và nghiên cứu. Nhiều bạn thanh niên còn in các bản TNNQQT bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, Ðức, Nhật, Trung Hoa... để phổ biến trong nước và gửi ra nước ngoài.

Ở Hà Nội, Sài Gòn... nhiều bạn trẻ còn in thêm bản “Công ước Quốc Tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” cũng như bản “Công ước Quốc tế về những quyền dân sự và chính trị” được ban hành năm 1966.

Trong cả năm 2013 đã có nhiều cuộc xuống đường, dã ngoại, nhóm họp của công dân nam nữ để công khai trao đổi, thảo luận về ý nghĩa và vận dụng các văn kiện quốc tế quan trọng này.

Ðặc biệt năm nay chính quyền Việt Nam tự nguyện xin được vào Hội Ðồng Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc sau khi đưa ra lời hứa danh dự và 14 điều cam kết về nhân quyền. Do đó, việc thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ nội dung TNNQ ở nước ta có thêm nhiều thuận lợi mới. Ai cũng biết chính quyền độc đảng là tối kỵ với nhân quyền, họ đối lập với nhân quyền như nước với lửa, họ chỉ chịu lùi trên văn kiện để hòng được nhận tiếp những nguồn chi viện tài chính FDI và ODA nhằm kiếm lợi cho phe nhóm. Họ rất lo khi cuộc kiểm điểm về “hạnh kiểm nhân quyền” theo định kỳ (Universal Periodic Review) lần 2 sắp diễn ra trong tháng 1 năm 2014. Ðây là một cuộc kiểm điểm rất nghiêm túc. Chắc chắn nhà cầm quyền Hà Nội sẽ bị chất vấn: Từ khi hứa và cam kết, họ có tiến bộ thật hay không? Có còn bắt người tùy tiện không? Có còn xử án kín không? Có còn tuyên án bỏ túi theo lệnh đảng hay không? Có còn đánh đập chửi bới công dân, tra tấn làm chết công dân trong trụ sở công an hay trong trại giam không?

Một nét mới về ngày TNNQ năm nay là tổ chức “Mạng lưới Blogger Việt Nam” đã chính thức hoạt động, cùng với “Diễn đàn Xã hội Dân sự”, thực hiện quyền tự do ngôn luận theo TNNQQT mà chính quyền Việt Nam đã cam kết thi hành.

Cũng một nét mới không kém phần quan trọng nữa là trên các mạng Dân Làm Báo, Dân Luận, Chân Trời Mới tuần qua (28/11 đến 4/12) đã đăng tuyên bố của nhiều công dân coi bản Hiến pháp 2013 vừa được Quốc Hội thông qua là cưỡng ép, vì không hề coi trọng các ý kiến đóng góp của công dân, chỉ tuân theo cương lĩnh của đảng, là Hiến pháp của đảng Cộng Sản, do đảng Cộng Sản, vì đảng Cộng Sản, không mảy may là của dân, do dân, vì dân, nên bị nhân dân coi là vô giá trị; nhân dân sẽ thực hiện “bất tuân dân sự “ và đòi làm bản Hiến pháp khác. “Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam” cũng đã chính thức ra mắt vào dịp này.

Theo các mạng Dân Làm Báo và Dân Luận ngày 2 tháng 12, các luật sư đang làm việc cũng như luật sư đang ở trong tù như ông Cù Huy Hà Vũ đều cho rằng bản Hiến pháp 2013 vi phạm nghiêm trọng bản TNNQQT khi khẳng định điều 4, vị trí toàn trị độc quyền của đảng Cộng Sản, hạn chế tự do báo chí bằng những luật lệ trái Hiến pháp, và khi khẳng định kinh tế nhà nước là chủ đạo, tước bỏ quyền tự do bình đẳng cạnh tranh trong kinh doanh.

Gần đến ngày kỷ niệm TNNQQT, theo tường thuật của mạng Dân Làm Báo ngày 3 tháng 12, bí thư thứ nhất của sứ quán Pháp Jean Philippe Gavois đã có dịp tận mắt thấy cảnh nhiều tốp công an hung hãn hành hung Luật Sư Nguyễn Văn Ðài và bạn bè ông, phá phách cửa hàng cà phê ở đường Ðại Cồ Việt (Hà Nội), chửi bới đánh đập công dân. Theo Luật Sư Ðài, ông J.P.Gavois xúc động ghi âm, chụp ảnh các cảnh này và thốt lên: “Tôi không cần tìm hiểu gì thêm nữa, thế là quá đủ, những bằng chứng rõ rệt nhất”.

Thử hỏi ông Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh ông và đồng sự sẽ chống chế ra sao khi những tin tức và hình ảnh như thế được trưng ra trong cuộc kiểm điểm định kỳ về tôn trọng nhân quyền sắp đến tại Liên Hiệp Quốc, khi đại diện Việt Nam được lên mâm, buộc phải trả lời từng điểm một những chất vấn của người tham dự.

Những điều mới, rất mới nhân dịp kỷ niệm TNNQQT năm nay là như thế.

Ðiều mới nhất là các công dân yêu quý nhân quyền đang ngày càng đông đảo, do nhận thức được rằng thế đứng nhân quyền của nhân dân ta đang ngày càng vững chãi và rất có hiệu quả.

Thêm nữa sự phối hợp quốc tế ngày cũng chặt chẽ và thuận lợi.

Và chính quyền bị đứng ở thế bị cáo, hạnh kiểm xấu, hứa tu tỉnh thành người tốt, có tiến bộ.

Với thế vững chãi trong đấu tranh như thế, nhất định năm 2014 tới sẽ là năm gặt hái bội thu về nhân quyền. Một xã hội dân sự tiếp tục tiến bước, đông đảo hơn, tự tin hơn, có hiệu quả hơn. Xã hội dân sự đầy sức trẻ của thời đại thừa sức đẩy lùi một chế độ sang thế kỷ XXI rồi mà vẫn còn mơ màng suy tôn chủ nghĩa Mác-Lênin tai quái làm nền tảng cho chế độ, ghi đậm trong Hiến pháp 2013, sau khi nó đã bị đào thải bởi toàn thế giới, coi đó là cội nguồn tội ác chống nhân loại trong thế kỷ XX, còn tệ hại hơn cả chủ nghĩa phát xít.

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Image

Những cơ chế của sự nhầm lẫn
Dương thu Hương

Sự thất vọng của con người thường được biểu đạt bằng hai danh từ: Giải ảo và Vỡ mộng.

Các dịch giả Việt Nam dùng hai danh từ này tuỳ theo ngữ cảnh của nhóm từ Pháp: désillusionné, désenchanté, désabusé, déçu.

Tôi chọn hai từ désenchanté và désabusé để làm bệ đỡ cho sự Giải ảo và Vỡ mộng của người Việt Nam sau cuộc chiến.

Xét trên phương diện tâm lý, cuộc chiến tranh Việt-Mỹ có thể ví như một cơn nhập đồng tập thể. Một cá nhân, trong trạng thái nhập đồng, có thể làm được những điều mà bình thường họ không thể nào làm nổi. Khi trạng thái nhập đồng chấm dứt, con người cũng đánh mất khả năng ấy.

Ví dụ rõ ràng nhất là trường hợp anh hùng Ngô thị Tuyển.Trong một cuộc máy bay Mỹ oanh tạc, để tiếp đạn cho các pháo thủ, Ngô thị Tuyển đã vác những hòm đạn nặng hơn trọng lượng thân thể của chị nhiều. Bởi vì cuộc chiến đấu kéo dài, hành động anh hùng của Ngô thị Tuyển diễn ra trước mắt tất cả mọi người, từ dân chúng, đồng đội đến các chiến sỹ pháo binh. Thế nhưng, khi các nhà báo Hà Nội yêu cầu chị diễn lại để quay phim, chị Tuyển không làm được nữa. Trước hết, cần phải nói rằng các nhà báo lúc ấy hoặc ấu trĩ hoặc hồ đồ vì không hiểu điều này: Cốt lõi hành động của Ngô thị Tuyển là lòng yêu nước cộng với bản năng tồn sinh. Vào lúc bom đạn tơi bời như thế, máy bay giặc quần thảo trên trời, tiếng rú rít của máy bay, tiếng nổ của đạn pháo, tiếng kêu thét của những người chết và bị thương tạo thành một bối cảnh tột độ căng thẳng, tình thế ấy đòi hỏi con người phải có những nỗ lực bất thường để vượt qua những nguy hiểm bất thường. Khi phải đối mặt với cái chết, không những của bản thân mà của đồng bào, đồng đội, mà phía sau những cái chết cụ thể ấy, là một cái chết vô hình hơn, cái chết của tổ quốc, những người dân yêu nước đều có khả năng làm một điều gì đó: lớn hơn bản thân họ, mạnh hơn sức lực của họ, vượt lên trên những toan tính thông thường của đời họ. Đó chính là những giây phút tạo ra các anh hùng.

Đó là sự siêu tuyệt thuần tuý (Une pure transcendance).

Khi trạng thái hưng phấn cao độ, sự siêu tuyệt qua đi, con người trở lại với chính bản thân họ, với các khả năng hữu hạn của họ mà yêu cầu họ “diễn lại như thật” các hành vi lúc nhập đồng thì hoàn toàn là điều ngu ngốc, thậm chí điên rồ. Thử hỏi các đạo diễn điện ảnh xem, nếu các diễn viên của họ phải vác một cái chuỳ thật sự nặng ba chục cân chứ không phải chuỳ bằng nhựa, liệu họ còn sức diễn nữa hay không? Những nhà báo này cũng thiếu kiến thức và sự từng trải để hiểu con người: Phàm đã là người đứng đắn, không ai đủ trơ trẽn để “diễn một màn tự khoe mình”; chỉ có những kẻ vô liêm sỉ và cơ hội mới làm điều đó. Nhìn ảnh thì biết Ngô thị Tuyển là một thôn nữ thật thà, chất phác, chị ấy từ chối diễn cũng không có gì là lạ. Lúc đó, để biểu diễn những màn “chiến thắng” nhằm tuyên truyền với báo chí trong và ngoài nước đã sẵn có cô Nguyễn Thị Hằng, người nhờ nhan sắc, nhờ ôm ấp kỹ ông Quang, chỉ huy quân khu tả ngạn, được đưa lên thủ đô. Ở thủ đô, sau khi trở thành bồ non của ông Lê Đức Thọ, cô lại được ông Lê khả Phiêu tổng bí thư đảng bổ nhiệm vào chức Bộ trưởng bộ thương binh xã hội. Dân Thanh hoá có câu: “Cô Tuyển vác đạn, con đĩ Hằng lên ngôi ”

Trong cuộc chiến tranh Việt-Mỹ, có vô số Ngô thị Tuyển. Cả dân tộc sống trong trạng thái Nhập đồng. Làm sao có thể khác được khi phải đối mặt với một địch thủ mạnh hơn mình cả ngàn lần? Hoặc là chết một cách bị động, hoặc phải chịu đựng sự thách thức của lịch sử bằng những nỗ lực vượt lên bản thân và phải biết chấp nhận cái chết một cách chủ động. Có lẽ, nghịch lý này cũng có tính phổ biến nếu ta đọc lại các cuộc chiến tranh từ thời thượng cổ đến ngày nay. Dân tộc Việt Nam không phải dân tộc duy nhất có khả năng tiến hành những cuộc chiến tranh không cân sức, và lòng yêu nước cũng không phải đặc tính riêng biệt của những người cộng sản Việt Nam như ông Tố Hữu tự nhận. Thói tự khoe khoang là biểu hiện của sự vô văn hoá hoặc tính mù quáng. Đáng tiếc thay, trong một thời gian dài, cả xã hội Việt Nam đã tiêm nhiễm thói tự ngạo mù quáng này. Đóng góp đáng kể nhất để tạo nên cái tâm lý ấy là những bài viết của lớp “nhà báo tinh hoa của Đảng” kiểu như ông Thép Mới, và đặc biệt là các câu thơ đầy tính hào nhoáng của ông Tố Hữu:

“Ta đang đứng trên đỉnh cao thời đại”
“Lương tâm nhân loại kí thác vào ta”
“Sứ mệnh của ta là thức tỉnh lương tâm nhân loại”…
Những câu thơ kêu như cả đội kèn nhà binh thổi to hết cỡ, đầy ngập những tính từ như hùng tráng, chói lọi, cao cả… Tôi vốn không thích thơ Tố Hữu nhưng ít nhất, tôi cũng ngỡ những điều ông ta nói có đôi ba phần sự thật. Ai có thể ngờ được khả năng phét lác của “nhà thơ Lớn”, một trong số các rường cột quốc gia? Cuối hè năm 1984, tôi đến Mạc Tư Khoa, thủ đô Liên bang Xô viết, trong phái đoàn gọi là điện ảnh trẻ nhưng trên thực tế toàn những người xấp xỉ sáu mươi, tôi được coi như trẻ nhất cũng sắp 40 rồi. Đó là lần đầu tiên tôi đặt chân đến một xứ sở khác. Đứng trong khách sạn, nhìn xuống đường, gặp đúng lúc một đoàn Việt Nam khoảng ba, bốn chục người đi thành hàng ba bên vỉa hè đối diện. Chắc chắn đó là một đoàn cán bộ được đảng và nhà nước cho phép đi tham quan. Lần đầu tiên tôi bắt gặp hình ảnh thật của đồng bào mình: đó là những con người nhếch nhác, gầy guộc, ngơ ngác, rúm ró trong những bộ complet đen của bộ tài chính cho mượn. Vì phải mặc những thứ quần áo không phải của chính mình, trông họ khổ sở và ngượng nghịu. Vì bước tới một nơi xa lạ, lại không biết tiếng, họ có bộ mặt hoảng hốt, thất thần. Người đi sau phải níu vạt áo người đi trước vì sợ lạc, những người ở hàng trên cùng thì bám sát gót một người Nga, hẳn là người hướng dẫn và cũng là phiên dịch.

Vừa nhìn đám đồng bào khốn khổ của mình, tôi vừa tự nhủ:

“Đây là những người ở rừng ra, những người bị rút kiệt máu sau một cuộc chiến tranh lâu dài và cam khổ. Những người không biết đến sự sống mà chỉ quen đối mặt với cái chết. Giờ đây, giữa ban ngày, giữa đô thị, ở một phương trời khác, họ hiện hình như các bóng ma đi ra từ những miền u tối. Họ là sự cụ thể hoá bộ mặt tàn bạo của chiến tranh. Hình ảnh của họ là hình ảnh tượng trưng cho dân tộc chúng ta, một dân tộc chưa bao giờ được sống thực sự. Một dân tộc sống sót. Một dân tộc kiên trì mơ ước sống, chuẩn bị sống, nhưng cuộc sống với đúng nghĩa của nó chưa đi tới. ”

Và tôi nhớ lại những câu thơ của ông Tố Hữu. Lúc này, những câu thơ ấy vang trong óc tôi như tiếng rít ghê tai của bánh xe lửa nghiến trên đường ray. Lẽ ra, thay vì khoe khoang hão, nhà nước Việt Nam phải chú ý đến đời sống các chiến binh của họ, ít ra lo cho họ được đôi giầy vừa cỡ, được tấm áo vừa lưng, trước khi đưa họ lên tầu. Như thế, không chỉ riêng ông Lê Duẩn mà ông Tố Hữu và rất nhiều lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác cũng mắc bệnh vĩ cuồng, họ ngửa mặt nhìn lên mặt trăng, tưởng mình đang đứng trên mặt trăng trong khi công dân của họ diễu hành trên các hè phố Mạc Tư Khoa như một đám ăn mày. Tôi ngồi chết dí trong khách sạn, khóc. Ông Tô Hoàng, một sinh viên Việt Nam đang theo học tại trường điện ảnh VGIC đến thăm, liền bảo:

“Con mụ này, người ta đi Liên xô thì cười tươi như hoa, mụ thì khóc như bị đi đầy ở Nghệ Tĩnh. Đúng là rồ.”

Tôi không trả lời. Ông Tô Hoàng cũng đã từng đi lính nhưng rất nhanh đã được quay về hậu phương và được chọn ra nước ngoài học. So với thân phận hàng triệu thanh niên thời ấy, ông là kẻ may mắn. Ông chưa từng chứng kiến cảnh những bầy kiền kiền no nê xác lính đến mức không bay lên nổi. Ông cũng không chứng kiến cảnh dân thường chết dưới bom B52 Mỹ. Ông cảm thấy sung sướng khi ở nước Nga là dễ hiểu. Nước mắt của tôi là điều bất khả tri đối với ông.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi thuộc số những người vỡ mộng sớm nhất. Nhưng chỉ vài năm sau, con số những kẻ vỡ mộng tăng lên một cách không ngừng. Đầu những năm 80 sự đói khổ về vật chất là con quỷ hiện hình cả ngày lẫn đêm trên toàn cõi. Đói khổ là món quà chia đều cho toàn dân, trừ một số người nắm quyền. Sự giàu có và xa hoa của một thiểu số cộng sản giống như vòi nước lạnh hắt vào mặt dân chúng. Hiển nhiên là trong dân chúng, có vô số kẻ từ chiến trường cởi áo lính trở về. Như cuốn “Bên thắng cuộc” của ông Huy Đức đã nêu, những người anh hùng lái xe tăng 390 “cắm lá cờ lên dinh độc lập” sau khi giải ngũ, một anh đánh giậm, một anh cắt tóc, một anh lái xe lam, một anh gác đầm cá, sống trong cảnh lam lũ. Tuy nhiên, họ còn cơ may được nhà báo và nhiếp ảnh Pháp Françoise De Mulder trả lại lẽ công bằng vào năm 2003. Nhưng họ chỉ là bốn người, một tuyệt đại thiểu số. Còn hàng triệu người lính khác, khi trở về cuộc sống của dân thường, đối mặt với nỗi đói khổ và sự áp bức của hệ thống cường hào địa phương, lúc đó họ nghĩ gì?

“Chúng ta đổ máu để cho ai?”
Khi ra đi, ai cũng nghĩ là chiến đấu cho độc lập dân tộc nhưng dần dà, mọi người đều ngờ ngợ rằng mình lầm. Người Mỹ không đến chiếm đất đai, không thu hải sản, không bắt dân mò ngọc trai, nộp đá quý. Tóm lại, hoàn toàn không giống cái sơ đồ quen thuộc mà họ đã hình dung về quân Minh, quân Nguyên và quân Thanh. Khi ra trận, ai cũng có ý định ngầm ẩn là thích vào trán hai từ “Sát Thát”. Bây giờ nghĩ lại, cảm thấy có gì đó bất ổn và danh từ “quân xâm lược Envahisseurs” có vẻ như không thích hợp trong trường hợp này.

“Vậy ta chiến đấu để làm gì?”
Để cho chủ nghĩa cộng sản chiến thắng và cụ thể hơn, để mấy ông lớn cộng sản cầm quyền, đó là điều hiển nhiên ai cũng thấy.
Các ông lớn cộng sản giờ nắm trong tay tất thảy chiến lợi phẩm mà xương máu hàng chục triệu người đổi lấy: Trước hết họ nắm trong tay mười sáu tấn vàng của kho Long Thành. Họ nắm trong tay toàn bộ số vàng, kim cương cũng như ngoại tệ của dân miền Nam kẹt trong các nhà băng. Nhưng sau rốt, nguồn tài sản sau đây mới là quan trọng: Họ biển thủ toàn bộ số vàng mà lính áp tải về sau cuộc giải phóng Căm-pu-chia, số lính này quá đông nên họ không thể xử lý biện pháp quen thuộc của vua chúa xưa kia là chôn sống. Những người lính này sau khi giải ngũ đã cất tiếng thở dài:

“Biết thế hồi đó thủ một nắm cho vào túi thì giờ đây đỡ khổ!”
“Bây giờ mới biết mình ngu. Lẽ ra hồi ấy…”
Biết thế! Lẽ ra! Nếu như … Toàn những lời than thở muộn màng.
Tiếng Pháp có một thành ngữ khá hay: Après coup! Người ta chỉ hiểu được sự thật khi mọi sự đã lỡ làng.
Năm 1991, những vụ hoá giá biệt thự xảy ra và khá nhiều người biết đám quan lại như Lê Hãn (con trai trưởng Lê Duẩn), Trần Bạch Đằng, Trần Văn Giàu, Dương Quang Đông… cùng nhiều ông lớn khác bán mỗi biệt thự trên hai ngàn cây vàng bỏ túi. Lúc đó, bà Ngô Bá Thành, đại biểu quốc hội đã kêu lên:

“Thành phố tham nhũng tập thể, cướp công trình của cả dân tộc, chia chác xương máu của cả nước”.

Nhưng bà Ngô Bá Thành cũng như đa phần dân chúng còn không biết đến những nguồn vàng to lớn hơn, quan trọng hơn, mà kẻ cầm quyền đã chia chác trong bóng đêm.

Nỗi đau khổ chiến tranh, toàn dân phải gánh chịu, nhưng bộ phận chịu đựng sự mất mát lớn nhất vẫn là những người cầm súng và gia đình họ. Vào khoảng 2004, 2005, một tờ báo công nhận con số mất tích trong chiến tranh là trên 900.000, có nghĩa là ngót nghét một triệu. Nhà cầm quyền có thể công bố con số giả về sự tử vong nhưng con số mất tích thì khó bôi xoá vì sau chiến tranh hai, ba chục năm, những gia đình có con em mất tích vẫn tiếp tục khiếu kiện và đi tìm thân nhân của họ. Trong lúc đó, khoảng cách giữa các ông lớn cầm quyền với dân chúng càng ngày càng xa, giống như bờ đất lở.

Từ xưa đã có câu: “Tình đời thay trắng đổi đen.”

Không có gì cũ hơn và cũng chẳng có gì mới hơn là sự bội phản của người với người.

Lúc cần làm cuộc chiến tranh, ban tuyên huấn trung ương đảng tìm được cả một đội quân tuyên truyền để ngợi ca người lính. Thêm vào đó, không kể những người ăn lương để làm “tâm lý chiến” còn vô số người sáng tác theo chính cảm hứng và nhận thức của mình. Ý chí chống ngoại xâm vốn là nguồn cảm hứng cỗi rễ của một dân tộc không ngừng tranh đấu để giành quyền tự chủ như dân Việt Nam. Cố nhà văn Nguyễn Minh Châu viết cuốn “Dấu chân người lính”, cuốn sách thuộc loại best-seller đầu bảng lúc ra lò. Nhạc sĩ Vũ trọng Hối viết ca khúc tuyệt đẹp:

“Ta vượt trên triền núi cao Trường sơn.
Núi mòn mà đôi gót không mòn…”
Nguyễn Minh Châu, Vũ Trọng Hối không phải bị cưỡng chế mà viết, họ viết với tất cả sự chân thành và niềm cảm hứng. Cũng như những người lính khác bước vào chiến đấu, họ sáng tác trong trạng thái Nhập đồng, hoặc nói văn vẻ hơn, trạng thái Siêu tuyệt (Transcendance). Lúc đó, chưa ai có đủ từng trải lẫn thông tin để hiểu sự thật.

Hơn một thập kỷ sau, vào năm 1985, Nguyễn Minh Châu (sinh năm 1930) hẳn đã vỡ mộng nên đã nói với tôi trên trại sáng tác Đại Lải của Hội nhà văn:

“Mình xui con người ta đi vào chỗ chết. Biết đâu sự thể nó lại ra thế này?…”

Rồi anh thở dài và im lặng. Nguyễn Minh Châu vốn là người kín đáo, thường tự nhận một cách công khai trước đồng nghiệp:

“Tôi nhát lắm, tôi sợ chết lắm. Vua chúa châu Á vốn coi nhà văn ngang với bọn ăn mày. Chúng ta phải biết thân biết phận.”

Tuy sợ chết, anh vẫn không tránh được cái chết. Chừng vài năm sau ngày gặp tôi trên trại viết văn Đại Lải, anh chết vì ung thư máu, do nhiễm chất độc màu da cam trong chiến trường Quảng trị. Đó là một nhà văn quân đội, đã từng sống khá lâu với lính Trường sơn. Tuy nhiên, anh chết sớm còn là may, nếu sống thêm một vài năm nữa, anh sẽ phải chứng kiến sự phản bội tàn độc của những kẻ cầm quyền đối với binh lính, và con tim nhút nhát của anh sẽ phải dày vò quằn quại một cách dữ dội hơn nếu anh thấy những người anh hùng năm xưa “Xẻ dọc trường sơn đi đánh Mỹ” đã biến thành “Những thằng tù không số, bị giết dần trong các nhà giam”.

Đó là sự kiện xẩy ra cuối thập kỷ 80, gần như cùng lúc với vụ Thiên An Môn ở Trung quốc.

Tôi tạm gọi là Thiên An Môn Việt Nam.

Vì sao lại là Thiên An Môn?
Vì bản chất sự việc cũng là một cuộc tàn sát dân chúng để bảo vệ nền chuyên chính và số lượng người thiệt mạng cũng ngang ngửa với vụ Thiên An Môn xẩy ra ở Tầu.
Thời đại của chúng ta là thời đại truyền thông.
Thiên An Môn Trung quốc có cơ may được biết đến vì nó xảy ra giữa ban ngày, tại Bắc kinh, nơi báo chí thế giới làm việc. Nhà cầm quyền Trung quốc vốn cứng rắn, không thèm đếm xỉa tới dư luận nước ngoài nên họ không che giấu hoặc nguỵ trang cuộc tàn sát dân chúng. Như thế, nhân loại biết được sự kiện này nhờ thói ngạo mạn của ông vua Đặng tiểu Bình.

Ngược lại trăm phần trăm, Thiên An Môn Việt Nam xẩy ra trong bóng đêm, tại các tỉnh, trước hết là Thái Bình, nơi các phóng viên báo chí thế giới bị ngăn cấm đi tới. Nhà cầm quyền Việt Nam không dám ngỗ ngược thách thức dư luận thế giới như các bậc đàn anh Trung Hoa, họ chọn con đường mềm dẻo hơn, khôn ngoan hơn và hiệu quả hơn. Số người bị chết trong cuộc tàn sát này là khoảng giữa một ngàn với hai ngàn, có nghĩa là bằng số người bị bắn chết trên quảng trường Thiên An Môn nhưng sự giết chóc diễn ra từ từ, lặng lẽ, trong các trại giam khác nhau, không một tiếng kêu nào lọt được ra ngoài, không một ống kính thu hình nào ghi lại được. Nhà cầm quyền Việt Nam, hành động theo truyền thống du kích, có nghĩa là ẩn mình trong bóng tối, nói cách khác, họ thực thi các biện pháp độc ác một cách uyển chuyển của loài rắn rết (à la façon reptilienne). Họ thành công tuyệt đối. An toàn tuyệt đối. Tuy nhiên, cũng vì không thể giết hết gia đình của các cựu chiến binh nên những người như chúng tôi mới có thể điều tra về cuộc tàn sát này.

Tôi xin kể vắn tắt:
Thời gian ấy, tôi vẫn thường gặp gỡ các ông Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Nguyễn Kiến Giang. Một bữa, ông Độ bảo:
- Mấy hôm nay họ tăng cường số công an gác cửa nhà tôi. Họ nghi cô với tôi chỉ đạo cuộc nổi dậy của các cựu chiến binh ở Thái Bình.
- Vì sao? Tôi hỏi.
Ông Trần Độ trả lời:

- Tại vì cô là dân Duyên hà còn tôi là dân Tiền hải. Chúng ta đều có gốc ở tỉnh Thái lọ. Thêm nữa, tôi là tướng còn cô cũng là dân từ Quảng bình khói lửa trở về. Họ cho rằng chúng ta xúi giục cựu chiến binh.

Tôi nói:
- Tôi có biết gì đâu. Đã gần một tháng nay tôi ngồi viết, không tiếp xúc với ai, không rời khỏi nhà quá một trăm mét. Hành trình của tôi chỉ bao gồm từ tầng ba khu chung cư xuống mặt đường rồi lại leo lên. Vài ngày một lần tôi xuống đường mua thực phẩm. Tuy nhiên, nếu họ đã ngờ vực tôi xúi giục cuộc khởi dậy này, tôi sẽ điều tra sự thật về nó, như thế, để khỏi phụ lòng bộ nội vụ Việt Nam.

Ông Độ bảo:
- Nhưng cô cũng bị theo rõi mà.
Tôi đáp:

- Đương nhiên. Nhưng bọn công an không thể theo rõi tôi 24 trên 24, buổi tối chúng nó phải về chăm con và ngủ với vợ. Vả chăng, trước kia Việt minh hoạt động du kích ra sao thì bây giờ tôi cũng hoạt động du kích đúng như vậy. Thêm nữa, tôi không phải một mình cho dù các nhà báo Pháp đặt cho tôi biệt danh “Con sói cái đơn độc”. Không ai có thể chiến đấu một mình trừ các vị thánh. Tôi không phải là thánh, tôi là người.

Phong trào đấu tranh của các cựu chiến binh tỉnh Thái Bình khởi dậy ở Quỳnh Lưu, một trong các xã nghèo nhất tỉnh. Ở đây, chính các cựu chiến binh là những người đầu tiên phát hiện ra các vụ “thu thuế đểu” của bọn hào lý. Họ phát động dân chúng lên thành phố biểu tình, yêu cầu tỉnh uỷ trả lại dân các món tiền thu khống. Dường như ở tất cả các xã, cựu chiến binh đều là lực lượng đầu tầu hướng dẫn dân chúng đấu tranh. Phong trào nhanh chóng lan sang các huyện khác. Rồi từ tỉnh Thái Bình, cuộc biến động lan sang Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định và một phần Quảng Ninh. Lúc đó, có khá nhiều nhà báo nước ngoài đòi xuống các tỉnh để xem xét tình hình. Công an Hà Nội trả lời một cách mềm mỏng:

“Xin các vị chờ một vài ngày để chúng tôi sắp xếp phương tiện đi lại. Nếu các vị đi bây giờ e rằng mất an toàn.”

Họ khất lần như vậy. Ngày nọ qua ngày kia, đám nhà báo mất kiên nhẫn. Việt Nam đã bị lãng quên, chẳng có gì đáng làm một cuộc đầu tư lớn, kể cả thời gian lẫn tiền bạc. Các điểm nóng của hành tinh đã chuyển sang vùng đất khác. Vậy là, các phóng viên nước ngoài, sau một hồi chờ đợi mỏi mệt, người nọ theo người kia lần lượt leo lên thang máy bay. Một khi, không còn ống kính báo chí nào ở Hà Nội, chính quyền lập tức tổ chức một cuộc bắt bớ rầm rộ ở khắp các địa phương. Đương nhiên, số lượng người bị bắt nhiều nhất vẫn là ở Thái Bình. Nửa đêm, xe hòm thép của công an ập vào từng làng, dưới sự dẫn đường của cán bộ xã, lôi những “kẻ đầu sỏ” các cuộc biểu tình lên xe, trước tiếng kêu la gào thét của thân nhân lẫn láng giềng. Không cần tuyên bố, cũng chẳng có cáo trạng, các cuộc bắt bớ này diễn ra giống hệt các cuộc vây ráp, khủng bố của thực dân Pháp trước đây nếu không muốn nói là còn tàn bạo hơn. Sau đêm ấy, gia đình các cựu chiến binh không có cách nào liên lạc được với thân nhân của họ. Những ông bố, bà mẹ, những người vợ hội họp nhau để đi kêu cứu. Nếu ai sống ở Hà Nội vào thời gian đó, sẽ nhớ rằng có những ngày đột nhiên con phố Trần Bình Trọng bị bít kín hai đầu, ngăn xe qua lại. Ấy là vì thân nhân các cựu chiến binh biểu tình ở cổng bộ nội vụ (số 15 Trần bình Trọng), đòi trả lời về những người bị bắt. Không ai đánh đập họ nhưng cũng không ai tiếp họ. Đám dân khốn khổ ngồi giãi nắng qua trưa, được các quan lớn phát một chiếc bánh mì rồi tống lên xe tải chở về Thái Bình. Nhưng đến nửa đường, lái xe dừng lại (đương nhiên là theo lệnh bề trên), đuổi đám dân quê xuống, bắt buộc họ phải đi bộ bốn năm chục cây số mới về đến làng. Tình trạng giao thông ở Việt Nam thời ấy vô cùng tồi tệ và khoảng cách là một trở ngại mà con người, trước hết là các nông dân, không đủ phương tiện, không có tiền nong, khó có thể vượt qua. Như thế, qua vài lượt, những người dân quê cạn kiệt hơi sức, cũng chẳng còn tiền mua vé xe lên Hà Nội tranh đấu nữa. Họ đành phải câm lặng chịu đựng. Chịu đựng, vốn là thói quen cố hữu của dân Việt Nam.

Trong lúc ấy, số phận những cựu chiến binh ra sao?


Vỡ mộng. Nguồn: Orangeya’s photostream
Họ bị phân bố vào các nhà tù khác nhau nằm rải rác trên toàn quốc, người nọ không còn liên lạc được với người kia. Sau vài tuần, họ bị chuyển đến sống trong các trại giam dành cho bọn tội phạm đặc biệt, những kẻ mang án chung thân hoặc ít nhất hai mươi lăm năm tù, những kẻ hung hãn, giết người không ghê tay. Ở đó, họ được thanh toán một cách dần dà bởi chính đám tù này. Giết một cựu chiến binh, án được giảm hai năm. Giết hai, án được giảm bốn năm. Tỷ lệ cứ theo thế mà nhân lên, càng giết được nhiều, càng nhanh được giải phóng. Vì thế, cuộc tàn sát trở thành một “sự nghiệp quan trọng” một cuộc “đua tranh” của bọn tội đồ. Chúng giết họ theo nhiều kiểu khác nhau. Nhưng cách được xử dụng nhiều nhất là “cắm đũa”. Vì trong trại giam, những vật được coi là vũ khí đều bị cấm nên đám quản giáo chỉ thị ngầm cho bọn phạm là chỉ sử dụng các vũ khí đặc biệt “tiện lợi, nhẹ gọn”. Phương tiện hữu hiệu nhất là đũa tre. Những chiếc đũa được vót bằng tre đực già, cứng như sắt, một đầu được mài nhọn như kim, đầu kia để tù kiểu như đầu một que đan. Khi đã có được thứ “kiếm tre” này, bọn tội phạm rình lúc các cựu chiến binh ngủ say, ấn đầu đũa nhọn vào lỗ tai họ đồng thời dùng mu bàn tay hoặc một hòn đá quả xoài thay cho chiếc búa, đóng thật mạnh vào đầu tù của chiếc đũa cho nó xuyên từ tai nọ sang tai kia. Người bị hại chết ngay tức khắc, chết không một tiếng kêu. Kiểu chết này là thứ sáng tạo vô cùng độc đáo của công an Việt Nam đáng được ghi vào sử sách. Những người cựu chiến binh, đám anh hùng Trường Sơn năm xưa, những chàng trai “vừa ca hát vừa đi vào chiến trường” đã được Đảng thân yêu của họ xử lý theo cách đó.
Trong nhóm đấu tranh của tôi có một người cũng là cựu chiến binh, trong chiến tranh Việt-Mỹ đã hai lần được đề bạt là anh hùng và cả hai lần đều trượt vì mắc tội chửi cấp trên là: “Lũ chó, chúng mày ham thành tích, chúng mày giết lính”.

Lúc xảy ra vụ Thiên An Môn Việt Nam, anh rất lo cho số phận một người đồng đội cũ nên đến Quảng Ninh tìm. Anh bạn Quảng Ninh nổi tiếng là một tay thiện xạ trong chiến tranh, ngực treo đầy huân chương, may mắn không bị bắt vì suốt thời gian xảy ra cuộc biến động phải ở trong bệnh viện nuôi đứa con bị bệnh nặng. Nhưng hai người bạn thân nhất của anh đã chết trong tù. Người cựu chiến binh này đã để nước mắt rơi lã chã và nghiến răng nói:

“Những viên đạn của tôi bay lạc. Đáng lẽ chúng phải găm vào đầu những thằng khác.”

Đáng lẽ!…
Đây là sự vỡ mộng của một người lính bị phản bội. Sự vỡ mộng ấy kèm theo ước muốn trả thù, nó bạo liệt hơn hơn tất thảy các trạng thái vỡ mộng thông thường, chỉ bộc lộ bằng những tiếng thở dài ảo não.
*****
Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ là cuộc chiến tranh mà truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam đã bị lạm dụng ở mức tối đa.

Xương máu của lính và dân đổ xuống đã xây nên bức tường thành theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa thực.

Bức tường thành đồ sộ ấy có thể là khải hoàn môn cho người này và là cổng vào địa ngục cho người kia, tuỳ theo cách nhìn của họ.

Đối với tôi, đó là bằng chứng kinh khủng nhất cho sự nhầm lẫn của con người.

Paris ngày 11 tháng 2 năm 2013.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

TC: Gậy Ông Đập Lưng Ông

Tác giả : Vi Anh

Trung Cộng - cái kiểu đánh võ mồm đơn phương tuyên bố vùng nhận dạng phòng không ở Đông Bắc Thái Bình Dương và tung chiếc hàng không cổ lổ sỉ duy nhứt Đông Nam Thái Bình Dương của TC - vô tình là một đòn gậy ông đập lưng ông đối với TC.

Sự kiện này giúp cho Mỹ củng cố và tăng cường mặt trận của Mỹ bao vây TC, và mặt khác các nước Á châu Thái Bình Dương tăng cường võ trang phòng chống TC, biến TC trở thành một siêu cường võ biền, cô đơn chuyên gây hấn trên thế giới.

Sưu tầm lịch sử cho biết chiến thuật và khái niệm nhận dạng phòng không là sáng kiến quân sự của Mỹ, do chính Mỹ sáng chế ra. Ban đầu bao gồm không gian Bắc Mỹ và chánh yếu nhắm vào Liên Xô. Sau đó từ năm 1950 trở đi Mỹ kiểm soát luôn các khu vực Tây Thái Bình Dương, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan. Mỗi nước trong vùng đã tự tạo vùng phòng không riêng cho mình nhưng dưới sự kiểm soát chung của Mỹ.

Bây giờ TC tính dùng cây gậy mây của Mỹ để giành quyền kiểm soát trên biển và trên không đối với các nước nằm trong vùng bánh trướng của “giấc mộng Trung Hoa’” mà Ô Tập cận Bình muốn tô lục chuốt hồng cho thời đại CS của mình, như Ô Mao trạch Đông đã dùng quyển sách ‘Đông Phương Hồng’ đẫm máu của mấy chục triệu người Trung Hoa, hàng chục triệu người sắc tộc bị thôn tính đất nước để xây dựng triều đại Mao.

Nhưng lực bất tòng tâm, chưa nắm vững bí quyết, chưa đủ thần công lực, TC bị tẩu hoả nhập ma, nên bị phản tác dụng. Gậy TC định dùng đánh người khác bị tác dụng boomerang trở lại đập vào lưng TC, như tục ngữ VN nói ‘gậy ông đập lưng ông’.

Phản tác dụng của trận võ mồm của TC có thế thấy rõ qua phản ứng của Mỹ và các nước Á châu Thái Bình Dương. Phủ Tổng Thống Mỹ tuyên bố Mỹ không chấp nhận, không thừa nhận vùng nhận dạng phòng không của TC. Nhựt, Nam Hàn cũng thế. Trên trời Mỹ cho hai pháo đài bay chiến lược B52 bay qua vùng phòng không TC vừa tuyên bố, sau đó cả chục chiếc chiến đấu cơ của Nhựt và Nam Hàn bay theo, mà không nói một tiếng nào với TC. Dưới biển Mỹ cho hàng không mẫu hạm nguyên tử tập trận cách vùng này khong bao xa.

Quá mất mặt trước áp lực của các công dân TQ theo chủ nghĩa thượng tôn dân tộc của Trung Quốc, TC cho báo bán chính thức của Đảng Nhà Nước là Hoàn Cầu Thời Báo loan tải, rằng không quân TC giám sát các chuyến bay trong vùng phòng không. Và còn chia rẽ Mỹ và Nhựt với câu thòng rằng kế hoạch nhận dạng phòng không của TQ là nhắm vào Nhựt.

Phó Tổng Thống Mỹ nhơn chuyến công du Á châu đã sắp đặt trước, ghé Nhựt tái khẳng định lập trường của Mỹ rằng vùng đảo Senkaku mà TC tranh chấp là thuộc lãnh thổ Nhựt, Mỹ sẽ bảo vệ Nhựt khi có xung đột trên vùng này.

Đây là một cuộc phối hợp nhịp nhàng của Mỹ và hai đồng minh chánh yếu của Mỹ là Nhựt và Nam Hàn, hai nước Mỹ có hàng mấy chục ngàn quân đang hiện hiện. Ngay sau chuyến đi của Phó TT Mỹ Biden, người ta thấy Nam Hàn tuyên bố vùng nhận dạng phòng không mới, được nới rộng, chồng lấn với khu vực phòng không mà Trung Quốc mới loan báo, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 12.Trong đó có bãi đá ngầm trong các vùng biển ngoài khơi bờ biển miền Nam của Bắc Hàn, mà Trung Quốc gọi là Suyan.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết, chính phủ Nam Hàn đã tham khảo ý kiến của Washington về quyết định này, kể cả một cuộc họp hôm thứ Sáu, giữa Phó Tổng Thống Joe Biden và Tổng Thống Nam Hàn Park Guen Hye ở Seoul.

Nhựt tuyên bố quyết định của Hàn Quốc không phải là một vấn đề ở Nhật Bản. Lý do là theo ông Yoshihide Suga, Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản, thì vùng phòng không của Hàn Quốc là “một trường hợp hoàn toàn khác biệt với vùng mà Trung Quốc mới thành lập vì nó không xâm phạm không phận, lãnh hải và lãnh thổ” của Nhật Bản.

Còn Đài Loan, Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cữu lâu nay có tương quan khá hữu hảo với TC, ít khi chống đối đà bành trướng của TC, nhưng trong vụ này Ông lên tiếng vùng nhận dạng phòng không do Đài Loan phân định vào những năm 1950, và vùng nhận dạng phòng không do Trung Quốc đại lục tuyên bố chồng lấn nhau 23,000 km vuông.

Tổng thống Mã cho biết, những hoạt động diễn tập quân sự của Đài Loan trong khu vực này, sẽ không bị ảnh hưởng bởi quyết định của Trung Quốc.

Còn về phía TC trước những phản ứng không khoang nhượng của Mỹ và Nhựt cùng Nam Hàn, TC dịu giọng. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Ông Hồng Lỗi tuyên bố: “Trung Quốc lấy làm tiếc về quyết định mở rộng vùng phòng không của Hàn Quốc. Trung Quốc sẽ duy trì liên lạc với Hàn Quốc, dựa trên nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Hy vọng rằng Hàn Quốc cũng sẽ có hành động tương tự”.

Đến đây có thể thấy chính chiến thuật mở rộng vùng nhận dạng phòng không của TC làm cho các nước đồng minh và thân thiện với Mỹ đoàn kết hơn, củng cố chặt hơn trong mặt trận Mỹ bao vây TC trên bờ đông Thái Bình Dương. Và dư luận ngoài vùng như Tây Âu, Úc kể cả Nga tỏ ra rất bất bình và đề phòng tính hiếu chiến và ngang ngược của TC.

Các nước Á châu Thái Bình Dương đã đang chạy đua võ trang phòng chống TC, sẽ thêm lý do tăng cường quân sự, mua thêm vũ khí biến Á châu Thái bình Dương rơi vào tình trạng “hoà bình võ trang” (paix armée) như ở Âu châu trong những năm 1871- 1914, chuẩn bị cho Đệ Nhứt Thế Giới Đại Chiến.

TC đặt các nước láng giềng vào cái thế phải chạy đua võ trang để phòng thủ. Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Thế giới Stockholm (SIPRI), Á châu là khu vực nhập cảng võ trang lớn nhất từ năm 2007 – 2011.

Mỹ là nước chạy đua võ trang ở Á châu Thái Bình Dương nhiều nhứt. Nhưng Mỹ không phải mua sắm. Mỹ chỉ chuyễn trục quân sự, chuyển 60% hải lực và không lực trên thế giới về đây. Mỹ không tốn kém hụt hơi như TC. Mỹ không cần tăng ngân sách vì đó là quân cơ hữu, chỉ chuyển vùng thôi, ở đâu cũng tốn kinh phí điều hành. Trái lại Mỹ rất có lợi kinh tế chánh trị và quân sự. TC với hành động bành trướng ngang ngược, đã đẩy các nước Á châu Thái bình Dương vào vòng tay Mỹ. Đa số các nước này coi sự trở lại và hiện diện của Mỹ như một lá chắn, một bảo đảm an ninh, trật tự trong vùng, nhưng Mỹ không có tham vọng đất đai như TC.

Ngoài ra Mỹ còn bán được vũ khí rất nhiều cho các nước này trước mối lo đối với TC. Vô tình TC giúp cho Mỹ trở lại Á châu trong cảm tình, mong mỏi của các nước Á châu Thái bình Dương.

Theo các nhà quan sát chiến lược, TC phô trương sức mạnh quân sự ra Á châu Thái Bình Dương, một là để tuyên truyền quốc nội với xã hội quá nhiều bất ổn định, bất công, chia rẽ có thể nổ bùng hay nổ chụp tan tành chế độ CS. Hai là để hù doạ các nước nhỏ trong vùng Đông Bắc Á, Đông Nam Á mà thôi.

Cái kiểu giương oai diệu võ đó không làm các nước nhỏ này sợ mà thúc đẩy các nước này kiện toàn phòng thủ quân sự, liên minh chặt chẽ với Mỹ hơn. Còn muốn đối đầu với Mỹ về không quân và hải quân, có lẽ TC cần nửa thế kỷ nữa hoạ may mới dám đụng chạm Mỹ về quân sự./.(Vi Anh)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nụ cười Dương Chí Dũng

Lê Diễn Đức

Khi nhận chức thủ tướng vào ngày 27/06/2006, ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố nếu không ngăn chặn được tham nhũng thì ông ta sẽ từ chức.

Image
Dương Chí Dũng ngày 14/12/2013 - Ảnh: Vietnamnet
Lời tuyên bố đó trở thành sự dối trá, vô liêm sỉ vào loại thượng thừa. Tham nhũng không những chẳng giảm đi mà còn phát triển mạnh mẽ, tinh vi và xảo quyệt hơn nhiều. Ông Dũng chẳng những không từ chức mà còn làm tiếp nhiệm kỳ thứ hai vì được "đảng phân công", chứ ông ta không xin xỏ ai cả! Những vụ tham nhũng nặng nề nhất, rõ ràng nhất, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế đât nước đều rơi vào hai nhiệm kỳ của ông Nguyễn Tấn Dũng.

“Tham nhũng nguy hiểm và khó chịu vì đã thành khá phổ biến. Nó thành đường dây có tổ chức rồi, chứ không còn từng người một người ăn mảnh nữa", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thú nhận như vậy, theo tờ Thanh Niên Online 6/12/2013.

"Tất cả cũng do đồng tiền, chạy theo lợi nhuận, coi thường giá trị con người. Đồng tiền chà đạp xuyên cả vào giáo dục, y tế, công tác đào tạo cán bộ. Cái gì cũng phải bôi trơn, cái gì cũng phải lót tay", cũng lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trên tờ Infonet ngày 7/12/2013.

Tham nhũng là tội phạm kinh tế. Đã thành một "đường dây có tổ chức" thì cả hệ thống chính trị tất nhiên phải là một băng đảng tội phạm có tổ chức. Điều này đã được tôi đề cập tới trong bài viết "Đảng Cộng sản Việt Nam không khác một băng đảng tội phạm có tổ chức" khi nói về sự đàn áp dân chúng của nhà cầm quyền đã được côn đồ hoá.

Tội phạm từ lĩnh vực hình sự chuyển qua kinh tế, nó là sự kết gắn tất yếu, là hành vi không tách rời nhau, liên kết hữu cơ với nhau trong một bộ máy mà tất cả quyền lực tập trung vào những nhóm lợi ích, thân hữu của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN).

Một bộ máy cai trị như thế sẽ phá nát các chuẩn mực đạo đức xã hội, huỷ diệt lòng tin vào cơ quan nhà nước, hướng dân chúng tới việc xử lý các tình huống theo luật giang hồ, bất chấp pháp luật. Các vụ dân đứng ra tự xử như đánh chết người chỉ vì ăn trộm chó, hay bao vây bệnh viện vì bác sĩ tắc trách làm chết người do không có phong bì, là những kết quả thực tế của bộ máy ấy.

Trong đề tài nghiên cứu hồi tháng 4/2013, Ủy ban Kiểm tra Trung ương ĐCSVN đã thừa nhận:

"Nhóm lợi ích và lợi ích nhóm theo xu hướng tiêu cực như một hiện tượng bùng nổ không chỉ thuần túy xuất hiện rất "nóng" về ngôn ngữ, mà là sự phản ánh thực tiễn có vấn đề như hiện tượng giàu lên rất nhanh, có nhiều nhà đất và có khối lượng lớn về tài sản, tiền bạc của một số cán bộ có chức, có quyền trong một số cơ quan nhà nước".

"Nhóm lợi ích và lợi ích nhóm là hiện tượng gắn kết giữa một số doanh nghiệp với những người có quyền lực tạo thành mối quan hệ ngầm chi phối xã hội, làm méo mó chính sách. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay phải dành nhiều tiền bạc và thời gian để chăm sóc cho các mối quan hệ với quan chức nên tạo ra một môi trường kinh doanh không lành mạnh".

Vinashine, Vinaline nằm trong số gần 20 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh dưới sự quản lý trực tiếp của ông Nguyễn Tấn Dũng. Các vụ lạm quyền, tham nhũng, mua những con tàu nát, ủ nổi xài rồi của hai công ty này nằm vào thời kỳ khi Nguyễn Sinh Hùng còn làm Phó Thủ tướng thường trực, Bộ trưởng tài chính. Mọi chi tiêu từ ngân sách, vay tiền, phát hành trái phiếu cho các dự toán đều được trình và duyệt qua hai ông này. Những ngày khởi công xây dựng hoành tráng các công trình đều có sự tham dự của ông Nguyễn Tấn Dũng, cổ cồn ca-vát, chén tạc chén thù.

Từ một thông tin nội bộ, tôi được biết rằng, trong các ghế của nội các Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, ghế Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải có giá cao nhất, lên tới hàng chục tỷ đồng. Cũng không có gì ngạc nhiên khi biết rằng, Bộ Giao thông là nơi thực hiện những dự án công cộng quan trọng nhất, nhiều tìền nhất từ ngân sách và chiếm hầu hết vốn viện trợ phát triển ODA. Những đại lộ, đường cao tốc, cầu cống, bến cảng, sân bay đều thuộc danh mục đầu tư của Bộ Giao thông.

Trong ngày 31/10/2013, Bộ Giao thông - Vận tải chính thức thông báo việc chuyển Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) thành Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC), trên cơ sở tổ chức lại công ty mẹ và một số đơn vị thành viên.

Từ một doanh nghiệp thua lỗ chồng chất, nợ trên 80.000 tỷ đồng (khoảng 4 tỷ USD), Vinashin lột xác thành một doanh nghiệp hoàn toàn mới, không có lỗ lũy kế, có vốn điều lệ 9.520 tỷ đồng. Ngành nghề chính vẫn là đóng mới tàu thủy, hoán cải tàu thủy, tư vấn, thiết kế tàu thủy… 600 triệu USD nợ Thuỵ Sĩ của Vinashine biến thành trái phiếu có bảo lãnh của chính phủ là một ví dụ quăng phao cứu bồ và tránh kiện tụng quốc tế. Thế mới thấy mối quan hệ mật thiết như thế nào giữ ekíp của ông thủ tướng với toàn bộ phần còn lại. Một phép thuật ma quái cho "ve sầu thoát xác"!

Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) hiện đang gánh khoản nợ 321 triệu USD và lên tới hàng tỷ USD nếu tính cả các công ty thành viên. Mà phải tính cả các thành viên chứ, tập đoàn mà! Tiền nợ chủ yếu rót vào đầu tư các dự án cảng, mua sắm tàu, đặc biệt trong giai đoạn phát triển nóng (2007 - 2008).

Cái ụ nổi 83M mà Vinalines mua đã qua sử dụng 43 năm, vượt 28 năm so với quy định. Giá mua ụ nổi và chi phí sửa chữa hai lần tại Việt Nam là 489,6 tỉ đồng (khoảng 26,3 triệu USD), tương đương 70% giá đóng ụ nổi mới.

Ăn chặn từ khoản chênh lệch của ụ nổi khoảng 10 tỷ đồng, lấy tiền mua căn hộ tặng gái chân dài, mới chỉ là một mặt xích nhỏ, còn hàng chục, thậm chí trăm triệu đô la khác biến thành nước khi rót vào những con tàu nát, những dự án cảng không hiệu quả, v.v... đã không được đề cập tới.

Tham nhũng là loại tội phạm khó có nhân chứng và bắt được quả tang, bởi vì nó là thứ luật bắt buộc bất thành văn, được thực thi dưới gầm bàn, ở cổng sau nhà riêng, trong dinh thự thông qua vợ con, được đưa vào các tài khoản hay bất động sản ở nước ngoài sau khi được rửa sạch sẽ.

Phiên toà xử Dương Chí Dũng, cựu chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines, và các đồng phạm, có vẻ ầm ĩ nhưng chỉ là màn kịch xoa dịu dư luận, mị dân. Một phiên toà chỉ nhìn thấy công an, không có dân thường tham dự. Con rắn vẫn không mất đầu. Dù án tử hình cho Dương Chí Dũng được công bố thì ra toà phúc thẩm cũng sẽ giảm xuống chung thân và sẽ giảm nhanh chóng nữa theo chiều thẳng đứng qua các dịp lễ, tết. Cuộc sống của các "đại gia" trong tù chỉ mất tự do, nhưng có thể xem như kỳ đi nghỉ mát, mọi điều kiện ăn ở, vật chất đều được cung cấp đầy đủ.

Thế nhưng trong ngày 14/12, Dương Chí Dũng đã đề nghị gặp đích danh ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng ban Nội chính Trung ương, Phó ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, để cung cấp các bằng chứng bí mật liên quan đến một vị lãnh đạo cao cấp trong việc trực tiếp chỉ đạo các hành vi tham nhũng tại Vinalines.

Tình thế này rất có thể làm đảo ngược kịch bản, ăn thua ông Nguyễn Bá Thanh nắm được cái gì và có đủ bản lãnh và thực lực để "hốt" hay không! Qua hai hội nghị Trung ương ĐCSVN lần thứ 6 và 7, cho thấy ông Thanh không đủ sức trước một đối thủ nặng ký.

Và cũng rất có thể, sự việc này càng thúc đẩy bản án tử hình và sẽ được thi hành nhanh hơn như của Phạm Huy Phước trong vụ án Tamexco năm 1998, nhằm bịt đầu mối. Trong thực tế, khui ra đầu mối không dễ dàng vì rất khó chứng minh bằng tư liệu. Có ai là người định đoạt số phận của người khác lại tin lời của kẻ phạm tội?

Tuy nhiên, nhìn nụ cười vui vẻ của Dương Chí Dũng khi nói chuyện với sĩ quan công an tại toà, chúng ta có thể hình dung được toàn bộ bối cảnh của một màn trình diễn lố bịch.


Dương Chí Dũng cười đọc thơ - Ảnh: TT Online


Mấy câu thơ mà Dương Chí Dũng nổi hứng, bình thản đọc trước toà như một trò đùa, hài hước, nhạo báng công lý:

"28 năm qua lại trở về
Với người hàng hải nặng thề năm xưa
Dưới cờ Đảng nguyện cùng đưa
Con tàu hàng hải đến bờ vinh quang"
Sửa lại cho đúng:

Dưới cờ Đảng đã cùng đưa
Con tàu hàng hải xuống mồ diệt vong!


© Lê Diễn Đức
Theo blog RFA

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Bắc Hàn: Bất Mãn Tột Đỉnh

Tác giả : Vi Anh



Việc vua con CS Kim Yung Un xử chồng của cô ruột, người được vua cha CS Kim Yung- Il phó thác ‘đào bồi’ giúp đỡ vua con còn trẻ nối ngôi, là Thống tướng Jang Song Thaek nhân vật số 2 của chế độ quyền thế như “nhiếp chính vương” có nhiều lý do. Lý do có nhiều bình luận bình loạn, lắm lý giải đoán già đoán non là lẽ cố nhiên rất dễ hiểu, vì CS Bắc Hàn là một chế độ khép kín nhứt hành tinh. Nhưng có một sự thật ai cũng thấy là phong trào chống đối chế độ độc tài CS Bắc Hàn đã lên tới điểm cao nhứt, lên đến thượng tầng của guồng máy thống trị. Cả 7 tướng lãnh cao cấp, quyền thế được cùng phò bên cạnh linh cữu vua cha Kim Yung – Il hồi tháng 12/2011, vua con này đã thanh trừng 5 người và cho về hưu 2 tướng già không thế lực. Chưa bằng vua cha CS Kim Yung IL trong 10 năm đầu đã loại trừ 25.000 cán bộ, đảng viên, quân nhân để củng cố quyền lực cá nhân theo kiểu CS Staline và theo kiểu vua chúa Tàu muốn củng cố triều đại nhà họ Kim.

Kiểu cách vua con CS Kim Yung Un giết hại người đứng đầu quân đội, cũng cho thấy phong trào bất mãn của dân chúng Bắc Hàn đối với vua con CS độc tài kép, độc tài vua chúa theo kiểu Trung Quốc kết hợp với độc tài CS theo kiểu Staline đã rộng khắp toàn dân và toàn quân. Nên vua con CS mới làm một việc ít ai ngờ trong việc thanh trừng của độc tài CS. Thường thì CS đấu đá thanh trừng nhau, thịt nhau họ làm rất kín đáo trong thâm cung bí sử. Đằng này trong vụ này, vua con CS đưa nội vụ lên ‘báo đài’ của Đảng Nhà Nước, và cho loan tải khắp thế giới với lời xác nhận nguồn tin và hình ảnh một cách công khai, chánh thức. Vua con CS làm việc ấy không phải bốc đồng, ngẩu hứng, mà có mục đích và tình toán kỹ. Đó là khủng bố tinh thần toàn dân, toàn quân, toàn đảng để răng đe, ngăn chận phong trào chống đối đang trở thành thùng thuốc nổ không biết chừng nào nổ chụp hay nổ bùng đây. Nổ bùng hay nổ chụp từ bên trong do người dân nổi dậy làm cách mạng lật đổ nhà cầm quyền ác ôn hay quân đội đứng lên đảo chánh trước áp lực của quốc tế từ bên ngoài ngày càng cấm vận, ngày càng bố thiết chế độ độc tài kép này.

Thực vậy đài truyền hình và thông tấn xã KCNA của Đảng Nhà Nước CS Bắc Hàn công khai phổ biến đoạn phim Tướng Jang Song Thaek bị bắt, lôi ra khỏi ghế ngồi trong một cuộc họp tại Bình Nhưỡng, do Kim Yng Un ‘chủ trì’. Bị chụp mũ tội ngập đầu «đồi trụy, đam mê tửu sắc, sử dụng hàng xa xỉ phẩm, cờ bạc mỗi dịp xuất ngoại, phản bội tổ quốc…». Chỉ năm ngày sau là tử hình. KCNA còn nhận định chiến dịch thanh trừng sẽ lan rộng đến những người thân cận của Tướng Jang Song Thaek. Báo chí Nam Hàn và quốc tế, cho biết một Bộ trưởng, một Thứ trưởng thân cận của ông Jang Song Thaek đã bị hành quyết. Cháu của Tướng Jang Song Thaek làm đại sứ tại Malaysia cùng vợ con, bị mật vụ Bắc Triều Tiên áp giải bí mật về nước. Một người thân khác, đại sứ tại Cuba, nhận được lệnh triệu hồi.

Thông tấn xã KCNA của Đảng Nhà Nước CS Bắc Hàn nhấn mạnh Tướng Jang Song-Thaek là “một kẻ phản bội Tổ quốc, đã có những hành vi phiến loạn chống đảng và phản cách mạng, nhằm lật đổ ban lãnh đạo Đảng Nhà nước, và chế độ Xã hội chủ nghĩa.” Ngoài ra còn cáo buộc Ông còn phản bội Kim Jong-Un và cha của ông là Kim Jong-Il. Một tòa án quân sự đặc biệt đã xử tử hình về những hành vi phản bội và phiến loạn. Hành hình vào 12/12/2013.

KCNA còn tường thuật, ông Jang Song-Thaek thú nhận đã có âm mưu đảo chánh với sự trợ giúp của các đồng lõa trong quân đội, với lời khai như sau: “Tôi đã tìm cách khai thác nỗi bất mãn của nhân dân và quân đội trước sự thất bại của chế độ hiện nay trong việc điều hành kinh tế”.

Then chốt, cốt lõi của những tội vua con CS Bắc Hàn Kim Yung Un cáo buộc cho Tướng Jang Song-Thaek nhân vật số hai của chế độ và cột trụ chánh cho CS Bắc Hàn là quân đội cho thấy bất mãn của đất nước và nhân dân Bắc Hàn đã đến thượng tầng của guồng máy thống trị, guồng máy đã lung lay, trong tình thế sụp đổ. Hệ luận là sau vụ tử hình và truy bức bè đảng của Thống Tướng Jang Song-Thaek ở Bắc Hàn CS, Nam Hàn, chế độ theo sát và am tường CS Bắc Hàn nhứt cũng như Mỹ là quốc gia đồng minh thân cận với Nam Hàn hiện còn mấy chục ngàn quân Mỹ ở Nam Hàn, tỏ ra lo lắng về tình hình ở CS Bắc Hàn.

Hoa Kỳ cho biết đang đẩy mạnh các cuộc thảo luận với các đồng minh Châu Á, sau khi Bắc Hàn xử tử người dượng một thời đầy thế lực của nhà lãnh đạo Kim Jong Un. Bà Marie Harf, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói rằng: “Chúng ta tiếp tục thảo luận với các đồng minh và đối tác trong vùng. Điều chúng ta nhấn mạnh trong thời gian tới sẽ là tiếp tục hợp tác sâu rộng với các đồng minh trong vùng cũng như với 5 đối tác của cuộc đàm phán 6 bên vì đây là một vấn đề rất quan trọng.”

Bộ Thống nhất Nam Hàn tuyên bố: «Chính phủ Hàn Quốc quan ngại sâu sắc về những diễn biến mới đây tại Bắc Triều Tiên và theo dõi sát sao tình hình. Hàn Quốc sẽ chuẩn bị đầy đủ cho mọi khả năng trong tương lai».

Lo ngại là phải vì vua con CS Bắc Hàn có thể thử hoả tiễn, thử vũ khí nguyên tử, hay thậm chí có thể tung quân tấn công Nam Hàn để tỏ ra hùng mạnh, làm chệch hướng chú ý của người dân đang bất mãn, và hướng thù hận của quân đội ra phía ngoài thay vì hướng nội chống vua con CS như bao nhiêu vua chúa làm khi trong đất nước bất ổn, dân chúng đói khổ, bất mãn thì tung quân gây hấn ngoại quốc.

Trung Cộng càng lo ngại hơn. TC lo đã mất người giao liên, mất người đối tác và đối thoại là Tướng Jang Song-Thaek vốn là người có đầu óc mở cửa kinh tế, có nhiều tương quan kinh tế chánh trị với Bắc Kinh. Jang Song Thaek từng tháp tùng Kim Jong Il đi Bắc Kinh ba lần từ 2010 đến 2011, và ông Jang cũng là lãnh đạo cao cấp đầu tiên của Bình Nhưỡng đến thăm Bắc Kinh sau khi Kim Jong Un lên nắm quyền. Ông lãnh đạo một ủy ban kêu gọi đầu tư nước ngoài, chánh yếu từ Trung Quốc. Ông cũng là người phụ trách việc xuất cảng quặng mỏ, vốn chiếm phân nửa số xuất khẩu của Bắc Triều Tiên sang Trung Quốc. TC càng lo nhiều hơn khi nghĩ đến cảnh CS Bắc Hàn sụp đổ qua một cuộc cách mạng hay đảo chánh thì hai miền Đại Hàn sẽ thông nhứt dĩ nhiên dưới cái thế mạnh của Nam Hàn. Trong trường hợp đó quân đội Mỹ sẽ tiến sát nách TC hơn. Và TC phải chịu một phong trào di tản từ Bắc Hàn sang, tao nhiều khó khăn knh tế, xã hội, dân số cho TC./.(Vi Anh)

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Để tưởng nhớ một ngoi sao vừa tắt Nghệ sĩ Việt Dzũng
Suốt hơn ba mươi năm nay, Việt Dzũng là một cái tên quen thuộc với hầu hết mọi người Việt đang sinh sống ở hải ngoại, kể cả rất nhiều người dân trong nước cũng biết đến tên anh..Nhưng cho tới nay vẫn chưa có ai viết cho thật đầy đủ về người nghệ sĩ đa tài này và những đóng góp to lớn của anh trên nhiều lãnh vực khác nhau, nhứt là trong địa hạt ca nhạc và truyền thông đại chúng. Bên cạnh đó, anh cũng thường xuyên là đề tài cho các tờ báo trong nước tấn công từ hơn hai chục năm nay, với những lời vu cáo, mạ lỵ nhằm dìm anh xuống đáy vực sâu.

Nhưng người nghệ sĩ và chiến sĩ tranh đấu cho nhân quyền này vẫn mane dạn vượt qua tất cả những khổ nạn chập chùng, oan khiên chất ngất và càng ngày anh càng được nhiều người yêu mến anh thêm. Cũng chính biến cố 30 tháng tư năm 1975 cùng với sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam đã đưa Việt Dzũng rời xa quê hương mà cho đến nay chưa một lần nào anh đặt chân trở lại. Cùng với 36 người chen chúc nhau trên một chiếc tàu nhỏ bé, mong manh, Việt Dzũng và bà ngoại của anh đã vĩnh viễn rời xa gia đình và đất nước Việt nam. Sau 22 ngày trên biển khi không còn thức ăn, nước uống, cũng như phải chứng kiến biết bao nhiêu cảnh đau thương trên biển cả, tàu của họ mới cập được bến Singapore. Nhưng liền sau đó, tất cả lại bị chuyển qua một chiếc tàu khác và thẳng đường tới trại tị nạn Subic ở Phi Luật Tân.

Chính những kinh nghiệm sống trên đường vượt biển tìm tự do này đã khiến cho anh sáng tác rất thành công các ca khúc để đời sau này, mà tiêu biểu nhất vẫn là “Lời Kinh Đêm” với những câu ca: … “Thuyền trôi xa … về đâu ai biết ? Thuyền có về …ghé bến tự do ? Trời cao xanh … hay trời oan nghiệt Trời có buồn … hay trời vẫn làm ngơ ?… … Người buông xuôi về nơi đáy nước Người có mộng một nấm mồ xanh ? Biển ngây ngô hay biển man rợ Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ …?” Chưa đầy 17 tuổi mà đã rời xa mái ấm gia đình, bỏ lại sau lưng tất cả những người thân yêu, bè bạn, mái trường yêu dấu với những sinh hoạt vui tươi của tuổi học trò.

Chắc chắn là có những khoảnh khắc anh Nguyễn Ngọc Hùng Dũng chợt nhớ lại quãng đời niên thiếu ngập tràn kỷ niệm của mình, đã bỏ lại sau lưng tận bên kia bờ Thái Bình Dương. Từ nhỏ anh đã là một học sinh xuất sắc của trường Lasalle Tabert ở Sài Gòn, cũng như anh trai và đứa em trai kế của anh. Người chị lớn của anh thì đang du học bên Nhật Bản về ngành giáo dục. Ba của anh là bác sĩ Nguyễn Ngọc Bảy, cựu Dân Biểu của nền đệ nhị cộng hoà Việt Nam và cũng là Thiếu Tá Y sĩ trưởng Bộ Tổng Tham Mưu và Sư đoàn 5 QLVNCH. Mẹ của anh là giáo sư trường nữ trung học Gia Long ở Sài Gòn.

Việt Dũng đã yêu thích âm nhạc từ khi còn rất trẻ và được các sư huynh ở trường Lasalle Tabert chỉ dạy rất tận tình. Trong lúc gia đình mong cho anh sau này trở thành Bác sĩ để nối nghiệp cha, thì Việt Dzũng lại đam mê ca hát, văn nghệ văn gừng. Anh thường cùng các bạn học trình diễn ca nhạc ở những buổi văn nghệ liên trường. Việt Dzũng đã từng chiếm giải nhất ở cuộc thi văn nghệ của trường Tabert và đại diện trường đi tham dự các buổi hát ủy lạo chiến sĩ VNCH, cũng như tham dự vào những đại hội nhạc trẻ khắp nơi bên cạnh những tên tuổi nổi danh thời bấy giờ như Trường Kỳ, Nam Lộc, Jo Marcel, Tùng Giang, Đức Huy, Elvis Phương.v.v..

Đó là khoảng thời gian từ năm 1971 cho tới tháng tư năm 1975. Giờ đây (tháng 6-1975), tại trại tạm cư Subic, chàng thanh niên trẻ Việt Dzũng tạm quên đi những kỷ niệm thật đẹp ở quê nhà mà bắt tay ngay vào đời sống mới. Với số vốn Anh ngữ học được ở trung học và tính tình hoạt bát, Việt Dzũng liền tham gia hoạt động trong ban tổ chức và điều hành trại, đón tiếp và giúp đở nhiều chuyến tàu tị nạn lần lượt cặp bến Subic cho đến khi trại này đóng cửa. Rời trại tị nạn này, Việt Dzũng cùng bà ngoại được đưa sang đảo Guam, rồi chuyển sang trại Ft. Chaffee ở tiểu bang Arkansas.



Trong thời gian này Việt Dzũng hoạt động không ngừng nghỉ, từ việc đón tiếp đồng bào tị nạn mới tới, sinh hoạt trong hội Hồng Thập Tự, hội USCC, cộng tác với tờ báo của trại, chương trình phát thanh của trại, làm thông dịch viên giúp đỡ rất nhiều người chung quanh. Ở lại trại gần đến ngày cuối cùng trước khi trại đóng cửa, anh được Đức cha Bernard Law, Giám Mục địa phận Springfield, Missouri, bảo trợ và gởi đến tạm trú trong một gia đình người Mỹ. Năm 1976, Việt Dzũng tiếp tục học lớp 11 ở trường trung học St. Agnes, Missouri và tự trau dồi thêm về âm nhạc theo như sở thích và đam mê từ nhỏ của anh. Tại đây, anh bắt đầu sinh hoạt ca hát với các anh chị em thuộc cộng đồng Việt Nam. Anh cũng từng xuất hiện trên đài truyền hình KOZK21 ở Springfield.

Một năm sau (1977), Việt Dzũng được đoàn tụ với gia đình ở Wood River, tiểu bang Nebraska. Năm đó anh tốt nghiệp trung học tại trường Wood River. Năm 1978, Việt Dzũng chính thức bước vào lãnh vực âm nhạc khi cùng một người bạn học chung trường tên là Vernon Larsen lập ban song ca để hát theo lối du ca (troubrador) của Mỹ, tên “Firebirds” (Chim Lửa). Đôi song ca này chuyên hát nhạc đồng quê của Hoa Kỳ (American country music). Việt Dzũng sử dụng tây ban cầm và cùng người bạn Mỹ đi trình diễn khắp nơi ở vùng Trung Mỹ, kể cả các club nhạc của dân địa phương. Nhiều người Mỹ đã tỏ ra rất ngạc nhiên khi thấy một thanh niên Á châu hát nhạc đồng quê rất thành thạo, trôi chảy nên đã dành cho anh thật nhiều thiện cảm.

Cũng năm 1978 này, Việt Dzũng đoạt giải nhất về sáng tác nhạc country music tại cuộc thi Iowa Grand Old Orphy. Thật ngạc nhiên khi anh là người Việt Nam đầu tiên, mà cũng là người Á châu đầu tiên chiếm giải nhất về bộ môn sáng tác country music với bài hát hoàn toàn bằng Anh ngữ. Ngay sau đó, một hãng dĩa về country music đã mời anh cộng tác để thực hiện một Album nhạc đồng quê, nhưng anh đã từ chối vì muốn tiếp tục học ở Đại học theo ý muốn của song thân. Cũng trong năm này, Việt Dzũng bắt đầu sáng tác nhạc Việt với bài hát đầu tiên là “ Sau Ba Năm Tỵ Nạn Tại Hoa Kỳ”, viết về thân phận người dân xa xứ với những đau đớn chia lìa. Bài hát thứ hai là “Một Chút Quà Cho Quê Hương” đã trở thành một ca khúc lẫy lừng nhất của Việt Dzũng, được mọi người yêu thích cho đến tận hôm nay.

Đó là thời gian người Việt tỵ nạn bắt đầu gửi quà về cho thân nhân ở quê nhà, chia sẻ những khổ đau chất ngất, đọa đày dưới chế độ mới như những lời ca sau đây: “Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay … Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may Mẹ may hộ con tim gan quá đoạ đày … Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa Chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương Gởi về cho mẹ dăm gói trà xanh Mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn …. Con gởi về cho cha một manh áo trắng Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình …”

Nhớ lại những ngày đầu tiên làm quen với sinh hoạt văn nghệ của người Việt tha hương, khi Việt Dzũng theo người chú họ về San Antonio, Texas thăm gia đình người bạn nhân dịp tết Nguyên Đán 1979. Tại Hội Chợ Tết nơi đây, anh đã lên sân khấu, ôm đàn guitar trình bày hai ca khúc mà anh vừa sáng tác. Hát xong, nhìn xuống khán giả thì mọi người đã đầm đìa nước mắt và túa ra ôm ấy anh khi anh rời sân khấu.


Việt Dzũng đã chinh phục bà con đồng hương nơi đây kể từ lúc này. Năm sau 1980, Việt Dũng trình diễn tại một đại nhạc hội ở Omaha, Nebraska với Sĩ Phú và Mai Lệ Huyền. Sau đó anh đã hát với Khánh Ly, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh ở Denver, Colorado những bài hát do anh sáng tác. Ngay lúc đó, Khánh Ly đã chọn ba bài hát của anh là: “Lời Kinh Đêm, Mời Em Về, Một Chút Quà Cho Quê Hương” đem về California thâu vào băng nhạc “Một Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa” (nhà văn Mai Thảo viết lời giới thiệu). Ba bài hát này đã là những bài hát nằm lòng của hàng triệu người Việt nhiều năm sau đó (kể cả ở trong nước).

Năm 1980, là năm mà số người Việt bỏ nước ra đi cao nhất, Việt Dzũng đã cho ra mắt cuồn băng nhạc đầu tay “Kinh Tỵ Nạn” do Trung Tâm Nhã Nhạc tại Houston, Texas thực hiện. Ngay tuần lễ đầu băng nhạc này đã được đón nhận nhiệt liệt từ California đến tận Canada, số bán sau đó đã lên đến cả trăm ngàn ấn bản. Lúc đó, Việt Dzũng đã quyết định chính thức di chuyển qua California sinh sống và sinh hoạt văn nghệ để có thể phát triển tài năng của anh nhiều hơn. Đầu tiên, anh được nhạc sĩ Ngọc Chánh mời hát cho đại nhạc hội ở Orange County và tiếp tục lưu diễn khắp nơi.

Anh cũng đã hoàn thành cuồn băng nhạc thứ nhì tên là “Lưu Vong Khúc” vào giai đoạn này. Trước đó, vào năm 1978 anh đã gặp ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh tại Đại Hội Thanh Niên Cách Mạng Việt tại thủ đô Washington DC và hai người liền kết nghĩa chị em. Cả hai cùng sáng tác chung một đường lối và họ đã kết hợp thành một đôi song ca trình diễn khắp nơi trên thế giới, chỉ trừ các nước cộng sản mà thôi. Tại Mỹ, họ đã lưu diễn hầu hết 50 tiểu bang, kể cả những tiểu bang có rất ít người Việt sinh sống.

Tại Á châu, họ đã hát ở Nhật hơn ba lần, hát cho các phái đoàn ngoại giao, tòa tổng lãnh sự, sứ quán Mỹ ở nhiều nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, v.v…Nhưng chuyến lưu diễn ở Âu Châu của Việt Dzũng và Nguyệt Ánh phải coi là một chuyến lưu diễn lịch sử. Đã có hàng ngàn người Việt từ khắp nơi đón xe lửa đến gần địa điểm trình diễn, cắm trại nằm chờ trước hai ba ngày khai mạc để gặp hai thần tượng của họ. Ở Úc Châu khán giả cũng nhiệt liệt đón chào Việt Dũng và Nguyệt Ánh. Họ đã đi hết những thành phố có người Việt cư trú kể cả những nơi hẻo lánh như Perth và Darwin.



Đã có nhiều bài báo và cả hai cuốn sách xuất bản ở Úc được viết ra để ca tụng cho lý tưởng đấu tranh chống cộng và ước mơ ngày về quang phục quê hương của đôi nghệ sĩ này. Ngay lúc đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam liền lên án Việt Dzũng và Nguyệt Ánh là hai kẻ phản động số một, tuyệt đối cấm phổ biến tất cả các nhạc phẩm của họ trong nước. Trong một phiên tòa sau đó, CSVN đã kết án tử hình khiếm diện hai nghệ sĩ này. Ngày 1 tháng Tư năm 1985, hai nghệ sĩ này đã kết hợp với những ca nhạc sĩ khác để thành lập Phong Trào Hưng Ca Việt Nam, dùng âm nhạc làm vũ khí đấu tranh chống lại kẻ thù.

Cho đến nay, Phong Trào Hưng Ca Việt Nam vẫn còn hoạt động đều đặn với những tên tuổi khác như Huỳnh Lương Thiện, Trương Sĩ Lương, Xuân Nghĩa, Tuấn Minh, Tuyết Mai, Lưu Xuân Bảo..v.v..Trong suốt thời gian hơn 25 năm này, Việt Dzũng vẫn tiếp tục có những hoạt động đều đặn, liên tục và bền bỉ để tranh đấu cho người tị nạn Việt Nam. Từ những buổi văn nghệ gây quỹ cho các con tàu với người vượt biển như Cape D’Anamur, chương trình SOS Boat People, vận động chống lại chương trình cưỡng bách hồi hương người tị nạn, tranh đấu với quốc tế tại Genève, Thụy Sĩ, tại Liên Hiệp Quốc…

Có thể nói, bất cứ nơi nào có người tị nạn Việt Nam là có bước chân Việt Dzũng mang tiếng đàn, tiếng hát của anh để binh vực cho họ, sưởi ấm tấm lòng của họ, mang niềm tin yêu và hy vọng cho họ vượt qua những khổ cực, đau buồn và mất mát trên đường vượt biên. Anh đã có mặt hầu hết các trại tị nạn ở vùng Đông Nam Á để thăm viếng, ủy lạo đồng bào, giúp đở trẻ em không thân nhân và hàng ngàn công tác xã hội khác mà không hề biết mệt.



Cũng trong năm 1985 này, Việt Dzũng đã cho ra đời một băng nhạc hoàn toàn bằng Anh ngữ “Children of the Ocean”. Đây cũng là album nhạc đầu tiên của người Việt hải ngoại bằng tiếng Anh. Các tờ báo Orange County Register, Los Angeles Times, Washington Post đều có những bài viết khen ngợi cuốn băng này. Riêng tờ Austin-American- Stateman đã gọi Việt Dzũng là “người nghệ sĩ nổi tiếng nhất của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và là một tấm gương sáng giá, chứng tỏ là người tỵ nạn có thể hội nhập vào đời sống mới, trong khi vẫn giữ được nguồn gốc của quê hương mình.”

Về truyền thông, Việt Dzũng đã mở ra một cánh cửa khác để cho thấy một tài năng thiên phú và đa dạng ở anh. Sau một thời gian dài làm báo, tháng 7 năm 1993 Việt Dzũng được mời làm xướng ngôn viên chính cho chương trình phát thanh tiếng Việt đầu tiên ở Nam California, phát thanh 6 tiếng đồng hồ mỗi ngày là đài Little Saigon.

Cũng cần nhắc lại là trước đó các đài phát thanh đều làm chương trình theo kiểu ngày xưa, nghĩa là thâu thanh trước đàng hoàng, kỹ càng từng tiết mục và tới giờ là cho phát thanh lên. Nhưng lần đầu tiên, Việt Dzũng đã tạo ra một phong cách mới: anh đưa ra những chương trình trực tiếp truyện trò cùng thính giả (talk back) trong buổi phát thanh. Nên không khí rất vui nhộn và hào hứng, náo nhiệt vô cùng. Sau này các đài phát thanh ở Mỹ và ngay cả ở bên Việt Nam cũng bắt chước theo lối này.

Kể cả các đài BBC, VOA phát thanh về Á Châu, cũng thay đổi cách làm việc như cho xướng ngôn viên được phép đùa giỡn với thính giả chớ không đọc tin một cách nghiêm trang như ngày xưa. Ngoài việc phổ biến tin tức, âm nhạc, thể thao cuối tuần, giải trí cuối tuần, tin tức Hollywood …VD còn thực hiện chương trình đặc biệt nhất là chương trình “Tâm tình với nghệ sĩ” được rất nhiều thính giả ưa thích. Chương trình này lúc đầu phát từ 11 đến 12 giờ trưa hàng ngày trên làn sóng 967 FM của đài KWIZ. Sau đó mỗi tuần phát hai ngày thứ hai và thứ tư.



Trong vòng hơn hai năm, mà Việt Dzũng đã phỏng vấn trên 350 nghệ sĩ. Từ những ca sĩ nổi tiếng như Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Chế Linh, Lệ thu, Ý Lan, Vũ Khanh …cho đến những ca sĩ mới xuất hiện ở hải ngoại sau này như Mạnh Đình, Dạ Nhật Yến, Thanh Trúc, Phi Nhung … Những nghệ sĩ đến từ các tiểu bang xa cũng được mời phỏng vấn như Hà Thanh, Từ Công Phụng, Trường Kỳ, Châu Hà, Văn Phụng .v.v…Trong tất cả các chương trình phỏng vấn này, nóng bỏng nhất và đặc biệt nhất phải nói là chương trình phỏng vấn nữ ca sĩ Ngọc Lan. Vì từ trước tới nay, Ngọc Lan không nhận lời cho ai phỏng vấn cả (vào thời điểm đó), chỉ có một lần cô trả lời trên đài VOA; và Việt Dzũng là người duy nhất phỏng vấn được Ngọc Lan vào tháng 10 năm 1994.

Bốn năm sau( 1996), Việt Dzũng cùng các bạn đứng ra thành lập một chương trình phát thanh độc lập, đó là đài Radio Bolsa, phát thanh trên ba làn sóng khác nhau ở Nam California, Bắc California và Houston, Texas. Hiện nay (2006), Radio Bolsa đang phát sóng trên 106.3 FM, 1190 AM (Nam California) và 1430 AM (San Jose) với Việt Dzũng và Minh Phương là hai xướng ngôn viên chủ lực cùng với các xướng ngôn viên khác như Khúc Minh, Nguyễn Phú, Uyên Thy, Mai Trang…

Việt Dzũng đã tạo sự gần gũi, thân mật giữa xướng ngôn viên với thính giả từ trẻ đến già, ở nhà cũng như đang lái xe đi làm với những chương trình đa dạng và phong phú hàng ngày. Dĩ nhiên là với kỷ thuật phát thanh digital, mọi người trên khắp thế giới cũng có thể nghe được các chương trình phát thanh này trên mạng thông tin toàn cầu bất cứ lúc nào. (http://www.radiobolsa.com/)

Tuy công việc hàng ngày của anh thật bận rộn như vậy, nhưng ngoài thời gian làm việc ở đài phát thanh, Việt Dzũng còn chứng tỏ là anh có khả năng làm báo rất thành công. Kể từ năm 1980, anh đã cộng tác với tờ Người Việt (trang song ngữ Tuổi Trẻ). Sau đó anh về làm Tổng Thư Ký cho tờ Nhân Chứng năm 1982. Tờ Tay Phải (của Du Tử Lê) năm 1983. Về Houston làm Tổng Thư ký cho tờ Việt Nam Thương Mại năm 1988. Trở lại California làm thư ký cho tờ Sài Gòn Nhỏ một thời gian và sau đó cộng tác với tờ tuần báo Diễm từ năm 1990. Năm 1992 trở thành Thơ ký toà soạn cho tờ nguyệt san Hồn Việt cho đến bây giờ.

Việt Dzũng cũng là cộng tác viên của nhiều cơ quan truyền thông khắp nước Mỹ như tờ Phố Nhỏ (Washington DC), Thế Giới Mới (Dallas, PL), Phương Đông (Seattle, WA), Mõ Magazine (San Jose, Sacramento, San Francisco & Oakland), Làng Văn (Canada), Nhân Quyền (Úc), Tin Điển (Đức) .v.v. Hầu như lúc nào Việt Dzũng cũng có những dự tính và dự án trước mặt, nhưng không làm sao có đầy đủ thời giờ để lo cho xuể. Chỉ nói riêng về mặt sáng tác âm nhạc thì cho đến nay Việt Dzũng đã sáng tác hơn 450 bài hát về đủ mọi thể loại. Những bài hát về tỵ nạn đã được phổ biến rộng rãi trong hai tập nhạc “Kinh Tỵ Nạn (1980) và “Lưu Vong Khúc” (1982).

Những bài hát này được viết ra như một thôi thúc về những điều phải nói ra trong những năm lạc lõng của đời lưu vong nơi xứ người. Sau đó là các ca khúc đấu tranh, quang phục quê hương. Nhưng nhiều nhất vẫn là tình ca, sáng tác rất nhiều nhưng chưa phổ biến hết.

Những bản tình ca nổi tiếng của Việt Dzũng có thể kể ra như Bài Tango Cuối Cùng, Thung Lũng Chim Bay, Khóc Ru Đời Trinh Nữ, Bên Đời Hiu Quạnh, Có Những Cuộc Tình Không Là Trăm Năm, Và Em Hãy Nói Yêu Anh, Tình Như Cây Cà-Rem… Năm 1990, Việt Dzũng thành lập riêng cho mình Trung Tâm Việt Productions, chuyên sản xuất các CD nhạc với tiếng hát của anh và bằng hữu như các CD: Ru Em Sông Núi Đợi Chờ, Thánh Ca Vào Đời, Hùng Ca Quật Khởi, Quê Hương Và Em, Mình Ơi Đưa Em Về Quê Hương, Thắp Lửa Yêu Thương, Lên Đường, Bên Em Đang Có Ta, Tuổi Trẻ Về Nguồn, Hát Cho Tự Do, Thắp Lửa Tự Do, Trái Tim Ở Lại, Anh Vẫn Còn Thương, Vuốt Mặt, Bên Bờ Đại Dương …



Sau hai mươi năm hoạt động không ngừng nghỉ trên mọi lãnh vực và được nổi danh khắp nơi, được hàng triệu người ái mộ (nhứt là giới trẻ ở hải ngoại), nhưng cũng có lúc Việt Dzũng cảm thấy rất cô đơn. Anh đã từng bày tỏ cảm nghĩ của riêng anh trong một lần phỏng vấn năm 1995 với nhà báo Trường Kỳ như sau: “Nhìn vào đời sống nghệ sĩ, ai cũng cũng chỉ thấy những rực rỡ của ánh đèn sân khấu, của những tràng pháo tay và của những rộn rịp âm thanh. Đời sống của nghệ sĩ không phải chỉ có vậy. Còn có những giọt nước mắt âm thầm mỗi đêm, những đắng cay tủi nhục và những cám dỗ chập chùng đi kèm.

Cá nhân Việt Dzũng không bao giờ muốn trở thành ca sĩ. Chỉ muốn làm một nhạc sĩ ghi lại những nỗi suy tư của một đời người, và những rung động mà mình bất chợt tìm thấy. Vì thế, nên khi nghe một ca khúc, khi thưởng thức một nhạc phẩm nào, hãy nghe bằng sự rung động của chính tâm hồn mình. Bạn sẽ thấy người nhạc sĩ đó đang mang trái tim của họ trải rộng cho bạn nhìn, như một tấm tranh vẽ. Có thể bạn sẽ bắt kịp những nét chấm phá trong tranh. Có thể bạn chỉ ơ hờ lướt mắt qua rồi thôi. Nhưng dù gì đi nữa, mỗi ca khúc hay mỗi bức tranh vẫn là một hiện diện trong đời sống. Và hãy cảm ơn sự hiện diện đó, vì nếu không cuộc đời sẽ chỉ là những vô nghĩa kéo dài. (Việt Dzũng trong “Tuyển Tập Nghệ Sĩ”, 1995) Thực ra, nỗi cô đơn ấy cũng chỉ thoáng qua mà thôi. Những dự án, kế hoạch vẫn được anh theo đuổi càng lúc càng nhiều, choáng ngộp.



Việt Dzũng tâm sự là anh mong cho một ngày dài thêm 48 tiếng đồng hồ, thay vì chỉ có 24 giờ để anh có thể hoàn thành bao nhiêu công việc đang vây bủa lấy anh. Ngày tháng vẫn trôi nhanh, trôi nhanh. Những hoạt động của anh gần đây thì nhiều vô số kể. Chỉ nói riêng về sinh hoạt với Phong Trào Hưng Ca Việt Nam thôi, thì những lần công tác nổi bật nhất là: Phát động chiến dịch “Tưởng Niệm 50 năm Hiệp Định Genève (1954-2004)”, biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Genève (Thụy Sĩ) ngày 3-4-2004 Đại nhạc hội Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt Katrina tổ chức ở Houston (17.9.2005), sau chương trình “Chén Gạo Tình Thương” do Phong Trào Hưng ca phát động từ ngày 9.9.2005.


Đại nhạc hội “Đêm Tình Thương” phối hợp với cộng đồng người Việt ở Dallas Fortworth va Trung Tâm ca nhạc Asia (tháng 9-2005) Chương trình văn Nghệ gầy quỹ cứu trợ nạn nhân cơn bão Katrina tổ chức ở Wichita. Những chương trình Đại Nhạc Hội gây quỹ giúp Thương Phế Binh VNCH ở khắp nơi …. Trong những chương trình gây quỹ từ thiện và văn nghệ đấu tranh đó, Việt Dzũng đã đến với đồng hương bằng cung cách rất bình dị thân thương. Luôn luôn có những bạn trẻ vây quanh, tíu tít thăm hỏi, chụp hình chung với anh. Có những bà mẹ già vẫy tay gọi anh lại gần chỉ để được nắm tay anh, nói vài ba câu thăm hỏi với niềm rưng rưng cảm xúc.

Nhưng tài năng đặc biệt nhất và nổi bật của anh là kể từ năm 1996 khi anh cộng tác với Trung Tâm Ca Nhạc Asia để làm MC hướng dẫn các chương trình video và đại nhạc hội trực tiếp thu hình. Anh cũng cộng tác với đài truyền hình SBTN trong việc soạn và đọc tin tức hàng ngày, cùng nhiều tiết mục khác cho chương trình phát hình liên tục 24 giờ mỗi ngày. Trước đó anh cũng đã từng nhiều lần làm MC cho các buổi đại nhạc hội, các buổi biểu tình, những lần gây quỹ từ thiện …

Riêng ở các chương trình của Trung Tâm Asia thì anh đã hợp tác viết thuyết minh và giới thiệu cho các chủ đề, các tài năng mới trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Vì từ lâu nay Trung Tâm Asia là một trong hai trung tâm hàng đầu về ca nhạc ở hải ngoại được tiếng là luôn luôn có nhiều sáng kiến mới lạ và nâng đở cho những tài năng trẻ tuổi trong lãnh vực ca hát. Rất nhiều chương trình Video của Asia có các chủ đề đầy tình người, không nhằm mục đích thương mại, nhưng rất thành công như “Người Lính”, “Những Tình Khúc Thời Chinh Chiến”, “Tình Ca Anh Bằng”. Vài năm gần đây lại có những chương trình Asia video thật giá trị như “Âm Nhạc Vòng Quanh Thế Giới” (phát hành 27/2/2004), “Tiếng Hát Trái Tim” (thu hình 20/3/2004), “Mùa Hè Rực Rỡ 2005″ (thu hình 22/7/2005).

Nhưng đặc biệt nhất là video “Hành Trình Tìm Tự Do”( phát hành 24/6/2005), khán giả đã thực sự xúc động khi thấy Việt Dzũng trở lại các đảo tị nạn ở Đông Nam Á để làm phóng sự video, gợi nhớ cảnh vượt biển của những thuyền nhân tỵ nạn liều chết ra đi tìm tự do ngày xưa. Cũng chính những chương trình video này, khi được chuyển về Việt Nam cùng với các DVD khác như “Cuộc Đổi Đời Bi Thảm, Triệu Đóa Hồng Cho Người Phụ Nữ VN, Cuộc Khổ Nạn của Người VN (Dạ Lan), và gần đây là Asia 50 “Vinh Danh Nhật Trường” và Asia 51 “Nhạc Vàng, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến” … đã khiến nhà cầm quyền Việt Nam vô cùng tức tối, khi nhìn thấy Việt Dzũng vẫn tiếp tục xuất hiện trong vai trò làm MC.


Nên vào ngày 18/9/2006 tờ báo Công An Thành Phố HCM đã bắt đầu đăng hai bài viết với đủ thứ ngôn từ hạ cấp nhằm mạ lỵ, phỉ báng và bôi nhọ cá nhân Việt Dzũng thật nặng nề. Có thể nói lần này là lần anh bị những người Cộng Sản VN “đánh” nặng nhứt từ trước đến nay. Nhưng cũng chính những bài báo này đã khiến cho mọi người càng thấy rõ bộ mặt nham hiểm, quỷ quyệt của Cộng Sản VN như thế nào và cũng làm cho nhều người thông cảm, yêu mến và chia sẻ nhưng oan khiên, thống khổ của người nghệ sĩ này nhiều hơn.

Với tất cả những mũi tên tẩm thuốc độc bắn thẳng vào anh, Việt Dzũng chỉ im lìm, không lên tiếng biện minh hay viết bài đính chính. Anh vẫn âm thầm tiếp tục thực hiện những dự án và càng hăng say hoạt động, cống hiến tài năng của mình cho đồng hương như anh đã làm suốt hơn ba mươi năm nay. Lúc nào cũng vậy, anh vẫn luôn luôn là một đứa con cưng của tổ quốc và quê hương Việt Nam. Anh vẫn tiếp tục con đường tranh đấu cho nhân quyền và quang phục quê hương trong niềm tin rằng chế độ Cộng sản sẽ cáo chung trong một tương lai rất gần.

Duy-Khiêm Vũ Xuân Tráng

Post Reply