Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Tin cập nhật
về nhạc sĩ Từ Công Phụng


Image
dutule.com ngày 3-6-2010:
Trái với tin đồn và, những lo lắng về trường hợp của nhạc sĩ Từ Công Phụng, sự thực tình trạng sức khỏe của tác giả “Bây giờ tháng mấy” rất tốt đẹp,
tính tới ngày 2 tháng 6 vừa qua.
Theo ghi nhận tại chỗ của nhạc sĩ Vũ Thành An, vợ chồng nhà thơ Du Tử Lê thì, sau hai lần làm hóa trị / chemotherapy, sức khỏe của họ Từ chẳng những ổn định mà, còn gia tăng một cách đáng kể.
Ba người này đã có một bữa ăn tối đầy tiếng cười với ông bà Từ Công Phụng và ái nữ Từ Công Đoan Trang, về từ New York .
Nhịp độ sinh hoạt hàng ngày của họ Từ đang trở lại bình thường. Ông ăn được, ngủ được…tốt hơn cả sự chờ đợi của các bác sĩ điều trị.
Nhạc sĩ Từ Công Phụng cho biết, theo yêu cầu của bác sĩ, ông sẽ trải qua thêm 6 kỳ chemotherapy nữa.
Mặt khác, gia đình và cá nhân họ Từ cũng bày tỏ sự ngạc nhiên, bất ngờ về những tin tức bi quan, gần như tuyệt vọng về trường hợp bệnh hoạn của tác giả “Mãi mãi bên em”.
Trong một cuộc phỏng vấn viễn liên dành cho hai ký giả Dương Phục ở Houston và Đinh Quang Anh Thái, vào buổi trưa Thứ Ba, ngày 2 tháng 6 vừa qua, tác giả “Ơn em” đã gửi lời cảm ơn tất cả mọi quan tâm, thăm hỏi của các thân hữu và, những người yêu mến nhạc của ông.
Ông đã nhấn mạnh rằng:
“Rồi đây, khi sức khỏe trở lại bình thường, tôi sẽ đến bất cứ nơi nào mà những người yêu nhạc của tôi, muốn tôi xuất hiện…”
Trong chỗ riêng tư, họ Từ cũng đã hò hẹn với nhà thơ Du Tử Lê rằng, cả hai sẽ thu xếp công việc, để cùng xuất hiện trong chương trình nhạc chủ đề “Tình ca muôn thuở” do nhạc sĩ Đăng Khánh tổ chức tại Houston vào ngày 10 tháng 10 năm 2010 tới đây, theo lời mời của ban tổ chức mà Phương Hoa / Đăng Khánh là đại diện.

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Image

Hồng Kông : hơn 100 ngàn người tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn


Tú Anh
Khoảng 150 ngàn người dân Hồng Kông tham gia biểu tình đánh dấu 21 năm vụ thảm sát Thiên An Môn. Vào đêm mùng 3 rạng sáng mùng 4 năm 1989, ban lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc ra lệnh cho quân đội dập tắt trong biển máu phong trào tranh đấu bất bạo động đòi dân chủ kéo dài trong 7 tuần lễ. Hàng trăm và cũng có thể hàng ngàn sinh viên công nhân đã chết trước nòng súng và xích sắt xe tăng.

Theo AFP, cũng nhân dịp tưởng niệm vụ thãm sát , hôm qua (4/6) bộ ngoại giao Hoa Kỳ kêu gọi Trung Quốc trả tự do cho các tù nhân còn bị giam cầm từ phòn trào Mùa Xuân Bắc KInh và công khai hóa danh sách những người bị giết, bị tù và mất tích.

Washington cũng yêu cầu chính quyền Trung Quốc chấm dứt các hành vi xách nhiễu những người đã từng tham gia phong trào Thiên An Môn và gia đình của các nạn nhân.

Còn tại Hồng Kông, chiều ngày 4/6 hàng trăm ngàn người tập họp về quảng trường Victoria, tay cấm nến và hoa. Người biểu tình , trong không khí trang nghiêm, lắng nghe âm nhạc và thông điệp kêu gọi chấm dứt chế độ độc tài tại Hoa Lục.

Từ Hồng Kông, thông tín viên Florence de Changy tường thuật :

« Theo thời gian, biểu tình tưởng niệm ngày 4 tháng 6 trở thành một thông lệ. 113 ngàn người, theo thẩm định của cảnh sát ,150 ngàn theo xác định của ban tổ chức, đã tập họp trong trật tự và nghiêm trang để cùng tưởng niệm đêm xảy ra biến cố đẫm máu cách nay đúng 21 năm, vào ngày 4 tháng 6 năm 1989 tại Bắc Kinh.

Tại Hoa Lục, thời kỳ đen tối này bị bị xếp vào loại cấm kỵ, đa số thế hệ trẻ hoàn toàn không nghe nói đến. Hồng Kông là nơi duy nhất trong lãnh thổ Trung Quốc, vụ thảm sát được tưởng niệm công khai và hợp pháp. Sự thành công vượt bực của đêm canh thức hôm qua làm ngạc nhiên cả những người trong ban tổ chức.

Cách nay một tuần, 13 thành viên của phong trào bị cảnh sát câu lưu vì họ dựng lên trước cửa một thương xá ngay trung tâm thành phố một « bức tượng tự do » lấy ý từ tượng « nữ thần dân chủ » mà sinh viên Trung Quốc dựng lên tại quảng trường Thiên An Môn năm 1989.

Cuối cùng cảnh sát đã trả « bức tượng tự do » lại cho sinh viên Hồng Kông. Sau lễ canh thức, hàng trăm sinh viên kéo về cư xá đại học tiếp tục tập họp bên nhau bất chấp lệnh cấm biểu tình trong khuôn viên đại học.
Phong trào đấu tranh vì dân chủ và tự do ngôn luận cho Trung Quốc đã ghi dấu một chiến thắng. Cuộc tranh đấu này cũng vì tương lai của Hồng Kông. »

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Đừng Yêu Người Làm Thơ
Đợi cho Quang ra khỏi nhà là mẹ tôi nói ngay:
- Anh Quang này trông đứng đắn đàng hoàng đấy, vậy con liệu mà bảo nó tính đến chuyện hỏi cưới đi.

Tôi đáp với lòng hãnh diện:
– Sớm muộn gì anh ấy cũng phải lên tiếng thôi, con việc gì phải bảo người ta cho nó mất giá trị!
– Mẹ thấy mấy đám trước cũng tử tế như thế này, cứ kéo dài hò hẹn, tìm hiểu mãi rồi ai cũng rút lui, chẳng hiểu họ chê con vì điểm gì? nên lần này con phải chủ động giục cưới cho chắc ăn, kẻo lại thêm một mối tình lỡ.
– Mẹ yên tâm, đây sẽ là mối tình cuối cùng của đời con.
Mẹ tôi cũng không quá lo xa đâu, có nhiều mối tình đến với tôi, nồng nàn tha thiết bao nhiêu nhưng vẫn không đi đến kết quả tốt đẹp. Mẹ tôi bảo tại tôi lãng mạn quá, trái tim dễ rung động quá, nên yêu nhiều mà chẳng được bao nhiêu, yêu chưa đúng người.
Tôi đã biết yêu từ năm 12 tuổi, hồi đó ở Việt Nam vẫn còn là tuổi của ngây thơ khờ dại. Tôi rất thích ăn mì của cái tiệm ở đầu đường nhà tôi do một người Hoa làm chủ, đứng nấu mì là một anh ba Tàu trẻ, thường thì mẹ dẫn tôi đi hay có khi tôi thèm thì xin tiền mẹ chạy đến tiệm ăn một mình. Dù đi với mẹ hay không, tôi đều thích đứng cạnh xe mì để nhìn ngắm anh Tàu trổ tài nấu mì, anh để một vắt mì vào thùng nước sôi và nhanh chóng vớt lên bằng một cái vợt lưới, bàn tay anh thao tác nhuần nhuyễn, hất tung vắt mì lên vài lần cho ráo nước và sau cùng hất vào tô, bao giờ cũng chính xác, không rớt ra ngoài… Xong anh bày lên những miếng thịt heo nạc thái mỏng còn viền màu đỏ vì đã được ướp xá xíu, một thìa tóp mỡ thái hột lựu, và một thìa củ cải mặn cũng thái hột lựu, rồi mới đến những cọng hẹ cắt khúc ngắn. Anh mở nắp vung thùng nước lèo, cả một mùi thơm bát ngát theo hơi khói bay ra, thuở đó trong mắt tôi thùng nước lèo to, sâu thẳm ấy là một công trình vĩ đại và kỳ bí như trò ảo thuật, vì chẳng biết anh Tàu nấu bằng xương thịt gì, bí quyết gì mà nước lèo thơm ngon thế? Có bao giờ tôi ăn tô mì mà chẳng húp hết nước sạch sẽ đâu!
Khi thì anh Tàu bê tô mì ra bàn cho tôi, khi anh bận thì tôi tự làm lấy vui vẻ. Tôi thích ăn mì và yêu cả anh Tàu nấu mì, không biết vì anh tre trẻ đẹp trai vui tính hay vì anh là người đã nấu cho tôi những tô mì ngon?
Tôi đến tiệm mì thường xuyên đến nỗi anh Tàu nhớ mặt tôi, có lần anh vừa vung vẩy biểu diễn hất vắt mì vào tô vừa cười cười với tôi: “Hày, con nhỏ này là khách quen của bổn tiệm mà, để tao cho mày thêm vài miếng thịt”.
Hôm ấy tôi ăn tô mì đặc biệt nhiều thịt, vừa sung sướng vì anh nhớ đến tôi, vừa buồn buồn vì anh gọi tôi bằng “mày” và xưng “tao”. Anh Tàu chẳng biết rằng con bé ranh này đang yêu anh, hôm nào không có tiền ăn mì, đi học về qua tiệm tôi đi chậm lại một chút để nhìn thấy anh rồi mới chịu đi nhanh về nhà, tương tư anh nên tôi đã nói với mẹ: “Lớn lên con sẽ lấy anh Tàu bán mì”.
Mối tình đơn phương đầu đời có liên quan đến vấn đề ăn uống ấy chỉ tồn tại được một hai năm, không phải vì có vài lần tôi thấy vợ anh đứng nấu mì thay cho anh, là một chị mập ú, luôn luôn mặc áo sát nách để hở hai cánh tay béo mỡ, vừa nấu mì vừa xổ một tràng tiếng Tàu với hai đứa con nhỏ đang luẩn quẩn bên cạnh, mà vì càng lớn tôi càng có nhiều sở thích khác ngoài ăn mì. Tôi thích đọc sách báo, thơ truyện, tôi biết tưởng tượng đến một người yêu thanh tao gấp mấy chục lần anh Tàu của tôi thuở tôi 12 tuổi.
Năm tôi học lớp 11, đã có vài bài thơ đăng báo nên cả lớp “nể mặt” và đồng loạt bầu tôi làm Trưởng ban báo chí của lớp, sau khi tôi đi họp để bầu Trưởng ban báo chí của toàn trường, tôi phải đứng trước lớp báo cáo lại kết quả buổi họp đó. Tôi đâu có tài ăn nói trước đám đông, trong khi bao nhiêu con mắt đang đổ dồn vào tôi, làm tôi bối rối thì ít mà thằng lớp trưởng đứng bên cạnh làm tôi bối rối thì nhiều, vì tôi yêu và nể nó, tính tình nó hiền lành, ăn nói lưu loát và có tài lãnh đạo. Tôi lí nhí kể lại buổi họp cho thằng lớp trưởng, khi một người ngồi dưới hỏi chị trưởng ban báo chí lớp ơi! đã bầu xong trưởng ban báo chí toàn trường chưa? Thì thằng trưởng lớp dõng dạc trả lời giùm tôi “Chị cho biết là chưa có bầu”. Cả lớp cười ồ lên còn tôi thì đỏ mặt. Lớp trưởng vội vàng sửa lại, nói đầy đủ hơn: “Chị cho biết là chưa có… bầu trưởng ban báo chí toàn trường”.
Tình yêu là một trò chơi quanh quẩn, trong khi tôi yêu thầm thằng lớp trưởng, nó chẳng thèm để ý đến tôi, (bụt nhà không thiêng?) thì một thằng bên lớp 12 lại trồng cây si tôi mê mệt, luôn luôn tôi thấy có cặp mắt nào đó đang nhìn mình, những lúc tôi đang ăn chè đá đậu hay chấm mút trái cóc chua ngọt với muối ớt trước cổng trường đều bị nó bám sát không rời, làm tôi phải nhịn thèm các món đó luôn vì mắc cỡ, cho đến cuối năm đó nó rời khỏi trường tôi mới được tự do ăn uống trở lại. Lá thư tỏ tình nó gởi tôi do một đứa bạn cùng lớp đưa lại chẳng bao giờ tôi trả lời vì tôi không yêu nó. Sau 1975 nó đi vượt biên với vợ con và mất tích ngoài biển khơi.
Tôi nghĩ đời tôi có hai cái may, nếu mối tình với anh ba Tàu mà thành sự thật thì bây giờ tôi đã là chị ba Tàu, chắc cũng mặc áo sát nách đứng nấu mì thay cho chồng và quát tháo lũ con om sòm bằng tiếng Tàu rồi! hoặc nếu tôi lấy anh chàng lớp 12 si tình kia thì giờ này tôi cũng mất tiêu trên biển với nó rồi!
Cho đến năm tôi 20 tuổi, trước khi đi định cư ở Mỹ thì trong tâm hồn tôi đã có một đống những người tình lý tưởng lấy ra từ trong tiểu thuyết và phim ảnh, Rhett Butler của “Gone With The Wind”, Zhivago của “Dr. Zhivago”, hay ông linh mục Ralph của “The Thorn Birds” hay “chú” Sách tử tế và bao dung yêu vợ trong “Tình nghĩa vợ chồng” của Leon Tolstoi do Bảo Sơn dịch..v..v… Tôi từng bị tiếng sét ái tình với người trong phim truyện, thì với người đời bằng xương bằng thịt là lẽ đương nhiên, nhưng dù sét đánh dữ dội thế nào tôi cũng không bao giờ chết, yêu nhanh và quên cũng nhanh. Mẹ tôi bảo tính tôi lãng mạn, mê làm thơ, mê đọc thơ nhiều quá rồi nó vận vào người, toàn là những mộng mơ ảo tưởng! Đã hơn 30 tuổi rồi mà vẫn chưa “tỉnh” người ra để kiếm một tấm chồng, để sinh con đẻ cái như người ta. Tôi chống chế, thời buổi này người ta lập gia đình trễ sau khi đã có công danh sự nghiệp. Mẹ tôi lẩm bẩm, nhưng con không bận học hành, không làm ăn buôn bán, chỉ đi làm hãng xưởng thì sự nghiệp gì mà chờ đợi cho nó già cả người hở con?
Ba mươi mấy tuổi ! chưa già, nhưng cũng không còn trẻ ! Tôi không “nhìn lên trời” để tìm Rhett Butler hay Dr. Zhivago nữa, mà đã hạ tiêu chuẩn, tìm những người thường xung quanh tôi, lần này tôi sẽ không để mất Quang vì tôi yêu anh và anh cũng yêu tôi như thế.
** ** **
Đã mấy tuần trôi qua, chẳng hiểu sao Quang không liên lạc với tôi, cell phone và e-mail đều im lặng. Lạ quá! Những tín hiệu tôi gởi đi nhưng anh vẫn không hồi đáp.
Một người bạn thân của tôi báo cho tôi một tin không thể tin nổi là Quang đang quen với một người con gái khác, tôi cười khỉnh vào mặt bạn tôi rằng, đó là tin đồn thất thiệt, mày phải nhớ là Quang yêu tao như thế nào! chiều chuộng từng sở thích của tao như thế nào! và nhất là Quang yêu thơ của tao nữa ! Anh tìm đâu ra một người yêu vừa lãng mạn vừa biết làm thơ? người nào mà lấy tao thì cuộc đời sẽ đẹp như thơ.
Tôi bỗng nhận được lá thư của Quang gởi từ bưu điện. E-mail tiện lợi, anh không dùng, hay anh muốn cứu giúp ngành bưu điện đang ế ẩm, để các mailman có việc làm?
Thái độ im lặng thật lâu đã lạ, cách liên lạc của anh càng lạ hơn làm tôi hồi hộp khi bóc thư ra, nhưng tôi vẫn tin rằng đó là một lá thư dài tràn đầy lời thương nhớ và tới tấp xin lỗi em yêu! Tôi trải tờ thư phẳng phiu ra và khoan khoái đọc:
Thương gởi em ! (biết ngay mà, tôi nghĩ)
Suốt mấy tuần qua, anh đã suy nghĩ rất nhiều trước khi viết lá thư này. Anh phải viết bằng thư tay để em đọc xong và suy ngẫm, chứ gởi qua e-mail coi chừng em xóa mất !
Em ơi, chúng mình đã yêu nhau hơn một năm trời, đã bao lần hò hẹn, gặp gỡ tìm hiểu nhau, đủ để đi đến một quyết định… (đọc đến đây tôi nhắm mắt lại, thở phào một cái sung sướng trước khi đọc tiếp lời cầu hôn năn nỉ của anh ta)…
Anh nhận thấy một điều rất rõ ràng là: Anh không thể lấy em ! Có nghĩa là chúng mình sẽ chia tay từ đây! Vì em lãng mạn quá, em như sống ở trên mây, anh đã cố gắng chiều chuộng em, nhưng thà chiều chuộng một đứa trẻ, khi nó lớn lên một chút là thôi, còn chiều chuộng những đứa làm thơ như em thì phải cả đời.
Em đâu có biết, anh đã mệt mỏi căng thẳng biết bao để chiều lòng em ! Nửa đêm anh đang ngủ ngon để mai đi làm sớm thì em gọi cell phone đánh thức anh dậy để… khoe một câu thơ vừa hiện ra trong đầu, em đọc cho anh nghe, anh mắt nhắm mắt mở chỉ thèm ngủ chứ đâu có thèm nghe thơ, dù hay cỡ nào cũng không thành vấn đề đối với anh trong lúc này. Vậy mà anh phải khen hay, nhưng em không tin, còn bắt anh phân tích hay ở chỗ nào? Anh đành làm nhà phê bình văn học thơ em cho tới sáng, cho tới giờ đi làm. Anh không lạng quạng lái xe đụng người ta trên highway đầy nghẹt xe là may phước cho nhà anh rồi.
Những lúc hai đứa mình đi chơi, anh đang lái xe đến một địa điểm nào đó đã định trước, thì em chỉ huy anh phải quẹo hết con đường này đến con đường khác, mặc dù em không biết nó về nơi đâu! Nhưng đó là những con đường có hàng cây đẹp làm em mơ mộng, nổi máu muốn làm thơ.
Cái hôm mình đi ăn đám cưới một người bạn, em còn nhớ không? Chỉ vì anh đi theo những con đường thơ mộng đó theo bất chợt cảm hứng của em, mà đến trễ 3 tiếng đồng hồ, vượt hẳn kỷ lục đi trễ của người Việt Nam mình khá xa!
Yêu em nên anh ráng hy sinh, nhưng chuyện chiều chuộng em cuối cùng vừa rồi thì anh chịu hết nổi, và em có còn nhớ không? Đó là một buổi chiều Chủ Nhật, ngày vui của Weekend đã tàn, ai cũng cần nghỉ ngơi để thứ Hai đi làm, trời lại đang gió mưa, thật ấm cúng khi được ngồi ở nhà ăn bữa cơm chiều, hay xem tivi, đọc báo… thì em phone cho anh, đến gặp em gấp. Anh vội vàng thay đồ đến nhà em, tưởng em đang gặp chuyện gì khó khăn, cần có anh giúp một tay. Thì ra em rủ anh đi dạo phố chiều mưa với em cho… vui, cho romantic. Em ơi, lúc đó mẹ anh mà bị bệnh, kêu anh ra chợ mua cho bà hộp thuốc, chưa chắc gì anh muốn đi, nhưng vì yêu em, thấy em phấn khởi, thích thú quá, anh đành chiều.
Trời mưa rả rích, gió lạnh từng cơn, trên con đường lá rụng ướt đẫm nước mưa, anh cầm dù che cho em là chính, còn anh hứng toàn bộ cơn mưa, ngày xưa còn bé, anh khoái tắm mưa, còn hôm đó anh tắm mưa bất đắc dĩ, mưa ướt anh từ đầu đến chân, người anh run lên vì lạnh, nhưng anh không dám kêu ca, để tôn trọng tâm hồn thi sĩ của em, để cho em hoàn tất được ý thơ cho bài “Hai đứa đi trong chiều mưa gió”.
Khi bài thơ ấy được đăng báo, may ra có một vài người cảm động vì thơ em, nhưng anh phải đánh đổi với cái giá rất đắt, suýt nữa bằng cả một sinh mạng! Anh về nhà, tối hôm đó bị cảm lạnh, lên cơn sốt cao hừng hực, mẹ anh biết chuyện vừa xót xa thương con vừa tức giận, mắng anh là thằng ngu! Nó đã dở hơi mà mày cũng dở hơi theo nó đi trong mưa như thế à? Tao nói cho mày biết nhé, dù con dở hơi ấy có giàu, có đẹp đến đâu cũng không bao giờ tao muốn nó về làm dâu nhà này (Anh xin thề đây là nguyên văn lời của mẹ anh, chứ anh không nỡ gọi em là “con dở hơi”, cho dù anh thấy điều ấy cũng… không sai).
Hôm sau anh phải nghỉ làm, đi Bác sĩ và nằm nhà suốt tuần.
Em, một người làm thơ, có tâm hồn nhạy cảm vô song, một chút nắng đổi màu, một cơn gió xao xác chuyển mùa, hoa lá kia đang nở hay héo tàn… em biết ngay, em sản suất ra thơ ngay. Nhưng anh nằm ốm bệnh lu bù ở nhà thì em không biết, em chẳng đoán ra, chỉ gởi những lời nhắn khơi khơi trên e-mail hay cell phone là “Gọi lại cho em gấp ! Đến nhà em gấp!”.
Em không hề thắc mắc là vì sao anh vắng mặt, vì sao anh im lặng, mà chỉ ra lệnh cho anh đến với em.
Sau trận ốm suýt chết oan đó, đọc thấy lời nhắn của em, anh sợ quá, sợ em lại rủ anh đi trong một cơn mưa gió cho một bài thơ khác sắp hiện ra trong đầu em, hay bắt anh chở đi lòng vòng khắp các nẻo phố phường có hàng cây lá đẹp, đến chóng cả mặt, và tốn cả xăng, thời buổi kinh tế khó khăn, giá dầu thô lên 82 đồng một thùng, em biết chưa?
Nhờ trận ốm đó, anh đã tìm ra một chân lý là “Đừng yêu người làm thơ”, những đứa làm thơ như em, chỉ làm thiệt hại đến người khác, chỉ nương tựa vào người khác. Anh đến nhà em, lần nào cũng thấy mẹ em đang nấu cơm, chưa bao giờ anh thấy em đứng trong bếp, dù chỉ để cắt một cọng hành! Anh dám chắc là trong đời em chưa bao giờ biết luộc rau muống, chứ đừng nói tới các món cầu kỳ khác! Thế mà đã mấy lần em mời anh đến nhà ăn cơm chiều, em tự hào khoe, mẹ em kho cá, mẹ em nướng thịt ngon lắm, hay bất cứ món gì khác, mẹ em đều nấu ngon hết.
Em ơi, nếu anh lấy em, ai sẽ nấu cơm cho anh ăn? Nên anh đã tưởng tượng ra thảm cảnh tương lai, anh sẽ phải làm bếp và nếu có con anh sẽ kiêm luôn phần trông con, giặt giũ, quét dọn nhà cửa, để cho em rảnh tay làm thơ. Vì thế, anh quyết định chia tay em để quen với người khác, một con người thực tế 100%, không biết làm thơ gì cả ! Chẳng sao, anh mở báo, mở net ra, có cả đống nhà thơ cho anh đọc, cần gì phải cưới một nhà thơ về để phải chiều nó cho mệt cuộc đời? Còn người vợ thực tế của anh sẽ biết đi chợ, sẽ biết lo cho anh miếng ăn, giấc ngủ.
Anh may mắn thoát khỏi tay em, nhưng anh chưa yên tâm đâu, sau này anh sẽ để di chúc truyền đời cho các con, các cháu anh để cho chúng biết mà tránh xa “Đừng yêu người làm thơ”.
Hôn em lần cuối.
Tái bút: Dù sao anh cũng luôn cầu mong em sớm kiếm được một người khác để thay anh dìu em đi trong mưa cho những bài thơ sắp tới của em (anh tin rằng cuộc đời này lúc nào cũng có sẵn những thằng ngu như anh).
Đọc xong lá thư tôi vừa tức vừa đau khổ, yêu tôi được lãng mạn thế, anh không happy thì thôi, mà còn kết tội tôi và chấm dứt mối tình đang tha thiết . Tôi vùi đầu trong chăn, trong gối, để mặc cho nước mắt tuôn rơi và cõi lòng tan nát.
Nhưng tôi chợt vùng dậy, chạy ra lấy giấy bút ghi vội một đề tài, một câu thơ vừa xuất hiện trong đầu, vì trong đau khổ hồn thơ bỗng lai láng, nên dù buồn đứt ruột vẫn có xen lẫn một chút vui thú vì câu thơ vừa ý. Nay mai tôi sẽ có bài thơ đăng báo là “Hai đứa chia tay trong chiều mưa gió”. Và nếu đúng như lời Quang đã nói trong thư, tôi lại chờ đợi một anh chàng ngu ngơ, lù khù nào đó sẽ đi vào đời tôi, để tha hồ mộng mơ tiếp, và hi vọng lần này sẽ… kiếm được một tấm chồng có tâm hồn đồng điệu, biết yêu người làm thơ.

Nguyễn Thị Thanh Dương

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Image


Phim Sad song of yellow skin
http://www.nfb.ca/film/sad-song-of-yellow-skin/
Một cuốm phim tài liệu :dài đúng 58 phút về
những mảnh vụn,xã hội,khu bình dân và đặc biệt là
-âm thanh thật rõ,hình ảnh đẹp nét,
-phim có cảnh áo dài trắng,xích lô,gắn máy .GI,
-phóng viên ngoai quốc nói được tiếng Việt (tuy không rành rẽ lắm) cậu bé VN nói tiếng anh "như máy"...
Những hình ảnh này làm chúng ta nhớ nhiều đến Saigon 40 năm trước ở khắp hang cùng ngỏ hẻm SG.
Đặc biệt có đoạn nói về sinh hoạt của ông Đạo Dừa ở Cồn Phụng.chuyện ông "đi hàng ngày từ SG ra HN" mà chúng ta ít nghe nói hay thấy như trong phim này.

http://www.nfb.ca/film/sad-song-of-yellow-skin/

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Ðèn khuya hiu hắt

Huy Phương
Tôi thật tình không muốn chọn những đề tài kiểu “năm Dần nói chuyện Cọp” nhưng hình như mỗi mốc thời gian thường để lại trong lòng chúng ta những cảm xúc, có khi thoáng qua, nhưng cũng có khi dai dẳng. Ngày Memorial giờ đây thực đã qua rồi, những nén nhang trên những nấm mồ đã tắt, còn lại những chân hương lạnh lẽo, những bó hoa thắm sắc trong nghĩa trang đã héo tàn dưới cơn nắng và gió của Santa Ana. Mọi người đã trở lại với đời sống hằng ngày, chạy theo những bánh xe quay, và hình ảnh những người chết không còn để lại gì trong ý nghĩ của chúng ta, lẽ cố nhiên chúng ta không thể đắm mình trong tưởng nhớ mà bỏ quên đời sống thực tại hiện hữu mỗi ngày.

Bản tin mới nhất, loan báo trong tuần qua, người lính Mỹ thứ 1,000 đã nằm xuống trong trận chiến tại Afghanistan. Ôi, con số 1,000! Một nghìn đồng bạc, không nhỏ tuy nhiên không là một số tiền lớn. Một nghìn đóa hoa, đã nhiều, nhưng chưa đủ để kết một cái xe hoa trong ngày Rose Parade. Một nghìn người trong một cuộc biểu tình, di chuyển, đi lại, đã là đông. Chúng ta chưa tưởng tượng ra được một nghìn người chết vì bom đạn, “chết thật tình cờ, thịt da nát tan”. Họ nằm xuống ở xa, trước khi lìa đời không nắm được bàn tay người thân. Một nghìn cái quan tài bọc kẽm được đưa về quê hương trên những chuyến bay dài qua những đại dương. Một nghìn ngôi mộ “đều như nấm” có cắm cây Thánh Giá trong nghĩa trang quốc gia Arlington. Một nghìn gia đình buồn khổ vấn khăn tang.

Thế mà trong cuộc chiến Việt Nam, nước Mỹ đã mất 58,000 người. Trong số người tử trận có đến 61% là những thanh niên dưới 21 tuổi, người trẻ nhất chỉ mới 17. Cũng trong ngày 6 tháng 6 cách đây 66 năm, trong cuộc đổ bộ tại bờ biển Normadie, nước Mỹ đã mất 2,499 quân nhân mà xương cốt của họ đã nằm lại trong lòng đất nước Pháp, nhiều người không còn tên tuổi, họ chết như những người lính vô danh, không có đến một cái tên khắc trên bia mộ. Tuổi của họ cũng còn rất trẻ. Người ta ghi nhận ngay phút đầu tiên đổ bộ lên bờ biển Omaha Beach, 19 thanh niên của một thành phố nhỏ của tiểu bang Virginia là Bedford đã ngã xuống vì hỏa lực và mìn bẫy của địch. Những người này còn quá trẻ để người ta gọi họ là “boys” trong tác phẩm “The Bedford Boys” của Alex Kershaw. Những người lính này là những chàng trai trẻ, vừa rời khỏi ghế nhà trường, chưa hề hưởng được chút thú vui của cuộc đời đã hiến tuổi xuân xanh theo tiếng gọi của tổ quốc.

Ðể bảo vệ miền Nam, 220,357 người lính VNCH đã tử trận mà không phải ai cũng được trở về “trên chiếc băng ca” hay “trên chiếc trực thăng sơn màu tang trắng”. Máu họ đã thấm vào lòng đất trên những địa danh vẫn nghe trong những bài hát chinh chiến xót xa của một thời. Cũng có những người lính lấy con tàu và đại dương ôm ấp hình hài như 58 chiến sĩ hải quân đã chết cho vùng biển máu thịt của quê hương.

Ðể quyết xâm chiếm miền Nam 1,176,000 người lính Bắc quân Cộng Sản “sinh Bắc tử Nam” đã không còn cơ hội sống còn. Một vài trăm cái nghĩa trang sơn xanh quét đỏ trên khắp đất nước, từ tỉnh lỵ đến xã ấp xa xôi không đủ chỗ cho con số hơn triệu xương cốt, hầu hết đã tan nát theo cỏ cây trên núi rừng, lạch suối trên cả hai miền Nam Bắc cho tham vọng của chủ nghĩa của một số người.

Người chết thường bị chóng lãng quên. Người chết là lá vàng ủ mục cho những hạt nẩy mầm nhú lên mặt đất, làm phân bón cho những cây con chóng lớn lên. Ðã nhiều người lính chết cho chiến công của một người. Ðã nhiều người lính chết cho những người sau lưng họ được sống. Ðã nhiều người lính chết chỉ là phương tiện cho cứu cánh của một thiểu số cầm quyền. Chỉ với một cái gật đầu trên bàn hội nghị, một nét bút chì mỡ trên bản đồ hành quân, bao nhiêu xương máu phải đổ ra ngoài trận địa.

Thế giới đã trải qua nhiều thế kỷ dài và triệu triệu người lính đã chết, họ chết trong hy vọng tạo nên một tương lai tốt đẹp hơn, hòa bình, hạnh phúc hơn nhưng cuối cùng thế giới lại đắm mình trong những cơn xâu xé tàn nhẫn, với bom đạn tối tân hơn, kỹ thuật giết người tinh vi hơn và với những lý do nghe qua có nhiều sức thuyết phục hơn. Chiến tranh máu lửa chưa hề có một ngày ngơi nghỉ, lụi tàn trên trái đất này và cái chết của những người lính chỉ là những con số vô hồn, ở nơi này hay ở nơi khác, trên một góc nhỏ khiêm nhường của một tờ nhật báo hay trên môi người xướng ngôn viên xinh đẹp của màn ảnh nhỏ vào tối hôm nay, trong lúc gia đình đang quây quần với nhau trong bữa cơm chiều.

Chúng ta có thể nào hiểu nỗi tâm trạng của những gia đình có chồng, có cha, có con đang đi “vào nơi gió cát”. Những bản tin làm nhói nỗi đau, gây muộn phiền và lo sợ cho những người thân của mình, đêm nay không biết ở đâu trên những vùng đất xa lạ, ngút lửa tranh chấp, hận thù. Trong thời đại với kỹ thuật thông tin ngày nay, tin xấu về còn nhanh hơn những tia chớp ngoài kia, nhưng đã có một thời, người mẹ Việt Nam, nuôi đứa con lớn lên trong nghèo khó, nhọc nhằn, đã gởi đứa con đi theo tiếng gọi, nhân danh cho những điều cao đẹp trên đời, để cuối cùng thay vì nhận lại đứa con rắn rỏi, tự tin, trưởng thành, tươi cười rạng rỡ bên mẹ sau những ngày xa cách, là những tờ “biên lai” ghi công vô hồn.

Trên mặt địa cầu này đã có bao nhiêu tượng đài ghi công, bao nhiêu vòng hoa tưởng niệm, bao nhiêu bài diễn văn vinh danh, ca ngợi nhưng không có gì bền bỉ, trung kiên bằng tấm lòng người mẹ nghĩ đến đứa con mất. Tôi biết chuyện một người mẹ, từ ngày đứa con ra đi chiến trường và không bao giờ trở lại, mỗi đêm đi ngủ bà vẫn để lại ngọn đèn chong. Trong ý nghĩ của người mẹ, đứa con về trong đêm sẽ biết hướng trở lại nhà. Sẽ không bao giờ có tiếng đập cửa và tiếng kêu: “Mẹ ơi, con về đây!” nhưng ngọn đèn khuya mỗi đêm vẫn còn đó.

Trên những xóm làng mà bạn đã đi qua, bạn đã có dịp nhìn thấy những ngọn đèn khuya hiu hắt trong đêm, bạn đã thấy những đốm lửa thấp thoáng bên kia sông như những nỗi buồn xa. Hãy hình dung đó là những ngọn đèn của những người mẹ thắp lên mỗi đêm để chờ đứa con về, những đứa con chết ngoài chiến trường trong lúc còn rất trẻ.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Bài Viết về "Tình Khúc Mùa Đông"
- Thanh Trang

Dalat 1968.

Rời khỏi quân Trường Thủ Đức vào giữa tháng 10, cuối tháng đó tôi đã có mặt ở Dalat để trình diện tại Trường Võ Bị Quốc Gia với chức vụ Giáo Sư Kinh Tế. Qua tháng 11, mùa Đông ở vùng này, người bạn gái tôi quen ở trường Luật từ nhiều năm trước, lúc bấy giờ làm việc tại Sài Gòn, cùng với cô em gái lên thăm tôi. Hai chị em ở lại đấy một tuần lễ. Thị Xã Dalat xem trên bản đồ thì với các vùng phụ cận, Ấp này Ấp nọ, trông có vẻ rộng, thế nhưng những khu vục có nhà cửa phố xá xây cất từ sang trọng đồ sộ cho đến “coi đuợc” về mặt xây cất thì cũng “vầy vậy thôi” chứ chả có thấm tháp gì so với Thị Xã Đà Nẵng chẳng hạn! Có những sĩ quan cao cấp trong QLVNCH lên đấy tham dự các lớp học quân sự chuyên ngành chừng dăm bữa nửa tháng đã có lần đùa với tôi rằng những khu phố chính của Dalat, xung quanh chợ Hòa Bình, chỉ cần hít một hơi thờ cho sâu, đi giáp hết một vòng rồi thì mới cần hít thở bình thường trở lại !

Kể như thế là để dẫn đến sự thể là khi người bạn gái của tôi lên thăm thì chúng tôi thường quanh quẩn nơi khu phố xá trên và dưới chợ Hòa Bình, rồi vài đọan quanh bờ hồ Xuân Hương, chỗ có ngôi nhà “Thủy Tạ”, rồi dắt nhau lên mấy ngọn đồi tiếp giáp với bờ hồ, từ đấy có thể ngó vè phía Giáo Hoàng Chủng Viện, Viện Đại Học Dalat và khu trường Yersin ở hướng Đông Bắc. Chẳng đi đâu xa hơn như Hồ Than Thở, “Thung Lũng Tình Yêu”, v.v… Phần vì trời lạnh, phần vì trong ngày có những giờ giấc tôi vẫn phải ra vào quân trường, và chủ yếu cũng vì khi người ta yêu nhau và có nhau bên cạnh thì hình như cũng chả cần đến ngọai cảnh cho lắm! Đi lang thang đây đó là khi người ta buồn tình đời gì đầy kìa!

Gần nhau như thế khoảng một tuần thì đến ngày tạm biệt. Cô ấy về lại Sài Gòn rồi thì tôi bắt đầu có những mối băn khoăn lớn. Quen biết, gần gụi với nhau đã nhiều năm thì tất nhiên cũng phải nghĩ đến chuyện chừng nào thì lấy nhau làm vợ làm chồng. Tôi là đàn ông con trai, năm ấy mới có hai mươi sáu thì chả có làm sao cả, thế nhưng người ta là con gái, mà con gái trên hai mươi lăm thì người ta rất “làm sao” từ cữ tuổi ấy trở đi!

Trước kia còn quanh quẩn với nhau ở Sài Gòn thì không nói làm gì, nhưng bây giờ đã là một sự “đôi ngả đôi ta” về mặt khoảng cách; và tôi lúc ấy cũng đã bắt đầu suy nghĩ cho thật kỹ về kế họach nhà trường gửi các Giáo Sư của mình đi ngọai quốc du học. Không phải tu nghiệp mà là du học, bởi trình độ giảng dạy cho Sinh Viên Sĩ Quan về mặt văn hóa trong bốn năm đã tương đuơng với bậc Đại Học trong toàn quốc.

Những ngày như thế thì chiều đến, sau giờ làm việc ở quân trường, tôi mới bắt đầu lang thang ở những quán cà-phê nổi tiếng phía bên trên khu chợ Hòa Bình! Bắt đầu lang thang đến khu nhà “Thủy Tạ” ven hồ. Bắt đầu lang thang lên mấy ngọn đồi giáp ranh với bờ hồ, nhìn ngang ngó ngửa giữa trời mây non nước trong tư thế “trầm ngâm”. Lúc bấy giờ đã qua tháng Mười Một trong năm. Có nghĩa là ban ngày trời dã lạnh thì đêm đến lại lạnh hơn, và sương sớm hay sương khuya cũng dày đặc hơn.

Một đêm như vậy, tôi trở về khu Cư Xá dành cho Sĩ Quan Độc thân là cái Khách Sạn Thủy Tiên II mà chính phủ đã trưng dụng! Người cùng phòng với tôi là một anh Kỹ Sư Điện mà trùng hợp thế nào trước đấy cùng chung Đại Đội với tôi ở Thủ Đức, cùng về trình diện một ngày với tôi ở quân trường, được bổ nhiệm làm Giáo Sư trong Khoa Điện, rồi cũng lại đuợc sắp xếp cho ở cùng phòng với tôi tại khu Cư Xá Sĩ Quan! Suốt mấy tuần liền anh ấy mất ngù triền miên. Hỏi lý do thì khai ra rằng “vì nhớ cô bồ ở Sài Gòn”. Tôi hỏi :”Thương nhau nhiều không ?” Đáp :”Tụi tôi thương nhau lắm! Trước sau gì cũng lấy nhau!” Tôi nói :”À, thương nhau và gắn bó với nhau cỡ đó rồi có mất ngủ thì ít ra cũng còn có lý“! Vậy thì nếu như anh bạn cùng phòng có mất ngủ vì nhớ người yêu thì riêng tôi lại chả có sao cả, tôi vẫn ngủ bình thường ! Bây giờ nhìn lại thì tôi mới sực nhớ ra là suốt một cuộc đời, dù trong hòan cảnh nào đi nữa tôi cũng không bị chứng mất ngủ. Kể cũng lạ! Có điều là khi nào “trâm ngâm” hay “tư lự” thì tôi “trầm ngâm”, “tư lự”. Nhưng bình thường ra thì tính tôi thích trào lộng. Một hôm như thế, tôi hỏi anh bạn cùng phòng :”Này ! Cậu thương cô bồ của cậu như thế! Nhưng cậu có chung tình với cô ấy không?” Đáp :”Chung chứ sao lại không chung?” Tôi hỏi:”Anh em đàn ông con trai với nhau tôi hỏi thật: Vậy chứ có bao giờ cậu nằm mơ thấy mình giao du thân mật với một người con gái khác hay không ?” Bấy giờ đến lượt anh ta trâm ngâm vài giây nhưng rồi gật gù, trả lời :”Cũng có!” Tôi nói :” ! Thế thì có khi nào cậu nghĩ rằng cô bồ mạ cậu thương nhớ đến mất ngủ hàng đêm thì có khi chính những đêm cậu mất ngủ cô ấy lại mơ dung dăng dung dẻ với một anh nào khác?” Anh bạn cùng phòng nhìn tôi đăm đăm, nói hấp tâp :”Ờ nhỉ? Ờ nhỉ?. Rồi với nét mặt cau có:”Nhưng ông ăn nói cái kiểu ấy thì tôi lại càng thức trắng đêm thêm! “ Tôi đâm chột dạ vì hình như mình có sơ hở điều gì đấy cho nên vội vàng trấn an anh bạn :”Ấy chỉ là giả thuyết thôi cậu ạ! Miễn sau này người ta chịu lấy cậu là đuợc, còn họ có mơ thấy ai khác thì tốt hơn cả là mình cứ coi như không biết cho nó khỏe cái tâm thân!” Anh bạn lại càng cau có :”Đâu có đuợc!”

Không đầy nửa năm sau thì anh bạn ấy đuợc biệt phái trở về Sài Gòn. Tôi đi du học trở về nước vào năm 73, một buổi chiều đi ngang khu Bưu Điện Sài Gòn, thấy có ai đứng một bên đuờng kêu tên mình ơi ới. Hai bên cùng băng qua đuờng để tay bắt mặt mừng với nhau thì đấy không ai khác hơn anh bạn cùng phòng năm xưa như vừa mới kể. Người đi bên cạnh anh ấy mà anh ấy giới thiệu là vợ thì cũng không ai khác hơn cô gái mấy năm xưa khiến anh chàng mất ngủ triền miên ở Dalat! Trông mặt là tôi nhận ra liền, bởi anh chàng kia để hình cô nàng nơi bàn ngủ đầu giường tại căn phòng của khu Cư Xá Sĩ Quan độc thân của Trường Võ Bị Quốc gia khi xưa!

Anh Kỹ Sư tên Đức, người bạn tôi vừa kể ở trên là người đầu tiên nghe bài “Tình khúc mùa Đông” qua tiếng đàn ghi-ta của tôi ngày ấy. Một đêm, khoảng hai ba giờ sáng tôi chợt thức giấc, lấy giấy kẻ nhạc ra, bật đèn lên để viết các nốt nhạc cho đoạn giữa của bài hát. Hình như trong giấc ngủ thì tâm trí của con người ta vẫn tiếp tục làm việc. Trọn ngày hôm sau, dù là đi đâu hay đang làm gì thì đầu óc tôi cũng cứ quanh quẩn với phần lời hát. Khuya đến, tôi ngồi chép lại toàn bộ lời hát như trong ngày mình đã tạm coi như ưng ý. Xong rồi thì lôi đàn ra đàn từ đầu đến cuối để coi xem lời hát và giai điệu đi với nhau ra sao. Ở giường phía bên kia, anh bạn cùng phòng nằm nghiệng, một tay chống cằm, lắng nghe. Nghe xong thì anh ta lò dò buớc đến bên cạnh tôi, cầm bản nhạc lên đọc lời và yêu cầu tôi đàn lại cho anh ta nghe! Nghe xong anh ta kết luận :”Thế này thì ông lại càng làm tôi nhớ cô bồ của tôi thêm nữa! Ở chung phòng vói ông thật là tai họa !”

Cách đó ít ngày tôi gừi bài hát cho Mai Hương ở Sài Gòn. Mai Hương là người đầu tiên hát bài này trong ban nhạc của Nhật Trường bên Đài Quân Đội. Sau Mai Hương thì đến phiên Nhật Trường hát . Nhật Trường hát xong rồi thì tìm người liên lạc với tôi để xin đuợc xuất bản!

Ngày Nhật Trường lái chiếc xe “Simca 1000” đến tận nhà tôi ở ngôi biệt thự thuộc khu Anh Phú, trên đuờng đi Thủ Đức, để giao tận tay cho tôi mấy chục bản đặc biệt, để có dấu mộc và chữ ký của tác giả, thì ít hôm sau tôi đã lên máy bay Boeing rời khỏi nước, đi du học. Người vợ của tôi lúc ấy, và cả cho đên bây giờ, là nhân vật nữ trong bài “Tình khúc mùa Đông”.

Thanh Trang
Nam Cali, mùa Đông 2008

Tình Khúc Mùa Đông
Nhạc & Lời : Thanh Trang
Tiếng Hát : Ngọc Hạ


Image

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Tình Trạng Sức Khoẻ Hiện Tại Của Nhạc Sĩ Từ Công Phụng
Mới các bạn xem Interview with Musician Tu Cong Phung tại tư gia ở Oregon

June 6th- 2010


User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Những Hình ảnh chỉ có ở VN :

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Dành Cho Các Bạn Mê Đá Banh Trong Mùa World Cup
Thích coi đội nào cứ click vào tên đội đó là biết hôm nay đội mình thích
có đá hay không và đá với ai.Có luôn kết quả của trận đấu



http://www.marca.com/deporte/futbol/mun ... glish.html

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Image


Y Vân, áng mây hồng của nhạc Việt

Quỳnh Giao


Y Vân là nhạc sĩ di cư tử Bắc vào Nam sau Hiệp Ðịnh Genève. Cũng từ sau 1954 ông mới được biết đến tên tuổi qua tác phẩm “Lòng Mẹ”, một ca khúc viết về Mẹ được hát nhiều nhất.

Theo lời kể chuyện của nhà văn Duyên Anh, thì Y Vân là người con chí hiếu. Lúc di cư, hai người đi cùng chuyến tầu. Y Vân đi cùng bà mẹ và em trong chuyến vượt tuyến. Hàng ngày Y Vân hầu hạ mẫu thân rất mực hiếu đễ, mà bà mẹ lại rất khó tính, tối ngày la mắng ông, nhưng không bao giờ ông cãi lại hoặc tỏ ý buồn lòng, khó chịu.


Nét hiếu đễ ấy, ít người biết tới khi chỉ nghe ca khúc “Lòng Mẹ” một cách trừu tượng và không chú ý đến tác giả. Riêng với người viết, nhờ được biết ông từ ngày còn bé, Quỳnh Giao nghĩ rằng ông không chỉ hiếu thảo với mẹ mà còn đối xử tử tế, đôn hậu cùng mọi người. Với vóc dáng bé nhỏ nhưng rắn rỏi, nụ cười luôn nở trên môi và nhất là lối nói chuyện rất có duyên, Y Vân làm ai ai cũng quý mến. Ðấy là về con người mà là một con người rất khiêm cung, hiền hòa.

Về nghệ thuật thì thật khó phân biệt và liệt kê thể loại sáng tác tân nhạc của Y Vân. Ông là nhạc sĩ đa tài, viết đủ loại, từ nhạc tình, nhạc quê hương, đến nhạc Blues và nhạc kích động, và còn có tài phổ nhạc vào thơ...

Nói đến tình ca thì điều quan trọng là lời từ. Y Vân là một trong những người viết lời hay nhất của chúng ta. Quỳnh Giao xin đan cử một vài thí dụ. Hai ca khúc “Ảo Ảnh” và “Ngăn Cách” đều có lời ca tình tứ, thấm thía và sâu sắc như:

“Yêu cho biết bao đêm dài,
Cho quen với nồng cay
Yêu cho thấy bao lâu đài,
Chỉ còn vài trang giấy...
Yêu nhau trong cuộc đời,
mơ duyên tình dài,
gắn bó đôi lời.
Ta quen nhau một ngày,
thương nhau trọn đời,
giữ cho lâu dài.
Nhưng không ai nào ngờ,
duyên đang mặn mà bỗng đã chia lìa....
Ðêm chia ly lạnh lùng,
đưa tay một lần,
đến mai không còn...”


Và đây là lời ca bài “Ðừng Lừa Dối Nhau”, ông đề tặng những mối tình dang dở:

Ðừng lừa dối nhau, đừng nói “yêu” khi ta gần nhau.
Ðừng lừa dối nhau, vì biết đâu tin nơi “tình yêu”.
Có những phút mộng mơ, đừng cho ước mơ gợi lòng say sưa.
Thấy khi đôi vai kề, chắc đâu duyên thề, mà mơ...


Bài “Ngăn Cách” được coi là bài tủ của Minh Hiếu, và bài “Ðừng Lừa Dối Nhau” thì khó có ai hát hơn Duy Trác. Trên đây là lời từ về những mối tình đau khổ, bi đát. Nhưng Y Vân cũng sáng tác những bài tình ca hạnh phúc với lời ca trau chuốt, óng ả và thăng hoa hạnh phúc như bài “Tôi Sẽ Ðưa Em Về”:


Tôi sẽ đưa em về,
về miến đất thân yêu
Về kiếp sống cô liêu,
tình thương không còn thiếu.
Tôi sẽ đưa em về,
miền hoa thơm cỏ biếc,
chiều hôn trên làn tóc,
Mùa Thu in mầu mắt.
Tôi sẽ đưa em về, tôi sẽ đưa em về,
Mà không lo thiếu “Tình Yêu”...


Hay bài “Người Vợ Hiền” sau đây:

Lòng vợ hiền như dòng suối mát
Tình vợ hiền muôn đời thơm ngát
Ðôi mắt huyền như ánh sao đêm, những khi chờ mong
Người chồng xa vắng...


Ngày nay, đôi khi ta nên đọc lại lời ca thời ấy và so sánh với thời nay thì mới thấy được sự khác biệt của trình độ.


Loại nhạc tình tự quê hương của Y Vân rất dễ hát hay và dĩ nhiên cũng dễ chinh phục cảm tình của người nghe. Những bài “Non Nước Chung Tình”, “Bóng Người Cùng Thôn”, “Ðôi Mái Chèo Trăng”, “Thương Về Năm Cửa Ô Xưa”, “Tình Chàng Ý Thiếp”, “U Hoài”, “Xa Vắng”, v.v. đã trở thành loại ca khúc thành công của cặp song ca Ngọc Cẩm và Nguyễn Hữu Thiết (“Ðôi Mái Chèo Trăng”), của Thái Thanh (“Thương Về Năm Cửa Ô Xưa”), của Hoàng Oanh (“Tình Chàng Ý Thiếp”) và Thanh Thúy (“U Hoài”) hoặc Thanh Tuyền (“Xa Vắng”)...

Thể điệu Blues rất khó viết ra hồn và cũng khó diễn tả, nhưng các sáng tác loại này của Y Vân đều hát dễ hay và rất thịnh hành vào thời đó. Ðó là “Ðồi Thông” (“ngồi trên đồi vắng, bên gốc cây thông già...”) được ban Thăng Long trình bày rất đẹp. Hoặc “Ngoại Ô Ðèn Vàng” được Thái Châu thâu vào đĩa và bán rất chạy...

Có một ca khúc cùng loại rất hay với lời ca tân kỳ, mà ít được phổ biến là “Dung Nhan Mùa Hạ”:

Khi em tắm nắng,
cho tôi xin hai thước mặt trời,
vẻ dung nhan thần vệ nữ, ngàn đời...


Y Vân viết vào thập niên 60 bài Chacha đầu tiên để ngợi ca thủ đô miền Nam . Bài “Sài Gòn” này nổi tiếng đến độ khi được hỏi có biết hát nhạc Việt hay nói tiếng Việt không thì lính Mỹ đều hãnh diện xì xồ “ Saigon đẹp lắm, Saigon ơi, Saigon ơi!”

Khi cặp song ca kích động nhạc Hùng Cường và Mai Lệ Huyền trình diễn chung, ít ai để ý là họ hát toàn ca khúc Y Vân viết riêng cho họ. Kể ra thì có rất nhiều, tiêu biểu là những bài “60 Năm Cuộc Ðời”, “Cái Trâm Em Cài”, “Túp Lều Lý Tưởng”, “Tình Yêu Thủy Thủ”, “Lính Ða Tình”, “Một Trăm Phần Trăm” hay “Năm Anh Hai Mươi”... Giờ này còn mấy ai nghe lại để thương người lính và những mối tình lãng mạn thời chinh chiến?


Ðặc biệt Y Vân là người cầu kỳ trong loại thơ phổ nhạc. Ông thường dùng nguyên bài thơ, láy đi láy lại lời thơ làm phần nhạc thêm phong phú. Ðó là những bài “Người Em Sầu Mộng”, phổ thơ Lưu Trọng Lư:

Ai bảo em là giai nhân
cho đời anh đau buồn.
Ai bảo em ngồi bên song
cho vương nợ thi nhân.
Ai bảo em là giai nhân
cho lệ đêm xuân tràn.
Cho tình giăng đầy trước ngõ,
cho mộng tràn gối chăn...


Quỳnh Giao thì yêu thích nhất bài “Thề Non Nước” do Y Vân phổ thơ Tản Ðà theo nhịp Habanera, nhưng với âm điệu ngũ cung của đất Bắc và lối luyến láy dịu dàng mà giờ này không còn ai hát, nên có thể sẽ tuyệt tích.

Thật tiếc lắm thay...!

Nhạc sĩ Y Vân là một tài năng đa dạng, có nét độc đáo riêng. Dù sáng tác trên âm giai Tây phương, nhạc ông vẫn man mác nét buồn cổ kính Ðông phương. Và rất Việt Nam chứ không có hơi hướng Trung Hoa hay Nhật Bản như một số ca khúc viết trên giai điệu Á Ðông.

Ngoài tài sáng tác, Y Vân là một người soạn hòa âm rất chuẩn, và ban nhạc của ông được các đài phát thanh và các hãng sản xuất dĩa nhạc ưu ái mời công tác. Ông cũng có riêng một trung tâm băng nhạc mang tên “Mây Hồng”. Trước 1975, ông được coi như một trong những nhạc sĩ có đời sống sung túc. Nhưng với bản tính hiền hòa đôn hậu, ông sống bình dị, khiêm tốn. Có lẽ vì thế mà ít người biết đến thực tài của ông...

Vì sao chưa có chương trình riêng về Y Vân để đời nay biết nét tài hoa đa diện của ông

Post Reply