Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Re: Quán Vắng không Người ...3

Post by dauden »

Khi đàn bò chỉ huy chống Covid

Đình Ngọc

Image
Đàn bò vào thành phố năm 1975, rồi ở lại – Minh họa: Internet
Thành phố im lắng vào lúc 0 giờ ngày 9 Tháng Bảy vì lệnh giãn cách xã hội của… đàn bò.

Những con bò lãnh đạo đang ngủ say, nhưng nhiều người dân thành phố thì không. Dưới gầm cầu, trên vỉa hè, khu nhà trọ,… có người đói vã mồ hôi, vì trước khi thành phố đóng cửa, họ đã bị tước mất “cần câu cơm.”

Gói (cỏ) hỗ trợ 26 tỷ đồng đàn bò hứa hẹn vẫn còn nằm trên các trang giấy báo, vẫn chỉ ra rả trên tivi và radio.

Trong khi vài người mong nhận được chút tiền hỗ trợ, để mua một món ngon, ăn no trước khi chết! Nhưng nghĩ thế thôi chứ giờ có chút tiền, dân nghèo Sài Gòn cũng khó có thể tìm được thức ăn để mua. Hoặc nếu có đi siêu thị, chưa chắc họ đã dám mua vì giá cao ngất ngưỡng!

Có đời nào một cây bắp cải (ghi là nhập từ Úc) nặng 0.818 kg được đẩy giá lên đến 204,500 đồng, tính ra 250,000đồng /kg. Nếu quy ra đôla thì cây bắp cải “vàng” này có giá đến $4.95/lb.

Ở Mỹ, loại bắp cải Green Cabbage giống như thế được bán với giá 99 cent/4 lbs. Đúng vậy. Mua 4 lbs. chỉ phải trả có 99 cent (khoảng 20,000 đồng) thôi.

Tương tự như thế, giá bông cải xanh (broccoli) cũng đang lơ lửng trên trời ở mức $4.95/lb!
Giá rau củ quả tăng từ 300% đến 400% tại các siêu thị trong khi nhà nước cấm chợ đầu mối, chợ truyền thống, chợ tự phát của dân hoạt động – Minh họa: Facebook

Đã thế thì thịt cá còn lên giá đến mức nào nữa. Nhắm mắt cũng biết, làm sao người nghèo dám ăn cây bắp cải này?

Nguyên nhân dễ hiểu của việc tăng giá là đàn bò ở Sở Công Thương bắt đóng cửa toàn bộ chợ đầu mối, chợ truyền thống, chợ tự phát trước khi lockdown thành phố. Người dân chỉ được mua hàng ở các siêu thị. Quyết định “dồn dân về ấp chiến lược” của đàn bò Công Thương giống như lệnh cho phép các siêu thị “khai đao”, “chém” thẳng tay người tiêu dùng.

Mấy tay gian thương, có “ngu như bò” cũng biết “chém”! Cơ hội ngàn năm có một.

Những con bò lãnh đạo không nghĩ ra rằng, đang trong lúc dịch lây nhiễm mạnh như hiện nay, việc dồn người dân chen chúc mua sắm trong không gian siêu thị là hành động tự sát. Không gian kín như siêu thị chính là môi trường phát tán coronavirus nhanh nhất.

Chưa hết! Theo văn bản hướng dẫn thực hiện Chỉ thị 16, từ 0 giờ ngày 9 Tháng Bảy, các dịch vụ không thiết yếu, xe ôm công nghệ và xe ôm truyền thống, bán đồ ăn thức uống mang về, các đại lý vé số và bán vé số dạo… phải tạm dừng hoạt động.

Một con bò lãnh đạo nói rằng phải “tạm dừng hoạt động đối với các dịch vụ ăn uống mang về để bảo đảm công tác phòng chống dịch!”
Dù giá có “cắt cổ”, mấy quầy kệ thực phẩm ở siêu thị cũng nhanh chóng trống trơn – Minh họa: Facebook

Chắc con bò này nghĩ khi dân chết (đói) bớt, dịch cũng sẽ bớt theo kiểu tam đoạn luận: – Dịch truyền từ người này sang người khác – Thêm một người chết– Virus bớt truyền thêm một người?

Sau đó, bị người dân phản ứng, và chắc cũng thấy trong văn bản hướng dẫn này cũng có cái “ngu ngu”, đàn bò lập tức “sửa… ngu” như thế này:

Thành phố yêu cầu tăng lượng hàng thực phẩm chế biến sẵn ở các siêu thị; tổ chức tình nguyện viên đi chợ thay… trong thời gian dừng dịch vụ ăn uống mang đi, nhằm hỗ trợ một bộ phận người dân gặp khó khăn từ việc tạm dừng các dịch vụ ăn uống mang về trong 15 ngày thành phố giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16.

Theo đó, đàn bò lãnh đạo thành phố giao đàn bò Công thương yêu cầu các hệ thống phân phối tăng lượng hàng thực phẩm chế biến sẵn, phối hợp hệ thống giao hàng online; các hình thức phân phối trực tiếp đến tay người dân.

Có người chửi “chưa thấy con bò nào ngu xuẩn hơn đám bò này”, khi cấm đầu bếp chuyên nghiệp bán thức ăn, sau đó lại cho lũ con buôn vào nấu, với giá bán lẻ thực phẩm chưa chế biến đã cao hơn bình thường từ 300% đến 400%!

Nhưng có người lại không cho đó là “ngu xuẩn”, mà phải nói đây là “tầm nhìn” cao hơn… ngọn cỏ của đám bò lãnh đạo này khi tạo điều kiện cho đám con buôn ở siêu thị bóc lột người dân thêm một lần nữa.

Quả thật, “tầm nhìn” của đàn bò lãnh đạo từ thành phố tới trung ương này đã khiến một người dân- đồng thời là bác sĩ phát điên lên, đã viết một status khá dài, đưa lên mạng xã hội. Ông viết:

Họ chống dịch như thế nào nhỉ!?

Tôi nghĩ mãi và chua chát nhận ra: Họ chống dịch bằng nghị quyết.

Để ra nghị quyết, họ lấy ý kiến của Bộ Y Tế, do Bộ trưởng ký.

Ý kiến của Bộ Y Tế do các chuyên gia.

Các chuyên gia là ai: Là những viên chức thuộc quyền bộ trưởng, nói gì đẹp ý bộ trưởng thì nói.

Tôi có bạn, có em làm chuyên gia về lĩnh vực này, khi hỏi: Các ông bà ơi, sao không ai nói một câu cho Dân nhờ, làm theo cách này sai mất rồi. Thì được trả lời: Họp cãi nhau như mổ bò, nhưng bộ trưởng quyết theo ý bộ trưởng, chịu!

Bộ trưởng Y tế Việt Nam là ai!?

Là cán bộ tuyên giáo nhiều hơn là một vị tướng ngành Y.

(Hết trích)
Image
Con lạy mấy “bố” để yên cho con chống dịch – Minh họa: Facebook
Ông là Bác Sĩ Phạm Ngọc Thắng. Trong một status khác, ông Thắng nêu lên sự bất lực:

Còn nghĩ gì được nữa, dự báo xấu đã thành hiện thực: Sự bất lực của chính quyền trung ương đã dẫn tới việc ngăn sông cấm chợ tràn lan.

Mỗi tỉnh là một pháo đài chống covid, mỗi tỉnh là một khu tự trị, mỗi nhà là một tế bào nằm im chịu trận.

Việc đặt ra chiến dịch Tìm & Diệt Virus đã thất bại thảm hại như nó đã và sẽ chắc chắn như thế.

Tôi hận những kẻ coi thường quy luật của sự sống, ngạo nghễ ngu dốt đã đốt tiền thuế xương máu của Dân không thương tiếc.

(Hết trích)
Image
Trình độ chống dịch của đàn bò: Cho lập úp ghế đá công viên! Minh họa: Internet
Status của bác Sĩ Thắng khiến tôi nhớ đến câu nói để đời của Karl Marx:

“Chỉ có súc vật mới có thể quay lưng lại nỗi đau khổ của đồng loại, mà chăm lo riêng cho bộ lông của mình!” Là cha đẻ của chủ thuyết cộng sản, nên Karl Marx đã nhìn thấu tâm can những người cộng sản như thế.

Quay trở lại thành phố đang bị đóng cửa. Mặc cho dân tình ngơ ngác, đàn bò lãnh đạo vẫn đang gặm cỏ, loại cỏ nhập từ nước ngoài, rất ngọt. Chúng chăm chỉ ăn để lấy sức suy nghĩ thêm vài nghị quyết chống dịch nữa.

Dưới ánh nắng gay gắt của một ngày ngăn sông cấm chợ, những cái đầu bò rồi cũng chỉ cao hơn ngọn cỏ một chút thôi.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Re: Quán Vắng không Người ...3

Post by saohom »

Đảng Cộng Sản Trung Quốc – Một trăm năm nhục nhã!
Hiếu Chân

Image

Đảng Cộng Sản Trung Quốc đang chuẩn bị kỷ niệm 100 năm thành lập vào ngày 1 Tháng Bảy sắp tới. Trong nhiều công việc chuẩn bị, có một lĩnh vực mà Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình coi trọng nhất: viết lại lịch sử của đảng và đất nước Trung Quốc nhằm đề cao những thắng lợi – nhiều phần tưởng tượng hoặc phóng đại – và che giấu những tội ác ghê tởm mà đảng đã gây ra cho nhân dân Trung Quốc suốt 100 năm qua.

Lịch sử ô nhục

Đảng Cộng Sản Trung Quốc, cũng như các đồng đảng ở Liên Xô cũ, ở Việt Nam và một số nước khác, có truyền thống xuyên tạc lịch sử để phục vụ các mục đích chính trị trong từng thời kỳ. Những văn kiện được sửa đổi, hình ảnh bị bôi xóa, sách giáo khoa lịch sử và viện bảo tàng được chỉnh lý để ghi dấu cho đời sau những chiến công “hiển hách” chống thực dân đế quốc giành độc lập, những nhân vật anh hùng tưởng tượng sống giản dị khiêm tốn, một lòng một dạ hy sinh cho đất nước quê hương.

Nhưng như nhận định của tạp chí Foreign Policy, nghiên cứu lịch sử dưới chế độ Cộng Sản là “xóa bỏ lịch sử – xóa bỏ mọi dữ kiện trái với câu chuyện về thắng lợi hoàn toàn của đảng.” Không ở đâu thể hiện rõ chân lý đó hơn là công cuộc chỉnh sửa lịch sử đang thực hiện ở Trung Quốc hiện nay.

Cho đến thế kỷ 21, đảng Cộng Sản Trung Quốc tập trung chủ yếu vào lịch sử ô nhục của đất nước Trung Hoa dưới sự chèn ép của các cường quốc phương Tây và Nhật trong cái gọi là “Một Trăm Năm Nhục Nhã” từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, nhằm khơi dậy trong dân chúng nỗi căm thù thực dân đế quốc và ghi ơn công cuộc giải phóng của đảng Cộng Sản Trung Quốc, lập ra đời nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

Đài tưởng niệm, bảo tàng mọc lên như nấm sau mưa trên toàn đất nước Trung Quốc, ghi khắc bằng bê tông cốt thép câu chuyện hào hùng của đảng Cộng Sản Trung Quốc; sách giáo khoa và toàn bộ các phương tiện truyền thông đều tập trung quảng bá câu chuyện này mà không được đề cập đến những thảm cảnh mà người dân phải chịu đựng dưới sự cai trị độc tài toàn trị của đảng, dưới những chính sách “cách mạng” đầy hoang tưởng của các “lãnh tụ anh minh.”

“Bảy phần công, ba phần tội”

Chương trình Đại Nhảy Vọt (Great Leap Forward) năm 1958-1962 dẫn tới thảm họa hàng chục triệu người chết đói; nhiều nơi người dân phải ăn thịt lẫn nhau để sống; hay cuộc Cách Mạng Văn Hóa 1966-1967 phá hủy toàn bộ nền tảng tinh thần và đạo đức của người dân Trung Hoa và thủ tiêu hàng triệu sinh mạng… đều không được đề cập công khai; nếu giới nghiên cứu thỉnh thoảng có bàn tới những biến cố lịch sử khủng khiếp này thì đều cho rằng đó chỉ là những sai lầm, khuyết điểm trên con đường cách mạng và đã được sửa chữa; người khởi xướng ra chúng, ông Mao Trạch Đông, vẫn được đảng Cộng Sản Trung Quốc đánh giá là “bảy phần công, ba phần tội.”

Nhà lãnh đạo có quan điểm cải cách của Trung Quốc, ông Đặng Tiểu Bình, từng cố gắng diễn dịch lại lịch sử hiện đại Trung Quốc, không ngại phê phán một số sai lầm của cố Chủ Tịch Mao Trạch Đông trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa đầy thảm họa những năm 1966-1967. Nhưng Đặng không chủ tâm lật đổ Mao; hình ảnh của Mao vẫn ngự trị chính trường và xã hội Trung Quốc; chân dung của ông ta vẫn treo cao trên quảng trường Thiên An Môn.

Vạch ra những sai lầm của Mao là cách để Đặng lên án chủ nghĩa sùng bái cá nhân và chế độ cai trị độc tài của một “hoàng đế đỏ;” từ đó đưa ra một mô hình cai trị tập thể và thu hẹp dần sự thống trị của đảng Cộng Sản Trung Quốc trong đời sống kinh tế-xã hội Trung Quốc. Biến cố Thiên An Môn năm 1989 – hàng ngàn sinh viên biểu tình ôn hòa đòi cải cách chính trị dân chủ, đã dập tắt ý định cải tổ của Đặng về phương diện chính trị và lịch sử dù ông ta vẫn nỗ lực cải cách về kinh tế và thương mại để đưa Trung Quốc khỏi tình trạng nghèo đói kinh niên dưới thời Mao.

Ông Tập Cận Bình đi xa hơn trong công cuộc củng cố chế độ độc tài toàn trị bằng cách tập trung quyền lực vào tay cá nhân ông và tái lập sự kiểm soát toàn diện của đảng Cộng Sản Trung Quốc, kể cả viết lại câu chuyện lịch sử Trung Quốc để thúc đẩy dân chúng ủng hộ đảng của ông. Tháng Giêng, 2013, tức là chỉ vài tuần sau khi lên làm tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc, ông Tập đã chỉ thị cho các cán bộ cao cấp của đảng phải cảnh giác với các thế lực thù địch đang tìm cách lật đổ đảng Cộng Sản Trung Quốc bằng cách bôi nhọ lịch sử của đảng.

Image
Quảng trường Thiên An Môn năm 1988. Hình: Derzsi Elekes Andor/Wikipedia.



Tài liệu mật số 9

Nhờ kinh tế phát triển mạnh dưới thời Đặng và những thập niên sau đó, Tập có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng một thứ chủ nghĩa dân tộc toàn trị, lấy đảng Cộng Sản Trung Quốc làm trung tâm, để chống lại trào lưu dân chủ hóa đang dâng trào như thác lũ trong thế kỷ 21.

Tháng Tư, 2013, Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng này đã cho lưu hành một tài liệu mật có tên “Thông cáo về tình trạng hiện hành của ảnh hưởng ý thức hệ” (Communique on the Current State of the Ideological Sphere), gọi tắt là tài liệu số 9. Cũng như mọi văn kiện quan trọng của đảng, toàn bộ đảng viên, cán bộ phải học tập và áp dụng vào công việc của mình.

Văn kiện nhấn mạnh tới việc khẳng định sự đúng đắn của đảng về ý thức hệ, yêu cầu giới truyền thông và mọi cơ quan phải tuân thủ đúng đường lối; ngăn chặn việc “đặt vấn đề sự thật lịch sử” mà phải tin vào quyết định của đảng đối với các sự thật đó. Lần đầu tiên, văn kiện này đưa ra khái niệm “chủ nghĩa hư vô lịch sử (historical nihilism): “Mục tiêu của chủ nghĩa hư vô lịch sử là núp bóng cái gọi là đánh giá lại lịch sử để bóp méo lịch sử đảng và lịch sử nước Trung Quốc mới,” văn kiện viết.

Từ đó lịch sử Trung Quốc hiện đại là câu chuyện do đảng Cộng Sản Trung Quốc đưa ra theo chỉ đạo của ông Tập Cận Bình, trong đó đảng Cộng Sản Trung Quốc là vị cứu tinh đưa dân tộc Trung Hoa thoát khỏi nỗi ô nhục trăm năm, xây dựng nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và đang trên đường thực hiện “giấc mộng Trung Hoa,” trở thành cường quốc thống trị thế giới.

Những tội ác của đảng này cơ hồ đã được gột sạch khỏi sách vở, truyền thông, sâu xa hơn là loại ra khỏi ký ức của người dân Trung Quốc. Sách vở không nói tới, và việc tìm kiếm thông tin trên mạng trực tuyến về những biến cố gắn liền với tội ác của đảng Cộng Sản Trung Quốc đều bị ngăn chặn triệt để đã làm cho những thảm họa đó phai tàn dần trong trí nhớ của người dân, nhất là khi các thế hệ chứng kiến hoặc nạn nhân của thảm họa đã qua đời mà không thể truyền lại ký ức cho con cháu.

Có một “Nước Cộng Hòa Nhân Dân Quên Lãng”

Vụ thảm sát Thiên An Môn chấn động địa cầu mới xảy ra chưa lâu (Tháng Sáu, 1989) chẳng hạn, gần như không người trẻ nào của Trung Quốc lục địa còn biết tới, đến nỗi nhà nghiên cứu Lousia Lim phải đặt tên cho công trình khảo cứu về vụ Thiên An Môn của mình là “Nước Cộng Hòa Nhân Dân Quên Lãng” (The People’s Republic of Amnesia) – cuốn sách được tuần báo The Economist bình chọn là xuất sắc nhất năm 2014.

Hai năm trước, ông Tập cho thành lập Viện Hàn Lâm Lịch Sử với nhiệm vụ “chỉnh đốn quan điểm về lịch sử,” chuẩn bị cho đại lễ 100 năm thành lập đảng Cộng Sản Trung Quốc. Một trong những công việc chính của viện là chỉnh sửa bộ sách “Lịch sử tóm tắt đảng Cộng Sản Trung Quốc,” xuất bản hồi Tháng Hai, 2021, dùng làm tài liệu học tập trong đảng và trong hệ thống trường học Trung Quốc.


Trong bản sửa đổi này, các chương sách “những bài học lịch sử không nên quên” dưới thời Mao như cuộc Đại Nhảy Vọt và Cách Mạng Văn Hóa – hàng loạt vụ thanh trừng “các phần tử phản cách mạng” tàn phá xã hội Trung Quốc và hàng triệu người chết đều bị cắt bỏ. Thay vào đó các tác giả chỉ tập trung vào những thành tích công nghiệp, công nghệ và ngoại giao dưới thời Mao.

Ngay cả những châm ngôn của Đặng Tiểu Bình về cuộc đổi mới Trung Quốc cũng đã bị loại bỏ, kể cả lời dạy của ông Đặng rằng Trung Quốc phải “thao quang dưỡng hối,” ẩn mình chờ thời. Một phát biểu đáng chú ý của Đặng năm 1989 về cải cách cơ chế chính trị Trung Quốc, từ bỏ sự chuyên chế cá nhân để chuyển sang tập thể lãnh đạo: “Xây dựng số phận của một dân tộc trên danh tiếng của một hoặc hai người là chuyện rất không lành mạnh, rất nguy hiểm,” cũng đã bị ông Tập cho cắt bỏ.

Cuốn sách 531 trang còn dành một phần tư nội dung cho tám năm cầm quyền của ông Tập trong khi chỉ dành một nửa số trang như vậy cho Đặng Tiểu Bình, vị cứu tinh thực sự của đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Trước ngày kỷ niệm 100 năm thành lập đảng Cộng Sản Trung Quốc, đích thân ông Tập đã có nhiều bài phát biểu, bài đăng báo, đòi hỏi người dân Trung Quốc “đóng gói lại quá khứ” (repackage the past) để hướng tới sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Tạp chí Cầu Thị – tạp chí lý luận chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc – số 12-2021 ra ngày Thứ Tư, 16 Tháng Sáu, đã đăng trang trọng bài viết của ông Tập “nhấn mạnh nhu cầu hiểu biết lịch sử Trung Quốc, rút kinh nghiệm từ quá khứ, có cái nhìn đúng đắn về các sự kiện lớn, các nhân vật quan trọng trong lịch sử của đảng và của đất nước,” theo tường thuật của hãng tin nhà nước Tân Hoa Xã.

“[Bài viết của ông Tập] kêu gọi các đảng viên đảng Cộng Sản Trung Quốc, công chúng Trung Quốc nói chung, hãy học tập kỹ lưỡng và hiểu biết sâu sắc lịch sử của đảng và của nước Trung Hoa mới để tiến hành lý tưởng vĩ đại của chủ nghĩa xã hội,” Tân Hoa Xã ca tụng.

Tuyên truyền “công ơn của Đảng”

Ngày nay Trung Quốc đang đối mặt với những thách thức bên ngoài như áp lực của Hoa Kỳ và những bất đồng nội bộ chung quanh cách thức xử lý đại dịch COVID-19. Trong hoàn cảnh đó đảng Cộng Sản Trung Quốc phải ra sức dập tắt mọi ý định xét lại những tội lỗi của đảng trong quá khứ và cổ vũ cho ý tưởng rằng đảng là một lực lượng “bất khả chiến bại” đã đi qua chiến tranh và hỗn loạn để lèo lái sự trỗi dậy của Trung Quốc.

“Thông qua việc học tập lịch sử, sẽ không khó nhận ra rằng, không có sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Trung Quốc, đất nước và dân tộc Trung Hoa sẽ không thể có được những thành quả ngày hôm nay, không có được vị thế quốc tế ngày hôm nay,” ông Tập viết và khẳng định “Sẽ không được mơ hồ, dao động về nguyên tắc căn bản là duy trì sự lãnh đạo của đảng.”


Trước thời điểm bài viết của ông Tập đăng trên tạp chí Cầu Thị, báo The South China Morning Post đưa tin các cơ quan quản lý mạng Internet của nước này đã xóa bỏ hai triệu bài đăng trên mạng có nội dung thảo luận “nguy hại” về lịch sử, “đầu độc môi trường mạng” hoặc tấn công vào các nhà lãnh đạo và trái với câu chuyện chính thức của đảng về lịch sử Trung Quốc.

Cơ quan quản lý mạng Trung Quốc còn thiết lập “đường dây nóng” để công chúng tố giác những trường hợp “chủ nghĩa hư vô lịch sử,” tức là những bài viết, phát biểu phê phán các nhà lãnh đạo đảng, các chính sách của đảng hoặc phủ nhận “nền văn hóa xã hội chủ nghĩa tiên tiến.” Những người vi phạm sẽ bị xử phạt rất nặng theo một đạo luật an ninh mạng năm 2018.

Trong khi đó, cả xã hội Trung Quốc được huy động vào một chiến dịch học tập lịch sử quy mô chưa từng có từ sau thời Mao, thực chất là chiến dịch tuyên truyền về “công ơn” của đảng Cộng Sản. Các nhà hát dàn dựng những chương trình ca nhạc theo chủ đề “Không có đảng Cộng Sản, không có nước Trung Hoa Mới.”

Cán bộ đảng viên và sinh viên tranh nhau trong những cuộc thi tìm hiểu lịch sử đảng. Cơ quan kiểm duyệt soát lại sách báo sắp xuất bản để loại bỏ những câu chữ nói về tội ác độc tài của Mao. Bộ Giáo Dục đưa vào đề thi tuyển sinh đại học những câu hỏi về lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc để “hướng dẫn học sinh kế thừa mạch máu đỏ”…. Ngay cả các công ty tư nhân, văn phòng luật sư, thậm chí một đền thờ Thần Tài ở Thượng Hải cũng tổ chức các lớp học về lịch sử đảng cho nhân viên; các viện bảo tàng và đài tưởng niệm tổ chức các tour du lịch đỏ (red tourism); còn các hãng hàng không tổ chức hát tập thể và đọc thơ trên các chuyến bay về đề tài lịch sử đảng…

Các quan sát viên Trung Quốc và nước ngoài đều bình luận sự phục hồi các quan điểm cộng sản về lịch sử, phục hồi cung cách tuyên truyền thời Mao Trạch Đông hiện nay là nhằm giúp ông Tập Cận Bình biện minh cho chính sách độc tài cá nhân của ông ta và hợp pháp hóa tham vọng làm lãnh đạo trọn đời thay vì hai nhiệm kỳ trong cuộc đại hội sắp tới của đảng Cộng Sản Trung Quốc vào năm sau 2022.

Ông Cao Văn Sảnh (Gao Wenqian), nhà sử học của đảng Cộng Sản Trung Quốc, người viết tiểu sử Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai trước khi đào thoát sang Hoa Kỳ sau vụ thảm sát Thiên An Môn, nhận xét: “Mục đích [của việc viết lại lịch sử] là nhằm bảo đảm sự tồn tại của đảng Cộng Sản Trung Quốc và củng cố sự cai trị cá nhân vào thời điểm đang có những sự thay đổi chóng mặt trong tình hình quốc tế.”

Một số nhà sử học Trung Quốc phản đối việc viết lại lịch sử để phục vụ mưu đồ chính trị. Một giáo sư nổi tiếng ở Bắc Kinh đã từ chối lời mời của Viện Hàn Lâm Lịch Sử mời cộng tác trong dự án viết lại “Lịch sử tóm tắt của đảng Cộng Sản Trung Quốc” vì cho rằng “Họ đã không theo con đường nghiên cứu học thuật. Những người này làm chuyện này [sửa đổi lịch sử] chỉ để kiếm tiền và thăng quan tiến chức,” ông nói. Nhưng cho đến nay chưa có gương mặt nổi bật nào công khai phản đối việc xuyên tạc lịch sử mà đảng Cộng Sản Trung Quốc đang ráo riết thực hiện nhân kỷ niệm 100 năm thành lập.

Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Việt Nam


Những chuyện đang xảy ra ở Trung Quốc cũng có ở Việt Nam, do hai nước theo cùng một ý thức hệ Cộng Sản. Ở Việt Nam lịch sử là do “bên thắng cuộc” nhào nặn theo ý đồ chính trị của họ. Trong cái lịch sử giả tạo ấy, những tội ác của đảng Cộng Sản Việt Nam với đất nước, với dân tộc đều bị bôi xóa và các thế hệ sau sẽ không bao giờ còn biết tới.

Vụ “cướp chính quyền” từ tay chính phủ Trần Trọng Kim hồi Tháng Tám, 1945, cuộc thanh trừng các đảng phái quốc gia năm 1946, cải cách ruộng đất làm hàng trăm ngàn người chết và hủy diệt nền tảng văn hóa của xã hội miền Bắc những năm 1953-1955, vụ án Nhân Văn Giai Phẩm 1958-1960, vụ “Xét lại chống đảng” năm 1956 và cao điểm là cuộc xua quân xâm lược miền Nam 1959-1975… hoặc đều bị xóa khỏi ký ức hoặc được biện minh bằng những lời lẽ hoa mỹ “giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.”

Trong cả nước sau ngày hòa bình, những tội ác đày đọa hàng triệu quân dân cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, cải cách công thương nghiệp và cướp tài sản qua ba lần đổi tiền, chính sách đưa dân thành thị đi ra vùng kinh tế mới, đối xử kỳ thị bằng chủ nghĩa lý lịch, ép buộc hàng triệu người phải vượt biển tìm đường sống… đều không được đảng Cộng Sản Việt Nam chính thức thừa nhận dù họ luôn rêu rao hòa hợp hòa giải.

Bị nhồi sọ trong một thứ lịch sử giả tạo đó, thế hệ trẻ trong nước đang mất phương hướng, trở thành những con thiêu thân cho ý đồ của đảng. Tương lai của dân tộc thật là mờ mịt.

Ở hải ngoại, một số học giả và nhà nghiên cứu tâm huyết, như các ông bà Trần Gia Phụng ở Canada, Lê Mạnh Hùng ở Anh, Lê Xuân Khoa, Vũ Tường, Liên Hằng ở Hoa Kỳ vẫn nỗ lực tìm hiểu và viết lại lịch sử Việt Nam theo tinh thần khoa học, khách quan hơn. Công trình nghiên cứu lịch sử của họ, cùng với những trước tác đã xuất bản ở miền Nam trước năm 1975 như hồi ký của các cụ Trần Trọng Kim, Cao Văn Luận, Hoàng Văn Chí, biên khảo của Tạ Chí Đại Trường và nghiên cứu của nhiều học giả Mỹ, Pháp, Đức có thể giúp “đính chính” lại những sự bóp méo, xuyên tạc của đảng Cộng Sản ở trong nước.

Đây là những học giả tư nhân, kiến giải của họ có chỗ đúng có chỗ cần thảo luận thêm nhưng dứt khoát không phải là việc bóp méo lịch sử theo những yêu cầu chính trị của kẻ cầm quyền. Những nỗ lực như vậy cần được ủng hộ và nhân rộng.

nhuvan
Posts: 383
Joined: Sun Mar 27, 2016 8:29 pm

Re: Quán Vắng không Người ...3

Post by nhuvan »

Sài Gòn chống dịch: Hết thuốc chữa!
July 30, 2021

Hiếu Chân/Người Việt
Những ngày Tháng Bảy này, người xa quê không khỏi đau đớn khi nhìn về thảm cảnh dịch giã ở quê nhà. Sài Gòn, Sài Gòn thân yêu đã thực sự “vỡ trận.”
Image
Cảnh sát giao thông kiểm tra người dân ra đường tại giao lộ Bạch Đằng-Xô Viết Nghệ Tĩnh, Sài Gòn. (Hình: Minh Hòa/Tuổi Trẻ)
Những hình ảnh tưởng không bao giờ thấy trên báo chí nhưng nay lại hiển hiện: Hàng ngàn người gồng gánh trên xe gắn máy, xe đạp tìm cách rời khỏi thành phố – nơi từng là đất lành dung dưỡng họ; những hàng xe cứu thương dài dằng dặc chở tử thi từ các bệnh viện, khu cách ly đến trung tâm hỏa thiêu ở nghĩa trang Bình Hưng Hòa; những gương mặt thất thần trên đôi bàn tay chìa ra nhận hộp cơm cứu trợ sau nhiều ngày đói lả… Nhiều hình ảnh nhìn mà mắt cứ nhòa đi.

Không có từ ngữ nào có thể mô tả được nỗi đau thương, tuyệt vọng và phẫn uất của người Sài Gòn những ngày này trong vòng vây của giới nghiêm, phong tỏa, cách ly giữa lúc dịch bệnh và bạo quyền.


Một tháng trước, ngày 29 Tháng Sáu, trên trang báo này, chúng tôi đã có bài “Việt Nam chống dịch COVID-19: Tham lam và độc ác!” vạch trần những thủ đoạn tàn bạo của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam với nhận định: “một chính quyền vừa bất tài vừa tham lam và ngu dốt trong cuộc chống dịch, mà những chính sách tàn bạo của họ đang đẩy cả đất nước vào thảm trạng khó cứu vãn nổi.”

Bây giờ thì thảm trạng đó đang hiển hiện, ngày càng bức bối và thê thảm. Theo truyền thông trong nước, Sài Gòn, tính đến sáng 30 Tháng Bảy đã có 85,288 trường hợp nhiễm COVID-19, có 1,057 bệnh nhân tử vong vì COVID-19. Đây mới chỉ là con số thống kê của nhà cầm quyền, con số thực tế có thể cao hơn vài lần; và từ con số đó ta có thể hình dung ra nỗi tang thương của nhiều gia đình ở thành phố hiện nay.

Trong một tháng qua, đã có nhiều tiếng nói của các y bác sĩ, trí thức trong nước yêu cầu nhà cầm quyền thay đổi biện pháp chống dịch, nhưng những tiếng nói đó hầu như rơi vào những cái lỗ tai điếc. Ông Đỗ Duy Ngọc, một nhà báo tự do, viết: “Nhà nước nên tìm ra giải pháp tốt hơn là ra lệnh cấm đoán và giới nghiêm. Càng siết mạnh càng gây hoang mang và âu lo. Bữa cơm càng lúc càng vơi dần đi vì không còn phương sinh kế, ức chế vì bị tù túng và bế tắc vì không kiếm ra tiền mua rau gạo. Những thứ ấy khiến cho người dân dễ sinh ra bất mãn và có những hành vi thiếu kiểm soát.” Nhưng có nhà nước nào nghe!

Cho đến nay nhà cầm quyền vẫn chỉ chống dịch bằng biện pháp đàn áp: cách ly, phong tỏa, cấm đoán và giới nghiêm. Chuyện đó không lạ vì bản chất của chính quyền Việt Nam là công an trị. Ông Phạm Minh Chính, thủ tướng, và ông Nguyễn Văn Nên, bí thư Thành Ủy, chẳng phải đều là tướng công an chuyển nghề đó sao. Với những kẻ cầm quyền như vậy, biện pháp ưu tiên hàng đầu là “chuyên chính,” là giới nghiêm và trấn áp nặng tay để không ai còn dám ra đường tụ tập biểu tình đòi quyền sống, quyền tự do – như chuyện vừa xảy ra ở nước Cuba Cộng Sản “đồng chí canh giữ hòa bình” của họ hôm Chủ Nhật, 11 Tháng Bảy.

Dù họ luôn miệng gào thét “chống dịch như chống giặc” nhưng thực tế cho thấy họ không sợ dịch mà chỉ sợ người dân vùng dậy lật đổ cái guồng máy kìm kẹp tàn bạo. Người dân vốn đã khốn khổ vì dịch bệnh, vì sinh kế đình đốn, lại phải đối đầu thường trực với những biện pháp hà khắc của nhà cầm quyền nên càng thêm bế tắc, đã đến mức không chịu đựng nổi. “Cùng tắc biến” là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra.


Nhà cầm quyền Cộng Sản một mặt ra sức trấn áp bằng các chỉ thị gia tăng phong tỏa và cưỡng bức, mặt khác gia tăng bóc lột. Chưa bao giờ công an, dân phòng lúc nhúc ở các trạm gác mọc lên đầy dẫy để phong tỏa các khu dân cư lại nhiệt tình “phạt vạ” như hiện nay: Ra đường không có lý do chính đáng – phạt 2 triệu đồng ($87); đi giao hàng ngoài địa bàn quận cư trú – phạt 2 triệu đồng; đi mua hàng hóa “không thiết yếu” – phạt 2 triệu đồng… Người dân như chim trong lồng, cá trên thớt, lúc nào cũng phập phồng lo sợ bị nhiễm virus và bị những khoản phạt vạ quái gở mà nhà cầm quyền sẵn sàng trút lên đầu họ.

Để hình dung được người dân đã bị bóc lột đến mức nào chỉ cần biết trong bảy tháng đầu năm nay, nhà cầm quyền đã thu vào ngân sách 819.4 ngàn tỷ đồng ($36 tỷ), bằng 61% dự toán cả năm; trong đó thu từ các nguồn nội địa đạt 661.9 ngàn tỷ đồng ($28.5 tỷ), bằng 58.4% dự toán cả năm; bội thu gần 62,000 tỷ đồng ($2.7 tỷ).

Bảy tháng qua là thời kỳ dịch COVID-19 hoành hành, cao điểm là từ đầu Tháng Năm đến nay; hàng chục ngàn công ty, doanh nghiệp phải đóng cửa; hàng triệu người lao động bị mất việc; ngay cả các công ty nước ngoài lớn như Samsung, Intel cũng phải tạm ngừng sản xuất vì không thể thực hiện “ba cùng” (công nhân phải ở lại nhà máy, cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc) theo yêu cầu của nhà cầm quyền. Vậy thì lấy đâu ra số “bội thu” khổng lồ, câu hỏi không quá khó trả lời. Đã không xuất ngân khố ra hỗ trợ người dân lúc thiên tai địch họa mà còn ra sức vơ vét, vắt kiệt sức dân thì họa may chỉ có chính thể cộng sản độc tài đảng trị mới làm được!

Ông Đỗ Ngà, một người dùng Facebook ở Việt Nam, nhận xét: “Con số đã nói lên tất cả. Chính quyền này nó xem núi tiền trong ngân khố của nó quan trọng hơn số phận toàn dân. Đảng chỉ biết bóc lột toàn dân chứ chưa bao giờ biết hỗ trợ toàn dân. Người Việt kỳ vọng gì ở cái chính quyền ích kỷ này chứ? Đừng mơ!”

Mới đây, ông Nguyễn Thành Phong, chủ tịch thành phố, quyết định thành lập “Tổ tư vấn về chính sách phòng, chống dịch COVID-19 và phục hồi kinh tế” với tám thành viên do Tiến Sĩ Vũ Thành Tự Anh, trường Chính Sách Công và Quản Lý Fulbright, Đại Học Fulbright Việt Nam, làm tổ trưởng. Danh nghĩa là tư vấn chính sách phòng chống dịch nhưng trong tám ông cố vấn chỉ có một ông là bác sĩ từ trường Đại Học Y Dược có thể có hiểu biết về chống dịch, ba ông giảng viên trường Fulbright chuyên về quản trị kinh tế, hai ông chuyên về nhu liệu điện toán (software) từ “khu công nghệ phần mềm” và hai ông từ trường luật. Nhìn vào thành phần cố vấn đủ thấy tổ tư vấn này không nhằm giúp chống dịch mà tìm cách phục hồi kinh tế – một chuyện nói cho vui thì được mà làm thì không khi đại dịch vẫn hoành hành, người dân chưa được chích ngừa đầy đủ để các cơ sở kinh doanh có thể yên tâm mở cửa hoạt động. Xem ra nhà cầm quyền vẫn không coi trọng việc chống dịch và bảo vệ sức khỏe, sinh mạng người dân, không thấu hiểu nỗi thống khổ mà người dân đang chịu đựng.

Nhà báo Phan Thị Châu, cựu phóng viên báo Phụ Nữ TP.HCM, chủ nhân chuỗi quán cơm từ thiện Nụ Cười ở Sài Gòn, viết: “Tôi đưa những tấm hình và clip mà nhân viên trong quán quay được để các ông, các bà ở trên cao xem đi. Xem, nếu không thấy lòng mình chùng lại, thương dân đói nghèo, để sửa đổi những quy định chưa hợp lý trong giai đoạn chống dịch lúc này đây thì quả… hết thuốc chữa!”

Quả thật là đã hết thuốc chữa; không phải chữa COVID-19 vì đã có vaccine viện trợ từ Mỹ, Nhật, Úc mà chữa cái bệnh vô tri vô cảm, cái bệnh tham lam và độc ác của chính quyền Cộng Sản ở Việt Nam. [qd]

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Re: Quán Vắng không Người ...3

Post by hoangphong »

Quy định 22 – Điềm báo ông Trọng sắp chết!
Ông Tư Sài Gòn
2 tháng 8, 2021

Image
Ông Trọng sợ nhất là về hưu, “nguyên” hay “cựu” Tổng bí thư vẫn bị xử tội theo quy định của chính ông.
Tốt nhất là ra quy định không được xử tội thằng đã chết! – Biếm họa: Ba Bui

Ngày 28 Tháng Bảy năm 2021, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng CSVN, đã ký Quy định 22- QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Theo đó đảng viên vi phạm đã qua đời sẽ xem xét không xử lý kỷ luật, trừ trường hợp vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thế nào là “vi phạm đặc biệt nghiêm trọng” thì không thấy giải thích.

Nói chung, quy định này cũng giống như tất cả những quy định khác của đảng, giúp củng cố quyền hành của đảng, nhằm dễ dàng thao túng chính quyền.

Chẳng hiểu ông Trọng nghĩ gì, khi đất nước đang gồng mình chống dịch, biết bao người dân chết, biết bao người nghèo đói hoa cả mắt, mà ông còn ngồi đó tính chuyện “mai mốt tao chết rồi thì tụi bay đừng hòng xem xét lỗi lầm rồi kỷ luật tao”.

Nghe như động thái dọn đường trước khi ông đảng trưởng về với “núi Các Mác, suối Lê Nin”.

Y như điềm gở!

Nhưng dù có chuẩn bị kỹ đến đâu, khi ông Trọng nằm xuống, các “đồng chí” của ông cũng có thể sửa đổi lại quy định này, hoặc cứ gán cho ông “vi phạm đặc biệt nghiêm trọng” là xong.

Ông chết rồi, họ không tha cho ông đâu, vì ông bị xem là tên đảng trưởng có nhiều kẻ thù nhất trong đảng.

Ông nhiều kẻ thù vì ông là tên đảng trưởng thù dai nhất. Chính vì thù dai, nên ông gây nhiều thù hận với các “đồng chí một thời” của ông.

Các thời tổng bí thư trước, có ai kỷ luật những người đã “hạ cánh an toàn” mang chữ “nguyên” trước chức vụ đâu. Hoặc chỉ làm chuyện đó âm thầm thôi, chứ không tung hê tên tuổi cho khắp bàn dân thiên hạ biết.

Đến thời của ông, ông lôi ra bằng hết những tên không cùng phe cánh, dù đã chuyển công tác, hay thậm chí về hưu, ra kỷ luật.

Tìm trên Google, chỉ cần đánh ba chữ “kỷ luật nguyên” thôi, đã tìm được hơn 53 triệu bài viết!

Kỷ luật “nguyên đồng chí” nhiều như thế, nhưng ông vẫn chưa hài lòng, vì nguyên Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng – “đồng chí” không đội trời chung của ông – vẫn “lọt lưới”.

Ông Trọng đã kỷ luật, bỏ tù, thậm chí giết chết hàng chục người thân tín của ông Dũng, nhằm tìm cách đưa ông Dũng vào tròng. Thế nhưng, dù bày ra hàng trăm âm mưu, vẫn không đưa ông Dũng vào tù được. Đó là điều ông Trọng không mong đợi, vì sợ sau này, khi ông chết đi, phe cánh ông Dũng lên nắm quyền sẽ “đào mồ” để kỷ luật ông.

Để không xảy ra chuyện kỷ luật đồng chí tổng bí thư về những sai phạm khi còn sống, ông ra Quy định 22 chặn đầu trước những kẻ phản phúc.

Ông không nghĩ dân gian có câu “vỏ quít dày có móng tay nhọn”. Khi ông chết, đảng trưởng chưa chắc đã cũng phe cánh với ông, hay sẽ bị áp lực của băng nhóm nào đó, sẽ hủy bỏ quy định kỳ quái của ông, rồi mang ông ra xét xử.

Khi ông chết, những kẻ thân cận nhất của ông hiện nay cũng phải tìm “chúa” khác mà thờ, chứ đâu bám vào cái xác chết thối rữa của ông được.

Rồi ông sẽ bị quả báo.

Những người bị ông giết oan uổng, hay những kẻ “chết cũng đáng” sẽ về đòi nợ ông, cho dù ông có ký hàng trăm cái quy định quái quỷ nào.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Re: Quán Vắng không Người ...3

Post by saohom »

Image

Sài Gòn ngày phong tỏa thứ hai mươi tám
Đỗ Duy Ngọc
5 tháng 8, 2021

Hôm qua tôi có nói đến trường hợp của anh bạn tôi khi cầm giấy cho phép đi chợ, phải mất cả một buổi sáng mới vào được siêu thị. Nhưng rồi cũng chẳng có bao nhiêu hàng để mua, các quầy hàng đều trống, nhất là mặt hàng thịt và rau. Điều này trái ngược với các hình ảnh đầy ắp hàng hoá tươi ngon trong các cửa hàng thường xuất hiện trên báo đài hàng ngày.

Bây giờ trong dân gian thường có câu: Lên ti vi mà mua, lên ti vi mà lãnh. Có những sự thật diễn ra trong mùa dịch nhưng báo chí không nên đưa lên như cảnh trong các bệnh viện điều trị người bị dịch bệnh, cảnh người chết, cảnh đoàn xe chở những quan tài đi thiêu xác, cảnh những nỗi đau của bệnh nhân.

Những hình ảnh sẽ gây hoang mang trong nhân dân, gây dư luận không tốt, không nên đưa lên báo thì cũng đành. Còn những cảnh xếp hàng chờ đợi đến khi đến lượt thì các quầy hàng trống rỗng, báo chí nên có bài viết, bài phóng sự, hình ảnh để các cấp lãnh đạo có biện pháp tốt hơn, có giải pháp hay hơn trong việc cung ứng hàng hoá thiết yếu cho cuộc sống trong thời gian giãn cách kéo dài chưa biết lúc nào mới chấm dứt. Bởi đó là một sự thật mà người dân thành phố đang trải qua.

Nhiệm vụ của báo chí là phản ánh những hiện thực xã hội, có những hiện thực không tiện nói vì không có lợi, nhưng cũng có những sự thật phải phô bày để người dân còn tin vào các phương tiện truyền thông. Hiện thực việc thiếu thốn hàng hoá trong các siêu thị, cửa hàng được chỉ định là có thật. Hàng hoá, thực phẩm ở các tỉnh lân cận Sài Gòn dư thừa cũng có thật. Nhưng dân lại thiếu hàng. Những tắc trách và nguyên nhân đưa đến hiện tượng thừa thiếu đấy ai cũng thấy và ai cũng biết, chỉ có báo chí là tránh đề tài này vì nghĩ là nhạy cảm?

Việt Nam có 779 cơ quan báo chí trên cả nước. Trong số 779 cơ quan báo chí có 142 tờ báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập và có 41,000 người hoạt động trong lĩnh vực nghiệp vụ này. Thế nhưng chưa thấy bài báo nào nói cho chính xác, thể hiện cho đúng những nhu cầu cấp bách của người dân khi thành phố bị giãn cách, cuộc sống bị xáo trộn.

Khi thành phố bị đại dịch, có những góc khuất của số phận bị bỏ quên, những khu nhà ở trong hóc hẻm sâu không được phát hiện, nhiệm vụ của người phóng viên là tìm đến, đưa tin để xã hội quan tâm giúp đỡ, nhà nước lưu ý để hỗ trợ. Lâu nay, những số phận hẩm hiu đó đều do dân tìm thấy, đưa lên mạng và đến khi đó báo mới nhảy vào khai thác, viết bài. Hệ thống báo chí thiếu năng động cũng như thiếu nhiệt tình trong trách nhiệm của mình.

Ngày nay, nhiều người không còn tin ở báo chí nữa. Hôm trước đăng bài toàn nói đến sự không hiệu quả của vaccine Tàu, đưa minh hoạ từ Indo, Thái Lan, Chile… Giờ thì quay ngoắt 180 độ, ca ngợi vaccine Tàu theo định hướng. Bản thân và gia đình tiêm chủng thuốc Mỹ, thuốc Anh nhưng viết bài kêu gọi mọi người chích thuốc Tàu. Chán nhỉ! Tôi không có ý kiến gì về Sinopharm, tôi cũng không kêu gọi tẩy chay hay khuyến khích mọi người chích hay không chích, đó quyền và cơ hội của mỗi người, nhưng tôi khinh những người sống hai mặt như thế.

Hiện nay, theo báo cáo của Sở Lao động, theo chuẩn của thành phố thì còn 3,767 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 0.19% và 22,882 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 1.15% dân số thành phố. Giai đoạn 2016-2020, chuẩn nghèo của TP Hồ Chí Minh là hộ có thu nhập dưới 21 triệu đồng/năm (chuẩn quốc gia là dưới 10,8 triệu đồng/năm), hộ cận nghèo dưới 28 triệu đồng/năm (chuẩn quốc gia là 12 triệu đồng/năm).


Đó là con số thống kê trên những hộ gia đình đã định cư chính thức có hộ khẩu ở thành phố. Bên cạnh đó còn hàng ngàn người từ các nơi đến thành phố kiếm ăn, buôn bán hàng rong, làm công nhân, lao động làm thuê, tìm mọi cách kiếm kế sinh nhai. Họ cũng đều là hộ nghèo. Do đấy con số người nghèo ở thành phố không phải là ít. Người nghèo bình thường đã khó khăn, giật gấu vá vai, kiếm sống từng ngày, tay làm hàm nhai. Dịch bệnh kéo dài đã tước mất nguồn sống của họ, một số đã đành gạt nước mắt về quê, số còn lại sống trong điều kiện rất khó khăn rất cần sự giúp đỡ của cộng đồng và nhà nước. Báo chí cần phản ánh những trường hợp đấy để cả xã hội góp tay vào giúp họ qua cơn túng quẫn.
Image
Nhiều người phải xếp hàng dài, chờ đợi nhiều giờ liền để mua thực phẩm. Ảnh: Phương Lâm (Zing.vn)
Lực lượng sinh viên các tỉnh đến thành phố học hành cũng không ít, tình cảnh của các sinh viên ấy cũng rất bi đát. Không tiền đóng học phí, không tiền trả tiền nhà trọ, không tiền để ăn uống qua ngày. Nếu không được báo chí hay cộng đồng đề cập đến, họ rất dễ bị bỏ quên.

Hàng xóm, người quen, bạn bè có thể giúp đỡ một thời gian ngắn chứ không giúp được mãi. Cánh cửa tương lai đang khép dần lại, những ước mơ, hoài bão đành xếp xó. Đau lắm! Người nghèo thiếu ăn, sức đề kháng yếu, rất dễ vướng bệnh tật và cũng dễ nhiễm virus. Lúc đấy đã nghèo còn gặp cái eo.

Hiện nay, ở Sài Gòn rất nhiều nhóm, nhiều hội đoàn thiện nguyện giúp đỡ rất nhiều cho những người nghèo khổ gặp khó khăn. Nhưng tất cả đều là những tổ chức nhỏ lẻ, tự phát, chỉ hoạt động trong một khu vực, một địa bàn nhất định.

Chúng ta thiếu những tổ chức từ thiện có tầm vóc hay có sự giúp đỡ của chính phủ để có thể toả rộng đến khắp nơi, đến với tất cả mọi người. Cho nên, trong mùa dịch dai dẳng này, sẽ có những số phận bị bỏ quên, những vùng đất bị bỏ sót. Và từ đó sẽ có những vùng hàng từ thiện ăn không hết, nhưng cũng sẽ có nhiều nơi không nhận được chút gì.

Ở thời điểm hiện tại, người dân mong ước các chợ được mở lại. Có thể không cần nhiều quầy với hàng hoá phong phú như xưa, chỉ cần thuận tiện mua bán, có chút hàng hoá phục vụ cho bữa cơm hàng ngày. Được như thế, đời sống sẽ giảm nhiều ức chế, không khí bớt căng thẳng hơn nhiều.

Ngày 5 Tháng Tám, Sở Công thương TPHCM cho biết, trong những ngày đầu Tháng Tám, 2021, Sở đã mở lại nhiều chợ truyền thống như chợ Bình Thới, chợ Thới An, chợ Hiệp Thành và chợ Phước Thạnh. Riêng trong ngày 4 Tháng Tám, hai chợ tại quận 10 là Nguyễn Tri Phương (25 tiểu thương) và Hòa Hưng (15 tiểu thương) cũng đã hoạt động trở lại, chủ yếu bán các mặt hàng thịt, cá, rau, củ các loại. Tính đến thời điểm hiện tại, thành phố có 33/237 chợ hoạt động. Số chợ tạm ngưng hoạt động là 204/237 chợ, bao gồm cả 3 chợ đầu mối.

Một số địa phương hiện đã đóng toàn bộ các chợ trên địa bàn gồm Thành phố Thủ Đức, quận 3, 4, 5, 6, 7, 8, Phú Nhuận, Tân Bình, Tân Phú, huyện Hóc Môn, Nhà Bè. Một số chợ sau khi đóng để thực hiện các công tác phòng, chống dịch (như khử khuẩn, xét nghiệm, truy vết…) đã khôi phục hoạt động như: Chợ Kiến Thành, chợ Tân Đoàn Việt, chợ tạm ấp 4 Vĩnh Lộc A, chợ Hưng Long, chợ Thạnh Xuân, chợ Thái Bình, chợ Đa Kao, chợ Tân Thông Hội. Hi vọng những ngày tới, sẽ có thêm nhiều chợ được tiếp tục mở, hàng hoá sẽ được thông thương và phong phú hơn cho người dân đỡ mệt mỏi khi thực hiện bữa ăn hàng ngày.

Trong lúc cả nước từ lãnh đạo cho đến nhân dân đang lo âu vì dịch bệnh, lại có những quan chức và một số người tỉnh bơ vi phạm Chỉ thị 15 của chính phủ, ung dung vác gậy chơi golf và dính virus Vũ Hán. Theo thông tin từ cơ quan chức năng của TP Quy Nhơn, 4 trường hợp gồm: Ông Nguyễn Văn Dũng – Giám đốc Sở Du lịch tỉnh Bình Định, ông Nguyễn Công Thành – công tác tại Cục thuế tỉnh Bình Định và hai người khác (làm việc tại hai doanh nghiệp ở TP Quy Nhơn).

Bốn trường hợp kể trên tường trình từ ngày 31 Tháng Bảy đến 1 Tháng Tám, họ chơi tại một sân golf ở TP Quy Nhơn.

Tại đây, bốn người này có tiếp xúc gần với nhân viên sân golf và chị này có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2 vào ngày 3 Tháng Tám. Dù trước đó, UBND tỉnh Bình Định đã yêu cầu tạm dừng hoạt động quán ăn uống vỉa hè, hoạt động văn hóa thể thao, giải trí tại các điểm công cộng kể từ 0h ngày 1 Tháng Sáu. Từ ngày 1 Tháng Tám, tỉnh này cũng thực hiện giãn cách xã hội trên địa bàn toàn tỉnh theo Chỉ thị 15 của Thủ tướng Chính phủ để phòng chống dịch COVID-19.

Quan chức kiểu này thì nên cho về vườn là vừa, cách chức tạm thời không phải là hình thức kỷ luật thích đáng. Loại quan chức vô cảm, vi phạm quy định của nhà nước thì phải xử thật nặng để làm gương và để dân còn chút lòng tin. Không thể có kiểu dân đen thì bắt tội mà quan chức thì ung dung. Xui là mấy ông này bị dương tính thì mọi người mới biết mấy quan vác gậy đi chơi, chứ không thì chẳng ai hay. Và trên cả nước, trong những ngày thê lương và dịch bệnh thế này, còn có biết bao quan chức ung dung, thảnh thơi đi chơi như mấy ông này.
Image
Ảnh chụp màn hình báo Thanh Niên
Hành vi này vừa xem thường kỷ cương phép nước, vừa vô nhân vì dịch bệnh đang nhiễm hàng trăm ngàn người, cũng đã có hàng ngàn người chết. Đội ngũ bác sĩ, y tá, điều dưỡng, tình nguyện viên căng mình đến kiệt sức, các ông lại vui chơi, hưởng thụ. Quan thời phong kiến mà lương tâm kiểu đó cũng bị người đời nguyền rủa huống chi là ông quan cách mạng. À mà quan cách mạng bây giờ sang nhỉ, toàn xe hơi, biệt phủ với chơi golf.

Lại nhớ đến truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của nhà văn Phạm Duy Tốn, bố của nhạc sĩ Phạm Duy. Truyện lên án gay gắt tên quan phủ là quan phụ mẫu cùng với đám nha lại đương vui cuộc tổ tôm ở trong đình mặc cho đê sắp vỡ và đám dân đen đang sầu thảm, lo âu do thiên tai đang ập đến cuốn nhà cửa, sinh mạng xuống sông. Đó là lối sống vô trách nhiệm đến mức tàn nhẫn của những người làm lãnh đạo. Thì ra luật chỉ dành cho dân đen đi mua bánh mì ăn cũng bị phạt, còn quan mang túi đi chơi thì chẳng sao, quan chức có luật dành riêng chăng?

Người ra đường tập thể dục, đi đường vì những nhu cầu thiết yếu đều bị phạt tiền và bị gọi là vô ý thức. Những người này còn bị Đài Truyền hình Quốc gia gọi là não loại bò sát, não thú. Một kiểu chửi vô văn hoá của Đài truyền hình trong chương trình Chuyển động 24h của VTV:

“Có một điểm chung của tất cả các vận động viên tại giải tranh tài “Vài môn phối hợp” của Hà Nội này đó là, họ không sợ Covid-19 thì phải. Tuy nhiên, nếu mà nghĩ rằng họ không sợ thì chưa được xác đáng cho lắm. Để mà hiểu rõ hơn thì có lẽ chúng ta phải nhìn vào bộ não con người. Về cơ bản thì não con người có thể chia thành ba phần như sau: phần thứ nhất là não bò sát, phần thứ hai là não thú và phần thứ ba là não người. Nỗi sợ của ba khu vực này cũng có những khác biệt riêng. Ở phẫn não bò sát thì nỗi sợ sẽ biến thành bản năng ngay lập tức và vô điều kiện, ví dụ như là nhìn thấy lực lượng chức năng thì chạy ngay chẳng hạn; ở phần não thú thì nỗi sợ sẽ chi phối hành vi của con người ở dạng cảm xúc, ví dụ như là “ở nhà chán quá hay là ra ngoài một tí xem nó như thế nào”; và cuối cùng ở phần não người, nỗi sợ sẽ đi kèm với tuy duy trừu tượng, với ý thức với trách nhiệm với những mối nguy có thể có trong tương lại. Vâng, tóm lại thì mỗi người lại đang dùng một phần não khác nhau để đối diện với covid-19 thế nên là mới có người ở nhà và có người ra ngoài không có lý do chính đáng”. (Trích từ VTV, Chuyển động 24h, 11h:15,ngày 31/7/2021)



Ai cho phép Đài VTV dùng những từ ngữ như thế? Và nhân danh cái gì mà Đài Truyền hình có quyền mạt sát người vi phạm như thế. Một lối lạm quyền, một kiểu phát ngôn vô văn hoá từ một cơ quan văn hoá của nhà nước. VTV phải có lời xin lỗi công khai trên hệ thống truyền thông dù không nói đến một cá nhân cụ thể nào nhưng kiểu nói năng như thế không bao giờ và tuyệt đối không được sử dụng trên hệ thống của một Đài Truyền hình Quốc gia.

Con số người nhiễm bệnh mấy hôm nay ở Sài Gòn đang là hàng ngang và đang có chiều hướng đi xuống. Tuy nhiên con số tử vong vẫn còn cao. Đó vẫn là nỗi lo. Số người nhiễm giảm chưa hẳn là cơn dịch đang dứt. Chính con số người chết mỗi ngày sẽ nói lên thực trạng. Và nỗi đau còn đó.

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Re: Quán Vắng không Người ...3

Post by hoangphong »

Tại sao Bộ Tứ (Quad) làm Trung Quốc hoảng sợ
Thành công của Bộ Tứ đặt ra một mối đe dọa lớn đối với tham vọng của Bắc Kinh
Hiếu Chân dịch, Kevin Rudd (*)
7 tháng 8, 2021

Image
Hải quân Bộ Tứ (Mỹ, Nhật, Úc, Ấn) tham gia tập trận Malabar tháng 11- 2020 trên Ấn Độ Dương. Ảnh U.S. Navy photo by Mass Communication Specialist 3rd Class Elliot Schaudt.
Khi cựu Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe mời các quan chức Bộ Tứ (the Quad), gồm Nhật Bản, Úc, Ấn Độ và Mỹ gặp mặt tại thủ đô Manila của Philippines Tháng Mười Một 2017, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thấy có lý do gì để lo lắng. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị (Wang Yi) chế giễu lần tập hợp của Bộ Tứ chỉ là “một ý tưởng gây chú ý của truyền thông”. “Chúng giống như bọt biển ở Thái Bình Dương hoặc Ấn Độ Dương: Gây được một số sự chú ý nhưng sẽ sớm tan biến”, Vương nói.

Bắc Kinh có một số lý do để coi thường như vậy. Các nhà chiến lược Trung Quốc đánh giá các thành viên của Quad có quyền lợi quá khác biệt nhau nên khó tạo ra sự thống nhất thực sự. Dù thế nào thì nhóm Bộ Tứ đã được thử nghiệm hơn một thập niên trước mà có rất ít kết quả thực.

Tuy nhiên, chỉ trong vài năm kể từ cuộc họp Tháng Mười Một 2017 đó, Bắc Kinh đã bắt đầu suy nghĩ lại sự coi thường ban đầu của mình. Đến Tháng Ba năm nay, khi Bộ Tứ tổ chức hội nghị thượng đỉnh cấp nguyên thủ quốc gia đầu tiên và phát hành thông cáo chung cấp lãnh đạo đầu tiên, các quan chức Trung Quốc bắt đầu nhìn Bộ Tứ với mối quan tâm ngày càng tăng. Kể từ đó, Bắc Kinh kết luận rằng Bộ Tứ đại diện cho một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với tham vọng của Trung Quốc trong những năm tới.



Khi cuộc “cạnh tranh chiến lược” với Trung Quốc trở thành điểm hiếm hoi nhận được sự đồng thuận lưỡng đảng ở Washington, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đưa ra cảnh báo rằng đất nước của ông ta đang đối mặt với một “cuộc chiến đấu vì tương lai của trật tự quốc tế” với một Hoa Kỳ quyết tâm ngăn cản sự trỗi dậy của Trung Quốc. Ông Tập tin rằng Bắc Kinh có cơ hội từ nay đến năm 2035 để biến Trung Quốc thành một cường quốc kinh tế, công nghệ và thậm chí cả về quân sự hàng đầu thế giới. Một bộ phận hữu cơ của cuộc chuyển hóa này là thuyết phục các quốc gia ở châu Á và thế giới rằng sự thống trị của Trung Quốc là không thể tránh khỏi và do đó các nước không có lựa chọn nào khác ngoài việc làm theo các yêu cầu của Trung Quốc. Điều đó sẽ cho phép Trung Quốc viết lại các luật lệ của trật tự quốc tế – và giành lấy vị trí lãnh đạo toàn cầu – mà không cần phải nổ súng.

Bộ Tứ là vấn đề thách thức độc đáo đối với chiến lược của Trung Quốc vì mục tiêu của Bộ Tứ là thống nhất một liên minh kháng cự đa phương có khả năng làm cứng xương sống của toàn bộ khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương và có thể xa hơn nữa. Đối với ông Tập, câu hỏi quan trọng là liệu Bộ Tứ sẽ phát triển đủ lớn, đủ chặt chẽ và toàn diện để cân bằng thế lực chống lại Trung Quốc một cách hiệu quả; từ đó làm suy yếu mọi ý nghĩ rằng sự thống trị của Trung Quốc, ở châu Á hay toàn cầu, là không thể tránh khỏi. Cho đến nay, Bắc Kinh đã phải vật lộn để có được một phản ứng hiệu quả chống lại thách thức của Bộ Tứ. Liệu các quan chức Trung Quốc có tìm được một chiến lược thành công để phá hoại sự tiến bộ của Bộ Tứ hay không sẽ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định trong cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung — và số phận của tham vọng toàn cầu của Trung Quốc nói chung — trong cái đã trở thành một “thập niên sống nguy hiểm.”

Hãy đến cùng nhau

Nỗ lực đầu tiên của ông Abe để khởi động Bộ Tứ là sau vụ sóng thần năm 2004, khi Úc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hoa Kỳ cùng hợp tác ứng phó với thảm họa. Ông Abe coi Bộ Tứ là một cách để xây dựng năng lực của bốn quốc gia trong việc cùng nhau đáp ứng các thách thức an ninh chung trong khu vực. Nhưng các thủ đô khác chỉ phản ứng hời hợt.

Tại Washington, Tổng thống George W. Bush lo rằng sự hợp tác như vậy sẽ khiến cho Trung Quốc xa lánh Hoa Kỳ một cách vô ích trong khi Mỹ cần có Bắc Kinh trong “cuộc chiến chống khủng bố”. Trong vòng vài năm, như các bức điện do WikiLeaks phát hành sau này cho thấy, chính quyền Bush trong chốn riêng tư đã bảo đảm với các chính phủ khu vực rằng Bộ Tứ sẽ không bao giờ gặp nhau nữa. Tại New Delhi, Thủ tướng Manmohan Singh liên tục loại trừ mọi hợp tác an ninh thực sự với nhóm Bộ Tứ và coi mối quan hệ với Bắc Kinh là “sự cần thiết bắt buộc”. Còn tại Canberra, chính phủ bảo thủ của Thủ tướng John Howard lo lắng về sự xói mòn các mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc đang rất có lợi, và cũng phản đối sự mở rộng mối hợp tác ba bên đang có với Hoa Kỳ và Nhật Bản bằng cách thêm Ấn Độ vào. Vào Tháng Bảy năm 2007, Úc chính thức rút lui khỏi Bộ Tứ và công bố quyết định tại Bắc Kinh ngay sau đó (do ông Kevin Rudd, tác giả của bài này, khi đó mới trúng cử thủ tướng Úc, công bố – ND). Khi ông Abe – động lực đằng sau việc thành lập Bộ Tứ – bất ngờ từ chức vào Tháng Chín năm 2007 (trước khi trở thành thủ tướng một lần nữa vào năm 2012), người kế nhiệm ông, Thủ tướng Yasuo Fukuda, chính thức ném Bộ Tứ vào thùng rác của lịch sử.

Khi ông Abe tập hợp Bộ Tứ trở lại một thập niên sau đó, hoàn cảnh chiến lược đã thay đổi đáng kể. Sau nhiều năm quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc ngày càng căng thẳng, hành vi quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, và các cuộc đụng độ lặp đi lặp lại giữa các lực lượng Trung Quốc và Ấn Độ dọc theo biên giới còn tranh chấp trên dãy Hy Mã Lạp Sơn, ở tất cả các thủ đô của Bộ Tứ, các tính toán chiến lược về Trung Quốc được phát triển hoặc điều chỉnh. Tuy nhiên, Bắc Kinh cho rằng họ không có lý do gì để lo lắng sau khi Bộ Tứ tái hợp vào Tháng Mười Một năm 2017: Đã có một cuộc họp của các nhà ngoại giao bên lề Hội nghị Cấp cao Đông Á tại Manila. Cuộc họp không đưa ra được một thông cáo chung, không vạch ra được một mục đích chiến lược chung, thay vào đó chỉ phát hành các tuyên bố riêng lẻ không có sự phối hợp, chủ yếu để làm nổi bật sự khác biệt giữa các nước về các mối quan tâm chính. Bắc Kinh vẫn tỏ ra thờ ơ ngay cả sau cuộc họp đầu tiên của các bộ trưởng ngoại giao của Bộ Tứ vào Tháng Chín năm 2019 tại New York, và ngay cả sau khi các bộ trưởng đã đồng ý làm việc cùng nhau về điều sẽ trở thành câu thần chú của Bộ Tứ: “Thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và cởi mở.”



Thế rồi, vào Tháng Sáu năm 2020, các lực lượng Trung Quốc và Ấn Độ đụng độ dọc theo biên giới chung của hai nước khiến 20 binh sĩ Ấn Độ thiệt mạng và làm cho New Delhi, trước đây là thành viên miễn cưỡng nhất của Bộ Tứ, phải đánh giá lại các ưu tiên chiến lược của mình và thể hiện quyết tâm mới nhằm cân bằng sức mạnh của Trung Quốc. Khi các bộ trưởng ngoại giao của Bộ Tứ họp lại vào Tháng Mười năm 2020 tại Tokyo, Bắc Kinh bắt đầu chú ý. Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã tuyên bố thẳng thừng rằng mục tiêu của Washington là “thể chế hóa” Bộ Tứ, “xây dựng một khuôn khổ an ninh thực sự” và thậm chí sẽ mở rộng nhóm vào “thời điểm thích hợp” để “chống lại thách thức mà đảng Cộng sản Trung Quốc đặt ra cho tất cả chúng ta.” (Ông Pompeo trước đó đã mời New Zealand, Nam Hàn và Việt Nam tham gia cuộc đàm phán Bộ Tứ mở rộng (“Quad Plus”) bàn về thương mại, công nghệ và an ninh chuỗi cung ứng.)

Sau cuộc gặp tại Tokyo, Ấn Độ đã mời Úc tham gia cuộc tập trận hải quân Malabar hàng năm được tổ chức cùng với Hoa Kỳ và Nhật Bản. Đây là điều rất đáng chú ý vì trước đó Ấn Độ đã từ chối cho phép Úc tham gia các cuộc tập trận vì sợ gây phản ứng của Bắc Kinh. Bây giờ, nhờ vào cuộc đụng độ biên giới với Trung Quốc vào Tháng Sáu năm 2020, Delhi đã không còn do dự nữa. Từ quan điểm của Bắc Kinh, bàn cờ địa chính trị đột nhiên có vẻ kém thuận lợi hơn hẳn.

Từ chia rẽ đến tấn công

Lúc đầu, các chiến lược gia Trung Quốc dường như nghĩ rằng có một giải pháp tương đối đơn giản cho thách thức mới từ Bộ Tứ: Sử dụng sự kết hợp củ cà rốt và cây gậy để chèn một cái nêm vào giữa lợi ích kinh tế và an ninh của các thành viên Bộ Tứ. Bằng cách nhấn mạnh sự phụ thuộc quá lớn của mỗi quốc gia vào thị trường Trung Quốc, Bắc Kinh hy vọng sẽ phá vỡ Bộ Tứ.

Sau cuộc họp các bộ trưởng Bộ Tứ vào Tháng Mười năm 2020 và các cuộc tập trận hải quân Malabar sau đó, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị đã phải thay đổi giọng điệu một cách đáng chú ý, bắt đầu đả kích những nỗ lực xây dựng một “NATO khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương” và gọi chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương của Bộ Tứ là “một mối đe dọa an ninh tiềm tàng” đối với khu vực. Bắc Kinh cũng chọn một mục tiêu để tấn công. Truyền thống chiến lược của Trung Quốc dạy các chính trị gia “phải giết một để cảnh cáo một trăm”. Trong trường hợp này, ý tưởng của họ là giết một (Úc) để cảnh cáo hai (Ấn Độ và Nhật Bản).

Bắc Kinh trước đó dường như có ý định cải thiện quan hệ với Canberra. Nhưng không có lời giải thích cụ thể, Trung Quốc đột ngột áp đặt các hạn chế lên việc nhập cảng than đá của Úc – và sau đó là thịt bò, bông vải, len, lúa mạch, lúa mì, gỗ, đồng, đường, tôm hùm và rượu vang. Theo đánh giá của Bắc Kinh, với tư cách là nền kinh tế nhỏ nhất trong số bốn nền kinh tế của Bộ Tứ, Úc sẽ là nước dễ bị tổn thương nhất trước áp lực kinh tế của Trung Quốc (và do sự khác biệt quá lớn về quy mô và khoảng cách địa lý, Úc ít đe dọa đến lợi ích an ninh của Trung Quốc). Đồng thời, Trung Quốc cố gắng sửa chữa quan hệ với Ấn Độ và Nhật Bản. Sau nhiều năm nỗ lực cải thiện quan hệ với Tokyo, Bắc Kinh đã cố gắng hoàn tất chuyến thăm Nhật Bản của ông Tập, gặp gỡ người kế nhiệm của ông Abe là Thủ tướng Yoshihide Suga (Cho đến nay chưa có cuộc gặp nào giữa Tập và Suga – ND). Và Bắc Kinh cũng tìm cách giảm căng thẳng với Ấn Độ bằng việc đàm phán một thỏa thuận rút quân khỏi khu vực đã xảy ra đụng độ và âm thầm vận động để Ấn Độ thả một lính đặc nhiệm Trung Quốc bị bắt nhằm tránh châm ngòi cho một cơn bão chủ nghĩa dân tộc trong nước.

Nhưng Bắc Kinh đã đánh giá thấp tác động của các hành động của họ đối với sự đoàn kết của Bộ Tứ và cả hai củ cà rốt đều không có tác dụng như dự tính. Tại Tokyo, tính chất trầm trọng của sự quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông, cùng những lo ngại về nhân quyền và Hong Kong đã bắt đầu khiến mối quan hệ Bắc Kinh-Tokyo rơi vào tình trạng băng giá. Tại New Delhi, sự cảnh giác với Trung Quốc đã ăn rất sâu, bất kể sự bế tắc trước mắt đã được giải quyết. Như Ngoại trưởng Ấn Độ Subrahmanyam Jaishankar giải thích, các cuộc đụng độ biên giới đã tạo cho Delhi một “mức độ thoải mái” hơn trong việc “gắn kết sâu hơn vào các vấn đề an ninh quốc gia” với Washington và các đối tác khác. Sự xuất hiện của một chính phủ mới ở Washington – một chính quyền quay lại tập trung vào sự gắn bó với các đồng minh, khu vực và đa phương, đồng thời nhanh chóng giải quyết các tranh chấp thương mại và quân sự thời Trump với các đồng minh châu Á, đã tạo thêm một trở ngại cho kế hoạch của Bắc Kinh.

Đầu năm nay, các quan chức Trung Quốc đã hiểu ra rằng không mưu toan nào trong việc phớt lờ hoặc chia rẽ Bộ Tứ có thể thành công. Vì vậy, Bắc Kinh chuyển sang lựa chọn thứ ba: Tấn công chính trị toàn diện.

Cuộc họp Tháng Ba 2021 giữa các nhà lãnh đạo của Bộ Tứ đã xác nhận những lo ngại ngày càng tăng của Trung Quốc về tầm quan trọng của nhóm. Bằng cách lần đầu tiên triệu tập các nguyên thủ quốc gia và rất sớm ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã báo hiệu rằng Bộ Tứ sẽ là trung tâm trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của ông. Và lần đầu tiên, cuộc họp đã đưa ra một thông cáo chung thống nhất cam kết thúc đẩy “một trật tự tự do, cởi mở, dựa trên luật lệ, bắt nguồn từ luật pháp quốc tế” và bảo vệ “các giá trị dân chủ và toàn vẹn lãnh thổ”. Bộ Tứ cũng cam kết hợp tác sản xuất và phân phối một tỷ liều vaccine COVID-19 trong toàn khu vực. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã nói ra những gì có thể là nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của Bắc Kinh khi ông tuyên bố: “Cuộc họp thượng đỉnh hôm nay cho thấy Bộ Tứ đã đến tuổi [trưởng thành]. Bây giờ nó là một trụ cột quan trọng cho sự ổn định của khu vực.”



Kể từ đó, đã có một sự bùng nổ trong những lời lên án của Trung Quốc nhắm vào Bộ Tứ, chẳng hạn như gọi đây là một “nhóm nhỏ” các nước đang cố “bắt đầu một cuộc Chiến tranh Lạnh mới”. Hồi Tháng Năm, Tập đã lên án những nỗ lực sử dụng “chủ nghĩa đa phương như một cái cớ để hình thành các nhóm nhỏ hoặc kích động sự đối đầu về ý thức hệ”. Trung Quốc đã bắt đầu thể hiện là người ủng hộ “chủ nghĩa đa phương chân chính” và là người bảo vệ hàng đầu của hệ thống Liên Hiệp Quốc. Ông Tập và các quan chức Trung Quốc khác đã bắt đầu nói thường xuyên hơn về “trách nhiệm của cường quốc” và vị thế của Trung Quốc với tư cách là “cường quốc có trách nhiệm”. Bắc Kinh cũng đang tăng gấp đôi nỗ lực phát triển các khuôn khổ thương mại thay thế bằng cách thúc đẩy tư cách thành viên của mình trong Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), nỗ lực hoàn tất thỏa thuận đầu tư giữa EU và Trung Quốc và tán thành ý tưởng tham gia CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương, phát triển từ các cuộc đàm phán Đối tác Xuyên Thái Bình Dương – TPP – do Hoa Kỳ thúc đẩy trước đây). Hy vọng của Bắc Kinh là có thể cô lập và loại trừ Bộ Tứ bằng cách vươn xa hơn Bộ Tứ về mặt ngoại giao và thương mại trên trường toàn cầu.

Tuy nhiên, những lời lên án của Bắc Kinh cho đến nay hầu như không ngăn cản được tiến bộ của Bộ Tứ. Chuyến đi vào Tháng Sáu của ông Biden tới châu Âu — nơi Úc và Ấn Độ được mời tham gia nhóm G7, các cuộc thảo luận của Hoa Kỳ với EU và NATO, trong đó Trung Quốc là chủ đề chính — đã củng cố lo ngại của Bắc Kinh rằng Bộ Tứ có thể tự tích hợp vào một liên minh chống Trung Quốc rộng lớn hơn. Và các mối tương tác giữa Hoa Kỳ và Nam Hàn, bao gồm cả chuyến thăm của Tổng thống Moon Jae-in đến Washington hồi Tháng Năm, củng cố mối lo ngại rằng Bộ Tứ có thể kết nạp thêm Nam Hàn và trở thành “Bộ Ngũ”, dù Seoul thường miễn cưỡng đứng về phía Hoa Kỳ chống lại Trung Quốc một cách rõ ràng. Thế nhưng tuyên bố chung của hai nước đã nhất trí rằng họ “công nhận tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương khu vực cởi mở, minh bạch và bao trùm, bao gồm cả Bộ Tứ”.

Lý do để lo lắng

Trung Quốc có lý do đáng kể để lo lắng về những diễn biến như vậy và ý nghĩa của chúng đối với triển vọng toàn cầu và khu vực của Trung Quốc. Ví dụ, trên mặt trận an ninh, Bộ Tứ làm thay đổi suy nghĩ của Bắc Kinh về các kịch bản khác nhau ở eo biển Đài Loan và Biển Đông và ở mức độ thấp hơn ở Biển Hoa Đông, khi Trung Quốc ngày càng ý thức được khả năng quân đội Úc, quân đội Ấn Độ hoặc quân đội Nhật Bản có thể can dự vào bất kỳ cuộc xung đột nào liên quan đến Hoa Kỳ. Đặc biệt quan trọng sẽ là sự phối hợp của Bộ Tứ với Sáng kiến ​​Răn đe Thái Bình Dương (Pacific Deterrence Initiative) của Hoa Kỳ. Một mạng lưới phân tán các hỏa tiễn chống hạm đặt trên đất liền và các năng lực tấn công chính xác khác đặt tại các nước đồng minh trong khu vực có thể cản trở việc Bắc Kinh đe dọa Đài Loan bằng các cuộc xâm lược đổ bộ, bao vây phong tỏa hoặc sử dụng hỏa tiễn trên mặt đất — mặc dù còn lâu mới có được thỏa thuận chính trị về việc bố trí hỏa tiễn như vậy trong các quốc gia riêng lẻ của Bộ Tứ. Một mối quan tâm khác của Trung Quốc là Bộ Tứ sẽ tiến tới một thỏa thuận với đối tác tình báo Five Eyes (Ngũ Nhãn) để chia sẻ thông tin tình báo, cho phép thông tin nhạy cảm về chiến lược và hành vi của Trung Quốc được phổ biến rộng rãi hơn.

Nhưng tình huống xấu nhất theo quan điểm của Bắc Kinh là Bộ Tứ có thể đóng vai trò nền tảng cho một liên minh chống Trung Quốc toàn cầu rộng lớn. Nếu Bộ Tứ lôi kéo các quốc gia châu Á khác, EU và NATO vào nỗ lực đối đầu hoặc làm suy yếu tham vọng quốc tế của Trung Quốc, thì theo thời gian, nó có thể xoay chuyển cán cân quyền lực tập thể chống lại Trung Quốc một cách dứt khoát. Bộ Tứ cũng có thể đặt nền tảng cho một liên minh kinh tế, hải quan và tiêu chuẩn rộng lớn hơn, có thể định hình lại mọi thứ từ tài trợ cơ sở hạ tầng toàn cầu đến chuỗi cung ứng cho đến các tiêu chuẩn công nghệ. Ông Kurt Campbell, quan chức cấp cao về châu Á của chính quyền Biden, đã nói về sự cần thiết phải đưa ra “tầm nhìn kinh tế tích cực” cho Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương; Bắc Kinh lo ngại rằng Bộ Tứ có thể trở thành điểm tựa cho một nỗ lực như vậy.

Một điểm sáng theo quan điểm của Bắc Kinh là Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), có khả năng sẽ giữ một khoảng cách với Bộ Tứ, như là một phần trong quan điểm trung lập của ASEAN về căng thẳng Mỹ-Trung. Các quan chức Trung Quốc cũng cảm thấy an ủi khi tâm lý bảo hộ tiếp tục hiện diện ở cả Washington và Delhi, có nghĩa là cả hai nước này đều sẽ không sớm tham gia CPTPP (hoặc thậm chí RCEP). Thật vậy, lực hấp dẫn của nền kinh tế Trung Quốc sẽ vẫn là công cụ lớn nhất để làm suy yếu Bộ Tứ và đảo ngược các nỗ lực chống Trung Quốc trên phạm vi rộng: Đối với Bắc Kinh, tăng trưởng kinh tế tiếp tục kéo dài của Trung Quốc và tỷ trọng ngày càng tăng của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu vẫn là những lợi thế chiến lược quan trọng nhất của họ, cũng như trong quá khứ.

Trung Quốc cũng sẽ tăng gấp đôi hợp tác chiến lược và quân sự với Nga. Moscow và Bắc Kinh đã cam kết mở rộng hợp tác năng lượng hạt nhân song phương, và trong cuộc điện đàm hồi Tháng Năm với ông Tập, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã gọi mối quan hệ Trung – Nga là “tốt nhất trong lịch sử”. Từ quan điểm của Trung Quốc, Nga đóng vai trò là một đối tác quân sự hữu ích, còn liên quan tới Bộ Tứ, Nga sẽ cung cấp một con đường để mở rộng lĩnh vực lựa chọn chiến lược của Trung Quốc về mặt địa lý. Ví dụ, sự gần gũi của Nga với Nhật Bản và việc Nga tiếp tục chiếm đóng các Lãnh thổ phía Bắc của Nhật Bản có thể khiến Tokyo phải suy nghĩ kỹ trước khi tham gia với Hoa Kỳ trong bất kỳ kịch bản quân sự nào liên quan đến Trung Quốc trong tương lai.

Việc tiếp tục hợp nhất Bộ Tứ cũng sẽ thúc đẩy Trung Quốc tăng chi tiêu quân sự. Ngay cả khi một số nhà phân tích Trung Quốc nghi ngờ tác động thực tế của Bộ Tứ tới khả năng xảy ra chiến tranh, các quan chức quân sự vẫn lập luận rằng họ phải sẵn sàng cho các tình huống xấu nhất liên quan đến Bộ Tứ. Các quan chức Trung Quốc đang lo sẽ lặp lại sai lầm của Liên Xô trong việc tăng cường quân sự quá mức gây thiệt hại cho nền kinh tế dân sự. Nhưng nếu họ nhận thấy tương quan lực lượng với Hoa Kỳ và các đồng minh đang chuyển theo hướng có hại cho Trung Quốc, chi tiêu quân sự của Bắc Kinh sẽ tăng lên tương ứng, thúc đẩy cuộc chạy đua vũ trang khu vực ở châu Á.

Cuối cùng, câu hỏi lớn nhất là tất cả những điều này có ý nghĩa gì đối với ông Tập, đặc biệt là trước thềm Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 20 vào mùa Thu năm 2022, đại hội mà ông Tập hy vọng sẽ bảo đảm được sự thống trị chính trị lâu dài của mình. Có một số khả năng là sự tiến bộ của Bộ Tứ sẽ cung cấp cho những người gièm pha ông Tập thêm bằng chứng về xu hướng tiếp cận chiến lược quá đáng của ông ta. Tuy nhiên, nhiều khả năng là ông Tập cuối cùng sẽ củng cố bàn tay cai trị của mình bằng cách chỉ vào Bộ Tứ như là bằng chứng rằng các đối thủ của Trung Quốc đang bao vây tổ quốc của họ, qua đó củng cố hơn nữa việc nắm giữ quyền lực của ông.

(*) Kevin Rudd là cựu Thủ Tướng Úc; hiện là Chủ tịch Asia Society – một think-tank nổi tiếng ở New York.

Nguồn: The Foreign Affairs ngày 6 Tháng Tám 2021

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Re: Quán Vắng không Người ...3

Post by mexanh »

Kabul thất thủ, thế giới nói gì về chính sách của Hoa Kỳ?
Hiếu Chân
15 tháng 8, 2021


Image
Lực lượng an ninh Afghanistan tuần tra ở Kabul hôm Chủ nhật 15-08-2021.l Trong một tuyên bố Taliban nói họ không có ý định vào Kabul “bằng vũ lực hoặc chiến tranh mà thương lượng với bên kia để tiến vào một cách hòa bình. Ảnh Haroon Sabawoon/Anadolu Agency via Getty Images

Thủ đô Kabul thất thủ, bước tiến nhanh chóng của Taliban trên khắp Afghanistan đã gây kinh ngạc cho toàn thế giới và làm dấy lên những nỗi nghi ngờ về độ tin cậy của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Ngay cả những đồng minh thân cận nhất của Mỹ cũng đưa ra những lời chỉ trích gay gắt, trong khi các đối thủ Nga và Trung Quốc không giấu nỗi hả hê. Báo The Washington Post điểm một số bình luận quốc tế.

Sáng Chủ nhật 15 tháng Tám, khi các chiến binh Taliban tiến vào Kabul mà không gặp sự kháng cự đáng kể nào, Tổng thống Ashraf Ghani đào thoát ra nước ngoài và Hoa Kỳ cố gắng sơ tán công dân của mình, cộng đồng quốc tế đã hết sức lo ngại Afghanistan một lần nữa lại có thể trở thành nơi trú ẩn cho các tổ chức khủng bố, gây ra một thảm họa nhân đạo lớn và kích hoạt một cuộc di cư tị nạn mới.

Các đồng minh của Hoa Kỳ phàn nàn họ đã không được tham vấn đầy đủ về một quyết định chính sách có khả năng gây rủi ro cho lợi ích an ninh quốc gia của chính họ – trái với lời hứa của Tổng thống Biden rằng Hoa Kỳ sẽ thảo luận và tìm tiếng nói chung với các đồng minh trong những vấn đề toàn cầu.

Và nhiều người trên thế giới đang tự hỏi liệu họ có thể dựa vào Hoa Kỳ, tin vào cam kết lâu đời của Hoa Kỳ duy trì an ninh trải dài từ châu Âu đến Đông Á hay không.

***

Anh Quốc là đồng minh thân cận nhất của Hoa Kỳ, đã đóng góp lớn nhất và chịu số thương vong cao nhất sau Hoa Kỳ trong cuộc chiến do Hoa Kỳ dẫn đầu ở Afghanistan. Hôm Chủ nhật, các chính trị gia Anh đã chỉ trích thẳng thừng việc rút quân của Washington, một điều được coi là bất thường trong quan hệ Anh-Mỹ.

Ông Tobias Ellwood, người phụ trách Ủy ban Quốc phòng trong Quốc hội Anh, nói rằng chính sách đối ngoại của Tổng thống Biden, hứa hẹn sẽ xây dựng lại các liên minh và khôi phục uy tín của Hoa Kỳ vốn bị giảm sút dưới thời chính quyền Trump, nay lại bị tổn hại nghiêm trọng do sự sụp đổ của Afghanistan. “Có chuyện gì đã xảy ra với chính sách ‘Nước Mỹ đã trở lại’?” ông Ellwood nêu câu hỏi.

Ellwood nói: “Mọi người đang hoang mang khi thấy sau hai thập niên can thiệp, một cường quốc công nghệ cao và hùng mạnh đang rút lui và giao đất nước lại cho những kẻ mà họ đã đánh bại. Thật là trớ trêu. Làm sao có thể nói nước Mỹ đã trở lại khi chúng ta đang bị đánh bại bởi một lực lượng nổi dậy chỉ có súng phóng lựu, mìn và AK-47?” ông Ellwood nói.

Rory Stewart, từng là Bộ trưởng Bộ Phát triển quốc tế Anh trong chính phủ của Thủ tướng Theresa May, nhận định, khả năng quân sự và vai trò bảo vệ các nền dân chủ và tự do của Hoa Kỳ một lần nữa đang bị đe dọa. “Nền dân chủ phương Tây dường như là nguồn cảm hứng cho thế giới, ngọn hải đăng cho thế giới, nay đang quay lưng lại”, ông Stewart nói.


Trong bình luận hôm thứ Sáu, Bộ trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace đã dự đoán về một cuộc nội chiến và sự trở lại của al-Qaeda, tổ chức khủng bố đã thực hiện cuộc tấn công Hoa Kỳ vào ngày 11 tháng Chín năm 2001, từ đó thúc đẩy sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Afghanistan. “Tôi cảm thấy đây không phải là thời điểm thích hợp để đưa ra quyết định thích hợp”, ông Wallace nói với đài Sky News. “Tất nhiên al-Qaeda có thể sẽ quay trở lại, và chắc chắn là al-Qaeda sẽ thích có một nơi dung dưỡng như vậy để lót ổ”. “Về mặt chiến lược, [thất bại ở Afghanistan] gây ra rất nhiều vấn đề, và với tư cách là một cộng đồng quốc tế, tình hình rất khó khăn … với những gì chúng ta đang thấy ngày nay”, ông Wallace nói thêm. Cùng suy nghĩ với Bộ trưởng Wallace, một số chuyên gia quân sự lo ngại Afghanistan sẽ lại trở thành nơi mà các tổ chức khủng bố chiêu mộ chiến binh Hồi giáo, huấn luyện và tính toán các âm mưu tấn công khủng bố ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhất là ở các quốc gia phương Tây theo Thiên Chúa giáo.

Tại Đức, bà Cathryn Clüver Ashbrook, Giám đốc Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, nói rằng cách thức và việc thực hiện cuộc rút quân của người Mỹ đã khiến các nước đồng minh cảm thấy bị phản bội. Chính phủ Đức, đã rút quân hồi tháng Sáu và đang di tản đại sứ quán khỏi Kabul, cố gắng kiềm chế để không đưa ra lời chỉ trích công khai đối với chính phủ Mỹ. Nhưng theo bà Clüver Ashbrook, một số quan chức và nhà lập pháp Đức đang sôi sục tức giận trước việc Washington không tham vấn với Berlin trước khi hành động. Đức hết sức lo ngại về khả năng xảy ra một cuộc di cư của người tị nạn Afghanistan tương tự như làn sóng năm 2015 khi hơn một triệu người di cư, trốn tránh cuộc chiến ở Syria, đã tràn vào châu Âu, đa số tìm tới nước Đức.

“Chính quyền Biden lên cầm quyền với lời hứa hẹn một cuộc trao đổi cởi mở, minh bạch với các đồng minh. Họ nói rằng mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương sẽ là then chốt. Nhưng thực tế, họ đang chơi trò chót lưỡi đầu môi đối với mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương và họ vẫn tin các đồng minh châu Âu sẽ đi theo các ưu tiên của Hoa Kỳ,” bà Clüver Ashbrook nói thêm.

*** Image
Kabul ngày 15 Tháng Tám 2021: người dân xếp hàng trước ngân hàng AZIZI để hối hả rút tiền khi hệ thống ngân hàng Afghanistan trong tình trạng khủng hoảng thiếu tiền mặt (ảnh: Haroon Sabawoon/Anadolu Agency/Getty Images)

Các đồng minh Ả Rập của Hoa Kỳ, vốn từ lâu tin tưởng quân đội Mỹ sẽ hỗ trợ họ trong trường hợp bị Iran tấn công, nay cũng đối mặt với câu hỏi liệu họ có thể dựa vào Hoa Kỳ hay không. Riad Kahwaji, người đứng đầu công ty tư vấn an ninh Inegma tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), nơi đóng một trong những lực lượng quân sự lớn nhất của Mỹ ở Trung Đông, cho biết: “Những gì đang xảy ra ở Afghanistan đang gióng lên hồi chuông cảnh báo ở khắp mọi nơi… Niềm tin vào Hoa Kỳ với tư cách là một đồng minh đã bị nghi ngờ trong một thời gian. Chúng tôi thấy người Nga đang chiến đấu tới cùng để bảo vệ chế độ Assad [ở Syria], còn bây giờ người Mỹ đang rút quân và để lại một cuộc hỗn loạn lớn ở Afghanistan,” ông Kahwaji nói.

Bà Clüver Ashbrook nhận xét thêm rằng kế hoạch của Tổng thống Biden nhằm xây dựng một liên minh các nền dân chủ để chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc và Nga cũng đang bị nghi ngờ, khi phương Tây không còn sự hiện diện đáng kể ở Trung Á.

***

Các đối thủ của Hoa Kỳ cũng tỏ ra mất tinh thần. Các nhà bình luận phương Tây nhận định rằng, đối với Trung Quốc và Nga, sự ra đi của quân đội Hoa Kỳ ở Afghanistan mang lại cơ hội cũng như không ít lo ngại.

Trung Quốc – được cho là kẻ hưởng lợi nhiều nhất từ sự sụp đổ của Afghanistan và đã sớm mời các quan chức Afghanistan sang Trung Quốc để thảo luận hợp tác, lại bày tỏ nỗi lo ngại rằng sự trỗi dậy của một chính phủ Hồi giáo cực đoan ở biên giới phía tây của họ sẽ làm gia tăng tình trạng bất ổn ở tỉnh Tân Cương, nơi Bắc Kinh đã thực hiện chính sách đàn áp toàn diện đối với người Duy Ngô Nhĩ theo Hồi giáo – chính sách bị phương Tây tố cáo là gây ra “tội diệt chủng”.

Đại tá Ngô Khiêm (Wu Qian), Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc, hồi đầu tháng này nói rằng Washington “phải chịu trách nhiệm không thể né tránh đối với tình hình hiện tại ở Afghanistan. Họ không thể ra đi và để lại gánh nặng cho các nước trong khu vực.”

Cả Moscow và Bắc Kinh đều đã tiếp đón các phái đoàn của Taliban trong những tuần gần đây với nỗ lực mở đường cho một tương lai khu vực không có người Mỹ. Nhiều quan sát viên cho rằng, thất bại nhục nhã của cuộc can thiệp kéo dài hai thập niên của Mỹ ở Afghanistan sẽ kích thích nỗ lực của Moscow và Bắc Kinh trong việc thuyết phục các chính phủ khác xa lánh Hoa Kỳ và tìm kiếm các mối quan hệ hợp tác ở nơi khác.

Trong một bài bình luận nhắm vào Hong Kong, Thời báo Hoàn cầu của đảng Cộng sản Trung Quốc đã dẫn ra trường hợp Afghanistan như một tín hiệu cho các nhà hoạt động dân chủ ở lãnh thổ này đừng tin vào những lời hứa lặp đi lặp lại của Mỹ sẽ “đứng về phía” Hong Kong. “Người ta đã chứng minh nhiều lần rằng cứ các chính trị gia Hoa Kỳ tuyên bố đứng về ai thì người đó sẽ gặp vận rủi, sẽ rơi vào tình trạng bất ổn xã hội và gánh chịu hậu quả trầm trọng”, tờ báo viết.

Ở Nga, Fyodor Lukyanov, Chủ tịch Hội đồng Chính sách Đối ngoại và Quốc phòng đồng thời là Tổng biên tập tạp chí Russia in Global Affairs, cho biết Nga đã bị sốc trước tốc độ sụp đổ của chính phủ do Mỹ lập ra ở Kabul. Ông nói, cuộc chiếm đóng Afghanistan kéo dài một thập niên của Liên Xô, kết thúc vào năm 1989, được nhiều người nhớ đến là một thất bại, khiến Nga không còn tâm trạng nào để tái hợp tác chặt chẽ với Afghanistan. Nhưng Lukyanov lưu ý, ít ra chính phủ do Liên Xô bỏ lại vẫn tồn tại ba năm sau khi Hồng quân Liên Xô rút lui. “Chúng tôi tin rằng thất bại của chúng tôi là trầm trọng, nhưng có vẻ như người Mỹ còn bị một thất bại còn lớn hơn”, ông Lukyanov nói.

***

Tuy nhiên, chính phủ Mỹ vẫn kiên trì với lựa chọn chính sách rút quân khỏi Afghanistan. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken vẫn bác bỏ những lời chỉ trích cho rằng việc rút quân khỏi Afghanistan làm tổn hại đến uy tín của Hoa Kỳ. Ông cho biết việc sa lầy vào một cuộc xung đột không vì “lợi ích quốc gia” sẽ gây ra thiệt hại hơn nhiều. Ông Blinken nói với đài CNN: “Hầu hết các đối thủ cạnh tranh chiến lược của chúng ta trên khắp thế giới đều không muốn gì hơn là chúng ta hãy ở lại Afghanistan thêm một năm, năm năm, 10 năm nữa và dành nguồn lực của chúng ta cho một cuộc nội chiến ở đó. Đơn giản là điều đó không phải là lợi ích của chúng ta.”

Đọc thêm:

$2,000 tỉ cho 20 năm cuộc chiến Afghanistan
Sự sụp đổ tất yếu của Kabul bắt đầu từ khi nào?
Afghanistan trước nguy cơ sụp đổ

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Re: Quán Vắng không Người ...3

Post by TheLang »

Sứ mệnh Afghanistan: Phương Tây thất bại, nhưng không phải chỉ là lỗi của riêng họ
16/08/2021

Tác giả: Matthias Naß

Vũ Ngọc Chi, dịch
Image
Từ đồn của họ ở tỉnh Balk, các binh sĩ của quân đội Afghanistan đang quan sát Taliban. Trong vòng vài ngày, những người Hồi giáo quá khích đã chiếm hết thành phố lớn này đến thành phố lớn khác.

Nguồn: Farhad Usyan/ AFP/ Getty Images
Mỹ và NATO không nên rút quân vội vàng như vậy. Nhưng người dân Afghanistan đã bị bỏ mặc bởi chính quân đội của họ và chính phủ tham nhũng.

Kabul đầu hàng. Chính phủ Afghanistan hứa hẹn một cuộc chuyển giao quyền lực trong hòa bình, vị tổng thống đã rời khỏi đất nước. Taliban có thể tiến vào thủ đô mà không cần giao tranh. Nhưng ngay cả khi không chiến đấu cũng sẽ có một cuộc thanh toán đẫm máu. Một tương lai kinh hoàng đang ở phía trước Afghanistan. Nhiều người Afghanistan, đặc biệt là nhiều phụ nữ, sẽ không tìm ra lối thoát, không con đường thoát chạy.



Đó là một khoảnh khắc khủng khiếp. Thế giới đứng ngoài nhìn choáng váng, khi Afghanistan một lần nữa nằm dưới sự thống trị của những phần tử Hồi giáo cực đoan. Trong vòng vài ngày, hết thành phố này đến thành phố khác rơi vào tay các chiến binh tôn giáo. Không ai, thật sự là không ai nghĩ rằng Taliban có thể tiến nhanh đến vậy. Lính chính phủ không chống lại họ mà hoảng sợ bỏ chạy. Và bỏ lại phía sau dân chúng lo sợ kinh hoàng.

Joe Biden có phải chịu trách nhiệm về thảm họa này không? Tổng thống Mỹ có gây ra sự sụp đổ với quyết định rút quân đội Mỹ khỏi Afghanistan cho đến ngày 11 tháng 9 năm 2021? Liệu sự hiện diện liên tục của các đơn vị tinh nhuệ của Hoa Kỳ, kết hợp với các cuộc không kích vào lực lượng Taliban đang tiến công, có ngăn cản được chiến thắng của họ? Không, sự kháng cự của quân đội từ bên ngoài có thể làm trì hoãn cuộc tiến quân, nhưng nó không ngăn cản được.


“Tôi sẽ không giao cuộc chiến này cho tổng thống thứ năm”

Đã từ lâu, Biden không còn tin rằng phương Tây có thể ổn định lâu dài Afghanistan. Ngay từ năm 2009, khi vẫn còn là Phó Tổng thống dưới thời Barack Obama, ông đã phản đối việc gia tăng mới lực lượng quân đội Hoa Kỳ. Ông không thấy một đối tác đáng tin cậy trong giới lãnh đạo chính trị ở Kabul. Tổng thống Mỹ đắc cử, Biden nói rõ rằng ông sẽ chấm dứt cuộc chiến dài nhất của nước Mỹ. Hiện ông đã khẳng định lại quyết tâm rút lui này, trong đó lưu ý đến trường hợp Kabul. “Tôi là tổng thống thứ tư có quân đội Mỹ ở Afghanistan – hai đảng viên Cộng hòa, hai đảng viên Dân chủ. Tôi sẽ không giao cuộc chiến này cho tổng thống thứ năm”.

Mỹ, được NATO hỗ trợ, đã can thiệp vào Afghanistan 20 năm trước vì một lý do cụ thể: Họ muốn lấy khu vực do Taliban bảo vệ được làm nơi ẩn náu cho tổ chức khủng bố Al-Qaeda, nhóm đã tấn công New York và Washington, DC vào ngày 11/9/2001. Mục tiêu này đã đạt được với cái chết của trùm khủng bố Osama bin Laden trễ lắm là vào năm 2011. Tuy nhiên, công cuộc xây dựng đất nước đã thất bại hoàn toàn – việc thiết lập các cơ cấu dân chủ, xã hội dân sự giúp phụ nữ ở Afghanistan trên hết được sống trong nhân phẩm và quyền tự quyết.


Không ai được quyền hạ thấp thiện chí và sứ mệnh đầy ấn tượng của tất cả những người đã cố gắng giúp Afghanistan trên con đường tiến vào thời đại hiện đại: Binh lính, những người giúp đỡ nhân đạo, bác sĩ và y tá, doanh nhân và nhà ngoại giao. Họ đã hy sinh bản thân rất nhiều, nhiều người đã trả giá cho nỗ lực của họ bằng cuộc sống của mình. Tuy nhiên, nước này hiện đang rơi trở lại chế độ chuyên chế Hồi giáo.

Đó chủ yếu hay chỉ là lỗi của phương Tây, nơi lẽ ra không bao giờ được phép can thiệp vào Afghanistan, vốn đơn giản là không có chỗ ở HinduKush (ND: khu vực dãy núi HinduKush bao gồm Pakistan và Afghanistan)? Người ta có thể tranh cãi như vậy. Nhưng cũng có nhiều ví dụ về nơi nhận được sự giúp đỡ, nơi mọi thứ đã thay đổi theo chiều hướng tốt hơn.

Nhưng những tiến bộ này trong trường học, bệnh viện, trường đại học và các phương tiện truyền thông dường như chỉ có thể thực hiện được với sự bảo vệ liên tục của quân đội. Người Mỹ – và cả người châu Âu – vẫn chưa sẵn sàng cho một sứ mệnh bất tận. Thật là lố bịch khi một vài chính trị gia lại yêu cầu can thiệp quân sự để đẩy lùi Taliban. Sẽ không có ủy quyền nào cho việc này, bất kể ở Washington, D.C., hay Berlin.

Quân đội đầu hàng Taliban mà không kháng cự

Tất nhiên, các hoạt động của Mỹ và NATO không nên kết thúc một cách vội vàng như vậy. Nhưng điều đó không thay đổi một vài sự thật cơ bản. Quân đội Afghanistan bao gồm 300.000 binh sĩ, ít nhất là trên giấy tờ. Ước tính chỉ có khoảng 75.000 chiến binh Taliban. Hoa Kỳ đã đầu tư khoảng 83 tỷ đô la vào trang bị thiết bị và đào tạo quân đội Afghanistan – nhưng cuối cùng quân đội này đã đầu hàng Taliban mà không kháng cự lại. Những người lính không muốn chiến đấu cho một chính phủ hoàn toàn tham nhũng, đôi khi thậm chí không cung cấp thức ăn cho họ tại địa điểm hoạt động của họ.

Việc kéo dài sự hiện diện của quân đội phương Tây thêm một, hai hoặc năm năm nữa sẽ không làm thay đổi sự phá sản của giới lãnh đạo chính trị ở Kabul. Không phải phương Tây đã bỏ rơi người dân Afghanistan, mà là chính phủ của chính họ không có khả năng để lãnh đạo quân đội.

Tuy nhiên, các nỗ lực phải luôn được thực hiện để cung cấp viện trợ nhân đạo. Ngay cả tại Afghanistan, nơi Taliban hiện đang thiết lập lại chế độ chuyên chế của họ. Quyền con người được áp dụng phổ quát, không ai được phép đứng yên khi một dân tộc bị khuất phục và tước quyền. Nhưng sự trợ giúp từ bên ngoài chỉ có thể đến bằng vũ lực trong một trường hợp hoàn toàn ngoại lệ. Và nó cần những đối tác có năng lực, đáng tin cậy trong nước.

Đã đến lúc phải rút kinh nghiệm cho những sai lầm mắc phải ở Afghanistan. Hiện tại chủ yếu là nỗi đau buồn khi đối mặt với thảm kịch của sự thất bại.

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Re: Quán Vắng không Người ...3

Post by bichphuong »

Tại sao một số người Mỹ gốc Việt đến giờ vẫn còn cuồng Trump?
August 20, 2021


Trong số những người Mỹ gốc Á tại Hoa Kỳ, thì người Mỹ gốc Việt nổi bật ở một khía cạnh không giống những cộng đồng da màu khác, đó là sự ủng hộ điên cuồng dành cho một tên tệ hại có tên Donald Trump.

Và đa số họ là những người thuộc thế hệ thứ 1.

Và như vậy thì làm sao để những thế hệ thứ 2, thứ 3 có thể cố gắng làm được điều gì đó để thay đổi suy nghĩ của họ.
Hiện tại, hơn 2 triệu người Mỹ gốc Việt sống ở Mỹ, và khoảng 1,3 triệu người đủ điều kiện bỏ phiếu. Nhiều người đã là những người ủng hộ trung thành của Đảng Cộng hòa trong nhiều thập niên vì tin rằng đảng này là lực lượng mạnh mẽ hơn chống lại chủ nghĩa cộng sản.

Ngay cả sau thất bại của Trump trong cuộc bầu cử ngày 3 tháng 11.2020, họ vẫn chưa mất niềm tin vào tên 45. Họ vẫn cố tin rằng tên 45 vì không có đủ thời gian ở Tòa Bạch Ốc để hoàn thành nhiều việc hơn, chẳng hạn như đánh TQ tan tành, đem lại tự do cho đất nước Việt Nam, hay thả bom nguyên tử xóa sổ đất nước Bắc Hàn để Nam Hàn đem tự do lên khắp bán đảo Triều Tiên, đó là một số lý do tại sao họ đã tiếp tục bỏ phiếu cho tên 45 trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 2020 một lần nữa.


Cuộc thăm dò cử tri người Mỹ gốc Á năm 2020 cho thấy người Mỹ gốc Việt là nhóm dân tộc châu Á lớn duy nhất ưa thích Trump hơn Joe Biden, người hiện là tổng thống đắc cử của đất nước. Theo cuộc khảo sát, 48% trong số họ ủng hộ Trump, trong khi 36% ủng hộ Biden.

Tôi vẫn không thể lý giải nỗi, bất chấp tình trạng bất ổn chủng tộc do tên 45 chủ trương phân biệt chủng tộc gây ra đã từng làm rung chuyển đất nước, bộ mặt của một tên kỳ thị đã lộ rõ nhưng một số người Mỹ gốc Việt, chủ yếu là thế hệ thứ nhất vẫn tiếp tục điên cuồng ủng hộ tên 45, họ quên mình là những người thiểu số da màu, là đối tượng mà tên 45 xem thường và kỳ thị.

Tại sao?

Phần chánh yếu trong câu chuyện khó hiểu này chính là những thành phần đại cuồng tên 45 trên hệ thống mạng xã hội độc hại, đã góp phần đầu độc tư tưởng, suy nghĩ của những người Mỹ gốc Việt thế hệ thứ nhất với vốn liếng sinh ngữ hạn hẹp, quen với sinh hoạt nhóm trong các hội đoàn, vừa bị những bản tin sai trái từ Epoch Times tức Đại Kỷ Nguyên chuyên đưa tin láo xạo, một chiều, ủng hộ tên 45 và xuyên tạc các chính sách của chính phủ vừa bị những lời ru ngũ, tẩy não của những kẻ đại cuồng tên 45 trên hệ thống Youtube, chúng có mặt trên từng cây số từ Virginia đến Texas, California ngày ngày cho ra những video truyền bá những âm mưu độc ác của tên 45, cấy niềm hy vọng ngày tên 45 nắm quyền lực trở lại, vừa dụ được những người cuồng tên 45 vào nghe với tràn đầy hy vọng cho một ngày trở lại, vừa mổ xẻ những vấn đề liên quan đến đại dịch với ý bài xích việc bắt buộc đeo khẩu trang và chống vaccine, vừa xuyên tạc những dự luật, chính sách của chính phủ, và quan trọng nhất, là vừa kiếm được tiền, đây chính là những ổ độc thông tin ủng hộ cánh hữu cực đoan rất nguy hiểm cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Mỹ, đồng thời cũng khiến cho một số người Việt đang sống tại Việt Nam vào hùa theo, đây chính là những người mang tư tưởng ủng hộ Trump với câu châm ngôn bất di bất dịch: “Trump sẽ đánh TQ giúp VN”.

Tôi vẫn tự hỏi tại sao dến giờ, 7 tháng kể từ ngày vị Tổng Thống mới lên nhậm chức, điều hành công việc chính phủ, lo đủ thứ chuyện, đối nội đối ngoại, FBI, các cơ quan thực thi pháp luật tại Mỹ, họ có nhiều nhân viên gốc Việt, rành tiếng Việt, nếu có vào nghe để theo dỏi những tên láo xạo này, họ sẽ hiểu hậu quả lớn như thế nào nếu vẫn để chúng tiếp tục tung ra nhưng thuyết âm mưu từ QAnon, tung ra những tin giả hàng ngày đầu độc tư tưởng và nhận thức của người Mỹ gốc Việt.


Tại sao đến giờ những con sâu độc trên hệ thống Youtube này vẫn còn tự do tung hoành trên hệ thống truyền thông như chốn không người, chẳng lẽ FBI không có người có đủ khả năng hiểu tiếng Việt để nghe những con sâu độc ngày ngày tung ra những mầm ung thư độc hại nó khủng khiếp như thế nào hay sao?

Và tại sao, đến giờ phút này, 7 tháng sau khi tên 45 dọn nhà về Mar-a-Lago, mà một số người Việt vẫn còn điên cuồng sùng bái Trump?

Tên 45 đã làm được gì cho đất nước Viêt Nam, người Việt Nam, người Mỹ gốc Việt mà đến tận bây giờ, vẫn còn khá nhiều những người Mỹ gốc Việt u mê sùng bái tên 45?

Tên 45 hoàn toàn chưa làm điều gì có ích lợi rõ rệt cho cộng đồng người Việt ở Mỹ hay các cộng đồng thiểu số da màu khác trên đất Mỹ cả, nếu không muốn nói rằng chính sách nhập cư khắc nghiệt của tên 45 đã từng làm khốn khổ khoảng 8.000 người Việt và gia đình của họ, nhiều người trong số họ đang chờ bị trục xuất về VN, hay chẳng lẽ, trong số 8.000 người Việt và gia đình, thân nhân của họ, không có người nào cuồng tên 45? Hay đây chỉ là những người chống tên tệ hại này?

Còn đối với người VN trong nước?

Trump không hề, không bao giờ quan tâm đến nhân quyền, tự do, dân chủ, đây chính là những dấu hiệu tạo cho nhà cầm quyền cộng sản tự tin và mạnh dạn hơn để họ càng mạnh mẽ, thẳng tay đàn áp người dân đòi dân chủ, nhân quyền trong nước, quyết liệt và tàn nhẫn mà không sợ bị Mỹ lên án hay chỉ trích trong 4 năm dưới thời Trump.

Vậy mà vẫn có khoảng hơn 2/3 dân số người Việt trong nước vẫn mù quáng ủng hộ, tin tưởng, hy vọng vào một tên tổng thống bất tài, rối loạn nhân cách, không có đạo đức con người, hành xử, ăn nói khiếm nhã, thậm chí sùng bái tên 45 như thần thánh.

Trong con số 2/3 dân số người Việt tai Việt Nam đã và đang cuồng và hy vọng ngày trở lại trong vinh quang bằng bất cứ giá nào của tên 45, không hẵn là những người ít học, mà có nhiều người có trình độ, có khả năng ngoại ngữ để tìm hiểu báo chí ngoại quốc để hiểu biết nhiều và rõ hơn về tên 45, và thậm chí có cả những nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam cũng tham gia vào nhóm đồng bóng dân chủ, sùng bái tên 45 với hy vọng sẽ có dân chủ đến cho Việt Nam, cho những người như họ, mà không cần phải đấu tranh chi cho gian khổ, bị bắt bớ, tù tội.


Những người Việt cuồng tên 45 trong nước vì không có tự do, vì bị đàn áp, vì bị bóp nghẹt thông tin, vì không có dân chủ, nhân quyền, vì không có nhiều thứ và không thể cựa quậy, làm được chuyện gì để phản kháng nên chỉ đành thúc thủ, bó tay, chỉ còn biết hay vọng và mơ, chỉ muốn nằm đó, há miệng chờ sung rụng, thì tôi còn có thể hiểu và thông cảm với những người Việt trong nước được.

Còn một số người Việt đang sống tại Mỹ, có tất cả tự do, tại sao vẫn mơ và cũng muốn nằm há miệng chờ sung rụng?

Họ hận bọn cộng sản làm tan nhà mất nước, họ hận Tàu cộng chiếm biển đảo, và họ cũng giống như những người Việt trong nước, chờ tên 45 đem quân Mỹ, tàu chiến, máy bay về đánh tan tành Tàu cộng, đánh tan cộng sản, đem lại dân chủ và tự do cho cả nước Việt Nam từ Nam chí Bắc sẽ không còn cộng sản, rồi mấy ông bà thế hệ thứ nhất lũ lượt chống gậy lên máy bay về vinh quy cố quốc, nhưng 4 năm trong nhiệm kỳ ngắn ngủi của tên 45 đã qua, chưa thấy tên 45 này đem lại điểu gì tốt đẹp cho người Việt, nước Việt, cộng đồng người Mỹ gốc Việt cả. Mà chỉ có những điều tệ hại trước mắt mà ai cũng thấy, và cả thế giới đều thấy, duy chỉ có một số người Mỹ gốc Việt không thấy và hơn 2/3 người Việt trong nước không thấy.

Đó là làm tan nát gia đình của 8.000 người Việt, gây nên thảm cảnh phân biệt chủng tộc trầm trọng hơn lên cộng đồng da màu, mạnh tay với người nhập cư, trong số này có khá nhiều người Việt, làm tan nát bao nhiêu gia đình, bất hòa, chia rẽ, ghét nhau tong một gia đình giữa cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em chỉ vì một thằng nói láo tệ hại, bất xứng, liệu có đáng không quý vị?

Một thời điểm may mắn của chó nhãy bàn độc kéo dài võn vẹn 4 năm đã qua, những gì công chúng Mỹ biết và thấy thì mọi chuyện đã rõ, người Mỹ gốc Việt đã nhìn rõ bộ mặt thật của một tên gian thương nói láo, một mầm mống gây bạo loạn tại Mỹ với dã tâm đạp đổ nền dân chủ nơi đất nước mà quý vị đang sống, thôi, hãy ngừng lại đi, hãy tỉnh táo lại để nhận thức việc gì đúng sai, việc gì nên làm và sống như một con người có ích cho xã hội.

Đừng sống bằng mặc cảm thua cuộc, đau buồn, thù hận, của một dân tộc lưu vong đã kéo dài 46 năm khiến cho một số người Việt ở Mỹ không còn sức lực, không còn đủ tự tin, không còn muốn đi bằng đôi chân của chính mình, không còn muốn thấy bằng đôi mắt của chính mình và ngay cả đến suy nghĩ cũng nhờ người khác suy nghĩ và diễn đạt thay cho mình, họ chỉ biết cầu nguyện, thờ lạy, sùng bái một con người tệ hại, rối loạn nhân cách sẽ đem phép lạ dân chủ, tự do cho Việt Nam.

Nhưng rất tiếc, đó chỉ là một câu chuyện khoa học giả tưởng trong thế kỷ 21.

Việt Linh

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Re: Quán Vắng không Người ...3

Post by hoangphong »

Thấy gì qua chuyến viếng thăm Việt Nam của PTT Mỹ Kamala Harris?

Jackhammer Nguyễn
27-8-2021
Có nhiều điều mà mọi người có thể nhận ra trong chuyến viếng thăm của Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris tới Việt Nam, tuy nhiên điều quan trọng nhất, như tác giả Trần Hưng Đạo, trong bài “Chuyện lạ mà quen”, đó là bà Harris rủ Việt Nam về phe Mỹ để chống lại Trung Quốc, nhưng các vị lãnh đạo Việt Nam cứ ậm à ậm ừ.

Có lẽ tác giả Trần Hưng Đạo cũng không ngạc nhiên về điều này, rằng Hà Nội vẫn tiếp tục chính sách đu dây cố hữu của họ giữa Bắc Kinh và Washington.

Tác giả cũng nêu lên “sự cố sức khỏe hội chứng Havana” làm trì hoãn chuyến đi của bà Harris vài giờ đồng hồ, và cho rằng, có lẽ phía Mỹ dùng “sự cố” này để dằn mặt Hà Nội về chuyện đu dây, khi trước đó thủ tướng Phạm Minh Chính vội vã tiếp ông Hùng Ba, đại sứ của Bắc Kinh, cám ơn ông ta về “món quà” 2 triệu liều vắc xin Trung Quốc, và tuyên bố luôn rằng, Hà Nội không vào phe ai cả.

Về điểm này tôi không đồng ý với tác giả Trần Hưng Đạo.

Hội chứng Havana là điều bí ẩn làm đau đầu giới tình báo Mỹ gần 10 năm nay. Các nhà ngoại giao, nhân viên chính phủ Mỹ ở nước ngoài dường như bị một kẻ thù nào đó tấn công bằng vũ khí âm thanh, gây tổn hại sức khỏe, đến nỗi có người phải nghỉ việc.

Có khoảng 200 người Mỹ đã bị tấn công, cùng một số người Canada. Đầu tiên những người Mỹ ở Havana, Cuba, bị tấn công. Sau đó tại một số nơi khác như Bắc Kinh, Vienna (Áo) và… Hà Nội, với hai người mắc phải, và người sau cùng bị “sự cố” vào ngày trước khi chiếc Không Lực Hai của bà Harris cất cánh từ Singapore.



Theo một số người thạo tin ngoại giao Việt Nam, thì hai người Mỹ này đã bị “hội chứng Havana” trước khi đến Việt Nam. Điều này càng làm cho giả định “dằn mặt” của người Mỹ thêm phần chắc chắn.

Theo tôi thì chuyện ông Phạm Minh Chính tiếp ông Hùng Ba không có gì là quan trọng đối với phía Mỹ. Họ đã quá quen thuộc với lối ngoại giao phùng mang trợn má, nhưng hớt hơ hớt hải của Bắc Kinh. Họ cũng chẳng lạ cái chuyện Hà Nội tiếp tục… đu dây. Lần lại lịch sử ngoại giao Hoa Kỳ, có lẽ ta sẽ không thấy kiểu đòn gió như vậy. “Sự số sức khỏe” xảy ra ngay trước chuyến đi làm cho người Mỹ “cẩn tắc vô áy náy” mà thôi. Và đó cũng lại là một thói quen của họ từ xưa đến nay.

Chính vì Hà Nội đu dây nên chuyến ngoại giao của bà Harris đã được báo chí Mỹ mệnh danh là charming offensive (nếu vui vẻ thì ta dịch là “ngoai giao thân thiện”, nếu bực bội như Bắc Kinh thì gọi là “ve vãn”).



Mà không chỉ là charming offensive, một hành động của người Mỹ thường bao gồm nhiều mục tiêu, đúng với thói quen tính toán từ vị trí một cường quốc toàn cầu của họ (Những người CSVN gọi là “sen đầm quốc tế”). Một chuyến đi như vậy là để giải quyết nhiều vấn đề đối ngoại, và cả đối nội nữa.

Về đối ngoại thì rõ ràng là chuyến đi này được dự trù từ lâu, trước những biến cố ở Afghanistan, nhưng là một bước song hành với việc từ bỏ Afghanistan. Trò chơi lớn (great game) vùng Trung Á đã lỗi thời và tốn kém, bỏ nó đi để chơi tiếp trò chơi lớn vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương là một điều rất hợp lý.

Như trong một bài trước đây tôi có nói về trọng tâm của Mỹ không còn là Kabul nữa, mà có thể là Hà Nội, điểm quan trọng trên bức tường phía Đông, Tokyo-Seoul-Đài Bắc-Hà Nội-Singapore, ngăn chặn sự bành trướng của Bắc Kinh.

Trên cái trục này, Washington không phải tốn kém vào cái gọi là “xây dựng quốc gia” nữa, vì các nước này đều là những nước đang được điều khiển bởi những chính quyền mạnh, và có cùng lợi ích với Mỹ.

Về đối nội, rất có khả năng là bà Harris được giao trọng trách ngoại giao đi Đông Nam Á lần này chính là kế hoạch chuẩn bị thế hệ lãnh đạo tương lai của đảng Dân chủ Mỹ, với một Harris có quan điểm trung tả, phù hợp với đại đa số cử tri của đảng này, một loại standard bearer, dạn dày chính trường Hoa Kỳ, nhưng còn lạ lẫm về đối ngoại. Bà Harris đã được giao chuyện di dân từ Nam Mỹ, một chức trách tạo điều kiện cho bà thực hiện chuyến đối ngoại đầu tiên tới Mexico và Guatemala.

Khi đã quyết định charming (“duyên dáng” cũng được mà “ve vãn” cũng được) thì có sá gì cái chuyện đỏng đảnh của đương sự! Một triệu liều vắc xin Pfizer, một chiếc tàu tuần tra biển đường dài, hàng chục triệu Mỹ kim viện trợ,… không nằm ngoài cái charming đó. Nó chưa phải là cái gì lớn lao như hàng tỷ Mỹ kim vũ khí đối với Đài Bắc, nó mới chỉ là một số vốn nhỏ để đầu tư vào dự án… Hà Nội.

Huống hồ chi nếu căn cứ vào sự bối rối của ông Phạm Minh Chính trước người phụ nữ duyên dáng Kamala Harris, hay là lời tán dương nữ tổng thống Mỹ da màu đầu tiên của ông Nguyễn Xuân Phúc (mà tôi cho là chân thành), thì ta thấy Hà Nội không dám ỏng ẹo tí nào. Cũng dễ hiểu thôi, họ đang rối bời vì Covid, họ đang cần thị trường Mỹ như ốc đảo giữa sa mạc cho thời kỳ hậu Covid.

Cuối cùng, có ba điều mà tôi cho là quan trọng trong chuyến đi của bà Harris mà khá đông người bỏ qua, đó là xây dựng cơ sở của Cơ quan phòng chống dịch bệnh Hoa Kỳ ở Đông Nam Á, ngay tại Hà Nội, sát nách Trung Quốc. Thứ hai là chính thức tổ chức hoạt động cho đội chí nguyện hòa bình Hoa Kỳ, Peace Corp, và thứ ba là công bố dự án cơ ngơi bề thế của đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Tất cả chứng tỏ ý định của người Mỹ ở lại lâu dài trên mảnh đất có đến 100 triệu dân này, mà đa số dân chúng đã rất cảm kích sau cái charming offensive của bà Harris, như lời cựu đại sứ Việt Nam tại Mỹ, Nguyễn Quốc Cường, viết trên báo Tuổi Trẻ: Người bạn trong lúc khó khăn là người bạn đích thực.

Post Reply