Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Hoa Kỳ có bao nhiêu đầu đạn nguyên tử?

Đào Nguyên /source AP.
- Thứ hai 3/5 Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ loan báo là Hoa Kỳ có 5,113 đầu đạn nguyên tử trong kho dự trữ và khoảng “vài ngàn đầu đạn” nguyên tử khác đến “tuổi về hưu” đang chờ được phá hủy.

Chính phủ Obama lần đầu tiên công khai hóa con số đầu đạn nguyên tử từ năm 1962 đến nay, để khuyến khích các cường quốc khác cũng thẳng thắn như mình.

Bà Ngoại Trưởng H. Clinton tuyên bố ở Liên Hiệp Quốc về vấn đề này như sau: “Chúng tôi cho là chính vì phục vụ cho an ninh đất nước mà chúng tôi quyết định cần phải rõ ràng khi nói về chương trình nguyên tử của Mỹ”.

Trước đây chính phủ Mỹ xem các con số này thuộc phạm vi tối mật. Các con số vừa công bố bao gồm loại đầu đạn cho hỏa tiễn liên lục địa lẫn hỏa tiễn tầm ngắn.

So với con số mà Hoa Kỳ thủ đắc vào năm 1989 thì con số vũ khí nguyên tử mới công bố đã giảm tới 75%. Con số mới công bố tỏ ra khá phù hợp với tính toán của các chuyên gia.

Ông Hans Kristensen, Giám đốc hiệp hội Federation American Scientists, cho biết hội của ông đã tính là Mỹ hiện có khoảng 5,100 vũ khí nguyên tử, căn cứ trên tính toán về ngân sách quốc phòng và một số taài liệu khác.

Đào Nguyên /source AP

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image


Nữ Trung Tá Quân Lực Hoa Kỳ gốc Việt đầu tiên:

Trung Tá Lục Quân Phạm Phan Lang
là phu nhân của một cựu Thiếu Tá Hải Quân VNCH

Người Việt hải ngoại, có lẽ ít ai được biết: Người phụ nữ Mỹ gốc Việt mang cấp bậc Trung Tá đầu tiên của Quân Lực Hoa Kỳ, là phu nhân của một cựu Thiếu Tá Hải Quân VNCH, di tản sang Mỹ cùng chồng và ba đứa con vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam : Trung Tá Lục Quân Lang Phan Phạm (đã nhận thông báo sẽ thăng cấp Đại Tá, trước khi xin về hưu).
Phạm Phan Lang sinh ra và cả một thời tuổi thơ sống cùng gia đình ở Nha Trang, theo học tại trường Nữ Trung Học và Võ Tánh. Nha Trang là thành phố biển thơ mộng, nơi có hai quân trường nổi tiếng: Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, với những chàng trai hào hoa theo nghiệp kiếm cung, chọn cuộc đời bay bổng và hải hành. Những chàng trai này đã một thời khốn khổ trái tim bởi bao nhiêu người đẹp của Nha Trang. Thời ấy, dường như những cặp tình nhân SVSQ Hải Quân và Nữ Sinh Trung Học Nha Trang là những đôi tình nhân làm đẹp phố phường nhất. Trong số đó có đôi uyên ương Phạm văn Diên và Phan Thị Lang. Ngày ấy Lang là một cô bé khá xinh, tính tình hiền dịu dễ thương, nên mới học Đệ lục là đã làm mê mệt chàng SVSQ họ Phạm. Cuộc tình kéo dài mãi đến khi Lang đậu xong tú tài 2 (năm1969) hai người mới làm đám cưới.
Anh Phạm văn Diên tốt nghiệp khóa 14 HQ (Đệ Nhị Kim Ngưu), trước ngày 30/4/75, mang cấp bậc Thiếu Tá và chỉ huy một chiến hạm PGM615 (loại nhỏ).

Vào nửa đêm 29.4.75, Thiếu Tá Diên đưa chiến hạm rời khỏi Việt Nam, mang theo vợ, 3 đứa con nhỏ, 1, 3 và 5 tuổi, cùng cha mẹ già trên tuổi 70 và cậu em vợ, đang theo học đại học Luật Khoa Sài Gòn. Ngoài gia đình, trên tàu còn có thủy thủ đoàn và khoảng hơn 150 người tị nạn khác. Chiến hạm của Thiếu Tá Diên vừa tham dự các cuộc hành quân tàn khốc cuối cùng tại Huế, Quảng Trị,Vùng I, chưa kịp sửa chữa, bảo trì, nên lúc ra khơi bị hư hỏng và nước tràn vào, nhưng may mắn đã được cứu bởi một tàu HQ khác mà Thiếu Tá Diên đã liên lạc được. Cũng trên chuyến đi này, gia đình bị mất hết tư trang, vàng bạc mang theo, nên lúc lên bờ chỉ còn hai bàn tay trắng.

Cũng như nhiều gia đình khác, thời gian đầu đến Mỹ rất vất vả, vợ chồng Thiếu Tá Diên phải làm đủ nghề để sống: thợ mộc,thợ hồ, rửa bát đĩa cho nhà hàng, tiệm ăn, dạy Anh ngữ cho trẻ em Việt Nam ở một trường Tiểu Học, nhổ cỏ trong những cánh đồng cà, hái trái cây, trông nom một trại gà với hơn 60.000 con. Với tính kiên nhẫn và nghị lực, cả hai vợ chồng và cậu em vừa làm vừa theo học chương trình đại học tại University of Maryland, Eastern Shore.

Đường Vào Binh Nghiệp

Năm 1980, chị Phạm Phan Lang đậu được cùng lúc hai bằng Cử nhân, trong đó có bằng Nutrition and Dietetics (Dinh Dưỡng Học). Muốn làm việc trong ngành này, cần phải qua một khóa Thực Tập Dinh Dưỡng ( Dietetic Internship). Chị Phạm Phan Lang đã nộp đơn xin thực tập ở một số trường đại học, trong đó có cả Chương Trình Thực Tập Dinh Dưỡng của Lục Quân Hoa Kỳ (US Army Dietetic Internship).

Lúc bấy giờ, chương trình Thực Tập Dinh Dưỡng của Army đòi hỏi khá nhiều điều kiện khó khăn: điểm trung bình tối thiểu là 3.5, phải là công dân Hoa Kỳ, phải dưới 30 tuổi, phải có ít nhất là 3 lá thư giới thiệu, cùng một số điều kiện khác. Trong số những điều kiện này, ít nhất có hai điều chị Phạm Phan Lang không có, đó là quốc tịch Hoa Kỳ và đã trên tuổi 30. Tuy nhiên, do trường hợp khá đặc biệt và có lẽ do thán phục nghị lực và khả năng của một người đàn bà tị nạn, cuối cùng chị đã được chấp nhận vào chương trình này. Đây là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt mà theo chị, mãi đến sau này, vị Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng của Army Dietetic Internship đã cho chị biết.

Mặc dù lúc ấy, chị Phạm Phan Lang cũng được nhận vào thực tập ở một số trường đại học khác, nhưng chị đã chọn Chương Trình Army này. Chị cho biết, chị chọn Army không phải vì chị yêu đời lính, hay “muốn đi lính”, mà chỉ vì những lý do rất đơn giản: chương trình thực tập rất tốt, nổi tiếng, dễ dàng tìm việc làm sau khi rời quân đội, cả gia đình được hưởng quyền lợi, và nhất là chỉ phải “đội mũ lính và mang lon” có 3 năm. Sau đó, nếu muốn, có thể xin giải ngũ. Đã có hơn một trăm đơn xin vào chương trình này, nhưng cuối cùng chị nằm trong số 10 người được chọn. Chị khiêm nhường cho là may mắn, nhưng tất nhiên điều quyết định vẫn là do khả năng, kết quả bao năm kiên nhẫn học hành của chị.

Chị Phạm Phan Lang bắt đầu binh nghiệp bằng cấp bậc Thiếu Úy. Hai tháng đầu tiên được thực tập quân sự tại quân trường Fort Sam Houston (FSH), San Antonio, Texas. Vì là ngành Quân Y, nên những thực tập quân sự rất nhẹ so với những binh chủng khác. Tuy nhiên, chị cũng phải tập bắn các loại súng, trèo đồi, lội suối, tập trận, hành quân, đọc bản đồ, sử dụng địa bàn một mình giữa rừng sâu.

Sau một năm thực tập Dinh Dưỡng tại Brooks Army Medical Center (BAMC), FSH, San Antonio, TX, chị tốt ngiệp, được thăng cấp Trung Úy và nhận nhiệm sở đầu tiên tại Moncrief Army Medical Activity, Fort Jackson, Columbia, SC. Và cũng tại đây một biến cố lớn đã xảy ra mang đến điều bất hạnh lớn lao nhất cho cuộc đời của chị sau này...

Columbia là thủ phủ của Tiểu Bang South Carolina, có khoảng 300-400 người Việt định cư lúc bấy giờ. Thời ấy người Việt sống rải rác trong thành phố Columbia và các thành phố phụ cận như Greenville, Charleston, Myrtle Beach, Charlotte, Atlanta... Mọi người đều cố gắng làm việc để hội nhập và thích nghi với đời sống mới, nên chẳng ai quen biết, tiếp xúc nhiều với ai. Vợ chồng anh chị Phạm văn Diên & Phạm Phan Lang đã cùng một số thân hữu tích cực vận động thành lập Hội Ái Hữu Người Việt đầu tiên ở Columbia, mở trường dạy Việt Ngữ, tổ chức những ngày lễ hội truyền thống như Giỗ Tổ Hùng Vương, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Đán v.v.., gây quỹ cứu trợ thuyền nhân, tranh đấu cho nhân quyền, tự do ở Việt Nam. Cựu Thiếu Tá Diên hoạt động rất hăng say (chị Phạm Phan Lang chỉ hỗ trợ tích cực sau lưng, vì Quân Đội Hoa Kỳ không cho phép quân nhân tham gia vào bất cứ hoạt động chính trị nào). Phu quân của chị, anh Diên, đi khắp các thành phố lân cận, giao kết bằng hữu, giúp thành lập các Hội Ái Hữu địa phương, nêu cao tinh thần chống Cộng…

Biến Cố Lớn Trong Đời

Hôm đó là ngày lễ Độc Lập Hoa Kỳ, July 4, 1985. Lúc này chị Phạm Phan Lang đang ở trong Quân Đội Hoa Kỳ được gần 5 năm và mang cấp bậc Đại Úy. Khi nhận được Sự Vụ Lệnh thuyên chuyển về lại BAMC, FSH, TX, chị dự định đây sẽ là nhiệm sở cuối cùng của chị. Sau khi chấm dứt quân vụ ở nhiệm sở này, chị sẽ xin giải ngũ. Mấy ngày trước Lễ July 4, gia đình anh chị rất bận rộn tham dự tiệc tùng do các bạn hữu ở Columbia và các thành phố lân cận tổ chức tiễn đưa, hơn nữa chị đang trong thời kỳ học thi tốt ngiệp Thạc sĩ (Master Degree), nên chị khá mệt mỏi. Nhưng vì nể lời mời của một người bạn, cựu Trung Tá HQ ở Charleston, SC, vợ chồng anh chị nhận lời tham dự một buổi tiệc picnic ở bờ biển Foley Beach, SC. Chỗ này cách Columbia, nơi gia đình anh chị ở, khoảng 3 giờ đồng hồ lái xe. Cùng với gia đình anh chị 5 người, còn có 4 gia đình khác. Tổng cộng có 5 cặp vợ chồng và 13 đứa trẻ con, tuổi từ 9-15. Lúc ấy trời còn sớm, khoảng 8 giờ sáng, trên biển không một bóng người, ngoại trừ họ. Và tại nơi đây tại nạn đã xảy ra.

Mười ba đứa trẻ con vừa thấy biển đã nao nức chạy ùa ra bơi lội. Nước bên bờ biển lúc ấy mới cao bằng đầu gối. Các ông bố cũng vội vàng theo mấy đứa nhỏ, vừa để trông chừng vừa sửa soạn mắc mồi câu cua. Đàn bà thì lê mê khiêng thức ăn, nước uống từ trên xe xuống. Bỗng có tiếng kêu cấp cứu từ biển vọng vào, chị hoảng hốt nhìn ra, thì hỡi ôi, 13 đứa trẻ đã bị sóng ngầm (undertow) cuốn ra xa, và mấy ông bố đang vội vàng bơi ra để cứu con. Chị Lang không biết bơi, nên vội vã chạy ngược vào bờ một quãng khá dài, kêu cứu. Nhưng trời còn sớm quá, và khu này vì nổi tiếng nguy hiểm sóng ngầm (sau này mọi người mới biết) nên chẳng có ai ra biển. Kêu cứu một lúc không được, chị vội chạy trở lại biển. Lúc ấy một vài đứa trẻ lớn tuổi hơn đã bơi vào hoặc được mấy ông bố đưa vào bờ. Đang lúc dáo dác tìm kiếm mấy đứa con, chị thấy một người đàn bà Mỹ, không biết ra biển lúc nào, đang hì hục kéo anh Diên, chồng chị, lên bờ. Hai mắt anh nhắm chặt, mặt tái nhợt, môi tím ngắt và dường như không còn thở nữa. Dù kinh hoàng, đớn đau và sợ hãi, nhưng với những kinh nghiệm và bình tĩnh của một người lính, chị đã cố gắng làm hô hấp nhân tạo cho anh, được một người bạn bác sĩ trong nhóm phụ giúp, nhưng phu quân của chị vẫn không hồi tỉnh. Khi đưa vào bệnh viện Charlerston, vị bác sĩ cấp cứu, sau khi khám và thử nghiệm EEG (electroencephalogram), đã buồn bã cho chị biết : “Ông nhà đã bị chìm xuống biển khá lâu, trên 10 phút, nên não bộ không còn làm việc nữa ( irreversible brain damage), xin chị đừng nuôi hy vọng”.

Một tháng sau, anh Diên đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viên quân sự nơi chị làm việc ở Fort Jackson, SC. Anh ra đi để cho đứa con gái út, lúc ấy 11 tuổi, và hai đứa bé nữa, 9 và 12 tuổi, được sống. Nếu chỉ muốn cứu một mình đứa con gái của mình, anh đã có thể làm được, nhưng anh không nỡ lòng bỏ cả bốn đứa bé đang cố bám víu vào nhau để khỏi bị sóng đánh trôi đi. Anh đã cố cầm cự đưa bốn đứa bé vào gần bờ, nhưng bị các em ôm chặt lấy anh, vì uống nước quá nhiều và sợ hãi đến cùng cực, không chịu buông tay chân anh ra. Cuối cùng, không chống chọi được, anh từ từ chìm xuống lòng biển trước đôi mắt đớn đau kinh hoàng của đứa con gái. Và vì không còn chỗ để bám víu, nên một đứa bé gái khác, 11 tuổi, bị sóng biển đánh dạt ra xa, mãi đến mấy tiếng đồng hồ sau mới tìm thấy xác.

Báo chí đã ca tụng, mọi người đều ngậm ngùi ngưỡng mộ anh như một anh hùng. Thượng Nghị Sĩ South Carolina lúc bấy giờ, ông Strom Thurmond, đã ban bằng tưởng thưởng. Nhưng tất cả những thứ ấy đều vô nghĩa đối với chị Lang, bởi chị đã mất vĩnh viễn người chồng yêu quí của chị, ba đứa con trong tuổi dại khờ của chị đã không còn người cha thương yêu gương mẫu. Không có điều gì có thể thay thế được.

Một khúc quanh trong binh nghiệp:

Chị đã xin hủy bỏ Lệnh Thuyên Chuyển về Texas và xin ở lại Fort Jackson thêm một năm nữa để có thể sớm hôm lui tới mộ chồng. Trong quân đội Hoa Kỳ, kể cả ngành Quân Y, thông thường thì cứ mỗi 3 năm, một Sĩ Quan được chuyển đến nhiệm sở mới. Chị được ở lại Fort Jackson đến 5 năm. Đây cũng là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt khác. Chị cũng bỏ ý định giã từ quân ngũ. Vì bây giờ, quân đội là nhà của chị, đã che chở và cưu mang chị, cho chị phương tiện tài chánh để nuôi các con ăn học nên người. Quân đội cũng đã rèn luyện chị trở thành một người có can đảm và nghị lực hơn để chống chọi với bao nhiêu thử thách của cuộc đời mà chị vừa mới trải qua cũng như đang chờ trước mặt.

Thời gian thấm thoát trôi qua, chị đã phục vụ trong ngành Quân Y Lục Quân Hoa Kỳ được 22 năm. Trong khoảng thời gian này chị đã thay đổi nhiệm sở 7 lần, Ngoài Fort Sam Houston, TX, và Fort Jackson, SC, chị đã đổi về các bệnh viện ở Fort Gordon,GA; Fort Huachuca,AZ; Fort Ord,CA; Madigan Army Medical Center, WA; Landstuhl Regional Medical Command, Germany; và cuối cùng là Tripler Army Medical Center ở Hawaii. Tại đây, công việc của chị là điều hành Phân Khoa Dinh Dưỡng (Director, Nutrition Care Division) với trên 100 nhân viên dưới quyền, vừa sĩ quan, hạ sĩ quan và dân sự. Ngoài ra, chị còn có nhiệm vụ Cố Vấn và Giám Sát những phần hành Dinh Dưỡng trong các đơn vị Lục Quân trú đóng ở Thái Bình Dương, đặc biệt là Nhật Bản và Nam Hàn ( Nutrition Consultant, Pacific Region). Và cũng ở nhiệm sở này, năm 2002, chị Phạm Phan Lang nhận được Thông Báo sẽ thăng cấp Đại Tá. Thông thường thời gian từ lúc nhận Thông Báo đến lúc được thực sự “ gắn lon” cho cấp bậc Đại tá trong ngành Quân Y là khoảng từ 6 tháng đến 1 năm. Đến lúc ấy chị đã làm việc tại nhiệm sở Hawaii được 3 năm, nên đã đến lúc phải thuyên chuyển đến một nhiệm sở mới, mà chị biết sẽ là Hoa Thịnh Đốn.

Trung tá Phạm Phan Lang không muốn phải về Hoa Thịnh Đốn, cũng chẳng muốn rời khỏi Hawaii. Bởi ở Hawaii có cây xoài, cây mít, cây mảng cầu, khế, ổi, nhãn lồng…Hawaii cũng có những hàng dừa xanh, biển ấm quanh năm và cư dân rất hiền hòa, hiếu khách. Hawaii đã cho chị sống lại với những hình ảnh yêu dấu của Nha Trang, nơi chôn nhau cắt rốn, cũng là nơi chị đã gặp, yêu và làm vợ người lính biển lãng mạn nhưng can đảm hào hùng Phạm văn Diên.

Cuối cùng chị đã không chọn cấp bậc đại tá, mà chọn Hawaii với biển ấm tình nồng, mang bóng dáng miền quê hương thùy dương cát trắng của chị..
Những Chuyện Bên Lề về Tuổi Thơ, Tình Yêu và Cuộc Đời của Cô Nữ Sinh Trường Nữ Trung Học và Võ Tánh Nha Trang.-

Phan Thị Lang chào đời vào một buổi sáng mùa thu năm 1950 tại thành phố Nha Trang. Cha mẹ và đặc biệt là bà nội rất đỗi vui mừng, vì đây là đứa con gái đầu tiên của gia đình và cũng là đứa cháu gái đầu tiên của giòng tộc họ Phan. Cha mẹ muốn đặt tên cho con gái mình là Linh Lan, tên một loài hoa mà ông bà rất thích, nhưng bà nội không chịu, vì bà tin rằng, đặt tên cho con gái bằng tên một loài hoa là không tốt, vì hoa sẽ “ sớm nở tối tàn”, cho nên bà nội bắt phải đổi tên Linh Lan thành Lang, để biến nghĩa thành cũ khoai… lang. Như vậy đời cô cháu gái sẽ tốt hơn.

Cha mẹ Lang sinh tất cả là 7 người con,nhưng mấy ông anh đầu đã mất đi trong chiến tranh loạn lạc, sau cùng chỉ còn lại ba anh em, người anh là Phan Ngọc Châu, cựu học sinh Võ Tánh ( 1B2/VT 63-64), rất chăm chỉ và học giỏi, sau này vào trường Sĩ Quan Thủ Đức và tử trận năm 1968 tại Bình Dương. Anh Phan Ngọc Châu có một chuyện tình thật buồn với một người đẹp ở trường Nữ Trung Học, quê cũng ở Vạn Giã, Hai người không lấy nhau được do một trắc trở về chuyện họ hàng. Anh Châu sống những ngày u buồn và khi chết đi đã mang theo mối u tình này xuống lòng huyệt mộ. Người em trai, Phan Hà, sau khi học xong ở Võ Tánh, theo vợ chồng Lang vào Sài gòn học luật, rồi cùng di tản sang Mỹ vào đêm 29.4.1975. Hiện Hà đang sống ở Columbia, SC.

Ba má Lang là người Vạn Giã. vào Nha Trang làm ăn sinh sống từ thuở thiếu thời, nối nghiệp xây cất của ông nội, rồi làm nghề thầu khoán. Sau này ông trở thành nhà thầu nổi tiếng ở Nha Trang, từng xây nhà cho các tướng Đỗ Mậu, Tôn Thất Đính, và nhiều ngôi biệt thự sang trọng khác trên đường Biệt Thự, Duy Tân.

Cô bé Lang lớn lên trong sự cưng chiều của cả gia đình, nhất là bà nội, nên cô bé rất “hư”, nhõng nhẽo và lười học.Trong nhà, cô bé chỉ sợ có mỗi anh Châu, vì lúc nào anh ấy cũng trầm tĩnh, nghiêm nghị, ít nói và rất chăm học. Cô bé thường cố tình lẫn tránh, vì hễ mỗi lần bắt gặp cô em gái, là anh bắt phải học, một điều mà lúc còn ở tiểu học, cô bé thấy như là một cực hình.

Vì lười học, nên năm lớp Nhì ở trường tiểu học Sinh Trung, cô bé bị ở lại lớp. Cả một năm ở lại lớp Nhì ấy, cô bé thật ê chề và xấu hổ.Vì hễ có một đứa học trò nào lười biếng là cô giáo lại đem Lang ra làm ví dụ. Nhờ vậy mà từ đó, Lang quyết tâm học cho giỏi. Mùa hè đến, Lang theo anh Châu về quê nội ở Vạn Giã, để được ông anh dạy kèm cùng với mấy đứa con ông chú, bà cô, đặc biệt các môn toán đố, hình học..

Sau hè, trở lại trường, Lang được lên lớp Nhất.Và suốt cả năm lớp Nhất, tháng nào Lang cũng được lãnh Bảng Danh Dự, và cuối năm khi thi vào lớp Đệ Thất trường Nữ Trung Học, cô bé đậu hạng thứ 10 trong số rất đông thí sinh ở Nha Trang và từ các nơi khác về dự thí. Lang vào Đệ Thất năm 12 tuổi. Lên Đệ Tam chọn Ban C. Năm 1968, Lang đỗ Tú Tài I hạng Bình Thứ. Anh Châu từ chiến trường xa xôi, nghe tin, vội vã xin phép về thăm gia đình và chúc mừng cô em gái. Không ngờ đó lại là lần cuối cùng hai anh em nhìn thấy mặt nhau. Anh Châu đã tử trận đúng một tuần sau khi trở về đơn vị. Năm Đệ Nhất C, Lang phải chuyển sang học bên trường Võ Tánh, vì trường Nữ Trung Học không đủ lớp. Sau khi đậu Tú Tài II năm 1969, Lang là người đầu tiên trong đám bạn bè cùng lớp “theo chồng bỏ cuộc chơi”. Anh Châu, người anh duy nhất và rất thương mến Lang, không còn nữa để dự đám cưới của em mình. Đó là sự mất mát và hụt hẫng to lớn của Lang trong ngày bước theo chồng.

Lang gặp anh Diên, Phạm văn Diên, lần đầu tiên vào ngày mồng 6 Tết Âm Lịch, lúc Lang chỉ mới tròn 13 tuổi , đang học lớp Đệ Lục. Hôm đó là ngày Thứ Bảy, nên phố xá đầy dẫy những anh chàng SVSQ Hải Quân và Không Quân. Không hiểu sao lúc ấy Lang “không ưa” Hải Quân, nên khi bị hai anh chàng HQ đi kèm hai bên Lang và một cô bạn, trong lúc dạo phố mua hàng, tán tỉnh, Lang vừa sợ vừa mắc cỡ, vừa ghét nữa, nên không mở miệng nói một lời. Anh Diên đi bên cạnh, biết Lang sợ và e thẹn, nên ôn tồn nhỏ nhẹ gợi chuyện. Anh Diên nói tiếng Bắc, gọi Lang bằng “bé”. Theo Lang về gần đến nhà cô bạn cùng đi, cũng là một tiệm ăn, Diên đã hỏi Lang : “ Bé ơi, đường nào ra biển, hở bé”. Nghe hỏi, Lang bỗng phì cười. Hải Quân mà hỏi đường nào ra biển. Nào ai có biết, đó lại là câu nói định mệnh của đời Diên sau này.

Kể từ hôm ấy, cứ mỗi lần “đi bờ” là anh Diên đến ngồi ở quán của cô bạn, chờ bé Lang đạp xe đi qua. Vì quán ăn nằm ngay góc đường đến nhà Lang. Cứ như thế cho mãi đến năm 1965, anh Diên tốt nghiệp Khóa 14 HQ/ Đệ Nhị Kim Ngưu.

Một hôm, Diên ngỏ ý xin phép Lang được đến nhà thăm ba má và ông anh, làm cô bé Lang hoảng sợ đến muốn khóc, lắc đầu lia lịa, vì nghĩ tới sự nghiêm khắc của cha mẹ, đặc biệt là anh Châu của mình, nên bảo là “Anh mà tới nhà, chắc thế nào Lang cũng bị đòn, không được đâu!” Nghe nói thế, Diên chỉ âu yếm nhìn Lang mỉm cười và bảo là “bé đừng sợ”. Cuối tuần sau, Diên đến nhà thật, gặp ba má và anh Châu của Lang. Và chẳng biết làm thế nào mà Diên thuyết phục được ông anh khó tính của Lang, để được “chính thức” tới thăm gia đình Lang . Dù vậy, Diên cũng chỉ dám tới nhà mỗi tháng một lần và cũng hiếm khi được ngồi riêng để nói chuyện với Lang. Hôm trước ngày tốt nghiệp ra trường, Diên đến thăm để từ giã gia đình Lang. Sau khi nói chuyện với ba má và anh Châu, Diên xin phép được lên lầu để từ giã Lang. Lúc ấy cô bé đang ngồi đan áo trên sân thượng, dưới giàn nho đầy quả chín. Lần đầu tiên, Diên nắm lấy tay Lang, nhìn thật sâu vào mắt Lang, dịu dàng nói “Bé ơi, anh rất yêu bé và muốn cưới bé làm vợ, nhưng bé hãy còn nhỏ quá, nên anh phải đợi cho bé lớn lên. Ngày mai anh đi rồi, không biết bao giờ mới về thăm bé được, nhưng anh sẽ viết cho Bé mỗi ngày một lá thư. Bé ráng đợi anh nghe!”. Nói xong, Diên cúi xuống, nhẹ nhàng hôn lên đôi bàn tay run rẩy và ướt đẫm nước mắt của Lang.

Và chàng đã giữ đúng lời hứa, mỗi ngày một lá thư gởi về cho Lang đều đặn, và chờ Lang lớn lên. Họ đã làm đám cưới vào mùa Thu 1969, sau khi Lang đỗ Tú Tài II. Lúc ấy Lang vừa 19 và Diên đã 27 tuổi đời. Hành trang về nhà chồng của Lang, ngoài một số áo quần, còn lại là một vali chứa đầy những lá thư của Diên.

Hơn mười năm, sau ngày cả nhà di tản sang Mỹ, anh Diên mất đi trong một tai nạn bi thảm, để lại cho Lang ba đứa con dại tuổi chỉ từ 11 đến 15. Lang đã chọn ở lại quân đội để có điều kiện lo lắng cho các con. Sau này cả ba cháu đều thành đạt. Cô gái út, ngày rời Việt Nam vừa đúng 1 năm 1 tháng tuổi. Năm 11 tuổi tận mắt chứng kiến cái chết đau đớn của cha mình. Sau này được vào Stanford University, một đại học nổi tiếng của Hoa Kỳ, và được bầu làm Chủ Tịch Hội Sinh Viên Việt Nam của trường. Sau khi đậu bằng Thạc sĩ ngành Kinh Tế/Phát Triển Điều Luật Quốc Tế (Economics/International Policy Development) năm 1997, cháu lấy thêm bằng Thạc Sĩ Quản Trị Thương Mại (Master of Business Administration) ở University of California at Berkeley (Haas School of Business). Hiện nay là Senior Product Marketing Manager của Google.

Năm 2002, sau khi chu toàn trách nhiệm của một người mẹ với các con, một sĩ quan cao cấp đối với Quân Lực Hoa kỳ, đúng một ngày sau khi về hưu, Phạm Phan Lang làm đám cưới với người chồng mới. Anh là môt người Mỹ, lớn hơn Lang 7 tuổi. Là một người hiền lành, thật thà và độ lương. Trước kia là một Sĩ Quan Không Quân trong Quân Lực Hoa Kỳ. Rời quân ngũ, anh đi học lại và lấy bằng Ph.D rồi dạy tại trường University of Hawaii, và sau này đã làm việc cho US Navy/Submarine, Pearl Harbor Hawaii trong hơn 30 năm với chức vụ Oceanographer/Technical Director cho đến ngày về hưu, cách đây hai năm.

Phạm Phan Lang cùng chồng đang sống những ngày tháng êm đềm ở thành phố Kaneohe trên hòn đảo Oahu / Hawaii thần tiên. Mỗi ngày, trong nắng ấm, nhìn biển trời, nghe sóng biển rì rào, Lang da diết nhớ về Nha Trang, về những ngày tuổi thơ cùng với gia đình, thầy bạn, và hồi tưởng về một quá khứ với biết bao thăng trầm biến đổi của quê hương, của gia đình và của cả một đời người.

(Ghi chú của người viết : Khi liên lạc với Phạm Phan Lang để viết bài này, bất ngờ người viết nhận ra Lang chính là cô em gái của Phan Ngọc Châu, người bạn thân cùng quê Vạn Giã, cùng lớp ở trường Văn Hóa Nha Trang, trong những năm đầu trung học.Cứ mỗi mùa hè, người viết lại gặp hai anh em, dắt díu nhau về thăm quê nội. Khi ấy Lang mới chỉ học lớp Nhì, nhưng đã là một cô bé rất thông minh và thật xinh xắn dễ thương)

Phạm Tín An Ninh
(viết theo lời tâm tình của Phạm Phan Lang)
*** Xin đón đọc Hồi Ký viết bằng Anh và Việt Ngữ của Phạm Phan Lang sẽ được xuất bản .

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Người Mẹ Mù Của Tôi Nhận thức đầu tiên của tôi về mẹ là đôi tay của bà ấy. Nhận thức ấy đến với tôi từ bao giờ, tôi chẳng nhớ được, nhưng cả đời tôi không sao quên được đôi tay ấy – đôi tay của mẹ tôi, một người mẹ mù loà.
Tôi vẫn còn nhớ lúc tôi ngồi tô màu một bức tranh bên bàn ăn. “Mẹ nhìn bức tranh của con đi, tôi quay sang mẹ.
“Con vừa mới vẽ xong.
“Ồ, nó đẹp lắm! Mẹ trả lời, tiếp tục công việc của mình.
“Không, mẹ phải nhìn bức tranh của con bằng chính tay mẹ cơ! Tôi nài nỉ. Mẹ đến bên tôi, tôi nắm lấy tay mẹ, cho những ngón tay của mẹ lướt chậm trên bức tranh.
Tôi luôn cảm thấy vui thích khi thấy mẹ cảm nhận được bức tranh của tôi đẹp đến nhường nào.
Tôi chưa bao giờ lấy làm ngạc nhiên về cái cách mẹ cảm nhận mọi vật xung quanh bằng đôi tay ấy, khi mẹ đưa chúng vuốt ve khuôn mặt tôi hoặc những đồ vật mà tôi mang đến.
Tôi cũng biết rằng bố sẽ nhận biết sự có mặt của tôi và mọi vật xung quanh bằng đôi mắt của bố; bà nội và những người khách đến nhà tôi cũng vậy.
Dẫu thế, tôi chưa bao giờ cảm thấy kỳ lạ khi biết rằng mẹ không sử dụng đến đôi mắt như những người khác.
Tôi vẫn còn nhớ cái cách mẹ chải tóc cho tôi. Độ ấy, mái tóc tôi rất dày. Mẹ đặt ngón cái bàn tay trái ngay giữa đôi chân mày của tôi, lần ngón trỏ của bà đến giữa đỉnh đầu của tôi.'
Sau đó, mẹ kéo chiếc lược từ ngón trỏ đến gặp ngón cái, như thể mẹ đang kéo một đoạn thẳng từ hai điểm chuẩn ấy; mẹ muốn chia đôi mái tóc tôi để chải thành hai mái.
Tôi chưa bao giờ phải thắc mắc gì về công việc của mẹ.
Nhiều bận, tôi té ngã khi chơi đùa, trở về nhà rên khóc rồi báo với mẹ rằng vết thương chảy máu.
Cũng với đôi bàn tay ấy, mẹ dịu dàng rửa sạch vết thương rồi khéo léo băng bó cho tôi cẩn thận.
Thật chẳng may, tôi tình cờ phát hiện ra rằng cũng có một số vật mà đôi tay mẹ không nhận biết được.
Tôi tìm thấy xác một con chim nhỏ nằm chết bên vệ đường trước cửa nhà. Tôi nhặt nó lên và mang vào nhà khoe với mẹ. “Mẹ xem con nhặt được cái gì nào. Tôi cầm tay cho mẹ chạm vào xác chim trong lòng bàn tay tôi. “Cái gì thế con? Lướt nhẹ ngón tay trên xác con vật tội nghiệp, mẹ chợt run giọng hỏi lại một lần nữa. “Cái gì thế này?
“Một con chim nhỏ đã chết.
Tôi trả lời thật vô tư. Mẹ chợt giật bắn mình, thét lên và rụt nhanh tay lại. Mẹ quát bảo tôi lập tức mang xác con chim ra ngoài, và cấm tôi từ đó trở về sau không được để cho mẹ chạm vào một vật như thế nữa.
Chưa bao giờ tôi có thể lường hết năng lực cảm nhận từ đôi tay, mũi và bàn tay của mẹ.
Có lần, tôi ghé mắt vào bếp, thấy mẹ đặt một đĩa bánh bích quy lên bàn. Tôi lẻn vào, nhón tay lấy một cái bánh, liếc mắt dò xét phản ứng của mẹ.
Mẹ không có phản ứng nào cả. Dĩ nhiên, chỉ cần không để mẹ chạm tay vào, chẳng có cách nào mẹ biết được tôi đang làm gì, tôi hí hửng nghĩ thầm trong bụng.
Tôi đã không lường được thính giác nhạy bén của mẹ. Ngay khi tôi lách qua người mẹ, mồm ngập đầy bánh, mẹ chụp chúng tay tôi: “Karrey, lần sau nếu con muốn ăn bánh, hãy hỏi xin mẹ trước.
Mẹ nghiêm giọng. “Con sẽ có được những gì con muốn, chỉ cần xin phép mẹ trước.
Tôi có một người anh, một người chị và một đứa em trai, không ai trong chúng tôi có thể lý giải được bằng cách nào mẹ lại biết đích xác, vào một thời điểm xác định, đứa con nào của mẹ đang làm một điều gì đó trong ngôi nhà.
Có lần, anh tôi mang một con chó vô chủ về nhà, anh ấy lén lút đưa chú lên phòng mình.
Chỉ một vài phút sau, mẹ đã lần bước lên lầu, mở cửa phòng anh ấy và yêu cầu mang chú ra khỏi nhà.
Chúng tôi hết sức kinh ngạc, không hiểu vì sao mẹ lại biết được sự hiện diện của chú chó ấy trong nhà.
Khi đã lớn hơn, tôi nhận ra rằng mẹ đã quan tâm chăm sóc chúng tôi với tất cả khẳ năng mẫn cảm đặc biệt của mình.
Không sử dụng đôi mắt, các giác quan còn lại của mẹ đã phát triển cực kỳ tinh nhạy giúp mẹ cảm nhận được các sự vật quanh mình.
Sau đó là tiến trình phân tích và tổng hợp các sự kiện đã được cảm nhận để định hình nên một kết luận về bức tranh toàn cảnh của vấn đề.
Thường thì những kết luận của mẹ đều chính xác. Để phát hiện được chú chó trong nhà, hẳn là mẹ đã nghe được tiếng vuốt của nó gõ trên nền phòng của anh tôi rồi đoán ngay ra được vấn đề.
Hãy nói về năng lực khứu giác của mẹ. Mũi của mẹ cực kỳ thính nhạy! Có lần, tôi mời bạn mình đến nhà cùng chơi, tôi lẻn vào phòng mẹ lấy nước hoa xức cho búp bê.
Tôi đã phạm phải một sai lầm là vô ý xuống bếp tìm hỏi mẹ về một chuyện gì đấy.
Ngay lập tức, mẹ nghiêm giọng bảo tôi không được vào phòng mẹ và sử dụng nước hoa của mẹ mà không xin phép trước.
Còn đôi tai của mẹ. Chúng phát hiện những hoạt động của bọn trẻ chúng tôi một cách tài tình.
Có một tối, khi làm bài tập ngoài phòng khách, tôi chỉnh nhỏ âm thanh ti vi để đón xem chương trình thể thao. Mẹ bước vào phòng khách đã hỏi ngay:
“Karrey, con định làm bài tập hay xem ti vi đấy?
Thế là tôi phải quay trở lại với bài học của mình. Sau này, tôi có hỏi mẹ nguyên nhân nào khiến mẹ biết đích xác chính là tôi đang có mặt trong phòng khách vào lúc ấy.
“Dĩ nhiên là mẹ biết, cưng của mẹ!
Mẹ xoa đầu tôi. “Dù con đã được nạo V.A, con vẫn không thôi thở bằng miệng. Mẹ ‘nghe được’ con đấy, con gái của mẹ!
Mẹ cũng có được khả năng định hướng rất tuyệt vời. Bố tôi có mua cho mẹ một chiếc xe đạp hai yên, anh em chúng tôi thay phiên nhau lấy xe đưa mẹ đi chơi.
Tôi ngồi ở yên ghế trước, giữ tay lái và đạp xe, mẹ ngồi ở yên ghế sau. Hầu như mẹ luôn biết được xe chúng tôi đang đi đến đâu và chỉ ra phương hướng một cách tự tin.
Mẹ cũng không bao giờ nhầm lẫn khi xe chúng tôi đang tiến tới một giao lộ, và luôn nhắc nhở tôi cẩn thận khi nghe tiếng xe ô tô từ xa.
Và làm thế nào mà mẹ có thể biết được đứa con gái chín tuổi của mẹ không chịu kỳ cọ cẩn thận trong lúc tắm rửa?
Tối hôm ấy, tôi mang đồ chơi vào phòng tắm, đùa nghịch với sân chơi dưới nước.
“Karen, con không quên cọ mặt, tai hay cổ gì đó chứ?
Mẹ nói vọng vào. Lần ấy, tôi đã quên thật; nhưng làm sao mà mẹ có thể biết được nhỉ?
Dĩ nhiên, một cô bé đùa vui với đồ chơi trong bể tắm sẽ không buồn nhớ đến việc kỳ cọ thân thể.
Về sau, tôi hiểu rằng mẹ sử dụng cả “con mắt trí tuệ để có thể chăm sóc chúng tôi.
Tuy vậy, vấn đề bọn trẻ chúng tôi vẫn luôn bận lòng là mẹ chẳng bao giờ được nhìn thấy hình dạng của chúng tôi
. Một hôm, lúc ấy tôi vào khoảng 17 tuổi, đang đứng chảy đầu trước gương, tôi xoay đầu hỏi mẹ:
“Mẹ thực sự không biết con của mẹ trông như thế nào, phải không mẹ?
“Dĩ nhiên là mẹ biết chứ! Mẹ tiếp tục vuốt ve mái tóc buông dài sau lưng tôi.
“Mẹ biết con trông ra sao ngay từ lúc người ta đặt cái hình hài nhỏ bé của con vào tay mẹ.
Mẹ cảm nhận từng phân từng ly trên cơ thể con, cảm nhận cái mạch sống đang phập phồng trên tay mẹ khi mẹ chạm vào đỉnh đầu con.
Mẹ biết tóc con vàng vì bố con bảo với mẹ như thế. Mẹ biết mắt con xanh biếc vì họ đã nói với mẹ như thế.
Giờ đây, mẹ biết con gái mẹ rất xinh đẹp bởi vì người ta khen con trước mặt mẹ.
Nhưng mẹ thực sự biết rõ con gái mẹ là người như thế nào – mẹ muốn nói đến con người thật sự bên trong con. Tôi cúi đầu, mắt nhoà lệ.
“Mẹ biết con mạnh mẽ và dẻo dai vì con thích đến sân quần vợt. Mẹ biết bản chất con nhân hậu vì mẹ nghe con trò chuyện với con mèo và lũ trẻ con.

Mẹ biết con gái mẹ có một trái tim dịu dàng. Mẹ biết rằng con có cá tính mạnh vì con có đủ nghị lực để tự đứng ra bảo vệ lấy ý kiến của mình.
Mẹ biết con gái của mẹ giàu lòng nhân ái vì mẹ quan sát cái cách con đối xử với mẹ. Mẹ biết con là người có trí tuệ vì con biết tự rèn luyện mình một cách chín chắn và khôn ngoan so với một cô gái ở độ tuổi của con.
Mẹ cũng biết rằng con có khát vọng của riêng mình vì mẹ cảm nhận được tính khí của con, và mẹ biết rằng sẽ không ai có thể ngăn cản con làm những gì con cho là đúng.
Mẹ biết con lo cho gia đình vì mẹ đã từng nghe con lên tiếng bảo vệ anh chị em trong nhà.
Mẹ biết con giàu lòng yêu thương vì con không ngại biểu lộ tình yêu của con đối với bố mẹ. Con chưa bao giờ ra vẻ một người con gái kém may mắn vì có một bà mẹ mù loà.
Thế đấy, cưng của mẹ, mẹ kéo tôi vào vòng tay. “Mẹ nhìn thấy con và mẹ biết đích xác con là người như thế nào. Với mẹ, con là một cô con gái rất xinh đẹp.

Mười năm đã trôi qua, và giờ đây tôi đã là một người mẹ trẻ. Khi người ta đặt đứa con trai bé bỏng vào tay tôi, tôi nhìn ngắm nó và chợt hiểu rõ hơn những lời mẹ nói ngày xưa, tôi nhận ra con trai tôi đẹp đến nhường nào.
Chỉ khác với mẹ tôi, tôi có thể nhìn ngắm con tôi bằng mắt. Nhưng đôi khi tôi vẫn muốn được ôm con trong bóng tối, vuốt ve làn da mịn màng của nó, để âm thầm cảm nhận những gì mẹ tôi đã nói.

Sưu tầm

User avatar
CarteNoire
Posts: 374
Joined: Mon Sep 21, 2009 11:58 pm

Post by CarteNoire »

Tranh của Picasso bán giá kỷ lục $106.5 triệu

NEW YORK (UPI) - Bức tranh của nhà danh họa Pablo Picasso mang tên “Nude, Green Leaves and Bust,” mô tả người tình của ông, Marie-Thérèse Walter,
vẽ năm 1932, đã được bán với giá kỷ lục $106.5 triệu vào tối 4 tháng 5, được coi là bức tranh đắt giá nhất trong một cuộc bán đấu giá.

Image
Một người hâm mộ tranh cố ghi lại hình bức tranh “Nude, Green Leaves and Bust” của Picasso, làm kỷ niệm,
trước khi bức tranh được bán với giá kỷ lục là $ 106.5 triệu. (Hình: Stan Honda/ Getty Images)



Cuộc bán đấu giá bức tranh diễn ra trong vòng có 9 phút, từ lúc khởi đầu cho đến lúc kết thúc, và người trả giá đầu tiên đã là $58 triệu. Có tất cả 8 người tham dự cuộc đấu giá này, một vài người có mặt và số còn lại tham dự cuộc đấu giá qua điện thoại.

Ðến khi giá bán đạt đến $88 triệu, thì có hai người xin rút lui, và số người còn lại đã nâng giá dần lên đến $106.5 triệu.

Với giá bán là $106.5 triệu, như vậy bức “Nude, Green Leaves and Bust” (Khỏa thân, lá xanh và tượng bán thân) đã vượt giá bán kỷ lục trước đây của tác phẩm điêu khắc của Alberto Giacometti, “L' homme qui marche” (Người đàn ông bước đi) được bán đấu giá hồi tháng 2, 2010 tại London, đạt giá là $104.3 triệu.

Bức “Nude, Green Leaves and Bust,” có kích thước 5 X 4 foot, thuộc bộ sưu tập của một trong những mạnh thường quân nổi tiếng của Los Angeles, nay đã qua đời. Ông Frances Lasker Brody, đã mua được bức tranh này hồi năm 1950 với giá $17,000. (L.T)

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Bắt tay hy sinh một thánh nhân *

Image

Vatican, Vietnam sacrifice a holy man

By The Hanoist
A major stumbling block to diplomatic relations between Vietnam and the Vatican has seemingly been removed with the resignation of a popular Vietnamese Catholic leader and government critic.
Joseph Ngo Quang Kiet was the archbishop of Hanoi for the past five years, overseeing parishes in the capital and in the northern third of the country. He quietly supported a wave of protest vigils calling for the return of government-confisca ted church properties and greater religious freedom.
The Vietnamese government, which is often accused of violating religious freedom, hopes to silence human-rights critics, especially in the United States, by establishing full relations with the Holy See. Vietnam, with approximately six million Catholics, offers the Vatican the second-largest Catholic population in Southeast Asia after the Philippines.
Kiet, 57, was succeeded by 72-year-old Pierre Nguyen Van Nhon, who was appointed by the Vatican to be coadjutor archbishop of Hanoi on April 22. According to church observers, his was an unusual appointment since the coadjutor archbishop is usually groomed to eventually take over the top post. Not only is Nhon 15 years older than Kiet, he is set to officially become archbishop any day now.
Relations between communist Vietnam and the Holy See have always been fraught. Two contentious issues have been the settlement of communist-confiscat ed church properties - beginning in 1954 in the north and after 1975 in the south - and the training and appointment of clergy.
Unlike China, which severed ties with the Vatican and created a state-sponsored "patriotic church", Hanoi allowed a Catholic church to exist under nominal Vatican control. In practice, Vietnamese authorities restricted the ordainment of clergy and cleared all appointments. This led to a generally pliant Catholic church leadership in Vietnam.
There was nothing in Kiet's history that indicated a dissident streak. But after becoming archbishop of Hanoi he inspired mass civil actions by church followers. In late 2007, Catholics began gathering by the thousands at the former site of the Vatican embassy in Hanoi, which was confiscated in the 1950s.
After a series of unprecedented vigils demanding the return of the property, municipal officials appeared to accede to the demands on the condition that the gatherings stopped. But authorities later reversed course and instead of returning the church land they bulldozed over the ground and turned it into a public park.
In 2008, vigils spread to the Thai Ha parish in Hanoi, again over the issue of confiscated properties. Authorities broke up the peaceful gatherings and subsequently convicted eight parishioners for causing public nuisances and damaging property. There were rumors then that Kiet would be arrested.
State-run newspapers have vehemently attacked Kiet, calling him unpatriotic and an instigator of social disturbances, and have repeatedly called for his dismissal. The chairman of the People's Committee of Hanoi reprimanded Kiet in writing and frequently criticized him in the media and to outside delegations.
At a meeting with foreign diplomats, a Hanoi official stated, "A number of priests, led by Archbishop Joseph Ngo Quang Kiet, took advantage of parishioners' beliefs and their own low awareness of the law to instigate unrest, intentionally breaking the law and acting contrary to the interests of both the nation and the church."
Over the past year, demonstrations spread to other parishes. In the heavily Catholic area of Vinh in north central Vietnam, half a million people reportedly protested the beatings of co-religionists by security police in July 2009.
Against this backdrop, President Nguyen Minh Triet paid a visit to Pope Benedict XVI in December 2009, following Prime Minister Nguyen Tan Dung's historic Vatican trip in 2007. The two sides are reported to be discussing normalization of diplomatic ties.
Following Triet's meeting with the pope, Kiet went on medical leave and traveled to Rome for treatment. Vietnamese Catholic websites report that Triet insisted that the Vatican remove Kiet as a condition for establishing closer ties. This request, if true, would be consistent with the tone of government-controll ed newspapers.
On returning to Vietnam in April, Kiet announced that he was retiring, for "health reasons". His stepping down, though not unexpected, was a disappointment for many Vietnamese, Catholic and non-Catholic, who admired his courageous leadership. Several online petitions have been organized calling on Pope Benedict to keep Kiet as archbishop of Hanoi.
Vietnamese Catholics living overseas are a major source of funding for the church at home. They are also among the most vocal groups lobbying the United States administration and congress to blacklist Vietnam as a "country of particular concern" for its many well-documented religious rights violations.
In Vietnam, Catholic bloggers have extolled "the spirit of Ngo Quang Kiet" and compared him to the early martyrs of the church. Le Quoc Quan, a human-rights lawyer, wrote that there cannot be a universal church without the voices of the faithful. He wrote that Catholics in Vietnam had demonstrated their empowerment and were beginning to change the church from the ground up.
If the current pope eventually makes a grand visit to Vietnam, like Pope John Paul II did in Cuba, he will encounter a faithful inspired by Ngo Quang Kiet, a religious leader in the mold of John Paul.

The Hanoist writes on Vietnam's politics and people.

Nguồn: http://www.atimes. com/atimes/ Southeast_Asia/ LE07Ae02. html



VRNs (09.05.2010) - “Một trở ngại lớn trong mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Vatican dường như đã được gỡ bỏ với sự từ chức của một lãnh đạo hàng đầu Thiên chúa giáo Việt Nam đồng thời là một người chỉ trích chính phủ.
Giuse Ngô Quang Kiệt là Tổng Giám mục (TGM) giáo phận Hà Nội trong 5 năm qua, coi sóc các giáo xứ thuộc giáo phận Hà Nội và các giáo xứ chiếm một phần ba miền Bắc. Giám mục (GM) Kiệt ủng hộ các cuộc thắp nến cầu nguyện kêu gọi trả lại các tài sản của giáo hội đã bị chính phủ tịch thu, đồng thời đòi hỏi tự do tôn giáo.
Chính quyền Việt Nam, vốn thường xuyên bị cáo buộc vi phạm quyền tự do tôn giáo, hy vọng có thể dập tắt tiếng nói của nhà chỉ trích về nhân quyền, đặc biệt tại Hoa Kỳ, bằng cách thiết lập đầy đủ quan hệ ngoại giao với Tòa thánh. Việt Nam, với khoảng 6 triệu giáo dân Thiên chúa giáo, là quốc gia có dân số Thiên chúa giáo lớn thứ nhì ở Đông Nam Á, chỉ sau Phi Luật Tân.
GM Pierre Nguyễn Văn Nhơn, 72 tuổi kế vị GM Ngô Quang Kiệt, 57 tuổi, được Vatican bổ nhiệm để trở thành đồng TGM giáo phận Hà Nội vào ngày 22 tháng Tư. Theo các quan sát viên giáo hội, việc bổ nhiệm này là một điều bất thường, bởi lẽ đồng TGM thông thường được chuẩn bị để sau cùng nắm giữ chức vị TGM. Không chỉ GM Nhơn lớn hơn GM Kiệt 15 tuổi, GM Nhơn sẽ chính thức trở thành TGM bất kỳ lúc nào.
Gậy mục tử: Cây gậy của người chăn cừu từ ngàn xưa đóng ba vai trò chính: chỗ dựa, dụng cụ, và vũ khí. Gậy còn đó, mục tử đi đâu, về đâu?
Quan hệ giữa Việt Nam cộng sản và Tòa thánh luôn có vấn đề. Hai vấn đề dai dẳng đó là việc giải quyết các tài sản của giáo hội – bắt đầu từ năm 1954 tại miền Bắc và sau năm 1975 ở miền Nam – và việc bổ nhiệm hàng giáo phẩm.
Không giống như Trung Quốc, quốc gia đã cắt đứt quan hệ với Vatican và thiết lập giáo hội quốc doanh, Hà Nội cho phép một giáo hội Thiên chúa giáo tồn tại dưới sự kiểm soát của Vatican. Trên thực tế, các giới chức Việt Nam giới hạn việc phong chức sắc hàng giáo phẩm và thông qua tất cả các bổ nhiệm của Vatican. Điều này dẫn đến hàng lãnh đạo của Thiên chúa giáo Việt Nam dễ sai bảo.
Không có điều gì trong lý lịch GM Kiệt cho thấy ngài là một nhà bất đồng chính kiến. Tuy nhiên sau khi trở thành TGM Hà Nội, ngài đã khơi dậy hàng loạt cuộc thắp nến cầu nguyện với các tín hữu trung thành. Cuối năm 2007, giáo dân Thiên chúa giáo bắt đầu tụ hợp với hàng ngàn người tại nơi trước đây là Tòa khâm sứ của Vatican tại Hà Nội, vốn bị tịch thu vào những năm của thập kỷ 50.
Sau hàng loạt cuộc thắp nến cầu nguyền chưa từng có nhằm yêu cầu việc hoàn trả Tòa khâm sứ, các giới chức thành phố dường như chấp thuận các yêu cầu với điều kiện là các cuộc cầu nguyện chấm dứt. Nhưng sau đó chính quyền Hà Nội thay đổi ý định này và thay vì trao trả tài sản của giáo hội, họ cho ủi sập và xây thành công viên.
Vào năm 2008, các cuộc cầu nguyện lan rộng đến giáo xứ Thái Hà tại Hà Nội, cũng về các tài sản bị tịch thu của giáo hội. Chính quyền Hà Nội đã giải tán các cuộc cầu nguyện ôn hòa và sau đó kết án 8 giáo dân Thái Hà với tội gây rối trật tự công cộng và phá hoại tài sản. Có các tin đồn rằng GM Kiệt có thể bị bắt giữ.
Báo “lề phải” đã đồng loạt công kích GM Ngô Quang Kiệt, gọi ngài là người không yêu nước và là kẻ xúi giục tạo nên các xáo trộn xã hội, và liên tục kêu gọi bãi nhiệm ngài. Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội khiển trách ngài bằng văn thư và nhiều lần chỉ trích trên phương tiện truyền thông và với các phái đoàn ngoại quốc.
Tại một cuộc họp với các nhà ngoại giao, một quan chức Hà Nội nhấn mạnh rằng, “Một số linh mục, được GM Giuse Ngô Quang Kiệt chỉ đạo, đã lợi dụng niềm tin của giáo dân và sự thiếu hiểu biết luật pháp của họ, cố ý vi phạm pháp luật và hành động trái với quyền lợi của đất nước và giáo hội.”
Trong năm qua, cầu nguyện lan rộng ra các giáo xứ khác. Tại địa phận Vinh thuộc miền Bắc Trung phần, nơi có đông giáo dân Thiên chúa giáo, nửa triệu giáo dân, theo tường trình, đã phản đối việc công an cảnh sát hành hung các giáo dân vào tháng 7 năm 2009.
Trước tình hình này, chủ tịch Nguyễn Minh Triết viếng thăm Giáo hoàng Benedict vào tháng 12 năm 2009, sau chuyến thăm lịch sử đến Vatican của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào năm 2007. Hai phía được báo chí đưa tin là đang thảo luận cho việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
Sau cuộc gặp gỡ giữa Nguyễn Minh Triết và Giáo hoàng, GM Kiệt đi Roma với lý do chữa bệnh. Các trang mạng thuộc Thiên chúa giáo Việt Nam tường thuật rằng Triết đòi hỏi Vatican loại bỏ GM Kiệt như là một điều kiện cho việc thiết lập mối quan hệ tốt hơn. Đòi hỏi này, nếu đúng sự thật, phù hợp với giọng điệu của các tờ báo quốc doanh.
Ngay sau khi trở về Việt Nam vào tháng Tư vừa qua, GM Kiệt thông báo rằng ngài nghỉ hưu vì “lý do sức khỏe.” Việc thoái chức của ngài, dù không bất ngờ, là một thất vọng đối với nhiều người Việt Nam – Thiên chúa giáo hoặc không Thiên chúa giáo, vốn cảm phục sự lãnh đạo can đảm của ngài. Có một vài thỉnh cầu trên mạng đã được thiết lập nhằm kêu gọi Giáo hoàng Benedict giữ GM Kiệt trong chức vị TGM Hà Nội.
Cộng đồng Thiên chúa giáo Việt Nam tại hải ngoại là một nguồn đóng góp tài chính quan trọng cho giáo hội tại Việt Nam. Họ cũng là trong số những nhóm có tiếng nói mạnh mẽ vận động chính phủ và quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” vì các vi phạm các quyền tự do tôn giáo.
Tại Việt Nam, các blogger tuyên dương “Tinh thần Ngô Quang Kiệt”, đồng thời so sánh ngài với các thánh tử đạo tiên phong của giáo hội Việt Nam. Lê Quốc Quân, một luật sư nhân quyền, viết rằng không thể có một giáo hội hiệp nhất nếu không có tiếng nói của các tín hữu trung thành. Ông Quân nhận định rằng người Thiên chúa giáo tại Việt Nam đã biểu lộ sức mạnh của họ và đang thay đổi giáo hội từ hạ tầng đi lên.
Nếu Giáo hoàng Benedict có cuộc viếng thăm trọng đại đến Việt Nam, như Giáo hoàng John Paul đã từng đến Cuba, ngài sẽ gặp gỡ những tín đồ trung thành được Ngô Quang Kiệt – một lãnh đạo tôn giáo theo khuôn mẫu của John Paul II– truyền cảm hứng.
(*) Tựa bài do dcctvn.net đặt


Bản dịch của Nguyễn Hùng Kiệt

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Image

Lê Uyên Phương Trong Mắt Ai?

Triệu Thần
"Đâu có ai biết mai sau?
Đâu có ai mãi thương đau?
Đâu có ai phải muôn kiếp xa nhau?
..."
Những câu hát cứ theo tôi hoài trong suốt một thời gian dài đăng đẳng, dài bằng cả chuỗi ngày lớn lên, nuôi hy vọng từ trong những khốn khó.

Lần đầu tiên tôi nghe chị hát bài này từ trong băng, tôi đang thu mình trên cái ghế mây nhỏ đặt ở cuối vườn quán cà phê Dạ Khúc. Những âm thanh lưu luyến trầm bổng cứ theo nhau rót mãi vào đầu óc tôi lúc ấy hãy còn khờ khạo lắm. Ở cái tuổi bắt đầu biết suy diễn, những ý tưởng lạ lùng, dù hay dù dỡ, vẫn tạo ấn tượng mạnh. Mà những ý tưởng trong ca khúc của anh, thường là lạ lùng, thường là sống động. Để rồi tôi chăm chú đi tìm hiểu về cuộc đời và nét nhạc của cặp song ca có một không hai này, Lê Uyên & Phương. Kể lại cho bạn nghe nhé...

Lúc còn bé, tôi chẳng được nghe hai người họ hát. Lớn lên một chút, tôi cũng chửa được nghe. Nhưng giòng nhạc của họ, không hẹn mà nên, vẫn như là một ám ảnh. Từ Sài Gòn về, tôi mang theo mấy cuốn nhạc quay ronéo trên giấy đen, trong đó có hai cuốn Khi Loài Thú Xa Nhau và Yêu Nhau Khi Còn Thơ. Và thế là, tha hồ để các chị và các anh tôi hát bè, từ Lời Gọi Chân Mây đến Tình Khúc Cho Em, từ Vũng Lầy Của Chúng Ta đến Cho Lần Cuối. Tất cả, tất cả tạo cho tôi một động lực kỳ dị, động lực của sự tò mò. Tôi tập hát theo bài nhạc, tập hát theo những gì mà tôi nghe được từ các anh các chị. Rồi dần dần, tôi đâm ra mê hát bè. Và tôi cám ơn Lê Uyên Phương đã viết nên những ca khúc kỳ lạ ấy, những ca khúc dường như được viết ra để mà hoà giọng, để mà mỗi câu hát đều phải mang sắc thái của một sự hoà hợp đến tan lẫn vào trong nhau. Và chính lúc ấy, ca khúc sẽ thăng hoa...

Anh là ai? Chị là ai? Và cái tên Lê Uyên Phương, từ đâu mà có? Nhiều người đã hỏi, có lẽ rồi sẽ còn nhiều người sẽ hỏi. Tôi cũng đã từng hỏi, và đã từng ngạc nhiên biết bao khi nghe mẹ của bạn tôi kể lại. Bà là bạn học của anh, bốn năm trung học đệ nhất cấp. Cậu học trò nhỏ con, rụt rè tên Lê Văn Lộc, ai ngờ có một ngày rồi trở thành một tên tuổi lớn trong nền âm nhạc Việt Nam hiện đại. Mười chín tuổi, anh viết ca khúc đầu tiên, Buồn Đến Bao Giờ. Ngày lần đầu đem trình làng vào đầu thập niên bảy mươi, ca khúc mười năm ngủ yên này đã lần nữa khẳng định sự trưởng thành của một nhạc sĩ đặc biệt. Anh đó anh Phương! Hãy nghe đã nhé...

Dung nhan mang tình yêu
Đầy ánh sáng huy hoàng
Tìm ánh mắt, tìm suối tóc
khi còn thơ ngây...

Em ơi!
Lá đổ hoa tàn
Đếm tuổi cuộc đời
trên hai bàn tay trơ
Em ơi!
Em ơi!
Xuân nào tàn? Thu nào vàng?
Môi nào ngỡ ngàng?...

Lại thêm một người nữa, thích viết những giòng ám ảnh, những giòng thương đau như thế! Bên cạnh Trịnh Công Sơn, có lẽ anh là người thứ hai coi trọng vấn đề ca từ trong bài hát. Nhưng Trịnh Công Sơn hơi trừu tượng, hơi xa vắng chừng nào thì mớ ngôn ngữ trong ca khúc của anh giàu hình tượng và thực đến chừng ấy. Cho nên, đã có một thời người ta cho anh là kẻ nổi loạn, vì những hình ảnh anh vẽ ra trong mấy bài hát đang trở nên quá nổi tiếng đối với giới trẻ dường như trần trụi quá, dường như muốn đánh đổ cả một nền tảng giá trị luân lý, động chạm đến những cấm kỵ mà bao nhiêu lớp đàn anh không dám nhắc tới. Ở cái thời kỳ mà tuổi trẻ Việt Nam đang muốn đập vỡ tung bầu không khí ngột ngạt của chiến tranh, của hủ tục, vươn tay ra đón nhận những luồng gió mới, giòng nhạc của anh là một trong những phần họ mong đợi. Áo chim cò, tóc tai rối bù, quần ống loe, họ đua nhau vào quán, ngồi gục đầu đốt thuốc bên những tách cà phê đen khói bay vẩn vơ, nghe từng chữ từng lời phát ra từ anh, từ chị, từng tiếng đàn dập dồn. Có phải anh đã là một người trong số họ?

Đâu là năm 64 gì đó, người ta mới bắt đầu nghe tới tên anh. Đến năm sáu bảy, người ta bắt đầu kháo nhau về anh, và đến năm bảy mươi, đôi song ca đến từ miền cao nguyên Lê Uyên và Phương đã trở thành một hiện tượng. Chị tên thật là Lâm Phúc Anh, người gốc Hoa, Bắc Kỳ. Anh tên Lộc, giáo viên ở một trường trung học. Vẫn chưa có một chút gì Uyên và Phương ở đây! Từ từ đã. Mẹ anh tên Phương Nhi, người đã cấy vào anh lòng say mê âm nhạc, gieo cho anh nguồn cảm hứng với những cung điệu. Và anh nhận chữ Phương từ mẹ. Uyên, hay Lê Uyên, thường được dùng để chỉ chị. Nhưng nó vẫn đến từ anh. Uyên là tên một người con gái ở vùng cao nguyên rất xanh kia. Mối tình gần như là đơn phương để lại dấu ấn đặc biệt trong mỗi lựa chọn của người nhạc sĩ kỳ lạ. Từ đó, bất cứ một người con gái nào trong đời anh, đều là Uyên. Thế đấy, lại không phải kỳ lạ!

Bài hát đầu tiên đưa đôi song ca hai người họ lên tột đỉnh thành công, có lẽ nhiều người sẽ đồng ý với tôi là... Vũng Lầy Của Chúng Ta. Tại sao? Đừng hỏi tôi, vì cho tới bây giờ tôi cũng chưa tìm được câu trả lời. Vậy tại sao lại là "vũng lầy của chúng ta", trong khi bài hát cứ dập dồn niềm say mê, ngút ngàn sự dâng hiến? Cho nên lạ, lạ từ tiết tấu đến ý tưởng, lạ từ cách chuyển đổi đến lối gieo âm vận. Mà lạ nhất, vẫn là cái cách hai người họ hát, vì nếu phải tách rời từng người ra, chắc mỗi người họ không có gì đặc biệt. Hợp lại, bỗng thành một hiện tượng. Một người gục trên cần đàn, mắt mở lớn vô hồn, tay khua gấp gáp trên mấy giây đàn phừng phừng, cất giọng khàn khàn khô khốc mà gào. Một người, tay vung loạn bản, mắt nhắm mở, đầu lắc lư, cứ như đang bị quỷ ám. Ấy thế mà hay đáo để, có một không hai, nghe một lần là nhớ đời...

Theo em xuống phố trưa mai
Đang còn nhức mỏi đôi vai...
Cho nhau hết những mê say
Cho nhau hết cả chua cay
Cho nhau, chắt hết thơ ngây
... trên cánh môi say
... trên những đôi tay
... trên ngón chân bước về tình buồn... tình buồn...

Có một lần, tôi được xem một đoạn phim đen trắng về hai người họ, hình như quay vào khoảng năm bảy mươi. Đoạn đầu, họ ngồi với nhau ở một cái tam cấp dẫn vào một ngồi nhà lớn, cũng có thể là một ngôi trường, hay một thư viện gì đó. Chị, tóc xoã dài, mắt to đen. Anh, tóc phủ dài, ngồi cạnh bên. Và cây đàn trong tay, dây đàn đeo trên vai cất lên những âm thanh quen thuộc,... theo em xuống phố trưa nay... Bài kế tiếp, là một trong những ca khúc tôi mê nhất, anh viết khi một mình vào Sài Gòn. Và gởi về cho chị, lúc ấy còn ở Đà Lạt, với những câu tưởng chừng như quái gở...

Màn đêm mở huyệt sâu
Mộng đầu xin dài lâu
Một vì sao lạ rơi, nghe hồn tê tái, trên dòng hương khói bay...
Ái ân ơi đừng phụ lòng ta
Nhớ thương sâu xin gửi người xa
Khóc nhau trong cuộc đời
Giấc mơ xưa khăn phủ vành sô
Có yêu nhau ngọt ngào tìm nhau
Chết bên nhau thật là...
hồn nhiên!

Chị hát, anh đàn. Bên một dòng suối, trên một tảng đá, ngồi tựa lưng và nhau, xa mà chẳng xa. Và êm êm phía xa, có tiếng rì rào của suối, của gió, của cây, hát cho họ nghe bài tình ca của chúng. Để anh cười, chị cười, rạng rỡ trong tình yêu...

Có thể nói, tôi thích những ca khúc của Lê Uyên Phương không chỉ khơi khơi ở chỗ nghe thấy hay rồi thích, như biết bao nhiêu những người khác. Có những ca khúc của họ, gắn liền với những tao ngộ của tôi, của những ngày sống và lớn lên, của những chiêm bao trăn trở, của những nụ cười và những giọt nước mắt. Có khi là những "vết sẹo dài theo năm tháng" (?), lâu lâu lại âm ỉ nhói đau. Và cũng có khi là chút mật ngọt tan ở đầu lưỡi, cho tôi đứng dậy sau mỗi phút yếu lòng.

Đêm Việt Nam, một đêm cuối năm chín mươi. Tôi sắp phải ra đi, đi thật xa, không hứa hẹn lần trở về. Đi, xóa hết chuyện xưa, làm lại một con người mới. Có một người bạn học khác cũng sắp phải đi xa, thế là đám bạn cũ từ thời trung học làm một buổi gặp mặt - chia tay sau một thời gian tản mác. Dù chẳng thoải mái cho lắm (vì rất nhiều lý do), tôi vẫn đến. Buổi gặp gỡ tràn tiếng cười vui, ngập những câu chuyện góp nhặt từ muôn phương bạn bè tôi san sẻ cho nhau. Không khí không trầm lắng như một buổi chia tay đúng nghĩa. Rồi chuyển qua phần giải trí. Sau hơn mươi bài hát gì đó, có người đề nghị tôi góp vui. Vài người nhao nhao ủng hộ đề nghị đó. Cũng phải, chính tôi là kẻ sắp phải đi xa, cũng nên để lại một chút gì với những người ở lại. Thế là tôi hát. Không hiểu vì sao, tôi lại chọn trúng Lê Uyên Phương, và chọn đúng... Không Nhìn Nhau Lần Cuối. Có những lý do không thành hình, phát ra gần như là vô thức. Tôi ơi, tại sao lại chọn nó!

Thế là tôi hát. Bắt đầu từ "thôi đành giã từ niềm vui mong manh, chung đường tình đi loanh quanh, đến nay bước chân đã bơ vơ rồi... Thôi đành cúi đầu phận người long đong, xa nhau như nước xa nguồn - một ngày niềm vui tìm đến, rồi mãi mãi xa" cho đến "thôi đành giã từ niềm vui trong ta, con đường tình... ôi bao la, đến nay bước chân đã hoang mang rồi. Thôi đành cúi đầu phận người long đong, xa nhau xa cách muôn trùng - tình yêu một lần tìm đến, còn mãi thiết tha...", hình như bài hát gói trọn cả một chuỗi ngày dài rất dài đã qua trong tôi. Tôi mở mắt, bàng hoàng nhận ra những giọt nước mắt mình đang chảy xuống. Nhìn xung quanh, có những khuôn mặt ngơ ngác, có những tiếng xầm xì, có cả những tia nhìn đầy thương hại. Có lẽ nhiều người trong số họ không bao giờ và sẽ chẳng bao giờ hiểu nổi, nhưng tôi chẳng trách họ. Tôi đã để lại tôi với họ, thì cái hình ảnh thằng tôi để lại dù có là thế nào, cũng vẫn là tôi, ngờ nghệch với con đường dài trước mặt.

Đêm Việt Nam, một đêm hè mười một năm sau. Đêm Sài thành hầm hập hơi người. Tôi ngồi giữa bao người, rạng rỡ, tự tin. Những cốc rượu, những ly bia chếnh choáng. Nơi đó, có những người bạn thân, có gia đình tôi, có cả những người bạn lớn tuổi. Một buổi gặp mặt thân mật của người Việt sẽ mất đi phần nào ý nghĩa nếu không có lời ca tiếng đàn. Đêm ấy cũng chẳng ngoại lệ. Có khác đi, là sự có mặt của một vài người tôi không dám nghĩ tới. Mấy ông anh họ tôi làm ở bên Văn Hoá Nghệ Thuật, ai dè lại quen biết rộng rãi thế. Tôi được nghe những ca khúc rất lạ, những ca khúc hình như chưa bao giờ được phổ biến. Tôi ngồi đó, say sưa, lòng thầm cám ơn mọi người. Tay tôi vô thức cứ rót rượu, cứ cạn ly, nào biết men rượu có khả năng trợ giúp sự can đảm đến vậy. Rồi người ta bảo tôi hát. Và tôi chọn Lê Uyên Phương, ca khúc Kỷ Niệm Trong Chiều. Nhẹ nhàng hơn, không tan nát như những ca khúc khác. Tình tự hơn, tại vì tôi muốn thế mà. Và tôi cũng chọn rải dây, để cho lời hát, cảm xúc của người hát làm chủ thể...

Nhớ em, đường chiều hoa nắng gót chân thềm in
Tuổi đời trong trắng biết bao ân tình ngọt ngào
Chờ đợi tay em trong phút si mê cuồng điên
Ngày mai hỡi... cố nhân
Buồn khoé mắt ngây thơ sáng hoa đời
Còn chi nữa người ơi!
Trả em quay về... chiều chiều gợi giấc mơ...

Tôi đâu ngờ bài hát lại thành công đến vậy. Im lặng một hồi. Nhiều người nhìn tôi kỳ lạ, không nói. Nụ cười họ nói cho tôi nghe. Một người cầm một cốc rượu đi từ đằng kia đến, cạn ly, và chỉ nói có mấy chữ "dễ thương lắm, cám ơn em!" Tôi biết người này trước giờ ít nói, vì những gì anh muốn nói, hầu hết đã nằm trên trang giấy, giòng nhạc. Tôi sung sướng đến nổi da gà, trẻ con thế đấy. Và người ta muốn tôi hát thêm một bài nữa. Tôi vẫn chọn Lê Uyên Phương, Đêm Chợ Phiên Mùa Đông. Đơn giản, vì tôi biết có chị tôi ngồi đó. Thuở nào, lúc tôi còn là thằng bé chưa bể tiếng, chị tôi dạy tôi hát bài này. Tôi muốn tặng lại cho chị tôi, cho mọi người, và tôi biết, chị tôi rồi sẽ chẳng nhịn được. Thế là sẽ có cái vụ hát bè, theo đúng nghĩa ca khúc... Lê Uyên Phương...

Tôi bắt đầu, hơi cười cười. Tôi biết chị tôi đang đấu tranh tư tưởng lắm. Đến đoạn điệp khúc, "Ơ, gió rung ngọn đèn vàng...", tôi mở bừng mắt, nhìn sang chị tôi, cổ vũ. Thế là chị tôi mê mải... "Ơ, gió say lòng rộn ràng..." Hai chị em tôi, say sưa hát, hát để mà quay trở lại với mấy mươi năm về trước. Phựt một tiếng, dây sol đứt. Thây kệ, chị em tôi vẫn hát, quay lại một vòng nguyên ca khúc... Một nụ cười thoáng... qua!

Bài hát hết, nhưng có nhiều chuyện chỉ mới bắt đầu. Ví dụ như là kỷ niệm, bắt đầu sống lại với chị em tôi, với nhiều người. Và đêm Sài Gòn không còn ngột ngạt nóng. Ấm hơn chút tình thân thuộc, tình tri ngộ!

Một ngày đông cuối năm 91. Quán Tao Nhân có Lê Uyên hát. Tôi từ dưới San thành bươn bả lên nghe hát. Lúc đó còn khó khăn lắm, phải cắc củm chi tiêu để bồi dưỡng cho tinh thần. Chị hát một mình, và hát rất nhiều ca khúc không phải của anh. Cũng như cuốn Ca Khúc Da Vàng mới ra kia, cũng như những ca khúc đang trình bày trên kia, dù hay tôi cứ thấy có gì đó thiêu thiếu. Giọng chị sau này có khoẻ hơn, nồng hơn, phát âm tròn hơn, nhưng những ca khúc không phải của anh, làm như chị không cảm được hết. Tôi ngồi đó, bắt đầu suy nghĩ miên man. Có lẽ, chuyện người ta nói là thực. Sự hiện diện của người em gái, của một thi sĩ trong đời sống họ đã đẩy họ ra xa nhau. Nên tôi tiếc rùi rụi, chẳng nghe thêm được mấy bài hát. Phần thứ hai là phần yêu cầu, tôi táo gan yêu cầu chị hát "Nỗi Buồn Dâng Hiến". Trên máy vi âm, chị xin lỗi, vì "bài này Lê Uyên lâu rồi không hát, cũng chẳng tập, nên chẳng nhớ lời." Có chút buồn buồn trong tôi. Cái ca khúc đã hơn một lần tôi hát, ca khúc tôi thuộc từng chữ, nhớ từng chỗ phải cần lấy hơi, ca khúc của anh chị không thuộc. Tôi không trách chị chị ơi, tôi chỉ buồn mình đến chẳng phải lúc. Có một thời, thời bế tắc nhất của một thiếu niên đang lớn, đầy những ước mơ, bỗng thấy tất cả sụp đổ tan tành, tôi vẫn thường hát "Nỗi Buồn Dâng Hiến"...

Em mơ cuộc đời thêu hoa
Ôm tâm tư buồn bàn tay như Giáng Tiên
Sông Tương ơi đừng vì tương lai gió sương
Đâu những linh hồn xưa cũ
Biết bao giờ hết buồn vì thương
Biết bao giờ thấy màu thời gian
...
Tương lai mịt mờ mãi mãi
Tương lai mịt mờ mãi mãi...
Vì đâu?

Thuở đó, có mấy ai hiểu tôi? Lúc này, có mấy ai hiểu cho tôi?

Thay vì Nỗi Buồn Dâng Hiến, chị hát Bài Ca Hạnh Ngộ. Chị kể về chuyện anh sửa lại khổ cuối của ca khúc, từ "một mai trao áo hồng, là khi trao tiếng cười, luôn ghi kỷ niệm ban đầu yêu thương" sang "ngày hôm nay có đôi, rồi mai chia gánh đời, luôn ghi kỷ niệm ban đầu yêu thương..." Hay hơn, nghe cũng u ẩn hơn. Để đến khi chị hát, cũng ngậm ngùi hơn, trở thành "ngày hôm xưa có đôi... một mai chia..." Mà phải, chia rồi, nhưng chắc những kỷ niệm vẫn còn đó chưa xa...

Lần khác, tôi đến một quán khác, nghe anh biểu diễn. Một mình, với cây đàn muôn thuở. Vẫn tiếng đàn ấy, vẫn giọng hát ấy, vẫn những ca khúc ấy, không có chị bên cạnh, hầu như mất một phần sinh khí. Như lá cây không đủ chất diệp lục, sống cũng lây lất không ngày mai. Anh hát "ta đâu ngờ tình xưa vẫn còn như ngày ấy, khi xa... người (ơi) sao đành quên?" (xin lỗi anh chị, tôi tự ngắt và bỏ dấu...), nghe buồn tê tái. Một người đàn ông nức nở, chắc đau hơn một người phụ nữ nức nở, tôi nghĩ vậy. Anh vẫn gục đầu, cái khoảng trống trước mặt vẫn mênh mông, mênh mông. Tôi nhìn anh, nhớ lại hồi nào nhìn chị, bỗng mù mờ tin rằng rồi sẽ có một ngày họ sẽ trở lại bên nhau, để hát cho tôi nghe những ca khúc tôi yêu thương biết bao. Không có người này bên cạnh người kia, lúc nào cũng có một cái bóng sẫm màu tang tóc cho một người, một lỗ hỗng xót xa cho một người. Và để lại cả một sự thiếu vắng trong mỗi ca khúc được trình bày. Chắc chắn, họ sẽ tái hợp, tôi nhận ra vậy, vì họ sinh ra vốn thuộc về nhau, kết hợp bằng tình yêu thiết tha, và bằng những ca khúc thiết tha dành cho nhau. Và họ trở lại với nhau thật!

Ra khỏi lớp, tôi phóng lên xe bus, chuyển qua xe BART về Fremont. Ở đó, có mấy người bạn đã chờ sẵn. Tối hôm ấy, anh chị hát ở Garden City. Người ta đến Garden City để đen đỏ, còn tôi thì đến để nghe hát. Tám giờ rưỡi, anh và chị bước lên cái khán đài nho nhỏ dựng tạm trên lối đi. Lác đác chừng vài mươi người ngồi chung quanh, dõi mắt chờ đợi. Sau vài câu giới thiệu, họ bắt đầu. Tiếng đàn guitare của anh trỗi dậy, nghe như reo vui. Lòng tôi cũng muốn mở cờ theo tiếng đàn,... Vũng Lầy Của Chúng Ta đó,... qua đi qua đi những cơn mê... qua đi qua đi những cơn... muộn phiền. Ơ hay, đời bỗng dưng vui!

Một tiếng đồng hồ dài, hai người họ say mê hát những ca khúc của... ba mươi năm về trước. Vẫn nồng nhiệt, vẫn những tin yêu trong mắt, trong môi, trong mỗi lời ca tiếng đàn. Tôi ngồi nghe như nuốt lấy. Đêm ấy, tiếng đàn anh vang lên rộn rã chi lạ, giọng hát chị vang lên tình tứ chi lạ. Như có một thông điệp họ muốn gửi gắm đến mọi người, hình như là tình yêu. Phải rồi, không có tình yêu thế gian này rồi có ra gì cơ chứ! Tha hồ mà nghe bằng thích, từ những ca khúc trong tập Khi Loài Thú Xa Nhau đến những ca khúc của Yêu Nhau Khi Còn Thơ, những ca khúc ba mươi năm trước đã yêu, ba mươi năm sau còn yêu bạo. Tôi lại yêu cầu Nỗi Buồn Dâng Hiến, và lại bị chối từ. Nhưng tôi chả buồn chút nào, vì cái lý do quá ư là thuyết phục. Họ mới tái hợp, chị chưa tập bài này. Vả lại, ca khúc đó không có chỗ cho cả hai người họ hát, không có chỗ cho... một đêm vui.

Sau khi giải lao chừng mươi phút, anh chị quay trở lại sân khấu. Lần này, anh muốn trình tấu ca khúc mới nhất (phổ thơ), Máu Biếc Xanh Và Ngực Tối. Anh vào khúc dạo nhạc, đầu lắc lư nghiêng ngả, mắt lim dim, tay vung vẩy gảy đàn. Hay, hay! Bất chợt mà lạnh sống lưng! Im lặng! Một ông Mỹ tự nhiên đứng lên vỗ tay ì xèo, và hét lên những câu ngợi khen. Cái gì mà "phù thủy" đó, cái gì mà "thiên tài" đó! Cám ơn ông, nhưng càng cám ơn nếu ông im lặng ngồi xuống. Đôi lúc, sự im lặng tán thưởng là lời khen bằng vạn những tiếng vỗ tay ầm ĩ hay những câu tán dương nghe kêu như mõ. Xin lỗi ông vậy nhé!

Chị hát, bắt đầu từ câu đầu tiên đã thấy... đã! Hai người họ, một đàn một hát, cứ như đã nhập vào ca khúc. Hát như vậy mới là hát, không phải hát bằng... diện mạo hay bằng... tướng tá!... Máu biếc xanh trên vai người em nhỏ... hơi rung vút lên, tiếng đàn run lên, hai người họ run lên, và biết bao nhiêu người ở đó cũng run lên, trong đó có tôi. Lúc nào cũng vậy, nghe hát trực tiếp là tôi khoái nhất. Âm nhạc là một phần của đời sống, thực như đời sống, cho nên đôi khi có những tiếng động nhiễu, ca khúc lại thực hơn thì phải, biết đâu! Nói chung là tôi thích vậy...

Tôi rời Việt Nam, lòng thắc thỏm lo âu. Chẳng là trong túi quần có một cuốn tape nhạc tôi giấu bố mẹ lận theo. Khi Loài Thú Xa Nhau đó, tình khúc Lê Uyên Phương đó. Tôi đi học xa nhà, quen với một người cũng mê Lê Uyên Phương. Chị lớn hơn tôi nhiều tuổi, lại mê hát. Chị có một người bạn hát, tôi được một người bạn... giống như tôi. Và lâu lâu, chúng tôi ngồi hát với bạn bè, cái đinh của những buổi văn nghệ bỏ túi thường là những ca khúc của... Lê Uyên Phương. Vì tôi thích hát bè, và vì những ca khúc Lê Uyên Phương thích hợp để hát bè. Một lý do nữa, bạn tôi thuộc Lê Uyên Phương thì nhiều, lại chẳng thuộc những người khác là mấy. Đi coi hai người họ hát về, tôi lại càng thích hát nhạc của họ. Có thêm một vài ca khúc, để những đêm trắng dài hơn, để đời sống sinh viên giàu hơn những kỷ niệm. Tôi vẫn nghĩ mình chẳng giàu có gì hơn ai, ngoài những kỷ niệm loại ấy, những kỷ niệm tôi mang theo hoài với đời mình. Cho nên tôi cám ơn anh chị, nhiều nhiều nhiều lắm!

... Rồi anh đi, đột ngột! Cái dự định hoàn thành cuốn Yêu Nhau Khi Còn Thơ đành dang dở. Tôi ngẩn ngơ, nhưng nghe rằng anh đã đau khổ biết bao nhiêu trên giường bệnh, tôi lại thấy mình ích kỷ vì... tiếc. Cơn bạo bệnh sau này lấy mạng của anh Sĩ Phú, cũng chính là cơn bạo bệnh cướp mất anh ra khỏi vòng tay yêu thương của vợ con. Trong đoạn phim tôi coi lại, anh nằm đó, hai tay đặt lên nhau. Cái cục u trên ngón tay lại chẳng phải là cội nguồn của sự chia xa, vậy mà bao nhiêu lần, bao nhiêu người đã lo lắng vì nó. Anh nằm đó, vẫn là người nhạc sĩ tài hoa tôi yêu thích. Cho tôi nhìn lại một lần nữa, hàm râu, nụ cười, bàn tay, để rồi anh đi đi mãi. Nơi ấy, giờ đây chắc bình yên, có bao nhiêu những người bạn đã cùng anh hít thở khí trời Đà Lạt, những người bạn cùng anh chuyên chở giòng nhạc Việt vào lòng người. Chỉ thiếu chị bên cạnh, chắc nếu anh muốn hát cho họ nghe cũng khó. Anh chị hai người, thiếu một người là thiếu... hơn một nửa. Nghe lạ nhưng mà quen, nghe dần rồi sẽ quen. Vì tôi đã từng nghe Uyên Uyên đàn, nghe Umi hát với chị. Vẫn là một sự thiếu vắng không bù đắp nổi!

Hôm nay, tôi viết một chút tâm tình tạ ơn anh chị, đã làm giàu thêm đời sống này, giàu thêm đời sống tôi. Và tặng bạn tôi, như đã hứa! Cuối cùng, tôi tặng DT, tặng anh chị Cả, tặng các bạn gần xa. Ở nơi đây, tôi bắt đầu viết rất nhiều những cảm xúc, và nếu như tôi muốn ngừng lại, cũng mong ngừng lại ở nơi đây. Cám ơn tất cả!

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Ý kiến của Người Việt Hải Ngoại
về bức thư của Bộ Ngoại Giao Việt Cộng gửi Dân biểu Hoa Kỳ CAO QUANG ÁNH.


TIẾP THEO DÂN BIỂU CAO QUANG ÁNH,
GỬI THƯ TRẢ LỜI Thứ trưởng ngoại giaoVC Nguyễn Thanh Sơn,
là MỘT BÀI VIẾT ĐANH THÉP sau đây:


Đối Thoại

Mỹ Linh
35 năm qua, đến mãi hôm nay, chúng ta mới nhận được lá thư của Thứ trưởng Ngoại giao VC Nguyễn Thanh Sơn, thư được gởi trực tiếp đến dân biểu Hoa Kỳ Cao Quang Ánh, nhưng coi như một cách gián tiếp đã gởi đến với Cộng đồng người Việt hải ngoại, gọi là mong muốn "đối thoại".
35 năm qua, các ông đại diện nhà cầm quyền CHXHCNVN đi ra nước ngoài, bị chính đồng bào của mình rượt chạy như những con chuột cống, để luôn luôn phải đi vào cửa hậu.

Đây là tình trạng của 35 năm trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Thử hỏi, chính đồng bào của các ông mà ghét các ông như thế, làm sao các ông gặt hái những thành qủa tốt đẹp về ngoại giao ? Chắc các ông chỉ nhận được cái nhìn khinh bỉ từ các chính quyền sở tại mà thôi. 35 năm qua, các ông đã không đủ can đảm nhìn nhận đây là một vấn nạn của đất nước. Không một ông cầm quyền nào dám mở một hội trường để đối thoại với chính đồng bào của mình. Bản chất của các ông chỉ là những tên hèn, sợ chính đồng bào ruột thịt của mình, hay sợ chính nước Mỹ này không bảo đảm được sinh mạng của mấy ông ư ?

35 năm, câu chuyện này đáng lý ra phải được giải quyết từ lâu lắm rồi, không phải đợi đến giờ này, các ông mới bắt đầu lên tiếng, tuy rằng có muộn đấy, nhưng có vẫn còn hơn không. Đọc xong lá thư của quý ông, người Việt hải ngoại chắc không tránh khỏi sự ngậm ngùi suy nghĩ. Một người làm tới chức thứ trưởng bộ ngoại giao lại còn mơ màng thốt lên: "Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài dự kiến tiến hành chuyến đi tới Mỹ và Canada với mục đích gặp gỡ và tiếp xúc với Cộng đồng người Việt Nam, trong đó có cả những cá nhân tổ chức còn thiếu thông tin đúng đắn về Việt Nam và vẫn còn mang tư tưởng hận thù cùng những lời nói, việc làm chống lại Nhà nước Việt Nam." Chẳng lẽ ông không biết việc trong nước có 700 cơ sở truyền thông, phải đi theo lề bên phải như Bộ Trưởng Bộ Thông Tin Lê Doãn Hợp đã từng lên tiếng. "Thông tin đúng đắn" là thông tin của sự thật, thông tin đi theo lề bên phải, không phải là "đúng đắn", nó không phải là sự thật. Người dân đã ví 700 cơ sở này, chỉ có duy nhất một tổng biên tập là Đảng Cộng Sản Việt Nam, ông có biết điều đó không ?

Mấy ông kiểm soát thông tin, bắt phải đi theo lề phải, đó là loại tin tức một chiều, viết theo đơn đặt hàng của Đảng CSVN. Đây là điều mà toàn dân Việt Nam đau khổ nhất, bị các ông lừa bịp trong suốt cuộc đời của họ vì đã đọc và đã nghe những cơ quan truyền thông của các ông. Nó khổ đến nỗi, lúc Đảng đã cho phép cứ nói thẳng "tàu Trung Quốc", nhưng cái tinh thần sợ sệt của một số nhà báo vẫn còn dùng chữ "tàu lạ", hay "tàu nước ngoài". Bấy nhiêu đó thôi, cũng đủ chứng minh tại Việt Nam hoàn toàn không có tự do báo chí. Lẽ ra làm thứ trưởng như ông, phải biết điều đó chứ !? Không có tự do báo chí làm sao có những tin tức đúng đắn về VN được. Người thiếu tin tức đúng đắn là toàn dân Việt Nam, chứ không phải người Việt hải ngoại. Ở hải ngoại, chúng tôi hoàn toàn có tự do báo chí, nhưng không phải muốn viết gì thì viết. Tác giả viết bậy bạ sẽ bị chế tài bởi những vụ thưa kiện, hoặc sẽ không còn uy tín nữa nếu ngụy tạo, hoặc dối trá. Chủ nhiệm tờ báo hay cơ sở truyền thông cũng phải chịu trách nhiệm liên đới, chứ không phải muốn đăng gì thì đăng. Người Việt hải ngoại, muốn có thông tin trong nước, cứ vào các báo online như Vietnamnet, Quân Đội Nhân Dân, Công An, Nhân Dân, Người Lao Động... thiếu gì, hàng mấy chục tờ, nằm trong www.saigonbao. com đấy, trang này rất phổ thông, có từ trên chục năm, ai cũng biết.

"...và vẫn còn mang tư tưởng hận thù cùng những lời nói, việc làm chống lại Nhà nước Việt Nam.", thì trước hết phải xét, toàn dân có bầu ra cái gọi là Nhà nước Việt Nam ? Có ai bầu ra Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng ? Có ai bầu ra Nguyễn Minh Triết làm chủ tịch nước ? Chẳng một người dân nào đã bầu Dũng và Triết, chỉ biết 2 người này Đảng cử ra, rồi Quốc Hội bù nhìn bỏ phiếu. Gọi QH bù nhìn cũng đúng thôi, vì 99% là người của Đảng được đề cử ra, qua Mặt Trận Tổ Quốc, chỉ vài người ngoài Đảng cho có vẻ màu mè dân chủ, làm kiểng. Người dân chỉ biết bỏ phiếu, còn có vụ bỏ phiếu giùm nữa, mà chẳng thấy mặt, hay biết mặt người đại diện cho mình, vì chẳng có tranh cử. Đây đúng là một cuộc bầu cử bịp bợm mà linh mục Nguyễn Văn Lý đã kêu gọi tẩy chay vào năm 2007. Một Nhà nước không đại diện cho dân, lẽ dĩ nhiên bị toàn dân chống đối là đúng rồi !

Trong nước, người dân sợ họng súng AK, dùi cui, roi điện, ...của các ông, nên không dám biểu tình phản đối các ông. Còn hải ngoại, chẳng ai sợ các ông, người ta khinh các ông, vì các ông chẳng phải là người đại diện cho đất nước Việt Nam. Mấy ông phải hiểu rằng, ở hải ngoại, cái gì cũng rộng lớn, nhất là ở Mỹ, đường phố xa xôi, muốn đi đến địa điểm biểu tình chống các ông, đâu phải là chuyện dễ dàng. Người nào cũng phải lo công ăn việc làm, muốn xin phép nghỉ làm cũng không dễ, nhưng với tấm lòng quyết tâm, son sắc, với quê hương đất nước VN yêu dấu, họ phải biểu tình chống các ông cho bằng được, mới không thẹn lòng với núi sông.
Kế đến nói về "tư tưởng hận thù", 35 năm rồi, còn hận thù cái gì nữa, nói đến hận thù, phải nói đến trả thù.

Chúng ta trả thù ai bây giờ ? Nói đơn giản, là hận thù chung một chế độ, vì chế độ này không đại diện cho dân. Nếu các ông tổ chức bầu cử tự do, chấp nhận chính trị đa đảng, bảo đảm không người Việt hải ngoại nào dám biểu tình chống đối các ông. Vì làm như thế chính là chống lại đất nước Việt Nam, được xem như phản bội tổ quốc. Bảo đảm không ai ngu si, dại khờ chống lại quê hương của mình. Hiện tại, người ta chống, là chống ĐCSVN độc tài, chống một Nhà nước không do dân bầu ra, thế thôi. Người ta thường nói "Tôi có thể tha thứ tội ác của anh, nhưng tôi không thể quên", tiếng Mỹ có câu: "I can forgive, but I cannot forget". Có thể số đông người Việt hải ngoại mang tâm trạng này. Chính vì tha thứ, nên hàng trăm ngàn, có thể trên triệu người Việt đã về thăm lại quê hương, nhưng bảo đảm họ không quên những tội ác của CSVN đã gây ra đối với gia đình họ. Hàng triệu người tù cải tạo, với trên 500 ngàn người chết trên biển đông, làm sao quên được ! Bởi vậy, khi xảy ra vụ Trần Trường treo cờ máu và hình Hồ Chí Minh, 53 ngày đêm đồng bào biểu tình chống đối, có lúc con số lên đến kỷ lục, 50 ngàn người !

Nếu nói về cá nhân, Linh chỉ hận thù bè lũ đang cầm quyền Dũng - Mạnh - Triết - Trọng mà thôi. Nếu cho Linh có điều kiện gặp mặt bọn này, chắc chắn Linh sẽ dạy cho chúng một bài học, về những tội ác mà chúng đã và đang gây ra đối với dân tộc Việt Nam. Có thù có hận chăng , là những tên đầu sỏ VC như nằm trong Bộ Chính Trị, tỉnh ủy, huyện ủy, nói chung là các cấp chỉ huy CSVN. Còn lại nhân dân, gần như tất cả chỉ là những nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản. Có người cho rằng, 3 triệu đảng viên ĐCSVN đều có tội, thằng làm lớn tội lớn, thằng làm nhỏ tội nhỏ. Sự suy nghĩ này rất chủ quan, sống trong một xã hội bưng bít thông tin, sống chung đụng với một lũ bịp bợm, trong môi trường bị đầu độc, nhồi sọ từ nhỏ tới lớn, chẳng mấy ai thoát khỏi ảnh hưởng của VC. Nên việc gia nhập đảng viên ĐCSVN xét trở nên bình thường trong đời sống. Tội lỗi này không thuộc về họ, mà thuộc về xã hội. Có ai bảo đảm rằng, con mình sinh ra trong nước CHXHCNVN, sẽ không bao giờ trở thành đảng viên của ĐCSVN ? và nếu chẳng may, cha mẹ của đứa con đó, không có thời giờ để dạy dỗ con cái. Và nói ngay, nhiều khi chẳng dám dạy nó chống lại chủ nghĩa CS, vì có thể bị tù tội như chơi. Nhiều khi lỡ bị sinh ra trong một gia đình cộng sản, người con phải làm sao đây ? Biết gì mà chống lại cha mẹ của mình ?

Còn đối với những tên cộng sản như các ông thì sao ? Các ông có "hận thù" đồng bào hải ngoại hay người miền Nam ? Nếu nói không hận thù, tại sao tên Trần Đức Lương đã dùng ngoại giao để ép buộc chính quyền Mã Lai và Indonesia phải đập 2 Bia Tưởng Niệm đồng bào vượt biển ? Không hận thù, thì tại sao về Việt Nam phải xin Visa (chếu khán nập cảnh), trong khi đó bọn Tàu Cộng qua biên giới chẳng cần phải xin Visa ? Không hận thù nguời Nam, tại sao ngay tại phi trường Tân Sơn Nhất, chỉ thấy toàn là dân người miền Bắc ? Không hận thù, tại sao đến giờ phút này, còn tổ chức trọng thể cái gọi là Ngày Chiến Thắng 30 Tháng 4? Chỉ bằng đó câu hỏi, các ông đã cứng miệng rồi.

35 năm qua, sự thật đã được phơi bày, đồng bào miền Bắc cần được giải phóng khỏi ách cộng sản nghèo đói, chứ không phải đồng bào miền Nam vốn đã sung túc. 35 năm qua, chiến thắng gì mà hàng triệu người phải vào tù cải tạo (không án, không biết ngày về); chiến thắng gì, mà có trên 2 triệu người phải vượt biển Đông tìm tự do ; chiến thắng gì khi có 500 ngàn người dân Việt phải chết ở biển Đông; chiến thắng gì khi cha xa con, vợ xa chồng, anh em xa nhau; chiến thắng gì, sau 35 năm đã để lại một nước Việt Nam phân hóa, một xã hội suy đồi về đạo đức, con dân Việt bị đem đi bán trên toàn thế giới !

Các ông đã và vẫn hận thù đến thế, ấy vậy mà đòi đối thoại, thì đối thoại cái gì ? Miệng thì nói hòa hợp hòa giải dân tộc, trong khi đó lại đi tổ chức Ngày Chiến Thắng 30 Tháng 4. Nhục nhã thay, một chế độ tiếp tục phỉnh gạt người dân !
Muốn đối thoại, các ông nên đối thoại với đồng bào của các ông trong nước trước tiên nhất,
hãy đối thoại với linh mục Nguyễn Văn Lý, hãy đối thoại với chị Lê Thị Công Nhân, hoặc anh Lê Công Định, anh Nguyễn Tiến Trung, anh Trần Huỳnh Duy Thức, anh Lê Thăng Long, anh Trần Anh Kim, anh Nguyễn Vân Đài, chị Trần Khải Thanh Thủy, chị Nguyễn Thu Trâm, chị Phạm Thanh Nghiên... đấy, vì tất cả những nhà dân chủ này là đồng bào hải ngoại đều qúy mến. Họ có thể xem như đại diện cho đồng bào hải ngoại vậy.

Thật là nhục nhã thay, một chế độ tiếp tục lừa gạt toàn dân qua những chiêu bài gọi là hòa hợp hòa giải dân tộc, trong khi vẫn tổ chức cái gọi là ăn mừng chiến thắng 30 tháng 4. Các ông nên suy nghĩ lại, từ bỏ cái lễ quá trơ trẽn này ! Đấy cũng là một bước tiến trong tiến trình gọi là "hòa giải" nếu có. Ngày nào các ông còn tổ chức ăn mừng cái gọi là 30 tháng 4, thì đừng bao giờ nói đến hòa hợp hòa giải, các ông chỉ là đồ giả nhân giả nghĩa mà thôi !

Chỉ mới hôm qua thôi, theo tin chính thức được truyền đi từ một giáo dân ở Giáo Xứ Cồn Dầu trong nước, được nghe qua Paltalk, Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ, hơn 100 giáo dân bị thương, vài chục người bị thương nặng, như chấn thương sọ não, 67 người bị bắt. Lệnh của bí thư thành ủy Đà Nẳng, Nguyễn Bá Thanh ban ra, không cho nhà thương nào được nhận chứa những nạn nhân bị đánh, nhiều bàn thờ Đức Mẹ đều bị phá hủy. Ngoài ra, tên VC Thanh còn tuyên bố, nếu nó bắt được ai truyền tin ra ngoài, nó sẽ tìm cách thủ tiêu. (http://www.ustream. tv/recorded/ 6672014). Chỉ có chuyện cỏn con giành đất nghĩa trang của đồng bào, mà các ông đã kéo vài trăm tên công an, cảnh sát 113, bọn xã hội đen, chó nghiệp vụ, roi điện, dùi cui... Thử hỏi, các ông đối xử với dân như thế này, làm sao hòa hợp hòa giải với người Việt hải ngoại được ?

Ngày 5 tháng 5 năm 2010
Mỹ Linh
Mylinhng@aol. com
http://mylinhng. multiply. com

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Chuyện Một Chiếc Cầu

Trần Việt Trình

Năm nay, để đánh dấu 35 năm “Ngày cưỡng chiếm miền Nam” sáng ngày 1 tháng 5, lần đầu tiên “Lễ hội thống nhất non sông” đã được nguỵ quyền CSVN tổ chức trọng thể với quy mô quốc gia ở cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, nơi chứng kiến nỗi đau chia cắt của đất nước và cũng là nơi chịu hậu quả nặng nề và tàn khốc trong chiến tranh.

Cầu Hiền Lương bắt qua sông Bến Hải, tại Hiền Lương, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 quy định đây là Giới tuyến quân sự tạm thời, là đường biên chia cắt trong thời gian hai năm chờ cuộc Tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam được quy định vào tháng 7 năm 1956. Trong chiến tranh, nó được chọn làm ranh giới chia cắt đất nước. Còn ngày nay nó đã trở thành biểu tượng của nỗi đau chia cắt trong suốt 21 năm, từ năm 1954 đến năm 1975. Cầu Hiền Lương ở cây số 735 trên Quốc lộ 1, nơi có vĩ tuyến 17 đi qua. Lúc được chọn làm ranh giới chia cắt đất nước, cầu Hiền Lương được sơn hai màu khác nhau để phân biệt hai miền Nam Bắc. Màu vàng cho miền Bắc và màu đỏ cho miền Nam. Đường ranh phân chia Nam Bắc trên cầu là một vạch sơn trắng 10cm.

Con sông Bến Hải dọc vĩ tuyến 17 này có chiều dài chừng 100 m, nơi rộng nhất khoảng 200m, nơi hẹp nhất khoảng 20 đến 30m. Ngày xưa, đoạn sông cầu Hiền Lương rộng 100m này chỉ có bến phà. Năm 1928, dân Vĩnh Linh được huy động để làm cầu bằng gỗ rộng 2m dùng cho khách bộ hành. Năm 1931, người Pháp sửa chữa lại nhưng xe cộ muốn qua sông vẫn phải đi bằng phà. Năm 1943, cầu được xây lại để xe cơ giới loại nhỏ có thể qua được. Năm 1950, do nhu cầu quân sự, Pháp cho xây thành cầu bê tông cốt thép dài 162m, rộng 3.6m, và có trọng tải 10 tấn. Năm 1952 Pháp lại cho sửa chữa để nâng cấp cầu lên trọng tải 18 tấn. Cầu này tồn tại được 15 năm, từ năm 1952 đến năm 1967 thì bị chiến tranh tàn phá hư hỏng hoàn toàn. Từ năm 1972 đến 1974, công binh VNCH cho bắt và sử dụng cầu phao dã chiến cách cầu cũ 20m về phía tây. Đến năm 1974, cầu được xây dựng lại.

Cũng tại nơi đây, chiếc cầu vừa HIỀN vừa LƯƠNG thiện này đã chứng kiến những trận “chiến tranh chính trị” quyết liệt về nội dung cũng như về hình thức tuyên truyền giữa 2 chính quyền Nam Bắc.

Ngày ấy để tuyên truyền, CS Bắc Việt đã cho xây dựng một hệ thống loa phóng thanh gồm 5 dàn loa với chiều dài 1,500m ở bờ Bắc. Mỗi lần chính quyền miền Nam cho phát những bài tâm lý chiến qua bờ Bắc thì bờ Bắc lại lớn tiếng phát lại át tiếng nói của miền Nam. Vào đầu năm 1960, chính quyền TT Ngô Đình Diệm cho tăng cường những loại loa tối tân, công suất mỗi loa hàng trăm watt, vang xa hàng chục cây số. Dưới chế độ CS, tuyên truyền là chiến lược hàng đầu nên chính quyền bờ Bắc quyết không chịu thua. Chính quyền miền Bắc liền dùng chiến thuật “biển người” cố hữu áp đảo với một “biển loa” 20 cái ồn ào to họng cộng với 1 cái loa cơ động chủ lực có công suất 500W có đường kính vành loa rộng đến 1.7m và có tổng công suất là 7000W có thể vang xa hơn 10km qua bờ Nam. Đó là công suất âm thanh riêng tại khu vực cầu Hiền Lương. Tổng công suất giàn loa trên bờ Bắc Hiền Lương là 180,000W.

Hệ thống loa phóng thanh tuyên truyền của miền Bắc
Đó là cuộc chiến về âm thanh, cũng tại nơi đây, đã diễn ra những ngày tháng chọi nhau về cờ. Tính từ năm 1956 đến năm 1967, lực lượng giới tuyến của miền Bắc đã sử dụng đến 267 lá cờ lớn nhỏ đủ cỡ. Lá cờ to cao lớn nhất vĩ tuyến 17 của miền Bắc rộng đến 134m2, nặng 15kg, và cao 38,6m. Với bản chất gian xảo cố hữu, hàng ngày giới hữu trách miền Bắc cho kéo cờ lên sớm hơn và hạ cờ trễ hơn giờ quy định là từ 6 giờ 30 sáng đến 6 giờ 30 hầu mong dân bờ Nam chiếu cố đến lá cờ đỏ sao vàng. Cột cờ bị bom miền Nam đốn ngã nằm 1967. Để cột cờ và lá cờ đứng vững dưới bom đạn của miền Nam, miền Bắc đã phải “sinh Bắc tử Bắc” 13 mạng và hơn 50 bị thương.

Vẫn biết không có cuộc chiến tranh nào là không có kẻ thắng người thua! Vẫn biết không có cuộc chiến tranh nào là không có hy sinh mất mát và hận thù dai dẳng! Nhưng cuộc chiến hơn 20 năm của dân tộc VN không phải là cuộc chiến tranh giải phóng chống giặc ngoại xâm như CSVN vẫn thường lấp liếm, nguỵ biện và xảo quyệt tuyên truyền. Nếu nói đó là chiến thắng chung của dân tộc, nếu nói “Không có kẻ thắng người thua mà chỉ có dân tộc VN chiến thắng xâm lược Mỹ” thì tại sao vào được Sài Gòn chưa đầy một tháng những người cộng sản đã lừa đưa mấy trăm ngàn người thất trận nói là đi học tập, chỉ mang theo 10 đến 20 ngày lương thực rồi nhốt họ, rồi đày đoạ họ năm này qua năm khác, có người đến mười mấy năm và lắm người bỏ xác nơi rừng sâu nước độc.

Hơn thế nữa, cái mà CSVN gọi là “Một cuộc chiến tranh xâm lược phi lý và tàn bạo nhất” đó do ai khởi xướng? Nếu những người cộng sản không cương quyết “Xâm lăng miền Nam ” bằng mọi giá, không nhất định qui thiên hạ về một mối dưới quyền của họ thì có lẽ VN ngày nay vẫn còn hai miền Nam Bắc và như vậy đã không có hàng triệu người bỏ xác trên chiến trường. Nói Hoa Kỳ muốn tham chiến ở Việt Nam là không đúng. Miền Nam VN không bao giờ tính chuyện tham chiến với miền Bắc. Như vậy thì cuộc chiến xảy ra chỉ vì miền Bắc muốn thôn tính miền Nam. Cuộc chiến mà CSVN đã đổ xương máu và tinh hoa của hơn hai thế hệ người Việt, thực chất là một cuộc "nội chiến". Không có chuyện giải phóng ở đây, bởi miền Nam nào có muốn ai giải phóng! Cuộc chiến do miền Bắc khởi xướng đã trở thành một cuộc chiến tương tàn, một cuộc "cưỡng chiếm miền Nam" đúng nghĩa của nó, và thực tế Miền Nam là vựa lúa, thực phẩm tràn lan, do công lao cần cù của dân và chính phủ VNCH xây dựng. Miền Bắc CS chỉ biết đâm chém, đấu tố, dân sắp chết đói, nên phải tìm đủ mọi lý do xâm chiếm miền Nam, đây là phản ứng bình thường của loài súc vật. Dầu chế độ ngày nay hay đảng cộng sản có muốn khoác cho nó cái mặt nạ nào đi chăng nữa thì đó cũng vẫn là một cuộc chiến xâm lược. Sự hiện diện và đóng góp của quân đội Hoa Kỳ, cũng như sự hỗ trợ của Trung Cộng, Liên Xô, Cu Ba và Bắc Hàn ... đã chỉ làm cho cuộc xâm lăng của miền Bắc thêm nhiều cay đắng và chết chóc!

Truyền thông và báo chí trong nước những ngày gần đây rêu rao “Đoàn kết xây dựng đất nước, không phân biệt quá khứ”. Vẫn biết vết thương chiến tranh trong lòng người không thể ngày một ngày hai mà lành lặn được. Vẫn biết những khó khăn còn chồng chất do sự khác biệt ý thức hệ rất nặng nề giữa những người CS lãnh đạo trong nước cùng người Việt tỵ nạn ở hải ngoại. Vẫn biết những khó khăn còn chồng chất do sự khác biệt ý thức hệ rất nặng nề giữa những người CS lãnh đạo trong nước cùng người Việt tỵ nạn ở hải ngoại. NHƯNG, dù cho CSVN có thú nhận sự trã thù hèn hạ của họ đối với những người thất trận hầu mong được giải oan để đi đến “Xoá bỏ hận thù”, việc hòa giải cũng khó mà xảy ra bởi vết thương vẫn còn đó, lịch sử đã ghi, và 30 tháng 4 sẽ mãi mãi là ngày Quốc Hận cho toàn dân tộc.

35 năm đã trôi qua kể từ ngày non sông “thống nhất” và đất nước “hoà bình” !!!. Trong 35 năm qua, đất nước đã trải qua biết bao thăng trầm nhưng hệ lụy của chiến tranh vẫn còn đó. 35 năm, thời gian đủ dài để làm dịu những hận thù và xóa đi những vết thương lòng. Mùa xuân năm 1975, cầu Hiền Lương nối lại hai bờ Nam Bắc sông Bến Hải, đất nước đã nối liền một dải, nhưng buồn thay, lòng người với những vết thương hằn sâu rớm máu vẫn còn ly tán. Người Việt do sự trớ trêu của lịch sử bị chia thành hai chiến tuyến ngày xưa, ngày nay vẫn chưa tụ về một mối. Vẫn chưa thể tay trong tay, mắt nhìn mắt, lòng nối lòng cùng chung dựng xây Tổ Quốc!

Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, đã phơi mình đón nhận định mệnh oan nghiệt, để trở thành giới tuyến chia đôi 2 miền. Đường ranh phân chia trên cầu là một vạch sơn trắng rộng 10cm. Chỉ 10cm thôi vậy mà hơn 20 năm máu lửa chiến chinh, thịt nát xương tan, nồi da nấu thịt, và huynh đệ tương tàn. Dân tộc Việt nam đã phải vượt qua biết bao gian khó hy sinh mới có ngày non sông nối liền một dải. Phải mất đến 21 năm để hai miền Nam Bắc vượt qua lằn ranh 10 cm ấy! Giới tuyến không còn nữa, nhưng con sông ấy, cây cầu ấy, mãi mãi là chứng tích của một giai đoạn lịch sử đầy máu và nước mắt khi đất nước bị chia đôi, và những hệ luỵ oán thù còn kéo dài cho mãi đến ngày hôm nay!

Thời gian 35 năm đủ để mỗi người Việt, ngoài nước cũng như trong nước, lắng lòng, sáng suốt ngẫm lại những điều hay dở và đúng sai của chính mình! Thời gian 35 năm qua với biết bao thăng trầm người Việt ta đã trải qua. Không ít những bài học phải trả giá bằng máu xương, và tiền bạc, mất dân, mất đất, mất tài nguyên. Lẽ nào những bài học đắt giá đó chưa đủ để người cộng sản cầm quyền ở trong nước tỉnh ngộ mà nghiệm ra một chân lý: Không có quyền lợi nào thiêng liêng và cao cả hơn quyền lợi của dân tộc. Tổ Quốc là của mọi con dân nước Việt. Tổ Quốc không phải, không thể và không bao giờ là của riêng một giai cấp thống trị hay của riêng một đảng phái nào.

Trần Việt Trình
10 tháng 5 năm 2010

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Cà phê cà pháo.

Ðinh Tuyên.
Không biết cái thú đi uống cà phê du nhập vào nước ta từ hồi nào, tôi nghĩ chắc cũng không lâu, vì thế hệ của các bậc cha chú không thấy các cụ nói đến đi uống cà phê bao giờ, ít nhất là trong thời niên thiếu thanh niên của thế hệ chúng tôi, đặc biệt là trong các gia đình bắc kỳ chay. Nghe nói thói quen la cà cà phê cà pháo là do dân Pháp mang vào từ những ngày họ làm thực dân ở nước ta. Nếu quả thế thì dân miền Nam chắc hẳn chịu ảnh hưởng trước dân miền Bắc. Khi tôi bắt đầu để ý đến thế giới của người lớn thì đã thấy các bác xích lô đạp xích lô máy, các bác đánh xe thổ mộ, dân buôn bán thức khuya dậy sớm, công tư chức, dân lao động các thứ trong Nam sáng sáng đã thấy tụ tập nơi các quán cà phê cóc để làm một ly trước khi bắt đầu một ngày mới. Họ làm một cái xay chừng( cà phê đen) , cà phê sữa, hay bạc xỉu( sữa chút xíu cà phê) có khi lại ăn kèm với vài cái dầu cháo quẩy hay cái bánh tiêu bánh bao, phì phèo điếu thuốc Bastos, Mélia, sang thì Ruby, Capstan, Pallmall, sang tí nữa thì Craven A hay 555 hộp thiếc. Dân lao động có cách uống rất lạ là đổ cà phê ra dĩa cho nguội bớt rồi bưng lên húp xụp xọap rất enjoy. Húp xong, họ trò chuyện trên trời dưới đất với nhau hay dở nhật trình ra đọc tin tức thời sự , những chuyện xe cán chó, chó cán xe, chuyện kép cải lương này cặp với đào hát kia.. Vụ này thì cũng giống y chang như mấy bà đi chợ bên này lúc tính tiền ở counter là tiện tay lấy mấy tờ báo lá cải như tờ Enquirer, People để xem hôm nay con Jenifer Lopez nó có bầu với ai, thằng Brad Pitt bỏ vợ rồi cặp với con nào vv…

Sau này tôi đọc trong cuốn The Journalist (ký giả chuyên nghiệp) thì nghe họ nói rằng báo chí sống nhờ chó cán xe chứ không phải xe cán chó, vì xe cán chó là chuyện thường, nhưng ‘chó cán xe’ mới là tin giật gân; người ta mua báo để xem chó cán xe chứ không phải để xem xe cán chó. Người ta mua báo để xem những chuyện tình ái lăng nhăng bất thường của Công chúa Dianna, chứ không phải để xem công chúa lấy thái tử đẻ ramột lũ con khôi ngô tuấn tú, học hành tử tế,cưới vợ đẹp cócon khôn rồi sống mãi không bao giờ chết!

Cách pha cà phê thường là pha theo kiểu bí tất hay gọi là pha vợt, hầm hì trên bếp lò cả ngày để cà phê lúc nào cũng nóng. Nhưng cà phê lọai này uống ngay khi mới pha xong còn đơ,õ chứ uống chậm chút nữa thì chua lè. Sau này, khi các quán cà phê nhạc bắt đầu thịnh hành thì có thêm cà phê phin, mà ông Túy có lần đề cập đến trong bài quán cà phê Thăng Long.

Ly cà phê đầu tiên trong đời của tôi xảy ra ở quán Thăng Long này: lần đó tôi thấy cái phin cà phê phải xoay xoay con ốc trong đó để điều chỉnh độ đậm lạt của cà phê là cả cái sự tân kỳ. Rồi cô Hương còn phải nhắc là đậy cái nắp phin lại, cho cà phê nó chín. Cái vụ cà phê cà pháo khởi đi từ dạo ấy mà cho đến bây giờ trở thành một nếp sống hồi nào không hay.

Nay đã tới tuổi tri thiên mệnh, nghiệm lại tôi thấy băng cà phê cà pháo chúng tôi có khối chuyện để nói chung quanh cái phin cà phê, ở một nơi nào đó gọi là quán cà phê: Có một cô nào đó gọi là cô hàng cà phê, có một cái việc gì đó gọi là đi cà phê. Từ những chuyện thi cử học hành đến những chuyện cua con này ve vãn con kia của cánh con trai chúng tôi tới những buổi ngồi đồng với các cô bạn gái nhìn ra phố mưa rơi rả rich, nghe những ca khúc da vàng phản chiến não nuột của Trịnh công Sơn, nghe tục ca của Phạm Duy, nghe Christophe với Main dans la main, Santana với Oye comova, Black magic women, Beatles với Yesterday, Hey Jude, Eric Clapton, Jimmy Hendrix, The top of the world với Carpenter và nhiều nhiều quá.

Không biết Nguyễn Kim Ðĩnh ở Bremen có còn nhớ cây hoa ngọc lan to lắm ở quán cà phê Ðỉnh Thiêng trong cư xá phủ tổng thống không: Những đêm rất khuya hương ngọc lan thoang thoảng quấn quýt với vị dịu mát của sương đêm tôi, Ðĩnh, Nguyễn xuân Quang. thỉnh thỏang có Nguyễn văn Lương- bây giờ ở Berlin- Ðức nghỉ phép về. Chúng tôi ngồi quây quần ở cái bàn dưới gốc cây nhe răng cười với nhau vì nhiều duyên cơ:ù Dạo đó tuổi thanh xuân tươi trẻ quá thành ra chúng tôi có nhiều chuyện vui và chuyện hay buồn nhất là không đủ tiền uống cà phê, thế thôi. Cô hàng cà phê quán này đẹp và có chiếc răng khểnh và thích cho chạy bản Roman dễ nghe do ban Paul Mauriat chơi, bản này solo 3 khúc, piano, guitar, và violon; đối với tôi, hay nhất vẫn là khúc chơi guitar. Cô hay đi lên đi xuống cái cầu thang đàng sau quầy tính tiền. Chắc là để đám khách ngòai kia enjoy những bước chân thục nữ lan đài uyển điệu trong tà áo dài mỏng như tơ trời của cô chăng. Còn tôi chỉ muốn gây sự chú ý của cô, lâu lâu lại chập một lúc ba que diêm lại rồi đánh xoè lên ngọn lửa sáng chói đầy mùi lưu hùynh, trong cái không gian mờ ảo của quán cà phê. Bây giờ nghĩ lại thấy thật trẻ con nhưng cũng thấy dễ thương làm sao.

Trồng cây si cô hàng cà phê ngòai bọn tôi ra có thêm nhiều người: Ðối với chúng tôi thì cũng có hơi gượng vì nàng hình như lớn hơn chúng tôi vài ba tuổi (lớn tuổi hơn chứ chưa luống tuổi), nên chỉ ít lâu bọn tôi rút lui trong trật tự. Một trự nữa là lính của 1 liên đòan công binh tháo gỡ đạn dược, một vài tay pilot trực thăng vào quán hay đeo súng ống lủng lẳng quanh người, như niên trưởng Nguyễn văn Tịnh chẳng hạn. Không biết thực hư thế nào nhưng tay tháo gỡ đạn dược lần nào tới quán cũng đi chiếc xe Jeep có cái còi hụ sơn màu đỏ chót trông rất oai phong. Có một đêm, tôi ngồi một mình bàn bên này, còn bàn bên kia tay tháo gỡ đạn dược thay vì uống cà phê thì lại uống rượu với một đám các hảo hán, mới nhìn thấy cũng đủ mất vía vì tòan những tay mặt mũi trông rất sọc dưa, mặc đủ mọi thứ quân phục trên đời. Tay tháo gỡ đạn dược khụng khiệng đi tới bàn tôi với đôi mắt đỏ ngầu say rượu. Liếc qua bàn của họ, tôi thấy ngổn ngang vài chai brandy Napoléon lion d’or rồi. Ðứng cạnh bàn tôi, anh ta hất hàm hỏi:

- Ê.Mày làm gì?
Tôi rụt rè trả lời: - Dà, em chưa có làm gì.
- Thế mày còn đi học à?
- Dà, em học trường Luật
- À, giống thằng em tao

Nghe nói, tôi mừng hết lớn vì chắc không bị ăn cái chai lên đầu như tôi nghĩ, tay này bom mìn sắp nổ chả còn dám bò vào gỡ ngòi nổ thì cỡ mình sá gì mà chả không cho một chai lên đầu nếu thấy chướng mắt. Ðúng vậy, ông ấy bảo: - Mày qua nhậu với tụi tao không?

Tôi đâu dám từ chối, bèn bưng ly tách qua ngồi nhậu ké với các đại ca.

Sau này, ông ta bảo hôm đó tao thấy mái tóc dài của mày tao ngứa mắt quá ,định qua úynh mày chơi nhưng sao thấy mày lành quá nên thôi. Từ đó tôi quen thêm với một đám lính tráng, và vì tôi cũng có những bạn học cũng đang ở trong lính như Nguyễn văn Lương, Mai đình Ngọ nhảy dù, Cao thành Cách, Bùi huy Tâm không quân v.v.. Nên biết thêm về tâm trạng sống nay chết mai của họ giống như cha anh, tôi nên càng cảm thấy thương họ hơn. Trai thời lọan thế đấy.

*

Ðường Nguyễn Du có lá me bay từng là một nơi quen thuộc của chúng tôi đàn đúm. Dạo đó tôi học trường Luật, khi có giờ trống hay khi gặp những giờ lecture cổ luật ngán ngẩm của ông Vũ văn Mẫu, chúng tôi thường bỏ học ra Nguyễn Du, con đường có hàng hàng lớp lớp các quán cà phê san sát bên nhau ( nói theo kiểu Mỹ là- A huge selection for café goers-), với những cặp loa công suất mạnh đặt hướng ra đường tranh nhau đập inh ỏi. Dân uống ở đây phần lớn là sinh viên của đủ thứ trường nhưng có lẽ đông nhất là từ Văn khoa và Luật khoa: Các cậu các mợ đều khệnh khạng, ra dáng trí thức trẻ người ( và non dạthực!). Chúng tôi hay chở nhau trên những chiếc Honda và giống như Francois Sagan hay mô tả trong các cuốn chuyện của bà là:- Ði hết quán nọ đến quán kia nhìn xem có ai quen trong đó không. Sao mà thanh niên Pháp thời sau World War 2 giống chúng tôi quá, cái đám thanh niên mà một số nhà đạo đức( thật cũng như giả) thốt ra rằng“ bọn thanh niên thối nát,trụy lạc và buồn tẻ”.

Thế cái bọn thanh niên thối nát và buồn tẻ ấy, chúng nó làm cái gì ở trong quán cà phê? Thật ra thì ‘cũng chẳng có gì mà ầm ĩ’ cả. Mỹ họ nói, có gì là big deal đâu. Ngọai trừ một số nhỏ vào quán cà phê để chơi heroin, nghe nhạc rồi phê cho nó đã đời ( hay quên đời), còn phần đông chỉ để gặp bạn bè tán gẫu, rồi nếu không đi học thì chở nhau đi loanh quanh, ciné xi cảo vớ vẩn thế thôi. Ngày ấy, trong bọn chúng tôi Nguyễn văn Lương là thời thượng nhất : Chàng là người đầu tiên biết đeo kính râm, lúc không muốn ‘râm’ nên chàng lại gác cái kính lên đầu thao diễn nghỉ, nom rất tân kỳ. Vào quán, chàng hay dở tạp chí Hồng khổ tabloid của cánh Nam Lộc- Trường Kỳ gì đó chủ biên ra xem. Trường Kỳ thì chắc niên trưởng rành hơn tôi vì ổng được phong là vua hippy mà. Trong tạp chí này tôi đọc được những chuyện ngắn rất trưởng giả, như chuyện có chàng và nàng kia đi nghỉ hè ở Ðà lạt, họ đi dạo quanh hồ Xuân Hương vừa đi vừa thò tay vào túi áo măng tô lấy hạt dẻ ra ăn( chứ không chịu ăn đậu phụng rang như chúng tôi), rồi họ xuôi về Nha Trang nô đùa với sóng nước, lại còn chạy canô ra ngòai đảo xa xa nữa, xong, về hotel nghỉ ngơi. Họ xài chung một cái bàn chải đánh răng nữa ,rất là trữ tình.. Cá nhân tôi từ nhỏ được dạy dỗ trong vệ sinh thường thức là mỗi người một bàn chải đánh răng, không được xài chung. Thế mà đọc đến đây, sao tôi thấy họ yêu nhau thật là đỉnh cao cách mạng, dễ thương quá! Về sau tôi mới biết, những tay viết cho tạp chí Hồng có nhiều người học trường Tây trường Ðầm như Taberd, Marie Curie, Régina Pacis, Régina Mundy vv.. Thành ra câu chuyện của họ viết,nghe trưởng giả là ‘chính kiểu’ rồi.

Lương hay rủ tôi đi thâu nhạc ở tiệm Thúy Nga, tiệm Phạm mạnh Cương bên Phú Nhuận và lúc nào cũng kè kè mấy cuốn băng Magnétophone to đùng như cái bánh đúc. Bạn tôi ngọai ô thanh lịch quá nhưng tôi hơi coi thường vì lúc đó tôi biết chơi dĩa nhựa rồi . Còn ông Ðĩnh đeo kính cận khi vào quán khi nhìn dáo dác kiếm bạn luôn lấy tay đẩy đẩy kính cận lên cho nó yên vị ngay chánh giữa trên cái sống mũi hơi gồ lên 1 chút, trông trí thức ghê đi. Ðĩnh dạo đó có mộng làm bác sĩ nên học chứng chỉ dự bị Sinh lý Sinh hóa ở Thủ đức. Chàng này sính tiếng Tây nên thay vì nói là học đại học khoa học như lệ thường thì chàng hay gọi là Faculté de Sciences, nghe rất gồ ghề nên tôi cũng hay bắt chước gọi trường tôi là ‘Faculté de la Droit’ cho nó oai; nhưng sao phát âm chữ droit khó quá nên lại thôi, trở về với chữ luật cho nó đỡ phiền cái lưỡi. Ðĩnh thì không có nhiều đồ chơi khi đi café, chàng còn mải nghĩ đến mấy cục ô mai mà các mợ ái mộ học cùng lớp hay bỏ dưới ngăn bàn cho chàng. Ông Ðĩnh này hồi thanh niên rất đào hoa: Nghe chàng tuyên bố tao hay có ô mai ăn chùa, bọn tôi ngờ rằng bạn ta chỉ nói xạo cho oai. Một ngày kia, tụi tôi rủ nhau kéo xuống tận chỗ chàng học ở Thủ đức điều tra xem sao. Ðến lúc chàng xăm xăm như quân xâm lược đi đến chỗ ngồi, thò tay dưới hộc bàn lấy ngay ra được một gói ô mai mơ đàng hòang! Lúc đó chúng tôi bèn phục lăn ra thật…

* Ðinh Tuyên.
( trích Google)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Cái roi....

Gió Heo May
LTS: Là người đang sinh sống trong nước, tác giả đưa ra suy nghĩ của mình trước hiện tượng khá phổ biến trong sinh hoạt học đường bây giờ, ở đó.

Tháng tư gần qua …thấp thoáng đâu đó trên những con đường tôi qua mỗi ngày là cái nhìn tinh khôi của những chùm phượng đỏ đầu mùa . Mùa hè đến , mùa thi về …bắt đầu những ngày chạy nước rút …. Một số cô giáo trẻ trường tôi than vãn : “Gần thi rồi mà mấy đứa nhỏ nó lười quá cô ơi …lười mà còn lì nữa, nói riết không nghe … mà chẳng dám la mắng hay đánh roi nào ”. Tôi cười nói đùa …“Cứ đánh đi rồi …mai thành người nổi tiếng”. Dạo này cứ giở tờ báo nào ra là cũng ngán ngẩm vì những hiện tượng không vui của ngành .Có hôm mẹ tôi bảo: “Ðọc báo thấy học trò bây giờ sợ quá.Con nói với con út, đứa nào học thì học không học thì thôi, đừng la mắng, khẻ tay nó mà mang họa đấy…” .

Bạo lực bây giờ xảy ra khắp nơi : sân cỏ cũng có bạo lực , bến xe cũng có bạo lực, hội hè cũng có bạo lực , đường phố cũng có bạo lực …Nhưng bạo lực trong nhà trường lại là hiện tượng bất thường , một hiện tượng đau long, một nỗi nhức nhối của xã hội .Hiện tượng thầy đánh trò ,trò đánh trò …rồi đến cả trò đánh thầy, nghe cứ rát cả tai …nghe cứ đau cả lòng . Bao nhiêu năm hành nghề, chưa bao giờ tôi có cảm giác xót xa về nghề của mình như thế …

Có hôm vào một trang blog của một bạn trong friend list , thấy một bài viết có hình một cô giáo đang nhéo tai một học sinh , bên cạnh là những học sinh khác có lẽ đang chờ đến phiên mình … Một hình ảnh đúng là phản cảm, được chính các em chụp lại để làm bằng chứng tố giác cô giáo mình .Tim tôi cứ nghẹn lại . Tôi nhìn bức ảnh … Cô giáo chắc phải giận lắm , hành động của cô bây giờ là hành động của sự tức giận không kềm nén được thế kia mà… Tôi tự hỏi : Các em đã làm gì để đến nỗi cô giáo mình phải nổi cơn như thế …Chắc chắn không là chuyện bình thường … Ngay cả việc dám chụp lại hành động xử phạt của cô cũng cho thấy học sinh bây giờ khác hẳn cái thời những người cùng lứa với tôi đi học .

Vâng , mọi cái bây giờ đã quá khác …Những đổi khác không thể không có nhưng những đổi khác xấu đi là vấn đề ta cần suy nghĩ . Tôi chợt nhớ những cái roi thời mình đi học .

Ngày học lớp mẫu giáo ở ngôi trường của các soeur , tôi đã nhìn thấy những cái roi mây dài đánh thẳng xuống tay những đứa trẻ không tập trung trong giờ học là tôi và bạn bè tôi thời ấy .Các soeur cũng không ngại ngần nhéo những cái tai non nớt mong manh của chúng tôi để lại những vết đỏ như son hay tím bầm rướm máu . Tôi nhớ những cái khẻ tay của người thầy dạy tôi năm tiểu học , những cái quất nện xuống mông đám con trai làm tôi xanh cả mặt . Tôi nhớ thầy Chu Ngọc Thủy _ giáo sư nổi tiếng môn Sinh vật của Saigon ngày ấy và những cái khẻ tay không nhân nhượng của thầy với cả những tu sĩ học cùng lớp với tôi năm thi Tú Tài II. Nhưng chưa bao giờ tôi bắt gặp sự phản kháng của bọn trẻ chúng tôi với những cái roi của thầy cô , chưa bao giờ tôi thấy một sự phản kháng nào của một phụ huynh học sinh với giáo viên đã xử phạt con mình thời ấy. Và tôi chắc rằng, không có đứa học trò nào ngày ấy, bây giờ nhớ lại những “cái roi” mà để giữ lòng thù hằn với thầy cô của mình; chưa kể, không ít người mang ơn những cái roi một thời như những lời nhắc nhở , như cái dắt tay giúp họ thành người .

Cái roi … tôi cho rằng thời nào cũng thế…Nhưng những cái đánh xuống thì hình như không còn mang cái giá trị của sự bảo ban , nhắc nhở như ngày xưa nữa…Nó được thay bằng một cụm từ giống một “cái roi” khác, chua chát hơn, đánh vào cái tâm người thầy :“vi phạm nhân cách học sinh” . Ðôi khi tôi cứ tự hỏi : Thật ra thì vị trí người thầy bây giờ là ở đâu ? Nếu chỉ ở trên bục giảng thì người thầy chỉ là “người thợ _ thợ dạy”_. Nếu ở dưới bục giảng thì người thầy chỉ là người bán chữ …mà xem chừng món hàng bán ra sòng phẳng đến đau lòng . Người đi dạy chỉ là “người thầy” khi bản thân họ đúng là thầy, và khi họ thực sự được tôn trọng như một người thầy.

Nói thế không hẳn là tôi ủng hộ việc giáo dục bằng đòn roi .Nói thế không phải tôi bào chữa cho một số thầy cô dùng cái roi như một phương pháp giáo dục, như một cứu cánh cho sự bất lực của mình. Nói thế chỉ là tôi muốn nhắc lại rằng đã từng có nhiều thế hệ trưởng thành từ những “cái roi” ấm áp tình yêu thương, những cái roi mà xã hội chấp nhận như một lời giáo huấn : “thương cho roi cho vọt” hay “đòn đau nhớ đời” .Nói thế để thấy rằng khi người thầy giơ cái roi lên không bởi những áp lực , không bởi cơn giận quá độ và khi nện cái roi xuống nó trở thành cái đánh từ lòng yêu thương, tôi tin rằng đó là những “cái roi” nhân bản và đầy tính giáo dục ; mặc dù nếu không phải dùng đến cái roi vẫn là tốt biết bao .

Không biết có phải là quá không khi tôi cho rằng hình như chưa bao giờ lại có một thế hệ học trò “phát huy cái quyền” của mình cao độ đến … đáng lo như bây giờ . Và cũng chưa bao giờ lại có một thế hệ người thầy ngơ ngác vì bị tổn thương như hiện nay .Khi người ta nói đến cái quyền quá nhiều với lũ trẻ , khi người ta gán cho những cái roi , những lời la mắng là “vi phạm nhân cách” với những con người đang được học “thế nào là nhân cách” mà quên dạy chúng biết thế nào là trách nhiệm của mình đối với bản thân, đối với thầy cô ,với cha mẹ ,với cộng đồng thì quả là sai lầm.Và cái hậu quả chính xã hội này sẽ phải gánh chịu.

Có lẽ nên có một cái nhìn khác trong cách giáo dục bọn trẻ . Có le õnên có một cái nhìn khác về vai trò người thầy trong mối quan hệ với học trò,với xãhội hiện nay …

Hãy trả lại người thầy cái chỗ đứng của họ trong ánh mắt tôn kính của học trò , trong sự tôn vinh thật sự của xã hội; chứ không chỉ là những mỹ từ nổ như pháo hoa trong ngày20 tháng 11 hàng năm. Hãy trả cho “cái roi” giátrị thực sự của no,ù cái giá trị khởi đi từ cái bắt đầu giơ lên của chính người thầy.

Và người làm công việc giáo dục chỉ thực sự xứng đáng đứng vị trí của mình khi chính mình hiểu hơn ai hết cái giá trị thật sự của “người thầy” trong ánh mắt của đám trẻ nhỏ kia.

Trong số những học sinh từng chụp lại những bức ảnh nhằm tố cáo hành vi của cô giáo mình , những học sinh đã từng vung tay đánh lại thầy mình để phản kháng những cái roi…có thể sẽ có những em rồi sẽ làm thầy sau này..Mong rằng khi ấy các em sẽ hiểu hơn tấm lòng của những người thầy đã từng bị quất lại bằng những“cái roi”còn đau gấp ngàn lần cái roi ho ïtừng cho các em với ý định tốt đẹp.

“Lương sư hưng quốc” _ Tôi nhớ cái tấm biển đỏ khắc chữ vàng nằm trang nghiêm trong phòng giáo viên ở ngôi trường cũ … Có lẽ bây giờ ngay cả những “lương sư ” cũng chừng như chỉ biết thở dài…

Tháng tư sắp qua …mùa hè đầy nắng ….

( trích: gioheomay.multiply.com/journal)

Post Reply